Tập 9 (Số 14-12-09)
Xin mở kinh.
Phẩm thứ 3: Quán nghiệp
duyên chúng sanh.
Lần trước nói đến đoạn
Bất kính Tam Bảo, chúng
ta xem tiếp:
Nhược hữu
chúng sanh xâm tổn
thường trụ, điếm ô tăng
ni, hoặc già lam nội, tứ
hành dâm dục, hoặc sát
hoặc hại, như thị đẳng
bối đương đọa Vô Gián
địa ngục, thiên vạn ức
kiếp cầu xuất vô kỳ.
Nếu có chúng sanh xâm
tổn của thường trụ, làm
nhơ nhuốc Tăng Ni, hoặc
tứ tình hành dâm trong
chốn Già Lam, hoặc giết
hoặc hại, hạng người như
thế phải đọa vào địa
ngục Vô Gián trong ngàn
vạn ức kiếp, không lúc
nào mong ra khỏi được.
Ðây là ba thứ tội nghiệp
cực nặng. Chúng ta
nhất định phải ghi nhớ:
thứ nhất là chẳng hiếu
thuận cha mẹ, thứ hai là
chẳng kính Tam Bảo, thứ
ba là ‘xâm tổn thường
trụ’, xâm là xâm phạm,
tổn là tổn hoại, tội xâm
tổn thường trụ rất nặng,
là thuộc về giới trộm
cắp, đây là việc chư vị
phải biết. Nhiều
người coi thường việc
này, cứ tưởng đây là
chuyện nhỏ, chẳng ăn
nhằm gì, không biết đã
phạm tội nặng nề.
Trong kinh, Phật nói rất
rõ ràng, chúng ta nhất
định phải thấu hiểu cặn
kẽ, thường trụ có bốn
loại:
Thứ nhất
gọi là Thường Trụ Thường
Trụ, đây là những bất
động sản, đất đai, ruộng
đất, nhà cửa trong tự
viện, am đường, đạo
tràng, được gọi là
Thường trụ thường trụ.
Chỉ có thể xử dụng,
tuyệt đối không thể trao
đổi, mua bán, đây là vật
của thường trụ, tội này
cực nặng.
Thứ nhì là
Thập Phương Thường Trụ,
chúng ta thường gọi là
‘Tứ Sự Cúng dường’:
‘thức ăn, y phục, ngọa
cụ, y dược’. Ðây
là phẩm vật của tín đồ
mười phương cúng dường
người xuất gia, không
dành riêng cho một người
nào cả, hết thảy những
người xuất gia trong đạo
tràng này đều có phần.
Nếu bạn xâm phạm, lấy
làm của mình thì là trộm
cắp.
Thứ ba là
Hiện Tiền Hiện Tiền, đây
là những gì tín đồ bố
thí cho chúng ta.
Phạm vi bố thí này tương
đối nhỏ, chỉ thuộc về
những người xuất gia
hiện đang có mặt (hiện
tiền). Không giống
như mười phương nói ở
phía trước, mười phương
là hết thảy người xuất
gia đều có phần.
Thời xưa người xuất gia
chẳng có nhà, bất cứ là
đạo tràng nào cũng có
thể xin cư ngụ (quải
đơn), đều có thể thọ
dụng, đều có thể tiếp
nhận được. Vì sự
cúng dường này là cúng
dường mười phương nên
hết thảy người xuất gia
đều có phần.
Thứ tư gọi
là Thập Phương Hiện
Tiền, những vật hiện
tiền, thí dụ lúc người
xuất gia vãng sanh rồi,
những vật mà họ để lại
thì gọi là Thập Phương
Hiện Tiền. Tuy là
Hiện Tiền, nhưng những
vật này mười phương đều
có phần. Thế nên
khi kết tội là kết từ
những chỗ này.
Thí dụ như
việc trộm cắp trong thế
gian, bạn trộm đồ của
một người thì bạn thiếu
nợ một người. Chư
vị đồng tu nhất định
phải biết, nếu bạn hiểu
rõ đạo lý này, thông đạt
chân tướng sự thật, thì
trong thế gian tuyệt đối
chẳng thể nói một kẻ nào
đó lợi dụng người khác,
lời này chẳng đúng.
Cũng chẳng có việc người
nào đó bị gạt, bị lợi
dụng. Tại sao vậy?
