Tập 13 (Số 14-12-13)
Kính thưa
hai lão hòa thượng, chư
vị pháp sư, chư vị đồng
học:
Xin mở kinh, ‘Khoa Chú’
của Thanh Liên pháp sư,
ở Đài Loan gần đây chúng
tôi phát tâm in hai vạn
bộ, tương lai mọi người
đều có thể có bản in
hoàn hảo. Kinh Địa
Tạng vô cùng quan trọng,
từ kinh điển chúng ta
thấy được Thế Tôn giao
phó sứ mạng giáo hóa
chúng sanh trong thời
Mạt pháp chín ngàn năm
này cho Địa Tạng Bồ Tát,
thế nên Địa Tạng Bồ Tát
chính là đại biểu của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni
trong thời Mạt pháp, địa
vị của ngài vô cùng đặc
biệt, ngài thay thế
Phật. Chúng ta
thấy trong kinh này, hết
thảy Bồ Tát nhận lời phó
chúc đều ủng hộ Địa Tạng
Bồ Tát. Trước
giảng đài chúng ta thờ
Địa Tạng Bồ Tát, mọi
người đều nhìn thấy,
chúng ta nhất định phải
y giáo phụng hành.
Hôm nay
giảng đoạn kinh nói về
Tứ Đại Thiên Vương đặt
ra câu hỏi. Nói
thật ra, nghi vấn của họ
chính là nghi vấn chung
của chúng ta. Tại
sao Địa Tạng Bồ Tát
nhiều kiếp lâu xa đến
nay thường phát đại
nguyện phải độ tận chúng
sanh, nhưng mãi cho đến
nay chúng ta thấy hình
như chúng sanh chẳng
được độ, tạo tác tội
nghiệp ngày càng nặng,
nguyên nhân rốt cuộc là
ở chỗ nào? Hy vọng
Thế Tôn có thể khai thị
cho mọi người.
Đoạn khai thị phía sau
đều là những lời trong
kinh Phật.
Người học giảng kinh
chúng ta khi gặp những
đoạn kinh văn này phải
đặc biệt lưu ý, lúc đối
diện thính chúng đông
đảo, trong thính chúng
có người đã từng gặp
phải những nạn ấy,
nếu chúng ta giảng không
khéo thì họ rất khó chấp
nhận, khó chịu, thậm chí
sẽ thốt lời trách móc,
khởi tâm oán trách, như
vậy thì không tốt.
Thế nên khi gặp kinh văn
như vầy thì phải dùng
cách khéo léo, phải khơi
gợi mà không làm tổn
thương lòng tự ái của
người ta. Ðiểm này
vô cùng quan trọng.
Trong ‘Nội Ðiển Giảng
Tọa’ các bạn đã học qua
rồi, tuyệt đối không thể
gây tổn thương đến lòng
tự ái của người ta, thí
dụ trong kinh văn, ngày
nay chúng ta muốn nói về
tàn tật, nói quá nhiều
về những việc này.
Nếu bạn nói cặn kẽ như
vậy thì họ nghe xong sẽ
rất buồn bực, chỉ nên
nói sơ lược, phớt qua
thôi; còn những chỗ liên
quan đến nhân quả báo
ứng thì có thể nói sâu
thêm một chút, làm cho
họ cảnh giác.
Ngoài ra nhất định phải
biết ngày nay chúng ta
giảng kinh chẳng phải
chỉ có những thính chúng
[hiện diện] trước mắt
này mà thôi, băng thâu
hình được phát hình toàn
thế giới, thính chúng
coi băng này qua máy
truyền hình không biết
là bao nhiêu mà tính,
cũng không biết họ là
người như thế nào, chúng
ta phải dự liệu, không
thể làm mích lòng họ.
Phải làm cho họ nghe
xong có thể sanh tâm
hoan hỷ, tâm cung kính,
có thể quay về, sửa đổi
lỗi lầm. Ðược vậy
thì sự giáo học Phật
pháp của chúng ta mới
thành tựu viên mãn.
Chẳng giống lúc trước,
lúc trước chỉ có thính
chúng có mặt tại buổi
giảng, nếu chẳng hiện
diện nơi ấy thì chẳng
nghe được; hiện nay
truyền hình, truyền
thanh, người trên cả
toàn thế giới đều nghe
được. Vả lại băng
thâu hình, thâu thanh có
thể lập lại nhiều lần,
bạn suy xét coi thử
thính chúng sẽ là bao
nhiêu? Ðây là việc
chúng ta phải dự liệu,
không thể sơ sót.
Bây giờ xin xem kinh văn.
Tương lai chúng ta in
xong cuốn Khoa Chú, lưu
thông với số lượng
nhiều, đặc biệt là đạo
tràng Ðịa Tạng Bồ Tát ở
Cửu Hoa Sơn, chỗ của Bổn
Tôn, chúng ta nhất định
phải dốc toàn tâm toàn
lực để ủng hộ.
Ngày nay thế giới động
loạn, chư vị đều cảm
nhận tình cảnh động loạn
này rất rõ ràng, hơn
nữa, tai biến nhiều phi
thường, bất luận ở quốc
gia nào trên thế giới, ở
địa khu nào, có nhiều
tai biến to lớn, ngày
nay tin tức, thông tin
đều chẳng tường trình
nữa. Tại sao không
tường trình nữa?
Chúng ta suy đoán có thể
là vì sợ mọi người biết
được sẽ cảm thấy khủng
hoảng. Vì muốn an
định cục diện xã hội
trước mắt nên rất nhiều
tai nạn lớn đều không
tường trình nữa, đây là
điều chúng ta có thể lý
giải được. Nhưng
những tai nạn này xảy ra
như thế nào? Người
đời chẳng hiểu nguyên
nhân, đều gán cho nó là
tai họa tự nhiên, đẩy
trách nhiệm cho thiên
nhiên, hình như chẳng
liên quan gì đến con
người chúng ta, đây là
sự sai lầm to lớn.
Có quan niệm và tâm thái
này không những tai biến
không thể chấm dứt mà
càng ngày càng nghiêm
trọng, chúng ta sẽ còn
phải chịu khổ nạn lớn
hơn. Chúng ta có
trách nhiệm, có sứ mạng
làm thế nào giúp đỡ xã
hội, hóa giải, giảm nhẹ,
đình trệ những tai nạn
này, đó chính là hết
lòng học Phật, hết lòng
tu hành.
Phật dạy
chúng ta tận hư không
trọn cả pháp giới và
chúng ta cùng một thể,
đây là thật, chẳng giả,
cả bộ Ðại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh
chính là giảng về một
việc này. Thế giới
này hình thành như thế
nào? Trong kinh
Phật giảng rất rõ ràng,
có tình có tưởng thì sẽ
biến hiện ra thế gian
hữu tình, chín pháp giới
thế gian hữu tình; vô
tình vô tưởng thì sẽ
biến thành khí thế gian
,
Pháp Tướng Duy Thức
giảng rất tường tận,
thấu triệt. Hữu
tình thế gian là Kiến
Phần trong A Lại Da thức
biến hiện ra, Vô tình
thế giới là Tướng Phần
trong A Lại Da Thức biến
hiện ra, Kiến và Tướng
đều cùng một nguồn gốc,
cùng thuộc một Tự Chứng
Phần,
làm sao có thể nói không
có liên quan được?
Trong kinh Đại Thừa,
Phật nói:
‘Tình và Vô Tình cùng
tròn đầy chủng trí’,
như vậy cả hai Tình và
Vô Tình mới ‘cùng’ được.
Nếu cả hai chẳng có liên
quan như vậy thì làm sao
‘cùng’ được?
Ðức Phật
lại nói với chúng ta:
‘Hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh’, hết
thảy pháp thế gian và
xuất thế gian đều từ tâm
tưởng sanh. Vì từ
tâm tưởng sanh nên cái
tâm tưởng này là chủ tể.
Trong hội giảng kinh
Lăng Nghiêm, Phật nói rõ
ràng, minh bạch hơn:
‘Nếu chuyển được cảnh thì
cũng giống như Như Lai’,
đây tức là nói ‘y báo
chuyển theo chánh báo’.
Chánh báo là gì? Chánh
báo là tâm, là ý niệm
(niệm đầu). Chúng
ta thường nói: ‘Dung mạo
của chúng ta chuyển theo
ý niệm, thể chất của
chúng ta chuyển theo ý
niệm, hoàn cảnh sinh
hoạt của chúng ta cũng
chuyển theo ý niệm’.
Tâm của bạn tốt thì
tướng mạo của bạn đương
nhiên sẽ tốt, thân thể
của bạn sẽ tốt, hoàn
cảnh cư trú cũng tốt, là
do tâm chuyển cảnh giới,
chẳng phải cảnh giới
chuyển tâm. [Khi
nói về thời đại] hiện
nay, Phật trong kinh
thường nói đến chữ ‘điên
đảo’, cái gì điên đảo?
Người thế gian đều bị
hoàn cảnh chuyển, tâm
người thế gian bị hoàn
cảnh chuyển. Hiện
nay tai nạn [gì xảy ra,
người ta] đều đổ thừa
cho là tai họa tự
nhiên, chẳng liên can gì
đến con người, đây tức
là tâm bị cảnh chuyển,
đây là sự sai lầm to
lớn.
Chúng ta
xem thời cổ, bạn coi
lịch sử, thời xưa nếu
trong xã hội xảy ra tai
biến trọng đại thì những
đế vương, đại thần, quan
viên địa phương giống
như thị trưởng, quận
trưởng hiện nay, [tức
là] những bậc lãnh đạo ở
địa phương, họ đều trai
giới, tắm rửa, giảm
thiện (giảm phần ăn).
Lúc bình thường ăn cơm,
như lúc vua ăn cơm, có
lẽ quý vị có người cũng
không biết, trên bàn ăn
của vua nhất định phải
có một trăm món ăn,
chẳng kể là vua ăn hay
không, đều không thể
thiếu. Giảm thiện
là gì? Giảm phân
nửa. Thật sự phản
tỉnh, suy nghĩ lỗi lầm,
đại xá thiên hạ, làm
thêm chuyện tốt, hy vọng
có thể chuyển đổi ý
trời. Chuyển đổi ý
trời trên thực tế chính
là hy vọng tâm địa hiền
lành có thể biến đổi
hoàn cảnh, chấm dứt kiếp
nạn. Người thời
trước biết làm như vậy,
người hiện nay không
biết, người hiện nay cho
rằng [tai nạn] chẳng
liên can gì với mình,
người thời trước biết.
Nhà Nho, Ðạo giáo, nhà
Phật đều biết.
Chúng ta biết, phải bắt
đầu làm từ bản thân
mình.
Thế nên nhất định phải
biết, ai có trách nhiệm
đối với kiếp nạn thế
gian? Mình có
trách nhiệm, mình chẳng
tu hoàn hảo, mình chẳng
làm tốt đẹp. Ngày
nay Phật giáo bị xã hội
đại chúng hiểu lầm,
chúng ta có thể trách
người ta không?
Không thể trách họ.
Tại sao không thể trách
người ta? Người
xuất gia chúng ta chẳng
làm gương tốt.
Người trong thế gian
chịu khổ lớn lao như
vầy, gặp nạn lớn như
vậy, là do ai tạo thành?
Do mình tạo thành.
Mình chẳng thiện, tâm
mình chẳng thiện, hạnh
của mình chẳng thiện,
lời nói chẳng thiện nên
gây nhiều khổ nạn cho
con người. Ngày
nay nhìn thấy kiếp nạn
này, tôi phải phản tỉnh,
tôi có lỗi lầm to lớn,
tội nặng, tôi phải sám
hối. Nếu người học
Phật chúng ta ai nấy đều
có giác ngộ như vậy thì
Phật giáo làm sao không
hưng vượng cho được, xã
hội đại chúng làm sao
không tiếp nhận được!
Con người ai nấy đều có
thể giữ tâm tốt, làm
chuyện thiện, thì kiếp
nạn sẽ được hóa giải.
Kiếp này là tâm kiếp,
căn nguyên là từ tâm,
chẳng phải chi khác.
Thế nên ngày nay chúng
ta đọc đoạn kinh này thì
phải phản tỉnh sâu xa,
đức Phật trong kinh đã
giảng rõ nhân và quả.
Ngôn ngữ tuy chẳng
nhiều, đúng là lời vắn
tắt nhưng chứa đầy đủ ý
nghĩa, bất luận là đối
sự, đối lý, đều nói được
viên mãn, rốt ráo phi
thường.
Xin chư vị
mở kinh, Khoa Chú trang
160, đếm ngược hàng thứ
ba [từ phía dưới lên],
xem kinh văn:
Phật cáo Tứ
Thiên Vương, thiện tai,
thiện tai. Ngô kim
vị nhữ cập vị lai hiện
tại thiên nhân chúng
đẳng quảng lợi ích cố,
thuyết Địa Tạng Bồ Tát ư
Sa Bà thế giới, Diêm Phù
Đề nội sanh tử đạo
trung, từ ai cứu bạt, độ
thoát nhất thiết tội khổ
chúng sanh phương tiện
chi sự.
Phật bảo Tứ
vị Thiên Vương rằng:
‘Lành thay, lành thay’.
Ta nay sẽ vì sự lợi ích
rộng lớn của quý vị cùng
các chúng trời người
hiện tại và vị lai, mà
nói việc Địa Tạng Bồ Tát
ở thế giới Sa Bà, trong
đường sanh tử nơi cõi
Diêm Phù Đề, từ mẫn cứu
vớt, phương tiện độ
thoát tất cả chúng sanh
tội khổ.
Bồ Tát nhận lời phó chúc
của Phật, tiếp nhận sự
ủy thác của Phật, đặc
biệt là chúng sanh đời
Mạt pháp ương ngạnh khó
giáo hóa, lão nhân gia
dùng vô tận từ bi, vô
lượng trí huệ và phương
tiện, hóa thân ở thế
gian này. Hóa thân
của ngài, nam nữ già trẻ
trong xã hội, các ngành
các nghề thảy đều có,
nếu chẳng là người minh
nhãn (người mắtsáng) thì
chẳng nhìn thấy, người
minh nhãn thấy rõ ràng,
thấy minh bạch, ở đó tạo
ra phương tiện vô tận.
Không nhất định là thị
hiện thân phận người
xuất gia, hiện nay mọi
người chẳng hiểu Phật
pháp, đều cho rằng Phật
pháp là mê tín, có
chướng ngại nghiêm
trọng. Thị hiện
người xuất gia giáo hóa
chúng sanh có thể sẽ có
nhiều chỗ không thuận
tiện, Bồ Tát thị hiện
thân phận tại gia rất
nhiều, đều khuyến thiện,
sửa lỗi.
Hôm qua có đồng tu từ Ðài
Loan đến và đem những
băng thâu hình, trẻ em
đọc kinh. Tôi nghe
qua vài đoạn và rất cảm
khái, những đại đạo lý
của cổ thánh tiền hiền
chẳng phải là học thuyết
của cá nhân họ. Có
phải những gì Khổng Tử
nói là học thuyết của
ngài không? Lời
Lão Tử nói là học thuyết
của ngài không?
Lời đức Phật Thích Ca
Mâu Ni dạy có phải là
học thuyết của ngài
không? Đều chẳng
phải, đó là gì?
Học thuyết xứng tánh, là
bản tánh của hết thảy
chúng sanh, chân tâm của
hết thảy chúng sanh,
pháp vốn đầy đủ trí huệ
đức năng của hết thảy
chúng sanh, các ngài nói
đều là những thứ này.
Nếu bạn nói đó là [học
thuyết] của mỗi cá nhân
họ thì bạn đã hiểu sai
rồi. Là trí huệ
đức năng vốn sẵn có
trong tự tánh chúng ta,
thuần thiện chẳng tạp.
Nếu có thể phát huy được
thì sẽ chân chánh đạt
được ‘thành ý, chánh
tâm, tu thân, tề gia,
trị quốc, bình thiên
hạ’, những đại đạo lý
này chẳng liên quan đến
một cá nhân nào cả.
Tâm địa của họ thanh
tịnh, từ bi, bác ái, họ
đã nhìn thấy, Phật pháp
gọi là minh tâm kiến
tánh, họ đã nhìn thấy,
chứng được. Chúng
ta mê hoặc điên đảo,
chẳng nhìn thấy, chẳng
chứng được. Nếu
chúng ta chứng được thì
chẳng khác gì họ.
Phải làm sao mới có thể
chứng được? Phải
phá ngã chấp, phá pháp
chấp. Làm cách nào
để phá? Niệm niệm
vì chúng sanh, đừng nghĩ
cho mình nữa; niệm niệm
vì Phật pháp, sự nghiệp
của chúng ta chính là
Phật pháp. Phật
pháp là gì? Phật
là giác ngộ, pháp là
phương pháp, phương pháp
làm cho hết thảy chúng
sanh giác ngộ thì gọi là
Phật pháp. Giúp
cho hết thảy chúng sanh
giác ngộ thì bạn đã
hoằng dương Phật pháp.
Ngày nay chúng ta ở tại
thế gian này, làm công
việc này, công việc
ngành nghề này nói theo
cách nói hiện nay tức là
người làm công tác giáo
dục xã hội, nói như vậy
thì mọi người dễ hiểu.
Năm xưa lúc đức Phật Thích
Ca Mâu Ni còn tại thế,
ngài làm công việc gì?
Giáo dục xã hội, vả lại
còn là thiện nguyện,
chẳng thâu học trò một
đồng xu cắc bạc nào cả,
hoàn toàn là nghĩa vụ,
ngài là một người làm
công tác giáo dục xã hội
thiện nguyện.
Chúng ta là học trò của
Phật thì phải nối tiếp
huệ mạng của Phật.
Phật làm suốt cả đời,
chúng ta là đệ tử học
Phật nhiều đời kiếp sau,
hết lòng làm theo, tiếp
tục chẳng gián đoạn,
nhất định phải làm cho
hoàn hảo công tác giáo
dục xã hội này.
Ðối tượng của giáo dục
xã hội là hết thảy chúng
sanh, chẳng phân biệt
nam nữ, già trẻ, chẳng
phân biệt
sang hèn, giàu nghèo, cũng
chẳng phân cõi trời cõi
người, chín pháp giới
chúng sanh đều đối đãi
bình đẳng. Chúng
ta phải học ‘tác sư tác
phạm’ (làm thầy, làm mô
phạm), ‘sư’ là gương mẫu
của xã hội đại chúng,
‘phạm’ là mô phạm.
Nếu chúng ta làm không
được thì phải sanh tâm
hổ thẹn. Chúng ta
giữ tâm [niệm như thế
nào], tâm chúng ta có
thể làm gương cho xã hội
đại chúng không?
Ngôn hạnh của chúng ta
có thể làm gương cho xã
hội đại chúng không?
Phải thường suy nghĩ như
vậy. Phàm những gì
không thể làm gương tốt
cho xã hội đại chúng,
tuyệt đối không được
làm. Những tâm
niệm chẳng thể làm gương
tốt cho xã hội đại chúng
thì tuyệt đối chẳng thể
khởi. Như vậy mới
có thể được chư Phật, Bồ
Tát hộ niệm, chư Phật,
Bồ Tát gia trì, long
thiên thiện thần ủng hộ.
Chúng ta đề cao giáo dục
xã hội, Tân Gia Ba có
thể làm nên một chút
thành tích này [là vì]
cư sĩ Lý Mộc Nguyên, các
vị đồng tu, những nhân
viên cán sự dưới quyền
ông ta, tứ chúng đồng tu
chúng ta chẳng có tâm
riêng tư. Tại sao
những chỗ khác làm không
thành công? Phật
chẳng có tâm phân biệt,
chẳng có yêu thích;
Thiện Ðạo đại sư nói rất
hay, đều là ‘gặp
duyên chẳng đồng’.
Ðại chúng ở địa phương
này, một lòng một dạ xả
mình vì người, mỗi ngày
đều nghĩ vì Phật pháp,
vì chúng sanh, chẳng vì
mình, cho nên được cảm
ứng vô cùng thù thắng.
Ở đây chúng ta có thể
cảm nhận cảm ứng này rất
rõ ràng, hiển cảm hiển
ứng
,
chẳng thể nghĩ bàn.
Chúng ta ở đây làm một
gương tốt, người xuất
gia làm người xuất gia
gương mẫu, đạo tràng làm
đạo tràng gương mẫu, hy
vọng [những người] đến
đây tham học chỉ đạo,
sau đó xây dựng những
gương mẫu này ở khắp mọi
nơi trên thế giới.
Hy vọng [đạo tràng] họ
xây dựng tốt hơn ở đây,
ngạn ngữ thường nói:
“Đến sau về trước”,
câu này rất có đạo lý.
Tại sao đến sau vượt
trội hơn trước?
Xây sau chắc chắn tốt
hơn trước, đợt trước có
khuyết điểm, thiếu sót
thì xây sau có thể sửa
đổi cho tốt hơn.
Cho nên càng về sau thì
càng thù thắng, tốt hơn,
được vậy mới có thể phổ
độ chúng sanh, mới có
thể hóa giải kiếp nạn
của thế gian này.
Chúng tôi không hy vọng
mọi người đến đây học
xong chẳng muốn về, ở
lại đây, như vậy không
tốt. Học xong cách
làm việc của Cư Sĩ Lâm
rồi trở về địa phương
của mình tự làm lấy.
Xây dựng đạo tràng chánh
pháp ở khắp nơi, được
vậy thì thế gian này mới
được cứu, các bạn thật
sự học được, thật sự
hiểu được ý nghĩa của
Phật, ‘nguyện giải Như
Lai chân thật nghĩa’.
Giới thiệu
Tứ Thiên Vương cho quý
vị xong. Thế Tôn
nói với Tứ Thiên Vương,
‘cáo’ là lời người trên
nói với dưới, những cách
dùng chữ này chúng ta
đều phải biết. Hai
chữ ‘Thiện tai, thiện
tai’ có hai ý nghĩa, thứ
nhất là khen họ hỏi rất
đúng, rất hay, hỏi để
đem lợi ích cho hữu
tình. Những Thiên
Vương, Thiên Thần, chư
vị nên biết, phần nhiều
đều là Phật, Bồ Tát hóa
thân, họ chẳng phải là
quỷ thần. Nếu thật
sự là phàm phu thì chẳng
hỏi những câu như vậy
nổi. Người có thể
hỏi như vậy đều là Phật,
Bồ Tát hóa thân thị
hiện, đều chẳng phải là
người thường. Chữ
‘Thiện Tai’ thứ hai là
khen ngợi họ, họ thiện
hộ thế gian. ‘Hộ
thế’ quan trọng là
‘thiện hộ’, chữ này rất
hy hữu, họ có phương
tiện khéo léo. Hộ
trì thế gian, làm cho
người thế gian giác ngộ,
làm cho người thế gian
đoạn ác tu thiện, như
vậy mới gọi là ‘thiện
hộ’. Phật thuyết
pháp ở nơi đó, chúng ta
coi những gì nói trong
kinh văn rất giống với
tài liệu giảng thuyết
của tôi.
‘Ngô kim vị
nhữ cập vị lai hiện tại
thiên nhân đẳng chúng’,
thiên, nhân đẳng chúng
tức là chúng sanh trong
lục đạo, nói thiên và
nhân, những cõi khác
lược bớt, ‘đẳng’ tức là
lục đạo, đặc biệt thương
xót chúng sanh trong lục
đạo. Bạn nghĩ xem
ngài ở hội giảng kinh
tại cung trời Đao Lợi, ý
nghĩa của Phật vô cùng
rõ ràng, chẳng phải chỉ
đại chúng hiện diện tại
cung trời Đao Lợi lúc
đó, pháp hội này lưu
truyền về sau, những
thính chúng chẳng hiện
diện lúc đó không biết
bao nhiêu mà kể?
