Tập 23 (Số 14-12-23)
Xin mở cuốn Khoa Chú
quyển trung, trang 49,
xin xem kinh văn:
Hà huống
thiện nam tử, thiện nữ
nhân tự thư thử kinh,
hoặc giáo nhân thư, hoặc
tự tố họa Bồ Tát hình
tượng, nãi chí giáo nhân
tố họa, sở hữu quả báo
tất hoạch đại lợi
Huống chi là người thiện
nam, người thiện nữ tự
biên chép kinh này, hoặc
bảo người biên chép,
hoặc tự mình đắp vẽ hình
tượng của Bồ Tát, cho
đến bảo người khác đắp
vẽ, thì quả báo mà người
đó được ắt sẽ có lợi ích
lớn.
Phía trước
nói về người thân, quyến
thuộc, bạn bè trước lúc
họ lâm chung, dùng tài
vật của họ, thay họ tu
phước, họ sẽ được phước
báo vô cùng thù thắng.
Nếu lúc mình còn khỏe
mạnh có thể tu phước báo
cho chính mình, vậy thì
quả báo đương nhiên càng
thù thắng, đây nói về Lý
này. ‘Huống chi
người thiện nam, người
thiện nữ’, ‘thư’ là
viết, chép, thời xưa kỹ
thuật ấn loát còn chưa
phát minh, hơn phân nửa
kinh sách và hình tượng
Phật, Bồ Tát đều được
chép và vẽ. Chép
một bộ kinh, thì thế
gian có thêm một bộ kinh
điển, có thể vì chúng
sanh làm tăng thượng
duyên cho Phật pháp, cho
nên công đức này rất
lớn. Đức Phật
chẳng còn tại thế, Phật
pháp có thể trụ thế lâu
dài thì nhất định phải
nhờ kinh điển, kinh điển
phải có người hộ trì,
lưu thông; công đức lưu
thông kinh điển, hộ trì
Phật pháp trong thế gian
và xuất thế gian đích
thật là hạng nhất.
Vì chỉ có Phật pháp mới
có thể làm cho chúng
sanh giác ngộ, có thể
làm cho chúng sanh phá
mê, phá mê khai ngộ mới
có thể được vô lượng
phước báo. Đức
Phật thành thật nói với
chúng ta, phước báo chân
thật của hết thảy chúng
sanh vốn đã có sẵn trong
tự tánh, nhưng nếu bạn
không giác ngộ thì tự
tánh bạn bị che lấp.
Tuy có phước báo, cũng
giống như kho tàng vậy,
ẩn kín trong núi sâu,
chôn vùi dưới lòng đất,
tuy có nhưng bạn chẳng
dùng được. Nhà của
bạn xây trên mỏ vàng,
phía dưới là mỏ vàng vô
tận, nhưng bạn chẳng lấy
dùng mà vẫn phải chịu
quả báo nghèo khổ, bạn
chẳng thọ dụng được.
Cho nên Phật pháp dạy
bạn khai trí huệ, khai
phát kho tàng trong tự
tánh của bạn, phước báo
ấy chẳng cùng tận.
Phật pháp dạy bạn tu
phước, duyên do của việc
tu phước là gì? Do
bạn còn chưa kiến tánh.
Khi chưa kiến tánh, nếu
muốn hưởng phước báo thì
phải làm sao? Phải
nhờ ‘tu’. Phước
nhờ ‘tu’ có được chẳng
phải của tự tánh, [phước
trong] tự tánh mới chẳng
cùng tận. Như
chúng ta thấy cõi Cực
Lạc nói trong kinh Tịnh
Độ, đó là phước báo của
tự tánh. Kinh Hoa
Nghiêm nói đến Hoa Tạng
thế giới của đức Phật Tỳ
Lô Giá Na cũng là phước
báo của tự tánh.
Chư vị phải biết nếu
chúng ta phá mê khai
ngộ, minh tâm kiến tánh,
y báo chánh báo trang
nghiêm giống như thế
giới Cực Lạc và thế giới
Hoa Tạng sẽ hiện ra.
Đương nhiên nói thì dễ,
thật sự làm được rất
khó, lúc chúng ta chưa
kiến tánh mà muốn được
phước, phương pháp duy
nhất là phải ‘tu’, bạn
tu nhiều thì phước báo
của bạn sẽ lớn, bạn tu
ít thì phước báo của bạn
sẽ nhỏ.
Tu phước trong nhà Phật
là thù thắng nhất nhưng
chúng ta phải có trí
huệ, biết rõ.
Trong kinh Lăng Nghiêm,
Thế Tôn nói thời Mạt
Pháp chúng ta, tà sư
thuyết pháp nhiều như
cát sông Hằng, đây là để
nhắc nhở chúng ta, trong
thời kỳ này có Phật pháp
giả, có Phật pháp giả
mạo. Trồng phước
trong Phật pháp giả thì
khá khó khăn.
Không phải là nói không
có, trên lý luận thì vẫn
có! Nhưng bạn
chẳng thọ dụng được.
Chỉ gieo trồng hạt giống
trong A Lại Da thức, đến
lúc nào mới có thể hưởng
thọ được, quá khó.
Trong kinh có thí dụ, vô
lượng kiếp sau mới có
thể hưởng thọ được.
Nếu chúng ta trồng
phước, ngay hiện giờ
liền có thể hưởng thọ,
bất luận là chúng xuất
gia, tại gia, tu hành
chân chánh, cúng dường
[họ thì chúng ta] liền
có phước. Cho nên
mọi người cũng đừng có
thành kiến, nhất định
đối với chúng xuất gia
thì chúng ta mới cung
kính, còn chúng tại gia
thì thua một bậc, thế
gian thường có phân biệt
sai lầm như vậy.
Nhất định phải hiểu,
trong nhóm đồng tu tại
gia cũng có người tu
hành rất nghiêm túc, chư
Phật, Bồ Tát thị hiện
thân phận tại gia cũng
rất nhiều, nhất định
phải hiểu đạo lý này.
Phàm những người tốt,
người thiện, người hiền
có sức ảnh hưởng nhất
định đối với xã hội, địa
phương, phong tục, giáo
hóa, chúng ta đều nên
cúng dường, nên học theo
họ, như vậy mới đúng.
Tự mình chịu chép kinh,
hiện nay chẳng cần chép
kinh, hiện nay kỹ thuật
ấn loát phát triển, khoa
học kỹ thuật phát triển
thì in kinh là được rồi.
Chúng ta lựa bản in nào
tốt, bản chú giải tốt,
rồi ấn loát lưu thông
với số lượng nhiều, nên
hiện nay tu phước đích
thật tiện lợi hơn người
xưa rất nhiều.
Người hiện nay tu phước
chẳng đuợc quả báo bằng
người xưa, đó là vì
nguyên nhân khác.
Nguyên nhân đó là gì?
Tâm địa chẳng kiền
thành, chẳng cung kính,
chẳng khẩn thiết, làm
thì làm nhiều hơn người
đời xưa, phước thì được
ít hơn người xưa, đây
chính là lời dạy của Ấn
Quang pháp sư: “Có
một phần thành kính thì
được một phần lợi ích,
mười phần thành kính thì
được mười phần lợi ích”.
Chuyện của người hiện
nay chúng ta làm vượt
trội hơn người xưa không
chỉ gấp trăm lần, ngàn
lần, nhưng chẳng được
phước bằng người xưa.
Đó là vì người xưa có
một trăm phần thành
kính, hiện nay chúng ta
chỉ có một, hai phần
thành kính, do đó phải
hiểu đạo lý này.
Nếu chúng ta có tâm
thành kính giống như
người đời xưa, hiện nay
tu phước chắc chắn sẽ
vượt trội người xưa trăm
lần, ngàn lần, sẽ được
phước báo gấp trăm lần,
ngàn lần, điều này không
thể không biết.
Cho nên [chúng ta] có
rất nhiều cơ hội trước
mặt mà bỏ lỡ, thiệt là
đáng tiếc! Đây là
nói về việc lưu thông
kinh điển.
Phía dưới là việc đúc
tạo tượng Phật, hiện nay
đúc hình tượng Phật, Bồ
Tát rất thuận tiện, hiện
nay có thể làm khuôn,
làm khuôn xong có thể
đúc mấy ngàn tượng, mấy
vạn tượng Phật với chi
phí thấp. Hiện nay
[mọi việc đều] cơ giới
hóa, thời xưa phải dùng
tay nghề khéo léo.
Còn việc vẽ tranh, ấn
loát cũng rất thuận
tiện. Thế nên
chúng ta phải biết làm
sao có thể theo kịp
những đại đức thời xưa,
phải có tâm chân thành
cung kính, tâm khẩn
thiết đem lại lợi ích
cho chúng sanh, thì bạn
sẽ được ích lợi to lớn,
‘sở thọ quả báo, tất
hoạch đại lợi’.
Chúng ta tự làm, dạy
người khác làm, nếu tự
mình chẳng có nhân
duyên, điều kiện chẳng
đủ thì chúng ta khuyên
người khác làm cũng được
lợi ích rất lớn.
Chúng ta coi Chú Giải
trang 50, hàng thứ nhất,
Thanh Liên pháp sư dẫn
chứng một đoạn trong
kinh Niết Bàn, đoạn này
rất quan trọng!
Tôi đọc một lần, mọi
người hãy nghe.
Kinh Niết Bàn nói: “Ư
ác thế trung, thư tả
kinh quyển’ (Trong đời
ác, biên chép kinh),
chúng ta hiện nay nói
chuyện in kinh, ‘diệc
khuyến tha nhân lịnh đắc
thư tả, cụ túc năng
giải, tận kỳ nghĩa vị’
(cũng khuyên kẻ khác
biên chép, đầy đủ có thể
hiểu rõ tận cùng nghĩa
vị), không những tự
mình lưu thông kinh
sách, đối với ý tứ nói
trong kinh sách cũng có
thể thông đạt, có thể
hiểu rõ, đó là chép
kinh. ‘Tố họa hình
tượng’, phía sau nói về
tạo tượng, tạo tượng
bằng cách nặn cũng được,
bằng cách vẽ cũng được.
Trong kinh Tạo Tượng dạy
‘Tạo hình tượng Phật, Bồ
Tát, phước ấy vô lượng,
vô cùng tận, chẳng thể
tính đếm’. Hai
đoạn nhỏ này đều là đoạn
trích trong kinh, quả
báo, phước đức thật sự
là vô lượng vô biên.
Trong kinh nói ‘cụ túc
năng giải, tận kỳ nghĩa
vị’, hai câu này rất
quan trọng, khi bạn thật
sự hiểu rõ đạo lý này,
hiểu rõ sự thật quả báo
thì bạn mới chịu làm hết
lòng, dùng tâm chân
thành cung kính mà làm,
chẳng hoài nghi.
Phật pháp trong xã hội
hiện nay đích thật đã
suy thoái, tại sao lại
suy thoái? Chẳng
có thiện tri thức răn
dạy, tuy kinh điển lưu
thông rất nhiều, chẳng
có người giảng giải.
Bạn chỉ đọc tụng, chẳng
hiểu rõ, họ cũng hiểu
được tạo tượng rất tốt,
cũng phát tâm tạo tượng,
nhưng khi gặp một số ác
tri thức nói: ‘Bạn làm
như vậy là mê tín, làm
như vậy chẳng có công
đức’, nghe xong thì
người ấy rất dễ thoái
tâm. Nếu ác duyên
này rất rộng lớn, gặp
được một người nói như
vậy, gặp hai người cũng
nói như vậy, gặp bốn năm
người cũng nói như vậy
thì lòng tin của người
đó sẽ bị lay chuyển.
Có thể nào gặp nhiều
người cùng nói giống như
vậy không? Rất có
thể. Đức Phật nói
[đời Mạt pháp] ‘tà sư
thuyết pháp nhiều như
cát sông Hằng’, bạn gặp
mười người, tám người
cũng đâu có gì lạ.
Gặp được một trăm, một
ngàn người đều nói như
vậy thì bạn phải làm
sao? Đến lúc ấy
rốt cuộc chúng ta tin
lời đức Phật nói hay tin
lời mọi người?
Nhất định phải hiểu
nghĩa kinh, việc này rất
quan trọng! Cho
nên chúng ta hiểu rồi,
chúng ta có nghĩa vụ
tuyên dương, có nghĩa vụ
đem ý nghĩa chân thật
trong kinh Phật, chẳng
sợ phiền toái mà giảng
giải cho người ta nghe.
Giúp người giác ngộ,
củng cố lòng tin, tâm
nguyện của họ, thành tựu
cho phước đức lợi ích
của họ, đây là vì muốn
cho họ tốt.
Trong Phật pháp hết thảy
đều vì chúng sanh, quyết
chẳng vì mình. Chư
Phật, Bồ Tát tuyệt chẳng
có thành kiến, tuyệt
chẳng có ý tứ về mình,
đức Phật giảng hết thảy
kinh có ý tứ của mình
trong đó không?
Chẳng có. Đức Phật
Thích Ca thuyết pháp bốn
mươi chín năm, chẳng có
câu nào, chữ nào là ý tứ
của riêng mình.
Nếu biết là ý tứ của
riêng mình thì đó là
phàm phu, phàm phu mới
có riêng mình, riêng
mình là ngã chấp cứng
chắc. Ngã chấp
chẳng phá được thì vẫn
là phàm phu lục đạo luân
hồi, họ làm sao có thể
thuyết pháp? Đức
Phật đoạn dứt hết cả hai
Ngã Chấp và Pháp Chấp,
ngài làm gì có Ta, làm
gì có ý về ‘Ta’.
Đã chẳng có Ta, chẳng có
ý tứ của Ta, kinh Phật
được nói như thế nào?
Nói thật ra, vừa mở cuốn
kinh câu thứ nhất liền
nói với bạn ‘Như thị ngã
văn’, ý của bốn chữ này
là tự tánh tỏ lộ ra, vậy
mới gọi là ‘như thị’.
‘Như thị’ là từ chân như
tự tánh tuôn trào ra,
chân như tự tánh chúng
sanh và Phật bình đẳng.
Kinh Phật từ tự tánh
tuôn trào ra, nói cách
khác, cũng tuôn trào từ
tự tánh của chúng ta, là
sự việc như vậy.
Do đó nó chân thật,
chẳng hư dối, chúng ta
phải hiểu đạo lý này.
Tương lai khi chúng ta
minh tâm kiến tánh, Phật
pháp thường nói ‘chứng’,
trong ‘tín, giải, hành,
chứng’, bạn ‘chứng’ cái
gì? Chứng minh hết
thảy kinh Phật nói đều
từ tự tánh của mình tuôn
trào ra, vậy gọi là
chứng quả. Tự tánh
của Phật và tự tánh của
mình chẳng khác, là một
chẳng phải hai, chứng
minh việc này.
Sanh Phật bất nhị, chúng
sanh và Phật chẳng hai,
đều là một.
Ðức Phật đã kiến tánh,
chúng ta hiện nay chưa
kiến tánh, chúng ta nghe
lời Phật dạy tức là
thuận theo tự tánh,
tuyệt chẳng phải bị đức
Phật Thích Ca xỏ mũi dẫn
đi. Bạn y giáo
phụng hành là tánh đức
của tự tánh hiển lộ, lời
răn dạy của đức Phật mới
đạt đến mức cao minh
chân chánh, thật sự đạt
đến chí thiện, viên mãn.
Trong quá trình học tập,
nhất định phải hiểu
‘hằng thuận chúng sanh,
tùy hỷ công đức’, đây là
lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy
chúng ta, đây là tổng
cương lãnh, nguyên tắc
chung của sự tu hành.
Làm sao có thể làm việc
này đến chí thiện, viên
mãn. Chí thiện
tuyệt đối chẳng trái
nghịch tánh đức, chẳng
trái nghịch Lý gọi là
khế lý, như vậy là chí
thiện. Viên mãn là
khế cơ, cơ là đại chúng
hiện tiền.
Hôm qua tôi triệu tập
hết thảy những pháp sư
lãnh chúng, tôi nói
những đạo lý này, làm
thế nào làm cho Niệm
Phật Đường đạt đến mức
chí thiện rốt ráo, nhất
định phải biết khế lý,
khế cơ; khế lý nghĩa là
chẳng trái nghịch kinh
giáo, noi theo nguyên
lý, nguyên tắc, phương
pháp trong kinh giáo để
tu học; khế cơ là nhất
định phải làm cho đại
chúng trong Niệm Phật
Đường niệm đến mức sanh
tâm hoan hỷ, niệm được
đúng như pháp.
Nhất định để cho họ có
thể đè nén phiền não,
chúng ta chẳng nói
‘diệt’, khi ở trong Niệm
Phật Đường nhất định
phải
chế ngự
được phiền não, phải tương
ứng với nhất tâm.
Nếu chẳng đạt được cảnh
giới nhất tâm thì tối
thiểu cũng phải được
công phu thành phiến.
Thời gian trong Niệm
Phật Đường chẳng có vọng
niệm, trong tâm chỉ có
một câu ‘A Di Đà Phật’,
‘nhớ Phật, niệm Phật,
hiện tiền tương lai nhất
định thấy Phật’.
Cho nên phải chăm lo cho
mỗi người trong đại
chúng niệm Phật, phải
thường chăm sóc họ, nên
thường hỏi họ: ‘Bạn có ý
kiến gì đối với Niệm
Phật Đường không?
Có cảm thấy chỗ nào
chẳng hợp lý không?’
Xin mọi người cho ý
kiến, chúng ta hết lòng
cải tiến. Mỗi ngày
phải tìm ra khuyết điểm
của mình, phải sửa đổi
lỗi lầm, một ngày không
cải tiến là một ngày
không tiến bộ.
Thường thường thì chúng
ta chẳng nhìn thấy lỗi
lầm của mình, nhưng
người khác nhìn thấy.
Người khác thấy nhưng
chẳng nói ra thì phải
làm sao? Mình phải
đi hỏi. Chúng ta
phải hoan hỷ nghe lỗi
lầm, mạnh dạn sửa lỗi,
đây là nguyên tắc tu
hành đức Phật dạy cho
chúng ta, là nguyên tắc
quan trọng, đây gọi là
pháp môn sám hối, pháp
môn tinh tấn. Biết
lỗi phải sửa, ưa thích
người ta cho ý kiến,
nghe lời đề nghị, phê
bình của kẻ khác chúng
ta phải hết lòng phản
tỉnh, sửa sai đổi mới,
đạo tràng như vậy mới có
tiền đồ, đạo tràng này
mới trở thành đạo tràng
mô phạm, điển hình cho
thế gian, trong đó chúng
ta mới có thành tựu chân
chánh. Điểm này
quan trọng phi thường!
Chẳng có người nào thật
sự thành công trong thế
gian, xuất thế gian mà
chẳng tu học như vậy.
Cho dù họ có thành tựu
nhưng chẳng nghe lời đề
nghị của kẻ khác, cố
chấp thành kiến của mình
thì sự nghiệp của họ làm
lớn đến đâu cũng chẳng
kéo dài được. Chỉ
có tôn trọng ý kiến của
đại chúng, sự nghiệp của
họ mới có thể kéo dài,
mới vĩnh viễn chẳng thất
bại. Thánh nhân
thế gian và xuất thế
gian đều dạy chúng ta
đạo lý này, chúng ta
phải ghi nhớ, tiếp nhận.
Xem tiếp kinh văn:
Thị cố Phổ
Quảng, nhược kiến hữu
nhân độc tụng thị kinh
nãi chí nhất niệm tán
thán thị kinh, hoặc cung
kính giả, nhữ tu bá
thiên phương tiện khuyến
thị đẳng nhân, cần tâm
mạc thoái, năng đắc vị
lai hiện tại thiên vạn
ức bất khả tư nghị công
đức.
Vì thế, Phổ
Quảng, nếu thấy có người
đọc tụng kinh này, cho
đến có một niệm tán thán
kinh này hoặc tỏ lòng
cung kính, thì ông phải
dùng trăm ngàn phương
tiện khuyên người đó nên
phát tâm siêng năng,
đừng thoái thất, thì sẽ
được ngàn vạn ức công
đức không thể nghĩ bàn ở
hiện tại và vị lai.
Đây là khuyến tu.
Khi thấy người tụng
kinh, thấy người cung
kính Tam Bảo, nhất định
phải khuyến khích họ,
khen ngợi họ. Sự
khuyến khích, khen ngợi
này không những có lợi
ích rất lớn cho họ, trên
thực tế cũng là răn dạy
một số người vô tri.
Họ thấy người này khen
ngợi việc đọc kinh,
khuyến khích đọc kinh,
có thể khải phát lòng
tin của họ. Cho
nên khuyên một người tức
là khuyên rất nhiều
người, quả báo thù thắng
chẳng thể nghĩ bàn, nên
họ mới ‘được ngàn vạn ức
công đức chẳng thể nghĩ
bàn’. Đây là như
chúng ta thường nói
‘Một phen lọt vào tai,
vĩnh viễn thành hạt
giống đạo’, công đức
chẳng thể nghĩ bàn là
nói từ chỗ này.
Nếu ba thứ thiện căn,
phước đức, nhân duyên
của người ấy, cả ba đều
đầy đủ thì đời này người
ấy sẽ thành tựu, đây là
chuyện tương đối chẳng
dễ. Nhưng không
phải là chẳng có, trong
đời mạt pháp ngũ trược
cũng có. Người có
thiện căn kém tuy hiện
thời chẳng thể được lợi
ích, nhưng hạt giống kim
cang đã được trồng trong
A Lại Da thức, người
hiện nay gọi là ghim vào
ấn tượng của bạn, ấn
tượng của bạn rất sâu
đậm, vĩnh viễn sẽ chẳng
diệt mất. Tương
lai khi gặp duyên, tức
là gặp được một số điều
kiện [thuận lợi] thì hạt
giống ấy sẽ khởi tác
dụng, sẽ có thể giúp bạn
tu hành chứng quả.
Hiện nay chúng ta sợ
người ta nói mình mê
tín, nói thật ra chẳng
phải chúng ta mê tín, họ
mới mê tín. Như
thế nào là mê tín?
Chưa tìm hiểu rõ ràng
chân tướng sự thật bèn
tin tưởng, vậy gọi là mê
tín. Chúng ta là
những người học Phật,
chưa tìm hiểu rõ
chân tướng sự thật bèn
tin Phật pháp, bèn niệm
kinh lạy Phật, thì đó là
mê tín, chẳng sai gì cả!
Người ấy nói chúng ta mê
tín thì người ấy cũng mê
tín, tại sao?
