Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Giảng Ký
Hòa thượng Tịnh Không giảng
tại Tịnh Tông Học Hội Tân
Gia Ba, 5-1998
Tập 35 (Số 14-12-35)
Xin mở cuốn Khoa Chú
quyển trung, trang 151,
xin xem kinh văn:
Hà huống
chúng sanh tự xưng tự
niệm hoạch phước vô
lượng, diệt vô lượng
tội.
Huống hồ chúng sanh tự
xưng tự niệm sẽ được vô
lượng phước báo, diệt
trừ vô lượng nghiệp tội.
Kinh văn
giảng tới chỗ này nói
đến việc niệm Phật diệt
tội, chúng ta phải hiểu
cặn kẽ lời đức Phật dạy
trong kinh, tuyệt đối
không thể sơ ý chỉ coi
và hiểu trên mặt chữ thì
sai rồi. Thật ra
trong phần đầu của kinh
này, Thế Tôn đã nêu ra
hai chuyện cô Bà La Môn
và cô Quang Mục, mẹ của
hai vị này đều tạo tội
cực nặng, đọa vào địa
ngục, may nhờ có người
con hiếu thảo giúp họ.
Dùng phương pháp gì để
giúp đỡ? Ðức Phật
đều dạy họ dùng pháp môn
Niệm Phật. Có phải
cứ niệm như chúng ta
thường ngày niệm qua loa
bèn có thể diệt tội hay
chăng? Bèn có thể
giúp cho họ được thoát
ra khỏi địa ngục?
Không thể được, niệm qua
loa chắc chắn không thể
nào giúp được.
Phải niệm Phật như thế
nào mới thật sự có hiệu
quả? Phải niệm
giống như cô Bà La Môn,
cô Quang Mục thì mới
được.
Cho nên khi chúng ta trợ
niệm, nếu trợ niệm bằng
miệng mà không có tâm
thì không có hiệu quả!
Nếu trong lúc trợ niệm
mà người trợ niệm có thể
đạt được công phu thành
phiến, có thể đạt được
nhất tâm bất loạn, thì
người đó sẽ được siêu
độ, đạo lý là như vậy,
chúng ta phải hiểu cặn
kẽ. Nếu người này
không tạo nghiệp, không
đọa lạc thì tâm người
trợ niệm sẽ không thành
khẩn như vậy, nhưng vì
thấy người đó tạo tội,
đọa lạc, nên dùng tâm
hết sức thành khẩn để
niệm Phật hồi hướng cho
người mất, [nhờ niệm
Phật] giúp họ nên nâng
cao cảnh giới của mình,
mình vốn là một phàm phu
đã trở thành một vị Bồ
Tát. Bạn làm sao
có thể trở thành Bồ Tát?
Do người tạo tội giúp
cho bạn, tạo tăng thượng
duyên cho bạn; bạn nghĩ
thử coi nếu mẹ của cô Bà
La Môn và cô Quang Mục
không tạo tội nghiệp,
không đọa lạc, thì hai
cô ấy làm sao thành tựu
được? Họ không lẽ
nào thành tựu được hết.
Thế nên cái duyên làm
cho họ thành tựu là do
người tạo tội nghiệp
giúp họ, giúp họ siêu
phàm nhập thánh, bạn coi
công đức ấy bao lớn!
Ðại Từ Bồ Tát nói [phước
đức] khi bạn khuyên hai
người niệm Phật vãng
sanh còn lớn hơn công
phu tu hành của bạn nữa.
Vì sao hai người đó có
thể vãng sanh, vì sao có
thể thành Phật? Là
do bạn khuyên họ đấy.
Nếu bạn khuyên một vạn
người, mười vạn người
nhưng họ niệm Phật không
thể vãng sanh thì bạn
cũng chẳng có cách gì,
bạn sẽ không đạt được
lợi ích gì cả.
[Nếu] họ thật sự thành
Phật, tại sao họ có thể
thành Phật? Là vì
bạn giúp họ thành Phật,
họ thật sự thành Phật
thì công đức của bạn mới
lớn, chúng ta phải hiểu
đạo lý này. Tuyệt
đối không thể nói bạn
khuyên bao nhiêu người
niệm Phật, hiệu quả của
việc này không lớn, [chỉ
khi nào những] người
được bạn khuyên thật sự
niệm Phật, thật sự vãng
sanh, nếu bạn khuyên
được mười mấy người vãng
sanh, Ðại Từ Bồ Tát nói
phước đức của bạn sẽ là
vô lượng vô biên.
Nếu bạn khuyên được đến
một trăm người, một ngàn
người thì bạn thật sự là
Bồ Tát tái lai.
Cho nên trong việc này
chúng ta phải nhận định
rõ ràng, tuyệt đối chẳng
phải chúng ta xây đạo
tràng, ở đây có mấy ngàn
người, mấy vạn người
niệm Phật, không thể dựa
vào con số đó mà tính
được. Phải thật sự
đạt được nhất tâm, thật
sự đạt được công phu
thành phiến, thật sự
được vãng sanh, phải
dùng việc này làm tiêu
chuẩn. Kinh này
cũng nói về tiêu chuẩn
này, nếu bạn dùng tiêu
chuẩn này thì chúng ta
sẽ không nghi ngờ công
đức lợi ích nói trong
kinh, sẽ biết đó là
thật.
Cô Bà La Môn, cô Quang
Mục đều vì mẹ của mình,
thành tâm thành ý niệm
Phật hồi hướng cho mẹ.
Cùng một đạo lý ấy, nếu
chúng ta rất xa lạ đối
với người lâm chung,
chẳng quen biết họ, khi
gặp cơ duyên này, tâm
trạng và thái độ trợ
niệm cũng phải coi họ là
người thân, dùng tâm hết
sức chân thành để niệm,
thì kẻ còn người mất đều
được lợi, chính chúng ta
được lợi, họ cũng được
lợi. Nếu chỉ làm
qua loa cho xong chuyện
thì cả hai bên đều chẳng
được lợi ích thật sự,
lợi ích đó cũng như việc
đã nói cho mọi người ở
đoạn trước ‘một phen
lọt vào tai thì vĩnh
viễn thành hạt giống
đạo’. Nghiệp
báo hiện tiền chẳng thể
chuyển trở lại, đây là
việc chúng ta có thể
thâu nhận từ kinh Ðịa
Tạng. Khi biết
dụng ý trong lời dạy của
đức Phật, hiểu rõ chân
tướng sự thật, phần đông
những việc siêu độ này
có hiệu quả hay không
thì phải coi người chủ
trì việc siêu độ này có
tâm chân thành, cung
kính hay không; nếu thật
sự có lòng chân thành,
coi người mất như là cha
mẹ ruột của mình, coi
như người thân nhất của
mình, dùng tâm trạng,
thái độ này để siêu độ
thì mới có lợi ích.
Nếu coi họ như người lạ,
chẳng liên quan gì với
mình, thì lợi ích rất
nhỏ, đạo lý là như vậy.
Cùng làm một chuyện
giống nhau nhưng hiệu
quả không đồng đều, đây
là việc chúng ta nhất
định phải biết.
Ðoạn kinh ‘Hà huống
chúng sanh, tự xưng tự
niệm’, đây là tu cho
mình, chẳng phải tu dùm
người khác, [chúng ta
phải] làm việc này lúc
nào? Phải làm lúc
thân thể mình còn khỏe
mạnh, cường tráng, phải
tu phước cho mình, tích
lũy công đức cho mình,
việc này quan trọng
nhất. Con người
đến thế gian này để làm
gì? Tại sao phải
đến? Có mấy ai đã
suy nghĩ về vấn đề này?
Chắc có người đã suy
nghĩ rồi, nhưng chúng ta
phải hỏi có bao nhiêu
người suy nghĩ kỹ càng?
Vậy thì càng ít nữa, ai
suy nghĩ kỹ càng về vấn
đề này thì người ấy sẽ
giác ngộ. Thế gian
có chẳng ít người thông
minh, đặc biệt là những
nhà triết học, nhà tôn
giáo suy nghĩ về vấn đề
này tương đối nhiều hơn,
họ có câu trả lời hay
không? Rốt cuộc
cũng chẳng có câu trả
lời nào hợp tình hợp lý
hết. Chính vì lý
do này nên đức Phật phải
thị hiện ở thế gian,
giúp những người thông
minh này giải đáp vấn
đề, cho họ câu trả lời
chính xác.
Đức Phật nói với chúng
ta con người sanh tới
thế gian này là để ‘báo
đền nghiệp báo’ mà thôi;
nghiệp bạn đã tạo trong
đời quá khứ, bạn tạo
nghiệp thiện thì bạn đến
đây hưởng phước, bạn tạo
nghiệp ác thì bạn đến
đây để nhận chịu quả
báo, đây là lời đức Phật
nói cho chúng ta biết,
đây là chân tướng sự
thật của chúng sanh
trong lục đạo xả thân,
thọ thân. Chân
tướng này không hay ho
gì, nhân duyên quả báo
dây dưa chẳng dứt, đời
đời kiếp kiếp cứ vẫn làm
những chuyện này, cho
nên trong kinh đức Phật
nói ‘sanh tử bì lao’
(sanh tử mệt mỏi),
‘người đáng thương xót’,
thật sự là người đáng
thương. Người
thông minh nghĩ về vấn
đề này thì tại sao vẫn
còn đến? Ðến để
làm gì? Có ý nghĩa
gì không? Có giá
trị gì không? Cảm
động chư Phật, Bồ Tát
thị hiện trong cõi người
để giải đáp những vấn đề
này cho chúng ta, thật
sự giác ngộ bốn vấn đề
này thì sẽ giải quyết
vấn đề một cách rốt ráo.
Người giác ngộ biết lợi
dụng cái thân nghiệp báo
này của mình, chúng ta
phải làm việc to lớn là
siêu phàm nhập thánh,
giải quyết triệt để cho
đời sống con người, như
vậy mới có ý nghĩa, mới
có giá trị.
Muốn hiểu rõ vấn đề này
thì trước tiên phải hiểu
rõ chân tướng sự thật
của vũ trụ nhân sanh,
kinh Ðịa Tạng nói rõ
chân tướng của lục đạo
luân hồi, nói cho chúng
ta về sự thật trong cõi
địa ngục, ngạ quỷ, về
nghiệp nhân quả báo, lý
- sự, tánh - tướng đều
nói rõ, sau khi hiểu rõ
thì chúng ta sẽ có biện
pháp vượt thoát, đây là
việc lớn nhất trong đời
chúng ta, có thể nói là
bạn học Phật có được
thành tựu thật sự.
Trong vô lượng pháp môn,
kinh Ðịa Tạng đề xướng
pháp môn Niệm Phật, chỉ
có pháp môn này là có
hiệu quả nhất, ổn thỏa
thích đáng nhất, nhanh
chóng nhất, thuận tiện
nhất, vấn đề là chúng ta
phải niệm thật sự.
Thật sự niệm là trong
mọi lúc, mọi nơi, trong
tâm phải có Phật, như
vậy mới là niệm thật sự;
niệm thật sự không nhất
định phải niệm nơi
miệng. Tâm như tâm
của Phật, tâm Phật là
như thế nào? Kinh
Kim Cang dạy cho chúng
ta rất hay ‘vô trụ sanh
tâm’ (chẳng trụ ở đâu để
sanh tâm ấy), đó chính
là tâm Phật, vô trụ
nghĩa là tâm thanh tịnh,
mảy trần chẳng nhiễm.
Huệ Năng đại sư nói ‘bổn
lai vô nhất vật’ (từ
trước đến giờ chẳng có
một vật),
đó là vô trụ. Sanh
tâm nghĩa là sanh tâm
đại từ bi, quan tâm,
thương yêu hết thảy
chúng sanh, giúp đỡ hết
thảy chúng sanh phá mê
khai ngộ, lìa khổ được
vui, đó là sanh tâm.
‘Sanh tâm’ và ‘vô trụ’
cùng lúc, trong đó chẳng
có phân biệt, chẳng có
giới hạn, ‘vô trụ’ chẳng
gây trở ngại ‘sanh tâm’,
‘sanh tâm’ chẳng gây trở
ngại ‘vô trụ’, đây là
câu ‘Lý sự vô ngại, sự
sự vô ngại’ trong kinh
Hoa Nghiêm. Chỗ
phiền phức của phàm phu
chúng ta là ‘sanh tâm’
liền gây trở ngại cho
‘vô trụ’, ‘vô trụ’ chắc
chắn sẽ trở ngại ‘sanh
tâm’. Khi chúng ta
quan tâm người khác, tâm
liền không thanh tịnh,
muốn tâm được thanh tịnh
thì tuyệt đối chẳng thể
quan tâm, không thể để
ý, lo lắng cho chuyện
của kẻ khác, đó là phàm
phu, hai thứ này không
thể hợp thành một.
Việc chúng ta phải học
chính là việc này, hai
thứ này là một chứ chẳng
phải hai, quan tâm cũng
thanh tịnh, thật sự làm
được lý sự vô ngại, sự
sự vô ngại, đây là việc
chúng ta phải hết lòng
học tập.
Công việc làm được rất
viên mãn, trong tâm sạch
sẽ, trống rỗng, mảy trần
chẳng nhiễm, tại sao
vậy? Vì chúng ta
triệt để hiểu được câu
‘phàm những gì có tướng
đều là hư vọng’.
Kinh Kim Cang dạy
‘hết thảy pháp hữu vi
như mộng, huyễn, bọt,
bóng’.
Hiện tượng này làm sao có
thể hiện ra? Kinh
Hoa Nghiêm nói rất rõ
ràng ‘duy tâm hiện, duy
thức biến’, cả tâm lẫn
thức đều là chính mình,
lìa ra ngoài tâm thức,
chẳng có một pháp nào có
thể được. Khi đã
thấu triệt lý này thì
bạn sẽ có thể ‘trụ trong
trần thế nhưng không
nhiễm’, mới có thể khế
nhập vào “sự sự vô
ngại”. Việc này
cần phải có công phu,
phải rèn luyện trong đời
sống hằng ngày, lúc rèn
luyện sẽ
[gồm cả hai công phu]
tiến lên và
thụt lùi, lúc tiến lên
là rèn luyện, nếu phát
hiện tự mình vẫn còn
nhiễm trước, thì phải
mau lui trở lại, lui đến
đâu? Lui đến vô
trụ. Khi tâm định
trở lại rồi mới thử coi,
thử xong nếu không thành
công thì phải lui về,
dần dần từ chỗ này tìm
cầu tiến bộ, phương pháp
Bồ Tát tu hành viên mãn
trong ba A-tăng-kỳ kiếp
chính là phương pháp
này. Ðến lúc thật
sự có thể nắm chắc, duy
trì tâm thanh tịnh mà
chẳng bị ô nhiễm, thì
bạn mới có thể buông tay
đi giúp đỡ hết thảy
chúng sanh, thông thường
đây là cảnh giới gì?
Quả vị Sơ Trụ trong Viên
Giáo trở lên. Nói
cách khác, Bồ Tát trong
mười pháp giới đều chưa
được, đều phải thường
chăm sóc cho tâm thanh
tịnh của mình.
Giúp đỡ người khác tuyệt
đối chẳng đánh mất thanh
tịnh, bình đẳng, giác.
Nói cách khác thanh
tịnh, bình đẳng, giác là
nơi nương dựa của chúng
ta, là ranh giới cuối
cùng của chúng ta.
Một khi phát hiện không
thanh tịnh, không bình
đẳng thì phải quay trở
lại cho nhanh, điểm này
vô cùng quan trọng.
Nếu tự mình không có khả
năng này thì hãy thật
thà niệm Phật cầu sinh
tịnh độ, sanh đến tây
phương Cực Lạc thế giới
để thân cận đức Phật A
Di Ðà, rồi quay trở lại
để giúp đỡ hết thảy
chúng sanh cũng chưa
trễ, đây là sự lựa chọn
đúng đắn.
Cho nên ở đây khuyến
khích chúng ta, thừa dịp
thân thể mình còn khỏe
mạnh, cường tráng, thì
‘tự xưng tự niệm’,
‘xưng’ tức là niệm bằng
miệng, ‘niệm’ là trong
tâm có Phật, trong tâm
thật sự có Phật thì gọi
là ‘niệm’, ‘niệm’ là
niệm bằng tâm, xưng
nghĩa là xưng danh, là
niệm từ miệng, ‘xưng’ và
‘niệm’ khác nhau.
Xưng tương ứng với niệm
thì sẽ có lợi ích, nếu
xưng chẳng tương ứng với
niệm, đó chính là như
câu thường nói ‘có miệng
không có tâm’, có xưng
nhưng không có niệm.
Miệng niệm A Di Ðà Phật,
nhưng trong tâm suy nghĩ
lung tung, thì là có
xưng không có niệm, như
vậy không được.
Xưng niệm hợp thành một
chính là tâm miệng hợp
thành một, cho nên
‘hoạch phước vô lượng,
diệt tội vô lượng’
,
công đức của danh hiệu
không thể nghĩ bàn.
Công đức của danh hiệu
là ở chỗ nào?
Trong toàn bộ kinh văn,
danh hiệu chính là tựa
đề. Kinh Vô Lượng
Thọ trong năm bản dịch
gốc của người xưa có một
bản gọi là ‘Ðại A Di Ðà
Kinh’, cho nên danh hiệu
Phật A Di Ðà này là đề
mục của kinh, công đức
của danh hiệu là những
gì được nói trong toàn
bộ kinh. Niệm danh
hiệu này thì trong tâm
phải nghĩ tới lời dạy
trong kinh, đạo lý đức
Phật dạy chúng ta, lời
giáo huấn của đức Phật
cho chúng ta, dạy chúng
ta sinh sống, xử sự, đãi
người, tiếp vật như thế
nào, một câu danh hiệu
liền nhớ lại hết tất cả,
được vậy thì mới dùng
được. Nếu chỉ niệm
một câu danh hiệu này,
chẳng liên quan gì đến
đời sống, ngôn hạnh của
chúng ta, vậy thì danh
hiệu này chẳng dùng
được, giống như lời
người xưa ‘hét bể cổ
họng cũng uổng công’.
Việc niệm Phật, đại đức
thời xưa thường nói phải
tương ứng,
‘một niệm tương ứng một
niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm
Phật’, tương ứng với
cái gì? Tương ứng
với ý của kinh, bạn niệm
một câu A Di Ðà Phật này
tương ứng với nghĩa lý
trong kinh A Di Ðà,
trong kinh Vô Lượng Thọ,
đó gọi là niệm Phật thật
sự, do đó họ thật sự
được phước, thật sự diệt
tội, phước báo thiệt là
vô lượng.
Ở chỗ này chẳng có một
tí gì khoa trương, câu
nào câu nấy đều là lời
chân thật. Chúng
ta đọc xong, nghe xong
còn không tin được là do
chính mình chẳng biết
niệm, bạn niệm chẳng
tương ứng nổi. Nếu
tương ứng rồi, khi bạn
nhìn thấy lời dạy trong
kinh này thì bạn liền
tin tưởng, bạn sẽ chẳng
hoài nghi nữa.
Trong vô lượng pháp môn
thì pháp môn này đặc
biệt thù thắng, tại sao
vậy? Pháp môn này
là pháp môn viên mãn,
vừa xưng danh hiệu Phật
thì vô lượng vô biên
công đức đều ở trong đó,
chẳng có mảy may thiếu
sót; học pháp môn khác
thì tuy là công đức
đương nhiên sẽ lớn,
trong đó vẫn còn thiếu
sót, không thể bao gồm
hoàn chỉnh như vậy.
Vừa xưng một danh hiệu
Phật thì bao gồm viên
mãn rốt ráo.
Trong giảng đường của
chúng ta, các vị đồng tu
đáng lẽ đều có nhận thức
tương đối sâu đậm, nói
sơ lược thì ý nghĩa của
danh hiệu là Vô Lượng
Thọ Kinh, nói rộng ra
tức là hết thảy pháp mà
đức Phật đã thuyết giảng
trong bốn mươi chín năm,
chẳng có một câu nào
vượt ra ngoài phạm vi
của danh hiệu, không
những chỉ là những gì
đức Phật Thích Ca Mâu Ni
đã dạy trong bốn mươi
chín năm, nếu chúng ta
dẫn dụ, suy rộng, có thể
nói vô lượng vô biên
pháp tạng do mười phương
ba đời hết thảy chư Phật
Như Lai đã nói cũng
chẳng có một câu nào lìa
khỏi A Di Ðà Phật, từ đó
mới biết công đức của
danh hiệu A Di Ðà Phật
không thể nghĩ bàn.