Giống như hiện nay chúng
ta đối diện trước máy
thâu hình vậy, được
truyền hình trên hệ
thống vệ tinh, truyền đi
khắp thế giới trên mạng
lưới điện toán.
Hiện nay người nghe
chúng ta giảng kinh,
tương lai chúng ta vãng
sanh, chẳng còn ở đây,
băng thâu hình này vẫn
được giữ lại, người đời
sau vẫn còn nghe được.
Tôi nghe nói hiện nay kỹ
thuật chế tạo những băng
này rất cao, có thể giữ
được hai trăm năm.
Chúng ta chẳng có thọ
mạng dài như vậy, hai
trăm năm sau người ta
còn nghe được băng của
chúng ta, còn nhìn thấy
được màn ảnh này.
Thế nên chúng ta ở nơi
đây giảng kinh thuyết
pháp, mỗi cử chỉ hành
động trong đời sống
chúng ta, mỗi lời nói
mỗi hành vi tối thiểu
cũng phải giữ tròn trách
nhiệm đối với thính
chúng hai trăm năm sau.
Trong lời nói này của
Thế Tôn đã hàm chứa
những ý nghĩa như vậy.
‘Quảng lợi
ích cố’, lợi ích rộng
lớn khi giảng Địa Tạng
pháp môn, tuyên dương
Địa Tạng pháp môn, duy
chỉ có Địa Tạng pháp môn
mới có thể độ thoát
chúng sanh trong chín
ngàn năm Mạt pháp.
Đạo lý của Nho gia, Đạo
giáo, Phật giáo Đại Thừa
rất tốt nhưng hiện nay
chẳng có người chịu
nghe, chịu tiếp nhận.
Có thể niệm kinh một lần
cũng kể là hay lắm rồi,
có thể làm theo kinh thì
chẳng có một ai.
Địa Tạng pháp môn là
pháp môn căn bản, do đó
nhiều năm trước tôi đi
giảng ở những thành phố
lớn dọc miền đông nước
Mỹ, giảng đại ý kinh Địa
Tạng. Vì thời gian
ngắn, mỗi nơi chỉ có bảy
ngày, chẳng có cách chi
giảng kinh, chỉ có thể
giảng đại ý. Có
một số đồng tu hỏi tôi:
‘Pháp sư
chuyên hoằng Tịnh Độ thì
tại sao lại giảng kinh
Địa Tạng? Không
phải đã xen tạp, đã xen
tạp môn khác rồi sao?’.
Họ hỏi rất
đúng. Tôi nói:
‘Thiện tai, thiện tai,
hỏi hay lắm. Tôi
vẫn đang giảng Tịnh Độ,
vẫn chuyên tu chuyên
hoằng’.
Họ nói”
‘Kinh Địa Tạng là gì?’
Tôi nói:
‘Kinh Địa Tạng là câu
đầu tiên trong Tịnh Độ
Tông’.
Họ hỏi:
‘Câu nào?’
Kinh Quán
Vô Lượng Thọ giảng về
Tam Phước, mọi người đều
biết, là cơ sở của sự tu
hành trong Tịnh Tông.
Trong Hạnh Môn chúng ta
đề xướng: ‘Tam Phước,
Lục Hòa, Tam Học, Lục
Độ, Phổ Hiền Thập
Nguyện’, mọi người đều
biết cả. Bộ kinh
Địa Tạng này chính là
phước thứ nhất trong Tam
Phước:
‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
sự sư trưởng, từ tâm
chẳng giết, tu mười
nghiệp thiện’.
Các bạn nghĩ xem kinh
Địa Tạng có giảng về
việc này không?
Tôi vẫn giảng về Tịnh
Độ, chẳng tách lìa, vẫn
chuyên tu, chuyên hoằng.
Nói vậy nên mọi người
đều hiểu, bộ kinh này
giảng kỹ về bốn câu
trên.
Từ chỗ này
chư vị cũng có thể thấu
hiểu đến nghĩa thú của
kinh Hoa Nghiêm.
Hoa Nghiêm nói ‘một
tức là hết thảy, hết
thảy tức là một’,
nói cho chư vị biết, bất
kỳ một kinh nào cũng bao
hàm hết thảy kinh, hết
thảy kinh đều có thể
nhập vào một kinh.
Không những có thể nhập
vào một bộ kinh, nói cho
chư vị biết, có thể nhập
vào ý của một câu.
Thí dụ nói chỗ này, Phật
bảo Thiên Vương ‘Thiện
tai, thiện tai’.
Hết thảy kinh Phật trong
bốn mươi chín năm có thể
nhập vào ‘Thiện tai’,
Thiện Tai bao hàm hết
thảy kinh, bao hàm hết
thảy y cứ (căn cứ).
Hai câu ‘Thiện tai,
Thiện tai’ cũng có thể
nhập vào hết thảy kinh,
hết thảy kinh cũng có
thể nhập vào hai chữ
này. Pháp viên
dung, tại sao?
Xứng tánh. Nếu bạn
có thể thấu hiểu tánh
đức, tức là ‘một và
nhiều chẳng hai’, lý
sự viên dung, đâu có chỗ
nào chướng ngại?
Phía sau nêu ra vài thí
dụ. Sau cùng:
Tứ đại
thiên vương ngôn dụy
nhiên, Thế Tôn, nguyện
nhạo dục văn
Tứ đại
Thiên Vương bạch rằng:
‘Vâng! Bạch đức Thế Tôn,
chúng con xin muốn được
nghe’.
Thế Tôn
khen ngợi họ, họ đáp
‘dụy nhiên’. ‘Dụy
nhiên’ là lời đáp vô
cùng cung kính, thái độ
khải thỉnh đảm đương này
đáng cho chúng ta học
tập. ‘Nguyện nhạo
dục văn’ thì mới có được
thọ dụng, chữ ‘nhạo’ này
phải chân tâm tình
nguyện, vui vẻ tiếp
nhận, tiếp nhận thì phải
y giáo phụng hành.
Nếu chẳng thể làm được
thì bốn chữ ‘nguyện nhạo
dục văn’ trở thành trống
không, nhất định phải
làm cho bằng được.
Xin xem tiếp:
Phật cáo Tứ Thiên Vương,
Địa Tạng Bồ Tát cửu viễn
kiếp lai ngật chí ư kim
độ thoát chúng sanh do
vị tất nguyện, từ mẫn
thử thế tội khổ chúng
sanh, phục quán vị lai
vô lượng kiếp trung,
nhân mạn bất đoạn, dĩ
thị chi cố hựu phát
trọng nguyện.
Đức Phật
bảo bốn vị Thiên Vương
rằng: ‘Bồ Tát Địa Tạng
từ bao kiếp lâu xa đến
nay, độ thoát chúng sanh
vẫn chưa mãn nguyện, từ
bi thương xót chúng sanh
tội khổ ở đời này, lại
quán thấy vô lượng kiếp
về sau, nghiệp nhân cứ
dây dưa chẳng dứt, vì lẽ
đó nên lại phát trọng
nguyện.
Trên thực
tế Địa Tạng Bồ Tát ở đây
hiện thân thuyết pháp
dạy chúng ta, dạy chúng
ta việc gì? Dạy
chúng ta phải không
ngừng phát nguyện, thế
nên trong khóa lễ sáng
tối chúng ta đều phát
nguyện. Vãng Sanh
Luận của Thiên Thân Bồ
Tát, trong Ngũ Niệm Pháp
Môn có ‘Phát nguyện’.
Phải thường phát nguyện,
tại sao vậy? Nếu
ba ngày không phát
nguyện thì quên ráo
trọi. Phàm phu
nghiệp chướng tập khí
quá nặng, bên trong có
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước, bên ngoài có
dụ hoặc của ngũ dục lục
trần, chúng ta sinh sống
trong hoàn cảnh này nếu
không đọc kinh mỗi ngày,
phát nguyện mỗi ngày thì
chẳng giữ vững nổi,
chúng ta sẽ bị những làn
sóng này nuốt mất.
Nói cách khác, chúng ta
nhất định sẽ sanh tử
luân hồi y như cũ, chắc
chắn sẽ đọa tam ác đạo,
chúng ta phải cảnh giác
từng giờ từng phút.
Trong những đợt sóng
chập chùng này, trong
những ngọn sóng mạnh mẽ
này, chân chúng ta phải
đứng cho vững, vừa sơ ý
một chút liền bị cuốn
trôi đi mất. Làm
thế nào chân mới có thế
đứng vững chắc được?
Chính là Địa Tạng pháp
môn. Thế nên từ
trước đến giờ, khi mỗi
đạo tràng mới thành lập
thì nhất định phải giảng
kinh Địa Tạng trước hết,
để chúng ta có một mảnh
đất. Đạo tràng này
đã xây xong mà chưa
giảng kinh này, nhân
duyên kỳ này quá tốt,
được lệnh của lão hòa
thượng Nhân Đức, ngài là
đại biểu cho Địa Tạng Bồ
Tát của chúng ta hôm
nay, Chúa Cứu Thế của
chúng sanh đời Mạt pháp,
chúng ta đi theo lão hòa
thượng. Chúng ta
phải hoằng dương, phát
triển rộng rãi pháp môn
này, đạo tràng này mới
xây, có thể ở đây giảng
một bộ kinh Địa Tạng,
phù hợp với bổn nguyện
của chúng ta, vô cùng hy
hữu. Bộ băng thâu
hình này sẽ được lưu
thông rất rộng, giúp cho
những đạo tràng mới xây
dựng, chúng ta chẳng có
cách chi phân thân,
chẳng thể [trực tiếp]
đến đó giảng kinh thì
dùng bộ băng thâu hình
này.
Chúng ta
phải thể hội đến Bồ Tát
từ nhiều kiếp lâu xa mãi
cho đến nay, tại sao độ
thoát cho những chúng
sanh này nhưng vẫn chưa
viên mãn đại nguyện của
ngài, chính là như trong
kinh nói:
‘Chúng sanh ở cõi Diêm Phù
Đề ương ngạnh khó giáo
hóa’. Trong
lục đạo, tình hình mỗi
đạo đều giống nhau,
Thiên Thai đại sư khai
diễn Pháp Hoa, giảng
‘Trăm giới ngàn như’ cho
chúng ta, đó là chân
tướng sự thật, trong mỗi
pháp giới đều có mười
pháp giới. Trong
tâm chân thành của chúng
ta khởi một niệm A Di Đà
Phật thì đó là pháp giới
Phật, khởi một niệm Địa
Tạng Bồ Tát thì là pháp
giới Bồ Tát, vừa khởi
một niệm tham, sân, si
thì đó là pháp giới tam
ác đạo: địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh.
Nghiệp nhân quả báo của
thập pháp giới chuyển
biến trong từng một
niệm, đây là hiện tượng
luân hồi, đây là nghiệp
nhân căn bản của luân
hồi. Chúng ta tiếp
nhận di giáo của Phật,
có duyên đọc tụng kinh
điển Đại Thừa, đây tức
là Địa Tạng Bồ Tát độ
chúng ta, kéo chúng ta
ra khỏi tam ác đạo đến
cõi nhân thiên, độ đến
pháp giới Phật, Bồ Tát.
Tánh thức của chúng ta
ương ngạnh, khó giáo
hóa, vừa rời khỏi giảng
đường, xếp cuốn kinh lại
thì đọa lạc ngay, lại
đọa lạc đến địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, không
phải chúng ta mỗi ngày
đều làm việc này hay
sao? Thế nên nhọc
sức Địa Tạng Bồ Tát
nhiều kiếp lâu xa đến
nay, mỗi ngày đều phải
phát nguyện, thương xót
những chúng sanh tội khổ
chúng ta. Giác căn
của chúng ta không vững,
nguyện lực của chúng ta
yếu ớt, lòng tin rất yếu
mềm, chẳng chống chọi
nổi phiền não tập khí.
Bồ Tát nhìn thấy vô cùng
rõ ràng, ‘vô lượng kiếp
trung, nhân mạn bất
đoạn’, ‘nhân mạn’ là thí
dụ, giống như cỏ bò lan
dưới đất, nghiệp nhân
của cỏ bò lan rất khó
diệt tận. Ví như
phiền não tập khí của
chúng ta, tạo nghiệp thọ
báo, luân hồi vô tận,
dùng bốn chữ này hình
dung quá đúng.
Nhưng Bồ Tát vẫn chẳng
nản chí, chẳng lùi bước,
vẫn dốc hết tâm, hết sức
giúp đỡ chúng sanh.
Nên Thế Tôn nói
tiếp:
Như thị Bồ
Tát ư Sa Bà thế giới,
Diêm Phù Đề trung, bá
thiên vạn ức phương tiện
nhi vi giáo hóa.
Bồ Tát ở
thế giới Sa Bà, trong
cõi Diêm Phù Đề, dùng
trăm ngàn vạn ức phương
tiện để giáo hóa.
Thế giới Sa
Bà đặc biệt chỉ cõi Diêm
Phù Đề, Diêm Phù Đề là
địa cầu, Ngài có duyên
sâu đậm với chúng sanh
trên quả địa cầu chúng
ta. Ba nghiệp của
Bồ Tát, khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ tạo tác,
chỉ có một mục đích là
lợi ích hết thảy chúng
sanh. Trong các
kinh điển đức Phật
thường nói, thật sự đã
nói ngàn lần, vạn lần,
chúng ta vẫn chẳng nhớ y
như cũ. Phật dạy
chúng ta ‘Thọ trì đọc
tụng, vì người diễn nói’,
chư vị thử nghĩ coi
trong kinh, đức Phật đã
nói câu này hết bao
nhiêu lần? Đã nói
vô cùng khẩn thiết.
Trong kinh đức Phật
giảng về những đạo lý,
phương pháp, cảnh giới
ấy, chúng ta phải thọ
trì. Trì là bảo
trì, sau khi tiếp nhận
xong thì phải bảo trì,
chẳng đánh mất.
Làm sao tiếp nhận đạo lý
mà Phật đã giảng?
Biến nó thành tư tưởng,
kiến giải của mình trong
sanh hoạt thường ngày,
như vậy là chúng ta tiếp
nhận rồi. Cách suy
nghĩ, cách nhìn của
chúng ta giống như cách
nói trong kinh Phật,
chẳng trái nghịch, như
vậy là chúng ta tiếp
nhận ý tưởng, quan điểm
của Phật. Những
phương pháp mà Phật
giảng trong kinh biến
thành hành vi trong đời
sống của chúng ta, chúng
ta phải làm cho bằng
được. Cảnh giới
Phật giảng trong kinh
biến thành sự hưởng thọ
của chính mình ngay hiện
tiền, nhập cảnh giới
Phật. Như vậy thì
tự tại, khoái lạc biết
mấy, đây là ‘tự thọ
dụng’, tự thọ dụng chính
là ‘tha thọ dụng’.
Biểu hiện trong cuộc
sống của chúng ta là nêu
gương cho người khác,
tức là Diễn, nghĩa là
biểu diễn cho người khác
coi. Nói được thì
phải làm được, làm ra
cho người ta xem, đích
thật là gương mẫu của xã
hội đại chúng, là mô
phạm của xã hội đại
chúng.
Trong hai
năm gần đây chúng ta
giảng kinh hoằng pháp ở
mọi nơi, chúng ta có một
đề mục chung
‘Học vi
nhân sư, hành vi thế
phạm’,
chúng ta dùng tám chữ
này làm đề mục chung.
Mọi người vừa nhìn đề
mục này không đến nỗi
hiểu lầm chúng ta là mê
tín, hiểu lầm là chúng
ta đang làm việc tôn
giáo
.
Chúng ta làm sao có thể
đem Phật giáo trở về làm
giáo dục xã hội, bốn
chúng đệ tử trong nhà
Phật là người làm công
tác giáo dục xã hội,
Phật pháp mới có thể phổ
biến lợi ích hết thảy
chúng sanh. Lời
này là như thế nào?
Các tôn giáo tín ngưỡng
khác nhau đều cùng đến
học Phật, các văn hóa
chủng tộc khác nhau cũng
ưa thích học Phật thì
Phật pháp mới có thể đem
lại lợi ích cho hết thảy
chúng sanh. Nếu
nói Phật giáo là tôn
giáo thì các tôn giáo
chẳng thể dung nạp, tiếp
nhận. Nhưng Phật
pháp là giáo dục xã hội,
chúng ta xóa bỏ giới hạn
của tôn giáo thì bất kỳ
tín đồ tôn giáo nào cũng
có thể học Phật, đều có
thể làm đệ tử của Phật,
đều chẳng mâu thuẫn với
tín ngưỡng của tôn giáo
họ.
Giống như
sự thị hiện trong kinh
Hoa Nghiêm, Bà La Môn,
Bà La Môn giáo chẳng
phải Phật giáo.
Biến Hành ngoại đạo cũng
là tôn giáo khác, cũng
chẳng phải Phật giáo,
đều là Bồ Tát. Bồ
Tát thị hiện trong những
hành nghiệp của họ, giáo
hóa những hạng chúng
sanh ấy, chúng ta phải
hiểu đạo lý này.
Thế nên chúng ta gặp Cơ
Đốc Giáo phải tán thán,
chúng ta gặp Mục Sư cũng
chắp tay kính chào Mục
Sư Bồ Tát, gặp người đạo
Hồi chúng ta chắp tay
cung kính A Hoanh
Bồ Tát, họ đều là Bồ Tát
cả.
Họ hỏi tôi:
‘Ông xưng tôi là Bồ Tát
là có ý nghĩa gì?’.
‘Bồ Tát là
một người có trí huệ,
người giác ngộ thì gọi
là Bồ Tát. Bạn có
trí huệ hay không, giác
ngộ không?’
Họ gật đầu.
‘Vậy thì bạn là Bồ Tát’.
Thân phận
của bạn là A Hoanh, thì
bạn là A Hoanh Bồ Tát;
thân phận hiện nay của
bạn là Mục Sư thì bạn là
Mục Sư Bồ Tát.
Trong kinh Phật, thân
phận của bạn là đồng
nam, đồng nữ thì bạn là
đồng tử Bồ Tát, đồng nữ
Bồ Tát; thân phận của
bạn là Tể Quan thì bạn
là Tể Quan Bồ Tát.
Phàm là người có trí
huệ, giác ngộ rồi đều
xưng là Bồ Tát. Bồ
Tát nhất định chẳng phải
khắc, chạm trổ bằng gỗ,
bằng đất nặn, cúng ở
trong chùa để cho người
ta lạy, cách suy nghĩ và
cách nhìn như vậy là sai
lầm. Đó đều là
tiêu biểu pháp, Bồ Tát
là sống chứ chẳng chết.
Người người đều làm Bồ
Tát thì thiên hạ sẽ thái
bình, tai nạn sẽ hóa
giải hết. Vì thế,
giáo dục của đức Phật là
một nền giáo dục xã hội
viên mãn nên được phổ
cập trên thế gian này,
mục đích rốt ráo của nó
là chuyển phàm thành
thánh, đó là mục tiêu
của nền giáo dục này.
Hết thảy mọi người đều
thành Bồ Tát, mọi ngành
mọi nghề đều là Bồ Tát
thì xã hội làm sao có
tai nạn được? Cảnh
tùy tâm chuyển, chúng ta
phải hiểu đạo lý này.
Chư Phật, Bồ Tát dùng vô
lượng pháp môn, phương
tiện giúp đỡ chúng sanh
đang chịu khổ nạn.
Phải biết
cách tùy cơ thuyết pháp,
những Bồ Tát nói trong
kinh, chư Phật, Bồ Tát
nên dùng thân gì để độ
được thì hiện thân ấy.
‘Được độ’ là như thế
nào? Dùng cách nói
hiện nay nghĩa là nên
dùng thân phận gì để
giúp đỡ họ thì bạn thị
hiện thân phận ấy, ‘độ’
nói theo cách nói hiện
nay tức là ‘giúp đỡ’.
Nên nói cho họ pháp môn
gì thì bạn nói pháp môn
ấy cho họ, thế nên ‘xem
xét căn cơ’ rất quan
trọng. Kinh Dịch
của cổ nhân Trung Quốc
nói:
“Quán sát
thiên văn để biết thời
thế biến đổi”
.
Thiên văn là gì?
Mỗi đêm ngước nhìn sao
trên trời gọi là Thiên
Văn. Lời thánh
nhân sâu rộng vô cùng,
nhiều người chẳng biết,
họ nhìn ‘thiên văn’?
Mỗi đêm họ đều quan sát
bầu trời coi những ngôi
sao có biến hóa gì
chăng. Đó là gì?
Chẳng hiểu ý của thánh
nhân. ‘Thiên’ là
thiên nhiên, tức là tự
nhiên. Văn là văn
chương. Chữ ‘văn’
trong bộ ‘Thuyết Văn
Giải Tự’
,
ý của chữ ‘văn’ này là
gì? Vẽ một nét gọi
là ‘văn’. Nghĩa là
bạn quán sát hiện tượng
của thế gian, Thiên Văn
tức là hiện tượng xã
hội, từ các hiện tượng
trong xã hội bạn có thể
cảm nhận được thế giới
này có thay đổi gì?
Phía trước tôi đã giới
thiệu cho các bạn về Tứ
Đại Thiên Vương, Tây
Phương Quảng Mục thiên
vương tiêu biểu cho ý
nghĩa này. Ngài
biết nhìn, biết quán,
biết xem xét, rành quán
sát. Trên tay ngài
cầm rồng, rắn, rồng rắn
tiêu biểu cho biến hóa.
Tay kia cầm hạt châu,
hạt châu tượng trưng cho
sự chẳng thay đổi trong
biến hóa. Nắm vững
được nguyên tắc chẳng
biến đổi thì có thể ứng
phó được sự thay đổi
này, Kinh Dịch cũng nói
như vậy.
Chúng ta biết nhìn
không? Chúng ta
thường ngồi xe, rất ít
đi tản bộ, đi ngắm cảnh,
đi du lịch. Ngồi
xe, đi bộ trên đường
phố, bạn nhìn thấy hiện
tượng gì? Bạn thấy
hiện nay những quảng
cáo, xem những hình ảnh
vẽ trên xe hơi hay xe
bus công cộng, xem quần
áo của người trẻ tuổi,
[những thứ] như vậy là
‘thiên văn’. Trong
tâm chúng ta hiểu rõ
rồi, hiểu rõ cái gì?
Trong kinh Phật nói,
trong kinh Lăng Nghiêm
nói:
‘Tà sư thuyết pháp như cát
sông Hằng’, [các
quảng cáo, hình ảnh] đó
tức là tà sư. Làm
cho [những cảnh giới]
được tiếp xúc bởi sáu
căn của người thế gian
đều là cảnh giới yêu ma
quỷ quái. Làm cho
người thế gian khi lục
căn tiếp xúc đến đều là
cảnh giới yêu ma quỷ
quái. Họ sống cuộc
đời như thế nào?
Đời sống của yêu ma quỷ
quái. Bồ Tát nhìn
thấy những hiện tượng
này, lòng thương xót bèn
sanh khởi. Làm thế
nào để cứu độ họ?
Chúng ta làm những áo
thun, những áo các bạn
mặc, trên đó in chữ ‘A
Di Đà Phật’, in danh
hiệu của Phật, Bồ Tát,
in chữ ‘Tri Ân Báo Ân’;
số lượng của chúng ta
ít, số lượng của họ quá
nhiều. Chúng tôi
nghĩ ra một cách, nhờ
những người hiểu biết,
những người thật sự phát
tâm Bồ Đề, chúng ta phải
dùng những phương pháp
này, tuyên truyền rộng
rãi. Chúng ta diễn
giảng với quy mô lớn và
tặng quần áo, tặng cho
những người trẻ tuổi ai
cũng mặc, cả đường phố
đều [nhìn thấy hàng chữ]
A Di Đà Phật, đều thấy
Quán Thế Âm Bồ Tát, như
vậy rất tốt.
