Tập 11 (Số 14-12-11)
Lần trước giảng đến đoạn
Định Tự Tại Vương Bồ Tát
thưa hỏi Thế Tôn, Địa
Tạng Bồ Tát nhiều kiếp
đến nay đã phát nguyện
gì mà được Thế Tôn ân
cần tán thán, thỉnh Phật
vì đại chúng khai thị.
Thế Tôn nói với Định Tự
Tại Vương Bồ Tát, trên
thực tế thì Bồ Tát hỏi
thay chúng ta, đức Phật
bảo Định Tự Tại Vương Bồ
Tát phải ‘lắng nghe’ tức
là dạy chúng ta phải
dụng tâm nghe pháp, lắng
lòng lãnh hội.
Phật nói nhiều kiếp xa
xưa về trước có một vị
Phật hiệu là ‘Nhất Thiết
Trí Thành Tựu Như Lai’,
thọ mạng của đức Phật là
sáu vạn kiếp, từ đây có
thể biết chúng sanh
trong thời đại đó nhất
định phải tu thiện đoạn
ác nên mới cảm được quả
báo thù thắng như vậy.
Lúc Phật chưa xuất gia,
ngài là vua một nước
nhỏ, cùng với vua một
nước láng giềng là bạn
thân, cả hai vị vua này
đều dùng thập thiện để
cai trị quốc gia, dạy
dân chúng cả nước đoạn
thập ác, tu thập thiện.
Đương nhiên hai nước này
đều quốc thái dân an,
nhân dân đều rất hạnh
phúc. Nhưng trừ
hai nước này ra, những
nơi khác không được như
vậy, chúng sanh tạo ác
nghiệp rất nhiều.
Lúc hai vị vua nhìn thấy
cục diện của cả thế
giới, họ bèn bàn tính
làm thế nào để giúp đỡ
nhân dân của các quốc
gia ấy. Chúng ta
giảng đến chỗ này, xin
xem tiếp:
Kỳ lân quốc
nội, sở hữu nhân dân đa
tạo chúng ác, nhị vương
nghị kế, quảng thiết
phương tiện.
Nhân dân trong nước lân
cận đó đa số tạo nhiều
việc ác, hai vua bèn bàn
tính, lập nhiều phương
tiện.
Làm thế nào để cứu vãn
thế vận, hai vị quốc
vương này hợp lại thương
lượng
Nhất vương phát nguyện
Một vị vua phát nguyện
Một vua
phát nguyện
Tảo thành Phật đạo, đương
độ thị bối, linh sử vô
dư
Sớm thành Phật đạo để độ
hết những kẻ ấy, không
bỏ sót một ai.
Một vua phát nguyện, duy
chỉ có thành Phật mới có
khả năng rộng độ chúng
sanh. Nếu chẳng
thành Phật, tuy có
nguyện này, nguyện này
trái ngược với tâm,
chúng ta thường nói:
‘Tâm có dư nhưng sức
chẳng đủ’, vẫn chẳng có
cách gì. Nên phát
tâm cầu đạo muốn thành
Phật.
Nhất vương phát nguyện
nhược bất tiên độ tội
khổ linh thị an lạc đắc
chí Bồ Đề, ngã chung vị
nguyện thành Phật.
Một vua thì
nguyện: ‘Nếu tôi chẳng
độ những kẻ tội khổ
trước, làm cho họ được
an vui, cho đến đắc quả
Bồ Đề thì tôi nguyện
chưa thành Phật’.
Hai vị vua này phát
nguyện chẳng giống nhau.
Vị vua này phát nguyện
chưa độ mình, độ chúng
sanh trước. Đây là
Bồ Tát phát tâm, chẳng
vì mình, vì kẻ khác.
Chúng ta nhất định phải
hiểu rõ ý nghĩa chân
thật của đoạn kinh này,
chúng ta có thể phát
nguyện chẳng độ mình, mà
độ chúng sanh trước hay
không? Nếu thật sự
phát nguyện này, hết
thảy đều vì chúng sanh,
hết thảy vì Phật pháp,
đích thật chẳng có Ta,
‘Ta và cái của Ta’ (ngã
và ngã sở) đều đoạn dứt
hết, như vậy thì được,
vậy thì không có vấn đề.
Nếu vẫn còn nhân ngã,
thị phi, được mất, vậy
thì không được.
Nói cách khác, bạn sẽ
chẳng thoát ra khỏi lục
đạo. Phàm là con
người mà nếu chưa thể
thoát ly lục đạo thì
nhất định phải giác ngộ.
Từ vô thỉ kiếp đến nay,
chúng ta tích lũy bao
nhiêu tội nghiệp, đây là
sự thật! Tội nghiệp
chẳng phải chỉ tạo trong
đời này mà thôi, tội
nghiệp còn tích lũy từ
nhiều đời nhiều kiếp đến
nay, lẽ đâu chẳng đọa ác
đạo cho được! Bạn nhất
định sẽ đọa lạc.
Lúc đọa lạc trong tam ác
đạo, bạn lấy gì để độ
chúng sanh? Thế
nên chư vị phải biết,
nhất định phải chứng
được quả A La Hán trở
lên mới có thể nói “Tôi
độ chúng sanh trước,
chúng sanh chẳng thành
Phật thì tôi không thành
Phật”. Mức tối
thiểu là quả A La Hán,
thoát ly lục đạo luân
hồi. Vào trong lục
đạo chỉ là thị hiện,
giúp đỡ chúng sanh.
Cho đến khi mình thành
Phật vẫn còn một thời
gian dài, mình cứ thong
thả độ chúng sanh trước,
như vậy thì được.
Tự mình phải có bản lãnh
mới được, nếu chẳng có
bản lãnh mà phát nguyện
này thì cũng như không
nguyện. Thế nên ở
chỗ này chúng ta phải
đặc biệt lưu ý, muôn vàn
xin đừng hiểu lầm.
Phương pháp thù thắng
nhất đối với chúng ta,
[do vì] nghiệp chướng
tập khí của chúng ta quá
nặng, ngay cả một phẩm
phiền não chúng ta cũng
chẳng có năng lực đoạn
được, [cho nên] phương
pháp hay nhất là phát
tâm cầu sanh Tịnh Độ.
Nói thật ra nếu chúng ta
muốn tự mình tu hành
chứng được quả A La Hán
không đơn giản đâu, làm
chẳng nổi, nhưng vãng
sanh Tây phương Cực Lạc
thế giới thì người người
đều có thể làm được.
Đến tây phương Cực Lạc
thế giới có phải là liền
thành Phật không?
Không phải, một phẩm
phiền não còn chưa đoạn,
người vãng sanh đến Phàm
Thánh Đồng Cư Độ phiền
não chưa đoạn, nhưng
được bổn nguyện oai thần
của A Di Đà Phật gia
trì, cộng thêm thiện lực
của mình, tự mình phải
có nguyện tâm, có một
chút thiện lực, cùng chư
Phật, Bồ Tát cảm ứng đạo
giao, đến lúc ấy thì
được. Tôi chẳng
cần thành Phật gấp, [do]
tôi nóng lòng muốn độ
chúng sanh trước nên học
theo Địa Tạng Bồ Tát.
Đó là vốn liếng của bạn,
bạn được bổn nguyện oai
thần của A Di Đà Phật
gia trì thì có thể đến
mười phương thế giới,
nên dùng thân gì độ hóa
thì thị hiện thân ấy.
Địa Tạng Bồ Tát cũng
vậy. Tôi đã kể
chuyện vợ ông Châu Bang
Đạo gặp Địa Tạng Bồ Tát
mang hình tướng tỳ kheo
xuất gia, nên dùng thân
gì để độ bèn thị hiện
thân đó. Cần dùng
thân Phật để độ, Địa
Tạng Bồ Tát cũng có thể
thị hiện tám tướng thành
đạo, cũng có thể thị
hiện dùng thân Phật.
Cho nên điểm này chúng
ta phải tìm hiểu rõ
ràng, muôn vàn xin đừng
hiểu lầm.
Ở Đài Loan
chúng tôi đã từng thấy
một số pháp sư phát tâm,
phát tâm rất lớn, nguyện
chẳng thành Phật, nguyện
đời đời kiếp kiếp ở thế
gian này làm pháp sư độ
chúng sanh. Tướng
trạng của họ lúc mất
chẳng được tốt, nói thật
ra chẳng sánh bằng một
người cư sĩ tại gia niệm
Phật, người niệm Phật.
Đã nhiều năm nay những
tướng lành của cư sĩ tại
gia niệm Phật vãng sanh,
có người chẳng mang
bịnh, biết trước thời
giờ ra đi, đứng mà vãng
sanh, ngồi mà vãng sanh,
quá nhiều. Trong
số pháp sư xuất gia một
người cũng chẳng được.
Việc này bạn không thể
hiểu lầm, họ đích thật
có năng lực, lúc còn làm
vua, đây chỉ là thị
hiện. Họ vốn là
thân phận gì thì chúng
ta không biết.
Phật kể lại chuyện của
hai vị vua này.
Phật cáo
Định Tự Tại Vương, nhất
vương phát nguyện tảo
thành Phật giả, tức Nhất
Thiết Trí Thành Tựu Như
Lai thị. Nhất
vương phát nguyện vĩnh
độ tội khổ chúng sanh vị
nguyện thành Phật giả,
tức Địa Tạng Bồ Tát thị.
Phật bảo
Định Tự Tại Vương Bồ Tát
rằng: ‘Vị vua phát
nguyện sớm thành Phật ấy
chính là đức Nhất Thiết
Trí Thành Tựu Như Lai,
vị vua phát nguyện vĩnh
viễn cứu độ chúng sanh
tội khổ, nguyện chưa
thành Phật chính là Địa
Tạng Bồ Tát’.
Địa Tạng Bồ
Tát từ lũy kiếp đến nay
luôn luôn phát nguyện,
nguyện tâm ấy vĩnh viễn
chẳng thoái thất, rất
đáng cho chúng ta noi
gương. Thế nên
chúng ta thật sự muốn
phát tâm thì phải học
theo Địa Tạng Bồ Tát.
Những Bồ Tát khác chẳng
thể sánh bằng công đức
thù thắng của Địa Tạng
Bồ Tát. Trong kinh
này Phật nói trừ Văn
Thù, Phổ Hiền, Quán Âm
Bồ Tát, những Bồ Tát
khác đều chẳng thể sánh
bằng. Cho dù xét
trên tâm nguyện thì Địa
Tạng Bồ Tát hơn hẳn
những đại Bồ Tát như
Quán Âm, Văn Thù, Phổ
Hiền, nhưng trong Đại
Thừa Phật pháp, như
chúng ta được tiếp xúc
đã lâu rồi thì biết hết
thảy nguyện tâm của Bồ
Tát chính là trí huệ đức
năng trong tự tánh của
chính mình. Nguyện
tâm của mình giúp đỡ
những chúng sanh khổ nạn
này đặc biệt mạnh mẽ,
nói rõ pháp môn Địa Tạng
thù thắng nhất trong hết
thảy Bồ Tát pháp, đạo lý
là ở chỗ này.
Đặc biệt là
hiện nay chúng ta thấy
thế giới trước mắt,
chúng sanh khổ nạn vô
biên, vẫn không ngừng
tạo tội nặng như cũ,
chẳng biết quay về, mê
mất tự tánh, khởi tâm
động niệm không gì chẳng
là tội, đều vì mình, vì
lợi ích cá nhân, chẳng
màng đến sự an toàn của
xã hội. Cho dù học
Phật, nhưng chẳng đoạn
nổi tập khí tự tư tự
lợi, chẳng chống nổi sự
dụ hoặc của cảnh giới
bên ngoài; bên ngoài vừa
dụ hoặc thì bên trong
phiền não lập tức khởi
lên, Phật pháp gì cũng
quên ráo trọi.
Người học Phật còn như
vậy huống hồ là người
chẳng học Phật.
Thế nên thật ra ngày nay
chúng ta nói nhất định
phải noi gương Địa Tạng
Bồ Tát, nên tuyên dương
pháp môn Địa Tạng Bồ
Tát. Nhất định
phải bắt đầu từ bản thân
mình, đoạn hết thảy điều
ác, tu hết thảy điều
thiện, niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Nếu
tâm nguyện của chúng ta
khẩn thiết, trước lúc
sanh Tịnh Độ cũng được A
Di Đà Phật, và hết thảy
chư Phật Như Lai gia
trì, làm cho chúng ta
tiêu tai chướng, diệt
tội, tăng trưởng trí
huệ, tăng trưởng khả
năng, có thể giảng kinh
này được hoàn hảo, làm
cho đại chúng thích
nghe, sanh tâm hoan hỷ,
hoan hỷ y giáo phụng
hành. Trí huệ năng
lực này chẳng phải của
mình, mà do Phật lực gia
trì, phàm phu nghiệp
chướng sâu dày như chúng
ta làm sao có khả năng
này! Cho dù được
chư Phật Như Lai gia
trì, long thiên thiện
thần ủng hộ, tự mình
càng phải hân hạnh hơn,
hết lòng nỗ lực hơn,
đừng phụ lòng chư Phật,
Bồ Tát hộ niệm, phải làm
cho hoàn hảo, đúng như
pháp và viên mãn hơn
nữa. Chúng ta học
theo những phương hướng
này thì sẽ không sai.
Sau đây Thế Tôn lại kể
thêm một chuyện lúc Địa
Tạng Bồ Tát còn tu nhân,
xin xem kinh:
Phục ư
quá khứ vô lượng a tăng
kỳ kiếp.
Lại trong
đời quá khứ vô lượng
a-tăng-kỳ kiếp về trước.
Thời gian
này càng nói càng xa.
Hữu Phật
xuất thế danh Thanh Tịnh
Liên Hoa Mục Như Lai, kỳ
Phật thọ mạng tứ thập
kiếp.
Có một đức
Phật ra đời hiệu là
Thanh Tịnh Liên Hoa Mục
Như Lai, đức Phật đó thọ
bốn mươi kiếp.
Chúng ta
xét từ thọ mạng liền
biết người thời ấy thực
sự là chẳng thể nghĩ
bàn. Phía trước
chúng ta thấy thọ mạng
sáu vạn kiếp, chỗ này
thì bốn mươi kiếp, đều
tính bằng ‘kiếp’.
Quay lại thử nghĩ về
nhân gian chúng ta hiện
nay, tuổi người trường
thọ chẳng vượt hơn một
trăm tuổi, số người chưa
đến năm mươi tuổi bèn
mất rât nhiều, quá
nhiều. Nếu mỗi
ngày chư vị xem những
cáo phó đăng trên báo
chí, người chưa đến năm
mươi tuổi đã mất chẳng
phải chỉ là phân nửa
thôi đâu. Người
xưa nói: ‘Nhân sanh
thất thập cổ lai hy’,
[người sống đến bảy mươi
tuổi] đã là rất ít rồi.
Hết thảy phước báo dùng
thọ mạng để hiển thị,
bạn thấy thọ mạng của
chúng sanh dài, thọ mạng
của Phật cũng giống như
thọ mạng của chúng sanh,
ngài thị hiện nhất định
phải thọ bằng người thời
đó, chẳng đặc biệt hơn,
bèn biết thời đại ấy,
trí huệ đức hạnh của
chúng sanh thời ấy cảm
được phước báo [bao
lớn]. Trong kinh
điển Đại Thừa chúng ta
có thể lãnh hội điều này
rất sâu sắc, y báo chánh
báo trang nghiêm từ tâm
tánh biến hiện nên, tâm
địa lương thiện hiện ra
cảnh giới tốt, cảnh giới
thiện, thù thắng.
Tâm tánh chúng sanh
chẳng thiện, tạo tác ác
nghiệp thì hoàn cảnh y
báo của chúng ta sẽ suy
thoái, làm cho chúng ta
cảm thấy thế gian này
chẳng đáng lưu luyến,
chẳng có nơi nào có thể
làm cho người ta sanh
tâm hoan hỷ. Truy
tìm nguyên nhân căn bản
tức là
‘duy tâm sở hiện, duy
thức sở biến’, tự
làm tự chịu, làm sao có
thể trách người khác
được! Xin xem kinh
văn:
Tượng
pháp chi trung, hữu nhất
La Hán phước độ chúng
sanh
Trong
thời Tượng Pháp có một
vị La Hán phước đức cứu
độ chúng sanh.
Trong thời
Tượng pháp của đức Thanh
Tịnh Liên Hoa Mục Như
Lai, nghĩa là đức Phật
đã nhập Niết Bàn, chẳng
còn trụ trên thế gian
nữa. Pháp vận của
hết thảy chư Phật đều có
ba thời kỳ: ‘Chánh Pháp,
Tượng Pháp, Mạt Pháp’,
thọ mạng của Phật dài,
đương nhiên pháp vận của
ngài cũng dài.
Thời Tượng Pháp là thời
đại tháp tự kiên cố.
Nhân thứ
giáo hóa, ngộ nhất nữ
nhân, tự viết Quang Mục,
thiết thực cúng dường.
Nhân đi
tuần tự giáo hóa, gặp
một người nữ tên là
Quang Mục, bày vật thực
cúng dường.
Trong thời
Tượng Pháp, trong chùa
chỉ khắc tạo hình tượng
của Phật, hình tượng của
Phật có thể giáo hóa hết
thảy chúng sanh, cho nên
công đức của việc tạo
tượng rất lớn. Tuy
có những cơ sở vật chất
này nhưng nếu chẳng có
thiện tri thức giảng
kinh thuyết pháp, một số
người nhìn thấy chùa,
tháp, hình tượng Phật,
Bồ Tát tuy đã trồng
thiện căn nhưng thiện
căn chẳng thể thành thục
ngay trong đời này.
Mắt của bạn nhìn thấy
tượng Phật, tai nghe
được danh hiệu của Phật,
Bồ Tát, một phen lọt vào
tai thì vĩnh viễn sẽ là
hạt giống đạo.
Trong đời này họ chẳng
biết tu hành, tâm nguyện
và lòng tin chẳng phát
nổi nhưng hạt giống này
đã được trồng xuống, hạt
giống Kim Cang vĩnh viễn
sẽ chẳng hư hoại.
Nếu muốn hạt giống này
thành thục sớm hơn thì
phải có thiện tri thức
giảng kinh thuyết pháp.
Họ thấy tượng, biết ý
nghĩa của tượng, nghe
danh hiệu biết được ý
nghĩa của danh hiệu,
khởi lên lòng tin chân
thật, thanh tịnh, phát
lên nguyện hạnh giống
Phật thì đời này họ sẽ
thành tựu, công đức sẽ
chẳng thể nghĩ bàn.
Nếu chẳng gặp thiện tri
thức, chỉ nghe danh
hiệu, nhìn thấy tượng,
chẳng hiểu nghĩa kinh,
chẳng thể phát tâm tu
hành, lợi ích họ đạt
được sẽ rất có hạn.
Tuy có hạn, nói thực ra
cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Cô Quang Mục bày phẩm
vật cúng trước tượng
Phật trong chùa.
La Hán
vấn chi, dục nguyện hà
đẳng.
Vị La
Hán bèn hỏi: ‘Cô muốn
cầu điều chi?’
Trong thời
Tượng Pháp có một vị La
Hán, La Hán là một người
xuất gia. Đây là
một thiện tri thức trụ
trong chùa độ hóa chúng
sanh. Cô Quang Mục
là một tín đồ trong
chùa, hôm nay cô đến
cúng Phật. La Hán
hỏi cô: ‘Hôm nay cô đến
thiết trai cúng dường,
muốn cầu việc gì?’.
Quang
Mục đáp ngôn, ngã dĩ mẫu
vong chi nhật tư phước
cứu bạt, vị tri ngã mẫu
sanh xứ hà thú.
Quang Mục
thưa rằng: ‘Ngày má con
mất, con có làm việc
phước thiện hầu cứu vớt
bà, nhưng chưa rõ má con
thác sanh về đâu’.
Quả thật cô
đến là có mục đích, đúng
như ngạn ngữ có câu:
‘Vô sự chẳng đến điện Tam
Bảo’, cô đến chùa
lạy Phật chắc chắn là
trong tâm có mong cầu.
Việc cô mong cầu cũng
rất tốt, má cô đã qua
đời nên cô thiết trai để
siêu độ. Pháp sư
hỏi, trong tâm cô rất
muốn biết má cô đang ở
đâu? Hiện nay thác
sanh vào chốn nào?
‘Hà thú’ tức là cõi nào
trong lục đạo. Do
đó người làm con sau khi
cha mẹ mất đi thường lo
nghĩ về việc này, niệm
niệm chẳng quên, đây là
hiếu thảo. Thường
có tâm nguyện làm thế
nào để giúp đỡ người
thân đã mất.
La Hán
mẫn chi vi nhập định
quán kiến Quang Mục nữ
mẫu đọa tại ác thú, thọ
cực đại khổ.
Vị La Hán
cảm thương bèn nhập định
quan sát thì thấy mẹ cô
Quang Mục bị đọa vào
đường ác, vô cùng khổ
sở.
Mẹ cô đọa
vào địa ngục. Chư
vị ở đây nghĩ coi, La
Hán vẫn phải nhập định
mới có thể thấy, nếu
không nhập định thì
chẳng thể thấy, đây là
người có công phu định
lực còn thấp.
Người có công phu định
lực cao chẳng cần nhập
định, bạn vừa nói thì họ
liền biết, liền thấy.
Sau khi xuất định nói
với cô cảnh giới ngài
thấy trong định.
Chư vị phải biết tại sao
lúc chưa nhập định thì
chẳng thấy? Chúng
ta phải hiểu đạo lý này.
Lúc chưa nhập định thì
tâm tán loạn, tâm của La
Hán thanh tịnh hơn tâm
chúng ta rất nhiều,
chúng ta làm sao có thể
sánh bằng! Công
phu định lực của ngài là
Định bậc thứ chín, Tứ
Thiền Bát Ðịnh thăng lên
mức kế là Định bậc thứ
chín, công phu định lực
sâu như vậy mà không
nhập định cũng không
được, vẫn phải nhập định
mới có thể nhìn thấy
cảnh giới. Do đó
mới biết tâm phàm phu
chúng ta là tâm tạp
loạn, tạp là xen tạp,
loạn là chẳng định, tâm
như vậy sẽ tạo thành rất
nhiều chướng ngại.
