Tập 21 (Số 14-12-21)
Xin mở cuốn Khoa Chú
quyển trung, trang 39,
xem kinh văn:
Phục thứ
Phổ Quảng, nhược hữu
thiện nam tử, thiện nữ
nhân, năng đối Bồ Tát
tượng tiền, tác chư kỹ
nhạc, cập ca vịnh tán
thán, hương hoa cúng
dường, nãi chí khuyến ư
nhất nhân, đa nhân.
Như thị đẳng bối, hiện
tại thế trung. Cập
vị lai thế thường đắc bá
thiên quỷ thần nhật dạ
vệ hộ, bất lịnh ác sự
triếp văn kỳ nhĩ hà
huống thân thọ chư
hoạnh.
Lại nữa
này Phổ Quảng, nếu có
thiện nam tử thiện nữ
nhân có thể đối trước
tượng Bồ Tát mà trỗi các
thứ kỹ nhạc, cùng ca
vịnh, tán thán, cúng
dường hương hoa, cho đến
khuyên được một người
hay nhiều người.
Những người đó trong đời
hiện tại cùng vị lai
thường được trăm ngàn
quỷ thần ngày đêm hộ vệ,
không để những việc ác
đến tai, huống chi đích
thân chịu các tai vạ bất
ngờ.
Coi đoạn này của kinh Địa
Tạng, chúng ta thấy
có rất nhiều phương thức
cúng Phật, ở đây là dùng
‘kỹ nhạc’, ‘kỹ’ tức là
ngày nay chúng ta gọi là
ca vũ, âm nhạc.
Trong Phật pháp Đại Thừa,
từ rất nhiều bức Hoằng
Pháp Biến Tướng Đồ
(tranh vẽ cảnh hoằng
pháp) thời cổ, chúng ta
thấy lúc Thế Tôn giảng
kinh thuyết pháp,
chư thiên ca hát, múa vũ
để cúng dường.
Những thứ này tuyệt đối
chẳng có trong Phật pháp
Tiểu Thừa. Như
trong Bát Quan Trai
Giới, Sa Di Giới, Tỳ
Kheo Giới tuyệt đối cấm
[đi đến] những chỗ ca
vũ. Nhưng Đại Thừa
Bồ Tát thì khác, có thể
thấy rất rõ ràng, pháp
Tiểu Thừa là phương tiện
khéo léo của Phật lập ra
cho xã hội bảo thủ,
người bảo thủ; Đại Thừa
Phật pháp là cho xã hội
phóng khoáng, một số
chúng sanh phóng khoáng.
Như vậy nói rõ Phật đích
thật chẳng có định pháp,
[tức là]
chẳng có
pháp nhất định
,
Phật giáo hóa chúng sanh
đều là ‘hằng thuận chúng
sanh, tùy hỷ công đức’.
[Khi giảng] kinh Hoa
Nghiêm chúng tôi đặc
biệt nói rõ những chỗ
này, đích thật là ứng
cơ.
Đương nhiên đức Phật có
trí huệ, có đức năng,
nhìn một chúng sanh có
thể nhìn thấy nhân duyên
vô lượng kiếp về trước,
chúng ta chẳng có khả
năng này, do đó đức Phật
nhiếp thọ chúng sanh
dùng ‘Tứ Nhiếp Pháp’ rất
viên mãn. Pháp
cuối cùng trong Tứ Nhiếp
Pháp là ‘Lợi Hành, Đồng
Sự’, đồng sự thì phải
phóng khoáng, nếu chẳng
phóng khoáng thì làm sao
đồng sự với chúng sanh?
Đây là trí huệ cao độ,
thiền định thâm sâu.
Ngài có thể thuận theo
chúng sanh, từ trong đó
dẫn dắt chúng sanh, làm
cho họ giác ngộ, quay
về, bỏ tà quy chánh,
đoạn ác tu thiện, đức
Phật có khả năng này.
Nếu tự mình chẳng có trí
huệ, chẳng có công phu
mà muốn học làm theo như
vậy thì rất khó chống
chọi sự dụ hoặc của cảnh
giới bên ngoài.
Định Huệ của rất nhiều
người chẳng đủ, bị cảnh
giới bên ngoài dụ hoặc
nên thoái chuyển, đến
nỗi đánh mất đạo tâm,
đều là như vậy. Từ
thời đức Phật Thích Ca
đến nay, mỗi thời đại
đều có. Người xuất
gia đọa lạc, hoàn tục,
thật ra hoàn tục còn tốt
hơn là đọa lạc, họ xả bỏ
hình tướng của người
xuất gia, hoàn tục làm
người tu hành tại gia
cũng tốt, cũng có thể
thành tựu.
Do đó, trong cửa Phật,
xuất gia hoàn tục là một
hiện tượng rất bình
thường. Đấy cũng là một
hiện
tượng tốt,
chúng ta chớ nên nhìn
bằng ánh mắt khác lạ.
[Nếu nhìn bằng ánh mắt
khác lạ] như vậy, chúng
ta sẽ có tội.
Nhưng ngày nay những
quốc gia Tiểu Thừa có
cho xuất gia trong thời
gian ngắn, ở Thái ngay
cả vua cũng phải xuất
gia ba tháng, sau ba
tháng thì hoàn tục, đây
là
tiếp nhận
sự giáo dục của Phật
giáo, sống đời sống Phật
giáo, tuyệt đối hữu ích,
giúp cho xã hội [được
tốt đẹp hơn].
Đoạn này thuyết minh
phước báo có được khi
dùng ca vũ, âm nhạc để
cúng dường Bồ Tát.
Đoạn trước nói về cúng
dường, đoạn sau nói về
kẻ ấy được phước.
Từ đoạn kinh này chúng
ta cũng có thể thấu hiểu
cách
dùng phương thức nghệ
thuật để hoằng pháp lợi
sanh.
Tôi thấy
trong trong Đại Tạng
Kinh, bản Gia Hưng Tạng
.
Gia Hưng Tạng được biên
tập dưới triều Minh, mỗi
cuốn trong tạng kinh rất
dày. Hiện nay in bìa
cứng, đẹp đẽ, đại khái
là trong đó có hai tập
dầy như vầy, có nội dung
là gì? Toàn là lời ca
(ca từ), những khúc nhạc
ghi trong ấy có thể diễn
xướng.
Do đó có
thể biết, thời xưa
thường dùng cách này để
khuyến hóa chúng sanh vì
chúng sanh thích tiếp
nhận theo cách thức như
vậy. Biên tập
thành kịch bản để biểu
diễn thì còn ít, tại
sao? Điều kiện ấy
phải cần nhiều người,
chẳng phải một người,
hai người có thể làm
nổi. Một, hai
người dùng ca hát, dùng
cách biểu diễn như vậy
rất thường thấy trong
nghệ thuật dân gian thời
xưa.
Đặc biệt là biểu diễn
trong pháp hội, vì có
nhiều người trong pháp
hội dùng cách này để
tuyên dương Phật pháp,
để khuyến hóa chúng
sanh, đây là một cách
thuyết pháp tốt vô cùng.
Nếu chúng ta đem chuyện
của cô Quang Mục, cô Bà
La Môn trong kinh Địa
Tạng và biểu diễn dưới
hình thức ca vũ, kịch
thì hiệu quả lớn hơn
chúng tôi giảng trên
giảng đài rất nhiều.
Hy vọng chư vị đồng tu
ghi nhớ quan niệm này,
ngày nay chúng ta tâm có
thừa nhưng sức lực chẳng
đủ. Nếu có đầy đủ
điều kiện, nên đem Đại
Thừa Phật pháp lên sân
khấu; nếu có thể diễn
thành phim bộ chiếu trên
truyền hình, bạn nghĩ
xem có thể dạy được bao
nhiêu chúng sanh?
Phổ biến tiếp nhận được
đại chúng hoan nghinh.
Đây là việc chúng ta
phải nên nghĩ đến.
Trong các kịch bản thời
cổ, cổ đức cũng có biên
tập, tôi đã xem một kịch
bản hát bội
gọi là Quy Nguyên Kính.
Trong đó có ba câu
chuyện của Tịnh Độ Tông
chúng ta, đoạn thứ nhất
là chuyện của Huệ Viễn
đại sư, đoạn thứ hai là
chuyện của Vĩnh Minh
Diên Thọ đại sư, thứ ba
là chuyện của Liên Trì
đại sư, biên tập rất
hay! Dùng cách hát
tuồng biểu diễn trên sân
khấu. Các diễn
viên chính là Bồ Tát,
đều giảng kinh thuyết
pháp. Lần trước cư
sĩ Du Bản Xương đến thăm
Tân Gia Ba, đến thăm
tôi, có nói rằng ông
muốn dùng phương pháp
nghệ thuật để giúp Phật
giáo. Tôi nói sai
rồi, chẳng phải giúp
Phật giáo, chẳng phải
giúp pháp sư, ông chính
là đại pháp sư, ông hãy
dùng phương thức này để
hoằng pháp lợi sanh, như
vậy mới đúng. Ông
ta thảo kế hoạch lần
này, sau khi làm xong
tập thứ hai, tập thứ ba
ông sẽ diễn Tế Công
thuyết pháp, chính thức
làm đại pháp sư.
Chúng tôi rất hy vọng
những điều mong ước của
ông có thể biến thành sự
thực, cũng hoan nghinh
ông đóng vai Địa Tạng Bồ
Tát. Lúc trước tôi
nghe có người đóng Quán
Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ
Tát trong phim điện ảnh,
nhưng chẳng biểu diễn
chiếu theo ý nghĩa trong
kinh, đóng theo ý nghĩa
trong kinh mới đem lại
lợi ích cho đại chúng.
Chữ quan trọng mấu chốt
trong đoạn kinh này vẫn
là chữ ‘thiện’, ‘thiện
nam tử, thiện nữ nhân’,
vẫn ở chữ ‘thiện’.
Do đó có thể thấy mục
đích của sự biểu diễn ca
vũ là để khuyến hóa
chúng sanh chứ chẳng
phải để kiếm lời, hiện
tại mọi thứ ca nhạc giúp
vui đều nhằm mục đích
kiếm lời. Nếu lợi
nhuận không lý tưởng thì
họ sẽ chẳng làm nữa,
biểu diễn nhất định phải
bán hết vé. Còn
cách dụng tâm của thiện
nam tử, thiện nữ nhân sẽ
chẳng giống vậy, mục
đích của họ là để giáo
hóa xã hội, là tuyên
dương Phật pháp, đem lại
lợi ích cho chúng sanh.
Quan trọng là ở chỗ này.
‘Có thể đối trước tượng
Bồ Tát mà trỗi
các thứ kỹ nhạc, cùng ca
vịnh, tán thán, cúng
dường hương hoa’, phía
sau ‘cho đến khuyên được
một người hay nhiều
người’, tốt nhất là lợi
dụng những dịp có pháp
hội, thời cổ thường
dùng, những ngày lễ
Phật, Bồ Tát đều có diễn
kịch. Diễn kịch là
có căn cứ, trong kinh
này đều có. Nhưng
phải coi bạn diễn kịch
gì? Phải dựa trên
nội dung, mục đích của
tuồng kịch này.
Nếu mục đích của tuồng
kịch là để thu hút tín
đồ thì đó là sai lầm.
Mục đích nhất định phải
dùng cách thức này để
giảng kinh, thuyết pháp,
phổ độ chúng sanh, như
vậy mới là ‘thiện’.
Mấu chốt quan trọng ở
chỗ này.
Chúng ta hãy thảo luận
xem họ rốt ráo đạt được
công đức gì? Ích
lợi của họ đạt được từ
đâu tới? Hiện nay
một số người trong thế
gian cho rằng những hành
vi trong Phật pháp là mê
tín, do đó trong quan
niệm của họ tu phước
phải tu ở đâu?
Phải làm sự nghiệp từ
thiện, giúp đỡ những
người nghèo khổ, già cả,
tàn tật, nhiều bịnh
trong xã hội. Làm
những việc từ thiện này,
chánh phủ quốc gia khích
lệ, xã hội đại chúng tán
thán, pháp hội Phật giáo
chúng ta ở đó diễn một
vở kịch chẳng có ai coi
trọng. Trong ánh
mắt của họ, vở kịch đó
làm sao sánh bằng việc
từ thiện xã hội?
[Họ nghĩ] chúng ta làm
như vậy là mê tín, chúng
ta đang thâu góp tiền
tài, đem lại ấn tượng
không tốt cho xã hội.
Những chuyện này chúng
ta không dám nói là
không có, nhưng hết thảy
những thiết bị trưng bày
trong Phật pháp chân
chánh đều có mục tiêu
giáo học, kết hợp nghệ
thuật và giáo học thành
giáo học nghệ thuật, đây
là một cách giáo huấn
cao minh nhất, đạt đến
đỉnh cao tột cùng.
Thế Tôn luôn luôn đề
xướng, trong hết thảy
kinh điển, bộ kinh nào
cũng lập lại nhiều lần,
đức Phật dạy chúng ta
‘thọ trì, đọc tụng, vì
người diễn nói’, diễn
tức là biểu diễn, chúng
ta phải hiểu ý nghĩa của
Thế Tôn.
Hôm qua chúng ta trong
hội [giảng kinh] Hoa
Nghiêm nói đến Chủ Dược
Thần, luôn tiện nói đến
việc tu phước, vì Chủ
Dược Thần trị bịnh cho
người ta. Thế gian
có ba hạng người không
sanh bịnh, phải biết
thầy thuốc cao minh nhất
có thể làm cho người ta
không sanh bịnh, thầy
thuốc như vậy mới tài
giỏi; khi có bịnh [đi
tìm thầy thuốc] trị
bịnh, [thầy thuốc ấy]
chẳng kể là cao minh.
Làm thế nào có thể làm
cho hết thảy chúng sanh
không sanh bịnh?
Đức Phật là đại y vương,
ngài có khả năng này.
Ba hạng người này là:
thứ nhất là người có
phước, cho nên bạn phải
biết tu phước, người có
phước sẽ không sanh
bịnh; thứ hai là người
có công phu định lực sẽ
không sanh bịnh; thứ ba
là người có trí huệ sẽ
không sanh bịnh.
‘Huệ’ này không phải là
thông minh trí huệ của
thế gian chúng ta, đó là
‘minh tâm kiến tánh, đại
triệt đại ngộ’ trong nhà
Phật. Tại sao nói
ba hạng người này không
sanh bịnh? Họ có
thể ngăn chận nhân tố
sanh bịnh. Người
có phước báo thì ít nhân
tố sanh bịnh; người có
công phu thiền định có
thể khống chế, chận đứng
nhân tố sanh bịnh, làm
cho những nhân tố này
không sanh khởi tác
dụng, nên họ không sanh
bịnh; người khai ngộ,
minh tâm kiến tánh thì
khỏi nói nữa, [họ có
thể] tìm hết những nhân
tố bịnh tật, như ngành
hóa học hiện nay vậy,
[họ có thể] hóa giải nó
thành trí huệ, biến
thành công đức, do đó họ
sẽ không sanh bịnh.
Chỉ có đức Phật hiểu
được đạo lý, chân tướng
sự thật này, đức Phật
dạy chúng ta, chúng ta
phải tin. Thế nên
Phật pháp là nền giáo
dục viên mãn, chí thiện
của chín pháp giới chúng
sanh, lý luận viên mãn,
phương pháp khéo léo,
nói trong kinh Phật khéo
léo đến mức cùng cực.
Tiếc rằng đồng tu học
Phật chúng ta ngu muội,
vô tri, chẳng thấu hiểu
được tâm ý của Phật,
chẳng hiểu rõ phương
thức giáo hóa chúng sanh
của Phật, tuy là học
Phật, vẫn chẳng đạt được
lợi ích của Phật pháp y
như cũ. Nói không
được lợi ích của Phật
pháp là nói hiện nay,
nhưng lợi ích chân thật,
lợi ích sâu xa đều đã
đạt được. Quả báo
chẳng ở đời này, cõi
này, nên người thế gian
cũng chẳng thể tin
tưởng, đối với việc cúng
Phật này họ cũng coi
thường, bỏ bê hết.