Người ấy đối với Phật
pháp cũng chưa tìm hiểu
rõ ràng, minh bạch, bèn
nói đó là mê tín, do đó
họ cũng mê tín.
Cái mê tín của chúng ta
có ích lợi, còn mê tín
của họ thì có hại, chẳng
có lợi, nên cả hai đều
là mê tín. Khi bạn
đã tìm hiểu Phật pháp rõ
ràng rành rẽ, xong rồi
bạn nói chúng ta ‘tín’
hay ‘mê tín’, nếu vậy
thì điều bạn nói mới
đúng. Chưa tìm
hiểu rõ ràng bèn nói
chúng ta mê tín, tôi cảm
thấy họ mê tín còn nhiều
hơn, mê tín trên mê tín,
chúng ta thì mê tín một
tầng, họ thì mê tín hai
tầng. Cho nên muốn
phê bình đúng đắn thì
bạn nhất định phải tìm
hiểu rõ ràng, nếu bạn
chẳng hiểu rõ mà cứ tùy
tiện nói thì sẽ rất dễ
làm mích lòng, rất dễ
tạo ác báo như trong
kinh đã nói. Ác
báo hình thành như thế
nào? Do ngu si.
Ngu si như thế nào?
Chưa tìm hiểu rõ ràng
bèn nói bừa, tùy tiện
phê bình, vậy là không
nên, thái độ học vấn như
vậy là sai lầm, chẳng
đúng đắn. Nghe
người ta nói thì cũng
không được, người ta nói
có đáng tin không?
Khi nghe người ta nói,
chúng ta phải đi sâu
vào, nghiên cứu để tìm
chứng minh. Giống
như chúng ta học Phật
vậy, chúng ta đọc kinh
điển của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, chẳng phải
nhất loạt thuận theo,
nghe theo ngài, chúng ta
ở trong ấy tu học, cầu
chứng, chứng minh lời
Phật nói là chân thật,
chẳng phải giả.
Đây là điểm thù thắng
của nền giáo học Phật
Đà, đức Phật nói cho
bạn, giảng cho bạn hiểu
rõ, tín, giải, hành,
chứng. Bạn phải
‘tin’ trước, sau khi bạn
‘tin’ xong thì tìm cầu
‘giải’, chỉ ‘tin’ thôi
không được, nhất định
phải ‘giải’ (hiểu rõ).
‘Giải’ xong, bạn phải
cầu ‘chứng’, chứng minh
điều bạn ‘tin’, điều bạn
‘giải’, đích thật là vốn
có trong tự tánh, chẳng
phải đến từ bên ngoài,
Phật pháp gọi là Nội
Học, ý nghĩa là như vậy.
‘Cần tâm mạc thoái’, bốn
chữ này là chữ quan
trọng mấu chốt trong
đoạn này. Chúng ta
khuyến khích, khuyên một
người, mục đích là ở chỗ
này, hy vọng kẻ ấy dũng
mãnh tinh tấn, đừng
thoái chuyển, được vậy
thì người ấy nhất định
sẽ thành tựu ngay trong
đời này. Trong Chú
Giải có một đoạn trích
dẫn kinh văn, trong Chú
Giải trang 51 hàng thứ
ba, câu cuối cùng.
Trong kinh Kiên Ý có
một đoạn
“Phật cáo A Nan, kỳ hữu
hảo tâm thiện ý chi
nhân, văn Phật minh
pháp, nhất tâm nhi
thính, năng nhất nhật
khả” (Phật bảo A Nan,
người có tâm tốt, thiện
ý ấy, nghe hiểu pháp của
Phật, lắng nghe chăm chú
trong một ngày cũng
được), người ấy có
thể nghe một ngày cũng
tốt! “Bất năng nhất
nhật, bán nhật khả”
(Không thể [nghe] một
ngày, [thì nghe] nửa
ngày cũng được).
Đây là lúc Phật còn tại
thế, lúc ấy ‘nhất thời’
bằng bốn giờ đồng hồ
hiện nay. Ấn Độ
thời xưa chia ban ngày
thành ba thời, ban đêm
ba thời, ngày đêm thành
sáu thời. Ở đây
nói một thời tức là bốn
giờ hiện nay.
“Bất năng nhất thời,
bán thời khả”, bán
thời tức là hai tiếng
đồng hồ hiện nay.
“Bất năng bán thời, tu
du khả”, ‘tu du’ tức
là một thời gian rất
ngắn, nghe mười phút,
năm phút cũng được.
“Kỳ phước bất khả
lượng” (Phước ấy chẳng
thể tính đếm được),
phước báo của họ chẳng
thể tính đếm.
Cuối cùng ngài kết luận
“tạm thính thượng nhĩ,
huống cung kính hồ” (tạm
nghe còn được huống chi
cung kính nghe), tạm
nghe cũng được phước lớn
như vậy, tại sao phước
này lớn như vậy?
Vì một người trong lục
đạo luân hồi được thân
người rất khó, thân
người rất khó được.
Được thân người mà được
nghe Phật pháp lại càng
khó, có thể là trong vô
số kiếp bạn mới có cơ
hội nghe được vài câu
Phật pháp, vài câu Phật
pháp này lọt vào A Lại
Da thức, tương lai sẽ là
nhân duyên được độ, cho
nên phước báo chẳng thể
tính đếm nổi. Ngày
nay chúng ta tạo nhân
duyên cho người khác có
được hạt giống Phật, bạn
phải biết quả báo thù
thắng cỡ nào!
Trong bất kỳ trường hợp
nào, [ví như] trường hợp
có nhiều người, chúng ta
cúi đầu, chắp tay, niệm
một câu A Di Đà Phật thì
có biết bao nhiêu người
nhìn thấy, nghe được;
người thấy, người nghe
đã được gieo hạt giống
trong A Lại Da thức, đó
chỉ là trong phút chốc,
chúng ta đang biểu diễn.
Mục đích chúng ta biểu
diễn là gieo trồng hạt
giống Kim Cang cho chúng
sanh, đó gọi là phát Bồ
Đề tâm, hành Bồ Tát đạo.
Bất luận người thấy,
người nghe tin hay không
thì hạt giống đã được
gieo rồi, như Phật đã
nói “phước ấy chẳng thể
tính đếm nổi”.
Chúng ta thường thường
tu phước, tạo phước,
nhưng mỗi ngày cũng tạo
tội nghiệp. Chúng
ta phải so sánh tội và
phước, mỗi ngày tạo
phước nhiều hay tội
nhiều? Tạo tội
nghiệp sẽ bị quả báo
cũng chẳng thể tính đếm
nổi, đây là một việc
phiền phức to lớn.
Làm sao chân chánh giác
ngộ, chẳng tạo tội
nghiệp, chuyên tạo phước
báo thì tiền đồ chúng ta
sẽ tươi sáng. Nhất
định phải giác ngộ đời
người vô cùng ngắn ngủi,
đời người rất khổ, khổ
thì chúng ta phải cắn
răng thật chặt, phải
chịu đựng cho rồi.
Chịu khổ cũng không tạo
nghiệp, tuyệt chẳng vì
muốn cải thiện hoàn cảnh
sinh hoạt trước mắt mà
tạo nên các thứ tội
nghiệp, trước mắt nếm
được một chút vị ngọt,
hậu quả chẳng thể lường
nổi, người thông minh
chẳng làm chuyện khờ dại
này. Khổ báo trước
mắt là do đời quá khứ,
đời này mình chẳng tu
phước nên phải thọ những
quả báo này. Phật
pháp dạy rất rõ ràng
“Muốn biết nhân đời
trước, những gì mình thọ
đời này chính là nó”,
những gì đời này mình
thọ là do mình tạo đời
trước. Đời trước
tu phước, đời này hưởng
phước, đời trước chẳng
tu phước thì đời này lấy
phước ở đâu mà hưởng?
[Hiểu vậy thì sẽ] chẳng
oán trời, chẳng trách
người. “Muốn
biết quả đời sau, những
gì mình làm đời này
chính là nó”, những
hành vi mình làm đời này
là nhân, đời sau sẽ có
quả báo. Nếu việc
mình làm đời này vun
trồng phước lớn, tạo
nhân thù thắng, ngay đời
này liền thay đổi hoàn
cảnh sinh sống của mình.
Liễu Phàm Tứ Huấn là thí
dụ rất rõ ràng, những
người có thành tựu bằng
với Viên Liễu Phàm trong
Phật pháp chẳng biết có
bao nhiêu mà kể, chẳng
có ghi chép nên không
biết được, quá nhiều,
quá nhiều. Muốn có
thể thay đổi hoàn cảnh
sanh hoạt hiện tiền của
chúng ta, chỉ cần bạn
hết lòng nỗ lực, đoạn ác
tu thiện, phước này là
thật, hơn nữa còn lâu
dài, là phước báo chân
thật. Nếu dùng thủ
đoạn bất chánh để cướp
đoạt của cải bất nghĩa
mà được phước, thì phước
ấy là giả, rất ngắn
ngủi. Phước hưởng
hết rồi thì ác báo liền
hiện ra, đáng sợ vô
cùng.
Bởi vậy nên [chúng ta]
nhất định phải tìm hiểu
rõ ràng những Lý, Sự
này. Đời người rất
ngắn ngủi, trong thời
gian ngắn tạm này tạo
tội nghiệp làm chi!
Chẳng đáng tí nào.
Thường thường đọc kinh
Địa Tạng sẽ có ích lợi,
mỗi lần đọc là nhắc mình
đề cao cảnh giác, mỗi
câu trong ấy đều là lời
chân thật, chẳng có câu
nào là dọa dẫm người, đe
dọa người. Lời
Phật dạy câu nào câu nấy
đều chân thật, mạng
người vô thường, quốc độ
mong manh, tại sao không
tu phước? Tại sao
không nghĩ đến đời sau?
Đời sau thời gian dài,
đời này thời gian ngắn.
Người thông minh phải
suy tính cho lâu dài,
đừng lo lắng cho thời
khắc ngắn tạm trước mắt,
bất luận vinh hoa phú
quý gì hiện nay đều như
hoa đàm thoáng hiện, đều
chẳng đáng ngưỡng mộ,
chẳng đáng truy cầu.
Sinh sống thanh bạch,
cực khổ một chút mới
tốt, thường thường đề
cao cảnh giác, thường
khởi lên tâm muốn thoát
ly, hy vọng thoát ly lục
đạo luân hồi. Đoạn
này giới thiệu đến đây
thôi.
Xem tiếp đoạn sau ‘mộng
mị kiến quỷ’, đây cũng
là chuyện thường xảy ra.
Thiên địa quỷ thần có
thật, rất nhiều người
đích thân từng trải qua,
lúc tôi còn trẻ cũng
từng trải qua, làm sao
không tin được!
Chuyện gặp quỷ ở ngoại
quốc cũng rất nhiều,
thành phố nào cũng có
rất nhiều ‘nhà ma’, cho
nên chuyện này là thật
chẳng giả. Ở tiểu
bang California có một
vị đồng tu, mấy năm
trước đã qua đời.
Hai vợ chồng già mua một
căn nhà ở California,
sau khi dọn vô mới biết
nhà này có quỷ, con quỷ
ấy rất dữ dằn, là người
Mỹ. Người này chắc
là chủ nhà trước đó, sau
khi chết chẳng xả căn
nhà ấy, chẳng chịu xa
lìa, thành quỷ rồi vẫn ở
trong căn nhà đó.
Đương nhiên khi có người
khác dọn vào nhà nên
‘ông’ chẳng vui, mỗi đêm
quỷ xuất hiện, trong nhà
có tiếng đồ đạc di động,
cửa phòng tự động mở ra,
người sống ở đó khủng
hoảng, sợ hãi, nhưng
chẳng làm gì được.
Có một lần ông cụ đang
tắm, cụ khoảng sáu mươi
mấy tuổi, lúc đó là buổi
chiều, không phải buổi
tối. Cụ đang tắm
bỗng nhiên cửa phòng tắm
tự động mở ra, toàn thân
cụ đều lông tóc dựng
đứng, cụ bèn hỏi đại:
“Này bạn, ông tên là
gì?” Quỷ ấy cũng
nói tên ra. Nghe
nói xong cụ sợ hết hồn
nên mau mau xông ra
ngoài, chưa kịp mặc quần
áo gì hết bèn chạy ra
ngoài, chuyện xảy ra như
vậy. Quỷ ấy thật
sự đã nói tên của hắn
ra, sau này cụ kể lại
cho chúng tôi nghe.
Những nhà có quỷ như vầy
ở Mỹ quá nhiều, có những
căn nhà ma nổi tiếng
chẳng ai dám ở, nhà đó
bán không được, ai cũng
biết nhà đó có ma.
Bởi vậy ‘quỷ’ có thiệt,
chứ chẳng phải giả đâu.
Xin xem kinh:
Phục thứ Phổ Quảng nhược
vị lai thế chư chúng
sanh đẳng hoặc mộng hoặc
mị, kiến chư quỷ thần
nãi cập chư hình.
Lại nữa,
này Phổ Quảng, nếu những
chúng sanh ở đời vị lai,
hoặc trong mộng mị,
trông thấy các quỷ thần
cùng các hình bóng khác;
Đủ mọi thứ hình tượng.
Hoặc bi hoặc đề, hoặc
sầu hoặc thán, hoặc
khủng hoặc bố;
Hoặc buồn bã, hoặc khóc
lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc
than thở, hoặc hãi hùng,
hoặc sợ sệt;
Nói bạn nằm
mộng nhìn thấy những
hình tượng này.
Theo cách đức Phật nói,
chúng ta có thể thấy
“nếu những chúng sanh ở
đời vị lai”, lúc đó đức
Phật nói đời vị lai tức
là đời chúng ta hiện
nay. Chúng ta hiện
nay, rất nhiều chúng
sanh trong mộng mị trông
thấy quỷ thần.
‘Mộng’ là mơ hồ, chẳng
rõ ràng, ‘mị’ là ngủ.
Phàm lúc mơ hồ, chẳng rõ
ràng, lúc có, lúc không,
cảnh giới ấy đều gọi là
cảnh mộng. Trong
lúc ngủ, mộng cảnh
thường thường xuất hiện,
hầu như mỗi người đều có
kinh nghiệm này.
Nhìn thấy một số quỷ
thần, đặc biệt là nhìn
thấy người nhà thân
quyến đã mất, hoặc mộng
thấy những quỷ thần
chẳng quen biết, thấy
hình dáng của họ rất
đáng thương, phía sau
nói “buồn, khóc, sầu,
than, hãi hùng, sợ sệt”
trông thấy những hình
tướng này. Người
chẳng học Phật nhìn thấy
cảnh giới hãi hùng, sợ
sệt nhiều. Sau khi
chúng ta học Phật, cảnh
giới hãi hùng sợ sệt
trong mộng dần dần ít
đi, những thứ này thuộc
về ác mộng, mộng [có
cảnh tượng] khủng khiếp,
dễ sợ ít đi, nhưng mộng
thấy một số quỷ thần
buồn, khóc, sầu, than
nhiều, thường thường gặp
cảnh giới này khởi lên.
Gặp những chuyện này là
vì nguyên nhân gì?
Đức Phật trong kinh nói
với chúng ta, xin xem
tiếp kinh văn:
Thử giai thị nhất sanh,
thập sanh, bá sanh,
thiên sanh, quá khứ phụ
mẫu, nam nữ, đệ muội,
phu thê quyến thuộc, tại
ư ác thú, vị đắc xuất
ly, vô xứ hy vọng phước
lực cứu bạt. Đương
cáo túc thế cốt nhục sử
tác phương tiện, nguyện
ly ác đạo.
Đây đều là cha mẹ, con
cái, anh chị em, vợ
chồng, quyến thuộc từ
một đời, mười đời, trăm
đời, hay ngàn đời trong
quá khứ, còn đang đọa
lạc trong ác đạo, chưa
được thoát ra, lại
không trông mong vào
phước lực nơi nào để cứu
vớt, nên mới nói với kẻ
có tình cốt nhục trong
đời trước
để họ tạo phương tiện hòng
thoát khỏi ác đạo.
Phải ghi
nhớ họ đến cầu xin bạn
giúp đỡ. Nếu bạn
chẳng học Phật thì họ
chẳng đến cầu bạn, tại
sao? Vì bạn chẳng
có khả năng giúp đỡ họ.
Hiện nay bạn học Phật,
họ biết bạn có khả năng
giúp đỡ họ nên họ tới
xin bạn. Do đó
phàm mộng thấy những
cảnh giới này, chúng ta
nên niệm Phật hồi hướng
cho họ, niệm kinh hồi
hướng cho họ. Bạn
niệm kinh Địa Tạng cũng
rất tốt, niệm danh hiệu
Địa Tạng Bồ Tát cũng rất
tốt. Niệm kinh Vô
Lượng Thọ, niệm kinh A
Di Đà, niệm danh hiệu A
Di Đà Phật cũng tốt, đây
là pháp môn chính của
chúng ta, sức mạnh của
pháp môn chính thù thắng
phi thường. Tại
sao vậy? Mỗi ngày
tụng, mỗi ngày niệm,
chúng ta đặc biệt hồi
hướng cho họ. Họ
đến xin giúp đỡ, cầu
cứu.
Trong ‘Ảnh Trần Hồi Ức
Lục’ chúng ta thấy có
một câu chuyện do Đàm Hư
pháp sư kể, gọi là ‘Tám
Năm Đóng Cửa Đọc Lăng
Nghiêm’, bạn hãy coi
đoạn này. Lúc đó
họ đều là cư sĩ tại gia,
tiếp xúc đến Phật pháp,
biết Phật pháp hay, vô
cùng hâm mộ kinh Lăng
Nghiêm, vài người chí
đồng đạo hiệp hợp lại
mỗi ngày cùng nhau
nghiên cứu, mỗi ngày đọc
tụng. Cũng vì cơ
duyên chẳng thành thục,
phương bắc rất ít người
giảng kinh, cho nên chỉ
có thể kiếm vài người
cùng nhau nghiên cứu, y
theo phương pháp này tu
học. Nhưng họ cũng
rất chịu khó, mấy người
tụ lại cùng nhau thảo
luận nghiên cứu học tập,
và có thể duy trì được
tám năm, rất hiếm có!
Trải qua một thời gian
dài như vậy, ít nhiều
cũng có một ít công phu;
một chút công phu này vô
cùng khó được, rất hy
hữu, thế nên cảm động
quỷ thần đến cầu siêu
độ.
Cụ Đàm không kể chuyện của
chính mình mà kể chuyện
của một người bạn của
cụ; họ hùn vốn mở một
tiệm thuốc nhỏ để duy
trì đời sống. Buổi
trưa lúc ít khách, họ
ngủ gục ở quầy.
Một người bạn của cụ ngủ
gục và nhìn thấy hai
người đi vào, đây là
chuyện ông đó kể lại cho
Đàm Hư lão pháp sư nghe
sau khi tỉnh dậy.
Ông ấy nói hai người đi
vào là oán thân chủ nợ
đời trước, vì xích mích
tiền bạc nên phải thưa
kiện; [kết quả là] ông
thắng kiện nên hai người
kia thắt cổ tự tử.
Vì chuyện này nên ông ấy
cũng thường cảm thấy
buồn bực và hối hận; lúc
đòi nợ đã làm cho hai
người này phải chết, khi
thấy hai người này đi
vào tiệm ông cứ tưởng là
họ đến kiếm chuyện, sợ
họ lại để trả thù.
Thấy vẻ mặt hai người
này rất hòa hoãn, ông
cũng hơi yên bụng và
hỏi: “Quý vị đến đây làm
gì?”. Họ nói: “Đến
cầu xin siêu độ”.
Lúc đó ông mới yên tâm,
biết họ chẳng phải đến
gây phiền phức mà đến
xin siêu độ. Ông
nói: “Được, làm sao siêu
độ?”. Họ nói: “Chỉ
cần ông đồng ý là được”.
“Vậy thì được, tôi đồng
ý”. Bèn thấy hai
linh quỷ này đạp lên đầu
gối, lên vai ông rồi bay
lên trời, chỉ cần đồng ý
siêu độ là được.
Bạn nghĩ xem dựa vào sức
mạnh gì? Dựa vào
việc đóng cửa tám năm
đọc Lăng Nghiêm.
Hai người này đi khỏi
chẳng bao lâu lại có hai
người khác đến, là một
phụ nữ và một đứa trẻ,
nhìn lại thì ra đó là vợ
và con đã qua đời của
ông. Ông hỏi: “Đến
làm gì?”. [Họ đáp]
“Để xin siêu độ”.
Cũng giống như khi nảy:
“Tôi đồng ý siêu độ”.
Sau đó hai linh quỷ đó
đạp lên đầu gối, lên vai
rồi bay lên trời, chẳng
cần nghi thức gì cả.
Người siêu độ phải có
công phu thật sự mới
được, nếu không có công
phu, dù làm nghi thức gì
cũng chẳng có tác dụng,
nhất định phải có công
phu tu hành chân chánh.
Nói cách khác, ban đêm
mộng thấy những quỷ thần
này đến xin bạn siêu độ,
đó là chứng minh bạn
cũng có một chút công
phu, nếu bạn chẳng có
công phu thì họ chẳng
đến.
Do đó lúc chúng ta tụng
kinh, niệm Phật, lễ
Phật, thậm chí khi giảng
kinh trên giảng đài, khi
gần xong chúng ta đều
hồi hướng, hồi hướng
nhất định phải dùng tâm
chân thành ‘trên đền bốn
ân nặng, dưới độ ba
đường khổ’. Làm
thế nào cho công đức hồi
hướng được viên mãn?
Phải làm đến có hiệu quả
thật sự? Cũng là
do một tâm chân thành.
Lúc thường ngày chúng ta
tu học, từng ly từng tí
công phu đều vì chúng
sanh, chẳng vì mình thì
công đức hồi hướng sẽ
viên mãn. Hôm nay
tôi mở cuốn kinh ra,
tụng kinh này là vì ai?
Vì hết thảy chúng sanh.
Ngày hôm nay tôi bước
vào Niệm Phật Đường niệm
câu A Di Đà Phật này,
như nói trong kinh, niệm
vài phút cũng được, vài
giờ cũng vậy, niệm nửa
ngày, một ngày, hai ngày
hai đêm, tôi niệm vì ai?
Vì hết thảy chúng sanh
mà niệm, công đức hồi
hướng ấy sẽ viên mãn.
Ngày nay chúng ta học
Kinh Giáo, phát tâm
giảng kinh thuyết pháp
là vì ai? Vì hết
thảy chúng sanh.