Chướng ngại
này là gì? Ngày
nay khoa học gia gọi là
‘thời không’ (thời gian
không gian nhiều chiều),
không gian ba chiều,
không gian bốn chiều,
năm chiều cho đến vô số
chiều. Thời không
vốn chỉ có một, một này
nhà Phật gọi là Nhất
Chân pháp giới, tại sao
Nhất Chân pháp giới biến
thành vô lượng pháp
giới? Trong nhà
Phật chúng ta gọi là
Pháp Giới, tức là cái mà
khoa học gia gọi là thời
không nhiều chiều (nhiều
duy thứ khác nhau),
không gian ba chiều là
một giới hạn, không gian
bốn chiều là một giới
hạn, năm chiều, sáu
chiều, mỗi cái có một
giới hạn khác nhau, gây
chướng ngại. Ngày
nay chúng ta chỉ có thể
nhìn thấy, tiếp xúc đến
không gian ba chiều, còn
bốn chiều, năm chiều
chúng ta không thể tiếp
xúc tới. Vô lượng
vô biên pháp giới chúng
ta chỉ có thể tiếp xúc
đến pháp giới Người.
Chúng ta thấy một phần
trong pháp giới súc
sanh, còn một phần thì
vẫn chẳng thấy, chúng ta
chỉ thấy một bộ phận
nhỏ, tại sao? Bộ
phận súc sanh này cũng
cư trú trong không gian
ba chiều, chúng ta có
thể nhìn thấy. Nếu
nó trụ ở không gian bốn
chiều, năm chiều thì
chúng ta sẽ chẳng thấy,
là đạo lý như vậy.
Còn nhập định, định là
tâm thanh tịnh, tạm thời
đè nén tâm tán loạn, sau
khi đè nén thì không
gian của họ sẽ được mở
rộng, sẽ đột phá, định
lực càng sâu thì không
gian đột phá càng lớn.
Định mức cạn có thể đột
phá ba chiều, nhìn thấy
bốn chiều, chúng ta nói
người này có thần thông,
có công năng khác
thường. Công phu
định lực cao hơn nữa thì
có thể đột phá thêm một
chiều, có thể nhìn thấy
không gian năm chiều, là
đạo lý như vậy.
Hiện nay
người tây phương có một
cuốn sách bán rất chạy,
nói về những lời tiên
đoán, gọi là ‘Thánh Kinh
Mật Mã’, có lẽ quý vị có
người đã xem.
Người viết cuốn sách này
rất khách quan, ông ta
nói lời tiên đoán này,
lời tiên đoán chính xác
như vậy, vả lại sách này
là do người ba ngàn năm
trước viết. Ông ta
(tức tác giả cuốn khảo
luận về Thánh Kinh Mật
Mã) khẳng định rằng [tác
giả Thánh Kinh Mật Mã]
chẳng phải là Thượng Đế.
Ông ta nói: “Nếu [tác
giả] là Thượng Đế thì
đáng lý phải có thể giải
quyết vấn đề này, nhưng
Thượng Đế không thể giải
quyết vấn đề này, chỉ có
thể nhắc nhở chúng ta
rằng tai nạn này sẽ xảy
ra. Do đó, có thể biết
tác giả chẳng phải là
Thượng Đế”. Vì thế, ông
ta suy đoán rằng
cuốn sách ấy chắc chắn
do một người rất có trí
huệ, có tâm từ bi viết
ra. Cách nói này rất
chính xác, đầu óc của
ông ta rất sáng suốt,
chẳng mê tín. Có
người hỏi tôi, tại sao
có thể nói chuyện ba
ngàn năm sau rõ ràng,
minh bạch như vậy được?
Cổ đức từng
nói với chúng ta lời
tiên đoán có hai căn cứ,
Trung Quốc cũng có không
ít lời tiên đoán này.
Trước kia lúc lão cư sĩ
Lý Bỉnh Nam còn tại thế,
chúng tôi cũng đã từng
hỏi thầy,
thầy
cũng nói giống như vậy.
Thầy nói loại thứ nhất
là Số Học, phần lớn là
căn cứ vào Lý Số để suy
đoán. Trung Quốc
có rất nhiều lời tiên
đoán là do Số Học suy
đoán, căn nguyên của nó
là ‘Kinh Dịch’.
Kinh Dịch là Số Học cao
sâu, Số Học là mẹ của
Khoa học. Ở Trung
Quốc rất thịnh hành
những thứ coi bói, xem
tướng, đều căn cứ trên
kinh Dịch, căn cứ trên
Lý Số. Nhưng Lý Số
là gián tiếp, chẳng phải
là trực tiếp; nếu có một
chút gì suy đoán chẳng
đúng thì kết quả sẽ khác
nhau. Nói cách
khác, mức độ chính xác
của nó có thể đạt đến
năm chục, sáu chục, bảy
chục phần trăm, chẳng
hoàn toàn đúng. Tùy
thuộc vào trình độ của
người suy đoán mà sai
khác như vậy.
Nhưng nếu quán sát từ
trong Định thì hoàn toàn
khác hẳn, công phu định
lực là cảnh giới Hiện
Lượng, là họ đích thân
nhìn thấy. Suy
đoán thuộc về Tỷ Lượng
,
công phu định lực không
thuộc về Tỷ Lượng
Cho nên
người viết Thánh Kinh
Mật Mã này dùng công phu
định lực, trong thiền
định nhìn thấy.
Trong thiền định có thể
nhìn thấy chuyện ba ngàn
năm trước, sau, không có
gì kỳ lạ cả, chẳng có gì
lạ lùng. Một ngày
trên trời Đao Lợi bằng
một trăm năm ở cõi người
chúng ta, một tháng trên
trời Đao Lợi bằng ba
ngàn năm ở nhân gian
chúng ta. Nếu cứ
lên trên nữa thì càng dễ
hơn. Một ngày ở
cõi trời Dạ Ma bằng hai
trăm năm ở cõi người, ba
ngàn năm chỉ là mười lăm
ngày. Lên cõi trời
Đâu Suất, một ngày ở
trời Đâu Suất bằng nhân
gian bốn trăm năm.
Do đó có thể biết, nếu
muốn đến cõi trời thứ
sáu ở Dục Giới thì ba
ngàn năm chẳng bằng một
ngày của họ, chuyện một
ngày thì làm sao họ
không biết rõ ràng được?
Dĩ nhiên là sẽ rõ ràng.
Cho nên người viết sách
này theo sự quan sát
trong nhà Phật của chúng
ta thì ông ta có công
phu định lực.
Công phu
định lực có thể đột phá
giới hạn của thời không,
khoa học gia hiện nay
hiểu được đạo lý này, họ
thừa nhận, khẳng định.
Nhưng hiện nay họ còn
chưa tìm ra phương pháp
làm thế nào có thể đi
vào ‘đường hầm thời
gian’ của họ, làm thế
nào có thể đi vào tương
lai, hoặc đi về quá khứ.
Họ hiểu trên lý luận có
thể làm được nhưng hiện
nay vẫn chưa tìm được kỹ
thuật. Họ chẳng
biết trong Phật pháp cổ
xưa, thiền định chính là
kỹ thuật này. Khi
bạn nhập vào thiền định
rất sâu thì có thể đi
trở về quá khứ, và cũng
có thể đi vào tương lai.
Thánh Kinh Mật Mã là như
vậy, cho nên mức chính
xác của nó là một trăm
phần trăm. Cục thế
này có thể thay đổi hay
không? Có thể.
Cách nói này của ông ta
rất trung thực, khẳng
định tai nạn có thể hóa
giải, dùng phương pháp
gì để hóa giải?
Dùng tâm con người.
Nhân tâm có thể hướng
thiện thì tai nạn này sẽ
hóa giải. Có thể
thấy ông ta cũng nhận
định tâm hạnh thiện ác
chính là mấu chốt để
thay đổi hết thảy kiết
hung, họa phước trên thế
gian, cách nói này rất
chính xác. Hiện
nay cuốn sách này lưu
hành rất rộng trên thế
giới, có rất nhiều bản
dịch dùng nhiều ngôn ngữ
khác nhau. Chúng
tôi cũng thấy bản dịch
chữ Trung Hoa tại Đài
Loan, rất đáng để chúng
ta cảnh giác.
Chúng ta muốn cứu mình,
cứu xã hội, cứu hết thảy
chúng sanh, nhất định
phải biết đoạn ác tu
thiện. Vả lại,
giáo học đoạn ác tu
thiện chẳng gì hơn Kinh
Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện.
Cho nên Thế
Tôn ở hội giảng kinh tại
cung trời Đao Lợi này
trao trọng trách giáo
hóa chúng sanh trong
đoạn thời gian dài đăng
đẳng sau thời Mạt Pháp
cho đến lúc Phật Di Lặc
ra đời cho Địa Tạng Bồ
Tát là chính xác vậy,
chúng ta có thể hoàn
toàn khẳng định.
Địa Tạng Bồ Tát chủ trì
việc giáo hóa, Quán Âm,
Thế Chí, Văn Thù, Phổ
Hiền, Di Lặc sẽ hộ trợ
Địa Tạng Bồ Tát.
Giống như trong việc dạy
học, Địa Tạng Bồ Tát là
hiệu trưởng, lúc Phật
chẳng tại thế thì ngài
đại diện cho Phật, hết
thảy các Bồ Tát đến hỗ
trợ Địa Tạng Bồ Tát,
giúp đỡ Địa Tạng Bồ Tát
giáo hóa chúng sanh khổ
nạn.
La Hán nhập
định, trong định đột phá
giới hạn của không gian
và thời gian, ngài đã
thấy địa ngục, thấy mẹ
của cô Quang Mục đang
thọ khổ trong địa ngục,
chịu khổ cùng cực, sau
khi xuất định [bèn]:
La Hán
vấn Quang Mục ngôn
La Hán
hỏi cô Quang Mục
Nhữ mẫu
tại sanh, tác hà hành
nghiệp, kim tại ác thú,
thọ cực đại khổ
Mẹ cô lúc
còn sanh tiền làm hạnh
nghiệp gì mà hiện nay
đang ở trong đường ác,
thọ khổ cùng cực?
Hỏi cô
Quang Mục: “Lúc mẹ cô
còn sống làm nghề gì?
Hiện nay bà đang đọa địa
ngục, rất khổ.”
Quang
Mục đáp ngôn.
Cô Quang
Mục trả lời
Cô Quang
Mục thành thật trả lời,
nói rõ ra.
Ngã mẫu
sở tập
Tánh thân
mẫu con
‘Tập’ là
tập tánh, điều ưa thích
Duy hảo
thực đạm ngư miết chi
thuộc
Chỉ thích
ăn những loài cá, ba ba
Ngày nay
gọi là hải sản, bà ta
rất thích ăn đồ biển.
Sở thực
ngư miết, đa thực kỳ tử
Ăn những
loài cá, ba ba này, phần
nhiều là ăn trứng và con
của các loài ấy.
Đặc biệt
thích ăn những thứ này.
Hoặc sao
hoặc chử, tứ tình thực
đạm, kế kỳ mạng số thiên
vạn phục bội. Tôn
giả từ mẫn như hà ai cứu
Hoặc chiên
hoặc nấu, tha hồ mà ăn,
nếu tính đếm số sanh
mạng đó thì đến hơn ngàn
vạn. Xin tôn giả
từ bi thương xót! Con
phải làm thế nào để cứu
mẫu thân?
Ngày nay
trong sự ăn uống chúng
ta nói ăn thịt chẳng có
tội, nói vậy có lý
không? Nhất định
phải giác ngộ! Thế
nên đọc kinh này xong,
hiểu rõ chân tướng sự
thật thì làm sao dám ăn
thịt chúng sanh.
Đặc biệt là thích ăn
trứng cá, thích ăn cá
con, một chén thông
thường như vậy có bao
nhiêu sanh mạng, bạn nói
sát nghiệp này nặng bao
nhiêu, oán thù những
chúng sanh bị giết hại
này sâu dày bao nhiêu,
chúng nó tình nguyện để
cho bạn ăn sao?
Nếu nói là [chúng nó]
cam tâm tình nguyện lấy
thịt này cúng dường cho
bạn, thì nó là Bồ Tát,
nó giác ngộ rồi, chẳng
còn là chúng sanh nữa.
Nếu là chúng sanh thì
lúc bạn đi bắt nó, bạn
thử quan sát kỹ xem, nó
vùng vẫy, chẳng cam tâm
để bạn bắt. Lúc
bạn muốn làm thịt heo,
bạn kêu con heo lại nói
muốn làm thịt nó để ăn
coi con heo có ngoan
ngoãn cho bạn làm thịt
không? Vừa nhìn
thấy con dao là nó sợ
hết hồn, mau mau chạy
trốn rồi, nó biết bạn
muốn làm thịt nó.
Nó bị bạn bắt, bị bạn
giết là vì nó chẳng có
sức phản kháng, bạn biết
lòng căm hận này sâu lắm
hay không, kết oán thành
thù. Người ta
chẳng phải chỉ có đời
này mà thôi, còn đời sau
nữa, súc sanh cũng có
đời sau, khi cơ duyên
thành thục thì có lý nào
không báo thù cho được!
Chiến tranh trên thế
gian từ đâu mà có?
Phật dạy đều là từ sát
sanh ăn thịt mà ra.
Đức Phật đã
từng nói: “Muốn thế
gian này vĩnh viễn không
còn kiếp đao binh, chẳng
có chiến tranh thì trừ
phi chúng sanh không ăn
thịt”. Nếu
chúng sanh không ăn thịt
thì chiến tranh và tai
nạn trên thế gian này sẽ
chẳng còn nữa. Nói
cách khác, chúng sanh
trên thế gian còn ăn
thịt thì kiếp đao binh
tuyệt chẳng thể tránh
khỏi. Tại sao hiện
nay mỗi lần chiến tranh
xảy ra đều tàn khốc hơn
trước? Oán nghiệp
tích lũy quá sâu dày.
Chỉ dùng trí nhớ của
chúng ta để nói, những
hiện tượng người chết
thảm khốc trong thế
chiến thứ nhất và thứ
nhì, thế chiến thứ nhất
còn nhẹ, lần thứ nhì
nặng hơn rất nhiều,
chiến tranh nguyên tử
thứ ba sẽ thê thảm hơn
nữa. Lời Phật dạy
rất có lý. Ngày
nay chúng ta tạo tội
nghiệp cũng giống như mẹ
cô Quang Mục vậy, ‘tứ
tình thực đạm’, mặc sức
phóng túng, mạnh ăn hiếp
yếu, chịu sao nổi!
Cho nên ‘kế kỳ mạng số,
thiên vạn phục bội’, cả
đời bà giết [loài vật]
ăn thịt, nào phải chỉ
một ngàn, một vạn sinh
mạng thôi đâu, còn gấp
nhiều lần như vậy, đây
là tội nghiệp bà đã tạo.
Hai câu sau
là mong cầu pháp sư làm
sao cứu giúp bà.
‘Tôn giả từ mẫn’, ‘tôn
giả’ tức là ngày nay
chúng ta thường gọi là
‘tôn kính’. Pháp
sư tôn kính, La Hán tôn
kính, xin ngài giúp đỡ,
xin ngài tìm cách cứu mẹ
cô.
La Hán
mẫn chi, vi tác phương
tiện.
La Hán
thương xót bèn lập
phương tiện.
La Hán thấy
cô là người con có hiếu,
rất thương xót, dạy cô.
Khuyến
Quang Mục ngôn, nhữ khả
chí thành niệm Thanh
Tịnh Liên Hoa Mục Như
Lai, kiêm tố họa hình
tượng, tồn vong hoạch
báo.
Khuyên
Quang Mục rằng: “Cô phải
chí thành niệm đức Thanh
Tịnh Liên Hoa Mục Như
Lai và vẽ đắp hình
tượng, thì kẻ còn cùng
người mất đều được phước
báo”.
Câu này
quan trọng ở ba chữ ‘chí
thành niệm’, dùng tâm
chân thành để niệm Phật.
Trong kinh này chúng ta
thấy cách tiêu trừ tội
nghiệp cực nặng, độ tội
báo khổ nhất đều dạy
pháp môn niệm Phật,
chúng ta phải hiểu đạo
lý này. Tại sao
trong kinh chẳng dạy cô
niệm A Di Đà Phật?
Lời Phật thuyết pháp đều
là ‘chân ngữ, thật ngữ,
lời đúng như thật’.
Ở đây chúng ta có thể
thấy đây là vô lượng
kiếp về trước, đức Phật
xuất hiện ở thế gian đó
là ‘Thanh Tịnh Liên Hoa
Mục Như Lai’ là bổn sư
của họ. La Hán
khuyên cô niệm đức bổn
sư, tạo hình tượng của
Phật thì phước này sẽ
lớn lắm. ‘Tồn vong
hoạch báo’, ‘tồn’ là [kẻ
còn sống, chỉ] cô Quang
Mục, cô còn sống cô tu
phước, cô sẽ được phước
báo; ‘vong’ là [kẻ đã
mất, chỉ] mẹ cô, mẹ cô
cũng được phước báo.
Dạy cô làm việc này.
Đương nhiên La Hán giảng
kinh thuyết pháp cho cô,
nói rõ những đạo lý và
chân tướng sự thật này,
văn tự trong kinh điển
được giản lược, chúng ta
nhất định phải hiểu rõ.
Quang
Mục văn dĩ, tức xả sở
ái, tầm họa Phật tượng,
nhi cúng dường chi, phục
cung kính tâm bi khấp
chiêm lễ.
Quang Mục
nghe xong liền từ bỏ
những vật yêu thích, rồi
tô vẽ hình tượng Phật để
thờ cúng, và lại đem
lòng cung kính khóc
thương chiêm lễ.
Cô Quang
Mục y giáo phụng hành.
‘Xả sở ái’, sở ái là tài
vật [mình ưa thích],
phải dùng tài sản của
chính cô để tạo tượng.
Hiện nay tạo tượng dễ
dàng hơn thời xưa rất
nhiều, thời xưa tạo
tượng chư vị phải biết
hoàn toàn là đồ thủ công
nghệ, làm rất chậm, điêu
khắc phải dùng thời gian
rất dài mới có thể làm
thành một tượng hoàn
hảo. Ngay cả việc
vẽ tượng cũng chẳng dễ,
vẽ một tượng Phật cũng
cần rất nhiều ngày, đây
là việc chúng ta đều
biết. Hiện nay
khoa học kỹ thuật phát
đạt, tạo tượng Phật,
điêu khắc tượng Phật có
thể làm mô hình trước,
ngày nay gọi là sản xuất
hàng loạt, có thể cung
cấp cho nhiều người
thỉnh về cúng dường,
phước này càng lớn hơn
nữa. Vẽ tượng hiện
nay có thể dùng ấn loát,
có thể vẽ một bức hình
Phật, Bồ Tát thật trang
nghiêm, sau đó in cả vạn
tấm, mấy trăm ngàn, mấy
triệu tấm, thậm chí mấy
chục triệu tấm, cho đại
chúng cúng dường, thế
nên người hiện đại tu
phước dễ dàng hơn người
xưa nhiều. Người
hiện nay tạo nghiệp cũng
dễ hơn thời xưa, nhưng
tu phước cũng dễ hơn,
đây là lời kinh Địa Tạng
nói. Chúng sanh ở
Diêm Phù Đề tuy tạo tội
nghiệp rất dễ nhưng họ
cũng dễ quay về.
Thật sự có người khuyên
họ, nói rõ cho họ nghe,
họ quay về rất nhanh.
Trong hết
thảy chúng Bồ Tát, chẳng
có ai thù thắng hơn Địa
Tạng Bồ Tát, Địa
Tạng Bồ Tát ứng hóa ở
thế gian chúng ta tại
Cửu Hoa Sơn, Quán Thế Âm
Bồ Tát ứng hóa tại Phổ
Đà Sơn, đối với người
Trung Quốc chúng ta có
duyên phần đặc biệt.
Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện kinh Khoa Chú của
Thanh Liên pháp sư thời
vua Khang Hy vô cùng
hoàn hảo, tuy văn tự sâu
một chút, đối với người
hiện nay mà nói, thật ra
cũng rất tiện lợi cho
chúng ta học quốc văn.
Chúng ta xem chú giải
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện này như sách học
quốc văn, vậy thì không
tốt sao? Nếu sau
này chúng ta có duyên
phần kiếm được thời
gian, giảng tường tận
cuốn chú giải này một
lần giống như giảng quốc
văn vậy, làm cho chúng
ta đối với văn tự, văn
học Trung Quốc có thể
nâng cao trình độ thêm.
Đối với nội dung của
kinh này có thể đi sâu
thêm, nhận thức thấu
triệt hơn, đối với đời
sống, việc làm, đối sự,
đãi người, tiếp vật chắc
chắn sẽ có lợi ích lớn
hơn nữa, như lời nói
trong kinh là công đức
lợi ích chẳng thể nghĩ
bàn.
Hiện nay
trong thời đại này, phần
đông xã hội đại chúng
đều xem giáo học Phật
pháp thành tôn giáo, làm
cho đồng tu học Phật
chúng ta mất đi phương
hướng, đây là việc vô
cùng bất hạnh. Có
cơ duyên tiếp xúc đến
chánh pháp thì phải có
trách nhiệm đem mặt mũi
vốn sẵn có của Phật pháp
giải thích cho xã hội
đại chúng, làm cho mọi
người hiểu rõ Phật pháp
chẳng phải tôn giáo,
chẳng phải triết học.
Mà là gì? Là giáo
dục đời sống, giáo học
phá mê khai ngộ, lìa khổ
được vui. Chúng ta
nhận thức thuần chánh
thì mới được lợi ích
chân thật. Đoạn
này kể cô Quang Mục tiếp
nhận lời dạy của La Hán
xong, y giáo phụng hành.
‘Xả sở ái’ là đoạn tham,
tham là phiền não căn
bản, hết thảy phiền não
đều sanh từ ‘tham’, cho
nên đây là đoạn hết thảy
ác. Tô vẽ hình
tượng của Phật, Bồ Tát,
chiêm lễ và cúng dường
là tu hết thảy thiện.
Chiêm lễ, cúng dường,
xưng danh nhất định phải
y giáo tu hành.
‘Tu hành’ là sửa đổi hết
thảy hành vi sai lầm của
chúng ta trong đời sống,
công việc, xử sự, đãi
người, tiếp vật, như vậy
gọi là tu hành. Cô
làm theo cách này, quả
nhiên có cảm ứng.