Đồng tu học Phật chúng
ta thường nghe, cổ đức
thường nói: “Một phen
lọt vào tai, vĩnh viễn
là hạt giống đạo”,
một phen lọt vào nhãn
căn cũng vĩnh viễn là
hạt giống đạo.
‘Căn’ là lục căn, dùng
nhãn căn trong lục căn
để tượng trưng, nói nhãn
căn thì gồm hết sáu căn,
chúng ta phải hiểu ý
nghĩa này. Nếu nói
một căn, bạn bèn chấp
trước vào căn đó thì bạn
rất khó được dạy, giáo
học thế pháp còn yêu cầu
‘nêu một thấy được ba,
nghe một hiểu mười’
.
Trong hội kinh Lăng
Nghiêm nói đến lục căn,
Phật cũng giảng một căn,
giảng về tánh Thấy,
‘Mười phen hiển thị về
tánh thấy’ (Thập phiên
hiển kiến). Bạn
hiểu được ‘thập phiên
hiển kiến’, cùng đạo lý
ấy cũng ‘hiển văn, hiển
giác, hiển tri’ tất cả
đều được.
Do đó nói ‘một phen lọt
vào tai, vĩnh viễn thành
hạt giống đạo’, chúng ta
đều hiểu rõ hết, mắt
thấy cũng là hạt giống
đạo, thân đụng chạm cũng
là hạt giống đạo, lưỡi
liếm cũng là hạt giống
đạo, mũi ngửi cũng là
hạt giống đạo. Như
vậy bạn mới biết sự tạo
tượng trong Phật pháp,
công đức tạo tượng Phật
rất lớn, trong Đại Tạng
Kinh có kinh Tạo Tượng
Công Đức, quả báo chẳng
thể nghĩ bàn. Bạn
sẽ hỏi tại sao?
Tượng đúc có thể tồn tại
lâu dài, tượng vẽ làm
cho người ta nhìn thấy
bèn gieo hạt giống thành
Phật. Họ nhìn thấy
tượng Phật, Bồ Tát, đem
những hạt giống của thập
pháp giới chứa trong A
Lại Da thức của họ, khởi
lên hạt giống của Phật
pháp giới, của Bồ Tát
pháp giới. Công
đức, phước đức thế gian
và xuất thế gian có thứ
nào lớn hơn công đức,
phước đức này?
Trong A Lại Da thức của
mỗi chúng sanh chứa đầy
hạt giống của mười pháp
giới, trong mười pháp
giới ấy chúng ta thọ
sanh pháp giới nào, sanh
sống trong pháp giới nào
thì phải coi một niệm
(niệm đầu) cuối cùng lúc
lâm chung là niệm gì.
Nếu một niệm lúc lâm
chung là niệm Phật thì
họ sẽ sanh vào pháp giới
Phật, một niệm cuối cùng
lúc lâm chung là niệm Bồ
Tát thì họ sẽ sanh vào
pháp giới Bồ Tát, hiểu
rõ được đạo lý này thì
mới biết việc tu phước
trong nhà Phật là chẳng
thể nghĩ bàn. Công
đức tạo tượng đâu phải
là mê tín! Không
những không mê tín, đó
còn là trí huệ chân
thật, phước báo vô
lượng. Bức tượng
này không những làm cho
mình được phước, phàm
những người có duyên
nhìn thấy, đều khơi dậy
hạt giống Phật, Bồ Tát
trong tám thức điền của
họ, nhìn một lần cũng
giống như xẹt điện một
lần, phóng quang một
lần. Phải biết lần
phóng quang này vô cùng
hy hữu, khó gặp, vì nếu
họ không được thân
người, chẳng gặp Phật
pháp, họ chẳng có duyên
này, cơ hội này; tuy
trong tám thức điền có
hạt giống Phật nhưng
chẳng có duyên dẫn dắt
hạt giống ấy ra.
Người tạo phước, phía
trước có nói nặn đúc,
tạo tượng Phật, Bồ Tát,
vẽ hình tượng Phật, Bồ
Tát, có thể dẫn dắt rất
nhiều chúng sanh, ánh
quang minh quý báu nhất
trong A Lại Da thức,
phải thường dẫn khởi ánh
quang minh này, khoảng
cách tu hành chứng quả
của kẻ ấy sẽ rút ngắn.
Họ thành Phật, thành Bồ
Tát, chư vị nghĩ coi họ
sẽ độ biết bao nhiêu
chúng sanh? Những
chúng sanh được họ độ,
trong nhân địa chúng ta
giúp họ tu một chút
phước này, thì chúng ta
cũng được thơm lây, có
duyên với Phật, Bồ Tát.
Huống chi tự mình tu
hành, tự mình trước hình
tượng Phật, Bồ Tát cung
kính hành lễ, cúng dường
hương hoa, biểu diễn cho
kẻ khác coi. Đặc
biệt là những người
không tin tưởng, họ nhìn
chúng ta, chúng ta chẳng
mê tín, chẳng ngu si,
cũng chẳng ngờ nghệch,
tại sao khi gặp hình
tượng của Phật, Bồ Tát
lại kính lạy như vậy?
Khi họ nhìn thấy, đôi
khi họ cũng sẽ thắc mắc,
hỏi tại sao mình lại làm
vậy? Đây tức là cơ
hội giáo dục, bạn có thể
giải thích công đức lợi
ích của việc này, đó
chính là cơ hội giáo
dục. Phật giáo ở
Trung Quốc, những chùa
chiền ở các huyện, các
thị trấn, thậm chí những
đạo tràng ở trong hương
trấn có lịch sử, những
đạo tràng có giá trị
nghệ thuật, hiện nay
được chánh phủ mở rộng
cho khách du lịch tham
quan, bạn phải biết công
đức này bao lớn!
Rất nhiều khách du lịch
ngoại quốc, cả đời chưa
từng tiếp xúc đến Phật
pháp, chưa từng thấy
hình tượng Phật, Bồ Tát,
họ du lịch đến nơi đó
thấy được, trong A Lại
Da thức đã được trồng
hạt giống Phật, Bồ Tát,
được lợi ích thù thắng,
chúng ta chẳng có cách
chi nói hết, nhưng người
thế gian chẳng biết.
Trên đây là nói về ‘nhìn
tượng, nghe danh’.
Nếu có Phật tử thông
hiểu Phật pháp, bất luận
là tại gia, xuất gia, có
thể mượn cơ hội này giới
thiệu rõ ràng sự tiêu
biểu pháp của hình tượng
Phật, Bồ Tát thì họ được
lợi ích ngay trong hiện
tại, chẳng phải đời sau,
đời sau nữa, hiện tại
liền được lợi ích.
Cũng như nói đến đó du
lịch tham quan là đến đó
đi học, bạn lên lớp
giảng cho họ. Họ
trả tiền đi du lịch cũng
như trả học phí, học phí
này chẳng lãng phí,
chúng ta nhận học phí
rất thấp, họ đạt được
lợi ích thật to lớn.
Đây là tại sao trong
những trường hợp này
chúng ta phải làm thật
đúng như pháp, chúng ta
đang diễn kịch, biểu
diễn cho những người
chưa học Phật coi, làm
cho họ sanh tâm cung
kính, cho họ khởi lên
nghi vấn, sau đó chúng
ta giải đáp cho họ.
Chúng ta giải đáp cho
một người, rất nhiều
khách du lịch ở đó có
thể sẽ xúm lại nghe.
Trong trường hợp này
phải biết biểu diễn, nếu
chẳng có người hỏi thì
tìm một người biết rành
[về Phật pháp] hẹn trước
ở đó, [nói với người ấy]
tôi biểu diễn, bạn lại
đó nêu câu hỏi; hát
tuồng cho người ta coi,
cho người ta nghe.
Cách hỏi này trong kinh
gọi là ‘Hỏi làm lợi ích
hữu tình’; họ không
hiểu, họ có thể hỏi thì
tốt! Nếu không có
người hỏi thì một người
trong nhóm chúng ta nêu
câu hỏi, hỏi để đem lại
lợi ích cho kẻ khác.
Cho nên những chùa
chiền, đạo tràng này ở
Trung Quốc là lớp học
cho toàn thế giới, đây
là sự cống hiến của Phật
pháp Đại Thừa cho nhân
dân trên toàn thế giới.
Chúng ta phải hiểu ý
nghĩa này, sau đó bạn
mới hiểu được công đức
lợi ích thù thắng, những
nhà từ thiện thế gian
tuyệt chẳng thể sánh
nổi, nhà từ thiện giúp
đỡ người ta chỉ trong
một đời, Phật pháp giúp
cho người ta nhiều đời,
nhiều kiếp, lợi ích ấy
làm sao sánh nổi, do đó
quả báo đương nhiên cũng
chẳng giống nhau.
Phần sau nói về phước
báo của họ. ‘Như
thị đẳng bối’ tức là
những người tu phước
này. ‘Trong đời
hiện tại và đời vị lai’,
câu sau này rất quan
trọng, chẳng phải một
đời, họ còn phước
báo đời sau.
‘Thường được trăm ngàn
quỷ thần, ngày đêm hộ
vệ’, thần hộ pháp bảo
hựu bạn, tại sao họ lại
bảo hựu bạn? Vì
bạn hoằng pháp lợi sanh,
vì bạn hoằng dương Phật
pháp, những thần hộ pháp
này đều là đệ tử Phật.
Thậm chí trong những quỷ
thần này đích thật cũng
có chư Phật Như Lai,
Pháp Thân Đại Sĩ thị
hiện trong ấy, mặc dù
quỷ thần ngu muội chẳng
biết, họ ở trong đó dẫn
dắt dạy dỗ, ở đó biểu
diễn, đây là khuyến
thiện. Làm một
chút thiện này, được lợi
ích lớn lao thì ai chẳng
chịu làm chuyện thiện?
Ai không chịu làm việc
tốt? Đây là một
phương thức để khuyến
thiện. ‘Không
để những việc ác đến
tai, huống chi đích thân
chịu các tai vạ bất ngờ’,
đây tức là việc ngày nay
chúng ta gọi là tiêu tai
miễn nạn, hết thảy tất
cả tai nạn không những
bạn chẳng gặp, âm thanh
của tai nạn bạn cũng
chẳng nghe, tin tức cũng
chẳng nghe đến, có thể
được phước báo lớn như
vậy. Chúng ta phải
khẳng định, tin tưởng,
câu nào đức Phật nói
trong kinh đều là chân
thật, chẳng có một chữ
nào dối trá, Như Lai
đích thật là ‘người nói
lời chân, lời thật, lời
đúng như vậy, chẳng lừa
dối’, câu nào cũng thành
thật. Hy vọng đồng
tu coi chú giải kỹ
lưỡng, đoạn chú giải này
của Thanh Liên pháp sư
rất rõ ràng, dùng điển
tịch thời xưa để thuyết
minh ‘nhạc giáo’, [tức
là] công năng của
sự giáo hóa bằng âm
nhạc. Chúng ta xem tiếp
kinh văn:
Phục thứ Phổ Quảng, vị lai
thế trung nhược hữu ác
nhân cập ác thần, ác
quỷ, kiến hữu thiện nam
tử, thiện nữ nhân quy
kính cúng dường, tán
thán chiêm lễ Địa Tạng
Bồ Tát hình tượng hoặc
vọng sanh cơ hủy báng vô
công đức cập lợi ích sự.
Lại nữa này Phổ Quảng,
trong đời sau nếu có ác
nhân cùng ác thần, ác
quỷ thấy kẻ thiện nam,
thiện nữ quy kính cúng
dường, tán thán, chiêm
lễ hình tượng của Địa
Tạng Bồ Tát mà vọng sanh
khinh chê cho là không
có công đức cùng sự lợi
ích.
Cũng tức là nói chẳng có
công đức, chẳng có lợi
ích, nói bạn mê tín.
Hoặc lộ
xỉ tiếu, hoặc diện bối
phi.
Hoặc nhe
răng ra cười, hoặc chê
sau lưng
Diện là đối diện, bối là
sau lưng
Hoặc
khuyến nhân cộng phi,
hoặc nhất nhân phi, hoặc
đa nhân phi, nãi chí
nhất niệm sanh cơ hủy
giả.
Hoặc khuyên
người khác cùng chê,
hoặc một người chê, hoặc
nhiều người chê, cho đến
sanh lòng chê bai trong
chừng một niệm.
Đây là nói việc tạo
nghiệp. Hiện nay
đích thật có người tạo
ác nghiệp này, chúng ta
thường nghe nói đến, có
khi cũng nhìn thấy.
Đặc biệt là thời đại
chúng ta, kinh Lăng
Nghiêm nói thời đại này
‘tà sư thuyết pháp như
cát sông Hằng’.
Tà sư đó là ai? Là
yêu ma quỷ quái.
Trong quyển bốn kinh
Lăng Nghiêm, đức Phật
dạy ‘Bốn điều răn thanh
tịnh’, đoạn kinh này
trọng yếu phi thường!
Giảng rõ cho chúng ta
biết trong thế gian này
loại nào là yêu, loại
nào là ma, loại nào là
quỷ, loại nào là quái.
Chúng ta thấy đều là
người, mặt mũi là người,
tâm của họ chẳng phải là
tâm người, mà là tâm của
yêu ma quỷ quái.
Cho nên trong kinh Diệt
Pháp, đức Phật nói
trước, người ngày nay
gọi là tiên đoán, tương
lai kinh bị tiêu diệt
đầu tiên là kinh Lăng
Nghiêm, kinh cuối cùng
bị tiêu diệt là kinh Vô
Lượng Thọ. Tại sao
kinh Lăng Nghiêm bị diệt
trước hết? Tôi đọc
đoạn kinh ấy tôi bèn
biết kinh này nhất định
sẽ bị tiêu diệt trước
hết. Khi kinh này
chẳng còn nữa, yêu ma
quỷ quái trong thế gian
sẽ chẳng có ai nhận
biết, bạn không những
không nhận biết họ là
yêu ma quỷ quái, bạn còn
coi họ như Phật, Bồ Tát,
họ giả dạng rất giống,
rất giống Phật, Bồ Tát,
họ chẳng phải là Phật,
Bồ Tát thiệt. Lúc
trước tôi giảng kinh
Lăng Nghiêm, đoạn kinh
‘Lời răn thanh tịnh’,
đoạn này được gọi là
kính chiếu yêu, yêu ma
quỷ quái rất nhức đầu
với kinh này, luôn tìm
cách tiêu hủy, chẳng cho
bạn lưu thông, để cho nó
phá rối.
Trong Tả Truyện của nhà
Nho có một câu danh ngôn
dạy chúng ta làm cách
nào để phân biệt yêu
quái là gì, Tả Khưu Minh
nói: ‘Con người vứt bỏ
luân thường thì yêu quái
hưng vượng’
,
câu này khải thị chúng
ta rất lớn.
‘Thường’ là gì? Nhà Nho
nói ‘Ngũ Thường: Nhân,
Lễ, Nghĩa, Trí, Tín’,
người ta buông bỏ những
thứ này, chẳng coi trọng
nữa; nói cách khác những
gì họ làm đều là chẳng
nhân, chẳng nghĩa, chẳng
trọng lễ, chẳng coi
trọng tín dụng, người
như vậy chính là yêu
quái. Bất luận địa
vị trong xã hội của
người ấy cao tới đâu, có
tài sản bao lớn, họ
chẳng phải là người.