Cổ đức có
câu:
‘Người biết
rõ vận mạng chẳng oán
trời, người biết rõ về
mình chẳng trách người’
,
do đó có thể biết trong
xã hội hiện nay rất
nhiều người ‘oán trời
trách người’, người ‘oán
trời trách người’ quá
nhiều, ai cũng cảm thấy
mình chẳng có lỗi lầm,
[họ nghĩ] đều là lỗi lầm
của kẻ khác. Không
những không biết vận
mạng, ngay cả chính mình
cũng chẳng biết.
Thế nên giáo học Phật
pháp, Phật dạy những gì?
Chân tướng sự thật của
nhân sinh. Vũ trụ
là hoàn cảnh sinh hoạt
của chúng ta, ‘nhân
sanh’ tức là chính mình,
giáo học của Phật giáo
chẳng có gì khác ngoài
việc dạy bạn chân chánh
biết rõ về mình, nhận
thức mình, hiểu rõ hoàn
cảnh sanh hoạt của mình.
Có thể hiểu rõ chân
tướng này rồi thì bạn sẽ
là Bồ Tát, bạn sẽ là
Phật; Phật, Bồ Tát chỉ
là người hiểu minh bạch
mà thôi. Trước kia
lão pháp sư Đàm Hư cũng
thường nói một người
minh bạch nhất định
không oán trời, chẳng
trách người, người ấy
mới có thể tiếp nhận lời
dạy của đức Phật, mới
vui vẻ y giáo phụng
hành. Trong nghịch
cảnh gặp khổ nạn cùng
cực, họ vẫn muốn nêu
gương tốt, trong mỗi
niệm đều có thể xả thân
vì người khác.
Nhìn thấy lỗi lầm của
phần đông xã hội đại
chúng ở đâu? Xã
hội đại chúng tham tiền
thì Bồ Tát thị hiện xả
tiền; xã hội đại chúng
tranh danh đoạt lợi thì
Bồ Tát thị hiện buông bỏ
danh lợi. Tại sao
phải làm như vậy?
Cách làm này tức là giáo
học. Vì người diễn
nói, biểu diễn cho họ
thấy. Bồ Tát sống
trong thế gian này chẳng
vì mình, mà vì chúng
sanh, là đến để diễn
kịch. Hy vọng
tuồng kịch này có thể
làm cho người xem giác
ngộ, hiểu rõ, làm cho họ
quay về, không bao giờ
vì mình? Biểu diễn
cho người khác.
Đây là đại từ đại bi,
đây là tinh thần của Địa
Tạng Bồ Tát. Hôm
nay chúng ta xem tiếp
kinh văn:
Tứ Thiên
Vương
Tứ
thiên vương.
Đây là lời
Phật kêu tên của họ.
Kêu tên, lời khai thị
sau đó vô cùng quan
trọng, kêu tên là để
nhắc họ.
Địa Tạng Bồ
Tát, nhược ngộ sát sanh
giả thuyết túc ương đoản
mạng báo.
Địa
Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ
sát sanh thì dạy rõ quả
báo vì tai ương đời
trước mà phải chết yểu.
Sau đây nêu
ra vài trường hợp.
Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa
chúng sanh dùng phương
tiện khéo léo, chúng ta
phải học. ‘Ương’
là tai ương, tai nạn
trong đời rất nhiều,
thường gặp quả báo
chuyện gì cũng không vừa
ý, bịnh khổ, chết yểu.
Vì nguyên nhân gì?
Sát sanh, sát nghiệp quá
nặng. Tự chúng ta
cũng cảm thấy trong đời
này chúng ta bị bịnh
nhiều, thường thường bị
bịnh đau, phải biết
nguyên nhân là gì?
Sát nghiệp. Đời
này tuy chẳng tạo sát
nghiệp, nhưng đời trước
đã tạo. Trong kinh
đức Phật nói, nói sự
thật. ‘Muốn
biết nhân đời trước thì
những gì phải gánh chịu
trong đời này chính là
kết quả của những nhân
ấy’, những gì mình
chịu trong đời này đều
là do nhân tạo đời
trước. Bạn phải
hiểu rõ sự thật, ngày
nay bất luận chúng ta
chịu tai nạn gì thì cũng
nên tiếp nhận một cách
vui vẻ, đời trước tạo
nhân chẳng tốt thì bây
giờ phải chịu quả báo.
Hứng chịu quả báo chẳng
oán trời, chẳng trách
người thì khi thọ hết,
khóa sổ kết thúc.
Nếu bạn chịu quả báo mà
còn oán trời trách người
thì phiền phức lớn lắm.
Đời này chịu quả báo lại
tạo thêm ác nghiệp, đời
sau vẫn phải tiếp tục
chịu, dây dưa chẳng dứt.
Cho nên khi bạn hiểu rõ
rồi, những gì chúng ta
nhận chịu đến đời này
chấm dứt, sổ nợ trả dứt,
báo hết. Đời này
nỗ lực tu thiện, nhất
định không sát sanh.
Không những không sát
sanh, mà còn không làm
việc não hại chúng sanh.
Không những không thể
làm, phải không có ý
niệm này, được vậy thì
quả báo tương lai của
chúng ta sẽ thù thắng.
Đời này thời gian rất
ngắn, cho dù sống đến
một trăm tuổi thì một
khảy ngón tay bèn trôi
qua, thời gian đi qua
rất mau, đọc đến câu
này, nhất định không thể
sát sanh, chúng ta nhìn
thấy những người thọ báo
trong thế gian liền biết
được. ‘Muốn
biết quả báo đời sau,
những gì mình làm đời
này chính là nó’,
chúng ta khởi tâm động
niệm, hết thảy tạo tác
là quả báo đời sau, nhân
duyên quả báo tơ hào
chẳng sai.
Nhược
ngộ thiết đạo giả thuyết
bần cùng khổ sở báo
Nếu gặp kẻ
trộm cắp thì dạy rõ quả
báo bần cùng khổ sở.
Hiện nay có
nhiều chỗ lạc hậu như
Phi Châu, chúng ta
thường xem báo cáo người
bên đó chịu nỗi khổ đói
lạnh, đó là cộng nghiệp,
họ chẳng biết quả báo
chắc chắn phải có nhân.
Nhân của sự đói lạnh,
bần cùng, khổ sở là trộm
cắp. Phạm vi của
‘trộm cắp’ vô cùng rộng
lớn, định nghĩa trong
Phật pháp là ‘không cho
mà lấy’, đồ đạc của cải
có chủ, chủ chẳng cho
bạn, bạn bèn lấy đi thì
gọi là trộm cắp.
Còn phương thức trộm cắp
rất nhiều; có một số
người đem vật cho nhưng
chẳng phải cam tâm tình
nguyện mà bị ép bức nên
phải đem cho; bạn có
quyền uy, thế lực nên
không thể không nịnh hót
bạn, tâng bốc bạn, đó
cũng là trộm cắp.
Hễ dùng những thủ đoạn,
tâm lý không chánh đáng,
những gì bạn đạt được
đều gọi là trộm cắp.
Phạm vi này rất rộng,
Giới Kinh nói rất tường
tận, [trộm cắp sẽ] bị
quả báo này.
Nhược ngộ
tà dâm giả, thuyết tước
cáp uyên ương báo
Nếu gặp kẻ
tà dâm thì nói rõ quả
báo làm khổng tước, bồ
câu, uyên ương.
Chữ ‘tước’
ở đây, trong chú giải
của Thanh Liên đại sư
đặc biệt ghi rõ là khổng
tước (chim công).
Nói cách khác, quả báo
của tà dâm là sanh vào
cõi súc sanh. Bạn
muốn sanh vào cõi súc
sanh không? Nếu
không muốn sanh vào cõi
súc sanh thì nhất định
đừng trồng nhân ấy.
Thế nên Bồ Tát ở phía
trước nói về mười cõi
ác, trong Tam Phước dạy
chúng ta tu mười nghiệp
thiện, khi tu mười
nghiệp thiện thì những
quả báo chẳng thiện sẽ
không còn nữa. Nếu
bạn không tu mười nghiệp
thiện, lại còn tạo mười
nghiệp ác thì chắc chắn
sẽ không tránh khỏi quả
báo ác.
Nhược ngộ
ác khẩu giả, thuyết
quyến thuộc đấu tranh
báo.
Nếu gặp kẻ
nói lời thô ác, thì dạy
rõ quả báo quyến thuộc
kình chống nhau.
Chúng ta
cũng thường thấy người
trong cùng một nhà cãi
lộn, [đúng là] chẳng
phải oan gia thì chẳng
gặp nhau. Tại sao
người trong một nhà
thường chẳng hòa hợp?
Đây là quả báo đời trước
nói lời thô ác.
Nếu trong đời này vẫn
không sửa đổi thì còn
phiền phức hơn nữa, nhà
người ấy làm sao hòa hợp
được? Ngạn ngữ
thường nói: ‘Nhà hòa
hợp thì vạn sự hưng
vượng’, nhà chẳng
hòa thì chắc chắn sẽ suy
bại.
Nhược ngộ
hủy báng giả, thuyết vô
thiệt, sang khẩu báo.
Nếu gặp kẻ
hủy báng, thì nói rõ quả
báo không lưỡi, miệng
lở.
Khẩu nghiệp
có bốn loại, đặc biệt
nêu lên ‘nói lời thô
ác’. Phía sau ‘hủy
báng’ bao gồm ‘nói dối,
nói lưỡi hai chiều, nói
thêu dệt’ trong ấy.
Hủy báng, đặc biệt là
hủy báng Phật pháp,
nhưng chư vị nên biết
hiện nay hơn phân nữa xã
hội cho rằng ‘Phật giáo
là tôn giáo, tôn giáo là
mê tín, trong hết thảy
tôn giáo thì Phật giáo
là mê tín nhất, thuộc về
hạng thấp nhất’.
Tại sao vậy? Tôn
giáo hạng cao chỉ có một
vị Thần, duy nhất chỉ có
một Chân Thần, [họ cho
rằng] ‘Phật giáo là Đa
Thần Giáo, đạo nhiều
thần, cái gì cũng lạy,
nên cho rằng là tôn giáo
hạng thấp, chẳng ai coi
trọng’. Do đó làm
cho quảng đại quần chúng
trong xã hội hủy báng,
họ tạo nghiệp này dễ sợ
lắm. Họ hủy báng
như vậy, chúng ta có thể
trách họ chăng?
Chẳng thể, phải trách
chúng ta, chúng ta chẳng
giải thích rõ ràng,
chẳng giảng minh bạch,
làm cho họ hiểu lầm.
Thế nên khi chúng ta gặp
người hủy báng Phật pháp
thì phải quay lại trách
chính mình, chẳng thể
trách họ. Họ chẳng
tìm hiểu rõ, chẳng hiểu
chân tướng sự thật,
chúng ta có trách nhiệm.
Nhưng sự hủy báng của họ
chắc chắn sẽ có quả báo,
chúng ta phải giúp họ
sám hối, nhận thức Phật
giáo, nhận thức Đại
Thừa. Như trong
lịch sử có ghi Thiên
Thân Bồ Tát lúc bắt đầu
học Tiểu Thừa, hủy báng
Đại Thừa, sau này anh
của ngài là Vô Trước Bồ
Tát giảng giải cho ngài
hiểu rõ, ngài bèn sám
hối, phát nguyện cắt
lưỡi của mình. Anh
ngài nói: ‘Không cần,
trước kia em dùng lưỡi
này hủy báng Đại Thừa,
bây giờ hãy dùng lưỡi
này để tán thán Đại
Thừa, như vậy có phải
tốt hơn không!’.
Cho nên kể từ đó ngài
bèn tán thán Đại Thừa,
tuyên dương Đại Thừa,
đây là pháp môn sám hối,
sửa đổi thành mới nên
ngài được độ.
Chúng ta phải cứu độ
những chúng sanh tạo
khẩu nghiệp này, chẳng
có chi khác ngoài việc
dốc hết tâm lực để tuyên
dương Đại Thừa, giúp cho
họ nhận thức rõ ràng bộ
mặt [ý nghĩa] chân chánh
của Phật pháp, làm cho
họ quay trở lại, không
những không hủy báng mà
còn tán thán.
Tôi giảng
kinh thuyết pháp trên
giảng đài này hết bốn
mươi năm. Năm ba
mươi ba tuổi tôi bắt đầu
giảng kinh, năm nay đã
bảy mươi hai tuổi, nếu
tính hư tuế thì đã bốn
mươi năm rồi. Vẫn
còn rất nhiều người hủy
báng, tôi đều tiếp nhận
hết, tại sao? Vì
đã tạo khẩu nghiệp quá
sâu đậm. Lúc chưa
học Phật đã hủy báng
Phật pháp, tôi đã nói
Phật pháp là mê tín.
[Lúc đó] tôi chỉ tin Cơ
Đốc Giáo, tin Hồi Giáo,
tôi đã trải qua hai năm
trong Cơ Đốc Giáo, một
năm trong Hồi Giáo, ấn
tượng của tôi đối với cả
hai đạo ấy rất tốt, cả
hai đều có thể nói ra
một số đạo lý.
Trong Phật pháp thì tôi
chẳng [có cơ hội] tiếp
xúc với Pháp sư, chẳng
có người giảng cho tôi,
nói rõ đạo lý của Phật
pháp nên tôi chẳng biết.
Tôi cũng cho rằng Phật
pháp là mê tín, phải phá
trừ mê tín. Tôi
tạo ra nghiệp rất nặng,
‘làm thân Phật ra máu’
là tội nghiệp đọa địa
ngục Vô Gián. Lúc
nhỏ tuổi vô tri, thời
kháng chiến [chống Nhật]
trường học rất ít,
trường học lúc ấy ở đâu?
Ở trong chùa miếu.
Chính phủ tịch thâu chùa
miếu để làm trường học,
đem chánh điện làm lễ
đường, điện nhỏ kế bên
thì làm phòng học.
Họ đem tượng Phật, tượng
Bồ Tát gom lại bỏ trong
một gian phòng, bên
ngoài dán giấy phong kín
lại, như vậy kể cũng còn
tốt. Con nít chúng
tôi nghe nói trong ấy có
rất nhiều Phật, Bồ Tát,
có thể lấy để chơi đùa,
bèn đục lỗ trên cửa sổ
chui vào, lấy tượng Phật
làm đồ chơi, chơi đã
xong rồi vứt bỏ, phá
hoại hết. Do hiếu
kỳ nên chẻ tượng Phật
bằng gỗ ra coi trong ấy
có gì hay không, trong
bụng [tượng Phật] có sợi
tơ gì hay không, chơi
rất nhiều trò, còn chơi
bùa chú nữa. Chúng
tôi tạo những tội nghiệp
này, lúc đó còn nhỏ
chẳng biết. Thầy
giáo cũng chẳng dạy, nói
thật ra, nếu nói thì
chúng tôi chưa chắc sẽ
nghe theo, cứ tiếp tục
tạo tội nghiệp hủy báng
Phật pháp. Sau này
học Phật rồi mới biết,
đây là tạo tội nghiệp
đọa địa ngục Vô Gián.
Ngày nay tôi giảng kinh
thuyết pháp được bốn
mươi năm, vẫn còn bị
người ta hủy báng, sỉ
nhục, như vậy là đáng
lắm, là tội nặng nhưng
chỉ bị quả báo nhẹ mà
thôi.
Lúc nhỏ tôi
đi học rất ngỗ nghịch,
thầy giáo rất thích tôi,
nhưng thầy cũng rất khó
dạy dỗ tôi. Sức
nhớ dai của tôi rất tốt,
sách đọc qua một lần bèn
thuộc lòng thế nên chẳng
đọc tiếp nữa, chỉ đọc để
thi cử mà thôi.
Mười phút trước giờ thi
nếu tôi coi bài, ôn qua
một lượt thì chắn chắn
sẽ thi đậu. Vả
lại, tôi thi cử gì cũng
chỉ muốn được sáu mươi
điểm, thêm một điểm cũng
chẳng được. Tôi
chẳng tranh danh, chẳng
đoạt lợi, luôn luôn đem
bài nộp trước nhất.
Thầy giáo coi xong đều
lắc đầu, có thể lấy được
điểm tốt nhưng đều không
chịu lấy, tại sao?
Vì ham chơi. Chỉ
cần cho tôi mỗi năm được
lên lớp là tốt rồi, như
vậy là đã đạt được mục
đích, yêu cầu của các
bạn không phải cũng chỉ
là như vậy sao?
Thầy giáo yêu cầu gia
trưởng, tôi đều làm cho
họ mãn nguyện.
Nhưng tôi thích làm
những việc tôi ưa thích.
Tôi đọc rất nhiều sách,
nhiều hơn các bạn đồng
học. [Từ] thư viện
trong trường, tôi đọc
những sách tôi ưa thích
nên kiến thức phổ thông
của tôi phong phú hơn
người thường. Từ
lớp ba cấp tiểu học tôi
bắt đầu đọc những tiểu
thuyết xưa của Trung
Quốc, đọc đến năm thứ
nhất của bậc Trung Học
bèn thôi, chẳng đọc tiếp
nữa. Những tiểu
thuyết hay hầu như tôi
đều đọc qua bốn, năm
lần, thí dụ bốn tiểu
thuyết lớn như Tây Du
Ký, Tam Quốc Diễn Nghĩa,
Thủy Hử Truyện, Hồng Lâu
Mộng đại khái mỗi bộ đều
đọc hết năm, sáu lần.
Hơn nữa những sách dầy
như vậy, tôi đọc nhanh
lắm, chẳng tới một tuần
là tôi đọc hết trơn.
Tiểu thuyết cổ điển đọc
hết rồi, đến năm thứ
nhất của bậc Trung Học
bèn chẳng đọc nữa.
Ban ngày đọc tiểu
thuyết, ban đêm đi coi
kịch. Đời học sinh
của tôi thật là thú vị,
các thầy của chúng tôi
đều biết, hiệu trưởng
cũng biết. Tôi nói
với hiệu trưởng, trường
học hiện nay chẳng qua
là chỗ để kiếm văn bằng,
kiếm học vị mà thôi,
những gì học xong chẳng
dùng được, tôi học những
thứ này tương lai có
dùng được gì không?
Thầy tôi cũng chịu tôi
hết nổi, tạo nghiệp quá
nhiều. Nhưng kể ra
cũng có một chút thiện
căn là chẳng hại người
khác, chẳng gây hại cho
xã hội.
Sau khi
tiếp xúc Phật pháp mới
biết, mới hiểu được đạo
lý này nên nỗ lực đoạn
ác tu thiện. Lúc
tôi chưa học Phật nhiều
người coi bói đều nói
tôi chẳng sống hơn bốn
mươi lăm tuổi, tự mình
tôi cũng tin, chẳng nghi
ngờ gì cả. Tại
sao? Đã tạo những
nghiệp lúc trước làm sao
có thể sống lâu được?
Thế nên năm bốn mươi lăm
tuổi, tôi mắc bịnh cũng
chẳng đi khám bác sĩ,
cũng chẳng uống thuốc,
giống như ông Lý Mộc
Nguyên vậy, thọ mạng đã
đến, bác sĩ chỉ có thể
trị bịnh, chẳng thể trị
mệnh, chỉ niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Niệm
được một tháng thì hết
bịnh, khoẻ trở lại.
Chúng tôi hồi tâm chuyển
ý, đem một chút trí huệ,
khả năng, thân thể này
hoàn toàn hiến dâng cho
Phật, Bồ Tát, làm việc
cho Phật, Bồ Tát, chẳng
vì mình nữa. Nhà
Phật thường nói ‘nương
theo nguyện trở lại’
(thừa nguyện tái lai),
chúng tôi chuyển biến
nghiệp lực thành nguyện
lực, chẳng cần đợi đến
lúc vãng sanh tây phương
Cực Lạc thế giới rồi
quay trở lại, chẳng cần
nữa. Hiện nay thay
đổi nghiệp lực thành
nguyện lực thì xong
ngay, thì sẽ thừa nguyện
tái lai. Tôi ‘thay
đổi’ được hiệu quả rất
tốt, Lý Mộc Nguyên thay
đổi cũng rất có hiệu
quả, đều là biểu diễn
cho các bạn xem.
Hai người chúng tôi làm
được thì các bạn đều có
thể làm được, chỉ coi
bạn chịu hay không chịu
mà thôi. Vừa thay
đổi thì ý niệm liền thay
đổi, khởi tâm động niệm
đều vì Phật pháp, vì
chúng sanh, tuyệt chẳng
có một tâm niệm vì mình.
Tôi vì Phật pháp, vì
chúng sanh nhưng tôi còn
vì mình được không?
Không được. Nhất
định phải một trăm phần
trăm vì Phật pháp, một
trăm phần trăm vì chúng
sanh, nhất định chẳng
thể có một tơ hào vì
mình thì bạn có thể
chuyển đổi trở lại, vả
lại sẽ chuyển rất nhanh
chóng. Chúng ta
tham gia ‘câu lạc bộ’
của Phật, Bồ Tát, tham
gia hạnh nghiệp này của
Phật, Bồ Tát thì đâu có
lý nào chẳng thể chuyển
đổi được? Còn phải
học giảng kinh thuyết
pháp không? Chẳng
cần học. Học ư?
Có học cũng chẳng được.
Tâm của bạn giống như
tâm Phật thì tự nhiên sẽ
tỏ lộ. Chẳng phải
do bạn chuẩn bị sưu tập
tài liệu thì bạn mới
biết giảng, chẳng có
chuyện ấy.
‘Pháp vốn
là như vậy’
,
từ trong tự tánh thể
hiện ra, chúng ta phải
hiểu đạo lý này.
Trong ‘Nội Điển’
chư vị bất quá là học một
số phương pháp căn bản.
Chúng ta là người sơ học
chưa nhập cảnh giới của
Phật nhất định phải dùng
cách nói của Tổ sư đại
đức để nói, chẳng nói
sai những lời của họ.
Nhưng tự mình chân chánh
phát tâm hoằng pháp lợi
sanh nhất định phải nhập
cảnh giới. Chẳng
nhập cảnh giới thì chỉ
là ‘nói đồ ăn, đếm của
báu’, hoàn toàn là đồ
của người khác, chẳng
liên quan gì đến mình
cả. Muốn nhập cảnh
giới thì phải triệt để
buông xuống, buông xuống
thì tự nhiên sẽ nhìn
thấu. Nhìn thấu là
gì? Hiểu rõ rồi.
Tánh - Tướng, Lý - Sự,
Nhân - Duyên, Quả - Báo
đều rõ ràng, minh bạch,
đó gọi là nhìn thấu, là
sự việc như thế.
Xem tiếp đoạn kinh phía
sau:
Nhược ngộ
sân khuể giả, thuyết xú
lậu lung tàn báo.
Nếu gặp kẻ
nóng giận, thì nói rõ
quả báo xấu xí, tàn tật.
Quả báo của
‘Sân khuể’ là ở địa
ngục, những hiện tượng
trong địa ngục, chúng ta
xem ‘Địa Ngục Biến Tướng
Đồ’ nói trong Phật pháp,
sau đó coi những tôn
giáo khác cũng có nói về
Địa Ngục Biến Tướng Đồ.
Tuy các tôn giáo khác
chẳng nói về lục đạo, ít
nhất họ cũng nói về tam
đạo, họ nói về Thiên
Đường, cõi người, và địa
ngục. Tranh vẽ
hình tượng trong địa
ngục chẳng có thứ nào
đẹp đẽ, hình trạng đều
vô cùng kinh khủng, ‘xú
lậu lung tàn’, đây là
việc chúng ta phải nên
cảnh giác.
‘Một tâm niệm sân giận
khởi lên, trăm vạn cánh
cửa chướng ngại mở ra’.