Hốt ư dạ
hậu mộng kiến Phật thân,
kim sắc hoảng diệu như
Tu Di sơn phóng đại
quang minh.
Bỗng đến
giữa khuya thì mộng thấy
thân Phật sắc vàng sáng
chói như núi Tu Di phóng
ánh sáng lớn.
Trong mộng
cô có được cảm ứng.
Nhìn từ kinh văn thì cô
vẽ tượng Phật, cúng
dường tượng Phật vẽ.
Vị Phật vẽ trong tranh
này là Thanh Tịnh Liên
Hoa Mục Như Lai, cung
kính cúng dường, thì cô
cảm được Phật xuất hiện
trong mộng, tâm hiếu
khẩn thiết cảm động Phật
đến gia trì.
Nhi cáo
Quang Mục nhữ mẫu bất
cửu đương sanh nhữ gia,
tài giác cơ hàn, tức
đương ngôn thuyết.
Mà bảo
Quang Mục rằng: “Chẳng
bao lâu nữa thân mẫu cô
sẽ sanh vào nhà của cô,
khi vừa biết đói lạnh
thì liền biết nói”.
Và nói với
cô: “Chẳng bao lâu nữa
mẹ cô sẽ thoát ly ác đạo
và sanh đến nhân gian”.
Vì công đức của cô xuất
tiền tạo tượng, cung
kính cúng dường nên mẹ
cô được thoát khỏi địa
ngục, tội nặng đã tiêu
mất, vẫn còn tội dư lại
nên chẳng bao lâu sau sẽ
sanh vào nhà của cô.
Đứa bé này rất đặc biệt,
vừa ra đời liền biết
nói, thế gian chúng ta
cũng có, vừa sanh ra
liền biết nói, nhớ được
chuyện đời trước, việc
này trong nhà Phật gọi
là ‘đoạt thai’.
Chuyện này nói ra cũng
khá dài dòng, lúc người
mẹ có thai, thai ấy là
một người khác, người
này có duyên rất ít với
người mẹ, đến để làm gì?
Để đòi nợ, là quỷ đòi
nợ, thiếu chẳng nhiều
nên chỉ làm cho người mẹ
khó chịu trong vòng mười
tháng, cho bà cực khổ,
đứa bé này vừa ra đời
liền chết đi. Mẹ
của cô Quang Mục bèn
mượn thân của đứa bé ấy
nên gọi là ‘đoạt thai’.
Thần hồn của đứa bé lìa
khỏi thì thần hồn của mẹ
cô bèn nhập vào, đoạt
thai là như vậy.
Bà chẳng trải qua nổi
khổ của mười tháng hoài
thai nên bà nhớ chuyện
của mình rõ ràng, là đạo
lý như vậy. Người
ta phần đông trụ trong
thai mười tháng, gọi là
‘khổ trong thai ngục’,
mười tháng trong thai
cũng giống như trong địa
ngục vậy, chịu khổ cùng
cực nên quên hết những
chuyện đời trước, chúng
ta có thể hiểu được
những chuyện như vầy.
Chúng tôi đã từng thấy
một số trẻ em lúc hai,
ba tuổi vô cùng thông
minh, lanh lợi, đến bốn,
năm tuổi bị bịnh nặng,
sốt nóng rồi trở thành
khờ khạo, đần độn,
chuyện gì cũng chẳng nhớ
nổi. Chư vị nghĩ
thử xem một trận bịnh
nặng có thể làm trí nhớ
của nó mất hết, huống
chi là mười tháng trong
thai ngục. Đây là
việc chúng ta có thể lý
giải, quên mất hết
chuyện đời trước.
Chỉ khi đến bằng cách
đoạt thai thì người đó
nhớ rất rõ ràng vì chẳng
thọ khổ này. Nhà
cô quả thật đã xảy ra
chuyện như vậy.
Kỳ hậu
gia nội, tỳ sanh nhất
tử, vị mãn tam nhật nhi
nãi ngôn thuyết, khể thủ
bi khấp cáo ư Quang Mục.
Sau đó
người tỳ nữ trong nhà
sanh một bé trai, chưa
đầy ba ngày đã biết nói.
Đứa bé đó cúi đầu, buồn
khóc mà nói với Quang
Mục
Người giúp
việc trong nhà sanh một
đứa bé, đứa bé này chính
là mẹ cô Quang Mục đến
đầu thai, hoàn toàn phù
hợp với việc đức Phật
nói với cô trong giấc
mộng. Ngày thứ ba
sau khi chào đời, đứa bé
này nhìn thấy Quang Mục
bèn ‘khể thủ’, khể thủ
tức là gật đầu.
Đứa bé mới ba ngày,
chúng ta biết nó cử động
chẳng linh hoạt, nhưng
đứa bé này biết cúi đầu,
lễ kính, biểu lộ rất đau
thương. Nói với cô
Quang Mục:
Sanh tử
nghiệp duyên, quả báo tự
thọ, ngô thị nhữ mẫu,
cửu xử ám minh tự biệt
nhữ lai lụy đọa đại địa
ngục.
Nghiệp
duyên sanh tử, quả báo
tự thọ. Tôi là mẹ
của cô, lâu nay ở chốn
tối tăm. Từ khi
vĩnh biệt cô, tôi phải
đọa vào đại địa ngục.
Đây là nói
bà tuy vừa chết chẳng
lâu nhưng trong địa ngục
chịu tội khổ, những sự
khổ này như chúng ta
thường nói ‘sống một
ngày cũng như cả năm’.
Điều này cũng cho
thấy thời gian chẳng
chân thật, chẳng phải
thật pháp, thời gian là
khái niệm trừu tượng của
chúng ta. Giống
tiểu thuyết bút ký thời
cổ Trung Quốc, bút ký
tiểu thuyết đời Đường có
ghi chuyện ‘Hoàng Lương
Mộng’, thời gian trong
mộng rất ngắn ngủi,
hoàng lương là hạt kê,
nấu cháo hạt kê, hạt kê
rất dễ nấu, nấu nhanh
hơn những gạo khác, cháo
còn chưa nấu chín, ông
ta ở kế bên ngủ gục và
nằm mộng, khi mộng tỉnh
dậy thì cháo còn chưa
chín, bạn nói thời gian
này ngắn không, chỉ là
vài phút. Nhưng
trong mộng ông ta đã
trải qua mấy chục năm,
nói lên sự chênh lệch
thời gian rất lớn.
Ở cõi người chẳng bao
lâu, ngày tháng chẳng
lâu, còn bà trong địa
ngục thì hình như đã
trải qua mấy kiếp rồi,
cảm thọ của bà rất chân
thật, thật là một thời
gian dài đăng đẳng.
‘Cửu xử ám
minh’, đây là như vừa
nói, cảm thọ về thời
gian và không gian chẳng
tương đồng, trong địa
ngục cảm thấy thời gian
thật là dài. Giống
như người cõi trời nhìn
chúng ta vậy, nếu từ
trời Đâu Suất nhìn chúng
ta, nhân gian chúng ta
một trăm năm, sống một
trăm năm thật lâu thì ở
trời Đâu Suất chỉ là vài
giờ. Nếu dùng hai
mươi bốn giờ để tính,
một phần tư của một ngày
là sáu giờ, một trăm năm
ở cõi người bằng sáu giờ
đồng hồ ở trời Đâu Suất.
Người cõi trời Đâu Suất
cảm thấy rất nhanh, chỉ
trong chốc lát nhưng ở
cõi người đã là một trăm
năm rồi. Thế nên
mấy mươi ngày ở nhân
gian thì trong địa ngục
đã trải qua mấy đại kiếp
rồi. Bà đọa đại
địa ngục, chẳng phải địa
ngục thường, tạo tội quá
sâu nặng.
Lúc còn trẻ
tôi chưa học Phật cũng
ưa ăn thịt. Nghiệp
tôi tạo nặng hơn rất
nhiều người, vào thời
kháng chiến [chống Nhật]
tôi thường đi săn bắn,
sau khi đọc kinh Địa
Tạng tôi rất sợ hãi,
thật sự lo sợ nên bắt
đầu ăn chay trường,
chẳng dám ăn thịt nữa,
tự biết tội mình đã tạo
rất nặng. Lúc nhỏ
vô tri, cha tôi ưa thích
săn bắn nên chúng tôi
thường theo ông lên núi
săn bắn, mỗi ngày đều
đem những con vật bắn
được về nhà. Tôi
đã săn bắn ba năm, mười
sáu tuổi bắt đầu săn
bắn, mười bảy, mười tám,
mười chín tuổi.
Cho nên tôi bắn súng hầu
như là trúng một trăm
phần trăm, chẳng cần
phải nhắm, tôi có bản
lãnh này. Mỗi ngày
tối thiểu là bắn hai
mươi viên đạn, lúc chẳng
đi săn thì cũng luyện
tập bắn súng. Cha
tôi là một người lính,
lúc đó nhằm thời chiến
tranh với Nhật, ông ta
quản lý về khí giới,
quản lý những súng ống
này, thế nên ở nhà tôi
có rất nhiều súng.
Cơ hội tạo nghiệp, mỗi
ngày đều luyện tập, con
nít có đứa nào không
thích chơi với súng ống?
Chúng tôi chơi súng
thiệt. Bắn súng
rất chính xác là do mỗi
ngày luyện tập nên, bạn
không luyện đâu có được,
phải luyện chứ.
Chuyện gì cũng là một
môn thâm nhập, tập luyện
trong một thời gian dài,
cho nên tài bắn súng của
tôi rất giỏi.
Nhưng nghiệp tạo cũng
rất nặng, lúc đó còn
chưa hiểu biết.
Sau này học
Phật, đọc kinh Địa Tạng,
đọc đến lông tóc dựng
đứng. Nhìn thấy
cảnh tượng lúc cha tôi
chết giống y như kinh đã
nói. Lúc cha tôi
chết, ông phát bịnh điên
cuồng, nhìn thấy núi bèn
chạy lên núi, nhìn thấy
sông bèn nhảy xuống
sông, hoàn toàn giống y
như lời nói trong kinh,
đây là cảnh tôi đích
thân nhìn thấy.
Chúng tôi lên núi để săn
bắn thú rừng, chúng tôi
dùng thuốc nổ màu vàng
để giết cá trong sông, mỗi
lần nổ như vậy là cả
ngàn, cả vạn con cá đều
bị nổ chết trôi lên mặt
nước, bạn nói tội nghiệp
này nặng bao nhiêu?
Săn bắn, săn thú thì còn
ít, chứ dùng thuốc nổ để
giết cá thì quá nhiều.
Chúng tôi thường làm
những chuyện này, biết
được tội nghiệp này nặng
vô cùng. Quả báo
của sự sát sanh là đoản
mạng, cha tôi mới bốn
mươi lăm tuổi thì qua
đời.
Sau này tôi
học Phật, người ta coi
bói cho tôi, nói mạng
tôi sống chẳng qua bốn
mươi lăm tuổi, tôi rất
tin. Thế nên tôi
học Phật rất tinh tấn vì
mạng sống đã được định
tới bốn mươi lăm tuổi
thôi. Đến năm bốn
mươi lăm tuổi tôi bị
bịnh nặng, bịnh hơn một
tháng, tôi chẳng đi coi
bác sĩ, chẳng uống thuốc
vì trong tâm nghĩ rằng
mạng sắp hết rồi, bác sĩ
có thể chữa bịnh chứ
chẳng thể chữa mạng.
Bởi vậy nên trong suốt
cả tháng niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ, niệm được
một tháng thì bịnh tự
nhiên hết. Sau này
có một năm nọ, tại pháp
hội Nhân Vương ở Đài
Loan, tôi gặp ‘Phật Sống
Cam Châu’, ông là một
người bạn cũ của tôi.
Gặp tôi xong, ông rất
hoan hỷ và nói: ‘Mấy năm
nay thầy giảng kinh
thuyết pháp công đức rất
lớn, thầy vốn chẳng có
phước báo mà còn đoản
mạng, bây giờ không
những thầy có phước báo
mà còn sống lâu nữa, đều
là nhờ hoằng pháp lợi
sanh nên phước báo hiện
tiền’.
Tôi chẳng
cầu sống lâu, vì hiểu
rõ, giác ngộ rồi, chẳng
vì mình nữa, hết thảy
đều vì Phật pháp, vì
chúng sanh nên có được
cảm ứng. Đối với
bản thân tôi, tôi bất cứ
lúc nào cũng muốn ra đi,
tôi chẳng lưu luyến gì
với thế gian này.
Thân thể lưu lại thế
gian này là phước của
chúng sanh, chúng sanh
cần, Phật pháp cần nên
lưu lại thêm vài ngày;
khi nào chúng sanh không
cần nữa, Phật pháp cũng
không cần nữa thì tôi sẽ
ra đi lập tức, chẳng lưu
luyến gì. Đây là
tâm trạng và thái độ
hiện nay của tôi, tôi
rất hoan hỷ sớm một ngày
đến Cực Lạc thế giới
thân cận A Di Đà Phật.
Đây là kể chuyện tạo
nghiệp thọ báo, nếu tôi
chẳng học Phật thì chắc
chắn cũng thọ báo trong
địa ngục, chẳng có lời
gì để nói, nghiệp duyên
của mình ở nơi đó, ‘sanh
tử nghiệp duyên, quả báo
tự thọ’, việc này làm
sao chạy trốn nổi!
Mẹ của cô Quang Mục chỉ
vì ham ăn, chúng tôi
không những ham ăn, còn
tạo nghiệp, sát sanh,
sát hại quá nhiều.
Phía sau là lời [mẹ cô]
cảm ơn:
Mông nhữ
phước lực phương đắc thọ
sanh, vi hạ tiện nhân,
hựu phục đoản mạng, thọ
niên thập tam, cánh lạc
ác đạo. Nhữ hữu hà
kế linh ngô thoát miễn.
Nhờ phước
lực của cô nên mới được
thọ sanh làm kẻ hạ tiện,
lại thêm thọ mạng ngắn
ngủi, đến năm mười ba
tuổi lại phải đọa vào ác
đạo. Cô có phương
kế gì khiến tôi được
thoát miễn chăng?
Đây là lời
nói với con bà, nhờ cô
tạo tượng, cúng dường,
tu phước nên có thể
thoát khỏi địa ngục, mới
được thân người.
Được thân người, làm
người hạ tiện, là con
của người nô tỳ trong
nhà. Và sẽ đoản
mạng, chỉ sống đến mười
ba tuổi, sau đó lại phải
đọa ác đạo. Nói
cho cô biết việc này: cô
có biện pháp gì để cứu
tôi không?
Quang Mục
văn thuyết, tri mẫu vô
nghi, ngạnh yết bi đề,
nhi bạch tỳ tử, ký thị
ngã mẫu hiệp tri bổn tội
tác hà hành nghiệp đọa ư
ác đạo.
Quang Mục
nghe nói biết là mẹ mình
chẳng sai, nên nghẹn
ngào thương khóc mà nói
với con kẻ tỳ nữ rằng:
“Đã là mẹ tôi, tất biết
bổn tội, do làm hạnh
nghiệp gì mà phải đọa
vào ác đạo như thế?”.
Cô Quang
Mục nghe đến chuyện này,
trong giấc mộng Phật đã
nói trước với cô, chuyện
này hoàn toàn trở thành
sự thật. Biết thật
sự là mẹ cô đến đầu thai
ở nhân gian. Nghe
bà nói những chuyện này,
thọ mạng chỉ có mười ba
tuổi, cảm thấy bà rất
đáng thương. Nên
hỏi bà: “Bà là má trở
lại đây, má nên biết
mình đã tạo tội gì nên
mới đọa vào ác đạo.”
Tỳ tử
đáp ngôn dĩ sát hại hủy
mạ, nhị nghiệp thọ báo,
nhược phi mông phước cứu
bạt ngô nạn, dĩ thị
nghiệp cố, vị hiệp giải
thoát.
Con kẻ tỳ
nữ đáp do hai nghiệp là
sát hại và hủy mạ mà
phải thọ báo. Nếu
không nhờ phước đức của
cô cứu cho, cứ theo
những nghiệp đó thì tôi
vẫn chưa được giải
thoát.
[Con người
tỳ nữ] nói rõ với cô,
lúc còn sống sát sanh
hại mạng, thích ăn thịt,
đặc biệt ưa ăn đồ biển,
đã nói phía trước.
Sát sanh, hại mạng quá
nhiều rồi, những oan
nghiệp này còn chưa đền
trả. Đọa địa ngục
là tánh tội, trong năm
giới do Phật chế định:
sát sanh, trộm cắp, dâm
dục, vọng ngữ là ‘tánh
tội’, chẳng thọ giới mà
tạo cũng có tội, chẳng
thể nói là không có tội,
đây là ‘bốn tội nặng’.
Bất kể là có Phật pháp
hay không, bất kể là có
học Phật hay không, hễ
bạn phạm thì là tội
nghiệp cực nặng.
Khi tạo tội này, xem bạn
dùng tâm gì để coi
nghiệp của bạn tạo sâu
rộng bao nhiêu, luận tội
chẳng giống nhau.
Nghiệp bà tạo là cốt ý,
bừa bãi phóng túng, thì
tội này sẽ rất nặng, sát
sanh hại mạng.
‘Hủy mạ’ phần lớn là
nói: đối với người
thiện, việc thiện, Phật
pháp chẳng tin tưởng,
người khác khuyên họ thì
không những chẳng thể
tiếp nhận mà còn hủy
báng, mắng chửi.
Nếu chúng ta nói chuyện
trong kinh Địa Tạng cho
họ nghe, họ lắc đầu
không tin và nói đây là
chuyện gạt người.
Đây chính là báng Phật,
báng pháp, tội này càng
nặng hơn nữa. Tạo
hai tội nghiệp này sẽ
thọ khổ báo địa ngục.
‘Nhược phi
mông phước, cứu bạt ngô
nạn’, nếu chẳng nhờ
người con tu phước cho
bà thì bà sẽ chẳng có
cách chi giải thoát nổi,
bà sẽ tiếp tục chịu khổ
báo của địa ngục.
Tội báo ở địa ngục thọ
xong còn phải đọa ngạ
quỷ, súc sanh để hoàn
trả. Nợ mạng này
vô cùng dễ sợ, những
chúng sanh do bạn sát
hại đều muốn đền trả,
thiếu tiền phải trả
tiền, thiếu nợ mạng thì
phải đền mạng.
Thời quá khứ, An Sĩ Cao
đại sư đã phải trả nợ
mạng hai lần ở Trung
Quốc, trong truyện ký có
ghi chép, hai món nợ này
là do đời trước ngài
giết lầm, chẳng phải cốt
ý giết, ngộ sát cũng
phải đền nợ. Hai
lần này đều bị người ta
ngộ sát, nhân duyên quả
báo tơ hào chẳng sai,
chúng ta phải giác ngộ.
Nếu chẳng thể vãng sanh
đến tây phương Cực Lạc
thế giới, chẳng thoát
nổi lục đạo luân hồi,
nói cách khác chúng ta
phải biết, hết thảy
những oán nghiệp mà mình
đã kết với chúng sanh
đều phải hoàn trả, như
vậy thì làm sao chịu
nổi. Đến đời kiếp
nào mới trả cho hết,
chúng ta không thể không
giác ngộ. Bất luận
là bạn có học Phật hay
không, đây là sự thật,
ai cũng không thể tránh
khỏi, ai cũng chẳng thể
thoát khỏi. Chúng
ta hiểu những chân tướng
sự thật này, chỉ có một
phương pháp duy nhất có
thể cứu mình, có thể độ
chúng sanh, có thể hóa
giải hết thảy oan nghiệp
từ vô lượng kiếp đến
nay, đó chính là cầu
sanh Tịnh Độ. Sau
khi sanh về Tịnh Độ,
chúng ta có khả năng mỗi
ngày trên thì cúng dường
chư Phật, dưới thì độ
hóa chúng sanh, đem hết
thảy công đức tích lũy
được hồi hướng cho tất
cả oan gia trái chủ từ
vô lượng kiếp đến nay,
giúp cho họ phá mê khai
ngộ, lìa khổ được vui
thì mới giải trừ, hóa
giải được hết những oan
nghiệp ấy. Ngoài
phương pháp này ra tuyệt
chẳng tìm ra phương pháp
thứ hai nào khác.
Cho nên chư Phật Như Lai
khuyên dạy chúng ta nên
phát Bồ Đề tâm, nhất
hướng chuyên niệm A Di
Đà Phật, cầu sanh Tịnh
Độ, chính là đạo lý này.
Xem tiếp kinh văn:
Quang
Mục vấn ngôn địa ngục
tội báo kỳ sự vân hà.
Quang Mục
hỏi: ‘Những tội báo
trong địa ngục ra sao?’
Quang Mục
cũng muốn hỏi thăm,
trong địa ngục thật sự
là như thế nào.
Tỳ tử
đáp ngôn tội khổ chi sự
bất nhẫn xưng thuyết, bá
thiên tuế trung tốt bạch
nan cánh.
Con kẻ tỳ
nữ đáp: “Những việc tội
khổ nói ra càng bất
nhẫn, suốt cả trăm ngàn
năm cũng khó mà kể hết
được”.
Đương nhiên
mẹ cô cũng nói sơ lược
cho cô nghe, có thể nói
hết không? Nói
không hết, quá khổ, khổ
đến mức chẳng nhẫn tâm
nói ra, một trăm năm,
một ngàn năm cũng chẳng
nói hết. Đây là
việc mẹ cô đọa địa ngục
đích thân cảm thọ.
Quang Mục
văn dĩ đề lệ hào khấp
nhi bạch không giới.
Quang Mục
nghe xong rơi lệ gào
khóc, bạch cùng hư không
rằng:
Ngước mặt
lên hư không phát
nguyện.
Nguyện
ngã chi mẫu vĩnh thoát
địa ngục, tất thập tam
tuế cánh vô trọng tội,
cập lịch ác đạo.
Nguyện cho
thân mẫu con vĩnh viễn
thoát khỏi địa ngục, khi
mãn mười ba tuổi sẽ
không còn trọng tội,
cũng chẳng phải trải qua
các ác đạo nữa.
Đây là cô
Quang Mục vì mẫu thân
phát đại thệ nguyện.
