|
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Giảng Ký
Hòa thượng Tịnh Không giảng
tại Tịnh Tông Học Hội Tân
Gia Ba, 5-1998
Tập 19 (Số 14-12-19)
Xin mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 30, xin xem
kinh văn hàng thứ nhất:
Phổ Quảng bạch ngôn dụy nhiên, Thế Tôn, nguyện nhạo
dục văn.
Ngài Phổ Quảng bạch rằng: “Vâng, bạch đức Thế Tôn,
[chúng con] vui mừng muốn được nghe.”
Đoạn này có thể khỏi nói, mọi người coi tới liền
hiểu. Xem tiếp đoạn sau.
Phật cáo Phổ Quảng Bồ Tát, vị lai thế trung nhược
hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, văn thị Địa Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát danh giả, hoặc hiệp chưởng giả, tán
thán giả, luyến mộ giả, thị nhân siêu việt tam thập
kiếp tội.
Đức Phật bảo Bồ Tát Phổ Quảng: “Trong đời vị lai nếu
có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào nghe được danh
hiệu của Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát hoặc là chắp tay,
hoặc là tán thán, hoặc là đảnh lễ, hoặc là luyến mộ,
người đó sẽ vượt qua khỏi tội khổ trong ba mươi
kiếp”
Đoạn kinh văn này, phần đông người ta xem xong đều
rất khó tin, thật chẳng dễ tiếp nhận, tại sao? Làm
gì có chuyện dễ dàng như vậy, chuyện tiện lợi như
vậy. Một người nghe đến danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát
hoặc chắp tay, tán thán, đảnh lễ, ưa thích ngưỡng
mộ, những sự việc bình thường như vậy bèn có thể
siêu việt ba mươi kiếp tội báo, nói vậy hình như hơi
quá đáng, làm gì có chuyện lợi ích to lớn như thế!
Thật ra trong đoạn kinh văn này, chữ quan trọng mấu
chốt là chữ ‘Thiện’, đây chẳng phải đã nói rất rõ
rồi sao? ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’, chẳng phải
là một người nam, người nữ bình thường; bạn nghe
danh, chắp tay bèn có công đức lớn như vậy, chúng ta
đọc kinh thường chẳng để ý nên bỏ sót hết. Tiêu
chuẩn của chữ Thiện này là tiêu chuẩn của kinh Đại
Thừa, chúng ta y theo kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật để
nói, dùng tiêu chuẩn này để nói ‘Tịnh Nghiệp Tam
Phước’ làm được hoàn toàn mới gọi là Thiện. Bạn chỉ
làm được ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ
tâm chẳng giết hại, tu thập thiện nghiệp’ thì đây là
Thiện ở cõi trời, cõi người. Kinh này là kinh Đại
Thừa, bạn còn chưa đạt đến tiêu chuẩn này. Nếu thêm
‘Thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai
nghi’ thì đây là Thiện của Nhị Thừa: Thanh Văn,
Duyên Giác, so với Thiện này còn thua một bậc. Cái
Thiện này nhất định phải ‘Phát Bồ Đề tâm, tin sâu
nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả’.
Nói cách khác, cả mười một câu đều làm được hết,
người này nghe đến danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát,
chắp tay, tán thán, thì mới siêu việt ba mươi kiếp
tội nghiệp, thế thì còn lời gì để nói nữa? Tự mình
có gốc rễ này, thêm vào oai thần gia trì của Phật,
Bồ Tát thì chúng ta mới tin tưởng được. Thế nên chữ
Thiện ở đây chẳng phải là tiểu Thiện của phàm phu,
đây là chữ mấu chốt. Rất nhiều người đọc kinh, nghe
kinh xong bèn khởi nghi hoặc, chẳng tin là vì chẳng
chú trọng đến chữ này, đây là một chữ quan trọng
nhất trong đoạn này.
Tiêu chuẩn này chẳng phải là Đại Tâm Phàm Phu nói
trong kinh Hoa Nghiêm hay sao? Chúng ta là phàm phu,
sao lại nói là Đại Tâm phàm phu? Phàm phu nghĩa là
phiền não của bạn chưa đoạn dứt, chẳng phải Bồ Tát.
Nếu là Bồ Tát thì đã đoạn dứt Kiến Tư phiền não và
phá một phần vô minh, đó là thật chẳng giả. Họ thật
sự đã làm được Tam Phước trong Quán Kinh, đó là Pháp
Thân Đại Sĩ, chẳng phải người thường. Chúng ta chưa
đoạn phiền não và cũng tu pháp của Bồ Tát, chúng ta
cũng tu. Tuy tu nhưng chưa đoạn phiền não nên gọi là
Đại Tâm Phàm Phu.
Đại Tâm nghĩa là pháp môn tu của bạn giống với Pháp
Thân Đại Sĩ, nhưng Pháp Thân Đại Sĩ đã đoạn phiền
não, chúng ta chưa đoạn phiền não, định nghĩa của
thuật ngữ ‘Đại Tâm Phàm Phu’ là như vậy. Chúng ta
muốn đạt đến tiêu chuẩn của Bồ Tát chẳng dễ dàng,
đừng nói Bồ Tát, ngay cả Nhị Thừa cho đến Tiểu Thừa
sơ quả Tu Đà Hoàn, chúng ta trong đời này muốn nhập
vào cảnh giới của họ cũng chẳng dễ, đều chẳng thể
làm nổi. Cho nên chúng ta dùng thân phận phàm phu,
tu pháp môn Tiểu Thừa, tu pháp môn Bồ Tát, cho đến
tu Nhất Thừa đại pháp, đây chẳng phải là không thể.
Đặc biệt là như cách nói trong kinh Hoa Nghiêm ‘một
là tất cả, tất cả là một’, sơ phát tâm bèn có thể tu
pháp môn của Đẳng Giác Bồ Tát. Giống như câu nói
trong kinh ‘Hành bố thí nhưng không trở ngại viên
dung, viên dung nhưng không trở ngại bố thí
[1][1]’, hành bố là thứ đệ (cấp
bậc, thứ lớp), viên dung là siêu việt thứ đệ, hiển
rõ ra pháp giới vô chướng ngại.
Và chính là nhắc nhở chúng ta có thể tu học pháp
giới vô chướng ngại, chẳng phải là không thể tu,
chẳng phải nói nhất định phải đến một vị thứ nào mới
tu, Phật pháp chẳng giống như trường học trong thế
gian. Trong trường học thế gian, học sinh lớp một
tuyệt đối chẳng thể học khóa trình của lớp bác sĩ.
Nhưng trong Phật pháp thì được, người sơ học phát
tâm bèn có thể tu pháp môn trên quả địa của Như Lai.
Pháp trên quả địa Như Lai là pháp gì? Pháp bình
đẳng. Thế nên cho dù Đẳng Giác Bồ Tát, trên quả địa
Như Lai ngài cũng chẳng chê bỏ pháp môn tu của người
sơ phát tâm. Người sơ phát tâm tu pháp môn gì? Hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, Phật cũng chẳng
bỏ. Đây gọi là “một tức là tất cả”, chẳng giống như
giáo học trong thế pháp.
Do đó có thể biết trong Phật pháp chẳng có thứ lớp
sâu cạn. Bạn nói cạn thì cạn tức là sâu, khi nói sâu
thì sâu tức là cạn. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư
trưởng rất cạn, là môn người mới bước vào cửa Phật
tu học, Đẳng Giác Bồ Tát cũng tu [pháp này], Như Lai
cũng tu, nhất định chẳng bỏ qua, do đó cạn tức là
sâu. Pháp môn Như Lai thanh tịnh bình đẳng, đây là
[pháp môn] rất sâu, người sơ học như chúng ta cũng
có thể tu học theo, sâu tức là cạn, cạn sâu chẳng
hai. Phật pháp được gọi là pháp môn bất nhị, đạo lý
là ở chỗ này. Chúng ta coi bộ kinh này, hầu như
những gì được nói đều thuộc về Sự Tướng. Nhưng nếu
từ trong những Sự này có thể thấu hiểu nghĩa thú,
đạo lý sâu xa trong ấy, đó tức là điều được nói
trong ‘Phóng Quang Bát Nhã’
[2][2], đạo lý thật sâu. Đây là
chữ quan trọng mấu chốt, nói ra cho chư vị rồi. Nghe
đến danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, Danh là Danh của
Thật, Thật là Thật của Danh, có Danh là có Thật.
Nghe đến danh hiệu này, bạn liền có thể nghĩ đến bộ
kinh này. Danh hiệu là đề kinh, toàn bộ lý luận,
phương pháp tu học, và công đức lợi ích nói trong
kinh đều có thể từ trong tâm sanh khởi khi nghe đến
Danh [hiệu này]
‘Chắp tay’ là cung kính, ‘tán thán’ là hoằng dương,
‘đảnh lễ, ưa thích ngưỡng mộ’ là tu hành, noi gương
theo Địa Tạng Bồ Tát, học tập theo Địa Tạng Bồ Tát,
như vậy mới đạt được oai thần chẳng thể nghĩ bàn của
Địa Tạng Bồ Tát gia trì, mới có thể diệt tội, ‘vượt
qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp’ tức là diệt
tội. Chúng ta hiểu được ý tứ này sẽ chẳng hoài nghi,
liền biết lời Phật nói là sự thật, tuyệt chẳng phải
là lời nói dối, chẳng phải lời khoa trương, hoàn
toàn là sự thật. Ở đây làm thế nào mới có thể nâng
cao chúng ta lên tới tiêu chuẩn Thiện, điểm này rất
quan trọng. Trong Quán Kinh, đức Phật nói rất hay,
kết luận của mười một câu trong Tam Phước tức là
‘Tịnh Nghiệp Chánh Nhân của ba đời chư Phật’, nói
rất minh bạch, rõ ràng. Ba đời tức là đời quá khứ,
đời hiện tại, đời vị lai, ba đời chư Phật tu hành
chứng quả từ cơ sở nào? Tức là từ Tam Phước. Cho nên
Tam Phước tức là ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’ nói
trong kinh, tiêu chuẩn của Thiện. Thiện Tiểu Thừa là
làm được hai điều, bảy câu đầu, là thiện nam tử,
thiện nữ nhân nói trong kinh Tiểu Thừa. Tiêu chuẩn
Thiện của kinh Đại Thừa nhất định phải làm hết mười
một câu. Tuy chẳng viên mãn, chẳng rốt ráo, nhưng
chúng ta nhất định phải làm. Những ý tứ khác chư vị
có thể tham khảo chú giải của Thanh Liên pháp sư,
chú giải của ngài rất hay. Chúng ta xem tiếp kinh
văn phía sau:
Phổ Quảng, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân.
Này Phổ Quảng, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân
Vẫn chú trọng chữ ‘Thiện’.
Hoặc thái họa hình tượng, hoặc thổ thạch giao tất,
kim ngân đồng thiết tác thử Bồ Tát nhất chiêm nhất
lễ giả, thị nhân bá phản sanh ư tam thập tam thiên,
vĩnh bất đọa ư ác đạo. Giả như thiên phước tận cố,
hạ sanh nhân gian, do vi quốc vương bất thất đại
lợi.
Hoặc tô vẽ hình tượng, hoặc dùng đất, đá, keo, sơn,
vàng, bạc, đồng, sắt tạc tượng Bồ Tát, rồi cứ một
lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, thì người đó sẽ
sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba một trăm lần, vĩnh viễn
chẳng đọa ác đạo. Giả sử phước trời đã hết, phải
sanh xuống nhân gian cũng vẫn làm quốc vương, không
mất sự lợi lớn.
Lợi ích nói ở đây thật ra còn thù thắng hơn phía
trước. Phía trước nói diệt tội, chẳng nói bạn được
phước, diệt tội thì đương nhiên sẽ được phước, Thế
Tôn chẳng cụ thể nói rõ cho chúng ta, còn ở đây nói
cụ thể rất rõ. Ở đó tu phước chỉ nêu ra một thí dụ,
nói thật ra tu phước có quá nhiều phương thức, chẳng
phải chỉ có một phương thức này thôi, chúng ta từ
một thí dụ, như câu nói “nêu một thấy được ba, nghe
một hiểu mười”[3][3]
, việc này vô cùng quan trọng! Đây là nói nắn tạo
hình tượng Bồ Tát, việc này có một số người chẳng
hiểu lý rốt ráo, cứ cho rằng Phật Giáo tạo nhiều
hình tượng khác nhau như vậy nên nói chúng ta cúng
tế ngẫu tượng ? Vả lại cúng tế rất nhiều ngẫu tượng,
và trở thành Đa Thần Giáo, Đa Thần Giáo thuộc về tôn
giáo hạng thấp. Tôn giáo cao cấp chỉ có một Thần,
duy nhất một Chân Thần, còn trong Phật Giáo cái gì
cũng cúng lạy. Thật ra họ chẳng biết đạo lý này, đạo
lý này quá sâu, quá sâu, chẳng có ai nói cho họ
biết, chúng ta không thể trách họ được. Chẳng có
người nói cho họ nghe thì họ làm sao biết được?
Hồi trước ở Đài Loan tôi đã từng gặp một sĩ quan, vị
sĩ quan này hình như trong quân đội làm ngành tuyên
huấn (Tâm lý chiến). Ông đến chùa miếu của chúng tôi
du ngoạn, rồi đề ra những câu hỏi liên quan đến
tượng Phật. Ông nói: “Có ý nghĩa gì ở đây chăng? Tạo
ra nhiều tượng Phật như vậy, phí nhiều tiền như vậy
[có ý nghĩa gì hay không?]”. Vì tôi biết ông ta làm
về ngành tuyên huấn nên tôi hỏi ông, tôi nói: “Quý
vị làm công việc tuyên huấn, tại sao đi khắp nơi dán
biểu ngữ? Ông dán cái này có ý nghĩa gì?”. Ông nói:
“ Dán cái này là để nhắc nhở mọi người chú ý”. Tôi
nói: “Nếu ông dán biểu ngữ này, thí dụ nói ở Đài
Loan thường thấy ‘Tam Dân chủ nghĩa vạn tuế’, biểu
ngữ này nhắc nhở mọi người. Nếu tạo một tượng Tôn
Trung Sơn tiên sinh để ở đó, thì không phải còn thù
thắng hơn biểu ngữ này hay sao?” Ông nói: “Đúng! Có
đạo lý”. Tôi nói: “Tượng Phật của chúng tôi cũng có
đạo lý như vậy, chúng tôi dán một câu ‘Nam Mô A Di
Đà Phật’, khi bạn nhìn thấy liền nhắc nhở bạn niệm
Phật. Vậy thì tạo một tượng Phật A Di Đà có phải còn
thù thắng hơn hay không! Cùng một đạo lý. Bạn nói
tại sao phải tạo ra nhiều tượng như vậy? Tại sao lại
dán biểu ngữ của các bạn nhiều như vậy? Dán mấy chục
tấm, mấy trăm tấm, không phải một tấm đã đủ rồi
sao”. Từ chỗ này ông ta mới hiểu được ý nghĩa ấy.
Trong Phật pháp, danh hiệu và hình tượng của Phật,
Bồ Tát đều là để tượng trưng, tiêu biểu pháp, nói
cách khác là để nhắc nhở chúng ta tu học. Phàm phu
đích thật mê hoặc điên đảo, có ai luôn nhắc nhở cho
bạn? Nếu thật sự có một người giờ phút nào cũng căn
dặn, nhắc nhở bạn, thì bạn sẽ cảm thấy người ấy rất
đáng ghét, nhiều chuyện! Cho nên dùng cách thức này,
thực sự đã đạt đến mức thiện xảo phương tiện. Đem
danh hiệu vẽ thành hình tượng, tạo hình tượng thành
phẩm vật nghệ thuật cao độ, bạn có thể ngắm nhìn,
thưởng thức, vĩnh viễn nhìn chẳng chán, bạn nhìn
thấy liền sanh tâm hoan hỷ, lại còn hiểu được ý
nghĩa của nó. Phàm là danh hiệu, hình tượng của Phật
đều tiêu biểu Tánh Đức, trong tự tánh của chúng ta
vốn sẵn đủ, tự tánh vốn như vậy. Phàm là danh hiệu,
hình tượng của Bồ Tát đều tiêu biểu Tu Đức. Tánh đức
của chúng ta đã mê mất, làm sao khôi phục lại? Nhất
định phải tu hành, nương nhờ vào tu đức. Tu đức phải
tương ứng với tánh đức thì đó mới là tu hành chân
chánh, gọi là tánh tu bất nhị, bạn mới có thể khôi
phục tự tánh, đạo lý là như vậy. Tánh đức và Tu đức
đều sâu rộng vô lượng vô tận, thế nên dùng một danh
hiệu, một hình tượng thì không cách chi biểu lộ, tỏ
rõ, do đó danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát rất nhiều,
nhiều đến chẳng thể nghĩ bàn, tỏ rõ trí huệ, đức
năng của bản tánh vô lượng, vô biên, chẳng có cùng
tận.
Tánh đức như vậy, Tu đức đương nhiên cũng như vậy,
cho nên danh hiệu và hình tượng của Phật, Bồ Tát
cũng vô lượng vô biên.
Chư vị nên đọc kinh Hoa Nghiêm sẽ thấy được. Đại
chúng tham dự pháp hội kinh Hoa Nghiêm, chẳng dùng
từng cá nhân mà dùng đoàn thể để tính. Đoàn thể được
quy nạp tổng cộng có đến một trăm bảy mươi mấy đoàn
thể, hiển lộ vô tận, vô tận đức tướng tánh tu, chúng
ta phải thấu hiểu sâu xa ý tứ này. Trong kinh đức
Phật thường nói pháp thế và pháp xuất thế, y báo
chánh báo trang nghiêm của Nhất Chân pháp giới và
thập pháp giới đều là ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở
biến’, đây là lời Phật nói trong kinh. Có người đọc
đến kinh này, nghe kinh này sanh hoài nghi, hiện nay
tâm tôi tưởng biến, tại sao biến không ra? Lời Phật
nói chẳng linh nghiệm đối với sự thực nghiệm của
tôi.
Thật ra họ chẳng hiểu cái gì gọi là Tâm, họ đã hiểu
lầm. Tâm là gì? Thức là gì? Lấy vọng tưởng làm Tâm,
đem chấp trước làm Thức, thế thì làm sao biến được?
Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là Tác Dụng của
Tâm Thức, chẳng phải là Lý Thể của Tâm Thức. Thí dụ
chúng ta đi tìm người nào đó, bạn coi bác làm công
trong nhà người ấy chính là người ấy vậy thì làm sao
được! Làm sao có thể làm xong công việc! Người làm
công chỉ nghe lời sai bảo của chủ nhân, bạn phải tìm
cho ra chủ nhân thì mới giải quyết vấn đề được.
Thiền Tông nói rất hay ‘Nếu người biết được tâm, đại
địa này chẳng có một tấc đất’
[4][4], nếu bạn có thể thấy
được Tâm Tánh, bạn sẽ chẳng còn là phàm phu nữa, bạn
sẽ là Phật, Bồ Tát rồi.