Ðời này bạn giựt của
người ta thì đời sau bạn
phải trả nợ cho họ, đây
là đạo lý nhất định,
nhân quả báo ứng.
Chúng ta giựt đồ, tương
lai đời sau gặp duyên
này thì tài vật của
chúng ta cũng sẽ bị
người ta giựt mất.
Nếu chúng ta xâm chiếm
người khác thì tương lai
người ta cũng xâm chiếm
chúng ta. Thế nên
Phật nói giữa người với
người có bốn thứ duyên:
báo ân, báo oán, đòi nợ,
trả nợ. Ðời đời
kiếp kiếp vĩnh viễn
chẳng dứt, đều là làm
những việc này.
Chúng ta đến thế gian
này để làm gì? Là
để báo ân, báo oán, đòi
nợ, trả nợ mà thôi.
Sau khi hiểu rõ đạo lý
này xong, ân thì phải
báo còn oán thì kể như
huề đi, đừng tiếp tục
nữa, xóa mất oan trái
này, chúng ta thiếu
người ta thì phải trả,
người ta thiếu mình thì
bỏ qua đi. Món oan
trái này kết thúc trong
đời này, chấm dứt hết,
được vậy thì mới có thể
niệm Phật, mới có thể
vãng sanh Tịnh Ðộ.
Nếu bạn cứ thường ghi
nhớ những ân oán, nợ nần
này trong tâm, đến lúc
Phật đến tiếp dẫn muốn
kéo nhưng kéo bạn không
nổi, chuyện ở thế gian
này bạn còn chưa dứt
hết, những chuyện này
không bao giờ dứt .
Thế nên bạn
thiếu nợ một người thì
bạn chỉ trả nợ cho một
người, chuyện này dễ
làm. Nếu là chính
phủ địa phương, thí dụ
một thành phố, nếu bạn
trộm cắp những thiết bị
công cộng ở đây thì
phiền phức sẽ lớn lắm.
Tại sao vậy? Bạn
phải biết sự kết tội
này, thiết bị công cộng
là do những người ở địa
phương này đóng thuế tạo
dựng nên. Nếu bạn
trộm cắp thì những người
trong thành phố này đều
là chủ nợ của bạn, bạn
phải trả cho từng người,
bạn phải trả đến bao giờ
mới trả dứt? Chư
vị nhất định phải biết,
nhất định không thể trộm
cắp những thiết bị công
cộng, tội nặng lắm.
Nếu thiết bị này là của
quốc gia thì phiền phức
còn lớn hơn nữa, tương
lai khi kết tội thì
người cả nước đều là chủ
nợ của bạn. Hiện
nay nhiều người không
biết tội này nặng, mặc
sức tùy tiện phá hoại
thiết bị công cộng, tội
này rất nặng, nặng vô
cùng, phải kết tội dựa
trên người cả nước.
Tự viện, am đường gọi là
đồ vật của Tam Bảo, tội
này còn nặng hơn tội
trộm cắp tài vật của
quốc gia, tại sao vậy?
Nó thông mười phương,
tận hư không, trọn pháp
giới hết thảy những
người xuất gia đều có
phần, sự luận tội này
phải dựa trên tận hư
không, trọn pháp giới,
vậy thì phiền phức còn
lớn hơn nữa. Thế
nên trộm cắp đồ vật của
Tam Bảo, trộm một cây
kim, một sợi chỉ, một
cọng cỏ, một khúc cây
đều phải đọa địa ngục A
Tỳ. Có người nói
việc này hình như chẳng
hợp lý tí nào, một cọng
cỏ, một khúc cây, một
cây kim, sợi chỉ chẳng
đáng gì hết, tại sao tội
nặng như vậy? Bạn
nghĩ xem, chủ nhân của
nó là ai? Bạn sẽ
rõ, chủ nhân của nó là
tận hư không, trọn khắp
pháp giới hết thảy người
xuất gia, bạn phải luận
tội trên số người này.
Phạm vi của
chữ ‘đạo’ (trộm cắp) vô
cùng rộng lớn, chẳng hạn
chế ở chỗ trộm cắp.
Trong kinh Phật, chữ đạo
đuợc giải thích là
‘chẳng cho mà lấy’.