Nếu nói phát tâm là vì
mình thì lợi ích rất
nhỏ, công đức chẳng lớn;
vì hết thảy chúng sanh,
vì Phật pháp trụ thế lâu
dài, công đức sẽ chẳng
thể nghĩ bàn!
Trong kinh đều dạy những
công đức như vậy.
Quý vị nhất định phải biết
vì chính mình thì công
đức rất nhỏ, cùng làm
một việc nếu vì chúng
sanh, vì Phật pháp thì
công đức lợi ích vô
lượng vô biên. Bởi
lẽ chúng sanh vô biên,
Phật pháp vô biên nên
công đức lợi ích của bạn
sẽ vô biên. Chúng
ta hiểu rõ đạo lý này,
hiểu rõ chân tướng sự
thật này thì tại sao lại
vẽ cái vòng
đó nhỏ như vậy, chỉ vì
mình, vì nhà mình, vì
đoàn thể của mình.
Cùng làm một việc như
nhau nhưng được phước
nhỏ, công đức nhỏ, lợi
ích nhỏ. Người ta
cũng làm việc như vậy,
tại sao lại được vô
lượng vô biên công đức,
lợi ích? [Khác
nhau] chỉ trong vòng một
niệm. Phật pháp
nói “một niệm tương
ứng”, niệm này có tương
ứng hay không?
Tương ứng với tự tánh,
tương ứng với chân tâm;
tự tánh tức là pháp
giới, chân tâm tức là
pháp giới. Đức
Phật đã nói rất nhiều
rồi, chúng ta nhất định
phải thấu hiểu, phải ghi
nhớ, y giáo phụng hành.
Sau này gặp trường hợp
giống như vậy, có một số
tín đồ đến gặp chúng ta,
nói với chúng ta những
chuyện này. Hãy kể
lại cho họ biết [những
chuyện] kinh Địa Tạng có
nói đến, [khuyên họ] về
nhà tụng kinh, niệm Phật
hồi hướng cho [những quỷ
thần ấy].
Còn có những người chẳng
tin Phật, hoặc vừa mới
tiếp xúc đến Phật pháp
cũng nằm mộng thấy quỷ
thần đến tìm họ.
Lúc trước tôi có một
người bạn, vợ ông liên
tục nằm mộng ba lần
trong một tuần nên bà ấy
rất thắc mắc. Bà
mộng thấy gì? Mộng
thấy một bà hàng xóm vừa
qua đời khoảng nửa năm.
Nằm mộng [thấy bà hàng
xóm] ba lần xin tiền,
nhờ giúp đỡ, nói đời
sống bà rất khốn khổ.
Trong mộng cũng chẳng
nghĩ là bà hàng xóm này
đã qua đời. Bà cảm
thấy kỳ lạ và nói: “Bà
khổ thì cũng đâu cần tìm
tôi, bà hãy hỏi chồng bà
xem sao”. Bà hàng
xóm nói: “Chồng tôi
không có tiền, xin bà
giúp cho”. Trong
vòng một tuần nằm mộng
thấy ba lần, bà ấy đến
tìm tôi, tôi cũng quen
thân với bà. Tôi
suy nghĩ và nói: “Ồ! Họ
là người Cơ Đốc Giáo,
chẳng có tiền”.
Tín đồ Cơ Đốc Giáo không
đốt ‘giấy tiền’ (tiền âm
phủ, đồ mã); tôi nói
tiếp: “Không sao đâu, bà
hãy đốt một số giấy tiền
cho bà ấy đi”. Bà
ta [sực nhớ và] hiểu
được, sau khi đốt một số
‘giấy tiền’ thì chẳng
nằm mộng [thấy bà hàng
xóm nữa]. Tín đồ
Cơ Đốc Giáo chẳng đốt
giấy tiền, bà hàng xóm
đang ở cõi quỷ, đốt giấy
tiền cũng có thể dùng ở
cõi quỷ. Cho nên
việc đốt ‘giấy tiền’
này, Ấn Quang lão pháp
sư có nói trong Văn Sao,
đối với việc này ngài
chẳng tán thành nhưng
cũng chẳng phản đối, tại
sao không tán thành?
Trong Phật pháp chẳng có
việc này. Trong
Phật pháp nói đến siêu
độ chỉ là niệm danh hiệu
Phật, Bồ Tát, tụng kinh
hồi hướng cho họ.
Nhưng cũng không phản
đối, người mất luân hồi
đi vào sáu nẻo, chỉ có
cõi quỷ mới dùng ‘giấy
tiền’ được, những cõi
khác chẳng dùng được.
Nếu kẻ ấy sanh vào cõi
quỷ, họ cần có ‘giấy
tiền’, bạn không cho họ
đốt thì không phải đã
cắt đứt nguồn tiền tài
của họ rồi sao?
Việc này cũng phiền phức
lắm vì họ sẽ hận bạn,
thế nên ngài chẳng phản
đối. Chúng ta học
thái độ này của lão pháp
sư cũng tốt, không đề
xướng nhưng cũng không
phản đối. Đây là
phong tục tập quán trong
dân gian, chẳng liên
quan gì đến Phật pháp,
nếu thật sự học Phật thì
chẳng cần những thứ này.
Thế nên biết được cảnh
trong mộng, mộng thấy
những quỷ thần này có
quan hệ đến mình.
Nếu họ [có duyên với
mình] trong đời quá khứ,
mười đời, trăm đời, ngàn
đời thì đương nhiên
chúng ta chẳng nhận biết
được. Tuy chẳng
nhận biết, các vị quỷ
thần này biết họ có
duyên phận với chúng ta,
do nhân duyên đời trước
họ sẽ tìm bạn để xin
giúp đỡ. Thọ mạng
của quỷ dài, thọ mạng
con người ngắn, trong
kinh đức Phật nói một
ngày trong cõi quỷ bằng
một tháng ở cõi người.
Cho nên người ta tế lễ
quỷ thần ngày mồng một,
mười lăm đúng lúc họ ăn
bữa trưa, bữa chiều, một
ngày của họ bằng một
tháng của chúng ta, phải
hiểu đạo lý này.
Vả lại thọ mạng cõi ngạ
quỷ đại khái cũng trên
một ngàn tuổi, thọ mạng
rất dài. Nếu cũng
tính ba trăm sáu mươi
ngày là một năm, vậy thì
một ngàn tuổi, bạn phải
biết một ngày của họ
bằng một tháng của cõi
người, cho nên lúc ông
Chương Thái Viêm làm
phán quan cho Đông Nhạc
Đại Đế, [ông Viêm] đã
gặp các ông Hàn Dũ, Liễu
Tông Nguyên trong cõi
quỷ, ngay cả những người
mất thời triều Hán, ông
cũng gặp họ trong cõi
quỷ. Từ triều Hán
đến nay ít nhất là hai
ngàn năm, thọ mạng của
quỷ dài hơn con người
quá nhiều, thật vậy,
trong lục đạo thì thọ
mạng con người ngắn.
Có lúc thì thọ mạng của
con người cũng dài,
chúng ta sanh nhằm lúc
thọ mạng con người ngắn,
trong kinh Phật nói thọ
mạng con người dài nhất
là tám vạn bốn ngàn
tuổi. Chúng ta
đang trong kiếp giảm,
phước báo rất nhỏ, thọ
mạng dài thì phước báo
lớn, thọ mạng ngắn thì
phước báo nhỏ. Tuy
phước nhỏ nhưng nếu chịu
tu, cũng rất dễ chẳng
khó, duyên tu phước lại
thù thắng hơn.
Dùng thời gian ngắn để
tu phước báo to lớn, đây
là người thông minh, có
trí huệ. Thế nên
chúng ta phải ghi nhớ
đoạn kinh văn này, đây
đều là cha mẹ, thân bằng
quyến thuộc đời quá khứ
có nhân duyên đến nhờ
chúng ta giúp đỡ.
Phía sau là phương pháp
giúp đỡ:
Phổ Quảng, nhữ dĩ thần
lực khiển thị quyến
thuộc, lịnh đối chư
Phật, Bồ Tát tượng tiền,
chí tâm tự độc thử kinh,
hoặc thỉnh nhân độc, kỳ
số, tam biến hoặc thất
biến.
Này Phổ Quảng, ông nên
dùng thần lực
khiến cho những quyến
thuộc đó đối trước tượng
của chư Phật,
Bồ Tát, chí tâm tự đọc
kinh này, hoặc thỉnh
người khác đọc, đủ số ba
biến hoặc bảy biến.
Đây là Phật
sự siêu độ, cho nên Phật
sự siêu độ là từ kinh
Địa Tạng mà có. Tự
mình có thể đọc thì tốt
nhất, vì tâm mình thành
khẩn, đọc kinh vì người
nhà, quyến thuộc của
mình, tâm ấy rất kiền
thành. Nếu tự mình
không thể đọc, thì mời
người khác đọc, hiện nay
phần đông đều thỉnh
người xuất gia. Vì
trong kinh có nói, người
khác đọc cho họ, họ chỉ
được một phần bảy lợi
ích. Do đó thường
thường người ta thỉnh
bảy người đọc thì họ mới
được một phần, là đạo lý
như vậy. Đọc ba
lần, bảy lần cũng được.
Chúng ta phải hiểu lý
luận và phương pháp của
việc siêu độ thì mới là
không mê tín, bạn phải
nói cho người ta tin, đó
là sự thật.
Như thị ác
đạo quyến thuộc, kinh
thanh tất thị biến số,
đương đắc giải thoát,
nãi chí mộng mị chi
trung vĩnh bất phục
kiến.
Như vậy, kẻ quyến thuộc
đang ở trong ác đạo kia,
khi tiếng tụng kinh đủ
số biến đó xong, sẽ được
giải thoát, cho đến
trong mộng trong mị
không thấy hiện về nữa.
Bạn không còn mộng thấy
họ nữa. Mộng chẳng
thấy là người ấy đã
thoát khỏi quỷ đạo, đã
được lợi ích, thoát khỏi
cõi quỷ, hơn phân nửa là
đầu thai đến làm người,
hoặc được phước đức lợi
ích lớn thì có thể sanh
lên trời. Sanh lên
cõi trời đều ở cõi trời
Đao Lợi trở xuống, sanh
đến Tứ Vương Thiên, Đao
Lợi Thiên. Trong
kinh nói phần đông đều
là nói sơ lược, nếu nói
kỹ, giữa cõi trời Tứ
Vương và Đao Lợi, phước
báo và cấp bậc cũng khác
nhau. Cho dù sanh
đến trời Đao Lợi, phước
báo mỗi người cũng chẳng
giống nhau. Cũng
như chúng ta đều sanh
đến cõi người, nhưng thọ
dụng của mỗi người trong
đời chẳng giống nhau, có
người giàu sang phú quý,
có người nghèo khổ thấp
hèn, đều cùng được thân
người nhưng phước báo
khác nhau. Do đó
có thể biết cùng được
thân cõi trời, phước báo
cũng khác nhau.
Những người trên trời
chẳng có phước, hoặc
phước rất ít, hoàn cảnh
sanh hoạt vật chất có
khi còn chẳng bằng người
có đại phước báo ở cõi
người, nhưng thân của họ
là thân trời. Đạo
lý này thật ra chẳng khó
hiểu, bạn hãy nghĩ con
người chúng ta, được
thân người trong cõi
người, cõi súc sanh
chẳng bằng cõi người, có
những sự hưởng thọ của
súc sanh, những người
nghèo khổ chúng ta chẳng
bằng nó, sánh chẳng bằng
súc sanh, đây chẳng phải
là cùng một đạo lý sao?
Thế nên bạn quan sát kỹ
lưỡng một chút thì dần
dần bạn sẽ thấu hiểu
trạng huống trong lục
đạo luân hồi.
Người giàu có nuôi những
con vật trong nhà, người
nghèo khổ thật sự sánh
chẳng bằng [những con
vật ấy], thua xa.
Sự ăn uống, nơi cư trú
của nó được bao nhiêu
người chăm sóc, lúc sanh
bịnh còn có viện thú y,
được xe đưa rước vào
bịnh viện, người nghèo
làm sao có phước như
vậy? Cho nên thân
của nó là thân súc sanh,
súc sanh có phước báo,
phước báo đó lớn hơn
người nghèo chúng ta quá
nhiều. Cùng một
đạo lý ấy, người cõi
trời mà không có phước
báo còn chẳng bằng đời
sống con người, đây là
đạo lý chung, cho nên
tuy sanh lên trời nhưng
cũng phải có phước báo
mới được. Sanh lên
trời cần có điều kiện
gì? Tu hoàn hảo
Ngũ Giới Thập Thiện thì
được sanh lên trời.
Nếu không tu bố thí,
chẳng chịu giúp đỡ người
khác, sanh lên trời cũng
chẳng có phước báo, thế
mới biết tu phước quan
trọng lắm. Khi bạn
thật sự có phước báo,
bất luận sanh đến cõi
nào cũng hưởng phước,
cho nên phước báo có thể
đem theo được, chẳng
mất. Công đức cũng
có thể mang theo được,
nhưng công đức rất dễ
mất, trong kinh thường
nói: ‘lửa [sân hận]
thiêu trụi rừng công
đức’, công đức chẳng dễ
giữ gìn. Phước đức
thì không sao, có thể
giữ gìn, công đức rất
khó gìn giữ. Công
đức, nói cho chư vị biết
tâm thanh tịnh, Định-Huệ
là công đức, vừa khởi
tâm tham, tâm sân giận
lên thì tâm thanh tịnh
của bạn mất tiêu, lập
tức bạn sẽ mê mất,
định-huệ chẳng còn nữa,
định-huệ là công đức,
khác với phước đức.
Xem tiếp đoạn sau, đoạn
này [có tiểu đề trong
cuốn Chú Giải] là ‘Hạ
tiện cầu hối’, tức là
phương pháp sám hối.
Phục thứ Phổ Quảng nhược
vị lai thế hữu chư hạ
tiện đẳng nhân, hoặc nô
hoặc tỳ, nãi chí chư bất
tự do chi nhân, giác tri
túc nghiệp yếu sám hối
giả.
Lại nữa, này Phổ Quảng,
nếu đời sau có những
người hạ tiện, hoặc tớ
trai, hoặc tớ gái, cho
đến những kẻ không được
tự do, biết rõ là do túc
nghiệp, cần phải sám
hối.
Đây là nêu ra một nhóm
chúng sanh sám hối
trước. Bần tiện
(nghèo hèn) là sự khổ ở
nhân gian, ‘bần’ là
chẳng có của cải, ‘tiện’
là chẳng có địa vị, trái
ngược với phú quý.
‘Phú’ là có của cải,
‘quý’ là có địa vị, quý
tiện và bần phú sai khác
rất lớn. Sự sai
khác này là do những
nghiệp chúng ta đã làm,
đã tạo ở đời trước.
Nếu muốn trách xã hội
này giàu nghèo chẳng
quân bình, giàu nghèo
tuyệt đối sẽ chẳng quân
bình, đây là đạo lý nhất
định. Tại sao?
Vì nghiệp của mỗi cá
nhân tạo thành khác
nhau, thì làm sao tạo
thành quả báo giống nhau
cho được? Đây là
việc chẳng thể xảy ra.
Do đó [y theo] lời dạy
của thánh hiền, hy vọng
mọi người đều hiểu rõ sự
thật của nhân quả báo
ứng, mọi người sẽ chẳng
trách móc nữa.
Người giàu có nghĩa vụ
giúp đỡ người nghèo,
người nghèo hèn biết
được mình phải tu phước,
biết phải sám hối, làm
phước thì xã hội này mới
có thể hòa hài, an định,
phồn vinh, tôn trọng lẫn
nhau. Ngày nay họ
giàu là do đời trước họ
tu giỏi, tôi nghèo là vì
tôi chẳng tu, tôi làm
sao có thể trách kẻ khác
được? Trồng dưa
thì được dưa, trồng đậu
thì được đậu, hiểu đạo
lý này thì sẽ chẳng oán
trời trách người, biết
mình chẳng tu.
Chẳng tu thì không sao
cả, hiện nay tu cũng còn
kịp, ngày nay tôi chịu
tu thì đời sau sẽ tốt
đẹp. Nếu người
giàu chẳng chịu tu, chỉ
hưởng phước mà không tu
phước thì đời sau sẽ
biến thành nghèo hèn, đó
mới là đạo lý chân
chánh.
Trong đoạn này Thanh
Liên pháp sư trích dẫn
kinh Biện Ý, đây là lời
Phật dạy: “Năm việc
thường sanh đê tiện, làm
nô tỳ cho người”, làm nô
tỳ thì chẳng có địa vị
trong xã hội, chẳng có
địa vị thì gọi là
‘tiện’. Phật nói
có năm nghiệp nhân tạo
thành quả báo này:
Thứ nhất “Kiêu mạn bất
kính nhị thân” (Kiêu
ngạo chẳng kính cha mẹ),
nhị thân là cha mẹ, thái
độ đối với cha mẹ kiêu
mạn, chẳng tôn kính cha
mẹ, chẳng hiếu thuận,
đời sau kẻ ấy phải chịu
quả báo này.
Thứ hai “Cang cường vô
khác tâm” (Ương ngạnh
chẳng cung kính),
‘khác’ là cung khác, tức
là cung kính, hạng người
này cũng có quả báo như
vậy; cứ tưởng mình giỏi,
bất cứ ở đâu cũng chẳng
nhường kẻ khác.
Trong kinh này đức Phật
cũng thường cảm thán
“Chúng sanh ở Diêm Phù
Đề ương ngạnh, khó dạy”,
tại sao Phật nói chúng
sanh khó dạy? Tập
khí quá nặng, chúng ta
thường gọi là cá tánh
quá mạnh, chẳng dễ tiếp
nhận lời khuyên của kẻ
khác.
Thứ ba “Phóng dật bất
lễ tam tôn” (Phóng dật
chẳng lễ Tam Bảo)
tam tôn là Tam Bảo,
khinh mạn Tam Bảo.
Điều thứ nhất là chẳng
kính cha mẹ, còn điều
này là chẳng kính thầy
giáo. Đại đạo
trong thế gian, xuất thế
gian là hiếu thân, tôn
sư, chẳng hiếu thuận cha
mẹ, chẳng tôn kính thầy
giáo, Tam Bảo là gương
mẫu hạng nhất trong sư
đạo. Phật pháp là
sư đạo, là mô phạm, điển
hình cho thầy giáo, bạn
làm sao có thể đối với
họ tùy tiện, chẳng có
một chút cung kính được?
Thứ tư là “Đạo thiết dĩ
vi sanh nghiệp” (Trộm
cắp làm nghề nghiệp),
cả đời làm việc trộm cắp
để duy trì cuộc sống.
Thủ đoạn trộm cắp rất
nhiều, nhất định phải
hiểu rõ ý nghĩa chân
chánh của nó, trong Phật
pháp gọi là ‘không cho
mà lấy’, đó đều gọi là
trộm cắp, cũng như người
Trung Quốc chúng ta
thường gọi là tài vật
bất nghĩa. Bạn
chẳng nên có được, bạn
chiếm lấy nó, đoạt lấy,
đây cũng là nghiệp nhân
của sự hạ tiện.
Thứ năm ‘Phụ trái đào
tị bất thường’ (Thiếu nợ
tránh né không trả),
thiếu nợ chẳng chịu trả
nợ, đời này không chịu
trả, đời sau gặp lại
cũng phải trả, chẳng thể
tránh được. Điểm
này chúng ta nhất định
phải biết. Thiếu
nợ thì nhất định phải
trả, thiếu nợ mạng phải
đền mạng, nhà Phật nói
nhân quả thông suốt ba
đời, chẳng phải chỉ có
đời này mà thôi.
Đời này bạn tránh được,
còn đời sau thì sao? Còn
đời sau nữa, bất kỳ đời
nào gặp lại cũng phải
trả, thiếu mạng phải đền
mạng, thiếu tiền phải
trả tiền. Trừ phi
đối phương giác ngộ, chỉ
có học Phật mới giác
ngộ; đối phương giác ngộ
rồi [và nói với bạn]:
“Những gì bạn thiếu tôi
thì thôi, chẳng cần bạn
trả, bạn thiếu nợ mạng
cũng chẳng cần bạn trả”,
dứt hết rồi, vậy mới
được. Nếu không
gặp người giác ngộ, họ
cứ ghi nhớ trong lòng,
đến đòi nợ, đòi mạng,
vậy thì không có cách
chi khác. Sách
chép chuyện trong nhà
Phật có ghi đại sư An
Thế Cao triều Hán.
Truyện Ký An Thế Cao
trong Cao Tăng Truyện,
quyển một, [có chép]
ngài đến Trung Quốc hai
lần để đền mạng.
Trong đời trước ngài đã
ngộ sát hai người, đời
này đến để đền mạng hai
người ấy. Hai lần
này cũng là ngộ sát,
ngài ngộ sát người ta,
người ta cũng ngộ sát
ngài.
Đây là Bồ Tát thị hiện
để nói cho chúng ta khi
thành Phật, thành Bồ Tát
cũng chẳng có cách gì
khác, vẫn phải đền mạng,
thiếu tiền cũng phải trả
tiền, thiếu nợ mạng phải
đền mạng. Chẳng
thể nói bạn thành Phật,
thành Bồ Tát thì có thể
không trả, chẳng có đạo
lý này, [nếu vậy thì]
luật nhân quả sẽ bị lật
đổ. Thành Phật,
thành Bồ Tát cũng không
tránh khỏi, huống chi là
phàm phu chúng ta.
Phàm phu khi trả nợ, đền
mạng chẳng cam chịu,
chẳng cam tâm thì phiền
phức sẽ lớn, trả tới trả
lui dây dưa chẳng dứt,
thì sẽ rắc rối lớn lắm.
[Cứ luân phiên] đòi nợ,
trả nợ, đòi mạng, đền
mạng chẳng dứt, nhiều
đời nhiều kiếp đều làm
việc này, khổ chẳng nói
nổi. Phật, Bồ Tát
tốt hơn ở chỗ nào?
Họ đều rõ ràng, rành rẽ
vì họ có Túc Mạng Thông,
Tha Tâm Thông, Thiên
Nhãn Thông, họ thấy rõ
nhân duyên đời trước rõ
ràng, cho nên họ trả
từng món nợ, trả sạch
hết, sau này không còn
nữa. Họ tình
nguyện, đồng ý trả, bị
người ta giết cũng cam
tâm tình nguyện, tuyệt
chẳng có tâm trả thù, nợ
nần đến đây chấm dứt.
Phàm phu thì [chẳng chịu
trả nợ nên] món nợ này
chẳng chấm dứt, chẳng
cam tâm, chẳng chịu, vẫn
còn tâm niệm trả thù,
kết oán đời đời kiếp
kiếp không bao giờ dứt,
đáng sợ vô cùng.