Xấu xí, tàn
tật là hoa báo, địa ngục
là quả báo, chẳng thể
không biết. Nếu
tướng mạo chúng ta là
xấu xí, tàn tật thì biết
tâm sân giận nặng, tâm
đố kỵ nặng. Nếu
chúng ta có thể sửa đổi
trở lại, phát tâm từ bi,
có thể thương xót hết
thảy chúng sanh, yêu mến
bảo vệ hết thảy chúng
sanh, lo lắng cho hết
thảy chúng sanh, giúp đỡ
hết thảy chúng sanh thì
tướng mạo sẽ thay đổi.
Thế nên bạn tu hành có
công phu hay chăng,
chẳng xem gì khác chỉ
xem tướng mạo của bạn.
Coi tướng mạo, thể chất
của bạn ba năm trước và
ba năm sau, tướng tùy
tâm chuyển. Tâm
địa của bạn thanh tịnh
thì sẽ có tướng thanh
tịnh; tâm địa từ bi thì
sẽ có tướng từ bi; tâm
địa trí huệ thì sẽ có
tướng trí huệ; tâm địa
ác độc thì sẽ có tướng
ác độc, làm sao có thể
gạt người được?
Giả vờ cũng chẳng thể
giả vờ được. Người
đời ưa thích đẹp phải đi
sửa sắc đẹp, càng sửa
thì càng xấu. Tôi
đã thấy rất nhiều người
sửa sắc đẹp, chưa sửa
thì còn được, sau khi
sửa rồi thì tướng mạo
biến thành kỳ lạ, chẳng
dễ nhìn tí nào.
Tướng đó là gì? Là
tướng giả, tâm chẳng
chuyển. Thế nên
phải biết tướng làm sao
tạo nên, tạo được đẹp
cách mấy, nếu tâm chẳng
tốt thì tướng tốt đẹp
cũng biến thành tướng
xấu xí. Hiểu được
đạo lý này thì hà tất
phải đi sửa sắc đẹp để
tốn tiền lãng nhách?
Phải sửa đổi tâm, tâm
đổi rồi thì tướng sẽ đổi
theo.
Thân thể
cũng chẳng cần tìm thuốc
men, tẩm bổ gì cả, chẳng
cần, tâm tốt rồi thì
thân thể tự nhiên khỏe
mạnh. Tôi chưa
từng tìm ai đến đây giúp
thân thể khỏe mạnh, trị
liệu gì hết, chẳng bao
giờ. Chưa từng ăn
đồ tẩm bổ, người ta tặng
cho tôi những thứ nhân
sâm, sâm Cao Ly, vừa đến
tay tôi liền chuyển đem
cúng dường người khác,
tôi chẳng dùng những thứ
ấy, chẳng tiêm nhiễm bao
giờ. Phải ra sức
từ trong tâm, chẳng cần
chú trọng đến thân thể.
Luôn luôn phải lo đến
thân thể khỏe mạnh thì
chư vị nghĩ coi, thân
kiến của bạn chẳng thể
phá, tâm niệm tự tư tự
lợi của bạn chẳng dứt
bỏ, bạn chấp trước thân
tướng. Kinh Kim
Cang dạy chúng ta một
nguyên tắc căn bản của
sự tu hành:
‘Chẳng có tướng Ta, chẳng
có tướng Người, chẳng có
tướng Chúng Sanh, chẳng
có tướng Thọ Giả’.
Bạn có đầy đủ bốn tướng
này, bạn còn chấp trước
thì thân tâm của bạn làm
sao thanh tịnh cho được?
Thân tâm chẳng thanh
tịnh thì thân thể của
bạn làm sao khỏe mạnh?
Chư vị nên biết khỏe
mạnh nhất là phải trở về
với tự nhiên, đại tự
nhiên, vô tư, vô ngã.
Thế nên kinh Kim Cang
dạy phá Bốn Tướng này
tức là trở về tự nhiên,
tự nhiên thì khỏe mạnh
nhất, tự nhiên thật sự
là thân Kim Cang chẳng
hư hoại. Trong
kinh nói đến thân kim
sắc, ngày nay chúng ta
đúc tượng đều thếp vàng,
bạn nghĩ coi đẹp không?
Nếu một người gương mặt
có màu vàng khè như thếp
vàng, người ấy sẽ là
người quái gở, tôi nghĩ
sẽ chẳng ai thích người
ấy. Vàng là để
tiêu biểu pháp, trong
hết thảy vật chất, tại
sao vàng được người ta
cho rằng quý báu như
vậy? Vì vàng chẳng
đổi màu sắc. Bởi
vậy nên vàng tượng trưng
cho sự bất biến, chẳng
biến đổi thì là thiệt,
biến đổi là giả.
Chân tâm lìa niệm, đó
gọi là vàng, màu vàng,
kim sắc. Sự tiêu
biểu pháp trong kinh Hoa
Nghiêm, chư vị đều đã
xem qua, nói thế giới
kim sắc sẽ chẳng biến
đổi. Vọng tâm sẽ
biến đổi, là giả.
Thế nên vàng tượng trưng
cho chẳng biến đổi,
chẳng biến đổi là chân
tâm, chẳng biến là nhất
tâm, nhị tâm thì biến
rồi.
Chúng ta
nhất định phải hiểu ý
nghĩa tiêu biểu pháp,
không thể kẹt cứng trong
văn tự, nếu kẹt như vậy
thì sai lầm. Khi
bạn muốn khuyên một
người học Phật, họ nói:
‘Tôi chẳng muốn học
Phật, học Phật rồi trên
thân mình vàng khè, rất
khó coi’, nhất định phải
hiểu rõ nghĩa thú nói
trong kinh, thật sự thì
kinh Phật rất khó hiểu,
khó ở chỗ
‘ý ở ngoài ngôn từ’,
thế nên bạn phải biết
cách nghe. Kinh
văn cũng vậy, ý ở ngoài
văn tự chứ chẳng ở trong
văn tự. Văn tự là
để dẫn đường, trong
Thiền Tông gọi là ‘chỉ
mặt trăng’, rất có đạo
lý. Đó là ‘chỉ’,
bạn phải thuận theo
hướng [ngón tay] ‘chỉ’
này thì mới nhìn thấy
chân tướng. Thế
nên ý chẳng ở trong văn
tự, chẳng ở trong ngôn
từ, ý chẳng lìa văn tự,
cũng chẳng lìa ngôn
thuyết, được vậy thì bạn
mới thể hội đến ý nghĩa
chân thật. Chân
thật nghĩa là tự tánh,
tự tánh vốn có đủ trí
huệ, tự tánh vốn có đủ
đức năng, đây là chân
thật nghĩa mà Như Lai đã
nói. Thế nên chân
thật nghĩa cũng chẳng
phải chân thật nghĩa của
đức Phật Thích Ca, phải
nói là Như Lai chân thật
nghĩa, ‘Như Lai’ là tự
tánh, là tên gọi của
tánh đức, một trong mười
hiệu của Phật, chẳng
phải là một người.
Nhược ngộ
xan lận giả, thuyết sở
cầu vi nguyện báo.
Nếu gặp kẻ
bỏn xẻn thì nói rõ quả
báo sở cầu không được
toại nguyện.
Đây tức là
‘Khổ khi cầu chẳng được’
trong ‘Tám Khổ’.
Tại sao họ cầu chẳng
được? Bỏn xẻn,
chẳng chịu thí xả, cầu
gì cũng chẳng được.
Năm tôi hai mươi sáu
tuổi học Phật, lúc đó
tôi tiếc là được nghe
Phật pháp quá trễ, Phật
pháp hoàn hảo như vậy,
tại sao chẳng biết sớm
hơn nữa? Nói thật
ra muốn làm cho tôi sanh
lòng tin đối với Phật
pháp là một việc quá
khó, quá khó! Tôi
đã kể cho quý vị rồi,
lúc tôi còn trẻ cũng có
chút thông minh, chút
trí huệ, cũng có chút ít
biện tài. Ai muốn
thuyết phục tôi thật sự
chẳng dễ, thời gian tôi
còn đi học trong trường
chưa từng gặp đối thủ.
Chuyện ‘chết’ tôi có thể
nói nó trở thành ‘sống’,
tôi nói rất giỏi, chuyên
môn tranh cãi, chuyên
môn chống đối người ta,
tôi sẽ nói ra một số lập
luận. Thế nên có
thể dạy cho tôi tin
Phật, thuyết phục tôi
đâu phải dễ! Tôi
gặp được Phương Đông Mỹ
tiên sinh, ông thuyết
phục tôi được. Đây
là triết học gia đương
thời của Trung Quốc, nổi
tiếng khắp thế giới,
chẳng thuộc hạng của
quốc gia, là đại triết
học gia cấp thế giới.
Ngài giới thiệu Phật
pháp cho tôi, tôi mới
tin và có thể quay ngược
thái độ của mình đối với
Phật giáo một trăm tám
mươi độ, [sau đó] vào
chùa để tìm kinh coi.
Cũng nhờ có duyên sâu
đậm, tôi tiếp xúc kinh
Phật được cỡ một tháng
thì quen biết Chương Gia
đại sư, những nghi vấn
khó hiểu gì trong kinh
điển tôi đều nhờ ngài
giải đáp cho. Ngài
vô cùng từ bi, mỗi tuần
cho tôi hai giờ đồng hồ,
tôi học hỏi theo ngài
hết ba năm, căn cơ Phật
pháp của tôi được ngài
xây dựng. Ngài dạy
tôi [ba điều vô cùng
quan trọng:] Nhìn Thấu,
Buông Xả, Bố Thí.
Thế nên học Phật phải
học theo ai? Học
theo người thầy mà trong
tâm bạn kính phục nhất.
Người này nói gì thì bạn
đều phục tùng theo một
trăm phần trăm, làm được
một trăm phần trăm.
Nếu bạn đối với thầy
giáo chẳng tin tưởng, dù
thầy giáo có giỏi hơn
nữa, có đức độ lớn lao,
có khả năng, có trí huệ
lớn lao, nếu bạn theo họ
thì cũng là luống công.
[Vì] bạn chẳng tin tưởng
họ, bạn chẳng thể làm
theo những gì họ dạy.
Thế nên ‘sư tư đạo hiệp’
(thầy trò đạo hợp) vô
cùng quan trọng, thầy
giáo thương mến học trò,
học trò tôn kính thầy
giáo, thầy giáo thật sự
chịu dạy, học trò thật
sự chịu học.
[Những vị
thầy tôi] gặp trong đời
đều do duyên tốt đã kết
đời trước, thầy Phương
dạy một mình tôi.
Lần này tôi đến giảng
kinh tại Hương Cảng, đôi
lúc tôi cũng nhắc đến
chuyện này. Viện
trưởng thư viện Tân Á ở
Hương Cảng lúc trước,
ông Đường Quân Nghị, đây
là một triết học gia cận
đại và cũng là học trò
của thầy Phương Đông Mỹ,
chúng tôi là
học trò cùng thầy nhưng
khác thế hệ,
ông có thành tựu kiệt
xuất trong Triết Học,
ông đã mất rồi.
Đường Quân Nghị có lẽ
lớn hơn tôi mười tuổi.
Gặp những người này,
trên con đường Bồ Đề
chúng tôi mới được thuận
buồm xuôi gió. Khi
gặp tôi, Chương Gia đại
sư yêu mến, chăm sóc tôi
rất tận tình, mỗi tuần
cho tôi hai giờ, tôi
muốn làm biếng cũng
không được. Làm
biếng không đi một lần,
ngài bèn gọi điện thoại,
sai người đi kiếm coi
tôi có bị bịnh không, cớ
sao chẳng lại? Bạn
xem sự nhiệt tình như
vậy làm cho tôi không
thể không đi, ngài thật
sự là chịu dạy.
Thế nên tôi đối với ân
đức của thầy giáo không
bao giờ quên. Sau
khi hai ngài mất, tôi
theo học với lão cư sĩ
Lý Bỉnh Nam, tôi theo
ngài mười năm, thầy Lý
vô cùng quan tâm, thương
mến tôi.
‘Trong cửa nhà Phật, có
cầu ắt ứng’
là lời Chương Gia đại sư
dạy tôi. Ngài dạy
lúc bạn cầu mà không
được là vì bạn có chướng
ngại, có nghiệp chướng.
Tôi hỏi: Vậy thì
phải làm sao? Sám
hối, tiêu nghiệp chướng.
Nghiệp chướng tiêu trừ
thì những gì bạn mong
cầu đều sẽ hiện ra.
Tôi cầu Thôn Di Đà, đã
cầu suốt mười sáu năm,
có nghiệp chướng chẳng
thể hiện tiền, chắc là
hiện nay nghiệp chướng
đã tiêu hết rồi nên Thôn
Di Đà bèn thành tựu, đã
được thành tựu rồi.
Bạn có nghiệp chướng thì
không được, nhất định
phải tiêu nghiệp chướng.
Muốn tiêu nghiệp chướng
thì phải làm thật sự,
tâm hạnh của mình phải
nhập cảnh giới Phật.
Chúng tôi
biểu diễn trên giảng
đài, chư vị đồng tu cần
phải lắng nghe kỹ càng,
các bạn sẽ có thể nghe
ra được. Tôi đã
giảng kinh Vô Lượng Thọ
hết mười lần, lần này là
lần thứ mười, đại khái
đều có lưu lại băng thâu
âm. Các bạn hãy
nghe thử, lần nào cũng
chẳng giống nhau.
Chẳng phải là tôi có tài
liệu chẳng chịu giảng,
phải để dành đến lần sau
mới giảng, chẳng phải
vậy. Cảnh giới mỗi
năm đều khác nhau, việc
này nói rõ nghiệp chướng
mỗi năm đều tiêu bớt đi
một ít. Nếu nghiệp
chướng chẳng tiêu bớt
thì cảnh giới chẳng thể
hiện ra. Tôi chẳng phải
là một người lợi căn,
chỉ là một người căn
tánh trung hạ, nghiệp
chướng đang tiêu bớt từ
từ, mỗi năm đều đang
tiêu bớt nên cảnh giới
mỗi năm đều chẳng giống
nhau. Tự mình tôi
biết được, người thường
nghe tôi giảng cũng
biết, họ có thể nghe
biết được. Tôi
giảng kinh chẳng có bút
ký, chẳng ghi chép bài
giảng. Tài liệu
của cổ đức tôi có xem
qua, tôi dành ra một số
thời gian để xem kỹ
càng, họ cung cấp cho
tôi một số tài liệu tham
khảo. Nhưng lúc
giảng, tôi chẳng giảng y
theo lời văn của họ.
Nếu y theo chú giải của
họ để giảng thì sẽ chẳng
khế cơ. Họ là
người ở thời đại xa xưa,
đối diện với thính
chúng, quán chúng thời
đó, còn tâm con người,
xã hội hiện đại hoàn
toàn khác biệt với lúc
trước. Thế nên chúng ta
đọc tài liệu của người
xưa là nhằm khải phát
trí huệ của mình, chỉ có
thể tham khảo.
Chúng ta phải có khả
năng quán sát căn cơ của
đại chúng hiện nay, sau
đó mới có thể làm được
việc thuyết pháp ứng cơ,
thật sự có thể giúp đỡ,
đem lại thọ dụng thật sự
cho họ. Hóa giải
kiếp nạn, làm được xã
hội hòa mục, an định,
phồn vinh, người ta ai
nấy đều có thể sống cuộc
sống hạnh phúc mỹ mãn,
đây là mục đích của sự
học Phật hiện nay.
Trong nhà Phật đích thật
là có cầu ắt ứng, cầu
làm Phật còn được huống
chi những thứ khác.
Làm Phật là khó nhất,
làm Phật cũng có thể cầu
được thì những thứ vinh
hoa phú quý trong thế
gian đều là việc nhỏ
nhoi như lông gà vỏ tỏi,
đâu có lý nào mà cầu
chẳng được! Chúng
ta phải có lòng tin.
Nếu bạn muốn có cầu ắt
ứng thì chẳng có gì khác
ngoài việc ‘tiêu nghiệp
chướng’. Lời dạy
này của Chương Gia đại
sư, tôi ghi nhớ suốt
đời, y giáo phụng hành.
Nhược ngộ
ẩm thực vô độ giả,
thuyết cơ khát yết bịnh
báo
Nếu gặp kẻ
ăn uống vô độ, thì dạy
quả báo đói, khát, cổ
họng đau đớn.
Câu này dễ
hiểu, tham ăn.
Hiện nay có rất nhiều
bịnh quái gở trong xã
hội lúc trước chưa từng
nghe qua, bịnh từ đâu
đến vậy? Ngạn ngữ
nói rất hay:
‘Bịnh từ miệng vào, họa từ
miệng ra’.
Khẩu nghiệp kể phía
trước, sẽ tạo ra họa
hại, tai họa đều phát
sanh từ khẩu nghiệp mà
ra. Tật bịnh đều
từ việc ăn uống, bịnh từ
miệng vào. Lần này
tôi ở Hương Cảng, có một
đồng tu nói với tôi, ông
nói đây là chuyện có
thật ở Hương Cảng.
Đây là tin tức trong xã
hội, mọi người đều biết.
Mấy năm trước có hai mẹ
con người đó rất thích
ăn đồ biển, mỗi ngày đến
eo biển đều mua đồ sống,
chẳng phải là họ tự mình
bắt, họ mua đồ sống về
tự nấu ăn. Đến già
thì người mẹ này bị một
bịnh [kỳ lạ], khi phát
bịnh thì nói: “Nước rất
lớn, đi đến đâu cũng là
cát bùn, cứ bò tới bò
lui trong phòng, giống
như đang trèo lên bờ”,
giống như những loại hải
sản vậy. Sau này
lở loét trên khắp thân
mình xong rồi chết đi.
Sau khi người mẹ chết,
người con gái cũng bị
bịnh giống vậy, qua một
thời gian chẳng có cách
chi chữa khỏi nên đi
khắp nơi cầu thần, coi
bói, và gặp một vị pháp
sư. Pháp sư nói
với cô: “Đây là quả báo
cả đời cô sát sanh, ăn
đồ biển sống”, phải mau
sám hối, dạy cho cô
phóng sanh, ăn chay.
Lúc đó cô bèn làm theo
nhưng chẳng kịp nữa, vẫn
phải chết. Bạn bè
thân quyến của cô thấy
vậy nên đều ăn chay
trường, chẳng dám ăn
những đồ biển này nữa.
Đây là chuyện có thật,
lúc chết giống như hình
tướng những hải sản dưới
biển vậy, quả báo rành
rành hiện trước mắt cho
bạn coi. Tuy là
một tin tức trong xã
hội, tôi thấy những tiệm
bán hải sản ở Hương Cảng
vẫn ngồi đầy khách, thật
đúng là ‘ương ngạnh khó
giáo hóa’. Bồ Tát
gặp những chuyện như
vậy, hiện nay nên đem nó
đóng thành phim điện
ảnh, cho chiếu khắp nơi.
Nên dán vài tấm nói rõ
những quả báo này trong
tiệm bán đồ biển, để cho
mọi người xem, thật rất
đáng sợ! Kiếp đao
binh trong thế gian từ
đâu đến? Chính là
từ việc ăn thịt của
chúng sanh đấy.
Hiện nay
mọi người ai nấy đều chú
trọng thân thể khỏe
mạnh, muốn thân thể được
khỏe mạnh thì tốt nhất
là ăn chay, trong việc
ăn chay tốt nhất là ăn
rau cải sống. Hiện
nay tôi ăn rau cải sống,
đã ăn cả hai tháng nay
nên mọi người thấy tôi
rất ốm, đã ốm bớt đi.
Tôi nói với họ thân thể
chẳng khỏe, công việc
giao tiếp quá nhiều, tốt
nhất đừng kiếm chuyện
gặp tôi. Nhưng
trên thực tế là đang
thay đổi đời sống, lần
thứ nhất tôi thay đổi là
lúc bắt đầu ăn chay
trường, lúc đó thân thể
ốm, đại khái hai ba năm
sau đó thì thân thể khôi
phục lại bình thường.
Bây giờ làm một sự thay
đổi lần thứ nhi, ăn rau
cải sống, cả hơn hai
tháng tôi chẳng ăn cơm,
toàn ăn rau cải.
Buổi sáng ăn một chén
cháo, ăn hai cuộn rau,
một chén canh. Hôm
nay chúng ta có làm [món
này] không? Nếu có
làm, hãy mang vài cuộn,
chúng ta đem đến phòng
ăn mời lão hòa thượng
dùng. Chẳng có
dầu, chẳng có muối, hoàn
toàn là rau cải sống.
Tôi thường nghĩ, bạn coi
bò, dê ăn cỏ, thân thể
của nó cường tráng như
vậy, chúng nó chẳng ăn
dầu, muối, càng nghĩ
càng có lý. Các
bạn đồng tu giới thiệu
cho tôi, sau khi ăn hơn
hai tháng, ăn rất ngon
lành, dễ chịu, đích thật
có ích lợi.
Chúng ta
phải chú ý việc ăn uống,
đặc biệt là việc ăn uống
hiện đại. Tâm
người hiện đại chẳng
tốt, những địa phương
khác thì tôi không biết
còn tình hình ở Đài Loan
thì tôi biết, đồ ăn nuôi
heo toàn là thuốc hóa
học, thúc giục rút ngắn
thời gian sanh trưởng
của heo, làm cho heo lớn
lên nhanh chóng, sau sáu
tháng bèn giết lấy thịt.
Cho nên trong thịt heo
đều là các độc tố, chẳng
bình thường. Nói
thêm, hồi trước gia súc
đều được nuôi bên ngoài,
lúc chưa làm thịt thì
đời sống của nó rất tự
do, tự tại, tâm tình của
chúng nó rất thoải mái
vui vẻ. Hiện nay
những loài súc sanh này,
vừa sanh ra liền bị nhốt
trong lồng, cũng giống
như ở tù vậy, bị tù
chung thân mãi cho đến
khi bị giết làm thịt.
Bạn nói tâm tình của
chúng nó như thế nào?
Trong thịt của nó tràn
đầy chất độc, người ta
ăn vào làm sao không
sanh bịnh cho được?
Sanh ra những bịnh kỳ
quái. Hiện nay ăn
chay cũng phiền phức,
rau cải cũng có thuốc,
nghe nói gạo cũng có
chất hóa học gì trong đó
nên hạt gạo trông rất
đẹp đẽ, đều có độc tố,
đúng như trong kinh có
nói: ‘uống khổ, ăn độc’,
ngày nay chúng ta sống
cuộc đời như thế đó.
Nhà nông chúng ta ở Đài
Loan, họ ăn rau cải tự
mình trồng, tách rời với
những rau cải dành để
bán; họ nói rau cải dành
để bán không ăn được, có
chất độc, họ biết nên
rau cải có chất độc thì
bán cho người ta ăn.
Gạo cũng vậy, gạo của họ
ăn là gạo trồng riêng
ra, còn gạo để bán là
loại trồng riêng, đều
tách rời ra. Họ
bán những thức có độc
này cho người khác, bản
thân của họ cũng sẽ
chẳng tránh khỏi bị chất
độc làm hại, vì tâm họ
chẳng thiện.
Ngày nay
chúng ta cũng phải nói
là có duyên, gặp được
đồng tu giới thiệu mới
biết xú dưỡng
có thể hóa giải thuốc trừ
sâu. Nên những rau
cải chúng ta ăn hiện nay
đều được xử lý bằng xú
dưỡng, phân giải những
chất có độc trong rau
cải, cho nên đồ ăn sạch
sẽ hơn đồ ở ngoài.
Việc này có thể đẩy mạnh
rộng rãi, tôi muốn tìm
công xưởng chế tạo máy
móc này, hy vọng nó có
thể sản xuất hàng loạt,
chúng ta tìm cách để
giúp họ truyền bá, giới
thiệu. Có thức ăn
khang kiện, tâm lý thanh
tịnh, tâm lý từ bi, thân
tâm khỏe mạnh, chẳng có
một pháp nào không phải
là Phật pháp, pháp nào
cũng đều là Phật pháp.