Người quản lý trong
thường trụ phải cân
nhắc: bạn muốn những vật
ấy có nên đưa cho bạn
hay không; nếu nên đưa
nhưng họ không cho thì
họ phạm giới, họ cũng
phạm giới trộm cắp, họ
dành lấy làm của riêng,
cố ý làm khó dễ không
cho bạn. Nếu không
nên cho nhưng họ cho bạn
thì cũng phạm giới, thế
nên [quản lý đồ thường
trụ] chẳng dễ đâu.
Quản lý đồ vật của Tam
Bảo, nếu không để ý thì
liền tạo nên quả báo
nghiêm trọng, đạo lý này
chúng ta nhất định phải
hiểu. Nếu chúng ta
lãng phí đồ vật của Tam
Bảo, cũng là giới điều
này. Chúng ta tiết
kiệm một phần tiền cho
Tam Bảo, tiết kiệm được
một đồng là phước báo
của bạn, phước báo này
rất lớn. Tại sao?
Bạn cho hết thảy người
xuất gia ở mười phương,
bạn tu phước vì họ.
Nói cách khác, nếu bạn
lãng phí, tổn hại thì
tội này sẽ rất nặng.
Ngày nay càng ngày càng
ít người hiểu được đạo
lý này. Người xuất
gia cũng chẳng nói, hiện
nay những pháp sư giảng
kinh có ai giảng Giới
Luật đâu? Nếu
giảng Giới Luật thì
người ta sẽ mắng bạn.
[Họ sẽ nói:] “Ông giảng
Giới Luật, mở kinh ra
thì mỗi ngày đều mắng
chửi chúng tôi”, còn ai
chịu nghe lời chửi mắng?
Nếu bạn giảng Giới Luật
thì một thính chúng cũng
không có, nhưng đó là
lời chân thật. Thế
nên chúng sanh cõi Diêm
Phù Ðề, Ðịa Tạng Bồ Tát
nói: ‘Khởi tâm động
niệm, không gì là chẳng
phải tội’, lời này
là thật, chẳng quá đáng
tí nào. Niệm niệm
đều đang tạo nghiệp,
niệm Phật vãng sanh đâu
dễ vậy sao, đây là việc
chúng ta nhất định phải
biết, phải cảnh giác,
phải biết sự nghiêm
trọng của quả báo.
Ðoạn kế
tiếp ‘điếm ô tăng ni’,
đây là phạm tội dâm dục.
Tăng là chúng xuất gia
Nam, Ni là chúng xuất
gia Nữ. Người thế
gian vô tri, dâm ô tăng
ni. ‘Hoặc trong
chốn già lam’.
Phía sau là gì?
Phía sau chẳng phải là
người xuất gia, thậm chí
vợ chồng tham gia pháp
hội trong tự viện, có
khi pháp hội kéo dài
nhiều ngày, thí dụ pháp
hội Thủy Lục, hoặc là
Lương Hoàng Sám, đều kéo
dài khoảng bảy ngày trở
lên, pháp hội truyền
giới còn dài hơn nữa.
Có rất nhiều cư sĩ trong
thời gian này tham gia
pháp hội, ở lại trong
chùa, tuy là vợ chồng,
nếu có hành vi dâm dục
trong chùa thì cũng liệt
vào tội này. Nếu
không phải là vợ chồng
thì tội còn nặng hơn, đó
là tà dâm. Chư vị
nên biết đây đều là tội
đọa địa ngục Vô Gián,
người hiện nay làm sao
biết được bị những quả
báo nặng nề như vậy?
‘Hoặc sát hoặc hại’,
phần nhiều đây đều là
cưỡng dâm, sau khi dâm ô
xong rồi giết họ để thủ
tiêu tang chứng, tội này
càng nặng hơn. Tạo
những tội này đều phải
‘đọa vào địa ngục Vô
Gián trong ngàn vạn ức
kiếp, không lúc nào mong
ra khỏi được’. Xem
tiếp đoạn thứ tư:
Nhược hữu
chúng sanh, ngụy tác sa
môn, tâm phi sa môn, phá
dụng thường trụ, khi
cuống bạch y, vi bội
giới luật, chủng chủng
tạo ác, như thị đẳng bối
đương đọa Vô Gián địa
ngục, thiên vạn ức kiếp,
cầu xuất vô kỳ.
Nếu có chúng sanh giả
làm Sa Môn, tâm chẳng
phải Sa Môn, phá hoại
lạm dụng của thường trụ,
gạt gẫm hàng bạch y,
trái phạm Giới Luật, tạo
vô số tội ác, những
người như vậy phải đọa
địa ngục Vô Gián trong
ngàn vạn ức kiếp, không
lúc nào mong ra khỏi
được.
