|
| |
A
DI ĐÀ KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại
Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành
Trụ
-o0o-2. TÁN KINH (phân làm hai
phần)
1. Tổng tán: Khen chung cả bổn kinh.
2. Biệt tán: Khen riêng pháp trì danh.
TỔNG TÁN
Chánh Văn: Lóng đục thành trong, trở trái làm mặt, vượt khỏi ba
kỳ trong một niệm; bằng các thánh nơi chút lời, rất mầu thay chỗ
diệu dụng… cũng không thể nghĩ bàn đặng, duy có kinh A Di Đà mà
đức
Phật Thích Ca ngài nói đây thôi.
Chú Giải: Như trên đã nói: "Thể
linh minh trạm tịch" vốn không thanh, trược, mặt, trái, rốt ráo bình
đẳng, duy là "Nhứt tâm".
Nay so về môn sanh diệt để nói: Bởi sự
nhận thức của mọi người chẳng đúng với "Tánh thật biết" vẫn một cái
chân như, vì nó không phân biệt nên tâm bất giác khởi ra vọng chấp
trước; thế rồi bị vô minh che lấp, bỏ mất cội gốc là tánh chơn như,
trôi lăn theo ngọn ngành là tâm sanh diệt; khuấy loạn cái Chơn Thể
nên gọi là "Trược"; như lóng bùn cát làm cho trong sạch lại thời gọi
là "Thanh", tức là chỉ chuyển cõi Ta Bà ngũ trược này trở thành cõi
Tịnh Độ là nước Thanh Thới vậy.
Bị vô minh kéo dắt, bỏ tánh giác, theo
vọng trần, trái xa chơn thể gọi là "Bối". Bây giờ quày bỏ đường tới,
trở lại lui về, thế gọi là "Hướng". Tức chỉ xây lưng cõi Ta Bà
để
trở mặt về nước Cực Lạc vậy.
Song đây là chỉ ngay trong một thời kỳ
chúng sanh từ khi mê
đặng
ngộ mà nói thì dường như có những sự lóng đục thành trong, trở trái
làm mặt, chớ kỳ thật ở nơi "tự tánh" thì không đắc, không thất, cũng
không thêm không bớt; thế nên khi đục, lúc trong mà tánh nước không
đổi khác; bỗng sau thoạt trước mà người chẳng hai thân. Nên có câu:
"Tu chứng tức chẳng không; nhưng nhiễm ô thời chẳng đặng chứng".
Ba kỳ là ba kiếp lớn A Tăng Kỳ; chữ
"Tăng Kỳ" sẽ thấy giải ở văn sau. Nói "ba kỳ" là:
A) Căn cứ theo lịch sử do Đức Thích Ca
thành đạo thì từ cổ Phật Thích Ca đến Đức Phật Thi Khí, trải qua bảy
muôn năm ngàn đức Phật;
B) Từ Đức Phật Thi Khí đến Đức Phật
Nhiên Đăng, trải qua bảy muôn sáu ngàn vị Phật;
C) Từ Đức Phật Nhiên Đăng đến Đức Phật
Tỳ Bà Thi, trải qua bảy muôn bảy ngàn Đức Phật nên nói ba kỳ.
Trải đủ nhiều kiếp lâu xa càng lâu xa
để hành Bồ Tát Đạo mới siêu sanh tử, mà nay không vượt ra ngoài một
niệm mau khỏi đường sanh tử. Một niệm là gì? Tức tâm năng niệm của
ta niệm Phật A Di Đà
đây
vậy.
Chữ "Thánh" là Phật và Bồ Tát. Từ địa
vị phàm phu trông lên bực Thánh, cách lại càng cách, thế mà nay
không ngoài chút lời được tiến lên ngay bực "Thánh Bất Thối"; chút
lời là chút lời sở niệm danh hiệu Phật A Di Đà
đây
vậy.
Tột thay!... Hai câu là lời khen ngợi.
Chữ "Chí" nghĩa là "tột", ý nói rộng lớn tột bực không chi hơn đặng.
Chữ "Diệu" là nghĩa bốn câu trên chung
gọi là "Diệu Nghĩa".
Dụng là "Lực Dụng". Luận rằng tâm nhơ
khó sạch, vẩn đục như sông Huỳnh (13), vọng tưởng khó thâu, dong
ruổi dường ý ngựa. Bởi trải nhiều kiếp như hằng sa vô số lượng mãi
luân hồi không thôi, dầu đọc hết văn trong ba tạng 12 bộ kinh mà
đường
giác càng xa. Nay có thể làm cho đục thành trong, trái nên mặt, một
niệm mau siêu, chút lời liền chứng, lực dụng nhiệm mầu đến thế, đâu
nghĩ bàn được. Dụng từ thể tướng sanh ra, nên chỉ nói diệu dụng mà
gồm cả.