Tốt lắm,
hôm nay đã hết giờ,
chúng ta giảng đến đây.
Tập 14 (Số 14-12-14)
Xin mở
kinh, Khoa Chú quyển
thượng, trang 167, xin
xem kinh văn:
Nhược
ngộ điền lạp tứ tình
giả, thuyết kinh cuồng
táng mạng báo
Nếu gặp kẻ
săn bắn buông lung thì
dạy rõ quả báo kinh
cuồng, mất mạng
Câu kinh này, hồi trước,
khi tôi đọc kinh này có
cảm xúc rất sâu.
Điền lạp tức là săn bắn,
tứ tình là buông lung,
mặc sức giết hại hết
thảy chúng sanh.
Phạm vi bao gồm vô cùng
rộng rãi, chẳng kể dùng
cách thức gì, có thể nói
là phương pháp rất
nhiều, mục đích đều nhằm
để bắt dã thú. Săn
bắn hoặc dùng lưới, thời
xưa dùng cung tên, ngày
nay thì dùng súng, số
lượng chúng sanh bị giết
hại cũng còn có hạn.
Nhưng chúng tôi đi bắt
cá, phần lớn người ta
bắt cá dùng lưới, một mẻ
lưới phóng ra cũng vẫn
có hạn. Ngày xưa
chúng tôi làm việc này
bằng cách quá độc ác,
chúng tôi dùng thuốc nổ
TNT để bắt cá, sau khi
thuốc nổ xong, cá chết
cả ngàn, cả vạn con,
chúng chẳng phải bị nổ
chết mà vì chấn động
chết. Tôi đi theo
cha tôi săn bắn hết ba
năm, tôi nhớ năm đó tôi
mười sáu, mười bảy, mười
tám tuổi. Đọc đoạn
kinh này xong [nhớ lại]
báo ứng của cha tôi
chính là như vậy.
Ông mất năm bốn mươi lăm
tuổi, lúc mất là kinh
cuồng mất mạng, tôi nhìn
thấy tận mắt, đó là quả
báo ngay trong đời này.
Lúc ông phát bịnh lên
thì trở thành điên
cuồng, người ốm nhom đến
da bọc xương, [nhưng]
sức lực rất mạnh mẽ,
mạnh đến mấy người cũng
cản không nổi. Khi
gặp chỗ có nước thì lao
đầu xuống nước, khi gặp
núi thì cắm đầu chạy lên
núi, do vậy đây là quả
báo của việc săn bắn.
Tôi đọc đoạn kinh này
xong bèn phát tâm ăn
chay, biết được sát
nghiệp quá nặng, đích
thân trải qua nên cảm
xúc vô cùng sâu đậm.
Sau đó thấy những gì nói
trong Phật pháp, hết
thảy chúng sanh vô thỉ
kiếp đến nay nhân quả
tuần hoàn, trong kinh
nói “nhân mạn bất đoạn”
(dây dưa không dứt),
nhiều đời nhiều kiếp báo
đền lẫn nhau dây dưa mãi
chẳng dứt. Tuy là
tạo tội nghiệp vì vô
tri, chẳng biết, nhưng
không thể nói vì chẳng
biết thì không có quả
báo, chẳng biết vẫn có
quả báo như thường.
Nếu sau khi học Phật, đã
hiểu những đạo lý này
xong mà vẫn tạo tác thì
phạm hai tội, tức là
thêm tội phá giới.
Giới luật căn bản trong
năm giới có cấm sát
sanh, đây là giới sát
sanh, lại thêm một tội
phá giới nữa.
Chẳng học Phật, chẳng
nghe đến Phật pháp, sát
sanh là ‘tánh tội’,
chẳng kể là bạn có thọ
giới hay không đều là có
tội. Chúng ta biết
được quả báo đáng sợ thì
nhất định sẽ chẳng dám
làm những việc này.
Tôi học Phật và biết
được đạo lý này xong bèn
ăn chay trường, phóng
sanh. Cả đời này
tôi làm những
chuyện thường gọi là tu
phước, tôi chỉ làm ba
việc: phóng sanh, in
kinh, giúp đỡ bịnh khổ.
Tôi chẳng có phước báo,
khả năng tiền bạc vô
cùng có hạn, có một chút
[tiền] cúng dường, tôi
làm những chuyện gì?
Phóng sanh, quyên tặng
cho bịnh viện, làm tiền
thuốc men cho người
nghèo, thứ ba là in kinh
bố thí. Những
chuyện khác tôi đều
chẳng làm. Tự mình
tôi không chủ trương xây
đạo tràng, thế nên cũng
có quả báo, chẳng có chỗ
ở, cả đời ở nhờ đạo
tràng của người khác,
cũng rất tốt, tự mình
chẳng có đạo tràng.
Nguyên nhân thực tế là
phước báo của mình quá
nhỏ, làm chuyện tốt nhỏ,
làm công đức ít, xây một
đạo tràng cần phải có
phước báo lớn, tôi chẳng
có phước báo lớn như
vậy. Lúc chưa học
Phật, tạo tội nghiệp quá
nặng, thời còn làm học
sinh [đã phạm tội] làm
thân Phật ra máu, tôi đã
kể cho các bạn rồi, đã
tạo tội nghiệp đọa địa
ngục A Tỳ; săn bắn cũng
là tội báo địa ngục A
Tỳ. Thế nên lúc
trước người ta nói tôi
đoản mạng, ngay cả Phật
Sống Cam Châu cũng nói
tôi đoản mạng, chẳng có
phước báo; người thì rất
thông minh, có một chút
trí huệ nhỏ, nhưng đáng
tiếc là chẳng có phước
báo, đoản mạng.
Ngài nói với tôi, tôi
nhìn nhận, tôi tin
tưởng, lúc trước tạo tội
nghiệp nên phải chịu
những quả báo này, đáng
phải nhận số mạng như
vậy, còn nói gì được
nữa? Thế nên tôi
cũng chẳng oán trời,
chẳng trách người.
Phật Sống Cam Châu nói
với tôi, Ngài nói:
“Những năm gần đây ông
giảng kinh thuyết pháp,
công đức ấy rất lớn!”.
Ngài nói: “Không những
ông có phước báo mà còn
rất trường thọ”.
Ngài Cam Châu nói những
lời này với tôi, năm sau
thì ngài vãng sanh.
Ngài là bạn cũ, là bạn
đồng tu cũ của tôi.
Nhược ngộ bội nghịch phụ
mẫu giả, thuyết thiên
địa tai sát báo.
Nếu
gặp kẻ ngỗ nghịch với
cha mẹ thì dạy rõ quả
báo trời đất đánh chết.
Việc này là
chẳng hiếu cha mẹ, không
những không hiếu thuận
mà còn phản nghịch cha
mẹ, làm thương tổn cha
mẹ bằng lời nói và hành
động. Thời xưa
cũng có nhưng còn ít;
hiện nay thì rất nhiều.
Lúc trước khi tôi còn đi
học ở Đài Trung, thầy Lý
kể cho chúng tôi một câu
chuyện, đây là chuyện
thật đời Thanh.
Lúc nói cách nay cũng
lâu, lúc đó ngài nói ra
địa danh bây giờ tôi
chẳng nhớ rõ. Đời
Thanh trước kia có một
đứa con giết cha, đây là
[tội] bội nghịch cha mẹ.
Lúc ấy triều đình nhà
Thanh hạ lịnh, tri huyện
ở địa phương ấy tức là
huyện trưởng bị cách
chức, còn phải ngồi tù,
phán tội phải ở tù.
Tại sao? Quan địa
phương chẳng dạy dân
chúng đàng hoàng, đây là
vì họ chẳng làm tròn
trách nhiệm, thế nên
người đứng đầu ở địa
phương ấy phải bị cách
chức, tra hỏi.
Tuần Phủ, tức là chức
tương đương như tỉnh
trưởng bây giờ, ghi chép
tội trạng, xử phạt thật
nặng. Quý vị là
quan viên địa phương,
quan địa phương được gọi
là Phụ Mẫu Quan, quý vị
làm sao dạy người ta làm
như vậy? Xử phạt
như vậy còn chưa đủ, còn
phạt thêm nữa, thành
quách khi trước đều có
tường bọc xung quanh
thành, vạt bớt một góc
thành để nói địa phương
ấy có một người đại bất
hiếu như vậy, đó là sự
sỉ nhục của toàn địa
phương ấy, là vạt bớt
một góc thành. Nói
“trước kia hoàng đế
chuyên chế”, hoàng đế
thật sự chịu trách
nhiệm, chứ không phải là
không chịu trách nhiệm.
Ông ta giao trách nhiệm
cho quan viên địa
phương, thị trưởng thay
thế ông ta lãnh trách
nhiệm giữ gìn phong tục
tốt lành, phải giáo hóa,
thực hiện cho tốt.
Hiện nay tin tức trên
báo chí thường đăng tải
ai chịu trách nhiệm?
Chẳng có người chịu
trách nhiệm. Dân
chủ, mọi người đều làm
chủ, mọi người làm chủ
[nhưng] mọi người chẳng
chịu trách nhiệm, cứ đẩy
trách nhiệm cho người
khác thì xã hội này làm
sao tốt được?
Lúc trước
pháp sư Diễn Bồi có một
lần lại đây, ngài hỏi
tôi: ‘Pháp sư Tịnh
Không, ông rốt cuộc là
tán thành quân chủ hay
là dân chủ?’. Tôi
nói: ‘Tôi tán thành quân
chủ’. Ngài nói
đùa: ‘Ông lạc hậu rồi’.
Tôi nói: ‘Tôi đâu có lạc
hậu. Nếu so sánh
kỹ quân chủ và dân chủ,
quân chủ có nhiều điểm
tốt hơn dân chủ.
Quân chủ chịu trách
nhiệm, còn dân chủ không
chịu trách nhiệm.
Tôi nói lời này chẳng
quá đáng, sự thật bày
trước mắt. Ông vua
muốn quyền lực của
mình tiếp nối mãi tới
đời sau nên ông ấy nhất
định phải làm cho hoàn
hảo; người tiếp ngôi của
ông, thái tử kế vị, vua
phải kiếm ông thầy ưu tú
nhất để dạy dỗ, uốn nắn
để cho thái tử nhận được
sự giáo dục hoàn hảo
nhất; biết thương yêu
quốc gia, thương yêu
nhân dân, biết cách đem
lại phước lợi cho nhân
dân thì chánh quyền của
họ mới có thể duy trì,
mới có thể truyền cho
con cháu. Nếu ông
vua làm không hoàn hảo
thì chánh quyền của ông
sẽ bị người khác đoạt
mất, thế nên ông phải
làm một cách kiêng dè,
thận trọng. Dân
chủ [thì ông tổng thống]
được bầu lên làm bốn
năm, bốn năm sau giao
cho người khác nên ông
ta chẳng suy tính kế
sách lâu dài. Thời
đại quân chủ, họ nghĩ
đến kế lớn trăm năm, họ
có thể nghĩ đến một trăm
năm thì họ có thể duy
trì một trăm năm, nếu họ
nghĩ đến hai trăm năm
thì họ có thể hưởng đến
hai trăm năm. Họ
không thể chỉ nghĩ đến
vài năm mà thôi, nếu chỉ
nghĩ đến vài năm thì
chánh quyền của họ không
khỏi bị lật đổ.
Chúng ta phải quan sát
sự thật một cách khách
quan.
Ông Tôn
Trung Sơn lật đổ chế độ
chuyên chế, xây dựng
cộng hòa, lý tưởng của
ông thật là vô cùng tốt
đẹp, tiếc là thọ mạng
quá ngắn, ý tưởng và
quan điểm của ông ta
tuyên dương chẳng đủ.
Ông xây dựng một chánh
đảng, dùng chánh đảng
này để thay thế cho một
gia tộc, lý tưởng và
quan niệm của ông là như
vậy. Tập hợp ưu
điểm của quân chủ và dân
chủ, tránh được khuyết
điểm của quân chủ và dân
chủ, tôi rất kính
ngưỡng, khâm phục ông
Tôn. Ông lập một
đảng chuyên chánh, trong
đảng đó đều do dân chủ
tuyển chọn ra, nhưng
chuyên chánh có cái hay
của quân chủ. Ông
chọn những ưu điểm trong
nước và ngoài nước, xưa
và nay, lược bỏ khuyết
điểm, dùng phương pháp
này để trị quốc.
Đế vương đời xưa [có
hình thức] là gia tộc,
một gia tộc này xúm lại
cai trị quốc gia; hiện
nay xây dựng một chánh
đảng, là muốn những nhân
tài có trí huệ trên toàn
quốc hợp lại với nhau để
cai trị một quốc gia,
dùng phương pháp này để
thay thế một gia tộc.
Cách suy nghĩ này rất
hay, chẳng phải là chánh
trị nhiều đảng.
Cách suy nghĩ rất tốt,
đáng tiếc là chẳng làm
nổi, người hiểu rõ lý
tưởng và quan niệm này
chẳng nhiều. Tại
sao chẳng thể phát huy
rộng rãi lý tưởng và
quan niệm này?
Truy tìm đến nguồn gốc
vẫn là một câu: chẳng
đọc sách thánh hiền.
Nếu có thể dùng tinh
thần giáo dục truyền
thống sẵn có của Trung
Quốc, lý tưởng và quan
niệm này của ông có thể
xây dựng được gốc rễ
vững chắc, đó thật là
điều may mắn của quốc
gia, dân tộc. Thế
nên chúng ta xem xét vấn
đề phải nhìn sâu, nhìn
xa, phải có nhãn quan
của lịch sử. Người
Trung Quốc nói ‘sử thật’
(sự thật rút tỉa từ lịch
sử), kinh luận là học
vấn, lịch sử là kiến
thức, thì bạn mới có thể
hiểu đại khái chân tướng
sự thật của vũ trụ nhân
sinh, mới có thể tránh
khỏi rất nhiều sai lầm,
thật sự vì nhân dân, vì
quốc gia, vì chúng sanh
tìm cầu hạnh phúc, như
vậy mới là người có trí,
có nhân từ.
Kinh điển
Phật giáo có thể nói là
điển tịch trí huệ rốt
ráo viên mãn, người có
thể hiểu rõ càng ít hơn.
Tại sao chẳng thể lý
giải? Nhất
định phải đào thải sạch
sẽ những thói hư tật
xấu, tham - sân - si -
mạn, thì mới có thể lý
giải, việc này quá khó
đi thôi! Có phàm
phu nào chẳng có tham,
sân, si? Nhà Nho
hiểu rõ đạo lý này, hy
vọng bạn có thể khắc
phục, đè nén thì được
rồi, họ chẳng kêu bạn
đoạn dứt. Mục đích
Phật pháp là dạy cho bạn
siêu việt Tam giới, muốn
siêu việt Tam giới nếu
không đoạn dứt thì không
làm nổi. Nhà Nho
chẳng siêu việt Tam
giới, nói cách khác, chỉ
giảng đến nhân, thiên.
Thiên vẫn là cõi trời
Dục Giới, còn chưa tới
cõi Sắc Giới, còn chưa
đoạn dứt Dục, chỉ dạy
bạn khống chế Dục, chẳng
để cho Dục tăng trưởng.
Có bao nhiêu đó thôi,
đừng để cho nó tăng
thêm, họ dạy như vậy.
Mục đích của Phật pháp
là phải siêu việt Tam
giới, muốn siêu việt Tam
giới thì nhất định phải
đoạn dứt. Chúng ta
hiểu rõ duy chỉ có đoạn
dứt phiền não thì trí
huệ Bát Nhã vốn sẵn có
trong tự tánh mới có thể
hiện tiền, nếu chẳng
đoạn dứt phiền não thì
chắc chắn [trí huệ]
chẳng thể hiện tiền.
Phật nói:
‘Hết thảy chúng sanh đều
có đủ trí huệ đức tướng
của Như Lai’, cho
nên hết thảy chúng sanh
cùng chư Phật Như lai
chẳng khác nhau.
Tại sao hiện nay trên
hình thức lại có sai
khác lớn lao như vậy?
Trí huệ đức tướng của
chúng ta có chướng ngại,
Phật chẳng có chướng
ngại. Chướng ngại
là gì? Vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước,
ba chướng ngại to lớn
này. Thế nên chúng
ta vốn có sẵn trí huệ
cứu cánh viên mãn, [bây
giờ] trí huệ chẳng còn
nữa, trí huệ biến thành
phiền não; vốn là chẳng
sanh chẳng diệt, cảnh
giới đại Niết Bàn, đại
Niết Bàn biến thành sanh
tử luân hồi, bạn nói có
oan uổng hay không!
Vốn có sẵn phước đức
viên mãn, hiện nay phước
đức biến thành nghiệp
chướng, sống những ngày
tháng đau khổ đều do
chẳng thể đào thải những
lớp chướng ngại này.
Thế nên lời
đức Phật dạy chúng ta là
lời tốt, lời thật, dạy
chúng ta ‘Diệt hết
tham sân si, siêng tu
Giới Định Huệ’, đây
là một con đường sống
sót, là một con đường
thoát ly lục đạo luân
hồi, con đường rộng lớn
thoát lìa khổ hải.
Những thứ nhân quả này,
chúng ta đọc xong phải
hiểu rõ, nhân gì sẽ tạo
ra quả báo gì.
‘Thiên địa tai sát’, bội
nghịch cha mẹ, chịu
những sự trừng phạt của
pháp luật thế gian này
là hoa báo, quả báo là ở
địa ngục. Những
bút ký của Trung Quốc
ngày xưa ghi những
chuyện này rất nhiều,
trong Chánh Sử cũng có
ghi chép, đều là sự
thật, chẳng giả.
Hiện nay người bội
nghịch cha mẹ rất nhiều,
hình như chẳng có quả
báo, chư vị còn trẻ
tuổi, hãy đợi thêm vài
năm nữa coi, coi có quả
báo hiện ra không?
Đã tạo ra nhân thì chẳng
thể nào không có quả
báo. Câu phía sau
này, chúng tôi đọc lên
càng có cảm nhận sâu
hơn.
Nhược ngộ
thiêu sơn lâm mộc giả,
thuyết cuồng mê thủ tử
báo.
Nếu gặp kẻ
đốt núi rừng, cây cối
thì dạy rõ quả báo cuồng
mê đến chết.
Lúc trước
Tân Gia Ba bị nạn khói
mù bao phủ, nghe nói Mã
Lai Á, Indonesia, khắp
nơi đều thiêu đốt rừng
núi. Phải biết,
trong hết thảy tạo tác
tội nghiệp, đốt rừng núi
là tội nghiệp nặng nhất.
Bạn nghĩ xem, một ngọn
lửa đốt lên có bao nhiêu
sanh linh phải mất mạng!
Còn nhiều hơn săn bắn
không biết gấp bao nhiêu
lần. Chúng ta dùng
phương pháp gì để săn
bắn cũng chẳng hại nhiều
chúng sanh bằng thiêu
đốt rừng núi. Khi
thiêu khu rừng này, số
chúng sanh bị sát hại
phải tính đến số triệu,
trăm triệu, những động
vật nhỏ này một con cũng
chẳng chạy thoát.
Thật ra tạo hết thảy tội
nghiệp cũng chẳng nặng
bằng việc này, đây là
trọng giới sát sanh.
‘Cuồng mê
thủ tử’, quả báo hiện
đời là hoa báo, quả báo
chắc chắn ở tại địa ngục
A Tỳ. Thọ tội ở
địa ngục A Tỳ, trong
kinh nói là vô số kiếp.
Vô số kiếp xong được
thoát ra, tương lai phải
đền mạng hết thảy những
chúng sanh bị giết hại,
không thể nói giết rồi
thì xong chuyện, đọa địa
ngục, thọ tội địa ngục
xong thì hết chuyện, vậy
thì quá tiện nghi cho
bạn. Thiếu tiền
phải trả tiền, thiếu
mạng thì phải đền mạng,
bạn nói nhân quả này
đáng sợ bao nhiêu.
Bạn giết một chúng sanh
tương lai phải đền một
mạng, giết hai thì phải
đền hai mạng, bạn giết
bao nhiêu thì tương lai
phải đền bấy nhiêu mạng.
Tu hành chứng quả cũng
không tránh được, không
thể nói tu hành chứng
quả rồi thì hết chuyện,
thì có thể thiếu nợ khỏi
trả tiền, thiếu nợ mạng
khỏi đền mạng, nếu vậy
thì chẳng phải Phật pháp
đã phá hoại định luật
nhân quả rồi sao?
Chư vị nên biết, đức
Phật Thích Ca Mâu Ni
thành Phật rồi vẫn còn
phải chịu quả báo ba
tháng ăn mã mạch
(lúa mạch dành cho ngựa
ăn).
Bạn nghĩ xem nhân quả
báo ứng, thành Phật rồi
cũng chẳng thể tránh
khỏi. Trong Cao
Tăng Truyện các bạn thấy
An Thế Cao, ngài phải
trả hai món nợ mạng ở
Trung Quốc, đời trước
ngộ sát người nên đời
này cũng bị người ta ngộ
sát, giết chết; chứng
minh cho chúng ta nhân
quả báo ứng tơ hào chẳng
sai. Ngài là người
đã chứng quả, người
chứng quả tự mình rõ
ràng, cam tâm tình
nguyện trở lại để đền
mạng, chịu cho người ta
giết, chịu trả một cách
rất vui vẻ vì nợ được
thanh toán, đã trả dứt.
Ngày nay
nếu chúng ta nói bị
người ta ăn cắp đồ, bị
người ta giựt, bị người
hại, trong kinh đức Phật
dạy ‘hãy nghĩ như mình
trả nợ’. Vì chúng
ta không có trí huệ,
chẳng có thần thông,
chẳng biết chuyện quá
khứ, trong tâm nghĩ trả
nợ, vui vẻ chẳng có một
tí gì oán hận. Bị
người ta gạt, bị người
ta hãm hại, phải nghĩ là
mình trả nợ, món nợ này
đến đây kết thúc.
Nói thật ra chẳng phải
là mình thiếu họ thì là
họ thiếu mình, không
phải là chuyện như vậy
hay sao? Tôi thiếu
họ, tốt lắm, tôi trả
hết. Họ thiếu tôi,
không cần nữa, đời sau
đừng đòi nợ nữa, cứ đòi
tới đòi lui, dây dưa
chẳng dứt! Thiếu
người ta thì trả họ,
người ta thiếu thì không
cần đòi, đỡ mắc công,
như vậy mới là cách làm
có trí huệ, thông minh.
Câu này không những
chúng ta phải ghi nhớ,
nên thường nói cho người
khác nghe, giết hại sanh
mạng chắc chắn là phải
đền mạng. Bạn mồi
lửa thiêu trụi rừng núi,
bạn có biết bạn đã giết
hại biết bao nhiêu sanh
linh hay chăng? Có
bao nhiêu con kiến, động
vật ở dưới đất?
Tương lai đọa vào cõi
súc sanh để đền mạng
chẳng bao giờ dứt.
Trong một đời, những tội
nghiệp tạo tác trong mấy
chục năm ngắn ngủi, vô
lượng kiếp cũng trả
chẳng hết, đáng sợ vô
cùng. Trong đời
này nếu chúng ta thật sự
giác ngộ, thật sự có trí
huệ, đời sống có gian
khổ cách mấy cũng không
sao cả, tuyệt đối chẳng
được lợi dụng người ta
mảy may. Nhất định
phải giữ tâm tốt, làm
việc tốt, tích đức tu
thiện, đời này hết rồi,
đời sau sanh đến chỗ
tốt, đời sau nhất định
sẽ không đọa vào tam ác
đạo, đọa vào tam ác đạo
thì dễ sợ lắm.
Có thể có
bạn đồng tu sẽ nói tôi
đã tạo những tội nghiệp
này thì phải làm sao?