Chúng ta niệm cũng phải
cầu Giải (cầu hiểu rõ),
nếu chỉ niệm mà không
muốn hiểu rõ thì cũng
tốt, thì cũng khó được,
cảnh giới của chúng ta
sẽ nâng cao rất chậm.
Nếu khi bạn niệm mà có
thể Giải thì sẽ nâng cao
cảnh giới của mình rất
nhanh chóng. Nâng
cao cảnh giới của mình
trong kinh gọi là phẩm
vị, kinh Hoa Nghiêm nói
về những cấp bậc của Bồ
Tát, từ Thập Tín nâng
lên Thập Trụ, từ Thập
Trụ nâng lên Thập Hạnh,
từ Thập Hạnh nâng lên
Thập Hồi Hướng, phải
hiểu rõ triệt để thì mới
nâng cao được.
Nâng cao phẩm vị, nói
cho chư vị biết đó cũng
chính là nâng cao đời
sống của chúng ta, do đó
lợi ích của Phật pháp
tuyệt đối chẳng nói chỉ
là ở đời sau, mà ngay
bây giờ, ngay trước mắt
bèn có được lợi ích,
nâng cao phẩm chất của
đời sống chúng ta, đời
sống nói ở đây tức là
đời sống tinh thần.
Ðời sống tinh thần được
nâng cao, nói thêm với
quý vị, đời sống vật
chất cũng sẽ được nâng
cao. Ðời sống vật
chất, thử hỏi có phải
những gì bạn có sẽ càng
thêm phong phú?
Lời này nói chẳng sai,
phong phú chẳng dựa trên
số lượng. Bạn làm
việc ở chỗ đó, mỗi tháng
lãnh được ba ngàn đồng
thì vẫn là ba ngàn đồng,
chẳng phải nói vừa học
Phật thì liền kiếm được
sáu ngàn đồng, chẳng có
ý nghĩa này, bạn vẫn
lãnh được bao nhiêu đó
tiền. Vậy thì
phong phú ở chỗ nào?
Lúc nãy tôi nói phong
phú là nói về phẩm chất.
Nói cách khác, giá trị
của ba ngàn đồng lúc
trước khác với hiện nay,
bạn thọ dụng được khác
nhau, rất ít người hiểu
được đạo lý này.
Chúng ta nêu lên một thí
dụ rất cạn cợt, chúng ta
ăn cơm cũng có mấy món
ăn này, khi cảnh giới
của bạn chưa nâng cao
thì mùi vị của những món
ăn này rất bình thường,
nhưng khi cảnh giới nâng
cao rồi thì bạn nhìn
thấy những món ăn này sẽ
phóng ánh sáng, màu sắc
là thất bảo, khẩu vị bạn
thưởng thức được là mùi
vị vi diệu, người khác
chẳng nếm thấy được,
[mùi vị] sẽ khác nhau vì
[bản] chất của nó đã
thay đổi. Tại sao
lại thay đổi? Cảnh
chuyển tùy theo tâm.
Lời tôi nói với quý vị
là lời chân thật, những
món ăn này phóng ánh
sáng, bạn nếm được mùi
vị vi diệu, rất khác với
lúc bạn chưa nâng cảnh
giới, cho nên chất bổ
dưỡng cho thân thể của
bạn cũng khác nhau, tinh
thần của bạn sung mãn,
dung mạo tươi sáng, cảnh
giới phải nâng cao thì
mới được như vậy.
Khi chúng ta cùng bày ra
mấy món ăn, có phàm phu,
Bồ Tát, có Phật cùng ăn
thì mùi vị [của thức ăn]
mỗi người nếm được sẽ
khác nhau, bạn đừng
tưởng là [món ăn] của
các ngài giống [món ăn]
của chúng ta, vậy là sai
rồi! Mùi vị của
mỗi người cảm nhận được
đều chẳng giống nhau,
phàm phu còn do nghiệp
lực, còn Phật, Bồ Tát
chẳng do nghiệp lực,
chúng ta phải hiểu rõ
việc này.
Từ đó mới biết Phật pháp
thù thắng, vi diệu, chân
thực, chẳng phải chỉ có
một mình tôi nói, diện
mạo của bạn có thể thay
đổi, thân thể có thể
thay đổi, núi sông đất
đai, đời sống chỗ ở đều
có thể thay đổi.
Sự thay đổi này là do
tâm thay đổi, hy vọng
mọi người suy nghĩ cặn
kẽ ý nghĩa này, chỉ có
pháp này là pháp chân
thật. Trong kinh
nói đến Nhất Chân pháp
giới, tây phương gọi là
Cực Lạc thế giới, Cực
Lạc thế giới bao lớn?
Cũng là tận hư không,
trọn khắp pháp giới.
Phàm phu chúng ta nhìn
thấy hoàn cảnh của chúng
ta là một mảnh đất bùn
lầy, sỏi đá, đây là cảnh
giới mà mắt thịt phàm
phu chúng ta nhìn thấy.
Nếu người ở tây phương
Cực Lạc thế giới đến nơi
này của chúng ta, họ
nhìn thấy [nơi này] cũng
là lưu ly, bảy báu, họ
đi đến bất kỳ nơi nào
đều nhìn thấy lưu ly,
bảy báu, tại sao vậy?
Cảnh ấy chuyển tùy theo
tâm họ. Giả sử
phàm phu chúng ta cũng
có thể đến Cực Lạc thế
giới tham quan, chúng ta
đến Cực Lạc thế giới
nhìn thấy mặt đất cũng
giống hệt như mặt đất ở
địa cầu chúng ta, cũng
là bùn lầy, sỏi đá.
Đây là đạo lý gì?
Tâm chúng ta biến hiện
ra, tâm của họ biến hiện
ra chẳng giống tâm chúng
ta. Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni năm xưa ở thế
gian này, nơi ngài cư
trú là tịnh độ, trong
kinh cũng đã nói, đức
Phật Thích Ca Mâu Ni
dùng thần lực của ngài
biến hiện cảnh giới mà
ngài tự thọ dụng cho mọi
người thấy, [cảnh giới
đó] cũng giống như Cực
Lạc thế giới, Hoa Tạng
thế giới, còn phàm phu
[chúng ta] chẳng nhìn
thấy.
Ðạo lý này nếu dùng cách
nói của khoa học gia
ngày nay thì đó là duy
thứ
thời gian, không gian
chẳng giống nhau.
Ngày nay chúng ta ở
trong không gian ba
chiều, khoa học gia
chứng minh đích thật có
không gian bốn chiều,
năm chiều, thậm chí đến
không gian mười một
chiều, việc này đã được
chứng minh. Không
biết còn có bao nhiêu
việc chưa phát hiện,
chưa chứng minh được.
Khả năng của Phật, Bồ
Tát hoàn toàn đột phá
các thời gian, không
gian này, hết thảy không
gian các ngài đều nhìn
thấy, ngài nhìn thấy
ngài tự thọ dụng, cũng
nhìn thấy hết thảy chúng
sanh thọ dụng, các ngài
có khả năng này.
Ngài dùng phương pháp gì
để đột phá? Hiện
nay khoa học gia đang
nghiên cứu vấn đề này,
người thật sự có thể đột
phá có thể trở về quá
khứ, cũng có thể đi vào
tương lai một cách tự
tại, trên Lý thì khoa
học gia đã khẳng định,
biết được ‘quá khứ, hiện
tại, vị lai tồn tại cùng
lúc’, họ hiểu Lý này.
Tồn tại cùng lúc, chúng
ta làm sao đi về quá
khứ? Làm sao đi
đến tương lai?
Chúng ta không làm nổi,
nguyên nhân là chúng ta
không biết thời gian và
không gian hình thành
như thế nào, tức là
không cùng pháp giới,
nhà Phật chúng ta gọi là
pháp giới chứ không gọi
là ‘thời gian, không
gian’, mười pháp giới
chỉ là nói sơ lược, nói
kỹ thì là vô lượng pháp
giới. Tại sao nói
là vô lượng pháp giới?
Pháp giới của mỗi người
đều khác nhau, chúng ta
cùng nhìn một người,
cùng nhìn một đóa hoa,
cùng nhìn một sự việc,
có người nhìn xong thì
ưa thích, có người lại
chán ghét, đó chính là
pháp giới chẳng giống
nhau. Trình độ mỗi
người ưa thích cũng khác
nhau, pháp giới cũng là
không giống nhau, không
thể thật sự tìm được hai
người có cùng cách nhìn
đối với một sự việc,
chẳng bao giờ tìm được
hai người như vậy.
Phật nói khi nào hai
người có cách nhìn hoàn
toàn giống nhau?
Khi thành Phật, Phật
Phật đạo đồng. Còn
Ðẳng Giác Bồ Tát, hai vị
Ðẳng Giác Bồ Tát cùng
nhìn một việc vẫn còn có
chỗ khác nhau, sự giác
ngộ của các ngài còn
chưa viên mãn, tâm của
các ngài còn chưa đạt
đến mức thuần tịnh.
Ðẳng Giác Bồ Tát vẫn còn
một phần Sanh Tướng Vô
Minh chưa phá, cách nhìn
của họ vẫn chưa thể hoàn
toàn giống nhau, chúng
ta nói có thể đạt đến
chín mươi mấy phần trăm
giống nhau, chứ chẳng
đạt đến một trăm phần
trăm. Do đó có thể
biết, sự hình thành của
pháp giới, hình thành
của duy thứ không gian,
thời gian, đức Phật nói
rất có lý, [đó là do]
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước từ nơi này
sanh ra. Làm sao
có thể phá được?
Ðoạn dứt vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước
thì sẽ phá được, lúc đó
có thể nhìn thấy vô
lượng vô biên pháp giới
sai khác. Do đó
điều đức Phật dạy chúng
ta chẳng có gì khác
ngoài việc phá vọng
tưởng, phân biệt, chấp
trước mà thôi; sau khi
phá được vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước
thì cảnh giới ấy sẽ là
cảnh giới nơi quả địa
của Như Lai. Ngày
nay chúng ta nâng cao,
không ngừng nâng cao
cảnh giới, đây là mục
tiêu của chúng ta, trong
kinh thường gọi mục tiêu
này là “A Nậu Ða La Tam
Miệu Tam Bồ Ðề”.
Phá xong chấp trước thì
là Chánh Giác, sau đó
phá phân biệt thì là
Chánh Ðẳng Chánh Giác,
phá thêm vọng tưởng nữa
thì là Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác, Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác trong Phạn ngữ gọi
là “A Nậu Ða La Tam Miệu
Tam Bồ Ðề”. Do đó
phải không ngừng nâng
cao cảnh giới của mình,
[đối với chúng ta thì
xưng niệm là] phương
pháp duy nhất để nâng
cao cảnh giới, ‘xưng
niệm’ phải tương ứng,
nếu xưng niệm không
tương ứng thì tuyệt đối
sẽ không nâng cao được,
chỉ trồng được hạt giống
Phật trong A Lại Da Thức
mà thôi, tương lai mới
có thể dùng được, hiện
nay không dùng được và
cũng không thể diệt tội.
Khi chư vị hiểu thấu
đáo những Sự Lý này
xong, [rồi mới biết] câu
nào câu nấy trong kinh
Phật đều là chân thật,
một tí gì cũng không quá
đáng. Quyển Trung
đến đây là hết, chúng ta
xem tiếp quyển Hạ:
Giảo Lượng Bố Thí Công
Ðức Duyên Phẩm đệ thập.
PHẨM THỨ MƯỜI: NHÂN
DUYÊN VÀ SO SÁNH CÔNG
ÐỨC BỐ THÍ
Lúc trước pháp sư Thánh
Nhất ở núi Ðại Dự, Hương
Cảng, vào năm 1980 nhận
lời mời của lão pháp sư
Nhân Ðức giảng kinh Ðịa
Tạng ở Cửu Hoa Sơn.
Thầy vừa viết Giảng Ký
vừa giảng kinh, khi về
đến Hương Cảng thầy
thuật lại tình hình ở đó
và đem cuốn Giảng Ký cho
tôi coi, tôi đã viết một
bài tựa cho thầy.
Thầy nói phẩm trước
(phẩm thứ chín) là Phật
Bảo, phẩm thứ mười ‘Nhân
duyên và So sánh công
đức bố thí’ là Pháp Bảo;
cách nhìn này vô cùng
chính xác, quy nạp phần
cuối của kinh này thành
Tam Bảo, vô cùng quý
báu, người xưa viết Chú
Giải chẳng nói như vậy,
thế nên tôi vô cùng tán
thành cách nói này của
pháp sư Thánh Nhất, quy
kết về Tam Bảo.
Trong Pháp Bảo, nói thật
ra chính là phương pháp
tu hành, tổng cương lãnh
của phương pháp tu hành
trong Phật pháp Ðại Thừa
là dạy chúng ta ‘bố thí,
kết duyên’, dùng phương
pháp này có thể thành Vô
Thượng Ðạo. Phía
trước chúng tôi đã nói
qua, tu học Phật pháp
nâng cao cảnh giới của
chính mình, quan trọng
nhất là phải phá trừ
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước, vả lại bố
thí chính là phương pháp
hay nhất. Bố thí
là ‘xả’, xả chấp trước,
phân biệt, vọng tưởng
mất hết, không những
trên lý luận, quan niệm
như vậy, trên thật tế
cũng phải làm như vậy,
nếu bạn không thật sự
làm trên Sự, chỉ nói
suông trên Lý thì không
được, vậy thì không thể
nâng cao cảnh giới của
mình được, nói thật ra
cũng không có cách gì
đoạn dứt phiền não, nhất
định phải hạ thủ công
phu trên Sự. Ðức
Phật dạy chúng ta hai
chữ ‘Xả Ðắc’. Bạn
phải hiểu hai chữ này
thật sâu, tại sao?
Vì càng xả thì càng đắc
(được), đây là định luật
nhân quả.
Cơn bão kinh tế lần này,
[đây là tình trạng] kinh
tế suy thoái, chư vị
thấy rất rõ ràng, hầu
như mỗi người đều chịu
ảnh hưởng, chúng ta quán
sát kỹ mới thấy Cư Sĩ
Lâm chẳng bị ảnh hưởng,
không những chẳng bị ảnh
hưởng, nguồn thâu nhập
của Cư Sĩ Lâm còn tăng
lên. Nói theo cách
thông thường thì mọi
người đều bị ảnh hưởng
bởi kinh tế khó khăn,
đương nhiên sự bố thí
cúng dường tương đối sẽ
giảm bớt, đây là lẽ
đương nhiên. Vậy
thì tại sao nguồn thâu
nhập của Cư Sĩ Lâm không
giảm bớt mà ngược lại
còn tăng lên, đạo lý là
ở chỗ nào? Là do
bố thí. Cư Sĩ Lâm
bố thí nhiều, bố thí lớn
lao. Trong lúc khó khăn
như vậy, sự bố thí của
Cư Sĩ Lâm chỉ tăng lên
chứ không giảm bớt, cho
nên thâu nhập cũng tăng
lên chứ không giảm bớt.
Việc này chứng minh lời
Phật dạy chẳng sai, càng
bố thí tài vật thì càng
giàu có, bạn không ngại
bố thí thì càng thí càng
nhiều, chúng ta đã chứng
minh tại Cư Sĩ Lâm trong
vòng một năm gần đây.
Nếu bạn không bố thí thì
sẽ không có, nguồn thâu
nhập của phần đông đạo
tràng đều giảm bớt, tại
sao vậy? Khi thấy
kinh tế tiêu điều, chúng
ta phải tiết kiệm tiêu
xài, phải bố thí ít lại.
Bố thí ít thì nguồn thâu
nhập của bạn sẽ ít, quả
báo sẽ ít. Ông Lý
Mộc Nguyên ở Cư Sĩ Lâm
có trí huệ, thâu nhập ít
cũng phải bố thí nhiều,
ông ấy chẳng sợ bố thí
làm cho Cư Sĩ Lâm hết
sạch sành sanh, ông
chẳng sợ, bạn thấy nguồn
thâu nhập của Cư Sĩ Lâm
cứ cuồn cuộn chảy vô.
[Việc này] chứng minh
lời Phật dạy ‘thí tài
thì được giàu sang, thí
pháp thì được thông minh
trí huệ, thí vô úy thì
được khoẻ mạnh, sống
lâu’, nếu bạn không chịu
bố thí thì làm sao được?
Bạn làm sao được [những
quả báo này]? Sau
khi bố thí sẽ có quả
báo, khi có quả báo lại
sợ bạn khởi tâm tham,
việc này rất phiền phức,
do đó đức Phật dạy chúng
ta ‘xả đắc’. Ý
nghĩa sâu thêm một tầng
của ‘xả đắc’ là những gì
bạn đắc được thì hãy mau
xả hết, chẳng nên lưu
lại. Nếu bạn thí,
bạn không chịu xả những
gì bạn được vậy thì hỏng
hết, bạn lại mê, lại đọa
lạc. Cứ thí mãi
mãi, càng thí càng có
nhiều, càng thí càng
được nhiều.
Bạn hãy coi chư Phật Như
Lai, chúng ta phải lắng
lòng tìm hiểu hai bộ
kinh chúng tôi giảng gần
đây, đức Phật A Di Ðà
đại bố thí, nên phước
báo của ngài lớn,
thành tựu được Cực Lạc
thế giới, Cực Lạc thế
giới thành tựu rồi, ngài
không tự thọ dụng, ngài
cúng dường những người
tu học niệm Phật ở mười
phương thế giới, đây là
việc bố thí lớn lao của
đức Phật A Di Ðà.
Trong kinh Hoa Nghiêm
đức Phật Tỳ Lô Giá Na
đại bố thí, xây dựng Hoa
Tạng thế giới, tiếp dẫn
mười phương hết thảy
những người tu học Ðại
Thừa, cho họ hưởng thọ,
tự ngài chẳng hưởng thọ,
làm gương tốt nhất cho
chúng ta. Nếu
chúng ta từ việc bố thí
được quả báo phong phú,
thịnh vượng, tự mình
muốn hưởng thọ thì sẽ
khởi tâm tham, mê trở
lại. Do đó đức
Phật dạy chúng ta ‘xả
đắc’, cứ xả những gì bạn
có được, xả xong thì nó
liền trở lại, trở lại
thì xả nữa. Cũng
như nước vậy, nước là
chất sống động, lưu
chuyển mãi, nhất định
đừng để nó đọng lại một
chỗ. Khi bạn hiểu
đạo lý này, hiểu sự thật
này, thì bạn dám xả, bạn
hiểu được càng xả càng
được, cuồn cuộn đến
không ngừng, đây là như
ngạn ngữ thường nói
‘Trong mạng của bạn có
thì bạn nhất định sẽ có,
nếu trong mạng của bạn
không có thì mong cầu
cũng chẳng được, giữ
cũng giữ không được’,
gần đây chúng ta đều đã
thấy rõ. Có nhiều
người dùng hết cạn tâm
tư để được giàu xụ, gom
góp tài sản được ức vạn,
khi cơn bão kinh tế vừa
tới liền xụp đổ, có
nhiều người nhảy lầu tự
tử, trong mạng không có
thì muốn giữ cũng giữ
không được. Nếu
những người này thông
minh giống ông Lý Mộc
Nguyên, đem tài sản của
mình đi làm việc từ
thiện thì sẽ không thể
lường được! Họ làm sao
thất bại được!
Do đó những đồng tu học
Phật, đặc biệt là những
đồng tu tại gia, bất
luận làm nghề nào, bạn
đã học Phật thì phải xây
dựng một quan niệm đúng
đắn, mình phục vụ cho xã
hội, phục vụ cho chúng
sanh, bất luận làm nghề
gì cũng vì xã hội, vì
chúng sanh. Bạn
dùng thái độ phục vụ để
làm việc, bạn sẽ làm
được vô cùng hưng vượng,
bạn sẽ có thành tựu thù
thắng, sự nghiệp của bạn
càng làm càng phát đạt,
càng phát đạt thì phải
giúp đỡ người khác, càng
phải giúp đỡ xã hội.
Ðời sống của chính mình
thì tiết kiệm là tốt,
nhất định sẽ khỏe mạnh,
sống lâu, không thể
hưởng phước. Nếu
mình giàu có, mỗi ngày
đều tẩm bổ, sự tẩm bổ
như vậy làm cho thân thể
của bạn hư hết, thân thể
khỏe mạnh thì chẳng cần
tẩm bổ, một khi tẩm bổ
thì sẽ sanh bịnh, càng
tẩm bổ thì bịnh càng
nhiều, đến cuối cùng
không có thuốc chữa.