Do đó nghiên cứu giáo lý, nghe kinh phải có tâm nhẫn
nại, có nghi vấn thì có thể tồn nghi, cổ đức có nói:
“Tiểu nghi có tiểu ngộ, đại nghi có đại ngộ”, đó gọi
là ‘nghi tình’, chẳng phải là hoài nghi. Nếu đối với
lời trong kinh bạn chẳng thể lý giải, khởi hoài nghi
thì là sai lầm. Hoài nghi là gì? Bạn chẳng tin
tưởng, bạn chẳng thể tiếp nhận. Nghi là chướng ngại
lớn nhất của Bồ Tát, Bồ Tát nói ở đây là Bồ Tát đạo,
chướng ngại lớn nhất cho sự tu hành của Bồ Tát. Vậy
thì phải làm sao? Có nghi vẫn phải tin, tôi vẫn kiền
thành tin tưởng. Phật nói Lý này quá sâu, chẳng phải
là cảnh giới của tôi, chẳng phải trí huệ nông cạn
hiện giờ của tôi có thể hiểu nổi. Tôi tin điều này,
tin lời Phật dạy chẳng sai, hết lòng tiếp tục nỗ lực
tu học chẳng gián đoạn, đợi đến một ngày nào đó khai
trí huệ xong, vấn đề này sẽ được giải quyết.
Nghi tình nhỏ, trí huệ mở mang được mấy phần thì vấn
đề sẽ được giải đáp; nghi tình lớn, trí huệ cần phải
mở đến một mức độ nào đó thì bạn mới có thể hiểu
được. Đây tức là tiểu nghi có tiểu ngộ, đại nghi có
đại ngộ. Nếu bạn hoài nghi, chẳng tin tưởng, chẳng
tiếp nhận thì bạn vĩnh viễn sẽ chẳng có chỗ ngộ. Thế
nên nghĩa thú sâu xa và cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn
nói trong kinh thì có nghi tình là chánh xác vậy,
nhất định phải y chiếu lý luận, phương pháp của Phật
dạy trong kinh mà hết lòng tu học. Phật pháp từ thỉ
đến chung đều là dạy người ta khai trí huệ, đó gọi
là phá mê khai ngộ. Làm sao khai trí huệ? Trí huệ
khai thông từ trong thiền định. Trong Tịnh Độ Tông
chúng ta, tuy chẳng dùng danh từ ‘thiền định’ này,
Tịnh Tông dùng ‘nhất tâm bất loạn, tâm chẳng điên
đảo’, tám chữ này chính là thiền định, mục đích của
người niệm Phật tu tập là ở chỗ này.
Hiểu rõ đạo lý rồi, đây chỉ là nêu ra một thí dụ
trong vô lượng phương pháp tu học: tạo tượng, công
đức của việc tạo tượng chẳng thể nghĩ bàn. Chủng
loại tạo tượng rất nhiều, ở đây liệt kê ra ‘thái
họa’, tô vẽ đều được, hoặc là đúc nắn bằng đất sét,
điêu khắc trên đá, giao tất (mủ, sơn) hình tượng
Phật, Bồ Tát loại này cũng rất nhiều. Hiện nay kỹ
thuật khoa học phát đạt, tạo thành mô hình, tạo hình
tượng Phật, Bồ Tát vừa đẹp vừa rẻ. [Phần kinh văn ]
phía sau [nói đến] tượng Phật đúc bằng kim loại,
dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc thành, những tượng này
có thể truyền lâu đời về sau. Đối với một người tu
học thì hình tượng Phật, Bồ Tát là để nhắc nhở, giờ
phút nào cũng luôn cảnh tỉnh. Chúng ta tạo một tượng
Địa Tạng Bồ Tát, công đức rất lớn, giờ phút nào cũng
nhắc chúng ta phải hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư
trưởng. Địa Tạng Bồ Tát tiêu biểu cho hiếu đạo, giờ
phút nào cũng nhắc nhở tâm địa chúng ta chứa đựng vô
lượng bảo tàng, đây là hàm nghĩa của danh hiệu Địa
Tạng Bồ Tát.
Trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường nói trong tâm
tánh của chúng ta có vô lượng trí huệ, vô lượng đức
năng, tài nghệ, hết thảy đều viên mãn, đầy đủ, cùng
với những lời nói trong đại kinh, y chánh trang
nghiêm của quả địa Như Lai chẳng hai chẳng khác, đây
đều là tự tánh vốn có đầy đủ. Kinh Hoa Nghiêm nói về
Hoa Tạng thế giới của đức Phật Tỳ Lô Giá Na, kinh
Tịnh Độ nói về Cực Lạc thế giới của đức Phật A Di
Đà, thế giới này xuất hiện như thế nào? Trong tự
tánh vốn sẵn có đủ cho nên mới nói ‘duy tâm tịnh
độ’. Chúng ta mê mất tự tánh, ngày nay chúng ta trụ
trong thế giới này, tai nạn nhiều như vậy, ngũ trược
ác thế, ngũ trược ác thế từ đâu đến ? Cũng là duy
tâm ngũ trược, chẳng lìa khỏi tâm tánh. Giác ngộ
xong thì tâm tánh này biến thành tịnh độ, mê mất thì
tâm tánh này liền biến thành uế độ, tướng biến thành
tuy chẳng giống nhau, thể tánh của cái năng biến
(chủ tể biến) chỉ là một, cho nên mới nói tịnh uế
chẳng hai. Ai trụ trong “tịnh uế chẳng hai”? Người
giác ngộ trụ. Còn [đối với] người mê, tịnh và uế sai
biệt quá lớn. Việc này giải thích như thế nào? Người
giác ngộ chẳng chấp tướng, họ trụ trong tịnh độ
nhưng không chấp tướng tịnh độ, trụ trong uế độ cũng
chẳng chấp tướng uế độ, cảm thọ của họ đều giống
nhau. Người mê chấp tướng, trong tịnh độ thì chấp
trước tướng Tịnh, sanh tâm hoan hỷ; trong uế độ thì
họ chấp trước tướng uế độ, họ sanh phiền não, là sự
việc như vậy. Nếu bạn có thể thật sự không chấp
tướng; vọng tưởng, phân biệt, chấp trước hoàn toàn
buông bỏ hết thì tịnh uế chẳng hai, cảm thọ của bạn
chẳng hai, thọ dụng chẳng hai. Chẳng có nói tịnh độ
và uế độ biến thành một thứ, chẳng phải vậy. Tịnh độ
vẫn có tướng tịnh độ, uế độ vẫn là tướng uế độ, cảm
thọ của họ chẳng hai, bình đẳng thọ.
Phật nói Thọ của phàm phu có năm thứ: ‘khổ, vui,
buồn, mừng, xả’, năm thứ thọ, đây là phàm phu. Thánh
nhân chẳng có năm thọ này, thọ của thánh nhân được
gọi là ‘chánh thọ’. Trong kinh thường thấy chữ ‘Tam
Muội’, Tam Muội dịch nghĩa là chánh thọ, Tam Muội là
tiếng Phạn dịch âm mà thành. Chánh thọ tức là năm
thứ thọ ‘khổ, vui, buồn, mừng, xả’ đều buông bỏ,
hưởng thọ như vậy mới gọi là Chánh Thọ. Chánh thọ
dựa trên trí huệ chân thật, còn thọ của phàm phu dựa
trên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, do đó trong
cảnh giới của họ có ‘khổ, vui’, có ‘buồn, mừng’. Tại
sao cùng một tâm tánh lại biến hiện thành sắc tướng
chẳng đồng? Chúng ta phải hiểu đạo lý này. Tuy tâm
tánh là một, chân tâm bản tánh thuần nhất, thanh
tịnh, tướng được hiện ra gọi là Nhất Chân pháp giới.
Nhưng trong thuần nhất, thanh tịnh, đương lúc nó
khởi tác dụng hình như lại có tạp nhiễm. Pháp Tướng
Duy Thức Học đối với hiện tượng này có nghiên cứu
rất thâm nhập, họ phân tách rất tinh tế, kinh luận
của Pháp Tướng Duy Thức vô cùng phong phú. Thuyết
minh tâm tánh khởi tác dụng, hiện tướng trạng các
thứ chuyển biến, hư không pháp giới vô lượng vô số
chúng sanh đều là Tình Thức biến hiện mà ra, Lý
trong ấy quá sâu. Tại sao nó lại biến? Tại sao biến
thành nhiều như vậy? Tại sao biến ra rồi chẳng chỉnh
tề? Đây là một sự học vấn to lớn.
Nếu nói vấn đề này bạn có nghi hoặc, bạn rất khó
tiếp nhận, chúng tôi lại nói một thí dụ thô thiển để
xem bạn có thể tiếp nhận được không? Ban đêm bạn ngủ
có khi nào nằm mộng chăng? Mọi người đều đã từng nằm
mộng, tại sao trong mộng xuất hiện quá nhiều nhân
vật như vậy? Nhiều chúng sanh như vậy? Cái có thể
nằm mộng là tâm ý thức của bạn, tại sao tâm ý thức
của bạn biến thành phức tạp như vậy? Trong mộng có
người tốt, cũng có người xấu, có người bạn ưa thích,
cũng có người bạn chán ghét, tại sao bạn không mộng
toàn là người bạn ưa thích? Một người bạn ghét cũng
không có, tại sao không được? Đạo lý này rất gần với
[vấn đề] trên, rất giống, bạn hãy từ từ nghiên cứu.
Bạn suy nghĩ, bạn nghiên cứu tại sao trong mộng lại
xuất hiện người tốt, người xấu, vừa ưa thích, lại có
chán ghét? Bạn đi nghiên cứu, thật ra nghiên cứu
chẳng được, bạn hãy đọc thêm kinh sách của Pháp
Tướng Tông.
Đó chính là ‘duy thức sở biến’, thức là A Lại Da
thức, A Lại Da thức chứa đựng hạt giống nghiệp tập
nên có thiện, có chẳng thiện. Lúc sức mạnh ý chí của
bạn chẳng thể khống chế chính mình, những hạt giống
này sẽ khởi lên. Khi khởi lên thì nó sẽ biến ra ảo
tưởng, hiện tướng trong giấc mộng là ảo tưởng, cảnh
giới hiện tiền của chúng ta trong kinh không phải
đức Phật đã gọi là ‘mộng huyễn bọt bóng’ sao, cũng
chẳng phải thật. Chúng ta trên thế gian này mấy chục
năm ngắn ngủi, hình như nhìn thấy được hiện tượng
này, thật ra phải nói cái hiện tượng này đang chuyển
biến từng sát na, từng sát na, chẳng phải là không
biến đổi. Chúng ta bị tướng nối tiếp liên tục từng
sát na [làm cho] mê mất, cứ tưởng nó là thật, chẳng
biết cái tướng này là giả. ‘Phàm những gì có tướng
đều là hư vọng’, bị liên tục hư vọng mê mất, cứ
tưởng là thật. Thế nên ở trong đó lại khởi tâm động
niệm, tạo ra những thứ nghiệp thiện và bất thiện.
Nghiệp thiện và bất thiện có thể thay đổi hiện tượng
này. Phật nói “Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh”, sự
thay đổi này là chẳng hay chẳng biết đang [âm thầm]
thay đổi. Chẳng phải bạn nghĩ: “Tôi muốn biến một
con trâu”, tại sao bạn chẳng biến ra một con trâu
được? Đó là bạn đang khởi vọng tưởng.
Một niệm thiện của bạn đích thật ảnh hưởng đến núi
sông đại địa, y báo chuyển biến tùy theo chánh báo,
nói rõ thêm một chút bạn khởi một niệm thiện thì
dung mạo của bạn sẽ thiện, bạn khởi một niệm ác thì
dung mạo của bạn sẽ ác, tướng chuyển theo tâm. Không
những tướng chuyển theo tâm, mà thân thể, thể chất
cũng chuyển theo tâm. Phóng lớn ra đến núi sông đại
địa bên ngoài cũng chuyển biến theo tâm, ‘y báo
chuyển tùy theo chánh báo’, là đạo lý như vậy. Thế
nên chúng ta tạo hình tượng của Phật, Bồ Tát, đây là
một tăng thượng duyên cho tâm thiện, niệm thiện của
chúng ta; chúng ta nhìn thấy tượng Phật, tượng Bồ
Tát thì tâm thiện, niệm thiện sẽ khởi lên, công đức
lợi ích là ở chỗ đó.
‘Chiêm’ tức là ‘quán tượng niệm Phật’, pháp môn niệm
Phật có bốn cách niệm Phật. Nhìn tượng Phật, trong
tâm sanh khởi vị Phật này, vị Bồ Tát này, hành trạng
cả đời của ngài. Cho nên nhìn Địa Tạng Bồ Tát bèn
nghĩ đến đại nguyện của Bồ Tát đã phát trong nhiều
kiếp, chúng ta phải bắt chước. Nghĩ đến Bồ Tát trong
đời trước làm cô Bà La Môn, cô Quang Mục, nhìn thấy
bà con quyến thuộc của mình tạo những tội nghiệp đọa
vào ba đường ác, họ phát tâm như thế nào để cứu vớt
người thân. Quay lại suy nghĩ thân quyến họ hàng của
mình chẳng hiểu Phật pháp, cũng tạo rất nhiều tội
nghiệp, cũng đọa ba đường ác, chúng ta có phát tâm
cứu vớt họ hay không? Trong lúc chiêm lễ khởi tâm
phát nguyện, nếu chẳng nhìn thấy tượng Phật thì quên
mất chuyện này, do đó tượng Phật nên để chỗ mà giờ
phút nào cũng nhắc nhở mình.
Nếu bạn thật sự hiểu được đạo lý, hiểu được chân
tướng sự thật, chân tướng sự thật là gì? Hết thảy
chúng sanh đều là cha mẹ, gia quyến họ hàng đời quá
khứ. Chúng ta có đời quá khứ, quá khứ vô lượng kiếp,
cha mẹ, gia quyến họ hàng trong vô lượng kiếp không
biết là bao nhiêu, hiện nay rải khắp lục đạo, thập
pháp giới. Trong tứ thánh pháp giới, trong cõi trời
thì còn tốt, chẳng sao cả. Nếu ở khắp lục đạo, trong
ba đường ác, khổ chẳng nói nổi. Chúng ta có sanh
khởi cái tâm niệm muốn cứu độ họ hay không? Lời Phật
nói trong kinh là thật, là sự thật. Phàm phu chúng
ta chỉ nhận biết cha mẹ đời này, chẳng nhận ra cha
mẹ đời trước. Cho nên Phật nói hết thảy chúng sanh
là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai. Chúng ta nhìn
thấy hết thảy chúng sanh chịu khổ chịu nạn thì phải
coi họ như cha mẹ mình, thân quyến của mình đang
chịu khổ chịu nạn, thì tâm nguyện muốn cứu vớt họ sẽ
tự nhiên sanh khởi. Người mê nhìn thấy người ta chịu
khổ chịu nạn hình như chẳng ăn thua gì với mình, đó
là vì họ chẳng biết thật tướng của chư pháp. Bồ Tát
biết được, phàm phu chẳng biết, Địa Tạng Bồ Tát hiểu
rõ ràng. Thế nên nhìn thấy những người chịu khổ chịu
nạn thì cũng như chính mình đang chịu, tâm từ bi mới
có thể thật sự sanh khởi, nhất định chẳng thể ngồi
nhìn mà chẳng cứu, chẳng có đạo lý này.
Trong các buổi giảng chúng tôi cũng đã báo cáo cùng
chư vị, tâm nguyện chăm sóc, thương mến, cứu vớt
nhất định là có. Nhưng sự thật thì có những chỗ
chúng ta không đạt đến, tức là có chướng duyên,
chướng ngại. Ngày nay chúng ta nhìn thấy cả thế giới
có rất nhiều thiên tai, có chỗ bị nạn lụt, có chỗ bị
hạn hán, bị động đất, bị nước biển dâng trào; còn
thêm chiến tranh do con người gây ra, tàn sát, [quá
nhiều] thiên tai và nhân họa. Người bị giết rất đáng
thương, kẻ giết người cũng đáng thương. Giết người
tạo tội nghiệp cực nặng, tội nghiệp của họ tương lai
phải đọa tam ác đạo. Không những tương lai phải đọa
tam ác đạo, mà còn phải trả nợ mạng, chẳng phải giết
rồi thì hết chuyện. Đời này bạn giết họ, đời sau họ
làm người rồi giết bạn trở lại, nhiều đời nhiều kiếp
giết hại lẫn nhau, dây dưa chẳng dứt, bạn nói đáng
thương biết mấy, bi thảm biết mấy! Phật, Bồ Tát biết
rõ chân tướng sự thật này, đạo lý bên trong cũng chỉ
có Phật, Bồ Tát minh bạch.
Chúng ta học Phật, nghe xong lời răn dạy của Phật,
đọc qua lời giáo huấn của Phật nên chúng ta cũng dần
dần tỉnh ngộ trở lại, dần dần cũng hiểu rõ chân
tướng sự thật, bởi vậy cũng có thể giống như chư
Phật, Bồ Tát, xả mình vì người, phục vụ cho xã hội,
phục vụ nhân dân, phục vụ chúng sanh, thật sự làm
được đại công vô tư, tận tâm tận lực. Bi nguyện đại
từ bi, hành trì đại từ bi này được đắc lực bởi lời
răn dạy của Phật. Nhưng chúng ta là phàm phu, phiền
não tập khí quá nặng, thường quên mất lời dạy của
Phật, trong tâm vẫn còn thị phi nhân ngã, tham, sân,
si, mạn, bên ngoài có sự dụ dỗ của ngũ dục, lục
trần, tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ
nghỉ, sức mạnh này quá lớn nên từng giờ, từng phút
chúng ta quên mất những tâm thiện, nguyện thiện này.
Tùy thuận ác duyên lại khởi ác niệm, khởi tâm niệm
tham, sân, si, chạy theo dụ hoặc bên ngoài, lại tạo
tội nghiệp. Ai nhắc nhở chúng ta? Chỉ có thể nương
nhờ hình tượng của Phật, Bồ Tát.
Cho nên tại sao tổ sư đại đức khuyến khích người học
Phật, nhà người học Phật nhất định phải cúng dường
tượng Phật, mục đích cúng tượng Phật là gì? Đó là
nhắc nhở chính mình từng giờ, từng phút, dụng ý là ở
chỗ này. Chẳng phải xem tượng Phật như thần minh để
cúng lạy, cầu ngài ‘phò hộ’ cho mình thăng quan,
phát tài, như vậy là mê tín. Cúng Địa Tạng Bồ Tát,
từng giờ từng phút nhắc nhở bạn phải hiếu dưỡng cha
mẹ, phụng sự sư trưởng, luôn luôn răn nhắc bạn phải
cứu vớt hết thảy những chúng sanh khổ nạn, là có ý
như vậy. Thế nên cúng dường hình tượng ở nơi đó có
vô lượng công đức. Đây là [lợi ích của hình tượng]
đối với một người học Phật.
