Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Giảng Ký
Hòa thượng Tịnh Không giảng
tại Tịnh Tông Học Hội Tân
Gia Ba, 5-1998
Tập 37 (Số 14-12-37)
Xin mở cuốn Khoa Chú quyển
hạ, trang 13, xin xem
kinh văn:
Cánh năng ư
tháp miếu tiền phát hồi
hướng tâm, như thị quốc
vương nãi cập chư nhân
tận thành Phật đạo dĩ
thử quả báo vô lượng vô
biên.
Nếu lại có thể ở trước
chùa tháp mà phát tâm
hồi hướng, thì các Quốc
Vương cho đến những
người đó, thảy đều thành
Phật Ðạo, bởi quả báo ấy
là vô lượng vô biên.
Ðoạn này nói về công đức
có được khi bố thí trong
đạo tràng nhà Phật, tu
bổ kinh sách cũ, hình
tượng Phật, Bồ Tát.
Phía trước nói trồng
nhân này sẽ có quả báo
làm Chuyển Luân Thánh
Vương trong trăm ngàn
năm; do đó có thể biết
phước báo của sự bố thí
chẳng thể nghĩ bàn.
Trong kinh điển,
đức Phật
dạy chúng ta, trong cõi
người, người giàu sang
nhất là Chuyển Luân
Thánh Vương, trong kinh
nói nghiệp nhân Chuyển
Luân Thánh Vương đã tạo,
chú giải ở đây có trích
dẫn lời cổ đức, trang
13, câu cuối cùng hàng
thứ nhất: “Diệu Huyền
vân”, chữ ‘Diệu’ là Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh,
‘Huyền’ là Huyền Nghĩa,
quyển này do Trí Giả đại
sư soạn. Những lời
này của Trí Giả đại sư
đều dẫn từ kinh điển,
đoạn này nói ‘phước này
đều do tán tâm trì giới,
và dùng từ tâm khuyên kẻ
khác’, câu này vô cùng
quan trọng! Tại sao họ
được phước lớn như vậy?
Tương đương với Chuyển
Luân Thánh Vương trong
cõi người chúng ta,
giống như những vị lãnh
đạo các nước lớn nhất,
những vị này giống như
Chuyển Luân Vương.
Hiện nay nước Mỹ là nước
giàu mạnh nhất trên thế
giới, tuy có rất nhiều
quốc gia người Mỹ không
thể thống trị nhưng cũng
chịu ảnh hưởng của Mỹ,
thậm chí chịu sự chi
phối của thế lực nước
Mỹ. Tổng thống Mỹ
đích thật có đầy đủ ý
nghĩa như Chuyển Luân
Vương, nhưng chẳng có
phước báo lớn bằng
Chuyển Luân Thánh Vương,
tại sao? Nhiệm kỳ
của họ chỉ có bốn năm,
vả lại còn phải chịu các
sự ràng buộc của Quốc
Hội, chẳng thể làm theo
ý riêng của mình, do đó
còn thua xa Chuyển Luân
Thánh Vương. Hơn
hai trăm năm trước, ba
đời vua Khang Hy, Ung
Chánh, Càn Long ở Trung
Quốc có thể nói cũng khá
giống Chuyển Luân Thánh
Vương, lúc đó Trung Quốc
vô cùng cường thịnh, các
nước nhỏ ở Á Châu đều
triều cống Thanh triều,
đều là chư hầu của đế
quốc nhà Thanh.
Cho nên chúng ta mở bản
đồ lúc triều Thanh hưng
vượng nhất, có lẽ lớn
gấp ba diện tích Trung
Quốc hiện nay, đất đai
Trung Quốc hiện nay chỉ
sánh bằng một phần ba
Trung Quốc dưới triều
Càn Long, do đó quốc
vương thời đó khá giống
với Chuyển Luân Thánh
Vương.
Họ làm sao tu được phước
báo ấy? Ðây là Trí
Giả đại sư trong Huyền
Nghĩa Kinh Pháp Hoa nói
với chúng ta ‘tán tâm
trì giới’, họ chẳng chú
tâm, họ có trì giới
không? Họ có trì
giới ‘và dùng tâm từ để
khuyên kẻ khác’, tâm địa
họ lương thiện, họ tu
phước và còn khuyên nhắc
rất nhiều người tu
phước, lúc phước báo của
họ hiện ra, chính họ làm
đế vương, còn những
người tu phước với họ
đều là đại thần, bộ hạ
của họ, những kẻ phước
lớn trong đó sẽ làm tiểu
vương. Chế độ thời
xưa, Tổng Ðốc chính là
tiểu vương, Tuần Phủ
cũng là tiểu vương, Tuần
Phủ tương đương với chức
tỉnh trưởng hiện nay,
còn Tổng Ðốc thường là
[vị quan] cai quản hai
tỉnh, [hai chức này] đều
là thân phận tiểu vương.
Vua các nước, các vùng
xa xôi, vua các nước nhỏ
đều tu được phước báo
như vậy.
[Câu kế tiếp trong Khoa
chú là] “Thích Thiêm
vân”, phần sau nói về
Thích Thiêm, câu cuối
hàng thứ hai; Thích
Thiêm là ‘Thích Thiêm
Huyền Nghĩa’, ‘Huyền
Nghĩa’ là do Trí Giả đại
sư soạn, [‘Thích Thiêm’]
là chú giải cho Huyền
Nghĩa, do Trạm Nhiên
pháp sư soạn. Ngài
giảng khá cặn kẽ, trích
dẫn kinh để thuyết minh,
ngài nói ‘Làm bảy pháp
trước’, đây là nói làm
thiện cả đời, họ làm
những việc thiện nào?
Thứ nhất là ‘Thí cho
những người nghèo cùng’,
họ rất nhiệt tâm lo lắng
cho những người bần
cùng, cho nên họ cảm
được quả báo có rất
nhiều người ủng hộ, đây
là có ân đức, là báo ân.
Thứ hai ‘Kính dâng hiếu
dưỡng’, họ tôn kính
người khác, có thể hiếu
dưỡng. Ðặc biệt là
có thể hiếu dưỡng cha
mẹ, hiếu dưỡng kẻ bề
trên, họ tôn kính một
cách đặc biệt. Thứ
ba ‘Bốn thời, tám tiết
cúng tế tứ hải’, đây tức
là cung kính quỷ thần.
Hai điều trước là đối
với người, điều này là
đối với thiên địa quỷ
thần, người hiện nay sơ
sót việc này. Ðời
sống con người chúng ta
có quan hệ mật thiết đối
với thiên địa quỷ thần,
quan hệ giữa người với
nhau phải làm cho tốt
đẹp, quan hệ giữa người
với thiên địa quỷ thần
cũng phải làm cho tốt
đẹp, người xưa hiểu
chuyện này; không những
cổ nhân Trung Quốc hiểu
được, chúng ta thấy cổ
nhân trên thế giới cũng
biết việc cúng tế quỷ
thần. Người hiện
nay coi chuyện này là mê
tín, cực lực bài xích,
làm quan hệ đối với quỷ
thần bị hư hỏng.
Nói cách khác, chẳng
được sự giúp đỡ của quỷ
thần, nếu quỷ thần do đó
làm loạn, phá hoại, thì
chúng ta phải chịu khổ,
chúng ta không có khả
năng chống đỡ. Tới
lúc nào thế giới này mới
có thể khôi phục, được
an định, phồn vinh, hưng
vượng giống như ngày xưa
thì mọi người phải giác
ngộ, chúng ta phải đối
xử hòa hài với thiên địa
quỷ thần. Cổ lễ
của Trung Quốc, chư vị
coi thử về ba bộ sách
nói về Lễ: ‘Châu Lễ’,
‘Nghi Lễ’, ‘Lễ Ký’ đều
đặt việc cúng tế ở hàng
đầu, cúng tế tức là giao
thiệp với thiên địa quỷ
thần, giữ mối quan hệ
tốt đẹp với họ.
Ðây là sự thật, chẳng
phải giả. Chẳng
phải nói nếu bạn tin thì
có, không tin thì chẳng
có, chẳng phải đơn giản
như vậy; bạn tin thì có
sự việc này, không tin
thì vẫn có sự việc này,
đây là sự thật, chúng ta
nhất định phải hiểu.
Người thế gian tuy miệng
nói một cách cứng rắn là
họ không tin, sự thật
thì họ đều đã từng trải
qua, đã từng thể nghiệm
trong đời sống, nghe đến
rất nhiều, có nhiều
người đã đích thân trải
qua. Chúng ta nhất
định phải coi trọng sự
thật này, phải cúng tổ
tiên, cúng thiên địa quỷ
thần. Thứ tư là
‘Thường tu nhẫn nhục’,
cho nên họ có thể giữ
gìn được phước báo, có
thể hưởng dùng trong
trăm ngàn đời, nguyên
nhân chính là họ có thể
nhẫn nhục; nếu không
thể
nhẫn nhục,
dẫu phước báo lớn lao thì
cũng sẽ hưởng hết trong
một đời;
nhà Phật nói rất hay, bố
thí là tu phước, nhẫn
nhục là giữ gìn [phước
báo]; nếu bạn không thể
nhịn thì bạn không giữ
nổi, sẽ đánh mất rất
nhanh. Phía sau
còn ba điều, nhất định
phải đoạn tham, sân, và
si, đây là tam độc phiền
não. Ðây là lúc
còn sống tạo bảy thứ
nhân thiện, thù thắng,
sau đó lại phát tâm phục
vụ đại chúng nên mới
được cảm ứng thù thắng,
được quả báo tốt như
vậy.
Trong cả bộ kinh Ðịa
Tạng, phẩm này là phẩm
quan trọng nhất, phần
cuối cùng của kinh quy
kết về Tam Bảo, ‘Danh
Hiệu Phẩm’ là Phật Bảo,
‘Bố Thí Phẩm’ là Pháp
Bảo, sau đó ‘Lợi Ích Tồn
Vong Phẩm’ là Tăng Bảo.
[Hiện nay] Phật chẳng
còn tại thế, trong Tam
Bảo thì Pháp Bảo trọng
yếu nhất, khuyên chúng
ta tu bố thí.
[Chúng ta nhất định phải
hiểu] định nghĩa của hai
chữ ‘Bố Thí’cho rõ ràng.
Bố thí chính là phục vụ,
bố thí hết thảy chúng
sanh tức là phục vụ cho
nhân dân, cho xã hội,
phục vụ cho chúng sanh
trong thập pháp giới, đó
là Phật đạo, Bồ Tát đạo.
Do đó chúng ta không thể
nhìn sai việc Bố Thí, cứ
cho rằng quyên tặng một
ít của cải thì trong nhà
Phật gọi là bố thí, vậy
thì bạn hiểu việc bố thí
một cách quá đơn giản,
quá hạn hẹp rồi.
Trong Bồ Tát hạnh, đức
Phật dạy cho chúng ta
sáu nguyên tắc, sáu
điều, trong kinh điển
gọi là Lục Ðộ, Lục Ba La
Mật, tức là sáu nguyên
tắc cho hành vi của Bồ
Tát. Thứ nhất là
Bố Thí, thứ hai cũng là
Bố Thí, thứ ba vẫn là Bố
Thí. Ðức Phật
giảng Bố Thí chia thành
ba loại: thứ nhất là Bố
Thí Tài, thứ nhì là Bố
Thí Pháp, thứ ba là Bố
Thí Vô Úy; điều thứ nhất
trong Lục Ðộ là Bố Thí,
Bố Thí bao gồm cả ba
thứ: tài, pháp, và vô
úy. Thứ hai là Trì
Giới, trì giới là tuân
giữ pháp luật. Thứ
ba là Nhẫn Nhục, tuân
giữ pháp luật và nhẫn
nhục đều thuộc về Vô Úy
Bố Thí; sau đó là ‘Tinh
Tấn, Thiền Ðịnh, Bát
Nhã’ đều thuộc về Pháp
Bố Thí. Do đó nếu
bạn quy nạp Bồ Tát hạnh
thì đó chính là hai chữ
Bố Thí; giải thích hai
chữ Bố Thí chính là phục
vụ cho hết thảy đại
chúng.
Bất luận bạn có thân
phận gì, bạn làm nghề
gì, hết thảy bạn đều vì
chúng sanh, vì xã hội,
vì nhân dân thì đó là tu
bố thí ba la mật.
Mỗi người chúng ta lợi
sanh là làm một gương
mẫu tốt cho chúng sanh,
đó là tu bố thí ba la
mật. Tâm địa một
người trên thế gian tốt,
phẩm đức tốt, hành vi
tốt, làm gương tốt cho
xã hội, thì đã bố thí
‘thân’ mình, cả thân và
tâm đều tu bố thí.
Ðời sống chúng ta, bất
luận là giàu sang hay
nghèo hèn, giàu sang thì
làm một gương giàu sang
tốt, nghèo hèn thì làm
một gương nghèo hèn tốt.
Người nghèo hèn giữ vững
bổn phận, vui với cái
nghèo, vậy chính là bố
thí; người giàu sang làm
gương tốt của một người
giàu, dùng những gì mình
dư dả giúp cho những
người nghèo, đó là gương
tốt cho người giàu, có
phước thì cùng hưởng với
hết thảy chúng sanh.
Bạn làm trong chánh phủ,
phục vụ cho nhân dân,
bạn buôn bán cũng phục
vụ cho nhân dân, bạn làm
công cũng phục vụ cho
nhân dân. Chúng ta
đã xuất gia, người xuất
gia nghiên cứu Phật
pháp, kinh giáo cho thấu
triệt, giảng giải tường
tận cho hết thảy chúng
sanh, đó là phục vụ nhân
dân, giúp mọi người phá
mê khai ngộ, giúp mọi
người nâng cao mức sống,
người xuất gia cũng phục
vụ nhân dân. Tất
cả Phật pháp chẳng có gì
khác, nói đến cuối cùng
tổng kết lại chỉ là phục
vụ hết thảy chúng sanh
mà thôi. Chúng ta
phát tâm phục vụ cho
chúng sanh, và cũng
khuyên hết thảy chúng
sanh cũng phải phục vụ
chúng sanh, thực sự có
thể hy sinh chính mình,
xả mình vì người thì
người đó gọi là Bồ Tát.
Niệm niệm đều nghĩ đến
chúng sanh, nghĩ đến
toàn thể xã hội, nghĩ
đến hết thảy nhân dân,
chẳng nghĩ đến mình,
chẳng nghĩ đến nhà mình;
mình và nhà mình là một
phần tử của đoàn thể, cả
đoàn thể tốt thì lẽ nào
mình không tốt được.
Cho nên họ có phước báo
lớn như vậy, phước báo
có nguồn gốc từ đâu,
chúng ta hiểu được.
Ðoạn kinh văn sau đây
[nói] nếu bạn có thể mở
rộng tâm lượng phục vụ
thì phước báo của bạn
còn lớn hơn nữa.
Cánh năng ư tháp miếu
tiền phát hồi hướng tâm
Nếu lại có
thể ở trước chùa tháp mà
phát tâm hồi hướng.
‘Tâm hồi hướng’ là tâm
gì? Ngày nay chúng
ta phục vụ một khu vực,
hoặc càng nhỏ hơn nữa là
một đoàn thể, một đoàn
thể xã hội, một khu vực.
Mở rộng ra tới cả nước,
ngày nay nói đến cả thế
giới, đây là việc chúng
ta có thể làm trên
phương diện sự tướng.
Tâm hồi hướng, tuy trên
mặt Sự chúng ta chẳng
làm được, nhưng tâm
nguyện của chúng ta đã
đạt được. Tâm phục
vụ của chúng ta là tận
hư không, trọn khắp pháp
giới, chẳng hạn chế tại
địa cầu này, lời nói này
có phải là lời nói suông
hay không? Không
phải, khi thật sự có tâm
nguyện thì chẳng phải
nói suông. Tiếc là
hiện nay chúng ta chẳng
có khả năng, nếu một
ngày nào đó chúng ta có
thần thông, bay đi biến
hóa tự tại, đích thật
chúng ta rất hoan hỷ
giúp đỡ hết thảy chúng
sanh trong mười phương
thế giới, giống như chư
Phật, Bồ Tát vậy, tùy
loại hóa thân ở tận hư
không, trọn khắp pháp
giới, tùy cơ thuyết
pháp, đây là tâm hồi
hướng. Tâm của bạn
đã mở rộng, một khi tâm
đã mở rộng thì phước báo
của bạn chẳng phải chỉ
làm Chuyển Luân Vương
trăm ngàn đời mà thôi.
Như thị
quốc vương nãi cập chư
nhân tận thành Phật đạo
dĩ thử quả báo vô lượng
vô biên.
Thì các Quốc Vương cho đến
những người đó, thảy đều
thành Phật Ðạo, bởi quả
báo ấy là vô lượng vô
biên.
Tại sao vừa
hồi hướng thì liền thành
Phật? Tâm hồi
hướng này là tâm Phật,
tâm là tâm Phật thì làm
sao không thành Phật cho
được? Ðương nhiên
sẽ thành Phật. Tâm
nói ở phía trên
chẳng phải tâm Phật, mà là
tâm người, trong bốn thứ
từ bi, đó là ‘Chúng Sanh
Duyên Từ Bi’, cho nên
quả báo đó sẽ là thân
Chuyển Luân Vương.
Một khi đã phát nguyện
hồi hướng thì tâm đó là
tâm Phật, từ bi đó là
đại từ đại bi, chẳng có
điều kiện gì cả, ‘Vô
Duyên Ðại Từ, Ðồng Thể
Ðại Bi’, cho nên chắc
chắn thành Phật.
Bất luận là phát tâm dẫn
dắt, khuyên dạy mọi
người, hoặc là cùng nhau
làm đều thành Phật đạo.
‘Ðều thành Phật đạo’,
chư vị phải biết, những
người này đều phát tâm
hồi hướng thì họ mới có
thể thành Phật đạo.
Trong đó có nhiều người
như vậy, nếu có người
không phát tâm rộng lớn
này thì họ sẽ không
thành Phật đạo được,
người chân chánh phát
tâm mới thành Phật được.
Quả báo thành Phật mới
rốt ráo, viên mãn, trên
quả vị Phật, nên dùng
thân Chuyển Luân Vương
để độ được thì ngài sẽ
hiện thân Chuyển Luân
Vương, nên dùng thân
thiên vương để độ được
thì ngài sẽ hiện thân
thiên vương, bạn coi các
ngài tự tại biết bao.
Nếu chẳng có tâm lượng
to lớn này, tuy tu phước
báo lớn làm Chuyển Luân
Vương, thân cũng không
tự tại, họ không thể tùy
ý mình đi làm thiên
vương, đi làm quỷ vương,
họ không thể làm những
gì tâm họ muốn.
Nếu thành Phật, thành Bồ
Tát thì mới làm được tùy
tâm mong muốn. Bất
cứ thân phận gì cũng có
thể thị hiện, vả lại thị
hiện không chỉ [hạn chế]
một thân, cùng lúc, cùng
một nơi có thể hiện vô
lượng thân, hiện các
thân phận khác nhau, chỉ
có quả địa Phật và đại
Bồ Tát mới có thể làm
được, do đó phát nguyện
hồi hướng rất quan
trọng.
Trong kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật, Thế Tôn giảng
cho chúng ta về Bồ Ðề
Tâm, chí thành tâm là
Thể của Bồ Ðề tâm, [Thể
tức] là bản thể.
Hết thảy pháp đều lưu
xuất từ tâm này, đều
được xây dựng từ tâm
này. Tâm người phải chân
thành, chân thành đến
cùng cực, không những
không có tâm riêng tư,
ngay cả vọng tưởng cũng
không có, đây là nói về
Thể, tức là bản thể [của
cái tâm]. Có [bản]
Thể thì đương nhiên cũng
có Dụng, trong Dụng có
chia thành hai loại, một
là Tự Thọ Dụng, hai là
Tha Thọ Dụng. Nếu
dùng cách nói hiện nay
mà nói thì bạn dùng tâm
gì đối với chính mình,
thì dùng tâm đó để đối
xử với kẻ khác, đối với
mình là tự thọ dụng, đối
với kẻ khác là tha thọ
dụng. Phật dạy
chúng ta, đối với mình
là Thâm Tâm, thâm tâm là
tâm háo thiện, háo đức,
tự mình có thể tu thiện,
tích đức, đây là đối với
chính mình; đối với kẻ
khác là Tâm Phát Nguyện
Hồi Hướng.
