Tập 17 (Số 14-12-17)
Chư vị đồng tu, xin mở
cuốn Khoa Chú quyển
trung, trang 11.
Xin xem kinh văn:
Địa Tạng bạch ngôn, Nhân
giả, Thiết Vi chi nội
hữu như thị đẳng địa
ngục, kỳ số vô hạn.
Ngài Địa Tạng nói rằng:
“Thưa Nhân Giả, trong
núi Thiết Vi có những
địa ngục như thế, số
nhiều vô hạn.
Chữ “như thị” trong “như
thị đẳng” chỉ địa ngục
Vô Gián, A Tỳ nói ở phía
trên, và hai mươi hai
loại địa ngục.
Danh xưng của địa ngục
quá nhiều, nói chẳng
hết, chẳng qua ở đây Địa
Tạng Bồ Tát chỉ nói sơ
lược mà thôi. Số
lượng của mỗi loại địa
ngục cũng nhiều vô cùng,
vì nguyên nhân gì vậy?
Chúng ta có thể tưởng
tượng, chính là vì chúng
sanh tạo tác tội nghiệp
địa ngục ở thế gian này
quá nhiều. Thế nên
ở đây chúng ta đặc biệt
phải hiểu rõ nghiệp nhân
quả báo của địa ngục,
chúng ta phải hiểu rõ
nghiệp nhân của những
quả báo nói trong kinh
điển, nói nghiệp nhân
thì chúng ta phải biết
quả báo tương lai là gì.
Những việc này đều là
chân tướng sự thật,
tuyệt đối chẳng phải do
Phật, Bồ Tát giả thiết
những chuyện này để giáo
hóa chúng sanh, khuyên
chúng sanh đoạn ác, tu
thiện, nếu chúng ta nghĩ
như vậy thì là hoàn toàn
sai lầm, sẽ trái ngược
với chân tướng sự thật.
Thế nên chúng ta phải
ghi nhớ, Phật dạy nguyên
lý của vũ trụ nhân sanh
cho chúng ta, đây là đạo
lý căn bản. Đạo lý
căn bản, kinh Hoa Nghiêm
nói ‘Duy tâm hiện,
duy thức biến’, đây
là đạo lý căn bản.
Lại nói với chúng ta
‘Hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh’, do đó
trong tâm bạn tưởng cái
gì thì nó sẽ biến hiện
thành cảnh giới đó, hết
thảy tướng trong cảnh
giới đều chẳng chân
thật. Tại sao nói
chẳng chân thật?
Nó chuyển biến trong
từng sát na, từng sát
na, vậy thì làm sao chân
thật được? Tuy
chẳng chân thật, nếu bạn
mê trong cảnh giới ấy
thì bạn sẽ có cảm thọ
khổ, vui, lo, mừng, cứ
tưởng đó là thật, cứ
tưởng chẳng phải giả.
Sau khi giác ngộ thì
những cảm thọ này chẳng
còn nữa, họ thật sự hiểu
rõ trở lại. Nghiệp
nhân quả báo có hay
không? Có chứ,
nghiệp nhân quả báo vẫn
có, cảm thọ khổ, vui,
lo, mừng chẳng còn nữa,
nhà Phật nói đoạn phiền
não là có ý như vậy.
Chẳng phải là tướng của
phiền não chẳng có,
chẳng phải là nghiệp của
phiền não chẳng có, mà
là cảm thọ của phiền não
chẳng có, bạn đã ‘quán
không’ rồi. Tâm
kinh nói ‘Quán Tự Tại Bồ
Tát’, đó là trí huệ cao
độ, ‘hành thâm Bát Nhã
Ba la mật đa thời’, tức
là dùng trí huệ cao độ,
‘chiếu kiến ngũ uẩn giai
không’. Ngũ uẩn có
hay không? Ngũ uẩn
là thế giới hiện thực
của chúng ta, có hay
không? Có.
Tuy có, Hữu tức là
Không, thế nên trong
kinh nói ‘sắc tức thị
không, không tức thị
sắc. Sắc bất dị
không, không bất dị
sắc’, sắc tức là Hữu,
Không và Hữu tồn tại
đồng thời, Không và Hữu
là một việc, chẳng phải
hai việc, thế nên nói
“Tướng thì có mà Thể thì
không”. Có thọ
dụng, tình chấp chẳng
sanh, như vậy thì sẽ
được đại tự tại.
Chẳng phải là không có
thọ dụng, vẫn có thọ
dụng, tức là nói trong
ấy nhất định chẳng có
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước, chẳng có
những thứ này thì thọ
dụng của bạn sẽ tự tại.
Nếu bạn còn vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước,
trong lúc bạn thọ dụng
ắt sẽ có những cảm thọ
khổ, vui, lo, mừng, đã
tạo nghiệp thì lẽ nào
không thọ quả báo cho
được! Chúng ta
hiểu rõ những chân tướng
sự thật này thì từ đây
về sau sẽ chẳng tạo
nghiệp nữa.
Thế nên bước vào Niệm
Phật Đường, thân tâm thế
giới thảy đều buông
xuống, một câu Phật hiệu
niệm đến cùng, chỉ cầu
vãng sanh Cực Lạc thế
giới. Cổ đức nói:
‘Chỉ cần thấy Di Đà, còn
lo gì chẳng khai ngộ?’
Thế gian, xuất thế gian
chỉ có việc này là chân
thật, những thứ khác đều
là hư vọng, chẳng đáng
so đo, chẳng đáng ấp ủ
trong lòng. Nếu
đem những thứ khác chất
chứa trong lòng, vẫn so
đo như cũ, nghiệp bạn
tạo là nghiệp luân hồi,
vì tâm luân hồi tạo
nghiệp luân hồi, những
thứ khổ báo trong lục
đạo luân hồi bạn vẫn
phải hứng chịu.
Việc này nói ra thì sẽ
chẳng bao giờ dứt, con
người hà tất phải làm
những chuyện ngu ngốc
này, đây là việc chúng
ta nhất định phải biết.
Tiếp theo, Địa Tạng Bồ
Tát lại nói về hai mươi
hai thứ địa ngục, xin
xem kinh văn:
Cánh hữu Khiếu Hoán địa
ngục.
Lại có địa ngục Khiếu
Hoán.
Khiếu Hoán (Kêu Gào) là
thọ khổ đến cùng cực,
kêu réo chẳng ngừng.
Bạt Thiệt địa ngục,
Phẩn Niệu địa ngục, Ðồng
Tỏa địa ngục, Hỏa Tượng
địa ngục, Hỏa Cẩu địa
ngục, Hỏa Mã địa ngục,
Hỏa Ngưu địa ngục, Hỏa
Sơn địa ngục, Hỏa Thạch
địa ngục, Hỏa Sàng địa
ngục, Hỏa Lương địa
ngục, Hỏa Ưng địa ngục,
Cứ Nha địa ngục, Bác Bì
địa ngục, Ẩm Huyết địa
ngục, Thiêu Thủ địa
ngục, Thiêu Cước địa
ngục, Ðảo Thích địa
ngục, Hỏa Ốc địa ngục,
Thiết Ốc địa ngục, Hỏa
Lang địa ngục.
Địa ngục Bạt Thiệt, địa
ngục Phẩn Niệu, địa ngục
Ðồng Tỏa, địa ngục Hỏa
Tượng, địa ngục Hỏa Cẩu,
địa ngục Hỏa Mã, địa
ngục Hỏa Ngưu, địa ngục
Hỏa Sơn, địa ngục Hỏa
Thạch, địa ngục Hỏa
Sàng, địa ngục Hỏa
Lương, địa ngục Hỏa Ưng,
địa ngục Cứ Nha, địa
ngục Bác Bì, địa ngục Ẩm
Huyết, địa ngục Thiêu
Thủ, địa ngục Thiêu
Cước, địa ngục Ðảo
Thích, địa ngục Hỏa Ốc,
địa ngục Thiết Ốc, địa
ngục Hỏa Lang.
Địa Tạng Bồ Tát tùy tiện
nói bèn nói ra hai mươi
hai thứ. Khiếu
Hoán địa ngục là tám đại
địa ngục nóng nói trong
kinh Trường A Hàm.
[Địa ngục] thứ tư, thứ
năm đều gọi là Khiếu
Hoán. Trong kinh
nói với chúng ta nghiệp
nhân gì đọa vào địa ngục
này? Sân khuể, tà
ác, giữ tấm lòng như
vậy, tạo tác nhiều thứ
ác nghiệp, đọa vào địa
ngục này. Lại nói
vì tập khí tà ác quá
nặng, vừa gặp một duyên
nhỏ bèn khởi lên, cũng
tức là vừa có một chút
gì chẳng vừa ý thì nó
liền phát khởi, tạo tác
các thứ hình phạt ác,
đọa vào địa ngục Đại
Khiếu Hoán. Địa
ngục Bạt Thiệt (Rút
Lưỡi), địa ngục Phẩn
Niệu (Phân, Nước Tiểu)
đều là do tạo khẩu
nghiệp. Khẩu
nghiệp gồm có bốn thứ:
nói dối, nói lời thô ác,
nói lưỡi hai chiều, nói
lời thêu dệt (ỷ ngữ),
tạo những khẩu nghiệp
này thì đọa địa ngục Bạt
Thiệt. Địa ngục
Phẩn Niệu, lúc trước lão
cư sĩ Lý Bỉnh Nam giảng
kinh nói đến địa ngục,
ngài rất cảm khái mà nói
lúc ngài còn trẻ rất
nghĩa hiệp, làm những
hành vi hào hiệp trượng
nghĩa đều chẳng màng,
đọa địa ngục cũng chẳng
sao. Về sau nhìn
thấy có địa ngục Phẩn
Niệu thì ngài nói cái
này không được, chẳng
chịu nổi. Phẩn
Niệu chẳng giống như
nước [lạnh] mà là giống
như nước bị lửa đun sôi
lên, bắt bạn chịu đựng
trong đó, như vậy thì
khó chịu lắm! Ngài nói
núi dao, rừng kiếm gì
cũng chẳng sao, ngài xem
đến địa ngục này bèn sợ
hãi.
Địa ngục Đồng Tỏa (Khóa
Đồng) trong kinh Quán
Phật Tam Muội cũng còn
gọi là địa ngục Hắc
Thằng. Chú giải
của Thanh Liên pháp sư
cũng nói rất rõ, đọa địa
ngục này những sự khổ sở
phải trải qua trong một
ngày một đêm chẳng thể
tính đếm nổi.
Nghiệp nhân này là do
chúng sanh ngu si, chữ
‘chúng sanh’ này bao gồm
đệ tử Phật, nghĩa là
cũng bao gồm chúng ta.
Giới thiệu Phật pháp cho
người khác nhưng nói sai
ý nghĩa, [chánh] pháp
lại nói là phi pháp, phi
pháp lại nói là [chánh]
pháp, phạm giới tuy
không nặng nhưng chẳng
biết sám hối, đọa địa
ngục này.
Địa ngục Hỏa Tượng (Voi
Lửa), trong kinh nói đây
là voi lớn, hết thảy
những động vật này trong
địa ngục đều là tánh
thức biến hiện ra, toàn
thân mình voi đều là
lửa. Nếu voi phát
điên lên rồi tấn công
người ta, sức của nó rất
mạnh, chẳng có cách chi
có thể chống cự.
Do đó lúc voi điên cuồng
nó sẽ giết người.
Kinh nói đây là nghiệp
nhân gì? Con người
trong thế gian thích
uống rượu, mỗi lần uống
đến say mèm, say rồi thì
loạn tính, tạo những
nghiệp sát, đạo, dâm,
vọng, có thể hại chúng
sanh, cho nên sau khi
chết đọa địa ngục này.
Địa ngục Hỏa Cẩu (Chó
Lửa), phía sau nói đến
Hỏa Mã, Hỏa Ngưu (Ngựa
Lửa, Trâu Lửa) rất giống
nhau, nghiệp nhân khác
nhau. Kinh này nói
có một số người trong
thế gian nuôi tằm, ươm
kén sát hại sanh mạng
rất nhiều. Thế nên
người xuất gia vì muốn
nuôi dưỡng tâm từ bi nên
mới không ăn thịt chúng
sanh, chẳng nhẫn tâm ăn
thịt chúng sanh.
Mặc áo cũng vậy, nếu bạn
mặc áo da thì cũng chẳng
khác gì ăn thịt, mặc da
của chúng sanh, làm sao
nhẫn tâm được? Mùa
hè mặc áo tơ lụa, tơ lụa
là do tằm nhả tơ [dệt
thành], một chiếc áo này
của bạn, bao nhiêu con
tằm phải mất mạng mới
làm thành chiếc áo này
cho bạn mặc? Thế
nên bốn chúng đệ tử
trong nhà Phật, xuất
gia, tại gia đều không
nhẫn tâm, áo vải đủ để
giữ ấm thì tại sao phải
dùng tơ lụa? Tại
sao phải dùng da và
lông? Đức Phật
giáo hóa chúng sanh
thông đạt tình lý, chẳng
phải không nói đạo lý.
Người có thân thể suy
nhược, rất sợ lạnh, nếu
không mặc áo da thì
chẳng đủ ấm, như vậy có
khai duyên
, có
thể mặc. Phần
nhiều trong giới kinh
nói thứ nhất là người
sanh bịnh, sức khoẻ rất
suy yếu; ngoài ra là
người già, sức đề kháng
suy kém. Trên bảy
mươi tuổi sức đề kháng
suy yếu thì có khai
duyên, có thể mặc áo da.
Chúng ta thân thể còn
rất khỏe mạnh, cường
tráng, còn sức đề kháng
nếu cứ mặc những áo da
này thì cùng với ăn thịt
chẳng có gì sai khác.
Lúc thường ngày tạo
những nghiệp nhân này
đều cảm thấy rất bình
thường, chẳng màng lắm,
đâu biết rằng quả báo
lại nặng nề như vậy?
Nếu không đọc kinh thì
không biết, đọc xong mới
hiểu được.
Hỏa Mã, Hỏa Ngưu đồng
loại với địa ngục này.
Toàn thân đều là lửa,
chịu dày vò bởi những
con thú có lửa này, bị
chúng nó công kích, ở đó
người ta bị chó cắn, bị
ngựa đá, bị trâu húc,
toàn thân đều là lửa.
Thứ chín là Hỏa Sơn (Núi
Lửa), thứ mười Hỏa Thạch
(Đá lửa), trong Khởi Thế
Kinh
gọi là địa ngục Chúng
Hiệp. Phía trước
chúng ta thấy có Giáp
Sơn, cũng giống như
nghĩa này. Thứ
mười một địa ngục Hỏa
Sàng (Giường Lửa) cũng
giống như Thiết Sàng
phía trước, đều là quả
báo của dâm dật, tà dâm.
Thứ mười hai địa ngục
Hỏa Lương (Rường Lửa),
lương tức là cây xà bằng
sắt, cây trụ sắt, để cho
người ta ôm ở trên, hoàn
toàn giống như trụ sắt
trong hình phạt Bào Lạc
nói phía trước.
Địa ngục Hỏa Ưng (Chim
Ưng Sắt) giống như địa
ngục Thiết Ưng phía
trước, mỏ của chim ưng
sắt vô cùng bén nhọn,
chuyên dùng để móc mắt
tội nhân. Toàn
thân đều là lửa.
Người ta sanh trong thế
gian thọ mạng rất ngắn
ngủi, khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ tạo tác
đừng tưởng là chẳng có
quả báo, nếu bạn nghĩ
như vậy thì sai rồi.
Khởi tâm động niệm cũng
cảm quả báo, huống chi
là ngôn ngữ, hành vi tạo
tác? Thứ mười bốn
địa ngục Cứ Nha (Cưa
Răng), đây cũng là quả
báo của ác khẩu, [địa
ngục] Rút Lưỡi, Cưa Răng
đều là tội báo của khẩu
nghiệp.
Thứ mười lăm là địa ngục
Bác Bì (Lột Da), cũng có
kinh gọi địa ngục này là
Đại Quyển, lột da xong
cuốn lại. Nghiệp
nhân này hơn phân nửa là
sát hại chúng sanh, lột
da chúng sanh, đoạt mạng
chúng sanh, cảm thọ quả
báo này. Nói cách
khác chúng ta làm gì thì
tương lai sẽ thọ quả báo
ấy. Cổ đức thường
khuyên người:
‘Những gì mình không
thích thì đừng làm cho
người khác’
,
thường nghĩ đến câu này,
mình không muốn hứng
chịu [việc đó] nhất định
chẳng thể làm cho chúng
sanh. Không những
là đối với người, hết
thảy động vật cũng không
thể. Thật ra, các
loài động vật chẳng khác
gì con người, nghiệp
chướng của chúng nặng
nên đọa vào cõi súc
sanh, chúng ta tốt hơn
chúng nên được thân
người. Nếu chúng
ta tạo ra những tội
nghiệp nặng nề, tương
lai cũng đọa thành súc
sanh, súc sanh và người
có khác gì đâu?
Con người mến tiếc sanh
mạng của chính mình, súc
sanh cũng mến tiếc sanh
mạng của chúng. Kẻ
khác làm hại chúng ta,
chúng ta có tâm oán hận,
muốn báo thù; súc sanh
cũng vậy, bạn hiếp đáp
chúng, gây tổn hại cho
chúng, chúng cũng có tâm
oán hận, báo thù, [hiểu
vậy thì] kết oán thù với
chúng sanh làm chi?
Hiểu được đạo lý này thì
tự nhiên sẽ chẳng khởi
tâm ác, tự nhiên chẳng
dám khởi ác niệm, chẳng
dám tạo ác nghiệp.
Nhưng một người sống
trong thế gian, tập khí
ác từ vô thỉ kiếp đến
nay rất nặng, tự mình
chẳng có cách chi khống
chế nổi, lại cộng thêm
ác duyên bên ngoài, từng
giờ từng phút dụ dỗ bạn.
Bên ngoài có dụ dỗ, bên
trong có phiền não thì
làm sao không tạo nghiệp
cho được? Do đó
Thế Tôn dạy chúng ta
‘Dùng Giới Định Huệ
hàng phục ma oán’,
câu này trọng yếu phi
thường! Huệ là gì?
Đối với nghiệp nhân quả
báo nhìn thấy rõ ràng,
minh bạch, đây là trí
huệ. Khi cảnh giới
hiện tiền, tâm địa thanh
tịnh, như như chẳng
động, đây là công phu.
Khi bạn có công phu định
lực thì bạn có trí huệ,
bạn mới có thể khống chế
nổi phiền não, tập khí
của mình, chẳng cho nó
phát khởi. Chỉ
riêng việc khống chế thì
cũng tương đối khó rồi,
nhất định phải chuyển
tâm niệm ngược lại, cực
lực tu thiện, sức chú ý
thay đổi, việc này dễ
dàng, một lòng một dạ
hướng về thiện đạo,
thành tựu cho chúng
sanh. Thế nên
chúng ta nhất định phải
suy tư, thường thường
nghĩ chư Phật, Bồ Tát
làm như thế nào?
Các ngài làm một tấm
gương tốt cho chúng ta
coi. Phát tâm học
Phật cũng có bi nguyện,
phải rộng độ chúng sanh,
nguyện này rất tốt!
Xây đạo tràng, dựng pháp
tràng, độ chúng sanh,
lập sự nghiệp.
Nhưng sự nghiệp này nhất
định phải nhân duyên
trong ngoài đều chín
muồi, nếu duyên chưa
chín muồi, tự mình làm
sự nghiệp này có một tơ
hào miễn cưỡng thì sai
rồi. Trong kinh
đức Phật nói với chúng
ta:‘Nếu cúng dường số
thánh nhân nhiều như cát
sông Hằng cũng chẳng
bằng kiên trì dũng mãnh
cầu Chánh Giác’
,
câu này là gì? Duyên
độ chúng sanh chưa chín
muồi thì chúng ta phải
tự độ trước; khi duyên
chín muồi rồi thì có thể
xả mình vì người.