Trước hết cầu nguyện cho
mẹ cô vĩnh viễn lìa khỏi
ác đạo, mẹ cô vốn phải
đọa vào ác đạo sau khi
sống đến mười ba tuổi,
vẫn phải chịu khổ tiếp
tục. Cô hướng lên
không trung cầu nguyện.
Thập phương
chư Phật từ ai mẫn ngã,
thính ngã vị mẫu sở phát
quảng đại thệ nguyện,
nhược đắc ngã mẫu vĩnh
ly tam đồ cập tư hạ
tiện, nãi chí nữ nhân
chi thân, vĩnh kiếp bất
thọ giả. Nguyện
ngã tự kim nhật hậu đối
Thanh Tịnh Liên Hoa Mục
Như Lai tượng tiền,
khước hậu bá thiên vạn
ức kiếp trung ứng hữu
thế giới sở hữu địa ngục
cập tam ác đạo chư tội
khổ chúng sanh thệ
nguyện cứu bạt, lịnh ly
địa ngục ác thú, súc
sanh, ngạ quỷ đẳng, như
thị tội báo đẳng nhân,
tận thành Phật cánh, ngã
nhiên hậu phương thành
Chánh Giác.
Cúi xin
thập phương chư Phật từ
bi thương xót lắng nghe
con nay vì mẹ mà phát
lời thệ nguyện rộng lớn
rằng: “Như thân mẫu con
được vĩnh viễn lìa khỏi
chốn tam đồ và hàng hạ
tiện, cho đến cùng kiếp
không phải thọ thân
người nữ nữa, con xin
đối trước tượng của đức
Thanh Tịnh Liên Hoa Mục
Như Lai mà phát nguyện
kể từ nay cho đến trăm
ngàn muôn ức kiếp về
sau, hễ nơi nào có thế
giới còn các chúng sanh
chịu tội khổ nơi địa
ngục cùng tam ác đạo,
con nguyện cứu vớt và
làm cho tất cả đều xa
lìa các nẻo ác địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh,
...Những kẻ mắc tội báo
ấy thành Phật cả rồi thì
sau đó con mới thành
Chánh Giác.”
Cô Quang
Mục là tiền thân của Địa
Tạng Bồ Tát, mẹ cô đích
thật vĩnh viễn thoát ly
ác đạo, tại sao?
Nếu mẫu thân chẳng đọa
địa ngục chịu khổ như
vậy thì làm sao cô phát
tâm nổi? Công đức
của mẹ cô là từ chỗ này
mà ra. Vì bà đọa
địa ngục chịu khổ nhiều
như vậy, thúc đẩy người
con hiếu phát tâm rộng
lớn, cô có thể phát
hoằng nguyện này, nhân
duyên hy hữu này có được
là do mẹ cô đọa ác đạo
mà ra. Nếu chẳng
có việc này thì cô chắc
chắn sẽ chẳng phát tâm,
cô cũng chẳng sắp bày lễ
vật cúng dường, cũng
chẳng bỏ của cải để đắp
tạo tượng Phật, mẹ cô đã
cho cô tăng thượng duyên
nghịch này. Cho
nên người sống, kẻ mất
cả hai cõi đều được lợi
ích, lợi ích to lớn,
chẳng thể nghĩ bàn.
Nói cho chư vị biết
nguyện này vừa phát thì
mẹ cô vĩnh viễn thoát ly
tam ác đạo. Chúng
ta phải hiểu đạo lý này
và phải ghi nhớ tâm
nguyện của cô, nếu chúng
ta có thể dùng nguyện
của Địa Tạng Bồ Tát đã
phát làm bổn nguyện của
mình, mình cũng phát
nguyện giống vậy thì
mình sẽ là hóa thân của
Địa Tạng Bồ Tát, công
đức này chẳng thể nghĩ
bàn. Không những
cha mẹ quyến thuộc quá
khứ vĩnh viễn được thoát
ác đạo, nhà Phật thường
nói:
‘Một người con thành
Phật, chín đời tổ tiên
sanh thiên’, chín
đời tổ tiên về trước đều
có thể thoát khỏi ác
đạo, sanh lên trời hưởng
phước cõi trời, lời này
là thật chẳng giả, chúng
ta từ đoạn kinh này thấu
hiểu được một cách sâu
sắc. Cô phát
nguyện trước tượng Phật,
trăm ngàn vạn ức kiếp từ
nay trở về sau, sức mạnh
của nguyện lực này chẳng
phải nhất thời, chẳng ở
trong thời gian ngắn,
cũng chẳng ở một nơi, mà
là ‘ứng hữu thế giới, sở
hữu địa ngục, cập tam ác
đạo’, nguyện hạnh này
lớn biết mấy?
Không gian lớn biết mấy?
Thời gian vô tận, không
gian tận hư không, trọn
cả pháp giới, nơi nào có
địa ngục và ba đường ác,
hết thảy những chúng
sanh chịu khổ nơi ấy, cô
phát đại thệ nguyện đều
cứu vớt họ. Giúp
cho những người này vĩnh
viễn ‘xa lìa địa ngục ác
thú, súc sanh, ngạ quỷ’,
nguyện những người thọ
tội này, những người
chịu khổ nạn giống mẹ
cô, họ đều thành Phật
xong rồi cô mới thành
Phật, đây chính là
‘địa ngục chẳng không,
thề chẳng thành Phật’.
Địa Ngục trở thành trống
không rồi, thì ngạ quỷ,
súc sanh đương nhiên
cũng sẽ trống không, đây
là đạo lý nhất định.
Phát thệ
nguyện dĩ, cụ văn Thanh
Tịnh Liên Hoa Mục Như
Lai nhi cáo chi viết,
Quang Mục nhữ đại từ mẫn
thiện năng vi mẫu phát
như thị đại nguyện.
Phát thệ
nguyện xong liền nghe rõ
tiếng của đức Thanh Tịnh
Liên Hoa Mục Như Lai
nói: “Quang Mục, cô do
lòng đại từ mẫn khéo vì
mẹ mà phát đại nguyện
như vậy”.
Đây là lòng
Hiếu cảm đến chư Phật.
Vừa phát nguyện xong bèn
nghe tiếng, chẳng nhìn
thấy tướng của Phật, chỉ
nghe tiếng của Phật, cảm
ứng vô cùng rõ ràng,
hiển cảm hiển ứng
.
Cô phát nguyện trước
tượng Phật, đây là
‘cảm’, cảm rõ ràng, lập
tức được ‘ứng’ rõ ràng
của Phật. Cô nghe
tiếng của Phật bảo rằng:
‘Quang Mục, lòng đại từ
mẫn của cô.’
Đây chính là đại từ đại
bi phổ độ chúng sanh của
Như Lai. ‘Thiện
năng vi mẫu’, nguyện
tâm, đại từ mẫn tâm này
của cô là do nhân duyên
mẹ cô đọa ác đạo nên cô
mới phát được.
Ngô quán
nhữ mẫu thập tam tuế
tất, xả thử báo dĩ, sanh
vi Phạm Chí, thọ niên bá
tuế.
Ta quán sát
thấy mẹ cô lúc mãn mười
ba tuổi, khi xả báo thân
này rồi thọ sanh làm
người Phạm Chí sống lâu
trăm tuổi.
Phật nói
với cô: nghiệp báo của
mẹ cô đã chuyển rồi,
nguyện vừa phát liền
chuyển. Mẹ cô mười
ba tuổi chết đi, vẫn
được thân người lại rất
thù thắng, sanh làm
người Phạm Chí, là người
tu hành trong đạo Bà La
Môn, sống lâu đến một
trăm tuổi.
Quá thị
báo hậu, đương sanh Vô
Ưu quốc độ
Sau khi hết
báo thân ấy sẽ được sanh
về cõi nước Vô Ưu.
‘Vô Ưu quốc
độ’ tức là tây phương
Cực Lạc thế giới.
Trong khi bà tu đạo có
được nhân duyên thù
thắng nghe đến Phật
pháp, bà phát tâm niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ,
sanh đến tây phương Cực
Lạc thế giới.
Thọ mạng
bất khả kế kiếp.
Thọ mạng
chẳng thể tính đếm nổi
Vô lượng
thọ giống như đức Phật A
Di Đà.
Hậu
thành Phật quả
Sau đó sẽ
thành Phật.
Ở tây
phương Cực Lạc thế giới
chắc chắn một đời thành
Phật, cho nên pháp môn
này gọi là pháp môn
thành tựu ngay trong đời
này. Sau khi thành
Phật:
Quảng độ
nhân thiên, số như Hằng
hà sa.
Độ rộng
khắp nhân thiên số nhiều
như cát sông Hằng.
Đây là lời
đức Thanh Tịnh Liên Hoa
Mục Như Lai nói với
Quang Mục: những thiện
báo của mẹ cô sau này.
Đây là câu chuyện của cô
Quang Mục, Địa Tạng Bồ
Tát phát nguyện khi còn
tu nhân. Sau khi
Phật nói xong, nói với
Định Tự Tại Vương.
Xin xem tiếp:
Phật cáo
Định Tự Tại Vương, nhĩ
thời La Hán phước độ
Quang Mục giả tức Vô Tận
Ý Bồ Tát thị.
Phật bảo
Định Tự Tại Vương: “Vị
La Hán phước lành độ
Quang Mục thuở đó chính
là Vô Tận Ý Bồ Tát”.
Vị La Hán
lúc đó, người dạy Quang
Mục độ mẫu thân, chính
là Vô Tận Ý Bồ Tát hiện
nay, đây là vị Đẳng Giác
Bồ Tát. Thuở đó là
La Hán, La Hán chẳng
nhất định là Tứ Quả, chư
vị nên biết Sơ Quả, Nhị
Quả, Tam Quả đều gọi là
La Hán, hiện nay là Đẳng
Giác Bồ Tát.
Quang
Mục mẫu giả tức Giải
Thoát Bồ Tát thị.
Mẹ của cô
Quang Mục tức là Giải
Thoát Bồ Tát.
Hiện nay
cũng là Đẳng Giác Bồ
Tát.
Quang
Mục nữ giả tức Địa Tạng
Bồ Tát thị.
Cô Quang
Mục chính là Địa Tạng Bồ
Tát.
Nói rõ bổn
tích nhân duyên của cô
ra, đây là việc chúng ta
nên học tập, xin xem
tiếp kinh văn:
Quá khứ cửu
viễn kiếp trung như thị
từ mẫn phát Hằng hà sa
nguyện quảng độ chúng
sanh
Trong nhiều
kiếp lâu xa ở quá khứ,
Bồ Tát đã có lòng từ mẫn
như vậy lập thệ nguyện
nhiều như cát sông Hằng
rộng độ chúng sanh.
Ở đây đức
Phật khuyên và khích lệ
chúng ta thêm lần nữa,
phải hiểu chân tướng của
sự tích này. Nhiều
kiếp lâu xa trong quá
khứ, Địa Tạng Bồ Tát
nhiều đời nhiều kiếp gặp
những duyên khổ này,
kích phát bi nguyện của
ngài, nhiều đời nhiều
kiếp đều phát nguyện.
‘Phát Hằng hà sa số
nguyện’, số nguyện phát
ra nhiều như vậy cho nên
nguyện tâm của ngài mạnh
mẽ, nguyện lực rộng lớn
như vậy, đối tượng đều
là chúng sanh khổ nạn
trong tận hư không, trọn
khắp pháp giới.
Xin xem tiếp đoạn kinh
sau đây:
Vị lai
thế trung
Trong đời
vị lai
‘Vị lai
thế’ là chỉ đời hiện nay
của chúng ta. Theo
cách người Tây Phương
nói, hiện tại chúng ta
cách thời đức Phật còn
tại thế hơn hai ngàn năm
trăm năm, nhưng nếu theo
cách tính như trong lịch
sử Trung Quốc ghi chép
thì là hơn ba ngàn năm.
Cho nên ‘vị lai thế
trung’ tức là chỉ chúng
ta hiện nay.
Nhược
hữu nam tử nữ nhân.
Nếu có kẻ
nam, người nữ.
‘Nam tử nữ
nhân’ chẳng có thêm chữ
‘thiện’, nói cách khác
tức là kẻ nam, người nữ
tạo nghiệp. Phía
sau nói:
Bất hành
thiện giả, hành ác giả,
nãi chí bất tín nhân quả
giả, tà dâm vọng ngữ
giả, lưỡng thiệt ác khẩu
giả, hủy báng Đại Thừa
giả, như thị chư nghiệp
chúng sanh, tất đọa ác
thú.
Không
làm lành mà làm ác, cho
đến kẻ chẳng tin nhân
quả, kẻ tà dâm nói dối,
kẻ nói lưỡi hai chiều,
nói lời hung ác, kẻ hủy
báng Đại Thừa, những
chúng sanh có các nghiệp
như thế ắt phải đọa vào
đường ác.
Đây là nói
về đời hiện nay, tạo
những nghiệp này trong
xã hội ngày nay quá phổ
biến, bất cứ lúc nào ở
đâu chúng ta cũng đều
thấy được. Nếu họ
tạo tiếp tục, chẳng biết
quay về, ‘nhất định sẽ
đọa ác đạo’. ‘Ác
thú’ tức là tam ác đạo.
Vả lại, người ta [sống]
trên đời này vô cùng
ngắn ngủi, trong thời
gian ngắn rất dễ tạo ác
nghiệp, tạo ác nghiệp
cực nặng, chớp mắt liền
thấy họ phải thọ khổ
báo.
Nhược ngộ
thiện tri thức, khuyến
lịnh nhất đàn chỉ gian
quy y Địa Tạng Bồ Tát,
thị chư chúng sanh tức
đắc giải thoát tam ác
đạo báo.
Nếu gặp
được thiện tri thức
khuyên bảo khiến trong
chừng khảy móng tay liền
quy y Địa Tạng Bồ Tát,
những chúng sanh đó lập
tức được thoát khỏi quả
báo của tam ác đạo.
Có bao
nhiêu người gặp được
thiện tri thức chân
chánh? Có thể nghe
theo lời răn dạy của
thiện tri thức?
Thiện tri thức chân
chánh hiểu rõ đạo lý
nhân duyên quả báo và
chân tướng sự thật của
nhân duyên quả báo, lời
khuyến cáo của họ chân
thành, từ bi, thân
thiết, chúng ta nghe
xong sẽ cảm động.
‘Nhất đàn chỉ gian’ nói
về thời gian ngắn, rất
ngắn. Bạn có thể
‘quy y Địa Tạng Bồ Tát’,
‘quy’ là quay về, lúc
trước tạo hết thảy tội
nghiệp hôm nay quay lại
chẳng tạo nữa; ‘y’ là
nương dựa, nương theo
lời dạy của Địa Tạng Bồ
Tát để tu hành.
Lời dạy của Địa Tạng Bồ
Tát ở đâu? Tức là
bộ kinh này. Kinh
này chẳng dài, chẳng khó
thọ trì, mỗi ngày chúng
ta có thể đọc tụng, giải
nghĩa, y giáo phụng
hành, như vậy thì gọi là
‘quy y Địa Tạng Bồ Tát’.
Chư vị nhất định phải
hiểu rõ đạo lý này,
trong kinh đức Phật
thường dạy chúng ta
‘thọ trì, đọc tụng, vì
người diễn nói’, như
vậy gọi là ‘quy y’.
Chứ không phải mỗi ngày
đọc kinh này một lần thì
xong, như vậy không
được. Niệm một lần
là tăng trưởng hạt giống
thiện trong A Lại Da
thức của bạn, nếu hành
vi của bạn chẳng sửa
đổi, chẳng thể sửa sai
đổi mới, chẳng thể quay
về thì vẫn phải thọ ác
báo. Nhưng ác báo
này sẽ nhẹ một chút,
thời gian thoát ly ác
đạo sẽ nhanh hơn một
chút, nhất định sẽ như
vậy. Nhưng nếu
muốn không đọa ác đạo
thì đó là chuyện không
thể xảy ra, nếu vậy thì
lý luận nhân duyên quả
báo sẽ bị lật đổ.
Vì thường đọc tụng,
[tuy] bạn chẳng làm,
[mà] hạt giống ‘kinh Địa
Tạng’ trong A Lại Da
thức có nhiều, dễ khởi
lên, dễ giác ngộ, có lợi
ích như vậy. Khi
nào trong ác đạo giác
ngộ, quay về thì bạn lập
tức lìa khỏi ác đạo.
Nếu trong A Lại Da thức
chẳng khắc sâu ấn tượng,
khi gặp những khổ báo
này họ chẳng giác ngộ,
chẳng quay lại thì phải
tiếp tục thọ nỗi khổ này
mãi mãi.
Nếu bạn đọc
tụng và còn có thể giải
nghĩa, như vậy phải cần
có thiện tri thức.
Duyên của thiện tri thức
có cạn sâu chẳng đồng.
Cạn thì khuyên bạn quy y
trong chừng một khảy
móng tay; sâu thì giảng
rõ ràng sự thật cho bạn,
sau đó khuyên bạn tu
hành như thế nào, duyên
của thiện tri thức này
sẽ rất sâu. Khi
bạn hiểu rõ ràng, minh
bạch rồi, thật sự quay
về, quay về cứu chính
mình chứ chẳng phải cứu
người khác. Nếu
chẳng quay về, chẳng cứu
mình thì nhất định sẽ
đọa ác đạo. Giống
mẹ cô Quang Mục đã nói,
cảnh khổ trong địa ngục
nói chẳng hết, chẳng
nhẫn tâm nói ra.
Quả nhiên quay về, y
giáo phụng hành, tuân
thủ lời dạy của Phật,
mỗi ngày thọ trì, đọc
tụng, vì người diễn nói,
thì người này ‘lập tức
được thoát khỏi quả báo
của tam ác đạo’, nhất
định sẽ chẳng tạo nghiệp
tam ác đạo, và cũng
chẳng thọ quả báo tam ác
đạo. Đây là nguyên
nhân gì? Duyên đã
chuyển rồi.
Chư vị nên
biết Phật pháp giảng về
Lý, những hạt giống của
nghiệp bạn đã tạo trong
quá khứ vĩnh viễn tồn
tại, chẳng thể nói hôm
nay bạn tu thiện thì
việc thiện này có thể
đền bù tội lỗi, chẳng
thể đền bù được.
Thiện có thiện quả, ác
có ác báo, vĩnh viễn
chẳng thể đền bù.
Nhưng tội nghiệp sâu
nặng, tội báo này nhất
định phải có, ngày nay
tôi tạm thời không muốn
thọ ác báo này, tôi muốn
làm cho quả báo thiện
hiện ra trước, như vậy
thì được, việc này có
thể làm. Đạo lý ở
chỗ nào? Ở tại
‘duyên’. Từ hôm
nay trở đi tôi đoạn dứt
hết thảy việc ác, tôi
đoạn dứt ác duyên, tuy
hạt giống ác nghiệp vẫn
còn, nhưng không có
duyên thì nó sẽ chẳng
hiện ra. Tuy [hạt
giống] thiện của tôi ít,
tôi gia tăng duyên thiện
mạnh thêm, để cho thiện
ra hoa trước, kết quả
trước. Việc này có
thể làm được, việc này
hợp lý, thật sự hợp
tình, hợp pháp, hợp lý.
Thế nên chúng ta từ hôm
nay trở đi nhất định
phải đoạn dứt tất cả
điều ác, tu hết thảy
điều thiện. ‘Đoạn
hết thảy ác’ tức là chấm
dứt duyên ác, trước kia
tuy đã tạo nhân ác cực
nặng, chẳng có duyên ác
thì nhân ác chẳng thể
kết quả. Thiện tuy
rất yếu ớt, làm việc
thiện ít, một chút thiện
nhỏ cũng được, từ nay
trở đi làm cho nó lớn
mạnh lên, làm cho thiện
duyên tăng trưởng, thiện
quả sẽ hiện ra trước,
như vậy mới tốt.
Sau đây đức Phật dạy
chúng ta, dạy chúng ta
làm thế nào chuyển biến
quả báo, đoạn khai thị
này rất quan trọng.
Nhược
năng chí tâm quy kính
Nếu có thể
chí tâm quy kính.
Đây là câu
thứ nhất, đây là căn
bản. ‘Quy’ là quy
y, chư vị ghi nhớ nhất
định phải ‘y giáo phụng
hành’ thì mới gọi là
‘quy y’. Nếu chẳng
thể làm đến y giáo phụng
hành thì chẳng gọi là
quy y, bạn chẳng quay
về, quy là quay về.
Chân chánh quay về nhất
định phải có ‘kính’,
thành kính. Ấn
Quang đại sư dạy:
‘Một phần thành kính
được một phần lợi ích,
mười phần thành kính
được mười phần lợi ích’.
Có người thỉnh giáo Ấn
Tổ: ‘Tu học Phật pháp,
nhập Phập môn có bí
quyết gì?’ Đại sư
trả lời: ‘Có, thành
kính là bí quyết vào cửa
Phật’. Cho nên
mới nói một phần thành
kính được một phần lợi
ích, mười phần thành
kính được mười phần lợi
ích, thành kính có thể
cảm động chư Phật gia
trì. Chúng ta thấy
cô Bà La Môn, cô Quang
Mục, coi những câu
chuyện này, họ làm sao
được gia trì rõ ràng như
vậy? Thành kính.
Đây là nói tổng quát,
phía sau là nói vào chi
tiết. Thành kính
biểu hiện ở đâu?
Cập
chiêm lễ tán thán.
Và chiêm
lễ, tán thán.
‘Tán thán’
tức là vì người thuyết
pháp, vì người diễn nói.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
giảng bộ kinh này tức là
tán thán Địa Tạng Bồ
Tát, đức Phật Thích Ca
giảng kinh Vô Lượng Thọ
tức là tán thán A Di Đà
Phật, đây là việc giảng
kinh thuyết pháp.
Phía sau là những việc
lắt nhắt, hương hoa y
phục, các thứ trân bảo,
ẩm thực, đây là phẩm vật
cúng dường, đều là biểu
diễn cho người ta coi.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng ta giảng
đến đây, ý nghĩa của
đoạn này chưa giảng hết,
lần sau chúng ta tiếp
tục.