Phát nguyện hồi hướng là
đại từ đại bi, phát
nguyện hồi hướng tức là
phát nguyện phục vụ cho
hết thảy chúng sanh.
Bất luận ở lúc nào, bất
luận ở nơi đâu, toàn tâm
toàn lực phục vụ cho đại
chúng, sự phục vụ này
hoàn toàn là nghĩa vụ,
chẳng mong cầu báo đền
gì hết. Người thế
gian phục vụ thì phải
nói tới đền đáp, còn chư
Phật, Bồ Tát phục vụ thì
không có đền đáp, tất cả
đều là hiến dâng, nói
theo hiện nay thì gọi là
nghĩa vụ, hoàn toàn là
tình nguyện. Nếu
có quan niệm tình nguyện
này thì cũng chưa phải
là Phật, Bồ Tát, tại sao
vậy? Tâm thương
yêu của họ còn thấp một
cấp, ‘pháp duyên từ’ chứ
không phải là đại từ đại
bi. ‘Ðại từ đại
bi’ thì ngay cả ý niệm
nghĩa vụ cũng không có,
những gì họ làm thật sự
là công việc nghĩa vụ,
nhưng tuyệt đối không có
ý niệm nghĩa vụ, đó mới
thật sự là Phật, Bồ Tát,
quả báo đó mới là vô
lượng vô biên.
Pháp sư Thanh Liên trong
Chú Giải cũng trích dẫn
một số sự tích, chư vị
hãy coi những chuyện
này, sau khi chư vị nghe
tôi nói xong thì sẽ coi
và hiểu những chuyện
này, vậy thì chúng ta
không cần phải nói nhiều
nữa. Xin xem phần
kinh văn dưới đây, phần
này là đoạn thứ tư nói
về Bố Thí, phước báo có
được khi ‘bố thí cho
người già, người bịnh,
sản phụ’.
Phục thứ,
Lại nữa
Trong kinh thêm chữ
‘Phục thứ’, nghĩa là
phần mở đầu của một sự
việc khác. Ðức
Phật giảng cho chúng ta
các thứ bố thí, đây là
loại thứ tư. Gọi
là:
Ðịa Tạng, vị lai thế
trung hữu chư quốc vương
cập Bà La Môn đẳng.
Này Ðịa
Tạng! Trong đời vị lai,
như có các vị quốc vương
cùng hàng Bà La Môn
v.v...
Câu này nói về người có
thể bố thí, người phát
tâm bố thí nhiều như
vậy, thân phận, địa vị,
phước báo của họ đều
chẳng bằng nhau, nhưng
họ đều có thể phát tâm
bố thí, phước có được từ
sự bố thí hoàn toàn dựa
trên tâm niệm và thái độ
của người bố thí, tuyệt
chẳng dựa trên địa vị
của họ cao hay thấp,
được phước báo lớn nhỏ
chẳng liên quan gì tới
địa vị của họ, cũng
chẳng liên quan đến tài
lực, vật lực của họ.
Quan hệ ở chỗ họ phát
tâm, họ có dùng tâm chân
thành hay không, tâm có
rốt ráo hay không, có
tận tâm tận lực hay
không, phước báo lớn hay
nhỏ là dựa trên những
điểm này mà xét.
Do đó có thể thấy tu vô
lượng vô biên phước báo
là việc mà mỗi người
chúng ta đều có phần,
mỗi người đều có thể làm
được. Phần sau là
đối tượng của sự bố thí.
Kiến chư
lão bịnh cập sanh sản
phụ nữ nhược nhất niệm
gian cụ đại từ tâm
Gặp những người già yếu,
tật bịnh và phụ nữ sinh
đẻ, nếu trong một niệm
đầy đủ lòng đại từ
Quan trọng
ở chỗ ‘đại từ tâm’, tâm
đại từ là tâm Phật, tâm
niệm và thái độ của Pháp
Thân Ðại Sĩ, đây chẳng
phải là người bình
thường. [Họ] chẳng
đòi hỏi điều kiện gì cả,
khi gặp là nhất định sẽ
giúp đỡ.
Bố thí y dược, ẩm thực,
ngọa cụ sử lịnh an lạc
Ðem thuốc
men, đồ ăn thức uống,
mền chiếu bố thí cho,
khiến cho họ được an vui
Thấy người ta có khổ nạn
thì lập tức ra tay giúp
đỡ. Hiện nay trong
xã hội có rất nhiều
người già, người bịnh
đáng thương xót, chẳng
có người chăm sóc, tại
sao cả xã hội trở thành
như vậy? Vì đường
lối giáo dục sai lầm.
Giáo dục hiện nay đều là
giáo dục của Công Lợi
chủ nghĩa
,
chẳng giống với Trung
Quốc thời xưa, giáo dục
thời xưa ở Trung Quốc là
giáo dục đạo đức, giáo
dục nhân nghĩa, tôn
trọng đạo đức nhân
nghĩa. Giáo dục
hiện nay là công lợi, là
giáo dục lợi hại, đối
với mình có lợi là bạn
bè, đối với mình không
có lợi thì là kẻ thù,
bạn nói như vậy thì làm
sao được! Xã hội này,
Mạnh Tử nói [nếu] ‘Kẻ
trên, người dưới tranh
nhau thủ lợi’,
đất nước này sẽ bị nguy
hiểm. Sự nguy hiểm
này nói rõ sẽ có tai nạn
lớn xảy ra, hoặc là
thiên tai, hoặc là nhân
họa, đều do nghiệp cảm
của chúng sanh tạo ra,
vì mọi người đều tạo
nghiệp chẳng thiện.
Thế nên tại sao người
đời sau tôn kính cổ
thánh tiền hiền đời xưa?
Tại sao sùng bái họ?
Vì họ có trí huệ, họ
dựng nên một đường lối
giáo hóa chúng sanh, dạy
chúng sanh ‘đạo đức,
nhân nghĩa, lễ nghĩa’,
minh đạo, tu đức, hành
nhân, tận nghĩa, giữ lễ,
xã hội sẽ an định, nhân
dân sẽ yên vui, biết hợp
tác lẫn nhau, chung sống
hòa mục, đó là đế vương
phục vụ cho nhân dân,
làm gương tốt cho xã hội
đại chúng.
Trong xã hội công lợi
hiện nay, mỗi người chỉ
cầu cho lợi ích của cá
nhân mình, gia đình cũng
chẳng lo đến, đúng là
vong ân, bội nghĩa.
Cha mẹ nhọc nhằn nuôi
con khôn lớn, đến lúc
cha mẹ già thì con cái
bỏ xó, vứt bỏ, cho rằng
hiếu dưỡng cha mẹ là một
gánh nặng, họ không chịu
gánh vác gánh nặng này,
họ bỏ đi, cha mẹ sống
chết gì cũng chẳng liên
quan tới mình, cha mẹ bị
bịnh chẳng có người chăm
sóc, cha mẹ già bỏ xó
cũng chẳng có người săn
sóc. Hiện nay ở
ngoại quốc có chế độ
phước lợi cho người già,
quốc gia đứng ra nuôi
người già, quốc gia phải
có tài lực mới được.
Sự nghiệp phước lợi xã
hội là do người Mỹ đề
xướng đầu tiên, sau khi
thế chiến thứ hai chấm
dứt, nước Mỹ giàu mạnh
nhất nên họ khởi xướng
chế độ này; rất nhiều
dân tộc, quốc gia trên
thế giới đều bắt chước.
Hiện nay mối tệ xảy ra,
gánh nặng quốc gia quá
lớn, làm cho chính sách
kinh tế quốc gia suy
xụp. Nhưng có ai
dám phế trừ chế độ này
không? Chẳng ai
dám. Quốc gia đó
là xã hội dân chủ, nếu
bạn muốn phế trừ chế độ
này thì dân chúng sẽ
không bỏ phiếu cho bạn,
thì bạn sẽ không đắc cử,
vì [người ứng cử] muốn
lấy lá phiếu nên cắn
chặt răng vẫn phải duy
trì chế độ này.
Nước Mỹ hiện nay thiếu
nợ, hầu như mỗi người
trên thế giới đều biết,
bốn đời còn chưa trả
hết, họ vốn là nước [dư
dả] cho người ta vay
mượn, hiện nay biến
thành nước thiếu nợ,
đây đều là
do chánh sách sai lầm.
Cho nên chánh phủ Tân
Gia Ba rất thông minh,
thấy được trạng thái
bịnh hoạn này của xã
hội. Tân Gia Ba có
phước lợi xã hội không?
Có chứ, cội nguồn chủ
yếu của phước lợi xã hội
là số tiền dành dụm của
nhân dân, họ gọi là
‘công tích kim’ (tiền
tích trữ chung), đây là
tiền chánh phủ buộc bạn
phải dành dụm. Số
dành dụm này là để phòng
hờ khi bạn sanh bịnh,
khi bạn đến tuổi già, có
thể tự nuôi mình.
Thật ra khi có khó khăn,
chánh phủ trợ giúp một
ít, quy chế này tốt!
Ở ngoại quốc vì có chế
độ phước lợi xã hội nên
người dân chẳng có quan
niệm dành dụm, [họ
thường nghĩ] già cũng
không sao, có nhà nước
nuôi. Cho nên tiền
thu nhập hằng tháng, họ
đều tiêu xài hết trơn,
nhiều người còn xài quá
lố, tạo nên hiện tượng
thiếu nợ rất nhiều.
Trong quan niệm giáo dục
cổ xưa Trung Quốc, thiếu
nợ là nhục nhã, bạn làm
sao có thể mượn tiền để
sống qua ngày?
Ngạn ngữ thường nói
‘Không nợ cả mình khoẻ
re’. Ðời sống
nghèo khổ một tí cũng
không sao, không thiếu
nợ thì đời sống chẳng có
áp lực, đời sống của họ
rất thoải mái. Còn
những quốc gia tiên tiến
ở ngoại quốc hầu như là
không có ai không thiếu
nợ, áp lực đời sống rất
lớn. Xã hội như
vậy, tôi sống ở bên đó
hai mươi mấy năm, tôi
nhìn thấy rất khó chịu,
con người sống ở trên
thế gian là để làm gì?
Là để trả nợ, bạn coi có
đáng thương hay không,
bi ai biết bao!
Mỗi ngày nỗ lực làm việc
là để trả nợ. Trả
tiền nợ của ngân hàng,
mượn tiền ngân hàng, đất
đai, căn nhà của bạn ở
là do mượn tiền mua trả
góp, chiếc xe hơi bạn
lái cũng do tiền mượn
ngân hàng, mượn công ty
bảo hiểm trả góp để mua.
Số tiền mỗi tháng kiếm
được thì trước tiên phải
trả ngân hàng, trả công
ty bảo hiểm, còn lại một
phần nhỏ mới dành để chi
dụng cho sanh hoạt.
Lúc tôi ở Mỹ, phần đông
các người Mỹ có thể nói
là tiền thu nhập rất khả
quan, mỗi tháng có thể
kiếm được ba ngàn Mỹ
kim, số ba ngàn này phải
đóng thuế, phải trả góp
cho ngân hàng, trả góp
cho công ty bảo hiểm,
trên thực tế kiếm được
ba ngàn đồng còn lại chỉ
được tám trăm đồng, do
đó tiền lương ba ngàn
đồng nhưng thật ra chỉ
còn tám trăm đồng.
Tám trăm đồng tiền chi
dụng cho sanh hoạt so
với Trung Quốc chúng ta
cao hơn rất nhiều, nhưng
chỉ miễn cưỡng đủ cho họ
chi dùng trong một
tháng. Người Trung
Quốc đỡ hơn người ngoại
quốc vì người Trung Quốc
biết tiết kiệm.
Mỗi tháng họ có thể dành
dụm hai trăm đồng là
điều rất khó khăn, rất
hiếm có. Cho nên
số tiền thâu nhập ba
ngàn đồng, họ có thể
thật sự dành dụm chỉ bất
quá là hai trăm đồng mà
thôi, [từ chuyện này
chúng ta mới biết] họ
sinh sống như thế nào?
Còn người
đến tuổi già, mỗi tiểu
bang ở Mỹ có tài chính
riêng rẽ, nước Mỹ là
nước liên bang, mỗi tiểu
bang cũng giống như một
nước nhỏ, có rất nhiều
luật lệ riêng rẻ, nhưng
không trái nghịch với
hiến pháp liên bang.
Vì của cải của mỗi tiểu
bang không giống nhau
nên phước lợi xã hội
cũng khác nhau.
Như tiểu bang Cali khá
sung túc, người già ở
Cali mỗi tháng có thể
lãnh được năm trăm đồng
tiền dưỡng già, năm trăm
đồng có thể chi dụng cho
một tháng, chẳng thành
vấn đề. Tôi ở tiểu
bang Texas, hoàn cảnh
kinh tế của Texas thua
Cali nên tiền dưỡng già
ở Texas chỉ có hơn ba
trăm đồng, đời sống vật
chất có thể miễn cưỡng
sống qua ngày, còn đời
sống tinh thần rất đau
khổ, thật sự là họ chỉ
ngồi ăn rồi chờ chết.
Họ mỗi ngày ăn no xong
rồi phơi nắng, chẳng có
người nói chuyện với họ.
Chúng tôi đến thăm viện
dưỡng lão, người già
nhìn thấy chúng tôi đều
thích nói chuyện với
chúng tôi, có người nói
chuyện với họ thì họ mới
cảm thấy an ủi.
Chúng tôi
nhìn thấy hiện tượng thê
thảm của người già, nên
chúng tôi có ý định muốn
xây làng Di Ðà, giúp đỡ
họ giải quyết sự khổ
nạn, tìm cho họ một đời
sống tinh thần. Có
một số viện dưỡng lão tổ
chức rất khá, mỗi tuần
có tổ chức một buổi họp
có tính chất giúp vui,
trong đó có biểu diễn,
có ca hát, khiêu vũ, do
ai tổ chức? Ðều do
người già tự tổ chức.
Những người trẻ tuổi một
chút, sức khoẻ còn khá
đứng ra biểu diễn, còn
nhiều người lớn tuổi đi
đứng không được phải
ngồi xe lăn, họ xúm lại
làm khán giả, như vậy kể
là rất khá rồi.
Nhưng chúng tôi cảm thấy
như vậy cũng chưa đủ,
chúng ta phải thường có
người trẻ tuổi đến đó
biểu diễn, đặc biệt là
khích lệ học sinh trẻ
tuổi, các em nhỏ có thể
thường xuyên đến làng Di
Ðà biểu diễn, làm cho
người già có thể thường
gặp mặt, tiếp xúc các em
nhỏ, làm cho tinh thần
của họ được an ủi.
Rất nhiều đoàn ca vũ
trên thế giới, các đoàn
diễn xiếc Trung Quốc,
chúng ta có thể mời
những đoàn biểu diễn
giỏi đến làng Di Ðà biểu
diễn. Cho nên làng
Di Ðà không chỉ đơn
thuần niệm Phật, trong
đó có nhiều sinh hoạt
giúp vui này.
Chúng tôi hy vọng có thể
giúp người già trải qua
thời gian mà họ cảm thấy
hạnh phúc nhất trong đời
của họ, chúng tôi hướng
về mục tiêu này mà làm,
phục vụ cho người già,
người bịnh.
Trong kinh
đề cập tới ‘sanh sản phụ
nữ’, hiện nay y dược
phát triển, chăm sóc phụ
nữ sanh sản chẳng cần
chúng ta phải bận tâm.
Thời xưa người phụ nữ
sanh sản vô cùng khổ sở,
chẳng có người chăm sóc.
Cho nên lúc sanh sản là
lúc quan hệ tới tánh
mạng, là lúc cần người
giúp đỡ nhất. Hiện
nay trừ phi là những chỗ
vô cùng lạc hậu, chưa
phát triển, còn những
chỗ đã phát triển, hoặc
những quốc gia đang phát
triển đại khái đều không
thành vấn đề. Ở
đây đức Phật khuyến
khích chúng ta phải bố
thí thuốc men, thức ăn,
mền chiếu cho những
chúng sanh khổ nạn, cần
chúng ta giúp đỡ, họ rất
cần những vật này, nếu
bạn có thể chăm sóc
được, mục đích là ‘sử
lịnh an lạc’, làm cho họ
được thân tâm bình yên,
làm cho họ lìa khổ hưởng
vui. Xin xem tiếp
kinh văn:
Như thị
phước lợi tối bất tư
nghị, nhất bá kiếp
trung, thường vi Tịnh Cư
Thiên Chủ, nhị bá kiếp
trung thường vi Lục Dục
Thiên Chủ, tất cánh
thành Phật vĩnh bất đọa
ác đạo, nãi chí bá thiên
sanh trung nhĩ bất văn
khổ thanh.
Thì
phước lợi đó không thể
nghĩ bàn, trong một trăm
kiếp thường được làm
Thiên Chủ trời Tịnh Cư,
trong hai trăm kiếp
thường được làm Thiên
Chủ cõi Lục Dục Thiên và
rốt ráo sẽ được thành
Phật, vĩnh viễn không
còn đọa vào ác đạo, thậm
chí trong trăm ngàn đời,
tai không hề nghe đến
tiếng khổ.
Ðoạn kinh
văn này nói về quả báo
của sự bố thí. Bố
thí là nhân của phước
đức, ba nghiệp đều phải
biết tu học. Trong
tâm thường giữ ý niệm bố
thí, bố thí chính là
phục vụ chúng sanh,
chúng ta nói như vậy thì
mọi người dễ hiểu, mỗi
niệm đều có tâm nguyện
phục vụ chúng sanh, đó
là tâm bố thí. Lúc
thường ngày dùng lời nói
để khuyên người, phục vụ
xã hội, phục vụ nhân
dân, đó là miệng bố thí.
Trong đời sống hằng
ngày, chúng ta thật sự
làm được, ngay ở chỗ
làm, ngay trong cách
sinh sống hằng ngày,
phải làm việc có lợi ích
cho xã hội, cho chúng
sanh, đó là thân bố thí,
[làm vậy] thì bạn nhất
định sẽ có phước. ‘Tài
thí’ gồm có nội tài và
ngoại tài, ngoại tài là
vật ngoài thân, nội tài
là thân thể, tôi dùng
thân thể của tôi, dùng
sức lực của tôi phục vụ
mọi người, đây là ‘nội
tài bố thí’, thí tài thì
sẽ được giàu sang.
‘Pháp thí’ là dùng trí
huệ, dùng kỹ thuật, khả
năng của mình để giúp đỡ
người khác, quả báo sẽ
được thông minh, trí
huệ. ‘Vô úy thí’
là làm cho mọi người
thân tâm yên ổn, xa lìa
lo sợ, buồn rầu, phiền
não, quả báo là được
khoẻ mạnh, sống lâu.
Như vậy thì phước báo
của bạn mới viên mãn,
trong đời sống vật chất
của bạn chẳng thiếu
thốn, chẳng cần quá
nhiều, không thiếu thốn
là được rồi, là viên mãn
rồi. Cái ăn, cái
mặc đầy đủ, thông minh,
trí huệ, khoẻ mạnh, sống
lâu, thì phước báo của
người đó mới viên mãn.
Ngày nay chúng ta thấy
thế gian này, có rất
nhiều người giàu sang
nhưng không có trí huệ,
họ thật sự giàu có
[nhưng] ngu si.
Lại thấy có người thông
minh, rất có trí huệ,
thân thể không khoẻ,
nhiều tai nạn, nhiều
bịnh, đó là gì?
Ðời trước họ chẳng tu vô
úy thí, thường làm tổn
thương hết thảy chúng
sanh, [nên họ] bị nhiều
tai họa, nhiều bịnh.
Họ nói: ‘Tôi đâu có hại
chúng sanh gì đâu, chẳng
hại ai hết’, mỗi ngày ăn
thịt chúng sanh thì đã
là phiền phức rồi.