Nếu các bạn thấu hiểu
những sự tướng này một
cách cặn kẽ, thì sau đó
bạn mới biết tại sao
phải tôn kính Tam Bảo,
tại sao công đức lợi ích
của Tam Bảo lớn như vậy,
bạn mới có thể hiểu được
đôi chút. Chỉ có
Tam Bảo mới có thể thật
sự giải quyết vấn đề,
những vấn đề vướng mắc
nhiều đời nhiều kiếp khi
gặp được Tam Bảo đều có
thể giải quyết, đây là
việc bất kỳ pháp môn nào
khác trong thế gian đều
chẳng làm nổi.
Chúng ta biết mình chịu
bần cùng hạ tiện, ở
trong địa vị này, biết
đây là quả báo do ác
nghiệp mình tạo đời
trước. Hiểu được
đạo lý này, hiểu được sự
thật thì sẽ có phương
pháp để cứu vãn, phương
pháp cứu vãn là sám hối.
‘Giác tri túc nghiệp’
(Biết được nghiệp đời
trước), đây tức là bạn
hiểu rõ. [Muốn]
‘Giác tri túc nghiệp’
nếu không nhờ Phật pháp
thì không thể được.
Trong pháp thế gian cũng
có, tuy có nhưng không
rốt ráo. Người có
học vấn, có đức hạnh
trong thế gian, như một
số nhà tôn giáo, họ cũng
biết một vài Sự, Lý của
nhân quả báo ứng, cũng
biết tu pháp sám hối,
nhưng tri kiến của họ
chẳng viên mãn, chẳng
rốt ráo, do đó cách sám
hối của họ hơn phân nửa
thuộc về Sự, có thể giúp
đỡ chút ít chứ chẳng thể
giải quyết vấn đề một
cách triệt để.
Muốn giải quyết vấn đề
triệt để phải giúp con
người thoát khỏi tam
giới, như vậy mới là
triệt để. Chẳng
thể thoát ra khỏi lục
đạo luân hồi thường là
phiền phức sẽ ở đằng
sau, trước mắt thì hòa
hoãn đôi chút, nhưng sự
việc chẳng chấm dứt, thế
mới biết Phật pháp thù
thắng vô cùng.
Phía sau là phương pháp
đức Phật dạy cho chúng
ta:
Chí tâm chiêm lễ Địa
Tạng Bồ Tát hình tượng
Chí tâm chiêm lễ hình
tượng Ðịa Tạng Bồ Tát
Quan trọng ở tại ‘chí
tâm’, dùng tâm chân
thành, tâm thanh tịnh,
tâm chân thành thanh
tịnh tức là pháp sám
hối. Do đó có thể
biết, hình tượng Địa
Tạng Bồ Tát là một tăng
thượng duyên cho chúng
ta sám hối. Tại
sao bạn có thể tiêu trừ
hết nghiệp chướng?
Vì bạn chí tâm.
Lúc bình thường bạn dùng
vọng tâm, bây giờ đối
trước hình tượng Phật,
Bồ Tát là dùng tâm chân
thành.
Nãi chí nhất thất nhật
trung, niệm Bồ Tát danh,
khả mãn vạn biến.
Rồi trong bảy ngày niệm
danh hiệu của Bồ Tát đủ
một vạn biến
‘Nhất thất’, bảy là một
con số viên mãn.
Bạn tìm thời gian tu tập
đàng hoàng trong bảy
ngày, trong bảy ngày
chấp trì danh hiệu Bồ
Tát, đây gọi là đả Địa
Tạng thất, hoặc đọc kinh
Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện, niệm danh hiệu
Địa Tạng Bồ Tát bảy
ngày, trong một thất
(bảy ngày). Thật
sự kết thất niệm Phật,
thật ra phải là bảy
ngày bảy đêm chẳng gián
đoạn, công đức lợi ích
vô cùng thù thắng.
Bảy ngày bảy đêm chẳng
hoài nghi, chẳng xen
tạp, chẳng gián đoạn,
người căn tánh lanh lợi
bèn được nhất tâm, được
nhất tâm bèn siêu phàm
nhập thánh. Phía
trước chúng ta thấy cô
Quang Mục, cô Bà La Môn,
họ đều dùng phương pháp
niệm Phật nên chẳng phải
là người phàm, nên họ có
thể đi đến địa ngục.
[Gặp] Quỷ vương trong
địa ngục, cô hỏi quỷ
vương nơi đó là nơi nào?
Quỷ vương đáp: “Đây là
địa ngục”. “Tôi
làm sao đến được?”.
Quỷ vương đáp “Có hai
hạng người có thể vào
địa ngục, thứ nhất là Bồ
Tát, thứ nhì là tội
nhân”. Do đó có
thể biết cô niệm Phật
một ngày một đêm, niệm
đến nhất tâm bất loạn
nên mới có thể vào địa
ngục. Đây là như
kinh Di Đà nói: “Nếu một
ngày… cho đến bảy ngày”.
Người lợi căn thì một
ngày, một đêm bèn được
nhất tâm, người căn tánh
thấp hơn thì bảy ngày,
bảy ngày bảy đêm có thể
được nhất tâm.
Hiện nay các đồng tu
niệm Phật trong Niệm
Phật Đường chúng ta,
đừng nói một thất, niệm
liên tiếp bảy cái thất
cũng chẳng được nhất
tâm, nguyên nhân là gì?
Niệm Phật chẳng đúng như
pháp. Chuyện phiền
phức nhất là xen tạp,
lúc niệm Phật vẫn còn
vọng niệm xen tạp trong
đó, như vậy thì không
đúng như pháp. Nếu
không có vọng niệm, thật
sự đạt đến tiêu chuẩn
này, không hoài nghi,
không xen tạp, không
gián đoạn thì bảy ngày
bảy đêm có thể thành
công.
Chúng ta xem Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục, xem Vãng
Sanh Truyện, trong Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục có
truyện pháp sư Oánh Kha
đời Tống. Ngài là
một người xuất gia phá
giới, tập khí rất nặng,
ngài tự biết rõ tương
lai nhất định sẽ đọa địa
ngục. Tạo tội
nghiệp quá nhiều, tự
mình chẳng có cách kiềm
chế mình, tâm chuyển
theo cảnh, vậy thì đâu
có cách nào khác?
Ngài tự biết rõ, ‘giác
tri túc nghiệp’, chỗ hay
của ngài là bốn chữ này,
ngài biết tương lai nhất
định sẽ đọa địa ngục,
nghĩ đến đọa địa ngục
bèn sợ hãi, ngài rất lo
sợ. Ngài hỏi các
bạn đồng tham làm sao có
thể không đọa địa ngục?
Những bạn đồng tham này
bèn đưa cho ngài một
cuốn ‘Vãng Sanh Truyện’.
Ngài coi Vãng Sanh
Truyện, mỗi khi đọc một
chuyện đều cảm động đến
khóc. Coi xong
ngài phát tâm nhất định
cầu vãng sanh, đóng cửa
phòng lại để niệm A Di
Đà Phật, ba ngày ba đêm
chẳng ăn cơm, cũng chẳng
uống nước. Ba ngày
ba đêm chí tâm chiêm lễ,
tâm chân thành cảm động
A Di Đà Phật, A Di Đà
Phật bèn đến. Ngài
niệm suốt ba ngày ba đêm
đến lúc chịu không nổi
nữa rồi ngả gục xuống,
trong lúc hôn trầm,
trong giấc ngủ mộng thấy
A Di Đà Phật tới, đây là
trong giấc mộng.
Ngài xin đức Phật A Di
Đà cầu vãng sanh, A Di
Đà Phật nói với ngài
“Thọ mạng của ông còn
mười năm, ông hãy gắng
dụng công, mười năm sau
lúc ông mạng chung, ta
sẽ đến tiếp dẫn ông”.
Ngài tự biết rõ về mình,
ngài nói: “Tập khí của
con quá nặng, thời gian
mười năm dài như vậy,
chẳng chống nổi sự dụ
hoặc bên ngoài, chẳng
biết sẽ tạo bao nhiêu
tội nghiệp, vậy thì làm
sao được! Con
chẳng muốn sống mười năm
nữa, con xin theo Phật
đi ngay bây giờ”.
A Di Đà Phật nghe xong
cũng gật đầu: “Thôi thì
như vầy, ba ngày sau ta
đến tiếp dẫn ông”.
Pháp sư Oánh Kha rất vui
mừng bèn tỉnh dậy,
chuyện này chẳng giả,
ngài nói với đại chúng
ba ngày sau sẽ vãng
sanh. Cảnh giới
hoàn toàn giống với cô
Quang Mục, cô Bà La Môn,
ba ngày ba đêm. Do
đó trong kinh Di Đà
nói “Nếu một ngày, …,
đến bảy ngày” [là thật]
chẳng giả, vấn đề là bạn
có thể ‘chí tâm’ hay
không? Bạn có thể
‘không xen tạp’ không?
Ngày nay công phu niệm
Phật của chúng ta không
thể đắc lực, nói thật ra
hiện nay thì ít hoài
nghi, nhưng không thể
nói là không có, sự hoài
nghi đó ngay cả bạn cũng
chẳng biết. Nguyên
nhân là gì? Đối
với đạo lý và chân tướng
sự thật của việc niệm
Phật vãng sanh bạn cũng
chẳng hiểu rõ triệt để,
cho nên tâm hoài nghi
của bạn chưa dứt.
Thật sự hiểu rõ triệt
để, chẳng hoài nghi,
không hoài nghi thì nhất
định sẽ chẳng lưu luyến
thế gian này, do đó nếu
còn lưu luyến thế gian
này chứng tỏ bạn còn
hoài nghi. Mục
đích của sự giảng kinh
thuyết pháp là ở chỗ
này, thật sự giúp đỡ đại
chúng đoạn nghi sanh
tín. Sau đó công
phu sẽ chẳng xen tạp,
nếu làm đến mức chẳng
xen tạp, chẳng gián
đoạn, chẳng có một ai
không thành công hết.
Cho nên đứng mà vãng
sanh, ngồi mà vãng sanh,
chẳng sanh bịnh.
Pháp sư Oánh Kha chẳng
sanh bịnh, niệm Phật rõ
ràng mà vãng sanh; thời
đại gần đây cũng có
nhiều người làm được
việc này. Chúng ta
làm sao có thể nói không
tin được? Tại sao
họ có thể làm được?
Không sanh bịnh là do
sám trừ hết nghiệp
chướng, chí tâm thì có
thể sám trừ nghiệp
chướng. Chúng ta
còn sanh bịnh là còn
nghiệp chướng, bạn chẳng
chịu hết lòng sám trừ
nghiệp chướng, cho nên
còn bị ma bịnh trói
buộc. Chân tâm sám
hối thì sẽ tiêu trừ hết
nghiệp chướng.
Bịnh nghiệp chướng, sám
hối có thể trị dứt, công
đức bạn sám hối thật sự,
oán gia trái chủ cũng xa
lìa, cũng được hưởng ké,
được lợi ích. Cho
nên pháp sám hối nói
thật ra, tám vạn bốn
ngàn pháp môn đều thuộc
về pháp môn sám hối, hai
chữ ‘sám hối’ bao gồm
hết tất cả pháp môn tu
hành của Bồ Tát, chẳng
có pháp nào không phải
là pháp sám hối.
Phía sau nói về quả báo
có được:
Như thị đẳng nhân, tận
thử báo hậu, thiên vạn
sanh trung, thường sanh
tôn quý, cánh bất kinh
tam ác đạo khổ.
Những người như thế sau
khi mãn báo thân này,
trong ngàn vạn đời về
sau thường sanh vào nhà
tôn quý, không phải trải
qua nỗi khổ nơi ba đường
ác nữa.
Đây là quả báo.
Cho nên hiện nay bần
cùng, hạ tiện thì phải
biết nghiệp nhân của
mình, biết nghiệp nhân
rồi quay lại tu Bồ Tát
đạo. Nếu nói, đây
là nói thời quá khứ làm
nô tỳ cho kẻ khác, bạn
phải chịu chủ nhân kiềm
chế, tự mình chẳng thể
tự do, chẳng có bảy ngày
bảy đêm để tu hành, thì
lúc bình thường tu hành
cũng được. Vả nữa
trong các cách tu hành
chẳng pháp môn nào thù
thắng hơn pháp môn niệm
Phật, pháp môn niệm Phật
chẳng chướng ngại, mọi
lúc mọi nơi trong tâm
chỉ có A Di Đà Phật, nhớ
Phật niệm Phật cũng
chẳng gây trở ngại cho
công việc của bạn.
Bạn làm việc gì thì cũng
làm như thường, bạn còn
làm được tốt hơn, làm
viên mãn hơn.
Trong tâm hết thảy đều
buông xuống, nhất tâm
niệm Phật. Có khả
năng thì có thể đọc
kinh, chẳng có khả năng
đọc kinh thì một câu A
Di Đà Phật này cũng đủ
rồi. Trong thời
cận đại chúng ta gặp
không ít người chỉ thọ
trì một câu A Di Đà
Phật, lúc vãng sanh
tướng lành thù thắng phi
thường, chúng ta nhìn
thấy công đức lợi ích
tận mắt. Cho nên
nhất định phải niệm
Phật, niệm Phật là công
đức hạng nhất, niệm Phật
là phước đức thù thắng
vô biên. Nghiệp
chướng tiêu trừ rồi thì
phước báo tự nhiên hiện
ra, nghiệp chướng chưa
tiêu hết cũng chẳng
màng, hết lòng nỗ lực tu
học, đời sau nhất định
có quả báo thù thắng.
Không những không đọa ba
đường ác, mà còn siêu
việt lục đạo luân hồi,
còn có thể độ rất nhiều
chúng sanh, thật sự là
tự hành hóa tha.
Chuyển thân tội báo
thành thân Bồ Tát, đó
không phải là cùng Bồ
Tát ứng hóa hay sao, nên
dùng thân nô tỳ để độ
thì hiện thân nô tỳ để
độ, như vậy chẳng phải
là cùng một chuyện hay
sao? Vấn đề là bạn
đã thật sự giác ngộ hay
chưa, thật sự giác ngộ
thì dùng thân này để tu,
dùng thân này để chứng
quả, dùng thân này để độ
hóa hết thảy chúng sanh.
Bạn niệm Phật thành tựu,
vãng sanh tự tại, nếu
bạn có thể đứng mà vãng
sanh, ngồi mà vãng sanh,
thì cả nhà của bạn sẽ
được độ.
Lúc trước ở Hương Cảng, bà
chủ Đông Liên Giác Uyển
là phu nhân Hà Đông, cụ
niệm Phật vãng sanh nên
độ được cả nhà. Cả
nhà cụ đều theo đạo Cơ
Đốc, chỉ có cụ niệm
Phật, nhưng con cái cụ
rất hiếu thuận, cũng rất
thông minh, tuy tín
ngưỡng khác nhau, người
nhà họ rất tự do, đều
tôn trọng lẫn nhau.
Cụ ăn chay niệm Phật,
con trai, con gái, con
dâu cụ đều là tín đồ Cơ
Đốc, họ đều tôn trọng
lẫn nhau. Lúc cụ
vãng sanh, cụ nói với
các con: “Cả đời chúng
ta đều rất tôn trọng,
đều chẳng can thiệp vào
tín ngưỡng của kẻ khác”,
cụ nói: “Hôm nay má vãng
sanh, má chỉ có một yêu
cầu là muốn các con niệm
Phật tiễn đưa má ra đi”.
Con và con dâu cũng rất
thông hiểu nhân tình và
nói: “Dạ, tụi con sẽ
niệm Phật tiễn má đi”.
Cụ thật sự ngồi mà vãng
sanh, người nhà niệm
Phật tiễn cụ đi.
Chứng kiến cảnh tượng ấy
mới biết Phật giáo chẳng
phải giả, [sau đó] các
con của cụ đều niệm
Phật, đều quay trở về.
Bạn hãy xem cụ rất kiên
nhẫn độ người nhà của
cụ, đến phút cuối cùng
mới biểu diễn cho các
con thấy; lúc thường
ngày cụ chẳng khuyên họ,
một câu cũng chẳng nói,
rất tôn trọng các con,
cuối cùng biểu diễn một
phen cho họ coi, coi Cơ
Đốc Giáo có thể ngồi mà
vãng sanh không?
Có thể biết trước ngày
giờ ra đi không?
Dùng phương pháp ấy mà
độ cả nhà của cụ.
Không những độ cả nhà mà
còn ảnh hưởng đến cả xã
hội. Đây chẳng
phải là một nhà bình
thường, ký giả đến phỏng
vấn, đăng lên báo, bạn
xem ảnh hưởng đến bao
nhiêu người? Như
vậy mới thật là có trí
huệ. Phương pháp
độ người nhà rất nhiều,
bạn phải thật sự hiểu
rõ, bạn phải biểu diễn
cho họ thấy. Người
hiện đại dùng miệng nói,
họ chẳng tin thì biểu
diễn cho họ coi, họ
không thể không tin.
Trong chú giải trang 56,
quý vị hãy coi, ở đây
trích dẫn lời nói trong
kinh Biện Ý, hàng thứ
nhất trang 56.
“Phật cáo Biện Ý hữu ngũ
sự đắc vi tôn quý, chúng
nhân sở kính” (Phật bảo
Biện Ý có năm sự việc
được tôn quý, mọi người
kính trọng),
Ðây là nghiệp nhân, chỉ
cần bạn chịu tu thì bạn
sẽ được phước báo.
Thứ nhất là
‘Thí huệ phổ quảng’ (Bố
thí rộng rãi), tức
là bố thí nhiều, tu bố
thí, dùng tâm bình đẳng,
tâm thanh tịnh tu bố
thí, bạn sẽ được thân
tôn quý.
Thứ nhì “Lễ kính Tam
Bảo cập chúng trưởng
giả” (Lễ kính Tam Bảo và
những người đức hạnh
đáng tôn kính), đây
tức là hộ trì Phật pháp,
tôn kính sư trưởng.
Thứ ba là “Nhẫn nhục vô
hữu sân khuể” (Nhẫn
nhục, chẳng nổi giận).
Thứ tư “Nhu hòa khiêm
hạ” (Mềm mỏng, hiền hòa,
khiêm tốn, nhún nhường),
đây là thái độ phải có khi
xử sự, đãi người, tiếp
vật.
Thứ năm “Bác văn kinh
giới” (Nghe rộng kinh
giới), thông đạt
kinh điển, đối với giới
luật họ cũng hiểu rõ, có
thể tuân giữ, làm được.
Đây là lời Phật dạy trong
kinh: năm việc được
người tôn kính, nghiệp
nhân để được quả báo tôn
quý, có địa vị trong xã
hội. Do đó nếu bạn
không tu nhân thì làm
sao có quả báo được?
Bạn muốn có quả báo thù
thắng thì phải biết làm
thế nào tu nghiệp nhân
thù thắng, nghiệp nhân
quả báo tơ hào chẳng
sai.
Hôm nay đã đến giờ,
giảng đến đây thôi.
Tập 24 (Số 14-12-24)
Xin mở cuốn Khoa Chú quyển
trung, trang 56:
Phục thứ Phổ Quảng,
nhược vị lai thế trung,
Diêm Phù Đề nội, Sát
Lợi, Bà La Môn trưởng
giả, cư sĩ, nhất thiết
nhân đẳng cập dị tánh
chủng tộc hữu tân sản
giả, hoặc nam hoặc nữ,
thất nhật chi trung, tảo
ư độc tụng thử bất tư
nghị kinh điển, cánh vi
niệm Bồ Tát danh, khả
mãn vạn biến, thị tân
sanh giả hoặc nam hoặc
nữ túc hữu ương báo,
tiện đắc giải thoát, an
lạc dị dưỡng, thọ mạng
tăng trưởng, nhược thị
thừa phước sanh giả,
chuyển tăng an lạc, cập
dữ thọ mạng.
Lại nữa, này Phổ Quảng,
nếu trong đời vị lai,
nơi cõi Diêm Phù Ðề,
trong hàng Sát Lợi, Bà
La Môn, trưởng giả, cư
sĩ, hết thảy các người
và những chủng tộc dòng
họ khác, có người mới
sinh được con trai hoặc
con gái, trong vòng bảy
ngày, sớm vì đứa trẻ đó
mà tụng kinh điển không
thể nghĩ bàn này, lại vì
đứa trẻ mà niệm danh
hiệu của Bồ Tát đủ một
vạn biến, thì đứa trẻ
mới sinh đó, hoặc trai
hoặc gái, nếu đời trước
có ương báo thì đều được
giải trừ, lại thêm yên
ổn, vui vẻ, dễ nuôi, thọ
mạng tăng trưởng, còn
nếu nương nơi phước lực
mà thọ sanh, thì nó càng
được an vui hơn và sống
lâu hơn.
Đây là dạy lúc sanh sản
nên làm thế nào để tu
phước. Sự việc
này, vệ sinh, thuốc men
hiện nay phát triển hơn
lúc trước, tình huống
tốt hơn lúc trước rất
nhiều. Thời xưa,
đặc biệt là những vùng
nông thôn lạc hậu, sanh
con là một việc lớn liên
quan đến tánh mạng.
Do đó đức Phật ở đây đặc
biệt nêu ra, dạy chúng
ta cách làm thế nào tu
học, làm sao cho mẹ con
được bình yên. Đức Phật
trong kinh dạy chúng ta,
quan hệ giữa người trong
nhà vô cùng mật thiết,
chắc chắn là có nhân
duyên sâu xa, chẳng phải
ngẫu nhiên mà tụ hợp.
Nhân duyên vô cùng phức
tạp, Phật quy nạp những
nhân duyên phức tạp này
thành bốn loại lớn, đó
là như trong kinh thường
nói: ‘báo ân, báo oán,
đòi nợ, trả nợ’, cho nên
mới tụ lại thành người
một nhà. Cha con,
anh em, chị em đều chẳng
rời những quan hệ này,
do nhân duyên đời trước
nên mới thành người một
nhà, ngạn ngữ thường
nói: “Chẳng phải oan
gia thì chẳng đụng đầu”,
lời này rất có đạo lý.
Nhưng sau khi giác ngộ,
người trong nhà của bạn
biến thành quyến thuộc
trong Pháp, như vậy rất
tốt, rất thù thắng.