Lợi ích đối với một người chẳng học Phật cũng rất
lớn. Trong Phật pháp thường nói khi nghe danh hiệu
của Phật, Bồ Tát thì một khi lọt vào tai, vĩnh viễn
là hạt giống đạo. Bất luận là bạn có tâm hay không
tâm, có ý hay vô ý nghe đến danh hiệu Phật, Bồ Tát,
hạt giống kim cang đều được vun trồng trong A Lại Da
thức. Tai nghe có lợi ích như vậy, mắt thấy cũng có
lợi ích tương tợ. Mắt bạn nhìn thấy hình tượng Phật,
Bồ Tát, nhìn thấy sách ghi danh hiệu Phật, Bồ Tát,
một khi lọt vào mắt cũng vĩnh viễn thành đạo chủng.
Trong đời này chẳng được lợi ích ấy thì đời sau, hậu
thế gặp lại duyên, hạt giống ấy sẽ khơi dậy, sẽ dùng
được. Đối với người chẳng tin Phật pháp cũng có lợi
ích thù thắng.
Nếu bạn nói ngày nay toàn thế giới có ai không học
Phật? Tôi thấy mỗi người đều học Phật, tôi thấy rất
hoan hỷ. Tôi thấy gì? Cơ Đốc Giáo, Thiên Chúa Giáo
đều học Phật cả; Y Tư Lan Giáo (Islam), Do Thái Giáo
đều học Phật cả. Tại sao? Trong miệng của họ đều
biết đến Phật. Đặc biệt là ngày nay Thiên Chúa Giáo
dẫn đầu, hiện nay nghe nói mục sư Cơ Đốc Giáo cũng
đọc ‘Đại Tạng Kinh’, bạn nói thiện căn này trồng
xuống sâu dày biết mấy. Cho nên khi chúng tôi gặp
những tín đồ tôn giáo này, Mục Sư, A Hoanh
[5][5], tôi đều chắp tay xưng
họ là Bồ Tát thật, chẳng phải Bồ Tát giả. Một khi họ
nhìn thấy hình dáng của chúng ta thì tâm niệm nghĩ
đến Phật của họ sẽ sanh khởi. Thế nên chư vị phải
biết công đức người xuất gia rất lớn, dù phá giới
nhưng công đức [của hình tướng xuất gia ấy] cũng
chẳng lường được, bạn chẳng có cách gì so sánh. Hình
tướng này của bạn [là người tại gia] ra đường, tâm
niệm của Phật, Bồ Tát trong tâm người ta làm sao
khởi lên được? Chẳng khởi lên được. Thế nhưng chúng
tôi mặc chiếc áo này, cạo đầu trọc, khi đi đến đâu
đều làm cho chúng sanh trong tâm khởi lên ý niệm về
Phật, tâm niệm Bồ Tát, thế nên đi một vòng ở ngoài
đường thì có bao nhiêu người trồng được thiện căn?
Tại sao xưng người xuất gia là một trong Tam Bảo,
quý là ở chỗ này, ai có thể so sánh nổi? Hãy khoan
bàn về trì giới hay phá giới, chỉ riêng nói về việc
làm cho hết thảy chúng sanh khởi lên ý niệm của
Phật, Bồ Tát, thì công đức ấy chẳng thể nghĩ bàn.
Nếu bạn quả nhiên hiểu rõ đạo lý này, ở đây chú ý
‘thiện nam tử, thiện nữ nhân’. Tâm nguyện tạo hình
tượng Bồ Tát rộng lớn vô lượng vô biên, một hình
tượng này độ hết thảy chúng sanh. Họ tu được công
đức thù thắng như vậy ‘thị nhân bá phản sanh ư tam
thập tam thiên, vĩnh bất đọa ư ác đạo’ Sanh đến cõi
trời Ba Mươi Ba một trăm lần chẳng đọa ác đạo, lợi
ích này chẳng kể là lớn lắm, so sánh với công đức
của người ấy tu thì đương nhiên sẽ đạt được, chúng
ta còn hoài nghi gì nữa? Cho nên hiểu rõ Lý thì nhìn
Sự sẽ chẳng hoài nghi nữa. Phía trước có nói siêu
việt tội trong ba mươi kiếp, ở đây nói sanh lên trời
Ba Mươi Ba một trăm lần, trời Ba Mươi Ba là cõi trời
Đao Lợi, hưởng phước trời, chẳng đọa tam ác đạo, đây
là phước tạo hình tượng của Bồ Tát.
Phía sau nói họ còn phước dư, ‘Giả như thiên phước
tận cố’, nếu như phước trời hưởng hết, phước một
trăm lần hưởng hết, vẫn còn phước thừa. Phước thừa
‘hạ sanh nhân gian, do vi quốc vương, bất thất đại
lợi’, đến nhân gian vẫn hưởng nhân thiên phước báo,
thời xưa phước báo nhân thiên lớn nhất là làm vua.
Ngày nay một số người chẳng chịu tìm hiểu lý luận
trong ấy, mê vào dân chủ, mọi người tán thán dân
chủ, hiện nay trào lưu là như vậy, chúng ta phản đối
dân chủ thì làm sao được! Thật ra người có học vấn
chân chánh, khi so sánh kỹ chế độ vua chúa thời xưa
với dân chủ ngày nay, [sẽ thấy] chế độ vua chúa có
nhiều điểm tốt, lợi ích của dân chủ chẳng bằng chế
độ vua chúa. Nếu chư vị đọc lịch sử kỹ càng, quan
sát kỹ lưỡng, tuy quân chủ có tệ đoan, nhưng dân chủ
không có khuyết điểm hay sao? Mỗi thứ đều có lợi và
hại.
Bạn phải dùng đầu óc rất bình tĩnh để suy nghĩ, quan
sát, trên thế gian này muốn tìm một chế độ chỉ có
lợi chẳng có hại thì không thể tìm được. Chế độ càng
tốt, nhà Nho nói rất hay ‘Người còn thì triều chánh
còn, người mất thì triều chánh mất’, đều do người
tạo nên. Nhà Phật nói ‘Người có thể hoằng đạo, chẳng
phải đạo hoằng người’, Phật pháp đích thật là cứu
cánh viên mãn, nhưng hoằng dương Phật đạo cũng phải
nhờ con người. Nếu người này chẳng có đức hạnh, cái
đạo mà họ hoằng này cũng biến chất rồi. Bản chất của
đạo vốn chẳng có lỗi lầm, đến tay của họ thì biến
thành lỗi lầm. Những đạo lý này tuyệt đối không phải
người ta nói mình cũng nói, chúng ta nghe người ta
nói thì phải suy nghĩ cặn kẽ.
Vào thời cổ, tôi vô cùng hâm mộ chế độ thời cổ, điểm
này cũng chịu ảnh hưởng của Phương Đông Mỹ tiên
sinh. Phương tiên sinh khâm phục Châu Lễ nhất, trước
sau ông đã nói cho tôi nghe mười mấy lần, ông nói
‘Châu Lễ’ là hiến pháp tốt nhất từ xưa đến nay,
trong nước và ngoài nước, Châu Lễ là do Châu Công
đính soạn. Nếu con cháu đời sau của nhà Châu vẫn y
theo pháp này mà làm thì sẽ chẳng mất nước, chế độ
này quá hoàn mỹ. Mục đích thầy Phương nói những lời
này là hy vọng tôi đọc bộ sách này, nhưng tôi lật
sách xong, lật mấy trang rồi không đọc nữa. Trong
Tam Lễ, tôi chỉ đọc ‘Lễ Ký’, còn Châu Lễ và Nghi Lễ
tôi chưa đọc. Vì sau này học Phật, chẳng còn hứng
thú đối với chính trị nữa. Những gì nói trong Lễ Ký,
có rất nhiều việc liên quan đến giới luật của chúng
ta, đây là việc đáng tham khảo.
Đến năm đầu Dân Quốc, ông Tôn Trung Sơn nghĩ ra một
cách cũng rất tốt, nhưng đáng tiếc là chẳng có người
tiếp tục hoằng dương phát triển thêm, điều này rất
đáng tiếc. Ông Tôn đọc sách nhiều, đích thật là học
rộng nghe nhiều, đối với Quốc Học Trung Quốc ông có
trình độ rất sâu, tri thức Tây Phương tương đối
phong phú, nên ông nghĩ ra phương pháp này, chọn ra
ưu điểm của quân chủ và dân chủ, gạt bớt khuyết điểm
cả hai, đó là một lý tưởng như vậy. Phát minh ra Tam
Dân chủ nghĩa
[6][6], hiến pháp Ngũ Quyền,
một đảng chuyên chánh. Trong tâm ông chẳng phải
chính trị đa đảng, là chuyên chánh một đảng. Một
đảng này từ đâu tới? Thay thế cho một gia tộc của
vua chúa thời xưa. Thời xưa vua chúa thống trị quốc
gia là một gia tộc thống trị. Ngày nay chúng ta dùng
một đảng, tập trung những người có trí huệ, có tài
năng trên toàn quốc vào một chỗ, cùng nhau thống trị
quốc gia, một đảng chuyên chánh. Đây là có ưu điểm
của quân chủ, gạn lọc ra ưu điểm của quân chủ. Cách
nghĩ của ông ta rất tốt, đáng tiếc là sau khi ông
mất đi, có ai hiểu được Tam Dân Chủ Nghĩa? Tôi
thường than tiếc cho ông. Nguyên nhân căn bản nói
thật ra là cả đời ông bôn ba khổ nhọc, sau khi lật
đổ Mãn Thanh được mấy năm thì ông mất, thọ mạng quá
ngắn. Nếu ông có thể sống thêm hai chục năm, sức ảnh
hưởng ấy sẽ rất lớn.
Vả nữa nguyên nhân quan trọng cũng ở tại Giáo Dục,
khi cổ thánh tiền hiền Trung Quốc xây dựng một chánh
quyền có thể kéo dài mấy trăm năm, nhân tố thành
công của họ ở đâu? Ở tại giáo dục. Chánh quyền triều
Hán do Hán Cao Tổ thành lập, nhưng đến đời thứ hai
là Hán Võ Đế thì lập nên chánh sách giáo dục của
quốc gia. Sau khi chánh sách giáo dục được xây dựng,
trong hai ngàn năm Trung Quốc thay triều đổi vua,
chánh quyền thay đổi nhưng tông chỉ giáo dục chẳng
thay đổi, đây là điểm rất tuyệt diệu! Sau khi [chánh
sách giáo dục được] Hán Võ Đế đặt ra mãi cho đến đời
Mãn Thanh cũng chẳng thay đổi, đây cũng là việc rất
khó nghĩ bàn. Chư vị thử nghĩ xem nếu tông chỉ giáo
dục này không tốt lắm thì tại sao vua chúa các đời
sau không thay đổi? Giáo dục này chính là giáo dục
luân lý đạo đức, đề cao Khổng Mạnh, lấy tư tưởng của
Khổng Mạnh làm chủ lưu, phối hợp thêm Bá Gia Chư Tử
[7][7], dùng nhà Nho làm chủ.
Thế nên giáo dục này dạy những gì? Dạy luân thường.
Nói cách khác dạy bạn hiểu được quan hệ giữa người
và người, giữa lãnh đạo và thuộc cấp tức là quan hệ
quân thần, quan hệ bạn bè, được vậy bạn mới làm một
người hoàn mỹ, mới biết cách làm người. Sau đó mới
dạy bạn quan hệ giữa người và hết thảy vạn vật, dùng
cách nói hiện nay bạn mới biết tôn trọng sanh thái
tự nhiên, bảo vệ sanh thái tự nhiên, làm cho hoàn
cảnh sinh sống của chúng ta càng thêm tốt đẹp. Cuối
cùng dạy bạn quan hệ giữa người và thiên địa quỷ
thần. Đây là tông chỉ, phương châm giáo dục của
Trung Quốc suốt hai ngàn năm qua, thế nên giữa người
với người có cảm tình sâu đậm, có đạo nghĩa.
Nếu ngày nay không nói đến giáo dục này, buông bỏ
mất, lấy chủ nghĩa công lợi của tây phương, việc này
làm sao được! Thiên hạ sẽ đại loạn, chẳng thể có hòa
bình, yên ổn, tại sao? Ai nấy đều tranh lợi, như vậy
thì làm sao được? Tranh danh đoạt lợi, chẳng tiếc
bất cứ thủ đoạn gì, thế gian này còn ngày tháng thái
bình nữa sao? Ngày nay tây phương đã cảm nhận xung
kích rất lớn, gặp khó khăn rất lớn. Hiện nay họ đang
suy nghĩ, nghiên cứu [học vấn] của Trung Quốc. Hầu
như mỗi đại học ở Mỹ đều có trung tâm Hán Học, họ
hết lòng nghiên cứu học vấn truyền thống Trung Quốc
cổ xưa, nghiên cứu học vấn của Ấn Độ cổ xưa, hy vọng
tìm được trong ấy một số lý luận, nguyên tắc có thể
cứu vãn xã hội hiện nay. Hiện nay nếu bạn đối với
những vấn đề này hiểu sơ lược một chút, bạn đến
những đại học ở ngoại quốc để diễn giảng thì sẽ được
hoan nghinh. Tôi biết được rất thô thiển, một chút
ngoài da, nhưng tôi ở những trường học ngoại quốc
này nói sơ sơ cũng được hoan nghinh phi thường. Họ
nghe nói, [cảm thấy] rất hiếm có, kỳ lạ, chưa từng
nghe qua, Trung Quốc có đồ tốt như vậy, tiếc rằng
chẳng có người giới thiệu.
Đoạn kinh văn này, trong chú giải Thanh Liên pháp sư
chỉ cho chúng ta các tư liệu tham khảo rất quan
trọng, trong ấy quan trọng nhất là nặn tạo tượng
Phật phải dùng tâm cung kính, phải dùng tịnh tài,
tịnh vật tiêu biểu cho lòng kiền thành, cung kính,
thì mới khởi lên cảm ứng, đạo giao. Bạn xem người
thời xưa tô vẽ, chứ người hiện nay rất hiếm [ai làm
như vậy] rồi, trước khi vẽ một tượng Phật, nhất định
phải tịnh thân
[8][8], rửa tay, rửa sạch sẽ,
mặc y phục sạch sẽ, có khả năng thì nhất định thay
quần áo mới, không có khả năng thì quần áo nhất định
phải giặt sạch sẽ, tiêu biểu cung kính. Giấy và mực
nhất định chẳng dùng cho việc khác. Bút vẽ tượng
Phật thì dành riêng để vẽ tượng Phật, tuyệt chẳng
dùng để viết chuyện khác, chuyên dùng cũng là tượng
trưng cho lòng cung kính. Những tài vật cần thiết
đều là tịnh tài, là tiền của mình đáng có được,
tuyệt chẳng dùng tiền tài chẳng tịnh. Bất tịnh là
những gì tôi chẳng nên có [mà có], chẳng phải tiền
của tôi, tôi dùng thủ đoạn để gạt lấy, hoặc uy hiếp,
ép buộc người ta chẳng thể không tặng cho, tiền tài
như vậy gọi là bất tịnh tài. Phải dùng tâm thanh
tịnh, vật thanh tịnh để tạo tượng.
Chư vị hiện nay có cuốn này, ở trang 32 trong cuốn
chú giải, đếm ngược hàng thứ hai, câu sau chót, tôi
đọc cho quý vị nghe: “Lại không cho tạo tượng nửa
người, thiện tướng chẳng khởi, đọa lạc sanh tử”
[9][9], hy vọng mọi người phải
chú trọng câu này. Hiện nay có nhiều địa phương cúng
tượng Phật, Bồ Tát chỉ có nửa người, có chỗ cúng
tượng Phật, Bổ Tát chỉ có cái đầu, cúng như vậy tạo
tội nghiệp, quả báo này nhất định ở tại địa ngục.
Cúng tượng Phật nửa người thì tội nghiệp đã chẳng
nhẹ, đọa lạc sanh tử chẳng có công đức. Thế nên vẽ
hình tượng Bồ Tát phải vẽ cho hoàn chỉnh, phải vẽ
tượng toàn thân (cả người), không thể vẽ tượng nửa
người, bất luận là tượng ngồi, hoặc đứng đều phải vẽ
toàn thân, phải chú ý điểm này! Chúng ta tạo tượng
người ta có thể tạo tượng nửa người, không thành vấn
đề, còn tượng Phật, Bồ Tát thì tuyệt đối không thể.
Tượng người có thể tạo nửa người, bạn nói có ai tạo
tượng chỉ tạo cái đầu còn ngoài ra không có gì khác.
Trong phong tục tập quán của chúng ta, đây là điều
không cát tường, đầu bị người ta chém đứt rồi, sao
lại làm như vậy? Không thể như vậy được. Ở đây ngài
có viết một câu như vậy, đặc biệt nhắc nhở chư vị
đồng tu.
Trong chú giải ngài dùng một đoạn trong Kinh Tạo
Tượng Công Đức, trang 33 hàng thứ hai, câu cuối
cùng: “Kinh Tạo Tượng Công Đức nói: “Nếu ai lúc lâm
chung, thốt lên lời nói [bảo người khác] tạo tượng,
thậm chí [tượng được tạo] chỉ nhỏ như hạt lúa mạch,
đây là đại mạch, tức là nói tạo tượng, tượng rất
nhỏ, nhỏ như hạt lúa đại mạch, rất nhỏ. “có thể trừ
tội trong mười ức kiếp sanh tử suốt ba đời, có mười
một công đức”. Tạo tượng nhỏ như hạt lúa cũng có
công đức to lớn như vậy, huống chi là tạo tượng
Phật, Bồ Tát lớn? Chúng ta phải hiểu đạo lý này. Có
lẽ ngày nay có một số người đọc thấy lời này nên
tranh nhau tạo tượng Phật lớn, tạo tượng Bồ Tát lớn,
họ tạo tượng như vậy có thể có công đức lớn như vậy
không? Như đoạn trước có nói, nếu là bất tịnh tài
thì sẽ chẳng có công đức này. Thế nên tạo tượng nhất
định phải cân nhắc khả năng của mình, miễn cưỡng
tích tụ rất nhiều tiền tài bất tịnh thì tượng này
tạo không đúng như pháp.
Do đó tạo tượng thì mọi người đều có thể tạo, công
đức có được lại không giống nhau. Là cái gì không
giống? Nơi phát tâm tạo tượng của bạn, chỗ khởi tâm,
tại sao khởi tâm niệm muốn tạo tượng này, động cơ
của bạn ở đâu. Nếu tượng này đích thật sẽ làm cho
mọi người trồng thiện căn, khởi phát tâm Hiếu của
mọi người thì công đức này rất lớn. Nếu động cơ là
vì muốn trang nghiêm đạo tràng của mình, tỏ rõ đạo
tràng này thù thắng hơn nơi khác, trong ấy có tâm
cao thấp, nhà Phật gọi là tâm cao hạ, giống như
tranh đua vậy, tâm như vậy không tốt, tâm đó là tâm
háo thắng. Tâm háo thắng tuy có công đức rất lớn,
tương lai sẽ sanh vào cõi nào? Cõi A Tu La, đường Tu
La, kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta phước báo lớn nhất
là A Tu La ở cõi Trời, kế đó là A Tu La cõi người,
kế đó là A Tu La cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, bốn cõi
này đều có A Tu La, chỉ có địa ngục là chẳng có A Tu
La. Do đó A Tu La đọa vào cõi nào thì dùng cõi đó để
xưng tên. Trong kinh Phật thường gọi là năm cõi (ngũ
thú), năm cõi chẳng kể A Tu La, A Tu La ở cõi nào
thì tính là cõi đó. Nói sáu cõi thì chỉ A Tu La
[riêng rẽ]. Có thể thấy trong kinh Phật thường nói
‘Nhân địa chẳng thật sẽ chiêu cảm được quả cong
quẹo’
[10][10], sơ phát tâm của chúng
ta là gì? Vì sao lại làm như vậy? Cho nên chân chánh
tạo tượng là vì phát triển hoằng dương Phật pháp,
đem lợi ích cho chúng sanh, công đức ấy sẽ lớn.