Tôi nhớ có
một lần, cư sĩ họ Lôi ở
Hương Cảng làm báo cáo
tại đây, bà thấy quả báo
ngay trong đời này, có
một người thích ăn đồ
biển, lúc chết bị một
bịnh giống như con cua
vậy, giống cá tôm vậy,
lúc quả báo hiện lên mọi
người đều nhìn thấy, làm
cho rất nhiều người sợ
hãi, những người thích
ăn đồ biển đều không dám
ăn nữa. Bà ở đây
thuật lại chuyện này,
chúng tôi có thâu hình,
cuồn băng thâu hình này
có thể lưu thông cho mọi
người coi, chuyện bà kể
lại là chuyện thật,
người thật. Trong
Giới Kinh tuy đức Phật
chẳng cấm mọi người ăn
thịt, đức Phật khuyên
người ăn ‘Tam Tịnh
Nhục’. Tam tịnh
nhục nghĩa là thứ nhất
không trông thấy [con
vật đang] bị giết, bạn
chẳng thấy sự sát sanh,
thứ hai bạn chẳng nghe
thấy âm thanh [lúc con
vật bị] giết, thứ ba là
tuyệt đối chẳng giết cho
mình ăn, đó gọi là tam
tịnh nhục. Nhưng
có một số người thích ăn
thịt sống, tận mắt nhìn
thấy con vật bị giết,
đích thân kêu người đầu
bếp giết con vật ấy, họ
muốn ăn đồ tươi, ăn như
vậy thì tạo nghiệp nặng
lắm. Cho dù bạn tu
bố thí được phước, dù
bạn tu pháp bố thí được
thông minh trí huệ, quả
báo bạn được sẽ là thân
thể bị nhiều tai họa,
nhiều bịnh.
Thông
thường thì thân thể
người Trung Quốc chẳng
bằng người ngoại quốc,
người ngoại quốc ăn
thịt, họ thật sự ăn tam
tịnh nhục, vả lại lúc ăn
thịt cũng tương đối đơn
thuần. Ở ngoại
quốc chúng ta thấy họ ăn
nhiều nhất là thịt bò,
thịt gà, những thịt động
vật khác họ không ăn,
rất ít ăn, họ yêu thương
động vật. Nếu họ
thấy bạn làm tổn thương
động vật thì họ không
thích, họ sẽ không tha
thứ cho bạn. Ở Úc
Châu nếu làm tổn thương
động vật bừa bãi thì
phải bị phạt, phải bị
phạt tiền thậm chí phải
bị ở tù, đây là [luật
lệ] bảo hộ động vật.
Gà và bò của họ được
[chuyên môn] nuôi để làm
thịt, như vậy thì sự tạo
nghiệp sẽ nhẹ. Hãy
coi người Trung Quốc,
đặc biệt là người miền
nam cái gì cũng ăn, cái
gì cũng muốn ăn sống,
như vậy thì tạo nghiệp
rất nặng, sẽ chịu tai
nạn rất nhiều. Do
đó chúng ta phải biết
làm cách nào để tu
phước.
[Nói đến]
phương pháp sống khoẻ
mạnh, trường thọ, cố
nhiên phương thức sống
của chúng ta rất quan
trọng, đó đều là duyên.
Nguyên nhân thật sự là
do đời quá khứ tu vô úy
thí, làm cho hết thảy
động vật, làm cho các
loài hữu tình, động vật
có sinh mạng được yên
ổn, được vui sướng,
không thể sát hại chúng
nó, đó thuộc về vô úy
thí, ngày nay gọi là
thương yêu động vật.
Chúng tôi thấy những
động vật sanh trưởng
trong vùng hoang dã ở
Mỹ, ở Gia Nã Ðại, ở Úc
Châu chẳng sợ con người.
Bạn coi những động vật
nhỏ ấy, bạn ngoắc tay
thì nó liền đi tới, chim
cũng không sợ người ta,
nó bay xuống đậu trên
thân bạn, con sóc [nhìn
thấy bạn] vừa ngoắc tay
nó liền chạy lên tay
bạn. Ðộng vật ở
Trung Quốc khác ở ngoại
quốc, vừa thấy người ta
nó liền chạy mất, động
vật cũng thông hiểu tánh
người, sống ở chỗ nào mà
nó biết con người không
hại nó, con người là bạn
của nó, thì nó mới dám
lại gần [người ta].
Còn ở Trung Quốc hay Ðài
Loan thì làm sao được,
chim vừa nhìn thấy người
ta thì liền bay mất, nó
biết những người này là
kẻ thù của nó, là oán
gia, chắc chắn sẽ giết
hại chúng nên chúng mau
mau chạy trốn.
Ðoạn này
dạy chúng ta làm thế nào
để tu bố thí, làm sao tu
phước, bố thí tức là tu
phước, nếu bạn có thể tu
học như vậy, tu bố thí
như vậy, quả báo sẽ là
‘trong vòng một trăm
kiếp, thường làm Thiên
Chủ cõi trời Tịnh Cư’;
cõi trời Tịnh Cư là cõi
Tứ Thiền thiên, quả vị
này cao, họ sẽ được quả
báo như vậy. Cội
nguồn của quả báo đều ở
chỗ phát tâm, bạn biết
phát tâm thì sẽ tin lời
Phật nói, tin quả báo
đều là chân thật.
‘Hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh’, hết thảy
pháp đều do tâm niệm mà
chuyển biến, trong nhân
nói phía trước, quan
trọng nhất là phải có
đại từ tâm thì bạn mới
có quả báo này.
Nếu bạn chỉ có “ái duyên
từ, chúng sanh duyên
từ”, thì quả báo sẽ
chẳng lớn như vậy, đây
là lòng đại từ đại bi
giống như chư Phật, Bồ
Tát, quả báo này sẽ
chẳng thể nghĩ bàn.
Thời gian một trăm kiếp
dài như vậy, bạn sẽ làm
Ðại Phạm thiên vương,
đây là [thiên vương] cõi
trời Sắc Giới.
‘Trong hai
trăm kiếp thường là
thiên chủ cõi trời Lục
Dục’, Ðại Phạm thiên
vương, phước báo của
thiên chủ cõi Tịnh Cư
hết thì sẽ đọa trở
xuống, nhưng họ còn
phước dư. Phước đó
tuy không đến cõi trời
Sắc Giới, nhưng sẽ hưởng
phước tiếp ở trời Dục
Giới. ‘Nhất định
thành Phật, vĩnh viễn
không đọa ác đạo’, ‘Nhất
định thành Phật’ là nói
hạt giống Kim Cang gieo
trong A Lại Da Thức sẽ
không hư hoại, nếu gặp
được nhân duyên thù
thắng, duyên thù thắng
này giống như lời nói
của Thiện Ðạo đại sư
‘gặp duyên không đồng’.
Nếu họ gặp được Ðại Thừa
Phật pháp, gặp được pháp
môn Tịnh Ðộ, dựa trên
thiện căn, phước đức, và
thêm nhân duyên, thì họ
nhất định sẽ vãng sanh
thành Phật, vậy thì vĩnh
viễn sẽ chẳng đọa ác
đạo, sanh đến tây phương
thế giới thì đương nhiên
‘sẽ chẳng nghe tiếng
khổ’. Ðoạn này nói
về quả báo của họ.
Ðoạn này
trong Chú Giải, Thanh
Liên pháp sư chú thích
rất nhiều, nói rõ những
sự chẳng thể nghĩ bàn.
Trong đó ngài trích dẫn
kinh, luận, nêu ra các
vật bố thí gồm có nhà
cửa, giường, đồ ăn,
thuốc men, nói rõ những
thứ này đều là thế pháp,
làm sao có thể nói là
chẳng thể nghĩ bàn?
Sau đó nói ‘Ðó là do lúc
bố thí, một niệm có đủ
tâm đại từ, bèn là căn
bản thành Phật?’, cho
nên quan trọng ở ba chữ
‘đại từ tâm’. Nếu
thật sự dùng tâm đại từ
đại bi, chẳng có phân
biệt, chẳng có chấp
trước, một tâm niệm này
liền chẳng thể nghĩ bàn,
cho nên được phước cũng
chẳng thể nghĩ bàn, quả
báo chẳng thể nghĩ bàn.
Phần chú thích còn lại,
chư vị có thể tự xem.
Xin xem tiếp kinh văn:
Phục thứ
Ðịa Tạng, nhược vị lai
thế trung hữu chư quốc
vương, cập Bà La Môn
đẳng, năng tác như thị
bố thí, hoạch phước vô
lượng, cánh năng hồi
hướng, bất vấn đa thiểu
tất cánh thành Phật.
Hà huống Thích Phạm
Chuyển Luân chi báo
Lại nữa,
này Ðịa Tạng! Trong đời
vị lai, như có các vị
Quốc Vương cùng hàng Bà
La Môn v.v..., có thể
làm những việc bố thí
như thế, sẽ được vô
lượng phước lành. Nếu
lại có thể đem hồi
hướng, thì không kể là
nhiều hay ít, rốt ráo
đều sẽ thành Phật; huống
gì là những quả báo
Thích, Phạm, Chuyển
Luân.
Ðức Phật
tổng kết lại, một khoa
‘kết hướng thành Phật’.
Ðức Phật lại nói với Ðịa
Tạng Bồ Tát, hàng kinh
văn này có hai đoạn,
đoạn trước là tổng kết
phước của sự bố thí,
đoạn sau tổng kết phước
của sự hồi hướng.
Tổng kết bố thí đặc biệt
nhắc đến ‘trong đời vị
lai’, câu này chỉ đời
hiện tại của chúng ta,
năm xưa lúc đức Phật
giảng kinh thuyết pháp
nói về đời vị lai, ‘vị
lai’ bao gồm thời đại
chúng ta. ‘Có các
quốc vương và Bà La Môn,
v.v..’, đây là những
người có thể bố thí,
‘v.v..’ bao gồm chúng
ta, mọi người đều bao
gồm trong đó. Khi
bạn hiểu được đạo lý
này, hiểu rõ được chân
tướng sự thật thì nên
sốt sắng nỗ lực phục vụ
cho xã hội, đại chúng,
đây tức là tu bố thí ba
la mật. Phục vụ
cho xã hội đại chúng
quan trọng nhất là phải
có tâm chân thành, tâm
thanh tịnh, chúng ta làm
tròn nghĩa vụ chẳng mong
đền đáp, quần áo thức ăn
trong đời sống mình đầy
đủ là được rồi, tuyệt
chẳng tham lam hưởng thọ
xa xỉ, nếu tham các thứ
này thì những gì bạn tu
được đều báo trọn hết,
đều hết sạch. Nếu
bạn không mong cầu phước
báo, thì phước báo tích
lũy ở đó càng ngày càng
nhiều, sẽ biến thành đại
phước báo chẳng thể nghĩ
bàn! Ðại phước báo
chính mình cũng chẳng
nhận lấy, đem đại phước
báo này cúng dường hết
thảy chúng sanh, thành
tựu vô lượng vô biên
phước báo cho mình.
Có vô lượng vô biên
phước báo cũng không
hưởng dùng, đem hết thảy
phước báo ấy đều cúng
dường tận hư không, trọn
khắp pháp giới hết thảy
chúng sanh, bạn nói như
vậy viên mãn, vui vẻ
biết bao! Việc vui
lớn nhất trong đời người
chẳng vượt quá niềm vui
này.
Chúng ta ở
nhà nhỏ, sống một đời
sống đơn giản có gì là
không tốt? Sống
rất tự tại, cần gì phải
ở trong nhà lộng lẫy,
bước ra cửa có rất nhiều
người tung hô, đưa đón,
tôi cảm thấy đời sống
như vậy rất bất tiện.
Bước ra khỏi cửa phải
dẫn theo nhiều người hộ
vệ, tới lui không tự do,
giàu sang quá mức.
Ở nhà thì sợ người ta
trộm cướp, phải mướn rất
nhiều nhân viên bảo vệ,
nói thật ra như vậy là
vô hình trung giam lỏng
chính mình trong nhà,
chẳng được tự do, tự
tại. Làm chi phải
như vậy! Bạn có
của cải tại sao không bố
thí? Bố thí mới
thật sự được tự do tự
tại, trong kinh Phật
thường nói ‘đời sống
giải thoát’, đó là đời
sống tốt đẹp nhất, chẳng
bị gò bó, được tự do tự
tại, như vậy mới đúng.
Chúng ta học Phật phải
hiểu lý, phải hiểu rõ
chân tướng sự thật thì
mới chịu tu bố thí, chịu
phục vụ cho xã hội đại
chúng, cống hiến thân
tâm của chúng ta, cống
hiến trí huệ, khả năng
của chúng ta, tạo phước
cho mọi người chứ đừng
hưởng phước, vậy thì bạn
sẽ có vô lượng phước.
Ðây là đoạn tổng kết
phước của sự bố thí.
‘Còn có thể
hồi hướng, chẳng hỏi là
nhiều hay ít, rốt cuộc
sẽ thành Phật’, sau đó
là tổng kết phước báo
của sự hồi hướng.
‘Có thể hồi hướng, chẳng
kể nhiều ít, rốt cuộc sẽ
thành Phật’, vì nguyên
nhân gì? Vì phía
trước nói bạn có đại từ
tâm, đại từ tâm là tâm
Phật, chẳng hỏi công đức
bạn tu được nhiều ít,
bạn đều sẽ thành Phật,
vì bạn dùng tâm Phật để
phục vụ xã hội đại
chúng. ‘Huống chi
là quả báo Thích Phạm
Chuyển Luân’, đây là thí
dụ ngay cả việc thành
Phật bạn còn có thể làm
được, huống chi là những
phước báo nhỏ của cõi
trời, cõi người.
‘Thích’ là thiên chủ cõi
Dục Giới, ‘Phạm’ là
thiên chủ cõi Sắc Giới,
‘Chuyển Luân’ thánh
vương là người có phước
báo lớn nhất trong cõi
người, bốn chữ này nói
về đại phước báo trong
lục đạo. Làm Phật
là phước báo rốt ráo
viên mãn trong cả thế
gian và xuất thế gian,
phước báo rốt ráo viên
mãn bạn còn có thể được,
huống chi là phước báo
nhỏ trong lục đạo.
Trăm đời, ngàn đời là
phước báo nhỏ trong lục
đạo thì đương nhiên sẽ
được. Chúng ta
hiểu rõ đạo lý này, hiểu
rõ chân tướng sự thật
xong, thì mới biết không
thể không tu bố thí, đối
với chính mình có lợi
ích chân thật, hết thảy
pháp thế gian, xuất thế
gian, chỉ có pháp này là
thật, những thứ khác đều
là giả. ‘Phàm
những gì có tướng đều là
hư vọng’, nhà Phật
thường nói ‘Tất cả
đều không mang theo
được, chỉ có nghiệp đi
theo thân’, trong
thế gian này có cái gì
bạn có thể đem theo
được? Lời Phật dạy
chúng ta phải ghi nhớ
‘Cõi nước mong manh,
mạng người vô thường’,
được thân người là quý
báu nhất, ngày nay chúng
ta có được thân người,
thì việc có ý nghĩa
nhất, có giá trị nhất là
tu phước, phục vụ cho
hết thảy chúng sanh,
được vậy thì đời này bạn
mới có ý nghĩa, có giá
trị. Chúng tôi nói
có ý nghĩa, có giá trị,
nói thật ra là rất trống
rỗng, rất trừu tượng, ý
nghĩa của nó là ở chỗ
nào? Giá trị ở
đâu? Ðoạn kinh văn
này giảng rất tường tận,
sát thật, ý nghĩa và giá
trị này là phước báo
vĩnh hằng, phước báo đời
đời kiếp kiếp bạn hưởng
chẳng cùng tận, ý nghĩa
và giá trị ở chỗ đó.
Nếu chúng ta còn một tâm
niệm tham, còn một tâm
bỏn xẻn, còn không chịu
phục vụ rốt ráo cho mọi
người, chính mình còn
lưu lại một chút thì
phước báo bạn tu được sẽ
nhỏ, quả báo của bạn sẽ
chẳng thù thắng.
Cho nên một
người có phước báo hay
không đều ở tại một
niệm. Một niệm này
của chúng ta có phải vì
người khác hay không, vì
cả xã hội, vì quốc gia,
vì toàn nhân loại không,
nếu vậy thì phước báo
của bạn sẽ lớn. So
đo từng chút vì chính
mình, vì gia đình mình
thì phước báo của bạn sẽ
nhỏ, rất nhỏ. Bạn
vì một người thì phước
báo bạn tu được, đời sau
bạn được phước báo của
một người, vì một người
hoặc vì gia đình mình,
thì phước báo của bạn sẽ
lớn bấy nhiêu. Bạn
vì một người, thì tương
lai thân thể bạn khoẻ
mạnh, cường tráng.
Nếu bạn vì một gia đình,
bạn là gia trưởng trong
gia đình, thì cả gia
đình bạn được hạnh phúc,
đâu có giống như đã nói
trong kinh, mà làm Ðại
Phạm thiên vương, làm
Ðao Lợi thiên vương, bạn
chẳng có phước phần này,
tại sao vậy? Vì
tâm lượng quá nhỏ.
Cho nên
cùng một sự việc tu bố
thí, quả báo lớn hay
nhỏ, tên của phẩm này là
‘So sánh phước báo’, đều
ở tại tâm của bạn, đều ở
tại [tâm bạn] lớn hay
nhỏ, có một tâm niệm đại
từ bi, tâm đó là ‘tâm
bao trùm hư không, lượng
trọn khắp pháp giới’,
cho nên phước báo của
một sự bố thí nhỏ được
tâm lượng phóng lớn lên,
rốt cuộc thành Phật, cho
nên sự hồi hướng đó sẽ
lớn, tâm lượng sẽ lớn.
Tại sao chúng ta không
dùng tâm lượng lớn?
[Chúng ta] phải học dùng
tâm lượng lớn thì tất cả
đều sẽ lớn, một việc
thiện nhỏ nhoi cũng biến
thành quả báo trùm hư
không pháp giới.
Trong kinh Hoa Nghiêm
chúng ta đã học mở rộng
tâm lượng, trong hội
giảng kinh này đức Phật
cũng dạy chúng ta mở
rộng tâm lượng, cho nên
kinh này cùng kinh Hoa
Nghiêm chẳng có gì sai
khác, đều có cùng cảnh
giới. Mở rộng tâm
lượng phục vụ cho hết
thảy chúng sanh, cho dù
hy sinh tính mạng cũng
chẳng tiếc nuối, cũng
rất hoan hỷ, rất cao
hứng, chúng ta hy sinh
làm cho hết thảy chúng
sanh được phước, lìa khổ
được vui, thì chúng ta
cũng cảm thấy rất vui
sướng, rất đáng giá!
Nhất định không vì chính
mình, không vì sự tham
dục của mình thì mới
thật sự là đệ tử của
Phật, đó mới thật sự
thực hiện lời giáo huấn
của đức Phật.
Xin xem
tiếp đoạn kinh sau đây,
trang thứ mười tám vừa
mở đầu phần chú giải có
vài câu, chúng ta nên
ghi nhớ, Thanh Liên pháp
sư trích một đoạn trong
kinh ‘Ngũ đạo tội báo’,
chúng ta hãy đọc một
lượt. ‘Hiền giả
hảo bố thí’ (Kẻ hiền
thích bố thí’, chữ ‘Hiền
giả’ ở đây chính là Bồ
Tát, người thích bố thí
chính là Bồ Tát, ‘thích
bố thí’ nói theo hiện
nay là thích phục vụ cho
nhân dân, nhiệt tâm phục
vụ cho nhân dân, dốc hết
tâm lực phục vụ cho dân
chúng, đó chính là ‘kẻ
hiền thích bố thí’.
‘Thiên thần tự phù
tướng’ (thiên thần tự
nhiên giúp đỡ), ‘phù
tướng’ là giúp đỡ, bạn
có thể cảm động đến
thiên địa quỷ thần giúp
đỡ. ‘Thí nhất đắc
vạn bội’ (bố thí một sẽ
được gấp vạn lần), đây
là nói về quả báo, quả
báo của sự bố thí chẳng
thể nghĩ bàn, vượt trội
hơn sự bố thí của bạn
không chỉ vạn lần thôi
đâu. ‘An lạc thọ
mạng trường’ (Yên vui
thọ mạng dài), đây là
bài kệ thứ nhất, nói rõ
về phước báo của sự bố
thí. Bài kệ thứ
hai,
‘Kim nhật
đại bố thí,
kỳ phước
bất khả lượng,
giai đương
đắc Phật đạo,
độ thoát ư
thập phương’.
(Hôm nay
đại bố thí,
phước ấy
chẳng thể lường,
nhất định
thành Phật đạo,
độ thoát
khắp mười phương).