Tập 12 (Số 14-12-12)
Xin mở
kinh. Hôm qua nói
đến đoạn Thế Tôn bảo
Định Tự Tại Vương Bồ
Tát, đã nói hết đoạn
công án của cô Quang
Mục. Tiếp theo đó
Phật nói với chúng ta về
lợi ích của sự nghe danh
cúng dường, thuật lại
trong kiếp quá khứ xa
xưa Địa Tạng Bồ Tát từ
mẫn như vậy, lũy kiếp
phát nguyện giúp đỡ hết
thảy chúng sanh khổ nạn.
Vị lai
thế trung, nhược hữu nam
tử nữ nhân.
Trong đời
vị lai. Nếu có kẻ
nam, người nữ.
Kẻ nam,
người nữ, phía trước
chẳng thêm chữ ‘thiện’,
đây là chỉ phần đông một
số người thường.
Bất hành
thiện giả, hành ác giả
Không làm
lành mà làm ác
Những kẻ
nam, người nữ này chẳng
làm lành mà làm ác.
Nãi chí bất
tín nhân quả giả, tà dâm
vọng ngữ giả, lưỡng
thiệt ác khẩu giả, hủy
báng Đại Thừa giả, như
thị chư nghiệp chúng
sanh, tất đọa ác thú.
Cho đến kẻ
chẳng tin nhân quả, kẻ
tà dâm nói dối, kẻ nói
lưỡi hai chiều, nói lời
hung ác, kẻ hủy báng Đại
Thừa, những chúng sanh
có các nghiệp như thế ắt
phải đọa vào đường ác.
Đây là lời
dạy rất khẳng định,
trong các ác nghiệp, bốn
thứ này là tội nghiệp
nặng nhất. Chẳng
tin nhân quả nên họ mặc
sức làm xằng, làm bậy,
họ chẳng tin có báo ứng.
Trong thế gian này họ
hống hách, chẳng chịu
dung thứ kẻ khác, họ
chẳng biết quả báo sau
này chẳng thể tưởng
tượng nổi. ‘Tà
dâm, nói dối’, ‘nói lưỡi
hai chiều, nói lời thô
ác’. ‘Tà dâm’,
trong kinh đức Phật
giảng về việc này rất
nhiều, trong pháp thế
gian cũng có nói ‘Dâm
là đầu mối của vạn
chuyện ác’,
hầu như tất cả tội
nghiệp đều phát sanh từ
đây. Chúng
ta coi xã hội ngày nay
tại sao có động loạn to
lớn như vậy? Phật
nói về bốn nguyên nhân
này, chúng ta vừa nhìn
liền hiểu ngay.
Ngày nay người đời có
được mấy người tin ‘nhân
duyên quả báo’?
Bao nhiêu người biết tà
dâm, nói dối, nói lưỡi
hai chiều, nói lời thô
ác là căn nguyên của hết
thảy tai họa trong xã
hội, ai biết được?
Đặc biệt là Phật pháp
Đại Thừa, đối với Phật
pháp Đại Thừa, đừng nói
chi Đại Thừa, [chỉ nói
đến] Tiểu Thừa thôi,
những Phật pháp thông
thường [có người] cũng
chẳng hiểu biết rõ ràng,
bèn nói đó là mê tín,
nói vậy tức là hủy báng
[Phật pháp]. Gán
vào hai chữ ‘mê tín’
liền làm cho rất nhiều
chúng sanh đoạn tuyệt cơ
duyên nghe pháp, huống
chi là những chuyện quá
đáng hơn nữa!
Người tạo những tội
nghiệp này rất nhiều,
quả báo còn chưa hiện
thì hoa báo đã hiện ra,
hoa báo tức là xã hội
động loạn ngày nay, tai
nạn dồn dập, thiên tai
nhân họa, khổ chẳng nói
nổi. Tạo tội nặng
cùng cực này, ở đây đức
Phật nói ‘nhất định đọa
ác thú’, ‘ác thú’ là địa
ngục, địa ngục A Tỳ, khổ
chẳng gián đoạn, khổ
cùng cực. Phía sau
nói rõ:
Nhược ngộ
thiện tri thức
Nếu gặp
được thiện tri thức
Chữ ‘Thiện
tri’ chỉ rõ ‘tri’ chẳng
phải là cảm tình, ‘tri’
là lý tánh, thật sự có
trí huệ, thật sự thông
đạt hết thảy đạo lý, vạn
sự vạn pháp trong vũ
trụ, nhận thức hiện
tượng và tác dụng rõ
ràng, như vậy thì gọi là
‘thiện tri thức’.
Gặp thiện tri thức giảng
giải cho bạn, sau khi
nghe xong bạn hiểu rõ,
giác ngộ.
Khuyến lịnh
nhất đàn chỉ gian
Khuyên bảo
khiến trong chừng khảy
móng tay
Một ‘khảy
móng tay’ hình dung thời
gian rất ngắn.
Quy y Địa
Tạng Bồ Tát
Quy y Địa
Tạng Bồ Tát
Hai chữ
‘Quy y’ quan trọng vô
cùng, chẳng phải là quy
y trên hình thức, quy y
trên hình thức chẳng có
lợi ích gì, chỉ có hình
thức nhưng chẳng thành
tâm thì đâu có ích gì!
Tại sao có hình thức mà
chẳng có thành ý, chẳng
phát tâm nổi? Vì
chẳng thấu triệt, hiểu
rõ Sự Lý. Đương
nhiên đây là vấn đề của
thiện tri thức, ‘tri
thức’ vẫn chưa đủ, phải
là ‘thiện’ tri thức,
phải giảng rõ ràng, giải
thích cặn kẽ về sự
tướng, công đức lợi ích
chân thật của sự Quy Y.
‘Quy’ là quay về, ‘y’ là
nương dựa, nương dựa ai?
Nương dựa ‘Địa Tạng Bồ
Tát’. ‘Địa’ là ai?
Là ‘Tánh’, ‘Tâm Tánh’.
‘Địa’ là gì? Vô
tận trí huệ, công đức,
đức tướng trong tự tánh,
đó là ‘Địa Tạng’.
Nếu bạn nhìn thấy hình
tượng của Địa Tạng Bồ
Tát, bạn cứ cho là bạn
quy y hình tượng ấy, đó
là như trong nhà Phật
thường nói:
‘Bồ Tát bằng đất qua sông
còn khó bảo toàn thân
mình’.
Đó là hình tượng, giúp
cho bạn khi nhìn thấy
hình tượng này có thể
khải phát, biết được đó
là Kho Báu Tâm Địa,
chúng ta phải nương dựa
vào cái này, nương dựa
tánh đức, như vậy thì
bạn mới quy y chân
chánh. Kho Báu Tâm
Địa trong tâm tánh đầy
đủ viên mãn công đức,
chúng ta chẳng biết, nó
ở đâu? Ở trong bộ
Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện kinh này, Thế Tôn
khai hiển kho báu tự
tánh cho chúng ta, chúng
ta mới có được nơi nương
dựa chân chánh.
Quy y Địa Tạng Bồ Tát
tức là tu học y theo lý
luận, phương pháp, cảnh
giới ghi trong Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện kinh,
như vậy mới gọi là ‘quy
y’. Lúc trước quan
niệm, ngôn ngữ, hành vi
của chúng ta trái nghịch
với những lời dạy trong
kinh này thì chúng ta
hãy mau quay đầu lại,
noi theo lời dạy của
kinh điển mà sửa đổi trở
lại chính là ‘Y’, từ chỗ
sai lầm quay trở lại tức
là ‘Quy’, y theo kinh
điển sửa đổi từng việc
sai lầm trở lại thì gọi
là ‘Y’. Quy y tức
là tu hành chân chánh.
Có thể làm được như vậy,
đức Phật nói:
Thị chư
chúng sanh tức đắc giải
thoát tam ác đạo báo.
Những chúng
sanh đó lập tức được
thoát khỏi quả báo của
tam ác đạo.
Tại sao
vậy? Những chúng
sanh này đã tạo vô lượng
vô biên tội nghiệp trong
quá khứ, tại sao hiện
nay họ được lìa khỏi khổ
báo của tam ác đạo?
Cách nói này có mâu
thuẫn nhân quả hay
không? Tạo ác tại
sao không thọ ác báo?
Nhất định chẳng mâu
thuẫn nhân quả.
Tại sao họ chẳng thọ ác
báo? Vì hôm nay họ
đã đoạn dứt ác duyên.
Chư vị phải biết, nhân
muốn kết thành quả thì
trong ấy phải có duyên;
nếu chẳng có duyên, tuy
có nhân thì quả báo cũng
chẳng thể hiện ra.
Thí dụ hạt dưa là hạt
giống, tương lai có thể
kết thành dưa, nhưng nó
cần phải có duyên, nó
cần đất đai, phân bón,
ánh sáng, và nước, có
điều kiện đầy đủ thì hạt
giống mới nảy mầm,
trưởng thành, tương lai
ra hoa kết trái.
Nếu đoạn dứt duyên của
hạt giống này, bỏ hạt
giống vô tách trà, để cả
năm thì nó cũng chẳng
kết trái nổi. Đây
tức là nói những tội
nghiệp A Tỳ địa ngục mà
bạn đã tạo trong quá khứ
nhất định phải đi đến A
Tỳ địa ngục để thọ báo.
Hôm nay
Phật, Bồ Tát dạy bạn
đoạn dứt những ác duyên
này, tuy bạn có nghiệp
nhân này nhưng hiện nay
có thể không thọ quả
báo, nói như vậy rất hợp
đạo lý, là đoạn dứt
duyên. Từ nay trở
về sau tin sâu nhân quả,
chẳng dâm dục, chẳng nói
dối, chẳng nói lưỡi đôi
chiều, chẳng nói lời
hung ác, tán thán Đại
Thừa thì duyên lập tức
sẽ lật ngược lại.
Tội trong đời quá khứ
còn không? Vẫn
còn, hạt giống vẫn còn
trong A Lại Da thức,
cũng như bỏ hạt giống đó
vào tách trà, hạt giống
sẽ chẳng tiêu mất.
Chư vị nên biết những
hạt giống thiện ác này
vĩnh viễn chẳng tiêu
diệt, khi nào gặp duyên
thì nó sẽ khơi dậy, nếu
không gặp duyên thì vĩnh
viễn sẽ nằm trong A Lại
Da thức, A Lại Da thức
là một cái kho, cất chứa
ở trong đó. Bạn có
hạt giống địa ngục A Tỳ,
tương lai bạn có thể đến
địa ngục A Tỳ độ chúng
sanh, nếu A Lại Da thức
của bạn chẳng có hạt
giống địa ngục A Tỳ thì
địa ngục bạn chẳng có
phần, bạn sẽ chẳng nhìn
thấy địa ngục. Thế
nên tất cả những nghiệp
nhân đã tạo trong quá
khứ khi thành Phật thì
đều khởi tác dụng, phổ
độ hết thảy thiện ác
chúng sanh trong chín
pháp giới. Vì lúc
đó bạn sẽ hiểu rõ, chẳng
mê hoặc nữa. Đọa
địa ngục là đọa như thế
nào? Là độ chúng
sanh. Nói thật ra
trong địa ngục sẽ chẳng
thọ khổ, chỉ là thị
hiện. Thế nên nếu
bạn chẳng có duyên ngạ
quỷ thì làm sao độ ngạ
quỷ được? Bạn
chẳng có duyên súc sanh
thì không thể độ súc
sanh. Chúng ta
thấy chư Phật, Bồ Tát
hiện thân trong ba đường
ác, là vì họ đã tạo
nghiệp của ba đường ác
lúc họ còn tu nhân trước
kia, đến lúc đó có thể
lấy nghiệp của ba đường
ác đem ra dùng. Họ
‘dùng’ chứ chẳng thọ
báo, để độ chúng sanh.
Thế nên chúng ta đối với
hết thảy tội nghiệp đã
tạo trước kia cũng không
cần phải hối hận, biết
được sau khi thành Phật
sẽ dùng nó. Nếu
không thành Phật thì
khỏi nói nữa, nếu hiện
nay bạn còn tạo thêm ác
duyên thì chắc chắn sẽ
vào tam ác đạo thọ khổ
báo. Cho nên sau
khi giác ngộ thì có tác
dụng của giác ngộ, tức
là vào tam ác đạo để
giúp đỡ chúng sanh khổ
nạn, đây là việc chúng
ta nhất định phải hiểu.
Xem tiếp đoạn sau đây:
Nhược năng
chí tâm quy kính
Nếu có thể
chí tâm quy kính.
‘Quy’ là
quy y, ‘kính’ là tôn
kính. Trong đoạn
văn này chữ quan trọng
là ‘chí tâm’, chí tâm là
tâm chân thành, chẳng có
một tơ hào hư vọng.
Tâm chân thành y giáo
phụng hành, những gì
Phật dạy chúng ta, chúng
ta phải ghi nhớ kỹ càng,
phải làm theo mỗi ngày,
‘thọ trì đọc tụng, vì
người diễn nói’, đây tức
là chí tâm quy y, đây
tức là phải y giáo phụng
hành. ‘Thọ’ là gì?
Đạo lý Phật dạy trong
kinh điển chúng ta đều
tiếp nhận, chẳng hoài
nghi; phương pháp tu
hành do đức Phật dạy
chúng ta, chúng ta đều
tiếp nhận, hoàn toàn làm
theo. Cảnh giới
nói trong kinh chúng ta
khế nhập. Khế nhập
tức là ‘chứng được’, như
vậy mới gọi là ‘chí tâm
quy kính’.
Sau đây nêu
lên vài sự tướng, nói
thật ra trong đời sống
hằng ngày những phương
diện tu học rất rộng,
rất sâu. Dưới đây
nêu ra vài việc.
Thứ nhất:
Cập chiêm
lễ tán thán.
Và chiêm
lễ, tán thán.
Đây hoàn
toàn là vì người diễn
nói. Cúng dường
hình tượng của Phật, Bồ
Tát, mỗi ngày phải cúng
dường, lễ bái đúng như
pháp. Xưng danh
tức là tán thán, đọc
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện là tán thán Địa
Tạng Bồ Tát, xưng niệm
danh hiệu Địa Tạng Bồ
Tát cũng là tán thán Địa
Tạng Bồ Tát. Giống
như hiện nay Niệm Phật
Đường ở lầu bốn của Cư
Sĩ Lâm, trước khi giảng
kinh các bạn đều đi niệm
Phật, niệm Phật tức là
‘chiêm lễ, tán thán’.
Làm cho ai coi?
Cho hết thảy chúng sanh
coi. Trong hết
thảy chúng sanh, con
người chỉ là số ít,
người ta đến lầu bốn Cư
Sĩ Lâm nhìn thấy các bạn
nên sanh tâm hoan hỷ,
trồng thiện căn trong A
Lại Da thức, trồng hạt
giống của Phật, một phen
lọt vào tai vĩnh viễn
thành hạt giống đạo, do
vậy các bạn đã độ họ.
Càng thù thắng hơn là
thiên long quỷ thần, bạn
nên biết bao nhiêu thần
hộ pháp ở đạo tràng này,
chư thiên quỷ thần đều ở
đó. Các bạn niệm
Phật, giảng kinh, mắt
thịt chúng ta không nhìn
thấy, bốn phía đều có vô
số thần hộ pháp, không
những chỉ là bốn phía,
còn phía trên phía dưới,
trên không, dưới đất đều
có thần hộ pháp.
Nếu tâm bạn thật thanh
tịnh thì bạn có thể cảm
nhận được, bạn sẽ cảm
nhận được họ đang ở đó,
vả lại số lượng chẳng
thể nghĩ bàn. Tại
sao những thần hộ pháp
này đến? Trong lúc
tu nhân họ đã phát
nguyện chỉ cần là đạo
tràng chánh pháp thì họ
nhất định sẽ đến ủng hộ,
nếu họ không ủng hộ thì
sẽ phản nghịch với lời
thề của họ, vậy thì làm
sao chẳng có lỗi với chư
Phật Như Lai? Họ
đã phát nguyện trước mặt
Phật. Chúng ta
ngày nay hoàn toàn hoằng
dương chánh pháp, trong
chánh pháp tuyệt đối
chẳng có một tơ hào ý
niệm tự tư tự lợi trong
ấy, nếu có xen vào một ý
niệm này thì thần hộ
pháp có thể không đến,
thì Phật, Bồ Tát không
thể trách họ được.
Phật, Bồ Tát hỏi: ‘Tại
sao quý vị không hộ
pháp?’, họ có thể nói:
‘Người nào đó có tâm
riêng tư’. Họ có
thể không đến, Phật, Bồ
Tát chẳng thể trách họ.
Nếu những người tu học
trong đạo tràng này đều
chẳng có tâm riêng tư,
người giảng kinh chẳng
có tâm riêng tư, mà thần
hộ pháp không đến thì họ
có lỗi. Chúng ta
phải hiểu những Sự, Lý
này, chúng ta phải chân
thành, chí tâm, quy kính
chiêm lễ, phải lễ bái,
phải tán thán.
Hương hoa y
phục
Hương hoa y
phục
Đây là
những vật dụng cúng
dường, nhất định phải
đốt hương. ‘Hương’
tượng trưng rất nhiều ý
nghĩa, phía trước có nói
hương tiêu biểu ‘Tín,
Giới, Định, Ngũ Phần
Pháp Thân Hương’, tiêu
biểu cho những ý nghĩa
này. ‘Hoa’ tiêu
biểu cho ‘nhân hạnh’,
thế nên nhất định phải
cúng ‘hoa’. Cúng
‘hoa’ là để nhắc nhở đại
chúng trong đạo tràng
phải tu ‘nhân’, nhân thù
thắng thì tương lai quả
báo chắc chắn sẽ thù
thắng, cho nên phải cúng
hoa tươi tốt. Thời
xưa chẳng có hoa giả,
đều cúng hoa tươi, phải
thay mỗi ngày. Chư
vị nên biết ‘hoa’ là
tiêu biểu pháp.
Thời xưa nếu không có
hoa tươi thì làm sao?
Người xưa cũng có phương
pháp, họ dùng ‘bảo hoa’,
họ lấy vàng bạc, lưu ly
làm thành hoa, những hoa
này thì chẳng cần thay
đổi. Thời xưa dùng
những vật cúng dường
này, dùng hoa quả làm
bằng vàng bạc thất bảo,
dùng những thứ này để
cúng Phật, dùng bảo vật
để tiêu biểu cho ý tôn
kính của mình. Nếu
chúng ta không có khả
năng, hiện nay công việc
làm ăn lại bận rộn, mỗi
ngày phải mua hoa cũng
rất phiền phức.
Phật rất thông hiểu nhân
tình, chẳng muốn bạn
phải bị phiền toái, nếu
có những hoa giả thật
tốt cũng có thể dùng để
cúng dường, tuyệt đối
chẳng phải là chẳng kính
trọng Phật. Kính
hay không kính là ở
trong tâm của bạn, nếu
tâm bạn ‘chí tâm quy
kính’ thì cúng cái gì
cũng có thể biểu đạt
được ý kính của bạn; nếu
tâm bạn chẳng kính thì
dù bạn cúng hoa bằng bảy
báu cũng chẳng ăn nhằm
gì, cũng là chẳng kính.
Đây là một thứ hình
tượng, tượng trưng cho
tâm ý của mình, và cũng
chứa đựng ý nghĩa ‘tự
hành hóa tha’. Nói
chung thì phải cúng
hương, cúng hoa.
‘Y phục’,
cúng y. ‘Y’ là gì?
Chẳng phải là áo chúng
ta may mặc hiện nay,
chẳng phải là loại áo
này. Bạn phải nghĩ
Phật pháp từ Ấn Độ
truyền đến ba ngàn năm
trước, ba ngàn năm trước
họ mặc ‘y’ gì? Cái
gì gọi là ‘y’? ‘Y’
tức là cả khúc vải.
Ở Tân Gia Ba rất thuận
tiện, chúng ta thường
thấy người Ấn Độ đi
ngoài đường, người Ấn Độ
mặc y phục là dùng
nguyên miếng vải quấn
trên người, chữ ‘y’ ở
đây là chỉ miếng vải
này; chẳng phải là cái
áo có cổ áo, có tay áo
như áo của chúng ta, ‘y’
như vậy chẳng đẹp.
‘Y’ là cả miếng vải,
ngày nay chúng ta đắp
ca-sa chính là ‘y’ này.
Người thế gian có phước
báo, áo của họ mặc là cả
miếng vải như vậy.
Tăng Đoàn
của Phật năm xưa có chế
độ khất thực, mỗi ngày
ăn một bữa, đi ra ngoài
đường trì bình, rất dễ
xin được một bữa ăn, còn
một manh áo thì vô cùng
khó khăn, chẳng dễ xin
được. Ngày xưa đều
là dùng tay dệt vải, rất
tốn công, có được một
cái áo chẳng dễ. Nói
thật ra xin được một bát
cơm cũng chẳng dễ, có
khi phải đi xin nhiều
nhà mới được một bát,
chỗ này cho bạn một
chút, chỗ kia cho bạn
một chút, phải đi xin
sáu, bảy nhà mới được
một bát. Thời xưa
vật dụng, tài nguyên
chẳng phong phú như ngày
nay, đời sống rất gian
khổ, cho nên cái áo
người xuất gia mặc này
phải tìm ở đâu? Áo
cũ của người ta mặc
xong, bỏ đi không dùng
nữa, gọi là ‘phấn tảo
y’, liệng bỏ, rách chẳng
dùng nữa được.
Người xuất gia lượm
những áo này, kiếm những
chỗ vải còn chưa rách,
cắt ra những mảnh vải
này xong rồi may lại
thành chiếc ‘y’.
Vì lượm những miếng vải
như vậy, chất liệu, màu
sắc đều chẳng giống
nhau, may thành áo rất
khó coi cho nên phải
nhuộm màu, ý nghĩa của
‘y’ nhuộm màu là như
vậy. Ngày nay cúng
‘y’ của chúng ta là cúng
cà-sa, cúng cái ‘y’ này.
‘Y’ này tiêu biểu cho
cái gì? Tiêu biểu
cho nhẫn nhục. Y
là dùng để che thân thể,
che dấu thẹn thùng, tiêu
biểu nhẫn nhục.
Đây là nói về ‘y phục’.
Chủng
chủng trân bảo.
Các thứ
trân bảo.
Đây là nói
về sự cúng dường Phật,
Bồ Tát, dùng trân bảo để
cúng dường. Hình
tướng, chủng loại của
trân bảo rất nhiều, hết
thảy đều để biểu lộ lòng
thành kính của mình.