Bản thân tôi là một thí
dụ rất tốt. Lúc
nhỏ trẻ tuổi háo ăn, ăn
thịt chúng sanh, thịt
của gia súc nuôi trong
nhà ăn không ngon, ăn
thịt rừng ngon hơn nên
ngày nào cũng đi săn
bắn. Thế nên chiêu
cảm báo ứng, quả báo
đoản mạng; đoản mạng là
quả báo hiện đời, quả
báo tương lai là đọa địa
ngục A Tỳ. Sau khi
ra khỏi địa ngục A Tỳ
thì phải trả từng món nợ
một, bạn đã tạo ra nhân
thì đâu có lý nào khỏi
phải chịu quả báo?
Nhưng Phật nói với chúng
ta chỉ cần bạn còn một
hơi thở thì bạn vẫn còn
cơ hội được cứu.
Tuy đã tạo tội nghiệp
đọa địa ngục A Tỳ, Phật
cũng còn cách cứu.
Vấn đề là bạn có chịu
tin hay không? Nếu
bạn không tin thì bạn
không có cách gì cứu
được; nếu bạn chịu tin
thì bạn vẫn được cứu.
Phật dạy: ‘Sám trừ
nghiệp chướng’, trong
kinh chúng ta đọc đến
vương tử A Xà Thế tạo
tội ngũ nghịch, giết
cha, giết mẹ, kết cấu
với Đề Bà Đạt Đa phá
hoại tăng đoàn, phá hòa
hợp tăng, Đề Bà Đạt Đa
làm thân Phật chảy máu,
hai người ác này.
Đến lúc lâm chung vua A
Xà Thế mới giác ngộ biết
được lúc trước đã tạo ra
tội lỗi, biết sai rồi,
hướng về Phật cầu sám
hối. Phật dạy ông
ta niệm A Di Đà Phật cầu
sanh Tịnh Độ, ông dùng
tâm chí thành, chân
thành sám hối, sức mạnh
của việc sám hối vượt
hơn nghiệp lực, ông vãng
sanh về Cực Lạc thế
giới. Vả lại phẩm
vị vãng sanh rất cao,
Phật nói ông ta vãng
sanh Thượng phẩm Trung
sanh. Người học
Phật chúng ta coi đến
chỗ này không phục, tạo
tội nặng như vậy thì Hạ
Hạ phẩm vãng sanh đã là
tốt quá rồi, làm sao có
thể Thượng phẩm Trung
sanh? Thế mới biết
sức mạnh của việc sám
hối chẳng thể nghĩ bàn.
Một niệm quay trở lại
thì người ấy là người
chí thiện, thật sự là
người thiện, ngạn ngữ
chúng ta thường nói:
‘Lãng tử quay về, vàng
cũng chẳng chịu đổi’,
ông ta thật sự đã quay
về, được vậy thì siêu
phàm nhập thánh.
Siêu phàm
nhập thánh, nói cho chư
vị biết, thì sẽ chẳng
thọ tội nghiệp ở địa
ngục nữa, có thể tránh
khỏi. Nợ có phải
trả không? Vẫn
phải trả. Làm thế
nào trả? Bồ Tát
thuyết pháp độ chúng
sanh là trả nợ.
Trong khi độ chúng sanh
cũng gặp rất nhiều sự
việc chẳng vừa ý, tất cả
đều là để trả nợ.
Giống như đức Phật Thích
Ca, ở vào địa vị Như Lai
độ chúng sanh, nhưng
trong đồ chúng xuất gia
của Ngài vẫn có Lục Quần
tỳ kheo, Ðề Bà Ðạt Ða,
mỗi ngày đều nhiễu loạn,
mỗi ngày đều gây rắc rối
cho Ngài, đây là trả nợ,
oán thân chủ nợ đời quá
khứ. Thế nên năm
xưa lúc đức Thế Tôn còn
tại thế đã biểu diễn,
làm gương cho chúng ta
thấy, lão nhân gia Ngài
đều chẳng tránh khỏi,
chúng ta là pháp sư xuất
gia hậu thế bị một số
người phao tin đồn, kiếm
chuyện, hủy báng, hãm
hại, đây là chuyện
thường thôi. Ðời
Minh, đại sư Hám Sơn còn
phải ngồi tù mấy năm.
Thiền Tông Lục Tổ Huệ
Năng đại sư phải lẩn
trốn trong nhóm thợ săn
hết mười lăm năm, Ngài
chân chánh là Bồ Tát
minh tâm kiến tánh,
chẳng phải là người
thường. Làm người
thấp kém, người làm công
trong nhóm thợ săn; nấu
cơm, giặt quần áo, chăm
sóc những người thợ săn
này, thời gian chẳng
ngắn, mười lăm năm.
Chịu đựng sự oan khuất
nhục nhã lớn dường ấy,
đây là tội nghiệp đời
trước, oán gia chủ nợ,
bạn chẳng thể nào không
trả nợ được. Từ
những chỗ này chúng ta
tưởng tượng đến đức Phật
trong kinh dạy những
chân tướng sự thật này,
nghiệp nhân quả báo tơ
hào chẳng sai, đúng như
lời nói
‘chẳng phải là không báo,
mà là thời giờ chưa đến’.
Thời tiết nhân duyên
cũng là nhân duyên quả
báo thật phức tạp, một
ngày nào đó sẽ gặp phải
duyên này, có một ngày
bạn phải thọ quả báo.
Câu sau:
Nhược ngộ tiền hậu phụ mẫu
ác độc giả, thuyết phản
sanh tiên thát hiện thọ
báo
Nếu gặp kẻ làm cha mẹ
trước hoặc cha mẹ sau mà
độc ác, thì dạy rõ quả
báo sanh trở lại hiện
đời bị roi vọt.
Ðây là trong thế gian
chúng ta gọi là cha
trước, mẹ kế, vì con cái
chẳng phải con ruột nên
thường ngược đãi.
Hiện nay nó còn nhỏ, bạn
ngược đãi nó, nó sẽ ghi
hận trong lòng, tương
lai khi bạn già, nó lớn
lên rồi, thì sẽ báo thù,
báo ứng hiện đời.
Thế nên Phật dạy chúng
ta một nguyên tắc chung,
cương lãnh chung, chúng
ta phải ghi nhớ
“đừng kết oán thù với hết
thảy chúng sanh”,
đây là nguyên tắc cương
lãnh chung. Thà
chịu bị người ta sỉ
nhục, hãm hại, chúng ta
nhất định không thể có
một ý tưởng báo thù, đời
này chúng ta mới có thể
siêu việt tam giới.
Nếu có một ý niệm oán
trời trách người, có một
ý niệm oán hận, nói cách
khác, thì bạn vẫn phải
trôi lăn trong lục đạo y
như cũ. Quan hệ
của bạn đối với những
oán thân chủ nợ này
chẳng có cách gì thoát
khỏi, cứ báo đền lẫn
nhau từng đời từng kiếp,
mỗi lần càng tàn khốc
hơn lần trước, bạn tạo
nên những tội nghiệp cực
nặng này vô cùng dễ sợ.
Nếu chư vị đọc nhiều kinh
Đại Thừa sẽ lông tóc
dựng đứng [vì sợ hãi].
Những tội nghiệp chúng
ta đã tạo trong quá khứ
chẳng những đời này, đời
này chúng ta tự biết
được, còn có đời quá
khứ, những tội nghiệp
tích lũy từ quá khứ vô
thỉ còn kinh khủng nữa!
Càng nghĩ càng dễ sợ,
càng nghĩ mới biết sự
việc này quan trọng, dễ
sợ lắm! Bạn phải
trôi lăn trong lục đạo,
oán thân chủ nợ vô lượng
vô biên, làm sao có ngày
tháng sinh sống thoải
mái được?
Do đó chúng ta bình tĩnh
quan sát thế gian này có
người nào không đau khổ?
Bất kể bạn ở trong thế
gian này hưởng giàu sang
đến mức nào, tuy bạn
hưởng giàu sang, oán
thân chủ nợ của bạn cũng
vẫn vây quanh bạn, quan
sát kỹ lưỡng thì thấy
ngày tháng của họ chẳng
thoải mái tí nào, chúng
ta phải rõ ràng, phải
minh bạch. Chúng
ta gặp được Phật pháp
nên mới tìm ra một con
đường sống sót, một lối
thoát, thoát khỏi sanh
tử luân hồi, tạm thời
thoát khỏi những oán
thân chủ nợ này, chẳng
phải là thoát khỏi vĩnh
viễn, chỉ là tạm thời
thoát khỏi. Sau
khi thoát khỏi, chúng ta
đến tây phương Cực Lạc
thế giới, đến đó làm Bồ
Tát, làm Phật, rồi mới
quay trở lại để trả nợ.
Trong kinh đức Phật nói
rất rõ ràng
‘Phật chẳng độ người không
có duyên’,
oán thân chủ nợ đối với
tôi đều có duyên, tương
lai tôi sẽ độ họ.
Từ đây có thể biết oán
thân chủ nợ nhiều cũng
không phải là không tốt,
cũng tốt, tương lai độ
chúng sanh nhiều; quay
trở lại giúp họ thành
Phật, giúp họ cũng có
thể thoát khỏi biển khổ,
câu sau cùng:
Nhược ngộ võng bổ sanh
sồ giả, thuyết quách
nhục phân ly báo.
Nếu gặp kẻ
đặt lưới, giăng bẫy để
bắt các sinh vật còn non
yếu thì dạy rõ quả báo
cốt nhục chia lìa.
Ðây cũng là việc tôi
đích thân từng trải, tôi
đã làm chuyện này, chịu
báo ứng này. Trong
đời tôi, người thân
không thể đoàn tụ.
Lúc mở quyển kinh này
ra, tôi tạo cái nhân
này, chịu quả báo này,
vô cùng rõ ràng, thật là
minh bạch, đích thân
trải qua nên cảm thọ vô
cùng sâu đậm. Xem
tiếp đoạn dưới:
Nhược ngộ
hủy báng Tam Bảo giả,
thuyết manh, lung, âm, á
báo
Nếu gặp kẻ hủy báng Tam
Bảo thì dạy rõ quả báo
đui, điếc, câm, ngọng
Những lời
này đức Phật nói trong
kinh đều là nói về hoa
báo, quả báo là ở địa
ngục. Chúng ta gộp
câu dưới đây xem một
lượt:
Ngược ngộ khinh pháp mạn
giáo giả, thuyết vĩnh xử
ác đạo báo
Nếu gặp kẻ khinh chê
giáo pháp thì dạy rõ quả
báo ở mãi trong ác đạo.
Chúng ta gộp hai câu này
để giảng. Coi
thường Phật pháp, chểnh
mảng việc hoằng pháp,
‘Giáo’ là hoằng pháp lợi
sanh, dùng tâm khinh mạn
đối với những chuyện
này; nói cách khác,
chẳng coi trọng.
Tại sao lại có quả báo
nặng nề như vậy?
Từ Phật pháp chúng ta
cũng có thể liên tưởng
đến thế pháp, trong thế
pháp thì giáo dục là căn
bản, căn bản của hạnh
phúc cá nhân, căn bản
của gia đình mỹ mãn, căn
bản của xã hội an định,
căn bản của hòa bình thế
giới; nếu bạn phá hủy
căn bản thì thế gian này
làm sao chẳng loạn cho
được? Sự giáo học
của nhà Nho nói thật ra,
chánh sách, phương
hướng, mục tiêu của giáo
dục Trung Quốc là do Hán
Võ Ðế chế định.
Quốc gia lấy chuyện này
làm tông chỉ giáo học,
mãi cho đến Mãn Thanh,
triều đại không ngừng
biến đổi nhưng chánh
sách giáo học của Trung
Quốc chẳng có thay đổi,
suốt cả hai ngàn năm
không thay đổi.
Vào một lúc nào đó nếu
quốc gia thật sự chấp
hành, có thể làm thêm
vài phần thì quốc thái
dân an; nếu chẳng coi
trọng thì thiên hạ đại
loạn, có thể thấy chứng
cớ rất rõ ràng trong
lịch sử. Trong
‘Học Ký’ có nói
‘Xây dựng đất nước, cai
trị nhân dân, giáo học
đứng hàng đầu’,
chẳng sai tí nào.
Xây dựng một quốc gia,
một chánh quyền, lãnh
đạo nhân dân toàn quốc
thì việc gì quan trọng
nhất? Giáo dục,
giáo học đứng đầu.
Nếu khinh thường giáo,
[khinh] mạn pháp thì vấn
đề sẽ rất nghiêm trọng.
Từ xưa đến nay Trung
Quốc chẳng dùng ‘pháp’
để trị quốc, người Tây
phương hiện nay nói về
‘pháp trị’, người Trung
Quốc chúng ta cao minh
hơn họ, người Trung Quốc
dùng ‘lễ trị’. Từ
xưa đến nay Trung Quốc
nói về ‘Ðạo, Ðức, Nhân,
Nghĩa, Lễ’, dùng năm thứ
này để trị thiên hạ, trị
quốc. ‘Lễ chi
dụng, hòa vi quý’, Phật
pháp chúng ta nói về
‘Lục Hòa kính’, họ tuy
không nói đến Lục Hòa,
ít nhất thì họ cũng nói
về Tam Hòa. Ngày
nay chúng ta đến Bắc
Kinh thăm viếng Cố Cung
của triều nhà Thanh, cố
cung này trải qua ba
triều Nguyên, Minh,
Thanh, hoàng đế của ba
triều đại này đều ở nơi
ấy, suốt bảy trăm mấy
năm. Ngôi kiến
trúc chánh của cố cung,
nhân gian chúng ta gọi
là ‘Kim Loan Ðiện’, thật
ra chẳng gọi là Kim Loan
Ðiện, mà gọi là Thái Hòa
Ðiện, nói đến ‘Hòa’.
Phía sau Ðiện Thái Hòa
là Ðiện Trung Hòa, sau
nữa là Ðiện Bảo Hòa.
Bạn nghĩ xem có ý nghĩa
gì? Ðế vương có
trí huệ, thông minh,
dùng Hòa để trị thiên
hạ. Ý nghĩa này
sâu rộng vô cùng, cho
nên họ có thể kéo dài
hai trăm sáu mươi mấy
năm, chẳng phải là không
có đạo lý. Nếu
những hoàng đế cuối
triều Thanh như Từ Hi
còn giữ nguyên lý nguyên
tắc của tổ tiên thì ngày
nay [có lẽ] vẫn còn là
thiên hạ của triều nhà
Thanh, vẫn còn đại Thanh
quốc, làm sao có thể mất
nước được? Vô cùng
đáng tiếc, con cháu cuối
đời đều quên hết giáo
huấn của tổ tông, mặc
tình phóng túng nên mới
mất nước.
Cho nên căn cứ trên
nguyên lý và nguyên tắc
của giáo dục Trung Quốc
thì một triều đình xây
dựng có thể kéo dài ngàn
năm, muôn đời, chỉ cần
bạn làm theo thì người
dân ai nấy đều hưởng
phước, chẳng nghĩ đến
phải lật đổ chánh quyền.
Tại sao? Chánh
quyền quá tốt, chánh phủ
quá tốt, được dân cả
nước ủng hộ. Nếu
bạn làm không được thỏa
mãn, trái nghịch nhân
tâm thì người dân mới
tạo phản. Nếu bạn
có thể thuận theo nhân
tâm, có thể hết thảy đều
yêu dân như con, hết
thảy đều chiếu cố rất
chu đáo, yêu mến họ, lo
lắng cho họ, dốc hết tâm
lực để chiếu cố đời sống
của họ, làm sao không
được nhân dân ủng hộ?
Chánh quyền như vậy sẽ
[duy trì] ngàn năm, muôn
đời, là lẽ đương nhiên.
Nếu bạn chẳng yêu nhân
dân, bạn chà đạp nhân
dân, chẳng bảo hộ nhân
dân, chẳng lo cho sự
sống còn của nhân dân
thì nhân dân đương nhiên
sẽ tạo phản. Lịch
sử là một tấm gương sáng
rõ ràng, kinh luận là
học vấn, lịch sử là giám
sử
,
là chứng minh cho chúng
ta.
Giáo dục của nhà Phật
đối với ảnh hưởng trị
loạn trong xã hội Trung
Quốc cũng vô cùng rõ
ràng. Các triều
đại Trung Quốc, triều
đại nào hưng vượng nhất
thì Phật pháp hưng
thạnh, triều đại nào suy
bại nhất thì Phật pháp
cũng suy bại, trong ấy
có nhân quả liên đới lẫn
nhau. Tại sao lại
có hiện tượng này?
Phật pháp dạy người việc
thiện. Phật pháp
hưng vượng, nhân tâm
lương thiện; Phật pháp
suy bại, nói cách khác,
người tin Phật ít, người
thiện ít, tâm thiện ít
thì người ác sẽ nhiều.
Thế nên sau khi Phật
pháp truyền đến Trung
Quốc, những vua chúa các
triều đại Trung Quốc
chẳng có một ai không
hết lòng nỗ lực để học
tập, phát triển hoằng
dương Phật pháp, giáo
dục nhà Phật phổ biến
đến nhân gian, tạo nên
phong khí tốt đẹp trong
xã hội. Người
người đều biết nhân quả
báo ứng thì khởi tâm
động niệm tự nhiên biết
thâu liễm, chẳng cần
pháp luật. Ðây
tuyệt đối không phải là
chánh sách ngu dân;
tuyệt đối chẳng phải
lường gạt lão bá tánh,
trong ấy có chân lý,
chân tướng sự thật.
Câu kế tiếp:
Nhược ngộ
phá dụng Thường Trụ giả,
thuyết ức kiếp luân hồi
địa ngục báo.
Nếu gặp kẻ phá hoại của
Thường Trụ thì dạy rõ
quả báo ức kiếp luân hồi
nơi địa ngục.
‘Phá dụng Thường Trụ’,
phía trước đã nói đây là
thuộc về giới trộm cắp.
Trộm vật thường trụ,
trong kinh đức Phật nói
tạo tội nặng gì Phật, Bồ
Tát cũng có thể cứu, chỉ
có trộm đồ thường trụ
thì Phật không thể cứu.
Nếu chúng ta phạm tội
này thì phải làm sao?
Tội này rất dễ phạm.
Chúng ta trộm cắp, trộm
vật của một người thì
kết tội nhẹ, tương lai
trả nợ thì chỉ trả một
người. Nếu trộm đồ
của quốc gia thì rất
phiền phức, tương lai
trả nợ thì phải trả hết
những người trong nước
đó, họ đều là chủ nợ.
Tài vật của quốc gia từ
đâu đến? Ðến từ
tiền thuế nhân dân đóng
thuế. Thế nên
người nào cũng là chủ
nhân, tương lai trả nợ
thì bạn trả cho từng
người. Trung Quốc
có mười ba ức người,
mười ba ức người này đều
là chủ nợ của bạn, bạn
phải trả nợ ‘mệt nghỉ’.
Thường trụ trong nhà
Phật càng ghê gớm hơn
nữa, nhưng chư vị phải
biết hiện nay sự thật
chẳng phải vậy.
Lúc trước tôi giảng kinh
ở Ðài Loan có một lão cư
sĩ, cụ đã qua đời, vãng
sanh nhiều năm rồi.
Có một lần cụ đặc biệt
mời tôi ăn cơm, chỉ mời
một mình tôi, chỉ có hai
người chúng tôi vào tiệm
ăn. Tôi nói: “Lão
cư sĩ hôm nay mời tôi có
chuyện gì không?”
Cụ nói: “Tôi có một vấn
đề rất nhức đầu muốn hỏi
pháp sư.” Tôi nói:
“Vấn đề gì?”. Cụ
nói: “Phá hòa hợp Tăng,
ăn cắp đồ của Thường Trụ
phải đọa địa ngục A Tỳ,
vĩnh viễn chẳng thể
thoát thân, phải làm sao
đây?” Nghe xong
tôi cười và nói: “Cụ ở
chỗ nào nhìn thấy phá
hòa hợp Tăng, cụ thấy ở
đâu?” Tôi vừa hỏi
như vậy, cụ suy nghĩ một
lát rồi cũng đờ người
ra. Tôi nói: “Cả
đời tôi đi giảng kinh
thuyết pháp ở nhiều nơi,
tôi chưa từng gặp Tăng
Ðoàn hòa hợp.” Tại
sao vậy? Người
xuất gia đều ở đó cãi
lộn, đấu tranh.
Tôi nói: “Cụ ở đâu tìm
được một Tăng Ðoàn hòa
hợp?” Vật thường
trụ hiện nay là vật
thường trụ gì?
Chùa miếu đó là ‘nhà’
của người đó, đó không
phải là thập phương
thường trụ, chúng ta đến
nơi đó quải đơn
cũng không được, họ chẳng
cho phép, vậy thì đâu
phải là vật thường trụ?
Ðó là nhà của người đó.
Tôi vừa nói xong thì cụ
ấy mới vỡ lẽ. Tôi
nói: “Việc phá hòa hợp
Tăng đó chẳng phải là
‘phá hòa hợp Tăng’ [theo
đúng ý nghĩa], mà là phá
nhà của người đó”; trộm
vật thường trụ là trộm
vật trong nhà người đó,
tội đó chẳng có nặng cho
lắm. Có ba người,
năm người trú trong chùa
ấy thì tương lai trả nợ
cho ba, năm người.
Tôi nói: “Cả đời tôi
chưa từng gặp Tăng đoàn
hòa hợp, chưa gặp đạo
tràng thập phương thường
trụ, chưa từng gặp”.
Lại nói “Nếu cụ gặp thì
nói cho tôi biết”.
Sau đó cụ suy nghĩ một
lát cũng nói chưa từng
gặp qua. Tôi nói:
“Vậy thì được rồi, chúng
ta hãy dùng cơm”.
Thế nên hiện nay miếu
gọi là miếu của con
cháu, miếu nhỏ, đã biến
chất rồi, chẳng phải
thập phương thường trụ.
Tương lai Cư Sĩ Lâm ở
đây, Làng Di Ðà xây
xong, đó là thập phương
thường trụ. Nếu
trộm cắp đồ vật ở trong
ấy thì kết tội cũng
giống như đã nói trong
kinh. Ðạo tràng Cư
Sĩ Lâm ở Tân Gia Ba tuy
là do cư sĩ tại gia tạo
dựng, nhưng đạo tràng
này là thập phương
thường trụ, bốn chúng đệ
tử trong nhà Phật đều có
thể quải đơn, đều sẽ
không từ chối. Sau
khi Làng Di Ðà xây dựng
xong thì còn thù thắng
hơn nữa. Cư sĩ Lý
Mộc Nguyên nói với tôi,
bất cứ người niệm Phật ở
quốc gia, địa phương
nào, người xuất gia cũng
vậy, tại gia cũng vậy,
chỉ cần xin được quyền
cư trú hợp pháp ở Tân
Gia Ba thì đạo tràng này
đều sẽ cung ứng [chiếu
cố]. Bạn ở đây
thật thà niệm Phật, tứ
sự cúng dường [đều đầy
đủ], cúng dường cho đến
khi bạn vãng sanh, đây
là thường trụ, chân
chánh là thập phương
thường trụ. Cư Sĩ
Lâm, các bạn xem trai
đường ở tầng dưới, mỗi
ngày ba bữa cung ứng
theo lối ăn tiệc Lưu
Thủy
,
ăn cơm khỏi phải trả
tiền, chẳng kể bạn tin
Phật hay không tin Phật,
bạn đến thì đều có cơm
ăn. Thậm chí nếu
bạn báng Phật, hủy báng
Phật pháp, khi bạn bước
vào cửa thì cũng để cho
bạn dùng cơm, tuyệt đối
chẳng từ chối.
Chúng tôi thấy ở Cư Sĩ
Lâm có rất nhiều người
theo đạo khác, đạo Cơ
Đốc, đạo Thiên Chúa,
người ở gần đây đều tới
dùng cơm, đều cúng dường
tất cả, cúng dường một
cách bình đẳng, đây là
thập phương thường trụ.