Câu rốt sau là kết về tự tánh, ý nói
chỗ diệu dụng như thế sẽ sánh với kinh nào? Chỉ có kinh A Di Đà của
Phật Thích Ca đây mới đủ dùng để so sánh.
Hoặc có người hỏi: Không luận kinh Tiểu
Thừa, chỉ như các kinh Đại Thừa chất nhiều như núi, vì sao riêng
khen diệu dụng của kinh này?
Đáp: Trong tạng Kinh tuy có đủ nghĩa
đây, nhưng chưa có kinh nào rõ ràng và giản dị như kinh này, cho nên
xứng tánh mà luận, chánh trực mà nói thì đâu chẳng phải là Viên Đốn
giáo; (14) nhưng với cái điều "Lóng đục… trở trái…" thì Viên Đốn kia
chưa bày tỏ ra cách phương tiện ấy. Còn các pháp môn khác: hoặc có
pháp quá rộng hơi khó giữ gìn, hoặc quá sâu xa khó dò nổi. Nay chỉ
dùng chút lời bằng niệm danh hiệu Phật liền chứng nhập nhứt tâm, đã
được vãng sanh, tiến ngay đến chỗ thành Phật, thế thì chính nơi
phương tiện mà thành pháp Viên Đốn vậy. Thần công, thắng lực ấy
không thâu về kinh này, chớ về kinh nào?
Lại văn trước là "Tánh đức", văn đây là
"Tu đức", văn trước là "Tự tánh" sẵn thanh tịnh, văn đây là "Ly cấu"
mới được thanh tịnh, nhẫn đến tánh tịnh, chướng hết v.v… hòa lẫn
nhau như một không hai, như trong phần sau sẽ nói.
BIỆT TÁN (phân ra làm bốn phần)
1. Tiên xuất thuyết kinh sở dĩ: Trước chỉ lý do nói kinh.
2. Thống luận Tịnh Độ công đức: Gồm bàn
công đức Tịnh Độ.
3. Đặc thị trì danh vi yếu: Chỉ có trì
danh là hơn.
4. Quảng hiển trì danh sở bị: Rõ nhờ
trì danh rất rộng.
TIÊN XUẤT THUYẾT KINH SỞ DĨ
Chánh Văn: Thế nên đức Thế Tôn
ta trước nói ra ba thừa sau hội về nhứt thật, đã đồng phần cho của
báu, lại còn đặc biệt ban ơn mầu.
Chú Giải: Nương văn trên nói:
Kinh này có đủ công đức, không thể nghĩ bàn như thế: thành thử Phật
nói kinh này là vì có lẽ đó.
Chữ "Sạ" là Tạm. Nghĩa là: Tạm thời
quyền nói, chớ chưa phải nói đến chỗ cứu cánh.
Tam Thừa là: thừa vốn không ba, quyền
nói có ba là: Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát.
Chung là
đối
với Tạm mà nói. Thật là
để
đối với quyền mà nói nghĩa là
đức
Thế Tôn ta khi mới thành ngôi Chánh Giác, diễn nói kinh Đại Hoa
Nghiêm, nhưng giáo lớn khó thích hạp với căn cơ nhỏ nên Phật tùy căn
cơ của chúng sanh, mà Ngài nói pháp Tam Thừa, sau rốt mới hội
"Quyền" về "Thật", đồng ban trao pháp Đại Thừa, cho nên nói "đồng
phần cho của báu". Đây là chỗ đại khái cả 5 thời giáo (15) của Như
Lai nói trong một đời 49 năm. Nhưng trong ấy lại đưa ra một môn niệm
Phật: Môn này không luận kẻ đại căn, người tiểu cơ, hễ ai niệm Phật
là liền được vãng sanh. Cũng không đợi đến lúc căn cơ thuần thục mới
hội Quyền về Thật, miễn được vãng sanh liền đặng bực Bất Thối. Dụ
như: Người được tiến cử vào chức vị mà chẳng cần phải do nơi phẩm
trật (thi đậu bằng cấp) và kẻ con nhà thừa ấm (16) sẵn bực lớp, nhứt
định làm quan. Vì ơn trên ban ra bằng một cách phi thường, nên gọi
là ơn đặc biệt, cũng như lạ lùng. Lại ân mầu ấy gồm có 2 nghĩa:
1. Pháp niệm Phật là trong ân mầu.
2. Pháp trì danh niệm Phật lại là ân
mầu trong ân mầu.