Nhà Nho nhận định, khẳng
định tiêu chuẩn của con
người, nhất định phải có
nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín, cũng tức là nói năm
điều kiện căn bản để làm
người. Từ xưa đến
nay trong Phật pháp, các
Tổ sư đại đức đem ‘ngũ
thường’ phối hợp với
‘ngũ giới’, không sát
sanh là Nhân, không trộm
cắp là Nghĩa, không tà
dâm là Lễ, không nói dối
là Tín, không uống rượu
là Trí. Từ đó có
thể biết có đầy đủ năm
giới là người, phá huỷ,
vi phạm năm giới hoàn
toàn thì đó là yêu, yêu
ma, chẳng phải là người.
Hiện nay tuy được thân
người, họ tạo nghiệp yêu
ma quỷ quái, tương lai
nhất định đọa ba đường
ác, đây là điều mà hết
thảy kinh điển Đại, Tiểu
Thừa đều nói rất rõ
ràng. Phật pháp
được đại chúng công nhận
là nhãn mục của trời,
người, là chỉ dẫn quang
minh, người ta tu học
tán thán, nếu bạn gây
chướng ngại, huỷ báng,
thì tội sẽ rất nặng.
Ba hạng chúng sanh nói ở
đây, ‘người ác’ hơn phân
nửa là người ngu si, ngu
si mới dễ bị yêu ma quỷ
quái lợi dụng, nghe và
tin lời giả dối của họ,
hoài nghi chánh pháp.
Yêu ma quỷ quái cũng có
biện tài, tà huệ, phần
sau trong kinh Lăng
Nghiêm nói về năm mươi
chủng ấm ma, chữ ‘chủng’
là chủng loại, chia
những loại ma này thành
năm mươi loại.
Trong mỗi loại, chúng ta
thấy trong kinh, nếu
người thật sự không
thông đạt Phật pháp Đại
Thừa, đích thật cũng sẽ
coi họ như Phật, Bồ Tát.
Họ ở thế gian này có
phước báo, phước báo rất
lớn, có tín đồ, rất
nhiều tín đồ, có
thế lực, họ cũng có thần
hộ pháp, thân của họ
cũng màu vàng, có ánh
sáng, phàm phu làm sao
sánh bằng họ?
Trong kinh đức Phật nói
với chúng ta: Hào quang
của Phật, Bồ Tát nhu
hòa, khi bạn tiếp xúc sẽ
cảm thấy rất dễ chịu.
Quang minh của ma rất
mạnh, khi tiếp xúc sẽ
cảm thấy rất sợ sệt,
quang minh của họ [làm
cho người ta] rất nhức
mắt. Giống như ánh
sáng mặt trời vậy, chúng
ta chẳng có cách gì mở
to mắt ra nhìn lâu được,
nhìn lâu thì trong ánh
sáng ấy có tia tử ngoại
tuyến, có thể làm mù
mắt, do đó tuyệt chẳng
thể nhìn lâu vào ánh
sáng mặt trời. Ánh
sáng của ma cũng thuộc
loại này. Còn Phật
quang nhu hòa, tại sao
lại có hiện tượng này?
Phật quang là từ tâm từ
bi trong tự tánh tuôn
chảy ra. Quang của
ma từ tham, sân, si, do
đó tuy quang rất lớn,
tánh chất chẳng giống
nhau, đây là việc chúng
ta phải hiểu. Ma
lợi dụng người nên ma
đạo, ma pháp xuất hiện ở
thế gian này, có thể làm
cho hết thảy chúng sanh
mê hoặc điên đảo, bỏ
thiện hướng ác, tạo tội
nghiệp, chẳng chịu tu
thiện, xả bỏ chánh pháp.
Chúng ta thường cảm xúc
đến, rất nhiều người tin
‘tà’ chứ chẳng tin
‘chân’, nghe ‘gạt’ chứ
không nghe lời ‘khuyên’,
đây chính là ‘người đáng
thương xót’, họ còn cho
rằng mình thông minh, cứ
cho rằng mình đúng.
Khi họ thấy người thiện
nam, thiện nữ quy y,
cung kính, cúng dường,
tán thán, chiêm lễ hình
tượng Địa Tạng Bồ Tát,
đây là việc phần đông
chúng ta gọi là lạy
Phật, lạy Bồ Tát, nhìn
thấy có người lạy Phật,
lạy Bồ Tát. Chư vị
nhất định phải biết phàm
khi nhìn thấy người lạy
Phật, lạy Bồ Tát, họ
chánh tín thì tốt, mê
tín cũng tốt! Chỉ
cần chịu lạy là tốt.
Chánh tín thì người ấy
hiện nay được lợi ích,
mê tín thì đời sau được
lợi ích, không có gì
chẳng được lợi ích.
Kinh Pháp Hoa nói
‘Dù chỉ
xưng Nam mô Phật một lần
cũng đều gieo duyên
thành Phật’
,
chữ ‘giai dĩ thành Phật
đạo’ chẳng phải là
bây giờ, có thể ở vô
lượng kiếp về sau.
Tức là ngày nay họ mê
tín, nhìn thấy Phật, Bồ
Tát họ cung kính, cúng
dường lễ bái, chỉ tu
phước một lần như vậy,
vô lượng kiếp sau nếu
gặp lúc có Phật ra đời,
có thể nhờ nhân duyên ấy
mà theo Phật xuất gia,
tu hành, chứng quả,
trong kinh chúng ta thấy
rất nhiều [những chuyện
như vậy]. Tuy họ
chẳng hiểu rõ, cũng
chẳng hiểu đạo lý cho
lắm, trong lúc gặp tai
nạn cấp bách, lúc khẩn
cấp niệm một câu Quán
Thế Âm Bồ Tát, niệm một
câu A Di Đà Phật, công
đức ấy cũng chẳng thể
nghĩ bàn. Huống
chi chúng ta hiểu rõ
những đạo lý này, một
tiếng Phật hiệu một
tiếng [từ trong] tâm,
cung kính hành lễ, tán
thán cúng dường đều là
từ tánh đức lưu lộ.
Minh tâm kiến tánh, tánh
ở đâu? Tánh là ở
chỗ này tỏ lộ.
Đối với kẻ tu tập tích
lũy công đức chân thật,
phước đức chân thật, họ
‘vọng sanh cơ hủy’.
‘Vọng’, họ chẳng hiểu rõ
đạo lý trong ấy, chẳng
hiểu chân tướng sự thật,
tùy thuận tri kiến vọng
tưởng của mình, từ vọng
tưởng của họ sanh khởi
cơ phong hủy báng, nói
đó là mê tín. Lời
này nếu muốn đi sâu vào
thảo luận, ý tứ rất sâu,
Phật giáo chẳng phải mê
tín, do đó người mê tín
Phật giáo cũng chẳng
phải mê tín. Quý
vị nghĩ xem lời của tôi
đúng không? Bản
thân Phật giáo chẳng mê
tín, bạn mê tín nhưng
Phật giáo chẳng mê tín.
Ông Âu Dương Cánh Vô nói
‘Tôn giáo là mê tín,
dùng chánh tri để tin nó
cũng vẫn mê tín’,
bản chất của nó là mê,
bản chất Phật giáo chẳng
mê, bạn phải hiểu đạo lý
này. Cho nên bạn
từ mê đi vào Phật giáo,
sau đó sẽ khai ngộ; nếu
bản chất của nó thật sự
là mê tín, khi hiểu biết
đi vào cũng bị nó mê
mất, đạo lý này rất sâu,
rất đáng nghiền ngẫm.
Sau đó bạn mới có thể
khai đạo cho hết thảy
đại chúng, tuyệt chẳng
thể châm thọc, hủy báng,
đó là tạo nghiệp rất
nặng. Bạn nói nó
chẳng có công đức, chẳng
có lợi ích, nói thật ra
công đức lợi ích đó vô
biên. Bạn ‘nhe
răng cười’ là cười mỉa
mai, ‘chê sau lưng’ là
phê bình họ, phê bình
trước mặt, phê bình sau
lưng, hoặc bạn còn
khuyên nhiều người cùng
nhau phê bình họ.
Kết luận sau chót ‘hoặc
một người chê, nhiều
người chê’, phê bình
chẳng đúng tư cách,
chẳng đúng lý.
‘Cho đến sanh lòng chê
bai trong chừng một
niệm’, đây là nói ít
nhất, khởi lên một niệm.
Phía sau nói về quả báo
của người đó:
Như thị chi nhân, hiền
kiếp thiên Phật diệt độ,
cơ hủy chi báo, thượng
tại A Tỳ địa ngục thọ
cực trọng tội.
Những kẻ
như thế, sau khi một
ngàn đức Phật trong Hiền
Kiếp
diệt độ cả, vì tội báo
khinh chê nên vẫn còn ở
trong địa ngục A Tỳ chịu
tội cực nặng.
Quả báo còn
chưa hết, phía sau còn
rất dài. Những
người này cứ tưởng mình
thông minh. Trong
nhà Phật, bất luận họ là
trí tín, hay mê tín,
chúng ta nhìn thấy đều
hoan hỷ tán thán.
Tại sao? Bản chất
là chánh giác, người mê
tín cũng được phước,
chẳng khác gì lời nói
trong kinh, công đức lợi
ích thật sự là vô lượng
vô biên, chẳng có cùng
tận. Tội báo hủy
báng, phê bình cũng
chẳng thể nghĩ bàn, cũng
chẳng có cùng tận.
Hôm nay đã
hết giờ. Chúng ta
giảng đến đây thôi.
Tập 22 (Số 14-12-22)
Xin mở cuốn Khoa Chú
quyển trung, trang 42,
xin xem kinh văn:
Như thị chi
nhân, hiền kiếp thiên
Phật diệt độ, cơ hủy chi
báo, thượng tại A Tỳ địa
ngục thọ cực trọng tội.
Những kẻ
như thế, sau khi một
ngàn đức Phật trong Hiền
Kiếp diệt độ cả, vì tội
báo khinh chê nên vẫn
còn ở trong địa ngục A
Tỳ chịu tội cực nặng.
Chúng ta
nhất định phải hiểu rõ,
phải rành rẽ vấn đề này,
tại sao đối với việc này
lại kết tội nặng như
vậy? Chúng ta coi
xã hội hiện nay những
người tạo tội nghiệp
này, chúng ta thường có
thể nghe đến, có khi
cũng thấy được.
Mọi người đều coi thường
chuyện này, cho rằng đây
là mê tín, cho rằng nên
phá trừ những chuyện mê
tín này, đâu biết rằng
chịu quả báo nặng nề như
vậy? Hủy báng Tam
Bảo, bất luận bạn cố ý,
vô ý đều là tội nặng,
trong các ác nghiệp
chẳng có thứ nào nặng
hơn chuyện này.
Nguyên nhân là như Phật
nói trong kinh, Tam Bảo
là nhãn mục của trời,
người, Tam Bảo là nhân
duyên chúng sanh được
độ, bạn đoạn mất cơ hội
được độ của hết thảy
chúng sanh, tội đó sẽ
rất nặng. Bạn giết
hại một người, giết hại
sanh mạng, trong kinh
nói 49 ngày thì người đó
đi đầu thai trở lại, do
đó tội sát sanh nhỏ, tội
đoạn dứt huệ mạng của
chúng sanh mới lớn.
Khi kẻ ấy được thân
người, nếu phước báo cõi
người của họ chưa hưởng
hết, vẫn còn dư phước
cõi người, trời; khi bạn
giết kẻ ấy, chẳng bao
lâu họ được thân người
trở lại, vì phước báo
của họ chưa hết, họ phải
hưởng phước tiếp.
Phước báo lớn thì rất
nhanh sẽ được thân
người, mấy ngày thì họ
sẽ đầu thai trở lại.
Phước báo kém một chút
thì cũng chẳng qua 49
ngày như nói trong kinh,
họ sẽ sanh tới cõi người
trở lại, đây là nói rõ
tại sao tội giết sanh
mạng chẳng nặng.
Nhưng cơ hội gặp được
Phật pháp khó lắm, kệ
khai kinh nói: “Trăm
ngàn muôn kiếp khó gặp
gỡ”, lời này là
thật, chẳng giả.
Khi bạn được thân người,
chưa chắc bạn có cơ hội
nghe đến Phật pháp,
huống chi được thân
người thì cũng tương đối
không dễ. Thời
gian đức Phật xuất hiện
tại thế gian chẳng dài,
thời gian chẳng có Phật
pháp quá dài, quá dài đi
thôi, làm sao bạn sanh
ra nhằm lúc có Phật ra
đời được!
Trong kinh
đức Phật nói với chúng
ta một người tu hành cần
phải
phải trả qua
ba A Tăng Kỳ kiếp, thời
gian này quá dài, quá
dài. Tại sao cần
có thời gian dài như
vậy? Vì trong quá
trình tu học, thời gian
có cơ duyên gặp được
Phật pháp rất ngắn, thời
gian chẳng có cơ duyên
rất dài, khi chẳng có cơ
duyên thì bạn sẽ thoái
chuyển, sẽ đọa lạc.
Gặp được Phật pháp thì
tiếp tục bắt đầu trở
lại. Cứ đứt đoạn,
ngưng xong rồi tiếp tục
lại, thời gian tu hành
ngắn, thời gian ngưng
[chẳng tu] thì dài, thế
nên mới cần ba A Tăng Kỳ
kiếp, thời gian dài như
vậy. Nếu tu hành
cứ tiếp tục chẳng ngưng
giữa chừng thì đâu cần
thời gian dài như vậy?
Chẳng cần. Tam Bảo
là một cơ duyên chúng
sanh nghe pháp tu học
được độ, công đức của
người sáng tạo cơ duyên
này vô lượng vô biên,
sáng tạo cơ duyên là
nhằm đem lại lợi ích cho
chúng sanh, chẳng vì lợi
ích cá nhân mình.
Nói thật ra vì chúng
sanh thì tự mình mới
thật sự được lợi ích; vì
mình thì lợi ích của bạn
sẽ rất nhỏ.
Xây Niệm
Phật Đường ở đây, những
đồng tu lãnh chúng
(hướng dẫn), những pháp
sư, tối hôm qua tôi nói
với họ, có phải Niệm
Phật Đường là của địa
phương ấy không?
Chẳng phải. Niệm
Phật Đường này là của
Tịnh Tông toàn thế giới,
trên địa cầu này của
chúng ta, các đồng tu
phát tâm niệm Phật cầu
vãng sanh đều có thể đến
Niệm Phật Đường này để
niệm Phật, lại để
nhìn và bắt chước,
để học tập, do đó Niệm
Phật Đường thuộc về cả
thế giới. Tâm
lượng của bạn phải mở
rộng, nhãn quan phải
lớn, rộng, sau đó mới
biết sứ mạng rất nặng
nề, nhất định phải làm
việc này cho hoàn hảo.
Như thế nào mới làm được
thiện mỹ đến cùng cực?
Tôi nhắc nhở mọi người
mỗi ngày phải cải tiến,
không thể làm theo ý tứ
của mình. Mỗi ngày
phải dùi mài lẫn nhau,
phải thỉnh giáo mọi
người. Vì tự mình
rất khó phát hiện khuyết
điểm của mình, phải dùng
tâm chân thành thỉnh
giáo người khác.
Những đồng tu đến Niệm
Phật Đường, có chỗ nào
cảm thấy không thuận
tiện thì xin họ nói ra,
chúng ta lập tức cải
thiện. Mỗi ngày
đều hỏi, mỗi ngày đều
cải tiến, một ngày không
cải tiến thì là một ngày
không có tiến bộ.
Nếu bạn hỏi cải tiến tới
lúc nào mới viên mãn?
Tới lúc mọi người đều
thành Phật. Khi
mọi người chưa thành
Phật, còn ở ngôi vị Đẳng
Giác thì vẫn phải mong
cầu cải tiến, cầu người
ta phê bình, xin người
ta chỉ giáo, được vậy
thì việc này mới làm
được thiện mỹ rốt ráo.
Cố chấp thành kiến của
chính mình, chẳng chịu
người khác phê bình thì
đạo tràng này làm sao có
tiến bộ? Làm sao
đúng như pháp?
