|
| |
A
DI ĐÀ
KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-
PHẬT THÍCH CA NÓI KINH A DI
ĐÀ (2)
NGÀI VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO (1)
QUYỂN THỨ NHỨT
Đất Cổ Hàng (3) chùa Vân Thê (4) Sa Môn Chu Hoằng
(5) thuật lại.
Giải kinh này bằng lời Sớ Sao, với đại văn chia ra làm ba phần lớn.
A. Thông tự đại ý (chung bài suốt đại ý
của kinh).
B. Khai chương thích văn (mở từ bài
thích từ chữ).
C. Kiết thích chú ý (kết lại để giải
thích đại ý chú vãng sanh).
Sắp như thế này thì thuận theo các kinh thông thường có ba phần là:
THÔNG TỰ, CHÁNH TÔNG và LƯU THÔNG, mà chính cũng thuận theo ba món
Tịnh nghiệp là: 1.- Tín. 2.- Hạnh. 3.- Nguyện (6).
A. THÔNG TỰ ĐẠI Ý
(phân ra làm năm)
1. Minh tánh (Nói rõ tự tánh).
2. Tán kinh (Khen ngợi kinh này).
3. Cảm thời (Cảm thích thời cơ).
4. Thuật ý (Tỏ ý mình giải kinh).
5. Thỉnh gia (Cầu Phật giúp thêm).
1. MINH TÁNH
Chánh Văn: Bản thể của tự tính là: Linh (linh thiêng), Minh
(sáng suốt), Đổng (rỗng rang), Triệt (thông thấu), Trạm (trong
trẻo). Tịch (vắng lặng), Thường (còn), Hằng (lâu), chẳng phải trược,
chẳng phải thanh, không lui, không tới, rất lớn thay cái chơn thể
của nó không thể nghĩ bàn được, phải chăng chỉ có tự tánh của chúng
ta mới như vậy?
Chú Giải: Phần suốt bày ý kinh,
về đại văn chia làm năm: Từ ban đầu "Minh tánh" cho đến thứ năm là
"Thỉnh gia".
Nay trước nói: "Minh tánh" - Bởi kinh
nầy hoàn toàn làm sáng rõ tự tánh và lý giải của các kinh cũng không
lìa tự tánh nên lấy tự tánh làm mục tiêu.
"Linh" là tánh linh giác (khôn biết).
"Minh" là trí sáng suốt - Mặt trời, mặt trăng tuy có ánh sáng, nhưng
không được gọi là linh thiêng vì là vô tình. Nay chỉ trong bản tánh
rất sáng suốt, rất hay lạ khó lường, với sự sáng suốt ấy không thể
lấy chi so sánh cho cùng tột, nên nói là "Linh" và "Minh", nghĩa là
vừa khôn thiêng vừa sáng biết.
"Triệt" là thông suốt. "Đổng" là sự
thông suốt cực điểm. Mặt trời, mặt trăng tuy chiếu khắp, nhưng không
thể soi khắp dưới lòng chậu úp, thế là thông suốt mà chưa được hoàn
toàn thông suốt vì còn bị chướng ngại. Nay tánh "Linh Minh" đây soi
khắp đất trời, thấu trong vàng đá, bốn phương trên dưới không hề
chướng ngại. Vì là bản tánh sáng suốt thông thấu, không chỗ nào là
chẳng thông suốt như "thiên nhãn thông, tha tâm thông".
Cái thông đây không phải như đối với sự
ngăn cách mà nói rằng thông, nên gọi là "Đổng Triệt".
"Trạm" là không nhiễm. "Tịch" là không
lay động. Đại địa tuy "Tịch" nhưng không thể bảo là "Trạm" (vì còn
nhuộm máu chiến tranh, núi lở đất động). Nay chỉ có bản tánh rất
vắng lặng, trong sạch, vì không cặn bã.
Sự vắng lặng ấy không thể lấy chi so
sánh cho cùng tận nên gọi là "Trạm Tịch".