Hai bài kệ
này, ý nghĩa của bài thứ
nhất là tổng kết phước
của sự bố thí chúng ta
vừa mới nói, bài thứ nhì
là tổng kết phước của sự
hồi hướng.
Chúng ta
nhất định phải tỉnh ngộ,
lúc trước mê hoặc điên
đảo, tham lam bỏn xẻn,
bây giờ tỉnh ngộ, giác
ngộ trở lại, hoàn toàn
vứt bỏ những quan niệm,
cách suy nghĩ, cách làm
sai lầm lúc trước, chúng
ta phải học theo Phật,
nghe theo lời dạy của
đức Phật, sửa đổi tư
tưởng của chúng ta, sửa
đổi cách làm của chúng
ta. Từ đây trở về
sau khi chúng ta khởi
tâm động niệm, phải nghĩ
đến sự khổ vui của xã
hội đại chúng, phải nghĩ
đến họa phước của xã hội
đại chúng, tuyệt đối
không thể làm những gì
bất lợi đối với xã hội,
ngay cả suy nghĩ cũng
không được, những gì có
lợi cho xã hội thì chúng
ta phải tận tâm tận lực
mà làm, phải hiểu rõ đạo
lý này. Nếu chúng
ta tham tiền, chiếm tài
sản của xã hội đại chúng
làm của riêng mình, quả
báo nhất định là đọa địa
ngục, nhất là những của
cải dành để cứu trợ kẻ
hoạn nạn.
Trước kia
lúc tôi mới học Phật,
lão cư sĩ Châu Kính Trụ
kể một câu chuyện cho
tôi nghe, sau này ông có
chép chuyện này trong
sách, ông để lại mấy
cuốn sách cho đời sau,
hình như trong ‘Giảng ký
kinh Bát Ðại Nhân Giác’
có kể câu chuyện này.
Hình như trong cuốn ‘Ảnh
Trần Hồi Ức Lục’ cũng có
kể chuyện này.
‘Ảnh Trần Hồi Ức Lục’ là
tự truyện của Ðàm Hư
pháp sư, đây là chuyện
đời trước, [lão cư sĩ
Châu Kính Trụ và pháp sư
Ðàm Hư] cả hai đều cùng
một thời đại, tuổi cũng
xấp xỉ, họ đều đích thân
nhìn thấy. Năm đầu
thời Dân Quốc ở Thượng
Hải có một người giàu
có, sống ở vùng Tô Giới.
Người này vô cùng giàu
có, làm quan đời nhà
Thanh, chức quan rất
lớn, sau khi chế độ Dân
Quốc thành lập, triều
đình nhà Thanh bị lật
đổ, ông lánh nạn sang Tô
Giới, lúc đó vùng này
được sự bảo hộ của người
ngoại quốc. Lúc về
già ông học Phật, thường
làm việc sửa sang đường
xá, trong nhà Phật cũng
tu bố thí cúng dường,
ông thường tu phước
không kém ai cả, trong
nhà Phật phần đông người
ta gọi ông là một đại
thiện nhân, kính trọng
ông như Phật, Bồ Tát.
Mấy năm sau
ông mất, ông có mấy bà
vợ nhỏ, hình như bà vợ
thứ tư, tôi nhớ không
rõ. Sau khi ông
mất bà vợ này rất tưởng
nhớ ông. Ðúng lúc
đó có một người Pháp
biết thuật ‘thông linh’,
có thể nói chuyện với
người mất. Bà vợ
thứ tư nghe nói
nên đi tìm ông người
Pháp này. Bà nhờ
ổng tìm người chồng vừa
mất về cho bả gặp mặt.
Ông người Pháp này chịu
giúp bà nhưng với giá
rất mắc, hình như lúc đó
ông ra giá một ngàn
đồng, nếu không phải là
nhà giàu có sẽ không trả
nổi, bà ta quá giàu nên
bà ta mướn ông [chẳng do
dự]. Bà đưa tên họ
cho ông ta, giờ sanh,
giờ chết lúc nào, chết
rồi chôn ở nơi đâu,
[dùng những dữ kiện này]
ông ta có thể đi tìm;
nhưng kết cuộc là ông
tìm không ra.
Ðương nhiên bà vợ nhỏ
này rất tức giận và nói
‘ông có gạt tôi không?’.
Ông nói ‘Tôi tuyệt đối
không gạt bà’. Và
nói tiếp ‘nếu bà có bạn
bè thân thích vừa mới
qua đời, tôi sẽ tìm cho
bà coi, tôi chẳng gạt bà
đâu, tôi sẽ nhận một nửa
giá thôi’. Bà
[không còn cách nào
khác] nên phải chịu cho
ổng tìm thử. Ðúng
lúc đó con trai lớn của
chồng bà cũng vừa mất
chẳng lâu nên bà kêu đứa
con dâu tới, nhờ ông
người Pháp [tìm người
con trai của chồng bà]
với giá phân nửa.
Quả nhiên chẳng lâu sau
đó, ông ta tìm được hồn
của người con trai
trưởng này về và nhập
vào một người, người này
[sau khi bị nhập vào] có
hành động, thái độ y hệt
như người con trai vừa
chết của chồng bà, ngay
cả tiếng nói cũng giống
hệt. Bà hỏi người
con trai: ‘Cha con vừa
mất tại sao lại tìm
không ra?’ Người
con nói ‘Cha con mất đi
liền đọa địa ngục rồi’,
do đó người Pháp này
không tìm ra, hồn ở cõi
quỷ thì ông còn tìm được
chứ cõi địa ngục thì ông
không tìm nổi, người mất
đó đích thật đã đọa địa
ngục rồi.
Ông ấy là
một người tốt, thường
sửa sang đường xá, mỗi
ngày đều lạy Phật, niệm
kinh, đã làm rất nhiều
chuyện tốt trong nhà
Phật, tại sao ổng vẫn
đọa địa ngục, lẽ nào như
vậy? Người con
trai đó nói “Lúc cha làm
quan trong triều đình
nhà Thanh, có một lần
nhà vua phái ông đi cứu
trợ dân chúng đang bị
thiên tai, chắc ổng nuốt
hết số tiền cứu trợ cho
dân bị nạn, cho nên rất
nhiều người chẳng được
cứu trợ và chết mất, tội
nghiệp đó quá nặng, sau
này bất kể ông tu hành
tới đâu đều không có
cách nào bù đắp nổi nên
vẫn phải đọa địa ngục.
Chuyện này chẳng ai
biết, ông có một người
bạn còn sống, có thể
người bạn này biết đôi
chút, quý vị có thể đi
hỏi người bạn này coi”.
Sau đó bà vợ thứ tư của
ông quan kể trên tìm
được người bạn này, hỏi
coi có chuyện như vậy
xảy ra hay không?
Người bạn đó suy nghĩ
một hồi và đáp đúng là
có chuyện như vậy, ông
ta đã làm quan khâm sai
đại thần, đi phát tiền
cứu trợ cho dân chúng.
Ông quan đó đã cướp đoạt
số tiền, bao nhiêu tiền
thì không ai biết, người
bạn này cũng chẳng biết,
chỉ nói đích thật là có
sự việc như vậy.
Ðây là một việc sai lầm
to tát mà ổng đã phạm,
bạn nghĩ coi chỉ tham
một số tiền như vậy, đủ
sống giàu sang được bao
lâu? Ðến lúc già
làm bao nhiêu chuyện tốt
cũng chẳng bù đắp nổi,
vẫn phải đọa địa ngục.
Việc đọa địa ngục, như
trong kinh này nói chúng
ta thấy [đọa địa ngục]
sẽ chịu khổ vô số kiếp.
Cho nên
tiền cứu trợ tuyệt đối
không thể cướp đoạt
được, tội lỗi này sẽ
không thể tính nổi!
Số tiền đó là để cứu
mạng người ta. Khi
thấy tiền này mà muốn
cướp đoạt, quả báo sẽ
đọa địa ngục. Khi
gặp tai nạn xảy ra, dốc
hết sức lực, tâm lực
giúp đỡ còn không kịp,
khi thấy người ta ra
sức, ra của để cứu trợ
thì phải sanh tâm hoan
hỷ, phải tu tùy hỷ công
đức, làm sao có thể khởi
tâm tham được! Ðó
là tạo tội cực nặng.
Phàm là việc cứu trợ,
cứu tế thì công đức đều
rất lớn, trong kinh
chúng ta thấy được, nếu
khởi tâm niệm ác, gây
trở ngại, phá hoại, cướp
đoạt số tiền cứu trợ đó
thì tội này sẽ đọa địa
ngục. Tài thí đã
như vậy thì pháp thí
cũng như vậy, đặc biệt
là bố thí Phật pháp,
Phật pháp là sự giáo dục
nhằm cứu độ hết thảy
chúng sanh đang chịu khổ
nạn, gây trở ngại cho sự
lưu thông Phật pháp là
cắt đứt pháp thân huệ
mạng của hết thảy chúng
sanh, quả báo sẽ ở A Tỳ
địa ngục, năm địa ngục
Vô Gián.
Nếu chư vị
đọc kinh Phát Khởi Bồ
Tát Thù Thắng Chí Nhạo
thì sẽ hiểu, kinh này là
kinh Ðại Thừa, là một
phần trong kinh Bảo
Tích, là một đoạn lớn
trong Kinh Bảo Tích,
kinh Vô Lượng Thọ cũng
trong kinh Bảo Tích.
Trong kinh này, đức Phật
đã nói toạc ra các tội
nghiệp của người xuất
gia thời Mạt Pháp, nói
một cách tường tận,
chúng ta đọc kinh này
đều lông tóc dựng đứng.
[Tự hỏi] chính mình có
phạm tội không, có làm
gì sai trái không?
Nếu đã làm sai, còn
không sám hối, còn không
sửa đổi, thì niệm Phật
cũng chẳng thể vãng
sanh! Nhất định
phải hiểu việc này.
Ðã tạo tội này cũng
không sao, chỉ cần
[người đó thật tâm] sám
hối thì sẽ tiêu trừ
nghiệp chướng, sự sám
hối này hoàn toàn chuyển
đổi trở lại, tuyệt đối
không thể tái phạm lỗi
lầm, phải sốt sắng dứt
ác tu thiện, tích lũy
công đức, thay đổi những
quan niệm, hành vi sai
lầm trước kia, chuyển
đổi một trăm tám mươi độ
trở lại, như vậy mới có
thể cứu chính mình.
Do đó [chúng ta] phải
lưu thông kinh này rộng
rãi, phải giảng nhiều
lần, phải sốt sắng học
tập. Tôi nhớ tôi
đã giảng kinh này ba
lần, ở Mỹ giảng một lần,
ở Ðài Loan một lần, ở
đây cũng giảng một lần,
có băng thâu âm, băng
thâu hình, hình như cũng
có đồng tu chép lại
thành sách. Bài
viết thành sách này tôi
chưa coi lại, khi tôi
coi xong và biết trong
đó đích thật không có
sai lầm thì có thể đem
lên mạng lưới điện toán,
lưu truyền trên mạng
lưới, chắc hiện nay đã
có băng thu âm và thu
hình trên mạng.
Cho nên
phước báo của sự lưu
thông Phật pháp, sự phục
vụ hết thảy chúng sanh
của Phật pháp, phước báo
này lớn nhất. Chúng ta
phải noi theo đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, bố thí
trí huệ cả đời, đây là
pháp thí, bố thí trí huệ
bao gồm tài thí, tại sao
vậy? Hoàn toàn là
sự dạy học thiện nguyện,
dùng thân thể, sức mạnh
của chúng ta để khuyên
xã hội đại chúng khuyến
thiện sửa lỗi, dùng thể
lực của chúng ta [để làm
việc này] thì đó thuộc
về tài thí. Chúng
ta quan tâm xã hội đại
chúng, yêu mến xã hội
đại chúng, dốc hết tâm
sức để giúp đỡ xã hội
đại chúng, giúp họ giác
ngộ, sửa sai cải tiến,
giúp họ phát tâm phục vụ
xã hội, phục vụ nhân
dân, phục vụ chúng sanh,
đó chính là pháp thí,
pháp cúng dường, phước
báo đó lớn nhất.
Tuy có phước báo lớn,
chúng ta cũng không
hưởng thọ, hồi hướng
phước báo đó cho hết
thảy chúng sanh hưởng
dùng. Cả đời đức
Phật Thích Ca Mâu Ni
sống rất đơn giản, trong
các đệ tử có một số đại
quốc vương, vua của mười
sáu nước lớn ở Ấn Ðộ
thời bấy giờ đều quy y
đức Phật Thích Ca Mâu
Ni, đều làm học trò của
đức Phật. Ðức Phật
cũng vẫn ba chiếc y, một
bình bát, chẳng thay đổi
cách sinh hoạt của ngài,
đây là sự răn dạy của
đức Thế Tôn cho chúng
ta, làm gương cho chúng
ta, [làm vậy] mới có thể
làm cho xã hội đại chúng
tôn trọng, kính ngưỡng.
Phàm phu
thế gian có ai không
tham tiền tài, có ai
không tham hưởng thọ?
Khi đọa lạc vào sự tham
dục thì sẽ tạo tội
nghiệp, gây phiền phức
cho chính mình, đức Phật
hiện thân thuyết pháp,
làm gương cho chúng ta.
Ðời người ở thế gian có
ba bữa cơm no là được
rồi, chẳng cần theo đuổi
khẩu vị, ăn no là được
rồi. Quần áo vải
thô có thể che thân là
được rồi. Ban đêm
có một giường ngủ thoải
mái, ngủ rất tự tại là
đủ rồi, còn mong cầu gì
nữa? Nếu còn dư
thì chia xẻ cho hết thảy
đại chúng hưởng dùng,
như vậy gọi là Phật, Bồ
Tát, đó gọi là hành Bồ
Tát đạo, đó gọi là học
Phật. Trong thế
gian bất luận chúng ta
là thân phận gì, địa vị
gì, bất luận làm ngành
nghề nào, sống cách nào,
chỉ cần mỗi niệm đều vì
chúng sanh, vì xã hội,
vì nhân dân thì người đó
chính là Bồ Tát, người
đó thật sự hành Bồ Tát
đạo. Tâm họ chính
là tâm Bồ Tát, phước báo
cũng giống như đã nói
trong kinh, đều chẳng
cùng tận.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng tôi giảng
đến đây thôi.
Tập 38 (Số 14-32-38)
Xin mở cuốn Khoa Chú
quyển hạ, trang 17, lần
trước đã nói qua đoạn
kinh này, chúng ta đọc
lại một lần:
Phục thứ
Ðịa Tạng, nhược vị lai
thế trung hữu chư quốc
vương, cập Bà La Môn
đẳng, năng tác như thị
bố thí, hoạch phước vô
lượng, cánh năng hồi
hướng, bất vấn đa thiểu
tất cánh thành Phật.
Hà huống Thích Phạm
Chuyển Luân chi báo
Lại nữa,
này Ðịa Tạng! Trong đời
vị lai, như có các vị
Quốc Vương cùng hàng Bà
La Môn v.v..., có thể
làm những việc bố thí
như thế, sẽ được vô
lượng phước lành. Nếu có
thể đem hồi hướng, thì
không kể là nhiều hay
ít, rốt ráo đều sẽ thành
Phật; huống gì là những
quả báo Thích, Phạm,
Chuyển Luân.
Phía trước đã báo cáo
tường tận rồi, trong
đoạn này quan trọng nhất
là tâm lượng, ngạn ngữ
Trung Quốc có nói ‘[tâm]
lượng lớn thì phước
lớn’. Tại sao lại
trồng phước nhỏ, bố thí
ít có thể được phước báo
lớn như vậy? Ðây
là điều người mới học
Phật như chúng ta nghe
lời dạy trong kinh sẽ
không khỏi hoài nghi.
Sự hoài nghi này đều [là
vì chúng ta] dùng nhân
tình thế gian để đo
lường, chứ không biết
việc này nhân tình chẳng
thể tưởng tượng nổi.
Lý luận trong đó là vì
‘xứng tánh’, chỉ cần
xứng tánh thì dù bố thí
rất ít, thật sự như một
sợi lông, một hạt bụi
nhỏ xíu, công đức đó
cũng bằng tận hư không,
trọn khắp pháp giới.
Phật pháp thù thắng ở
chỗ này, chỗ khó [hiểu
trong] Phật pháp cũng ở
tại chỗ này, khó ở chỗ
phàm phu vĩnh viễn không
thể mở rộng tâm lượng,
tâm lượng vẫn còn nhỏ,
tâm lượng nhỏ thì dù có
bố thí cho nhiều đi nữa,
phước báo cũng có hạn;
nếu có tâm lượng lớn, bố
thí nhỏ nhoi thì phước
báo cũng không thể nghĩ
bàn, [chúng ta] phải
lắng lòng thể hội đạo lý
này. Trong Chú
Giải có vài câu, trang
17, hàng thứ ba đếm
ngược lại, coi từ chính
giữa, tôi đọc cho mọi
người nghe ‘Nhược bất vị
tự cầu nhân thiên phước
báo’ (Nếu không tự cầu
phước báo nhân thiên),
‘Nhược’ là giả thiết,
giả sử chúng ta nhất
định chẳng vì cầu phước
báo nhân thiên cho mình,
mục đích của sự bố thí
là gì? ‘Ðều hồi
hướng cho pháp giới
chúng sanh’, chỉ hy vọng
hết thảy chúng sanh được
phước, được lợi ích,
tuyệt đối chẳng nghĩ đến
mình, vậy thì phước báo
của sự bố thí này sẽ rất
lớn. Do đó ‘Tắc
bất vấn thí chi đa
thiểu, tất cánh thành
Phật (nên không hỏi bố
thí bao nhiêu, rốt cuộc
sẽ thành Phật).
Dùng bốn chữ ‘tất cánh
thành Phật’ để hình dung
phước báo đó bao lớn, vì
phước báo thế gian và
xuất thế gian chẳng có
gì lớn hơn việc thành
Phật, nói đến thành Phật
thì phước báo đó đạt tới
mức rốt ráo viên mãn.
Chúng ta phải hiểu đạo
lý này thì chúng ta sẽ
không hoài nghi nữa.
Sau cùng đức Phật tóm
tắt lại:
Thị cố Ðịa
Tạng phổ khuyến chúng
sanh, đương tri thị học.
Vì thế, này Ðịa Tạng, ông
nên khuyến hóa chúng
sanh đều phải học theo
như thế.
Câu này
tổng kết đoạn trước, vì
đoạn trên nói về duyên
cố, trồng thiện nhân
được thiện quả, quả báo
thù thắng như vậy thì ai
mà không mong cầu?
Tại sao chúng sanh cầu
không được? Phương
pháp tu học của chúng
sanh không đúng như lý,
không đúng như pháp, cho
nên được phước có hạn;
nếu tu học đúng như lý,
như pháp thì sẽ được
phước vô lượng vô biên.
Nhưng [muốn biết] lý
luận và phương pháp thì
nhất định phải đi sâu
vào Kinh Tạng, nếu không
đọc kinh, không nghiên
cứu giáo lý thì làm sao
bạn hiểu được lý luận
này? Làm sao biết
được phương pháp này?
Cho nên chư Phật, Bồ
Tát, chư tổ sư đại đức
xưa nay thường khuyến
khích chúng ta ‘không
thể không đọc kinh
điển’, đạo lý là ở chỗ
này. Xem tiếp đoạn
sau, thứ hai là ‘Nam nữ
thí phước’, xin xem kinh
văn:
Phục thứ
Ðịa Tạng
Lại nữa, này Ðịa Tạng
Lại gọi Ðịa Tạng Bồ Tát
thêm một lần nữa.
Vị lai thế
trung nhược thiện nam
tử, thiện nữ nhân ư Phật
pháp trung, chủng thiểu
thiện căn, mao phát sa
trần đẳng hứa, sở thọ
phước lợi bất khả vi dụ.
Trong đời vị lai, nếu có
kẻ thiện nam người thiện
nữ nào ở trong Phật Pháp
mà gieo trồng chút ít
thiện căn chừng bằng mảy
lông, sợi tóc, hạt cát,
hạt bụi, thì phước lợi
được thọ hưởng sẽ không
thể ví dụ thế nào cho
được.