Nếu hỏi
tinh thần của Niệm Phật
Đường Tân Gia Ba ở tại
đâu? Tinh thần ấy
tức là
chấp nhận,
vui vẻ tiếp nhận phê
bình, mạnh mẽ sửa sai
đổi mới, như vậy là tốt
lắm! Bất kỳ người
nào đến đây niệm Phật
đều có thể nêu ra ý
kiến. Điều tốt
nhất của thường trú ở
đây chính là có thể tiếp
nhận ý kiến, hết lòng để
cải chánh. Đây là
tinh thần Bồ Tát, tinh
thần của người giác ngộ,
người chẳng giác ngộ
chẳng làm nổi, người
chân chánh giác ngộ mới
làm nổi. Chúng ta
vì phục vụ chúng sanh,
phục vụ hết thảy người
niệm Phật, nhất định
phải làm cho họ ở đây
niệm Phật rất thoải mái,
rất tự tại, rất hoan hỷ,
niệm được thọ dụng chân
chánh; thọ dụng này
chính là đạt được tâm
thanh tịnh, được Niệm
Phật Tam Muội, thành tựu
công đức chân thật.
Đạo tràng này tán thán,
lễ kính, cúng dường được
vô lượng phước, nếu bạn
hủy báng, tạo chướng
ngại, thì lỗi đó cũng
như đã nói trong kinh sẽ
đọa địa ngục A Tỳ chịu
tội cực nặng. Thế
nên chúng ta phải rõ
ràng, phải minh bạch cả
sự lẫn lý, không được
tùy tiện phê bình, đừng
mặc tình khinh thường,
làm tổn phước của mình.
Trong chú
giải, Thanh Liên pháp sư
nói rất hay, vừa mở đầu:
“Nóng
nảy, ương bướng thành
tánh, so đo, khinh bạc
sẵn thói”
,
đây là nói một tập khí
khinh thường, khinh
người khác, nói thật ra
vẫn có thói quen cống
cao ngã mạn, cứ cho rằng
mình đúng. Đối với
hết thảy các pháp trong
thế gian đều chẳng cầu
giải sâu, cứ dựa vào cái
nhìn thô thiển của mình,
“chẳng biết Phật đạo
thật sự rộng sâu, dùng
lời thiển cận, khinh bạc
của thế gian, muốn khởi
tâm đố kỵ”, đây là đố
kỵ, “hủy báng đạo căn”.
Hạng người này bị quả
báo như vậy. Sau
cùng ngài dẫn chứng vài
câu trong kinh Hưng Khởi
Hạnh ‘người báng pháp,
tội cực nặng, đọa ba
đường ác, khó thoát ra’,
chẳng có tội nào nặng
hơn tội này. Chư
vị suy nghĩ coi, nghĩ
ngược lại, trong
‘Phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện’ nói ‘Trong
hết thảy cúng dường,
pháp cúng dường là quý
nhất’, công đức lớn
nhất là pháp cúng dường,
tội báng pháp thì đương
nhiên sẽ cực nặng, đây
là đạo lý nhất định.
Đây là đạo tràng chánh
pháp, cúng dường chút ít
cũng được phước báo to
lớn, chúng ta phải biết
đạo lý, sự thật này.
Xin xem tiếp kinh văn:
Quá thị
kiếp dĩ, phương thọ ngạ
quỷ
Qua khỏi
kiếp này xong mới thọ
thân ngạ quỷ
Thọ hết tội
báo ở địa ngục xong,
thời gian thọ tội ở địa
ngục là dùng ‘kiếp’ để
tính. Phía trước
chúng ta đã coi qua [đọa
vào] địa ngục đều là vô
số kiếp, chẳng tính bằng
‘năm’. Kiếp dài
như vậy tội báo hết rồi
mới thọ thân ngạ quỷ,
quỷ cũng rất khổ.
Hựu kinh
thiên kiếp, phục thọ súc
sanh, hựu kinh thiên
kiếp phương đắc nhân
thân.
Rồi mãi đến
một ngàn kiếp sau mới
thọ thân súc sanh; lại
phải trải qua một ngàn
kiếp nữa mới được thân
người.
Trong cõi
ngạ quỷ, làm quỷ bao
lâu? Một ngàn
kiếp. Xong rồi đọa
súc sanh. Trong
cõi súc sanh trải qua
ngàn kiếp mới được thân
người. Chúng ta
phải suy nghĩ cặn kẽ về
việc này, khi phạm sai
lầm thọ quả báo, tương
lai được thân người trở
lại, bạn coi phải mất
bao lâu? Được thân
người chưa chắc gặp được
Phật pháp, cho dù gặp
được Phật pháp rồi tu
tập lại, bạn nghĩ coi
thành Phật
có cần phải tốn
ba A Tăng
Kỳ kiếp hay không?
Đạo lý là ở chỗ này.
Nếu đời nào cũng gặp
Phật pháp, đời nào cũng
tu hành thì thành Phật
rất nhanh. Vấn đề
là bạn rất khó không
phạm sai lầm, khi làm
sai thì bạn phải thọ quả
báo. Ở đây Phật,
Bồ Tát nói lời nào cũng
là lời chân thật, tuyệt
chẳng phải dọa người,
tuyệt đối chẳng lừa gạt
bạn. Phía trước
tôi đã nói với chư vị,
cho dù là mê tín thì họ
cũng được phước.
Tại sao? Vì pháp
là chánh pháp. Nếu
pháp là tà pháp, khi bạn
mê tín thì đương nhiên
chẳng có phước; tà pháp
tuy là có chánh tín cũng
chẳng được phước.
Cho nên bạn nhất định
phải hiểu bản chất của
pháp, thuần chánh chẳng
tà vạy có thể làm cho
hết thảy chúng sanh
thành vô thượng đạo.
Hết thảy
pháp còn như vậy, huống
chi là pháp môn Tịnh
Tông. Pháp môn
Tịnh Tông thù thắng nhất
trong hết thảy pháp, tại
sao lại thù thắng nhất?
Vì nó có thể làm cho hết
thảy chúng sanh bình
đẳng thành Phật, thật là
quá sức tưởng tượng!
Trong bất kỳ pháp môn
nào cũng không có cách
chi giúp cho hết thảy
chúng sanh bình đẳng
thành Phật, chỉ có Tịnh
Tông mới làm được.
Hủy báng Tịnh Tông,
chướng ngại Tịnh Tông,
tội lỗi không biết lớn
hơn [tội hủy báng] nói
trên gấp bao nhiêu lần?
Đây là đạo lý nhất định,
việc này chẳng khó hiểu.
Do đó hủy báng Tịnh
Tông, chướng ngại người
niệm Phật, chướng ngại
người cầu sanh Tịnh Độ,
so với tội này thì chẳng
biết phải thêm bao nhiêu
ngàn lần, vạn lần?
Chẳng phải một lần, hai
lần, mà là ngàn vạn lần.
Đây là nói họ từ lúc tạo
tội đến lúc được thân
người trở lại.
Túng thọ
nhân thân, bần cùng hạ
tiện, chư căn bất cụ, đa
bị ác nghiệp lai kết kỳ
tâm, bất cửu chi gian
phục đọa ác thú.
Dầu thọ
thân người, [lại] bần
cùng hạ tiện, các căn
không đầy đủ, thường hay
bị nghiệp ác kết buộc
vào tâm, chẳng bao lâu
lại phải đọa ác đạo.
Thế mới
biết đọa vào ác đạo,
muốn thoát ra khỏi ác
đạo quá khó, quá khó!
Không phải là không thể
thoát ra, nhưng thời
gian quá dài, mỗi lần
giảm tập khí ác đạo một
chút, nhất định phải
giảm đến mức độ nhất
định mới được thân
người, có cơ hội gặp
Phật pháp, thì họ mới
sanh tâm hoan hỷ.
Trong kinh nói về những
chuyện này, mỗi vị đồng
tu chúng ta đều từng
trải qua, chẳng biết đã
làm bao nhiêu lần.
Do đó trong kinh Vô
Lượng Thọ chúng ta thấy
nhóm người theo A Xà
Vương Tử, Phật nói
‘trong đời quá khứ đã
cúng dường bốn trăm ức
Phật’. Bạn phải
biết họ cúng dường bốn
trăm ức Phật, họ đã đọa
địa ngục hết bao nhiêu
lần? Nếu họ chẳng
từng làm qua những tội
báo này, những việc này,
cúng dường bốn trăm ức
Phật, nói với chư vị chỉ
cúng dường bốn vị Phật
thì họ chắc chắn thành
Phật rồi, [bởi vậy] mới
biết chúng ta khởi ác
niệm, tạo ác nghiệp quá
dễ dàng. Tại sao
lại làm những chuyện
này? Trong A Lại
Da thức chứa đựng hạt
giống nghiệp tập từ vô
lượng kiếp qua, bên
ngoài gặp một việc có
chút xíu gì không vừa ý,
một niệm ác bèn khởi
lên, họ sẽ làm chuyện
hủy báng này nữa.
Tạo những tội nặng này
thì có lý nào không đọa
địa ngục cho được?
Nếu muốn
không đọa địa ngục cũng
được! Hãy mau sám
hối, thừa dịp này bạn
vẫn còn một hơi thở chưa
dứt thì cũng còn kịp.
Sám hối chỉ có cầu A Di
Đà Phật, tu pháp sám hối
vãng sanh, lập tức sửa
sai đổi mới, lúc trước
hủy báng, bây giờ dốc
hết sức lực tán thán,
được vậy mới có thể quay
về. Lúc trước
chướng ngại người khác
tu học, hiện nay tìm mọi
cách khuyên người ta tu
học. Lúc trước
chướng ngại họ, hiện nay
tìm họ để cầu sám hối:
“Lúc trước tôi sai rồi”.
Hiện nay gấp rút hết
lòng nỗ lực tu học, như
vậy mới được, bạn mới có
thể cứu vãn. Nếu
chướng ngại người ta quá
lớn thì chuyện phiền
phức sẽ lớn. Do đó
đoạn kinh văn này chúng
ta muôn vàn không thể lơ
là, không để ý, phải
thường thường ghi nhớ
trong tâm, tuyệt đối
không thể gây ra nhân
duyên chướng đạo.
Xem tiếp kinh văn:
Thị cố Phổ
Quảng, cơ huỷ tha nhân
cúng dường, thượng hoạch
thử báo, hà huống biệt
sanh ác kiến hủy diệt.
Cho nên,
Phổ Quảng, khinh chê sự
cúng dường của người
khác còn mắc phải tội
báo như thế, huống chi
tự sanh ác kiến hủy
diệt.
Đây là nói
mức nhẹ, chỉ là chướng
ngại người khác tu cúng
dường còn bị quả báo
nặng như vậy. Nếu
thêm ác ý, tâm sân khuể,
tâm ác để hủy diệt Phật
pháp, tội đó còn nặng
nữa. Đoạn này nói
về quả báo của việc cơ
hủy Tam Bảo. Xem
tiếp đoạn sau, đoạn này
nói về việc sanh bịnh.
Bịnh kéo dài lây lất
hoài là một sự đau khổ,
chúng ta thấy rất nhiều
trong xã hội.
Phục thứ
Phổ Quảng, nhược vị lai
thế hữu nam tử nữ nhân,
cửu xứ sàng chẩm, cầu
sanh cầu tử liễu bất khả
đắc.
Lại nữa,
này Phổ Quảng, nếu trong
đời sau có người nam hay
người nữ nằm liệt mãi
trên giường gối, cầu
sống hay cầu chết đều
không được.
Đây là một việc.
Hoặc dạ mộng ác quỷ, nãi
cập gia thân.
Hoặc đêm
mộng thấy ác quỷ cho đến
kẻ thân thích trong nhà
Đây là việc
thứ nhì. Ban đêm
thường bị ác mộng, đây
chẳng phải là chuyện
tốt, cũng rất đau khổ.
Hoặc du
hiểm đạo, hoặc đa yểm
mị, cộng quỷ thần du
Hoặc đi
trên đường hiểm, hoặc
nhiều lần bị bóng đè,
hoặc cùng quỷ thần dạo
chơi
Đây là việc
thứ ba, những câu sau
đây là tổng kết.
Nhật nguyệt
tuế thâm, chuyển phục
uông sái, nhãn trung
khiếu khổ, thảm thê bất
lạc giả.
Trải qua
nhiều ngày nhiều tháng
nhiều năm, trở nên gầy
mòn, lao sái; trong giấc
ngủ kêu gào khổ sở, thê
thảm không vui.
Đây là
trạng huống bịnh lâu
ngày. Loại thứ
nhất ngày nay chúng ta
gọi là bịnh già, danh từ
ngày nay gọi là bịnh
mất trí nhớ vì tuổi già,
nếu nghiêm trọng thì
người ta gọi là người
thực vật. Kẻ ấy
còn thở thoi thóp, đích
thật là cầu sống không
được, cầu chết cũng
không xong, chúng tôi đã
gặp rất nhiều. Nằm
trên giường bảy, tám
năm, mười mấy năm, người
cả nhà phải chăm sóc.
Phần nhiều người bị bịnh
này đều tương đối giàu
có, đến tuổi già bị bịnh
này. Tiền thuốc
men phải tốn kém rất
nhiều, ngày đêm ba ca y
tá chăm sóc, [đây là]
bịnh phú quý. Tôi
đã từng gặp đồng tu,
người nhà của họ bị bịnh
này hết bảy, tám năm, đã
đến mức chẳng hay biết
gì cả, gia quyến con
cháu trong nhà đều chẳng
nhận ra. Hỏi người
ấy: “Cha biết con là ai
không?”. “Con là
ai?”, ông ấy đều chẳng
nhận ra. Người nhà
lại hỏi tôi: “Bịnh giống
như vậy cầu Phật, Bồ Tát
được không?”.
“Được, có lợi ích, nhưng
phải hỏi bạn chịu tin
hay không?” Tại
sao người ấy không chịu
ra đi? Ngạn ngữ
thường nói:
“Lộc hết
người mất”,
người ấy là người mất
nhưng lộc chưa hết.
Nói cách khác, phước báo
của kẻ ấy chưa hưởng
hết; hoặc là thọ mạng đã
đến nhưng phước báo chưa
hưởng hết. Vậy thì
phải làm sao? Chỉ
còn cách nằm trên giường
hưởng.
Nếu hiểu
được đạo lý này, một năm
người ấy phải tốn bao
nhiêu tiền thuốc men,
bạn đem số tiền ấy đi
làm phước, quyên tặng
tiền ấy để làm phước.
Nếu kẻ ấy còn thọ mạng
thì sẽ từ từ khôi phục
sức khoẻ, hết bịnh; nếu
thọ mạng đã đến thì sẽ
qua đời. Kẻ ấy qua
đời xong sẽ sanh đến cõi
lành, vì tích phước lớn.
Nếu bạn không tin, bạn
sợ người ta gạt tiền của
bạn, thì thôi bạn cứ
mướn y tá từ từ tiêu hết
số tiền ấy. Chúng
tôi nhìn thấy rất rõ
ràng, hiểu được đạo lý
này. Nếu bạn muốn
khoẻ mạnh sống lâu, muốn
giảm bớt bịnh tật, bạn
nên nghĩ coi bạn sanh
bịnh đại khái phải xài
hết bao nhiêu tiền, bạn
đem hết món tiền ấy đi
làm phước, đem tặng cho
những người bị bịnh khổ,
tặng làm tiền thuốc men
cho những người nghèo ấy
thì bạn sẽ chẳng sanh
bịnh. Tiền thuốc
men chữa trị cho bạn đã
chẳng còn nữa, đã tặng
cho người khác, người ta
sanh bịnh thay bạn nên
bạn sẽ chẳng sanh bịnh.