Phía sau ngài nói mười một thứ công đức đều liệt kê
ra trong đó, mỗi công đức đều có nghiệp nhân của nó,
đều có nhân duyên, nhất định phải tương ứng với nhân
duyên, duyên tương ứng, có nhân ắt có duyên, sau đó
mới có quả báo.
Thứ nhất là ‘Thế thế nhãn mục thanh khiết’ (Đời đời
mắt trong sạch), tại sao mắt trong sạch? Thường
thường nhìn hình tượng Phật, Bồ Tát nên có được quả
báo này. Cho nên khi chúng ta hiểu được đạo lý này
xong, trong nhà của các cư sĩ, quý vị sắp đặt phòng
khách của quý vị, đừng treo đồ vật tùm lum, chẳng có
ý nghĩa gì hết; cũng đừng treo những bức họa viết
chữ của các người nổi danh, đều nhiễu loạn tâm tình.
Nên treo gì? Treo hình tượng Phật, Bồ Tát. Bốn phía
trong phòng khách đều có thể treo, bất luận ngồi ở
đâu bạn cũng có thể thấy tượng Phật, nhất tâm niệm
Phật. Nếu chuyên tu Tịnh Độ, nói thật ra, chọn ra
một tượng Phật, bốn phía đều treo tượng giống nhau.
Giống như Niệm Phật Đường trong Cư Sĩ Lâm hiện nay
của chúng ta, toàn bộ đều treo tượng A Di Đà Phật,
hình như đã treo hơn một trăm tấm, một trăm, hai
trăm tấm bạn đều nhìn thấy. Bất luận đầu bạn xoay về
hướng nào thì cũng đối diện A Di Đà Phật, ở nơi ấy
tu hành, mắt nhất định đời đời thông minh, được quả
báo mắt được thanh khiết, quý vị nghĩ coi phải là
đạo lý này hay không?
Thứ hai ‘Sanh xứ vô ác’ (Nơi sanh chẳng có việc ác),
sự việc trong đời này đều do nhân ta tạo đời trước,
chúng ta thọ nhận quả báo, nhân đời này chúng ta tu
rất thù thắng, thì đời sau, đời sau nữa nhất định
sanh đến hoàn cảnh rất tốt, chẳng thấy những hình
tượng ác, cũng chẳng nghe âm thanh ác, đây là phước
báo.
Thứ ba ‘Thường sanh quý gia’ (Thường sanh vào nhà
tôn quý) Quý là tôn quý, nhà tôn quý không nhất định
là phú quý, chẳng nhất định là giàu có, có đức hạnh
là tôn quý. Bạn sanh đến nhà này, người cha người
mẹ, tổ tiên đều tích đức, háo thiện tích đức, bạn
sanh vào nhà như vậy. Đây là gì? Cảm ứng đạo giao,
tâm hạnh mình thiện thì nhất định là thiện cùng
thiện cảm ứng. Tuy đức Phật trong kinh nói cha mẹ
cùng con cái có bốn thứ duyên: ‘báo ân, báo oán, đòi
nợ, trả nợ’, đây là một nguyên tắc. Trong đời quá
khứ duyên đã kết quá nhiều quá nhiều, nói cách khác,
duyên có thể làm cha mẹ, làm con cái rất nhiều, rốt
cuộc chọn duyên nào để làm cha mẹ? [Việc này] liên
quan đến tập tánh thiện ác. Nếu thường thường ngắm
nhìn tượng Phật, thường thường xưng danh hiệu Phật,
duyên người ấy lựa chọn nhất định sẽ là thiện duyên.
Thứ tư ‘Thân như tử ma kim sắc’ (Thân có màu vàng
tía), đây là hình dung thân tướng đẹp, lục căn đầy
đủ, chẳng khuyết, thân tướng tốt.
Thứ năm ‘Phong nhiêu trân ngoạn’ (Nhiều vật đồ chơi
quý báu) đây là nói phú quý, sanh hoạt của bạn giàu
có, đầy đủ. Nếu đời sống chẳng giàu có thì không thể
có những đồ chơi quý báu này. Trong các thứ đồ quý
này, phạm vi được nói đến cũng rất rộng. Nhà háo
thiện háo đức tuyệt chẳng sưu tập những thứ người
thường xem, những thứ trân kỳ, hiếm có, những đồ quý
này. Nhà người có đức hạnh, có học vấn sưu tập điển
tịch, họ hưởng thọ những thứ này. Như hiện nay thì
rất thuận tiện dễ dàng, hiện nay kỹ thuật ấn loát
tiện lợi, thời xưa có nhà nào có thể có một bộ Đại
Tạng Kinh? Không thể nào. Kinh điển thời xưa, đầu
thời Dân Quốc vẫn còn ấn loát bằng cách khắc ván, ấn
loát chẳng dùng mực dầu mà dùng muội tùng
[11][11], có lẽ quý vị chưa
từng thấy qua, muội của trái tùng. Hiện nay Kim Lăng
Khắc Kinh Xứ đã dùng mực dầu, chẳng dùng muội cây
tùng. Thời xưa những cuốn sách ấy, dùng tay sờ thì
tay dính chất đen giống như bột vậy, dùng muội cây
tùng chà lên [bản khắc ván] rồi ép lên giấy, in một
cuốn như cuốn kinh Địa Tạng này, sợ rằng mỗi người
phải tốn thời gian cả một ngày vì phải in từng trang
một. Sau đó đóng thành sách, cắt cho ngay ngắn, thật
chẳng dễ, do đó giá thành của sách sẽ rất cao, chẳng
phải là người giàu có thì chẳng mua nổi, số lượng
lại rất ít. Hiện nay thuận tiện rồi, là chụp hình
làm bản [kẽm để in] có thể ấn loát, lưu thông số
nhiều.
Năm đầu Dân Quốc, lúc đó tôi biết ở quê tôi, tỉnh An
Huy này, nghe nói hình như chỉ có hai bộ Đại Tạng
Kinh, và một bộ chẳng đầy đủ. Hai bộ đầy đủ, một bộ
thiếu, thật chẳng dễ. Những người thường muốn đọc
kinh phải vô chùa, vào lầu chứa kinh mượn đọc, không
thể mượn ra khỏi chùa, chỉ đọc tại lầu chứa kinh.
Lầu chứa kinh giống như thư viện vậy, muốn đem về
nhà đọc bạn phải tự chép tay, chép xong rồi trả lại,
tạng kinh này không được ra khỏi cửa. Hiện nay kỹ
thuật ấn loát phát đạt, chữ thâu nhỏ nên một bộ Đại
Tạng Kinh, như Long Tạng (Đại Tạng Kinh in thời vua
Càn Long), hiện nay chúng ta in thành 160 cuốn, giá
rất thấp, trong nhà có thể thỉnh một bộ, đây là trân
bảo! ‘Tứ Khố Toàn Thư’ thì quá lớn, nhưng Tứ Khố Tập
Yếu rất tiện lợi, thời xưa chỉ có nhà vua mới có thể
cất giữ, hưởng thọ, hiện nay dân gian chúng ta cũng
có thể. Đài Loan in lại bộ Tứ Khố Tập Yếu, một bộ
giá năm mươi vạn đồng Đài Loan, giá tương đối rẻ, số
lượng gồm có 500 cuốn sách bìa cứng đẹp, tương đương
với hai, ba bộ Đại Tạng Kinh, đây là trân bảo! Đây
là sách đáng để cất giữ, tự mình có thể thọ dụng, có
thể dạy đời sau. Thế nên ‘phong nhiêu trân ngoạn’
chẳng phải một số đồ cổ bằng ngọc, những thứ ấy
chẳng có lợi ích thật sự gì cả. Thật sự có lợi ích
là những kinh sách kể trên, là những lời dạy của cổ
thánh tiền hiền.
Thứ sáu: ‘Sanh hiền thiện gia’ (sanh vào nhà lành,
hiền). Phía trước nói thường sanh quý gia, chú trọng
ở chữ ‘thường’, quả báo này chẳng phải chỉ một đời,
công đức lợi ích được kéo dài nhiều đời, như phía
trước nói sanh một trăm lần lên trời Đao Lợi. [Công
đức] thứ sáu ‘sanh hiền thiện gia’ khác với phía
trước là, phước báo đương nhiên từng đời thua kém
đời trước một chút. Nếu mỗi đời họ đều chịu tu thì
phước báo sẽ vĩnh viễn kéo dài không dứt, nhất định
phải nhờ vào tu đức, sanh hiền thiện gia.
Thứ bảy ‘Sanh đắc vi vương’ (sanh được làm vua) đây
là hưởng thọ phú quý nhân gian.
Thứ tám ‘Tác Kim Luân Vương’ (Làm Vua Kim Luân)
Thứ chín ‘Sanh Phạm thiên’, tầng lớp này càng ngày
càng cao, hoàn toàn coi bạn tu phước lớn hay nhỏ, tu
phước lớn nhỏ chẳng ở chỗ tạo tượng lớn hay nhỏ,
phải hiểu đạo lý này. [Lớn nhỏ] ở nơi tâm tu phước
của bạn lớn hay nhỏ, tâm lượng bạn lớn, tạo tượng
nhỏ thì công đức cũng lớn; tâm lượng nhỏ, tạo tượng
lớn thì phước cũng nhỏ. Do đó lớn nhỏ chẳng dựa trên
tượng lớn hay nhỏ, mà ở tại tâm lớn hay nhỏ, ở tại
tâm địa nhiễm hay tịnh, nhất định phải hiểu đạo lý
này. Phật pháp thật sự là pháp bình đẳng, nếu nói
tôi tạo tượng lớn thì phước sẽ lớn, tượng nhỏ thì
phước nhỏ, vậy thì chỉ có người có tiền, có thế lực
mới tu được phước lớn, người nghèo chẳng thể tu
phước báo, như vậy thì chẳng bình đẳng. Trong Phật
pháp [tất cả] đều bình đẳng, có khi người nghèo tu
phước còn vượt trội phước của người giàu tu gấp
nhiều lần, [lớn nhỏ] là ở tại tâm thanh tịnh, phải
hiểu đạo lý này.
Thứ mười ‘Bất đọa ác đạo’
Thứ mười một ‘Hậu sanh hoàn năng kính trọng Tam Bảo’
(Đời sau còn có thể kính trọng Tam Bảo) điều này rất
quan trọng! Mười điều trước đều nói về quả báo, điều
này là nhân. Đây là việc Phật pháp nói quả sẽ chẳng
bỏ sót nhân, nói nhân thì nhất định sẽ nói đến quả
báo, cách nói như vậy mới viên mãn. Đời sau vẫn còn
kính trọng Tam Bảo, có thể thấy phước đức này của họ
có thể kéo dài, chẳng phải một đời liền hưởng hết.
Hiện nay chúng ta quan sát những người có phước báo
trong thế gian này, bạn quan sát cặn kẽ, phước báo
của họ hầu như rất mau hết, thọ mạng đời này còn
chưa hết thì phước báo của họ đã hết rồi. Ở nước
ngoài chúng ta thấy rất nhiều công ty sụp đổ, phá
sản, tuổi họ cũng chẳng lớn lắm, đó là lúc hưởng
phước chẳng biết tu phước. Người thế gian thật sự
rất ít kẻ có thể kéo dài phước báo tới hai đời, ba
đời. Hiện tại là một đời bản thân chính mình có thể
hưởng phước một đời, người như vậy đã là rất ít rồi.
Thường thường là thời gian hưởng phước rất ngắn, lúc
hưởng phước chẳng biết tu phước, lúc hưởng phước
chẳng biết làm lợi ích cho xã hội chúng sanh, cho
nên thời gian họ hưởng phước rất ngắn ngủi. Điều này
rất quan trọng, lúc hưởng phước nhất định phải biết
tu phước, phải biết phước này từ đâu tới. Trong kinh
đức Phật nói, có thể nói hoàn toàn là cảnh giới của
phàm phu.
Tiền tài, có một ai không mong cầu tiền tài? Trong
tâm cầu tiền tài, tham tiền tài, như vậy là sai,
chẳng biết tiền tài có được là do bố thí tài vật.
Chân chánh hiểu rõ đạo lý này, có tiền tài thì dốc
toàn tâm toàn lực để bố thí, bố thí một cách vô điều
kiện, thật sự chẳng phải cân nhắc hiệu quả của sự bố
thí, chẳng cần suy nghĩ về việc này. Tôi bố thí là
việc tốt, cứu giúp người ta, đương nhiên chúng ta
chẳng phải trực tiếp đi cứu giúp, nhất định là có
một số người giúp đỡ, chúng ta giao cho người ta làm
việc này. Nếu người ta đem tiền này đi làm việc
khác, hoặc lấy đi hưởng thụ, thì đó là nhân quả của
họ, chẳng liên quan gì với mình. Tâm tôi phát là
thuần chánh, phước tôi được sẽ viên mãn. Nếu bạn còn
cân nhắc, sợ tiền cứu trợ bị người ta lấy mất, chẳng
dám làm, nói cách khác duyên để bạn tu phước đã bị
đoạn dứt, trở thành người chẳng có phước. Trong tâm
cứ thường lo âu, cứ nghĩ đến những chuyện được,
chuyện mất, tương lai cảm quả báo ngu si, chẳng có
trí huệ.
Cho nên chúng ta dùng tâm chân thành, tâm thanh
tịnh, tâm từ bi để tu phước, đương nhiên chúng ta
cũng phải xem xét người mình nhờ đi làm chuyện phước
thiện này, nếu không lựa chọn, không xem xét thì
mình không có tội, nhưng có lỗi lầm. Nếu người mình
nhờ [làm phước này] đáng tin cậy, rất ổn thỏa thì
phước báo sẽ viên mãn; nếu người mình nhờ chẳng đáng
tin cậy, bạn vẫn có phước báo, nhưng phước này không
viên mãn, chẳng phải là không có phước báo. Nhân quả
trong ấy rất phức tạp, chẳng dễ giảng cho rõ được,
chư vị phải học nhiều, đọc kinh điển nhiều, suy nghĩ
thêm, dần dần bạn sẽ khai ngộ, bạn sẽ hiểu được,
biết mình nên làm thế nào để tu phước. Làm cho mình
đời nào kiếp nào cũng thật sự được hạnh phúc mỹ mãn,
đời sống vật chất chẳng thiếu thốn, không thiếu tức
là có phước báo, không cần nhiều quá; thông minh trí
huệ, khoẻ mạnh sống lâu, đời sau có thể có hoàn cảnh
sinh sống tốt hơn. Tây phương Cực Lạc thế giới thật
sự là hoàn cảnh sinh hoạt rốt ráo viên mãn. Chúng ta
hiểu rồi, biết rồi thì trong đời này nhất định phải
dốc hết tâm, hết sức để làm việc này cho bằng được.
[Ngoài việc] cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới
ra, những việc khác đều có thể buông bỏ, trong đời
này chúng ta tu học, nhân duyên quả báo mới có thể
đạt đến viên mãn.
Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.
Tập 20 (Số 14-12-20)
Xin mở kinh, quyển trung, trang 33, xem kinh văn bắt
đầu từ hàng cuối:
Nhược hữu nữ nhân yếm nữ nhân thân, tận tâm cúng
dường Địa Tạng Bồ Tát họa tượng, cập thổ thạch giao
tất đồng thiết đẳng tượng. Như thị nhật nhật bất
thoái thường dĩ hoa hương, ẩm thực, y phục, tăng
thải, tràng phan, tiền bảo vật đẳng cúng dường.
Nếu có người nữ nào nhàm chán thân người nữ, hết
lòng cúng dường tượng vẽ của Địa Tạng Bồ Tát, cùng
những tượng bằng đất, đá, keo, sơn, đồng, sắt,
v.v.., ngày ngày như thế không thoái chuyển; lại
thường đem hoa, hương, đồ ăn, thức uống, quần áo,
gấm lụa, tràng phan, tiền bạc, báu vật, v.v.. cúng
dường.
Chúng ta đọc tiếp cũng được.
Thị thiện nữ nhân tận thử nhất báo nữ thân bá thiên
vạn kiếp cánh bất sanh hữu nữ nhân thế giới, hà
huống phục thọ.
Thì người thiện nữ đó sau khi mãn một báo thân nữ
hiện tại, trải qua trăm ngàn muôn kiếp còn không
sanh vào thế giới có người nữ, huống chi là thọ lại
[nữ thân].
Đoạn này nói về việc chuyển thân nữ. Việc này xã hội
hiện nay khác với xã hội thời xưa, xã hội cổ xưa ở
Trung Quốc, ở Ấn Độ, có thể ở những nước khác cũng
giống như vậy, địa vị của phụ nữ trong xã hội tương
đối thấp, đó gọi là nam nữ chẳng bình đẳng. Xã hội
hiện nay khác với lúc trước. Thời quá khứ, trong
kinh đức Phật nói thân người nữ có nhiều chướng
ngại, phiền não nhiều hơn người nam, tình chấp nặng,
thế nên đức Phật trong kinh Ngọc Da Nữ
[12][12] nói người nữ có mười
việc thường âu lo. Thứ nhất là lúc sanh ra, cha mẹ
chẳng hoan hỷ, người mẹ sanh con trai thì rất vui,
lúc sanh con gái thì tâm hoan hỷ giảm bớt rất nhiều.
Thứ hai, đây là nói trong xã hội thời xưa, cha mẹ
chăm sóc dạy dỗ con gái rất nghiêm khắc
[13][13],
dù đã trưởng thành cũng không thể gặp mặt khách [đàn
ông] bên ngoài, [tức là] khách không phải là họ hàng
thân thuộc, cô ta phải phân biệt người trong họ và
người ngoài, đây là [việc] thường tránh gặp người
ngoài. Kế đến
là lúc lấy chồng, cha mẹ lại lo lắng thêm, phải rời
khỏi nhà cha mẹ, thân thuộc, trong Phật pháp gọi là
‘ái biệt ly khổ’. Gả đi lấy chồng hoàn toàn phải coi
người chồng, coi sắc mặt của người ta, có rất nhiều
chướng ngại, khó khăn. Lúc còn nhỏ thì bị cha mẹ
quản thúc, gả đi rồi thì bị chồng quản thúc, đến già
thì bị con cháu quản thúc, rất nhiều khổ sở, thế nên
người ta không thích làm người nữ. Quan niệm hiện
nay khác với thời xưa, chúng ta biết rõ những việc
này. Nhưng trong đây có một việc quan trọng, là nói
cho chúng ta biết nghiệp lực có thể thay đổi, chúng
ta phải hiểu đạo lý này. Ngay cả thân hình cũng có
thể chuyển biến, huống chi là dung mạo, thể chất,
thân thể đương nhiên càng dễ đạt được, phải hiểu đạo
lý này. Trong ấy chỉ là một nguyên lý: cảnh chuyển
theo tâm, tâm có thể chuyển cảnh, chúng ta hiểu được
đạo lý này thì rất tốt.