Chư Phật Như Lai biểu
diễn cho chúng ta xem,
tây phương Cực Lạc thế
giới A Di Đà Phật đang ở
nơi đó xây đạo tràng,
dựng pháp tràng, phổ độ
hết thảy chúng sanh
trong hư không pháp giới
bình đẳng thành Phật,
thật là khó được.
Mười phương chư Phật Như
Lai có trí huệ của A Di
Đà Phật không? Có
bi nguyện của A Di Đà
Phật không? Có
thần thông năng lực của
A Di Đà Phật không?
Đều có! Mỗi đức
Phật đều bình đẳng, Phật
Phật đạo đồng. Tại
sao hết thảy chư Phật
chẳng tự mình xây dựng
thế giới Cực Lạc?
Đức Phật A Di Đà xây
dựng thế giới Cực Lạc,
tại sao đức Phật Thích
Ca Mâu Ni không xây thế
giới Cực Lạc? Đức
Phật Thích Ca chẳng kém
hơn đức Phật A Di Đà,
chẳng thua, chẳng kém
hơn. Chúng ta có
suy nghĩ, có thấu hiểu ý
nghĩa này chăng?
Mười phương chư Phật Như
Lai đều chẳng xây, đức
Phật A Di Đà đã xây rồi,
hết thảy chúng sanh đều
về đó thân cận ngài.
Một tức là tất cả, tất
cả là một, đây là chân
lý, là chân tướng sự
thật. Nếu mỗi đức
Phật đều xây một thế
giới Cực Lạc, ai nấy đều
đánh lộn, đấu tranh lẫn
nhau, nhất định sẽ tự
khen mình và chê bai kẻ
khác, sẽ xuất hiện căn
bịnh này. Chỉ có
một đạo tràng, tận hư
không trọn khắp pháp
giới chỉ có một đạo
tràng, mười phương ba
đời hết thảy chư Phật
Như Lai đều cho đệ tử
của mình, khuyên họ đến
tây phương Cực Lạc thế
giới. Việc này đã
có người làm rồi, chúng
ta không cần làm nữa,
Phật thị hiện cho chúng
ta coi, chúng ta ở đây
phải thấu hiểu được.
Ở Trung Quốc cổ đại, có
nhiều đạo tràng lớn nhỏ
được xây dựng trong xã
hội, nguyên nhân là gì?
Vì giao thông chẳng phát
triển, tu học chẳng
thuận tiện, vì đem lại
lợi ích cho chúng sanh ở
một địa phương nên xây
một đạo tràng ở đó;
chẳng có phương tiện
giao thông nên phải xây
dựng đạo tràng ở khắp
nơi thì mới rộng độ
chúng sanh. Ngày
nay có cần làm vậy
không? Chẳng cần.
Thế nên mấy năm trước,
lần đầu tiên tôi đến Bắc
Kinh thăm viếng cụ Triệu
Phác Sơ, tôi bàn với cụ
hiện nay trên toàn thế
giới chỉ cần xây một đạo
tràng. Tôi đề nghị
với cụ, mười tông phái
Đại Thừa, Tiểu Thừa ở
Trung Quốc, mỗi tông
phái xây một đạo tràng,
chẳng cần xây nhiều,
nhân lực, tài lực, vật
lực đều tập trung, xây
một đạo tràng bèn có thể
độ hết thảy chúng sanh
trên toàn thế giới.
Ngày nay đi du lịch khắp
hoàn cầu phải cần hơn
hai ngày, người muốn học
Tịnh Độ thì đến đạo
tràng Tịnh Độ để tu học,
người muốn học Thiền
Tông thì có đạo tràng
Thiền Tông để tu học,
hết thảy những đại đức
Thiền Tông trên toàn thế
giới đều tập trung ở một
chỗ, thì bạn [đến đó
học] thân cận [quý ngài]
rất thuận tiện, chẳng
giống như thời xưa không
thuận tiện. Đặc
biệt là ngày nay nói đến
việc hoằng pháp lợi
sanh, chúng ta lợi dụng
công cụ khoa học, truyền
hình vệ tinh, mạng lưới
điện toán, ở một nơi có
thể truyền đi khắp thế
giới, mỗi người ở nhà
đều có thể tiếp nhận
được. Chư vị nghĩ
coi xây dựng đạo tràng
nhiều như vậy làm gì?
Hao nhọc tiền tài của
dân. Tại sao không tập
trung lực lượng vào một
nơi? Bạn muốn làm
người lãnh đạo, được
lắm! Chúng ta sẽ
ủng hộ bạn làm lãnh đạo,
ai làm lãnh đạo cũng
được, tất cả chúng ta
đều đảnh lễ, đều ủng hộ
bạn, mời bạn đến lãnh
đạo. Người lãnh
đạo phải hy sinh, cống
hiến nên rất cực khổ,
chúng ta là người giúp
việc thì rất nhàn hạ,
chẳng có trách nhiệm,
toàn tâm toàn lực đi
theo để giúp đỡ.
Ngày nay rất nhiều người
nói đến “thôn địa cầu”,
địa cầu là một thôn
làng, một thôn có một
đạo tràng đủ rồi, có hai
đạo tràng thì là quá
nhiều.
Thế nên phải biết hiện
nay là thời đại như thế
nào, chúng ta hoằng pháp
lợi sanh thì phải làm
như thế nào. Nếu
chúng ta thật sự có thể
tập trung nhân lực, thí
dụ chúng ta ở đây là
Tịnh Độ Tông, những
người tu học tông Tịnh
Độ đều tu tập với nhau,
mỗi ngày mọi người cùng
nhau thảo luận kinh
giáo, trau giồi dùi mài,
hết lòng tu học, không
ngừng nâng cao cảnh giới
của mình. Giảng
kinh thuyết pháp, giáo
hóa chúng sanh, lợi dụng
kỹ thuật đem giáo học
đến tận gia đình của mỗi
người, thế giới này chỉ
cần một đạo tràng là đủ
rồi. Nhân lực phân
tán thì chắc chắn không
làm nổi chuyện này.
Tập trung nhân lực, tài
lực, vật lực thì sẽ dễ
làm. Xả mình vì
người, chẳng có tự kỷ
thì đời này chúng ta mới
được độ. Khởi tâm
động niệm [đều nghĩ về]
mình, khởi tâm động niệm
[đều nghĩ] đạo tràng của
mình, khu vực của mình,
thì bạn vĩnh viễn chẳng
thể thoát khỏi lục đạo
luân hồi, tại sao vậy?
Chấp trước lục đạo là
của mình, chấp trước địa
ngục A Tỳ là của mình,
bạn làm sao không đọa
địa ngục cho được?
Thế nào gọi là chấp
trước địa ngục A Tỳ?
Chấp trước tham, sân,
si, mạn tức là [chấp
trước] địa ngục A Tỳ,
bạn tạo tội nghiệp.
Người như thế nào mới có
thể vãng sanh? Xả
bỏ thế giới Sa Bà, hết
thảy đều buông bỏ, chẳng
muốn nữa, người như vậy
mới có thể thoát ly,
mong mỏi hướng về Tịnh
Độ nhất định sẽ được
sanh về Tịnh Độ, đây là
đạo lý nhất định, là
chân tướng sự thật.
Chúng ta đọc kinh Địa
Tạng, hiểu sự khổ trong
tam đồ lục đạo, hiểu
được khởi tâm động niệm,
tạo tác ác nghiệp sẽ
phải thọ quả báo gì.
Quả báo này trong kinh
nói thời gian ở mỗi địa
ngục đều là vô số kiếp,
lúc chúng ta tạo [tội]
thật dễ dàng, thời gian
rất ngắn, quả báo tương
lai sẽ dài đăng đẳng.
Mỗi câu tôi khuyên mọi
người đều là lời chân
thật, tôi nói với quý
vị, công đức niệm Phật
một ngày trong Niệm Phật
Đường là vô lượng vô
biên. Lý ở trong
đó rất sâu, muốn nói rõ
về những sự tướng, đạo
lý ấy thì một năm, hai
năm cũng chẳng cách chi
nói hết. Trong
kinh Phật thường nói cho
dù chư Phật Như Lai cùng
nói, nói tới một kiếp
cũng chẳng nói hết.
Thế nên chúng ta muôn
vàn xin đừng coi thường
những cụ già mỗi ngày
làm việc thiện nguyện,
quét dọn, lau bàn ở Cư
Sĩ Lâm, chẳng có ai trên
thế gian có thể sánh nổi
phước đức của họ đâu.
Chúng ta cứ vênh váo ta
đây rất giỏi, chẳng coi
trọng họ, khinh thường
họ, người ta là Bồ Tát,
là Phật đấy.
Nếu các bạn không tin,
các bạn đọc trong truyện
ký, Phong Can, Hàn Sơn,
Thập Đắc ở chùa Quốc
Thanh thời xưa, có ai
coi trọng các ngài?
[Họ] ăn mặc lôi thôi,
điên điên cuồng cuồng,
làm những việc nặng nhọc
nhất. Phong Can
giã gạo, đổ rác, Hàn
Sơn, Thập Đắc nấu nướng
trong nhà bếp, chẻ củi
đốt lửa. Ai biết
được? Phong Can là
A Di Đà Phật tái lai,
Hàn Sơn là Văn Thù, Thập
Đắc là Phổ Hiền, Văn
Thù, Phổ Hiền tái lai.
Bạn đừng coi thường
những người làm công
việc nặng nhọc này, có
nhiều Phật, Bồ Tát tái
lai trong đó, bạn làm
sao biết được?
Dùng mắt thịt phàm phu
khinh thường họ là bạn
đang tạo tội nghiệp đấy.
Bạn đợi đến bao giờ họ
vãng sanh có tướng lành
hy hữu [thì mới biết]
lời tôi nói trên giảng
đài này chẳng phải là
lời giả dối. Sau
khi Niệm Phật Đường này
mở ra, nhất định sẽ có
người đứng vãng sanh,
ngồi vãng sanh, chẳng
sanh bịnh, đoán
trước ngày giờ mất,
chẳng phải là những
người thường có thể sánh
kịp, họ thật đều là
Phật, Bồ Tát cả.
Chúng ta vừa có một chút
phước báo nho nhỏ bèn
cống cao ngã mạn, cứ cho
mình là đúng. Mở
kinh Địa Tạng ra, có một
tội nghiệp nào chẳng
tạo? Hiện nay vẫn
tiếp tục tạo không
ngừng, vẫn chẳng biết
sửa lỗi, vẫn chưa biết
quay về. Bạn niệm
Phật suốt ngày ở Niệm
Phật Đường, cảm thấy vô
cùng mỏi mệt, đó là gì?
Nghiệp chướng hiện tiền,
Niệm Phật Đường thật sự
đang tiêu nghiệp chướng
cho bạn. Vài ngày
đầu nghiệp chướng khởi
lên, nếu bạn có thể nhẫn
nại, có thể dũng mãnh
tinh tấn thì nghiệp
chướng sẽ bị hàng phục.
Niệm được ba tháng, nửa
năm thì nghiệp chướng
tiêu tan, bạn sẽ được
thanh tịnh, tự tại, thân
tâm an ổn, pháp hỷ sung
mãn. Niệm Phật
Đường chúng ta vừa mở
chẳng bao lâu, có ai
được pháp hỷ sung mãn
không? Có chứ,
chẳng ít. Những
người nào? Đều là
những bà cụ, họ được
pháp hỷ sung mãn.
Gặp cư sĩ Lý Mộc Nguyên
họ bèn hỏi ông: ‘Chừng
nào tổ chức (cử hành)
khóa cộng tu nữa?’.
Ông Lý nói: ‘Mỗi tuần cử
hành một lần’. Họ
nói: ‘Sao lâu quá vậy!’,
thế nên các bạn nghĩ xem
đây là đạo tràng gì?
Chẳng phải do con người
tạo dựng, là do Phật, Bồ
Tát tạo dựng đấy.
Nếu chúng ta ở đây tranh
giành công lao, nói là
do chúng ta tạo dựng,
vậy thì sai lầm quá đỗi.
Lấy công đức của Phật,
Bồ Tát cho là của mình,
vậy thì dễ sợ lắm!
Chúng ta chỉ bất quá là
người làm công cho Phật,
Bồ Tát mà thôi, đi theo
xách dép mà thôi.
Tự mình nhất định phải
biết mình ở nơi đây là
thân phận gì thì chúng
ta mới thật sự được
Phật, Bồ Tát gia trì,
được hộ pháp long thiên
ủng hộ; ủng hộ là hộ đạo
tràng, là hộ những người
niệm Phật này, chúng ta
chỉ hưởng ké thôi.
Nếu nói hộ chúng ta thì
hoàn toàn sai lầm, chúng
ta làm gì có trí huệ lớn
như vậy? Làm gì có
phước báo lớn như vậy?
Thế nên đạo tràng thành
lập là thiện căn, phước
đức, nhân duyên của
chúng sanh ở nơi đó chín
muồi, chúng ta thật rất
may mắn, gặp được vận
may này, hưởng ké một
chút, [những lời nói
này] câu nào cũng là lời
chân thật.
Thứ mười sáu là địa ngục
Ẩm Huyết (Uống Máu),
nghiệp nhân này là trộm
cắp tà hạnh, hoặc là ở
trong tự viện, đạo
tràng, hoặc là gần tự
viện đạo tràng, tạo tác
ác nghiệp, trong đó cũng
bao gồm nói láo.
Trong mười đại địa ngục
có một cái gọi là địa
ngục Uống Máu. Máu
này rất khó uống, dơ
dáy, hôi hám, là một con
sông toàn máu, người ta
đọa trong ấy. Thứ
mười bảy, mười tám là
Thiêu Thủ (Đốt Tay),
Thiêu Cước (Đốt Chân),
loại này cũng thuộc tám
địa ngục nóng.
Trong kinh nói nghiệp
nhân này là lúc còn ở
nhân gian chặt chém súc
sanh, khi bạn ăn thịt
chúng sanh, bạn dùng dao
chặt đứt tay, đứt chân
của chúng, rồi bỏ chúng
vào nồi để thiêu, nấu,
người ngoại quốc gọi là
thiêu nướng, tương lai
đọa địa ngục cũng bị quỷ
tốt trong địa ngục thiêu
nướng.
Thứ mười chín địa ngục
Đảo Thích (Đâm Ngược),
Đảo Thích, nghiệp nhân
hơn nửa là phản bội,
phản bội tức là chẳng
thuận, sẽ hứng chịu địa
ngục này. Nghiệp
nhân ở trong đó rất
rộng, phản bội cha mẹ,
phản nghịch sư trưởng,
còn gọi là bội sư phản
đạo, tạo ra các hành vi
phản nghịch, ác nghiệp
như vậy phải thọ quả báo
ở địa ngục này.
Hỏa Ốc (Nhà Lửa), Thiết
Ốc (Nhà Sắt), hai địa
ngục này giống nhau, lúc
tạo nghiệp nhân nặng nhẹ
khác nhau cho nên hai
thứ khổ báo địa ngục này
cũng có nặng nhẹ khác
nhau. Nhà Lửa nhẹ,
còn quả báo Nhà Sắt thì
nặng, Nhà Sắt cũng là
một biển lửa. Sau
cùng là địa ngục Hỏa
Lang (Chó sói Lửa).
Kinh Khởi Thế nói dùng
những nghiệp nhân chẳng
thiện, trong đó quan
trọng nhất là tâm tham.
Tâm tham của sói nặng,
sói là một loại thuộc về
mãnh thú trong các loài
dã thú. Người thế
gian thường gọi ‘tâm
sói’, tâm sói rất hận
độc. Tâm của chúng
ta hận độc lúc còn ở
nhân gian, chẳng chừa
thủ đoạn, tham lấy hết
thảy, quả báo ở trong
địa ngục này. Xem
đoạn kinh tiếp theo:
Như thị đẳng địa ngục,
kỳ trung các các phục
hữu chư tiểu địa ngục.
Các địa ngục như trên,
trong mỗi thứ lại có các
địa ngục nhỏ
Vô Gián, A Tỳ là địa
ngục căn bản, địa ngục
của những tội cực nặng.
Ngoài Vô Gián, A Tỳ ra
là những đại địa ngục
nói ở phía trước, mỗi
địa ngục lớn lại có rất
nhiều địa ngục nhỏ.
Hoặc nhất hoặc nhị, hoặc
tam hoặc tứ, nãi chí bá
thiên, kỳ trung danh
hiệu các các bất đồng.
Hoặc một hoặc hai, hoặc
ba hoặc bốn cho đến trăm
ngàn, tên trong số đó
đều khác nhau.
Câu này [ngụ ý Bồ Tát
chỉ nói] lướt qua [về
danh hiệu, tình trạng
địa ngục], Ngài lược
bớt, [nếu] nói rõ thì
nói chẳng hết.
Địa Tạng Bồ Tát cáo Phổ
Hiền Bồ Tát ngôn: Nhân
giả, thử giả giai thị
Nam Diêm phù Đề hành ác
chúng sanh, nghiệp hoặc
như thị.
Địa Tạng Bồ Tát nói với
Phổ Hiền Bồ Tát: ‘Thưa
Nhân giả, đây đều do
chúng sanh trong cõi Nam
Diêm Phù Đề làm ác mà
tùy nghiệp chiêu cảm ra
như thế’.
Nghiệp địa ngục từ đâu
đến? Nghiệp cảm
ứng hiện tiền. Thế
nên hết thảy cảnh giới
tướng, chẳng do người
khác tạo ra cho bạn hứng
chịu, nói cách khác
thiên đường cũng chẳng
phải do Thượng Đế tạo ra
để cho bạn đến hưởng
phước, địa ngục chẳng
phải do Diêm La Vương
tạo thành để cho bạn đến
thọ tội, chẳng phải vậy,
toàn là do nghiệp cảm.
Bạn tạo thiện nghiệp thì
bạn cảm được thiên
đường; bạn tạo ác
nghiệp, nó biến hiện ra
thành địa ngục.
Cảnh giới đó biến hóa
từng sát na, đây là lời
chúng ta thường nói, đều
căn cứ lời Phật nói
‘vạn pháp đều không,
nhân quả chẳng không’.
‘Nhân quả chẳng không’
phải nói từ chỗ nào?
‘Chuyển biến chẳng
không’ cảnh giới
tướng bên ngoài chuyển
biến từng sát na, từng
sát na. Biến như
thế nào? Tùy tâm
mà biến, tâm tức là niệm
đầu (một niệm), niệm đầu
là năng biến, cảnh giới
là sở biến. Tâm
mọi người thiện thì hoàn
cảnh sẽ thiện, mọi người
tạo ác thì hoàn cảnh sẽ
xấu ác. Hiện nay
hoàn cảnh thế gian chúng
ta rất xấu ác, nhiều
thiên tai nhân họa; khi
chúng ta mở báo, mở TV
[coi tin tức thường cảm
thấy] thân tâm chẳng an,
lo lắng trùng trùng,
nguyên nhân là gi?
Mọi người đều tạo ác
nghiệp, như vậy làm sao
chịu nổi! Chúng ta
hiểu được đạo lý này,
hiểu rõ chân tướng sự
thật này thì phải nên
dốc toàn tâm toàn lực
làm các công tác khuyến
hóa, làm vậy cũng chỉ là
tận tâm, tận phận mà
thôi. Người ta
nghe hay không, nghe có
hiểu không, chịu quay về
hay không là chuyện của
họ. Tự tâm chúng
ta phải thiện, lời nói
thiện, hành vi thiện;
trong cộng nghiệp có
biệt báo (quả báo riêng
biệt), đạo lý này không
thể không hiểu, chẳng
thể chẳng cảnh giác.
Làm sao trong hoàn cảnh
tai biến trùng trùng này
cứu chính mình, giúp đỡ
người nhà, quyến thuộc,
thân thích, bạn bè, chỉ
cần họ chịu nghe, có thể
tin, có thể tiếp nhận,
chẳng có một ai không
được cứu. Cho dù
đã tạo tội nghiệp địa
ngục, [chỉ cần] bây giờ
bạn còn một hơi thở thì
bạn cũng còn được cứu.