Chúng ta quán sát cặn kẽ
cổ thánh tiền hiền, họ
đã làm gương tốt cho
chúng ta, làm cho chúng
ta biết phải học tập như
thế nào. Phật pháp
nói lợi ích thế gian và
xuất thế gian thù thắng
nhất, to lớn nhất, chẳng
gì sánh bằng bố thí, do
đó đức Phật xếp Bố Thí
vào hàng đầu trong các
Bồ Tát hạnh. Bồ
Tát hạnh có sáu nguyên
tắc, trong sáu Ba La Mật
thì Bố Thí được xếp hàng
đầu, trong kinh này cũng
đặc biệt nêu lên, giáo
huấn chúng ta.
Trong hết thảy kinh điển
Ðại Thừa, nếu bạn lưu ý
một chút thì sẽ thấy Thế
Tôn giảng về Bố Thí
nhiều nhất, trong đó có
lý chứ chẳng phải không,
xin xem tiếp kinh văn:
Nhĩ thời
Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát thừa Phật oai thần,
tùng tọa nhi khởi, hồ
quỳ hiệp chưởng.
Lúc đó Địa Tạng Bồ Tát Ma
Ha Tát nương oai thần
của Phật, từ chỗ ngồi
đứng dậy, quỳ gối chắp
tay.
‘Nhĩ
thời’ là nói về thời
gian, đoạn trước Ðịa
Tạng Bồ Tát nói rõ về
công đức lợi ích của sự
niệm Phật, là thời gian
sau khi nói xong.
Không những phải hiểu
niệm Phật mà còn phải
biết cách niệm.
Trong đoạn kinh này
chúng ta phải coi trọng
bốn chữ ‘thừa Phật oai
thần’. Ðây là Bồ
Tát dạy cho người đời
sau phải nên khiêm tốn,
phải kính trọng.
Tuy mình đã nhập vào
cảnh giới này cũng chẳng
dám nói mình có khả
năng, có thể giảng kinh
thuyết pháp cho đại
chúng, chỉ nói nhờ oai
thần của Phật nên mới có
thể làm nổi, nếu không
có Phật gia trì thì tự
mình chẳng làm nổi, có ý
khiêm tốn, kính trọng,
đây là việc chúng ta
phải học tập.
Phiền não, tập khí của
phàm phu trong lục đạo
sâu nặng, đức Phật dạy
chúng ta căn bản phiền
não có sáu thứ: tham,
sân, si, mạn, sau đó còn
có nghi, ác kiến; mạn là
kiêu mạn, hết thảy chúng
sanh đều có đầy đủ tập
khí ngạo mạn. Có
ai không ngạo mạn đâu?
[Ai cũng nói] tôi, [đều
nghĩ] tôi giỏi hơn người
khác, đây chính là tâm
ngạo mạn. Chư vị
đã học Pháp Tướng Duy
Thức thì sẽ biết Mạt Na
Thức, có ‘bốn thứ
phiền não thường đi
theo’, ngạo mạn, cho dù
nghèo hèn đến cùng cực,
làm người ăn mày, ăn mày
là kẻ nghèo hèn bậc nhất
trong xã hội, kẻ nghèo
chẳng có của cải, kẻ hèn
chẳng có địa vị, nhưng
họ rất ngạo mạn, khi
thấy người giàu sang đi
ngang qua trước mặt liền
bĩu môi nói một câu:
“[Mấy người đó] có tài
giỏi gì đâu, chẳng qua
chỉ là có mấy đồng tiền
thối mà thôi”, bạn xem!
cũng vẫn ngạo mạn.
Phiền não này không thể
không đoạn, nếu không
đoạn thì sẽ gây chướng
ngại rất lớn cho sự tu
học của chúng ta.
Chúng ta thấy trong kinh
văn, Ðịa Tạng Bồ Tát là
người như thế nào, ngài
tự nguyện ở địa vị Ðẳng
Giác Bồ Tát, nếu muốn
thành Phật thì ngài đã
thành Phật từ lâu rồi.
Trong phẩm Tựa chúng ta
thấy, có bao nhiêu học
trò của ngài đều đã
thành Phật, thầy hiện
nay còn làm Bồ Tát.
Là Bồ Tát thì phải giữ
bổn phận của một vị Bồ
Tát, đối với Phật vẫn
khiêm tốn, vẫn nói ngài
‘thừa Phật oai thần gia
trì’, đây là việc chúng
ta nhất định phải học
tập. Tự mình có
thành tựu hơn nữa, có
trí huệ, có khả năng hơn
nữa cũng không thể kiêu
mạn, phải từ nội tâm lưu
lộ sự khiêm tốn, cung
kính thì bạn mới có thể
đoạn phiền não.
Nếu bạn chẳng lưu ý từ
việc này, cứ cho rằng
mình có tài, người khác
chẳng có, hiện nay người
ta thường nói là “rất
đáng kiêu ngạo”, vậy thì
hỏng hết. Nói đáng
kiêu ngạo nghe không
hay, [mà phải nói là]
đáng đọa lạc, đáng vào
tam đồ, không phải là có
ý này sao? Do đó
chúng ta nhất định phải
hiểu rõ chân tướng sự
thật. Ở đâu cũng
có thể thấy những kinh
văn giống như vầy, mỗi
lần đọc được phải nâng
cao sự giác ngộ của
mình. Chúng ta hãy
xem Ðịa Tạng Bồ Tát
thỉnh pháp:
Bạch Phật
ngôn, Thế Tôn, ngã quán
nghiệp đạo chúng sanh,
giảo lượng bố thí, hữu
khinh hữu trọng, hữu
nhất sanh thọ phước, hữu
thập sanh thọ phước, hữu
bá sanh, thiên sanh thọ
đạo phước lợi giả.
Thị sự vân hà, duy
nguyện Thế Tôn vị ngã
thuyết chi.
Bạch Ðức Thế Tôn! Con
xem xét chúng sanh trong
nghiệp đạo, so sánh về
sự bố thí thì có nhẹ có
nặng. Có người hưởng
phước trong một đời; có
người hưởng phước trong
mười đời; có người hưởng
phước lợi lớn trong trăm
đời, ngàn đời. Những
việc này là như thế nào?
Cúi xin Ðức Thế Tôn chỉ
dạy cho con rõ.
Việc này đâu phải là Ðịa
Tạng Bồ Tát không biết?
Một người hỏi, một người
đáp là để cho chúng ta
nghe, làm cho chúng ta
giác ngộ. ‘Nghiệp
đạo chúng sanh’ nghĩa là
chúng sanh trong lục
đạo, trong lục đạo chúng
sanh đặc biệt chỉ Người
và Trời, hai nẻo Người
và Trời, trong hai nẻo
này lại đặc biệt chỉ
loài người. Pháp
hội này ở cung trời Ðao
Lợi, trời Dục Giới.
Giảo lượng Bố thí, giảo
lượng là so sánh, cân
nhắc; so sánh, cân nhắc
bố thí có nhẹ có nặng.
Sau đó nêu ra thí dụ.
‘Hữu nhất sanh thọ
phước’, đây là nhẹ.
‘Thập sanh thọ phước’,
thì nặng hơn, ‘hữu bá
sanh thiên sanh thọ đại
phước lợi giả’, sự bố
thí này rất nặng.
Ðó là vì nguyên nhân gì?
Chư Phật nói rõ cho
chúng ta biết.
Thường thường thì Bố thí
có ba loại: ‘thí tài
vật, thí pháp, thí vô
uý’. Tài nghĩa là
tài vật, trong tài vật
có phân ra hai loại nội
tài và ngoại tài; ngoại
tài là những vật ngoài
thân; nội tài là nói về
thân thể chúng ta.
Thí dụ chúng ta dùng trí
huệ, dùng sức lực, dùng
tài khéo léo phục vụ cho
xã hội đại chúng thì đó
gọi là bố thí nội tài.
Công đức của bố thí nội
tài vượt hơn ngoại tài.
Ngày nay đạo tràng này
có rất nhiều người phát
tâm làm việc thiện
nguyện, những việc thiện
nguyện này đều thuộc về
bố thí nội tài.
Như mỗi ngày quý vị đều
thấy rõ ràng, phước báo
của những người ở Cư Sĩ
Lâm rất lớn. Có
rất nhiều cư sĩ lớn tuổi
giúp rửa rau, lặt rau,
rửa chén, rửa dĩa trong
phòng ăn, họ làm việc
rất hết lòng, rất có
trách nhiệm, làm rất
sạch sẽ để cúng dường
đại chúng, đây là bố thí
nội tài. Hình như
đời này cuộc sống rất
cực khổ nhưng phước báo
đời sau sẽ không tưởng
tượng nổi! Phước
báo này tuyệt đối chẳng
thể hưởng hết trong một
đời. Ðặc biệt là
những người đến đây ăn
cơm, những người đến
dùng cơm ở Cư Sĩ Lâm
thiệt là quá nhiều, giả
sử trong những người đến
đây dùng cơm có được vài
người vãng sanh thành
Phật, bạn nghĩ thử coi
phước báo của những
người ở Cư Sĩ Lâm bao
lớn! Họ đã cúng
dường Phật.
Trong kinh đức Phật dạy
chúng ta, dùng một bát
cơm cúng dường một vị
Bích Chi Phật sẽ được
quả báo chín mươi mốt
kiếp chẳng bị nghèo khổ,
nếu như ở đây cúng
dường, nếu ở đây có vài
người thật sự vãng sanh
bất thoái thành Phật,
thì phước báo họ được sẽ
vượt hơn cúng dường Bích
Chi Phật. Ðối với
những sự lý này, những
người thông suốt hiểu rõ
có thể nhìn thấy được,
còn phần đông người
thường thì nhìn không
ra. Trong Niệm
Phật Ðường, đặc biệt là
niệm Phật vào ban đêm,
quý vị niệm Phật ba mươi
sáu giờ một tuần, những
người làm việc thiện
nguyện này cũng chẳng
ngủ, chẳng nghỉ, vẫn có
đầy đủ tinh thần để chăm
sóc cho đại chúng, ban
đêm cung cấp các món ăn
điểm tâm, thức uống,
chăm sóc rất chu đáo,
làm vậy là tu phước to
lớn! Cúng dường cả
nội tài lẫn ngoại tài,
đến làm viện thiện
nguyện, đến để phục vụ,
đó là nội tài bố thí, họ
còn đem rất nhiều thức
ăn đến cho mọi người ăn
buổi tối, đó là ngoại
tài bố thí. Bố thí
cả nội lẫn ngoại, đó là
tu phước.
Trong kinh đức Phật dạy
chúng ta, phước báo của
tài thí chẳng bằng pháp
thí, công đức của việc
bố thí pháp quá lớn,
thiệt là rất lớn!
Nhưng trong nhà Phật, cả
ba loại bố thí tài,
pháp, vô úy đều nối liền
với nhau, chẳng tách
riêng rẽ, đối với người
thế gian thì ba thứ bố
này tách riêng ra, còn
trong nhà Phật thì ba
thứ bố thí này nhập
chung với nhau.
Trong tài thí có pháp
thí, trong pháp thí có
vô úy thí. Họ cúng
dường mọi người, bố thí
cho mọi người, hằng ngày
mọi người ở đây nghiên
cứu kinh điển, suy nghĩ,
niệm Phật, đó là pháp,
cho nên sự cúng dường bố
thí này của họ là đối
với pháp. Cúng
dường Phật, bố thí pháp,
cho nên cả hai đều đầy
đủ. Sự tu học Phật
pháp, khế nhập vào Phật
pháp làm cho người ta có
thể liễu sanh tử, thoát
tam giới, đoạn phiền
não, thành Phật đạo, đây
là thí vô úy to lớn, vô
cùng thù thắng.
‘Thọ phước’ tức là việc
mà người thế gian chúng
ta gọi là hưởng phước,
đây là việc hết thảy
chúng sanh đều mong muốn
đạt được, có ai không
muốn hưởng phước?
Những người làm việc
thiện nguyện coi việc
làm thiện nguyện như sự
hưởng phước của họ, tu
phước kết hợp với hưởng
phước, tu phước chính là
hưởng phước, hưởng phước
chính là tu phước, phước
báo của họ sẽ kéo dài
mãi chẳng dứt, chẳng
phải chỉ có một đời mà
thôi. Một người có
thể hưởng phước suốt cả
đời đại đa số là nhờ đời
trước có tu phước, nhưng
đời này một khi họ hưởng
phước lại không chịu tu
phước, phước báo đời này
hưởng hết thì chẳng còn
nữa. Nếu
phước lớn thì có thể
hưởng cả đời, đến lúc
chết vẫn còn phước báo;
nếu phước báo kém một
chút thì đến lúc già họ
rất đáng thương, phước
báo hưởng hết, đến lúc
già không có người chăm
sóc, khổ chẳng nói nổi!
Ðó là gì? Ðó là
bạc phước, những việc
này rất nhiều, đều
thường bày ra trước mặt
chúng ta. Nếu
người này cả đời chẳng
có bịnh khổ, chẳng có
khổ lúc già, chứng tỏ
phước báo của họ rất
tốt, cả đời hưởng phước.
Nếu đến lúc họ chết, lúc
chết có tướng lành thì
họ hưởng phước không
những chỉ trong một đời
mà thôi, đời sau vẫn còn
hưởng phước; họ ra đi
rất an vui, rất tự tại,
[lúc chết đầu óc] rất
sáng suốt, chẳng mê
hoặc, thì nhất định đời
sau họ sẽ hưởng phước
cõi trời, người, phước
này chẳng phải chỉ có
một đời mà thôi.
Nếu mười đời, trăm đời,
ngàn đời [đều hưởng
phước] thì nhất định họ
đã tu đại bố thí cho xã
hội, cho hết thảy chúng
sanh thì mới có thể
hưởng phước lớn như vậy.
Ðời xưa chúng ta thấy
vua chúa, những gia đình
trọng vọng có thể truyền
nhiều đời mà gia đạo
chẳng suy, đó là nhờ tổ
tiên tu phước lớn, cho
nên con cháu đời đời đều
hưởng chẳng cùng tận.
Nếu [hưởng phước cả]
trăm đời, ngàn đời thì
họ đã tạo phước, bố thì
càng nhiều hơn nữa;
[trường hợp] mười đời
hưởng phước, chúng ta
thấy nhiều vua chúa thời
xưa, những nhà có tiếng
tăm được ghi trong lịch
sử. Nhưng [những
nhà hưởng phước] cả trăm
đời, ngàn đời thì sẽ
khác, ở Trung Quốc chúng
ta chỉ thấy Khổng Lão
Phu Tử, đúng là phước
lớn cả trăm đời.
Khổng Tử đã bố thí những
gì? Dạy học, dùng
tâm chân thành giáo huấn
chúng sanh, bạn hãy xem
Khổng Tử truyền đến nay
đã trải qua bảy mươi mấy
đời, con cháu của ngài
vẫn còn được người đời
nay tôn kính. Tôn
kính tổ tiên của họ,
nghe nói con cháu của
Khổng Phu Tử được người
ta đối đãi một cách đặc
biệt, đặc biệt đối đãi
lễ độ. Khi ông
Khổng Ðức Thành đến Mỹ,
tiếp nhận sự tiếp đãi
[nồng hậu] của người Mỹ
vì họ nghe nói ông
[Khổng Ðức Thành] là con
cháu của Khổng Phu Tử,
đây là [thí dụ cho sự]
hưởng phước cả trăm đời.
Trong nhà Phật, sự bố
thí của chư Phật, Bồ Tát
đều là phước báo lớn lao
trăm đời, ngàn đời, vô
lượng vô biên, những
việc đức Phật tu là gì?
Ngài cũng tu đại bố thí,
bố thí pháp. Sau
khi đức Phật Thích Ca
thị hiện thành Phật, vì
chúng sanh giảng kinh
thuyết pháp suốt bốn
mươi chín năm, tu bố thí
pháp. Trong pháp
thí có tài thí hay
không? Có chứ,
nhưng chẳng có ngoại
tài, chỉ có nội tài.
Họ cần tinh thần, cần
thể lực, hao tổn tinh
thần, sức lực của họ, đó
là tài thí, cho nên có
‘tài thí’ trong đó.
Như trong kinh có nói,
sau khi bạn khai ngộ, xa
lìa lo sợ, điên đảo,
vọng tưởng, đây là thuộc
về vô uý thí. Cả
đời thành tâm thành ý
chuyên làm việc này, do
đó họ được phước báo ‘cả
trăm đời, ngàn đời,
hưởng phước to lớn’.
Chúng ta phải biết việc
này.
Ðối tượng của việc bố
thí, trong kinh Phật gọi
là ruộng phước, bố thí
là trồng phước, bạn phải
nhận ra cái nào là ruộng
phước, phải tìm ruộng
phước để trồng phước,
vậy thì phước của bạn sẽ
vô lượng vô biên, bạn
vĩnh viễn hưởng dùng
chẳng cùng tận.
Thật sự hiểu rõ đạo lý
này thì phải nỗ lực sốt
sắng mà làm, đừng sợ cực
nhọc, cũng đừng sợ mình
lớn tuổi, sức lực suy
yếu muốn làm một chút
chuyện tốt cho xã hội
nhưng không được!
[Nếu nghĩ vậy] thì sẽ
không được, tại sao vậy?
Trong tâm người đó nghĩ
là không được thì đương
nhiên sẽ không được.
Nếu bạn nghĩ là được thì
bạn sẽ chẳng suy yếu,
nếu bạn cảm thấy không
được thì mỗi ngày đều
nghĩ đến già, nghĩ đến
bịnh, nghĩ sức lực suy
yếu, Phật pháp nói
“tướng chuyển theo tâm”
thì đương nhiên bạn sẽ
suy yếu. Nếu bạn
có can đảm thật sự giác
ngộ, [nghĩ rằng] tôi
không già, tôi không
bịnh, không suy yếu, kết
duyên với hết thảy chúng
sanh, làm việc bố thí
lớn lao, vậy thì sẽ
được! Không phải
là không được, cũng sẽ
làm được rất viên mãn,
chỉ vì bạn có giác ngộ
hay không, có chịu phát
tâm hay không.
Ngày nay phước điền thật
sự, phước điền hạng
nhất, phước điền thù
thắng không chi sánh
bằng là gì? Mỗi
ngày chúng ta thường
nghĩ đến ‘Làng Di Ðà’
‘Niệm Phật Ðường’ đây là
phước điền vô thượng, vì
[đó là nơi] giúp đỡ hết
thảy chúng sanh thành
Phật. Tôi hiểu
được đạo lý này, biết sự
thật này, nhưng chẳng có
duyên, sức lực của mình
chẳng làm nổi cho nên
chỉ thường nói [về việc
này] mà thôi, đã nói hết
ba mươi mấy năm rồi.
Chẳng ngờ ở nơi đây gặp
được Bồ Tát Lý Mộc
Nguyên, ông ấy nghe rõ
xong, ông ấy thật sự
làm. [Nghe] ông ấy
làm, tôi có vui mừng
không? Không có.
Tại sao không có tâm vui
mừng? Tôi chỉ nghĩ
nghe thì nghe tạm vậy
thôi, có thật sự làm
được hay không thì rất
khó nói. Nếu tôi
vui mừng, nhưng ông ấy
làm không nổi, thì không
phải tôi sẽ thất vọng
hay sao? Do đó tôi
không hy vọng nên cũng
sẽ không thất vọng; nếu
bạn làm thành công thì
rất tốt! Còn nếu
không thành công, tôi
vốn chẳng hy vọng [nên
sẽ chẳng thất vọng] tâm
chúng ta vĩnh viễn giữ
được bình yên, thanh
tịnh. Thế nhưng
ông ấy nỗ lực làm hết
lòng, chúng ta phải giúp
ông ấy, giúp cho ông ấy
thành tựu. Cho nên
chúng tôi thí nghiệm
trước, ở Cư Sĩ Lâm mở
Niệm Phật Ðường để thí
nghiệm; thí nghiệm xong
làm cho chúng tôi có
lòng tin, mọi người đều
khởi lòng tin. Nếu
không thí nghiệm thì bạn
sẽ chẳng có lòng tin,
thì bạn sẽ rất khó làm
cho được thành công.