Còn phương pháp chuyển biến, chỗ này nói : ‘Nhược
hữu nữ nhân yếm nữ nhân thân (nếu có người nữ chán
ghét thân nữ), trong đoạn sau có nói: ‘thị thiện nữ
nhân’, do đó có thể biết người nữ nói phía trước
phải là ‘người nữ thiện’, [đoạn trước] đã lược bớt
một chữ [thiện]. Chữ này quan trọng phi thường!
Chúng ta coi đoạn sau sẽ biết đoạn này, người nữ này
phải là người thiện. Người nữ thiện nhất định phải
phụng hành Tam Phước nói trong Quán Kinh, nhất định
phải ghi nhớ điểm này. Kinh này là kinh Đại Thừa, có
thể làm trọn hết mười một điều trong Tam Phước, làm
được đến mức độ nào thì hãy khoan nói. Chỉ cần bạn
làm được một phần, hai phần cũng được xưng là người
nữ thiện, không làm thì không được, nhất định phải
làm. Người ấy có cơ sở này, sau đó y theo phương
pháp và lý luận này để tu học thì sẽ được quả báo.
‘Tận tâm’, chữ này là mấu chốt trong phương pháp tu
hành, nhất định phải tận tâm. Tận tâm tức là dùng
tâm thành kính cùng cực, chân thật cùng cực để tu
cúng dường, cúng dường hình tượng của Địa Tạng Bồ
Tát. Chữ hình tượng này là hình vẽ cũng được, hình
tượng nặn đắp cũng được, đúc bằng vàng, bạc, đồng,
sắt cũng được. Ở đây nói chỉ cần cúng dường hình
tượng Địa Tạng Bồ Tát, kinh văn phía sau cũng là ý
này. Cúng dường là ‘ngày ngày chẳng thoái’, có thể
thấy đây là tâm [vững bền] lâu dài.
Nêu lên các thứ cúng cụ (vật dùng để cúng), dùng hoa
cúng dường, dùng hương cúng dường, dùng thức ăn,
thức uống, quần áo, gấm lụa, tràng phan, và tiền
tài, báu vật, v.v.. để cúng dường, đây là nói về vật
cúng dường. Vật cúng dường nhiều hay ít, sang hay
hèn là tùy theo khả năng của mình, tuyệt đối chẳng
miễn cưỡng. Trong các cúng cụ này [chúng ta] phải
hiểu ý nghĩa tiêu biểu pháp của nó, phải đặc biệt
ghi nhớ điểm này. Nếu không biết ý nghĩa tiêu biểu
pháp, chỉ dùng hình thức để cúng dường thì được lợi
ích rất nhỏ, chuyển nghiệp lực chẳng nổi, nhất định
phải hiểu ý nghĩa tiêu biểu pháp. Nói cách khác,
hình tượng của Phật, Bồ Tát và hết thảy cúng cụ đều
nhằm từng giờ từng phút nhắc mình, đề cao cảnh giác,
bạn không ngừng nâng cao đức hạnh, bạn sẽ được tự
tại. Tự tại giống như Phật, Bồ Tát vậy, nên dùng
thân gì để được độ thì ngài hiện thân ấy. Nói cách
khác, chuyển nghiệp lực của mình thành nguyện lực, ý
nghĩa quan trọng nhất trong đoạn kinh văn này là ở
đây. Nguyện lực thọ thân sẽ tự tại, còn nghiệp lực
thọ thân sẽ chẳng tự tại, cho nên phương pháp này là
dạy chúng ta chuyển nghiệp lực thành nguyện lực.
Cúng ‘Hoa’, chúng ta nhìn thấy Hoa thì tưởng đến
phải tu nhân, nhân hoa của lục độ vạn hạnh. Đặc biệt
là trong kinh Hoa Nghiêm hiển thị, kinh điển nói với
chúng ta, trong kinh Hoa Nghiêm có nói bất cứ người
nào, bất luận sống cuộc sống như thế nào, thân phận
gì, làm nghề gì đều chẳng có trở ngại, đều có thể tu
Bồ Tát hạnh. Bồ Tát hạnh là gì? Tức là đời sống của
họ, tức là công việc trong hành nghiệp của họ, thù
tạc hằng ngày, làm sao đem những chuyện này biến
thành Bồ Tát hạnh? Biến thành lục độ vạn hạnh? Mấu
chốt ở tại Bồ Đề Tâm. Bồ Đề tâm là tâm giác ngộ,
chân chánh giác ngộ. Giác ngộ cái gì? Giác ngộ chư
pháp thật tướng. Kinh Bát Nhã nói ‘Tam tâm bất khả
đắc’, ‘chư pháp vô sở hữu’, đây là chân chánh giác
ngộ, tâm hạnh của bạn tương ứng với tự tánh, và cũng
là tương ứng với thật tướng của hết thảy pháp, được
vậy thì bạn làm sao chẳng tự tại cho được? Sau khi
chân chánh giác ngộ mới biết tận hư không, trọn khắp
pháp giới đều là chính mình, bạn mới thật sự hiểu
rõ, thế nên đối với hư không pháp giới hết thảy
người, sự, vật sẽ tự nhiên sanh khởi tâm thương yêu
chân chánh. Trong Phật pháp gọi tâm thương yêu này
là đại từ, đại bi, vô duyên đại từ, đồng thể đại bi,
tận hư không, trọn khắp pháp giới và mình có cùng
một Thể. Thể này là gì? Thể là Chân Tâm, Chân Tâm
tức là Chân Như, tức là Bản Tánh, trong kinh Phật
dùng rất nhiều danh tướng nhưng đều nói về một sự
việc. Y báo, chánh báo trang nghiêm trong thập pháp
giới đều do Chân Tâm này biến hiện ra, thế nên tình
và vô tình cùng một thể. Chư Phật Như Lai nhìn thấy
chúng sanh thọ khổ, thật sự như là chính mình thọ
khổ, thấy chúng sanh được vui, thật sự như là chính
mình được vui, chúng sanh và mình là một thể, đó mới
là chân chánh giác ngộ.
Chúng sanh, đặc biệt là chúng sanh trong lục đạo rất
khổ, mê mất tự tánh, mê mất tự tánh nhưng tự tánh
vẫn khởi tác dụng, chẳng phải là không khởi tác
dụng, nếu không khởi tác dụng thì chẳng gọi là chân
tánh, nó vẫn khởi tác dụng. Tuy khởi tác dụng, nhưng
vì mê mất tự tánh, nên họ chẳng hay, chẳng biết bị
nghiệp lực thao túng, đời sống của họ sẽ khổ. Chúng
sanh đã giác ngộ, giác ngộ rồi thì xưng là Phật, Bồ
Tát. Thanh Văn, Duyên Giác cũng giác ngộ, giác ngộ
không rốt ráo, chẳng viên mãn, nhưng họ đã có thể
thoát khỏi sự khống chế của nghiệp lực. Trong kinh
Phật nói Thanh Văn, Duyên Giác trong Tam Đức chỉ
được Giải Thoát, là phân nửa giải thoát, chẳng viên
mãn. Tại sao? Pháp thân, Bát Nhã chẳng chứng được,
trong Tam Đức Bí Tạng chỉ chứng được phân nửa Giải
Thoát, họ xả thân và thọ thân cũng tương đối tự tại.
Do đó có thể biết trong toàn bộ giáo học Phật pháp,
mấu chốt ở tại Giác Ngộ, sau khi giác ngộ thì chúng
ta sẽ được tự tại, sẽ có thể tùy ý hóa thân, chẳng
chỉ là chuyển thân nữ thành thân nam mà thôi. Ý
nghĩa của việc dùng Hoa để cúng dường đem lại cho
chúng ta khải thị lớn như vậy.
Sự tiêu biểu pháp của Hương là tín tâm, Hương tiêu
biểu cho Tín Hương, đối với lời giáo huấn của Phật,
Bồ Tát tuyệt đối chẳng có nghi hoặc, sanh khởi lòng
tinh thanh tịnh, kiên định. Hương cũng tiêu biểu
Giới, Định, trong bài Hương Tán chúng ta thường
xướng ‘Giới Định Chân Hương’. Hương cũng tiêu biểu
‘Ngũ Phần Pháp Thân Hương’, biết được sự tiêu biểu
của Hương thì chúng ta mới đạt được lợi ích chân
thật, không thể không biết việc này. Cúng dường ‘Ẩm
thực, y phục’ tiêu biểu cho lòng cung kính của mình;
chúng ta cần ăn uống, chúng ta dùng đồ ăn thức uống
cúng dường Phật, Bồ Tát, thật ra Phật, Bồ Tát chẳng
cần. Chúng ta cần y phục, chúng ta dùng y phục cúng
dường Phật, Bồ Tát. Dùng y phục cúng dường Phật, Bồ
Tát trong chùa cũng có, chúng ta thấy có một số
chùa, tượng Phật, Bồ Tát có người cúng dường y giống
như cái áo khoác, đắp trên thân tượng, đó là cúng
dường y. Cúng dường những cúng cụ này đều y cứ theo
kinh điển, cúng dường đồ ăn thức uống rất bình
thường, cúng trước [tượng] Phật, đây là ẩm thực cúng
dường.
‘Gấm lụa, tràng phan’ là những đồ trang sức, tức là
dùng những vật bằng tơ lụa để cúng dường Phật, Bồ
Tát, làm trang nghiêm đạo tràng, ngày nay chúng ta
gọi là treo đèn kết tụi. Quốc khánh Tân Gia Ba sắp
đến, mỗi đường phố đều có treo đèn, là ý nghĩa như
vậy. Tràng phan là cúng cụ thường thấy nhất. Trong
chú giải trang 35, hàng thứ năm, chư vị coi từ đó,
đây là Thanh Liên pháp sư cho chúng ta tham khảo.
Phàm cách chế tạo phan, tạo phan cùng nghĩa với tạo
tràng, nói phan bao gồm tràng luôn
[14][14]. ‘[Trên tràng và phan]
không nên để (tức thêu hay vẽ) hình hay danh hiệu
của Phật, Bồ Tát v.v… vì phan là vật để cúng, [tức
là] để cúng cho đối tượng được cúng (tức Phật hay Bồ
Tát). [Đã là vật cúng cho Phật, Bồ Tát] sao lại còn
dùng hình hay danh hiệu [của Phật, Bồ Tát] để cúng’.
Hy vọng chúng ta ghi nhớ điểm này, hiện nay nhiều
người không biết, cúng phan, trên phan lại ghi danh
hiệu của Phật, Bồ Tát, làm sao lại dùng Phật, Bồ Tát
đi cúng dường Phật, Bồ Tát. Chúng ta cúng A Di Đà
Phật, trên phan lại ghi câu ‘Nam mô A Di Đà Phật’,
dùng A Di Đà Phật đi cúng dường A Di Đà Phật, quý vị
nghĩ xem có đúng như pháp hay không? Lời ghi trong
Khoa Chú rất đúng. Trên tràng phan lại còn có gì
nữa? Dùng tượng Phật, trên ấy thêu tượng Phật rồi
đem cúng dường Phật, Bồ Tát, hoàn toàn sai lầm, đây
là việc rất nhiều người chẳng để ý. Ngày nay Phật
pháp suy thoái, tuy Phật giáo dường như rất hưng
vượng, chúng sanh vẫn tạo những nghiệp này, vẫn chịu
những khổ báo này, chúng ta cúng dường như vậy là
sai rồi. Có khi còn phạm sai lầm lớn hơn nữa, chúng
ta thấy có pháp sư, đại pháp sư đắp tổ y màu đỏ,
trên tổ y lại thêu tượng Phật, như vậy là không
được. Hết thảy chư Phật đều biến thành y phục của
bạn rồi. Đã mắc lỗi ở trên tràng phan rồi, còn lấy
hình tượng Phật, Bồ Tát để trên [quần áo] nữa, như
vậy là không được.
Nói trở lại, ngày nay chúng ta in danh hiệu của
Phật, Bồ Tát trên quần áo được không? Được. Tại sao
lại được? Đây là chúng ta vì muốn độ hóa chúng sanh,
hy vọng hết thảy chúng sanh một phen lọt vào tai thì
vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo, dụng ý của chúng
ta ở chỗ này. Giả sử bạn thêu hình tượng của Phật,
Bồ Tát trên y phục, mặc ra đường để độ chúng sanh,
tốt lắm! Như vậy thì được. Vấn đề là coi bạn dụng
tâm gì? Tâm của bạn là thiện, là thuần, thì có vô
lượng công đức. Nếu tâm bạn chẳng phải để đem lại
lợi ích cho chúng sanh, chẳng phải để tuyên truyền
Phật pháp, vậy thì bạn đã tạo nghiệp. Nhưng tràng
phan được dùng trong đạo tràng, trong đạo tràng có
cúng dường tượng Phật, [thêu tượng Phật trên tràng
phan] thì không được. Nếu tràng phan được treo trên
cột cờ thì được! Tại sao? Để cho đại chúng nhìn
thấy, rất nhiều người chẳng tin Phật, để họ nhìn
thấy danh hiệu của Phật trên tràng phan, hoặc là ghi
tên của kinh điển, đều tốt cả. Đây là gì? Mục đích
của chúng ta chẳng ngoài việc làm cho chúng sanh có
dịp tiếp xúc đến Tam Bảo, đều cốt ý làm như vậy, do
đó quan hệ của sự dụng tâm rất lớn.
Hiện nay chúng ta thấy quan tòa phán xử, trước hết
phải hỏi động cơ (sự thúc đẩy) của bạn là gì. Nếu
động cơ là thiện lành thì việc làm sai trái cũng có
thể tha thứ, nếu động cơ là chẳng thiện thì làm việc
tốt lành cũng có tội, do đó tầm quan trọng của động
cơ rất lớn. Ở đây nói ‘tận tâm’, tận tâm tức là nói
động cơ. Lúc trước một số lão hòa thượng kể chuyện
cho chúng tôi nghe, có lẽ những chuyện này đều là sự
thật. Nói có một người xuất gia thấy có một tượng
Phật cúng ở bên đường, lúc đó nắng rất gắt, ông ấy
nhìn thấy rất bức rức, [tượng] Phật ở đó phơi nắng
chẳng có gì che, tự mình ông cũng chẳng có cách gì,
không có gì cả. Ông nghĩ trên chân còn một đôi giày
bện bằng cỏ, nghĩ vậy bèn đem đôi giày đó cúng Phật,
để đôi giày đỏ ở trên đảnh đầu Phật để cho tượng
Phật khỏi bị phơi nắng, còn mình đi chân không; đó
là tâm tốt, ông ấy sẽ được quả báo thiện. Sau khi
ông đi khỏi chẳng lâu lại có một người xuất gia đi
ngang chỗ đó, nhìn thấy trên đầu Phật có một chiếc
giày bện bằng cỏ, [tự hỏi] ai mà tạo ra tội nghiệp
như vậy? Mau mau lấy chiếc giày xuống, chùi đảnh đầu
tượng Phật sạch sẽ, cả hai người đều có tâm tốt, cả
hai đều có tâm cung kính, đều được phước báo, tại
sao? Động cơ đều rất tốt. Do đó chúng ta phải hiểu
rõ, làm việc thiện là một tâm thiện, một niệm chân
thành, việc làm của cả hai người kể trên đều chẳng
có lỗi, phải hiểu ý tứ này.
Tràng phan trong chánh điện ở chùa tốt nhất là đừng
có hình tượng Phật, Bồ Tát, chẳng ghi danh hiệu
Phật. Dùng cái gì tốt nhất? Hiện nay chúng ta dùng
câu ‘Học vi nhân sư, hành vi thế phạm’, dùng câu này
ghi trên phan để cúng dường, tốt lắm! Hiện nay những
gì chúng ta tu học, thật sự là tông chỉ, phương
hướng, mục tiêu của chúng ta, ghi [hai mươi chữ]
‘Chân Thành, Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Chánh Giác, Từ
Bi, Nhìn Thấu, Buông Xuống, Tùy Duyên, Niệm Phật’
trên tràng phan rất tốt! Chúng ta dùng tràng phan
như vậy cúng Phật. Trong Phật pháp gọi đó là ‘pháp
cúng dường’, điều thứ nhất trong pháp cúng dường là
‘y giáo tu hành cúng dường’. Trong vật cúng dường
này của chúng ta, từng giờ từng phút nhắc nhở chúng
ta y theo lời dạy tu hành cúng dường, như vậy là
đúng, đáng được chúng ta đề xướng. Nhưng hiện nay
phần đông đều dùng danh hiệu Phật, Bồ Tát, ai nghĩ
ra đạo lý này? Đây là đặc biệt nêu ra, hy vọng mọi
người chú ý đến vấn đề này.
‘Tiền’ tài, ‘vật báu’, đây là xả tài, xả tài là gì?
Xả tham, tiêu biểu cho ‘Xả tham cúng dường’, vì phần
đông người ta rất coi trọng tiền tài, báu vật. Phần
sau cùng của chú giải ghi ‘Có thể xả mạng tài, tâm
chẳng tiếc nuối, bên trong dập tắt xan tham, được
phước vô lượng’. Những lời này, tứ chúng đồng tu
chúng ta thấy trong kinh điển rất nhiều, cũng nghe
đến rất nhiều, nhưng chẳng ai tin tưởng. Tại sao
không tin? Chẳng thấy qua, chẳng có chứng cớ. Cho
nên tuy đọc kinh, nghe kinh hiểu được việc này, tự
mình cũng tu phước, khi buông xả tiền tài đều xả một
chút, tôi có một vạn đồng thì xả một đồng là được
rồi, làm việc tốt, cho nên phước báo người ấy có
hạn, người ấy chẳng thể xả hoàn toàn. Trong thế gian
này người giàu buông xả chẳng bằng người nghèo,
người nghèo có thì cũng bao nhiêu đó, không có thì
cũng bao nhiêu đó, ngày tháng cực khổ từ sáng đến
tối cũng ráng chịu đựng, vượt qua nên họ dám buông
xả, xả một phần lớn tiền tài của họ.
Trong kinh điển đức Phật có kể câu chuyện người ăn
xin, người ở ngoài đường ăn xin, người ta cho ông ta
một xu. [Có một vị] La Hán, Bích Chi Phật nhìn thấy:
‘Ông không có phước! Chịu quả báo bần cùng, nhiều
đời quá khứ chẳng tu phước [nên ngài giúp] ông trồng
phước’. Làm sao trồng phước? Xin tiền ông ăn xin:
‘Người ta cho ông đồng xu đó, ông lấy ra cúng dường
tôi, thì ông sẽ được phước’. Người ăn xin nghe xong
thì sao? Ông nghĩ: ‘[Mình] khổ quá [rồi, bây giờ có
dịp] cúng dường A La Hán, cúng dường Bích Chi Phật
phước báo rất lớn’ nên ông bèn lấy đồng xu ấy ra
cúng dường A La Hán, Bích Chi Phật. Một đồng xu là
toàn thể gia tài của ông, ông chỉ có bấy nhiêu thôi,
đem ra cúng hết. Ông được quả báo chẳng thể nghĩ
bàn, mấy mươi kiếp đều chẳng chịu khổ báo nghèo hèn.