Ðoạn kinh
này cũng thường làm cho
đại chúng khởi nghi
hoặc, có nhiều người tự
cho rằng mình ở trong
nhà Phật trồng phước tu
thiện rất nhiều rồi,
nhưng tại sao không được
phước? Trong lịch
sử Trung Quốc nổi tiếng
nhất là Lương Võ Ðế,
Lương Võ Ðế cả đời tu bố
thí có ai sánh bằng?
Lúc đó ông dùng quyền
lực, oai thế của một ông
vua để hộ trì Phật pháp,
xây dựng chùa chiền,
trong lịch sử ghi đến
bốn trăm tám chục ngôi
chùa. Nhà Phật
chúng ta thường nói xây
một ngôi tháp, đúc một
tượng Phật thì được
phước báo chẳng thể nghĩ
bàn rồi, huống chi ông
vua đã xây bốn trăm tám
mươi ngôi chùa!
Bạn có thể tính số tượng
Phật ông đã đúc là bao
nhiêu chăng? Không
thể nói mỗi chùa chỉ có
một tượng Phật thôi đâu,
vậy thì ông tạo bao
nhiêu tượng Phật, tượng
Bồ Tát. Bố thí
cúng dường người xuất
gia, ông rất thích [giúp
cho] người ta xuất gia,
khi có người xuất gia
thì ông nhất định sẽ bố
thí cúng dường, trong
sách ghi [ông cúng
dường] mấy trăm ngàn
người, phước báo đó bao
lớn! Phước
báo thì nhất định là có,
nghiệp lực của ông chẳng
thể chuyển đổi trở lại,
vì lý do gì? Tâm
lượng không lớn, chẳng
có trí huệ, đây là việc
mà nhà Phật thường nói
‘chỉ tu phước, chứ không
tu huệ’, ông chỉ tu tài
thí, hình như cũng có
pháp thí, nhưng vẫn
thiếu trí huệ, [vì] tâm
lượng chẳng lớn.
Do đó lúc Ðạt Ma tổ sư
gặp vua, dùng cách nói
hiện nay gọi thái độ của
vua là ‘đáng được kiêu
ngạo’. Vua làm
nhiều chuyện tốt trong
nhà Phật như vậy rất
đáng kiêu ngạo, hãnh
diện về những việc mình
đã làm nên hỏi Ðạt Ma tổ
sư: ‘Công đức của tôi
như vậy lớn không?’, Ðạt
Ma tổ sư đáp: ‘Chẳng có
công đức’. Lời Ðạt
Ma tổ sư nói là lời chân
thật, tại sao chẳng có
công đức? Khi bạn
có thái độ kiêu mạn thì
công đức liền mất, chúng
ta phải hiểu đạo lý này.
Bố thí thật sự là có
công đức, nhưng khi kiêu
mạn khởi lên thì mất
hết, chẳng còn công đức
nữa, kiêu mạn là lửa
thiêu rừng công đức.
Ðạt Ma tổ sư là một
người bất phàm, nói
chuyện với Lương Võ Ðế
không hợp lắm nên Lương
Võ Ðế không hộ trì ngài,
do đó sau khi rời khỏi,
ngài phải đến chùa Thiếu
Lâm ngồi nhìn vách,
chẳng có ai biết, một vị
tổ sư đại đức như vậy
đến Trung Quốc, chẳng có
ai nhận biết, chẳng ai
hộ trì. Ngồi nhìn
vách hết chín năm, kể ra
cũng khá, cũng đợi được
tới lúc truyền pháp cho
ngài Huệ Khả. Nếu
năm xưa Lương Võ Ðế chịu
hộ trì ngài thì Thiền
Tông sẽ phát triển sớm
hơn, chẳng cần phải đợi
đến đời thứ sáu là đời
ngài Huệ Năng, đã phát
triển sớm hơn rồi.
Chẳng có ai nhận biết,
đây là vì không có huệ
nhãn, Lương Võ Ðế không
nhận ra, cơ hội thật sự
trồng phước báo to lớn
bị luống qua, chẳng thể
hộ trì Ðạt Ma tổ sư, đã
bỏ lỡ cơ duyên.
Quan trọng ở chỗ khiêm
tốn, cung kính, tâm
lượng rộng lớn, đây đều
là biểu hiện của trí
huệ. Cho nên từ
thái độ của Lương Võ Ðế
mà nhìn, ông ta chẳng có
trí huệ, tâm lượng quá
nhỏ, tuy làm rất nhiều
việc bố thí, nhưng được
phước không lớn, nguyên
nhân là ở chỗ này.
Trong câu kinh này có
chữ quan trọng, mọi
người phải nhìn rõ ràng,
chữ ‘Thiện’. Chứ
không nói ‘Nhược nam tử,
nữ nhân, ư Phật pháp
trung, chủng thiểu thiện
căn’, [mà phải] là
‘thiện nam tử, thiện nữ
nhân’, ‘thiện’ là chữ
quan trọng. Tiêu
chuẩn của thiện là gì?
Tịnh Nghiệp Tam Phước
trong Kinh Quán Vô Lượng
Thọ dạy rất rõ ràng,
tiêu chuẩn của thiện
trong thế gian nhất định
phải làm được bốn câu
‘Hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng sự sư trưởng, từ
tâm không sát hại, tu
mười thiện nghiệp’,
người như vậy mới gọi là
thiện nam tử, thiện nữ
nhân, cho nên Phật pháp
nói đến ‘thiện’ là có
tiêu chuẩn hẳn hòi.
Nếu chỉ nói nam tử, nữ
nhân mà không có chữ
‘thiện’, thì người thông
thường chúng ta cũng có
phần, nếu thêm chữ thiện
thì chúng ta phải nghĩ
coi mình có đủ tiêu
chuẩn này không.
Nhưng kinh này là kinh
Ðại Thừa, không những là
kinh Ðại Thừa, chúng ta
quan sát kỹ từ đầu tới
cuối, có thể nói kinh
này là đại kinh liễu
nghĩa Nhất Thừa; nói một
cách khác, tiêu chuẩn
của ‘thiện’ phải nâng
cao, nâng cao thêm một
tầng là ‘thiện’ Nhị
Thừa, tức là Thanh Văn,
Duyên Giác, người Trung
Quốc gọi là La Hán, Bích
Chi Phật. ‘Thọ trì
tam quy, đầy đủ các
giới, chẳng phạm oai
nghi’, đây là thiện Nhị
Thừa, chúng ta làm được
ba câu này chưa?
Còn phải nâng cao hơn,
kinh này là kinh Ðại
Thừa, tiêu chuẩn thiện
Ðại Thừa còn phải thêm
bốn câu ‘Phát Bồ Ðề Tâm,
tin sâu nhân quả, đọc
tụng Ðại Thừa’, đây là
tự lợi. Tự lợi
xong rồi lợi người, đây
là Bồ Tát Ðại Thừa, lợi
người là ‘khuyến tấn
hành giả’, đây mới là
khuyến hóa hết thảy
chúng sanh, thiện nam
tử, thiện nữ nhân là
tiêu chuẩn này.
Nói cách khác mười một
câu trong Tịnh Nghiệp
Tam Phước đều làm được
hết, vậy thì còn vấn đề
gì nữa? Chúng ta
vừa nói [tâm] lượng lớn
thì phước lớn, người
phát Bồ Ðề tâm, phát Bồ
Ðề tâm thì lượng sẽ lớn,
Bồ Ðề tâm tuyệt chẳng có
tâm vì mình, chẳng có tự
tư tự lợi; tâm tự tư tự
lợi là mê hoặc, là tâm
luân hồi, tâm phàm phu.
Niệm niệm vì hết thảy
chúng sanh trong hư
không pháp giới, đó là
Bồ Ðề tâm.
Do đó người
như vậy trong Phật pháp
‘trồng thiện căn ít ỏi’,
ít tới mức độ nào?
‘Mao phát sa trần’, mao
là lông trên thân chúng
ta, ví dụ ít; ‘phát’ là
tóc trên đầu, một cọng
tóc. Một hạt cát,
một hạt bụi, đây là hình
dung bạn trồng thiện căn
ít, ít đến cùng cực.
Tuy ít như vậy, phước
bạn có, lợi ích đạt được
chẳng thể so sánh được,
chẳng có cách gì nói ra
được, Phật cũng nói
không hết. Cho nên
mọi người phải biết Tam
Bảo là phước điền hạng
nhất trong thập pháp
giới. Nhưng Phật
pháp truyền đến nay đã
trải qua ba ngàn năm nên
chẳng tránh khỏi bị biến
chất. Chúng ta coi
thế giới hiện nay, bất
luận hàng hóa gì, lúc
vừa mới ra thị trường
thì tốt nhất, chiêu bài
được làm cho sáng rỡ,
hai ba năm sau liền bị
biến chất, đồ giả mạo
cũng nhiều, tuyệt đối
chẳng bằng lúc đầu; Phật
pháp đã truyền hết ba
ngàn năm làm sao không
biến chất được!
Rất khó tránh được.
Ðặc biệt là nhằm thời
Mạt pháp, như kinh Lăng
Nghiêm đã nói thời đại
chúng ta hiện nay ‘tà sư
thuyết pháp như cát sông
Hằng’;[nhiều chỗ] trên
hình thức là một đạo
tràng nhà Phật, nhưng
trên thực chất thì chưa
chắc. Do đó bạn
muốn trồng phước trong
nhà Phật thì phải nhìn
rõ cái ‘tràng’ này có
‘đạo’ không? Có
người thật sự tu hành
trong đó hay không?
Nếu không thì bạn trồng
phước sai chỗ, bạn nhận
lầm phước điền.
Bạn trồng phước nhưng
tương lai chẳng được
phước, bạn không thể
trách Phật nói sai, Phật
chẳng nói sai, mà vì bạn
thô tâm sơ ý, tưởng lầm
hàng giả là hàng thiệt,
phải trách chính bạn,
chính bạn sơ ý thô tâm
chẳng biết hàng thiệt,
bạn mắc lừa, bị thiệt
thòi rồi.
Nhưng muốn
thật sự có thể nhận biết
sự việc cũng chẳng phải
là chuyện đơn giản, bạn
phải có trí huệ, phải có
kiến thức, trí huệ và
kiến thức từ đâu mà có?
Từ ‘Ðọc tụng Ðại Thừa,
khuyến tấn hành giả’, đó
là ‘vì người diễn nói’,
vì người diễn nói có lợi
ích rất lớn, đúng như
câu ‘nương theo giáo học
mà trưởng thành’, nếu
chẳng thông qua giáo
học, khai trí huệ là
chuyện vô cùng khó khăn.
Nếu bạn thật sự phát tâm
dạy học, nhiệt tâm dạy
học, cơ hội khai trí huệ
sẽ rất nhiều, nếu bạn
không theo đuổi việc
giáo học thì cơ hội này
sẽ ít. Trong quá
trình giáo học, lúc bạn
chuẩn bị, sưu tập tài
liệu tham khảo, sẽ
thường giúp bạn giác
ngộ, nếu bạn không làm
việc giáo học thì sẽ
không tìm những tài liệu
này. Trong quá
trình giáo học bạn có
dịp tiếp xúc với người
làm giáo học, khi trả
lời câu hỏi giải quyết
vấn đề cho họ thường
giúp mình giác ngộ, do
đó trong sư đạo có câu
‘sư tư đạo hiệp’, thầy
giáo dạy học trò, học
trò trợ giúp thầy giáo
khai trí huệ, giúp trí
huệ thầy, giúp đức hạnh
của thầy, tạo cơ hội cho
thầy, đó mới gọi là giáo
học giúp nhau phát
triển, cả hai đều có
tiến triển, tăng trưởng
lẫn nhau, [chúng ta]
phải hiểu đạo lý này.
Trong Chú Giải đoạn này
có trích dẫn kinh luận,
nêu ra rất nhiều thí dụ,
trong những thí dụ này
quan trọng nhất là phải
có tâm chân thành, tâm
cung kính, tâm thanh
tịnh, tâm bình đẳng, tâm
từ bi, chư vị hãy ghi
nhớ mười chữ này, dùng
tâm này để bố thí cúng
dường tu phước thì quả
báo sẽ giống như đã nói
trong kinh. Tâm
thanh tịnh chẳng ô
nhiễm, tâm bình đẳng
chẳng phân biệt, tâm
chẳng ô nhiễm, chẳng
phân biệt thì sẽ bao
trùm hư không, lượng gồm
thâu thế giới nhiều như
cát, do đó họ sẽ được
phước lớn. Xem
tiếp đoạn kinh sau đây:
Phục thứ
Ðịa Tạng, vị lai thế
trung, nhược hữu thiện
nam tử, thiện nữ nhân,
ngộ Phật hình tượng, Bồ
Tát hình tượng, Bích Chi
Phật hình tượng, Chuyển
Luân Vương hình tượng,
bố thí cúng dường, đắc
vô lượng phước, thường
tại nhân thiên, thọ
thắng diệu lạc.
Lại nữa,
này Ðịa Tạng! Trong đời
vị lai, nếu có kẻ thiện
nam người thiện nữ nào
gặp hình tượng Phật,
hình tượng Bồ Tát, hình
tượng Bích Chi Phật,
hình tượng vua Chuyển
Luân mà bố thí cúng
dường, thì sẽ được vô
lượng phước báo, thường
ở cõi người, cõi trời,
hưởng sự vui thù thắng,
vi diệu.
Kinh Ðịa
Tạng được lưu thông rất
rộng rãi, rất phổ biến,
có lẽ mỗi đồng tu học
Phật đều đã từng tụng
qua bộ kinh này, thấy
phước báo của sự bố thí
cúng dường nói trong
kinh cho nên rất thích
tạo tượng Phật, Bồ Tát.
Phước báo của sự tạo
tượng rất lớn, kinh nói
[người ấy] thường ở cõi
trời, cõi người, sẽ
chẳng đọa tam ác đạo, có
bao nhiêu người mỗi ngày
niệm Phật nhưng vẫn đọa
tam ác đạo. Chư vị
có thể coi đoạn tổng kết
trong cuốn Ðại Thế Chí
Bồ Tát Niệm Phật Viên
Thông Chương Sớ Sao do
Quán Ðảnh pháp sư soạn.
Lúc học bộ kinh này, tôi
coi đoạn này vô cùng
thắc mắc nên đi hỏi thầy
Lý, tôi nói coi xong
không hiểu. [Trong
Sớ Sao] ngài nói người
niệm Phật có một trăm
loại quả báo, thứ nhất
là ‘niệm Phật đọa A Tỳ
địa ngục’, tôi thật
không hiểu. Phước
báo của sự niệm Phật rất
lớn, tại sao lại đọa địa
ngục A Tỳ được?
Ðây là chuyện không thể
nào xảy ra. Thầy
Lý nghe tôi hỏi xong bèn
nói: ‘Câu hỏi này rất
hay, vấn đề này rất quan
trọng, tôi không nói cho
ông nghe [liền bây giờ],
đợi đến lúc giảng kinh
sẽ nói cho mọi người
cùng nghe’. Tại
sao họ làm vậy còn đọa
địa ngục? Nguyên
nhân là họ dùng tâm địa
ngục để tu phước, nên
vẫn phải đọa địa ngục.
Tâm địa ngục là tâm gì?
Tham, sân, si. Họ
bố thí cúng dường hình
tượng Phật, Bồ Tát để
làm gì? Vì thấy
lợi ích của việc này quá
lớn, giống như làm ăn
buôn bán vậy, đây là
[đổi] vốn một, [để được]
lời cả vạn, chuyện này
không thể không làm; họ
dùng tâm như vậy, họ
chẳng có tâm thiện.
‘Thiện nam tử, thiện nữ
nhân’, họ quên mất chữ
‘thiện’ này. Dùng
tâm tham, sân, si, dùng
tâm buôn bán tham lời,
vậy thì làm sao được!
Ở Cư Sĩ Lâm
chúng ta, cư sĩ Lý nói
với tôi, lúc trước Cư Sĩ
Lâm có một số Ðổng Sự
quản lý đạo tràng chẳng
hiểu Phật pháp, họ quản
lý đạo tràng này giống
như quản lý một công ty,
cửa hàng, đạo tràng này
mỗi năm phải thâu nhập
bao nhiêu tiền, làm sao
để số tiền này sanh lời,
làm sao để cho nó làm ra
nhiều tiền hơn, mục đích
là ở chỗ này, họ chẳng
nghĩ đến làm việc đạo,
cho nên đạo tràng này
tích lũy rất nhiều tiền.
Khi Lý cư sĩ nắm quyền,
ông đem số tiền đó xài
hết, có nhiều người biết
được rất không hài lòng,
trong ánh mắt của họ thì
Lý cư sĩ là một người
con phá hoại gia sản,
nhưng khi nhìn thấy đạo
tràng ngày nay hưng
vượng như vậy, tôi tin
tưởng họ cũng sẽ dần dần
tỉnh ngộ. Hết thảy
[số tiền người ta] cúng
dường là để cho bạn làm
việc đạo, mỗi ngày Cư Sĩ
Lâm cúng dường ba bữa ăn
miễn phí cho đại chúng,
có ai dám làm?
Chẳng ai dám làm việc
này. Cánh cửa này
vừa mở ra, về sau làm
thế nào thu xếp?
Làm sao có nhiều tiền để
cúng dường như vậy?
Do đó nếu bạn không có
trí huệ thì không được,
nếu bạn không có lòng
tin thì bạn sẽ không dám
làm.
Lý cư sĩ có
trí huệ, có lòng tin,
lúc khai trương tới nay
chưa hề phải mua gạo,
mua cải, mua dầu, mọi
người biết Cư Sĩ Lâm làm
chuyện tốt này, hiện nay
trên thế giới [Cư Sĩ
Lâm] là chỗ đầu tiên làm
việc này, chẳng có chỗ
thứ hai [nào như vậy].
Ba bữa ăn mỗi ngày, suốt
một năm chẳng thiếu ngày
nào hết, bất luận bạn
tin Phật hay không, khi
bạn đến đây thì có thể
dùng một bữa ăn tự dọn,
tôi nghe nói còn có
người dẫn cả nhà tới ăn,
cho nên những người ở
gần Cư Sĩ Lâm, trong nhà
có thể khỏi cần bếp núc;
tuy nhiên đến đó ăn thì
phải ăn chay, bạn thích
ăn chay thì bạn cứ tới,
nếu bạn không thể ăn
chay thì không có cách
chi. Rất nhiều bạn
đồng tu tự động đem gạo,
đem dầu, đem rau cải,
đem đồ ăn đến [Cư Sĩ Lâm
nhiều đến nổi] chất cao
như núi, ăn chẳng hết.
Ăn không hết lại sợ hư
nên phải đem cho viện
dưỡng lão, cô nhi viện,
phải lấy xe chở đi cho
vì ăn chẳng hết.
Thức ăn ở đó rất ngon,
tôi đã ăn qua vài lần,
có lúc họ còn nấu cho
tôi vài món đặc biệt,
tôi nói khỏi cần, chỉ
đem vài món ở dưới
[phòng ăn Cư Sĩ Lâm] cho
tôi ăn thử, tôi ăn cảm
thấy rất ngon. Bố
thí cúng dường thật thì
phước báo ấy rất lớn.
Chẳng như nhiều người
hằng ngày đều phải tính
toán, so đo từng chút,
làm vậy thì được bao
nhiêu lợi ích?
Càng bố thí càng có
nhiều, bạn thí tài, thì
sẽ giàu sang, thí pháp
thì có nhiều pháp.
Cho nên đạo tràng Cư Sĩ
Lâm, ngày nay mọi người
tới tham quan, bạn coi
chỗ đó hưng vượng, người
hưng vượng, tài sản cũng
hưng vượng, tại sao có
thể hưng vượng như vậy?
Là do bố thí, trồng
phước mà ra.