Chết đi đọa lạc trong
địa ngục thì chẳng còn
cách gì nữa, Phật, Bồ
Tát cũng chẳng giúp được
gì. Chỉ cần bạn
chưa đọa địa ngục thì
bạn có thể được cứu, làm
thế nào cứu? Chư
Phật Như Lai có diệu
pháp, dạy bạn niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ, niệm
Phật là pháp sám hối
chân thật. Buông
xuống hết thảy pháp thế
gian, xuất thế gian,
buông xuống tức là chẳng
tiếp tục tạo tác.
Chỉ cần không tạo thì là
quay về, chẳng thêm
‘tăng thượng duyên’ cho
những hạt giống trong A
Lại Da Thức, tuy có hạt
giống ác nghiệp nhưng nó
chẳng khởi lên được;
chẳng khởi lên tức là
nói rõ chẳng thọ quả
báo. Lời Phật dạy
chúng ta thật sự là có
đạo lý, chẳng phải là
không có đạo lý.
Muốn Nhân biến thành
Quả, trong đó phải có
Duyên, Nhân và Quả chẳng
có phương pháp gì để
khống chế, nhưng Duyên
có phương pháp khống chế
được. Thí dụ hạt
giống trái dưa là Nhân
của trái dưa, nhưng
Duyên của hạt dưa chính
là đất đai, ánh sáng mặt
trời, nước, phân bón, có
đầy đủ điều kiện thì hạt
giống mới có thể lớn lên
thành dưa, mới ra trái
dưa, nó cần có Duyên.
Nếu chúng ta cắt đứt
Duyên của nó, bỏ hạt
giống vô tách trà, để đó
một trăm năm nó cũng
chẳng kết thành dưa, tại
sao? Duyên đã bị
cắt đứt.
Phật dạy chúng ta tự độ
mình chính là đạo lý
này, nghiệp nhân hạt
giống trong A Lại Da
thức vô lượng vô biên,
bây giờ cắt đứt tất cả
duyên, tuy có hạt giống
nhưng nó sẽ chẳng khởi
lên. Hiện nay chỉ
thêm vào một duyên,
duyên niệm Phật, trong A
Lại Da thức của chúng ta
có hạt giống A Di Đà
Phật, có hạt giống tây
phương Cực Lạc thế giới,
chỉ cần chăm sóc hạt
giống này cho đàng
hoàng, những duyên khác
hoàn toàn cắt đứt.
[Niệm Phật] trong Niệm
Phật Đường chính là làm
công việc này, đoạn dứt
hết thảy duyên phận của
các hạt giống [khác],
thói quen [khác], toàn
lực gia tăng, tất cả đều
tập trung để tăng cường
duyên niệm Phật, thế nên
duyên niệm Phật này sẽ
thành thục rất nhanh, ba
năm, năm năm nhất định
sẽ thành tựu.
Lời trong kinh Phật nói
chẳng giả dối,
‘Nhớ Phật, niệm Phật, hiện
tiền, tương lai nhất
định thấy Phật’, một
khi thấy Phật thì việc
gì cũng sẽ viên mãn.
Ngày nay chúng ta muốn
làm công tác hoằng pháp
lợi sanh, bạn làm như
thế nào? Bạn làm
sao mới được viên mãn,
mới được vừa lòng?
Làm chẳng nổi, chẳng có
trí huệ, chẳng có phước
đức. Chỉ có biện
pháp duy nhất là gặp A
Di Đà Phật trước, thấy
được A Di Đà Phật thì
phước huệ của bạn sẽ đầy
đủ, bạn có trí huệ, có
đại phước đức, bất luận
bạn làm việc gì
‘trong cửa nhà Phật, có
cầu ắt ứng’, bạn còn
chướng ngại gì nữa?
Còn khó khăn gì nữa?
Huống chi sau khi thấy
Phật, không gian sanh
hoạt của chúng ta được
mở rộng ra. Ngày
nay chúng ta là phàm phu
sanh tử, chúng ta sinh
sống trong thế gian này,
không gian sinh hoạt của
chúng ta là địa cầu,
chẳng có cách chi ra
khỏi địa cầu, đi đâu
cũng chỉ đi trên mặt địa
cầu, hiện nay vẫn không
thể đi đến tinh cầu
khác.
Chúng ta cũng thường
nghe nói có người ngoài
không gian, người hành
tinh khác đến thăm viếng
trái đất, những ‘người’
ấy đến địa cầu đích thật
[là chúng sanh] thuộc về
nhân đạo, chẳng phải là
thiên đạo. Tại
sao? Thiên đạo
chẳng cần lái dĩa bay,
chẳng cần công cụ phi
hành, chẳng cần, chỉ có
cõi người mới cần.
Người cõi trời đi đâu
chẳng cần những công cụ
này. Những người
này còn phải dùng công
cụ phi hành, kỹ thuật
khoa học của họ phát
triển hơn chúng ta, cho
nên họ vẫn thuộc nhân
đạo, chắc chắn không
phải thiên đạo.
Ngay cả Tứ Thiên Vương
họ cũng chẳng thể sánh
bằng, Tứ Thiên Vương đi
lại trong vũ trụ chẳng
cần máy móc. Các
báo cáo về không gian
hiện nay rất nhiều,
những sách loại này rất
nhiều, chúng tôi thấy
đều là người, chẳng phải
là người trên địa cầu
chúng ta.
Phạm vi nhân đạo trong
thế giới Sa Bà rất lớn,
chẳng phải chỉ có địa
cầu này thôi, rất nhiều
tinh cầu khác đều có
người. Trí huệ và
năng lực của con người
chẳng giống nhau, phước
báo chẳng giống nhau,
sanh đến địa cầu ấy,
sanh hoạt trên tinh cầu
ấy, nghiệp báo của mỗi
người khác nhau, đều là
quả báo. Nam Diêm
Phù Đề được Phật, Bồ Tát
đặc biệt nhắc đến trong
kinh này chính là quả
địa cầu của chúng ta.
Phía trước có nói ‘Chúng
sanh Diêm Phù Đề, chí
tánh vô định, theo tập
khí mà tạo ác nghiệp’,
‘tập’ là tập khí, chẳng
hay chẳng biết họ bèn
tạo ác, nên cảm đến khổ
báo ở địa ngục.
Bốn câu sau quan trọng
phi thường! Chúng
ta phải ghi nhớ, chẳng
nhớ nổi cả bộ kinh,
nhưng phải nhớ mấy câu
này. Từ ‘Nam Diêm
Phù Đề hành ác chúng
sanh, nghiệp hoặc như
thị’, ba câu này phải
ghi nhớ, từng giờ từng
phút nhắc nhở chính
mình. Tiếp theo
lại nói:
Nghiệp lực thậm đại,
năng địch Tu Di, năng
thâm cự hải, năng chướng
thánh đạo.
Nghiệp lực rất lớn, có
thể sánh với núi Tu Di,
có thể sâu như biển cả,
có thể chướng ngăn thánh
đạo.
Nghiệp lực rất lớn, lớn
đến cỡ nào? Sau đó
nêu ra ba việc. Tu
Di là tên núi lớn,
nghiệp lực có thể dời
núi, dời biển, núi lớn
biển sâu chẳng chống nổi
nghiệp lực. Nghiệp
lực có thể chướng ngăn
thánh đạo, làm cho đạo
nghiệp của bạn trong đời
này chẳng thể thành tựu.
Bất luận bạn tu hành
dõng mãnh tinh tấn cách
mấy, bạn cũng chẳng
thoát ly lục đạo luân
hồi nổi, nguyên nhân là
gì? Nghiệp lực.
Thế nên Phật pháp giáo
hoá hết thảy chúng sanh.
trọng điểm là ở tại tâm,
tâm lý. Thiền Tông
dạy tu hành phải tu từ
căn bản, căn bản là niệm
đầu (một niệm, móng ý)
trong tâm. Tông
Môn như vậy, Giáo Hạ sao
không như vậy được?
Vẫn như vậy. Nói
cách khác, tu hành phải
thay đổi, sửa đổi tư
tưởng, sửa đổi quan
niệm; trước kia tâm lý,
tư tưởng, quan niệm của
chúng ta mỗi niệm đều vì
chính mình, lấy mình là
bản vị, đó chính là tạo
nghiệp luân hồi, đó là
tâm luân hồi. Phật
dạy chúng ta chuyển đổi
tâm niệm này, chuyển
thành cái gì?
Chúng ta niệm niệm vì
chúng sanh, chúng ta
khởi tâm động niệm, tư
tưởng kiến giải, ngôn
ngữ tạo tác toàn vì
chúng sanh, chẳng vì
mình nữa, như vậy thì
tốt!
Phật dạy chúng ta lục
đạo vì sao mà có?
Vì chấp trước nên mới có
lục đạo; cả ba thứ vọng
tưởng, phân biệt, chấp
trước đều có thì sẽ hiện
thành lục đạo; nếu chỉ
có vọng tưởng và phân
biệt, chẳng có chấp
trước thì lục đạo sẽ
chẳng còn nữa, trong
mười pháp giới [chỉ còn]
Tứ Thánh pháp giới:
Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát, Phật, [mười pháp
giới] biến thành Tứ
Thánh pháp giới.
Nếu phân biệt chẳng còn
nữa thì Tứ Thánh pháp
giới chẳng còn, thập
pháp giới cũng chẳng còn
nữa, hiện ra Nhất Chân
pháp giới. Trong
Nhất Chân pháp giới,
kinh Hoa Nghiêm nói có
bốn mươi mốt cấp bậc, Bồ
Tát có bốn mươi mốt cấp
bậc: Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, Đẳng Giác.
Cấp bậc này từ đâu đến?
Do chưa đoạn vọng tưởng,
là từ vọng tưởng mà ra.
Sau khi vọng tưởng đoạn
dứt thì cấp bậc chẳng
còn nữa, đó là Phật quả
cứu cánh. Thật sự
bình đẳng, Phật Phật đạo
đồng, chẳng còn cấp bậc
nữa. Đây là nói rõ
Nhất Chân pháp giới,
Thập pháp giới, tam đồ
lục đạo hình thành như
thế nào. Chỉ cần
khởi tâm động niệm có
Ta, đây là sở hữu của
Ta, bạn có đủ vọng
tưởng, phân biệt, chấp
trước, bạn có thể thoát
ly lục đạo luân hồi ư?
Từ chỗ này thật sự khế
nhập, thấu hiểu thì quý
vị đã thật sự giác ngộ,
chẳng giác ngộ giả.
Giác ngộ xong bèn siêu
phàm nhập thánh, thánh
tức là giác, phàm tức là
mê, phàm phu tức là còn
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước. Chẳng
nói đến vọng tưởng, [khi
có] phân biệt, chấp
trước thì là phàm phu,
xả bỏ phân biệt, chấp
trước thì thành thánh
nhân, tức là Phật, Bồ
Tát. Phật, Bồ Tát
và phàm phu chỉ khác
nhau ở một niệm mà thôi,
bạn chuyển đổi tâm niệm
trở lại bèn siêu phàm
nhập thánh.
Ai có thể chuyển đổi trở
lại? Ở nơi chính
mình, mình có chịu
chuyển không? Bạn
chịu chuyển đổi trở lại
thì lập tức liền biến
đổi. Tôi hiểu được
đạo lý này nên tôi
chuyển rồi, cư sĩ Lý Mộc
Nguyên hiểu đạo lý này
nên ông ta đã chuyển.
Sau khi chuyển trở lại,
chúng tôi phục vụ cho
hết thảy chúng sanh, hết
thảy chúng sanh là chủ
nhân của chúng tôi, là
ông chủ của chúng tôi,
chúng tôi là người làm
công phục vụ cho họ, vô
ngã. Chúng tôi mới
thật sự được thọ dụng
của Phật pháp, chuyển
nghiệp lực thành trí
huệ, chuyển nghiệp lực
thành năng lực, nhà Phật
nói về thần thông đạo
lực, tức là chuyển ngay
nơi niệm đầu, nghiệp lực
bèn chuyển trở lại.
Thông thường chúng tôi
nói nguyện lực, chuyển
nghiệp lực thành nguyện
lực, nghiệp lực quá lớn
có thể chướng ngăn thánh
đạo, nguyện lực rất lớn
có thể thành tựu thánh
đạo, tại sao không chịu
chuyển? Nếu không
chuyển, nếu không chuyển
thì vô lượng kiếp vẫn
phải làm chuyện luân hồi
sanh tử, dây dưa chẳng
dứt. Hà tất phải
rớ vô chuyện phiền phức
này? Kinh văn
tiếp theo còn vài câu
quan trọng:
Thị cố chúng sanh, mạc
khinh tiểu ác, dĩ vi vô
tội. Tử hậu hữu
báo, tiêm hào thọ chi.
Vì thế chúng sanh đừng
khinh điều ác nhỏ mà cho
là không tội, sau khi
chết đều có quả báo dù
nhỏ bé đều phải nhận
lãnh.
Mấy câu này phải ghi
nhớ, thường thường nhắc
nhở mình, đừng cho rằng
không có báo ứng, đó là
sự sai lầm của bạn.
Một niệm ác dù nhỏ nhoi
cách mấy cũng sẽ cảm thọ
quả báo, đúng như câu
‘chẳng phải là không báo,
mà là thời giờ chưa
đến’? Thời giờ
gì? Duyên chưa đầy
đủ, thời giờ là nói về
duyên, khi duyên đầy đủ
thì quả báo lập tức hiện
tiền. Nếu chư vị
bình tĩnh, bình tâm tịnh
ý để quan sát thế giới
này, hiện tại quả báo
này gọi là hiện thế báo,
quả báo xảy ra rất
nhanh, ngay trước mắt.
Nếu chúng ta muốn thực
sự cứu mình, chư vị nhất
định phải biết sanh mạng
chẳng quan trọng, chẳng
đáng tiếc, chúng ta ở
thế gian có thể sống
được mấy năm? Trăm
năm sương gió chỉ thoáng
qua trong vòng khảy ngón
tay mà thôi.
Năm tôi chín tuổi rời
khỏi nhà, [nhà tôi] rất
gần Cửu Hoa Sơn, những
hình ảnh nơi đó lúc ra
đi trong ký ức tôi vẫn
còn nhớ rất rõ, giống
như ngày hôm qua vậy.
Những bậc trưởng thượng
ở làng quê hồi đó, bạn
bè thân thích, bảy tám
phần đều chẳng còn nữa,
những bạn bè thuở nhỏ
đều chẳng còn nữa.
Đời người là một con số
không, chỉ là một giấc
mộng, phải tỉnh giấc
mộng này, tỉnh ngộ cũng
như quay đầu là bến bờ,
phải hạ thủ công phu ở
lúc khởi tâm động niệm,
chẳng khởi một ác niệm,
niệm niệm đều vì phước
báo của chúng sanh,
chúng ta dốc toàn tâm
toàn lực để tạo phước
cho chúng sanh hưởng
phước, như vậy mới tốt,
tự mình đừng hưởng
phước. Người như
vậy nhất định sẽ thành
tựu, người như vậy sẽ
được chư Phật hộ niệm,
long thiên thiện thần
bảo hựu, dõng mãnh tinh
tấn, chuyên cần phấn
chấn chẳng lười để tạo
phước, giúp đỡ xã hội,
giúp đỡ đại chúng.
Cuộc sống của mình thì
thanh bần, không lãng
phí, biết cần kiệm, mỗi
khi dùng một phân tiền
đều phải nghĩ đến hết
thảy chúng sanh đang
chịu khổ nạn, mình có
thể nhín một phần thì họ
sẽ có thêm một phần thọ
dụng, thường thường giữ
quan niệm này.
Trong kinh đức Phật nói
tại sao hết thảy những
người tu hành trên thế
gian tu hành chẳng đạt
được kết quả? Đều
vì vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước quá
nhiều, niệm này khởi lên
tiếp theo niệm trước.
Kinh nói với chúng ta
một khảy ngón tay có sáu
mươi sát na, một sát na
có chín trăm sanh diệt,
đó là nói về niệm đầu
(một niệm) nhỏ.
Còn những niệm đầu thô
cũng đã dễ sợ lắm rồi,
từ sáng tới tối có bao
nhiêu niệm sanh diệt?
Tự chúng ta có thể cảm
giác được. Niệm
trước vừa diệt, niệm sau
liền tiếp tục sanh lên,
trong ấy đều có nhân
quả, một niệm thiện sẽ
là quả báo thiện, một
niệm ác sẽ là quả báo
ác. Hãy khoan nói
tới ngôn ngữ tạo tác,
quả báo đó còn nghiêm
trọng hơn nữa, khởi tâm
động niệm gì cũng có quả
báo. Cho nên Bồ
Tát ở đây khuyên chúng
ta, khích lệ chúng ta,
cảnh tỉnh chúng ta
‘Đừng coi thường việc ác
nhỏ mà cho là không có
tội’, đến lúc bạn
thọ báo thì có hối hận
cũng không kịp nữa.
Những câu sau đây nói vô
cùng rõ ràng:
Phụ tử chí thân kỳ lộ
các biệt, túng nhiên
tương phùng, vô khẳng
đại thọ
Chí thân như cha và con,
mỗi người đi mỗi ngả
khác nhau, dù cho gặp gỡ
cũng chẳng bằng lòng
chịu khổ thay cho nhau.
Quả báo tự làm tự chịu,
ai cũng chẳng có cách gì
thay thế, chư Phật Như
Lai đại từ đại bi cũng
chẳng có cách gì thọ báo
thế bạn. Nếu có
thể thay thế thì Phật,
Bồ Tát đã thay rồi,
chẳng có cách chi thay
thế, đây là tự làm tự
chịu, cảnh giới đều do
chính mình biến hiện
thành. Giống như
cư sĩ Chương Thái Viêm
đã nói, tôi nghe lão cư
sĩ Châu Kính Trụ kể, cụ
Châu viết những chuyện
này vào sách, ông ta có
viết vài tác phẩm.
Chương Thái Viêm là cha
vợ của cụ, đây chẳng
phải là lời giả dối, lúc
còn trẻ cụ vốn là người
học khoa học, chẳng tin
Phật pháp, cha vợ của cụ
có học Phật, kể cho cụ
những chuyện này, cụ
nghe xong cứ tưởng là mê
tín, ngụ ngôn. Lúc
quá trung niên, trong
thời kỳ kháng chiến cụ
cư ngụ tại Trùng Khánh,
ban đêm đi đường gặp quỷ
nên cụ mới tin, nếu cụ
chẳng đích thân nhìn
thấy thì người khác nói
gì cụ cũng chẳng tin.
Cụ cùng quỷ đi bộ trên
một con đường suốt nửa
giờ đồng hồ, thời gian
cũng khá dài. Đi
hơn nửa giờ cụ mới bỗng
nhiên nghĩ tại sao người
đàn bà ấy đi một mình lẻ
loi trong đêm vắng?
Vừa nghĩ đến đó thì lông
tóc dựng đứng, nhìn kỹ
lại bà đó chỉ có nửa
thân phía trên, chẳng có
nửa thân dưới, cụ bèn
hoảng hồn. Lúc đó
thân hình phía trước
biến mất, cụ tin Phật từ
đó. Nếu chẳng phải
đích thân nhìn thấy,
đích thân trải qua thì
những người này sẽ chẳng
tin. Cho nên sau
này khi nghĩ đến câu
chuyện của cha vợ, cụ
nghĩ đây là thật, chẳng
giả.
Chương Thái Viêm nói
những nỗi khổ trong địa
ngục, ông cảm thấy rất
tàn nhẫn, chẳng nhân
đạo, rất nhiều địa ngục
đáng bị phá hủy.
Vua Diêm La nghe đến
những đề nghị này chẳng
nói gì cả, chỉ phái hai
chú tiểu quỷ dẫn ông đi
đến chỗ có địa ngục.
Tiểu quỷ dẫn ông đi, đi
rất xa mới đến chỗ ấy,
chỉ cho ông nhưng ông
chẳng nhìn thấy gì cả.
Lúc đó ông mới vỡ lẽ,
trong kinh Phật nói
chẳng sai, là do nghiệp
lực biến hiện, nếu bạn
chẳng có nghiệp lực ấy
thì sẽ chẳng nhìn thấy.