Bố thí nói ở đây là tận tâm bố thí, tận lực bố thí,
phước báo đó rốt ráo viên mãn.
Những chuyện đức Phật độ các người nghèo hèn, hạ
tiện, ăn xin rất nhiều. Những người này chẳng bao
lâu sau khi mạng chung đều sanh lên trời, người thế
gian chúng ta chẳng thấy họ sanh lên trời, chẳng
thấy họ hưởng phước trên trời. Sau khi bố thí chẳng
lâu thì họ chết đi, người thế gian nhìn thấy là hiện
tượng như vậy, cho nên chẳng thể khởi lên lòng tin.
Chúng ta tuy chẳng nhìn thấy, nhưng chúng ta hiểu rõ
đạo lý này, khẳng định sanh mạng nhất định chẳng
phải chỉ có đời này mà thôi, chúng ta có đời quá
khứ, còn có đời tương lai. Thật sự tin có đời sau,
bạn có thể tin được những Lý Sự nói trong kinh,
[đích thật] có đời sau. Đời này khổ một chút không
sao cả, đây là vì đời quá khứ chẳng có tu nhân thiện
nên đời này phải tu cho đàng hoàng, đời sau mới có
quả báo thù thắng, quả báo của sự tận tâm bố thí
chẳng thể nghĩ bàn!
Chúng ta cúng dường một vị Phật, một vị Bồ Tát, khó
lắm! Tìm chẳng ra, chỉ có thể cúng dường hình tượng
Phật, Bồ Tát. Nếu thế gian có Phật thiệt, Bồ Tát
thiệt, cúng dường các ngài sẽ có phước lớn. Phật
thiệt, Bồ Tát thiệt ở đâu? Người tu hành chân chánh.
Nhưng vấn đề lại khởi lên, người chân tu đời sống
sanh hoạt đều vô cùng thanh bần khổ cực, bạn cúng
dường họ, họ chẳng tiếp nhận, họ chẳng muốn. Do đó
có thể biết ruộng phước rất khó kiếm; bạn muốn trồng
phước, ruộng phước ở đâu? Đích thật tương đối chẳng
dễ. Phước điền chân chánh là đạo tràng tu hành chân
chánh, chúng ta đến đạo tràng này để trồng phước
điền. Đạo tràng này thiếu cái gì, chúng ta cúng
dường cái đó. Thí dụ người trụ ở đó quá đông, cần mở
rộng thiết bị thì chúng ta cúng dường cho họ. Bạn ở
đó hết lòng quan sát, cúng dường nhiều nhưng họ tu
hành chẳng thoái chuyển một chút nào, đó mới là
phước điền chân chánh. Sự cúng dường này [mới được]
phước vô lượng vô biên, cúng dường một ngày được
phước báo chẳng thể nghĩ bàn, huống chi là [cúng
dường] hằng ngày chẳng suy thoái, phước báo đó bao
lớn!
Ngày nay đạo tràng Cư Sĩ Lâm ở Tân Gia Ba là một đạo
tràng do cư sĩ xây dựng, những cư sĩ này thông Tông
thông Giáo, hộ trì chánh pháp. Không những hộ trì,
chủ trì chánh pháp, xây dựng Niệm Phật Đường, cung
ứng cho đồng tu niệm Phật trên toàn thế giới đến đó
tinh tấn niệm Phật, mỗi ngày 24 giờ không gián đoạn.
Người chân chánh niệm Phật phát tâm đến đó niệm Phật
một ngày một đêm, đều là thiện nhân cho bạn tương
lai thành Phật, là điều kiện quan trọng cho bạn
tương lai thành Phật. Bạn có thể phát tâm mỗi ngày ở
nơi đó niệm Phật, công đức ấy rất to lớn! Do đó đạo
tràng này chẳng phải là một đạo tràng thông thường,
mọi người đến đó là để làm Phật. Cúng dường đạo
tràng này thì phước đức ấy trừ đức Phật ra chẳng ai
có thể nói hết, đây là công đức chân thật. Chúng ta
đều phải hiểu Lý Sự này, phải thấu hiểu triệt để, hy
vọng những quốc gia, địa phương khác cũng có thể xây
dựng đạo tràng giống như vậy. Xây dựng đạo tràng như
vậy nhất định sẽ được chư Phật hộ niệm, long thiên
thiện thần thủ hộ, hộ trì, công đức lợi ích hiện
tiền đã chẳng thể nghĩ bàn, người cúng dường được
phước báo to lớn, người tu hành được đại thiện lợi.
Thế nên cúng dường phải đúng như pháp, bố thí cúng
dường đều phải đúng như pháp.
Đoạn phía dưới là nói về quả báo, chuyển quả báo
(thay đổi quả báo). Quả chuyển báo ở đây chúng ta có
thể coi đó như là có cầu ắt ứng, nghiệp báo không
phải là không thể chuyển biến. Trong chú giải hai
câu phía trước vô cùng quan trọng! ‘Sự chuyển báo
khó, duy tại tinh thành’, tám chữ này rất quan
trọng! Nếu bạn thật sự làm được đến mức ‘tinh
thành’, chuyển báo sẽ chẳng khó. Cô này, ‘người
thiện nữ đó sau khi mãn một báo thân nữ hiện tại,
trải qua trăm ngàn muôn kiếp còn không sanh vào thế
giới có người nữ, huống chi là thọ lại nữ thân’, thế
giới chẳng có người nữ, trong chú giải còn nói: ‘tức
là chỉ tây phương Cực Lạc’, tây phương Cực Lạc thế
giới chẳng có người nữ, sanh đến tây phương Cực Lạc
thế giới, thân tướng hoàn toàn giống như A Di Đà
Phật. Cho nên hiện nay chúng ta thờ tây phương Tam
Thánh, chúng ta thờ ba tượng A Di Đà Phật, ở chính
giữa là A Di Đà Phật, còn một bên là Quán Thế Âm Bồ
Tát, một bên là Đại Thế Chí Bồ Tát. Tại sao lại
giống nhau? [Người ở] Tây phương thế giới đích thật
đều giống nhau, cách cúng của đạo tràng chúng ta
hoàn toàn phù hợp với cách nói trong kinh, giống
hoàn toàn. Chúng ta vãng sanh đến tây phương Cực Lạc
thế giới thì thân tướng giống y hệt như A Di Đà
Phật, ‘thân có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ
đẹp’, không phải chỉ là ba mươi hai tướng, tám mươi
vẻ đẹp mà thôi. Hết thảy tượng thờ trong Niệm Phật
Đường chúng ta đều giống nhau, đó là gì? Liên Trì
hải hội. Những tượng đó chỉ có một vị là A Di Đà
Phật, ngoài ra đều là tượng của mọi người chúng ta,
tượng của mọi người đều giống như A Di Đà Phật, làm
cho chúng ta ở trong Niệm Phật Đường có cảm xúc sâu
đậm này. Đây tức là chuyển thân nghiệp báo của chính
mình thành thân tướng thù thắng nhất của Như Lai.
Xem tiếp kinh văn:
Trừ phi từ nguyện lực cố, yếu thọ nữ thân độ thoát
chúng sanh
Trừ phi vì nguyện lực từ bi muốn thọ nữ thân để độ
thoát chúng sanh.
Đây là nói chịu dùng nữ thân để độ thoát chúng sanh
thì cũng có thể tùy ý mãn nguyện. Trong chú giải có
ghi ‘Ma Gia phu nhân’ mẹ của đức Phật Thích Ca cũng
là chư Phật tái lai, chẳng phải người thường. Nên
dùng thân nữ để độ thì ngài hiện thân người nữ.
Nguyện của ngài chẳng giống với kẻ khác, nguyện của
Ma Gia phu nhân là ‘vĩnh viễn làm mẹ của ngàn vị
Phật’, ngài phát nguyện này, phát nguyện làm mẹ của
Phật. Phía sau chú rất hay: ‘đó là pháp môn Thuận Ái
độ chúng sanh’, tình ái của chúng sanh rất sâu,
thuận theo tình ái của bạn để độ bạn. Đây là ‘Nhiếp
đồng sự’ trong Tứ Nhiếp Pháp, Phật và Pháp Thân Đại
Sĩ có khả năng này, thật sự làm được hằng thuận
chúng sanh, tùy hỷ công đức. Phía dưới lại nêu một
thí dụ, trong kinh Hoa Nghiêm, Bà Tu Mật Đa Nữ
[15][15], trong Tứ Thập Hoa
Nghiêm gọi là Phạt Tô Mật Đa Nữ, đây là vì dịch âm
chẳng giống nhau. Bà Tu Mật Đa thị hiện thân phận
gì? Ngài thị hiện thân phận ngày nay xã hội chúng ta
gọi là kỹ nữ, quảng độ chúng sanh, phàm những kẻ
tiếp xúc với ngài đều được ngài độ thoát. Thế nên
bạn nói có pháp nào chẳng phải là Phật pháp? Có thân
phận nào chẳng phải là Bồ Tát? Bồ Tát trong ngành
nghề nào cũng có hóa thân, nam nữ già trẻ, các ngành
các nghề đều có Bồ Tát, Phật ở trong ấy, phàm phu
như chúng ta chẳng nhận ra.
Sau cùng ngài kết luận ‘lại dùng Từ Ái Tam Muội’,
lúc hiện tướng, tác dụng là từ ái. Trong tâm thanh
tịnh vô nhiễm, giống như Tông Môn có nói:
Trăm hoa dẫu có xuyên qua,
Lá kia một chiếc chẳng hề vướng thân.
[16][16]
Tâm địa của ngài thanh tịnh, bình đẳng, giác, bên
ngoài thị hiện từ ái, đây gọi là Từ Ái Tam Muội,
ngài dùng nguyện lực này thị hiện nữ thân. Phía sau
nói: ‘Trước dùng Dục lôi kéo, sau dẫn vào trí Phật’
[17][17], trong ấy có tham ái
hay không? Không có. Ngài độ những chúng sanh có
tình chấp sâu nặng này, giúp họ thành Phật, lìa khỏi
tham, sân, si, giúp họ giác ngộ, ngài có công phu
định lực, có trí huệ, có phương tiện khéo léo. Nếu
công phu định lực, trí huệ, phương tiện chưa đến mức
độ ấy mà học theo họ, vậy thì thôi rồi, chắc chắn sẽ
vào địa ngục, tức là công phu chưa đến thì nhất định
không thể học theo. Thế nên Tứ Nhiếp Pháp của Bồ
Tát, tôi thường khuyên các vị đồng tu, ba thứ đầu có
thể học, còn điều thứ tư này thì phải coi khả năng
của mình. Điều thứ tư là ‘đồng sự’, ba điều đầu là
‘bố thí, ái ngữ, lợi hành’ thì chẳng có vấn đề, sẽ
chẳng gây ra tác dụng phụ gì hết. Điều sau cùng này
nhất định phải coi trí huệ, công phu định lực của
mình tới đâu mới được, không thể tùy tiện học theo.
Thừa tư cúng dường Địa Tạng lực cố cập công đức lực
bá thiên vạn kiếp bất thọ thân nữ.
Còn thì nương nơi sức cúng dường ngài Địa Tạng cùng
sức công đức, trong trăm ngàn vạn kiếp chẳng thọ
thân nữ nữa.
Trong việc cúng dường tuy là nói về Sự, nói Sự bạn
nhất định phải hiểu Lý, nói Lý bạn nhất định phải
hiểu Sự mới đạt được lợi ích chân thật, tuyệt đối
chẳng thể lệch về một bên, nghiên về một bên là sai
lầm, bạn sẽ hoàn toàn vặn cong ý tứ của Phật hết.
Lúc trước lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam dạy chúng tôi giảng
kinh, thầy thường nói, những kinh nói về Sự rất khó
giảng, thí dụ như kinh nào? Kinh Địa Tạng, Kinh A Di
Đà, đều nói về Sự, có thể giảng những Sự này đến mức
làm cho người ta tin không? Thế nên giảng những kinh
này rất khó, rất khó. Kinh nào dễ giảng? Kinh Kim
Cang dễ giảng, giảng Lý giảng đến bạn gật đầu, bạn
chẳng thể không tin. Kinh nói về Lý thì dễ giảng
hơn, kinh Lăng Nghiêm dễ giảng, kinh nói về Sự thì
khó giảng. Cho nên giảng về Sự nhất định phải giảng
Lý cho thật thấu triệt, vậy thì nói Sự người ta mới
có thể tin tưởng. Giảng kinh nói về Lý thì nhất định
phải giảng Sự rõ ràng, thế thì Lý mới có thể thực
hiện trên Sự, mới có thể được thọ dụng, nếu không
thì sẽ biến thành nói viễn vông, tuy nói Lý rất hay
nhưng trên Sự chẳng làm nổi. Cúng dường Địa Tạng
nhất định phải hiểu lý luận của sự cúng dường, pháp
tu cúng dường chân chánh, từ trong Sự mà hiển Lý,
chúng ta biết sự tướng đều dùng để tiêu biểu pháp.
Nếu hoàn toàn hiểu rõ Lý, Sự trong ấy, đến lúc nào
cúng dường cái gì? Phía trước nói ‘tận tâm cúng
dường’. Tận tâm đến mức độ nào? Thân tâm đều cúng
dường hết, công đức ấy đương nhiên sẽ chẳng thể nghĩ
bàn. Cả thân tâm đều cúng dường hết, lời này là như
thế nào? Tức là như Phật trong kinh thường nói ‘thọ
trì đọc tụng, vì người diễn nói’. Thân thể này của
chúng ta, đời này kiếp này dùng để biểu diễn cho xã
hội đại chúng coi. Làm cho xã hội đại chúng nhìn
thấy rồi giác ngộ, vậy thì không phải bạn đã dùng
toàn thân cúng dường hay sao? Trong đời sống từng ly
từng tí đều làm tấm gương tốt cho hết thảy chúng
sanh, viên mãn rốt ráo hiển thị chân thành, thanh
tịnh, bình đẳng, từ bi giáo hóa chúng sanh. Trên Sự
thì dạy người nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy
duyên, đây tức là cúng dường.
Địa Tạng tiêu biểu cho cái gì? Địa Tạng tiêu biểu
hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng, thực hiện
trên cơ sở của hiếu đạo, thực hiện trên sư đạo, thì
bạn thật sự tận tâm cúng dường Địa Tạng Bồ Tát. Thế
nên chư vị phải biết nếu chỉ có những hình thức cúng
dường hương, hoa, đồ ăn thức uống, y phục mà chẳng
hiểu ý tứ, trong tâm chính mình vẫn còn tham, sân,
si, mạn, vẫn còn thị phi, nhân ngã, thì sự cúng
dường này là mê tín, làm gì có công đức mà nói? Cho
nên từ cúng dường trên Sự đạt đến tận tâm cúng
dường, thì Sự ấy là tiêu biểu cho tâm, đó mới là
cúng dường chân thật. Trong Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói
đến Pháp Cúng Dường, Pháp Cúng Dường nói đến bảy câu
[18][18], quan trọng nhất là Y
Giáo Tu Hành Cúng Dường, nói cách khác những gì
trong kinh Phật dạy chúng ta làm, chúng ta đều làm
được hết. Phật dạy chúng ta làm thì chúng ta làm,
Phật dạy chúng ta không thể làm thì chúng ta nhất
định không làm. Kinh điển ví như kịch bản, tứ chúng
đệ tử chúng ta ví như diễn viên, nhất định phải noi
theo kịch bản này mà biểu diễn, làm cho chúng sanh
mê hoặc trong lục đạo có thể giác ngộ. Mục đích
chúng ta biểu diễn là giúp cho họ giác ngộ, cho nên
phải diễn giống như thật, hoàn toàn biểu diễn y theo
kịch bản. Nói cách khác hết thảy kinh điển tức là
đời sống của chúng ta, tư tưởng của chúng ta, tức là
kiến giải, hành vi của chúng ta, đây tức là ‘tận tâm
cúng dường’. Nếu bạn làm được thì nói thật ra bạn đã
thành Phật rồi, bạn hoàn toàn làm được [như lời dạy
trong] Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh thì bạn chính
là Địa Tạng Bồ Tát. Bạn hoàn toàn làm được [như lời
dạy trong kinh] Vô Lượng Thọ thì bạn là Vô Lượng Thọ
Phật. Nếu chưa làm được thì phải hết lòng nỗ lực mà
làm, như vậy mới gọi là ‘sức cúng dường ngài Địa
Tạng, cùng sức công đức’, ‘sức công đức’ tức là
thiện tâm, nguyện tâm vĩnh viễn chẳng đoạn dứt, như
vậy mới có thể thành tựu quả đức viên mãn thù thắng.
Xin xem đoạn kế tiếp: đây là đoạn thứ nhì ‘Chán xấu
bịnh, lễ tượng được phước’, đây cũng là lẽ thường
tình của con người.
Phục thứ Phổ Quảng nhược hữu nữ nhân yếm thị xú lậu
đa tật bịnh giả
Lại nữa này Phổ Quảng, nếu có người nữ chán thân xấu
xí và nhiều bịnh tật.
Đây là nói thân tướng của mình chẳng tốt, nhiều tật
bịnh
Đản ư Địa Tạng tượng tiền, chí tâm chiêm lễ, thực
khoảnh chi gian, thị nhân thiên vạn kiếp trung sở
thọ sanh thân tướng mạo viên mãn.
Đến trước tượng của ngài Địa Tạng, chí tâm chiêm lễ
trong chừng một bữa ăn, người đó trong ngàn muôn
kiếp thọ sanh được thân hình, tướng mạo viên mãn.
Chúng ta coi trước đoạn này. Dung mạo là do nghiệp
lực biến hiện thành, nghiệp lực tức là tâm, người
thế gian coi tướng, đoán mạng đều nói tướng tùy tâm
chuyển, chúng tôi cũng thường nhắc nhở đồng tu,
tướng tùy tâm chuyển, thể chất thân thể cũng tùy tâm
chuyển. Không những thân tướng tùy tâm chuyển, hoàn
cảnh sinh hoạt của chúng ta cũng tùy tâm chuyển. Đức
Phật trong các kinh luận giáo huấn chúng sanh, đây
là một khóa trình quan trọng, và cũng thiết yếu phi
thường. Có ai không muốn lìa khổ được vui? Ai không
muốn đời sống của mình hạnh phúc mỹ mãn? Cổ kim
trung ngoại hết thảy chúng sanh đều ở chỗ này mong
cầu, đều có nguyện vọng này, tại sao sự việc [xảy ra
thường] trái nghịch với nguyện vọng? Sự thật cứ trái
nghịch với nguyện vọng của mình. Vì hết thảy chúng
sanh không biết sự thật này hình thành như thế nào,
làm sao mà có. Đây là nói đến thiện và ác, căn
nguyên của quả báo. Những gì chúng ta ngày nay cảm
nhận từ trên sự tướng mà nói là quả báo, có quả thì
nhất định phải có nhân, nhân thiện thì quả sẽ thiện,
nhân chẳng thiện thì quả chẳng thiện, thế nên trồng
thiện nhân sẽ được thiện quả, tạo ác nhân nhất định
bị ác báo. Đức Phật trong Kinh Nghiệp Báo Sai Biệt
nói rõ mười thứ nghiệp chẳng thiện sẽ có quả báo xấu
xí, nếu ngày nay chúng ta có quả báo này, hãy nghĩ
coi mình còn tập khí này không? Vì đời quá khứ tạo
những ác nghiệp ấy mới có quả báo hiện nay, vẫn còn
tập khí sót lại, nếu tập khí còn dư này vẫn còn,
không sửa đổi thì chuyển nghiệp sẽ khó khăn.