Chẳng giác ngộ thì người
trong nhà [tụ lại để] ân
oán báo đền lẫn nhau, đó
gọi là khổ chẳng nói
nổi. Rốt cuộc thì
báo ân rất ít, báo oán
lại nhiều, trả nợ thì
ít, đòi nợ thì nhiều,
cho nên cả đời người thế
gian xảy ra những
‘chuyện chẳng như ý nhiều
như cơm bữa’, đây là
sự thật mà chúng ta đã
từng trải qua, đích thân
nhìn thấy. Cho nên
con cái sanh ra, nhất
định phải hiểu nhân
duyên đời trước của nó.
Quả báo đều là bình
đẳng, bất luận giàu
sang, nghèo hèn, trong
kinh nói tới ‘Sát Lợi’,
trước kia ở Ấn Độ là
hoàng tộc, Bà La Môn là
những nhà tôn giáo có
địa vị cao trong xã hội,
trưởng giả, cư sĩ đều có
phước báo. Phía
sau nói ‘hết thảy các
người và những chủng tộc
dòng họ khác’, phạm vi
bao gồm rất rộng, bao
gồm hết bốn dòng họ,
giai cấp ở Ấn Độ, người
Trung Quốc chúng ta gọi
là nghèo, giàu, sang,
hèn. Bất luận là
thân phận nào, địa vị
nào, sanh sản tuyệt
chẳng thể tránh khỏi,
hơn nữa sự đau khổ trong
khi sanh sản đều bình
đẳng, người giàu sang
thì chăm sóc chu đáo một
chút, người nghèo hèn
thì chăm sóc tệ một
chút. Nói tóm lại,
nỗi khổ này chẳng thể
nào tránh khỏi.
Phật dạy chúng ta phương
pháp ‘trong vòng bảy
ngày sớm vì đứa trẻ đó
mà đọc tụng kinh điển
không thể nghĩ bàn này’,
phải ‘sớm đọc’.
Tốt nhất là nếu người
trong nhà có tín ngưỡng
Phật pháp, có thể tiếp
nhận giáo huấn của đức
Phật, nên đọc vào lúc
nào? Ngay lúc mang
thai bèn đọc. Mỗi
ngày đọc một bộ Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh,
hoặc niệm một ngàn danh
hiệu Địa Tạng Bồ Tát,
phải dùng tâm chân
thành, cung kính để tụng
niệm thì phước báo sẽ
rất lớn. Cho dù
đứa con trong thai đến
để báo oán, là oán gia
chủ nợ đến, nếu bạn có
thể chăm sóc nó như vậy
thì oán kết ấy sẽ được
hóa giải. Bạn có
ân đối với nó thì nó sẽ
chẳng báo oán, nó sẽ đến
cảm ơn, chuyển biến phải
bắt đầu từ lúc ban đầu.
Ở đây nói ít nhất phải
là bảy ngày trước khi
sanh, đương nhiên càng
sớm thì càng tốt.
Cho nên khi chúng ta
hiểu đạo lý này, biết
phương pháp này, tốt
nhất là khi mang thai
bèn đọc, bèn tu tập theo
phương pháp này.
Người làm mẹ, tâm bình
khí hòa, chân thành cung
kính, thanh tịnh bình
đẳng, khởi tâm động niệm
gì cũng tuyệt đối sẽ ảnh
hưởng đến đứa bé trong
thai. Dùng lý luận
khoa học hiện nay để nói
thì mọi người dễ hiểu
hơn, đây thuộc về hiện
tượng ba động (làn
sóng).
Nói theo Phật pháp,
giống như hết thảy vạn
pháp ở Tây Phương Cực
Lạc thế giới đều phát
ánh sáng, không những
thân người phát ánh
sáng, vạn vật cũng phát
quang. Thật ra Cực
Lạc thế giới quang minh
chiếu khắp, thế gian này
của chúng ta chẳng phóng
quang hay sao? Nếu
tất cả hết thảy người,
vật ở thế gian này của
chúng ta chẳng quang
minh chiếu khắp như tây
phương Cực Lạc thế giới
thì Nhất Chân pháp giới
sẽ chẳng đứng vững nữa.
Đâu có lý nào chỗ này
quang minh cực lớn, còn
chỗ kia chẳng có quang
minh, vậy thì chẳng có
lý? Nhất định phải
biết Nhất Chân pháp giới
bao gồm thế giới này của
chúng ta, chẳng phải nói
rời khỏi thế giới này
của chúng ta lại có một
Nhất Chân pháp giới
riêng rẽ, chẳng có đạo
lý ấy! Trong kinh
nói về một việc gì?
Ở chỗ đó quang minh
chiếu khắp, mọi người
đều có thể đích thân cảm
giác được, còn quang
minh chiếu khắp ở thế
gian này của chúng ta,
chúng ta chẳng cảm giác
được, là đạo lý như vậy
chứ không phải là quang
minh không có chiếu.
Tại sao chúng ta chẳng
có cảm giác? Vì
tâm chúng ta không thanh
tịnh, tâm quá loạn rồi,
vọng niệm quá nhiều, nên
bạn chẳng nhìn thấy cảnh
giới ấy; chẳng phải là
không có, cùng Cực Lạc
thế giới và Hoa Tạng thế
giới không hai không
khác. Dùng cách
nói của vật lý hiện đại
thì rất dễ hiểu, quang
là gì? Quang là
hiện tượng làn sóng (ba
động). Chỉ cần có
động thì sẽ có sóng,
hiện nay khoa học gia
gọi là ‘ba’, nhà Phật
chúng ta gọi là ‘quang’,
quang chính là ba động.
Hết thảy tất cả vật chất
hiện nay đều biết, vật
chất cấu tạo hình thành
như thế nào? Phân
tách đến cuối cùng biến
thành nguyên tử, điện
tử, lạp tử
.
Những vật chất cơ bản
này ở dưới trạng thái
gì? Đều chuyển
động. Đức Phật chẳng cần
các dụng cụ khoa học,
ngài nhìn thấy rất rõ
ràng, hiện nay dụng cụ
tân tiến nhất còn chưa
quan sát tới, Phật đã
nhìn thấy rõ ràng.
Đức Phật nói những hiện
tượng này cho chúng ta,
lời của ngài nói rất
khéo léo, rất uyển
chuyển, nói ra chân
tướng này, chẳng có ai
tin tưởng, chẳng ai tiếp
nhận. Thế nên cách
nói như vậy rất vi diệu,
rất cao minh, chúng ta
gọi là thiện xảo phương
tiện.
Phật nói hiện tượng vật
chất, nói cho chúng ta
bốn nguyên tắc ‘địa,
thủy, hỏa, phong’ (đất,
nước, lửa, gió)
Địa thủy hỏa phong nói
về cái gì? Nói về
vật chất căn bản, hiện
nay gọi là lạp tử cơ
bản, nhất định có bốn
hiện tượng này.
‘Địa’ là gì? Là
một dạng vật chất có thể
nhìn thấy được, thì gọi
là ‘địa’. Địa
tượng trưng cho vật
chất, mắt thịt chúng ta
chẳng thể nhìn thấy,
dưới kính siêu hiển vi
có thể phát hiện, thấy
được nó. Phật
chẳng cần những dụng cụ
này, mắt Phật gọi là Ngũ
Nhãn Viên Minh, ngài có
thể nhìn thấy, phàm phu
chúng ta chẳng thể nhìn
thấy. Thế nên mắt
của ngài sắc bén hơn
chúng ta, ngài nhìn thấy
hiện tượng này.
Vật chất căn bản hình
thành như thế nào?
Nó có mang điện.
Cho nên ‘hỏa đại’ tức là
điện dương, ‘thủy đại’
tức là điện âm, ngày nay
chúng ta nói nó có ôn độ
(độ ấm), có thấp độ (độ
ướt). ‘Phong đại’
là gì? Là trạng
thái di động, chẳng phải
chỉ tịnh (ở yên một
chỗ), đây là nói về vật
chất căn bản. Hết
thảy tất cả hiện tượng
vật chất bao gồm cả
những tổ chức tế bào của
con người đều có hiện
tượng này. Bạn
nghĩ xem nó làm sao
không có động được?
Lạp tử căn bản cũng
chuyển động ở đó.
Động thì sẽ sanh ra ‘ba’
(sóng [năng lượng]), ba
động có phạm vi bao lớn?
Nói cho chư vị lý luận
và phương pháp đều giống
nhau, làn sóng này biến
tận hư không pháp giới.
Sau đó bạn nghĩ thử xem,
vạn vật trời đất bao
nhiêu chúng sanh khởi
tâm động niệm, thì ‘ba’
(sóng) càng hiện rõ,
phúc độ ba động (cường
độ dao động) càng lớn.
“Ba động” của vật chất
tương đối vi tế, tương
đối nhỏ, từ đó bạn mới
biết làn sóng trong
không gian sinh hoạt của
chúng ta phức tạp đến
mức nào. Trong
kinh Phật nói thiện
niệm, thiện tâm thì làn
sóng sẽ ôn hòa, ổn định,
bình lặng, sau khi tiếp
xúc bạn sanh tâm hoan
hỷ, tiếp xúc có cảm giác
rất sung suớng. Ác
niệm ác tâm thì làn sóng
sẽ rất mãnh liệt, bạn
cảm xúc đến cả thân
người chẳng thoải mái.
Hiện nay có người gọi
hiện tượng này là ‘từ
trường’, gọi là từ
trường cũng được.
Ở nội địa Trung Quốc,
người luyện khí công gọi
là ‘khí’, cũng được, đều
là một việc này.
Bạn gọi là ‘khí’ cũng
được, trong Phật pháp
gọi là ‘quang’, gọi là
‘ba động’, gọi là ‘từ
trường’ đều cùng một đạo
lý.
Do đó có thể biết khi
thần thức đến đầu thai,
nó có niệm đầu (một
niệm), nó có làn sóng,
thế nên khi người mẹ
khởi tâm động niệm, hết
thảy cử chỉ đều ảnh
hưởng đến bào thai, vì
vậy người Trung Quốc
thời xưa chú trọng thai
giáo, đạo lý là như vậy.
Chúng ta hiểu được ‘thai
giáo’ ghi trong sách
xưa, trong đó có nói một
số nguyên lý, nhưng nói
chẳng rõ ràng, thấu
triệt, đọc xong chúng ta
nửa tin nửa ngờ, chẳng
biết mức nghiêm trọng
của ảnh hưởng [thai
giáo], chẳng biết được!
Ngày nay chúng ta hiểu
rõ chân tướng sự thật
của ‘ba động’ thì biết
khởi tâm động niệm ảnh
hưởng đến thai nhi rất
nhiều, rất lớn, do đó
người làm mẹ trong thời
gian mang thai, khởi tâm
động niệm đều là thiện,
đều thanh tịnh, thì đứa
bé trong thai nhận được
lợi ích rất lớn, quá
lớn! Người ta ai
cũng hy vọng con cái của
mình tốt lành, con hiếu
cháu hiền. Làm sao
dạy nó? Lúc mang
thai, tự mình chúng ta
phải hiếu thảo, phải tận
hiếu, ba động của sự
hiếu thảo ảnh hưởng tới
đứa trẻ. Chúng ta
tu Tịnh, tu thanh tịnh,
tu phước, vậy mới thật
sự dạy nó gieo trồng hạt
giống [thanh tịnh, phước
đức. Việc này]
chẳng phải là không có
đạo lý, nhất định chẳng
có mê tín.
Tại sao đức Phật dạy
chúng ta đọc bộ kinh
này? Kinh này là
Hiếu Kinh, tinh thần nói
trong kinh này quy nạp
vào bốn chữ ‘hiếu thân
tôn sư’, hiếu thuận cha
mẹ tôn kính sư trưởng là
căn bản của sự giáo học
thế gian và xuất thế
gian. Chúng ta tu
học Phật pháp Đại Thừa
bắt đầu học từ đâu?
Từ kinh Địa Tạng, Địa là
tâm địa, Tạng là là kho
tàng. Bảo tàng
trong tâm địa là gì?
Vô lượng trí huệ, vô
lượng đức năng; ‘đức’ là
phước đức, ‘năng’ là
năng lực kỹ thuật; vô
lượng tài nghệ là kho
báu vốn có trong tự tánh
chúng ta, đó gọi là Địa
Tạng. Kho báu chôn
dưới đất, giống như ngày
nay chúng ta gọi là kho
vàng bạc, nếu không khai
thác mà cứ chôn vùi dưới
đất, tuy có nhưng chúng
ta chẳng được thọ dụng.
Bạn phải biết khai thác,
dùng phương pháp gì để
khai thác? Khai
thác kho báu trong tự
tánh nhất định phải dùng
tánh đức, phải dùng công
cụ này, tương ứng với nó
thì mới khai phá được.
Trong tánh đức, tánh thù
thắng nhất chính là
‘hiếu kính’, thế nên
hiếu kính mới có thể
khai phát kho báu tự
tánh. Tu học Phật
pháp Đại Thừa phải bắt
đầu học từ đâu?
Phải học Địa Tạng trước
nhất, hạ thủ từ chỗ này.
Học Hiếu Đạo trước, từ
Hiếu Đạo xây dựng Sư
Đạo, Phật pháp là Sư
Đạo, Sư Đạo xây dựng
trên cơ sở của Hiếu Đạo.
Thuở trước tôi thấy một
số pháp sư đi Mỹ hoằng
pháp, khi tiễn đưa họ,
tôi khuyên họ đến Mỹ
đừng xây chùa miếu, tôi
khuyên họ xây Từ Đường,
đề xướng Hiếu Đạo.
Tại sao? Nếu không
có Hiếu Đạo thì Phật
pháp nhất định sẽ không
bám rễ, sẽ chẳng xây
dựng được đạo tràng Phật
pháp, vì chẳng có cơ sở,
Phật pháp là Sư Đạo.
Xây từ đường tốt hơn,
xây từ đường hoằng dương
Phật pháp, hiệu quả lớn
hơn xây chùa nhiều.
Vì bạn xây chùa xong,
người ta vừa nhìn thì
thấy là Phật giáo, người
chẳng tin Phật sẽ chẳng
bước vô, cái duyên ấy
bèn tuyệt mất. Tôi
xây từ đường mỗi năm
cúng tế tổ tiên, người
Trung Quốc chẳng kể là
tin theo tôn giáo nào,
ai cũng chẳng quên tổ
tiên, họ phải tới tham
gia lễ cúng tổ tiên.
Trong lúc cúng tế có thể
giảng giải Phật pháp, có
thể giảng giải giáo học
truyền thống của Trung
Quốc, được vậy thì dần
dần có thể cảm hóa hết
thảy đại chúng. Do
đó dùng từ đường làm đạo
tràng tốt hơn chùa miếu
nhiều lắm. Nhưng
những pháp sư này chẳng
nhận lời đề nghị của
tôi. Người Nhật,
người Trung Quốc xây đạo
tràng ở Mỹ rất nhiều,
trên thực tế đều là độ
cho kiều dân Trung Quốc,
rất ít người [Mỹ] ở địa
phương ấy bước vô,
nguyên nhân là ở chỗ
này, chúng ta đã lộn
ngược đầu đuôi rồi.
Cho nên tuy đã xây dựng
hơn một trăm năm, dùng
thí dụ như ở Mỹ, Phật
pháp được truyền đến Mỹ
đã trên một trăm năm,
ngày nay chẳng có biện
pháp bám rễ, chẳng có
biện pháp hoằng dương,
rất nhiều người không
biết nguyên nhân ở chỗ
nào.
Khi giảng kinh khắp nơi
ở Mỹ, tôi thường nhắc
nhở mọi người, chúng ta
chẳng có phước báo, sức
lực rất yếu kém, tôi đề
xướng hiện đại hóa và
bản địa hóa. Bạn
xây đạo tràng ở Mỹ, hình
thức của đạo tràng nhất
định phải dùng kiến trúc
của Mỹ, nhất định không
thể xây theo lối kiến
trúc cung điện của Trung
Quốc ở Mỹ, người Mỹ vừa
nhìn thấy liền nghĩ đây
là từ ngoài đến, văn hóa
nước ngoài, lập tức sanh
khởi tâm bài xích, sẽ
không chịu bước vào.
Do đó tôi khuyên mọi
người xây đạo tràng ở Mỹ
phải xây như thế nào?
Xây giống như tòa Bạch
Cung, xây giống [tòa
nhà] Quốc Hội của Mỹ.
Hình tượng Phật, Bồ Tát
ở trong ấy nhất định
phải tạo giống gương mặt
của người Mỹ, người Mỹ
vừa nhìn liền nghĩ “À,
đây là người nhà mình”,
như vậy mới độ họ được.
Chúng ta phải biết, hai
ngàn năm trước Phật pháp
truyền đến Trung Quốc,
những cao tăng Ấn Độ
thông minh, họ tạo tượng
Phật có gương mặt của
người Trung Quốc, xây
đạo tràng có hình thức
của người Trung Quốc.
Người Trung Quốc tôn
kính nhà vua nhất, vua
cư trú trong cung điện,
họ phỏng theo phương
thức ấy mà xây đạo
tràng, người dân nhìn
thấy rất ưa thích.
Trong đời này có ai đủ
phước có thể vào hoàng
cung tham quan một phen
bao giờ? [Một
người dân thường] chẳng
có cơ duyên này, chẳng
có phước ấy thì đi vào
chùa cũng như vào hoàng
cung vậy, do đó họ nhất
định sẽ vào chùa.
Phải hiểu đạo lý này,
đây là cơ sở vật chất.
Nội dung ở trong [đạo
tràng] nhất định phải
dạy ‘Hiếu’, phải dạy
‘Kính’, phải bắt đầu từ
Hiếu Kính, người đời xưa
biết được. Phật
giáo truyền đến Trung
Quốc, tại sao lại được
triều đình nhiệt liệt
hoan nghinh? Lý
tưởng và quan niệm cơ
bản của giáo học Phật
giáo cùng với giáo huấn
của cổ thánh tiên hiền
Trung Quốc chẳng hẹn mà
giống nhau, giáo học của
nhà Nho cũng xây dựng
trên cơ sở của Hiếu Đạo,
Phật pháp cũng vậy.
Vả nữa, Phật pháp giảng
tường tận hơn nhà Nho,
giảng rõ ràng, rành rẽ
hơn, thế nên truyền đến
Trung Quốc bèn được
triều đình tiếp nhận
nồng nhiệt, đạo lý là
như vậy. Phật pháp
đối với xã hội, đối với
quốc gia, với nhân dân,
đích thật có lợi ích,
tuyệt chẳng phải là mê
tín. Trong lịch sử
Trung Quốc những người
tu học Phật pháp là
người nào? Đều là
giai cấp sĩ đại phu,
thời xưa gọi là giai cấp
sĩ đại phu, ngày nay gọi
là phần tử trí thức,
chẳng phải người thường.
Người thật sự có học
vấn, có đạo đức lại tu
học Phật pháp, tiếp nhận
Phật pháp, tin theo Phật
pháp, y giáo phụng hành,
như vậy mới thật sự đạt
được hiệu quả thay đổi
phong tục, khơi động
trào lưu trong nhân
gian, phong khí ấy là
phong khí lành mạnh.
Hiện nay chùa chiền đã
biến chất, chẳng còn dạy
học, lúc trước chùa
chiền là trường học, là
nơi dạy học. Hiện
nay thay đổi rồi, biến
thành chỗ siêu độ người
chết, vậy là hoàn toàn
biến chất, biến đổi quá
lớn. Chuyện siêu
độ này vốn chẳng có
trong Phật giáo, tại sao
lại biến đổi thành hiện
tượng này? Lúc tôi
mới bắt đầu học Phật,
tôi thân cận Đạo An pháp
sư, lúc đó chúng tôi
cùng nhau lập Đại Chuyên
Phật Học Giảng Tọa, tôi
hỏi lão pháp sư: “Phật
sự [siêu độ] bắt đầu từ
nguyên nhân gì?
Tại sao lại biến thành
như vậy?”. Ngài
nói với tôi một hồi, tôi
nghĩ cũng rất có lý.
Ngài nói chuyện này có
lẽ bắt đầu từ thời nhà
Đường, năm Khai Nguyên,
thời đại của Đường Minh
Hoàng, vì những năm
cuối, nhà vua sủng ái
Dương Quý Phi, dẫn đến
dị nghị trong triều,
[sau đó] An Lộc Sơn tạo
phản, gần bị mất nước.
May nhờ Quách Tử Nghi
dẹp loạn này, số dân
quân bị tử thương rất
nhiều. Cho nên dẹp
xong cuộc loạn này,
triều đình bèn xây một
chùa ở mỗi chiến trường,
các chùa này đều gọi là
‘Khai Nguyên Tự’, là vì
vậy mà chùa Khai Nguyên
được xây dựng. Xây
những đạo tràng này là
nhằm truy điệu những
người dân, người lính bị
tử nạn, mời pháp sư tụng
kinh để siêu độ, đó gọi
là pháp hội truy điệu,
là bắt đầu như vậy.
Triều đình, quốc gia đề
xướng truy điệu vong hồn
tử nạn, trong dân gian
bèn bắt chước làm theo,
nên khi người già mất đi
cũng mời pháp sư đến để
siêu độ, lúc đó việc
siêu độ cũng là một việc
phụ. Trong đạo
tràng cũng vẫn giảng
kinh, thuyết pháp, hướng
dẫn đại chúng tu hành,
[siêu độ chỉ] là chuyện
phụ thêm. Hiện nay
siêu độ lại trở thành
việc chính, còn việc
chính yếu thật sự lại
biến mất, chẳng còn nữa,
đổi việc phụ thành việc
chính, là điên đảo hết
rồi, như vậy nên biến
thành mê tín.
Chúng ta phải biết những
sự thật này đã diễn
biến, hình thành như thế
nào.
Nói thật ra những lý
luận phương pháp, nguyên
lý, nguyên tắc của việc
siêu độ đều nằm trong
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện. Người
[thực hành việc] siêu độ
làm thế nào thật sự làm
cho người mất có thể rời
khỏi ác đạo, có thể sanh
lên trời hưởng phước
trời. Trong kinh
đã giảng rất rõ ràng,
bản thân người siêu độ
phải chứng quả thì mới
được; nếu bản thân không
thể nâng cao cảnh giới
của mình, chẳng thể
chứng quả thì người được
siêu độ (người mất) được
lợi ích rất có hạn.
Giống như thí dụ trong
kinh, như cô Quang Mục
là một người con có
hiếu, biết mẹ mình lúc
còn sống tạo rất nhiều
tội nghiệp. Cô
hiểu biết Phật pháp, nếu
làm những hạnh nghiệp
như mẹ cô đã làm cả đời,
tương lai nhất định phải
đọa địa ngục, đọa địa
ngục thì sẽ rất khổ, địa
ngục dễ vào nhưng rất
khó thoát ra. Cô
muốn cứu mẹ nên chỉ còn
cách cầu Phật.