THỐNG LUẬN TỊNH ĐỘ CÔNG ĐỨC
Chánh Văn: Đức Thế Tôn chỉ ra 48
lời nguyện và mở dạy 16 pháp quán: Nguyện nào cũng quy về pháp phổ
độ, Quán nào cũng chú trọng về lý diệu tâm.
Chú Giải: Văn trên khen pháp môn
Tịnh Độ rất thù thắng: văn đây đối với pháp môn Tịnh Độ, trước nêu
các kinh, sau đem so sánh với kinh này thì kinh này lại là thù thắng
hơn. "48 nguyện và 16 pháp quán đã chép đủ trong hai kinh" là ý nói
từ nguyện đầu đến nguyện rốt sau, nguyện nào cũng đều tiếp dẫn chúng
sanh đồng sanh về cõi Tịnh Độ. Từ quán đầu cho đến quán cuối cùng,
quán nào cũng đều là quán không, quán giả và quán trung đạo (17) để
rõ tột lý nhứt tâm. Do nhứt tâm đây phát sinh ra đại nguyện, nương
đại nguyện mà thành ngôi chánh giác, rồi dùng bản nguyện ấy trở lại
độ chúng sanh để đồng chứng lý nhất tâm.
Đối pháp môn Tịnh Độ, so sánh cả hai
kinh (Đại Bổn và Quán kinh) ý gồm như thế.
ĐẶC THỊ TRÌ DANH VI YẾU (phân ra làm
hai phần)
1. Giảo luận yếu ước: So sánh về chỗ
cốt yếu.
2. Cứu minh lợi ích: Xét rõ điều lợi
ích.
GIẢO LUẬN YẾU ƯỚC
Chánh Văn: Lại dùng nguyện môn
rộng lớn, quí nhứt là tại chỗ biết trước; với pháp quán sâu mầu chi
bằng giữ lấy chỗ dón: Biết trước là chuyên cầu về nước kia. Giữ chỗ
dón là duy cần sự trì danh. Vì hễ niệm danh hiệu Phật thì đã gồm đủ
các đức tốt; còn chuyên trì danh, cũng tóm thâu được muôn hạnh mầu.
Chú Giải: Chính nơi văn trước so
sánh kinh Đại Bổn, Quán kinh mà luận thì biết pháp trì danh rất là
ngắn gọn. Nói "rộng lớn" là 48 lời nguyện bao trùm cả kẻ u, người
hiển, gồm hết bực thánh, hạng phàm, rộng lớn thênh thang, xa khơi
không bờ mé; pháp môn man mác như thế, muốn vào quyết có chỗ dò lần,
nên chi quí ở chỗ biết trước. Trong Truyện nói: "Biết chỗ trước sau
thời mới gần đạo vậy". (18)
Nói "sâu mầu" là: Vì quán môn chia ra
làm 16 pháp, sự tu không phải một; vả lại diệu quán rất tinh vi, kẻ
sơ tâm khó xét thấu. Nếu cẩn thận ắt đặng lý mầu nên phải giữ chỗ
yếu trước. Ông Kha Tử đã nói: "Giữ chỗ yếu trước mà làm ra việc to
rộng là
đạo
hay vậy". (19)
Thế nào là "biết trước"? Do biết sanh
về nước kia, gần gũi phụng sự đức Như Lai đại nguyện như thế, ngõ
hầu khá trông mong, miễn được thấy Phật Di Đà lo gì chẳng tỏ ngộ.
Thế nên nói sự cầu nguyện vãng sanh là việc làm cần kíp trước hết.
Thế nào là giữ chỗ yếu trước? Bởi do
pháp quán tuy là 16, nhưng chỉ nói đến một chữ Phật là
đủ.
Phật tuy rất tột, duy nhứt tâm tức là
đó
(là Phật). Nay nghe tên Phật, nhứt tâm chấp trì, chính rằng rất dón
dễ không tốn công nhiều, vì muôn pháp chỉ duy tâm, hễ tâm đã thanh
tịnh thì việc nào lại không xong; vận lòng quán tưởng trong một sát
na mà nào y báo, nào chánh báo đều được rõ ràng, hễ móng niệm muốn
vãng sanh liền được sanh về nước kia. Thế là với pháp quán khó
thành, ta chẳng tu tập mà thành. Cho nên pháp "trì danh niệm Phật"
để làm chỗ giữ tu rất là yếu ước vậy.