Có rất nhiều người đều
để dành một số tiền,
chuẩn bị đến già trị
bịnh nên họ làm sao
chẳng sanh bịnh cho
được? Họ đã dành
dụm sẵn một số tiền,
tiền thuốc men càng
nhiều, thời gian bị bịnh
càng dài, bịnh càng
nặng, chẳng phải là đạo
lý như vậy hay sao?
Cho nên tôi thường
khuyên người ta, mỗi năm
nên đem tiền thuốc men
đi làm phước.
Lúc trước
trong các buổi giảng tôi
khuyên người tu phước
nên làm ba việc: in
kinh, nhất định sẽ là
chuyện tốt, chẳng có tác
dụng phụ, chẳng bị tệ
hại; thứ hai là giúp kẻ
bị bịnh khổ; thứ ba là
phóng sanh, đây là việc
tôi cực lực đề xướng.
Ăn chay, phóng sanh, tôi
cũng tu sám hối, lúc trẻ
tuổi ham thích săn bắn,
sát sanh quá nặng,
nghiệp sát sanh quá
nặng, sau khi học Phật
mới biết rõ, đặc biệt là
đọc kinh Địa Tạng, biết
quả báo của nghiệp sát
sanh quá nặng, cho nên
đọc kinh này xong liền
chẳng dám ăn thịt nữa.
Không những chọn ăn chay
mà còn dốc hết sức, hết
lòng để phóng sanh, tu
pháp sám hối. Ba
việc này tuyệt đối là
việc tốt, nhất định sẽ
chẳng có ảnh hưởng xấu
ác. Nếu nói chúng
ta xây một ngôi chùa
không nhất định là việc
tốt; nếu chùa xây xong,
những người trụ trong
ấy, tại gia, xuất gia,
tứ chúng đệ tử đều tu
hành đúng như pháp, chân
chánh là một đạo tràng
tốt, thì công đức ấy vô
lượng. Nếu đạo
tràng xây xong, tứ chúng
đệ tử mỗi ngày đều đánh
lộn, tranh danh đoạt
lợi, bạn xây đạo tràng
như vậy là tạo tội
nghiệp. Bạn dẫn
những người ấy đọa địa
ngục, đâu có lý nào bạn
chẳng đọa địa ngục cho
được? Nên chuyện
đó chưa chắc là phước,
cả đời tôi chẳng dám đề
xướng. Nếu gặp đạo
tràng chánh pháp, phước
đức cúng dường sẽ vô
lượng vô biên.
Trong đời tôi rất ít gặp
đạo tràng chánh pháp.
Lúc trước
tôi chỉ thấy núi Đại Dự,
chùa Bảo Liên trên núi
Đại Dự, ở Hương Cảng,
đạo tràng của Thánh Nhất
pháp sư. Năm 1977
thầy mời tôi đến thăm,
thiền đường mỗi ngày tọa
hương
theo quy củ, lúc đó có bốn
mươi mấy người, vẫn có
thể duy trì đạo phong
ấy, rất khó được!
Cả đời tôi gặp được một
chỗ, làm thật sự, làm
mỗi ngày. Ngày nay
chúng ta ở đây, Cư Sĩ
Lâm là một đạo tràng
chánh pháp, thật chẳng
nghĩ tới. Tôi ở
Đài Loan nhiều năm, xây
dựng Thư Viện, tôi chẳng
dám nói Thư Viện là đạo
tràng chánh pháp, chẳng
dám nói. Thư Viện
làm sự nghiệp hoằng pháp
lợi sanh, đích thật
chúng tôi tận tâm tận
lực đi làm. Nhưng
nói đến tu đạo, chúng
tôi chẳng làm chân
chánh, trong ấy có nhiều
chướng duyên, chúng tôi
thật sự muốn làm, lúc
làm thì có chướng ngại,
duyên chẳng thành thục.
Còn chúng sanh tại địa
phương này, thời tiết
nhân duyên thành thục,
chân chánh được chư Phật
hộ niệm, Bồ Tát lãnh
đạo, nên mới có thể
thành tựu đạo tràng
chánh pháp, thật chẳng
dễ! Trong kinh nói
‘Trăm ngàn vạn kiếp khó
gặp gỡ’,
thời đại này có được một
đạo tràng như vậy, thật
sự là vô cùng hiếm hoi,
hy hữu! Ngày nay
chúng ta trồng phước,
đương nhiên đây là ruộng
phước thật sự. Do
đó hết thảy đại chúng
cúng dường cho tôi, tôi
đem hết số ấy gởi qua
bên đó, phước điền thù
thắng hiếm có, bạn cúng
dường tôi, tôi thay thế
bạn trồng phước điền.
Bạn cúng dường tôi chẳng
có phước, bạn cúng dường
đạo tràng này thì phước
báo chẳng cùng tận, một
đồng, một cắc đều có
công đức chân thật,
phước báo vô biên.
Đạo tràng
phải coi trong ấy có Đạo
hay không, thật sự có
đạo phong, học phong
(phong cách tu học) thì
đó là đạo tràng chân
chánh, chúng ta phải dốc
toàn tâm toàn lực để hộ
trì, cúng dường, đời sau
chúng ta được đại phước
báo, phước điền này
chẳng trồng sai chỗ.
Nếu đạo tràng ấy là nơi
đấu tranh, chúng ta ra
tiền, ra sức ở đó là tạo
tội, chẳng phải trồng
phước. Hồi xưa tôi
ở Đài Loan giảng kinh
tại một đạo tràng, ở đó
giảng chẳng bao lâu, đại
khái là hơn một tháng,
người xuất gia trong ấy
mỗi ngày đều cãi lộn.
Vì sao cãi lộn?
Tranh chức Chấp Sự.
Đạo tràng ấy mới xây
chẳng bao lâu, cỡ một
hai năm, vị lão sư phụ
cho đệ tử đi khắp nơi ở
Đài Loan để quyên góp về
xây đạo tràng. Sau
khi xây xong, đương
nhiên chẳng có ai giành
địa vị của lão sư phụ,
đệ tử của ngài chẳng dám
tranh. Họ lại
tranh chức Đương Gia,
Tri Khách, Giám Viện; họ
nói tôi quyên được bao
nhiêu tiền, tôi đáng làm
chức đó, kẻ kia nói họ
quyên được bao nhiêu
tiền, đáng phải làm chức
gì, mỗi ngày đều tranh
cãi chẳng dứt, chẳng
yên. Họ còn mời
tôi đi giảng kinh, tôi
về Đài Trung liền kể
chuyện này cho thầy Lý,
thầy Lý nói: “Thôi đi!
Về đi, đừng đi nữa”.
Tôi nói: “Kinh đó giảng
mới nửa chừng thì sao?”.
“Không sao!”, tôi bèn
nghe lời thầy, kinh chưa
giảng xong, đại khái
giảng chừng một phần ba
rồi ngưng. Thầy
nói chẳng nên tới những
chỗ thị phi như vậy.
Những kẻ ra tiền, ra sức
[xây dựng đạo tràng đó]
chẳng trồng được phước
điền, thật sự gọi là tạo
nghiệp. Có lúc
thầy Lý giảng kinh cũng
nhắc chúng tôi, thầy nói
mọi người đồng tâm đồng
sức cùng nhau đi khắp
nơi quyên tiền xây đạo
tràng thì lúc đó là ‘Bồ
Tát’, khuyên người ta tu
phước, đạo tràng xây
xong thì biến thành ‘La
Sát’, tranh quyền đoạt
lợi.
Chúng tôi
đã gặp hiện tượng này
quá nhiều, cho nên nghĩ
đến Ấn Quang đại sư cả
đời chẳng xây đạo tràng,
cả đời chẳng nhận đệ tử
xuất gia, chẳng truyền
giới, tôi nghĩ rất có
đạo lý. Lúc đó tôi
chưa xuất gia, đọc Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao,
được sự giáo huấn của
thầy Lý nên tôi rất muốn
học theo Ấn Quang pháp
sư. Cả đời tôi
chẳng xây đạo tràng,
nghĩ mình chẳng có
phước, chẳng muốn tạo
nghiệp, chẳng muốn thọ
quả báo này, rất đáng
sợ! Cả đời chẳng
thâu nhận đệ tử xuất
gia, quý vị hiện nay
xuất gia chẳng phải theo
tôi, mà theo Quán Trưởng
xuất gia, Quán Trưởng
thâu nhận, tôi chẳng
thâu. Hàn Quán
Trưởng thật là Y Chỉ Hòa
Thượng của quý vị, cụ
dùng danh nghĩa của tôi
để xây đạo tràng, sau
khi cụ vãng sanh, đương
nhiên tôi không thể
không chăm sóc sự tu học
của quý vị, trên đạo
nghĩa nhất định phải lo
lắng, nhất định phải
hiểu. Tôi chỉ
truyền thọ Tam Quy, Ngũ
Giới, những thứ khác tôi
chẳng dám truyền thọ, sợ
làm chẳng đúng như pháp
thì phải thọ quả báo.
Những Lý, Sự này chúng
ta đều phải rõ ràng,
minh bạch, nhất định
phải hết lòng nỗ lực tu
học, đời này quyết định
cầu sanh Tịnh Độ.
Chúng ta sẽ
gặp những quả báo này.
Bịnh người già si khờ,
bạn có thể bảo đảm bạn
sẽ chẳng bị không?
Người xuất gia, lão hòa
thượng lúc già bị bịnh
si khờ, chúng ta cũng
thấy. Lần này tôi
đến Hương Cảng, tôi hỏi
lúc trước có một vị lão
đồng tham là pháp sư
Năng Từ, mỗi lần tôi đến
Hương Cảng, thầy đều
tiếp đãi tôi. Lần
này đi tôi hỏi pháp sư
Trí Huệ (Trụ Trì chùa
Bảo Liên), vì lúc trước
pháp sư Năng Từ có trú
tại liêu phòng chùa Bảo
Liên. Tôi nói:
“Lão pháp sư này còn ở
đó không?”, nếu còn thì
đã tám, chín chục tuổi
rồi. Thầy ấy nói:
“Vẫn còn, bây giờ thầy
ấy bị chứng người già si
khờ”. Thân thể
cứng đờ, chẳng biết ăn
cơm, phải có người
đút, hiện nay trú tại
một viện dưỡng lão, thật
đáng thương! Thầy
ấy trung niên xuất gia,
bốn mươi mấy tuổi mới
xuất gia. Hồi
trước theo Đàm Hư pháp
sư, lúc Đàm Hư pháp sư
giảng kinh ở Hương Cảng,
rất nhiều bài vở đều do
thầy ấy ghi chép lại.
Thông đạt kinh giáo, đến
già cũng thật thà niệm
Phật, tại sao lại bị
bịnh này? Vọng
tưởng quá nhiều.
Thầy ấy là người tỉnh An
Huy, kể ra là đồng hương
với tôi, nên mỗi lần tôi
đến đó thầy đều kiếm
tôi. Tìm tôi làm
gì? Để nói chuyện,
nói những chuyện đời
xưa, nói hoài chẳng hết.
Tâm chẳng thanh tịnh,
tôi khuyên thầy, thầy
đều biết chẳng cần tôi
khuyên, vừa nhắc là thầy
biết liền, thầy làm sao
không biết được?
Chẳng buông xuống nổi,
tập khí quá nặng, quá
sâu. Những vị lão
pháp sư bị bịnh này thật
chẳng ít, tôi đã gặp
qua, cũng rất hạp với
tôi, nhưng lời nói dư
thừa quá nhiều, bạn coi
đâu có cách chi nữa?
Thích nói, tại sao không
đi giảng kinh?
Không phải thầy ấy không
thể giảng, có thể giảng
có thể viết, nhưng chẳng
chịu giảng, chẳng phát
tâm giảng, nghiệp chướng
chẳng tiêu nổi.
Nghiệp
chướng của tôi cũng rất
sâu nặng, nhưng nhờ
giảng kinh nên được tiêu
mất. Lúc tôi chẳng
giảng kinh thì tôi rất
ít nói, tôi chẳng biết
nói chuyện, đặc biệt là
những lời khách sáo, thù
tạc tôi hoàn toàn chẳng
biết. Đây chắc vì
tôi từng trải đơn thuần,
họ từng trải trong xã
hội khá phong phú, tiếp
xúc người, sự việc quá
nhiều, còn tôi thì rất
đơn thuần. Sau khi
tốt nghiệp, công việc
tôi làm là công việc văn
phòng, mỗi ngày đều phải
viết lách. Ngoài
công việc ra tôi thích
đọc sách, tôi cũng chẳng
đi chơi, những chỗ vui
chơi hầu như tôi chẳng
bao giờ đi đến, do đó
những chỗ tôi đến cũng
rất đơn thuần, tôi
thường đến một thư viện,
một tiệm sách, ngoài ra
rất ít đi những chỗ
khác. Một số người
tôi tiếp xúc đều là
những giáo sư già có học
vấn, có đức hạnh, tôi
thích thân cận họ, đời
sống của tôi rất đơn
thuần. Sau khi
xuất gia, có thể nói vừa
xuất gia liền giảng
kinh, dạy trong Phật học
viện. Tôi xuất gia
chưa được mấy ngày, Bá
Thánh pháp sư liền mời
tôi đi dạy ở Phật học
viện. Lúc đi dạy
phải chuẩn bị tài liệu
giảng dạy, giống như các
bạn bây giờ, đâu có thời
giờ để suy nghĩ lung
tung. Giảng kinh
dạy học cả đời nên rất
đơn thuần, những chuyện
thù tạc chẳng có nhiều
như kẻ khác nên vọng
tưởng ít, vọng niệm ít,
nói chuyện tầm phào cũng
ít, như vậy mới chuyển
được nghiệp chướng của
mình.
‘Hoặc đêm
mộng thấy ác quỷ cho đến
kẻ thân thích trong nhà,
hoặc đi trên đường hiểm,
hoặc nhiều lần bị bóng
đè, hoặc cùng quỷ thần
dạo chơi’,
[việc nói trong] đoạn
này tôi cũng từng trải
qua, lúc trước thường
có. Đặc biệt là
gặp yểm quỷ, bị bóng đè
tức là gặp yểm quỷ, yểm
quỷ cũng là một trong
bát bộ quỷ thần, chúng
ta thấy trong kinh.
Khi bị bóng đè trong tâm
rất rõ ràng, toàn thân
chẳng thể nhúc nhích,
lúc trước thường bị.
Đặc biệt là nhà mình ở,
phần đông người ta gọi
là chẳng ‘sạch sẽ’,
trong nhà có quỷ.
Gặp những chuyện này,
hơn phân nữa là vì vận
của mình kém một chút,
người gặp vận may thì
những quỷ thần này chẳng
dám phá kẻ ấy, quỷ thần
lánh xa; khi vận bạn sa
sút thì quỷ thần sẽ hiếp
đáp bạn. Khi bị
bóng đè liền biết, biết
vận mình chẳng tốt, bị
họ hiếp đáp. Sau
khi học Phật thì những
chuyện này từ từ giảm
bớt, đại khái mười năm
đầu học Phật vẫn còn,
sau mười năm đầu thì
chẳng còn nữa. Cho
nên tu học đích thật có
hiệu quả, muốn biết bạn
có tiến bộ không, công
phu đắc lực không, hãy
so sánh với lúc bạn chưa
học Phật, hoặc lúc vừa
mới học Phật liền biết
được. Lúc trước có
nhiều ác mộng, lúc nằm
mộng thì rất tán loạn,
sau này tuy có nằm mộng
nhưng mộng rất tỉnh táo,
trong mộng cũng giống
như sinh hoạt thường
ngày, vậy là có tiến bộ
rất nhiều. Nếu
thường mộng thấy Phật,
Bồ Tát, chúng tôi giảng
kinh thuyết pháp thường
mộng thấy giảng kinh
thuyết pháp, đây là
chuyện tốt, có thể nhìn
thấy tự mình tu học công
phu được đắc lực.