Nhờ làm thí nghiệm này,
tuy thời gian thí nghiệm
chẳng dài, Niệm Phật
Ðường tính đến nay được
thành lập chưa tới ba
tháng, trong thời gian
ngắn như vậy, làm cho
các vị đồng tu từ trên
xuống dưới, từ những vị
Ðổng Sự ở Cư Sĩ Lâm, các
vị lãnh đạo đến các vị
đồng tu mỗi ngày đến
niệm Phật, thậm chí các
vị đến làm việc thiện
nguyện, mọi người ai nấy
đều tràn đầy lòng tin,
thật là chẳng thể nghĩ
bàn, đây chẳng phải là
sức lực của con người mà
chính là do Phật lực gia
trì.
Do đó tôi thường nói,
lời tôi nói là lời chân
thật, Niệm Phật Ðường
này có chư Phật trong đó
niệm Phật, có Bồ Tát
trong đó niệm Phật, còn
thần hộ pháp thì quá
nhiều, không kể hết.
Có người nói với tôi, có
người thấy thần hộ pháp
đều đang xếp hàng, đó là
thật chứ chẳng giả.
Cho nên mỗi người bước
vào Niệm Phật Ðường đều
cảm nhận vô cùng đặc
biệt, khí phận rất khác
biệt, người ngoại quốc
gọi là từ trường khác
lạ. Sau khi bước
vào liền sanh tâm hoan
hỷ, sanh khởi lòng tin.
Thí dụ [nhiều người]
niệm suốt bốn mươi tám
giờ, suốt hai ngày hai
đêm không ngủ không
nghỉ, có nhiều người nói
sức lực họ làm không
nổi, nhưng rốt cuộc rồi
cũng làm nổi, niệm suốt
hai ngày hai đêm xong
nên họ tăng trưởng lòng
tin, cảm thấy họ cũng
khá lắm! Ðây là
Phật lực gia trì, thiện
căn, phước đức, nhân
duyên của mình thành
thục; kinh Di Ðà có nói
‘Chẳng thể dùng ít thiện
căn, phước đức, nhân
duyên mà được sanh về
cõi ấy’, lại còn
được chư Phật Như Lai
gia trì, chúng ta phải
biết việc này.
Chúng ta vô cùng may
mắn, lúc trước người tu
hành nhiều, đạo tràng
đúng pháp nhiều, Phật,
Bồ Tát chăm lo săn sóc
trọn khắp, hiện nay
không có, chỉ còn lại
một nơi, hết thảy Phật,
Bồ Tát đều gia trì một
người, một đạo tràng,
việc này chẳng thể nghĩ
bàn. Do đó nhất
định phải tự mình phát
tâm, phải tự mình có
lòng tin, làm đúng như
lý như pháp, đúng như
lời nhà Phật thường nói
‘tâm tưởng sự thành’,
‘hết thảy pháp đều do
tâm tưởng sanh ra’, chỉ
cần những gì bạn làm là
lợi ích chân thật.
Mục đích chúng ta là
mong cầu chánh pháp trụ
thế lâu dài, hết thảy
chúng sanh đều có thể
đạt được lợi ích chân
thật, thì chúng ta sẽ
vui vẻ hy sinh, vui vẻ
cống hiến.
Có một số đồng tu rất
quan tâm cho tôi và nói
‘Pháp sư đã lớn tuổi
rồi, mỗi ngày đều phải
giảng kinh, ngày nào
cũng không nghỉ ngơi,
mệt cho thầy quá’.
Tôi rất cám ơn sự quan
tâm của những người này,
họ khuyên tôi giảm bớt
thời gian giảng kinh,
mỗi ngày giảng một tiếng
rưỡi thôi, đừng giảng
hết hai tiếng, mỗi tuần
giảng nhiều nhất là năm
ngày, nghỉ ngơi hai
ngày, đó là ý tốt, tôi
rất cảm ơn. Nhưng
bạn phải biết, nếu chúng
ta giảm bớt thời gian
giảng kinh nửa giờ, sợ
rằng giảng bộ kinh Hoa
Nghiêm này phải mất mười
lăm năm, hiện nay tôi
nghĩ mười năm chưa chắc
đã giảng xong, nếu còn
giảm bớt nửa tiếng thì
sợ là phải kéo dài hai
mươi năm, vậy thì sao
được! Nói ra thì
nghe hay lắm, mọi người
đều vô lượng thọ, nhưng
cũng hy vọng giảng xong
bộ kinh này sớm hơn, mau
hoàn thành viên mãn.
Hiện nay mỗi ngày tôi
giảng hai tiếng đồng hồ
chẳng cảm thấy mệt,
giảng được rất hoan hỷ,
do đó trong tình trạng
trước mắt hiện nay vẫn
còn được! Có thể
duy trì, chẳng cần phải
giảm bớt thời gian.
Ngạn ngữ thế gian cũng
thường nói ‘Khi người
gặp chuyện vui thì tinh
thần hăng hái’,
giảng kinh là chuyện
vui, chuyện tốt, chẳng
phải là chuyện cực nhọc.
Phần đông người ta cho
rằng dạy học trong
trường là một chuyện cực
khổ, đó có thể là chuyện
cực khổ, nhưng giảng
kinh là một chuyện vui
sướng, chẳng giống như
chuyện dạy học trong
trường, đây là một
chuyện vô cùng vui
sướng. Nếu giảm
bớt chuyện làm vui sướng
này, tôi nghĩ ai cũng
chẳng mong muốn, giảm
bớt chuyện cực khổ thì
được, chứ đừng giảm bớt
chuyện vui sướng.
Ðây là nói rõ phước
điền, phước điền chân
thật là đem lại lợi ích
cho chúng sanh.
Lúc trước tôi khuyên
người ta tu phước đều là
khuyên người ta phát tâm
lưu truyền Phật pháp.
Phương pháp lưu truyền
Phật pháp là in kinh,
thời quá khứ chỉ có in
kinh bố thí, in kinh bố
thí có đầy đủ ba thứ
tài, pháp, vô úy thí,
đây là việc tốt.
Kế đó tôi thường khuyên
người ta chăm sóc cho
người bịnh khổ, một số
người bịnh, những người
có đời sống rất cực khổ,
chúng ta bố thí cho họ,
cho họ thuốc men, cứu tế
người nghèo khổ.
Thứ ba là tôi khuyên
người ta phóng sanh,
phóng sanh là vô úy thí.
Ðây là những việc mà
nhiều năm nay tôi giảng
kinh thuyết pháp khuyên
nhắc chư vị, đây thật sự
là phước điền, tuyệt đối
chẳng có lỗi lầm, tệ
đoan. Tôi chẳng
khuyên người ta xây đạo
tràng, xây đạo tràng
chưa chắc đã là phước
điền thật sự, nếu [người
ở] đạo tràng ấy chẳng tu
học, hoằng dương chánh
pháp thì phước điền ấy
là giả, chứ chẳng phải
thật, chúng ta trồng
phước [ở những nơi] này
là bị lầm rồi. Ðạo
tràng chánh pháp chẳng
dễ gặp, vô cùng khó khăn
mới gặp được, thực sự là
có thể gặp chứ chẳng thể
mong cầu, một khi gặp
được đạo tràng [hoằng
dương] chánh pháp chúng
ta phải dốc sức để tu bố
thí cúng dường, bố thí
cúng dường nhất định
phải đúng như pháp.
Gần đây Lý cư sĩ tìm
được một miếng đất,
chúng tôi muốn xây Làng
Di Ðà ở đó. Ông ấy
đến hỏi tôi: “Cần phải
xây theo lối cung điện
vua chúa hay không?”
Tôi trả lời: “Không cần,
xây theo lối cung điện
tốn rất nhiều tiền, chưa
chắc có thể thích hợp”.
Tôi nói “Chúng ta xây
theo kiến trúc hiện đại,
bỏ hình tượng chùa miếu,
chúng ta đề xướng giáo
dục Phật giáo, nên dùng
kiến trúc hiện đại”.
Hôm qua họ đem họa đồ
lại cho tôi coi, Niệm
Phật Ðường có hình tròn,
trên đỉnh còn có một
tượng Phật, tôi kêu ông
đừng làm tượng Phật,
đừng để tượng Phật ở đó
phơi nắng, phơi mưa, như
vậy không cung kính,
đừng làm tượng Phật như
vậy. Dùng kiến
trúc hiện đại, tốn ít
tiền, sử dụng thích hợp
mới quan trọng.
Cốt yếu là mong thành
tựu cho công phu niệm
Phật của mọi người, hy
vọng những người đến đây
niệm Phật có thể được
công phu thành phiến,
được nhất tâm bất loạn.
Ðược công phu thành
phiến thì nhất định vãng
sanh, như vậy mới thật
sự là phước điền, phước
điền chân thật.
Phần trường học chúng
tôi tiếp nhận, sửa sang
một chút thì có thể làm
Phật Học Viện, giải hành
tương ứng, điểm này rất
quan trọng! Người
niệm Phật mỗi ngày phải
nghe kinh, nếu không
nghe giảng kinh thì niệm
Phật ba ngày liền giải
đãi, nghe giảng kinh là
mỗi ngày khuyên nhắc,
mỗi ngày khích lệ họ,
chúng ta ở đó giúp họ
không thoái chuyển.
Mỗi ngày giảng kinh là
vì việc này, giúp họ
dũng mãnh tinh tấn.
Ðây là
phước điền chân thật,
chúng tôi nhìn thấy vô
cùng rõ ràng, rành rẽ,
một xu cũng không thể
lãng phí thì mới thành
tựu được tấm lòng bố thí
của thí chủ, không thể
lãng phí [đồng tiền ấy].
Nhà Phật thường nói
‘trước cửa địa ngục
nhiều tăng sĩ’, ai đọa
địa ngục? Người
xuất gia đọa địa ngục.
Tại sao lại đọa địa
ngục? Vì chẳng
biết tiết kiệm, cung
kính, lãng phí đồng tiền
của thí chủ, trong đó
tạo rất nhiều tội
nghiệp, chính bạn tu trì
có công phu gì?
Bạn được nhất tâm hay
chưa? Ðược công
phu thành phiến chưa?
Nếu chưa, nói một cách
khác, [sanh đến được]
tây phương Cực Lạc thế
giới [hay không] vẫn còn
là một dấu hỏi, bạn chưa
chắc có thể sanh được.
Nếu bạn không được vãng
sanh, thì những sự thọ
dụng này, đây là việc mà
nhà Phật thường nói:
‘Một hạt gạo của thí
chủ, lớn như núi Tu Di,
Ðời này không liễu đạo,
đội lông sừng mà trả’
Do đó nhất định phải
biết tiết kiệm, tu
phước, tiếc phước, [việc
gì] có thể tiết kiệm thì
nhất định phải tiết
kiệm, cần dùng thì phải
dùng, cần dùng thì tuyệt
đối không thể hà tiện.
Hiện nay việc bố thí,
trừ việc in kinh ra,
phạm vi của sự bố thí
pháp rộng hơn lúc trước
rất nhiều. Hiện
nay chúng ta có băng
thâu âm, có băng thâu
hình, có CD, thậm chí
hiện nay chúng ta còn
lợi dụng truyền hình vệ
tinh, lợi dụng màng lưới
điện toán quốc tế, tất
cả đều thuộc về bố thí
pháp. Rất nhiều
người làm công việc này,
họ dùng nội tài và ngoại
tài tu công đức bố thí
chân thật, phạm vi [của
việc thí pháp] hiện nay
của chúng ta rộng lớn
hơn lúc trước rất nhiều.
Tối hôm qua có bạn đồng
tu đến nói với tôi, hiện
nay chúng ta ở đây làm
CD, số lượng rất lớn,
các nơi trên khắp thế
giới đều xin chúng tôi,
chúng tôi nhờ những
xưởng khác làm dùm, giá
tiền rất rẻ, mỗi dĩa tốn
một đồng rưỡi. Họ
nói với tôi, nếu tự mình
lập ra xưởng, tự mình
sản xuất thì tiền vốn
mỗi dĩa chỉ có nửa đồng;
nói cách khác, lúc trước
chúng ta tặng cho người
ta một dĩa CD thì hiện
nay chúng ta có thể tặng
cho người ta 3 dĩa.
Tôi nói chuyện này rất
tốt, tôi tán thành, đợi
Lý cư sĩ trở về, chúng
ta sẽ nghiên cứu việc tự
lập xưởng để làm CD.
Tu phước như vậy thì
trăm đời, ngàn đời sẽ
được phước lớn, chỉ cần
người thật sự hiểu rõ
đạo lý nhà Phật, hiểu rõ
chân tướng sự thật thì
mới biết tự mình tu
phước như thế nào, làm
sao mới có phước lợi to
lớn.
‘Phước lợi to lớn’ nói ở
đây chẳng phải là phước
lợi ở cõi trời, người,
phước lợi cõi trời,
người chẳng lớn; vãng
sanh đến tây phương Cực
Lạc thế giới thành Phật
thành Bồ Tát thì phước
lợi ấy mới lớn.
Phước lợi của chúng sanh
trong lục đạo, các bạn
đã đọc kinh Vô Lượng
Thọ, phước lợi của chúng
sanh trong lục đạo lớn
nhất là Ðại Phạm thiên
vương, nếu so sánh Ðại
Phạm thiên vương với
người Hạ Hạ phẩm vãng
sanh cõi Phàm Thánh Ðồng
Cư của Cực Lạc thế giới
thì còn thua xa.
Phước báo của người ở
tây phương Cực Lạc thế
giới ví như Ðại Phạm
thiên vương, còn phước
của Ðại Phạm thiên vương
ví như người nghèo ở thế
gian chúng ta, không thế
nào so sánh được, [phước
của người vãng sanh cõi
Cực Lạc] mới thật sự là
đại phước lợi.
Chúng ta chịu giúp người
khác thành Phật thì
chúng ta nắm chắc sự
thành Phật của chính
mình. Thật sự giúp
đỡ người khác thành Phật
thì nhất định phải tạo
ra tăng thượng duyên cho
mọi người. Chúng
ta biết những người niệm
Phật này có thiện căn,
có phước đức, thiếu nhân
duyên, cho dù có thiện
căn, phước đức, nhưng
thiếu nhân duyên thì đời
này vẫn không thể thành
tựu. Họ ở nhà niệm
Phật, họ ở các đạo tràng
khác niệm Phật, bị khuấy
nhiễu, tâm chẳng thể
định được. Chúng
tôi thường nghe đồng tu
nói, ở nhà niệm Phật,
con cháu trong nhà
thường lại phá phách,
bạn bè thường gọi điện
thoại lại khuấy nhiễu
nên tâm chẳng yên định
được. Khi chúng ta
có một Niệm Phật Ðường,
trong đó không có điện
thoại, chẳng gắn điện
thoại, trong các phòng
nghỉ ngơi hoàn toàn
không có điện thoại,
được vậy thì tâm bạn sẽ
định, chẳng có ai đến
tìm bạn, chẳng bị khuấy
nhiễu. Ðây là việc
chúng ta cung cấp nhân
duyên và hoàn cảnh cho
họ tu học.
Lý cư sĩ rất gan dạ, tôi
rất khâm phục ông ta;
tương lai những người cư
trú ở Làng Di Ðà khỏi
phải trả một đồng nào
cả, [nhưng cần phải có]
điều kiện gì?
“Chịu niệm Phật”, chỉ
cần một điều kiện này,
nam nữ già trẻ gì cũng
được, chỉ cần chịu niệm
Phật thì bạn có thể trú
ở đó, Làng Di Ðà sẽ cúng
dường bạn cả đời mãi cho
đến khi bạn vãng sanh.
Ngày nay trên thế giới
có bao nhiêu chánh phủ
làm sự nghiệp phước lợi
đều chẳng sánh bằng Làng
Di Ðà. Những viện
dưỡng lão, chỗ về hưu ở
ngoại quốc tuy là làm
được rất tốt, vẫn còn
rất nhiều hạn chế, thủ
tục còn rất phiền phức.
Tương lai thủ tục xin ở
Làng Di Dà chỉ cần một
điều kiện “bạn chịu niệm
Phật” thì bạn sẽ được
nhận. Người ngoại
quốc chỉ cần có được
quyền cư trú hợp pháp ở
Tân Gia Ba thì sẽ được
nuôi cả đời, bạn không
cần phải bận tâm gì hết,
[Làng Di Ðà sẽ] cúng
dường hết tất cả quần
áo, nơi ăn chốn ở.
Lý cư sĩ muốn thiết kế
đồng phục, đến trú ở
Làng Di Ðà thì phải thay
đổi đồng phục của Làng
Di Ðà, quần áo cũ của
bạn đều không dùng nữa,
tứ sự cúng dường trong
đời sống đều được lo
lắng đầy đủ, đây là đại
bố thí! Tiền từ
đâu tới? Vẫn chưa
biết. Lý cư sĩ có
lòng tin, chúng ta không
có phước báo, đức Phật A
Di Ðà có phước báo,
chúng ta làm công cho
đức Phật A Di Ðà thì
đương nhiên ngài sẽ chăm
sóc, lòng tin được xây
dựng từ chỗ này. Phật
có phước báo, chúng ta
phục vụ thay thế A Di Ðà
Phật, ông chủ ở phía sau
ủng hộ là đức Phật A Di
Ðà, cho nên cần gì phải
sợ? Cứ vững tâm mà
làm, dốc hết tâm sức để
làm, nhất định sẽ thành
công, chắc chắn làm được
viên mãn. Ðặc biệt
là khoảng thời gian gần
đây ở Cư Sĩ Lâm, chúng
ta thấy càng bố thí thì
càng có nhiều, chẳng
phải là bố thí sẽ giảm
bớt, bố thí sẽ thiếu
thốn, mà là càng bố thí
thì có càng nhiều, việc
này đem lại lòng tin to
lớn cho chúng ta.
Do đó nhất định phải
nhận biết phước điền một
cách rõ ràng, đó là
phước điền chân thật,
phước điền này chắc chắn
được chư Phật, Bồ Tát hộ
niệm, long thiên thiện
thần gia trì, che chở.
Hiện nay đạo tràng này,
Lý cư sĩ nói với tôi rất
rõ ràng, chúng tôi làm
một đạo tràng gương mẫu
cho thế gian, làm một
khuôn mẫu. Sau khi
làm được thành công, hy
vọng mọi người từ khắp
nơi đến đây tham học,
cho nên nơi đây hoan
nghênh người niệm Phật
từ mọi nơi trên thế giới
đến đây niệm Phật, thông
thường khi đến đây thì
hải quan Tân Gia Ba sẽ
cho bạn một tháng đến ba
tháng, bạn có thể tạm
trú ở đây một thời gian
để niệm Phật, [sau đó]
đem kinh nghiệm và cách
làm ở nơi đây mang về
[chỗ ở của mình].
Hy vọng tương lai khắp
nơi trên toàn thế giới
đều có những Niệm Phật
Ðường như vậy, đều xây
dựng Làng Di Ðà giống
như vậy, đích thật có
thể tiêu trừ tai nạn cho
xã hội, cho thế gian,
cho hết thảy chúng sanh,
đem lại ổn định, hòa
bình, hưng vượng.
Cho nên sự bố thí này,
sự tu phước này thật sự
là trăm đời, ngàn đời
được đại phước lợi.
Chúng ta vô cùng may mắn
gặp được duyên này,
chúng ta tu một chút tùy
hỷ công đức, sự tùy hỷ
công đức này chẳng thể
nghĩ bàn! Chúng ta
có thể quý tiếc duyên
này thì đời này chúng ta
sẽ chẳng luống uổng, đời
này sẽ rất có ý nghĩa,
có giá trị.
Phật Học Viện phải tổ
chức, thâu nhận học
sinh, mở rộng, cách suy
nghĩ này đúng đắn, vì
tương lai những nơi khác
xây làng Di Ðà, nhân lực
của chúng ta chẳng đủ,
nhất định phải đào tạo
rất nhiều nhân tài, giúp
các nơi xây dựng làng Di
Ðà, đẩy mạnh sự hoằng
dương Tịnh Tông.
Cho nên việc thâu nhận
học sinh, Lý cư sĩ
thương lượng với tôi
rằng không hạn chế người
Trung Quốc, các người
tại gia, xuất gia ở khắp
nơi trên thế giới đều
được thâu nhận.