Ngài Thiên Như đã nói: "Lòng Phật Thích
Ca quá thương, khuyên chúng sanh niệm ngay danh hiệu Phật A Di Đà ấy
vậy".
Nói "niệm danh hiệu" là: Phật có vô
lượng phước đức, nay chỉ niệm có bốn chữ danh hiệu là A Di Đà Phật
cũng đủ bao trùm hết cả, do vì đức Phật A Di Đà tức là toàn thể của
nhứt tâm mà tâm nó gồm cả các đức nào Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Bổn
giác, Thỉ giác (20), Chơn Như, Phật Tánh, Bồ Đề, Niết Bàn, cho đến
trăm ngàn vạn tên, đều chỉ trong một tên Phật A Di Đà
đây,
thâu gồm được tất cả.
Nói "chuyên trì" là: chúng sanh học
Phật cũng có vô lượng pháp tu hành; nay chỉ một pháp trì danh đủ
dùng gồm ráo. Bởi vì trì danh hiệu Phật, tức là trì lấy nhứt tâm mà
tâm đây nó gồm hết trăm hạnh như: Tứ Đế, Lục Độ, cho đến tám muôn
bốn ngàn số hằng sa số vi trần, tất cả hạnh môn, tâm thâu nhiếp được
hết, nên gọi là "giữ chỗ yếu ước".
CỨU MINH LỢI ÍCH (phân ra làm ba
phần)
1. Nhơn thành (Thành cái nhơn niệm
Phật)
2. Quả chứng (Chứng cái quả niệm Phật)
3. Tổng kết (Chung kết nhơn quả tốt)
NHƠN THÀNH
Chánh Văn: Tu đến đây muôn niệm
lự (vọng niệm) đều thôi. Xét tột, nhơn được vậy là bởi nhứt tâm bất
loạn.
Chú Giải: Trước khi chưa tu pháp
"niệm Phật" thì trong ý thức niệm nào niệm ấy toàn là niệm theo trần
lao (tức là niệm chúng sanh), gọi rằng trong một sát na có đến chín
trăm cái niệm sanh và diệt; cứ trong mỗi một niệm lại có bốn giai
đoạn là: Sanh, Trụ, Dị, Diệt. Như thế phân tích ra từ số, từ mục thì
nó nhiều đến bằng những con số vô lượng vô biên. Ví dầu dùng con mắt
bằng "thiên nhãn thông" đi nữa cũng không thể dòm cho thấu hết số
niệm trần lao ấy! Nên gọi là "muôn niệm lự" vậy. Những muôn niệm lự
đây hễ niệm trước diệt thì niệm sau sanh, thoạt đi thoạt lại, dùng
trăm kế trừ đó, nhưng rốt cục không thể trừ được.
Thế mà nay nhờ sức trì danh, chánh niệm
vừa dấy lên thì tạp tưởng tự nhiên trừ hết. Dụ như sư tử ra khỏi
hang, trăm loài đều ẩn nép. Ánh mặt trời chiếu sương, ngàn rừng mất
tuyết trắng, gọi là muôn vọng niệm đều thôi.
Thế nên ngài Vĩnh Minh nói: "Có người
tu pháp quán sổ tức (21) vọng tưởng không thôi; tu pháp niệm danh
hiệu Phật liền được tiêu vọng tưởng". Nghiệm xét cả hai thì nhờ pháp
niệm Phật đây mà niệm tư lự thôi dứt lại càng thôi dứt, cùng nguồn
tột gốc; nên nói rằng "xét tột". Đến chừng được "nhứt tâm bất loạn"
tức là thành tựu cái nhơn tu pháp "niệm Phật tam muội".
QUẢ CHỨNG
Chánh Văn: Mới biết chưa bước
lìa ngạch cửa mà ao báu hoa nở bốn màu, chẳng ra khỏi ngõ sân mà
đất
vàng cây ngọc quanh bảy lớp, chỗ đức Di Đà thuyết pháp giờ hoa sen
nở hóa sanh, chim quý với chim thường rập tiếng, nhà tranh cùng nhà
ngọc chung màu.
Chú Giải: Bất luận ở đâu, người
tu pháp niệm Phật mà
đã
được nhứt tâm bất loạn mới biết từ bảo thọ, liên hoa, cho đến cả y
báo, mỗi mỗi món trang nghiêm kỳ diệu đều không phải là cảnh ngoài
tâm, tức là "tâm tịnh, độ tịnh", thế hà tất phải đợi tai nghe lời
vàng mới là Phật Di Đà thuyết pháp? Cõi Ta Bà ấn hoại mới gọi là
Tịnh Độ văn thành hay sao? Thế thì chim quí, chim thường, nhà ngọc,
nhà tranh (22) có gì hơn, có gì kém, có chi tịnh, có chi uế? Nên
nói: Cảnh Tây phương Tịnh Độ ở ngay trước mắt là thế.