Lý cư sĩ có
tâm lượng to lớn, muốn
xây làng Di Ðà, người cư
trú ở trong làng Di Ðà
chỉ cần có một điều
kiện, đó là ‘chịu niệm
Phật’. Chỉ cần kẻ
ấy chịu niệm Phật, thì
chẳng cần bất kỳ một
điều kiện nào khác,
chẳng nhận một xu nào
cả, [làng Di Ðà] sẽ nuôi
bạn tới già, cúng dường
bốn món cần thiết, tốt
hơn chánh sách phước lợi
của bất cứ chính phủ,
quốc gia nào trên thế
giới hiện nay. Bất
cứ quốc gia nào chăm sóc
người già đều chẳng bằng
Cư Sĩ Lâm. Ðối với
người già dưỡng lão,
phước lợi của người già
là hạng nhất trên thế
giới. Người ngoại
quốc chỉ cần lấy được
quyền cư trú hợp pháp ở
Tân Gia Ba [thì sẽ được
cư trú ở làng Di Ðà]; đệ
tử Phật tuyệt đối phải
tuân giữ pháp luật,
tuyệt đối không thể phạm
pháp, ai có thể cư trú
hợp pháp thì làng Di Ðà
sẽ nuôi người đó tới
già. Bạn cư trú ở
đó thân tâm yên ổn, có
thể bảo đảm bạn vãng
sanh, một khi ở đó thì
tương lai nhất định sẽ
thành Phật, đó là đạo
tràng hạng nhất trên thế
giới. Tối hôm qua
ông Lý bàn với tôi phải
lập Phật Học Viện, đã
làm đơn xin chính phủ,
hoạch định của ông ta là
lớp dự bị một năm, lớp
chánh thức ba năm, lớp
nghiên cứu ba năm, thời
gian theo học là bảy
năm, học sinh tới đó học
hoàn toàn miễn phí, thức
ăn quần áo, nơi ăn chốn
ở đều do Phật Học Viện
cúng dường, chẳng thâu
một xu [của học sinh];
trên thế giới ai dám lập
ra Phật Học Viện như
vậy? Trường nào
cũng phải thâu học phí,
phải trả tiền ăn uống,
còn Phật Học Viện này
chẳng thâu tiền gì hết,
trên thế gian này hiếm
hoi nhất! Ở nơi
đạo tràng như vậy, bạn
tu một chút phước thì đó
là thật sự trồng ruộng
phước.
Do đó khi
chúng ta quan sát một
đạo tràng, thứ nhất là
phải coi đạo tràng đó có
đạo phong, có học phong,
[những người ở] đạo
tràng đó học những gì,
tu những gì, có sốt sắng
học tập, sốt sắng tu trì
hay không. Nếu mọi
người trong đạo tràng
này đều sốt sắng học
tập, nỗ lực tu trì thì
đó là đạo tràng đúng như
pháp; tu phước ở đạo
tràng này mới có được
quả báo tương ứng với
lời nói trong kinh.
Có hoàn toàn tương ứng
hay không, tương ứng một
cách viên mãn không?
Không hẳn. Tại vì
sao? Phải xét coi
bạn là ‘thiện nam tử,
thiện nữ nhân’ hay
không? Phước điền
thật sự không sai, nếu
bạn dùng tâm ‘một vốn
vạn lời’ đến đó trồng
phước, phước bạn được sẽ
nhỏ, chẳng tương ứng với
lời đức Phật dạy trong
kinh, bạn chắc chắn sẽ
được phước, nhưng phước
không lớn. Nếu bạn
thật sự phát tâm Bồ Ðề,
chẳng vì chính mình mà
vì chúng sanh, vì Phật
pháp thường trụ thế
gian, quyết chẳng vì lợi
ích của mình, vậy thì
được phước sẽ giống như
lời nói trong kinh.
Thế nên việc trồng
phước, thứ nhất phải là
phước điền chân thật.
Thứ hai là bạn phải có
thiện tâm chân chánh,
thì phước báo đó mới
viên mãn. Cho nên
phía sau, trong Chú Giải
có ghi ‘Chư Phật, Bồ
Tát, … dạy cho người
thoát khổ, là Kính Ðiền
của chúng sanh’, ở đây
nói về ‘Kính Ðiền’ và
‘Ân Ðiền’, các bạn đồng
tu hãy tự coi Chú Giải.
Trong Chú
Giải có vài câu rất quan
trọng, tôi đọc qua một
lượt, trang 20 hàng thứ
hai, bắt đầu từ câu thứ
hai, ‘Ðại Luận nói’, Ðại
Luận tức là Ðại Trí Ðộ
Luận, trong Ðại Trí Ðộ
Luận có một đoạn ‘tài là
nhân duyên của ác tâm’,
tại sao? Tài vật
luôn luôn làm cho người
ta khởi tâm tham, tham
là một trong tam độc, vô
lượng vô biên phiền não
đều sanh từ chỗ này, do
đó ‘tham’ là đầu mối của
tâm ác. ‘Thường
nên xả bỏ’, một người
thông minh, có trí huệ,
biết họa hại của ‘tham’
nên họ có thể buông xả,
có thể buông xuống tâm
tham. ‘Huống chi
bố thí được phước lớn,
mà không bố thí’, có lẽ
nào như vậy? Tham
là họa hại, Thí thì được
phước lớn. Bạn bố
thí, xa lìa họa hại, còn
được phước lợi, người có
trí huệ sao không làm
cho được? ‘Xan
tham là tướng hung, sanh
ra lo sợ’ ‘xan tham (keo
kiệt)’ là bạn có mà
không chịu bố thí, không
chịu làm việc tốt, đây
là tướng hung, tướng suy
thoái, đem đến cho người
ta những sự âu sầu, lo
lắng, sợ hãi.
Người có tiền lo sợ của
cải của mình mất hết,
mỗi ngày đều lo được lo
mất, tâm lo lắng nặng
trĩu. Tôi thường
nghe người ta nói các
ông chủ lớn trong thương
trường, nếu mỗi đêm
không uống thuốc an thần
thì không thể ngủ,
nguyên nhân là gì?
Lo lắng quá sức, vậy
không phải là ‘tiền tài’
đã hại họ rồi sao?
Uống thuốc an thần nhiều
quá, lẽ nào không bị
bịnh ung thư? Nó
khởi tác dụng phụ, thật
là tướng hung, suy
thoái, lời Phật nói
chẳng sai. ‘Tẩy
chi dĩ thí thủy, tắc vi
sanh phước lợi’ (dùng
nước bố thí để tẩy thì
sẽ sanh ra phước lợi),
đây là một bài kệ, trong
đó có hai bài kệ.
Dùng phương pháp gì để
tẩy bỏ sự lo lắng, sợ
sệt? Dùng bố thí,
bố thí có thể đem đại
phước đại lợi cho bạn,
‘do đó được phước vô
lượng’, tại sao không
chịu bố thí?
Không chịu
bố thí vì không biết lợi
ích của sự bố thí, cho
nên họ không chịu bố
thí. Khi biết lợi
ích của sự bố thí thì
bạn sẽ thích bố thí,
thường bố thí, tận tâm
tận lực bố thí, phước
báo chẳng cùng tận.
Hiện tượng này, trong
các đoàn thể chư vị hãy
coi Cư Sĩ Lâm, coi Tịnh
Tông Học Hội, sự thật
bày trước mắt bạn; còn
về cá nhân thì các bạn
có thể coi cư sĩ Lý Mộc
Nguyên, bạn cũng có thể
coi tôi. Khi tôi
học Phật liền học bố
thí, ngày đầu tiên
Chương Gia đại sư gặp
tôi liền dạy tôi tu bố
thí; tôi cũng thật sự
nghe theo lời ngài dạy,
ngài có trí huệ, ngài
thấy tôi không có phước
báo vả lại đoản mạng,
ngài thương xót tôi nên
dạy tôi tu bố thí.
Ngày nay tôi có một chút
phước báo, đó là nhờ tôi
tu bố thí trong đời này
mà được, chẳng liên quan
gì đến đời trước.
Ngày nay chúng ta hiểu
Phật pháp, hiểu được một
chút về nhân quả.
Ðời quá khứ chắc tôi tu
huệ chứ chẳng tu phước,
[nên đời này tôi] có một
chút trí huệ, khi thầy
nói xong, tôi vừa nghe
liền hiểu; [sự sinh sống
trong] đời này vô cùng
gian khổ, chúng tôi đã
sống qua những ngày
tháng rất khổ sở, quý vị
có nằm mộng cũng không
nghĩ tới.
Hôm qua ở
Cư Sĩ Lâm, thầy Vĩnh nói
với tôi, thầy đi Ðại Lục
và có dịp đến viếng căn
phòng của Ấn Quang pháp
sư, ban đêm chẳng có
đèn, khi coi sách, viết
lách ở tại bàn đặt kế
cửa sổ, dùng ánh sáng
bên ngoài, thầy coi xong
rất cảm động. Ngày
nay chúng ta có nhiều
thiết bị để chiếu sáng
mà còn chê lên chê
xuống, ngày nay phước
báo hưởng thọ vật chất
của con người quá lớn.
Tôi nói với thầy, lúc
nhỏ chúng tôi đi học,
lúc học trung học ở tại
Quý Châu, vào thời kỳ
kháng chiến, học ban đêm
phải thắp đèn dầu, ánh
sáng của cây đèn dầu còn
nhỏ hơn cây đèn cầy.
[Nếu muốn sáng như] một
cây đèn cầy, phải thắp
cây đèn dầu có năm tim
đèn, thắp hết năm tim
đèn mới sáng bằng ngọn
đèn cầy; cây đèn dầu lúc
đó chúng tôi dùng dầu
đồng, độ sáng chỉ bằng
một phần năm của đèn
cầy, chúng tôi dùng đèn
dầu để coi sách như vậy,
quý vị không thể nào
nghĩ tới. Con
người ngày nay có phước
nhưng không chịu đọc
sách, ngày xưa chúng tôi
nghèo như vậy mà lại
thích đọc sách.
Phía sau là một bài kệ
trong Ðại Trí Ðộ Luận,
chúng ta hãy đọc thử,
hàng cuối trong Chú
Giải, ‘Ðại Luận nói:
‘Người tu bố thí, danh
vang khắp mười phương,
người có trí đều kính
mến, khi nhập chúng
chẳng lo sợ, mạng chung
sanh lên trời, lâu dần
ắt được Niết Bàn’, lời
Phật nói là lời chân
thật. Phật dạy Bồ
Tát cách sinh hoạt, Sáu
Ba La Mật chính là sinh
hoạt của Bồ Tát, điều
thứ nhất chính là Bố
Thí, bố thí tức là buông
xả, buông xuống, lúc đó
bạn sẽ được thoải mái,
được tự tại, sẽ mở mang
trí huệ. Người
không chịu bố thí, tâm
nhãn rất nhỏ, tâm niệm
luôn vì mình, người như
vậy làm sao mở mang trí
huệ cho được, không thể
nào được. Xin coi
đoạn kinh kế tiếp:
Nhược năng
hồi hướng pháp giới, thị
nhân phước lợi bất khả
vi dụ.
Như
có thể đem hồi hướng cho
Pháp Giới, thì phước lợi
của người ấy sẽ không
thể ví dụ thế nào cho
được.
Chúng ta
coi chú thích cho đoạn
này trước, chú thích chỉ
có ba hàng, ‘Ðại Luận
chép: Trong hai thứ bố
thí mà Phật nói’, hai
thứ bố thí là tài thí và
pháp thí, ‘pháp thí hạng
nhất, vì quả báo của
việc tài thí có hạn, còn
[quả báo của] pháp thí
là vô lượng. Tài
thí được quả báo ở cõi
Dục Giới, pháp thí được
quả báo trong Tam giới,
và ngoài Tam giới’, đây
là trích dẫn lời nói
trong Ðại Trí Ðộ Luận.
Sau đó còn nói ‘Nếu
không cầu danh tiếng,
tài lợi thế lực’ bạn bố
thí không cầu danh, cũng
không cầu tài, cầu lợi,
quyền lợi, địa vị, bạn
không cầu gì hết.
‘Chỉ vì học Phật đạo’,
Phật đạo là gì?
Trí huệ chân thật, giải
thoát chân thật, chỉ vì
đoạn phiền não, chỉ vì
đoạn dứt lo âu, được
thanh tịnh, tự tại, sung
sướng, đó là Phật đạo.
‘Hoằng đại từ bi tâm, độ
các thứ khổ của sanh lão
bịnh tử, đó gọi là thanh
tịnh pháp thí’, như vậy
thì đúng như lý như
pháp. Chúng ta
dùng tâm thanh tịnh,
dùng tâm chẳng mong cầu
để giúp hết thảy chúng
sanh, đặc biệt là hết
thảy chúng sanh đang
chịu khổ nạn, đó là
thanh tịnh pháp thí.
Trong pháp
thí bao gồm cả tài thí,
chúng ta ra tiền, ra sức
là tài thí, chúng ta tồn
tâm là pháp thí, chẳng
có một mảy may mong cầu,
tham vọng. Nghĩ
đến chúng sanh khổ, giúp
đỡ hết thảy chúng sanh
là nghĩa vụ chúng ta
phải làm. Khi giúp
những người này dứt
khoát không có tâm thiên
lệch, bố thí một cách
bình đẳng, thanh tịnh.
Do đó tôi thường khuyên
các bạn đồng tu, tầm mắt
phải xa và lớn, còn [đối
với] sự hoằng truyền của
Phật pháp và lợi ích
chúng sanh, mức độ tối
thiểu là chúng ta phải
lấy chúng sanh trên toàn
thế giới làm đối tượng,
chẳng [hạn chế ở tại]
một khu vực nào, bạn
nhất định phải mở rộng
tâm lượng. Nếu chỉ
là một khu vực, khu vực
đó tốt, còn khu vực khác
nghèo hèn, lạc hậu, thì
thế giới này vĩnh viễn
sẽ chẳng được hòa bình,
cho nên phải nghĩ đến
toàn diện, giáo học và
nâng cao toàn diện, làm
cho hết thảy chúng sanh
đều được phá mê khai
ngộ, xã hội mới đạt được
an định, thế giới mới
đạt được hòa bình vĩnh
viễn. Tuy trong
đời quá khứ hết thảy
chúng sanh trồng nhân
chẳng giống nhau, duyên
đời này không giống
nhau, [chỉ cần] giác ngộ
là được, có thể chăm sóc
lẫn nhau, hợp tác lẫn
nhau, miễn trừ hết thảy
tranh chấp, tránh khỏi
hết thảy tai họa.
Chúng ta
coi phần chú thích kế
tiếp, ‘Nếu không như
vậy, thì là pháp giao
dịch trong thương
trường’, đây là nói bạn
không có tâm đại từ bi,
tại sao bạn đến cửa Phật
để bố thí? Nghe
nói trong cửa Phật ‘bố
thí một thì sẽ được quả
báo hàng vạn’, sự trao
đổi này tốt lắm, có sự
mua bán nào vốn một mà
lời hàng vạn? Bố
thí trong cửa Phật là
‘bố thí một được quả báo
hàng vạn’, hãy mau đến
đó bố thí, nếu có ý niệm
này thì đó là đổi chác
trong thương trường.
[Mục đích] là mua chác,
trao đổi, tâm cầu lợi
thiết tha, tìm đúng chỗ
rồi, vốn một lời hàng
vạn, có thể lời to; tâm
đó tuyệt đối là sai lầm,
chẳng tương ứng.
Sau đó lại nói ‘Lại nữa
này Bồ Tát, biết thật
tướng của chư pháp, như
Niết Bàn chẳng tận’, Bồ
Tát có trí huệ, hiểu rõ
chân tướng của hết thảy
pháp trong thế gian và
xuất thế gian.
‘Niết Bàn’ là Phạn ngữ,
có nghĩa là ‘không sanh,
không diệt’. Không
sanh không diệt là thật
chứ chẳng giả.
Phàm những gì có sanh có
diệt đều là giả, chẳng
phải thiệt. ‘Phước
đức nhập thật tướng của
chư pháp cũng chẳng cùng
tận’, làm sao nhập?
Tương ứng với chư pháp
thật tướng. Làm
sao mới tương ứng?
Tâm tương ứng, tâm niệm
bạn dấy khởi lúc bố thí
tương ứng với chư pháp
thật tướng. Hiện
tượng tương ứng là gì?
Thanh tịnh không ô
nhiễm, thanh tịnh bình
đẳng, tuy bố thí nhưng
không nhiễm trước bố
thí. Bố thí
là tướng, phàm những gì
có tướng đều là hư
vọng’. Do đó bất
luận tu bố thí như thế
nào, nói thật ra Phật
pháp nói hết thảy pháp
đều là bố thí, bố thí
bao trùm hết thảy Phật
pháp. Phật dạy
người không ngoài ba
loại tài thí, pháp thí,
và vô úy thí; cho nên
những gì chúng ta tu học
trong đời sống hằng ngày
đều chẳng vượt ra khỏi
ba loại này. Có
thể dùng tâm thanh tịnh,
tâm chân thành để phục
vụ hết thảy chúng sanh,
phục vụ xã hội, phục vụ
nhân dân thì đó là bố
thí; phải có tâm bố thí,
chỉ có phục vụ chứ không
cầu lợi. Thế nên
Phật, Bồ Tát là người có
trí huệ làm công tác
nghĩa vụ giáo dục, học
trò của đức Phật cũng
như vậy, đây là sự giáo
học trí huệ, giáo học
nghĩa vụ, cho nên được
phước chẳng thể nghĩ
bàn, như vậy sẽ nhập chư
pháp thật tướng.
‘Do đó phước lợi chẳng
thể ví dụ’, đây là phước
báo chân thật, lợi ích
chân thật, chẳng có cách
gì ví dụ nổi.
‘Hồi hướng
pháp giới’, hồi hướng
tức là phục vụ, gần đây
[trong lúc] giảng kinh
Hoa Nghiêm vào đoạn [nói
đến các] quỷ vương,
thiên vương đại biểu
Thập Hồi Hướng.
Thập Trụ, Thập Hạnh nói
trong Ðại Kinh thành tựu
khả năng trí huệ của
chính mình, sau khi trí
huệ đức năng thành tựu
thì phải phục vụ đại
chúng, vì đại chúng phục
vụ thì gọi là hồi hướng,
hồi tự hướng tha, đem
trí huệ đức năng cống
hiến cho xã hội, cống
hiến cho hết thảy chúng
sanh, đó gọi là hồi
hướng. Pháp giới
là phạm vi, phạm vi này
quá lớn, quá lớn!
Chẳng phải là một quốc
gia, một tinh cầu, mà là
tận hư không, trọn khắp
pháp giới, tâm lượng này
bao lớn. Do đó
phước đức, lợi ích của
nó sẽ vô lượng vô biên,
cùng quả vị chư Phật Như
Lai không hai, không
khác. Ðoạn này nói
phước bạn có được khi
tạo tượng Phật, tạo hình
tượng Bồ Tát, tạo tượng
Chuyển Luân Thánh Vương.
Xin xem đoạn kế:
Phục thứ
Ðịa Tạng, vị lai thế
trung, nhược hữu thiện
nam tử, thiện nữ nhân,
ngộ Ðại Thừa kinh điển,
hoặc thính văn nhất kệ
nhất cú, phát ân trọng
tâm, tán thán cung kính,
bố thí cúng dường, thị
nhân hoạch đại quả báo
vô lượng vô biên.
Lại nữa,
này Ðịa Tạng! Trong đời
vị lai, nếu có kẻ thiện
nam người thiện nữ nào
gặp kinh điển Ðại Thừa,
hoặc nghe thấy một bài
kệ, một câu kinh, rồi
phát tâm ân cần trân
trọng, cung kính ngợi
khen, bố thí cúng dường,
thì người ấy sẽ được đại
quả báo vô lượng vô
biên.
Ðoạn trước
nói về người có thể bố
thí, có thể tu phước,
‘thiện nam tử, thiện nữ
nhân’. Ðoạn sau
nói họ tu phước, được
phước, đây là khi gặp
kinh điển Ðại Thừa, hoặc
là ‘nghe một câu một
kệ’, chỉ gặp được chút
pháp Ðại Thừa, nhưng sau
khi nghe xong họ có thể
phát tâm, phát tâm chân
thành, ‘ân trọng’ tức là
chân thành, ưa thích tán
thán, cung kính bố thí
cúng dường, đây là những
gì họ tu. Chư vị ở
đây chắc chắn phải chú ý
đến, thứ nhất nói họ là
‘thiện nam tử, thiện nữ
nhân’, người có đủ thiện
căn phước đức, chẳng
phải là người thường,
tức là đoạn trước nói họ
hoàn toàn làm được Tịnh
Nghiệp Tam Phước dạy
trong Quán Kinh, họ là
người như vậy. Gặp
được kinh điển Ðại Thừa
dù chỉ một câu một kệ,
họ hiểu sâu nghĩa thú,
trong kinh Kim Cang đức
Phật dạy ‘hiểu sâu nghĩa
thú’, một câu một kệ tuy
ít, hiểu sâu nghĩa thú
thì chẳng ít; nói một
cách khác họ nghe xong
và hiểu rõ ràng, rành
rẽ.