Phật dạy cô phương pháp
gì? Dùng phương
pháp niệm Phật, [đức
Phật] chẳng dạy cô cách
gì khác. Cô gái Bà
La Môn cũng dùng phương
pháp niệm Phật, cô Quang
Mục cũng dùng phương
pháp niệm Phật, họ chẳng
dùng cách khác, chỉ niệm
Phật.
Cô Bà La Môn niệm một
ngày một đêm, ngày nay
chúng ta gọi là tinh tấn
niệm Phật, cô là phàm
phu nhưng vì muốn cứu mẹ
nên trong vòng một ngày
một đêm cô niệm rất chân
thành, rất khẩn thiết,
rất đúng như pháp, niệm
một ngày một đêm bèn
được nhất tâm bất loạn;
kinh Di Đà nói ‘Nếu một
ngày, nếu hai ngày, …,
đến bảy ngày’.
Được nhất tâm bất loạn,
cô bèn chứng quả, nên
trong Ðịnh cô có thể đến
địa ngục, quỷ vương
trong địa ngục thấy cô
tới, chắp tay xưng cô là
Bồ Tát. Từ phàm
phu cô tu hành trong một
ngày một đêm liền siêu
phàm nhập thánh, đạo lý
là ở chỗ này. Quỷ
vương hỏi cô: “Bồ Tát,
cô đến đây làm gì?”.
Cô hỏi quỷ vương: “Đây
là chỗ nào?”. Quỷ
vương trả lời: “Đây là
địa ngục”, chỉ có hai
hạng người có thể đến
địa ngục, một là người
tạo nghiệp thọ báo; hai
là Bồ Tát, nếu chẳng
phải hai hạng người này
thì nhìn chẳng thấy địa
ngục. Cô hỏi tiếp,
hỏi thăm tung tích của
mẹ cô, quỷ vương đáp:
“Ba ngày trước mẹ cô đã
sanh lên cõi trời Đao
Lợi, không những mẹ cô
được sanh, những người
cùng chịu tội với mẹ cô
đều được sanh lên trời
Đao Lợi.” Nghe nói
bà có một người con hiếu
thuận tu phước cho bà,
cúng dường Giác Hoa Định
Tự Tại Vương Như Lai, có
phước báo này nên bà
được sanh lên trời.
Bà làm sao có phước báo
này? Nếu mẹ cô
chẳng tạo tội đọa địa
ngục, có thể cả đời cô
Bà La Môn cũng chẳng đạt
đến cảnh giới này, lúc
bình thường niệm Phật
rất giải đãi, lơ là thì
làm sao niệm đến nhất
tâm được?
Đây là vì cứu mẹ nên
phải liều mạng!
Một ngày một đêm cảnh
giới bèn chuyển biến,
bèn nâng cao. Cô
có thể chuyển phàm thành
thánh là nhờ sức mạnh
gì? Nhờ duyên của
mẹ cô giúp cô, mẹ cô
được sanh lên trời là do
đạo lý này. Nếu cô
chỉ siêu độ trên hình
thức thì không ăn nhằm
gì cả, tự mình chẳng
được phước, người được
siêu độ cũng chẳng được
phước. Pháp giới
của ác đạo cùng pháp
giới của con người chẳng
khác nhau. Nếu nói
gia đình của bạn, con
cái bạn được giáo dục
rất tốt, được mọi người
trong xã hội tôn trọng;
bạn làm tổng thống, làm
bộ trưởng, cha mẹ của
bạn đi đến chỗ nào cũng
được người ta tôn kính,
đạo lý cũng giống như
vậy. Nếu bản thân
bạn chẳng có thành tựu,
cha mẹ bạn làm sao được
quỷ thần cung kính?
Cho nên trong kinh nói
về siêu độ, bảy phần
công đức tự mình được
sáu phần, người được
siêu độ chỉ được một
phần. Tự mình niệm
Phật một ngày một đêm,
niệm đến nhất tâm bất
loạn, đó là công đức
chính cô đạt được, mẹ cô
được hưởng lây, hưởng
phước của cô nên bà được
sanh lên trời Đao Lợi,
đây là một phần bảy công
đức. Nếu tự mình
không thành tựu, thì đối
phương sẽ chẳng được
phước lớn như vậy.
Thông thường thì bố thí
chỉ là mời họ đến dùng
cơm, như ‘Phóng Diệm
Khẩu’ là mời khách, mời
dùng cơm, [làm cho] họ
được no ấm mà thôi,
chẳng giúp họ rời khỏi
ác đạo. Muốn thật
sự rời khỏi ác đạo,
trong pháp sự siêu độ,
những pháp sư ấy tùy văn
nhập quán, sau buổi pháp
sự ấy họ thật sự thành
Bồ Tát, cảnh giới của họ
nâng cao thì hiệu quả
của việc siêu độ mới
lớn, hết thảy những
người được siêu độ nhất
định sẽ được sanh lên
trời. Nếu bạn hỏi
tại sao được sanh lên
trời? Vì trong
Phật sự siêu độ, các
pháp sư ấy hết lòng nỗ
lực, dùng tâm thanh
tịnh, bình đẳng để tu
học, chính họ siêu phàm
nhập thánh, từ địa vị
phàm phu nâng cao đến Bồ
Tát, là đạo lý như vậy.
Nếu làm xong Phật sự mà
bạn vẫn còn là phàm phu
thì bạn chẳng có sức
mạnh như vậy. Thế
nên chúng ta phải hiểu
đạo lý, làm Phật sự siêu
độ phải hết lòng, niệm
những kinh văn ấy, niệm
những kệ tụng ấy nhất
định phải khế nhập cảnh
giới, sau khi nhập cảnh
giới phải không thoái
chuyển, thì công đức đó
vô lượng vô biên, phước
họ được sẽ không biết là
bao lớn! Không thể
nói làm qua loa, sơ sài
cho hết trách nhiệm,
không thể như vậy.
Việc siêu độ làm sao có
thể trả giá được?
[Nếu làm việc siêu độ
như] làm ăn buôn bán thì
công đức gì cũng không
có, hoàn toàn rơi vào
hình thức, vậy thì sai
rồi. Không những
chỉ siêu độ vong linh,
mà thật sự cũng siêu độ
cho mình, tự mình siêu
độ rồi thì vong linh sẽ
được siêu độ theo, nếu
tự mình chẳng có biện
pháp siêu độ thì chắc
chắn sẽ không siêu độ
vong linh nổi.
Phật pháp thường nói tự
mình chưa độ mà muốn độ
người khác, chẳng bao
giờ có chuyện ấy, chẳng
có đạo lý như vậy!
Trong kinh này chúng ta
thấy, cô Bà La Môn thật
sự chính mình đã được
độ, chính mình được độ
xong mới có thể độ người
ta, những vong linh này
nương nhờ phước lực của
cô để siêu sanh.
Siêu sanh cao nhất cũng
chỉ đến trời Đao Lợi,
lên những cõi cao hơn
nữa phải tự mình có công
phu tu hành, người ta
muốn giúp cũng chẳng
giúp nổi.
Làm Phật sự siêu độ, ở
Trung Quốc quy mô lớn
nhất là vào đời Lương Võ
Đế, Lương Võ Đế siêu độ
phi tử của ông, người
chủ trì pháp hội siêu độ
này là vị cao tăng đương
thời: Bảo Chí Công.
Sau này chúng ta biết
Bảo Chí Công là Quán Thế
Âm Bồ Tát hóa thân tái
lai. Quán Thế Âm
Bồ Tát đích thân chủ trì
pháp hội siêu độ, sau đó
Lương Hoàng Sám được
truyền [cho đến nay].
Quán Thế Âm Bồ Tát chủ
trì pháp hội này, siêu
độ phi tử của Lương Võ
Đế cũng chỉ lên đến trời
Đao Lợi, chư Phật Như
Lai có chủ trì thì cũng
được vậy mà thôi.
Nương nhờ vào phước báo
của người khác chỉ có
thể đạt đến cảnh giới
này, muốn lên trên nữa
phải dựa vào sự tu hành
của chính mình, chính
mình chẳng có công phu
tu hành thì không được!
Nương phước báo của
người khác thì cao nhất
chỉ có thể đến trời Đao
Lợi. Chúng ta phải
hiểu rõ ràng, rành rẽ
đạo lý và chân tướng sự
thật này. Cho nên
khi chính mình tu hành
thật sự chuyển được cảnh
giới, thật sự có công
phu, thì Phật sự siêu độ
có thể chẳng cần hình
thức.
Chúng ta đọc Ảnh Trần
Hồi Ức Lục thấy trong
lời của Đàm Hư pháp sư
kể lại, lúc đó ngài cùng
ba, bốn người bạn cùng
nhau nghiên cứu kinh
Lăng Nghiêm, trong đó có
một đoạn ‘Đóng cửa tám
năm đọc Lăng Nghiêm’.
Đây là những cư sĩ tại
gia, mỗi ngày còn phải
làm việc, bôn ba công
việc, chẳng thể chuyên
tâm. Nhưng dùng
tám năm để học một bộ
kinh, ít nhiều thì họ
cũng có công phu định
lực, nếu tám năm học
mười bộ, tám bộ thì sẽ
chẳng có hiệu quả.
Tám năm dồn sức vào một
bộ kinh, tâm định trên
bộ kinh này, oán thân
trái chủ tìm họ nhờ siêu
độ. Ông thoạt nhìn
thấy linh quỷ đến bèn sợ
hãi, họ đều là oan gia
đời trước, sợ họ đến
kiếm chuyện phá rối.
Những oan gia chủ nợ này
đến quỳ trước mặt ông,
cầu xin ông siêu độ cho
họ, tâm của ông mới hết
sợ, biết họ chẳng phải
tới kiếm chuyện.
Làm thế nào siêu độ?
“Chỉ cần ông nhận lời là
được”. “Được! tôi
đồng ý”. Ông thấy
oan hồn ấy đạp lên đầu
gối, đạp lên vai ông rồi
bay lên trời, nghi thức
gì cũng chẳng cần làm.
Khi chính bạn đạt đến
cảnh giới này, có công
phu này thì họ sẽ nhờ
phước báo của bạn, chỉ
cần bạn đồng ý là được.
Cho nên bạn phải biết
việc siêu độ vong linh
hoàn toàn dựa vào đức
hạnh và công phu tu hành
của chính mình.
Ngày nay trong pháp hội
siêu độ ở Cư Sĩ Lâm,
chúng ta kết hợp giảng
đường với niệm Phật
đường của chúng ta, sức
mạnh này rất lớn!
Phía dưới [noi theo]
hình thức làm Phật sự
siêu độ, nội dung thật
sự trong đó nương vào
Niệm Phật Ðường, do đó
sự siêu độ này rất thù
thắng. Chắc chắn
những sự siêu độ hồi
trước chẳng sánh bằng,
đích thật có chư Phật,
Bồ Tát trong đạo tràng,
có thiện thần hộ pháp
trong đạo tràng.
Những pháp sư, đồng tu
làm việc siêu độ này
dùng tâm chân thành,
thanh tịnh nên cảm ứng
chẳng thể nghĩ bàn, thật
sự tu vô lượng vô biên
phước báo. Chúng
ta hiểu đạo lý này, hiểu
cảm ứng của “tâm điện”,
nói thật ra [tâm điện]
tức là những làn sóng tư
tưởng, khởi tâm động
niệm, tất cả đều là
thiện, thuần thiện.
Sức mạnh của những làn
sóng này mạnh, có thể
nhiễu loạn những làn
sóng ác niệm của hết
thảy chúng sanh, kể cả
những quỷ thần trên thế
gian, chúng ta quân bình
những làn sóng ác, làm
vậy tạo nên hiệu quả rất
lớn. Trong ấy đích
thật có đạo lý.
Đoạn này nói niệm kinh
Địa Tạng lúc sanh sản có
lợi ích. Khi niệm
kinh nếu có thể hiểu rõ
lý luận, phương pháp,
cảnh giới nói trong kinh
thì sức mạnh càng thù
thắng. Do vì bạn
hiểu được, khi bạn đọc
thì tùy văn nhập quán,
lúc bình thường chúng ta
không thể chuyển cảnh
giới, ít nhất thì lúc
đọc tụng có thể chuyển
cảnh giới được một chút;
bạn có thể chuyển một
phần, hai phần cũng có
hiệu quả, hiệu quả được
tỏ lộ qua các làn sóng.
Nếu thấu hiểu sâu hơn,
lúc thường ngày có thể y
giáo tu hành thì sức
mạnh ấy chẳng thể nghĩ
bàn. Phía sau nói
về quả báo ‘thị tân
sanh tử’, đứa bé mới
vừa sanh, hoặc trai hoặc
gái, ‘túc hữu ương
báo, cánh đắc giải
thoát’,
nếu đời trước nó tạo tội
nghiệp, đời này đến để
thọ báo thì tội nghiệp
ấy bị tiêu mất.
Đích thật là tiêu trừ
nghiệp chướng cho đứa
bé, tiêu trừ nghiệp
chướng vào lúc này thì
dễ hơn. Khi đứa bé
trưởng thành, mỗi ngày
từ sáng đến tối nó suy
nghĩ lung tung, tới lúc
đó bạn muốn tiêu trừ
nghiệp chướng sẽ chẳng
được. Lúc bây giờ
[còn nhỏ] nó hoàn toàn
nghe lời nên tiêu trừ
nghiệp chướng đều phải
làm ngay bây giờ.
Do đó chúng ta mới thấu
hiểu việc cổ thánh tiên
hiền nói về thai giáo
quan trọng dường nào,
đây là thai giáo [nói]
trong nhà Phật.
Sau đó nói
‘an lạc dị dưỡng, thọ mạng
tăng trưởng’, đứa bé
này nghiệp chướng tiêu
trừ, tai nạn cũng tiêu
trừ, rất dễ nuôi, thọ
mạng tăng trưởng.
Nếu đứa bé này thừa
phước mà sanh, đời quá
khứ nó có tu phước, tức
là chúng ta có nói nó
đến để báo ân, đời quá
khứ chịu ân đức với cha
mẹ, tự mình cũng tu
phước.
‘Chuyển tăng an lạc, cập
dữ thọ mạng’, bạn có
thể dạy nó, giúp nó, thì
phước báo của nó càng
lớn, thọ mạng càng dài.
Chú giải chú rất hay,
chúng ta có thể tham
khảo, không cần nói
thêm. Xem đoạn
kinh tiếp theo, quyển
trung, trang 59:
Phục thứ Phổ Quảng,
nhược vị lai thế chúng
sanh, ư nguyệt nhất
nhật, bát nhật, thập tứ
nhật, thập ngũ nhật,
thập bát nhật, nhị thập
tam, nhị thập tứ, nhị
thập bát, nhị thập cửu
nhật, nãi chí tam thập
nhật, thị chư nhật đẳng,
chư tội kết tập, định kỳ
khinh trọng.
Lại nữa, này Phổ Quảng,
trong mỗi tháng, ngày
mùng một, mùng tám, mười
bốn, mười lăm, mười tám,
hăm ba, hăm bốn, hăm
tám, hăm chín và ba mươi
là những ngày kết tập
các nghiệp tội, thẩm
định nặng nhẹ.
Chúng ta xem trước đoạn
này. Đoạn này
trong Khoa Chú gọi là
“Trai tụng cảm báo’,
trong kinh nói về ngày
Thập Trai, có kinh nói
về Lục Trai, đều tính
bằng âm lịch, hiện nay
càng ngày càng ít dùng
âm lịch, cả thế giới
hiện nay đều dùng dương
lịch. Ở đây nói
sáu ngày trai, ‘ư
nguyệt’ [nghĩa là] mỗi
tháng, mồng một, mồng
tám, mười bốn, mười lăm,
tháng thiếu có hăm chín,
tháng đủ có ba mươi.
Đức Phật nói những ngày
này đều là ngày các vị
thiên địa quỷ thần đi
tuần tra trong thế gian,
cho nên chúng sanh khởi
tâm động niệm, ngôn ngữ
hành động có khi làm
lành, có khi làm ác, các
quỷ thần đều ghi chép,
họ ở nơi đó điều tra,
đây là
‘chư tội kết tập, định
kỳ khinh trọng’.
Nói thật ra, những việc
này dùng cách nói hiện
nay đều liệt vào ‘hồ
sơ’, đến lúc lâm chung
nếu không có phước đức,
khi gặp vua Diêm La bèn
lấy ‘hồ sơ’ này ra để
định đoạt quả báo nặng
nhẹ. Những chuyện
này rốt cuộc có hay
không, có phải là mê tín
hay không? Nói cho
chư vị biết, [những
chuyện này đều] có thật!
Tại sao? Thế gian chúng
ta cũng như vậy.
Bạn coi mỗi ngày cảnh
sát đi tuần, lúc bạn
phạm tội thì cảnh sát
hình sự đến điều tra
bạn, phải tìm kiếm chứng
cớ phạm tội của bạn, sau
đó mới phán xử.
Người thế gian chúng ta
định tội một người, tìm
một chứng cớ rất khó,
không dễ, [nhưng] quỷ
thần tìm chứng cớ của
bạn, bạn chẳng có biện
pháp ẩn dấu, chúng ta có
thể lừa gạt người nhưng
không thể lừa gạt quỷ
thần. Hiện nay
dùng khoa học để biện
án, dùng khoa học để
trắc nghiệm lời nói dối,
đâu biết rằng những quỷ
thần ấy chẳng dùng các
công cụ khoa học này, họ
trực tiếp dựa trên tư
liệu của làn sóng điện
để kết án, khởi tâm động
niệm gì họ cũng biết,
đúng như câu nói
‘trên đầu ba thước có thần
minh’, con người có
thể tự gạt mình, gạt
người khác, nhưng chẳng
gạt nổi quỷ thần.
Đặc biệt là chúng ta đọc
kinh Vô Lượng Thọ, trong
kinh đức Phật nói nhân
số ở tây phương Cực Lạc
thế giới quá lớn, chẳng
có cách chi tính đếm.
Những người đến tây
phương Cực Lạc thế giới
đều là người tu pháp môn
niệm Phật từ mười phương
thế giới của chư Phật
vãng sanh đến, chẳng
phải chỉ có thế giới này
của chúng ta mà thôi;
mười phương hết thảy thế
giới chư Phật, mỗi ngày
số người vãng sanh không
biết là bao nhiêu mà kể.
Sanh đến thế giới Cực
Lạc, họ có thần thông
đạo lực, hầu như bằng
với đức Phật A Di Đà,
chúng ta đọc thấy trong
kinh. Thiên nhãn,
thiên nhĩ của
những người này, dùng
cách nói hiện nay của
chúng ta là bén nhạy
nhất, tận hư không, trọn
khắp pháp giới, họ đều
nhìn thấy, sự khởi tâm
động niệm của hết thảy
chúng sanh họ đều biết,
họ có tha tâm thông.
Năng lực thần thông của
quỷ thần rất có hạn,
năng lực của quỷ thần
chắc chắn không bằng A
La Hán, năng lực của A
La Hán có thể biết năm
trăm đời, trong vòng năm
trăm đời của một người,
tình huống trong mỗi
đời, mỗi kiếp, A La Hán
đều biết. Quỷ thần
chẳng có năng lực này,
đại khái những gì bạn
làm gần đây, họ biết
được. Chuyện một
năm, hai năm, mấy tháng,
họ biết rất rõ ràng, họ
có năng lực này.
Năng lực của người ở tây
phương Cực Lạc thế giới
rất mạnh, quá mạnh!
Chúng ta ở đây khởi tâm
động niệm gì họ đều biết
rõ, chúng ta muốn vãng
sanh về Cực Lạc thế
giới, nếu tâm niệm của
bạn chẳng thiện, hành vi
chẳng thiện, cả ngày
niệm A Di Đà Phật, một
ngày niệm mười vạn tiếng
Phật hiệu chẳng gián
đoạn, tương lai cũng
không thể vãng sanh nổi.
Tại sao niệm Phật không
thể vãng sanh? Mỗi
ngày bạn chấp trì danh
hiệu là khẩu thiện,
nhưng tâm bạn chẳng
thiện, hành vi chẳng
thiện. Điều kiện
vãng sanh tây phương Cực
Lạc thế giới là ba
nghiệp thanh tịnh, trong
ba nghiệp quan trọng
nhất là ‘tâm’, tâm tịnh
thì cõi Phật tịnh, tâm
thiện thì ngôn hạnh nhất
định sẽ thiện, như vậy
mới có thể vãng sanh,
chúng ta nhất định phải
hiểu rõ đạo lý này.
Cho nên bạn coi kinh Vô
Lượng Thọ nói về điều
kiện vãng sanh, bất luận
là bậc thượng, bậc
trung, bậc hạ,
điều kiện quan trọng
nhất là ‘phát Bồ Đề tâm,
nhất hướng chuyên niệm’.
Nếu chúng ta chỉ làm
được nhất hướng chuyên
niệm, chẳng phát Bồ Đề
tâm thì không thể vãng
sanh. Nói thêm một
lời thành thật, khi thật
sự phát Bồ Đề tâm, chẳng
niệm Phật cũng có thể
vãng sanh. Trong
kinh nói về một niệm lúc
lâm chung, mười niệm đều
có thể vãng sanh, tại
sao? Bồ Đề tâm.
Bồ Đề tâm là tâm thiện,
tâm thiện, hạnh thiện
một đời chẳng niệm Phật,
đến lúc lâm chung niệm
một tiếng, mười tiếng
đều chắc chắn vãng sanh.
Nếu không phát Bồ Đề
tâm, tâm chẳng thiện,
hạnh chẳng thiện, mỗi
ngày đều niệm A Di Đà
Phật, người xưa nói:
“Hét bể cổ họng cũng
uổng công”!
Tây phương Cực Lạc thế
giới là ‘nơi các người
thiện tụ hội một chỗ’,
chúng ta không thiện thì
không hợp với họ, chẳng
có cách chi sống chung,
họ đều là thượng thiện,
chúng ta nhất định phải
hiểu đạo lý này.
Tại sao mỗi ngày gắng
sức niệm Phật? Vì
sợ lúc lâm chung quên
mất. Mỗi ngày niệm
Phật cũng như huấn luyện
vậy, cũng như câu
‘luyện binh ngàn ngày,
chỉ dùng trong một buổi’.