Trong kinh nói địa ngục
chỉ có hai hạng người có
thể nhìn thấy: một là
người tạo tội nghiệp, họ
thọ báo biến thành những
cảnh giới này; ngoài ra
là Bồ Tát, Bồ Tát có
năng lực vào địa ngục để
độ chúng sanh nên ngài
có thể nhìn thấy.
Nếu chẳng phải hai loại
duyên: độ chúng sanh
trong địa ngục, hoặc là
thọ tội tại địa ngục thì
dù địa ngục ở ngay trước
mặt cũng chẳng nhìn
thấy. Từ đây mới
biết chẳng phải là Diêm
Vương tạo địa ngục cho
những người này thọ tội,
mà là cảnh giới do
nghiệp lực của mình biến
hiện ra. Chúng ta
hiểu rõ đạo lý này rồi
mới biết cha con chí
thân cũng chẳng có cách
gì thay thế cho nhau,
chính mình phải hứng
chịu. Xem tiếp
kinh văn:
Ngã kim thừa Phật oai
lực, lược thuyết địa
ngục tội báo chi sự, duy
nguyện nhân giả tạm
thính thị ngôn.
Nay tôi nương oai lực
của đức Phật mà lược nói
những sự tội báo trong
địa ngục, mong Nhân Giả
tạm nghe lời đó.
Địa Tạng Bồ Tát rất
khiêm nhường, nhưng trên
thực tế Địa Tạng Bồ Tát
rất vĩ đại! Bạn
coi khi pháp hội bắt
đầu, mười phương chư
Phật Như Lai đều đến
tham dự, còn thù thắng
hơn pháp hội Hoa Nghiêm.
Trong pháp hội Hoa
Nghiêm chúng ta thấy,
đương nhiên hết thảy chư
Phật đều đến, các ngài
chẳng dùng thân Phật mà
hiện ra rất nhiều thân
phận khác nhau đến tham
dự. Còn trong pháp
hội Địa Tạng thì Phật
dùng thân Phật đến thị
hiện, hết thảy chư Phật
đều tham dự pháp hội
này. Địa Tạng Bồ
Tát là thầy của chư
Phật, ngài ở đây rất
khiêm tốn ‘Tôi nương nhờ
oai lực của Phật, lược
nói những sự tội báo
trong địa ngục’.
Chẳng dám nói tôi biết
những chuyện này.
Tôi biết những chuyện
này quá rõ ràng, tôi nói
cho bạn nghe thì được
rồi, người hiện đại chắc
chắn sẽ có thái độ như
vậy. Đích thật
ngài biết rất rõ ràng,
cách nói này của ngài
dạy chúng ta bất luận
lúc nào cũng phải khiêm
nhường, phải cung kính,
phải nhẫn nhịn, đây là
tánh đức. Trong
mỗi niệm đều phải hàng
phục phiền não tập khí
của mình, tham sân si
mạn đều là phiền não, là
tạo tội. Cho
nên chúng ta thấy trong
kinh, ngôn ngữ, thái độ,
dụng ý của các ngài vô
cùng sâu xa. Phổ
Hiền Bồ Tát là hạng
người như thế nào, đều
là Như Lai quay chiếc bè
từ thị hiện. ‘Duy
nguyện Nhân Giả tạm nghe
lời này’, câu này khiêm
nhường, cung kính biết
bao, đây là dạy chúng ta
phải luôn khiêm nhường
cung kính khi xử sự, đãi
người, tiếp vật.
Phổ Hiền đáp ngôn Ngô dĩ
cửu tri tam ác đạo báo,
vọng Nhân Giả thuyết
lịnh hậu thế mạt pháp
nhất thiết ác hạnh chúng
sanh văn Nhân Giả
thuyết, sử lịnh quy
Phật.
Ngài Phổ
Hiền đáp rằng: “Tôi từ
lâu đã biết tội báo nơi
tam ác đạo, mong Nhân
Giả nói ra để cho tất cả
chúng sanh ác hạnh trong
đời Mạt Pháp sau này,
nghe được lời dạy của
Nhân Giả mà quay về với
Phật”
Hai vị Bồ Tát này, một
người hỏi, một người
đáp, mục đích là dạy
chúng ta [và] những
chúng sanh đang tạo tội
nghiệp, quay đầu là bến
bờ, chân chánh quy y Tam
Bảo. Quy nghĩa là
quay về, thật sự quay
về, nương vào lời dạy
của Phật mà sanh hoạt,
nương vào lời dạy của
Phật để làm việc, như
vậy gọi là quy y.
Chúng ta nên làm theo
những lời dạy trong kinh
này, chúng ta hết lòng
nỗ lực để làm.
Những sự việc nào [đức
Phật dạy] chẳng được làm
thì chúng ta nhất định
phải dứt trừ, như vậy
mới gọi là quy y Phật.
Địa Tạng bạch ngôn, Nhân
Giả địa ngục tội báo, kỳ
sự như thị.
Ngài Địa Tạng nói rằng:
“Thưa Nhân Giả, tội báo
ở địa ngục, việc ấy như
vầy:
Tiếp theo lại lược nói
cho chúng ta mười bốn
loại.
Hoặc hữu địa ngục, thủ
tội nhân thiệt, sử ngưu
canh chi.
Hoặc có địa ngục kéo
lưỡi của tội nhân ra cho
trâu cày lên
Đây tức là địa ngục Kéo
Lưỡi.
Hoặc hữu địa ngục thủ
tội nhân tâm Dạ Xoa thực
chi. Hoặc hữu địa
ngục hoạch thang thạnh
phất, chử tội nhân thân
Hoặc có địa ngục moi tim
tội nhân cho quỷ Dạ Xoa
ăn. Hoặc có địa
ngục vạc nước sôi sùng
sục nấu thân tội nhân.
Tục gọi là Du Đỉnh, xuống
vạc dầu.
Hoặc hữu địa ngục xích
thiêu đồng trụ, sử tội
nhân bão. Hoặc hữu
địa ngục sử chư hỏa
thiêu sấn cập tội nhân.
Hoặc hữu địa ngục nhất
hướng hàn băng.
Hoặc hữu địa ngục vô hạn
phẩn niệu. Hoặc
hữu địa ngục thuần phi
tật lê. Hoặc hữu
địa ngục đa toàn hỏa
thương. Hoặc hữu
địa ngục duy chàng hung
bối . Hoặc hữu địa
ngục
đãn thiêu thủ túc.
Hoặc hữu địa ngục bàn
kiểu thiết xà.
Hoặc hữu địa ngục khu
trục thiết cẩu.
Hoặc hữu địa ngục tận
giá thiết loa.
Hoặc có địa
ngục đốt trụ đồng nóng
đỏ lên rồi bắt tội nhân
ôm lấy. Hoặc có
địa ngục các bựng lửa
đuổi theo tội nhân.
Hoặc có địa ngục toàn là
băng giá. Hoặc có
địa ngục nhiều vô hạn
phân tiểu. Hoặc có
địa ngục toàn là loại
tật lê bay. Hoặc
có địa ngục có nhiều
giáo lửa. Hoặc có
địa ngục chỉ đập ngực
lưng. Hoặc có địa
ngục chỉ đốt tay chân.
Hoặc có địa ngục rắn sắt
quấn cắn. Hoặc có
địa ngục xua đuổi chó
sắt. Hoặc có địa
ngục toàn kéo la sắt.
Danh hiệu của địa ngục
phía trước có nói qua, ở
đây là nói về những tội
nhân thọ quả báo này,
trạng huống họ thọ quả
báo trong địa ngục.
Câu thứ nhất, quả báo
này là nói lưỡi đôi
chiều, ác khẩu, nói dối,
nói thêu dệt, tạo những
tội nghiệp này, hủy báng
Tam Bảo, phá hoại lòng
tin của người ta đối với
Phật pháp, sau khi chết
đọa vào địa ngục này.
Gọi là rút lưỡi, ngưu
canh (trâu cày), đồng
sôi đổ vào miệng, lá sắt
trói buộc thân, trong
các địa ngục này cầu
sống không được, cầu
chết cũng không xong.
Trong địa ngục chẳng
phải thọ tội xong bèn
chết đi, nếu chết đi thì
là siêu sanh rồi, họ
chẳng chết nổi.
Trong địa ngục có ‘gió
nghiệp’, gió này vừa
thổi thì họ bèn sống
lại, sống lại để thọ tội
tiếp, một ngày một đêm
vạn lần chết đi, vạn lần
sống lại. Cứ như
vậy mãi cho đến khi tội
báo của họ thọ hết, thời
gian đều là dùng ‘kiếp’
để tính, vô số kiếp, thọ
những khổ báo này.
Tội báo chưa thọ hết thì
vĩnh viễn chẳng thể
thoát khỏi địa ngục.
Nhưng tội báo là một
việc rất phiền phức, thí
dụ nói lời hủy báng Tam
Bảo, đoạn mất lòng tin
của người ta, đến khi
nào thì nghiệp này mới
tiêu hết? Khi nào
sức ảnh hưởng của lời
bạn nói hoàn toàn mất
hết thì bạn mới có thể
thoát ra khỏi địa ngục.
Nếu sức ảnh hưởng này
còn tồn tại thì bạn sẽ
chẳng có cách chi thoát
ra khỏi địa ngục.
Sức ảnh hưởng này thường
kéo dài đến nhiều đời,
hạt giống của ác duyên
khởi tác dụng trong A
Lại Da thức của họ, khi
gặp Tam Bảo thì họ liền
hoài nghi, họ chẳng thể
sanh khởi lòng tin, sức
ảnh hưởng này bao lớn.
Như hiện nay nói chuyện,
nói xong còn thâu âm,
còn đem băng thâu âm đi
khắp nơi, hoặc bán, hoặc
tặng kết duyên.
Nếu nội dung của lời nói
của bạn phá hoại Tam
Bảo, chỉ cần có một cuồn
băng còn lưu lại trên
thế gian này thì bạn
chẳng có cách chi thoát
khỏi địa ngục. Khi
bạn viết thành văn, nếu
thế gian còn một cuốn
sách này thì bạn cũng
chẳng thể thoát khỏi địa
ngục. Thế mới biết
chuyện này rất đáng sợ,
chúng ta phải chịu trách
nhiệm cho lời nói và văn
tự của mình, như đã nói
phía trước ‘đừng khinh
lỗi nhỏ mà cho là không
có tội’.
Câu thứ hai, ‘moi tim
của tội nhân cho quỷ Dạ
Xoa ăn’. Nghiệp
nhân loại này,
Thanh Liên pháp sư trong
chú giải nói với chúng
ta: con người lúc còn
tại thế lấy trộm đồ vật
của cha mẹ, sư trưởng,
tạo ác duyên nên phải
hứng chịu quả báo này.
Tâm ăn trộm là tâm ác,
chư vị nghĩ coi ngay cả
đồ vật của cha mẹ, sư
trưởng họ vẫn trộm lấy
thì còn đồ vật của ai họ
chẳng dám trộm?
Tâm này chẳng tốt, đọa
vào địa ngục, Dạ Xoa ăn
tim của họ. Thứ
ba, đây là vạc dầu, địa
ngục Hoạch Thang,
‘hoạch’ là chảo, ‘đỉnh’
cũng là chảo, hiện nay ở
Phước Kiến người ta còn
gọi chảo bằng danh từ
‘đỉnh’. Thời cổ
xưa, táo (bếp lò) còn
chưa được phát minh,
dùng cái gì để nấu đồ
ăn? Dùng cái đỉnh,
đỉnh có ba chân, phía
dưới đốt lửa, nấu một
món ăn thì dùng một cái
đỉnh. Trong sách
cổ có nói bày đỉnh để
ăn, tức là có rất nhiều
thức ăn, rất phong phú.
Giống như những quày
buffet trong những nhà
hàng lớn hiện nay.
Món ăn tự trợ (buffet),
những cái đỉnh hiện nay
rất đẹp, dùng kim loại
không sét rỉ làm thành,
có bốn chân, ở dưới đốt
lửa để giữ thức ăn nóng
hoài, không nguội.
Thời xưa cái đỉnh chỉ có
ba chân, sau khi bếp lò
được phát minh thì không
dùng đỉnh nữa, đỉnh bỏ
chân bèn trở thành chảo,
chảo và đỉnh đều là một.
Nghiệp nhân trong ấy là
phá giới, sát sanh tế
tự, hoặc ăn thịt, thiêu
đốt rừng núi, thiêu
nướng chúng sanh nên bị
quả báo này.
Thứ tư, ‘hoặc có địa
ngục đốt trụ đồng nóng
đỏ lên rồi bắt tội nhân
ôm lấy’. Đây cũng
giống như hình phạt Bào
Lạc nói trong tiểu
thuyết. Lúc trước,
cư sĩ Chương Thái Viêm
cầu xin Đông Nhạc đại đế
phế trừ hình phạt này,
sau đó mới biết cảnh
giới địa ngục là do
nghiệp lực biến hiện
thành, chẳng do người
tạo ra. Câu tiếp
theo ‘hoặc có địa ngục
có các bựng lửa đuổi
theo tội nhân’.
Đây là một màn lửa to
lớn, chẳng có chỗ nào để
trốn thoát, phải bị lửa
thiêu chết. Nhưng
gió vừa thổi một cái bèn
sống lại, bị thiêu đốt
trở lại, vĩnh viễn chẳng
có cách chi thoát ly.
Trong kinh nói đây là
quả báo của rất nhiều
nghiệp bất thiện.
Câu thứ sáu ‘toàn là
băng giá’, địa ngục hàn
băng cũng là quả báo của
những nghiệp bất thiện.
Câu thứ bảy ‘vô hạn phân
tiểu’, phía trước có nói
qua với chư vị, nghiệp
nhân là đời trước phá
trai, phát nguyện trì
Bát Quan Trai Giới, phá
trai giới và những ác
nghiệp chẳng thanh tịnh
cảm nên. ‘Hoặc có
địa ngục toàn là những
loại tật lê bay’, tật lê
là một loại võ khí thời
cổ, hiện nay rất ít
thấy, chắc trong bảo
tàng viện có thể thấy
được. Tức là mũi tên
rất nhỏ, phần đông gọi
là ám khí. Lúc
người ta chẳng phòng
ngừa, phòng bị, họ bèn
phóng những mũi tên này
ra. Hiện nay chẳng
có cái này, hiện nay đổi
thành súng, đều là những
vật thuộc loại này.
Do đó có thể biết, quả
báo này là do [người
dùng] các loại ám khí
kết thành oán thù, sát
hại chúng sanh.
Đặc biệt là săn bắn,
viên đạn của súng săn
bắn chẳng giống với súng
thường. Vì lúc bạn
săn bắn, đạn của súng
thường không nhất định
bắn trúng như vậy, đạn
của súng săn bắn có
nhiều viên đạn nhỏ, dùng
viên sắt nhỏ làm thành,
sau khi bắn ra những
viên đạn nhỏ này [sẽ
bung ra] bao phủ một
diện tích, những động
vật nằm trong vòng diện
tích này sẽ chẳng thể
nào thoát khỏi.
Thọ quả báo như vậy.
‘Hỏa Thương’ (Thương Lửa)
cũng giống như ‘Thông
Thương’ (Thương Đâm),
chỉ thêm lửa vào, ‘chỉ
đập vào ngực, lưng’ đây
là như trong kinh Lăng
Nghiêm có nói về cảm ứng
của Xúc Báo, cảm nên quả
báo này. Vì bạn
đánh đập người khác, đặc
biệt là chúng ta ngày
nay nói về ngược đãi
động vật, thường thấy
[người ta] dùng những
hành động này ngược đãi
động vật, đâu biết rằng
sẽ bị quả báo như vậy?
Câu thứ mười một ‘chỉ
đốt tay chân’, đây gọi
là biệt nghiệp biệt báo,
tay bạn tạo nghiệp thì
đốt tay, chân bạn tạo
nghiệp thì đốt chân.
‘Rắn sắt , chó sắt’ phía
trước đã nói qua.
‘Toàn kéo la sắt’, la là
một loài ngựa, toàn thân
đều là lửa. Trong
kinh Phật có nói một
công án, Thanh Liên pháp
sư cũng dẫn chứng trong
chú giải. Nói tỳ
kheo Tăng Hộ nhìn thấy
một con lừa, toàn thân
con lừa này đều đang bị
thiêu đốt. Phật
nói với tỳ kheo Tăng Hộ,
đó chẳng phải là lừa,
thuở trước đó là một
người xuất gia thời đức
Phật Ca Diếp.
Người xuất gia lúc chia
đồ ăn đều dành cho mình
nhiều một chút, tạo ác
nghiệp này nên cảm thọ
khổ báo như vậy.
Trong kinh này nói ‘toàn
kéo la sắt’ đại khái là
những tội nhân này cỡi
trên la sắt, toàn thân
la sắt đều là lửa, tội
nhân chịu khổ báo như
vậy. Hình phạt,
khổ báo trong địa ngục
thật ra nói chẳng cùng
tận. Xin xem tiếp
kinh văn:
Nhân giả, như thị đẳng
báo các các ngục trung,
hữu bá thiên chủng
nghiệp đạo chi khí
Nhân giả, những quả báo
như thế, trong mỗi ngục
có trăm ngàn thứ khí cụ
nghiệp đạo.
‘Nghiệp đạo chi khí’,
ngày nay chúng ta gọi là
hình cụ (dụng cụ tra
tấn)
Vô phi thị đồng, thị
thiết, thị thạch, thị
hỏa. Thử tứ chủng
vật, chúng nghiệp hành
cảm
Đều là bằng đồng, bằng
sắt, bằng đá, bằng lửa.
Bốn thứ này là do các
hành nghiệp cảm thành.
Hình cụ (dụng cụ tra
tấn) trong ấy đều làm
bằng đồng, sắt, đá, toàn
là một biển lửa, bạn cảm
thọ những thứ như vậy.
Chúng ta thường nói “Tâm
người ấy rất độc, là
ruột gan sắt đá’ nên ở
địa ngục biến hiện ra
các hình cụ đều là những
thứ này. Tâm địa
thanh tịnh, nhu nhuyễn
thì nhất định sẽ chẳng
nhìn thấy những hiện
tượng này. Thế nên
nhất định phải hiểu, cái
tâm này tức là như câu
nói “tâm tàn nhẫn, thủ
đoạn ác độc”
, oai
phong này của bạn có thể
kéo dài được mấy ngày?
Sau mấy ngày oai phong
này biểu hiện xong, sau
đó thì sao? Có suy
nghĩ đến không?
Hậu quả chẳng thể tưởng
tượng nổi, chúng ta nhất
định phải hiểu.
Duy Thức Luận nói, những
địa ngục nói trong kinh,
có vua Diêm La trong địa
ngục không? Có
những lính quỷ trong địa
ngục không? Thật
sự là chẳng có, đều là
do tánh thức biến hiện
ra. Cũng giống như
nằm mộng vậy, phải đến
khi mộng tỉnh dậy mới
biết là giả, đều là
Không. Nhưng lúc
bạn đang nằm mộng, bạn
cứ cho rằng đó là thật.
Địa ngục, tam đồ đều là
mộng cảnh, cùng một đạo
lý, con người chúng ta ở
trên thế gian mấy mươi
năm ấm lạnh không lẽ
chẳng phải là một giấc
mộng hay sao? Nói
thêm đến thập pháp giới
cũng là mộng cảnh.
Kinh Kim Cang nói chẳng
sai: ‘Hết thảy pháp
hữu vi, như mộng, huyễn,
bọt, bóng’, hết thảy
pháp hữu vi tức là bao
gồm thập pháp giới.
Thập pháp giới đều là
pháp hữu vi, Nhất Chân
pháp giới mới là pháp vô
vi. Thế nên Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát,
Phật trong Quyền Giáo
đều chẳng lìa khỏi pháp
hữu vi. Nói cách
khác y báo và chánh báo
của họ đều là mộng,
huyễn, bọt, bóng.
Tướng có nhưng Thể
không, Sự có nhưng Lý
không, đó mới là chân
tướng sự thật, đều do
nghiệp cảm biến hiện ra.
Chúng ta xem câu cuối:
Nhược quảng thuyết địa
ngục tội báo đẳng sự
Nếu rộng nói những
chuyện tội báo ở địa
ngục.