Phần cuối
là nói về bịnh
khổ. Đoạn này
trong chú giải Thanh
Liên pháp sư cũng nói
rất cặn kẽ, ngài nói
trong Phật Thuyết Y Kinh
có nói bốn bịnh của con
người là ‘địa, thủy,
hỏa, phong’, chúng ta
thường nói là tứ đại
chẳng điều hòa.
Nói đến chỗ này, con
người ăn ngũ cốc, đủ
loại lương thực, làm sao
không sanh bịnh cho
được? Phía trước
tôi đã báo cáo với các
vị đồng tu, nguồn gốc
thứ nhất của bịnh tật là
ăn uống. Ăn uống
là sanh hoạt vật chất
của chúng ta, sơ ý,
không để ý bị
nhiễm những
tật bịnh này, đây là
loại thứ nhất. Thứ
nhì là oan gia trái chủ,
như trong kinh này nói
mộng thấy ác quỷ, người
nhà thân quyến; thân
quyến là những người đã
mất. Hoặc mộng
thấy chỗ nguy hiểm, mộng
thấy bị bóng đè, những
thứ này đều liên quan
đến oán thân chủ nợ.
Phàm có hiện tượng này,
chúng ta phải hết lòng
nỗ lực, đoạn dứt ác tu
thiện, sửa sai đổi mới,
thật thà niệm Phật, tại
sao? Gặp những
chuyện này là vận khí
của chúng ta suy thoái,
không hưng vượng, nếu
bạn có vận may, khí
vượng, thì những ác quỷ,
ác thần này cũng tránh
xa. Dù lúc trước
có chuyện xích mích, lúc
đó họ cũng chẳng dám đến
gây phiền phức cho bạn,
họ sẽ lánh xa, đợi đến
lúc vận của bạn suy
thoái thì họ sẽ đến.
Cho nên khi gặp những
chuyện này phải biết lúc
đó khí vận của mình rất
suy thoái, nhất định
phải nỗ lực tu học cho
đàng hoàng.
Thứ ba là
bịnh nghiệp chướng, phía
trước có nói: “Nằm liệt
mãi trên giường gối, cầu
sống, cầu chết cũng
chẳng thể được”, đây là
bịnh nghiệp chướng.
Chẳng có cách gì hết,
thuốc men bác sĩ cũng
chẳng giúp gì được, siêu
độ, tiêu tai miễn nạn
cũng chẳng được, tiêu
chẳng nổi. Nhờ sức
lực của người khác tiêu
không nổi, nhờ tự mình
sám hối, sức mạnh của sự
sám hối này rất lớn, rất
lớn! Chúng sanh
tạo ác nghiệp, đây là
nguồn gốc thật sự của
bịnh tật. Phật, Bồ
Tát, A La Hán chẳng tạo
ác nghiệp, đây là lý do
các ngài chẳng sanh
bịnh, đạo lý là như vậy.
Lúc Phật, Bồ Tát sanh
bịnh chỉ là thị hiện, đó
là hoằng pháp, giống như
cư sĩ Duy Ma thị hiện bị
bịnh, đó chỉ vì hoằng
pháp lợi sanh, thật sự
ngài chẳng bị bịnh.
Ngài chẳng thể sanh
bịnh, ngài chẳng có lý
do gì để sanh bịnh.
Hết thảy chúng sanh khởi
tâm động niệm, những ý
niệm nhỏ bé thì tự mình
chẳng biết, sau khi
chúng ta học Phật, đọc
kinh mới biết chuyện
này. Một niệm càng
nhỏ, càng yếu ớt, nếu
một niệm ấy chẳng thiện
thì sẽ ảnh hưởng đến
sanh hoạt vật lý trong
thân thể, nếu là một
niệm cực ác sẽ thay đổi
thể chất. Hiện nay
nhà khoa học, các bác sĩ
hiện đại cũng dần dần
hiểu được đạo lý này,
cho nên người có tâm lý
khỏe mạnh, tâm tình ổn
định, tâm tình vui đẹp,
dù bị bịnh rất nặng thân
thể người ấy cũng rất dễ
khôi phục. Một số
người cho rằng đây là kỳ
tích, thật ra đó đâu
phải là kỳ tích, là có
đạo lý đấy.
Mọi người
đều biết cư sĩ Lý Mộc
Nguyên, đây là một thí
dụ rất đúng [với đạo lý
này]. Mười năm
trước ông bị ung thư,
hiện nay những hồ sơ
bịnh lý vẫn còn.
Hình như ông chụp hết ba
mươi mấy tấm quang tuyến
X, ông có cho tôi xem
qua. Chỗ nào trong
ngũ tạng lục phủ cũng có
tế bào ung thư, bác sĩ
nói thọ mạng ông chỉ còn
có ba tháng, tối đa là
sáu tháng, thật chẳng
còn cách gì chữa khỏi.
Ông có thể buông xuống
vạn duyên, dặn dò hậu sự
xong xuôi, nhất tâm niệm
Phật, chẳng đi khám bác
sĩ, cũng chẳng uống
thuốc, chỉ đợi vãng
sanh. Tâm lý của
ông khỏe mạnh, tâm tình
ổn định, dùng sức mạnh
này để tiêu diệt tế bào
ung thư, dùng sức mạnh
này khôi phục thân thể
bình thường. Bác
sĩ nói đây là một kỳ
tích, chúng tôi chẳng
coi là kỳ tích, rất bình
thường, một niệm có thể
thay đổi sanh hoạt vật
lý của một người.
Nói thật ra, người bị
bịnh ung thư không đến
nỗi chết, vì sao họ
chết? Vì sợ quá
mới chết. Tôi nói
như vậy cũng rất có đạo
lý, bạn biết đây chẳng
phải là lời nói dối, họ
đều sợ đến chết, bạn nói
như vậy oan uổng hay
không? Thế nên tật
bịnh chẳng thể làm chết
người, người chết đều là
do sợ quá nên mới chết.
Tự mình cảm thấy rất sợ
hãi, mỗi ngày đều sợ
sệt, mỗi ngày đều sợ
chết, mỗi ngày cứ nghĩ
tới cái chết thì làm sao
không chết cho được?
Đương nhiên họ sẽ chết.
Chúng ta
nhất định phải hiểu đạo
lý, biết làm thế nào có
thể khắc phục bịnh khổ,
bịnh chắc chắn là nghiệp
chướng, khi nghiệp
chướng khởi lên thì phải
biết làm cách nào tiêu
trừ nghiệp chướng.
Phương pháp tốt nhất để
tiêu trừ nghiệp chướng
là đoạn ác, tu thiện,
tích lũy công đức, nhất
tâm hướng về Phật.
Phật là chí thiện, hết
thảy thiện pháp thế gian
và xuất thế gian chẳng
có gì thiện hơn Phật,
niệm Phật là việc thiện
lành hạng nhất.
Niệm Phật đích thật có
thể giải quyết hết thảy
vấn đề, tại sao không
niệm? Nếu nói niệm
Phật là mê tín, phía
trước nói bạn tạo nghiệp
rất nặng. Mê tín
niệm Phật cũng sẽ được
phước, huống chi bạn có
thể chánh tín, hiểu rõ,
biết rõ lợi ích của sự
niệm Phật, ngay bây giờ
bạn sẽ được. Mê
tín, thật sự đã chấp mê
rồi, kẻ ấy hiện tại cũng
được phước. Vì họ
có thể y giáo phụng
hành, họ cũng có thể
đoạn ác tu thiện, họ
chẳng hiểu đạo lý này,
nhưng họ chịu làm, chịu
làm thì sẽ được phước.
Chúng ta phải hiểu đạo
lý này. Phía sau
giải thích:
Thử giai
thị nghiệp đạo luận đối
vị định khinh trọng,
hoặc nan xả thọ, hoặc
bất đắc dũ. Nam nữ
tục nhãn bất biện thị
sự.
Ðây đều là
do nơi nghiệp đạo còn
đang luận đối, chưa
quyết định là khinh hay
trọng, nên hoặc là khó
chết, hoặc là khó lành.
Mắt phàm tục của kẻ nam,
người nữ không thể biện
rõ việc đó.
Ở đây đức
Phật nói với chúng ta,
đây là nói rõ loại bịnh
nghiệp chướng thứ nhất.
Nằm liệt trên giường
gối, cầu sống chẳng được
cầu chết cũng không
xong, là do nguyên nhân
gì? Có tới mấy
loại nguyên nhân.
Một loại là oán gia chủ
nợ của họ lúc đó thưa
kiện với Diêm La Vương,
họ đến đó biện luận, sự
việc này còn chưa định
án, nên bịnh này của họ
chẳng thấy khoẻ hơn, đây
là một loại, đích thật
có. Loại thứ nhì
‘hoặc khó chết’, tức là
việc tôi vừa nói kẻ ấy
còn phước báo, chưa
hưởng hết, phước báo của
họ chẳng chịu xả, nếu họ
chịu xả thì vấn đề sẽ
được giải quyết nhưng họ
chẳng chịu xả. Vẫn còn
muốn hưởng phước tiếp
nên chỉ còn cách nằm
trên giường bịnh mà
hưởng, họ chẳng chịu xả,
chẳng buông xuống nổi,
đây là một loại.
Loại thứ ba là ‘hoặc là
khó lành’, trong loại
này nhất định có một số
nguyên nhân sai khác,
bịnh của họ chẳng lành
nhưng cũng chẳng chết
được. Người thế
gian chúng ta thấy hiện
tượng này nhưng không
hiểu rõ nguyên nhân thật
sự là gì, đây cũng là
nghiệp báo và oán gia
trái chủ đòi nợ, trả nợ,
chiêu cảm những duyên
nghiệp này nên mới có
những chuyện như trên
phát sanh. Người
thế gian chẳng có thiên
nhãn, chẳng có túc mạng
thông, chẳng biết chân
tướng sự thật, nhưng có
một nguyên tắc: Chỉ cần
bạn tu phước là được.
Tuy hết thảy những
nguyên nhân gây bịnh này
chẳng giống nhau, bạn tu
phước chắc chắn sẽ có
lợi ích. Phía sau
là lời dạy chúng ta:
Đản đương
đối chư Phật, Bồ Tát
tượng tiền cao thanh
chuyển độc thử kinh nhất
biến.
Chỉ nên đối
trước tượng của chư
Phật, Bồ Tát lớn tiếng
đọc tụng kinh này một
biến.
Đây là dạy
cho chúng ta phương
pháp, trong Khoa Chú gọi
là ‘Tu phước thoát tội’.
Đọc kinh có hiệu quả
không? Chúng tôi
đã gặp việc này, người
nhà quyến thuộc của ông
nọ lớn tiếng đọc kinh
này trước [hình tượng]
Phật, Bồ Tát coi có hiệu
quả gì không? Kết
quả là chẳng hiệu quả.
Đừng nói đọc một lần,
đọc mười lần, đọc một
trăm lần, đọc một ngàn
lần đều chẳng có hiệu
quả. Mấu chốt quan
trọng ở chỗ nào?
Mấu chốt ở phương pháp
đọc kinh, dùng tâm chân
thành cung kính mà đọc,
khi đọc kinh mà vẫn còn
khởi vọng tưởng thì
không được, chẳng có
hiệu quả. Lần
trước tôi kể cho quý vị
chuyện của Thích Kế
Quang không phải là rất
rõ rồi sao. [Ông
Quang] đọc kinh Kim
Cang, kinh này rất ngắn,
chỉ có năm ngàn mấy chữ,
trong lúc đọc kinh có
một chút xen tạp bèn
chẳng có hiệu quả.
Kinh dài như vậy, đọc
một bộ nhưng có khởi lên
một vọng niệm thì chẳng
có hiệu quả nữa.
Cho nên mở kinh ra đọc
từ câu ‘Như thị ngã văn’
cho đến ‘tín thọ phụng
hành’ đọc một lượt chẳng
có một vọng tưởng nào cả
thì mới có hiệu quả.
Người thế gian vẽ bùa, ở
Trung Quốc rất thịnh
hành, bùa vẽ xong rất
linh. Niệm chú,
chú cũng rất linh.
Linh ở chỗ nào?
Linh ở chỗ ‘Thành’.
Tâm chân thành vẽ bùa
ấy, người vẽ bùa biết,
khi đặt bút vẽ một lá
bùa thì chẳng sanh một
niệm nào cả, tuyệt chẳng
sanh một niệm thì lá bùa
ấy sẽ linh. Lúc
thường phải luyện tập,
[tập] vẽ thật rành, đến
lúc vẽ thật sự thì chẳng
thể khởi lên một niệm,
nếu khởi một niệm lên
thì bùa ấy sẽ chẳng
linh. Niệm chú
cũng vậy, lúc niệm Chú
Đại Bi có thể trị hết
thảy bịnh, tại sao?
Lúc niệm chú thì một
niệm chẳng sanh.
Đọc kinh cũng vậy, bộ
kinh này đọc lên thì
chẳng khởi lên một vọng
niệm nào hết, đọc kinh
như vậy sẽ linh, có ích
lợi. Vừa đọc kinh,
vừa khởi vọng tưởng thì
làm sao được? Vậy
thì chẳng linh, mấu chốt
quan trọng ở chỗ này.
Nếu bạn hỏi
tại sao người ta đọc bộ
kinh này cho người ấy
thì người ấy được lợi
ích? Bạn suy nghĩ
về trường hợp của cô Bà
La Môn, cô Quang Mục đã
được nói trong phần
trước thì bạn sẽ hiểu.
Người ấy được một phần
bảy lợi ích, còn người
đọc kinh sẽ được sáu
phần bảy. Nếu
chẳng vì người sanh bịnh
thì kẻ ấy sẽ chẳng đọc
kinh, sẽ chẳng chuyên
tâm mà đọc, đạo lý là
như vậy. Do vì
nhân duyên người ấy sanh
bịnh nên thành tựu cho
công đức đọc kinh của
bạn, họ được một phần,
bạn đọc hai bộ thì họ
được hai phần. Cho
nên gặp con cái có hiếu
thuận, gia thân quyến
thuộc có hiếu, thì có
thể tu hành theo phương
pháp này, đạt được công
đức lợi ích chẳng thể
nghĩ bàn, đây là công
đức lợi ích thù thắng
nhất, đoạn kinh tiếp
theo nói đến những công
đức thua kém hơn.
Một người trong một đời
này có thể có mấy lúc
chuyên tâm để đọc kinh,
hy hữu khó gặp, đọc kinh
như vậy là tự tánh quang
minh hiển lộ. Thí
dụ chúng ta trong vô
minh đen tối, thời gian
quá dài quá lâu rồi,
niệm bộ kinh này giống
như xẹt điện phóng ra
một lần ánh sáng, trong
vòng trăm ngàn năm hiếm
có được một lần phóng
ánh sáng, lần này được
xẹt một luồng ánh sáng.
Ánh quang minh lần này
thật hiếm có, có một lần
này thì sẽ có lần thứ
nhì, có lần nhì thì sẽ
có lần thứ ba.
Giống như
Niệm Phật Đường hiện nay
của chúng ta, mọi
người đến đây niệm Phật
một ngày, hoặc niệm một
giờ, hai giờ, bạn sẽ cảm
thấy khí phận ở Niệm
Phật Đường rất đặc biệt,
ở đó bạn dễ nhiếp tâm
hơn. Cả đời bạn
hiếm khi gặp được một,
hai lần, bạn đích thân
cảm nhận, tự mình thể
nghiệm. Lúc thường
chúng tôi giảng cho bạn
nghe rất khó, bạn chẳng
dễ thấu hiểu được.
Bạn đích thân đến đây
niệm vài ngày thì sẽ
hiểu, sẽ cảm nhận được,
đây là lợi ích chân
thật. Bạn cảm nhận
được thì bạn sẽ muốn
thường đến niệm Phật, sẽ
khơi dậy tâm niệm Phật
của bạn, khởi lên hứng
thú niệm Phật của bạn.