Ðạo tràng chánh pháp do
cư sĩ chủ trì rất nhiều,
Cư Sĩ Lâm ở đây là do cư
sĩ chủ trì, Tịnh Tông
Học Hội ở đây cũng do cư
sĩ chủ trì. Lúc
trước khi tôi thân cận
lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam,
Phật Giáo Liên Xã Ðài
Trung, Thư Viện Từ Quang
ở Ðài Trung đều do cư sĩ
chủ trì, do đó chúng ta
đừng có tâm phân biệt,
muôn vàn không thể cho
rằng người xuất gia cao
hơn người tại gia, vậy
là sai rồi. Cao
thấp là phải coi công
phu tu hành của bạn cao
thấp, chẳng ở tại hình
tướng, điểm này chúng ta
phải hiểu rõ.
Việc này vào năm đầu Dân
Quốc, trong lời giáo
huấn của đại sư Âu Dương
Cánh Vô ở Học Viện Chi
Na có một bài rất dài
lập đi lập lại lời dạy
về việc này, thường
thường người xuất gia tự
cao tự đại đến cuối cùng
lại phải đọa lạc, tạo
rất nhiều tội nghiệp,
người tại gia thường
khiêm tốn trái lại có
thể vãng sanh Tịnh Ðộ
bất thoái thành Phật,
rất đáng cho chúng ta
cảnh giác. Âu
Dương đại sư đặc biệt
nhấn mạnh một câu ‘Phật
pháp là sư đạo’, ngài
nói ‘Phật giáo chẳng
phải là tôn giáo, chẳng
phải là triết học, là
việc mà đời nay vô cùng
cần thiết’, ngài nói
Phật pháp là sư đạo,
trong sư đạo thì thầy
giáo lớn nhất, đặc biệt
đề xướng tôn sư trọng
đạo. Thầy giáo có
người tại gia, người tại
gia là thầy của tôi, tôi
học theo thầy, thầy là
người lớn nhất.
Tuyệt đối không thể nói
tôi có thân phận xuất
gia, thầy là thân phận
tại gia, tôi phải lớn
hơn thầy, vậy là sai
rồi. Cư sĩ tại gia
là thầy của chúng ta,
chúng ta cũng gọi thầy
là hòa thượng, hòa
thượng là tiếng Phạn, ý
nghĩa là thân giáo sư,
pháp của tôi là do thầy
truyền cho tôi, là do
thầy dạy tôi, người này
là thân giáo sư của tôi,
thân giáo sư gọi là hòa
thượng. Hòa thượng
chẳng phân biệt nam nữ,
già trẻ, chẳng phân biệt
tại gia, xuất gia.
A-xà-lê là thân phận
thầy giáo, ngôn hạnh của
ngài có thể làm gương
mẫu cho tôi, tôi phải
nên học theo ngài, cho
nên A-xà-lê cũng không
phân tại gia, xuất gia.
Hiện nay rất nhiều Mật
Tông Thượng Sư A-xà-lê
là người tại gia, cư sĩ
Hoàng Niệm Tổ chính là
một vị Mật Tông A-xà-lê,
người xuất gia tu học
theo ngài cũng phải đảnh
lễ ba lạy, nhiễu quanh
bên phải ba vòng.
Lúc đức Phật còn tại
thế, cư sĩ Duy Ma là
người tại gia, khi Xá
Lợi Phất, Mục Kiền Liên
gặp cư sĩ Duy Ma hành lễ
chẳng khác khi gặp Thế
Tôn, cũng là đảnh lễ ba
lạy, nhiễu quanh bên
phải ba vòng, hành lễ
thầy trò, chẳng coi
người đó là người tại
gia. Chúng ta phải
đổi quan niệm này trở
lại, trong Phật pháp thì
thầy giáo là hạng nhất,
thậm chí là nữ cư sĩ tại
gia, họ giảng kinh
thuyết pháp, họ dạy học,
chúng ta cũng phải coi
họ là Phật vậy, chẳng
được có một tơ hào phân
biệt, không thể có tâm
khinh mạn, như vậy thì
chúng ta mới có thể
thành tựu.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng ta giảng
đến đây thôi.
Tập 36 (14-32-36)
Xin mở cuốn Khoa Chú
quyển hạ, trang 3, xin
xem kinh văn:
Nhĩ thời Phật cáo Ðịa
Tạng Bồ Tát, ngô kim ư
Ðao Lợi thiên cung, nhất
thiết chúng hội, thuyết
Diêm Phù Ðề bố thí, giảo
lượng công đức khinh
trọng, nhữ đương đế
thính, ngô vị nhữ
thuyết.
Bấy giờ, Ðức Phật bảo Bồ
Tát Ðịa Tạng rằng: "Nay
Ta ở trong toàn thể
chúng hội nơi cung trời
Ðao Lợi này, giảng về sự
so sánh công đức khinh
trọng của việc bố thí ở
Diêm Phù Ðề. Ông phải
lắng nghe, Ta sẽ vì ông
mà nói.
Ðoạn trước
có nói Ðịa Tạng Bồ Tát
thỉnh giáo đức Thế Tôn,
chúng sanh trong lục đạo
tu phước, tu phước chẳng
giống nhau, quả báo cũng
chẳng giống nhau, xin
đức Phật giảng rõ chân
tướng sự thật này cho
chúng ta biết, đoạn kinh
này là lời Thế Tôn giảng
giải. Chữ ‘Nhĩ
thời’ trong kinh văn là
lúc Ðịa Tạng Bồ Tát thưa
hỏi về việc này.
Thế Tôn nói với Ðịa Tạng
Bồ Tát, ‘ngô’ là lời đức
Phật tự xưng, hôm nay
tại cung trời Ðao Lợi,
trong tất cả chúng hội,
‘nhất thiết chúng hội’
bao gồm đại chúng trong
mười pháp giới, hội này
vô cùng thù thắng, hy
hữu. Trong phẩm Tự
chúng ta đã thấy mười
phương hết thảy chư Phật
Như Lai, chư đại Bồ Tát,
đương nhiên trong đó bao
gồm chúng sanh trong
chín pháp giới, do đó
trong hội này trên thật
tế cùng với hải hội Hoa
Nghiêm chẳng hai chẳng
khác, bất quá hội này là
mở ở tại cung trời Ðao
Lợi, kỳ thật đã phá vỡ
thời gian và không gian.
Chúng ta nhìn thấy lục
đạo chúng sanh trong tận
hư không, trọn khắp pháp
giới tham dự pháp hội
này, cũng giống như tình
huống trong kinh Hoa
Nghiêm, đều là chư Phật,
Bồ Tát ứng hóa trong lục
đạo, ứng hóa trong ác
đạo, dùng thân phận của
những quỷ vương này tham
dự đại hội, do đó hết
thảy đại chúng trong hội
vô cùng hy hữu.
‘Thuyết Diêm Phù Ðề bố
thí, giảo lượng công đức
khinh trọng’, đây là đáp
ứng lời thỉnh cầu của
Ðịa Tạng Bồ Tát, ‘Diêm
Phù Ðề’ tức là địa cầu
của chúng ta, những
người trên địa cầu tu
phước được quả báo nặng
nhẹ. Hai câu cuối
cùng này đặc biệt căn
dặn Ðịa Tạng Bồ Tát,
trên thực tế là dặn dò
mọi người chúng ta, ‘nhữ
đương đế thính’, ‘đế
thính’ là nghe cho kỹ,
‘ngô vị nhữ thuyết’, sau
đó là Thế Tôn thuyết
pháp cho chúng ta.
Xin xem kinh văn:
Ðịa Tạng bạch Phật ngôn,
ngã nghi thị sự, nguyện
nhạo dục văn.
Bồ Tát Ðịa
Tạng bạch Phật rằng:
"Con đang hoài nghi việc
ấy, nên rất muốn được
nghe”.
Thật ra nói Ðịa Tạng Bồ
Tát hoàn toàn là thay
thế chúng ta, ngài nói
‘Ðối với sự việc này con
rất hoài nghi, vô cùng
hoan hỷ mong Thế Tôn vì
chúng con mà giảng chân
tướng sự thật này.
Thanh Liên pháp sư trong
chú giải đã nói với
chúng ta vài câu, những
câu này đều là tình hình
trong đời sống hiện
thật, chúng ta hãy đọc
phần chú giải ‘Những
người ở Diêm Phù Ðề có
thể bố thí, nhất định sẽ
sanh lên trời’.
Thật sự tu bố thí, bố
thí đúng lý đúng pháp,
bố thí là phước, khi tu
phước có phước báo lớn
thì kẻ ấy sanh lên trời
để hưởng phước.
Cho nên Thế Tôn giảng về
công đức khinh trọng của
việc bố thí ở tại cõi
trời, tại sao không nói
ở cõi người mà nói ở cõi
trời? Ðây là chỉ
rõ ý nghĩa này cho chúng
ta. Nói ‘hãy lắng
nghe, nghiệp của sự bố
thí là nguồn gốc của các
hạnh’, hai câu này là
cương lãnh, nói tổng
quát. ‘Tài vật vô
thường, năm nhà
tranh đoạt, kẻ phàm ngu
keo kiệt, chẳng có tâm
xả’, đây là nói về tình
trạng của con người
trong thế gian, xã hội
trước mắt càng nhiều hơn
nữa, chẳng từ chối bất
cứ thủ đoạn gì để cướp
lấy tài vật, làm vậy sẽ
tạo tội nghiệp.
‘Làm cho vợ con dòm
chừng nhau’,
đây
là gia đình bất hòa,
‘anh em bất hòa, quyến
thuộc trái ngược xa lìa,
bạn thân tách lìa’, đây
đều là những tình trạng
hiện thực trong xã hội
chúng ta. Rốt cuộc
là do nguyên nhân gì tạo
thành? Hiện nay
tình trạng này quá bình
thường, quá nhiều rồi.
Ở Trung Quốc, ở ngoại
quốc hầu như những gì
sáu căn chúng ta tiếp
xúc đến đều là cảnh giới
này, chúng ta phải hiểu
nghiệp nhân quả báo này,
vậy thì phải lắng nghe
lời khai thị sau đây của
Thế Tôn. Xin xem
kinh văn:
Phật cáo Ðịa Tạng Bồ Tát,
nam Diêm Phù Ðề hữu chư
quốc vương, tể phụ đại
thần, đại trưởng giả,
đại Sát Lợi, đại Bà La
Môn đẳng.
Ðức Phật
bảo Bồ Tát Ðịa Tạng
rằng: "Ở cõi Nam Diêm
Phù Ðề, có các Quốc
Vương, hàng Tể Phụ, Ðại
Thần, Ðại Trưởng Giả,
Ðại Sát Lợi, Ðại Bà La
Môn v.v...
Những người
này đều là những người
có địa vị, có tài sản,
có thể bố thí trong xã
hội.
Nhược ngộ tối hạ bần cùng
nãi chí lung tàn âm á,
lung si vô mục như thị
chủng chủng bất hoàn cụ
giả.
Gặp
những kẻ bần cùng thấp
kém nhất, cả đến những
kẻ gù lưng, tàn phế,
ngọng, câm, điếc, ngu
si, không mắt, những
người không được vẹn
toàn như thế;
Ðây là
những đối tượng được bố
thí. Trong Phật
pháp gọi là phước điền
(ruộng phước), phước
điền có ba loại, loại
này là ‘bi điền’, là
những người đáng thương
nhất trong thế gian.
Những người này chẳng tu
phước trong đời trước,
tuy được thân người,
cuộc sống vô cùng khốn
khổ, những người có khả
năng như chúng ta nhìn
thấy những chúng sanh
này phải nên dùng tâm
đại từ bi tận tâm tận
lực để giúp đỡ họ.
Nghiệp nhân quả báo,
Thanh Liên pháp sư cũng
có đề cập sơ lược trong
Chú Giải. Câu cuối
cùng thầy trích dẫn lời
trong kinh
‘Muốn biết nhân đời trước,
những gì đời này thọ
nhận chính là nó.
Muốn biết quả đời sau,
những gì đời này làm
chính là nó.’
(Quý vị coi trong Chú
Giải có ghi ‘quả đời
sau’ không, sửa lại
thành ‘Muốn biết nhân
đời trước, những gì đời
này thọ nhận chính là
nó. Muốn biết quả
đời sau, những gì đời
này làm chính là nó.’
mới đúng. Ở đây có
một chữ sai, phải sửa
lại). Phước
báo cũng giống như bóng,
như tiếng vang, không
thể không biết.
Trồng phước thì được
phước như bóng theo
hình, phải hiểu đạo lý
này. Sau đó là lời
Thế Tôn dạy chúng ta,
phải dùng tâm niệm, thái
độ như thế nào để tu bố
thí.
Thị đại quốc vương đẳng.
Khi các Ðại
Quốc Vương đó
Chữ ‘đẳng’,
phía trước đã nói về tể
tướng, đại thần, trưởng
giả, Sát Lợi, Bà La Môn,
tức là nói về những
người trong xã hội có
địa vị, có của cải, có
khả năng nên tu bố thí.
Trong kinh đức Phật
thường nói có phước báo
thì nên chia sẻ với hết
thảy chúng sanh, phước
báo ấy sẽ lớn, phước báo
đó sẽ vĩnh viễn hưởng
chẳng hết. Nếu
tham lam, keo kiệt chỉ
dành riêng mình hưởng
thọ, cho dù phước báo
của bạn rất lớn, đời này
bạn thọ dụng hết rồi thì
đời sau sẽ chẳng còn
phước nữa. Nếu
chẳng có phước báo thì
họ sẽ đi đâu?
Chúng ta hiểu rất rõ
ràng, rất rành rẽ, nếu
không đi đến ác đạo, ở
cõi người cũng sẽ nghèo
hèn, các căn chẳng đầy
đủ, cũng sẽ phải đọa lạc
vào tầng lớp này.
Do đó chúng ta hiểu đạo
lý này, hiểu chân tướng
sự thật này thì phải nên
tu phước. Người
giàu sang có thể tu
phước, người nghèo hèn
cũng có thể tu phước, vả
lại tương lai được quả
báo cũng sẽ bình đẳng,
chỉ cần tận tâm tận lực
tu phước thì sẽ viên
mãn.
Dục bố thí thời
Lúc muốn
bố thí
Lúc bố thí, nói thật ra
nói bố thí là hết thảy
thời, hết thảy nơi,
không thể gián đoạn,
quan trọng là bạn dùng
tâm gì để giúp đỡ người
ta.
Nhược năng cụ đại từ bi,
hạ tâm hàm tiếu, thân
thủ biến bố thí, hoặc sử
nhân thí, nhuyễn ngôn úy
dụ.
Nếu có thể
đủ lòng đại từ bi, mỉm
cười hạ mình, tự tay bố
thí cùng khắp hoặc sai
bảo người khác bố thí,
lại dùng lời ôn hòa, dịu
dàng an ủi;
Sự
bố thí này thù thắng
nhất, có tâm từ bi thật
sự. ‘Ðại từ bi’ là
tâm bình đẳng, tâm thanh
tịnh, chẳng có phân
biệt, chẳng có chấp
trước, đối với hết thảy
chúng sanh đều có tâm
yêu mến giống nhau, vậy
gọi là đại từ bi.
‘Hạ tâm’ là khiêm hư,
tôn trọng người, chẳng
có tập khí ngạo mạn,
càng không thể có thái
độ ngạo mạn. ‘Mỉm
cười hạ mình, tự tay bố
thí cùng khắp, đích thân
làm việc này’. Nếu
lúc nhân duyên chẳng đầy
đủ, tự mình chẳng có
cách đích thân đến chỗ
đó để bố thí, vậy thì
phải phái người đi, phái
người đi thay mình, phái
người đi cũng phải chỉ
họ tâm niệm và thái độ
khi bố thí, ‘dùng lời
dịu dàng, ôn hòa an ủi’,
dùng sắc mặt hòa nhã,
lời nói trìu mến để an
ủi những người mà mình
bố thí, giúp đỡ.
Họ đều đang sinh sống
trong hoàn cảnh khốn
khổ, mình phải an ủi họ.
Thị quốc vương đẳng, sở
hoạch phước lợi như bố
thí bá Hằng hà sa Phật
công đức chi lợi
Thì các
Quốc Vương đó sẽ được
phước lợi bằng phước lợi
của công đức cúng dường
cho một trăm Hằng hà sa
chư Phật.
Mọi người
đều biết công đức bố thí
cúng dường chư Phật lớn
nhất, mọi người đều
thích cúng dường Phật mà
quên mất những người
nghèo hèn này.
Phía sau nói về những
người bị tàn phế trong
xã hội, phước báo có
được do sự bố thí cho họ
cùng với bố thí [cúng
dường] chư Phật chẳng có
sai khác. Chúng ta
bố thí cho chư Phật Như
Lai là dùng lòng cung
kính, kiền thành đến
cùng cực, phải dùng thái
độ và tâm niệm ấy mà bố
thí cho những người
nghèo hèn này, phước báo
ấy đều giống nhau.
Tại sao vậy? Vì
bạn dùng tâm bình đẳng,
phước bạn được sẽ bình
đẳng, thật sự là cảnh
tùy tâm chuyển. Do
đó nếu chư vị muốn chân
chánh học Phật, muốn
thật sự làm Phật ngay
trong đời này, không
phải là không làm được,
lời đức Phật trong kinh
dạy chúng ta là lời thật
chứ chẳng giả, nhất định
phải coi hết thảy chúng
sanh như cha mẹ quá khứ,
chư Phật vị lai.
Chúng sanh có người giàu
sang, chúng ta biết họ
đời trước có tu phước,
là cha mẹ đời trước của
chúng ta. Chúng
sanh có người nghèo hèn,
chúng ta cũng biết họ
đời trước chẳng có tu
phước, họ cũng là cha mẹ
đời trước của chúng ta.
Chúng ta dùng tâm chân
thành, thanh tịnh, bình
đẳng để hiếu thuận, bố
thí cúng dường là hiếu
dưỡng cha mẹ, là phụng
sự chư Phật. Cho
nên Phật dạy chúng ta,
hết thảy chúng sanh có
quan hệ gì với chúng ta?
Là cha mẹ đời quá khứ,
là chư Phật vị lai.
Nếu chúng ta dùng tâm
này để xem hết thảy mọi
người, hết thảy chúng
sanh thì thời gian bạn
thành Phật sẽ rút ngắn
rất nhanh. Nếu bạn
niệm Phật cầu sanh Cực
Lạc thế giới thì đời này
chắc chắn sẽ vãng sanh.
Nói cách khác bạn niệm
Phật tại sao không thể
vãng sanh thành Phật?
Vì bạn coi thường chúng
sanh, dùng thái độ cống
cao ngã mạn nên bỏ qua
cơ hội tự mình vãng sanh
bất thoái thành Phật
ngay trong đời này.
Không phải là chư Phật,
Bồ Tát không giúp đỡ
bạn, mà là bạn bỏ qua cơ
hội trước mắt, việc này
rất đáng cho chúng ta
phản tỉnh, đáng cho
chúng ta kiểm điểm.
Nếu trên những việc này
thật sự đã giác ngộ,
hiểu rõ rồi, lộ trình Bồ
Tát đạo của chúng ta sẽ
thuận buồm xuôi gió, làm
sao có chướng ngại cho
được!
Bất cứ người nào cũng
vậy, chỉ cần đầy đủ thái
độ này, chẳng phải nói
là coi hết thảy chúng
sanh ‘cũng như’ cha mẹ
đời quá khứ của mình,
chư Phật vị lai, ‘coi
như’ thì tâm địa của bạn
cũng chưa thanh tịnh;
nói một cách khác, bạn
hãy suy nghĩ kỹ đi, bạn
vẫn còn một chút ngạo
mạn chưa dứt. Nhất
định phải hiểu rõ chân
tướng sự thật này, đời
quá khứ của chúng ta,
quá khứ còn có đời quá
khứ trước đó, quá khứ vô
thỉ, vô lượng vô biên
kiếp đến nay có quan hệ
thân thích với chúng
sanh này. Quan hệ
thân thích tại sao lại
không tốt đẹp? Hơn
phân nữa là vì keo kiệt,
tạo ra rất nhiều tội
nghiêp, trong tâm nhìn
thấy những tài sản này
bèn khởi tâm tham, sân,
si, mạn, tạo ra rất
nhiều ác nghiệp, thọ
những quả báo trước mắt
này. Ngày nay
chúng ta may mắn gặp
được Phật pháp, gặp được
Ðại Thừa, đức Phật giảng
giải rõ ràng những chân
tướng sự thật này cho
chúng ta, làm cho chúng
ta giác ngộ. Sau
khi giác ngộ trong tâm
chúng ta có sự thay đổi
rất lớn.