Nếu nói kỹ vô chi tiết,
mỗi chuyện đều nói rõ
ra.
Nhất nhất ngục trung
cánh hữu bá thiên chủng
khổ sở
Trong mỗi ngục còn có cả
trăm ngàn thứ khổ sở
Mỗi địa ngục có tới trăm
ngàn thứ khổ sở
Hà huống đa ngục
Huống chi là nhiều ngục.
Địa ngục nói chẳng cùng
tận.
Ngã kim thừa Phật oai
thần, cập nhân giả vấn,
lược thuyết như thị.
Nhược quảng giải thuyết,
cùng kiếp bất tận.
Nay tôi nương sức oai
thần của đức Phật và vì
Nhân Giả hỏi đến mà nói
sơ lược như thế; nếu nói
rộng ra thì tận cùng
kiếp cũng nói chẳng hết.
Lời Bồ Tát nói đều là
chân thật, nếu giải
thích cặn kẽ cho bạn thì
‘cùng kiếp’ cũng nói
chẳng hết, lời này là
thật, chẳng giả.
Thế nên chúng ta ở đây
làm một kết luận chung:
địa ngục dứt khoát chẳng
thể vào! Muốn
chẳng vào địa ngục thì
nhất định phải đừng tạo
tội nghiệp, tội nghiệp
nhỏ tí xíu cũng chẳng
được tạo. Nguyên
nhân là gì? Vì
trong A Lại Da thức của
chúng ta có rất nhiều
hạt giống địa ngục và
những tập khí đã tạo
trong vô lượng kiếp.
Tội nghiệp nhỏ là gì?
Tức là duyên.
Trong A Lại Da thức của
bạn có hạt giống tội
nghiệp địa ngục, bạn tạo
thêm duyên cho nó, chẳng
đoạn dứt duyên của nó,
thì rất có thể sẽ tạo ra
quả báo này, đây là
chuyện chúng ta phải
cảnh giác. Thế nên
nhất quyết không được
coi thường, xem nhẹ
những tội nghiệp nhỏ,
cho rằng đều chẳng quan
trọng, nếu vậy thì bạn
sai lầm quá đỗi!
Tội nghiệp nhỏ là duyên,
trong A Lại Da thức có
nghiệp nhân của tội
nghiệp địa ngục, nhân
gặp duyên thì sẽ hiện
nên cảnh giới này, cảnh
giới hiện ra vô cùng dễ
sợ! Muốn thoát
khỏi rất khó, quá khó!
Thế nên chân chánh hiểu
rõ, chân chánh giác ngộ
thì phải buông xuống vạn
duyên, nhất tâm niệm
Phật, cầu sanh Tịnh Độ,
đây là phương pháp yên
ổn nhất, nhanh chóng
nhất, và cũng là ổn thỏa
tốt đẹp nhất, vĩnh viễn
thoát ra khỏi tam đồ,
lục đạo.
Được rồi, hôm nay thời
gian đã hết, chúng ta
giảng đến đây thôi.
Tập 18 (Số 14-12-18)
PHẨM THỨ 6: NHƯ LAI TÁN
THÁN
Xin mở cuốn Khoa Chú,
quyển trung, trang 25,
xin xem kinh văn:
Nhĩ thời Thế Tôn cử thân
phóng đại quang minh,
biến chiếu bá thiên vạn
ức hằng hà sa đẳng chư
Phật thế giới, xuất đại
âm thanh, phổ cáo chư
Phật thế giới nhất thiết
chư Bồ Tát Ma Ha Tát,
cập thiên long quỷ thần,
nhân phi nhân đẳng.
Thính ngô kim nhật xưng
dương tán thán Ðịa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát ư thập
phương thế giới hiện đại
bất khả tư nghị oai thần
từ bi chi lực, cứu hộ
nhất thiết tội khổ chi
sự.
Lúc đó toàn thân Thế Tôn
phóng đại quang minh,
chiếu khắp trăm ngàn vạn
ức số cát sông Hằng thế
giới chư Phật, phát ra
âm thanh lớn bảo hết
thảy chư Bồ Tát Ma Ha
Tát và thiên long quỷ
thần, nhân, phi nhân, v.
v. ở khắp các thế giới
chư Phật. Hãy lắng
nghe hôm nay Ta xưng
dương tán thán Ðịa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát ở mười
phương thế giới hiện sức
từ bi oai thần to lớn
không thể nghĩ bàn, cứu
giúp hết thảy những sự
tội khổ.
Ðến đây là một đoạn.
Ðoạn kinh phía trước
giới thiệu Ðịa Tạng Bồ
Tát cho chúng ta, Ðịa
Tạng Bồ Tát là vị giáo
chủ có thể giáo hóa,
ngày nay chúng ta gọi là
Ðạo Sư, ngài là vị Ðạo
Sư có khả năng, có trí
huệ hướng dẫn chúng ta
thoát ly khổ nạn.
Cũng thuyết minh đối
tượng Bồ Tát giáo hóa độ
thoát, vô cùng khó được
là ngài có thể độ chúng
sanh trong địa ngục,
điểm này chúng ta phải
thấu hiểu kỹ càng.
Trong hết thảy chúng
sanh, căn tánh thấp
nhất, tạo tội nghiệp sâu
nặng nhất chính là chúng
sanh trong địa ngục.
Ngài có năng lực độ
thoát chúng sanh trong
địa ngục, thì những
chúng sanh khác khỏi
phải nói, đều dễ độ hơn
vì khó độ nhất ngài cũng
có thể độ. Do đó
có thể biết, vị Bồ Tát
này đích thật chẳng thể
nghĩ bàn. Từ đoạn
kinh văn phía trước
chúng ta có thể hiểu,
ngài đích thật có năng
lực phổ độ hết thảy
chúng sanh trong chín
pháp giới, cùng trí huệ
đức năng của quả địa Như
Lai không hai không
khác. Cho nên giới
thiệu xong Thế Tôn đặc
biệt tán thán ngài.
Dụng ý của sự tán thán
này rất sâu, rất rộng,
mục đích là muốn chư đại
Bồ Tát trong mười phương
thế giới phải ủng hộ Ðịa
Tạng Bồ Tát, toàn tâm
toàn lực giúp đỡ ngài độ
thoát chúng sanh đang
chịu khổ nạn. Ý
nghĩa tức là nhất định
phải tuyên dương kinh
này, tán thán công đức
của Bồ Tát, phổ độ hết
thảy chúng sanh, mục
đích là như vậy.
Kinh văn vừa mở đầu:
‘Toàn thân phóng đại
quang minh, chiếu khắp
trăm ngàn vạn ức số cát
sông Hằng thế giới chư
Phật’, câu này nói rõ
Thế Tôn phóng hào quang
chiếu soi tận hư không,
trọn khắp pháp giới,
chẳng sót chỗ nào, bất
cứ nơi nào cũng chiếu
đến. Cảnh giới này
cùng cảnh nói trong kinh
Hoa Nghiêm hoàn toàn
giống nhau. ‘Toàn
thân’ đặc biệt chú trọng
chữ ‘thân’, thân là sắc
tướng, quang từ thân
tướng này phóng ra.
Quang này là quang minh
của tâm tánh, tự tánh
vốn sẵn có quang minh
của Bát Nhã. Phía
trước đã nói với chư vị,
làn sóng ánh sáng này vô
cùng đặc biệt, vì cường
độ của nó là bình đẳng,
trong một sát na liền
tỏa khắp hư không pháp
giới, chẳng giống như
ánh sáng của mặt trăng,
mặt trời mà mắt thịt
chúng ta nhìn thấy, tốc
độ của ánh sáng này rất
chậm. Khoa học gia
nói ánh sáng phát ra từ
nhiều ngôi sao truyền
đến địa cầu phải mất
nhiều năm, mấy trăm năm
ánh sáng (quang niên),
mấy ngàn năm ánh sáng,
mấy vạn năm ánh sáng,
phải trải qua thời gian
dài như vậy mới đến.
Hào quang của Phật vừa
phóng ra liền đến tận hư
không, trọn khắp pháp
giới cho nên hoàn toàn
khác với những ánh sáng
thường.
‘Toàn thân’ là mỗi chỗ
trên thân thể đều phóng
quang, tiêu biểu cho
‘vầng mây sáng Ðại Viên
Mãn’, trong ‘Viên Mãn
Quang’ bao gồm vô lượng
pháp môn mà Bồ Tát đã tu
trong nhân địa, viên mãn
công đức mà chư Phật Như
Lai chứng được trên quả
địa đều tỏ lộ trong
tướng hào quang này
chẳng sót, cho nên đây
là cảnh giới chẳng thể
nghĩ bàn. Tỏ lộ
Phật thân bao trùm pháp
giới, tỏ lộ ba thân:
Pháp Thân, Báo Thân, Ứng
Hóa Thân là một thể, một
tức là ba, ba tức là
một. Không những
hiện ba thân là một,
đồng thời cũng hiển thị
Y Báo, Chánh Báo chẳng
hai. Y báo là hoàn
cảnh sanh hoạt, Chánh
báo là thân thể này, Y
chính là Chánh, Chánh
chính là Y, Y và Chánh
chẳng hai. Nếu
chúng sanh có duyên gặp
được Phật quang, cái gì
gọi là duyên?
Những người nào có
duyên? Người nào
vô duyên? Có duyên
là tự mình không có
chướng ngại, thì sẽ nhìn
thấy Quang này. Vô
duyên là tự mình có
chướng ngại, chẳng phải
là Phật quang chẳng
chiếu soi. Chư vị
đồng tu phải biết Phật
quang chiếu khắp, tại
sao chúng ta chẳng nhìn
thấy? Nguyên nhân
nhìn không thấy là vì
mình có chướng ngại.
Lúc tôi bắt đầu học
Phật, Chương Gia đại sư
dạy tôi, ngài vô cùng
khẳng định và nói:
‘Trong nhà Phật, có cầu ắt
ứng’, chư vị phải
ghi nhớ chữ Phật trong
câu ‘Trong nhà Phật’ là
gì? Là Giác.
‘Trong nhà Phật’ nghĩa
là ‘trong nhà Giác Ngộ’,
giác ngộ chẳng phải là
mê hoặc, có cầu ắt ứng.
Nếu bạn có cầu mà không
có cảm ứng, đây là vì
nguyên cớ gì? Ðại
sư nói là vì chúng ta có
chướng ngại, nhất định
phải tiêu trừ chướng
ngại thì cảm ứng sẽ hiện
tiền, đây là đạo lý nhất
định. Làm sao tiêu
trừ nghiệp chướng?
Tôi cũng hỏi câu này:
‘Nghiệp chướng khẳng
định là có, làm sao tiêu
trừ?’.
Ðại sư trả lời: ‘Sám hối’,
và nói: ‘Sám hối chẳng
có nghĩa là kêu bạn đi
‘bái sám’, bạn đi lạy
‘Ðại Bi Sám, Lương Hoàng
Sám, lạy Sám gì đi nữa,
chưa chắc có thể tiêu
trừ nghiệp chướng’.
Tôi hỏi: ‘Vậy thì phải làm
cách nào để sám hối?’.
Ðại sư dạy: ‘Sám hối nghĩa
là ‘không làm lại việc
ấy nữa’, đó mới gọi là
chân chánh sám hối.
Tức là bạn biết được lỗi
của mình, phải mau sửa
đổi trở lại, đó gọi là
chân chánh sám hối’.
Chúng tôi lại hỏi: ‘Những
pháp hội sám hối trong
chùa rốt cuộc có ý nghĩa
gì?’
Ðại sư dạy: ‘Những pháp
hội sám hối cử hành
trong chùa chỉ là làm
khuôn mẫu, nghi thức cho
những người mới học
Phật, người chẳng học
Phật khi nhìn thấy những
hình thức này bèn sanh
khởi tâm hối hận (tàm
quý), tâm sám hối, là có
ý nghĩa như vậy’.
Chúng tôi mới hiểu đó chỉ
là biểu diễn cho người
ta coi. Tự mình tu
hành chẳng coi trọng
những hình thức này, coi
trọng sự quay về chân
thật, tự biết mình sai
lầm, biết sai thì lập
tức sửa đổi, ‘sau đó
không làm [lỗi đó] nữa’,
như vậy mới là sám hối
thật sự, như vậy mới có
thể cảm ứng đạo giao
cùng Phật, Bồ Tát.
Quang minh của Phật được
nói trong kinh là bộ
kinh này. Nói cách
khác, chúng ta gặp được
kinh này tức là gặp được
‘Quang minh chiếu khắp’
của Thế Tôn. Quang
minh này của Phật là
vĩnh hằng, chẳng gián
đoạn, những nơi có kinh
điển chính là chỗ Phật
quang chiếu tới.
Chúng ta mở kinh ra đọc
tụng, thọ trì, hiện nay
gọi là học tập, chính là
tiếp thọ quang minh của
Phật. Nếu có thể
giác ngộ, có thể y giáo
phụng hành, nhất định sẽ
chứng được Vô Thượng Bồ
Ðề, những chuyện này
chúng ta nhất định phải
hiểu, phải trân trọng.
‘Ðại âm thanh’ là một
trong ba mươi hai tướng
tốt, trong ba mươi hai
tướng tốt chẳng gọi là
‘âm thanh’ mà gọi là
‘phạm thanh’, phạm thanh
của Như Lai.
‘Phạm’ có nghĩa là thanh
tịnh, âm thanh của Phật
có thể lay tỉnh mê tình
của hết thảy chúng sanh.
Trong ‘Ðại Luận’ (Đại
Trí Độ Luận)
có nói Ðại Phạm Thiên
Vương có năm thứ âm
thanh, cũng có nghĩa là
âm thanh của ngài có năm
‘đức’, năm đức tướng.
Thứ nhất là âm thanh của
ngài rất thâm trầm,
giống như tiếng sấm sét,
có thể làm cho người ta
tỉnh thức, cảnh giác.
Ðức tánh thứ hai là có
thể truyền xa. Ở
đây âm thanh của Phật
cũng giống hào quang của
Phật, tận hư không trọn
khắp pháp giới đều có
thể nghe được.
Ngày nay chúng ta chẳng
nghe được âm thanh
thuyết pháp của chư Phật
là vì căn tai của ta bị
trục trặc, thật ra không
phải vì căn tánh bị trục
trặc, trục trặc là ở
trong tâm, tâm không
thanh tịnh, cho nên căn
này sanh ra chướng ngại.
Trong kinh thường nói ‘y
báo chuyển theo chánh
báo’, nói một cách
nghiêm túc thì ‘thân’
chúng ta là y báo gần
nhất, thế nên nói tướng
tùy tâm chuyển, thể chất
cũng tùy tâm chuyển, sáu
căn của chúng ta cũng
chuyển theo tâm.
Tâm địa thanh tịnh, tế
bào trong sáu căn, tế
bào nhỏ bé sẽ khởi
chuyển hóa, biến thành
hoàn toàn phù hợp với
tiêu chuẩn tự nhiên, sẽ
có thể tiếp nhận những
tin tức trong hư không
pháp giới. Mắt có
thể tiếp nhận sắc tướng
ở tận hư không, trọn
khắp pháp giới; tai có
thể nghe hết thảy âm
thanh trong tận hư
không, pháp giới.
Trong kinh chúng ta thấy
được người ở Cực Lạc thế
giới đều như vậy.
Tại sao họ có thể mà
chúng ta không thể?
Tâm họ tịnh, tâm tịnh
thì cõi nước tịnh.
Chúng ta hiểu được đạo lý
này, hiểu được những
chân tướng sự thật này,
muốn khôi phục lại đức
tướng, trí huệ, năng lực
vốn sẵn có của chúng ta,
chẳng có cách nào khác
ngoài ‘Ðịnh, Huệ’.
Trong Ðịnh Huệ thì Ðịnh
là mấu chốt, Huệ chẳng
cần tìm cầu, Ðịnh khởi
tác dụng tức là Huệ,
Ðịnh khởi tác dụng chính
là Giới, Giới - Ðịnh -
Huệ là một mà ba, ba là
một, chẳng thể tách lìa
nhau. Chúng ta gọi
tác dụng của Ðịnh Huệ là
‘Xảo’, tương ứng với
Giới là ‘Thiện’.
Thiện xảo phương tiện
của chư Phật, Bồ Tát
chính là trong mỗi tâm
niệm đều tương ứng với
Tam Học: Giới, Ðịnh,
Huệ, thiện xảo đến cùng
cực, thế nên đích thật
quang minh của các ngài
chiếu trọn khắp, Phạm âm
nghe cùng khắp.
Nghe xong sẽ sanh tâm
hoan hỷ, nhìn sắc tướng
sanh tâm hoan hỷ, nghe
âm thanh sanh tâm hoan
hỷ. Không những
sanh tâm hoan hỷ, thấu
hiểu được ý nghĩa này
thì tự nhiên sẽ sanh
khởi tâm kính mến, đây
là đức tướng thứ ba.
Ðức tướng thứ tư, Phật
nói hết thảy pháp, pháp
thậm thâm, bạn nghe xong
chẳng khó hiểu.
Rất dễ hiểu, rất dễ tiếp
nhận, nhất định sẽ chẳng
hiểu sai ý tứ trong ấy.
Ðức tướng thứ năm là làm
cho người nghe xong vĩnh
viễn chẳng chán, chẳng
giống như chúng ta làm
việc gì, làm lâu thì sẽ
chán ngán. Nhìn
thấy quang minh, sắc
tướng của Phật, nghe âm
thanh thuyết pháp của
Phật vĩnh viễn nghe hoài
không chán, người hiện
nay gọi là hưởng thọ cao
cấp, đây là thật chẳng
giả.
Thế nên ‘xuất đại âm
thanh’ nói với chư Bồ
Tát chính là vì công
việc trọng đại lưu thông
bộ kinh này. Nói
thật ra trong Phật pháp,
bộ kinh này cũng là căn
bản pháp luân. Hoa
Nghiêm gọi là căn bản,
căn bản của cả Phật
pháp, căn bản của hết
thảy sự giáo học của chư
Phật Như Lai. Ðịa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
Kinh là căn bản của chỗ
chúng sanh khởi tu, bạn
bắt đầu tu từ đâu?
Phải bắt đầu tu từ kinh
này thì bạn mới có thể
nhập cảnh giới của quả
địa Như Lai. Thế
nên đức Phật ở đây dùng
đại âm thanh nói với
trọn hư không pháp giới,
hết thảy Bồ Tát Ma Ha
Tát trong hết thảy cõi
nước chư Phật. Bồ
Tát là người đã giác
ngộ, phải nên gách vác
sứ mạng hoằng kinh, hộ
kinh. Làm sao hộ?
Y giáo phụng hành tức là
hộ kinh, nếu chúng ta
đến khắp nơi tuyên
dương, giới thiệu kinh
này cho đại chúng, tự
mình chẳng làm, chẳng
hết lòng tu thì đó là
phước đức. Quả báo
của việc này là phước
báo hữu lậu thế gian,
bạn chỉ tu phước.
Nếu bạn y giáo phụng
hành, rồi lần lượt dạy
kẻ khác thì việc này là
công đức. Trong
công đức có phước đức,
trong phước đức chẳng có
công đức, việc này chúng
ta đã nói qua rất nhiều
lần rồi.
Ở đây Thế Tôn khuyên hết
thảy Bồ Tát Ma Ha Tát,
ngày nay chúng ta may
mắn được thân người,
được nghe Phật pháp,
càng may mắn hơn là có
thể xuất gia tu hành
trong Phật pháp, làm đệ
tử Phật, làm học trò của
Phật. Phật có thừa
nhận học trò này không?
Việc này hoàn toàn phải
coi chính mình.
Nếu ba nghiệp thân,
khẩu, và ý của chính
chúng ta tương ứng với
lời giáo huấn của Phật,
thì Phật khẳng định sẽ
thừa nhận chúng ta là
học trò của ngài.