Vào đời
Ðường, Huệ Năng đại sư
trong Thiền Tông là một
người làm công cực khổ,
ngài bán củi kiếm sống,
trong xã hội ngày nay
không có người làm nghề
này nữa. Trước
thời kháng chiến, lúc
kháng chiến vừa mở đầu,
đại khái khoảng sáu mươi
năm trước, tôi ở Phước
Kiến, đời sống lúc đó
còn có rất nhiều người
bán củi, bán nước, chẳng
có nước máy, [nên người
ta] gánh nước từ bờ
sông, từ giếng đi bán,
một gánh nước lúc đó là
ba bản đồng, bằng một
xu, lúc đó dùng bản
đồng. Người bán
củi, đốn củi trên núi
gánh xuống thành thị
bán, rất cực khổ, ngài
Huệ Năng bán củi sinh
sống. Bán củi
xong, đem tiền về, lúc
đó nghe một người đang
tụng kinh Kim Cang,
[người đó] tụng kinh
trong phòng, ngài đứng ở
kế cửa sổ lắng nghe.
Thời xưa cửa sổ không có
cửa kiếng, nếu có kiếng
thì bên ngoài nghe không
được, lúc đó cửa sổ dùng
giấy dán bít lại, mùa
đông cũng dán giấy, mùa
đông thường dán hai lớp
giấy. Cửa sổ dán
bằng giấy cho nên bên
trong nói chuyện, bên
ngoài có thể nghe được.
Ngài ngẫu nhiên nghe
được vài câu, nghe đến
câu ‘Không nên trụ ở
đâu mà sanh tâm ấy’ (Ưng
vô sở trụ, nhi sanh kỳ
tâm) trong kinh Kim
Cang, ngài bèn ngộ nhập.
Nếu bạn
hỏi, ngài làm sao có thể
ngộ nhập? Ngài là
thiện nam tử, người niệm
kinh hằng ngày cũng
chẳng ngộ nhập vì người
đó chẳng phải là thiện
nam tử. Kẻ chẳng
phải là thiện nam tử
niệm kinh cho thiện nam
tử nghe, nên thiện nam
tử khai ngộ. Chư
vị thử nghĩ xem, Tịnh
Nghiệp Tam Phước dạy
trong Quán Kinh, bạn coi
kỹ xem ngài Huệ Năng có
thực hiện được chưa?
Ngài đã thực hiện được.
Ngài thật sự đã hiếu
dưỡng cha mẹ, ngài bán
củi mua gạo về nhà cúng
dường mẹ. Tuy ngài
chẳng đi học, chúng ta
không thấy ngài phụng sự
sư trưởng, nhưng sau này
khi ngài đến Hoàng Mai,
chúng ta thấy [ngài đã
làm được], thật sự đã
hiếu dưỡng cha mẹ, tôn
kính sư trưởng. Từ
tâm bất sát, tu thập
thiện nghiệp vô cùng rõ
ràng. Ngài chẳng
có học nhưng đều đã làm
trọn, đó là thiện căn
phước đức trong đời quá
khứ cho nên ngẫu nhiên
được nghe người ta đọc
kinh, [đó là] cơ duyên,
là duyên phận.
Duyên phận này làm cho
ngài trở thành một vị Tổ
Sư. Nếu lúc ngài
bán củi chẳng nghe được
người ta đọc kinh thì sẽ
phải bán củi vĩnh viễn,
làm sao có thể nghe đến
Phật pháp? Vừa
nghe được một lần, nghe
được một câu một kệ,
nghe xong ngài thật sự
hiểu được, thật sự nghe
rõ ràng, nên ngài liền
phát tâm ân trọng, ngài
liền tán thán, cung
kính, thật sự muốn học,
thật sự đi hỏi ‘cuốn
sách ông niệm đó là sách
gì?’, ông đó niệm kinh.
‘[Kinh này] từ đâu mà
có?’. ‘Từ Hoàng
Mai tới’, nghe xong ngài
liền muốn đi [đến Hoàng
Mai] để học hỏi.
Việc cúng
dường nói ở đây, bốn chữ
‘bố thí cúng dường’ là
pháp cúng dường, quan
trọng nhất trong pháp
cúng dường là ‘y giáo tu
hành cúng dường’.
Phải giải thích ‘bố thí’
như thế nào? Bố
thí là bỏ hết thảy những
điều sai trái từ trước,
đó chính là bố thí, noi
theo Phật pháp mà tu học
chính là ‘cúng dường’,
sự bố thí này chẳng dính
dáng tới tiền tài, cúng
dường cũng chẳng liên
quan đến phẩm vật.
Bỏ hư vọng, học chân
thật, “xả vọng” chính là
bố thí, “học chân” là
cúng dường, người như
vậy sẽ ‘có được quả báo
to lớn, vô lượng vô
biên’. Chú Giải
nói rõ cho chúng ta,
trích Khởi Tín Luận,
giải thích Ðại Thừa, Thể
của kinh Ðại Thừa lớn,
Tướng lớn, Dụng lớn, do
đó công đức vô lượng vô
biên. Chúng ta lật
cuốn Chú Giải tới trang
22, đoạn cuối này rất
quan trọng, chúng ta hãy
đọc qua một lần bắt đầu
từ hàng thứ nhất, câu
thứ hai hàng đầu ‘Kim
tức văn thị chương cú,
tín tâm thanh tịnh, tắc
sanh thật tướng pháp
nhãn’ (Nay nghe được lời
này, khởi lòng tin, khởi
tâm thanh tịnh, ắt sanh
thật tướng pháp nhãn)
đây là nói lý luận y cứ
của một câu một kệ được
vô lượng phước.
Làm sao có thể như vậy
được? Ðạo lý là ở
chỗ này. Giống như
kinh Kim Cang có nói
‘lòng tin thanh tịnh ắt
sanh thật tướng’, sanh
thật tướng nghĩa là gì?
Minh tâm kiến tánh,
phước báo và lợi ích ấy
có gì sánh bằng?
Phước báo họ được là
minh tâm kiến tánh.
‘Tức sử nhất kệ nhất cú,
diệc phục tăng tiến Bồ
Ðề’, (Dù chỉ là
một câu một kệ, cũng
tăng tiến Bồ Ðề), từ sự
tích của Lục Tổ Huệ Năng
chúng ta nhìn thấy vô
cùng rõ ràng, việc này
có thể chứng thật cho
lời đức Phật dạy trong
kinh là chân thật, chẳng
hư dối.
Thời đại
ngày nay của chúng ta,
tu pháp bố thí tiện lợi
hơn ngày xưa rất nhiều,
nhưng phước chúng ta
được không bằng người
xưa, vì dụng tâm chẳng
bằng người xưa.
Người xưa chân thành
cung kính, người hiện
nay khởi tâm động niệm
còn tâm riêng tư, chưa
xả chính mình, do đó
phước của sự bố thí
chẳng giống như kinh đã
nói, đạo lý là như vậy.
Ngày nay quan trọng nhất
là chúng ta xả hết thảy
những điều hư vọng chẳng
chân thật, Thiện Ðạo đại
sư dạy chúng ta
‘Hết thảy đều phải làm từ
tâm chân thật’, câu
này rất quan trọng!
Hết thảy đều dùng tâm
chân thật làm cơ sở,
khởi đầu từ tâm chân
thật mới đúng, chẳng có
mảy may hư vọng, chẳng
dối mình, chẳng gạt
người, niệm niệm đều
chân thật, bất luận là
tu pháp môn gì, bất luận
tu bố thí gì, đều được
phước chẳng thể nghĩ
bàn. Ðoạn sau cùng
trích một đoạn trong lời
dạy của đức Phật, nói rõ
một câu một kệ được vô
lượng phước, chúng ta
coi hàng thứ hai trong
phần chú thích, trang
hai mươi hai, hàng thứ
hai bắt đầu từ câu cuối
cùng.
‘Phật cáo A
Nan nhược hữu tùng tha
văn nhất tứ cú kệ’ (Ðức
Phật nói với ngài A Nan,
nếu có người nghe được
bốn câu kệ), đây là giả
thiết, nếu nói có duyên
nghe người ta tụng kinh
hoặc giảng kinh, thời
gian rất ngắn, chỉ nghe
người ta nói bốn câu kệ.
‘Hoặc thư chi trúc bạch’
(Hoặc viết trên tre hay
trên vải), thời xưa
chẳng có giấy, thời xưa
ở Trung Quốc dùng thẻ
tre, viết chữ trên thẻ
tre, nếu quý vị đến Cố
Cung Bảo Tàng Viện tham
quan [thì sẽ thấy] những
điển tịch trước triều
Hán vẫn còn viết trên
thẻ tre. Bạch là
một miếng vải dệt bằng
tơ, lúc đó chẳng có
giấy, cũng được viết
trên những miếng tơ này,
hiện nay gọi là sách,
thư tịch. ‘Sở hữu
danh tự ư nhược can
kiếp, thủ bỉ hòa thượng
A Xà Lê đẳng, hà đảm
kiên thượng hoặc bối phụ
đảnh đới. Thường
tương nhất thiết âm nhạc
chi cụ, cúng dường thị
sư, thượng bất năng cụ
báo sư ân’ (Hết thảy
danh tự trong bao nhiêu
đó kiếp, đem hòa thượng,
A Xà Lê cõng trên vai,
hoặc đội trên đỉnh đầu.
Thường dùng những nhạc
cụ cúng dường thầy cũng
chẳng thể báo đền ân
thầy), câu này nói về
tri ân báo ân. Bạn
làm sao khai ngộ?
Vì người khác truyền thọ
cho bạn một câu một kệ,
cho bạn cơ hội này, bạn
có thiện căn, sau khi
nghe xong có thể hiểu
sâu nghĩa thú, bạn khai
ngộ, bạn thành Phật rồi.
Người truyền trao cho
bạn một câu một kệ là
thầy của bạn, là ân sư
của bạn, ân đức đó bao
lớn? Ðức Phật nêu
một thí dụ, chúng ta coi
thí dụ này, báo đáp
chẳng cùng tận. Ví
dụ nói bạn cõng thầy
trên vai, hoặc cõng trên
lưng, hoặc trên đỉnh
đầu, dùng hết thảy những
nhạc khí để cúng dường
cũng báo đáp không hết,
đây là một người thật sự
tri ân báo ân.
Sau đó nói
‘Nhược ư hòa thượng sở,
khởi bất kính tâm, hằng
thuyết ư quá, ngã thuyết
ngu si, cực thọ đa khổ.
Ư đương lai thế tất đọa
ác đạo’ (Nếu đối với hòa
thượng, khởi tâm bất
kính, luôn kể lỗi thầy,
ta nói kẻ ấy ngu si, sẽ
chịu nhiều sự khổ cùng
cực. Trong đời tương
lai, ắt đọa ác đạo), vị
thầy này có ân đối với
bạn, bạn đối với thầy
chẳng có tâm cung kính,
còn thường nói đến lỗi
của thầy. Thầy có
lỗi hay không? Rất
khó nói. Tại sao
rất khó nói? Có
lỗi hay không là ở chỗ
bạn khởi tâm động niệm,
nếu bạn dùng tâm phiền
não nhìn, [sẽ thấy] lỗi
của thầy vô lượng vô
biên, nếu dùng tâm thanh
tịnh nhìn thì [sẽ thấy]
thầy đích thật chẳng có
lỗi. Ngẫu Ích đại
sư nói rất hay: “cảnh
duyên chẳng có tốt ác,
chẳng có đẹp xấu”,
cảnh là gì? Là
hoàn cảnh vật chất,
duyên là hoàn cảnh nhân
sự, hết thảy người, hết
thảy vật, nói cho chư vị
biết chẳng có thiện cũng
chẳng có ác, chẳng có
đẹp chẳng có xấu, thiện
ác, đẹp xấu là ở tại nơi
tâm mình. Tâm bạn
thiện thì nhìn hết thảy
người đều là người
thiện, thấy hết thảy
pháp đều là thiện pháp;
nếu tâm bạn ác thì nhìn
hết thảy người đều là
người ác, thấy hết thảy
pháp đều là pháp ác.
Lời của Ngẫu Ích đại sư
nói rất đúng. Cũng
giống như lời nói gió
động, phan động trong
Ðàn Kinh, Huệ Năng đại
sư thấy được, chẳng phải
gió động cũng chẳng phải
phan động, mà là tâm bạn
đang động. Một câu
nói liền nói toạc chân
tướng sự thật ra.
Trong kinh Hoa Nghiêm
chúng ta thấy chư Phật,
Bồ tát thị hiện biểu
diễn, biểu diễn trên
Tích Tướng
năm mươi ba lần tham vấn
có thiện có ác, trong đó
còn có sát, đạo, dâm
vọng, Thiện Tài đồng tử
vẫn tới tham phỏng.
Sát, đạo, dâm là ba độc
phiền não [thường được
đề cập] trong Phật pháp,
Bồ Tát thị hiện, Thiện
Tài tham học được vô
lượng công đức.
Ngài làm sao đạt được?
Nếu chúng ta tiếp xúc
những thứ này thì nhất
định sẽ đọa A Tỳ địa
ngục, tại sao người ta
tiếp xúc có thể thành vô
thượng đạo? Vì
dùng tâm chẳng giống
nhau. Chúng ta
dùng tâm gì? Bồ
Tát dùng tâm gì?
Cho nên đoạn này rất
quan trọng. Sau đó
nói tiếp ‘Thị cố ngã
giáo nhữ đẳng thường
hành cung kính tôn trọng
chi tâm, ái trọng Tam
Bảo thậm thâm chi pháp,
tất hoạch vô lượng vô
biên chi đại quả hỹ’ (Do
đó Ta dạy các ông thường
giữ tâm cung kính tôn
trọng, trân quý, yêu
tiếc pháp thậm thâm của
Tam Bảo, ắt sẽ gặt được
vô lượng vô biên quả
báo), chỗ này trích dẫn
lời đức Phật dạy.
Câu sau cùng:
Nhược năng
hồi hướng pháp giới, kỳ
phước bất khả vi dụ.
Nếu có
thể đem hồi hướng cho
Pháp Giới, thì phước báo
này sẽ không thể ví dụ
thế nào cho được.
Phần chú
thích nói, Chú Giải
trích dẫn Phó Pháp Tạng
Kinh, lời Phật nói ‘Pháp
thị chúng sanh chân
thiện tri thức, tác đại
lợi ích, tế chư khổ não’
(Pháp là chân thiện tri
thức của chúng sanh, làm
lợi ích lớn lao, tế độ
các khổ não), có thể
giúp hết thảy chúng sanh
vượt qua hết thảy khổ
nạn, nhất định phải
nương vào Phật pháp, cho
nên Phật pháp mới là
chân thiện tri thức của
chúng sanh. Trong
Phật pháp đặc biệt là
pháp Ðại Thừa, pháp ngày
nay chúng ta tu học là
phần thù thắng, tinh hoa
nhất trong Ðại Thừa, bao
gồm Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh. Chúng
ta có được lợi ích,
chúng ta tuân giữ giáo
giới của đức Phật phải
nên giới thiệu rộng rãi
lợi ích này cho hết thảy
chúng sanh. Ðó là
gì? Hồi hướng pháp
giới, chẳng hưởng riêng
mình, phải đem lại lợi
ích cho hết thảy chúng
sanh, nhất định không sợ
gian khổ, sốt sắng nỗ
lực mà làm. Sống
một ngày thì làm một
ngày, đến hết đời này
phải làm việc này cho
tốt đẹp, đó gọi là công
đức viên mãn.
Không sợ gian khổ, không
thể tham hưởng thọ ngũ
dục lục trần trong thế
gian, lãng phí mạng sống
quý báu của mình.
Nếu Bồ Tát tham hưởng
thụ, trong đó có thể
được tự lợi, không thể
lợi người, điểm quý báu
của Phật pháp là ở chỗ
lợi người. Muốn
lợi người thì nhất định
phải buông bỏ sự yên vui
của riêng mình.
Lúc trước thầy Lý nói
với tôi đâu có ai mà
không thích ở túp lều
trên núi? Ðó là sự
hưởng thụ cá nhân, hưởng
thụ niềm vui đại tự
nhiên, tiêu dao sơn
thủy, niềm vui hạng nhất
trong đời người.
Nhưng làm vậy không thể
đem lại lợi ích cho
chúng sanh, chỉ có thể
tự lợi, chẳng thể lợi
người. Phật, Bồ
Tát, [và những] người
đắc đạo minh tâm kiến
tánh đích thật có thể
hưởng thụ vì họ đạt được
đại tự tại. Nhưng
họ buông bỏ sự hưởng thụ
của mình, chẳng từ lao
nhọc mỗi ngày giáo hóa
chúng sanh, đi vào đô
thị, thôn trang chỉ cần
có người chịu nghe, chịu
tiếp nhận, đúng như câu
‘Trong cửa nhà Phật
không xả một ai’, các
ngài đều hoan hỷ, sẵn
sàng giải thích, thuyết
giảng tường tận cho
người.
Cả đời đức
Phật Thích Ca Mâu Ni,
giảng kinh thuyết pháp
bốn mươi chín năm chẳng
gián đoạn, mỗi ngày đều
phục vụ cho mọi người,
giảng giải cho đại
chúng, mãi cho đến già
cũng chưa từng buông bỏ
công việc giảng kinh
thuyết pháp dạy dỗ chúng
sanh, rất đáng cho người
đời sau chúng ta tôn
kính, đáng cho người đời
sau bắt chước.
Chúng ta có khi nào
nghe, coi trong kinh
thấy đức Phật Thích Ca
Mâu Ni đi nghỉ mát ở chỗ
nào đó chăng? Chưa
từng thấy qua.
Ngày nay dù công việc
rất gian khổ, mỗi ngày
đều phải làm việc,
[người ta] vẫn tìm thời
gian đi nghỉ mát, chưa
bao giờ nghe đức Phật
Thích Ca Mâu Ni đi nghỉ
mát cả. Cũng chẳng
nghe một ngàn hai trăm
năm mươi người [đệ tử
của Phật] đi nghỉ mát,
chưa hề nghe tới.
Ở đây chúng ta lập Phật
Học Viện, nghe nói còn
có nghỉ mùa Hè, nghỉ mùa
Ðông, còn nghỉ học, do
đó những điểm này chúng
ta phải nghĩ tới.
Tương lai lập Phật Học
Viện nhất định phải nghỉ
hè, phải tùy thuận thế
gian, vì trường học
trong thế gian đều nghỉ
hè. Nhưng khi
chúng ta nghỉ hè thì
phải làm sao? Phải
làm gì? Hy vọng
mọi người học theo đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, đi
khắp nơi giảng kinh
thuyết pháp để nghỉ mát,
đem những điều bạn đã
học trong khóa học này
tìm một chỗ để giảng
kinh trong dịp nghỉ hè,
làm vậy thì dịp nghỉ hè
này bạn chẳng luống qua,
lợi dụng khoảng thời
gian này kết pháp duyên
với hết thảy chúng sanh.
Nếu các bạn có ý này,
tôi có thể sắp xếp cho
các bạn, mời nhiều chỗ ở
nước ngoài gởi thiệp mời
các bạn, nghỉ hè một
tháng thì giảng kinh một
tháng, nghỉ hè hai tháng
thì giảng kinh hai
tháng, chẳng luống qua.
Không thể nghỉ hè rồi đi
du ngoạn sơn thủy, vậy
thì sai rồi! Nếu
nghỉ hè như vậy, những
gì bạn học được trong
học kỳ này đều mất hết,
bạn làm sao tiến bộ
được? Tiến bộ là
niệm niệm đều
cần cù gắng sức, chẳng
buông bỏ,
phải hiểu đạo lý này.
Xin xem
đoạn kinh tiếp theo,
đoạn này nói về phước
báo bố thí, tu bổ kinh
điển, tháp tự.
Phần chú thích nói trên
còn một đoạn rất quan
trọng, trang 22, hàng
thứ năm, đoạn sau, chúng
ta hãy đọc! ‘Thị
cố trí giả, dục đắc vô
thượng an ổn khoái lạc,
ưng đương chí tâm cần
thính kinh pháp’ (Do đó
những người có trí huệ
muốn được niềm vui sướng
yên ổn vô thượng thì
phải nên chí tâm, siêng
năng nghe kinh pháp),
câu này tóm lại một đoạn
trong Phật Thuyết Kiên Ý
Kinh, đoạn này chúng ta
phải đem ra lưu thông,
in ra để phổ biến rộng
rãi. Ðoạn này ở
trang 23, hàng thứ ba,
mọi người hãy ghi nhớ.