Ngày nay chúng ta đề
xướng xây dựng làng Di
Ðà, hoan nghinh các bạn
đồng tu đến đây cùng tu,
tất cả những người phục
vụ tại làng Di Ðà từ lớn
tới nhỏ đều coi các vị
đồng tu như là cha mẹ,
như bậc trưởng bối, chư
Phật Như Lai, chúng ta
dùng tâm chân thành,
hiếu thuận để cúng dường
đại chúng, phước báo này
cũng giống như lời nói
trong kinh này ‘giống
như công đức lợi ích khi
bố thí Hằng hà sa chư
Phật’, cơ duyên vô cùng
khó được, hy hữu khó
gặp. Ðời này chúng
ta có dịp gặp mặt tại
Tân Gia Ba này là một
điều vô cùng may mắn!
Càng nghĩ thì càng thấy
việc này vô cùng khó
được, càng nghĩ càng cảm
thấy chẳng thể nghĩ bàn.
Thật sự hiểu rõ, thật sự
giác ngộ thì tự nhiên sẽ
dốc hết sức lực để cống
hiến cho sự nghiệp to
lớn này, sự nghiệp to
lớn này chính là cúng
dường cha mẹ, cúng dường
chư Phật. Xin xem
tiếp kinh văn:
Hà dĩ cố
Tại sao vậy?
Thế Tôn
giải thích đạo lý này
cho chúng ta.
Duyên thị quốc vương đẳng,
ư thị tối bần tiện bối
cập bất hoàn cụ giả,
phát đại từ tâm
Bởi các
Quốc Vương đó đã phát
tâm đại từ bi đối với
những kẻ bần cùng thấp
kém nhất cùng những
người khuyết tật kia.
Ðây là một điều kiện
quan trọng nhất, vì
người tu bố thí phát tâm
đại từ bi, tâm đại từ bi
giống với tâm Phật.
Nhà Phật lược nói từ bi
có bốn thứ, người thế
gian chỉ có ‘ái duyên từ
bi’, nếu họ thương mến
bạn thì đối với bạn từ
bi; khi họ không thương
bạn thì sẽ chẳng từ bi
với bạn. Từ bi là
thương mến, quan tâm,
toàn tâm toàn lực giúp
đỡ bạn, một khi họ không
thương bạn thì sẽ không
từ bi. Người thế
gian có trí huệ, có
phước đức to lớn, họ có
‘chúng sanh duyên từ
bi’, họ hiểu được thương
chính mình và cũng
thương người nhà, thương
người nhà thì họ cũng
mến quốc gia, thương dân
tộc, thậm chí thương mến
hết thảy chúng sanh trên
thế giới, tâm lượng
người này sẽ rất lớn.
Người có tâm lượng lớn,
đại đa số trong xã hội
đều thuộc những người ở
tầng lớp lãnh đạo, họ có
tâm thương yêu rộng lớn,
phạm vi họ bố thí cúng
dường phục vụ cũng sẽ
rất lớn.
Lúc đến quả vị Bồ Tát,
Bồ Tát đã giác ngộ, tâm
từ bi của Bồ Tát gọi là
‘pháp duyên từ bi’.
Giống như chúng ta vừa
nói, chúng ta coi hết
thảy chúng sanh như cha
mẹ đời quá khứ của chính
mình, vị lai chư Phật,
chúng ta tu hiếu kính,
tu cúng dường như vậy
thuộc về pháp duyên từ
bi, pháp duyên vẫn còn
có điều kiện. Tâm
đại từ bi của quả địa
Như Lai chẳng có điều
kiện gì cả, tuyệt đối
chẳng có phân biệt,
chẳng chấp trước, hoàn
toàn là tự nhiên, trong
Phật pháp gọi là ‘pháp
nhĩ như thị’ (pháp đương
nhiên là như vậy), như
vậy mới gọi là ‘đại từ
bi’, phước báo ấy mới vô
lượng vô biên, tuyệt
chẳng phải chúng sanh
duyên, pháp duyên có thể
so sánh được.
Người này phát tâm đại
từ bi, giống như Phật.
Ngày nay chúng ta phải
học Phật, phải tu phước
báo to lớn, khi bạn hiểu
đạo lý này, hiểu sự thật
này thì bạn sẽ làm được.
Người có tiền, có của
cải bố thí, họ bố thí
nhiều, còn chúng ta
không có của cải, chẳng
có khả năng, mỗi tháng
tôi chỉ kiếm được hai
ngàn đồng, nếu tôi có
thể bố thí hết hai ngàn
đồng thì công đức của
tôi sẽ viên mãn.
Người ta mỗi tháng kiếm
được mấy chục vạn, mấy
trăm vạn, họ bố thí vài
vạn thì công đức của họ
không viên mãn, tại sao?
Ðó là chỉ một phần nhỏ
trong số mà khả năng của
người đó có thể bố thí.
Phước báo tôi nhỏ nhưng
tôi đã đem hết toàn bộ
để bố thí, tính tỷ lệ
thì sự cúng dường của
tôi là một trăm phần
trăm, tâm cũng một trăm
phần trăm, trên ‘sự’
cũng là một trăm phần
trăm, quả báo có được
cũng là một trăm phần
trăm, như vậy thì Phật
pháp mới gọi là pháp
bình đẳng.
Tuyệt đối chẳng phải
người có thế lực, có của
cải mới có thể tu bố
thí, còn người nghèo hèn
thì không thể bố thí,
nếu vậy thì người nghèo
sẽ mãi mãi nghèo hoài
sao? Giàu sang
cũng không phải đời đời
kiếp kiếp đều giàu sang?
Lẽ nào như vậy! Do
đó chúng ta mới thực sự
hiểu được lời của đức
Phật dạy, thường thường
thì người nghèo hèn đời
sau sẽ giàu xụ, đời này
người giàu sang đến đời
sau đều giàu bớt đi, đều
giảm xuống, tại sao?
Lúc hưởng giàu sang, rất
khó bố thí đến mức viên
mãn, đạo lý là như vậy,
do đó mới gọi là thiên
đạo công bình, người
nghèo hèn có thể tu đại
phước báo.
Trong kinh đức Phật cũng
đã từng nêu thí dụ cho
chúng ta biết, hình như
ở đây không có kể câu
chuyện này, trong kinh
Tiểu Thừa có nói.
Có một người đi ăn xin,
đây là một người nghèo
hèn đến cùng cực, người
ta cho bà một xu, đây là
số tiền rất ít.
Người ăn xin này gặp lúc
đức Phật đang đi trì
bát, nghĩ đến thân thế
vô cùng thê thảm, đời
quá khứ không có tu
phước báo, khi nhìn thấy
đức Phật đang trì bát
bèn cung kính đem một
đồng xu này cúng dường
đức Phật. Người ăn
xin này là một người đàn
bà, bảy ngày sau bà chết
mất, vì đã trồng phước
này nên đời sau bà sanh
vào một nhà trưởng giả
giàu sang để hưởng
phước, sau khi trưởng
thành bà làm hoàng hậu.
Ðem một xu cúng dường
đức Phật được phước báo
lớn như vậy, đây là điều
mà phần đông người ta
rất khó tin nổi.
Tại sao lại được phước
báo lớn như vậy?
Tâm bà phát là tâm đại
từ bi, tâm chân thành
cung kính, phước là do
chỗ này mà sanh ra;
chẳng phải từ một đồng
xu, một xu đáng giá bao
nhiêu? [Phước báo
có được] là do nơi tâm
bà.
Quốc vương
có của cải nhiều, bố thí
cho nhân dân, nuôi nấng
dân chúng, dạy dỗ dân
chúng, nếu không dùng
tâm đại từ bi, khiêm
nhường hạ mình thì phước
báo của vua sẽ không
hoàn toàn. Ðời này
làm vua, đời sau sẽ làm
đại thần, đời sau nữa
chức quan sẽ càng ngày
càng nhỏ, sẽ càng đi
xuống. Tuy trên
mặt của cải bố thí được
nhiều, nhưng tâm chẳng
thanh tịnh, chẳng từ bi.
Cho nên từ mức đại từ bi
giảm xuống thành pháp
duyên từ bi, chúng sanh
duyên từ bi, ái duyên từ
bi, đó là từng đời không
bằng đời trước.
Ðức Phật trong kinh nói
đạo lý này với chúng ta
rất nhiều, nói rất rõ
ràng, chúng ta phải hiểu
kỹ lưỡng, phải ghi nhớ
trong mọi lúc, mọi chỗ,
khi xử sự, đãi người,
tiếp vật, phải nhớ lời
đức Phật dạy chúng ta
đều là thật, nên phải
dùng tâm khiêm hạ, cung
kính đối xử với hết thảy
người, dốc hết sức giúp
đỡ mọi người. Giúp
mọi người chính là giúp
cha mẹ mình, giúp đỡ chư
Phật Như Lai, vậy thì
bạn coi tâm này của
chúng ta sẽ vui vẻ, sung
sướng bao nhiêu!
Quả báo và phước lợi lớn
nhỏ hoàn toàn dựa trên
sự dụng tâm của bạn,
chẳng dựa trên vật bạn
bố thí nhiều hay ít, mà
dựa trên tâm của bạn.
Sau đó là nói đến quả
báo.
Thị cố
phước lợi.
Cho
nên được phước lợi
Phước mà họ
có được, lợi ích họ đạt
được.
Hữu như
thử báo.
Quả
báo như thế
Đây là như
thí dụ ở phía trước, quả
báo của kẻ ấy được bằng
với bố thí Hằng hà sa số
chư Phật Như Lai.
Do đó có thể biết, chúng
ta muốn bố thí một trăm
Hằng hà sa số chư Phật
Như Lai, làm sao có được
cơ hội như vậy, bạn làm
sao có thể tu nổi phước
báo này? Nhưng có
phước báo giống như vậy,
khi bạn có thể khởi tâm
đại từ bi, như Phật đã
nói, đích thật là cha mẹ
quá khứ, chư Phật vị
lai, bạn dùng tâm chân
thành cung kính này để
bố thí cúng dường những
người nghèo hèn, hạ tiện
thì bạn sẽ được phước,
đây là bố thí bằng với
bố thí Hằng hà sa số chư
Phật Như Lai. Cát
sông Hằng rất mịn, giống
như bột mì vậy, sông
Hằng còn dài hơn Trường
Giang ở Trung Quốc, bạn
nghĩ coi trong đó có bao
nhiêu cát? Khi đức
Phật nói tới con số lớn
thông thường đều dùng
Hằng hà sa để thí dụ,
cát trong một sông Hằng
đã rất nhiều thì số cát
trong một trăm sông Hằng
chẳng có cách nào nói
hết. Phía trước
trong câu chuyện đức
Phật có kể một bà cụ
nghèo dùng tâm chân
thành cung kính cúng
dường một đồng xu cho
Phật, đời sau có quả báo
được làm hoàng hậu.
Bạn có thể cúng dường bố
thí một trăm Hằng hà sa
số chư Phật Như Lai thì
quả báo đó bao lớn?
Chẳng có cách chi diễn
tả được. Đức Phật
nói những lời này, thật
ra chẳng phải là thiện
xảo phương tiện để dạy
chúng ta chăm sóc người
nghèo hèn, người già
nghèo khổ, đức Phật
chẳng có ý như vậy.
Lời Phật nói đều chân
thật, chẳng có mảy may
giả dối, sự thật là như
vậy. Phàm phu
chúng ta mê mất tự tánh,
chẳng thấy được chân
tướng của vũ trụ nhân
sanh, cho nên ở khắp nơi
xung quanh chúng ta đều
là phước điền, chúng ta
không biết trồng phước
mà còn tạo tội nghiệp,
đúng như lời Phật thường
nói trong kinh ‘[chúng
ta là] những người đáng
thương xót’, phước điền
ở xung quanh nhưng bạn
không biết trồng phước,
còn tạo nghiệp, bạn coi
đáng thương biết bao!
Bồ Tát hạnh
là như thế nào?
Người nào biết tu phước
đều là Bồ Tát, người
biết bố thí, cúng dường
đều là Bồ Tát.
Trong đời sống chúng ta
bố thí, cúng dường,
trong công việc làm của
chúng ta cũng bố thí
cúng dường, bất luận bạn
làm ngành nghề gì, ngành
của tôi, việc làm của
tôi phục vụ cho xã hội
đại chúng, là phục vụ
cho chúng sanh, chỉ cần
bạn có một tâm niệm,
thái độ như vậy thì là
bố thí cúng dường.
[Tôi làm] nghề này là vì
giúp cho tôi kiếm tiền,
giúp cho gia đình tôi,
vì con cháu của tôi,
[nếu nghĩ vậy thì] bạn
đã bỏ sót, uổng phí
phước điền này rồi.
Bạn hãy xem, cùng làm
một công việc chỉ có một
ý niệm sai khác, khởi
một niệm riêng tư thì là
phàm phu tạo nghiệp,
khởi một niệm vì chúng
sanh, vì xã hội thì đó
là Bồ Tát, là Phật, chỉ
sai khác trong vòng một
niệm. Đổi ý niệm
này trở lại thì siêu
phàm nhập thánh, phước
lợi của bạn đạt được sẽ
vô lượng vô biên, giống
như quả vị của chư Phật
Như Lai. Trong
kinh Hoa Nghiêm chúng ta
thấy Tỳ Lô Xá Na Phật,
trong kinh Vô Lượng Thọ
chúng ta thấy A Di Đà
Phật, những phước lợi mà
các ngài có được thì
chúng ta cũng có được,
các ngài biết tu, nếu
chúng ta biết những chân
tướng sự thật này thì
chúng ta cũng biết tu,
phước lợi cũng sẽ bằng
với chư Phật Như Lai.
Bá thiên
sanh trung thường đắc
thất bảo cụ túc, hà
huống y thực thọ dụng.
Trong
trăm ngàn đời thường
được đầy đủ những đồ
thất bảo, huống là những
thứ thọ dụng như y phục,
đồ ăn thức uống.
Phước báo
này không phải là một
đời, một chỗ, đời đời
kiếp kiếp vĩnh viễn
hưởng không hết, chỉ coi
ý niệm của bạn có thể
chuyển đổi trở lại hay
không. Người có
phước báo, trí huệ đã mở
mang, đúng như câu nói
‘phước tới thì tâm
linh’, phước báo hiện ra
thì tâm tư cũng linh
mẫn, trí huệ sẽ hiện ra,
Phật dạy chúng ta phước
huệ song tu. Nói
thật ra ‘huệ’ chính là
giác ngộ, chính là hiểu
rõ, một khi hiểu rồi,
hiểu rõ chân tướng sự
thật thì trí huệ sẽ mở
mang. Biết vì hết
thảy chúng sanh là đúng
đắn, là việc nên làm, vì
chính mình là sai lầm,
là việc không nên làm,
[hiểu vậy] là trí huệ
của bạn đã mở mang.
Từ đây về sau khi khởi
tâm động niệm, niệm niệm
đều vì chúng sanh, vì xã
hội, vì nhân dân, chẳng
còn một tơ hào tâm riêng
tư, đó là trí huệ của
bạn đã mở mang.
Trong đời sống hằng
ngày, từ sáng đến tối,
từ mồng một tết tới ba
mươi tháng Chạp, chẳng
có gì là chẳng cống
hiến, chẳng có gì là
chẳng bố thí cúng dường,
phước báo này của bạn
bao lớn. Các vị
hãy tự xem chú giải của
Thanh Liên pháp sư, ngài
chú giải rất hay, đều
trích dẫn từ kinh điển.
Xin xem tiếp kinh văn:
Phục thứ
Địa Tạng, nhược vị lai
thế hữu chư quốc vương,
chí Bà La Môn đẳng.
Lại
nữa, này Ðịa Tạng! Trong
đời vị lai, nếu có các
Quốc Vương cho đến hàng
Bà La Môn v.v...
Đây là nói
về các người có thể bố
thí.
Ngộ Phật
tháp tự, hoặc Phật hình
tượng, nãi chí Bồ Tát,
Thanh Văn, Bích Chi Phật
tượng cung tự doanh
biện, cúng dường bố thí.
Gặp
chùa tháp thờ Phật, hoặc
hình tượng Phật, cho đến
tượng Bồ Tát, Thanh Văn
hoặc Bích Chi Phật, bèn
đích thân thu xếp sửa
sang, cúng dường, bố
thí.
Phần trước
nói về bố thí những
người bần khổ, đây là
‘Bi Điền’. Đoạn
thứ hai nói về bố thí
tháp tự, thánh tượng,
đây là ‘Kính Điền’.
Trước hết nói về người
có thể bố thí, thí dụ
nói thật ra việc tu
phước này là ai nấy đều
có thể làm, chỉ cần có
tâm chân thành, cung
kính để tu bố thí, quả
báo cũng sẽ giống như
trong kinh đã nói.
Ở đây chúng ta nhất định
phải hiểu chân tướng sự
thật, ngày nay chúng ta
xây tháp, xây chùa, đúc
hình tượng Phật, tương
lai được quả báo sẽ
giống như lời nói trong
kinh hay không?
Đương nhiên sẽ giống,
nhưng duyên bố thí phải
đầy đủ thì mới giống,
nếu duyên chẳng đầy đủ
thì bạn sẽ không được
phước báo nói trong
kinh. Phần trước
nói phước báo lớn như
vậy là dùng tâm từ bi
của Phật mà làm, việc
này dễ làm được.
Ngày nay bố thí tháp tự
của Phật, bố thí đạo
tràng của Phật, trước
tiên bạn phải quan sát
chỗ đó thật sự có ‘đạo’
hay không? Xây đạo
tràng, tôi đã từng nói
với các bạn đồng tu, từ
xưa đến nay không phải
nói xây đạo tràng [xong
rồi] đi khắp nơi tìm
người tu hành, không
phải vậy. Đó là
phan duyên chẳng được
phước. Phải tu như
thế nào? Nhìn thấy
có người thật sự tu đạo
thì bạn xây đạo tràng
cho họ, phước báo như
vậy mới lớn. Dùng
khả năng của bạn để giúp
họ, thành tựu cho họ, đó
là phước báo chân thật.
Ngày nay
chúng ta đích thật thấy
có một số đạo tràng
không đúng như pháp, hầu
như nơi đâu cũng có đạo
tràng không đúng pháp,
đạo tràng được xây cho
thật huy hoàng, tráng
lệ, nhưng trong đó không
làm việc đạo, chỉ có vài
người ở trong đó hưởng
phước, ở trong đó tạo
nghiệp, vậy thì chúng ta
bố thí cúng dường là
giúp cho họ tạo nghiệp,
bạn còn có phước hay
sao? Họ tạo nghiệp
là do bạn giúp họ, khi
họ đọa lạc thì bạn cũng
phải liên lụy. Đến
lúc đó bạn lại hủy báng
Tam Bảo, [bạn nói]
“Trong kinh Địa Tạng nói
rõ ràng rằng bố thí tháp
tự, đúc hình tượng được
phước nhưng tôi [làm
xong lại] bị ác báo, lời
Phật nói không linh”, do
đó bạn báng Phật, báng
Pháp, báng Tăng, tạo tội
nghiệp nặng thêm, [đến
nỗi] đọa địa ngục A Tỳ.
Phật chẳng nói sai, mà
vì bạn hiểu sai ý nghĩa,
đây là việc chúng ta
nhất định phải hiểu rõ
ràng. Phần trước
nói về bố thí cho người
nghèo hèn chẳng có vấn
đề, phần này nói về bố
thí tháp tự có vấn đề,
phải [bố thí cho nơi]
thật sự có người tu đạo
[thì mới không có vấn
đề]. Làm thế nào
để bố thí cúng dường
đúng như lý như pháp?
[Thí dụ] ở chỗ này có
hai ba người tu hành,
xây cho họ một túp lều
tranh nhỏ là được rồi,
người ít không cần phải
có chỗ rộng lớn; nói một
cách khác, đạo tràng lớn
hay nhỏ, hình thức phải
thích hợp với sự làm
việc đạo của họ, như vậy
là đúng như pháp.
Nếu vượt trội hơn, [thí
dụ] nơi đó chỉ có vài
người tu hành lại đi xây
một đạo tràng rất lớn,
vậy thì sẽ có lỗi.
Tại sao? Đạo tràng
lớn như vậy nếu trong đó
chỉ có năm, sáu người ở,
thời gian quét dọn mỗi
ngày còn không đủ, không
phải là bạn làm cho
người ta mệt tới chết
hay sao, họ có thời gian
ở đâu nữa mà tu hành?