Do đó công đức của Niệm
Phật Đường sẽ rất lớn,
đạo lý là như vậy, nói
toạc ra thì cũng chỉ có
một đạo lý mà thôi.
Niệm Phật nhất định cũng
phải dùng tâm chân thành
mà niệm, chúng tôi
thường nói:
“Không hoài nghi, không
xen tạp, không gián
đoạn”,
nhất định niệm đến khi
tâm thanh tịnh của bạn
khơi dậy, tâm thanh tịnh
là chân tâm, vọng niệm
mất hết, chân tâm hiện
tiền, công đức ở chỗ
này. Trong kinh
đức Phật nói:
“Giữ tâm
một chỗ, chẳng có chuyện
gì không làm được”.
Đây là khi bạn niệm bộ
kinh này, niệm cả bộ
kinh thì cũng phải một
tiếng rưỡi đến hai tiếng
đồng hồ, trong thời gian
này bạn giữ tâm một chỗ
nên có thể sanh lên hiệu
quả lớn như vậy, đây là
công đức hạng nhất.
Đây là chính, phía dưới
là phụ, là trợ duyên.
Hoặc thủ
bịnh nhân khả ái chi
vật, hoặc y phục bảo
bối, trang viên xá
trạch.
Hoặc lấy
những vật ưa thích của
người bịnh, hoặc y phục,
đồ quý báu, vườn tược
nhà cửa.
Đây là
những vật của người
bịnh, chẳng kể là nhiều
hay ít, nhất định phải
dùng để tu phước.
Đối bịnh
nhân tiền, cao thanh
xướng ngôn
Đối trước
người bịnh mà lớn tiếng
xướng lên.
Tu phước dùm phải cho
người ấy biết. Đặc
biệt là lúc người đang
lúc lâm chung, nếu đầu
óc họ còn tỉnh táo thì
phải nhắc họ trong đời
họ đã làm được bao nhiêu
chuyện tốt. Lúc đó
làm cho họ sanh tâm hoan
hỷ, nhắc cho họ nhớ họ
đã tu nhiều phước, sau
khi mất đi họ sẽ sanh
đến cõi tốt lành.
Lời nhắc nhở này, phần
nhiều gọi là khai thị,
vô cùng quan trọng!
Đừng nhắc đến những tội
lỗi họ đã làm trong đời,
nhắc những chuyện lỗi
lầm trong giờ phút ấy
thì họ sẽ sanh vào ác
đạo, phải nhắc họ đã làm
những chuyện tốt gì,
những công đức gì.
Cho nên lúc này nếu họ
chưa tu phước, người
thân trong nhà nên thay
họ tu phước, phải nói
cho họ biết.
Ngã mỗ giáp
đẳng vị thị bịnh nhân
đối kinh tượng tiền, xả
chư đẳng vật, hoặc cúng
dường kinh tượng, hoặc
tạo Phật, Bồ Tát hình
tượng, hoặc tạo tháp tự,
hoặc nhiên du đăng, hoặc
thí thường trụ.
Chúng con, tên đó họ đó,
xin vì người bịnh này mà
đối trước kinh, tượng,
thí xả những vật này để
cúng dường kinh tượng,
hoặc tạo hình tượng
Phật, Bồ Tát, hoặc xây
dựng chùa tháp, hoặc
cúng dầu thắp đèn, hoặc
cúng vào Thường Trụ.
Coi tài vật của họ bao
nhiêu, coi nhân duyên
lúc đó, những chuyện này
đều có thể làm, đều tu
phước trong Tam Bảo, đây
chẳng phải mê tín.
Tu phước đức này, đây là
việc người thế gian
chẳng biết, người thế
gian cứ cho rằng lấy
tiền đi làm việc từ
thiện cứu tế, giúp những
người nghèo khổ, công
đức đó lớn, chẳng biết
tu phước trong Tam Bảo
rất thù thắng. Nói
thật ra, ngày nay chúng
ta, [thường nghe nói]
“Người xuất gia, các hòa
thượng quý vị đều gạt
người”, họ chẳng tin
tưởng, cho nên việc này
rất khó, rất khó.
Nói lời thật họ chẳng
tin, nói lời giả dối thì
họ tin. Đây là lúc
khẩn cấp, cả đời này
chẳng có lúc nào quan
trọng bằng lúc này, lúc
này nếu đem tiền tài của
họ đi làm việc cứu tế,
làm những việc từ thiện
thì được phước ít, đó là
thật chẳng giả, phước
báo nhỏ nhoi, chẳng thể
chuyển nghiệp của họ.
Tu phước trong Tam Bảo,
hiến một đóa hoa, đốt
một ngọn đèn, thật sự
tiêu nghiệp chướng, thật
sự được vô lượng phước.
Tại sao hiện nay tu phước
trong Tam Bảo chẳng rõ
ràng? Chẳng có cảm
ứng rõ ràng như được ghi
chép lại hồi xưa.
Chẳng phải là không có
đạo lý, đạo tràng đời
xưa thật sự có người tu
hành trong ấy, nên có
cảm ứng rất rõ ràng.
Hiện nay có rất nhiều
đạo tràng chẳng đúng như
pháp, những người trú
trong đạo tràng tu học
chẳng đúng như pháp, họ
còn tạo thị phi, nhân
ngã hằng ngày, vẫn tạo
tham, sân, si, mạn, cho
nên tu phước ở chỗ đó
không phải là không có
phước, phước chẳng rõ
ràng, chẳng hiện ra, nói
cách khác, đời này chẳng
được phước, đạo lý là
như vậy. Nếu đạo
tràng này chân chánh có
người tu đạo, tu đạo
tiện lợi nhất là có
người niệm Phật chân
chánh. Người niệm
Phật này là người như
thế nào? Hết thảy
thân tâm thế giới đều
thật sự buông xuống,
nhất tâm niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Có
một người như vậy, bạn
tu phước ở đạo tràng đó
thì công đức sẽ thù
thắng vô cùng. Vì
người này tương lai nhất
định sẽ vãng sanh, vãng
sanh sẽ thành Phật, bạn
ở đó thắp một cây nhang,
đốt một ngọn đèn đều có
công đức chân thật, bạn
thật sự cúng Phật.
Do đó việc tu phước hiện
nay, chúng ta phải nhận
rõ ruộng phước, ruộng
phước chân chánh sẽ được
phước vô cùng rõ ràng,
chúng ta hiểu được đạo
lý này thì tốt lắm.
Ở đây nêu lên vài việc.
Duyên tu phước trong Tam
Bảo rất nhiều, rất rộng,
nêu những thí dụ này là
thường thấy nhất, mọi
người đều hiểu được.
‘Cúng dường kinh tượng’,
kinh là kinh điển Phật,
tượng là hình tượng
Phật, Bồ Tát. Cúng
dường kinh tượng, cúng
dường như thế nào?
Tài cúng dường và pháp
cúng dường chẳng khác
nhau, do đó tài cúng
dường chính là pháp cúng
dường. Giống chúng
ta hiện nay in kinh,
thời đại hiện nay ngoài
việc in kinh ra, ngoài
việc dùng kinh điển để
hoằng pháp, chúng ta còn
có băng thâu âm, thâu
hình, CD, nhiều cách
thức hơn thời xưa rất
nhiều. Tiền bạc
của chúng ta dùng trên
những chuyện này, đều là
cúng dường kinh tượng,
kinh điển tượng Phật tùy
theo khoa học kỹ thuật
mà lưu thông. Như
VCD hiện nay có hình
ảnh, mạng lưới điện toán
quốc tế sau này cũng có
hình ảnh; người ta vừa
mở màn ảnh lên thì thấy
tượng Phật trước, sau đó
mới coi đến bài giảng,
nghe kinh, mạng lưới
điện toán ấy có đầy đủ
Tam Bảo. Khi bạn
mở lên, nhìn thấy tượng
bổn sư Thích Ca Mâu Ni
Phật trước tiên, chúng
ta tu Tịnh Độ thì sau đó
nhìn thấy Tây Phương Tam
Thánh, Liên Trì hải
hội, chúng ta có
ba bức hình, sau khi xem
xong rồi mới bắt đầu
giảng kinh. Như
vậy tức là cúng dường
kinh tượng.
‘Hoặc tạo hình tượng Phật,
Bồ Tát’. Chúng ta
xây Niệm Phật Đường,
trong ấy có cúng dường
hình tượng Phật, Bồ Tát,
cúng dường Tây Phương
Tam Thánh. Có khả
năng thì tự mình tạo một
bức, phía trước đã nói,
nặn đúc, khắc gỗ, bằng
vàng, bạc, đồng, sắt đều
được, dựa trên khả năng
tiền bạc của mình.
Nếu nhiều tiền, tạo
tượng vàng, bạc, đồng,
sắt sẽ có thể giữ được
lâu dài. Còn tượng
nặn đúc bằng đất sét,
khắc gỗ chẳng giữ được
lâu bằng tượng kim loại.
Bạn truyền được càng lâu
xa, sức ảnh hưởng càng
lớn, công đức càng lớn,
được phước là từ chỗ này
mà nói. Tượng Phật
trong thế gian là phẩm
vật nghệ thuật cao độ,
vàng bạc đồng sắt hợp
lại thành hợp kim, thời
xưa dùng cách này đúc
tượng rất nhiều, là
tượng tạo bằng hợp kim,
thường là đồng nhiều
nhất, trong đó cũng có
bạc, vàng. Tạo
tượng, phía trước đã nói
bất luận hình tượng Bồ
Tát lớn nhỏ, công đức
đều giống nhau.
Nếu đạo tràng này, trong
đạo tràng quan trọng là
mỗi ngày đều có giảng
kinh thuyết pháp, làm
cho những tín đồ đến đó
đều hiểu được ý nghĩa
tiêu biểu pháp của hình
tượng Phật, Bồ Tát, họ
được lợi ích nhiều nhất.
Giống chúng ta cúng
dường Địa Tạng Bồ Tát,
Địa Tạng Bồ Tát tiêu
biểu cho hiếu thuận cha
mẹ, tôn kính sư trưởng,
nhìn thấy tượng này liền
nghĩ đến mình phải hiếu
thuận cha mẹ, nhắc nhở
hiếu thuận cha mẹ, tôn
sư trọng đạo, bạn nói
công đức này bao lớn!
Nếu chẳng có hình tượng
này thì quên mất.
Quán Thế Âm Bồ Tát tiêu
biểu cho đại từ đại bi,
cứu khổ cứu nạn; khi
thấy chúng sanh khổ, bạn
dùng tâm từ bi để giúp
đỡ họ, hình tượng Phật,
Bồ Tát nhắc nhở bạn từng
giờ, từng phút, công đức
của hình tượng là như
vậy. Nếu không
hiểu ý nghĩa tiêu biểu
pháp thì đó là mê tín.
Mê tín cũng được, một
khi lọt vào nhãn căn,
vĩnh viễn là hạt giống
đạo, trong A Lại Da thức
có hình tượng của Phật,
Bồ Tát, nhưng công đức
lợi ích chân thật sẽ
chẳng ở đời này.
Lúc nào hiểu rõ thì công
đức lợi ích ấy sẽ khởi
lên, nếu họ không
hiểu thì công đức lợi
ích này sẽ vĩnh viễn
chứa đựng trong A Lại Da
thức, chủng tử ấy rất
quý.
‘Tháp tự’, khả năng tiền
tài còn lớn hơn nữa.
‘Tháp’ là nơi giữ xá
lợi, chứa xá lợi Phật;
‘Tự’ là nơi hoằng dương
Phật pháp. Ý nghĩa
của ‘Tự’ chúng ta cũng
phải hiểu rõ. Thời
xưa chỗ làm việc của vua
chúa gọi là ‘Tự’, dùng
danh xưng này, do đó
‘Tự’ là nơi làm việc.
Ý nghĩa là gì? Ý
nghĩa là tiếp nối chẳng
gián đoạn, đời đời có
thể truyền mãi về sau,
Tự có ý nghĩa như vậy.
Nói cách khác cơ quan
này là một cơ cấu vĩnh
cửu, chẳng phải lâm
thời, phải truyền tông
tiếp nối, đời đời truyền
mãi về sau, cơ cấu vĩnh
viễn, gọi là Tự.
Cho nên Tự là nơi làm
việc, hoàn toàn khác với
‘Miếu’, miếu là để tế
thần, tế quỷ thần, Tự là
nơi làm việc. Hiện
nay mọi người không hiểu
ý nghĩa này, coi Tự như
Miếu, hiện nay đọc đến,
nhìn đến chữ này đều
nghĩ sai hết, chẳng có
cách gì cả, chúng ta
không thể không sửa đổi.
Do đó ngày nay đạo tràng
chúng ta dùng danh từ
‘Học Hội’, dùng danh từ
hiện đại, làm cho người
ta nhìn thấy chẳng đến
nỗi mê hoặc. Ngày
nay chúng ta cũng dùng
danh từ ‘Tự’, người ta
vừa nhìn thì nghĩ đây là
tôn giáo, vậy là mê tín.
Chẳng hiểu ý nghĩa vốn
có, do đó nhất định phải
giảng kinh thuyết pháp,
giảng kinh thuyết pháp
thì nhất định phải lên
lớp.
‘Hoặc đốt đèn dầu’, đèn
dầu tiêu biểu cho quang
minh, nhất định phải
hiểu ý nghĩa. Nhìn
thấy đèn thì phải nghĩ
tâm địa của mình phải
quang minh, không những
tâm địa phải quang minh,
mà còn phải xả
mình vì người. Đèn
dầu là thiêu đốt chính
mình soi sáng kẻ khác,
đèn dầu tiêu biểu việc
này. Cúng Phật
cúng đèn dầu, chẳng phải
Phật muốn có đèn, đèn là
tiêu biểu pháp.
Đèn dầu, đèn cầy tiêu
biểu pháp vô cùng rõ
ràng, thiêu đốt chính
mình, soi sáng kẻ khác.
Vì xã hội, vì chúng
sanh, xả mình vì người,
chúng ta phải phục vụ,
tận tâm tận lực đi làm,
tuyệt chẳng cầu báo đáp.
Nếu nói báo đáp thì bạn
chẳng phải học Phật, bạn
chẳng phải phục vụ chúng
sanh, bạn mua bán giao
dịch. Đây là Phật
dạy chúng ta, nếu mỗi
người đều có tâm nguyện
này, đều có ý thức chung
này, thì đương nhiên thế
giới sẽ yên ổn lâu dài,
tự nhiên sẽ hưng vượng
phồn vinh, mọi người đều
sinh sống hạnh phúc.
Nếu ai nấy đều chẳng vì
mình, đều vì đại chúng,
vì xã hội, thế giới mới
hòa bình, đẹp đẽ.
Ai đi làm? Phật,
Bồ Tát dẫn đầu, chúng ta
là đệ tử Phật làm theo.
Do đó trong Phật pháp
chẳng cho có ý tứ về Ta,
đạo lý là gì? Ý tứ
về Ta là ý tứ của lục
đạo luân hồi, có ý tứ về
Ta thì có ngã chấp, ngã
chấp biến hiện ra cảnh
giới lục đạo luân hồi.
Vô ngã thì lục đạo luân
hồi sẽ chẳng còn; có ngã
(có Ta) thì có lục đạo
luân hồi. Phật
giáo là pháp chân thật,
chúng ta từ vô lượng
kiếp đến nay mê đắm
trong sanh tử lục đạo,
Phật lay tỉnh chúng ta,
dạy chúng ta phải giác
ngộ. Chân chánh
giác ngộ thì Ngã chẳng
còn nữa, bạn mới có thể
thoát lìa Tam Giới, lục
đạo, chẳng còn Ta nữa.