Trân bảo cũng tiêu biểu
pháp, đây là vật người
thế gian ưa thích, coi
trọng, ai có trân bảo
thì đời sống của người
ấy được bảo đảm.
Trân bảo tiêu biểu ‘pháp
bảo’, Tam Bảo là Phật,
Pháp, Tăng, cúng dường
trân bảo là tiêu biểu
cho ý nghĩa này.
Làm cho người ta nhìn
thấy trân bảo liền liên
tưởng đến Tam Bảo.
Trân bảo thế gian chỉ có
thể giải quyết sự khổ,
bần cùng của chúng ta,
chẳng thể giúp chúng ta
thoát ra cái khổ trong
lục đạo, tam giới, chẳng
có cách chi. Phật,
Pháp, Tăng có thể giúp
chúng ta thoát ly lục
đạo, thoát ly biển khổ
luân hồi, đó mới là trân
bảo thiệt, trân bảo
trong thế gian tuyệt
chẳng thể sánh bằng.
Ý nghĩa của sự cúng
dường trân bảo là ở chỗ
này.
Hoặc
phục ẩm thực
Hoặc cúng
đồ ăn, thức uống.
Ẩm thực là
vật liệu để nuôi sống
người trong thế gian,
nếu chẳng có ẩm thực thì
chẳng sống được.
Người xuất gia cũng
chẳng ngoại lệ, cũng
phải mỗi ngày ăn một
bữa, phải đi trì bát.
Ý nghĩa quan trọng trong
việc cúng dường đồ ăn
thức uống là để chúng ta
từ việc này, nghĩ đến
người tu đạo thì phải
biết ‘tứ sự cúng dường’
để cho họ an tâm tu đạo.
Người tu đạo chẳng có
dục vọng gì cả, họ có
thể sống đời sống rất
đơn giản, họ có đạo tâm,
thật sự làm tấm gương
tốt nhất cho người đời.
Giúp người thế gian đoạn
dứt tham, sân, si, mạn;
bốn thứ phiền não này
làm cho người thế gian
tạo nên vô lượng vô biên
tội nghiệp, chúng ta làm
sao khuyên họ?
Phải hiện thân thuyết
pháp, bạn phải làm ra
hình dáng tốt. Nếu
bạn chỉ nói, chỉ khuyên
họ, tự mình chẳng chịu
làm, người ta nhìn thấy
[sẽ nói] “Đó là giả, bạn
xem bản thân họ chẳng
chịu làm, họ dạy mình xả
bỏ của cải, còn của cải
của họ càng ngày càng
nhiều”, như vậy thì
người ta làm sao tin
tưởng được? Không
những không tin tưởng,
họ sẽ báng pháp, sẽ tạo
tội nghiệp. Thế
nên nhất định phải hiểu
rõ, nhất định phải làm
hết lòng. Người tu
đạo tiếp nhận cúng dường
gồm có bốn thứ: ‘đồ ăn
thức uống, quần áo, vật
dụng để nằm nghỉ, thuốc
men’, gọi là ‘tứ sự cúng
dường’. Đây là một
người sinh sống trong
thế gian này, đời sống
giảm đến mức thấp nhất,
bốn thứ này không thể
thiếu. Có đủ bốn
thứ cúng dường này thì
có thể yên tâm, yên tâm
làm việc đạo. Yên
tâm một ngày thì làm
việc đạo một ngày, đừng
nghĩ về ngày mai, ngày
mai còn chưa đến.
Nếu nghĩ về ngày mai,
nghĩ tới năm sau thì là
vọng tưởng. Nếu
tâm chúng ta thật sự ở
tại ‘đạo’, nếu ngày mai
có thiếu thốn chúng ta
tin tưởng sâu xa chư
Phật, Bồ Tát sẽ đến cúng
dường. Người ta
không đến cúng dường thì
chư Phật, Bồ Tát sẽ đến
cúng dường. Bạn
tin không? Có sự
thật xảy ra như vậy.
Tôi tin rất
nhiều đồng tu đã coi
cuốn
‘Hư Vân lão hòa thượng
niên phổ’, trong ấy
ghi lại chuyện thật,
chẳng giả. Lão hòa
thượng phát tâm đi triều
bái Ngũ Đài Sơn, đi ba
bước lạy một lạy, đoạn
đường rất dài, lạy ba
năm mới xong. Thời
gian ba năm dài như vậy,
trải qua ba mùa xuân,
hạ, thu, đông, đâu có lý
nào không sanh bịnh nổi!
Sanh bịnh dọc đường,
giữa núi rừng hoang
vắng, chẳng có dấu chân
người, ngài đi theo
những con đường hoang
vắng này. Rất ít
người đi trên những
đường này, ngài mắc bịnh
rồi làm sao? Ai
đến cứu ngài? Ai
giúp ngài?
Văn Thù Bồ Tát giúp
ngài. Lúc ngài đến
núi Ngũ Đài, Văn Thù Bồ
Tát giúp ngài rất nhiều
lần, chăm sóc cho ngài.
Lần lâu nhất là khoảng
một tuần bảy ngày, vì
thân thể ngài lúc đó rất
suy nhược, [Văn Thù Bồ
Tát] nấu canh gừng, nấu
cháo cho ngài, tìm thuốc
cho ngài. Văn Thù
Bồ Tát hóa thân làm
người ăn xin, cả mấy lần
gặp khó khăn, tai nạn
đều gặp người này, rất
là kỳ lạ. Lão hòa
thượng vô cùng cảm kích
nên mới hỏi người ấy.
Văn Thù Bồ Tát bèn nói
với lão hòa thượng ông
ta tên là ‘Văn Cát’, họ
Văn, tên là Cát, chữ Cát
trong chữ Cát Tường.
Ông ấy nói: “Nhà tôi ở
dưới núi Ngũ Đài, lúc
ông đến núi Ngũ Đài hỏi,
họ đều biết tôi”.
Đây là Phật, Bồ Tát đến
cúng dường. Lúc
lão hòa thượng đến núi
Ngũ Đài, lễ lạy Văn Thù
Bồ Tát xong rồi hỏi thăm
về Văn Cát, kết quả là
người ta nói cho ngài
biết đó chính là Văn Thù
Bồ Tát hóa thân, ngài
mới bỗng nhiên hiểu rõ.
Nếu bạn thật sự có đạo
tâm, chí tâm quy kính,
đâu có lý nào Phật, Bồ
Tát không chăm sóc cho
được. Nếu bạn
chẳng có đạo tâm thì
đương nhiên Phật, Bồ Tát
sẽ chẳng lo cho bạn,
thần hộ pháp cũng chẳng
lo cho bạn. Thật
sự có đạo tâm thì Phật,
Bồ Tát, thần hộ pháp
thường thường đi theo ở
hai bên, chẳng xa lìa.
Đến lúc bạn thật sự gặp
nạn, chẳng có người giúp
đỡ thì quý ngài sẽ đến,
họ sẽ hóa thân đến.
Tại sao chẳng có người
đến giúp lão hòa thượng?
Người chẳng có phước lớn
như vậy. Cúng
dường người tu hành,
chăm sóc cho người tu
hành phước đức vô lượng
vô biên, phải có phước
đức to lớn mới gặp được
cơ hội này, mới trồng
được phước điền này, nếu
chẳng có phước báo thì
gặp được cũng bỏ lỡ.
Nếu chúng ta chẳng thâm
nhập kinh tạng thì làm
sao hiểu được những đạo
lý này! Đây là chỉ
nêu lên vài sự tích, mỗi
sự tích này đều có nghĩa
thú tiêu biểu pháp rất
sâu rộng, từ đó chúng ta
mới hiểu được phải làm
như thế nào.
Như thị
phụng sự giả, vị lai bá
thiên vạn ức kiếp trung,
thường tại chư thiên,
thọ thắng diệu lạc.
Cúng phụng
như vậy thì trong trăm
ngàn muôn ức kiếp về sau
thường được ở cõi Trời,
hưởng thọ sự vui thù
thắng vi diệu.
Chúng ta có
thể trong đời sống sanh
hoạt thường ngày, tu học
như vậy, biểu diễn cho
người ta coi. ‘Như
thị’ cúng dường Phật,
cúng dường Bồ Tát, rồi
quay lại cúng dường hết
thảy chúng sanh, có thể
làm cho hết thảy chúng
sanh sanh tâm hoan hỷ,
làm cho hết thảy chúng
sanh quay về, giác ngộ,
họ đạt được phước báo
lớn như vậy. Việc
này không những là phước
báo, nói cho chư vị biết
đây đã trở thành ‘công
đức’, từ phước đức biến
thành công đức.
Niệm niệm của họ đều vì
lợi ích chúng sanh,
chẳng phải lợi ích cho
mình, niệm niệm đều vì
chúng sanh do đó trở
thành công đức.
Quả báo của họ ‘thường ở
cõi trời’, trời Dục
Giới, Sắc Giới.
‘Thọ thắng diệu lạc’ là
hưởng phước cõi trời.
Nhược thiên
phước tận, hạ sanh nhân
gian, do bá thiên kiếp
thường vi đế vương.
Nếu phước
trời hết, sanh xuống
nhân gian thì vẫn còn
trăm ngàn kiếp thường
làm đế vương.
Hưởng phước
báo nhân gian, phước
trời đã hết nhưng họ vẫn
còn phước dư lại, sanh
đến cõi người làm vua
chúa, đây là nói người
có phước lớn nhất ở nhân
gian. Câu sau này
quan trọng:
Năng ức
túc mạng nhân quả bổn
mạt.
Lại nhớ
được túc mạng cùng cội
ngành nhân quả.
Câu này vô
cùng quan trọng!
Nếu chẳng có câu này thì
một khi hưởng phước sẽ
lại mê muội. Một
khi mê muội thì hưởng
phước báo chẳng khi nào
không tạo nghiệp, lúc
tạo tội nghiệp thì quả
báo lại chẳng thể suy
tưởng nổi. Họ có
thể biết được túc mạng,
biết quả báo là từ chỗ
này mà có, biết lúc
trước tu thiện nhân gì
cho nên họ hưởng phước
vẫn tiếp tục tu phước,
phước báo của họ sẽ
hưởng chẳng hết.
Truy tìm căn nguyên của
họ chính là công đức chí
tâm quy kính Địa Tạng Bồ
Tát. Nói Địa Tạng
Bồ Tát nhất định phải
hiểu đức năng vốn sẵn có
trong tâm địa, như vậy
mới là chân chánh quy y
Địa Tạng Bồ Tát.
Hết thảy chư Phật Như
Lai đều chí tâm quy kính
Địa Tạng Bồ Tát nên mới
tu hành thành công,
chứng Vô Thượng Bồ Đề.
Nếu chẳng y theo pháp
môn Địa Tạng thì nhất
định sẽ chẳng thành Phật
nổi. Không những
không thành Phật được,
nói thật ra thành A La
Hán cũng chẳng nổi, đây
là sự thật, chẳng phải
giả. Hết thảy pháp
thế gian, xuất thế gian
đều xây dựng noi theo
tâm địa pháp môn.
Có thể thuận theo tánh
đức, thành tựu hết thảy
thiện quả, nếu trái
nghịch tánh đức thì sẽ
biến thành lục đạo tam
đồ, biến thành cảnh giới
ác. Thế nên cảnh
giới thiện ác gì cũng do
tự tánh biến hiện thành,
chỉ dựa trên một niệm
này của chúng ta là
thuận tánh đức hay
nghịch tánh đức, quả báo
cảnh giới hiện ra chẳng
tương đồng. Họ còn
có thể nhớ được ‘túc
mạng nhân quả bổn mạt’,
đây là oai thần của Bồ
Tát gia trì, đây là cảm
ứng đạo giao.
Chúng sanh có cảm, Phật
liền có ứng, nhất định
phải dùng tâm chân
thành, thanh tịnh mới có
thể cảm. Tại sao
phần đông người ta chẳng
có cảm ứng cùng Phật, Bồ
Tát? Vì tâm chẳng
thành, tâm chẳng thanh
tịnh, thì làm sao có cảm
ứng cho được! Nếu
tâm có sự suy tưởng tà
vạy, giống như tạo thập
ác nghiệp nói ở phía
trước, những gì bạn cảm
được đều là các ác quỷ
ác thần, đều tạo ác hết.
Tạo ác tương cảm cùng
người tạo ác, tu thiện
tương cảm cùng người tu
thiện, đây là đạo lý
nhất định. Trong
kinh Dịch, Khổng Phu Tử
có nói:
‘Những vật cùng loại tụ
hợp với nhau, người chia
ra thành đoàn’
.
Người thiện đều ưa thích
ở gần người thiện, người
ác nhất định đi cùng
đường với người ác.
Nếu tâm chúng ta thiện
thì sẽ ở gần với Phật,
Bồ Tát, thiện thần; nếu
tâm ác thì sẽ ở gần ác
quỷ, ác thần, đây là
nguyên lý cảm ứng đạo
giao. Xem tiếp
kinh văn:
Định Tự Tại
Vương
Định Tự Tại
Vương
Đây là lời
Thế Tôn gọi tên vị Bồ
Tát [đương cơ].
Như thị Địa
Tạng Bồ Tát hữu như thử
bất khả tư nghị đại oai
thần lực, quảng lợi
chúng sanh, nhữ đẳng chư
Bồ Tát đương ký thị
kinh, quảng tuyên lưu
bố.
Bồ Tát Địa
Tạng có đại oai thần lực
chẳng thể nghĩ bàn, làm
lợi ích rộng lớn cho
chúng sanh như thế.
Những bậc Bồ Tát quý vị
phải ghi nhớ kinh này và
tuyên truyền lưu bố rộng
ra.
Đức Phật ở
nơi đó dùng cơ hội giáo
dục. Hôm nay,
những Bồ Tát tham dự hội
này quá nhiều, đức Phật
Thích Ca muốn sau khi
ngài viên tịch, giao phó
sứ mạng giáo hóa chúng
sanh cho Địa Tạng Bồ
Tát, đồng thời cũng yêu
cầu những đại Bồ Tát này
cùng chung trợ giúp.
Mời Địa Tạng Bồ Tát dẫn
đầu, hết thảy chư Bồ Tát
phải giúp đỡ ngài, nên
làm cho ngài hiểu rõ sự
việc này. Công
việc này là việc làm lợi
ích rộng lớn cho chúng
sanh, hết thảy chư Phật,
Bồ Tát đều có nguyện
vọng này, nên bất cứ
người nào dẫn đầu đều
được cả. Ngài dẫn
đầu, chúng ta ở kế bên
trợ giúp, dốc toàn tâm
toàn lực để ủng hộ, công
đức hoàn toàn là bình
đẳng. Chỉ là duyên
của mỗi cá nhân chẳng
giống nhau, trừ duyên ra
thì hết thảy đều bình
đẳng.
Khi hiểu
thấu lý này rồi thì bạn
mới vui vẻ tu tập ‘Tùy
hỷ công đức’. Vả
lại nói cho chư vị biết,
công đức tùy hỷ đều viên
mãn. [Thí dụ] Công
đức của một người làm
việc suốt mấy mươi năm,
chúng ta đến chỗ đó nhìn
thấy liền tùy hỷ, sanh
tâm hoan hỷ thì công đức
mấy mươi năm của người
đó mình hoàn toàn đạt
được. Tại sao vậy?
Trong chân tâm không có
giới hạn, nó bình đẳng,
một được thì hết thảy
đều được. Tại sao
phần đông người ta không
đạt được? Vì trong
tâm họ có giới hạn, [họ
nghĩ] ông ấy làm chẳng
phải tôi làm, tôi chẳng
có làm. Thế nên
cái ‘được’ này của họ
rất có hạn. Tự
mình vạch rõ ranh giới,
thì đâu còn cách gì nữa?
Tự giới hạn mình, thế
thì hư hết. Phía
trước có nói đến tâm chí
thành, một niệm chí
thành, trong tâm ấy
không có giới hạn, trong
tâm ấy thanh tịnh, bình
đẳng. Dùng tâm
thanh tịnh, tâm bình
đẳng mà tùy hỷ thì công
đức bạn đạt được sẽ viên
mãn. Chúng ta ngày
nay nếu thật sự dùng tâm
thanh tịnh, tâm bình
đẳng để tùy hỷ thì công
đức của Địa Tạng Bồ Tát
tu được từ vô lượng kiếp
chúng ta đều đạt được
rất viên mãn, vậy thì
làm sao chúng ta không
cảm kích cho được!
Ngài đã tu hành nhiều
đời nhiều kiếp, tu hành
vô lượng kiếp, chúng ta
hoàn toàn chẳng phí công
phu liền đạt được.
Nếu hỏi tại
sao bạn có thể đạt được
hoàn toàn? Vì tâm
chúng ta cùng tâm của
Địa Tạng Bồ Tát là một
tâm, một tánh, chẳng
phải hai. Mười
phương ba đời chư Phật
cùng chung một pháp
thân, pháp thân tức là
tự tánh, tự tánh vốn sẵn
đủ. Không những
công đức của Địa Tạng Bồ
Tát tu được, mười phương
ba đời hết thảy chư
Phật, Bồ Tát tu được
cũng chính là mình tu
được. Vấn đề là
bạn dám đảm đương hay
không? Bạn dám
tiếp nhận hay chăng?
Chân chánh thông suốt,
hiểu rõ đạo lý này, hết
thảy chư Phật là tự tánh
chư Phật, hết thảy Bồ
Tát là tự tánh Bồ Tát,
hết thảy cõi nước Phật
là tự tánh tịnh độ.
Không phải trong kinh đã
nói rõ ràng với bạn rồi
hay sao?
‘Duy tâm tịnh độ, tự tánh
Di Đà’,
Di Đà là tự tánh, có một
vị Phật Như Lai nào
chẳng phải tự tánh biến
hiện nên? Có vị Bồ
Tát nào chẳng phải tự
tánh hiện nên? Tự
tánh hiện, tự tánh tu,
tự tánh thành tựu, hết
thảy đều quy về tự tánh,
nếu bạn nhìn thấy tự
tánh thì hết thảy đều
đạt được, nguyên lý là
như vậy. Khi chúng
ta thật sự rõ ràng, thật
sự minh bạch rồi thì
lòng tin của chúng ta
mới có thể xây dựng,
chân tâm thuần thiện,
tâm ấy chẳng có mảy may
ác niệm, sẽ hiện tiền.
Phần đông người ta tu
học, trong kinh nói chí
tánh vô định. Đó
là gì? Chẳng hiểu
rõ chân tướng sự thật,
lòng tự tin của họ chẳng
có cách chi xây dựng
được. Thế nên đức
Phật trong kinh này nói
phải gặp thiện tri thức,
thiện tri thức giảng
giải, nói rõ sự việc này
ra thì lòng tự tin của
bạn mới có thể xây dựng,
‘lòng tin là cội nguồn của
đạo, là mẹ của các công
đức’,
đây là một việc khó
nhất.
Thế nên đức
Phật phó chúc những đại
Bồ Tát này phải làm
thiện tri thức cho chúng
sanh, ‘nhữ đẳng chư Bồ
Tát’, Định Tự Tại Vương
Bồ Tát trong hội này là
Đẳng Giác Bồ Tát.
‘Đương ký thị kinh,
quảng tuyên lưu bố’, quý
vị phải ghi nhớ bộ kinh
này, phải tuyên nói rộng
rãi cho hết thảy chúng
sanh, lưu thông rộng
rãi. ‘Bố’ là ban
bố, ban cơ duyên này cho
hết thảy chúng sanh.
Thế Tôn ở Đao Lợi thiên
cung phó chúc, chúng ta
tin tưởng sâu xa, vô
lượng vô biên Bồ Tát
tham dự trong hội này
nhất định sẽ y giáo
phụng hành. Họ
chẳng phải là
người thường, đều là đại
Bồ Tát, đều là Ma Ha Tát
trong các vị Pháp Thân
đại sĩ, đâu phải là
người phàm! Đâu có
lý nào không hoằng
dương, tuyên giảng kinh
Địa Tạng! Công đức
của kinh Địa Tạng có thể
làm cho hết thảy những
chúng sanh tạo tội cực
nặng đều quay về, chẳng
đọa ba đường ác, hưởng
phước báo nhân thiên lâu
dài, đây là công đức lợi
ích của kinh này,
nghiêng về phương diện
này. Kinh Vãng
Sanh
là để độ cho chúng sanh có
căn tánh chín muồi, kinh
Địa Tạng là để độ chúng
sanh căn tánh chưa chín
muồi. Những chúng
sanh này chưa muốn thoát
ly Tam giới, còn chưa
muốn làm Phật, Bồ Tát,
niệm niệm chỉ nghĩ đến
phước báo nhân thiên, số
người như vậy chiếm đại
đa số. Nếu bạn
chẳng tin thì hãy ra
đường đi thăm dò, bạn
hãy hỏi nguyện vọng của
người ta là gì?
Người nào cũng nghĩ đến
phước báo nhân thiên.
Thế nên trong kinh Địa
Tạng đặc biệt nói rất
nhiều về phước báo nhân
thiên, chúng ta biết
dụng ý của kinh ở chỗ
nào. Lại xem tiếp
đoạn sau, Bồ Tát quả
thật đảm nhận sứ mạng.
Định Tự Tại
Vương bạch Phật ngôn:
Thế Tôn, nguyện bất hữu
lự
Ngài Định
Tự Tại Vương bạch Phật
rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin
ngài chớ lo nghĩ’.
Xin lão
nhân gia yên tâm, chẳng
cần lo nghĩ.
Ngã đẳng
thiên vạn ức Bồ Tát Ma
Ha Tát
Ngàn vạn ức
Bồ Tát Ma Ha Tát chúng
con
Số lượng Bồ
Tát chúng trong hội dùng
‘thiên vạn ức’ để hình
dung. ‘Bồ Tát’ là
Bồ Tát quả vị Tam Hiền,
‘Ma Ha Tát’ là Bồ Tát
quả vị Thập Thánh, Tam
Hiền Thập Thánh.
Tất năng
thừa Phật oai thần,
quảng diễn thị kinh ư
Diêm Phù Đề, lợi ích
chúng sanh.
Đều có thể
nương oai thần của Phật
mà tuyên diễn rộng rãi
kinh này nơi cõi Diêm
Phù Đề để lợi ích cho
chúng sanh.