Chúng tôi đã thấy đạo
tràng rất lớn, rất trang
nghiêm, khi hỏi ở đó có
bao nhiêu vị? Họ
nói có năm, sáu người.
Làm sao có thể quét dọn?
Có nhiều gian nhà phải
đóng kín lại, vì chẳng
có thời gian quét dọn,
một năm chỉ mở mấy lần
để làm pháp sự, tìm vài
tín đồ giúp đỡ dọn dẹp,
lúc thường ngày thì
chẳng dùng tới.
Như vậy thì không đúng
như pháp.
Cho nên
trong thời đại, giai
đoạn hiện nay, việc tu
phước nào trong nhà Phật
quan trọng? Huấn
luyện, đào tạo nhân tài
hoằng pháp. Trước
kia có thể bố thí tháp
tự, cúng dường tượng
Phật có đại phước báo,
vì xã hội đại chúng đều
có nhận thức về Phật
pháp, đều hiểu rõ, đều
có tâm cung kính, vậy
thì phước báo mới lớn.
Tu phước trong nhà Phật,
chúng ta phải nhận thức
rõ ràng, thời xưa Phật
pháp có thể tuyên dương,
mở rộng phổ biến vì xã
hội đại chúng đều có
nhận thức về Phật pháp,
đều biết tôn kính, sự
cung kính này vượt trội
hơn phần đông những
người trong thế gian.
Nói thật ra tín đồ cung
kính Phật, Bồ Tát còn
hơn cha mẹ, hơn những
người tôn trưởng, nguyên
nhân là do vua chúa thời
xưa đề xướng, vua hết
lòng học tập, Phật, Bồ
Tát là thầy của vua,
người dân tôn kính nhà
vua thì đương nhiên phải
tôn kính thầy của vua,
có thể có tâm cung kính
này thì được phước.
Thay đổi tâm tôn kính
Phật, Bồ Tát thành cung
kính xã hội đại chúng,
tôn kính hết thảy chúng
sanh, đó là học theo
Phật, Bồ Tát, do đó
phước báo của sự tu
phước này mới lớn.
Hiện nay Phật pháp đã
suy thoái, đặc biệt là
hai trăm năm gần đây,
nền giáo dục Phật Đà đã
biến thành tôn giáo, xã
hội đại chúng coi Phật
pháp là mê tín, nhìn
thấy chùa miếu đều là mê
cung, thấy hình tượng
Phật, Bồ Tát là ngẫu
tượng. Nói một
cách khác chẳng có tâm
cung kính gì hết, không
những chẳng có tâm cung
kính, còn giúp họ tạo
nghiệp. Đo đó có
thể biết, ngày nay xây
tháp tự, tạo tượng Phật,
xã hội đại chúng cho
rằng bạn đề xướng mê
tín, thì làm sao tu
phước được? Xã hội
đại chúng phải hiểu Phật
pháp là gì, phải hiểu rõ
Phật pháp đích thật có
ích lợi cho chúng ta,
lúc đó khi bạn cúng
dường tháp tự, đúc tượng
Phật thì mới có công
đức. Làm việc này
bạn có thể có phước hay
không thì phải coi phản
ứng của xã hội đại
chúng, coi nhận thức của
xã hội đại chúng, mọi
người nghĩ thử coi có lý
hay không? Do đó
muốn thật sự tu phước
thì phải lay tỉnh xã hội
đại chúng.
Tháp là nơi
giữ xá lợi của đức Phật.
Đây là kỷ niệm, niệm
niệm đều chẳng quên ân
đức của Phật, [tháp] dạy
cho người ta tri ân báo
ân, là có ý nghĩa như
vậy. Xây chùa
(Tự), chùa là gì?
Phía trước đã nói với
quý vị, ‘Tự’ là cơ cấu
làm việc. Làm việc
gì? Làm việc giáo
dục Phật Đà, việc dạy
học của Phật. Nếu
chỗ này không làm việc
giáo dục Phật Đà, chẳng
làm việc dạy học của
Phật thì không thể gọi
là ‘Tự’. Đúc tạo
hình tượng của Phật, Bồ
Tát có hai ý nghĩa: thứ
nhất là quay về
cội nguồn báo ân (phản
bổn báo thỉ), hai là
nhìn thấy thánh hiền
mong sao cho bằng (kiến
hiền tư tề). Nhìn
thấy tượng Phật, Bồ Tát,
thấy Quán Âm Bồ Tát thì
lập tức phải nghĩ mình
phải khởi tâm đại từ đại
bi đối với hết thảy
chúng sanh, mình phải
học Quán Âm, phải học
theo Quán Âm Bồ Tát.
Khi người ta nhìn thấy
tượng Quán Âm Bồ Tát có
thể sanh lên ý niệm này
hay không? Nếu có
thể sanh lên ý niệm này
thì phước báo bạn tạo
tượng sẽ rất lớn, nếu
không thể khởi lên ý
niệm này thì phước bạn
tạo sẽ rất nhỏ.
Nhìn thấy
hình tượng Địa Tạng Bồ
Tát lập tức nghĩ mình
phải hiếu thuận cha mẹ,
phụng sự sư trưởng, liền
nghĩ đến lời dạy trong
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện, dùng hình tượng
này nhắc nhở chúng ta.
Nếu không hiểu được ý
nghĩa này, khi nhìn thấy
‘thần tượng’ của Địa
Tạng Bồ Tát, đi đến đó
thắp nhang, đi bố thí,
cúng dường, cầu Phật, Bồ
Tát gia bị, che chở
thăng quan, phát tài,
vậy là sai rồi, đó là mê
tín! Hoàn toàn sai
lầm. Vậy thì bạn
làm sao được phước nổi?
Do đó có thể biết, tu
phước trong nhà Phật
nhất định phải hiểu rõ
Phật pháp, thật sự thấu
hiểu. Ai giải
thích cho xã hội đại
chúng? Phải có một
số đại đức xuất gia, tại
gia thật sự hiểu rõ, đi
giảng kinh thuyết pháp
trong xã hội đem những
đạo lý, chân tướng sự
thật này giảng rõ ràng,
rành rẽ để cho xã hội
đại chúng không đến nổi
hiểu lầm, hiểu sai, sau
đó bạn bố thí cúng dường
mới có phước. Đây
là việc mà chúng ta hiện
nay nhất định phải nói
rõ ràng, giảng rành rẽ,
không thể hiểu lầm.
Trong Phật pháp tuyệt
đối chẳng có mê tín,
nhưng những hình tượng
hiện nay đích thật có
quá nhiều mê tín.
Do đó có
thể biết, người thật sự
giác ngộ, hiểu rõ thì sự
suy nghĩ, cách nhìn của
họ sẽ khác với người
khác, những gì họ làm
đối với xã hội, đối với
nhân dân, đối với đại
chúng tuyệt đối có lợi
ích chân thật.
Phật pháp là giáo dục,
Phật pháp là sự dạy học,
dạy người ta dứt ác tu
thiện, dạy người ta phá
mê khai ngộ, kết quả của
sự dạy học trong Phật
pháp là giúp cho người
ta lìa khổ, hưởng vui,
đây là sự giáo dục tốt
nhất trong thế gian.
Sau khi Phật pháp truyền
đến Trung Quốc, kết hợp
thành một thể với truyền
thống sẵn có của Trung
Quốc, biến thành văn hóa
Trung Quốc, ngày nay
chúng ta nói Đại Thừa
Phật pháp chẳng còn là
của Ấn Độ, đã dung hợp,
hợp nhất với văn hóa
truyền thống của Trung
Quốc, chẳng thể tách rời
nữa, cũng giống như sữa
hòa với nước. Ngày
nay trên khắp thế giới,
khi nói tới Phật pháp là
nói tới Phật pháp Trung
Quốc, chẳng phải là Phật
pháp Ấn Độ, Phật pháp Ấn
Độ đã mất từ lâu rồi,
Phật pháp hoàn toàn dời
đến Trung Quốc.
Hậu nhân
của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni, vào thế kỷ thứ
mười lúc Hồi Giáo chinh
phục Ấn Độ, bộ tộc này
đã tỵ nạn sang Tây Tạng,
sau đó định cư ở Hậu
Tạng, chẳng trở về Ấn Độ
nữa. Vào thế kỷ
thứ mười một họ lại di
dân đến Trung Quốc, đã ở
Trung Quốc hết một ngàn
năm, một ngàn năm sau
thì đương nhiên trở
thành người Trung Quốc,
làm sao có thể nói là
người Ấn Độ nữa?
Ngày nay chúng ta ở nước
ngoài hết mười, hai mươi
năm, người ngoại quốc đã
thừa nhận chúng ta là
công dân của họ, bộ tộc
Thích Ca đã ở Trung Quốc
hết một ngàn năm, chúng
ta vẫn không coi họ là
người Trung Quốc hay
sao? Do đó toàn bộ
đã di dân đến Trung
Quốc. Ngày nay nói
đến Phật pháp thì phải
nói đến Phật pháp ở
Trung Quốc, Đại Thừa ở
Trung Quốc, hiện nay
Phật pháp ở Ấn Độ mới
được phục hưng dần dần,
là từ Trung Quốc truyền
trở lại. Tương lai
người Ấn Độ học Phật
pháp là học Phật pháp từ
Trung Quốc, chúng ta
phải hiểu sự thật này.
Đại Thừa
Phật pháp có thể cứu vãn
thế giới, có thể giúp
cho nhân loại thế kỷ 21
được hạnh phúc, hòa
bình, phồn vinh, hưng
vượng. Do đó chúng
ta phải mở rộng tâm
lượng, chăm sóc cho mình
và cũng phải chăm sóc
cho kẻ khác, mình và
người không hai, thì mới
đạt được cả thế giới hòa
bình ổn định vĩnh viễn.
Nếu chúng ta có tâm
riêng tư, có cái nhìn
sai lạc thì sẽ không có
cách chi làm nổi.
Thật sự làm được thương
người như thương mình,
thương thế giới này
giống như nhà mình vậy
thì mới đạt được thế
giới hòa bình, phồn
vinh, hưng vượng.
Xin xem tiếp đoạn kinh
sau đây:
Thị quốc
vương đẳng đương đắc tam
kiếp vi Đế Thích thân,
thọ thắng diệu lạc.
Thì
các Quốc Vương đó sẽ
được trong ba kiếp làm
thân Ðế Thích, thọ hưởng
sự vui sướng thù thắng,
vi diệu.
Đây là nói
về phước báo có được từ
sự bố thí. Ba kiếp
là ba tiểu kiếp, cũng
rất khó được, phước báo
này đã rất lớn rồi!
‘Ba kiếp đều làm Đế
Thích’, người Trung Quốc
gọi là Ngọc Hoàng đại
đế, ngài đến cung trời
Đao Lợi làm thiên vương.
Cho nên có rất nhiều
người đọc đoạn kinh này
xong rồi u mê, đi khắp
nơi xây tháp, xây chùa,
đúc tượng Phật, cầu mong
đời sau có thể sanh làm
vua ở cõi trời Đao Lợi,
có thể làm được không?
Vậy thì phải đánh rất
nhiều dấu hỏi. Mọi
người hãy suy nghĩ kỹ về
đoạn tôi vừa nói, ngày
nay trong nhà Phật tu
phước, đề xướng giáo dục
Phật Đà, đây mới thật sự
là tu phước, thật sự có
những người nhiệt tâm
làm công tác này, chúng
ta giúp họ xây dựng đạo
tràng, hoằng dương Phật
pháp. Chúng ta
phải nhận rõ từ bản thân
đức Phật Thích Ca Mâu Ni
và các đệ tử của ngài,
kể cả những đệ tử xuất
gia, tại gia chúng ta
ngày nay. Đặc biệt
là người xuất gia, họ
đích thật là thân phận
gì, chúng ta phải xác
định vị trí, khẳng định
[vai trò] cho họ, họ là
người làm công tác giáo
dục xã hội, đây là thân
phận của họ, việc họ làm
là giáo dục xã hội.
Vả lại việc họ làm đều
là giáo dục thiện
nguyện, giảng kinh
thuyết pháp tức là dạy
học, phần đông người dạy
trong trường học còn
tính giờ, lãnh tiền
lương. Còn những
người Phật tử xuất gia,
giảng kinh thuyết pháp
cho đại chúng chẳng có
lương bổng, chẳng có
tính tiền từng giờ,
chẳng mong cầu gì cả,
cho nên đây là việc giáo
dục xã hội thiện nguyện.
Nếu chúng ta dùng nhãn
quan này để xem xét thì
bạn sẽ thật sự khởi tâm
cung kính đối với những
người làm công tác giáo
dục xã hội này, tại sao
vậy? Người khác
làm không nổi, nói theo
cách thông thường thì họ
thật sự hy sinh, cống
hiến. Lúc đi học
rất cực khổ, sau khi học
xong phục vụ cho xã hội
cũng rất cực khổ, cả đời
vĩnh viễn sống cuộc đời
cực khổ, làm gương mẫu
cho đại chúng trong xã
hội, giúp cho mọi người
giác ngộ.
Đương nhiên
trong Phật môn cũng có
rồng rắn lẫn lộn, có
người xuất gia thật sự
phát tâm, làm học trò
tốt của đức Phật.
Cũng có những người mượn
chiêu bài của Phật để
làm chuyện gian dối,
lường gạt tín đồ, tham
hưởng cúng dường.
Có những người này chứ
không phải là không có.
Người tu phước chúng ta
phải có huệ nhãn, phải
nhìn rõ ràng, nếu gặp
những người tham hưởng
cúng dường, lường gạt
chúng sanh, những người
xuất gia không xứng đáng
này, chúng ta cũng không
cần phải trách mắng,
chúng ta chỉ không cúng
dường họ, không giúp họ
tạo nghiệp, vậy là được
rồi. Hy vọng họ có
thể quay đầu, con người
làm sao không có lỗi lầm
cho được, người xưa
thường nói
“Con người chẳng phải
là thánh hiền, ai chẳng
có lỗi lầm, có lỗi mà có
thể sửa lỗi chẳng có
việc thiện nào lớn hơn”.
Cho nên chúng ta cúng
dường họ, phải khuyên
họ, nhắc họ, hy vọng họ
sớm quay đầu. Khi
họ quay về, có thể tu
phước, có thể dùng thân
thể trí huệ của mình,
thật sự làm công tác
giáo dục xã hội thiện
nguyện, đây là việc bố
thí to lớn, dùng hết
thân tâm để cống hiến
cho xã hội, cống hiến
cho nhân dân, cống hiến
cho chúng sanh.
Ở Bắc Kinh
tôi nhìn thấy chiêu bài
rất lớn, hàng trên là
câu ‘Phục vụ cho nhân
dân’, Phật giáo thật sự
phục vụ cho nhân dân,
phục vụ cho hết thảy
chúng sanh, tuyệt đối
chẳng có tâm riêng tư,
tuyệt chẳng có mảy may
muốn được đền đáp, đó
gọi là Phật, Bồ Tát.
Nếu trong lúc phục vụ
vẫn còn tâm muốn chiếm
hữu, tham muốn hưởng thụ
thì đó là phàm phu chứ
chẳng phải là Phật, Bồ
Tát. Hy vọng người
học Phật chúng ta phải
thấu hiểu nghĩa thú
trong kinh Phật, trong
kinh thường nói ‘thâm
giải nghĩa thú’, bạn
hiểu cạn cợt không được,
phải hiểu cho sâu.
Quả báo nói trong kinh,
đức Phật đích thật chẳng
giả dối tí nào, quả báo
có được nói bạn làm
thiên vương ba kiếp, lại
dùng thân thiên vương để
tiếp tục tu bố thí, nhà
Phật gọi là ‘xả đắc’,
quả báo bạn có được cũng
xả luôn. Xả cách
nào? Chia sẻ phước
báo với chúng sanh,
chẳng hưởng riêng một
mình, hưởng chung với
đại chúng thì phước báo
đó đời đời kiếp kiếp
vĩnh viễn chẳng hưởng
hết. Xin xem đoạn
kinh kế tiếp:
Nhược
năng dĩ thử bố thí phước
lợi, hồi hướng pháp giới
thị đại quốc vương đẳng
ư thập kiếp trung thường
vi Đại Phạm thiên vương.
Nếu
có thể đem phước lợi bố
thí này hồi hướng cho
Pháp Giới, thì các Ðại
Quốc Vương đó, trong
mười kiếp thường được
làm vị Ðại Phạm Thiên
Vương.
Việc bố thí
cũng giống vậy, chẳng
tăng thêm, bố thí bao
nhiêu đó nhưng tâm không
giống nhau thì phước báo
sẽ khác nhau, phước của
sự bố thí tùy tâm lượng
mà thay đổi. Nếu
có thể chính mình không
hưởng những phước báo có
được do sự bố thí, chịu
đem phước báo của sự bố
thí, phước báo của sự tu
hành cho hết thảy chúng
sanh trong tận hư không,
trọn khắp pháp giới
hưởng thọ, tự mình hoàn
toàn xả bỏ, vậy thì có
phải phước báo của bạn
hoàn toàn mất hết hay
chăng? Chẳng phải
vậy, trái lại phước báo
còn lớn hơn nữa!
Phía trước nói đến ba
tiểu kiếp, đoạn này nói
mười đại kiếp.
‘Thường vi Đại Phạm
thiên vương’, làm sao có
thể bỏ hết phước báo của
bạn? Không xả hết
được, càng xả thì càng
nhiều, càng bố thí thì
phước báo càng lớn.
Phải thật sự hiểu đạo lý
này, thật sự hiểu chân
tướng sự thật này thì họ
mới chịu làm, vui vẻ
làm, tuyệt đối không hà
tiện, dốc hết tâm lực mà
làm, chẳng lưu giữ mảy
may. Họ hiểu được
đạo lý, hiểu rõ chân
tướng sự thật, biết cách
làm này mới đúng, phải
nên làm. Đoạn này
Thanh Liên pháp sư chú
giải rất nhiều, rất cặn
kẽ, nói rõ tại sao phải
hồi hướng, chư vị có thể
coi và hiểu, chúng tôi
không nói nhiều nữa.
Xem tiếp kinh văn:
Phục thứ
Địa Tạng, nhược vị lai
thế hữu chư quốc vương
chí Bà La Môn đẳng.
Lại
nữa, này Ðịa Tạng! Trong
đời vị lai, nếu có các
Quốc Vương cho đến hàng
Bà La Môn v.v...
Câu này là
nói về những người có
thể bố thí. Chữ
‘đẳng’ bao gồm mọi người
chúng ta.
Ngộ tiên
Phật tháp miếu hoặc chí
kinh tượng huỷ hoại phá
lạc nãi năng phát tâm tu
bổ.
Gặp
tháp miếu của chư Phật
thuở trước, hoặc cả kinh
điển, hình tượng bị hủy
hoại, rách nát, liền có
thể phát tâm tu bổ lại.
Đoạn này
dạy chúng ta tu bổ chùa
miếu, tháp tượng cũ,
công đức vượt trội hơn
xây mới. Đạo lý
này là như thế nào?
Lý vô cùng sâu rộng,
chúng ta dùng cách nói
hiện nay thì đạo tràng
cũ có nguồn gốc lịch sử,
có bối cảnh văn hóa.
Trong đó có ba ý nghĩa,
thứ nhất ‘tiêu biểu
người thù thắng’, quá
khứ có rất nhiều người
tu hành chứng quả ở nơi
đó, chúng ta bước vô đạo
tràng này, thật sự sẽ tự
nhiên khởi lên ý niệm
“nhớ đến thánh hiền thì
nghĩ mình phải học theo
quý ngài”, khởi lên tâm
niệm này, sức mạnh này
rất lớn. Giống như
ngày nay chúng ta đến
chùa Đông Lâm ở Lô Sơn,
lập tức liền nghĩ đến
năm xưa đại sư Huệ Viễn
ở đó niệm Phật, thành
tựu ở đó thì tâm tôn
kính, tâm bắt chước học
theo lập tức khởi lên.
Đạo tràng mới xây dựng
không có sức mạnh này,
do đó công đức tu bổ đạo
tràng cũ vượt hơn đạo
tràng mới. Thứ nhì
‘làm cho người ta tin
tưởng’, đạo tràng này có
nguồn gốc xa xưa, nhiều
đời tiếp nối truyền mãi
không ngừng, vì người ta
đến thăm viếng đạo tràng
mới xây dựng, không khởi
lên lòng tin vững chắc
bằng khi tới những đạo
tràng cũ. Thứ ba
là ‘vì muốn báo ân’, báo
đáp ân đức của tổ sư đại
đức, phải duy trì bảo vệ
đạo tràng của tổ sư, đại
đức. Ngày nay
chúng ta đến đạo tràng ở
núi Linh Nham, Tô Châu
sẽ nhớ đến đức hạnh của
Ấn Quang đại sư, đây là
đạo lý nhất định.