Nếu ba nghiệp thân,
khẩu, và ý chẳng tương
ứng với lời giáo huấn
của đức Phật, tuy chúng
ta nói là học trò của
đức Phật, hình tướng
hiện ra hôm nay cũng thế
độ, mặc áo tràng, đắp y,
và cũng thọ giới, nhưng
Phật, Bồ Tát chẳng thừa
nhận. Chẳng thừa
nhận, thân phận này là
do Thiên Thai đại sư nói
ra, gọi là ‘Danh Tự tỳ
kheo’, có Danh chẳng có
Thật. Tên là Sa
Môn, là người xuất gia
đều chẳng phải là thật.
Rất đáng cho chúng ta
phản tỉnh sâu xa, khi đã
xuất gia rồi thì nhất
định phải làm một Phật
tử có Danh phù hợp với
Thật, chúng ta có sứ
mạng phải hoằng dương bộ
kinh này.
Muốn hoằng dương kinh
này thì nhất định phải
tu học kinh này, rất
nhiều bạn đồng tu học
giảng kinh, ở đây hoặc ở
chỗ khác tôi thường
thường gặp một số pháp
sư trẻ tuổi đến hỏi:
“Làm thế nào mới giảng
kinh giỏi?” Những
người này cứ tưởng tôi
giảng kinh mấy chục năm
có một chút kinh nghiệm,
họ đề ra vấn đề này rất
là hy hữu. Nếu
thật sự muốn giảng kinh
giỏi và hay, nhất định
phải tu hành y theo lời
dạy; bạn chân tu (tu
hành chân thật) mới có
tâm đắc, chúng ta hiện
nay gọi là tâm đắc,
trong Phật pháp gọi là
chỗ ngộ (ngộ xứ).
Nếu bạn chẳng chân tu
thì chẳng có chỗ ngộ,
duy chỉ có làm thật sự
mới có chỗ ngộ.
Bạn ngộ được càng sâu
thì đương nhiên bạn sẽ
giảng càng hào hứng.
Nếu bạn chẳng ngộ, chỉ
coi chú giải của người
khác, đó là
dựa vào nguyên bản,
nói theo lớp lang, hoàn
toàn là của người khác,
chẳng liên quan gì với
mình, thì bạn làm sao
giảng hay được?
Bạn có thể giảng chú
giải cho thật thuộc,
thật lưu loát, hoa trời
rơi lả tả, có nội dung
thật tế gì không?
Chẳng có. Những gì
đã giảng hoàn toàn là bề
ngoài, trên hình tướng,
một phần cũng chẳng thấu
sâu vào. Bạn vào
càng sâu, sức mạnh phát
ra tự nhiên sẽ chẳng
tương đồng. Thế
nên quy kết đến cùng
phải chân tu thì bạn mới
thật sự giảng hay, kiến
giải, tư tưởng, và tâm
hạnh của bạn tương ứng
cùng Phật, làm sao giảng
không hay được!
Năm đức trong âm thanh
của Ðại Phạm Thiên Vương
bạn cũng có thể có đủ.
Lúc sơ học chúng ta
chẳng giác ngộ, chẳng
ngộ nhập, bắt đầu học
thì phải học từ đâu?
Từ chân thành. Có
vậy mới có cảm ứng, có
thể được Phật, Bồ tát
gia trì, giúp đỡ bạn ngộ
nhập. Nếu tâm bạn
chẳng chân thành thì
không có cách chi, chân
thành chẳng có mảy may
tướng hư ngụy.
Không những khi đọc
kinh, giảng kinh mới
chân thành, khi lên
giảng đài thì chân
thành, bước xuống thì hư
ngụy, như vậy được
không? Không được.
Chư vị phải biết một
Chân thì hết thảy đều
Chân, chúng ta chỉ có
một tâm chân thành, đối
với Phật, Bồ Tát là tâm
này, đối với hết thảy
chúng sanh cũng là tâm
này, như vậy thì bạn mới
ngộ nhập. Nếu bạn
còn dùng hai tâm thì
chắc chắn không thể ngộ
nhập. Không những
không thể ngộ nhập cảnh
giới của Phật, nói thật
ra bạn đối với những
tình trạng trước mắt
cũng chẳng thể hiểu rõ.
Ðây là điều các bạn đồng
học phát tâm học giảng
kinh, phát tâm tiếp nối
huệ mạng của Phật, hoằng
pháp lợi sanh không thể
không biết.
Chư đại Bồ Tát đối với
chân tướng của vũ trụ
nhân sanh không những
ngộ nhập, có thể nói họ
triệt để ngộ nhập, trong
Phật pháp gọi là triệt
để nguồn pháp.
Chúng ta biết trong ấy
rất nhiều Bồ Tát Ma Ha
Tát đều là mười phương
chư Phật Như Lai thả
chiếc bè từ để thị hiện.
Thân phận của Bồ Tát
chẳng nhất định, chư vị
phải biết, họ có thể thị
hiện những thân phận
khác nhau. Trong
Phẩm Phổ Môn chúng ta
thấy Quán Thế Âm Bồ Tát
hiện ba mươi hai Ứng
Thân, đây là nêu ra một
thí dụ. Sự thị
hiện của Ngài chẳng phải
ý tứ của Ngài, hoàn toàn
do sự Cảm của chúng
sanh, Ngài mới có Ứng.
Ðó là ‘nên dùng thân
Phật để độ’ thì Ngài bèn
hiện thân Phật, vị Phật
đó cũng là Bồ Tát; ‘nên
dùng thân đồng nam, đồng
nữ để độ’ thì Ngài bèn
hiện thân đồng nam, đồng
nữ, đồng nam đồng nữ ấy
cũng là Bồ Tát; ‘nên
dùng thân tỳ kheo để độ’
thì Ngài hiện thân tỳ
kheo, đâu có nhất định!
Thậm chí nói nên dùng
thân kẻ ăn xin để độ thì
Ngài bèn hiện thân kẻ ăn
xin. Trong ‘Niên
phổ của lão hòa thượng
Hư Vân’ chúng ta thấy
khi Hư Vân lão hòa
thượng triều bái Ngũ Ðài
Sơn gặp một người xin
ăn, người xin ăn ấy
chính là Văn Thù Bồ Tát
hóa thân. Do đó
phải biết những Bồ Tát
Ma Ha Tát này đang ở
trong các ngành các nghề
của xã hội chúng ta, bạn
biết người nào là Bồ Tát
hay chăng? Không
biết, chúng ta là phàm
phu mắt thịt.
Những đại Bồ Tát, chư
Phật Như Lai này tại sao
làm như vậy? Dụng
ý làm như vậy rất sâu.
Làm cho chúng ta sanh
khởi tâm cung kính tột
cùng đối với hết thảy
chúng sanh. Người
học Phật chúng ta nên có
thái độ như thế nào?
Bất luận là hết thảy
người, hết thảy sự , hết
thảy vật, chúng ta phải
xem họ như chư Phật Như
Lai thị hiện, tâm cung
kính của chúng ta mới
khởi dậy được, như vậy
mới có thể khế nhập vào
hạnh Phổ Hiền.
Hạnh môn thứ nhất của
Phổ Hiền là Lễ Kính Chư
Phật, chúng ta đối đãi
với bất cứ người, sự,
vật nào đều phải lễ kính
chân thành. ‘Lễ’
là hình dáng bên ngoài,
‘Kính’ là nội tâm.
Cho nên tâm ý, mật ý của
sự thị hiện là nhằm dẫn
chúng ta đến hạnh Phổ
Hiền. Chúng ta
nhất định không thể
khinh mạn bất cứ một
chúng sanh nào, trong
tâm của chúng ta họ đều
là hóa thân của Như Lai.
Rốt ráo họ có phải là
hóa thân của Như Lai hay
không? Nếu tâm ta
đối đãi với họ: ‘Họ là
hóa thân của Như Lai’,
trong cảnh giới của mình
thì người này chính là
hóa thân của Như Lai.
Bạn hỏi là đạo lý gì?
Cảnh chuyển tùy theo
tâm. Chuyển tùy
theo tâm mình, trong tâm
của mình họ là Như Lai,
trong tâm của mình người
ấy là phàm phu, bạn có
hiểu đạo lý này hay
chăng? Trong tâm
của mình người ấy là Như
Lai, cảnh giới của mình
bèn được nâng lên đến
cảnh giới của Như Lai.
Trong mắt của Phật, hết
thảy chúng sanh đều là
chư Phật, phàm phu nhìn
Phật, Bồ Tát đều là phàm
phu, phàm phu chẳng thể
thành Phật là vì họ nhìn
hết thảy chúng sanh đều
là phàm phu. Nếu
bạn quả thật quay về,
bạn nhìn hết thảy chúng
sanh đều là chư Phật Như
Lai thì bạn sẽ thành
Phật rất nhanh.
Tại sao Thiện Tài đồng
tử thành Phật ngay trong
đời này, đạo lý ở đâu?
Nhờ vào điểm này.
Đây chính là chỗ chúng
ta thường nói dùng tâm
chân thành đối đãi với
hết thảy người, sự, vật,
chân thành đến mức cùng
cực, chuyển hết thảy
cảnh giới thành cảnh
giới của Phật.
Trong các buổi giảng
chúng tôi thường nói
tướng tùy tâm chuyển,
thể chất tùy tâm chuyển,
cảnh giới tùy tâm
chuyển, hằng ngày đều
giảng, đều khuyên, đều
nhắc nhở, tại sao bạn
không thể chuyển?
Chuyển ở tại một niệm;
chúng sanh và Phật nói
thật ra chỉ là cách nhau
ở một niệm, một niệm
giác bèn thành Phật, một
niệm mê bèn thành phàm
phu. Hy vọng chư
vị đồng tu phải hiểu sâu
ý nghĩa này.
Họ triệt để hiểu rõ chân
tướng của vũ trụ nhân
sanh, hiểu vạn pháp đều
không, hiểu hết thảy
pháp chẳng có tự tánh;
kinh Bát Nhã nói ‘chư
pháp duyên sanh, duyên
sanh vô tánh, đương thể
tức không, liễu bất khả
đắc’. Ngài còn
đến để thị hiện, còn làm
ra tấm gương để cho
người ta coi, đây là
lòng từ bi đến cùng cực.
Vì ngài hiểu rõ hạt
giống Phật từ duyên
sanh, duyên là gì?
Hết thảy người là duyên,
hết thảy sự là duyên,
hết thảy vật cũng là
duyên, những gì lục căn
chúng ta đối diện đều là
duyên. Trong duyên
làm sao lại có hạt giống
Phật? Lúc nãy tôi
dạy cho bạn, bạn có thể
coi hết thảy sự vật đều
là chư Phật Như Lai thị
hiện thì hạt giống Phật
của bạn đã sanh rồi.
Nếu bạn nhìn hết thảy
người, sự, vật này đều
là phàm phu, đều là
nghiệp chướng sanh tử
phàm phu thì hạt giống
Phật của bạn chưa sanh,
nghiệp chướng của bạn đã
sanh rồi, vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước
của bạn khởi lên rồi.
Đều ở tại một niệm, vấn
đề là bạn biết hay
không? Tổ sư đại
đức trong Tông Môn
thường khám nghiệm học
trò, trong lời nói
thường hỏi: ‘Hiểu
không?’ (Hội ma?)
Bạn hiểu không.
Hiểu rồi thì nhập cảnh
giới; chẳng hiểu thì vẫn
là phàm phu. Cho
nên ý nghĩa của câu
‘Hiểu không?’ này cũng
rất sâu xa, chúng ta
phải thấu hiểu đến nghĩa
thú của chỗ này.
Cho nên chúng sanh do
nguyên nhân này có cảm,
Bồ Tát cũng do đó mà có
ứng, cảm ứng đạo giao.
Chúng ta phải hiểu ‘Lý
của cảm ứng đạo giao’.
Chúng ta cùng chư Phật,
Bồ Tát cảm ứng đạo giao,
chúng ta cùng hết thảy
chúng sanh cũng cảm ứng
đạo giao, thiện thì cảm
ứng với thiện, ác thì
cảm ứng với ác, lý rất
sâu nhưng chẳng phải
thấu hiểu không được.
Chúng ta nêu ra một thí
dụ rất cạn cợt, bạn thấy
người học Phật thích ở
chung với người học
Phật, tôi học Phật thì
tôi có cảm, hết thảy
những người học Phật bèn
ứng. Người học
Phật tuyệt đối sẽ chẳng
ở chung với người Cơ Đốc
Giáo, đây không phải là
một thí dụ sao?
Thế pháp cũng vậy.
Người đánh bài sẽ có một
đám bạn đều thích đánh
bài, người ấy cùng họ
cảm ứng đạo giao; người
thích khiêu vũ cảm ứng
đạo giao cùng người
thích khiêu vũ, vật cùng
loại tụ với nhau, người
phân chia thành từng tộc
đoàn. Tại sao lại
từng loại, từng nhóm
cùng nhau? Lý của
sự cảm ứng. Không
những động vật có cảm
ứng này, thực vật cũng
có cảm ứng như vậy.
Nếu bạn lưu ý khi đi du
lịch ngoài trời, rừng
núi, bạn hãy xem cây
cối, cây cối cùng loại
mọc chung với nhau,
không thấy trong một khu
rừng có rất nhiều chủng
loại, rất ít, chưa từng
thấy, trừ phi con người
cố ý trồng như vậy.
Nếu là rừng tự nhiên thì
trong một đám rừng nhất
định là cùng một chủng
loại. Do đó bất
luận là động vật, thực
vật, khoáng vật đều là
một loài, một nhóm cùng
nhau, đạo lý này gọi là
lý của sự cảm ứng.
Thiện cảm ứng với thiện,
ác cảm ứng với ác, tịnh
cảm ứng với tịnh, bạn sẽ
hiểu được Phật cảm ứng
với Phật.
Phật, Bồ Tát dùng các
thân phận, các sắc tướng
thị hiện trong thế gian,
từ bi đến cùng cực.
Chúng sanh khổ nạn thì
ngài nhất định sẽ cứu tế
họ. Đài Loan có
một hội Từ Tế Công Đức,
từ bi cứu tế đến mức
cùng cực là phải giúp đỡ
hết thảy chúng sanh phá
mê khai ngộ, đó là chân
chánh từ bi cứu tế.
Dùng tài vật để cứu tế,
người ta không có ăn thì
tặng cho họ một chút
lương thực, không có mặc
thì tặng vài bộ quần áo
cho họ, đó là cứu giúp
nhất thời, chẳng phải kế
sách lâu dài. Kế sách
lâu dài là phải bắt đầu
cứu độ từ căn bản, phải
dạy họ phá mê khai ngộ,
phải giúp họ khôi phục
trí huệ đức năng, phước
báo vô cùng tận vốn sẵn
có trong tự tánh, đó là
cứu tế chân thật, chẳng
phải là cứu tế giả, đây
là cứu tế đến cùng cực.
Kinh Địa Tạng đối với
hết thảy chúng sanh, đặc
biệt là đối với hết thảy
chúng sanh đang chịu tội
khổ là từ bi cứu tế bắt
đầu từ căn bản.
Vừa rồi tôi nói rất rõ
ràng, nhất định tự mình
phải y giáo phụng hành
trước, tự mình phải thật
sự làm được thì bạn mới
có thể thấu hiểu ý tứ
của từng câu từng chữ
trong kinh này.
Nếu làm không được, y
chiếu theo giảng ký của
người khác mà giảng,
giảng được giỏi cách mấy
cũng khó khế cơ.
Nói theo cách thông
thường thì đó chẳng có
đạo vị chân chánh, đạo
vị chân chánh là từ tâm
tánh tuôn trào ra.
Chú giải của cổ đức chỉ
cung cấp cho chúng ta
tham khảo mà thôi, đó là
sự tu hành của họ, cảnh
giới họ chứng được, tuôn
ra từ tự tánh của họ,
chẳng phải tuôn trào từ
tự tánh của chúng ta.
Nhất định phải tuôn ra
từ tự tánh chính mình
mới được, sau đó chúng
ta đối chiếu với kinh,
so sánh với những chú sớ
của cổ đại đức, lãnh hội
sâu vào. Xin xem
đoạn kinh tiếp theo:
Ngô diệt độ hậu, nhữ
đẳng chư Bồ Tát đại sĩ
cập thiên long quỷ thần
đẳng quảng tác phương
tiện, vệ hộ thị kinh.
Lịnh nhất thiết chúng
sanh chứng Niết Bàn lạc.
Sau khi Ta diệt độ thì
hàng Bồ Tát, Đại Sĩ các
ông cùng với Trời, Rồng,
Quỷ, Thần, v.v… nên dùng
nhiều phương tiện để giữ
gìn bảo vệ kinh này,
khiến tất cả chúng sanh
đều chứng được cảnh vui
Niết Bàn.
Trong đoạn này, Thế Tôn
nói ra nguyện vọng của
ngài đối với Bồ Tát Ma
Ha Tát. Đặc biệt
là sau khi Phật thị hiện
diệt độ. Trong
thời gian Phật chẳng trụ
thế thì chúng sanh sẽ
khổ, mê hoặc điên đảo,
tạo hết thảy tội nghiệp,
chẳng có người dạy họ.
Do đó Phật phải phó chúc
những Bồ Tát này ‘hàng
Bồ Tát, Đại Sĩ các ông’,
‘Đại Sĩ’ thông thường là
chỉ Địa Thượng Bồ Tát,
chỉ Đẳng Giác Bồ Tát
nhiều nhất. ‘Thiên
long quỷ thần’ trên thực
tế đều là Phật, Bồ Tát
ứng hóa, nếu chẳng phải
là Bồ Tát ứng hóa, thật
là thiên long quỷ thần
thì họ đều là phàm phu,
rất khó hiểu được lời
dạy của Phật. Phật
dạy họ phải ‘dùng nhiều
phương tiện, giữ gìn bảo
vệ kinh này’. Kinh
Duy Ma nói rất hay ‘nếu
chẳng có phương tiện’,
‘phương’ là phương pháp,
‘tiện’ là tiện nghi.
Nếu bạn chẳng có phương
tiện thì dù có trí huệ
bạn cũng chẳng thể phát
huy. Cũng như
người thật có học vấn,
có trí huệ, chẳng có
khẩu tài, lên giảng đài
chẳng giảng được, nhưng
họ viết văn rất hay.
Chúng tôi đã gặp những
người như vậy, viết văn
chương thật hay, lên
giảng đài nói không
được, dạy học không
được, họ chẳng thể dùng
ngôn ngữ biểu đạt ý tứ
được.
Thuyết pháp cần có biện
tài vô ngại, [muốn có]
biện tài thì cũng mong
cầu Phật, Bồ Tát gia
trì, làm thế nào mới
được Phật, Bồ Tát gia
trì? Vẫn chỉ là sự
cảm ứng của lòng chân
thành: tôi vì chúng
sanh, chẳng vì mình thì
sẽ được Phật, Bồ Tát gia
trì. Một số người
cầu Phật, tại sao cầu
chẳng được cảm ứng?
Khi cầu Phật, Bồ Tát,
tuy vì chúng sanh nhưng
vẫn còn vì mình, chín
mươi chín phần trăm vì
chúng sanh, nhưng còn
một chút vì mình thì sẽ
chẳng được cảm ứng.
Huống chi hiện nay phần
đông người hoằng pháp
lợi sanh, nói đại khái
chín chục phần trăm vì
mình, mười phần trăm vì
chúng sanh, chắc là tỷ
lệ như vậy, phân nửa –
phân nửa cũng rất hiếm,
thì làm sao có cảm ứng
được? Những sự
thật này, hy vọng các vị
đồng tu phải quan sát và
thấu hiểu kỹ càng.
Trong đời mạt pháp,
nghiệp chướng của chúng
ta rất nặng, nếu chẳng
được Tam Bảo gia trì,
nhất định sẽ chẳng có
năng lực giảng kinh, đây
là chuyện rất thực tế.
Trong kinh nói ngay cả
Địa Tạng Bồ Tát thuyết
pháp cũng phải ‘nương
nhờ oai thần của Phật’
gia trì, huống chi là
phàm phu chúng ta?
Chúng ta phải hiểu đạo
lý này, cho nên nếu
không có phương tiện
khéo léo thì chúng ta
chẳng có năng lực biểu
đạt và tỏ lộ ý nghĩa
thậm thâm của kinh làm
cho người sơ học nghe dễ
hiểu.