Nơi đây
chúng ta phải đặc biệt
chú ý đến ‘Diêm Phù Đề’,
mười phương vô lượng vô
biên thế giới, đặc biệt
thiên về Diêm Phù Đề.
Định Tự Tại Vương Bồ Tát
thay mặt vô lượng Bồ Tát
đại chúng trong hội,
trước mặt Thế Tôn tiếp
nhận lời phó thác của
đức Phật Thích Ca.
‘Tất năng thừa Phật oai
thần’, câu này rất quan
trọng, chúng ta không
thể xem thường, đây là
biểu hiện cho sự khiêm
hạ. Bồ Tát giáo
hóa chúng sanh chắc chắn
sẽ được Phật lực gia
trì, chẳng phải tự mình
có năng lực làm, mà được
Phật lực gia trì.
Nói thật ra đây đều là
Đẳng Giác Bồ Tát, các
ngài đương nhiên có thể
giảng kinh, có thể
thuyết pháp, có thể độ
chúng sanh khổ nạn, cách
làm như vầy đều là làm
cho chúng ta xem, dạy
chúng ta nhún nhường, lễ
kính, khiêm nhường và
cung kính là tánh đức
chân thật. ‘Quảng
diễn thị kinh ư Diêm Phù
Đề, lợi ích chúng sanh’,
nói thật ra phạm vi lợi
ích hoằng dương kinh này
là tận hư không trọn
khắp pháp giới, tại sao
lại hạn cuộc trong Diêm
Phù Đề? Diêm Phù
Đề là chỉ địa cầu của
chúng ta ngày nay, tại
sao phạm vi nhỏ như vậy!
Nên biết lần này đức
Phật Thích Ca Mâu Ni thị
hiện tại Diêm Phù Đề,
nói Diêm Phù Đề tức là
nói tận hư không trọn
khắp pháp giới, quan
hoài yêu mến giúp đỡ
chúng sanh ở Diêm Phù Đề
cùng hết thảy chúng sanh
ở mười phương thế giới
chẳng có sai khác, đều
bình đẳng giống nhau, là
ý nghĩa này chứ chẳng
phải là thiên vị chỉ yêu
mến Diêm Phù Đề không
thôi, nghĩ vậy là sai.
Nói đến đây cũng như
Thiện Đạo đại sư đã nói:
‘Gặp duyên chẳng giống
nhau’.
Hôm nay vận may của
chúng sanh ở Diêm Phù Đề
thật là rất tốt, rất may
mắn gặp được duyên này.
Tuyệt đối chẳng phải
Phật, Bồ Tát thiên vị, ở
địa phương này duyên
chín muồi, duyên chín
muồi thì được độ trước.
Pháp duyên
của chúng ta cũng vậy,
mấy chục năm nay có thể
nói từ khi tôi vừa xuất
gia liền đặc biệt ưa
thích Hoa Nghiêm, bộ
kinh sách tôi thỉnh đầu
tiên chính là ‘Hoa
Nghiêm Kinh Sớ Sao’, là
một vị lão cư sĩ cúng
dường cho tôi. Lúc
đó thật sự chẳng đơn
giản, bộ sách này giá
rất cao, từ Trí Khai
pháp sư ở Hương Cảng,
Hương Cảng Phật Kinh Lưu
Thông Xứ thỉnh về một
bộ, hiện nay đã in lại
rồi quý vị đều có hết.
Nguyên bản hồi đó là bốn
mươi cuốn đóng theo cách
xỏ chỉ, tôi giữ bản này
đã hơn ba mươi mấy năm
rồi. Tôi đã giao
nguyên bản của bộ này
cho Phật Đà Giáo Dục Cơ
Kim Hội cho họ làm bản
gốc. In lần này
rất rõ, rất tốt, nhưng
không đẹp lắm; tôi chẳng
ở Đài Loan, họ in bìa
giấy thường, nếu tôi ở
Đài Loan thì nhất định
sẽ kêu họ in bìa giấy
cứng. Nhưng như
vậy cũng khá lắm rồi, có
bản in tốt đẹp như vậy.
[Tôi] ưa thích Hoa
Nghiêm, thích đọc Hoa
Nghiêm, thích tương lai
có cơ duyên giảng Hoa
Nghiêm, nhưng duyên này
chưa chín muồi. Ở
Đài Loan đã giảng một
thời gian nhưng bị gián
đoạn hoài, vì thường
nhận lời mời từ nước
ngoài, ra ngoại quốc
giảng kinh thì phải gián
đoạn, nên kinh này đã
giảng rồi ngưng, ngưng
rồi giảng ở Đài Loan hết
mười bảy năm, mới giảng
được phân nửa.
Chẳng ngờ ở nơi đây nhân
duyên chín muồi, thật là
chẳng ngờ. Nơi đây
duyên chín muồi rồi
chúng ta ở đây phải làm
hết lòng, cho nên Phật
pháp cũng là nhân duyên
sanh. Tâm chúng ta
thanh tịnh, bình đẳng, ở
bất kỳ nơi nào trên thế
giới duyên chín muồi thì
chúng ta đều làm như
vậy, tuyệt chẳng nói là
thiên vị một nơi nào cả.
Lòng nhiệt thành của
chúng ta bình đẳng, từ
bi, bác ái, yêu mến nơi
này, đối với những nơi
khác duyên chưa chín
muồi thì chúng ta cũng
yêu mến, nhiệt thành
giống nhau, tuyệt đối
chẳng nói chỗ này hơn
một chút, chỗ kia ít một
chút, chắc chắn là không
như vậy.
Chư vị đồng
tu tương lai tu học cũng
vậy, nhất định phải xây
dựng trên cơ sở của
thanh tịnh, bình đẳng,
giác để quảng diễn đại
kinh. Nói thật ra
ngày nay chân chánh có
thể cứu thế gian này
[chỉ có] kinh Vô Lượng
Thọ và kinh Địa Tạng.
Duyên của Hoa Nghiêm vô
cùng hy hữu, vô cùng khó
được, chúng ta có thể
học tập. Tương lai
sau này Phật pháp hưng
vượng, quốc gia hưng
vượng thì Phật pháp chắc
chắn sẽ hưng vượng.
Khi Phật pháp hưng vượng
chúng ta tin tưởng sẽ có
rất nhiều cơ duyên, tới
lúc đó phải có người
giảng. Ở đây chúng
tôi giảng Hoa Nghiêm một
lần cho chư vị tham
khảo, làm một cơ sở để
sau này từ cơ sở này chư
vị có thể phát huy rộng
ra, lợi ích hết thảy
chúng sanh. Thế
Tôn phó chúc những đại
Bồ Tát này, chúng ta
phải mạnh dạn đảm nhận,
chúng ta cũng phải nhập
vào pháp hội của họ, trở
thành một phần tử của
đại hội, như vậy sẽ có
vô lượng công đức.
Muôn vàn xin đừng cho
mình là một người ngoài,
chẳng liên can gì với
đại hội, vậy thì chúng
ta sai rồi. Một
phần công đức lợi ích
thù thắng trong ấy bạn
cũng chẳng đạt được,
phải khẳng định mình là
một phần tử trong đại
hội. Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni phó chúc
những đại Bồ Tát này,
cũng là phó chúc chính
mình, mình cũng là một
trong chư đại Bồ Tát.
Như trong kinh Hoa Nghiêm
đã nói, Đại Tâm chúng
sanh tuy chưa đoạn phiền
não nhưng chính là bậc
đương cơ của [pháp hội]
Hoa Nghiêm.
Hội kinh Địa Tạng cũng
vậy, nếu chúng ta là Đại
Tâm Phàm Phu thì chúng
ta cũng có thể thân cận
Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng
có thể gia nhập đoàn thể
của họ.
Định Tự Tại
Vương Bồ Tát bạch Thế
Tôn dĩ, hiệp chưởng cung
kính tác lễ nhi thoái.
Định Tự Tại
Vương Bồ Tát bạch Thế
Tôn xong, bèn cung kính
chắp tay làm lễ mà lui
ra.
Định Tự Tại
Vương Bồ Tát thỉnh giáo
đức Phật Thích Ca Mâu Ni
đến chỗ này đã viên mãn
và cáo lui, trở về chỗ
ngồi của mình. Xem
tiếp kinh văn:
Nhĩ thời tứ
phương Thiên Vương câu
tùng tòa khởi hiệp
chưởng cung kính.
Lúc bấy giờ
bốn vị Thiên Vương ở bốn
phương đều từ chỗ ngồi
đứng dậy cung kính chắp
tay.
Định
Tự Tại Vương thỉnh giáo
xong trở về chỗ ngồi, tứ
đại Thiên Vương tiếp
theo. ‘Tứ đại
Thiên Vương’ là một đoàn
thể nhỏ, từ chỗ ngồi
đứng dậy ‘hiệp chưởng
cung kính’ hướng về Phật
hỏi pháp, trước hết phải
cúi chào Phật.
Người Trung Quốc chúng
ta thường gọi Tứ Đại
Thiên Vương là Tứ Đại
Kim Cang. Giống như đạo
tràng ở Cửu Hoa Sơn, vừa
bước vào cửa thì là Điện
Thiên Vương, đây là ngôi
kiến trúc đầu tiên,
trong ấy cúng dường Tứ
đại Thiên Vương.
Chính giữa điện Thiên
Vương cúng dường một
tượng Di Lặc Bồ Tát.
Tượng Di Lặc Bồ Tát hiện
nay theo thói quen đều
tạo theo hình tượng của
Bố Đại Hòa Thượng.
Bố Đại Hòa Thượng là
người triều Tống, người
thời Nam Tống vừa bắt
đầu. Trong lịch sử
đời Nam Tống có một anh
hùng dân tộc là Nhạc
Phi, người Trung Quốc
hầu như nhắc đến Nhạc
Phi thì ai cũng biết.
Bố Đại Hòa Thượng và
Nhạc Phi là người cùng
thời, xuất hiện ở Phụng
Hóa, Triết Giang.
Vị này rất đặc biệt,
chẳng ai biết tên của
ngài là gì, từ đâu đến,
chẳng ai biết cả.
Ngài du hóa ở địa phương
Phụng Hóa này.
Ngài mập mạp, mỗi ngày
đều vác một túi vải đi
khắp nơi hóa duyên, bất
kể người ta cho ngài cái
gì, ngài đều bỏ vào túi
vải, xong rồi ngài vác
lên lưng đi, thế nên mọi
người đều gọi ngài là Bố
Đại Hòa Thượng, từ đó Bố
Đại Hòa Thượng bèn nổi
danh. Lúc ngài
viên tịch tự mình nói ra
thân phận, ngài là Di
Lặc Bồ Tát tái lai, nói
xong ngài bèn thị tịch,
chẳng bịnh mà mất, chẳng
phải nói xong thân phận
rồi còn chưa thị tịch.
Hiện nay có rất nhiều
người nói họ là Bồ Tát,
Phật gì đó tái lai, nói
rồi nhưng không thị
tịch, Bố Đại hòa thượng
nói xong bèn thị tịch.
Cho nên chúng ta mới
biết ngài là Di Lặc Bồ
Tát hóa thân, từ đó
Trung Quốc tạo tượng Di
Lặc Bồ Tát đều tạo theo
hình tượng của Bố Đại
hòa thượng.
Bố Đại hòa
thượng thường nở nụ cười
tươi, ngài dạy chúng ta
thường sanh tâm hoan hỷ,
dạy chúng ta được đại
hoan hỷ. Hình
tướng của ngài chính là
‘vì người diễn nói’,
biểu diễn cho người ta
coi, biểu hiện rõ ràng
nhất chính là
‘thường sanh tâm hoan hỷ’,
cho nên có người xưng
ngài là Phật Hoan Hỷ.
Ngài biểu hiện tướng:
‘Sanh tâm
bình đẳng, hiện tướng
hoan hỷ’
.
Thấy tâm bình đẳng ở
đâu? Bất cứ đồ gì
người ta cúng dường cho
ngài, chẳng kể là sang
hèn hết thảy đều bình
đẳng, đều bỏ vào túi
vải. Túi vải chứa
đồ này hiển thị bình
đẳng, chẳng có phân
biệt. ‘Hiện tướng
hoan hỷ’ là hình tướng
của ngài, khi gặp người
thiện thì hoan hỷ, khi
gặp người ác cũng hoan
hỷ, gặp chuyện tốt thì
hoan hỷ, gặp chuyện xấu
cũng hoan hỷ, thị hiện
thanh tịnh, bình đẳng
cho chúng ta xem.
Trong truyện ký có ghi,
một lần nọ có một người
gặp ngài trên đường hỏi
ngài làm thế nào tu
hành? Ngài đem túi
vải đeo trên lưng buông
xuống, hai tay xoè ra,
chỉ biểu lộ như vậy mà
chẳng nói lời nào.
Người ta nhìn thấy bèn
hiểu. Đó là gì?
‘Buông xuống’.
Hiểu được buông xuống,
buông xuống xong thì làm
sao? Ngài xách túi
lên vai bèn đi khỏi,
chẳng nói lời nào.
Buông xuống rồi thì
‘nhấc lên’ và đi.
Cho nên ‘buông xuống
được, nhấc lên được’.
Buông xuống là gì?
Buông xuống hết thảy
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước.
Nhấc lên là gì?
Trên cầu Phật pháp, dưới
giáo hóa chúng sanh.
Di Lặc Bồ Tát dạy chúng
ta việc này.
Hai bên
trong Thiên Vương Điện
cúng dường Tứ Đại Thiên
Vương, Tứ Đại Thiên
Vương trong kinh điển
đều có danh hiệu.
Đông Phương Trì Quốc
Thiên Vương, ‘Trì’ là
bảo trì, trì quốc là bảo
vệ quốc gia. Ngày
nay chúng ta gọi là yêu
nước, yêu nhà, yêu nước,
yêu quê hương, Đông
Phương Thiên Vương tượng
trưng cho ý nghĩa này.
Hộ quốc phải bắt đầu từ
hộ bản thân mình, chúng
ta ngày nay nói tự ái tự
trọng là hộ mình.
Có thể tự hộ thì bạn mới
hộ trì nhà, có thể hộ
trì nhà thì bạn mới có
thể hộ trì xã hội, có
thể hộ trì xã hội thì
bạn mới có thể hộ trì
quốc gia, có thể hộ trì
quốc gia thì bạn mới có
thể hộ trì thế giới hòa
bình, ngài tượng trưng
cho ý nghĩa này.
Thị hiện tinh thần làm
tròn trách nhiệm, phụ
trách hết bổn phận, là
dạy chúng ta việc này.
Nếu bạn không làm tròn
trách nhiệm, chẳng thể
làm tròn chức phận của
bạn, những chuyện
thuộc trách nhiệm của
bạn, nếu không làm thì
bạn làm sao hộ quốc
được! Nếu ai nấy
đều làm tròn trách nhiệm
mình, công việc của tôi
là gì, tôi phải làm công
việc này cho hoàn hảo,
phải làm tròn trách
nhiệm, phải nỗ lực làm
hết lòng tức là hộ quốc.
Trên tay ngài cầm đạo cụ
,
chúng ta ngày nay gọi là
đạo cụ, ngài cầm đàn tỳ
bà, đàn cũng tiêu biểu
pháp. Chẳng phải
Thiên Vương này ưa thích
ca hát, nghĩ vậy là sai.
Tỳ bà tiêu biểu Trung
Đạo, người Trung Quốc
gọi là Trung Dung.
Tỳ Bà thuộc loại đàn
dây, dây chùng quá thì
không kêu, căng quá thì
dễ đứt, nhất định phải
chỉnh cho thích hợp thì
âm thanh mới hay.
Nghĩa là bất luận đối
người, đối sự, đối vật
đều phải đi theo trung
đạo, phải làm đến mức
vừa phải, chẳng quá
đáng, cũng chẳng thiếu
kém, đó gọi là trung
đạo. Cũng như việc
khảy đàn vậy, dây đàn
chẳng thể quá căng mà
cũng không thể quá
chùng, phải vừa vặn,
tiêu biểu cho ý này.
Nhà Nho gọi là đạo Trung
Dung, nhà Phật gọi là
‘Trung Đạo đệ nhất nghĩa
đế’.
Nam Vương
Thiên Vương gọi là Tăng
Trưởng Thiên Vương, tên
Tăng Trưởng có ý nghĩa
gì? Tiến Bộ.
Trí huệ của chúng ta
phải tăng lên, đức hạnh
phải tăng trưởng, đời
sống mỗi ngày phải nâng
cao tiêu chuẩn, hết thảy
đều phải cầu tiến bộ.
Bạn phải biết Phật pháp
cầu tinh tấn, họ thì cầu
tiến bộ, chẳng thoái
lui. Có người từng
nói với tôi Phật pháp
chúng ta phải theo kịp
thời đại, lời này nói
sai rồi. Đáng lý
là thời đại phải theo
kịp Phật pháp, Phật pháp
dẫn đầu thời đại, như
vậy mới chính xác.
Nhưng ngày nay thì sao?
Ngày nay Phật pháp lọt
phía sau thời đại, còn
ra thể thống gì nữa.
Nó vốn là dẫn đầu bây
giờ trở thành nối theo
đuôi, lộn ngược hết!
Phật pháp phải lãnh đạo
thời đại, hướng dẫn nhân
sanh, nhân sanh muốn
được hạnh phúc, gia đình
được mỹ mãn, sự nghiệp
được thuận lợi, thành
công, xã hội cát tường
hòa hài, quốc gia phú
cường, thế giới hòa
bình, Phật pháp ở vị trí
lãnh đạo. Có thể y
theo nguyên lý nguyên
tắc của Phật pháp thì
chắc chắn có thể đạt đến
mục tiêu này.
Chúng ta đừng quên những
năm đầu đời Thanh, thời
Khang Hy, Ung Chánh, Càn
Long, Trung Quốc là nước
mạnh nhất trên thế giới.
Những vị vua nà dùng cái
gì để hướng dẫn đại
chúng? Dùng ‘kinh
Vô Lượng Thọ’.
Những vị vua nhà Thanh
này thật rất tài giỏi!
Họ dùng kinh Vô Lượng
Thọ để đoàn kết quân dân
toàn quốc. Nếu
phương pháp này của họ
được tiếp nối mãi thì
nhà Thanh đã chẳng mất
nước. Nguyên nhân
mất nước đương nhiên rất
nhiều nhưng phế bỏ kinh
điển này, chúng tôi tin
tưởng đây là một nhân tố
rất lớn. Ai phế
bỏ? Từ Hi thái
hậu. Có lẽ Từ Hi
thái hậu nghe kinh Vô
Lượng Thọ, trong đó nói
toàn là tật xấu của bà,
nghe xong bà chẳng vui
thích nên phế trừ, chẳng
đọc nữa. Việc này
có ảnh hưởng, không thể
nói không có ảnh hưởng.
Thời đại hưng thạnh nhất
của triều Thanh dùng
Phật pháp để trị nước,
trên dưới tương hòa, hòa
mục, đây là điều chúng
ta phải hiểu.
Phật pháp
vĩnh viễn đều cầu tiến
bộ, nhà Nho cũng vậy.
Giáo học nhà Nho nói:
‘Mỗi
ngày phải mới, hằng ngày
phải đổi mới hơn, càng
ngày càng mới hơn’
,
mỗi ngày đều cầu tiến
bộ. Trong Phật
pháp, Lục Ba La Mật có
Tinh Tấn Ba La Mật, đâu
có chuyện lọt phía sau
người ta, đâu có đạo lý
này! Nam Phương
Thiên Vương tượng trưng
cho tiến thủ, hăng hái,
dũng mãnh, tượng trưng ý
nghĩa này. Trên
tay ngài cầm kiếm, kiếm
tượng trưng trí huệ,
người Trung Quốc tục gọi
‘đao nhanh chém gai loạn’,
lấy ý nghĩa này.
Chẳng phải là ngài thích
múa kiếm, kiếm tượng
trưng trí huệ. Chỉ
có trí huệ cao độ mới có
thể thúc đẩy tiến bộ,
chỉ có trí huệ cao độ
mới thúc đẩy hạnh phúc
chân chánh mỹ mãn.
Đây là Nam Phương Thiên
Vương.
Tây phương
Thiên Vương tên là Quảng
Mục, danh xưng tiếng
Phạn của ngài còn được
dịch là Tạp Ngữ (nhiều
ngôn ngữ khác nhau).
Tây phương Thiên Vương
rất thạo nói chuyện, có
thể nói nhiều ngôn ngữ,
ngày nay chúng ta gọi là
thiên tài về ngôn ngữ.
Bắc Phương Thiên Vương
gọi là Đa Văn, hai thiên
vương này tiêu biểu cho
cái gì? Tiêu biểu
phương pháp. Hai
vị đầu tiêu biểu mục
tiêu, mục tiêu của chúng
ta phải hộ trì quốc gia,
phải có trí huệ cao độ,
mỗi ngày đều cầu tiến
bộ. Tây phương
Thiên Vương, trên phương
pháp làm sao có thể đạt
được hai mục tiêu trên?
Phải xem nhiều, học
nhiều, ngày nay chúng ta
gọi là tham quan khảo
sát, Tây Phương Thiên
Vương dẫn đầu, ngài dạy
chúng ta xem nhiều, Bắc
Phương Thiên Vương dạy
chúng ta nghe nhiều,
nhìn người ta, nghe
người ta. Trong đó
hấp thụ kinh nghiệm giáo
huấn, bỏ cái xấu của
người, học cái hay của
người, để xây dựng quốc
gia mình, được vậy thì
không phải chúng ta trở
thành hạng nhất rồi sao?
Kỹ thuật hiện nay, tôi
nghe nói VCD ở Trung
Quốc rất phổ biến, ở
ngoại quốc thì lúc vừa
phát minh chẳng phổ
biến, ở Trung Quốc thì
phổ biến. Đạo lý
là gì? Tức là ý
nghĩa của những Thiên
Vương, chúng ta phải
rượt theo cho bằng.
Ngày nay chúng ta học
những kỹ thuật khoa học
này, nhất định phải học
những gì tiến bộ nhất,
không học những đồ cũ.
Ngày nay chúng ta muốn
làm một chiếc máy bay,
nhất định phải làm tốt
nhất, xem sản phẩm của
người ta, khuyết điểm
của người ta xong mình
sửa đổi thì những gì
mình làm ra sẽ tốt hơn.