Hai câu đầu là ‘cử tội’.
‘Sa môn’ là người tu
hành, chẳng phải chỉ
Tăng Ni, Tăng Ni càng
thù thắng hơn Sa Môn.
Cư sĩ tại gia cũng có
thể xưng là Sa Môn, hai
chữ này là Phạn ngữ dịch
âm, ý nghĩa của nó là
‘siêng tu Giới Ðịnh Huệ,
diệt hết Tham Sân Si’,
thế nên xuất gia hay tại
gia đều có thể xưng là
Sa Môn. Chỉ cần
bạn hết lòng tu hành, tu
hành đúng như lý như
pháp đều có thể xưng là
Sa Môn. Ở Ấn Ðộ
danh từ Sa Môn này là
danh xưng phổ biến,
chẳng nhất định là Phật
giáo, hết thảy những tín
đồ tôn giáo chỉ cần hết
lòng học tập, đoạn ác tu
thiện thông thường đều
xưng là Sa Môn.
Sau khi Phật giáo truyền
đến Trung Quốc, Sa Môn
biến thành danh từ chung
của những người xuất gia
trong Phật giáo, nhưng
chư vị nên biết nó cũng
bao gồm người tại gia,
xưng Sa Môn là một cách
xưng hô khiêm tốn.
Nếu họ giả vờ như Sa Môn
nhưng chẳng tu hành chân
chánh, giả vờ tu hành
nhất định nhằm mục đích
lừa gạt chúng sanh.
Ðoạn kinh văn này, Thanh
Liên pháp sư trong cuốn
Khoa Phán gộp vào ‘phá
giới gạt người’,
‘cuống’ [trong câu “khi
cuống bạch y”] là lừa
gạt, dối người.
Phía dưới đây nói về tội
trạng của họ, ‘phá dụng
thường trụ’. Nếu
bạn chẳng phải là người
chân chánh tu đạo, mười
phương cúng dường là
cúng dường người tu đạo,
nếu bạn tu đạo chân thật
thì họ sẽ có phước.
Họ cúng dường cho bạn tu
hành, bạn tu hành rất
tốt, tối thiểu là đời
sau bạn còn được làm
người, sanh lên trời
hưởng phước trời, thì họ
hưởng được phước lây.
Nếu bạn đọa vào ba đường
ác, bạn đã phụ lòng họ,
sẽ thiếu nợ họ, như
thường nói:
‘Một hạt
gạo thí chủ, lớn như núi
Tu-di,
Đời này
chẳng liễu đạo, mang
lông đội sừng đền’
Phải trả
nợ. Nếu trong đời
này bạn tu hành chân
thật, vãng sanh Cực Lạc
thế giới làm Phật, thì
phước của họ còn lớn hơn
nữa, phước điền này họ
đã thật sự trồng được
đúng chỗ. Do đó có
thể biết, chén cơm của
người xuất gia này rất
khó nuốt. Trong
các buổi giảng tôi
thường nhắc nhở các vị
đồng tu, chén cơm này
khó nuốt hơn những người
đi khất thực nhiều.
Người ăn xin, người ta
bố thí cho người xin ăn,
nhất định chẳng nghĩ đến
phải trồng phước, chẳng
muốn được báo đền, cho
nên chén cơm của người
ăn xin dễ nuốt hơn
nhiều. Người xuất
gia tiếp nhận bố thí
cúng dường, khó nuốt
lắm, đời này chẳng liễu
đạo thì phải mang lông,
đội sừng mà đền trả.
Nghề nghiệp trong thế
gian rất nhiều, tại sao
bạn chọn đi xuất gia?
Chọn xuất gia, nói thật
ra, nếu không thể vãng
sanh Cực Lạc thế giới
thì bạn sẽ chọn đi đến
địa ngục A Tỳ. Tại
sao phải làm chuyện cực
khổ này? Chúng ta
phải cảnh giác cao độ,
đây chẳng phải chuyện
giỡn chơi, nghiêm túc
phi thường.
Chúng ta nhìn thấy người
xuất gia hiện nay, nói
thật ra là vì đọc kinh
quá ít, chẳng có mấy
người hiểu được đạo lý
này, hiểu chân tướng sự
thật này. Vả lại
phần đông người trong xã
hội nghĩ như thế nào?