Trong kinh Phật nói với
chúng ta, nhất định
chẳng thể dùng tâm có ái
kiến. Ái là gì?
Tôi thích. Kiến là
gì? Chủ ý của tôi,
kiến giải của tôi, cách
suy nghĩ của tôi, cách
làm của tôi. Nếu
dùng tâm niệm và thái độ
này để trang nghiêm tịnh
độ, thành tựu chúng sanh
thì bạn sẽ có trở ngại,
chướng ngại.
Chướng ngại gì?
Chướng ngại trí huệ chân
thật của bạn, chướng
ngại công đức của bạn.
Nếu bạn hỏi tại sao?
Phật nói với chúng ta
chân tướng của vũ trụ
nhân sanh là một, chẳng
hai. Tự chúng ta
có tâm ái kiến, tức là
phân biệt chấp trước.
Phân biệt chấp trước là
mê hoặc, là phiền não,
là chướng ngại, chướng
ngại tâm tánh. Vô
lượng trí huệ, vô lượng
đức tướng, vô lượng công
đức trong tâm tánh đều
bị chướng ngại.
Đây là một sự việc khó
nhất, đây là chân tướng
sự thật. Nếu chúng
ta xa lìa ái kiến, hoặc
là nói xa lìa phân biệt,
chấp trước, ái kiến tức
là phân biệt, chấp
trước, tâm của chúng ta
mới thật sự thanh tịnh.
Trong đề kinh của kinh
Vô Lượng Thọ nói đến
‘Thanh Tịnh, Bình Đẳng,
Giác’, từ năm chữ này
chúng ta suy ra thành
mười chữ để cho mọi
người dễ hiểu: ‘Chân
Thành, Thanh Tịnh, Bình
Đẳng, Chánh Giác, Từ
Bi’, mười chữ này là từ
năm chữ trên mở rộng ra.
Thường giữ tâm này, tâm
này tức là trang nghiêm
Phật độ, thành tựu chúng
sanh. Thực hiện
trên sự tướng, trong đời
sống tức là ‘Nhìn Thấu,
Buông Xả, Tự Tại, Tùy
Duyên’, sau cùng là
‘Niệm Phật’, thành tựu
công đức rốt ráo viên
mãn. Nếu không
niệm Phật, cao nhất là
chúng ta chỉ đến cảnh
giới Bồ Tát, niệm Phật
thì sẽ đến cảnh giới của
Phật, đại viên mãn, thật
sự rốt ráo. Nếu
thật sự dùng tâm này thì
sự tu học, công việc của
chúng ta nhất định sẽ
không mệt, không chán.
Mệt là mệt mỏi, chán là
chán chường.
Hôm qua ở Cư Sĩ Lâm,
pháp sư Ngộ Toàn nói với
tôi rằng ông sanh tâm
xấu hổ. Ông nói
chúng ta hai mươi bốn
giờ niệm Phật, người trẻ
tuổi sánh chẳng bằng
những cụ già ở Cư Sĩ
Lâm. Người trẻ
tuổi niệm tới nửa đêm
thì mệt rồi, toàn thân
đều mệt rã rượi, chẳng
chịu đựng được nữa.
Nhưng các cụ già còn ở
đó nhiễu Phật, vẫn ở đó
niệm Phật, niệm đến trời
sáng vẫn chẳng mệt.
Trời sáng họ còn đi lau
chùi, dọn dẹp xung
quanh. Sau khi
nhìn thấy, tâm ông rất
ngượng [và nói] chúng
tôi chẳng bằng các cụ.
Tại sao ông chẳng bằng
họ? Bạn có vọng
tưởng, họ chẳng có vọng
tưởng. Tâm bạn chẳng
thanh tịnh, tâm họ thanh
tịnh. Bạn niệm
Phật lâu rồi tâm bèn
sanh phiền não cho nên
toàn thân đều khó chịu.
Họ sanh pháp hỷ, họ vui
sướng vô cùng, càng niệm
càng hoan hỷ, càng niệm
càng hăng hái, càng niệm
càng có tinh thần, đó là
thật. Cho nên con
người thật sự đắc được
thiền định, thì sẽ vĩnh
viễn chẳng cảm thấy mệt
mỏi, người đạt được
thiền định có thể không
cần ngủ nghỉ. Tài,
sắc, danh, thực, thùy
(tiền tài, sắc dục,
tiếng tăm, ăn uống, ngủ
nghỉ) gọi là Ngũ Cái,
năm thứ này che lấp chân
tâm, bản tánh của bạn;
‘Cái’ tức là chướng
ngại, chướng ngại mất
nên chẳng thể khởi tác
dụng.
Bởi vậy hôm qua tôi nói
với ông, nhất định phải
tu tâm thanh tịnh, tâm
thanh tịnh có thể đạt
đến mục đích này.
Trong kinh đức Phật dạy
chúng ta
‘Đặt tâm ở một chỗ,
chẳng có chuyện gì không
làm được’
.
Nếu tâm của bạn, đây là
nói về phàm phu, chẳng
phải thánh nhân, chẳng
phải người học Phật, sự
ưa thích, hứng thú của
bạn có thể tập trung vào
một chỗ, thì người ấy
cũng chẳng mệt chẳng
chán, trong ngành nghề
nào cũng có. Người
đọc sách ưa thích sách
vở, họ đọc sách chẳng
cảm thấy mệt, chẳng
chán. Khoa học gia
ở trong phòng thí nghiệm
thường thường quên ăn
quên ngủ, quên ăn cơm,
quên ngủ nghỉ, đó là gì?
Vì hứng thú của họ, nhờ
đó có thể đạt được.
Chúng tôi cũng từng
nghe, lúc trước ở Pháp,
Nã Phá Luân (Napoleon)
mỗi ngày ngủ hai tiếng
mà thể lực vượt hơn
những người thường.
Thể lực đó do đâu mà có?
Chuyên chú, ông ta rất
ưa thích sự nghiệp, một
lòng một dạ vì sự
nghiệp, quên hết tất cả
chuyện khác. Người
thế gian còn làm được
huống chi là người tu
hành! Thế nên
người tu đạo lúc nhập
định, nhập định chẳng
phải ngủ nghỉ, nếu nói
ngồi xếp bằng tĩnh tọa
nhập định mà họ ngủ thì
hình dáng ngủ như vậy
rất khó coi, tại sao?
Nhất định là đầu và chân
co vào nhau, đó là đang
ngủ. Nếu họ đang
nhập định thì thân thể
sẽ rất ngay ngắn, chẳng
phải họ đang ngủ, ở
trong định họ có cảnh
giới trong định, chẳng
phải ngủ, họ tỉnh táo.
Nếu bạn muốn kêu họ xuất
định, lấy dẫn khánh gõ
nhẹ nhẹ ba lần vào tai
của họ thì họ sẽ xuất
định, đó là có người kêu
họ, cho nên phải biết họ
chẳng có ngủ. Tĩnh
tọa mà ngủ thì có thể
nhìn biết, ngáy khò khò,
đầu và chân co vào nhau.
Chúng ta phải khắc phục
những chướng ngại này,
phải khôi phục tinh thần
và thể lực của chúng ta
thì mới có thể hoằng
pháp lợi sanh, mới có
thể tiếp nhận lời phó
chúc của Thế Tôn ‘rộng
làm các phương tiện, giữ
gìn bảo vệ kinh này’, vệ
nghĩa là hộ vệ, hộ vệ
nghĩa là giữ gìn.
Phật ở đây khuyên Bồ
Tát, nói thật ra cũng là
khuyên chúng ta, kinh
này đối với xã hội hiện
giờ, đối với chúng sanh
đời mạt pháp vô cùng
quan trọng! Trong
mấy chục năm giảng kinh,
tôi thường khuyến khích
mọi người, trong sự tu
học Phật pháp Đại Thừa,
Địa Tạng là cơ sở, Địa
là tâm địa, người hiện
nay chúng ta gọi là xây
dựng tâm lý, cho nên
trong kinh này nói những
gì? Xây dựng tâm
lý, đây là căn bản.
Từ bộ kinh này mới có
thể sanh ra lòng yêu
thương rộng lớn (đại
ái), người hiện nay gọi
là ‘bác ái’, hai chữ
‘bác ái’ này lấy từ kinh
Vô Lượng Thọ. Phật
pháp nói về đại từ đại
bi. Đại từ đại bi
sanh khởi từ đâu?
Từ trong kinh này sanh
khởi, do đó kinh này là
căn bản. Nội dung
kinh này nói về hiếu
thân, tôn sư, dùng hiếu
đạo làm cơ sở, cho nên
hết thảy pháp đều sanh
từ hiếu đạo, nội dung
của kinh này là đại
hiếu. Từ hiếu sanh
khởi từ bi, trong từ bi
sanh ra trí huệ, từ bi
là phước, phước chí tâm
linh, từ trong trí huệ
mới chân chánh phát khởi
đại tâm phổ độ hết thảy
chúng sanh.
Sau cùng nói ‘làm cho
hết thảy chúng sanh
chứng được cảnh vui Niết
Bàn’, Niết Bàn là thật,
chẳng giả, Niết Bàn là
chẳng sanh chẳng diệt, ý
nghĩa của ‘Niết Bàn’ là
cứu cánh viên mãn, chẳng
có một tí gì khiếm
khuyết. Cho nên
đức Phật ở đây khuyên
dạy mọi người nhất định
phải rộng làm phương
tiện, giữ gìn bảo vệ lưu
thông, vả lại phải chú
trọng hiệu quả.
Nhất định phải giúp đỡ
mọi người hiểu rõ chân
tướng của vũ trụ nhân
sanh, sau đó đoạn dứt
hết thảy ác, tu hết thảy
thiện, vĩnh viễn chẳng
đọa tam ác đạo, thoát
lìa khổ hải. Trong
thời đại này muốn thật
sự lìa khổ được vui,
vĩnh viễn chẳng thoái
chuyển thì không cầu
sanh Tịnh Độ không được.
Nếu không cầu sanh Tịnh
Độ, trong vị thứ của Bồ
Tát còn bị thoái chuyển,
thoái chuyển là một
chuyện phiền phức rất
lớn, đây là khuyên chúng
ta niệm Phật, đạo lý là
ở chỗ này. Xin xem
kinh văn:
Thuyết thị ngữ dĩ, hội
trung hữu nhất Bồ Tát
danh viết Phổ Quảng hiệp
chưởng cung kính nhi
bạch Phật ngôn, kim kiến
Thế Tôn tán thán Địa
Tạng Bồ Tát hữu như thị
bất khả tư nghị đại oai
thần đức, duy nguyện Thế
Tôn vị vị lai thế mạt
pháp chúng sanh nghi
thuyết Địa Tạng Bồ Tát
lợi ích nhân thiên nhân
quả đẳng sự, sử chư
thiên long bát bộ cập vị
lai thế chúng sanh đỉnh
thọ Phật ngữ.
Nói lời ấy xong, trong
pháp hội có một vị Bồ
Tát tên là Phổ Quảng
cung kính chắp tay bạch
với đức Phật: ‘Nay con
nghe Thế Tôn tán thán
Địa Tạng Bồ Tát có đức
oai thần rộng lớn bất
khả tư nghì như thế, xin
Thế Tôn vì chúng sanh
trong thời Mạt Pháp ở
đời sau mà nói về các sự
nhân quả của Địa Tạng Bồ
Tát làm lợi ích cho hàng
Trời, Người, làm cho
thiên long bát bộ và
chúng sanh trong đời vị
lai thảy đều kính vâng
lời của Phật.
Đoạn này nói về người
đương cơ khải thỉnh.
Người đương cơ là một Bồ
Tát, ‘Phổ Quảng Bồ Tát’,
Phổ Quảng Bồ Tát đại
diện cho những Bồ Tát
trong hội, tiếp nhận lời
phó chúc của Thế Tôn,
phát nguyện lưu thông
kinh này, hoằng dương
pháp môn này, ngài làm
đại diện. Hàm ý
trong tên của Bồ Tát và
Phật phóng quang, dùng
âm thanh to lớn để tuyên
bố, ý tứ đều tương ứng.
Ý nghĩa của ‘Phổ’ là phổ
biến, biến khắp gọi là
‘phổ’; ‘Quảng’ là rộng
lớn chẳng có biên giới.
‘Cảm’ và ‘Ứng’ đều tương
hợp, ở đây đức Phật
Thích Ca Mâu Ni khuyên
dạy các Bồ Tát trong
hội, Phật là ‘cảm’, các
Bồ Tát nghe xong chịu
tiếp nhận, đó là ‘ứng’.
Do đó có thể biết cảm
ứng là từ hai phương
diện, cảm ứng lẫn nhau.
Thanh Liên pháp sư ở đây
giải thích ý nghĩa danh
hiệu của Bồ Tát: “Từ tâm
phát khởi trí huệ, trí
huệ trọn khắp pháp giới”
gọi
là Phổ, giải thích rất
hay. Không có trí
huệ sẽ chẳng chịu tiếp
nhận, hiện giờ trao
trách nhiệm này cho ông,
[nếu là bạn thì] bạn còn
thoái thác, khách khí,
chẳng dám gánh vác, còn
những Bồ Tát trong hội
lúc ấy thì chẳng như
vậy. Họ từ trong
chân tâm khởi lên trí
huệ tự tánh Bát Nhã, trí
huệ này phổ biến khắp
pháp giới, đây là nghĩa
của chữ ‘Phổ’. Có
Trí mới có thể dẫn đạo
cho Hành, cũng là nói
Trí thực hiện trên sự
tướng tức là hành vi,
tức là ‘hành chỉ’; Trí
biến trọn pháp giới,
Hạnh cũng bao trùm hư
không, cũng trọn khắp
pháp giới, nên gọi là
Quảng. Chân tâm là
Thể, Phổ Quảng là Dụng;
Phổ là nói về trí huệ,
Quảng là nói về sự
tướng. Cũng hiển
rõ Tam Thân đều là một
Thể, cũng hiển rõ Tam
Đức là một Thể, ở đây
ngài nói Tâm tức là Pháp
Thân, Phổ là Bát Nhã,
Quảng là Giải Thoát.
Giải thoát tức là phương
tiện tự tại, chúng ta
thường nói Tự Tại, Tùy
Duyên tức là Giải Thoát.
Ý tứ đoạn này cũng rất
sâu, chúng ta nên học
tập cho khéo.
Phật trong ấy nói về
chân tướng, chân tướng
nhất định không thể chấp
trước thân là ‘Ngã’
(Ta). Đem vật
ngoài thân coi như là
‘ngã sở’ (vật của Ta).
Ta còn không có thì làm
sao có ‘vật của Ta’?
Được vậy bạn mới giác
ngộ. Bạn có thể
buông xả ‘Ngã’ và ‘Ngã
Sở’, buông xả chẳng dễ,
tại sao bạn buông xả
không nổi? Đạo lý
và chân tướng sự thật
này, bạn chẳng tìm hiểu
rõ ràng minh bạch.
Nếu thật sự rõ ràng minh
bạch thì bạn sẽ rất hoan
hỷ buông xuống, bạn
không thể không buông
xuống, đây là đạo lý
nhất định. Hiểu rõ
ràng, rành rẽ tức là
nhìn thấu, cái gì gọi là
nhìn thấu? Lý sự
nhân quả đều rõ ràng,
minh bạch, cho nên việc
gì cũng có thể buông
xuống. Sau khi
buông xuống, đời sống,
thọ dụng ấy đối với
chính mình đều tự tại,
đối với người khác thì
tùy duyên, thế nên tự
tại là ‘tự thọ dụng’,
tùy duyên là ‘tha thọ
dụng’. Giúp đỡ hết
thảy chúng sanh tùy
duyên, trong tùy duyên
chẳng có phân biệt,
chẳng có chấp trước.
Nếu có phân biệt, có
chấp trước thì chẳng
phải tùy duyên, mà là
phan duyên, sự khác biệt
giữa phan duyên và tùy
duyên là ở chỗ này.
Tâm tùy duyên là thanh
tịnh, là bình đẳng, là
giác ngộ; tâm phan duyên
chẳng thanh tịnh, chẳng
bình đẳng, là mê chấp,
mê hoặc, sự khác biệt
trong ấy rất lớn.
Thế Tôn tán thán Địa
Tạng Bồ Tát, tán thán
những đại Bồ Tát trong
hội, dụng ý ở đó rất
sâu. Chư đại Bồ
Tát biết hết thảy pháp
rốt cuộc là Không, còn
có thể thị hiện các thứ
sắc tướng để giáo hóa
chúng sanh, như vậy mới
đáng được Như Lai tán
thán. Người thế
gian không hiểu Tánh của
chư pháp là Không, thế
nên mới tạo nghiệp, thọ
báo, đó cũng là các thứ
thị hiện, chẳng tự tại!
Nhị Thừa, Quyền Giáo,
đặc biệt là người Nhị
Thừa biết chư pháp đều
là Không, chẳng phát tâm
giúp đỡ hết thảy chúng
sanh, được gọi là ‘rơi
vào hố Niết Bàn’, Phật
chẳng tán thán.
Đây tức là nói phàm phu
chấp ‘Có’, người Nhị
Thừa chấp ‘Không’, đều
mắc kẹt vào hai bên.
Phật tán thán Bồ Tát, Bồ
Tát cả hai bên đều chẳng
chấp trước, gọi là Hành
Trung Đạo, đối với mình,
với người đều có lợi ích
chân thật, nên Phật mới
tán thán. Dụng ý
của sự tán thán là làm
cho người sơ học chúng
ta học theo Bồ Tát,
chẳng học phàm phu,
chẳng học Nhị Thừa;
người học theo phàm phu
thì sai, tạo lục đạo
luân hồi, học người Nhị
Thừa chấp vào ‘Không’
cũng sai luôn, đọa vào
Thiên Chân Niết Bàn,
dụng ý của Phật là như
vậy.
Phổ Quảng Bồ Tát đại
diện chúng ta khải
thỉnh, lời của ngài,
‘Nay con nghe Thế Tôn
tán thán Địa Tạng Bồ Tát
có đức oai thần rộng lớn
bất khả tư nghì như
thế’. Như đã nói ở
phía trước, Địa Tạng Bồ
Tát đã phát nguyện từ
lũy kiếp, thành tựu cho
vô lượng vô biên chúng
sanh làm Phật, công đức
ấy bao lớn. Vả lại
còn không ngừng phổ độ
hết thảy khổ nạn chúng
sanh, Bồ Tát ở đó đặc
biệt nêu ra ‘xin Thế Tôn
vì những chúng sanh
trong thời Mạt Pháp ở
đời sau’, tức là chỉ
chúng ta. Hiện nay
chúng ta sinh sống trong
thời mạt pháp của Thế
Tôn, Phật trong kinh có
nói pháp vận của Phật có
ba thời kỳ. Thời
kỳ thứ nhất là ‘thời kỳ
Chánh Pháp’, cách Phật
chẳng xa, ý nghĩa của
Phật pháp lưu truyền
trong thế gian rất chánh
xác, người có duyên nghe
được Phật pháp rất dễ
chứng quả, người tu học
y theo lý luận phương
pháp trong Phật pháp
thành tựu rất nhiều,
Phật nói thời kỳ này dài
một ngàn năm. Do
đó có thể thấy những gì
ngày nay chúng ta gọi là
sức ảnh hưởng, đức Phật
giáo hóa chúng sanh có
sức ảnh hưởng lớn, sâu
như vậy, trong vòng một
ngàn năm này [những
người] có thể tiếp xúc
đến Phật pháp đều có thể
tu hành chứng quả, sức
ảnh hưởng ấy bao lớn.
Một ngàn năm sau đó thì
sức ảnh hưởng ấy giảm
đi, Phật pháp từ từ biến
chất, đó gọi là thời
Tượng Pháp, ‘tượng’ tức
là chẳng thuần chân,
‘tượng’ tức là tương tợ.
Người tu hành chứng quả
không còn nữa, ít đi
rồi, người được thiền
định rất ít. Người
y chiếu phương pháp này
được thiền định, khai
trí huệ cũng có, đây là
thời Tượng Pháp.