Nhất định sẽ không đi
làm những máy bay vừa
mới phát minh một trăm
năm trước, nếu bắt đầu
từ đó thì không phải là
ngu si sao? Đó là
người ngu. Thế nên
phải bắt đầu từ chỗ
người ta đã thành tựu,
sau đó cải tiến thêm,
sửa khuyết điểm của
người ta thì mình sẽ
tiến bộ hơn, tốt hơn
người ta. Đó là
dạy bạn xem nhiều, Quảng
Mục tức là xem nhiều.
Trên tay
Thiên Vương cầm rồng
hoặc rắn. Rồng và
rắn tiêu biểu cho ý
nghĩa gì? Tiêu
biểu biến hóa.
Ngày nay khoa học tiến
bộ từng ngày, từng
tháng; rồng và rắn đều
giỏi biến hóa, ý nghĩa
là dạy bạn xã hội này
rất phức tạp, biến hóa
khôn cùng, bạn phải quan
sát kỹ càng. Trong
sự biến hóa bạn có thể
nắm vững đến chỗ bất
biến thì bạn sẽ thành
công. Một tay [kia
của Tây Phương Thiên
Vương] cầm hạt châu,
châu chẳng biến.
Rồng biến đổi, châu
chẳng biến đổi.
Trong vô lượng sự biến
đổi, nắm vững những
nguyên lý, nguyên tắc
chẳng biến đổi, Tây
Phương Thiên Vương dạy
chúng ta việc này.
Có thiên tài về ngôn
ngữ, biết nhiều ngôn ngữ
thì có thể cùng với mỗi
quốc gia, mỗi chủng tộc
trao đổi văn hóa, kỹ
thuật, như vậy mới làm
đến mức viên mãn.
Quảng Mục
Thiên Vương dạy chúng ta
đi tham vấn, đi khắp nơi
xem xét, học tập.
Bắc Phương Thiên Vương
đa văn, là theo chiều
dọc. Chúng ta
thường nói
‘Đọc vạn quyển sách, đi
vạn dặm đường’,
đi vạn dặm là theo chiều
ngang, đọc vạn quyển
sách là theo chiều dọc.
Chúng ta phải thâu nhận
bài học lịch sử, tiếp
nhận kinh nghiệm trí huệ
của cổ nhân, dựa trên cơ
sở này rồi phát triển
rộng ra. Tứ đại
thiên vương dạy chúng
ta, chúng ta không thể
coi các ngài là thần
thánh, vậy là sai rồi.
Phải tiếp nhận sự giáo
huấn, giáo hối của tứ
đại thiên vương.
Trên tay ngài cầm lọng
(dù), lọng tiêu biểu ý
gì? Phòng ngừa ô
nhiễm. Thời xưa, ô
nhiễm còn chưa nghiêm
trọng, cái lọng thời đó
được xếp lại. Ngày
nay tạo tượng tứ đại
thiên vương, lọng của Đa
Văn Thiên Vương nhất
định phải giương ra,
hiện nay ô nhiễm quá
trầm trọng nên phải
giương ra để ngăn ngừa ô
nhiễm. Trong xã
hội phức tạp này, ngài
biết ô nhiễm chắc chắn
không thể nào tránh
khỏi. Ô nhiễm về
tư tưởng, kiến giải,
tinh thần, tâm lý, sinh
lý, quá trầm trọng, mấy
ngàn năm trước kinh Phật
đã đề xướng việc ngày
nay chúng ta gọi là Hoàn
Bảo (bảo vệ hoàn cảnh
môi trường), tức là ngăn
ngừa ô nhiễm. Chư
vị nghĩ xem sự giáo học
trong Phật pháp cao minh
hay không, mấy ngàn năm
trước Phật pháp đã vận
dụng nghệ thuật để biểu
đạt giáo nghĩa, vô cùng
đáng tiếc là gần đây
[người ta] xem nó là tôn
giáo, xem những nghĩa
thú tiêu biểu pháp này
thành ra thần thánh.
Chỉ biết thắp nhang, lễ
lạy, cầu nguyện, khóc
lóc, chẳng có tác dụng
gì hết. Bạn cầu
Phật, Bồ Tát bảo hựu thì
Phật, Bồ Tát thực bảo
hựu bạn sao? Đâu
có đạo lý này!
Phật, Bồ Tát bảo hựu
bằng cách dạy dỗ bạn,
khi bạn hiểu rõ, tiếp
nhận rồi thì đó mới là
thật sự được các ngài
bảo hựu. Sự bảo
hựu của các ngài là bằng
cách dạy học, chẳng phải
gì khác, chúng ta không
thể hiểu sai.
Đây là Tứ
Đại Thiên Vương, ở đây
giới thiệu đơn giản cho
quý vị. Chúng ta
phải nhận thức họ, chúng
ta phải hiểu họ, chúng
ta nghe đến danh hiệu,
nhìn thấy hình tượng của
họ mới có được lợi ích
thật sự. Thế nên
Thiên Vương Điện phải
giải thích như vậy, để
cho chúng ta hiểu những
đạo lý này, biết được
trong đời sống hằng ngày
tự mình phải làm thế
nào, làm cho cá nhân
mình có hạnh phúc, gia
đình được mỹ mãn, sự
nghiệp có thể thành
công, xã hội an định,
phồn vinh, quốc gia phú
cường, thiên hạ thái
bình. Tứ Đại Thiên
Vương dạy chúng ta những
đại đạo lý và phương
pháp hoàn hảo này, nhất
định chẳng mê tín.
Xin xem tiếp kinh văn:
Bạch Phật
ngôn.
Bạch Phật rằng.
Ngài cúi
chào trước, cúi chào
xong nêu lên câu hỏi.
Thế Tôn,
Địa Tạng Bồ Tát ư cửu
viễn kiếp lai phát như
thị đại nguyện, vân hà
chí kim do độ vị tuyệt,
cánh phát quảng đại thệ
ngôn, duy nguyện Thế Tôn
vị ngã đẳng thuyết.
Bạch Thế
Tôn! Địa Tạng Bồ Tát từ
kiếp lâu xa đến nay đã
phát đại nguyện như thế,
vì sao đến nay vẫn độ
chưa hết, lại còn phát
đại thệ nguyện nữa. Cúi
xin Thế Tôn dạy cho
chúng con rõ.
Họ đề ra
câu hỏi, câu hỏi này
cũng là câu hỏi chung
của mọi người chúng ta.
Địa Tạng Bồ Tát đích
thật chẳng thể nghĩ bàn,
‘cửu viễn kiếp’ chẳng có
cách chi tính đếm, ai
cũng không thể tính nổi,
chư Phật Như Lai cùng
nhau tính cũng tính
không ra. Tại sao?
Vì nó là đức năng vốn
sẵn có trong tự tánh, tự
tánh vốn có, vô thỉ vô
chung, đâu có chỗ bắt
đầu hay chấm dứt?
Vô thỉ vô chung mới là ý
nghĩa chân thật của ‘cửu
viễn kiếp lai’.
Lập lại thệ nguyện không
gián đoạn, đây là dạy
chúng ta. Tại sao?
Trong kinh Phật nói rất
hay:
‘Tánh Thức của chúng sanh
trong Diêm Phù Đề chẳng
định’,
rất dễ quên. Hôm
nay phát nguyện, buổi
sáng phát nguyện xong,
buổi tối liền quên mất,
nhanh quá chừng.
Thậm chí phát nguyện
trước mặt Phật, Bồ Tát,
sau khi khom mình ba
cái, vừa bước ra khỏi
chánh điện thì quên mất
tiêu rồi, đây tức là
tánh thức vô định.
Tham, sân, si, mạn thì
chẳng quên, tại sao
chẳng quên? Mỗi
ngày đều khởi, lúc nào
cũng khởi, cho nên không
thể quên, gốc rễ quá
vững chắc. Địa
Tạng Bồ Tát thị hiện cho
chúng ta xem làm thế nào
biến đổi tham, sân, si
thành Tam Đức.
Muốn vậy thì phải gia
tăng huân tập, không
ngừng phát nguyện tức là
hun đúc, mỗi ngày đều
phát nguyện, mỗi sáng,
mỗi tối đều phát nguyện,
dưỡng thành một tập
quán, khởi tâm động niệm
là nguyện lực, chẳng tạo
tội nghiệp nữa.
Đối trị bịnh khổ của
chúng sanh ở Diêm Phù
Đề, đây là một toa thuốc
có công hiệu vô cùng,
chúng ta phải hiểu ý
nghĩa này. Chúng
ta phải học Địa Tạng Bồ
Tát, mỗi ngày phải phát
nguyện.
Mỗi ngày
chúng ta phát nguyện
nào? Mỗi ngày phát
nguyện: ‘Chúng sanh vô
biên thệ nguyện độ’,
không phải vừa ra khỏi
chánh điện liền quên mất
rồi sao? Tại sao
lại như vậy? Có
miệng, không có tâm,
phiền não un đúc quá lâu
rồi. Đúng là vô
lượng kiếp đến nay chúng
ta chịu sự un đúc của
phiền não, ngày nay chỉ
nghe được Phật pháp
trong chốc lát, cho dù
đời quá khứ có túc căn,
nhưng chẳng đủ duyên,
vẫn là duyên ác nhiều
hơn. Lục căn tiếp
xúc cảnh giới lục trần
bên ngoài toàn là ác
duyên, ác duyên dẫn tới
tham, sân, si, mạn;
chẳng có thiện duyên dẫn
dắt tứ hoằng thệ nguyện
của bạn ra. Thế
nên trong đời sống tùy
thuận phiền não, quên
ráo trọi ‘phiền não vô
tận thệ nguyện đoạn’.
Học kinh giáo thì làm
biếng, giải đãi, chẳng
thể tinh tấn, cũng quên
sạch sành sanh ‘pháp môn
vô lượng thệ nguyện
học’. Không học
biện pháp này của Địa
Tạng Bồ Tát thì làm sao
có thể thành tựu được!
Chúng ta hiểu được đạo
lý này xong mới biết tầm
quan trọng của sự phát
nguyện không ngừng, ý
nghĩa của sự phát nguyện
không gián đoạn.
Vì Tứ Thiên Vương có
nghi, có câu hỏi, thì
Phật nhất định có lời
khai thị. Xin xem
tiếp:
Phật cáo Tứ
Thiên Vương, thiện tai,
thiện tai.
Phật bảo Tứ
vị Thiên Vương rằng:
‘Lành thay, lành thay’
Đây là hai
câu tán thán, từng câu
từng chữ của lời Phật
thuyết pháp đều hàm
nghĩa sâu xa. Chữ
‘thiện tai’ thứ nhất là
tán thán họ hỏi rất hay,
câu hỏi lợi lạc hữu
tình. ‘Thiện tai’
thứ nhì, họ là thần hộ
pháp hộ thế, bất luận
người đời học Phật,
không học Phật, bất luận
họ là người thiện, người
ác, làm việc thiện hoặc
tạo ác thì các ngài đều
hộ trì. Người tạo
ác là vì ngu muội, vô
tri, nếu chẳng được sự
hộ trì của những thần hộ
pháp này thì họ đọa lạc
càng khổ nữa, ác báo của
họ chịu chẳng phải là
trạng huống trước mắt
này. Nói cách khác
thần hộ pháp đã giúp họ
giảm bớt hình phạt rồi.
Người thế gian chẳng
biết, cũng chẳng biết
cảm ơn, còn nói ngược
lại là họ mê tín.
Nhưng thần hộ pháp không
vì vậy mà trách móc, tại
sao? Bạn ngu si,
bạn chẳng hiểu rõ chân
tướng sự thật. Nếu
bạn hiểu rõ chân tướng
sự thật thì chắc chắn
bạn sẽ chẳng nói như
thế, các ngài biết vậy.
Nếu thần hộ pháp nói
những người ngu si này
hủy báng các ngài, sỉ
nhục các ngài, hại ngài,
phá hoại hình tượng các
ngài, các ngài cũng
chẳng trách. Nếu
các ngài trách thì các
ngài là phàm phu, có
kiến thức giống những
phàm phu thông thường.
Các ngài có trí huệ, đều
là Bồ Tát thị hiện, thị
hiện thân phận Thiên
Vương. Trong kinh
này nói rất nhiều, có
rất nhiều Phật, Bồ Tát
thị hiện thân quỷ thần,
trong quỷ đạo, trong cõi
địa ngục độ chúng sanh.
Chúng sanh càng khổ não,
chư Phật, Bồ Tát đối với
họ càng từ bi, càng tìm
cách giúp họ. Có
tâm nhẫn nại chờ họ quay
về, đợi họ giác ngộ; lúc
chưa quay về, chưa giác
ngộ thì tạo nhiều tăng
thượng duyên để dẫn dắt
họ, khải phát họ.
Bất luận là trực tiếp
hoặc gián tiếp, là rõ
ràng hay âm thầm, đều
thấy được lòng từ bi
chân chánh, đây là tâm
đại từ bi của họ.
Do đó hai lời tán thán
này có ý nghĩa rất sâu.
Ngô kim vị
nhữ
Ta nay sẽ
vì sự lợi ích rộng lớn
của quý vị
Phật nói:
Hôm nay Ta nói cho quý
vị.
Cập vị lai
hiện tại thiên nhân
chúng đẳng quảng lợi ích
cố
Cùng các
chúng trời người hiện
tại và vị lai,
Hôm nay quý
vị khải thỉnh, đến hỏi,
nói cho quý vị biết và
cũng vì thiên nhân đại
chúng hiện nay và tương
lai. Vị lai, hiện
tại, thiên, nhân đại
chúng đều hàm chứa tận
hư không, trọn khắp pháp
giới, tất cả hết thảy
cõi nước chư Phật, lục
đạo chúng sanh đều gói
gọn trong ấy, chẳng phải
chỉ có Sa Bà thế giới mà
thôi. ‘Quảng lợi
ích cố’ nghĩa là lợi ích
rộng lớn, đây chẳng phải
là lợi ích nhỏ nhoi, mà
là lợi ích to lớn.
Thuyết Địa
Tạng Bồ Tát ư Sa Bà thế
giới, Diêm Phù Đề nội
sanh tử đạo trung, từ ai
cứu bạt, độ thoát nhất
thiết tội khổ chúng sanh
phương tiện chi sự.
Mà nói việc
Địa Tạng Bồ Tát ở thế
giới Sa Bà, trong đường
sanh tử nơi cõi Diêm Phù
Đề, từ mẫn cứu vớt,
phương tiện độ thoát tất
cả chúng sanh tội khổ.
Bạn hỏi,
tôi nói cho bạn nghe,
nói thì làm sao nói cho
hết được? Nói hoài
chẳng hết. Chuyện
Địa Tạng Bồ Tát độ chúng
sanh nói hoài chẳng hết,
Phật chỉ đơn giản thuật
lại vài chuyện mà thôi,
hy vọng chúng ta từ
những chuyện này, suy
nghĩ cặn kẽ. Từ đó
có thể hiểu được nguyện
lực độ chúng sanh của Bồ
Tát, phương tiện khéo
léo độ chúng sanh của Bồ
Tát, thật sự chẳng thể
nghĩ bàn. Bạn nghĩ
càng nhiều, càng rõ
ràng, thấu suốt thì bạn
càng tăng thêm lòng cung
kính đối với Bồ tát, tâm
nguyện noi gương theo Bồ
Tát càng thêm chân
thiết. Nếu bạn
không hiểu thì lòng cung
kính của bạn làm sao
khơi dậy nổi?
Chẳng thể nào. Chỉ
khi nào bạn nhận biết
ngài, hiểu rõ ngài, lòng
cung kính của bạn sẽ
khơi dậy từ tận đáy
lòng.
Phàm
phu làm không nổi, nói
thật ra phàm phu đối với
người ta ngay cả bề
ngoài cũng nhìn chẳng rõ
thì làm sao có thể lý
giải? Phàm phu chỉ
có mắt thịt, rất kém.
Bồ Tát có thiên nhãn nên
cao siêu hơn chúng ta
rất nhiều. Thiên
nhãn có thể nhìn thấy sự
khởi tâm động niệm;
chúng ta chẳng nhìn thấy
sự khởi tâm động niệm
của phàm phu.
Giống những vị đại quyền
thị hiện này thì càng
thù thắng nữa. Họ
có đầy đủ ngũ nhãn, thập
nhãn, họ có huệ nhãn, có
trí nhãn, nhìn thấy rõ
ràng, minh bạch, thế nên
tâm chân thành cung kính
tự nhiên sanh khởi.
Chúng ta học Phật khế
nhập vào cảnh giới này,
người thế gian coi chẳng
ra gì, chẳng có gì kỳ
lạ, chẳng thể so đo.
Ai tôn trọng bạn?
Chư Phật Như Lai, Bồ
Tát, những thiện thần
này, họ cung kính bạn,
họ hiểu rõ.
Bạn có một
thiện tâm chân chánh
cũng chẳng cần rao
truyền khắp nơi, tâm bạn
chân, thiện, hoàn hảo
như thế nào đi nữa, bạn
nói cách mấy thì người
ta nghe xong cũng nghĩ
là giả. Ai tin bạn
được? Ai biết được
bạn có tâm niệm gì?
Phật, Bồ Tát, thiên long
quỷ thần biết. Người
thế gian không biết, sỉ
nhục bạn, hủy báng bạn
thì cũng thường thôi,
chẳng có gì lạ. Họ
là phàm phu, trong kinh
gọi họ là ‘người đáng
thương xót’, làm sao bạn
có thể so đo với họ
được! Bạn so đo
với họ thì bạn chẳng có
một chút từ bi nào cả.
Thế nên chúng ta hiểu
được đạo lý này, biết
được chân tướng sự thật,
tự mình phải hết lòng tu
học cho đàng hoàng.
Người thế gian khen ngợi
bạn thì cũng tốt, hủy
báng bạn thì cũng được,
hết thảy đều là giả,
chẳng có gì chân thật,
họ chẳng nhìn thấy đức
năng chân thật trong nội
tâm của bạn thì lời khen
tặng đó chẳng đáng tin.
Khi họ hủy báng bạn cũng
chẳng thấy được tạo tác
trong nội tâm của bạn,
sự hủy báng đó cũng là
giả dối.
Sự tán thán
của chư Phật Như Lai là
thật, một tí gì cũng
chẳng giả. Như Thế
Tôn trong kinh này tán
thán Địa Tạng Bồ Tát, đó
là thật, chẳng giả.
Ngài làm ‘lợi ích rộng
lớn’. Địa Tạng Bồ
Tát tại thế giới Sa Bà,
trong cõi Diêm Phù Đề
đặc biệt chỉ khu vực này
của chúng ta. Ngài
trong cõi này, ‘trong
đường sanh tử’, sanh tử
đạo tức là lục đạo luân
hồi. Trong lục đạo
luân hồi ở thế giới Sa
Bà, ngài dùng tâm gì,
ngài làm việc gì.
‘Từ ai cứu bạt’, từ là
đại từ bi, đây là tâm
của ngài. Từ tâm
thanh tịnh, bình đẳng
khởi lên đại từ bi, đại
từ bi này gọi là từ bi
thanh tịnh, từ bi bình
đẳng. ‘Cứu bạt’ là
sự nghiệp của ngài, ngài
làm gì ở đây? Ngài
làm sự nghiệp cứu tế,
ngày nay chúng ta gọi là
sự nghiệp từ thiện phước
lợi, ngài làm việc này.
‘Bạt’ nghĩa là giải trừ
hết thảy tai nạn của
chúng sanh, đau khổ của
chúng sanh. Tâm từ
bi là động lực, Bồ Tát
làm việc này chẳng cần
báo đáp, người thế gian
làm việc nếu không vì
danh thì cũng vì lợi.
Ngài chẳng cần báo đền,
chẳng vì lợi, chẳng có
người nào tán thán ngài,
chẳng có ai khen thưởng
ngài, chẳng vì danh.
Phật tán thán ngài ở
cung trời Đao Lợi, ngoài
Phật ra có ai tán thán
ngài? Vì sao không
có người tán thán?
Chẳng có ai biết được
tâm của ngài, hạnh của
ngài. Chư Phật Như
Lai biết được, chư Phật
Như Lai tôn kính, tán
thán; tán thán sự phát
tâm, sự nghiệp của ngài.
Câu tiếp
theo: ‘độ thoát nhất
thiết tội khổ chúng sanh
phương tiện chi sự’, ở
đây nêu lên vài việc để
nói. Ngài làm việc
cứu bạt chúng sanh gì?
Chúng ta phải hiểu ý
nghĩa của hai chữ ‘Độ
thoát’ này. Nhà
Phật thường nói ‘độ
chúng sanh’, người hiện
đại đối với chữ ‘độ’ rất
lờ mờ, ‘độ’ nghĩa là gì?
Nói theo kiểu bây giờ
thì ‘độ’ nghĩa là giúp
đỡ hết thảy chúng sanh,
chăm sóc chúng sanh, yêu
mến bảo bọc chúng sanh,
dốc toàn tâm toàn lực
giúp đỡ họ, giải trừ khó
khăn của họ. Hết
thảy những chúng sanh
chịu khổ chịu tội này,
đây gọi là thọ báo, quả
báo từ nơi nào đến?
Phải giải trừ cái ‘nhân’
ấy, chư vị phải biết
trên ‘quả’ thì chẳng làm
gì được, phải hạ thủ từ
‘nhân’. Tội khổ
đều do ác nhân tạo
thành, muốn thoát ly đau
khổ thì nhất định phải
tu thiện nhân; tâm hạnh
thiện rồi thì tự nhiên
sẽ thoát ly ác đạo.
Bồ Tát độ chúng sanh
cũng chỉ là giáo học,
chúng sanh nghe xong có
thể giác ngộ, chịu tiếp
nhận, chịu quay về, thì
họ sẽ thoát ra khỏi lục
đạo. Nếu họ nghe
xong còn hoài nghi,
không chấp nhận, họ nói
lời này chưa đáng tin,
chưa chắc là sự thật,
nếu vậy thì họ vẫn phải
chịu khổ tiếp tục.
Một ngày nào đó họ tiếp
nhận, hiểu rõ thì họ mới
thật sự thoát khổ.
Thế nên Địa Tạng Bồ Tát
cũng giống như Phật, đều
làm công tác giáo dục xã
hội thiện nguyện.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng ta giảng
đến đây thôi.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin thành thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4
tháng 9-2006