Mười nghiệp chẳng thiện, Thanh Liên pháp sư trích ra
và ghi trong chú giải ở trang 37, hàng thứ nhì:
Thứ nhất là hay tức giận. Hay tức giận nhất định
chẳng phải là chuyện tốt, không những lúc bạn tức
giận tướng mạo chẳng đẹp, tức giận còn làm tổn hại
thân thể và đem đến tật bịnh, thân thể bạn nhiều
bịnh, bạn nghĩ xem tướng mạo lúc tức giận đẹp hay
không? Thế mới biết nguyên do của xấu xí, tật bịnh.
Thứ nhì là hiềm hận (hiềm nghi và ghét hận), trong
tâm thường hiềm ghét người khác, oán hận, oán trời
trách người, tâm tình như vậy cũng tổn thương thân
thể. Cho nên nếu bạn muốn thân thể khỏe mạnh, mười
thứ này dùng cách nói hiện nay tức là bịnh độc, bịnh
độc trong tâm lý. Tại sao có người tướng mạo đẹp đẽ?
Vì thường sanh tâm hoan hỷ, lúc hoan hỷ thì tướng
mạo đẹp, dễ coi, tức giận thì tướng mạo xấu xí.
Chuyển nghiệp là chuyển từ chỗ này, lời Phật nói
thật là hợp tình hợp lý. Chúng ta bình tĩnh suy nghĩ
kỹ càng, đức Phật nói rất có đạo lý.
Thứ ba là lừa gạt người khác, mê hoặc kẻ khác, đây
là nghiệp chẳng thiện.
Thứ tư là thích làm cho chúng sanh khởi phiền não,
nhiễu loạn kẻ khác, làm cho người ta thân tâm chẳng
yên.
Thứ năm là không hiếu thuận cha mẹ.
Thứ sáu là chẳng tôn kính thánh hiền. Thánh hiền đối
với xã hội có lợi ích to lớn; đạo đức, học vấn, hành
trì của những người này trong xã hội đều là gương
tốt cho đại chúng ở địa phương đó, đích thật họ có
thể giáo hóa cả vùng ấy, có tác dụng âm thầm thay
đổi phong tục nhân tình của vùng đó. Thánh hiền
tuyệt chẳng yêu cầu người khác tôn kính họ, không
bao giờ. Nếu có hy vọng kẻ khác tôn kính, cúng dường
thì đó là tà đạo, tuyệt chẳng phải thánh hiền, đó là
lừa gạt người ta. Tại sao chúng ta phải tôn kính họ?
Mục đích tôn kính họ là để khuyên xã hội đại chúng
học theo họ, là ý nghĩa như vậy. Chúng ta học Phật
tại sao phải tôn kính đức Phật? Phật tuyệt chẳng có
nói: “Quý vị nhất định phải tôn kính ta”, bạn tìm ở
kinh nào thấy có cách nói như vậy chăng? Chúng ta
kính đức Phật là giúp đỡ Phật hoằng pháp lợi sanh,
giúp đức Phật tiếp dẫn đại chúng. Xã hội đại chúng
chẳng biết ích lợi của [sự học] Phật, công đức của
Phật, nhưng họ thấy chúng ta tôn kính Phật. Trong xã
hội bản thân chúng ta biểu hiện làm người thiện, tâm
thiện; người thiện, tâm thiện tôn kính người nào thì
người đó nhất định là người tốt; mọi người thích
thân cận người tốt, học theo người tốt, mục đích
chúng ta tôn kính là như vậy. Thế nên khi gặp tượng
Phật chúng ta đảnh lễ, người chẳng biết Phật pháp
nhất định sẽ hỏi tại sao bạn đối với tượng Phật cung
kính như vậy? Tại sao phải lễ bái tượng Phật? Thì
bạn đem những đạo lý này nói cho họ nghe, như vậy họ
mới hiểu được. Do đó mới biết [làm vậy] là biểu
diễn, biểu diễn cho những chúng sanh chưa giác ngộ
này coi, làm cho họ giác ngộ.
Phật pháp là sư đạo, sư đạo được xây dựng trên cơ sở
của chữ ‘Kính’, cho nên Ấn Quang pháp sư dạy rất
hay: “Một phần thành kính được một phần lợi ích,
mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Chúng
ta học Phật đạt được lợi ích ít ỏi, nói thật ra
chẳng ở tại bên ngoài, mà ở tại lòng thành kính của
mình. Bạn có mấy phần thành kính thì sẽ được bấy
nhiêu phần lợi ích; bạn chẳng có tâm thành kính, mỗi
ngày ở kế bên Phật cũng chẳng được lợi ích, đây là
thật. Năm xưa lúc đức Phật còn tại thế, Đề Bà Đạt Đa
thường ở bên Phật, Lục Quần Tỳ Kheo cũng thường ở
bên Phật, tại sao chẳng được lợi ích? Vì chẳng có
tâm tôn kính. Trong mắt họ thấy Phật cũng như người
thường, chẳng khác gì mình cho lắm, nên ở bên mình
Phật mà chẳng được lợi ích. Nếu có tâm chân thành,
chẳng ở bên mình Phật cũng được lợi ích, tại sao? Y
giáo phụng hành, những gì Phật dạy, họ đều làm được
hết.
Sự thì quá vụn vặt, quá phức tạp, [chỉ cần] nắm vững
cương lãnh, Sự không trái nghịch cương lãnh thì nhập
được cảnh giới Phật. Tổng cương lãnh tức là ‘Tâm Bồ
Đề’, chư vị phải ghi nhớ Bồ Đề Tâm y theo cách nói
trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật là: ‘Chí Thành
Tâm, Thâm Tâm, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm’. Trên sự
tướng càng phiền, càng nhiều hơn nữa, chỉ cần tương
ứng với tâm này, thì hết thảy sự tướng đều gọi là Bồ
Tát Hạnh, đều quy nạp trong lục độ vạn hạnh. Cho nên
kinh Hoa Nghiêm nói ‘Quên mất tâm Bồ Đề, hết thảy
tạo tác đều là nghiệp ma’
[19][19]. Ma nghiệp là gì? Hết
thảy những nghiệp bạn đã tạo ra, thiện nghiệp thì
sanh ba cõi thiện, ác nghiệp thì sanh ba đường ác,
chẳng ra khỏi lục đạo luân hồi thì gọi là ma nghiệp.
Tương ứng với Bồ Đề Tâm thì những gì bạn tạo đều là
Bồ Đề nghiệp, Bồ Đề nghiệp gọi là tịnh nghiệp, nhất
định có thể liễu sanh tử, xuất tam giới, như vậy thì
khác. Thế nên chúng ta phải thật sự hiểu rõ cả đời
này trên thế gian hoàn toàn là biểu diễn, được vậy
thì bạn là đệ tử Phật. Phật biểu diễn, Bồ Tát biểu
diễn, hết thảy chúng ta là đệ tử Phật đều tham gia
gánh hát này, chúng ta đến biểu diễn. Biểu diễn cái
gì? Chẳng có tự kỷ (chính mình), vô ngã, hoàn toàn
vì người khác, hoàn toàn y theo kịch bản mà diễn
kịch, như vậy thì người ấy làm sao không tự tại? Là
tự tại tùy duyên. Ngày tháng như vậy sinh sống rất
vui vẻ, rất hạnh phúc. Đừng cho là thật, vừa cho là
thật thì là phàm phu, thì bạn sẽ rơi vào lục đạo,
chỉ là biểu diễn mà thôi. Thế nên đối với thánh giáo
phải sanh tâm cung kính.
Thứ bảy là ‘Xâm đoạt hiền thánh tư sanh điền
nghiệp’, nói đơn giản là xâm phạm, cướp giựt đồ cần
dùng cho đời sống của những người thánh, người hiền,
tội nghiệp này rất nặng. Không những không cúng
dường mà còn cướp giựt, còn chiếm đoạt, gây chướng
ngại cho họ hoằng pháp lợi sanh.
Thứ tám là ‘Dập tắt đèn đuốc trong tháp miếu Phật’,
ý này rất dài. Trên Sự thì tháp miếu đều có thắp
đèn, bạn tắt đèn này, đây là nói trên Sự. Trên Lý
thì tháp miếu là đạo tràng, đạo tràng này làm việc
hoằng pháp lợi sanh, đó là phóng quang minh. Mỗi
ngày giảng kinh, phóng quang minh; mỗi ngày niệm
Phật, phóng quang minh; mỗi ngày tham thiền, phóng
quang minh. Chỉ cần có người ở nơi đó chân chánh tu
hành thì là phóng đại quang minh. Chúng ta nhất định
phải ghi nhớ nếu có người thấy được thì người ấy
được lợi ích, không có người nhìn thấy thì quỷ thần
nhìn thấy. Thế nên nhà Nho nói ‘thận độc’
[20][20], tức là khi bạn có một
mình cũng không được phóng dật, không thể nói không
có người nhìn thấy thì có thể tùy tiện một chút,
không thể được. Chẳng có người hữu hình nhìn thấy
thì cũng có người vô hình nhìn thấy, [chúng sanh] vô
hình còn nhiều hơn có hình chẳng biết là gấp bao
nhiêu lần. Chúng ta độ người và cũng độ quỷ thần,
chúng ta làm gương cho người, và cũng làm gương cho
quỷ thần, làm sao có thể phóng dật được? Tu như vậy
thì lòng thành kính của chúng ta mới khơi dậy nổi;
lúc ở trước mặt người ta thì như vậy, khi người ta
quay lưng thì làm cách khác, chẳng có thành kính.
Đây là [nguyên nhân] rất nhiều đồng tu, tu hành
chẳng có cảm ứng, tu hành chẳng đạt được quả đức thù
thắng, mấu chốt là ở chỗ này, chẳng dùng tâm chân
thành. Do đó có thể biết đạo phong (đường lối tu
hành) và học phong (phong cách học tập) của đạo
tràng vô cùng quan trọng, nếu chẳng có đạo phong,
chẳng có học phong cũng giống như đèn nến trong chùa
tháp bị thổi tắt, dập tắt. Cùng một đạo lý, nếu đạo
tràng này đích thật có đạo phong, có học phong, trên
sự tướng người đến đạo tràng này đốt đèn cũng nhiều,
người thắp hương cũng nhiều, đây là nói người đến đó
tu học nhiều.
Nghiệp nhân chẳng thiện thứ chín là khinh thường
những người bần cùng, hạ tiện, đối với họ sanh khởi
lòng ngạo mạn, còn hủy nhục thêm, đây là sai lầm quá
đỗi. Người học Phật chúng ta khi gặp những người
nghèo hèn, hạ tiện này, trong tâm chúng ta cũng phải
coi họ như Phật, Bồ Tát thị hiện, họ thị hiện cho
chúng ta coi, nói nếu không tu phước huệ thì sẽ có
quả báo như vậy, cũng là biểu diễn trên sân khấu.
Thế nên đối với những người này chúng ta phải khởi
tâm tôn kính, thương xót, tự mình phải biết tu học
như vậy.
Thứ mười là ‘làm các hạnh ác’, phạm vi rất rộng, tạo
ra các hành vi bất thiện.
Đức Phật nói mười thứ nghiệp này sẽ bị quả báo xấu
xí, đời trước làm những nghiệp bất thiện trên, đời
này bị quả báo. Quả báo đời này có thể thay đổi hay
không? Nói cho chư vị biết: Có thể thay đổi. Chỉ cần
bạn thay đổi những tập khí, tật xấu này trở thành
tốt thì tướng mạo dần dần sẽ thay đổi, [đó là vì]
tướng tùy tâm chuyển. Chân chánh có quyết tâm, có
nghị lực sửa sai đổi mới, nói thật ra ba tháng đến
nửa năm thì sẽ có hiệu quả. Nếu ba tháng, nửa năm
chưa gặp mặt thì khi bạn bè gặp mặt, sự thay đổi của
bạn so với lúc trước sẽ rất rõ ràng. Mỗi ngày đều
gặp gỡ thì sẽ chẳng nhận thấy, nếu không thường gặp
mặt, vừa gặp mặt thì [sẽ thấy] tướng mạo thay đổi
hẳn. Có thể làm trong ba năm thì sự thay đổi sẽ rất
rõ ràng, gia đình thân quyến của bạn mỗi ngày đều ở
chung cũng sẽ cảm thấy bạn thay đổi, bạn chẳng giống
lúc trước. Tướng mạo thay đổi rồi thì thể chất đương
nhiên cũng thay đổi.
Trong kinh này đức Phật cũng nói mười thứ nghiệp sẽ
bị quả báo nhiều bịnh, chúng ta phải ghi nhớ hai
chục điều chép trong chú giải này, bạn có thể giúp
đỡ rất nhiều người, thay đổi những tập quán xấu của
họ, thay đổi quả báo ác này của họ.
Thứ nhất là thích đánh đập chúng sanh ‘ưa thích đánh
đập hết thảy chúng sanh’, đặc biệt là những động vật
nhỏ, khi nhìn thấy cũng chẳng đến nỗi là thấy ghét,
nhưng thích đập cho nó chết: nhìn thấy muỗi mòng,
kiến, ruồi thì liền đánh cho nó chết, phải biết
tương lai sẽ bị quả báo nhiều bịnh. Ấn Quang đại sư
rất đáng cho chúng ta học hỏi, ngài làm ra gương mẫu
cho chúng ta coi. Trong Phật pháp khi gặp những con
vật này thì không được đánh chúng nó chết, chỉ đuổi
chúng đi. Nhưng Ấn Quang pháp sư chẳng đuổi chúng
đi, truyện ký của lão pháp sư có chép khi thị giả
của ngài [nói] có người thấy trong phòng lão pháp sư
có bọ chét, muỗi, có người giúp ngài đuổi chúng đi,
lão hòa thượng chẳng cho phép, lão hòa thượng nói
đừng đuổi chúng đi. Người ta hỏi tại sao? Lão hòa
thượng đáp: “Đức hạnh của tôi chẳng đủ, có chúng nó
ở đây, tốt lắm! Thường thường cảnh tỉnh chính mình,
đức hạnh của tôi còn chưa cảm hóa được chúng, chúng
đang cảnh tỉnh tôi, cảnh sách tôi”. Lão hòa thượng
chẳng đuổi chúng đi. Nghe nói sau khi Ấn Quang pháp
sư bảy mươi tuổi, những con vật này chẳng còn [trong
phòng ngài] nữa. Lúc trước trong phòng có muỗi, bọ
chét, ruồi, có những con vật này, [nhưng] khi lão
hòa thượng vào phòng đó ở, những con vật này đều dọn
nhà đi khỏi hết. Từ đây có thể biết tu dưỡng đức
hạnh của mình rất quan trọng, có chúng nó nhiễu loạn
thì là đạo đức của mình chẳng đủ, chẳng có đạo đức
thì chúng nó mới nhiễu loạn. Chân thật tu hành, dũng
mãnh tinh tấn, đạo đức của bạn có thành tựu không?
Hãy coi những con vật nhỏ này còn ở đó không? Nếu
chẳng còn thì chứng minh bạn tu hành có công phu.
Nếu vẫn còn những con vật này ở đó nhiễu loạn thì
công phu của bạn chưa đủ. Bạn xem người chân chánh
tu hành chẳng trách móc ngoại cảnh, hết thảy đều quy
về nội tâm, trở về chính mình. Mình bất thiện thì
chúng nó dám khuấy nhiễu, xâm phạm là đúng rồi,
chẳng đáng phiền trách. Cho nên đây là việc phải nên
giới trừ.
Ác nghiệp thứ hai ‘khuyên người khác đánh’, tự mình
tuy không đánh đập nhưng xúi giục người khác đánh.
Thứ ba ‘tán thán cách đánh’, khen ngợi cách đánh
[những sinh vật] của kẻ khác, [thí dụ như nói] ‘Hay
quá! Đánh hay quá’, nhìn người ta đánh mà vui. Trong
mười điều này có bốn điều nói về việc đánh đập chúng
sanh, chúng ta ai cũng có tập khí này.
[Thứ tư ‘thấy sự đánh đập mà vui mừng’]. Nhìn thấy
con nít đập ruồi, ‘Hay quá! Đập hay quá’, đều khen
như vậy. Nào biết được làm vậy sẽ bị quả báo nhiều
bịnh tật, tạo nghiệp nhân này phải bị quả báo này.
Thứ năm ‘não loạn cha mẹ’, làm cho cha mẹ phiền não,
làm cho cha mẹ thân tâm chẳng yên ổn.
Thứ sáu ‘đối với thánh hiền, làm người hiền sanh
khởi phiền não’ làm cho họ chẳng yên ổn.
Thứ bảy ‘nhìn thấy kẻ oán bịnh khổ, tâm vui mừng’,
nhìn thấy người có xích mích với mình, người mình
ghét bị bịnh bèn sanh tâm vui mừng.
Thứ tám ‘thấy kẻ oán hết bịnh, sanh tâm chẳng vui’,
kẻ thù, người mình ghét hết bịnh rồi, trong tâm mình
lại không vui. Ở đây chú trọng kẻ oán thù, người
mình ghét, mình không ưa thích.
Thứ chín ‘đối với bịnh của kẻ thù, cho thuốc không
đúng bịnh’, kẻ thù sanh bịnh, bạn đem thuốc cho họ
uống, thuốc này không phải là để trị bịnh của người
ấy, mà làm cho bịnh của họ nặng thêm. Nói cách khác,
bạn hại người ấy, chẳng phải giúp họ [chữa lành
bịnh, bạn] làm sự việc này.
Thứ mười ‘vừa mới ăn xong chưa tiêu, liền ăn thêm
nữa’, bạn ăn no lắm rồi, còn chưa tiêu hóa, nhìn
thấy đồ ăn ngon liền muốn ăn nữa, đây là bịnh từ
miệng vào. Trong mười điều, chín điều đầu là ác
nghiệp của bạn tạo, điều chót này là chuyện ăn uống,
chẳng hiểu ăn uống vệ sinh nên chiêu cảm quả báo
bịnh tật. Mười điều gây ra quả báo xấu xí, mười điều
gây ra quả báo nhiều bịnh, chúng ta nhất định phải
biết.