Mỗi ngày huấn luyện
không ngừng, mỗi giờ mỗi
phút đều đề khởi câu
Phật hiệu, đề khởi câu
Phật hiệu này có dụng ý
rất sâu, rất rộng; không
những là không để Phật
hiệu quên mất, không thể
quên mất tâm của Phật,
nguyện của Phật, hạnh
của Phật, tâm của ta
phải giống y như tâm
Phật. Cho nên khi
nghe đến Phật hiệu, nhìn
thấy tượng Phật, thì
phải nghĩ tâm mình phải
giống như vậy, nguyện
của mình cũng phải giống
như vậy, hạnh của mình
cũng phải giống như vậy,
làm vậy thì bạn nhất
định sẽ được sanh.
Tâm, nguyện, hạnh tương
ứng tức là phát Bồ Đề
tâm, đây là điều kiện
nhất định phải có để
vãng sanh, thật sự có
thể làm được tâm,
nguyện, giải, hạnh tương
ứng với đức Phật A Di
Đà, đó chính là Bồ Đề
tâm viên mãn.
Do đó đương nhiên sẽ buông
bỏ danh văn lợi dưỡng và
ngũ dục lục trần trong
thế gian, nhất định phải
tu đức, vinh hoa phú quý
chẳng thể thường còn,
phải nhìn xa, phải nhìn
rộng. Trong một
đời này của chúng ta,
sanh mạng rất ngắn ngủi,
thế gian rất khổ, chúng
ta nhìn xa, nhìn rộng
thì tiền đồ vô cùng xán
lạn. Ngày nay
không gian sinh hoạt của
chúng ta hạn cuộc ở trên
địa cầu này, tuy khoa
học kỹ thuật phát triển,
giao thông tiện lợi
nhanh chóng, chúng ta
vẫn chẳng rời khỏi địa
cầu. Nếu vãng sanh
tây phương Cực Lạc thế
giới, không gian sinh
hoạt của chúng ta sẽ rất
lớn, tận hư không, trọn
pháp giới là không gian
sinh hoạt của chúng ta,
bạn nói như vậy thì tự
tại biết mấy, đó mới gọi
là hạnh phúc thật sự!
Đến tây phương Cực Lạc
thế giới thì trí huệ,
năng lực đều khôi phục,
như chư Phật, Bồ Tát tùy
loại hóa thân.
Giống như kinh Phạm Võng
có nói ‘trăm ngàn ức hóa
thân’, kẻ ấy có năng lực
này, cùng lúc có thể đến
hết thảy cõi nước chư
Phật nghe Phật giảng
kinh thuyết pháp, có khả
năng phân thân, trên
cúng dường chư Phật,
dưới hóa độ chúng sanh,
họ thật sự có khả năng
này.
Trong kinh này đức Phật đề
xướng nhất định phải
đoạn ác tu thiện [ít
nhất là] sáu ngày, mười
ngày trong một tháng.
Chẳng phải nói thường
ngày không cần, những
ngày này quỷ thần đến
khảo sát nên đặc biệt
làm một chút chuyện tốt
cho họ coi, đây là bất
đắc dĩ. Nếu mỗi
ngày đều làm như vậy thì
đương nhiên càng tốt,
càng thù thắng. Sợ
bạn làm chẳng nổi, mỗi
tháng dạy bạn tu mười
ngày, ít hơn thì sáu
ngày, có tu vẫn tốt hơn
không tu. Nếu có
thể tu hằng ngày thì
phước báo của bạn quá
thù thắng rồi.
Ngày nay trong các
phương pháp tu của chúng
ta thì niệm Phật tốt
nhất. Niệm Phật,
trường trai! Ý
nghĩa của chữ ‘Trai’ vốn
là tu tâm thanh tịnh,
tâm ‘Trai’ là cầu tâm
thanh tịnh. Về sau
biến thành trì ngọ,
không ăn quá ngọ, ‘ngọ’
là hai giờ từ mười một
giờ đến một giờ, đều là
giờ ngọ. Nói
nghiêm khắc theo Phật
pháp thì là quá ‘trung’
(giữa ngày), ‘chẳng ăn
quá giữa ngày’ mới gọi
là ‘trì trai’.
Thời điểm ‘Giữa ngày’
thay đổi hằng ngày, hơn
nữa mỗi địa phương còn
có giờ sai khác.
Hiện nay nếu thường đi
du lịch thì chuyện này
càng phiền phức, mỗi nơi
mấy giờ, mấy phút, mấy
giây mới là ‘giữa ngày’,
bạn phải biết thật rõ
ràng, chuyện này tương
đối phiền phức.
Lúc trước cả đời trụ ở
một đạo tràng thì dễ
dàng hơn, thời điểm
‘giữa ngày’ ở nơi đó,
thời xưa dùng ‘nhật quỹ’
để
đo lường, ngày trời
không mưa có thể đo
lường thời điểm ‘giữa
ngày’, mỗi ngày sai khác
bốn ‘giây’, nhất định
phải hiểu việc này.
Ngày nay có thể dùng
lịch thiên văn, chỉ cần
bạn biết kinh độ, kinh
độ ở địa phương đó, dùng
lịch thiên văn thì chẳng
sai. Do đó chấp
trước việc này cũng
chẳng thuận tiện, rất
phiền phức, đối với đời
sống nói thật ra cũng
tạo nên áp lực, vậy cũng
chẳng bằng chúng ta mỗi
ngày đúng như pháp thì
tốt nhất. Hiểu rõ
những chân tướng sự thật
này, tự hành hóa tha
nhất định phải có phương
tiện khéo léo.
Tôi thân cận thầy Lý ở Đài
Trung, lúc chưa đến Đài
Trung tôi cũng trì ngọ,
không ăn quá giữa ngày.
Lúc đó tôi dùng lịch
thiên văn, từ nhỏ tôi
rất ưa thích thiên văn,
cho nên đến nơi nào, tôi
nhất định sẽ liên lạc
với đài thiên văn, tôi
rất thích quan sát hiện
tượng thiên văn.
Do đó mỗi năm đài thiên
văn nhất định sẽ gởi
tặng lịch thiên văn cho
tôi. Tôi đến Đài
Trung thân cận thầy Lý,
thầy Lý thấy tôi chấp
trước như vậy nên một
ngày nọ thầy răn dạy
tôi, thầy nói: “Con một
mình tu như vậy thì
được, nhưng chẳng thể độ
chúng sanh”. Tôi
nói: “Tại sao vậy?”.
“Vì con quá chấp trước”.
Thầy nói khi bạn đến một
địa phương nào đó hoằng
pháp, những tín đồ nơi
ấy, đặc biệt là thời đại
công nghiệp ngày nay, họ
cung kính mời bạn đi ăn
cơm, có thể là sau mười
hai giờ trưa, nhất định
là sẽ quá ngọ (giữa
ngày), hoặc là mời bạn
dùng cơm tối. Nếu
bạn không đồng ý, nhất
định cố chấp cách trì
ngọ này của bạn, người
ta sẽ khởi lên tâm lý
gì? “Vị pháp sư
này khó khăn quá, chúng
tôi muốn cúng dường cầu
phước cũng không được”,
như vậy sẽ làm cho người
ta lui sụt, làm cho
người ta hủy báng.
Thầy nói đây là cách làm
của người Tiểu Thừa,
tuyệt đối chẳng phải là
hạnh Bồ Tát. Tôi
nói: “Vậy thì phải làm
sao?”, thầy nói: “Tùy
duyên”. Bản thân
thầy Lý cũng trì ‘nhật
trung nhất thực’, mỗi
ngày ăn một bữa.
Nhưng khi có tín đồ mời
thầy dùng cơm, cơm tối
thầy cũng ăn, mọi người
đều vui vẻ, đều hoan hỷ.
Khi tôi ở Đài Trung có
cơ hội thì thầy nhất
định sẽ dẫn tôi đi theo,
kết duyên với mọi người.
Những người này nghe nói
thầy Lý trì ngọ, mỗi
ngày ăn một bữa, [khi
được mời] thì buổi tối
cũng vui vẻ dùng cơm với
họ, họ càng tăng thêm
lòng cảm kích, mới biết
thầy thật là từ bi,
nhiếp thọ chúng sanh.
Bồ Tát làm hết thảy sự
việc đều vì chúng sanh,
Địa Tạng Bồ Tát nói:
“Chỉ cần chúng sanh được
độ thì vào địa ngục tôi
cũng cam tâm”, đây
là tinh thần của Địa
Tạng Bồ Tát. Chẳng
chấp trước cứng chắc vào
những chi tiết nhỏ nhoi
này, làm vậy thì đúng
như pháp. Trong Phật
pháp, giới luật có quan
trọng đến đâu cũng có
khai duyên, đó gọi là
‘khai giới’, ‘khai
trai’, chẳng phải ‘phá
trai’, chẳng phải phá
giới. Nếu tự bạn
có tâm tham, bạn tìm một
tín đồ nói: “Tôi thật
ngại, quý vị hãy thường
mời tôi dùng cơm”, vậy
thì bạn đã phá giới, làm
sai rồi. Tuyệt đối
chẳng phải tự mình cố ý
làm như vậy ‘hằng thuận
chúng sanh, tùy hỷ công
đức’. Trong pháp
Đại Thừa
‘phương tiện có nhiều
cửa, đường về nguồn
chẳng hai’
,
khác với tư tưởng, kiến
giải, hành trì của Tiểu
Thừa. Đại Thừa
đích thật rất phóng
khoáng, nắm vững được
nguyên lý, nguyên tắc,
hết thảy vì lợi ích của
chúng sanh, lợi ích
chúng sanh thật sự là
lợi ích chính mình.
Giống như hiện nay [nếu y
theo lời dạy] trong
kinh, âm lịch đối với
chúng ta chẳng thuận
tiện, nhưng phải hiểu ý
nghĩa của nó. Hiện
nay phần đông đều tính
hằng tuần, nếu mỗi tuần
chúng ta có thể tu trai
giới một ngày, hai ngày,
thì công đức sẽ rất thù
thắng. Tuy nhiên
chẳng nhất định phải là
những ngày này, vì thời
gian một tháng chẳng
dài, những quỷ thần khảo
sát này chắc chắn có thể
nhìn thấy. Người
hiện đại phải sống theo
cuộc sống hiện đại,
chúng ta không cần phải
câu nệ vào lời trong
kinh điển, nhưng nhất
định phải tương ứng với
tinh thần nói trong
kinh, như vậy thì được.
Nhất định phải biết
thông đạt quyền biến,
[nhằm đem lại] lợi ích
cho sanh hoạt người hiện
đại, làm cho họ không có
áp lực trong đời sống,
như vậy mới tốt.
Xin xem đoạn kinh văn kế
tiếp, trang 61:
Nam Diêm Phù Đề chúng sanh
cử chỉ động niệm vô bất
thị nghiệp, vô bất thị
tội, hà huống tứ tình
sát hại, thiết đạo, tà
dâm, vọng ngữ, bá thiên
tội trạng.
Mọi cử chỉ, động niệm của
chúng sanh trong cõi Nam
Diêm Phù Ðề không chi là
không nghiệp, không chi
là không tội, huống hồ
là buông lung giết hại,
trộm cắp, tà dâm, vọng
ngữ, trăm ngàn tội
trạng.
Những câu này vô cùng quan
trọng! Không nhớ
hết cả bộ kinh, những
câu kinh quan trọng nhất
định phải ghi nhớ, nhất
định phải học thuộc
lòng, từng giờ, từng
phút luôn luôn nhắc nhở
chính mình. ‘Nam
Diêm Phù Đề’ chỉ địa cầu
của chúng ta.
Chúng sanh trên địa cầu
này, đích thật từng ‘cử
chỉ, động niệm’ đều là
đang tạo nghiệp, tạo
tội, khởi tâm động niệm
đều chẳng thiện, khởi
tâm động niệm đều là tự
tư tự lợi, đó tức là
nghiệp, là tội. Họ
chấp trước cứng chắc,
người thế gian không
hiểu, hình như là vì lợi
ích của chính mình, vì
bảo vệ lợi ích của mình,
mọi người đều cho rằng
vậy là chính đáng, chính
xác, đâu có sai lầm?
Vậy là vọng tưởng, chấp
trước của người thế
gian. Đức Phật nói
đây là sai lầm, hơn nữa
là sai lầm quá đỗi.
Lục đạo luân hồi hình
thành như thế nào?
Chính là do tự tư tự
lợi, ngã chấp biến
thành. Nếu bạn
không thể phá trừ, không
thể buông bỏ vọng tưởng,
chấp trước thì bạn vĩnh
viễn kẹt trong lục đạo
luân hồi. Trong
lục đạo, đức Phật đã nói
quá nhiều rồi, chắc chắn
là thời gian trong tam
ác đạo dài, trong tam
thiện đạo ngắn.
Tam thiện đạo ví như đi
nghỉ hè, du lịch ngắm
cảnh; tam ác đạo ví như
nhà mình, đi ra ngoài
vài ngày lại trở về nhà.
Trong kinh Địa Tạng
chúng ta thấy việc này
quá rõ ràng, quá rành rẽ
rồi, đức Phật nói [khởi
tâm động niệm đều tự tư
tự lợi] như vậy là sai
lầm to lớn. Như
thế nào mới đúng?
Khởi tâm động niệm đều
vì hết thảy chúng sanh,
không vì mình, thì bạn
sẽ vĩnh viễn thoát ly
lục đạo luân hồi, siêu
việt tam giới, như vậy
mới đúng.
Lời Phật dạy chúng ta là
chân thật, thật sự phá
mê khai ngộ, lìa khổ
hưởng vui. Niềm vui này
không phải là niềm vui
trong tam giới, trong
tam giới chẳng có vui
sướng. Siêu việt
tam giới mới thật sự
hưởng được vui sướng.
Phật nói tam giới đều
khổ. Trên trời
cũng có khổ, khổ ít một
chút thôi, nhưng vẫn là
khổ. Chúng ta phải
hiểu rõ ràng rành rẽ đạo
lý và chân tướng sự thật
này, sau đó thật sự mới
cảm ân đội đức đối với
giáo huấn của đức Phật.
Chúng ta thật rất hân
hạnh, người thế gian nói
vận mạng thiệt tốt mới
gặp được Phật pháp, đức
Phật là thiện tri thức
chân chánh của chúng ta,
chúng ta gặp được thì
đời này thật sự được
giải thoát. Nếu
chẳng gặp Phật pháp, như
trong kinh đã nói, chúng
ta khởi tâm động niệm
đều tạo nghiệp, đều tạo
tội. Sau khi hiểu
rồi thì hãy vì Phật
pháp, vì chúng sanh, vì
Phật pháp thì hy vọng
Phật pháp được lưu
truyền rộng rãi, hy vọng
Phật pháp trụ lâu dài
trên thế gian, có thể
làm cho hết thảy chúng
sanh được lợi ích của
Phật pháp, phải phát cái
tâm này. Niệm niệm
phải nghĩ đến hết thảy
chúng sanh, không những
nhân loại trên toàn thế
giới, còn súc sanh, ngạ
quỷ, chư thiên, hết thảy
chúng sanh đều được lợi
ích thù thắng của Phật
pháp, vậy thì chúng ta
mới mở rộng tâm lượng.
Bồ Tát tức là phục vụ cho
hết thảy chúng sanh, thù
thắng nhất chẳng gì hơn
xây dựng Phật pháp, xây
dựng Phật pháp tức là y
giáo phụng hành.
Xây dựng trong đời sống
hằng ngày của chúng ta,
xây dựng trong ngành
nghề của chúng ta, xây
dựng trong công việc của
chúng ta, xây dựng trong
cách xử sự, đãi người,
tiếp vật của chúng ta,
làm cho cả xã hội, đời
sống của mọi người,
trong từng ngành nghề
đều xây dựng Phật pháp.
Xây dựng Phật pháp tức
là mọi người đều biết
phục vụ xã hội, phục vụ
đại chúng. Cách
nói của người hiện nay
là hy sinh, dâng hiến,
đó tức là Bồ Tát, làm
được như vậy được phước
chẳng cùng tận.
Phước báo hiện tiền,
Phật dạy chúng ta phải
xả, đừng hưởng; vừa
hưởng phước bèn mê, bèn
hồ đồ, Phật dạy chúng ta
‘xả đắc’ (xả được).
‘Buông xả’ là nhân,
‘được’ là quả, buông xả
tiền tài thì được của
cải, buông xả phước thì
được phước, buông xả cái
gì thì được cái đó, sau
khi được thì phải xả
tiếp tục. Cho nên
ý nghĩa tầng thứ hai của
‘xả được’ còn sâu thêm,
đem những gì bạn đạt
được rồi xả tiếp, vậy
thì những gì bạn đạt
được càng thêm thù
thắng, càng viên mãn, tự
mình vĩnh viễn không
hưởng thọ, có phước báo,
phước báo này cho chúng
sanh hưởng, đây là Phật,
Bồ Tát chân chánh ứng
hóa tại thế gian.
Trong thế gian này có
[Phật, Bồ Tát] hay
không? Có chứ.
Người hiểu được Phật
pháp, thật sự hiểu được
thì họ sẽ y giáo phụng
hành, thì họ sẽ làm như
vậy, làm được hoàn toàn
tương ứng, đó tức là Bồ
Tát thị hiện.
Đây là nói hết thảy chúng
sanh chẳng có người dạy
dỗ, hướng dẫn, là hiện
tượng này. Cho nên
giáo học quan trọng hơn
hết, thế gian và xuất
thế gian đều được xây
dựng trên giáo học.
Những đế vương Trung
Quốc cổ đại đều là người
thông minh, họ cai trị
quốc gia, hy vọng củng
cố chánh quyền, quốc gia
tồn tại lâu dài, họ bắt
đầu từ đâu? ‘Giáo
học trước hết’, trước
nhất phải làm giáo dục
cho tốt. Trong
giáo dục quan trọng nhất
là khuyên Hiếu, làm cho
nhân dân biết hiếu đạo,
dạy nhân dân biết tôn sư
trọng đạo. Mỗi
người đều tu dưỡng đức
hạnh của mình thì xã hội
sẽ an định, thiên hạ sẽ
thái bình. Cho nên
họ chú trọng giáo dục,
sắp giáo dục vào chính
sách hàng đầu của quốc
gia. Chế độ của
quốc gia thời xưa, dưới
Thừa Tướng có sáu Bộ,
thời xưa phân công không
rõ ràng như ngày nay,
chỉ phân thành sáu bộ
phận. Trong sáu Bộ
ấy, xếp hàng đầu là Bộ
Giáo Dục, hồi xưa gọi là
Bộ Lễ; trong sáu Bộ thì
Lễ Bộ Thượng Thư là hạng
nhất, xếp Giáo Dục hạng
nhất, coi sự việc này
quan trọng dường ấy.
Còn giáo dục Phật giáo
lại lập ra một cơ cấu
riêng, càng tôn trọng
hơn, do hoàng đế cai
quản, điều động.
Cơ cấu giáo dục này gọi
là ‘Tự’, cho nên danh từ
‘Tự’ là như thế nào?
‘Tự’ là danh từ của cơ
quan làm việc dưới quyền
hoàng đế. Tại sao
lấy danh xưng này?
Danh xưng này là xây
dựng, kiến lập vĩnh
viễn, sẽ không thay đổi,
từng đời, từng đời
truyền mãi về sau.
Cơ cấu này, cơ quan
thiết lập vĩnh viễn mới
gọi là ‘Tự’, tuyệt đối
chẳng thể thay đổi,
tuyệt đối không được phế
bỏ, dùng danh xưng này.
Hoàng đế hy vọng triều
đại của mình vĩnh viễn
truyền về sau, chẳng bị
người ta lật đổ, hy vọng
từng đời truyền mãi về
sau, do đó cơ quan này
được xây dựng vĩnh viễn.
Dưới hoàng đế có chín
‘Tự’, người đứng đầu Tự
gọi là Khanh, [có] chín
Khanh, [tức] tam Công,
cửu Khanh
; tam
Công là cố vấn của hoàng
đế, ngày nay gọi là
người cố vấn cho chánh
sách quốc gia, nhà vua
có vấn đề khó khăn gì
thì đi hỏi những cố vấn
này. Chữ “Tự” nói
theo cách bây giờ tức là
đơn vị nhất cấp, trực
thuộc nhà vua quản trị.
Cơ cấu Phật giáo cũng
gọi là Tự, do nhà vua
trực tiếp quản trị, nhà
vua trực tiếp điều hành
giáo dục Phật giáo.
Trung Quốc từ triều Hán
trở về sau, giáo dục có
hai hệ thống, một là
giáo dục nhà Phật, hai
là giáo dục nhà Nho.
Giáo dục nhà Nho do thừa
tướng phụ trách, điều
khiển, giáo dục nhà Phật
do nhà vua đích thân chủ
trì, hướng dẫn, điều
khiển, cho nên giáo dục
nhà Phật phát triển rộng
hơn giáo dục nhà Nho.
Đây là vì thời xưa người
dân tôn kính nhà vua,
dùng quyền lực của nhà
vua đem giáo dục này đến
mỗi tỉnh, mỗi huyện, mỗi
làng, đều có xây Phật
Tự. Còn giáo dục
nhà Nho cao nhất là mỗi
huyện có một trường,
chẳng được đẩy mạnh rộng
rãi như nhà Phật, đạo lý
là như vậy, coi trọng
giáo dục. Còn việc
Phật pháp biến chất trở
thành tôn giáo, đổi
thành sự phục vụ cho
người chết, chỉ mới bắt
đầu trong thời gian gần
đây, đại khái Trung Diệp
(khoảng giữa) đời Thanh
trở về sau mới trở nên
như vậy, lúc đầu đời nhà
Thanh chẳng có, vẫn còn
là giáo dục. Chúng
ta xem vào thời Khang
Hy, Ung Chánh, Càn Long,
Phật pháp vẫn còn là
giáo dục, là giáo học
như cũ, cho nên trong
cung đình cũng tụng
kinh.
Những đế vương triều nhà
Thanh rất thông minh, họ
làm như thế nào?
Họ là dân tộc thiểu số
vào trung nguyên làm
chủ, dân tộc thiểu số
thống trị dân tộc đa số
có thể làm cho người dân
cả nước đều phục tùng,
kéo dài vương triều hơn
hai trăm sáu mươi năm là
có đạo lý của họ.
Họ dùng phương pháp gì
để cai trị? Họ
dùng kinh Vô Lượng Thọ,
chiêu này rất cao minh.
Hoàng đế nói chẳng phải
quý vị nghe lời tôi, hết
thảy chúng ta đều nghe
lời đức Phật, tôi cũng
nghe lời đức Phật, quý
vị mọi người đều nghe
lời đức Phật, phương
pháp này rất cao minh.