Nghề ‘xuất gia’ này rất
dễ kiếm tiền, chẳng cần
đóng thuế, chẳng cần
phải làm ăn cực khổ.
Làm bất cứ ngành nghề gì
trong thế gian đều phải
đi học cực khổ, học kỹ
thuật. Người xuất
gia nếu cần học Kinh Sám
Phật Sự, tối đa ba tháng
là rất rành rồi, thì có
thể bắt đầu ‘kiếm tiền’.
Nếu bạn có thể giảng
‘thiện đạo’ thì kiếm
tiền còn dễ hơn nữa,
chẳng cần mấy năm thì
bạn sẽ có thể kiếm mấy
triệu bạc, mấy chục
triệu bạc. Thế
nhưng phải biết sau này
quả báo sẽ ở tại địa
ngục A Tỳ, thọ tội ở địa
ngục A Tỳ xong còn phải
trải qua thời gian rất
dài để trả nợ.
Tuyệt đối không thể nói
thiếu nợ chẳng cần trả,
không có đạo lý này,
nhân quả thông ba đời,
chúng ta phải biết.
Cách làm này là ‘phá
dụng thường trụ’.
‘Khi cuống bạch y’,
‘Bạch y’
[1]
là tín đồ tại gia, bạn lừa
gạt họ, phản nghịch giáo
giới của đức Phật.
‘Chủng chủng tạo ác’,
tạo ác nghĩa là tham,
sân, si, mạn; tạo tác vô
lượng vô biên tội
nghiệp. Ðây là
loại thứ tư đọa địa ngục
A Tỳ, A Tỳ nghĩa là ‘Vô
Gián’, là hạng người thứ
tư. Loại cuối cùng
là trộm cắp vật của
thường trụ, đây là dùng
tâm trộm cắp để trộm
cắp, so với ‘xâm tổn’
nói ở phía trước còn
nặng hơn.
Nhược hữu
chúng sanh thâu thiết
thường trụ tài vật cốc
mễ, ẩm thực y phục, nãi
chí nhất vật bất dữ thủ
giả, đương đọa vô gián
địa ngục, thiên vạn ức
kiếp cầu xuất vô kỳ.
Nếu có chúng sanh trộm
cắp tài vật, lúa gạo, đồ
ăn thức uống, y phục của
thường trụ, cho đến một
vật không cho mà lấy; kẻ
đó phải đọa địa ngục Vô
Gián trong ngàn vạn ức
kiếp, không lúc nào mong
ra khỏi được.
Hai câu sau
cùng là quả báo phải có
của họ. Thường trụ
phía trước đã nói rồi,
[có] bốn thứ thường trụ.
Nếu bạn dùng tâm trộm
cắp, tâm thâu đạo để đi
trộm cắp, hoặc để tự
mình dùng, trộm về để tự
mình hưởng thọ, hoặc cho
người thân, quyến thuộc
dùng đều phạm tội này,
tội này rất nặng.
Kinh Quán Phật Tam Muội
nói trộm cắp đồ vật của
Tam Bảo, tội ấy lớn hơn
tội giết tám vạn bốn
ngàn cha mẹ, sát hại cha
mẹ phía trước có nói là
tội nghiệp đọa địa ngục
A Tỳ. Trộm cắp đồ
vật của Tam Bảo còn nặng
hơn tội giết cha mẹ.
Nặng hơn bao nhiêu,
chúng ta không cách gì
tưởng tượng được nổi.
Trong kinh Phật thí dụ
còn nặng hơn tội giết
hại tám vạn bốn ngàn cha
mẹ. Hoa Tụ Bồ Tát
trong kinh nói: ‘Ngũ
nghịch bốn trọng tội tôi
còn có thể cứu, trộm
Tăng vật thì tôi không
thể cứu’. Hoa Tựu
Bồ Tát là Ðẳng Giác Bồ
Tát, ngang hàng với Quán
Âm, Thế Chí, Ðịa Tạng Bồ
Tát, lời các ngài nói là
lời chân thật, chẳng
giả.
Hiện nay
địa phương này của chúng
ta, đạo tràng này là đạo
tràng cư sĩ, đạo tràng
cư sĩ hoằng hộ chánh
pháp, nhân quả của nó
tương đồng với tự viện,
am đường. Những
việc này chúng ta phải
nhận thức rõ ràng, nếu
chúng ta cần thì có thể
nói rõ cho thường trụ
biết, thường trụ cúng
dường, vậy là chính xác.