Thế nên ở nơi đó mỗi
ngày có [cung ứng] ba
bữa ăn, bạn hãy ăn tự
nhiên, nhưng bạn không
thể lén lút lấy gạo, đồ
ăn ở đó đem về nhà, như
vậy thì rắc rối ghê lắm,
sự kết tội ấy là thập
phương thường trụ kết
tội, chẳng thể được.
Người ta mở tiệm ăn
chay, quán chay, bạn vào
trong đó ăn cắp thì tội
đó rất nhỏ, chẳng sao
cả. Cư Sĩ Lâm là
thập phương thường trụ,
sự kết tội ở đó sẽ rất
nặng.
Thế nên ngày nay chúng ta
gặp được thập phương
thường trụ thì thật chỉ
có Cư Sĩ Lâm mà thôi.
Họ chỉ có một điều kiện,
bạn chân tâm niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ thì bạn
có thể thường trú ở đạo
tràng ấy. Nhưng
người hiện nay không
thật thà, vì mục đích
ngăn ngừa tệ đoan, có
một số người giả vờ đến
đó niệm Phật, tiếp nhận
cúng dường thì chúng ta
đã bị gạt, bị lừa rồi
sao? Thế nên luật
lệ ở đó là khi bạn đến
Niệm Phật Đường để niệm
Phật, những người cư trú
ở đó phải điểm danh,
liên tiếp ba lần không
có mặt thì sẽ mời bạn
rời khỏi, mời bạn đi
khỏi, ở đó chẳng nhận
cho bạn cư trú nữa.
Bạn phải đến Niệm Phật
Đường, một khóa cũng
không thiếu thì thường
trụ ở đó sẽ hoan nghinh,
cúng dường bạn; bạn thật
sự vì sanh tử, thật sự
muốn thoát ra khỏi tam
giới, thật sự muốn cầu
sanh Tịnh Độ, họ hoan hỷ
cúng dường cho bạn, thế
nên duyên này vô cùng
thù thắng.
Lúc
chúng tôi giảng kinh Hoa
Nghiêm đã có nói với chư
vị, Tỳ Lô Giá Na Phật
xây dựng Hoa Tạng thế
giới, cúng dường và
thành tựu cho những
người tu hành; A Di Ðà
Phật xây dựng Cực Lạc
thế giới giúp cho những
người niệm Phật, thành
tựu cho họ làm Phật.
Ngày nay Cư Sĩ Lâm thành
lập đạo tràng này để
thành tựu cho những
người niệm Phật ở mọi
địa phương trên thế
giới, giúp cho họ vãng
sanh Tịnh Ðộ, chẳng thể
nghĩ bàn. Ðây thật
sự là đạo tràng hy hữu
khó gặp trên thế giới.
Thế nên vật thường trụ
chúng ta phải hiểu rõ,
nhân quả trong ấy chẳng
thể nghĩ bàn.
Nhược ngộ ô phạm vu tăng
giả, thuyết vĩnh tại súc
sanh báo
Nếu gặp kẻ ô nhục phạm
hạnh và vu báng Tăng Già
thì dạy rõ quả báo ở mãi
trong loài súc sanh
‘Ô’ là ô nhiễm, trong
Phật pháp là phạm tội
dâm dục. ‘Vu’ là
hủy báng, hủy báng người
xuất gia, đây là ‘vĩnh
tại súc sanh báo’.
‘Vĩnh tại súc sanh báo’
cũng là sau khi chịu báo
trong địa ngục xong rồi
thọ súc sanh báo, quả
báo này chắc chắn là
trong địa ngục.
Thanh Liên pháp sư trong
đoạn văn này dẫn ra một
đoạn trong ‘Thắng Thiên
Tử kinh’ nói đến việc
phó chúc chúng ta lưu
thông bộ kinh này, ‘Nếu
có pháp sư lưu thông
kinh này’, lưu thông
nghĩa là như thế nào?
Có phải là chúng ta in
ra nhiều một chút rồi
đem tặng cho người ta
thì gọi là ‘lưu thông’?
Chẳng phải, phạm vi đó
quá nhỏ hẹp. Y
giáo phụng hành mới gọi
là lưu thông, chúng ta
phải làm gương cho người
ta coi, đó gọi là lưu
thông, vậy mới hữu dụng,
mới thật sự có lợi ích
cho chúng sanh.
Ðây là việc mà trong
kinh thường nói đến: thọ
trì, đọc tụng, vì người
diễn nói. Diễn là
biểu diễn, làm ra cho
người ta coi, chân chánh
là y giáo phụng hành,
triệt để y giáo phụng
hành. Chỗ có pháp
sư, có kinh điển, có đạo
tràng chính là chỗ có
chư Phật Như Lai, công
đức lợi ích này Phật, Bồ
Tát cũng nói chẳng hết,
chúng ta phải hiểu đạo
lý này. Xem tiếp
kinh văn:
Nhược ngộ thang hỏa trảm
chước thương sanh giả,
thuyết luân hồi đệ
thưởng báo
Nếu gặp kẻ nấu, nướng,
chém, chặt, hoặc đả
thương sanh vật, thì dạy
rõ quả báo phải luân hồi
đền trả lẫn nhau
Phía dưới nói về tạp
nghiệp báo, phía trên
[những gì] chúng ta nhìn
thấy đều là ác nghiệp.
Ðọc xong chúng ta cảm
khái muôn vàn, đều đã
từng tạo. ‘Thang
hỏa’ là gi? Lấy
thịt chúng sanh đem nấu.
Lúc xắt thịt thì dùng
dao khứa từng miếng,
‘trảm chước’. Ngày
nay chúng ta sát hại
chúng sanh, ăn thịt
chúng sanh, trong kinh
đức Phật nói
‘Người chết làm dê, dê
chết làm người’,
tương lai chúng ta chết
đi đọa vào nẻo súc sanh,
chúng nó sanh làm người
thì cũng sẽ chặt, chém
chúng ta ra từng miếng
mà ăn, ‘quả báo luân hồi
đền trả lẫn nhau’.
Ngày nay chúng ta ăn
thịt nó, tương lai nó ăn
thịt chúng ta, cứ đền
trả lẫn nhau dây dưa
chẳng dứt. Hiện
nay tai nạn trên thế
gian nhiều như vậy là vì
nguyên nhân gì?
Sát nghiệp quá nặng.
Không những các chúng
sanh này ăn thịt, mà còn
ăn sống nữa, bạn nói vậy
thì làm sao được!
Hiện nay tại sao tai nạn
xảy ra nhiều gấp mấy lần
lúc trước? Chúng
ta bình tĩnh nghĩ thử
xem, năm chục năm, sáu
chục năm về trước, lúc
kháng chiến và thời gian
trước đó, đây là việc
tôi đích thân trải qua.
Lúc đó đời sống nhân dân
rất khổ, ở thôn quê
khoảng một tháng mới bán
thịt một lần, đâu phải
ngày nào cũng có thịt mà
ăn? Là việc chẳng
thể nào có được.
Cả mấy làng một tháng
mới hợp lại làm thịt một
con heo. Lúc làm
thịt heo thì tìm một cây
cao, trên cây để một
cành tre, trên cành tre
treo một miếng giấy
vàng, mọi người nhìn
thấy thì biết ngày hôm
ấy có bán thịt ở đó, mới
đi đến đó mua nửa cân,
một cân thịt, mỗi tháng
mới ăn thịt một lần.
Chỉ có vào dịp tết thì
mới có thịt ăn mỗi ngày,
do đó con nít đều mong
cho đến tết. Hiện
nay thì mỗi ngày đều là
tết, mỗi ngày đều ăn
thịt, mỗi ngày đều sát
sanh, tai nạn quả báo
bèn lập tức hiện tiền.
Chúng ta phải bình tĩnh
mà quan sát, mà suy tư,
thì sẽ tìm ra nguyên
nhân thật sự.
Thiên tai nhân họa xảy
ra dồn dập không dứt,
nhìn thấy mà ghê sợ,
chẳng biết nguyên nhân,
như vậy là ngu muội, vô
tri.
Không tin lời thánh nhân
thế gian, xuất thế gian
nói, chẳng đọc sách
thánh hiền, chẳng tin
lời thánh hiền nói, cho
rằng tự mình thông minh
trí huệ hơn người xưa,
người xưa lạc hậu rồi.
Trí huệ, thông minh của
người hiện nay vượt trội
hơn người xưa quá nhiều,
người xưa đốt đèn dầu
đâu có sáng bằng đèn
điện hiện nay?
Người hiện nay thông
minh hơn người xưa, họ
nói rất hùng hồn, nghe
rất có đạo lý, nhưng
thật ra chẳng có đạo lý.
Trí huệ thông minh của
người xưa có thể phát
triển kỹ thuật khoa học
như ngày nay hay chăng?
Họ có khả năng này, có
trí huệ này. Tại
sao không làm? Họ
có đại đạo lý của họ.
Nếu hai ngàn năm trước
đã bắt đầu làm thì thế
giới này đã sớm hủy diệt
từ lâu rồi. Thế
nên họ chẳng chịu phát
triển, hy vọng người đời
trụ ở thế gian lâu dài,
an ổn, sống đời sống
chân chánh của con
người. Người hiện
nay chẳng sống cuộc đời
con người, mà là sống
làm nô lệ cho cơ giới,
khoa học, kỹ thuật, chứ
đâu phải là sống đời con
người? Ý vị tình
người chẳng còn nữa,
ngay cả nằm mộng bạn
cũng chẳng nghĩ ra.
Chúng ta đọc sách cổ
xưa, bạn hãy coi văn
chương, tác phẩm văn học
của người xưa, người
thuở xưa sống trong tình
thơ ý họa, đẹp đẽ biết
bao! Ðời sống của
con người hiện nay, sinh
sống ở đâu? Trong
yêu ma quỷ quái.
Tôi chẳng tiếp xúc, lâu
lâu nhìn thấy những hình
ảnh ca vũ trên TV, đó là
gì? Yêu ma quỷ
quái. Âm thanh ấy
giống như quỷ khóc, sói
tru, [họ] sống cuộc đời
như vậy. Họ đâu có
hưởng thụ gì đâu, chúng
tôi nhìn thấy rất tội
nghiệp cho họ, hoàn toàn
là điên cuồng, giống như
hút ma túy, chích
morphine nên trở thành
như vậy, đâu có phải là
hình dáng của con người
nữa? Chẳng bình
thường tí nào. Thế
nên chúng ta nhất định
phải cảnh giác, cảnh
giác một cách cao độ.
Chúng ta làm việc trong
nhà bếp, đọc tới câu này
có thể nào chẳng kinh
hồn hoảng vía ư?
Ðọc qua đoạn này trong
kinh Ðịa Tạng thì nhất
định sẽ chẳng dám ăn
thịt nữa, chẳng dám sát
sanh nữa. Chúng ta
học Phật, tuy là mình
hiểu được đạo lý này,
người nhà chẳng tin, họ
vẫn còn muốn ăn thịt;
mỗi ngày đều phải cắt xẻ
cho họ, vẫn còn chặt
thịt, vẫn phải nấu nướng
cho họ thì phải làm sao?
Tôi khuyên bạn, tốt nhất
mỗi ngày niệm một cuốn
kinh Ðịa Tạng hồi hướng
cho người nhà. Bạn
có tâm chân thành, Tam
Bảo gia trì, tương lai
tâm niệm của họ sẽ từ từ
chuyển đổi trở lại, chân
thành có thể cảm động
con người. Dùng
tâm chân thành thay thế
cả nhà, cả nhà đều là
oán thân chủ nợ, tôi
chẳng ăn nhưng phải làm
thay cho họ, như vậy
không phải là oán thân
chủ nợ ư? Thế nên
bạn phải thay họ hồi
hướng, sám hối, một ngày
nào đó họ sẽ cảm động,
họ sẽ quay lại.
Nếu họ không thể quay
lại, chẳng cảm động, đó
là vì tâm chân thành của
chúng ta chẳng đủ, sức
lực của chúng ta chưa
đạt đến mức, phải tự
trách mình. Nhất
định phải tìm thời gian
để sám hối thay họ, lạy
Ðịa Tạng Bồ Tát nhiều
thêm, có thể lạy ba trăm
lạy mỗi ngày, một ngàn
lạy mỗi ngày, dùng tâm
chí thành cầu sám hối
thì mới tiêu nghiệp
chướng. Hồi hướng
công đức bạn tu được cho
những chúng sanh ấy, hồi
hướng gia trì cho họ, hy
vọng họ sớm được sanh
đến cõi lành. Việc
hồi hướng thứ nhì hy
vọng người nhà có thể
tiêu trừ nghiệp chướng,
khai trí huệ, dứt ác, tu
thiện, vĩnh viễn chẳng
ăn thịt chúng sanh.
Như vậy bạn hành hạnh Bồ
Tát ngay trong gia đình
bạn, gia đình chính là
đạo tràng của bạn.
Ðộ chúng sanh thì độ
người nhà trước, sau đó
độ thân quyến, bạn bè,
hàng xóm, bạn phải làm
ra cho người ta thấy.
Thế nên học Phật mà
người nhà không được độ
thì bạn chẳng có thành
tựu gì hết, bạn thành
tựu rất có hạn.
Nếu bạn có thể cảm động
người nhà của bạn thì sự
học Phật của bạn mới kể
là có một chút thành
tựu, có một chút thành
tích. Nếu người
nhà của bạn không thể
cảm động thì bạn chẳng
có thành tích gì đáng
nói.
Nhược ngộ phá giới phạm
trai giả, thuyết cầm thú
cơ ngạ báo’
Nếu gặp kẻ phá giới phạm
trai thì dạy rõ quả báo
làm thân cầm thú đói
khát
Việc phá giới thì mọi
người đều biết.
‘Phạm trai’, cái gì gọi
là ‘trai’? Hiện
nay một số người cứ
tưởng ăn chay nghĩa là
‘trai’, ăn chay, thật ra
là hiểu sai rồi.
‘Trai’, trong nhà Phật
chúng ta gọi là ‘quá
trung bất thực’ (không
ăn quá giữa ngày), chẳng
phải là quá ngọ (quá 12
giờ trưa), quá ngọ cũng
sai. Hiện nay một
số người gọi là ‘trì
ngọ’, nói như vậy không
đúng, quá trung bất
thực, quá trung [nghĩa
là quá giữa ngày].
Nếu dùng chữ ‘ngọ’, giờ
ngọ là từ 11 giờ tới 1
giờ trưa, giờ ‘ngọ’ dài
hai tiếng đồng hồ.
[Phải nói là] không ăn
quá giữa ngày. Thế
nên người trì trai hiện
nay tốt nhất là phải
dùng lịch thiên văn, vì
thời điểm ‘giữa ngày’
đều khác nhau, thời điểm
này đều có xê xích từng
ngày, lịch thiên văn là
chính xác nhất.
Thời điểm giữa ngày vào
lúc mấy giờ, mấy phút,
mấy giây, sau giữa ngày
bạn không thể ăn thì mới
thật sự là ‘trì trai’.
Lúc trì trai mà phạm
trai (tức là ăn quá giữa
ngày) thì có tội.
Phật, Bồ Tát trì trai là
để cho chúng sanh học
theo, người thế gian
chẳng ai không tham ăn,
mỗi ngày ăn ba bữa, còn
phải ăn điểm tâm, ăn
buổi tối, đây đều là
lỗi. Trong vấn đề
ăn uống, không hay không
biết lại tạo ra rất
nhiều tội nghiệp, họ
chẳng biết. Thế
nên người xuất gia thị
hiện làm gương cho họ
coi, quý vị một ngày ăn
nhiều như vậy, đòi hỏi
dinh dưỡng nhiều như vậy
mà thân thể cũng không
khoẻ gì cả; chúng tôi
một ngày ăn một bữa cũng
chẳng thua kém gì thân
thể quý vị. Làm
cho họ từ điểm này phản
tỉnh và giác ngộ, thực
sự hiểu được đạo dưỡng
sinh. Người hiện
nay [tưởng rằng] dưỡng
sinh là phải hấp thụ
thật nhiều dinh dưỡng,
người Trung Quốc chúng
ta hồi đó tới giờ chưa
từng nói đến dinh dưỡng.
Ở Trung Quốc đại lục có
một số nơi còn lạc hậu
nghèo nàn, họ làm sao
hiểu được dinh dưỡng là
gì? Nhưng thật kỳ
lạ, họ đều sống rất lâu,
thọ mạng con người ở
thôn quê rất dài, người
sống trên một trăm tuổi
rất nhiều.
Lúc trước tôi cư trú ở
Mỹ, hình như lúc đó Ðại
Lục vừa mới mở rộng
,
vừa mới mở rộng chẳng
lâu. Mỹ đã từng
phái một số người đến
Trung Quốc Ðại lục để
tìm hiểu, nghiên cứu tại
sao mức vệ sinh của
người Trung Quốc tệ như
vậy mà họ có thể sống
lâu? Người Mỹ
chuyện gì cũng đòi hỏi
[tốt nhất] nhưng lại
không sống lâu, họ muốn
nghiên cứu về đạo lý này
[nhưng] chẳng tìm được
nguyên do. Coi đời
sống ăn uống của họ
(người Trung Quốc) so
với tiêu chuẩn của Mỹ
thì thua quá xa, nhưng
người Trung Quốc lại
sống lâu. Dùng
phương pháp khoa học gì
để nghiên cứu cũng tìm
chẳng ra, họ chẳng hiểu
nổi. Nguyên nhân
của sự sống lâu ở đâu?
Tâm địa thanh tịnh, vọng
niệm ít, phiền não thật
sự [là nguyên nhân] đoạt
mất mạng sống con người.
Phiền não của người Mỹ
rất nặng, quá nặng,
người Mỹ trẻ tuổi khoảng
dưới hai mươi lăm tuổi
coi còn được, vóc dáng
còn rất đẹp, trên ba
mươi tuổi thì thôi khỏi
nói. Vết nhăn trên
mặt hiện ra từng đường,
rất nhiều vết nhăn,
người Trung Quốc chúng
ta, quý vị coi thử đâu
có vết nhăn [gì đâu].
Tại sao lại có nhiều vết
nhăn như vậy?
Phiền não quá nhiều đấy
mà. Nhiều ở chỗ
nào? Áp lực đời
sống.
Bạn phải biết đời sống
của người Mỹ [bề ngoài]
hình như rất tốt đẹp,
[nhưng] đều là do trả nợ
mà có đấy. Mua nhà
phải vay mượn, mua nhà
phải trả bao nhiêu?
Chẳng đến một phần mười.
Thí dụ căn nhà mười vạn
đồng, chỉ cần trả
[trước] năm ngàn là
được. Sau đó từ từ
trả dứt trong vòng hai
mươi năm, ba mươi năm,
mỗi tháng trả góp và trả
tiền lời, phải mượn tiền
ngân hàng. Những
đồ vật dùng trong nhà
của họ như xe hơi, tủ
lạnh, thậm chí tôi nói
cho các bạn biết khi họ
mua đồ ăn cũng mua thiếu
chịu. Khi bạn mua
đồ ăn, mua rau cải, mua
gạo, v. v…, thì dùng thẻ
tín dụng (credit card);
thẻ tín dụng là do ngân
hàng cấp cho bạn, ngân
hàng cho mua chịu.
Bạn vất vả đi làm, mỗi
ngày làm việc là nhằm để
trả tiền mượn ngân hàng,
trả tiền bảo hiểm.
Cả đời họ làm việc, làm
việc hằng ngày là để trả
nợ, bạn hãy nghĩ xem áp
lực đời sống của họ bao
lớn. Thế nên họ
phải hết lòng nỗ lực để
làm việc, họ chẳng dám
giải đãi, chẳng dám làm
biếng. Tại sao
vậy? Vừa mới làm
biếng, vừa mới giải đãi
thì công ty đuổi bạn lập
tức. Thế thì
bạn ‘rồi đời’, tất cả đồ
đạc trong nhà bạn sẽ bị
ngân hàng tịch thâu đem
bán đấu giá để trả nợ.
Ðời sống của họ rất cực
khổ, rất đáng thương,
bạn chẳng cư trú ở ngoại
quốc thì không hiểu tình
huống của họ, thật là
rất khổ.
Lần đầu tiên tôi về thăm
tổ quốc, đi cùng với Hàn
Quán Trưởng về quê của
bà ở Ðại Liên, ở đó có
không ít bạn bè, thân
thích ra tiếp đón, mời
chúng tôi dùng cơm.
Họ biết chúng tôi từ Mỹ
đến, họ vô cùng ngưỡng
mộ. Tôi nói với
họ, tôi nói đời sống của
người Mỹ chẳng bằng họ,
họ chẳng tin, họ nói tôi
gạt họ, an ủi họ.
Tôi quay lại hỏi họ, lúc
đó có khoảng ba mươi mấy
người ngồi ở đó, tôi
nói: quý vị ba mươi mấy
người [ở đây], tôi hỏi
quý vị có ai sinh sống
phải trả nợ không?
Họ nhìn lẫn nhau, chẳng
có ai cả. Người Mỹ
làm sao sánh bằng quý
vị! Người Mỹ từ
lúc sanh ra liền phải
trả nợ, đến chết còn trả
chưa hết nợ. Ðời
sống của họ là như thế
nào? Ðời sống của
quý vị là như thế nào?
Tuy bề ngoài đời sống
của quý vị hình như
nghèo hơn họ, quý vị
chẳng có nhà lầu, chẳng
có xe hơi, nhưng sau khi
quý vị đi làm về, vài
người bạn tụ lại với
nhau, ăn vài hạt đậu
phộng, nhâm nhi ly rượu,
nói chuyện rất là thoải
mái, người ngoại quốc có
nhàn nhã, hưởng thú
thanh nhàn như vậy
không? Chẳng có.
Cả đời cũng chẳng thể
sống một ngày như vậy,
đầu óc từ sáng tới tối
luôn luôn khẩn trương,
thế nên người ngoại quốc
rất dễ suy lão, nguyên
nhân là ở chỗ này.
Chúng ta hiểu được bối
cảnh văn hóa của họ, nói
thật ra họ ngưỡng mộ
người Ðông Phương.
Chúng ta còn có tiền
dành dụm, còn có thể gom
góp được một chút tiền,
họ không có. Trong
gia đình người Mỹ có thể
tìm được hai chục đồng
tiền mặt là rất hiếm có,
[ít] có nhà nào có nhiều
tiền mặt như vậy.
Tôi nói lời chân thật
với mọi người, tôi ở Mỹ
hết mười lăm năm, đã đi
đến nhiều thành thị.
Cả thế giới choáng váng vì
cơn bão kinh tế, nhưng
người Trung Quốc bị ảnh
hưởng tương đối ít.
Tại sao? Người Trung
Quốc ít mượn nợ, ít mượn
tiền ngân hàng, chẳng
mượn tiền, chẳng bị áp
lực. Nguyên lý
kinh tế của các nước tư
bản chủ nghĩa trên toàn
thế giới ngày nay là gì?
Tức là điều mà người
Trung Quốc gọi là cho
mượn với tiền lời cao.
Bạn mượn tiền họ, cuối
cùng bị họ ép chết, họ
để cho bạn có dịp sung
sướng nhất thời, sau
cùng mới đoạt mạng của
bạn. Chúng ta bình
tĩnh khách quan xem xét
rất rõ ràng, minh bạch.
Người Trung Quốc có phước,
tự mình phải biết, phải
hiểu, phải tự ái.
Ngày nay Trung Quốc còn
chưa thể đạt được an
định, đó là vì nguyên
nhân khác. Nếu
trên phương diện nhân
lực, tài nguyên có thể
vận dụng được thích
đáng, hết thảy những tai
hại tự nhiên hoặc do
người tạo đều có thể
tránh khỏi, có thể làm
được một quốc gia tốt
nhất trên thế giới, làm
mô phạm, làm gương mẫu
cho hết thảy các quốc
gia trên thế giới.