Các đệ tử hải ngoại, chỉ
cần có cơ duyên liền ra
sức, ra tiền khôi phục
lại đạo tràng của tổ sư,
hầu báo đáp ân đức của
tổ sư. Đây là lý
do tu bổ đạo tràng cũ có
công đức hơn xây dựng
đạo tràng mới.
‘Ngộ tiên
Phật tháp miếu’ [nghĩa
là] đạo tràng của tổ sư.
‘Hoặc chí kinh tượng’,
kinh thư, kinh sách cũ
có giá trị cao.
Kinh sách cũ đã được
truyền qua bao nhiêu
đời, bạn hãy nghĩ đời
trước có bao nhiêu người
đã đọc qua, ngày nay
truyền đến tay chúng ta,
đọc xong chúng ta còn
phải truyền đến đời sau,
niềm ân tình chứa đựng
trong đó sâu đậm biết
bao? Đây là lý do
tu bổ kinh sách cũ vượt
trội hơn in kinh sách
mới. Trong đó ẩn
chứa ân đức, cảm tình mà
sách mới in không thể
nào có; sách cũ có niềm
ân tình này nên phải tu
bổ những sách cũ này.
Nhưng những sách vở ấn
loát ngày nay không dễ
tu bổ, đây đích thật là
quan niệm của người
phương tây, những gì cũ
đều không coi trọng, đều
phế bỏ. Sách cổ
của Trung Quốc ngày xưa
có thể tu bổ, giấy dùng
cho sách đóng bằng chỉ
rất mềm, giấy dùng phổ
biến nhất ở Trung Quốc
đại lục là giấy Mao
Biên. Giấy ngày
nay chúng ta dùng làm
sách là giấy Đạo Lâm,
giấy này có thể giữ được
bao lâu? Đại khái
có thể giữ được một trăm
năm, hơn một trăm năm
sau thì giấy này sẽ biến
thành tro, thành bột,
bạn thấy giấy này coi
rất đẹp nhưng chẳng chịu
nổi sự khảo nghiệm của
thời gian. Giấy
Mao Biên của Trung Quốc,
bạn trông thấy nó rất
quê mùa, vàng khè, mềm
mỏng, chẳng đẹp bằng
giấy ngoại quốc, giấy
Mao Biên có thể giữ được
năm trăm năm. Tốt
hơn nữa là giấy Liên Sử,
không biết ngày nay sách
đóng bằng chỉ ở Trung
Quốc có dùng giấy Liên
Sử không, giấy Liên Sử
mềm vô cùng, trước kia
vào năm đầu Dân Quốc,
Tần Già Tạng in ở Hiệp
Đồng, Thượng Hải dùng
giấy Liên Sử. Lúc
trước sách tốt đều dùng
giấy Liên Sử, giấy Liên
Sử rất mềm, có thể giữ
được một ngàn năm, nếu
bị hư thì có thể bồi
lại. Cho nên đích
thật có thể giữ được mấy
ngàn năm cũng không sao.
Đây là chỗ khác nhau
giữa văn hóa Trung Quốc
và ngoại quốc, đồ ngoại
quốc hào nhoáng nhưng
không bền, đồ Trung Quốc
không hào nhoáng nhưng
bền bỉ. Tu bổ kinh
cũ, tượng Phật cũ, những
tượng Phật cũ này đã có
bao nhiêu người lễ bái,
bao nhiêu người cúng
dường, [đó là] ‘hủy hoại
phá lạc, nãi năng phát
tâm tu bổ’. Cho
nên chúng ta phải có một
quan niệm đúng đắn, đừng
tưởng rằng công đức tu
bổ tượng Phật cũ không
lớn, đúc tượng mới thì
công đức lớn. Kiến
trúc mới thì lộng lẫy,
vô cùng đẹp đẽ, chứ
chẳng biết tu bổ đồ cổ
có công đức lớn hơn rất
nhiều! Thật ra thì
không có cách gì để diễn
tả cho hết được.
Xin xem tiếp kinh văn:
Thị quốc
vương đẳng, hoặc tự
doanh biện, hoặc khuyến
tha nhân, nãi chí bá
thiên nhân đẳng bố thí
kết duyên.
Các
Quốc Vương đó, hoặc tự
mình lo liệu sửa sang,
hoặc khuyến hóa người
khác, thậm chí cả trăm
ngàn người cùng bố thí
để kết [Pháp] duyên;
Đây là nói
về những đạo tràng chùa
chiền cũ, hình tượng
Phật, Bồ Tát cũ, kinh
điển cũ, sau khi bạn gặp
liền phát tâm tu bổ.
Tự mình bạn có khả năng
làm thì rất tốt!
Công đức của bạn viên
mãn; nếu một mình không
có khả năng thì khuyên
bạn bè mọi người cùng
nhau làm, cho đến khuyên
một trăm người, ngàn
người, tập hợp sức mạnh
của quần chúng, bạn đề
xướng nói rõ chân tướng
sự thật, lợi ích này cho
mọi người. Nhưng
tu bổ đạo tràng cũ thì
nhất định phải lễ thỉnh
pháp sư tới chủ trì, nếu
ở đó đã có pháp sư thì
phải mời pháp sư hoằng
pháp lợi sanh.
Việc này lúc trước ở đây
tôi thường khuyến khích
thính chúng, thính chúng
thường nói chẳng có pháp
sư đến đây giảng kinh
thuyết pháp, Phật pháp
khó nghe. Tôi nói
với mọi người: ‘Không
phải là không có pháp sư
đến giảng kinh thuyết
pháp, mà là vì quý vị
không thích nghe Phật
pháp’. Họ nghe
xong cũng không hiểu.
Mọi người đều không
hiểu. Tôi ở đây
giảng kinh thuyết pháp,
người nghe nhiều như
vậy, tại sao lại nói
người nghe không thích
nghe Phật pháp?
Tôi giải thích:
Quý vị nghe tôi giảng,
tôi đã giảng hết bao
nhiêu năm rồi?
Giảng Phật pháp, trên
giảng đài trui luyện bao
lâu mới có thành tựu như
ngày nay, quý vị đến
hưởng thụ quả báo, quý
vị đến hưởng thụ thành
tựu. Lúc tôi mới
tập giảng cũng vấp lên
vấp xuống, quý vị chịu
nghe không? Bạn
không thích nghe, thì
pháp sư giảng kinh sẽ
nản chí, sẽ không tiếp
tục giảng nữa?
Bạn
phải biết đào tạo pháp
sư giống như trồng cây
vậy, bạn phải chịu trồng
cây thì tương lai mới có
trái cây, mới có gặt hái
được. Việc này đã
được nói qua rất nhiều
lần nên ở đây các vị
đồng tu dần dần đều hiểu
được. Người mới
bắt đầu học thì làm sao
có thể giảng cho hay
được? Giảng không
hay thì [chúng ta] cũng
phải mỗi ngày đi nghe,
giảng hay rồi thì không
nghe cũng không sao.
Người mới bắt đầu học
giảng kinh cần có người
đến ủng hộ, cần người
khuyến khích, nếu mọi
người đều không chịu
nghe thì lòng tin của họ
sẽ hoàn toàn mất hết.
Cho nên tôi nói ưa thích
nghe kinh nghĩa là sao?
Là ưa thích nghe những
người mới học giảng
kinh, tuyệt đối không
vắng mặt, làm cho những
vị pháp sư mới học giảng
kinh này có được lòng
tin ‘đại khái chắc mình
giảng cũng không tệ,
người đến nghe không
ít’, đồng thời các vị
thính chúng [vô hình
trung] tạo áp lực cho họ
phải giảng mỗi ngày, họ
mới có thể học được, họ
mới gắng sức, nỗ lực tu
học. Tại sao vậy?
Nếu họ không gắng sức
thì họ không còn thể
diện, nhất định phải
chuẩn bị cho thiệt chu
đáo, cho dù giảng không
hay nhưng cũng giảng
được hết buổi. Cho
nên thính chúng là người
giám học, là thầy giáo,
đốc thúc họ, cứ như vậy
trải qua ba năm, năm
năm, trên giảng đài họ
mới có thể giảng được,
mới giảng được đúng như
pháp. Thật sự
giảng cho hay thì tối
thiểu phải có mười năm
kinh nghiệm, mười năm
liên tục không gián
đoạn. Cho dù không
thể giảng mỗi ngày, mỗi
tuần không thể ít hơn ba
lần, phải duy trì như
vậy suốt mười năm liên
tục thì bạn mới có kinh
nghiệm trên giảng đài,
đúng như câu nói ‘Vừa mở
cuốn kinh thì tâm nghĩ
gì, tay liền làm ngay
được, trái phải gì cũng
hợp với cội nguồn’.
Nếu không có nơi chốn để
tập luyện, cho dù bạn
học biết [cách giảng]
rồi cũng không dùng
được, ba tháng, nửa năm
không giảng thì sẽ quên
mất.
Do đó đặc
điểm của lớp đào tạo
giảng sư của chúng ta,
học sinh mỗi tuần tối
thiểu phải lên giảng đài
một lần, đây là các
người sơ học. Sau
khi bạn giảng một lần,
giảng đến lần thứ hai
thì hy vọng mỗi tuần có
thể giảng hai buổi, vì
khi bạn giảng qua một
lần, có cơ sở xong phải
nỗ lực mỗi tuần giảng
hai buổi; đến lần thứ ba
thì hy vọng bạn mỗi tuần
có thể giảng ba buổi;
nói một cách khác, đến
lúc giảng lần thứ tư thì
mỗi tuần bạn có thể
giảng được bốn buổi,
được vậy thì bạn mới có
thể học thành công, nếu
không thì bạn không thể
thành tựu. Do đó
chúng ta xây đạo tràng
mới cũng tốt, tu bổ đạo
tràng cũ cũng tốt, nhất
định phải thỉnh pháp sư
giảng kinh, đương nhiên
nếu vị pháp sư đó giảng
không hay, giảng không
hay mình cũng tới nghe,
mỗi ngày mình đều tới
nghe, mình còn mời một
số người khác đến nghe;
làm cho pháp sư không
giảng thì không được,
buộc pháp sư phải gắng
sức, buộc pháp sư phải
tu học, không những buộc
pháp sư phải nghiên cứu
giáo lý, vả lại còn buộc
pháp sư phải làm gương
mẫu cho chúng ta, ép cho
pháp sư phải tu hành,
vậy thì công đức của bạn
sẽ rất lớn. Tương
lai những vị pháp sư này
thành tựu, ở khắp mọi
nơi trên thế giới giảng
kinh thuyết pháp phổ độ
chúng sanh, đó đều là
công đức của bạn.
Họ làm sao thành tựu
được? Là do bạn
giúp họ thành tựu.
Lúc tôi còn trẻ, năm hai
mươi sáu tuổi tôi học
Phật, trong thời gian
này tôi theo học với lão
cư sĩ Lý Bỉnh Nam mười
năm. Trên giảng
đài tôi chưa từng gián
đoạn giữa chừng, hầu như
mỗi ngày đều có giảng,
cơ hội này là do cư sĩ
Hàn Anh giúp tôi tạo
thành, bà hiểu được,
biết được đây là một
việc tốt. Bà chẳng
có tài lực, chẳng thể
xây cho tôi một đạo
tràng. Lúc đó vì
phát tâm giảng kinh,
đáng tiếc là chẳng có
nơi cư trú, đến quải đơn
ở chùa thì phải đi làm
việc kinh sám Phật sự,
đạo tràng nào cũng hoan
nghinh bạn, còn nếu bạn
đến đạo tràng để giảng
kinh thì chẳng có đạo
tràng nào hoan nghinh
bạn, tôi chẳng có lối
thoát. Bà giúp
tôi, cho tôi cư trú ở
nhà của bà, tôi ở nhà bà
hết mười bảy năm, bà
dành cho tôi một phòng
trên lầu. Đi đâu
giảng kinh? [Còn
phải lo việc] mướn
phòng, mượn chỗ.
Bạn bè của bà rất nhiều,
bà mượn văn phòng của
bạn bè, buổi tối người
làm việc đều về nhà nên
mượn văn phòng của họ để
giảng, do đó nơi chốn
giảng kinh phải thường
thay đổi, đại khái mỗi
nơi giảng được hai ba
tháng rồi phải đổi chỗ
khác. Thính chúng
có khoảng năm, sáu chục
người, lúc nhiều nhất có
tới hơn một trăm người,
cứ như vậy tiếp tục
chẳng gián đoạn trong
vòng mấy chục năm.
Trong đó có một thời
gian chừng ba bốn năm,
một ngày giảng ba lần,
sáng chiều tối đều
giảng. Lúc đó tôi
còn nhớ, mỗi tuần giảng
hơn ba mươi mấy giờ, tôi
chịu khó, thích giảng,
vui vẻ giảng, tôi có cơ
hội luyện tập. Dần
dần thính chúng nhiều
hơn, tập hợp sức mạnh
của đại chúng lại để mua
một tầng lầu ở Đài Bắc,
mua một căn chung cư, đó
chính là thư viện Hoa
Tạng Cảnh Mỹ ở Đài Bắc.
Lúc mới mua, căn nhà này
rất nhỏ, người ở Đài
Loan tính bằng ‘bình’
,
căn này rộng 50 bình, ở
đây thì tính bằng mét
vuông, 1500 mét vuông,
một đạo tràng nhỏ như
vậy, đại khái lớn hơn
phòng này khoảng một
phần ba, chỉ có một chỗ
nhỏ xíu như vậy.
Sau đó từ từ mở rộng ra,
mua căn kế bên, ngày nay
đạo tràng này mở rộng
gần 300 bình, gần một
vạn thước, hiện nay có
quy mô như vậy cũng chỉ
là một đạo tràng trong
chung cư, mấy chục năm
nay cũng vẫn như vậy.
Sự giảng kinh ở nước
ngoài cũng do bà lo
liệu, giúp cho tôi đi
giảng khắp nơi trên thế
giới, bà đi kết duyên,
đi tìm thính chúng, tìm
nơi làm giảng đường, cho
nên ngày nay chúng ta có
được thành tựu như vậy
thì công đức của Hàn
Quán Trưởng suốt ba mươi
năm hộ trì không thể
không nhắc đến. Ngày
nay trong giảng đường
chúng ta, ở đối diện
giảng đài tại sao phải
treo tấm hình của bà?
Là để cảm ân, thờ lúc bà
mất cũng như bà còn
sống, giống như bà đang
ở tại hiện trường nghe
kinh vậy, bà nhìn thấy
cũng hoan hỷ.
Chúng ta dùng tâm báo ân
để thuyết pháp, dùng tâm
báo ân để dạy học, nếu
chúng ta không nỗ lực,
không gắng sức, không tu
trì cho tốt, không hoằng
pháp lợi sanh cho hoàn
hảo thì có lỗi đối với
họ; cho nên chúng ta ở
trong đạo tràng, trong
giảng đường, Niệm Phật
Đường, nếu là đạo tràng
của tôi thì sẽ treo hình
của thầy tôi, hình của
các vị hộ pháp.
Đạo tràng Cư Sĩ Lâm
không phải là đạo tràng
của tôi cho nên mỗi lần
chúng tôi giảng kinh,
tôi đều hồi hướng cho
bà, quý vị niệm kệ hồi
hướng của quý vị, tôi
niệm kệ hồi hướng của
tôi, [kệ của tôi] khác
với quý vị, tôi hồi
hướng cho thầy tôi, hồi
hướng cho hộ pháp, đức
Phật dạy chúng ta ‘Tri
ân Báo ân’’. Đoạn
kinh sau đây nói về
phước báo của việc bố
thí:
Thị quốc
vương đẳng, bá thiên
sanh trung thường vi
Chuyển Luân vương thân.
Thì
các vị Quốc Vương đó
trong trăm ngàn đời
thường được làm thân
Chuyển Luân Vương.
Như thị tha
nhân đồng bố thí giả, bá
thiên sanh trung thường
vi tiểu quốc vương thân.
Còn
những người cùng chung
làm việc bố thí đó,
trong trăm ngàn đời
thường được làm thân
Tiểu Quốc Vương.
Người đứng
ra hướng dẫn [mọi người]
tu bố thí được phước báo
lớn nhất, những người
làm theo đều kết duyên
này, tương lai quả báo
sẽ tụ hợp với nhau.
Thân phận tiểu quốc
vương là những ‘Chư Hầu’
thời xưa, đại quốc vương
cũng giống như chức tổng
thống ngày nay, tiểu
quốc vương cũng giống
như chức bộ trưởng, tỉnh
trưởng, quận trưởng ngày
nay. Do đó có thể
biết [người trong] một
quốc gia, một chánh thể,
từ trên tới dưới đều có
duyên phận, chẳng phải
ngẫu nhiên, cùng một sự
việc tu phước báo to lớn
như vậy. Trong Chú
Giải nói rất hay, đều là
ý nghĩa nói trong kinh
điển, chúng ta hãy đọc
đoạn Chú Giải này
.
‘Quốc vương đẳng hành
thí’ (Làm hạnh bố thí
giống như quốc vương).
Ý nghĩa của sự bố thí
rất rộng, phục vụ cho
quần chúng chính là bố
thí, thật sự dùng tâm từ
bi, tâm thanh tịnh, cung
kính phục vụ cho xã hội
đại chúng, phục vụ cho
nhân dân, phước báo này
rất lớn! ‘Tự hiệp
thượng thăng’, ‘thượng
thăng’, họ đáng lẽ phải
sanh lên trời, ‘hà phục
báo vi nhân vương dã’,
tại sao quả báo của họ
là Chuyển Luân Thánh
Vương? Tại sao họ
chẳng sanh lên trời?
Phần sau
trích dẫn [kinh điển],
kinh Ngũ Đạo Tội Phước
nói ‘người giàu sang phú
quý, quốc vương trưởng
giả đều [được giàu sang
do] sự lễ bái Tam Bảo mà
ra’. Đây là nói rõ
cả toàn thế giới đều
không ngoại lệ, không
những người lãnh đạo
chính trị, những người
lãnh đạo trong bất cứ
ngành nghề nào đều [đã
từng] lễ bái Tam Bảo mà
có [quả báo như vậy],
đây là nói rõ nghiệp
nhân của họ.
‘Những người giàu có,
của cải vô hạn do sự bố
thí mà ra’, trong xã hội
hiện nay chúng ta có thể
thấy, trên thế giới đích
thật có rất nhiều người
giàu sang, của cải mấy
chục ức, mấy trăm ức Mỹ
kim, họ làm sao có của
cải nhiều như vậy?
Là do đời trước làm việc
bố thí to lớn mà được.
Nhưng những người này
chắc đời trước chỉ tu
phước chứ không tu huệ,
đời này giàu sang không
biết tu phước tiếp tục,
cho dù có tu phước, làm
một chút sự nghiệp tạo
phước lợi cho xã hội,
đem lại cho xã hội rất
ít, tỷ lệ số này so với
của cải của họ còn rất
ít, chẳng thấm vào đâu,
đây là vì họ chẳng có
trí huệ, họ chỉ tu phước
mà không tu huệ.
Nếu họ có trí huệ thì sẽ
hoàn toàn khác hẳn, họ
có thể lấy của cải của
họ giúp cho một quốc
gia, một vùng, tương lai
họ sẽ làm vua nước đó,
nhất định sẽ làm người
lãnh đạo vùng đó, phước
báo họ tu rất lớn.
‘Do đó mới biết nếu
chẳng tu bố thí trong
Phật pháp thì rốt cuộc
sẽ chẳng đạt được quả
báo thù thắng như vậy’,
chẳng được phước báo lớn
như vậy. Phước báo
lớn ấy chắc chắn có được
từ sự bố thí. Chỉ
cần bạn có thể tu học
đúng lý, đúng pháp thì
chắc chắn sẽ được quả
báo thù thắng.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng ta giảng
đến đây thôi.
Trong quá
trình chuyển ngữ chắc
không tránh khỏi thiếu
sót, xin các bậc thức
giả hoan hỷ phủ chính
cho. Xin thành
thật cám ơn.
Một nhóm
Diệu Âm cư sĩ, ngày 4
tháng 9 năm 2006