Nhất định không được dấu
thường trụ mà tự mình
trộm lấy, vậy là sai
lầm. Vật thường
trụ dễ phạm nhất là:
giấy, như bao thơ, giấy
viết thơ, chúng ta tùy
tiện lấy để viết thơ
riêng, chuyện này là
chuyện rất nhỏ, người
chẳng học Phật đâu biết?
Thông thường trong xã
hội, trong cơ quan chánh
phủ cũng vậy, công ty tư
nhân cũng vậy, những vật
dụng của chủ như những
vật này, nếu cứ tùy tiện
lấy xài, chẳng hiểu Phật
lý. Ở Ðài Trung
tôi theo học thầy Lý
mười năm, thầy Lý làm
việc trong văn phòng của
giám đốc Sở Quản Trị Tế
Tự Khổng Miếu, cụ làm
Chánh Thư Ký cho vị đứng
đầu cơ quan ấy.
Thầy nói với chúng tôi,
mỗi lần đi lấy giấy viết
thơ, bao thơ, nhất định
phải nói cho giám đốc Sở
Quản Trị Tế Tự Khổng
Miếu biết: ‘Tôi lấy
những giấy, bao thơ này,
có khi viết thơ cá nhân
cũng dùng’. Ông
giám đốc này nói thầy Lý
lải nhải, ‘Có ai không
làm như vậy đâu?
Tại sao mỗi lần lấy ông
đều phải nói mấy câu này
chi vậy?’. Thầy Lý
nói: ‘Tôi nói mấy câu
này, ông chịu cho thì
tôi không phạm giới; nếu
tôi không được ông đồng
ý chấp thuận, tôi dùng
giấy của công để viết
thơ riêng thì tôi phạm
giới trộm cắp’.
Ðây là người hiểu lý,
một tờ giấy, một bao thơ
thầy cũng cẩn thận như
vậy, vậy thì có thể suy
ra những việc khác.
Thế nên một giới nhỏ
cũng phải cẩn thận,
không thể coi thường, cứ
cho rằng đây là chuyện
rất nhỏ không có tội,
chẳng nghiêm trọng, đó
là chúng ta nghĩ sai,
nhìn sai rồi.
Tôi đã từng
kể với chư vị đồng tu,
hồi trước lúc tôi học
trung học có một vị hiệu
trưởng tên là Châu Bang
Ðạo, người Giang Tây,
sau này ông cũng đến Ðài
Loan. Trước kia ở
Trung Quốc đại lục, ông
ta từng làm giám đốc Sở
Giáo Dục tỉnh Giang Tây,
sau khi kháng chiến
thắng lợi, ở Ðài Loan
ông làm thứ trưởng bộ
Giáo Dục đặc trách công
tác thi cử, chức này ở
Trung Quốc tức là phó bộ
trưởng thứ nhất.
Chánh phủ cấp xe cho ông
dùng, khi đi công tác
thì ông dùng xe chánh
phủ, khi nào đi làm
chuyện riêng thì đi xe
bus. Tại sao vậy?
Không dám lãng phí xăng
dầu của chánh phủ, không
xâm tổn tài vật của quốc
gia. Trong thời
đại ngày nay vẫn còn
quan viên như vậy, đây
là gương tốt đáng cho
chúng ta học tập.
Ðều là cư sĩ tại gia,
mỗi ngày đều đọc kinh,
hiểu rõ đạo lý, hiểu rõ
chân tướng sự thật, họ
làm gương cho chúng ta
xem. Trong nhà có
điện thoại do chánh phủ
cấp, nếu không phải là
việc công thì không dùng
điện thoại này, con nít
trong nhà cũng không cho
dùng điện thoại.
Niệm niệm đều vì quốc
gia, giúp quốc gia tiết
kiệm một phân tiền đều
là việc tốt, chẳng dám
lãng phí chút nào.
Ngày nay chúng ta dùng
điện thoại gọi đến nước
khác, không biết nói vắn
tắt, cứ lải nhải nói
hoài, [đó là] ‘xâm tổn
thường trụ’.