"Hằng" là hằng lâu. "Thường" là sự hằng
lâu cực điểm. Đại địa tuy bền chắc nhưng không tránh khỏi kiếp hoại
(7), thế là lâu mà chưa thật lâu, vì còn "chung nhi phục thỉ". Nay
tánh "Trạm Tịch" đây, với trước từ vô thỉ, kéo sau vẫn vô chung,
suốt xưa, suốt nay, không hề biến đổi, bởi vì thường còn mãi mãi,
không bao giờ chẳng thường: chẳng phải như cái thường đối với cái
tạm mà nói rằng lâu, nên gọi là "Thường Hằng".
Phi Trược là nói có thì tánh nó không
thọ một mảy trần. Phi Thanh là nói không thì tánh chẳng bỏ một sự,
pháp.
Không "Lui" là buông ra thời không biết
nó tới đâu? Không "Tới" là rước lại cũng không biết nó từ đâu đến
đây?
Nghĩa là cái tánh "Linh Minh" "Trạm
Tịch" nầy không thể dùng sự thanh, trược, tới, lui để tìm cầu gì
được. Nói thanh, trược, tới, lui là ý gồm cả lành, dữ, thánh, phàm,
hữu, vô, sanh, diệt, tăng, giảm, đồng và dị v.v…
Hai câu "Lớn thay chơn thể"… ấy là lời
khen ngợi, chữ "Đại" là ngay nơi thể đặt tên, đủ hai nghĩa: Biến và
thường; do vì tánh, hễ ngang ra thì nó đầy khắp mười phương là
"đại", mà dọc thì nó tột cả ba đời là "đại", lại không còn pháp nào
so sánh đặng. Không phải như cái đại đối với tiểu mà nói là
đại.
Chữ "Chơn" là không vọng; do vì ba cõi
đều giả dối, duy có tự tánh đây là chơn thật, vì không phải như trò
huyễn ảo, như pháp diệt vong mà chính là không có cái chi có thể phá
hoại nó được nên nói là "Chơn", tức là "Chơn Như bất biến".
Chữ "Thể" là tột cả muôn pháp không ra
ngoài thể nhứt tâm. Thể gồm cả tướng và dụng. Chung lại gọi là "Chơn
thể". Câu: "Không thể nghĩ bàn được" là: Như trên đã nói "Minh" mà
lại "Tịch". "Tịch" mà lại "Minh", thanh, trược không bày; tới, lui
đâu có, thế là bặt đường lòng tưởng, miệng nói, không còn nghĩ bàn
được nữa.
Nói: "Không thể nghĩ bàn" đó, nghĩa là:
với pháp tánh nó không có tướng gì để tưởng đặng nên hễ tư tưởng
thời loạn sanh (sanh tán loạn). Như trong kinh nói: ‘Ngươi vừa móng
tâm, thì trần lao (phiền não) khởi trước’, thật thế. Lại nói pháp
tánh vốn không có cái tướng suy tưởng dầu có suy tưởng cũng hoài
công. Trong kinh nói: ‘Pháp đây không thể nghĩ lường phân biệt mà có
thể biết được’. Nên nói: Tâm muốn duyên thì lự đã mất, nghĩa là
không thể để ý tưởng tượng gì được.
Câu "không thể bàn" là: Vì lý viên, lời
lệch, lời thốt, lý mất. Nên trong kinh nói: "Phàm có nói năng đều
thành hý luận cả" (8). Lại vì lý viên dung, lời chênh lệch, lời
không thể tột lý nên trong kinh nói: ‘Dẫu cho mỗi mỗi thân đủ vô
lượng miệng, mỗi mỗi miệng thốt ra vô lượng lời. Tài ngôn luận như
nàng Thiện thiên nữ (9) nói đến cùng kiếp đi nữa, rốt cục cũng không
thể hết’, thật vậy. Nên nói: Miệng muốn bàn thì lời đã mất.
Lại nguyên tên kinh là "Bất Khả Tư
Nghì" (không thể nghĩ bàn) nên dùng bốn chữ này để gồm khen văn
trước. Vì cái danh tột bực của lời chí lý vậy.