Còn thời Mạt Pháp là hai
ngàn năm sau khi Phật
diệt độ và kéo dài một
vạn năm. Thế nên
pháp vận của đức Phật,
cũng là sức ảnh hưởng
của sự giáo hóa chúng
sanh của đức Phật tổng
cộng là mười hai ngàn
năm. Một vạn năm
sau cùng này được gọi là
thời kỳ Mạt Pháp, sức
ảnh hưởng này dần dần
yếu đi, từ trong lịch sử
chúng ta có thể nhìn
thấy được. Cho nên
sự tu học, hoằng dương
Phật pháp, người thế
gian thường nói từng đời
chẳng bằng đời trước là
có nguyên nhân của nó.
Tuy từng đời chằng bằng
đời trước, Phật pháp có
lúc nào nổi bật trong
thời Mạt Pháp không?
Có chứ, có lúc nổi bật,
và có lúc suy đồi, đây
là vì nguyên nhân gì?
Vì ‘người có thể hoằng
đạo, chẳng phải đạo
hoằng người’. Nếu
trong thời đại này có
đại tâm phàm phu chân
chánh, họ giác ngộ rồi,
hiểu rõ rồi, y giáo tu
hành, tận tâm tận lực
hoằng dương Phật pháp.
Nếu chẳng có người y
giáo tu hành thì thời
đại ấy Phật pháp sẽ suy
đồi. Do đó có thể
thấy thạnh suy là do
người, chẳng do pháp.
Phật nói với chúng ta,
trong một vạn năm này
đích thật có lúc lên,
lúc xuống. Lúc tôi
mới bắt đầu học, Chương
Gia đại sư nói với tôi,
cổ võ tôi, dạy tôi đừng
thoái chí, chẳng phải là
Phật pháp cứ suy thoái
mãi mãi, có lúc sẽ lên
trở lại, do đó có thể
thấy đó là do con người
làm nên. Chúng ta
hiểu đạo lý này xong,
chúng tôi phát tâm kéo
thời Mạt Pháp lên tới
đỉnh cao, [việc này có]
vô lượng công đức, chư
Phật tán thán, chẳng
phải không thể làm được.
Trong thời quá khứ tôi
cũng thường khích lệ
đồng tu, chúng ta phải
nghĩ lúc đức Phật Thích
Ca Mâu Ni sáng lập đạo
nghiệp với năm tỳ kheo,
tại vườn Lộc Dã ban đầu
có năm học trò, một vị
thầy, khởi đầu sự nghiệp
như vậy. Sáu người
này có thể sáng tạo sự
nghiệp, ngày nay nếu có
sáu người chân chánh
phát tâm thì làm sao
không thể phục hưng cho
được? Rất khó kiếm
được sáu người, sáu
người như thế nào?
Sáu người minh bạch, sáu
người giác ngộ, sáu
người buông xả hết thảy
thân tâm thế giới, được
vậy thì Phật giáo sẽ
hưng thịnh trở lại.
Chúng ta chịu làm không?
Chịu xả bỏ sạch sành
sanh, xả bỏ rốt ráo
không?
Năm xưa ở Hong Kong lúc
pháp sư Tẩy Trần còn tại
thế, thầy đến Đài Loan
thăm tôi, thầy cũng rất
hộ trì Phật pháp, trò
chuyện với tôi làm thế
nào chấn hưng Phật pháp?
Lúc đó tôi đang giảng
kinh Kim Cang ở Đài
Loan, giảng theo cuốn
‘Giảng Nghĩa’ của cư sĩ
Giang Vị Nông, giảng rất
kỹ. Cư sĩ Giang Vị
Nông trong cuốn Kim Cang
Kinh Giảng Nghĩa có đề
xướng, ông nói nếu muốn
Phật pháp hưng vượng thì
nhất định phải làm theo
chế độ Trì Bát, tôi đồng
ý cách nhìn của ông.
Người xuất gia khôi phục
thời đại Thế Tôn trở
lại, ba chiếc y và một
bình bát, ngoài ra thì
vật gì cũng chẳng có,
được vậy thì Phật pháp
mới có thể chấn hưng.
Tôi đề nghị với pháp sư
Tẩy Trần, tôi nói thầy
đi kiếm năm người, năm
tỳ kheo chúng ta.
Hiện nay phước báo của
chúng ta chẳng sánh bằng
Thế Tôn thời xưa, tại
sao? Thể lực của
chúng ta chẳng làm nổi.
Ngày nay kêu chúng ta
ngủ dưới gốc cây, ngày
ăn một bữa, chưa tới một
tuần thì sẽ ngã bịnh
ngay. Phước báo
chẳng đủ, do đó hoàn
cảnh sinh hoạt phải nâng
cao hơn thời xưa một
chút, chúng ta không thể
ngủ dưới gốc cây, chúng
ta trú trong lều.
Lều của những học sinh
đi cắm trại, lều nhỏ thì
một người ở một lều, xếp
lại rất nhỏ, có thể bỏ
vào túi mang trên vai.
Tôi nói chúng tôi kiếm
năm người, ban ngày thì
đi khất thực, giảng kinh
thuyết pháp, hoằng hóa,
ban đêm tìm những gốc
cây lớn, năm người vây
quanh một gốc cây, ngủ
trong lều ở cạnh gốc cây
thì được rồi.
Chúng ta cũng chẳng cần
ngủ ngồi, có thể nằm mà
ngủ, giảm mức sinh hoạt
đến mức thấp nhất, trong
tâm chẳng có một tạp
niệm, nhất tâm làm việc
đạo. Lúc chẳng
giảng kinh, chẳng thảo
luận, chẳng hoằng pháp
thì mọi người tụ lại
niệm Phật. Tôi nói
với thầy, nhờ thầy dẫn
đầu, tôi sẽ là một trong
năm người này, những
người còn lại thì thầy
đi tìm. Sau khi
thầy trở về Hương Cảng
thì tăm hơi bặt tiếng,
pháp sư Tẩy Trần qua đời
cũng đã lâu rồi.
Người trẻ tuổi có đủ thể
lực, chân chánh phát tâm
có thể làm được, phải
phát tâm nguyện rộng lớn
xả mình vì người, vì mọi
người trên địa cầu mà
chấn hưng Phật pháp trở
lại. Người lớn
tuổi thể lực suy yếu thì
không được, chẳng làm
nổi, việc thế gian và
xuất thế gian gì cũng
phải nhờ người trẻ tuổi.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
thị hiện mười chín tuổi
ngộ đạo, ba mươi tuổi
hoằng pháp lợi sanh,
thuyết pháp bốn mươi
chín năm, giảng kinh hơn
ba trăm hội, phải trẻ
tuổi thì mới được.
Ở Trung Quốc, các bạn
coi Thiền Tông Lục Tổ
Huệ Năng đại sư, hai
mươi bốn tuổi tiếp nhận
y bát, Ngũ Tổ truyền đạo
cho ngài, lúc đó ngài
hai mươi bốn tuổi, đại
triệt đại ngộ, minh tâm
kiến tánh, lớn tuổi rồi
thì làm sao được?
Xưa nay những người này,
[kinh nghiệm] trải qua
của họ, những sự thị
hiện của họ cho chúng ta
tham khảo, cho chúng ta
khải thị rất lớn.
Hy vọng những kẻ hậu học
như chúng ta có thể noi
gương họ, học theo họ,
Phật pháp mới có thể trụ
lâu dài ở thế gian, mới
có thể đem lại lợi ích
cho hết thảy chúng sanh.
Tinh thần của Địa Tạng
Bồ Tát đặc biệt đáng để
chúng ta noi theo,
nguyện tâm của ngài chưa
từng thoái chuyển, hành
trì của ngài vĩnh viễn
luôn luôn dũng mãnh,
tinh tấn, đều làm được
‘nhân quả làm lợi ích
cho hàng Trời, Người’.
Phổ Quảng Bồ Tát khải
thỉnh, các ngài nương
theo lời dạy của Phật,
gánh vác sứ mạng hoằng
dương kinh này.
Nhưng làm thế nào có thể
làm việc này cho có hiệu
quả ‘chúng sanh trong
đời vị lai thảy đều kính
vâng lời của Phật’, đây
là nói về hiệu quả, việc
này cần Phật gia trì.
Tuy Bồ Tát đang làm, có
thể thâu được hiệu quả
hay không, họ cũng chẳng
dám nói. Cầu Phật
gia trì, ở đây thỉnh
Phật khai thị tức là cầu
Phật gia trì.
Nhĩ thời Thế Tôn cáo Phổ
Quảng Bồ Tát cập tứ
chúng đẳng.
Lúc đó Thế Tôn bảo Phổ
Quảng Bồ Tát và tứ
chúng.
Phổ Quảng ở đây là người
đương cơ, ‘đẳng’ là
những người trong hội,
chẳng phải chỉ là người
trong hội. Kinh
văn phía trên có nói đây
là ‘phổ cáo hết thảy Bồ
Tát Ma Ha Tát ở các thế
giới chư Phật’, ‘đẳng’
nghĩa là như vậy, chẳng
nhất định phải ở trong
hội ấy, đây là hết thảy
Bồ Tát Ma Ha Tát ở cõi
nước của mười phương chư
Phật, nghĩa của ‘đẳng’
rất rộng. ‘Cập tứ
chúng đẳng’ bao gồm
thiên long đại chúng.
Ðế thính, đế thính
Lắng nghe, lắng nghe.
Ðế thính, đế là
đúng sự thật, chắc thật.
Chúng ta dùng ngôn ngữ
hiện nay để nói, nghe
kỹ, chăm chú nghe, có
nghĩa như vậy.
Ngô đương vị nhữ lược
thuyết Ðịa Tạng Bồ Tát
lợi ích nhân thiên phước
đức chi sự.
Ta sẽ vì các vị lược nói
về những sự phước đức
của Ðịa Tạng Bồ Tát làm
lợi ích cho hàng Trời,
Người
Người thế gian, đặc biệt
là lục đạo phàm phu, ít
có ai giác ngộ, niệm
niệm còn lưu luyến phước
đức nhân thiên, chẳng
chịu xả bỏ phước đức
nhân thiên nên họ chẳng
thoát nổi lục đạo luân
hồi. Nhưng Phật,
Bồ Tát giáo hóa chúng
sanh nhất định phải tùy
thuận căn tánh của họ,
tùy thuận sở thích của
họ, hướng dẫn họ dần
dần. Chúng sanh
coi trọng phước, có một
ai chẳng cầu phước?
Người chẳng tin Phật
cũng cầu, chẳng có một
ai không cầu phước.
Có ai không cầu phước?
Bạn đi dạo trên mỗi
đường phố ở Tân Gia Ba
[sẽ thấy] người ta dán
chữ Phước, dán đảo ngược
lại, dán ngược lại tức
là ‘phước đáo’ (phước
đến), họ đều đang cầu
phước. Phước có
thật sự đến hay không?
Rất khó nói. Do đó
mới biết tâm cầu phước
chẳng có một người nào
chẳng vậy. Tại sao
gọi là ‘Phước Ðức’?
Nói thật ra họ cũng
chẳng hiểu, họ cho rằng
thăng quan phát tài tức
là phước đức. Nhà
Nho dùng Khổng Lão Phu
Tử làm đại diện, trong
Luận Ngữ có nói về năm
đức hạnh của Phu Tử: “Ôn
Hòa, Lương Thiện, Cung
Kính, Tiết Kiệm, Khiêm
Nhường”
, nói
thật ra đây là căn bản
để làm người, cơ sở của
cõi người. Ôn hậu,
tâm địa đôn hậu, biểu
hiện bên ngoài là ôn
hòa, hiền lương, cung
thận. Cung là cung
kính, thận là cẩn thận.
Tiết kiệm, nhường nhịn.
Ngũ Đức của Phu Tử cảm
được phước báo, người
Trung Quốc cổ xưa gọi là
Ngũ Phước, Ngũ Phước đến
cửa nhà.
Trong Ngũ Phước, trong
ấy thứ nhất là ‘Phước
Thọ’, ngày nay chúng ta
gọi là khỏe mạnh, sống
lâu, đây là phước thứ
nhất. Thứ hai là
‘Phú Quý’, phú là tiền
tài, quý là có địa vị,
trong xã hội bạn có địa
vị, có tiền tài.
Thứ ba là ‘Khang Ninh’,
khang là kiện khang
(khỏe mạnh). An
ninh, thân tâm yên ổn,
thân tâm vui sướng.
Tâm chẳng có âu lo, thân
chẳng có khổ nạn, thân
hưởng lạc, trong tâm hỷ
duyệt (vui sướng), khang
ninh nghĩa là như vậy.
Thứ tư là ‘Hảo Ðức’.
Thứ năm là ‘Khảo Chung’,
nghĩa là chết an lành.
Trong năm đức Phước Thọ,
Phú Quý, Khang Ninh,
Khảo Chung đều là quả,
đều là những điều bạn
hưởng thọ. Hảo Ðức
là nhân, tu nhân, bạn
phải tu nhân, bạn làm
sao có thể có được quả
báo này? Hảo Ðức
tức là Ôn, Lương, Cung,
Kiệm, Nhượng, bạn có tu
đức thì bạn mới có thể
được phước. Lúc
hưởng phước còn phải tu
đức thì phước báo của
bạn mới có thể kéo dài,
mới chẳng đến nỗi hưởng
hết. Tu học trong
Phật pháp còn thù thắng
hơn việc này.
Nhưng chúng ta phải biết
năm chữ Ôn, Lương, Cung,
Kiệm, Nhượng này đích
thật là căn bản, chúng
ta tu học cũng lấy những
thứ này làm căn bản,
‘Dưỡng Ngũ Ðức, tu Lục
Hòa’.
Hôm nay chúng ta tu học
pháp môn Tịnh Ðộ, chúng
ta xây dựng cơ sở trên
Tam Phước dạy trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật,
kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật là cơ sở của chúng
ta. Tam Phước là
gì? Tam Phước
chính là Ðịa Tạng Bồ Tát
Bổn Nguyện Kinh.
Phước thứ nhất trong Tam
Phước là
‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
sự sư trưởng, từ tâm
chẳng sát hại sanh vật,
tu thập thiện nghiệp’,
phước thứ hai là ‘Thọ
trì Tam Quy, đầy đủ các
giới, chẳng phạm oai
nghi’, phước thứ ba
là ‘Phát Bồ Ðề tâm,
tin sâu nhân quả, đọc
tụng Ðại Thừa, khuyến
tấn hành giả’.
Chư vị nghĩ xem tổng
cộng mười một câu, có
phải mười một câu này
nói về kinh Ðịa Tạng Bồ
Tát Bổn Nguyện không?
Thế nên bộ kinh này chỉ
nói tường tận về mười
một câu này mà thôi.
Phật đã nói ba điều này
là ‘Tam thế chư Phật
tịnh nghiệp chánh nhân’
(Tịnh nghiệp chánh nhân
của ba đời chư Phật),
tám chữ này vô cùng quan
trọng! Thế Tôn nói
rõ cho chúng ta, mười
phương ba đời hết thảy
chư Phật từ lúc mới phát
tâm tu hành đến khi
chứng quả đều y theo cơ
sở này. Bởi vậy
mới biết mười một câu
này chẳng phải chỉ là cơ
sở của chúng ta tu hành
Tịnh Tông mà thôi, tám
vạn pháp tướng, bốn ngàn
pháp môn, vô lượng pháp
môn, bất cứ một pháp môn
nào đều phải xây dựng
trên cơ sở này. Cơ
sở này chính là kinh Ðịa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Do đó nếu chẳng đặt nền
móng, cơ sở trên bộ kinh
này thì tu học pháp môn
nào cũng chẳng thể thành
tựu. Cho nên tôi
nói đây là pháp căn bản
trong Hành Môn của chúng
ta, vô cùng quan trọng!
Thanh Liên pháp sư trong
chú giải nói với chúng
ta về sáu ngày trai, về
ngũ giới thập thiện,
ngài đặc biệt chỉ ra
chuyện này, tức là ‘Sự
lợi ích phước đức nhân
thiên’. Trong cơ
sở lại nhấn mạnh chỗ căn
bản của cơ sở, nhất định
phải tu ngũ giới, nhất
định phải tu thập thiện.
Không thể mỗi ngày tu
hạnh thanh tịnh thì cũng
phải tu sáu ngày mỗi
tháng. Sáu ngày
trai, hiện nay người
dùng âm lịch rất ít, rất
khó nhớ, sẽ gây phiền
phức cho đời sống của
bạn, vậy thì phải làm
sao? Chúng ta dùng
ngày chủ nhật hoặc ngày
thứ bảy, cũng giống
nhau, mỗi tuần tu một
lần. Giống như
chúng ta hiện nay đề
xướng mỗi tuần cử hành
một ngày niệm Phật suốt
24 giờ, khi bước vào
Niệm Phật Ðường niệm
suốt 24 giờ thì ngũ
giới, thập thiện đều
viên mãn. Trong ấy
bạn chẳng khởi vọng
tưởng, nhất tâm niệm
Phật. Cho nên bước
vào Niệm Phật Ðường thì
Tịnh Nghiệp Tam Phước
đều tu trọn vẹn, Giới
Ðịnh Huệ Tam Học cũng tu
trọn, chứng trọn, giống
như kinh Hoa Nghiêm có
nói
‘một là tất cả, tất cả
là một’. Chúng
ta dùng pháp môn Niệm
Phật này dung nhiếp rốt
ráo hết thảy pháp môn,
thế nên [mới nói] pháp
môn Niệm Phật rất tốt!
Ðáng được đề xướng.
Chẳng câu nệ số người ít
hay nhiều, tốt nhất là
mỗi tuần niệm một lần,
niệm suốt 24 giờ không
gián đoạn, chúng ta cực
lực đề xướng pháp môn
này.
Tương lai Làng Di Ðà ở
đây, Niệm Phật Ðường sẽ
làm được mỗi ngày niệm
Phật 24 giờ, suốt năm
cũng không gián đoạn.
Nói cách khác, Niệm Phật
Ðường này là một Niệm
Phật Ðường tinh tấn,
chẳng phải Niệm Phật
Ðường thông thường.
Năm xưa, Niệm Phật Ðường
ở núi Linh Nham của Ấn
Quang đại sư mỗi năm cử
hành tinh tấn Phật thất.
Chỗ này của chúng ta
ngày nào cũng là tinh
tấn Phật thất, vô cùng
hiếm có! Hy vọng
các bạn đồng tu, đồng tu
ở nước ngoài, hiện nay
giao thông tiện lợi,
nhanh chóng, có thể
thường đến tham gia niệm
Phật ở đây. Nếu có
đồng tham đạo hữu có thể
tổ chức các nhóm nhỏ đến
Tân Gia Ba, [chúng tôi]
ở đây vô cùng hoan
nghinh, hoan nghinh
nhiệt liệt. Ðến
đây bạn niệm một tháng
cũng được, niệm bảy ngày
cũng được, thường trú ở
đây sẽ hoàn toàn cúng
dường, tứ sự cúng dường,
bạn chẳng cần mang theo
một đồng xu, thành tựu
cho mọi người làm Phật,
đây là công đức thù
thắng vô cùng.
Thôi được rồi, hôm nay
chúng ta giảng đến đây.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin thành
thật cám ơn.
Một nhóm
Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng
9-2006
Bạt Thiệt: lôi lưỡi,
Phẩn Niệu:phân tiểu,
Ðồng Tỏa: khóa đồng, Hỏa
Tượng: voi lửa,
Hỏa
Cẩu:chó lửa, Hỏa Mã:ngựa
lửa, Hỏa Ngưu:trâu lửa,
Hỏa Sơn: núi lửa, Hỏa
Thạch:đá lửa,
Hỏa
Sàng: giường lửa, Hỏa
Lương:kèo lửa, Hỏa Ưng:
chim ưng lửa, Cứ Nha:cưa
răng,
Bác
Bì: lột da, Ẩm
Huyết:uống máu, Thiêu
Thủ: đốt tay, Thiêu
Cước: đốt chân,
Ðảo
Thích: đâm ngược, Hỏa
Ốc: nhà lửa, Thiết
Ốc:nhà sắt, Hỏa Lang:
chó sói lửa.