Phương pháp sám hối của ngài: ‘đối trước tượng ngài
Địa Tạng, chí tâm chiêm lễ, trong chừng một bữa ăn’.
‘Trong chừng một bữa ăn’ là một thời gian ngắn, thời
gian ngắn tạm, thì nghiệp báo này có thể chuyển trở
lại. ‘Chí tâm chiêm lễ’ là phương pháp tu học, mấu
chốt quan trọng ở hai chữ ‘chí tâm’, chí tâm là chân
tâm. Trong lúc chiêm lễ sửa sai đổi mới, tu học pháp
môn Địa Tạng. Địa Tạng Bồ Tát trong hết thảy Bồ Tát
từ bi cùng cực, tuyệt đối chẳng thua kém đại từ đại
bi Quán Thế Âm Bồ Tát, phải biết điều này. Địa Tạng
tiêu biểu cho từ bi căn bản, Quán Âm [tiêu biểu] từ
bi phát triển rộng ra. Ở đây nói chí tâm chiêm lễ
chẳng phải rất cung kính đến mức nào đó, mỗi ngày lễ
bái nghiệp chướng bèn tiêu trừ. Lễ bái đương nhiên
là sự tu học trên sự tướng, hình tượng. Quan trọng
nhất là phải học theo Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện,
học theo cái tâm của Địa Tạng Bồ Tát, học cách làm
người của Địa Tạng Bồ Tát, học cách xử sự, đãi
người, tiếp vật của Địa Tạng Bồ Tát, đó mới là chân
chánh chí tâm chiêm lễ. Nếu bạn có thể phát tâm
nguyện to lớn này, tâm nguyện này thanh tịnh, khẩn
thiết, có quyết tâm, có nghị lực để làm, thì bạn sẽ
chuyển nghiệp lực rất nhanh.
‘Người đó trong ngàn muôn kiếp thọ sanh được thân
hình tướng mạo viên mãn’. Tuy chú giải chẳng nhiều,
nhưng hai câu phía trước rất quan trọng ‘đó hiển lộ
tạm thời’, tạm thời phát tâm ‘công đức của sự chiêm
lễ chẳng thể nghĩ bàn’. Sau khi phát tâm tạm thời,
có phải cái tâm ấy đã mất đi ? Ở đây có hai tầng ý
nghĩa. Tạm thời phát tâm ‘trong ngàn muôn kiếp thọ
sanh được thân hình, tướng mạo viên mãn’, chúng ta
có thể tin tưởng, đích thật ‘trong khoảng chừng một
bữa ăn’. Nhưng nghiệp báo hiện tiền chẳng thể thay
đổi, quả báo của ác nghiệp hiện tại hết thì quả báo
của sự ‘chí tâm chiêm lễ’ sẽ hiện ra, không biết là
đời nào, kiếp nào nữa. Cũng như kinh Pháp Hoa nói:
“Một lần xưng Nam Mô Phật thì đều đã thành Phật
đạo”, tức là ý nghĩa này. Đây là [chuyện] lúc Phật
còn tại thế thâu nhận một người xuất gia, những
người xuất gia theo Phật đều có đại thiện căn, nếu
chẳng có thiện căn làm sao xuất gia được? Phật thấy
người này đến cầu xin xuất gia bèn để Xá Lợi Phất,
Mục Kiền Liên, các vị A La Hán coi người này có
thiện căn hay không? Những vị này đều có thần thông,
thần thông của A La Hán có [thể thấy] năm trăm đời,
thiên nhãn thông, túc mạng thông, những vị này thấy
trong năm trăm đời trước người này chẳng có thiện
căn, nên thưa với Phật rằng ông này không thể xuất
gia, ông làm sao có thể xuất gia được?
Phật nhận cho ông ấy [xuất gia], và nói với các đệ
tử rằng người này vô lượng kiếp về trước, đương
nhiên A La Hán chẳng có khả năng này. Vô lượng kiếp
trước ông là một tiều phu đốn củi, gặp một con cọp
trên núi, cọp muốn ăn thịt ông, ông [sợ quá, leo]
lên cây và kêu một câu ‘Nam Mô Phật’, nhờ thiện căn
này, ngày nay đã chín muồi, nên đến đây được Phật
cho ông cạo đầu xuất gia, ý nghĩa cũng giống như câu
chuyện ở trên. Một câu xưng niệm ‘Nam Mô Phật’, thời
gian nói một tiếng Nam Mô Phật rất ngắn. Khoảng
chừng một bữa ăn, thời gian một bữa ăn, chí tâm
chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát đương nhiên có thể được quả
báo này. Nếu ông ta có thể niệm niệm tương tục, lúc
nảy nói noi theo hạnh nguyện của Địa Tạng Bồ Tát,
thì hiện tại đời này sẽ thay đổi, không cần đến đời
sau, đời này liền chuyển, chuyển nhanh vô cùng. Sửa
đổi hoàn toàn hai mươi ác hạnh nói trong kinh, thay
đổi triệt để thì sẽ chuyển đổi rất nhanh. Xem tiếp
đoạn kế:
Thị xú lậu nữ nhân như bất yếm nữ thân, tức bá thiên
vạn ức sanh trung thường vi vương nữ. Nãi cập vương
phi, tể phụ đại tánh, đại trưởng giả nữ, đoan chánh
thọ sanh, chư tướng viên mãn.
Người nữ xấu xí đó nếu không nhàm chán thân nữ thì
trong trăm ngàn vạn ức đời thường là vương nữ, đến
vương phi, con gái dòng dõi, tể phụ, đại quan, đại
trưởng giả, đoan chánh thọ sanh, các tướng viên mãn.
Đây là nói nếu người ấy chẳng chán thân nữ, thân
tướng của người ấy sẽ vô cùng viên mãn. Vả lại sanh
vào nhà tôn quý, tức là như ngày nay chúng ta nói,
sanh trong quý tộc, kỳ tộc, được phước báo nhân
thiên, sau cùng kết luận:
Do chí tâm cố, chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát hoạch phước
như thị.
Do chí tâm chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát mà được phước
như vậy.
Trong chú giải của Thanh Liên pháp sư cũng đặc biệt
nói với chúng ta ‘Hai chữ chí tâm, nghĩa sâu ý nặng,
thông suốt trước sau, chớ nên coi thường. Để chuyển
được quả báo của con người, lòng thành chẳng phải là
chuyện dễ [thực hiện được]’, chuyển nghiệp báo của
mình chẳng phải việc dễ dàng. ‘Nay được phước ấy là
do chí tâm, chí tâm là tâm [thành] đến mức cùng cực
vậy’, những câu này vô cùng quan trọng. Lễ Phật cũng
phải Lý Sự viên dung, thì chúng ta mới có thể đạt
đến lợi ích chân thật. Mấu chốt quan trọng ở chỗ chí
tâm, chí tâm là chân tâm, dùng tâm chân thành để học
tập. Do đó cái tâm này triệt tiền triệt hậu, tiền
hậu chẳng phải nói đoạn này, cách nói sâu xa quán
triệt toàn kinh.
Ở phía trước chúng ta thấy Địa Tạng Bồ Tát lúc còn
tu nhân là vị đại trưởng giả, làm cô gái Bà La Môn,
làm cô Quang Mục, nhiều đời nhiều kiếp chẳng buông
bỏ bổn nguyện. Không những là không xả, thường phát
lại cái nguyện ấy, phát nguyện thật sự. Chúng ta
cũng đang học theo, đáng tiếc là không hết lòng, mỗi
buổi tụng sáng tối hằng ngày đều phát nguyện. Nguyện
đã phát rồi, chỉ phát trong miệng, thật sự thì chẳng
thực hiện, sau khi niệm xong liền quên mất, nên
nguyện ấy chẳng khởi tác dụng. Vì nguyên nhân gì?
Chẳng phải chí tâm. Mấu chốt quan trọng ở tại chí
tâm, chẳng phải chân tâm phát nguyện, giống như
chúng ta lúc bình thường có miệng chẳng có tâm, như
vậy không được. Tự mình chúng ta phải phản tỉnh,
phải sửa đổi, giúp đỡ người khác giảng Lý Sự này rõ
ràng, minh bạch, nhắc nhở họ. Họ có thể quay đầu thì
họ được phước; họ chẳng quay đầu, trong A Lại Da
thức cũng đã trồng thiện căn.
Chúng ta tự mình phát nguyện ‘Tiếp nối huệ mạng của
Phật, hoằng pháp lợi sanh’, đời này chúng ta chọn
nghề nghiệp này, nhất định phải làm tròn bổn phận,
công việc của mình, đó tức là niệm niệm chẳng xả
chúng sanh, niệm niệm giúp đỡ hết thảy chúng sanh có
được chánh tín, chánh giải, chánh hạnh, [được vậy
khi] chúng ta chọn nghề này thì mới chẳng cô phụ
[đức Phật]. Hạnh nghiệp này là sự nghiệp của Phật,
gia nghiệp của Như Lai, chúng ta chọn ngành này,
trong hết thảy thế gian và xuất thế gian, hạnh
nghiệp này thù thắng vô cùng. Nếu chẳng dùng chí tâm
thì làm sao có thể làm được? Chúng ta có thể tin
tưởng quả đức nói trong kinh, tại sao? Nhân thù
thắng, thì sẽ chẳng hoài nghi quả báo này. Đoạn thứ
tư tiếp theo là ‘Kỹ nhạc tán cúng phước’, xin xem
kinh văn:
Phục thứ Phổ Quảng, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ
nhân, năng đối Bồ Tát tượng tiền, tác chư kỹ nhạc,
cập ca vịnh tán thán, hương hoa cúng dường, nãi chí
khuyến ư nhất nhân, đa nhân. Như thị đẳng bối, hiện
tại thế trung, cập vị lai thế thường đắc bá thiên
quỷ thần nhật dạ vệ hộ, bất lịnh ác sự triếp văn kỳ
nhĩ hà huống thân thọ chư hoạnh.
Lại nữa này Phổ Quảng, nếu có thiện nam tử thiện nữ
nhân có thể đối trước tượng Bồ Tát mà trổi các thứ
kỹ nhạc, cùng ca vịnh, tán thán, cúng dường hương
hoa, cho đến khuyên được một người hay nhiều người.
Những người đó trong đời hiện tại cùng vị lai thường
được trăm ngàn quỷ thần ngày đêm hộ vệ, không để
những việc ác đến tai, huống chi đích thân chịu các
tai vạ bất ngờ.
Đoạn này trong chú giải nói: ‘Văn chia thành hai
tiết’, trước hết nói về người năng cúng, sau đó mới
nói phước báo người ấy được. Cúng dường này là gì?
Là kỹ nhạc, ca vũ. Trong Phật pháp chúng ta biết
trong pháp Đại Thừa có, còn Tiểu Thừa thì không có.
Phật nói pháp Đại Thừa, chư thiên cúng dường, thiên
nữ rải hoa, thiên nhân ca vũ, âm nhạc cúng dường.
Đặc biệt rõ ràng như trên
những bích họa (tranh vẽ trên tường) tại động Đôn
Hoàng hay động Vân Cương
[21][21], những biến tướng đồ
[22][22] này, Thế Tôn giảng
kinh thuyết pháp có những thứ cúng dường như vậy.
Trong dân gian diễn biến thành cái gì? Diễn biến
thành ca kịch cúng dường Phật, Bồ Tát, ở trước chùa
miếu Phật, Bồ Tát. Rất nhiều chùa trước đại điện
cúng Phật, Bồ Tát có sân khấu, đó là chuyên để cho
một số người phát tâm, làm các kỹ nhạc, ca vũ, tán
thán cúng dường Phật, Bồ Tát, [hoặc là] diễn kịch,
nói thật ra đây là hiểu sai ý tứ. Diễn kịch chẳng
cần phải diễn cho Phật, Bồ Tát coi, diễn kịch là
diễn cho đại chúng coi, chẳng cần phải diễn trước
Phật, Bồ Tát.
Nói thật ra trong đạo tràng có thể dùng phương pháp
này để tiếp dẫn hết thảy chúng sanh. Nhưng hiện nay
có những hý kịch, ca vũ không thể cúng dường Phật,
Bồ Tát, cúng dường như vậy là có tội. Trong những vở
kịch hồi xưa có một số có thể cúng dường Phật, Bồ
Tát, tại sao? Ca kịch hồi xưa ở Trung Quốc đều là
dạy người, nội dung là bốn chữ ‘trung, hiếu, tiết,
nghĩa’, đều là khuyên chúng sanh. Thời cổ giáo dục
chẳng phổ cập, dùng phương pháp gì để giáo hóa xã
hội đại chúng? Dùng ca kịch. Thời trước là xã hội
nông nghiệp, sau khi bận rộn công việc trồng trọt
xong, thời gian rảnh rỗi rất nhiều, dùng những
phương thức biểu diễn nghệ thuật này để khuyên người
trung, hiếu, tiết, nghĩa, biểu diễn toàn là nhân
duyên quả báo. Người thiện sau cùng được quả báo
thiện, người ác nhất định bị ác báo, biểu diễn những
thứ này. Cho nên quảng đại quần chúng chẳng từng đọc
sách, chẳng được thọ nhận giáo dục tốt đẹp, nhưng họ
hiểu được những nguyên lý, nguyên tắc làm người, làm
việc. Họ học từ đâu? Hơn phân nửa là nghe người ta
đọc sách, coi hát, học từ chỗ này. Do đó lúc trước,
những trò giải trí (ca kịch) là giáo dục, chẳng đơn
thuần chỉ là giải trí, trọng điểm ở tại giáo dục.
Trong Phật pháp cũng dùng phương thức này, đạt đến
mục tiêu giáo dục của đức Phật, cho nên trong Phật
pháp chú trọng sự tiêu biểu pháp của nghệ thuật.
Hiện nay Phật pháp suy thoái, chẳng phải là không có
nguyên nhân. Lúc trước Phật pháp hưng thạnh, nói
thật ra, nhân tài hạng nhất trong thế gian đều ở
trong Phật pháp, đều xuất gia, làm pháp sư. Pháp sư
là nhân tài hạng nhất trong thế gian, cho nên người
xuất gia làm thầy của vua, không phải là ai cũng có
thể xuất gia. Thời nhà Tùy, Đường người xuất gia
phải trải qua các kỳ thi cử, hạng mục thi cử là thi
về thế gian pháp trước, tiêu chuẩn của thế gian pháp
tương đương với tiến sĩ. Nói cách khác, học vấn thế
gian bạn phải đạt đến tiêu chuẩn này, sau đó mới thi
về Phật pháp. Thi đậu xong hoàng đế mới phát chứng
chỉ
[23][23] cho bạn, chứng chỉ đó
gọi là ‘độ điệp’. Bạn lấy được chứng chỉ này, bạn đi
tìm đạo tràng có duyên, pháp sư có duyên với bạn để
xuất gia. Nếu không có chứng chỉ ấy, họ chấp thuận
cho bạn xuất gia thì họ phạm pháp. [Muốn được] họ
nhận, bạn nhất định phải có độ điệp do hoàng đế cấp.
Độ điệp của hoàng đế cấp là thừa nhận bạn có học
vấn, đức hạnh, trong pháp thế gian và xuất thế gian
có thể làm thầy cho vua, bạn nói thân phận của người
xuất gia cao biết mấy? Một khi họ cạo đầu xuất gia,
quan viên địa phương phải đặc biệt cung kính họ, [vì
họ là] thầy của vua. Cho nên nội dung của sự giáo
hóa vô cùng sôi nổi, hấp dẫn. Bạn coi những văn tự,
kệ tụng này hay đẹp biết mấy, chẳng phải người
thường có thể làm được.
Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây.
Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính
cho. Xin thành thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng 9-2006
Do bố thí là Ba La Mật
đầu tiên của Lục Độ, hành giả Đại Thừa hành Bố Thí trước rồi tiến tu các Ba La
Mật khác nên hòa thượng nói “hành bố” là “thứ đệ” (hành theo thứ lớp), còn viên
dung là không còn thấy có thứ lớp, tự tại tu tập tất cả các Ba La Mật, đồng thời
tu tập Ba La Mật, nhưng không thấy còn phải quán sát. Chẳng hạn như trong kinh
Bát Nhã Ba La Mật dạy: Hành nhân tu Bố Thí Ba La Mật thấy người cho, kẻ nhận,
vật thí đều không, đó là tu Bát Nhã Ba La Mật. Cho mà không cầu phước báo đó là
Thiền Định Ba La Mật v.v... Khi viên dung thì tuy tu bất cứ một Ba La Mật nào
đều có thể trọn vẹn sáu Ba La Mật hay nói rộng hơn là trọn vẹn vô lượng Ba La
Mật.
Phóng Quang Bát Nhã (Pañcavimśatisāhasrikā
prajñāpāramitā), 20 quyển, do
các vị Vô La Xoa, Trúc Thục Lan v.v… cùng dịch vào
đời Tây Tấn, được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng
Kinh, quyển thứ 8.Tên gọi đầy đủ là Phóng Quang Bát
Nhã Ba La Mật Kinh. Nội dung kinh này giảng về Bát
Nhã và công đức của nó, khuyên đại chúng nên tu học.
Theo Xuất Tam Tạng Thống Ký, vào năm Cam Lộ thứ năm
(260) đời Tào Ngụy, ông Châu Sĩ Hành người xứ Dĩnh
Châu qua Vu Điền sao chép được chín mươi sáu chương
kinh này gồm hơn 60 vạn chữ, sai đệ tử là Phất Như
Đàn đưa về Lạc Dương, nhưng mãi đến Nguyên Khang
nguyên niên (291) đời Tấn Huệ Đế, các vị Vô La Xoa,
Trúc Thục Lan, Chúc Thái Huyền, Châu Huyền Minh mới
vâng chiếu cùng tham gia dịch sang Hán văn. Hai ông
Chúc và Châu làm nhiệm vụ bút thọ và nhuận văn. Kinh
này chính là bản dịch khác của các kinh Quang Tán
Bát Nhã (Trúc Pháp Hộ dịch) và kinh Ma Ha Bát Nhã Ba
La Mật Kinh (Đại Phẩm Bát Nhã) do Cưu Ma La Thập
dịch, và tương ứng với hội thứ hai trong bộ Đại Bát
Nhã Kinh do ngài Huyền Trang dịch.
‘cử nhất
phản tam, văn nhất tri thập’
Nhược nhân thức đắc tâm, đại địa vô thốn thổ.
Chữ A Hoanh (阿訇 ahong) nghĩa là thầy tế Hồi giáo cũng có nguồn gốc từ chữ Akhoond. Akhoond (akhund hay akond) trong tiếng Iran nghĩa là một thầy cúng đạo Hồi,
thường dùng ở Iran và Azerbaijan. Akhoond có nhiệm vụ hướng dẫn các buổi cúng tế, cầu nguyện trong nhà thờ Hồi giáo. Tuy nhiên trong vài thập niên gần đây, danh từ
này trong tiếng Iran lại được dùng như một danh từ có nghĩa giảm danh dự, phẩm giá của người ta, có khi được dùng trong chữ mang ý nghĩa lăng mạ, sỉ nhục,
chế nhạo (Theo Wikipedia)
Vasumitra
|