Câu rốt sau là kết lại. Nghĩa là: Ý nói
cái không thể nghĩ bàn như vậy đó là sẽ chỉ cho vật gì? Duy có tự
tánh mới xứng đáng thôi.
Nói "tánh" có hai phần: 1.- Gồm trong
phần vô tình, gọi là Pháp tánh (10). 2.- Riêng trong phần hữu tình,
gọi là Phật tánh. Nay nói tự tánh, tức là chỉ Phật tánh mà nói vậy.
"Tánh" mà nói rằng: "Tự", là pháp bản nhiên như thế vì không do tạo
tác mới có; vì chính cái của ta sẵn có chớ không phải thuộc về kẻ
khác.
Song tự tánh đây vốn có nhiều tên, cũng
tên là "Bổn Tâm", cũng tên là "Bổn Giác", cũng tên là "Chơn Trí",
cũng tên là "Chơn Thức", cũng tên là "Chơn Như", nhiều tên không
cùng. Tóm lại mà nói đó, tức là một tâm "Linh Tri", "Linh Giác" của
mỗi người sẵn đủ vậy. Nay nói cái mà không nghĩ bàn đây, duy có nhứt
tâm mà thôi; chớ không có vật chi khác, duy có cái thể không nghĩ
bàn đây cùng với nhứt tâm đồng vậy.
Nếu căn cứ theo kinh đây thì câu đầu
tức là "Vô Lượng Quang" vì rỗng suốt không ngăn ngại. Câu thứ hai
tức là "Vô Lượng Thọ" vì thường còn không biến đổi. Câu thứ ba, câu
thứ tư, tức là tâm linh tuyệt đối đãi. Quang và Thọ hòa nhau, vì tất
cả công đức đều vô lượng. Câu thứ năm là tóm lại để khen. Tức trong
kinh đức Phật Thích Ca đã nói: "Như ta khen ngợi công đức không thể
nghĩ bàn của Phật A Di Đà". Câu rốt sâu xa về tự tánh. Nghĩa là:
Toàn thể của Phật A Di Đà, tức là tự tánh của mỗi người.
Lại nữa, câu đầu là nói thể sáng suốt
không chỗ nào chẳng chiếu, tức là "Dụng Đại", câu thứ hai là vắng
lặng không đâu chẳng trùm khắp, tức là "Tướng Đại". Câu thứ ba, thứ
tư, là bặt hẳn hai bên vì tuyệt đối, tức là "Thể Đại". Câu thứ năm,
tóm lại để khen, chính chỗ gọi rằng: tức ba, tức một, đều mất, đều
còn, lời tả cùng nghĩ không thấu, không thể suy xét nói bàn. Câu rốt
sau cũng kết về tự tánh vậy.
Lại câu đầu nói "Chiếu" tức là
đức
Giải Thoát. Câu thứ hai nói "Tịch" tức là
đức
Bát Nhã. Câu thứ ba, thứ tư nói "Tịch chiếu không hai" tức là
đức
Pháp Thân. (11) Câu thứ năm là tóm khen, câu rốt là kết về lệ như
trên nên biết.
Lại dùng bốn pháp giới để phối hợp đó
thì thanh, trược, tới, lui là "Sự pháp giới"; linh minh, trạm tịch
là "Lý pháp giới": Linh minh, trạm tịch bất biến (tự tánh không biến
đổi) mà tùy duyên (của 8 thức); thanh, trược, tới, lui dù tùy duyên
(của 8 thức) nhưng bất biến (tự tánh không biến đổi) là "Lý sự vô
ngại pháp giới". Bất khả tư nghì là "Sự sự vô ngại pháp giới". (12)
Do kinh đây có phần gồm thuộc về Viên giáo vì cũng có ít phần sự sự
vô ngại vậy. Rốt sau nói "tự tánh" cũng là gồm kết bốn pháp giới về
một "Lý nhứt tâm" vậy.
|