Mục đích cuối cùng là
thế giới hòa bình, thế
giới đại đồng, đây là sự
cống hiến lớn nhất của
người Trung Quốc đối với
toàn thế giới, [đó là] ý
nghĩa chân thật nhất.
Chúng ta phải nỗ lực
làm, người xuất gia làm
cho tròn bổn phận của
người xuất gia là được
rồi. Ấn Quang đại
sư dạy: ‘Giữ
vẹn luân thường, trọn
hết bổn phận.
Tránh lòng Tà, giữ lòng
Thành,
Tin sâu nhân quả’
,
thiên hạ sẽ thái bình.
Những câu nói này của
lão nhân gia đích thật
có thể cứu hết thảy
chúng sanh trong chín
ngàn năm đời Mạt pháp.
Kinh văn phía sau nói:
Nhược ngộ phi lý hủy dụng
giả, thuyết sở cầu
khuyết tuyệt báo
Nếu gặp kẻ phá hủy vật
dụng một cách phi lý,
thì dạy rõ quả báo mọi
sở cầu đều thiếu hụt
Ðây thường được người ta
gọi là ‘cầu bất đắc khổ’
trong ‘bát khổ’.
Bạn mong cầu, tại sao
cầu không được? Có
nguyên nhân. ‘Phi
lý’ tức là ngày nay
chúng ta chúng ta thường
nói ‘bất hợp pháp, không
hợp lý’, ‘hủy dụng một
cách chẳng hợp tình hợp
lý’. Hủy là gì?
Hủy hoại, dụng là sự
hưởng dùng mà bạn có
được, sự hưởng thọ của
bạn. Hết thảy sự
hưởng thọ của bạn ngày
nay, chẳng kể là hưởng
thọ vật chất hay tinh
thần, sự hưởng thọ này
chẳng hợp lý, chẳng hợp
pháp, chẳng hợp tình,
quả báo của bạn sau này
sẽ là chẳng như ý, ‘cầu
bất đắc’.
Nhược ngộ ngô ngã cống cao
giả, thuyết ty sử hạ
tiện báo.
Nếu gặp kẻ kiêu mạn cống
cao thì dạy rõ quả báo
làm nô dịch hèn hạ.
Cống cao ngã mạn sẽ có
quả báo là hạ tiện,
trong xã hội hiện nay
rất rõ ràng; lúc mình có
quyền, có địa vị thì
ngạo mạn, ỷ quyền thế
hiếp đáp người.
Vừa chớp mắt người ấy
mất hết địa vị, phải đi
tìm một công việc thấp
hèn để sinh sống.
Phút chốc địa vị bị mất
hết, bị kẻ khác sai bảo,
quả báo ở ngay trong đời
này chẳng cần phải đợi
đến đời sau. Ngày
nay chúng ta thấy rất
nhiều [người] thật rất
vất vả mới leo lên một
tầng lớp cao trong xã
hội, vừa gặp một cơn bão
táp kinh tế [suy thoái]
lập tức công ty liền
giảm nhân viên, công ăn
việc làm mất hết, phải
tìm công việc vặt vãnh
để sinh sống, phải bị
người ta sai bảo.
Hiện nay tại các nơi
trên thế giới chỉ cần
bạn quan sát kỹ lưỡng sẽ
thấy rất nhiều kẻ chẳng
biết khiêm tốn, tôn
trọng người khác.
Người ở chức vị cao cũng
phải tôn trọng những
viên chức thấp, không
thể mặc tình sai khiến,
sau này phải bị quả báo
không tốt.
Nhược ngộ lưỡng thiệt đấu
loạn giả, thuyết vô
thiệt bá thiệt báo.
Nếu gặp kẻ nói hai lưỡi
gây xích mích thì dạy rõ
quả báo không lưỡi hoặc
trăm lưỡi.
‘Lưỡng thiệt’ là khêu
chọc người khác, gây
xích mích, làm cho hai
bên chẳng hòa hợp, tạo
tội nghiệp như vậy.
Người tạo tội nghiệp này
nhiều, mục đích là muốn
kiếm lợi, khiêu khích
hai bên, khiêu khích thị
phi. Phía trước đã
nói quả báo này, đây là
thuộc về khẩu nghiệp; ác
khẩu, nói lưỡi đôi chiều
đều đọa địa ngục tên là
địa ngục Kéo Lưỡi.
Quả báo ở địa ngục trả
xong lại đọa súc sanh,
trong loài súc sanh có
loài chẳng có lưỡi, có
loài trăm lưỡi, vẫn còn
chịu quả báo này.
Nhược ngộ tà kiến giả,
thuyết biên địa thọ sanh
báo.
Nếu gặp kẻ tà kiến thì
dạy rõ quả báo thọ sanh
ở vùng biên địa.
Tà tri tà kiến, tà tri
kiến cũng phải coi họ
tạo nghiệp cạn hay sâu,
rộng hay hẹp. Nếu
nghiệp ấy ảnh hưởng
người khác ít thì quả
báo của họ sẽ nhẹ; nếu
tà tri tà kiến này ảnh
hưởng nhiều người, thời
gian ảnh hưởng lâu dài
thì quả báo của họ sẽ
nặng. Có người hỏi
tôi, những bài do người
có tà tri tà kiến viết
ra, sách của họ viết ra,
hướng dẫn lầm lạc chúng
sanh, tương lai họ phải
đọa địa ngục đến khi nào
mới có thể thoát ra?
Tôi nói với họ, tôi nói
căn cứ vào kinh Phật.
Những cuốn sách mà họ
viết ra trên thế gian
này một cuốn cũng tìm
chẳng ra thì họ mới
thoát khỏi địa ngục.
Nếu có một thư viện nào
đó còn giữ một cuốn thì
họ còn rắc rối, họ sẽ
chẳng thể thoát khỏi.
Do đó có thể biết, sách
họ in càng nhiều thì
càng phiền phức, tội của
họ sẽ càng nặng, họ ảnh
hưởng đến nhiều người,
thời gian ảnh hưởng dài,
cái tội này nặng lắm.
Thế nên chúng ta nói
chuyện cũng phải cẩn
thận, nếu có thâu âm lại
thì cũng giống như sách
vậy, đến khi nào băng
thâu âm này hoàn toàn bị
hủy diệt trên thế gian
này, hoàn toàn mất hết,
thì bạn mới thoát ra
khỏi địa ngục. Nếu
còn một bộ được người ta
giữ lại thì hỏng rồi,
bạn sẽ chẳng thoát ra
khỏi địa ngục.
Người xưa thường nói:
‘Bịnh từ miệng vào, họa từ
miệng ra’, một tí
cũng chẳng sai.
Thế nên Bồ Tát dạy chúng
ta ‘Nói ít một câu,
niệm thêm một câu Phật’.
Khi người ta nói chuyện
mình nghe không rõ là
tốt nhất, không cần biết
họ nói cái gì, [mình cứ
niệm] A Di Ðà Phật, niệm
một câu này tốt hơn bất
cứ cái gì. Tại
sao? Chẳng cần
phải nghe, đều chẳng có
ý nghĩa, ngoài A Di Ðà
Phật ra tất cả đều chẳng
có ý nghĩa, bạn nghe
những thứ ấy làm gì!
Thật thà niệm Phật nhất
định sẽ được sanh Tịnh
Ðộ, nghe những thứ thị
phi này, những lời nói
bá láp này, nhất định sẽ
tạo lục đạo luân hồi,
tăng thêm tội nghiệp của
mình, chẳng đáng chút
nào.
‘Biên địa thọ sanh’, biên
địa là những chỗ mà ngày
nay được gọi là văn hóa
lạc hậu. Trong đời
này người sanh ở những
chỗ văn hóa lạc hậu thì
sẽ chẳng có cơ hội được
giáo dục, họ làm sao
không ngu si cho được?
Ngu si thì chắc chắn sẽ
tạo tội nghiệp, thế nên
quả báo này rất dễ sợ.
Xin xem tiếp đoạn kinh
sau đây, Bồ Tát ở đây
làm một kết luận cho
chúng ta.
Như thị đẳng.
Những chuyện này
Ðây là chỉ những việc
nói phía trên.
‘Ðẳng’ là nhiều quá, nói
không hết.
Diêm Phù Ðề chúng sanh,
thân khẩu ý nghiệp.
Ác tập kết quả, bá thiên
báo ứng, kim thô lược
thuyết.
Trăm ngàn sự báo ứng kết
quả bởi tập khí xấu ác
từ thân, khẩu, ý nghiệp
của chúng sanh trong cõi
Diêm Phù Ðề, nay chỉ nói
sơ lược đó thôi.
‘Lược
thuyết’ là báo cáo một
cách sơ lược, đoạn này
nói hết thảy chúng sanh
hiện nay trên thế gian
chúng ta, tạo nghiệp
nhân ác. Ngày ngày
thân, khẩu, ý luôn tạo
tác, thân tạo giết,
trộm, dâm; [nếu bạn nói]
tôi chẳng có giết, mỗi
ngày bạn ăn thịt tức là
sát sanh. Tôi
chẳng có sát sanh, chỉ
là ăn thịt mà thôi; nếu
bạn không ăn thịt thì
người ta sát sanh làm
chi? Có lẽ người
hiện đại không tin nhân
quả, mặc tình giết hại,
mặc tình ăn nuốt.
Lúc trước chúng tôi ở
dưới quê, tôi không phải
đã kể cho các bạn nghe
rồi sao, mỗi tháng làm
thịt một con heo, lúc
giết heo người đồ tể đều
có niệm chú cho heo, nói
với heo rằng:
“Heo ơi,
heo ơi, mày đừng giận
tao.
Mày là một
món ăn của người ta,
Người
ta không ăn thì tao
không chém mày,
Mày
hãy tìm người ăn thịt mà
đòi nợ”.
Ông ta rất
thông minh, người đồ tể
này đổ hết tội báo cho
người ăn thịt, kêu con
heo đi kiếm người ăn
thịt mà đòi nợ. Do
vì bạn ăn thịt thì ông
ta mới sát sanh, nếu bạn
không ăn thịt thì ông ta
sẽ không sát sanh, ăn
thịt là sát sanh gián
tiếp, vẫn là tạo sát
nghiệp mỗi ngày.
Nghiệp trộm cắp, nghiệp
dâm dục chẳng có cách
chi tránh khỏi.
Khẩu có bốn thứ nghiệp:
vọng ngữ, nói lưỡi hai
chiều, nói lời ác độc,
nói lời thêu dệt, có ai
không tạo? Trong ý
nghiệp tràn đầy tham,
sân, si. Thế nên
ngày nay chúng ta quan
sát thế giới này, thân -
ngữ - ý của hết thảy
chúng sanh gia tăng từng
năm, như vậy chịu sao
nổi! Ðây là nhân,
rất đáng sợ! Muốn
ngưng cũng không ngưng
được. Ðừng nói
tiêu nghiệp chướng, làm
sao tiêu nổi? Mỗi
ngày luôn tăng thêm.
Làm sao không có quả báo
cho được? ‘Ác tập
kết quả’, thân, ngữ, ý
tạo mười loại ác nghiệp,
tập khí ác nghiệp tích
lũy thì quả báo bèn hiện
tiền. Ðây là quả
báo thiên tai, nhân họa,
tam đồ bát nạn;
tam đồ bát nạn là do vậy
mà có. ‘Bá thiên
báo ứng’, bá thiên chẳng
phải là con số, là tượng
trưng cho vô lượng vô
biên báo ứng, phía trước
chỉ nói sơ lược mà thôi.
Ngày nay trong đời này
nếu chúng ta thật sự
muốn thoát ly tam giới,
phải bắt đầu thay đổi từ
chỗ nào? Bắt đầu
thay đổi từ tâm địa.
Phải làm cho tâm đạt đến
mức thuần thiện, trong
tâm chẳng có ác niệm,
cái gì là ác? Thập
ác, đây là đơn giản
nhất, chẳng có ý niệm ác
này. Ý chẳng có tư
tưởng tà vạy, đây là tâm
địa pháp môn. Niệm
niệm đều y giáo phụng
hành. Trong kinh
Phật dạy những gì chúng
ta nên làm thì chúng ta
hết lòng nỗ lực đi làm.
Những gì Phật nói không
thể làm thì chúng ta
ngay cả móng ý cũng
chẳng khởi, [được vậy
thì] chính mình mới có
thể tự độ, mới thật sự
nắm vững. Cho dù
đời này chẳng vãng sanh
Tịnh Ðộ, chẳng cầu sanh
Tịnh Ðộ, đời sau chắc
chắn sẽ được phước báo
nhân thiên, sẽ chẳng đọa
tam ác đạo. Cho dù
ngày nay thân, khẩu của
chúng ta chẳng có ác
hạnh, nhưng ý vẫn còn ác
niệm, vẫn còn tư tưởng
tà vạy, nói cho chư vị
biết vẫn [tạo nghiệp]
tam đồ, lục đạo y như
cũ. Do đó Tổ Sư,
đại đức thời xưa dạy
chúng ta tu từ căn bản,
căn bản là gì?
Niệm đầu là căn bản.
Nếu bạn thích đọa tam ác
đạo, chịu khổ nạn vô số
kiếp thì cũng được, bạn
cứ tiếp tục giữ những ác
niệm và tư tưởng tà vạy
đi. Nếu bạn cảm
thấy cái khổ tam đồ
trong vô số kiếp, bạn
nhìn thấy rất sợ, sợ
hãi, chẳng cam chịu nhận
lãnh, bạn phải sửa đổi
tâm niệm từ ngày hôm
nay.
Tiêu chuẩn ‘Ðịa Tạng Bồ
Tát Bổn Nguyện kinh’ là
một tiêu chuẩn rất tốt.
Các bạn đồng học Tịnh
Tông ngày nay tại sao
khóa tối chúng ta chọn
kinh Vô Lượng Thọ phẩm
ba mươi hai đến ba mươi
bảy, những gì nói trong
ấy hoàn toàn giống kinh
Ðịa Tạng, đó là tiêu
chuẩn thiện ác, không
thể không biết.
Ác, nhất định phải đoạn
dứt, đoạn không được
cũng phải đoạn, không
đoạn không được!
Nếu bạn không đoạn thì
bạn nhất định sẽ đọa địa
ngục, tự bạn dứt khoát
phải hiểu rõ, nếu không
đoạn thì chắc chắn sẽ
đọa địa ngục, chẳng có
con đường thứ hai nào
khác dễ đi hơn.
Sau khi từ địa ngục
thoát ra, giống những
quả báo nói trong kinh
bạn đều phải hứng chịu.
Nếu bạn muốn mình không
đọa địa ngục, đời này có
thể liễu sanh tử, thoát
khỏi tam giới, vãng sanh
Tịnh Ðộ thì bạn nhất
định phải làm, không làm
không được. Người
khác làm hay không chẳng
liên quan gì đến mình,
trên con đường tu hành
này, Phật Tổ đã nói rất
rõ ràng, giảng rất minh
bạch: sanh tử của ai
thì người đó liễu, ai
cũng chẳng thay thế cho
người khác, ‘ông tu ông
đắc, bà tu bà đắc, không
tu thì không đắc’.
Tu cái gì? Cải tâm
(sửa đổi tâm), đó là
chân tu. Tâm
của bạn sửa đổi rồi thì
đương nhiên hành động
của bạn cũng sẽ thay
đổi. Nếu hành vi
làm giống như vậy nhưng
trong tâm chẳng có sửa
đổi thì không được, luận
tội đều luận từ trong
tâm, nhất định phải hiểu
đạo lý này. Xem
tiếp đoạn cuối:
Như thị đẳng Diêm Phù Ðề
chúng sanh, nghiệp hoặc
sai biệt, Ðịa Tạng Bồ
Tát bá thiên phương tiện
nhi giáo hóa chi.
Những chúng sanh ở Diêm
Phù Ðề này có nghiệp
hoặc sai khác, Ðịa Tạng
Bồ Tát cũng có trăm ngàn
phương tiện để dạy dỗ.
Phía trước nói về tạo
nghiệp, đoạn trước này.
Ðúng là ‘chúng sanh ở
Diêm Phù Ðề ương ngạnh
khó dạy dỗ’. Ðịa
Tạng Bồ Tát hiểu rõ,
chúng ta đọc thấy trong
kinh, Bồ Tát hiểu rõ,
hôm nay chúng ta cũng
hiểu rõ, chúng ta phải
học theo Ðịa Tạng Bồ
Tát, phải học tập Ðịa
Tạng Bồ Tát. Giống
như Bồ Tát vậy, dùng mọi
thứ thiện xảo phương
tiện giáo hóa chúng
sanh. ‘Hóa’ là gì?
Chúng sanh tiếp nhận sự
dạy dỗ bèn có thể quay
về, đoạn dứt ác, hướng
thiện, [vậy là đã
chuyển] hóa rồi.
Hóa là kết quả của sự
dạy dỗ, giáo là nhân,
hóa là quả. Hóa ác
niệm thành thiện niệm,
hóa phiền não thành Bồ
Ðề, hóa phàm phu thành
Bồ Tát, vậy thì sự giáo
học của bạn đã đạt được
mục đích, thật sự có
được thành quả.
Ðây là việc chúng ta
nhất định phải học tập.
Xem tiếp đoạn kinh văn
phía sau:
Thị chư chúng sanh, tiên
thọ như thị đẳng báo,
hậu đọa địa ngục.
Ðộng kinh kiếp số, vô
hữu xuất kỳ.
Những chúng sanh này
trước hết phải thọ lãnh
những quả báo như thế,
sau đó lại đọa vào địa
ngục trải qua nhiều kiếp
không có kỳ hạn thoát
ra.
Ở đây, đức Phật nói lời
chân thật, trong kinh
nói đến báo ứng là quả
báo trong đời này, gọi
là hoa báo. Sau
khi chết rồi chắc chắn
phải đọa địa ngục.
Ðến lúc nào mới được
thoát khỏi? ‘Ðộng
kinh kiếp số’, phía
trước nói với chúng ta
vô lượng kiếp, ‘vô hữu
xuất kỳ’. ‘Xuất
kỳ’ (kỳ hạn thoát ra)
chắc chắn là có, tại sao
lại nói ‘vô hữu’?
Quá dài, bạn chẳng thể
thoát khỏi trong thời
gian ngắn.
Thị cố nhữ đẳng
Thế nên các ông
Do vì duyên cố này, Phật
khuyên dạy Tứ đại thiên
vương. Tứ đại
thiên vương phát tâm hộ
trì, hộ thế. Nhóm
những người các ông,
Hộ nhân hộ quốc, vô lịnh
thị chư chúng nghiệp mê
hoặc chúng sanh
Hộ nhân hộ quốc, chớ để
những nghiệp chướng đó
làm mê hoặc chúng sanh.
Trong bản chú giải của
Thanh Liên đại sư có
viết một câu, đương
nhiên ngài cũng dựa theo
lời Phật nói trong kinh,
tức là kinh Cựu Tạp Thí
Dụ. Theo kinh ấy, đức
Phật Thích Ca nói sáu
mươi vạn năm ở thế gian
bằng một ngày ở địa
ngục. Lúc trước
lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
trong Ðại Chuyên Phật
Học Giảng Tòa đã nói với
học sinh các trường đại
học chuyên khoa, nói đến
địa ngục, một ngày ở địa
ngục bằng hai ngàn bảy
trăm năm ở thế gian, nói
như vậy là có căn cứ.
Hai ngàn bảy trăm năm
đại khái là địa ngục
nhỏ, nói nhiều quá sẽ
làm người ta sợ điếng
người. Trong kinh
này Phật nói một ngày
trong địa ngục bằng sáu
mươi ức vạn năm ở cõi
người. Thời cổ Ấn
Ðộ chữ ‘ức’ này có ba
loại, mười vạn cũng gọi
là ức, trăm vạn cũng gọi
là ức, vạn vạn cũng gọi
là ức. Chúng ta
dùng số nhỏ nhất, mười
vạn tính là một ức.
Sáu mươi ức vạn tuổi,
sáu mươi rồi nhân thêm
mười, một ngày trong thế
gian chúng ta, thế nên
địa ngục có nên đi vào
không? Ðây là nói
địa ngục lớn Vô Gián,
dài lắm. Chúng ta
tạo tội nghiệp địa ngục
rất dễ dàng, hiện nay
bạn tạo, quả báo khổ
trong tương lai bạn làm
sao chịu nổi?
Trong kinh này, đức Phật
phó chúc Tứ đại Thiên
Vương phải hộ quốc, hộ
người, đừng để các thứ
nghiệp tội thế gian mê
hoặc chúng sanh.
Chúng ta nghe xong lời
này, trước hết phải tự
phản tỉnh, nói cho chư
vị biết mỗi ngày đều
phải phản tỉnh.
Trong nhà Phật định ra
công khóa sáng tối, tôi
đã nói với mọi người,
khóa sáng là để nhắc nhở
chính mình, khóa tối là
để phản tỉnh. Lúc
lễ đọc tụng kinh văn
trong khóa tối phải hết
lòng phản tỉnh.
Những gì trong kinh dạy
chúng ta phải làm, chúng
ta đã làm được chưa?
Dạy chúng ta đừng làm,
chúng ta có vi phạm hay
không? Ðây là cách
bạn chân chánh làm công
khóa sáng tối.
Khóa tụng sáng tối chẳng
phải đem kinh ra tụng
một lần cho Phật, Bồ Tát
nghe, như vậy là hoàn
toàn sai lầm, Phật, Bồ
Tát đâu có muốn nghe
những thứ này?
Muốn độ chúng sanh thì
phải độ mình trước, tự
mình không tạo ác
nghiệp, chính mình nhất
quyết không đọa tam ác
đạo thì bạn mới có khả
năng giúp đỡ người khác.
Nếu nói thân mình còn
giữ không nổi mà đi giúp
người khác, chẳng có
chuyện này. Bởi
vậy chúng ta nhất định
phải đặt chân mình đứng
thật vững vàng, nhất
quyết chẳng đọa tam đồ.
Hơn nữa, tự mình có lòng
tin kiên định, quyết
định được sanh Tịnh Ðộ.
Hơn nữa nhất định có thể
tự tại vãng sanh, tại
sao lại nắm chắc như
vậy? Nghiệp chướng
đã tiêu hết, làm sao
tiêu? Trong tâm
chẳng có một tâm niệm
ác, trong ý chẳng có một
tư tưởng tà vạy thì bạn
có thể nắm chắc.
Vãng sanh chẳng có bịnh
khổ, hiện tiền chẳng có
đau bịnh; chẳng có đau
bịnh là hoa báo, vãng
sanh chẳng có bịnh khổ
là quả báo. Tại
sao người ta có thể làm
được, chúng ta làm không
được? Lý do người
ta có thể làm được,
chẳng có gì khác, tức là
trong tâm chẳng có ác
niệm, trong ý chẳng có
tư tưởng tà vạy, là nhờ
vào điểm này.
Tứ thiên vương văn dĩ,
thế lệ bi thán, hiệp
chưởng nhi thoái.
Tứ thiên vương nghe
xong, rơi lệ than thở,
chắp tay lễ Phật mà lui
ra.
Thế Tôn khai thị cho họ
xong, Tứ đại thiên vương
nghe xong rơi lệ, bi
thán. ‘Bi thán’ có
hai nghĩa, một là than
thở nghiệp tập chúng
sanh quá nặng, quá nặng,
ý thứ hai là tự mình
trách nhiệm quá nặng.
Chúng ta muốn giúp đỡ
chúng sanh, trước tiên
phải giúp đỡ chính mình.
Ðược rồi, hôm nay đã hết
giờ, chúng ta giảng đến
đây thôi.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin thành
thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4
tháng 9-2006