Trong kinh Phật Thuyết
Kiên Ý, trong đoạn kinh
này ‘Phật cáo A Nan, kỳ
hữu hảo tâm thiện ý chi
nhân, văn Phật minh
pháp, nhất tâm nhi thính
năng nhất nhật khả, bất
năng nhất nhật, bán nhật
khả, bất năng bán nhật,
nhất thời khả’ (Ðức Phật
bảo ngài A Nan nếu có
người hảo tâm có thiện ý
nghe Phật hiểu pháp, hết
lòng mà nghe thì có thể
nghe một ngày, không thể
nghe một ngày thì nghe
nửa ngày, không thể nghe
nửa ngày thì nghe một
thời cũng được), một
thời ở đây là chỉ một
thời của cổ Ấn Ðộ, tức
là bốn giờ ngày nay,
ngày đêm chia ra sáu
thời, một thời tương
đương với bốn giờ hiện
nay. ‘Bất năng
nhất thời, bán thời khả’
(Không thể nghe một thời
thì nghe nửa thời cũng
được), bán thời tức là
hai giờ ngày nay.
‘Bất năng bán thời tu du
khả’ (không thể nghe bán
thời thì nghe một lát
cũng được), nếu bạn
không rảnh nghe hai giờ
thì nghe mấy phút cũng
được. ‘Kỳ phước
bất khả lượng’ (Phước ấy
chẳng thể tính đếm).
Chúng ta đổi một chữ ở
phần dưới, [tức là] “kỳ
phước bất khả lượng”
(phước ấy không tính đếm
được) thành “kỳ phước
bất khả hạn” (phước ấy
không có giới hạn). Dùng
chữ “giới hạn” thì dễ
hiểu hơn. Phía trước
đoạn kinh [vừa dẫn trên
đây trong Chú Giải] có
ghi một chữ “văn”, ý nói
đoạn văn vừa dẫn trên
đây là kinh văn [trích
từ Phật Thuyết Kiên Ý
Kinh].
Tiếp theo ‘thị cố trí
giả dục đắc vô thượng an
ổn khoái lạc, ưng đương
chí tâm cần thính kinh
pháp’ (Do đó những người
có trí huệ muốn được
niềm vui sướng yên ổn vô
thượng thì phải nên chí
tâm, siêng năng nghe
kinh pháp). Chúng
ta dùng đoạn kinh này để
khuyên mọi người hãy
thường nghe kinh, cho
nên đoạn kinh này rất
quan trọng! Quý vị
hãy đánh máy đoạn này ra
thành một bài ngắn, có
thể dùng để khuyên người
ta đến nghe kinh.
Xin xem tiếp:
Phục thứ
Ðịa Tạng nhược vị lai
thế trung
Lại nữa,
này Ðịa Tạng! Trong đời
vị lai
Trong kinh
nói ‘vị lai thế trung’
tức là thời đại hiện nay
của chúng ta
Hữu thiện
nam tử, thiện nữ nhân
Như có
kẻ thiện nam người thiện
nữ nào
[Người] có
đầy đủ điều kiện của chữ
‘thiện’ này vô cùng hy
hữu, vô cùng hiếm có
Ngộ Phật
tháp tự Ðại Thừa kinh
điển, tân giả bố thí
cúng dường, chiêm lễ tán
thán, cung kính hiệp
chưởng. Nhược ngộ
cố giả hoặc hủy hoại giả
tu bổ doanh lý, hoặc độc
phát tâm hoặc khuyến đa
nhân đồng cộng phát tâm.
Gặp chùa
tháp thờ Phật và kinh
điển Ðại Thừa—nếu còn
mới thì bố thí cúng
dường, chiêm ngưỡng, lễ
lạy, khen ngợi, chắp tay
cung kính; nếu đã cũ kỹ
hoặc hư hoại thì sửa
sang tu bổ, hoặc riêng
mình phát tâm, hoặc
khuyên nhiều người khác
cùng phát tâm.
Ðoạn này
nói về việc tu phước.
Ý nghĩa của chữ ‘Tự’
phần trước đã nói qua,
nếu dùng cách nói hiện
nay thì ‘Tự’ nghĩa là
một cơ cấu vĩnh cữu,
chẳng phải là một thiết
bị tạm thời, mà là vĩnh
viễn. Ngày xưa cơ
cấu làm việc của nhà vua
gọi là ‘Tự’, cơ cấu làm
việc của quan chức từ Tể
tướng trở xuống thì gọi
là ‘Bộ’, thường có thể
thay đổi, có thể phế
trừ, có thể xây dựng sửa
đổi mới lại. Cơ
cấu làm việc của nhà vua
vĩnh viễn chẳng thay
đổi. Ở Trung Quốc
từ triều Hán đến triều
Thanh có thể nói đều
chẳng thay đổi, cho nên
‘Tự’ là một cơ cấu làm
việc lâu dài, chúng ta
phải hiểu nghĩa của chữ
Tự. Nhưng ngày nay
khi mọi người thấy ‘Tự’,
ngay cả cách suy nghĩ
cũng không đúng, ‘Tự’
thường đại diện cho mê
tín, đại diện quỷ thần,
vừa nghe chữ ‘Tự’ và
‘miếu’ bèn nối liền
thành ‘chùa miếu’, trong
đó cúng quỷ thần, làm
việc mê tín, đây là một
sai lầm rất lớn.
‘Tự’ ngày xưa là cơ cấu
làm việc giáo dục của
Phật giáo, giáo dục Phật
giáo phải làm việc vĩnh
viễn, không thể phế trừ,
đình chỉ, không thể tạm
ngưng cho nên gọi là
‘Tự’. Nhưng ngày
nay nhiều người hiểu sai
chữ này, cho nên chúng
ta phải đổi một danh
xưng mới, lão cư sĩ Hạ
Liên Cư đề xướng đừng
dùng danh từ ‘tự viện,
am đường’ nữa, hãy dùng
‘Học Hội’, chữ ‘Học Hội’
này là do cụ Hạ đề
xướng. Ngày nay
chúng ta dùng tên Tịnh
Tông Học Hội, chúng ta
không dùng tên Tịnh Tông
Tự, không dùng tên Di Ðà
Tự mà dùng Tịnh Tông Học
Hội, làm cho người ta
nghe đến danh xưng này
liền cảm thấy mới mẻ,
chẳng bị hiểu lầm, ý
kiến này rất hay.
Chúng ta đọc sách của cụ
nên tuân theo ý của cụ,
chúng ta thành lập Tịnh
Tông Học Hội.
Tháp Phật
là nơi cúng dường xá lợi
của Phật, Tự là nơi
tuyên dương truyền bá
Phật giáo. ‘Ðại
Thừa kinh điển’ là pháp
bảo quan trọng nhất
trong nền giáo dục Phật
Ðà, phần trước có nói
đây là chân thiện tri
thức của chúng sanh.
‘[Tháp Tự] mới thì bố
thí cúng dường, chiêm lễ
tán thán, cung kính chắp
tay’, khi gặp chùa tháp
mới xây, ngày nay khoa
học kỹ thuật phát triển,
chúng ta tạo ra những
kinh luận này dễ dàng,
nhưng nhất định phải làm
cho đẹp đẽ, trang trọng,
làm cho người ta nhìn
thấy liền sanh tâm hoan
hỷ, sanh tâm cung kính
tán thán, cho nên in
kinh không thể in một
cách sơ sài. Nếu
in một cách sơ sài thì
người ta nhìn thấy không
sanh hoan hỷ, đó là lỗi
của chúng ta. Kinh
điển nhất định phải in
cho hoàn hảo, ráng hết
sức in cho đẹp.
Lần này chúng ta in bộ
kinh này, chư vị nhìn
thấy đều sanh tâm hoan
hỷ. Bản in này
không dễ tìm, ở Ðài Loan
bản in này đã được in đi
in lại rất nhiều lần nên
chữ đều bị mờ, bản in
tôi dùng là bản cũ, nét
chữ đã bị phai mờ, cho
nên tôi phải đi kiếm bản
gốc.
Lần trước
tôi đến Hương Cảng, tôi
đã lưu ý đi tìm, cũng
nhờ Phật, Bồ Tát gia
trì, khi đến thư viện
Trung Hoa Phật Giáo tôi
tìm được một bản, đây là
bản in đầu tiên ở Hương
Cảng, Húc Lãng pháp sư
in, bản in này rất cũ
rồi, giấy đã phai màu.
Một lần khác tôi đi thăm
Giác Quang pháp sư, Giác
Quang pháp sư gọi điện
thoại tìm tôi, chúng tôi
gặp mặt và đến chỗ của
thầy dùng cơm, trong tủ
sách của thầy có một
cuốn, cuốn này đều cùng
một bản in nhưng được
giữ kỹ hơn bản in của
Sướng Hoài pháp sư.
Thầy để trong tủ sách
rất sạch sẽ, chúng tôi
đem về hai cuốn này,
phía trước là hình trắng
đen, chẳng phải hình
màu, khi tới Ðài Loan
chúng tôi đi tìm hình có
màu, bản in của chúng ta
hiện nay so với những
bản cũ tốt hơn nhiều,
đẹp hơn những bản gốc.
Chúng tôi tặng mười cuốn
cho Thường Hoài pháp sư,
và mười cuốn cho Giác
Quang pháp sư, chúng tôi
nhận một cuốn sau đó
tặng cho họ mười cuốn,
tặng cho họ cuốn kinh
đẹp hơn cuốn của họ cho
chúng tôi rất nhiều.
Chúng tôi làm như vậy,
về sau khi có chỗ nào
tặng cho họ sách tốt,
sách đẹp, họ sẽ đem cho
chúng tôi, họ biết cho
chúng tôi chẳng mất mát
mà còn có báo đền.
Chúng tôi đã in hai vạn
cuốn, nghe nói hiện nay
rất nhiều người ở Ðài
Loan thấy bản in này đẹp
như vậy, họ cũng muốn
in, phát tâm như vậy rất
tốt! In cho thật
nhiều, bản in của chúng
tôi để tại xưởng in Thế
Hoa ở Ðài Bắc, giữ
nguyên bản ở đó nên [sau
này ai muốn in] khỏi
phải trả tiền làm bản
gốc, ai thích in đều có
thể lấy bản đó đi in,
như vậy thì giá vốn sẽ
thấp hơn. [Kinh
sách] mới chúng ta nhất
định phải làm cho thật
đẹp, thật trang nghiêm,
khi người ta thấy liền
sanh tâm hoan hỷ, [họ
mới sanh tâm] ‘bố thí
cúng dường, chiêm lễ tán
thán, cung kính chắp
tay’. Do đó nếu
kinh sách in không đẹp
thì sẽ chẳng được.
Ðây là điều mà Phật dạy
chúng ta ở chỗ này, phải
dốc hết sức làm cho được
hoàn hảo.
‘Nếu gặp
[kinh sách] cũ, hoặc bị
hư hoại’, chữ ‘cố’ nghĩa
là cũ, sách cũ có giá
trị cao. Cao ở chỗ
nào? Thứ nhất là
sách đó đã lưu truyền
rất lâu, đã có rất nhiều
người đọc qua, năm tháng
lâu đời chứng tỏ kinh
này là kinh chân thật.
Nếu là giả, ngụy tạo thì
đã bị đào thải sớm rồi,
cho nên nó có giá trị
lịch sử. Lại được
rất nhiều cao tăng đại
đức đọc qua, nếu dùng
cách nói hiện nay thì từ
trường của nó rất khác
thường, đồ mới như thế
nào cũng không bằng đồ
cũ, chư vị phải biết, nó
có giá trị kỷ niệm, có
sức lôi cuốn rất mạnh
mẽ. Nhưng đồ vật
truyền lâu đời thì sẽ bị
hư hao, hiện nay tôi còn
cỡ ba mươi, bốn mươi
cuốn sách đời Minh, tính
sơ sơ cũng đã sáu trăm
năm, giấy rất mỏng manh,
giòn rụm, khi lật cứ sợ
nó bị rách, do đó những
sách này tôi làm sao đọc
được? Tôi chụp
(photocopy) lại, tôi đọc
bản copy, còn sách gốc
thì giữ nguyên, không
thường mở ra. Ở
đây không thuận tiện cho
lắm, ở Ðài Loan thì tiện
hơn, nếu ở Ðài Loan thì
tôi sẽ đem đi ‘bồi’ lại,
giống như trang hoàng
bức họa vậy, bên trong
lót một miếng giấy bông,
lót lớp giấy này thì
sách có thể bảo tồn ít
nhất một ngàn năm.
Vì hiện nay những sách
này hơn phân nửa là in
bằng giấy Mao Biên,
chẳng phải giấy tốt lắm,
chỉ là giấy Mao Biên
thường. Giấy Mao
Biên chỉ giữ được năm
trăm năm cho nên hiện
nay nhất định phải tu
bổ. Tu bổ nghĩa là
phải bồi, sau đó đóng
(xỏ chỉ) lại, làm như
vậy có thể giữ được thêm
một ngàn năm, sách này
đã trở thành đồ cổ rồi.
Chúng ta phải hiểu đạo
lý này, đừng cho rằng đồ
cũ rách thì nên liệng
bỏ, cũ rách vẫn có giá
trị. Thật sự là
người trong nghề, người
biết [giá trị] món hàng,
[khi tới] Cố Cung Bảo
Tàng Viện ở Ðài Loan,
không phải là người sành
điệu thì thích coi cái
gì? Coi đồ ngọc
đời Minh, Thanh, ngọc ấy
vô cùng đẹp đẽ.
Còn người sành điệu thì
coi cái gì? Coi đồ
đồng đời Hạ, Thương,
Châu, [những đồ ấy là]
đồng hư sắt vụn, đồ đạt
không hoàn hảo, nhiều
khi chỉ là một miếng
vụn, [nhưng đó lại là]
báu vật vô giá.
Làm sao sánh bằng những
đồ bằng vàng bạc, ngọc
ngà đời Minh, Thanh?
Không sánh bằng, [nhưng
nó có] giá trị lịch sử,
do đó [chúng ta] phải
hiểu đạo lý này.
Sách cũ
chúng ta phải tu bổ,
tháp tự cũ chúng ta cũng
phải tu bổ, trên phương
diện này thì chúng ta
thua xa người Nhật. Khi
tôi đi Nhật tham quan,
tham học, đối với việc
người Nhật bảo tồn tháp
tự, tu bổ đồ cổ, tôi
khâm phục năm vóc sát
đất. Những thứ này
họ đã học được từ Trung
Quốc, sau khi học xong
vẫn giữ gìn mãi cho đến
ngày nay; họ có thể giữ
gìn lâu như vậy sao?
Mỗi năm họ đều tu bổ,
cây cột này bị mối mục
rồi, họ dùng gỗ giống
hệt, vật liệu giống hệt,
hình thức giống hệt để
làm cây cột khác thay
thế. Do đó khi bạn
đi Nhật sẽ thấy chùa
miếu trang nghiêm,
[phỏng theo] mô thức đời
nhà Hán. Học sinh
người Nhật du học đến
Trung Quốc vào đời Ðường
nhiều nhất, họ học các
lối kiến trúc cổ đại,
Trung Quốc có rất nhiều
phi diêm (mái cong vút),
phi diêm thuộc đời nhà
Minh; đời Hán, Ðường còn
chưa có phi diêm, do đó
khi đi Nhật bạn sẽ thấy
được rất nhiều kiến trúc
đời Hán, Ðường, hoàn
toàn giống với những gì
ghi trong sách cổ Trung
Quốc. Hiện nay
chúng ta đọc Lễ Ký, coi
không hiểu rất nhiều
cách thức sinh hoạt thời
đại đó, nhưng khi tới
Nhật bèn hiểu ngay,
những thứ đó chính là
cách sinh hoạt của người
Nhật. [Còn về] y
phục, người Nhật mặc
‘hòa phục’, quần áo
người Nhật gọi là ‘hòa
phục’, hay ‘Ngô phục’,
nói ‘Ngô phục’ thì bạn
sẽ có ấn tượng, ‘Ngô’ là
Giang Tô, phục trang của
thời đại Ngô Việt,
truyền qua tới ngày nay
người Nhật vẫn còn mặc,
vẫn giống y như vậy,
người Nhật bảo tồn văn
hóa cổ đại của Trung
Quốc. Cách thức tu
bổ tháp tự của họ đích
thật đáng cho chúng ta
học tập, nhất định phải
dùng vật liệu gốc, dùng
cách thức thời xưa để
tạo ra vật mới [giống
hệt như vậy. Họ
giữ được] giống y như
thời xưa, bảo tồn được
vô cùng hoàn chỉnh, đây
là việc chúng ta tới đó
tham quan không thể
không khâm phục.
Người Nhật
có thể hấp thụ văn hóa
kỹ thuật tân tiến nhất
của tây phương, lại có
thể bảo tồn những vật cố
hữu, chẳng phế bỏ, đây
là chỗ họ cao minh hơn
người Trung Quốc.
Thậm chí đối với một con
đường cũ xưa, họ cũng
không phá bỏ con đường
xưa, khi mở đường mới họ
làm kế bên con đường cũ,
bảo tồn con đường cũ.
Ðường cũ dùng gạch trải
đường, có xe ngựa dành
cho khách du lịch tới
coi, ngồi xe ngựa rất
thích thú. Lúc tôi
đi tham quan Nhật khoảng
hơn hai mươi năm trước,
tôi có ấn tượng rất sâu
đậm. Nói thật ra ở
Trung Quốc có thể khôi
phục vài cổ thành, hôm
kia nhân dịp tết Trung
Thu quý vị đến Ðường
Thành để hội họp [ăn
mừng], ở Hong Kong có
một chỗ gọi là Tống
Thành. Nói thật ra
nếu Trung Quốc có thể
khôi phục diện mạo của
Khai Phong trở về đời
Tống, khôi phục diện mạo
của Tây An trở về quy mô
đời Ðường, một thành phố
đời Ðường, một cái đời
Tống, người ở đó có thể
khỏi làm việc gì cả, chỉ
bán đồ ăn cho khách du
lịch là có thể kiếm lời,
người trên toàn thế giới
sẽ đến đó tham quan.
Có ai không muốn đi tới
đó coi thử? Coi
đời sống của người đời
Ðường, đời Tống, quần áo
trang sức hoàn toàn khôi
phục trở về thời xưa,
dụng cụ cũng thuộc đời
xưa, [thu hút mọi người]
đến đó du lịch, họ sẽ
tiếp đãi du khách, thu
hút người trên toàn thế
giới đến đó du lịch, đây
là một chuyện tốt.
Khi tôi đi Nhật tham
quan bèn nghĩ đến chuyện
này, bạn đừng tưởng là
không có thu nhập, thu
nhập sẽ rất khả quan,
rất khá. Bạn bán
đồ lưu niệm, mượn cơ hội
này để tuyên dương văn
hóa Trung Quốc, lợi ích
vô lượng vô biên.
Khi ở Mỹ tôi có tham
quan một thành phố [của
người] Ðan Mạch, thành
phố đó chẳng lớn, người
Âu Châu di dân tới đó.
Cách thức sinh hoạt,
kiến trúc của Ðan Mạch ở
đó, hoàn toàn là cách
sinh hoạt đời xưa của
người Ðan Mạch, đi tới
chỗ đó cũng giống như
bạn đi tới Ðan Mạch vậy,
rất có ý nghĩa, rất thú
vị. Ðường phố ở đó
có xe ngựa. Ðây là
việc bảo tồn văn hóa cổ,
có giá trị, có ý nghĩa.
Ðoạn này dạy chúng ta
làm thế nào để tu bổ,
khôi phục tháp tự xưa,
điển tịch, kinh điển đời
xưa, [chúng ta] phải nên
coi trọng.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng ta giảng
đến đây thôi.
Trong quá
trình chuyển ngữ chắc
không tránh khỏi thiếu
sót, xin các bậc thức
giả hoan hỷ phủ chính
cho. Xin thành
thật cám ơn.
Một nhóm
Diệu Âm cư sĩ, ngày 4
tháng 9 năm 2006