Chẳng phải tôi thống trị
quý vị, mà là đức Phật
thống trị chúng ta, vậy
thì còn gì để nói nữa?
Cho nên người trong cung
đình đọc kinh Vô Lượng
Thọ, cũng thỉnh pháp sư
giảng kinh Vô Lượng Thọ,
mọi người y giáo phụng
hành. Người phế
trừ việc đọc kinh trong
triều Mãn Thanh chính là
Từ Hi thái hậu, có lẽ Từ
Hi thái hậu nghe những
gì nói trong kinh Vô
Lượng Thọ đều là tật xấu
của bà, chắc nghe xong
không thoải mái, không
vui lắm nên không đọc
nữa. Sau đó bà lại
buông lung, làm càng làm
bậy, làm đất nước suy
yếu. Giả sử bà vẫn
noi theo phép tắc của tổ
tông, chẳng thay đổi
phương pháp cũ, vẫn y
giáo phụng hành, có lẽ
ngày nay vương triều nhà
Thanh vẫn còn, sẽ không
thay triều đổi chủ,
người dân sẽ không làm
loạn. Đáng tiếc là
những phép tắc, giáo
huấn của tổ tông đã bị
phế bỏ, tự mình làm càng
làm bậy, làm mất lòng
dân, cho nên quân cách
mạng khởi lên, mới bị
người ta lật đổ.
Đây là tội bà đã tạo
trong đời. Chúng
tôi từng nghe nói lúc Từ
Hi chết, bà rất hối hận,
biết mình đã làm sai,
hình như có nói một câu:
“Hy vọng người nữ vĩnh
viễn chẳng nắm chánh
[quyền]”, lúc lâm chung
mới biết người nữ nắm
việc triều chánh, tạo
nên tai họa lớn lao như
vậy, nhưng hối hận đã
trễ.
Ngày nay chúng ta đọc đoạn
kinh này ‘hà huống tứ
tình sát hại, thâu đạo,
tà dâm, vọng ngữ, bá
thiên tội trạng’ thì
cũng giống như nói về xã
hội hiện đại của chúng
ta. Thời xưa người
ta đọc kinh, đọc đến
những hiện tượng này
nhưng chẳng nhìn thấy,
bây giờ các hiện tượng
này đã quá phổ biến trên
thế giới. Chúng ta
thấy những hiện tượng
này chẳng thể không sợ
hãi, chúng sanh tạo
những tội nghiệp này làm
sao nói không có quả báo
cho được? Ngày nay
những tai biến trên toàn
thế giới [xảy ra], người
hiện nay đều gán vào tai
họa tự nhiên, đều cho
rằng chẳng do sức người
tạo nên, suy nghĩ như
vậy là sai lầm.
Tai họa tự nhiên hình
thành như thế nào?
Đều do tâm con người tạo
thành. Nếu chúng
ta suy nghĩ kỹ càng, hết
thảy vạn vật, phía trước
đã nói tất cả đều đang
‘động’, chỉ cần là một
hình tượng vật chất, thì
nguyên tử, điện tử của
nó đều đang dao động, và
khi ấy sẽ có ‘sóng’.
Khi tâm con người khởi
tâm động niệm, giết hại,
trộm cắp, tà dâm, nói
dối, những làn sóng cực
ác này, hơn nữa hết thảy
chúng sanh đều tạo các
‘làn sóng’ này, bạn nghĩ
coi ‘sóng’ ác này lớn
dường nào. ‘Làn
sóng’ lớn mạnh này thay
đổi vật chất, ảnh hưởng
vật chất, cải biến vật
chất, làm cho kết cấu
bình thường của vật chất
bị phá hoại mất.
Đây tức là câu chúng ta
thường nói trong Phật
pháp: ‘Y báo chuyển
theo chánh báo’, y
báo là núi sông đại địa,
biến chuyển theo tâm con
người, tâm người thiện
thì hoàn cảnh sẽ tốt,
mưa thuận gió hòa; tâm
người chẳng thiện thì sẽ
sanh lên các thứ tai
họa.
Đáng tiếc là hiện nay phần
đông người ta không tin
[việc này], cứ cho cách
nói như vậy là mê tín.
Đợi đến một ngày nào đó
họ hiểu rõ ràng, hiểu
rành rẽ thì chẳng còn
kịp nữa, thế giới đã bị
hủy diệt rồi.
Chẳng tin tưởng lời dạy
chân thật của Phật thì
bạn phải nhận chịu quả
báo. Những ‘sóng’
này vô cùng xấu ác, hiện
nay gọi là ‘từ trường’,
trong Phật pháp gọi là
‘quang’, người Trung
Quốc nội địa gọi là
‘khí’; [quang này] xấu
cùng cực, ác cùng cực,
khi bạn tiếp xúc đến thì
thân tâm chẳng yên ổn,
hầu như mọi người trên
toàn thế giới chúng ta
đều có cảm nhận này, có
nơi nào đời sống con
người được yên ổn?
[Mọi người] đều lo lắng,
âu sầu, chẳng biết nơi
nào yên ổn. Mọi
người đều biết tai họa
gần xảy ra, nhưng chẳng
biết tai họa hình thành
như thế nào? Những
thứ này đều là ảnh hưởng
của ‘sóng’. Tại
sao thế giới của chư
Phật, Bồ Tát tốt đẹp như
vậy? Tâm của mỗi
cá nhân ở đó đều thanh
tịnh, hiền lành, cho nên
hoàn cảnh, y báo nơi cư
trú đều rất thù thắng.
Phàm những người vãng
sanh đến Tây phương Cực
Lạc thế giới đều là
thượng thiện, tâm bạn
không thiện thì sẽ không
sanh đến được.
Trong Phật pháp nói tây
phương Cực Lạc thế giới
là một thế giới rất mới
mẻ, đức Phật A Di Đà xây
dựng tới nay chỉ mười
kiếp mà thôi, mười kiếp
so với thời gian vô hạn
là một thời gian rất
ngắn, cho nên nói đó là
một thế giới mới mẻ.
Người ở đó chẳng phải là
người bản xứ, trong đó
chẳng có người bản xứ,
đều là người từ nơi khác
di dân đến. Còn
điều kiện di dân, đức
Phật A Di Đà rất thông
minh, di dân cần điều
kiện gì? Tâm địa
hiền lương, tâm địa
thanh tịnh, ngài tuyển
chọn những người như
vậy; người tâm địa chẳng
hiền lương thì không
được vào, cho nên thế
giới ấy tốt đẹp như vậy.
Chẳng như thế giới Sa Bà
của chúng ta có người
bản xứ, chẳng có cách
chi, những người này tâm
địa chẳng thiện nên gọi
là đời ác ngũ trược.
Chúng sanh tạo tội
nghiệp nhiều như vậy,
chư Phật, Bồ Tát tới
khuyên răn, hướng dẫn,
khuyên họ chưa chắc đã
nghe, chưa chắc có thể y
giáo phụng hành.
Nhưng Phật, Bồ Tát từ bi
đến cùng cực, chúng sanh
không nghe, các ngài
cũng tới khuyên, sự
khuyến cáo này vĩnh viễn
sẽ chẳng gián đoạn,
chẳng chấm dứt, vẫn hy
vọng có một ngày bạn
giác ngộ, quay trở về.
Nên người thật sự hiểu
được, giác ngộ rằng hoàn
cảnh ở đây chẳng dễ tu
hành, đức Phật khuyên
chúng ta ‘di dân’ đến
tây phương Cực Lạc thế
giới, kinh Vô Lượng Thọ
dạy chúng ta [phương
pháp] di dân. Khi
chúng ta hiểu rõ đạo lý,
biết được phương pháp,
chúng ta sẽ có lòng tin
rất sâu, biết mình chắc
chắn có thể di dân đến
tây phương Cực Lạc thế
giới ngay trong đời này
được, chúng ta thay đổi
hoàn cảnh sinh sống,
thay đổi hoàn cảnh tu
hành. Chúng ta
cũng biết tận hư không,
trọn khắp pháp giới đều
là một thể, nên di dân
đến Cực Lạc thế giới
xong thì phải giúp đỡ
những chúng sanh trong
lục đạo, đều từ bi, có
trí huệ giống chư Phật,
Bồ Tát, họ đến răn dạy,
hướng dẫn những chúng
sanh này. Trong
đoạn sau, đức Phật dạy
chúng ta phương pháp tu
hành:
Năng ư thị
thập trai nhật, đối
Phật, Bồ Tát chư hiền
thánh tăng tiền, độc thị
kinh nhất biến.
Đông tây nam bắc, bá do
tuần nội vô chư tai nạn,
đương thử cư gia nhược
trưởng nhược ấu, hiện
tại vị lai bá thiên tuế
trung, vĩnh ly ác thú.
Nếu trong mười ngày trai
này đối trước hình tượng
của Phật, Bồ Tát, cùng
chư Hiền Thánh mà đọc
tụng kinh này một biến,
thì [chung quanh chỗ
người đó ở, bốn hướng]
Ðông Tây Nam Bắc, trong
khoảng một trăm do tuần,
sẽ không có các tai nạn.
Còn trong nhà của người
đó, hoặc già hoặc trẻ,
trong trăm ngàn năm hiện
tại và vị lai được vĩnh
viễn xa lìa ác đạo.
Quả báo này quá thù thắng,
nên nhiều người thấy
trong kinh này nói như
vậy bèn nghi ngờ.
Họ cho rằng kinh này quá
khoa trương, chẳng phù
hợp với chân tướng sự
thật. Cách nói này
thật ra là sai lầm, họ
chẳng hiểu rõ nghĩa thú
nói trong kinh Phật.
Kệ khai kinh nói:
‘Nguyện giải Như Lai
chân thật nghĩa’,
câu này rất quan trọng,
bạn đã giải sai ý nghĩa
của Phật rồi, đây là
kinh Đại Thừa, chẳng
phải là kinh Tiểu Thừa.
Kinh Đại Thừa là cho Bồ
Tát tu học, phàm phu có
thể tu Bồ Tát hạnh được
không? Có thể chứ,
kinh Hoa Nghiêm thù
thắng nhất, người đương
cơ trong ấy gọi là Đại
Tâm Phàm Phu, phàm phu
có thể tu học, phàm phu
có thể học Bồ Tát pháp,
có thể học pháp môn của
quả địa Như Lai, như vậy
thì Phật pháp mới viên
dung vô ngại.
Nhưng bạn nhất định phải
phát đại tâm (tâm rộng
lớn), đại tâm tức là
chẳng vì mình, mà vì hết
thảy chúng sanh, như vậy
là đại tâm, có đại tâm
thì có thể tu học pháp
của Đại Thừa Bồ Tát.
Do đó có thể biết, trong
kinh nói ‘đọc kinh này
một biến’, chữ ‘đọc’
nhất định chẳng có nghĩa
là chúng ta nhìn kinh
này, đọc một lần, thế
thì quả báo này chắc
chắn sẽ không đạt được.
Phải ‘đọc’ như thế nào?
Đọc xong phải có thể
‘giải’ (hiểu) ý nghĩa
trong đó, ‘giải’ xong
phải có thể y giáo phụng
hành. Bạn coi câu
cuối của mỗi bộ kinh đều
ghi ‘tín thọ phụng
hành’, nếu làm chẳng nổi
bốn chữ này, mỗi ngày
bạn đọc một trăm lần thì
cũng chẳng được; [như
việc] niệm Phật, cổ đức
châm biếm người ta, nói
‘hét bể cổ họng cũng
uổng công’, đọc kinh
cũng vậy, ‘hét bể cổ
họng cũng uổng công’.
Đọc kinh phải y giáo
phụng hành, niệm Phật
cũng phải y giáo phụng
hành. Nghe câu
Phật hiệu, nhìn thấy
tượng Phật thì phải nghĩ
đến lời răn dạy của Phật
trong kinh điển, là mượn
[Phật hiệu và tượng
Phật] này để nhắc nhở
chính mình, đừng quên
lời giáo huấn của đức
Phật, chúng ta phải thực
hiện những lời giáo huấn
này trong đời sống hằng
ngày. Không những
mình phải làm như vậy,
còn phải khuyên người ta
làm với mình, như vậy
mới gọi là ‘đọc kinh’.
Nghĩa là nói một tháng
bạn đọc mười lần, bạn sẽ
chẳng quên.
Phật dạy người xuất gia
chúng ta trì giới, mỗi
nửa tháng phải đọc Giới
Kinh một lần, tại sao
vậy? Vì sợ quên
mất. Nửa tháng
tụng một lần để ôn lại,
phải y giáo phụng hành,
chứ chẳng phải niệm cho
Phật, Bồ Tát nghe.
Hàn Sơn, Thập Đắc châm
biếm [chuyện] tụng giới
nửa tháng, ý châm biếm
là gì? Nửa tháng
chỉ đọc một lần, lúc
thường ngày thì một điều
cũng chẳng làm nổi, vậy
thì đâu có ích gì!
Phải nên tuân giữ từng
điều [trong Giới Kinh],
phải làm cho bằng được
từng điều mới đúng.
Đọc kinh cũng như vậy,
kinh Địa Tạng dạy chúng
ta những lý luận, nguyên
tắc, phương pháp này,
[chúng ta] phải làm!
Việc này
còn
tốt hơn việc tụng giới
mỗi nửa tháng. Một
tháng tụng Giới Kinh hai
lần, ở đây dạy bạn mỗi
tháng đọc mười lần.
Hiện nay chúng ta không
niệm kinh Địa Tạng,
chúng ta niệm kinh Vô
Lượng Thọ được không?
Được chứ. Kinh Vô
Lượng Thọ bao gồm kinh
Địa Tạng, nói thật ra
chẳng có kinh nào mà
kinh Vô Lượng Thọ chẳng
bao gồm, toàn bộ Phật
pháp đều rút gọn trong
kinh Vô Lượng Thọ.
Có một năm tôi giảng Đại Ý
kinh Địa Tạng ở Mỹ, tại
những thành phố miền
đông nước Mỹ, có vị đồng
tu hỏi tôi:
“Thưa pháp sư, không phải
thầy chỉ giảng kinh Tịnh
Độ thôi sao, tại sao
thầy lại giảng kinh Địa
Tạng? Có phải thầy
đã xen tạp không?”
Tôi nói: “Không có, tôi
cũng đang giảng kinh Vô
Lượng Thọ, giảng pháp
môn Tịnh Độ”.
Vị ấy nói: “Làm sao kinh
Địa Tạng là pháp môn
Tịnh Độ được?”.
Tôi nói: “Pháp môn Tịnh Độ
được xây dựng trên cơ sở
của Tam Phước, bạn thừa
nhận hay không?”
Ông ấy nói: “Thừa nhận”.
Tôi nói: “Tam Phước là
[lời dạy trong] kinh
Quán Vô Lượng Thọ, câu
đầu tiên trong Tam
Phước: ‘Hiếu dưỡng
phụ mẫu, phụng sự sư
trưởng, từ tâm bất sát,
tu thập thiện nghiệp’,
đúng không?”
Ông nói: “Đúng”.
Tôi nói: “Kinh Địa Tạng
giảng bốn câu này, kinh
này tức là chú giải cho
bốn câu đó”.
[Nghe xong] ông mới hiểu.
Cho nên chúng ta giảng
bộ kinh này là pháp căn
bản của Tịnh Độ, mười
sáu chữ trong kinh Tịnh
Độ được bao gồm trong bộ
kinh này, bộ kinh này
nói về mười sáu chữ này.
Nếu bạn không hiểu kinh
Địa Tạng thì bạn không
hiểu phước thứ nhất
trong Tam Phước, bạn
cũng chẳng biết cách tu
làm sao. Thế nên
tôi giảng kinh Địa Tạng
chính là giảng kinh Tịnh
Độ, là giảng kinh Vãng
Sanh, tôi chẳng rời khỏi
Tịnh Tông, chẳng rời
khỏi A Di Đà Phật.
Câu ‘Đọc kinh này một
lần’, [chúng ta] nhất
định phải hiểu ý nghĩa
trong câu này. Nếu
khi đọc có thể hiểu ý
nghĩa, lý luận, có thể
làm theo như câu cuối
trong kinh ‘tín thọ
phụng hành’, vậy mới
thật sự gọi là ‘đọc
kinh’. Bạn thật sự
làm, thật sự làm được
thì sẽ có hiệu quả [như
kinh nói].
‘Đông tây nam bắc, trong
vòng một trăm do tuần’,
do tuần ở đây là tiểu do
tuần. Thời xưa
tiểu do tuần bằng bốn
mươi dặm Trung Quốc, đơn
vị đo lường thời xưa
ngắn hơn ngày nay.
Trong kinh chúng ta
thấy, người xưa thân cao
một trượng hai thước,
thật ra ngày nay có
người cao một trượng hai
không? Rất nhiều,
quá nhiều. Chúng
ta coi trong cuốn Châu
Xích Khảo của Hoằng Nhất
đại sư, trong đoạn nói
về ba mươi mốt loại giới
luật, chư vị hãy xem.
Một thước (xích) thời
xưa khoảng chừng hơn năm
tấc (thốn) một chút,
chưa tới sáu tấc, cứ như
vậy mà tính, một trượng
hai
chỉ bằng ngày nay bảy,
tám bộ (feet), người cao
tám bộ quá nhiều.
Thế nên phải biết đơn vị
đo lường chiều dài thời
xưa chẳng giống ngày
nay. Nếu tính ra
một do tuần ít nhất cũng
là mười dặm, chắc có lẽ
không xê xích nhiều lắm.
‘Trăm do tuần’ rất lớn,
ít nhất cũng bằng một
vùng một trăm dặm, hoặc
khoảng một vùng bốn trăm
dặm, khu vực lớn như vậy
không có tai nạn, đây là
một người có phước báo.
Nếu nói mọi người đều tu
phước thì sức mạnh ấy
còn lớn hơn nữa.
Phước của một người tu rất
yếu ớt, ngày nay Cư Sĩ
Lâm xây Niệm Phật Đường,
mọi người cùng nhau tu
tập, chư vị có thể thấy
được. Tôi nghĩ quý
vị học Phật chắc cũng đã
đi tới nhiều nơi, cũng
gặp không ít đạo tràng,
ngày nay người Trung
Quốc gọi là ‘khí’, khí
phận này rất hưng thạnh,
có thể trong đời bạn
thấy Cư Sĩ Lâm là hạng
nhất. Tại sao?
Có nhiều người như vậy ở
đó thiệt thà niệm Phật,
khi rời khỏi Niệm Phật
Đường thì không tính.
Khi bước vào Niệm Phật
Đường thì họ thật thà
niệm, thế nên từ trường
ấy rất thù thắng, người
vào đạo tràng này có thể
sanh tâm thanh tịnh, tâm
hoan hỷ, cái sức mạnh ấy
sẽ bảo hựu cả vùng đó.
Người trong vùng ấy, từ
trường lớn ấy phát ra
các làn sóng ảnh hưởng
đến khu vực này.
Thế nên Niệm Phật Đường
này, trong sự tưởng
tượng của tôi nửa năm
sau sẽ ảnh hưởng đến khí
phận cả vùng Tân Gia Ba,
làm cho cư dân Tân Gia
Ba ai nấy cũng sanh tâm
hoan hỷ. Những
người cư trú trong khu
vực này, trong tâm sẽ
rất an tịnh, rất sung
sướng, rất vui vẻ.
Nhờ sức mạnh gì?
Làn sóng điện ở đây phát
ra qua lớn, vượt hơn sự
suy nghĩ lung tung của
con người, làn sóng lớn
này sẽ quân bình những
làn sóng khác, sanh ra
hiệu quả lớn dường ấy.
Ngày nay người thế gian
nói về làn sóng tư
tưởng, tư tưởng này của
chúng ta là tư tưởng của
Phật, tư tưởng của Bồ
Tát, làn sóng lớn như
vậy, lúc tôi giảng kinh
có nói, tần số của chúng
ta giống với tần số của
đức Phật A Di Đà nên có
thể nối liền, do đó sóng
này có thể gộp vào sóng
của Phật, Bồ Tát và sanh
ra hiệu quả rất lớn,
hiệu quả, cảm ứng này
rất lớn. Ở đây tuy
có ba, bốn triệu người
nhưng không sao cả, từ
trường này có thể bao
gồm hết, có thể làm cho
sóng của họ biến đổi
thật nhiều, làm cho tâm
tình họ bình lặng, yên
tịnh, tâm tình yên ổn
hòa hài, thật sự có thể
sanh hoan hỷ, cảm giác
khu vực này yên ổn, thái
bình. Lợi ích của
Phật pháp thù thắng như
vậy nhưng tiếc là chẳng
có người biết, chẳng có
người thật sự làm!
Cho nên chúng ta phải cảm
kích cư sĩ Lý Mộc
Nguyên, nếu chẳng có sự
ủng hộ mạnh mẽ của ông
thì tôi nói làm sao,
khuyên như thế nào đi
nữa cũng khó đạt được
hiệu quả, vì nói ra
người ta không tin.
Ở đây cư sĩ Lý Mộc
Nguyên tin tưởng, ông
chăm lo đầy đủ hết thảy
mọi việc, phát tâm hết
lòng làm việc này.
Chúng tôi nghĩ có thể
làm chừng nửa năm, một
năm sau, xã hội đại
chúng nhìn thấy hiện
tượng này tự nhiên sẽ
khẳng định, tự nhiên sẽ
hoan hỷ. Hiện nay
chúng ta thấy người đến
Cư Sĩ Lâm ngày càng
nhiều, hôm qua Lý cư sĩ
nói với tôi, người tham
dự buổi lễ siêu độ kỳ
này vượt trội hơn năm
ngoái rất nhiều, người
niệm Phật cũng nhiều
thêm. Nghe nói có
một số người, vốn là
tham gia các pháp hội
khác, [nhưng sau đó] họ
đều đến đây, đây là hiện
tượng tốt, cảm ứng chẳng
thể nghĩ bàn! Sự
thị hiện này đích thật
có hiệu quả như vậy,
ngày nay chúng ta thấy
tận mắt nên càng có thể
đoạn dứt nghi hoặc, sanh
khởi lòng tin.
‘Còn ở nhà người đó,
hoặc già hoặc trẻ, hiện
tại hoặc vị lai’, hiện
tại là lợi ích hiện
tiền, vị lai ‘trong trăm
ngàn năm được vĩnh viễn
xa lìa ác đạo’, đây là
nói rõ ảnh hưởng sâu
rộng.
Hôm nay đã hết giờ, chúng
ta giảng đến đây thôi.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin thành thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4
tháng 9-2006