Cho nên tôi khuyên mọi
người, đừng có Ta, chúng
ta sống trên thế giới
này để làm gì? Để
diễn kịch. Diễn
cách nào? Kinh
điển chính là kịch bản,
y theo kịch bản mà diễn
thì sẽ chẳng có ý niệm
về Ta. Chiếu theo
kịch bản, kịch bản dạy
chúng ta làm như thế
nào, hoàn toàn y theo
kịch bản để diễn kịch.
Hết thảy kinh do Phật
nói đều là kịch bản,
Phật diễn theo bản kinh
ấy, Bồ Tát diễn theo bản
kinh ấy, do đó họ trên
thế gian này gọi là du
hý thần thông. Nếu
bạn hỏi các ngài có ý tứ
về tự kỷ (về Ta, về
mình) không? Chẳng
có. Kinh do Phật
nói ra, đó có phải là ý
tứ của Phật không?
Không phải. Trong
kinh Bát Nhã, đức Phật
đã phủ nhận, Phật chẳng
giảng kinh, chẳng có ý
tứ của riêng mình.
Vậy kinh điển rốt cuộc
là gì? Kinh điển
là trong tự tánh vốn sẵn
như vậy. Thế nên
chúng ta sinh sống như
vậy là sống đời sống của
tự tánh vốn có, đời sống
vốn có của tự tánh tức
là đời sống của Phật, Bồ
Tát, làm gì có ý tứ về
mình. Vĩnh Gia đáp
Lục Tổ rất hay ‘Phân
biệt cũng chẳng có Ý’,
chấp trước cũng chẳng có
ý; phân biệt, chấp trước
chẳng phải ý tứ của
mình, ý tứ gì?
Hằng thuận chúng sanh,
tùy hỷ công đức.
Chúng sanh phân biệt như
thế nào, thì tôi noi
theo phân biệt như vậy;
chúng sanh chấp trước
như thế nào thì tôi noi
theo chấp trước như vậy;
tự tôi chẳng có phân
biệt và cũng chẳng có
chấp trước, do đó phân
biệt, chấp trước đều
chẳng có ý, như vậy tự
tại biết bao! Vô
ngã, vô ngã thì sẽ chẳng
có sanh tử, tất cả đều
là biểu diễn, là diễn
kịch. Phải hiểu
đạo lý này, đây mới là
chân tướng sự thật của
nhà Phật, và cũng là
chân tướng sự thật của
vũ trụ nhân sanh.
Nếu bạn chẳng chịu diễn
kịch thì sẽ phải trôi
lăn trong lục đạo luân
hồi. Phật, Bồ Tát
du hý thần thông, chúng
ta học Phật cũng phải
học du hý thần thông
theo. Do đó hiểu
được nghĩa thú của từng
chữ, từng câu tiêu biểu
pháp, chúng ta trong
đoạn kinh văn này, câu
kinh văn này phải nên
học tập như thế nào, làm
sao áp dụng trong đời
sống, đạt được thọ dụng
chân chánh.
‘Hoặc thí thường trụ’,
‘thường trụ’ dùng cách
nói hiện nay tức là tiền
quỹ (chi phí) trong đạo
tràng, trong đạo tràng
thường thường có những
phí tổn này. Nhu
cầu cần thiết cho đời
sống của người tu đạo,
tứ chúng đồng tu, đây
thuộc về thường trụ, đây
là công đức chân thật.
Xã hội đại chúng hiện
nay còn chưa rõ ràng,
cái này có thể chậm
được, chúng ta là những
đồng tu đã học Phật,
người trong tứ chúng đệ
tử không thể không biết,
không giảng rõ ràng,
không giảng rành rẽ.
Chỉ khi bạn rõ ràng,
rành rẽ rồi, chúng ta
mới có thể dẫn đầu đi
làm, mới chịu đi làm,
tín tâm nghị lực kiên
định, nhất định không bị
lay động. Chú giải
của ngài rất hay, tạo
tượng, thì trích dẫn
‘Tạo Tượng Phước Báo
Kinh’; trong ‘Tạp Bảo
Tạng Kinh’ nói đến công
đức xây chùa; trong ‘Thí
Ðăng Kinh’ nói đến công
đức đốt đèn, chư vị có
thể tự coi lấy.
Xin xem phần kinh văn
tiếp theo:
Như thị tam bạch bịnh
nhân, di lịnh văn tri
Xướng lên như vậy ba lần
để cho người bịnh được
nghe biết.
Ðây là lúc bịnh nhân còn
tỉnh táo, còn hiểu được,
phải nói với họ ba lần,
đây là thêm cho mạnh,
cho họ nhớ thêm sâu đậm.
Nếu lúc người bịnh thật
sự bịnh nặng, phải làm
sao? Phải nói cho
họ nghe vài lần mỗi
ngày, để cho họ có ấn
tượng rất sâu đậm, việc
này rất quan trọng!
Làm cho họ biết mình đã
làm một số chuyện tốt,
công đức lợi ích, sẽ
giúp rất nhiều đối với
cõi họ sanh đến sau khi
mất. Ðây là lúc kẻ
ấy còn tỉnh táo.
Phía dưới nói:
Giả linh chư thức phân
tán, chí khí tận giả
Giả sử các thức [của người
bịnh] đã phân tán, đến
hơi thở đã dứt
‘Chư thức phân tán’ nghĩa
là bất tỉnh nhân sự, lúc
đó nếu bạn nói với họ,
họ chẳng có phản ứng.
Phía trước nói lúc ý
thức của họ chưa phân
tán,
khi bạn nói với họ, họ gật
đầu, họ biết. Nếu
lúc tinh thần càng tốt
hơn nữa, họ cũng hiểu,
cũng sẽ nói họ hoan hỷ.
Ðến khi thể lực vô cùng
suy yếu, chẳng thể nói
chuyện, nếu họ hiểu thì
sẽ gật đầu, ra ám thị
cho bạn. Ðến lúc
các thức đều phân tán,
thì họ chẳng có tri
giác, không có tri giác
vẫn phải nói, đến khi
tắt thở.
Nãi chí nhất nhật, nhị
nhật, tam nhật, tứ nhật,
chí thất nhật dĩ lai
Trong vòng một ngày, hai
ngày, ba ngày, bốn ngày,
cho đến bảy ngày
Tức là bảy ngày sau khi
người đó tắt thở, vẫn
phải thường thường nói
với người đó, tại sao?
Sợ A Lại Da thức của
người đó chưa lìa khỏi,
như vậy chỉ có lợi ích,
chẳng có thiệt hại.
Ðản cao thanh bạch, cao
thanh độc kinh.
Cứ lớn tiếng xướng bạch và
lớn tiếng tụng kinh này
Mỗi ngày đọc kinh,
đọc một biến, hoặc hai
biến. Lúc đọc kinh
nhất định ghi nhớ phải
dùng tâm chân thành, tâm
cung kính, nhất định
phải chẳng hoài nghi,
chẳng xen tạp, chẳng
gián đoạn. Chẳng
gián đoạn là một lần
phải đọc trọn bộ kinh,
đừng chia ra nhiều đoạn.
Phân chia ra nhiều đoạn
thì sẽ xen tạp, hiệu quả
sẽ thấp, thì sẽ kém rất
nhiều. Lúc đọc
kinh nhất định phải đừng
bị bất cứ chuyện gì
khuấy nhiễu, điểm này
rất quan trọng.
Nếu đọc kinh ở nhà, việc
dễ khuấy nhiễu nhất là
điện thoại, lúc đọc kinh
thì tốt nhất nên tháo
dây điện thoại ra, đừng
để bất kỳ người nào
khuấy nhiễu bạn, lúc đọc
cứ bị gián đoạn hoài,
cách đọc kinh như vậy là
giúp bạn làm quen, làm
cho chúng ta đọc kinh từ
từ trở nên quen thuộc,
trong thời gian luyện
tập, chẳng có tác dụng
gì lớn lắm. Ðọc
kinh cần phải không xen
tạp, không gián đoạn,
cũng giống như giao
chiến, chẳng phải là
luyện tập, nhất định yêu
cầu phải được công đức,
hiệu quả chân thật.
Do đó phải biết lúc bình
thường tập luyện lại là
một chuyện khác.
Bình thường đọc nhiều là
để tập cho quen, lúc đó
gián đoạn thì không sao,
có chuyện phải làm, lúc
rảnh rỗi thì đọc một
đoạn, thường đọc thì sẽ
quen thuộc hơn.
Sau khi quen thuộc, tới
khi ‘tu hành’ chân chánh
thì lúc đọc kinh mỗi
ngày nhất định không thể
bị khuấy nhiễu.
Ðọc kinh, lúc trước tôi
đã từng nói với chư vị
nhiều lần, Giới Ðịnh Huệ
Tam Học hoàn thành cùng
lúc; việc đọc kinh này
cũng là Giới Ðịnh Huệ
Tam Học hoàn thành cùng
lúc, do đó việc này
thuộc về công phu tu
hành, công đức tu học,
chẳng giống với đọc kinh
lúc bình thường.
Do đó có thể biết lợi
ích của sự đọc kinh này
còn lớn hơn công đức
giảng kinh. Giảng
kinh nói thật ra là tu
phước, chẳng phải công
đức; đọc kinh là công
đức, giảng kinh là phước
đức. Trong công
đức có phước đức, đó là
một cảnh giới khác, cổ
đức thường nói ‘tùy văn
nhập quán’, đó là công
đức. Bạn giảng
đoạn kinh văn này, thật
sự nhập vô cảnh giới, đó
là công đức; nếu chẳng
nhập vào cảnh giới này
thì là phước đức.
Do đó có thể biết, [công
đức hay phước đức là] ở
tại cá nhân mỗi người.
Thị nhân mạng chung chi
hậu túc ương trọng tội,
chí ư ngũ vô gián tội
vĩnh đắc giải thoát sở
thọ sanh xứ thường tri
túc mạng.
Sau khi
người ấy mạng chung, dù
từ trước có tội nặng,
thậm chí năm tội Vô
Gián, cũng được thoát
khỏi hẳn, thọ sanh nơi
nào cũng thường nhớ biết
việc đời trước.
Lợi ích này
quá lớn, quá lớn!
Chân chánh chẳng thể
nghĩ bàn, rất nhiều
người đọc kinh Ðịa Tạng,
nói lợi ích lớn như vậy
của kinh, tạo tội nghiệp
cực nặng, hình như niệm
một bộ kinh bèn có thể
làm cho họ thoát khỏi
tội nghiệp Ngũ Vô Gián,
quá dễ nên chẳng có
người tin. Bạn
chẳng tin, lúc bạn đọc
kinh này vẫn còn hoài
nghi, vẫn còn vọng tưởng
khởi lên, lại còn xen
tạp cho nên chẳng được
hiệu quả, càng tin tưởng
kiến giải này của mình
là chẳng sai. Ðều
cho rằng công đức lợi
ích nói trong kinh Phật
quá khoa trương, hình
như nhằm khuyên người ta
đọc, trên thật tế chẳng
đạt được lợi ích này.
Ðây là tâm phàm phu,
phàm phu vọng tưởng đo
lường tri kiến của Phật,
Bồ Tát nên sanh ra lỗi
lầm rất lớn. Chúng
ta phải biết tội, phước
đều ở tại một niệm, một
niệm bạn chuyển đổi trở
lại thì từ địa ngục
chuyển đến cảnh giới của
Phật, pháp môn Tịnh Ðộ
bình đẳng thành Phật
chính là đạo lý này.
Chúng sanh ở địa ngục A
Tỳ chỉ xưng một câu ‘Nam
mô A Di Ðà Phật’ đều có
thể thành Phật, mấu chốt
ở chỗ cái tâm ấy phải
chuyển trở lại.
Tâm cực ác chuyển thành
tâm thanh tịnh cùng cực,
nếu bạn hỏi có thể
chuyển trở lại hay
không? Có thể.
Trên lý luận là nhất
định có thể, tại sao?
Vọng niệm là giả, vọng
tưởng là giả. Mã
Minh Bồ Tát nói rất hay:
“Chẳng giác vốn không, Bổn
giác vốn có”,
vậy thì làm sao chuyển
trở lại không được?
Chẳng giác tức là vọng
niệm, A Tỳ địa ngục là
chẳng giác, chẳng giác
vốn không, chỉ cần bạn
thật sự giác ngộ triệt
để, ‘vốn là không’ phút
chốc bèn xả bỏ sạch sẽ,
phút chốc bèn đoạn dứt
hết, cái ‘vốn có’ lập
tức liền khôi phục.
Cho nên từ A Tỳ địa ngục
siêu sanh đến Phật quả
viên mãn, đều ở trong
một niệm, vấn đề là bạn
có thể trong một niệm
chuyển trở lại hay
không? Việc này có
lý luận căn cứ, chẳng
phải là tùy tiện nói.
Đọc bộ kinh này chân
chánh làm được không
hoài nghi, không xen
tạp, không gián đoạn,
một hơi niệm cho hết,
trong một niệm này bèn
chuyển thành Phật đạo.
Do đó trong một niệm ấy
có giới, định, huệ viên
mãn, dùng công đức này
để siêu độ người nghiệp
chướng sâu nặng thì họ
có được lợi ích thật sự.
Những việc
nói ở đây ‘sở thọ sanh
xứ thường tri túc mạng’,
công đức của người đọc
kinh quá lớn, chẳng chỉ
có như nói ở đây ‘sở thọ
sanh xứ’, hoặc sanh đến
nhân gian, hoặc sanh đến
cõi trời, những sự siêu
độ này, cao nhất chỉ có
thể sanh đến trời Ðao
Lợi, tại sao? Dựa
vào phước của người
khác, hưởng phước của
người khác, chỉ có thể
sanh đến trời Ðao Lợi;
nếu tự mình tu hành thì
không chỉ như vậy thôi.
Cho nên những gì chúng
ta từ xưa đến nay nhìn
thấy, Bảo Chí Công siêu
độ cho phi tử của Lương
Võ Ðế đến trời Ðao Lợi,
Bảo Chí Công là Quán Âm
Bồ Tát tái lai.
Mọi người hiện nay tụng
Lương Hoàng
Sám, Sám nghĩa của Lương
Hoàng Sám là Bảo Chí
Công siêu độ phi tử của
Lương Võ Ðế, sanh lên
trời Ðao Lợi.
Chúng ta ở đó thấy cô
Quang Mục, cô Bà La Môn
siêu độ người nhà của họ
thì cũng sanh lên trời
Ðao Lợi, phước báo lớn
nhất cũng chỉ có thể
sanh đến trời Ðao Lợi.
Phía trên trời Ðao Lợi
phải nhờ công phu tu
hành của chính mình, nếu
tự mình chẳng có công
phu tu hành mà nhờ vào
phước báo của người khác
thì không được, phước
chỉ có thể sanh đến trời
Ðao Lợi, trời Tứ Vương,
trời Ðao Lợi.
‘Sở thọ
sanh xứ thường tri túc
mạng’, biết túc mạng
(biết việc đời trước) có
ích lợi, ích lợi rất
lớn, biết được chân
tướng sự thật của nhân
duyên quả báo.
Người biết túc mạng nhất
định sẽ chẳng dám tạo ác
nghiệp vì họ biết làm ác
có ác báo, làm thiện có
thiện báo, họ sẽ đoạn ác
tu thiện, họ biết hết
lòng đi làm những chuyện
tích công lũy đức, cho
nên biết túc mạng có lợi
điểm như vậy.
Do đó có thể biết tu
hành phải thừa lúc mình
còn khoẻ mạnh, lúc còn
sức lực, hết lòng đi
làm, thật sự tu công đức
viên mãn của mình, mà
chẳng phải được một phần
bảy; đây là việc người
khác tu [dùm cho mình]
thì mình chỉ được một
phần bảy.
Hôm nay đã hết giờ, chúng
ta giảng đến đây thôi.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin thành
thật cám ơn.
Một nhóm
Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng
9-2006