TỔNG KẾT
Chánh Văn: Số là, với cái niệm
mà không là chơn niệm; với việc sanh mà hiểu vào vô sanh. Bởi niệm
danh hiệu Phật tức là niệm tâm ta, còn sanh nước kia không lìa sanh
cõi đây. Vì rằng tâm, Phật và chúng sanh tuy ba mà vẫn đồng một thể;
giữa dòng và hai bên đều không nhứt định ở một chỗ nào nên gọi: tự
tánh giác là Phật Di Đà, duy tâm tịnh là cõi tịnh độ.
Chú Giải: Tiếp văn trên nói: Cái
lẽ mà
được
nhơn tốt quả mầu như thế là phần chính do tu pháp trì danh niệm Phật
đến chỗ nhứt tâm, niệm tột thành không niệm, niệm mà không niệm mới
là chơn niệm. Lại cái thể niệm vốn không, niệm thật không niệm, gọi
là chơn niệm vậy.
Câu "sanh vô sanh" là: Vì rõ thể sanh
không có thì sanh mà không sanh, không sanh mà sanh, thế gọi là dùng
tâm niệm Phật chứng nhập bực nhẫn vô sanh (23), nhưng trong bài
"Giáo Khởi" văn sau có nói rành. Nên biết trọn ngày niệm Phật chính
là trọn ngày niệm tâm, rõ ràng vãng sanh, nhưng lặng trang không có
gì lai vãng.
Câu "Tâm, Phật và chúng sanh" đó, kinh
nói: "Tâm và Phật cùng chúng sanh, cả ba không sai khác". Bởi vì tâm
niệm Phật tức là Phật A Di Đà, Phật A Di Đà tức là tánh Phật của
chúng sanh, vì đồng một bản thể Biến Chánh Giác nên chi chúng sanh
trong tâm của chư Phật trở lại niệm lấy chư Phật trong tâm của chúng
sanh. Nếu "mê" phải cầu "Giác" mà giác thì vẫn đồng nhau, nên nói
đồng một thể.
Câu: "Giữa dòng và hai bên" là cõi Ta
Bà dụ ở bên này, cõi Cực Lạc dụ ở bên kia. Ban đầu nhàm khổ ưa vui;
rồi đến cái chấp phân biệt khổ vui đều mất, sau rốt cũng không trụ
nơi phi khổ, phi vui, thế là hai bên đã không chấp trước, chặng giữa
lại cũng không để lòng. Tự tánh sẵn có đức Phật A Di Đà, duy tâm sẵn
có cõi Tịnh Độ, ý cũng như đây. Thế thời pháp Thiền và pháp Tịnh Độ,
cả hai tuy khác lối tu, nhưng đồng về một chỗ là "tánh" vì không lìa
tự tâm, mà tự tâm tức là Phật, tức là Thiền.
Vậy ai kia chấp Thiền chê Tịnh Độ,
chính là tự chê bổn tâm của mình, cũng là chê Phật và chê pháp Thiền
của mình đương tu nữa mà họ cũng chẳng biết, tự nghĩ xét đó thôi!
QUẢNG HIỂN TRÌ DANH SỞ BỊ
Chánh Văn: "Lý nhứt tâm" đây, dù
nó trọn phần về bực thượng trí, nhưng nó cũng thông cả "sự, tướng"
phần nào. Vì chiều theo cho hiệp với kẻ độn căn (căn cơ chậm lụt
cũng như tối dạ).
Chú Giải: Với "Lý nhứt tâm, Sự
nhứt tâm" sẽ thấy rõ ở văn sau. Nay nói "tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh
Độ" chính là chỉ ngay về "Lý nhứt tâm bất loạn" trong kinh này nói
thôi. Bực thượng trí có thể vâng tu, kẻ độn căn chưa kham lãnh nổi.
Nên nói "nhứt tâm" đây, không những chuyên chú về Lý mà cũng thông
đồng đến Sự nữa vì với "Sự nhứt tâm" ai cũng làm được, chính như: Kẻ
ngu phu, ngu phụ (24) dù là bất tiếu, chớ cũng có thể tham dự biết
được, làm được. Vì pháp trì danh niệm Phật này ví như trời khắp che,
đất khắp chở, trong bầu đại tạo (vũ trụ) không bỏ một vật nào.
|