Chuyện quan trọng trong
vòng vài câu nói có thể
giải quyết vấn đề, một
khi cầm điện thoại lên
cứ nói chuyện đâu không,
hỏi tới hỏi lui, tiền
điện thoại này là do
thường trụ trả, xâm tổn
thường trụ, mọi người
chẳng biết chuyện này
lợi hại ra sao.
Thế nên tôi
khuyến khích mọi người,
hiện nay chúng ta có một
số chuyện cần phải biết,
cách truyền đạt tin tức
tốt nhất là dùng máy
truyền chân (fax), dùng
fax có thể tiết kiệm
thời gian. Năm
phút có thể truyền đi
mười mấy trang giấy,
trong mười mấy trang
giấy này nội dung bạn
viết quá đầy đủ rồi,
cách làm như vậy rất
tốt. Hơn nữa khi
người nhận coi lần đầu
không rõ thì có thể coi
lần thứ hai. Gọi
điện thoại nói nửa tiếng
đồng hồ chẳng có hiệu
quả bằng năm phút dùng
fax, phí tổn dùng máy
fax giống như dùng điện
thoại, bạn tiết kiệm
được bao nhiêu!
Chẳng biết tạo tác tội
nghiệp đọa địa ngục A
Tỳ, tự mình không biết.
Tương lai đọa địa ngục A
Tỳ rồi mới kêu oan uổng,
Diêm La Vương đem những
chuyện này bày trước mặt
cho bạn coi, bạn nghẹn
ngào chẳng thốt nên lời,
chứng cớ đều có sẵn
trước mặt. Trong
Giới Kinh có nói rõ, ở
đây chỉ nêu lên những
điểm chính và nói sơ
lược mà thôi.
Hiện nay
chúng ta phải thể hội
đến sự khó khăn về vật
lực, hết thảy những
chúng sanh này, chúng
sanh trên toàn thế giới,
chẳng hay chẳng biết tạo
tác vô lượng vô biên tội
nghiệp. Tuy là
hưởng phước, rất mau thì
sẽ hưởng hết phước này.
Hưởng hết phước thì tai
nạn sẽ đến, tai nạn này
trong Phật pháp gọi là
Hoa Báo, Quả Báo sẽ ở
địa ngục, hoa báo là
điềm báo trước của quả
báo, chúng ta làm sao
không cảnh giác cho
được! Tại sao
trong đời này, trong
vòng mấy mươi năm ngắn
ngủi, không cắn chặt
răng học theo đức Phật
Thích Ca Mâu Ni sống một
cuộc sống đơn giản nhất,
thuần phát nhất.
Ngoài việc hoằng pháp
lợi sanh ra, làm lợi ích
cho đại chúng, chúng ta
phải nên làm.
Những nhu cầu cá nhân
trong đời sống nhất định
phải tiết kiệm đến mức
thấp nhất. Nếu
những người xuất gia
chúng ta, trên thân một
đồng cũng chẳng có, hãy
nên thật sự giữ đúng như
pháp. Khi ra ngoài
cần dùng tiền thì thường
trụ cung ứng, khi ra
ngoài cũng phải tiết
kiệm, khi trở về nếu còn
dư thì giao trả cho
thường trụ. Nếu
chúng ta có thể làm như
vậy, nhất định sẽ được
hết thảy chư Phật hộ
niệm, long thiên thiện
thần chăm sóc, bảo vệ.
Ngày nay chúng ta khởi
tâm động niệm, những
chuyện mình làm chẳng
đúng như lý, như pháp,
nói thật ra chư Phật
không hộ niệm cho bạn,
long thiên thiện thần
khinh dể bạn. Ai ở
xung quanh bạn?
Yêu ma quỷ quái.
Yêu ma quỷ quái thừa dịp
[khuấy nhiễu], thế nên
bạn thường có bịnh khổ,
thường bị tai ương,
trừng phạt, tự mình còn
không tự giác.
Người không
học Phật thì thật sự
chẳng biết, người học
Phật hiểu rồi, đời này
chúng ta đến thế gian
này để làm gì? Chỉ
có hai việc:
‘Thượng cầu Phật đạo, hạ
hóa chúng sanh’.
Trên cầu Phật đạo thì
nhất định phải niệm Phật
cầu sanh Cực Lạc thế
giới, vậy tức là thượng
cầu, trong đời này nhất
định có thể làm được.
Hạ hóa chúng sanh là làm
gương tốt cho hết thảy
chúng sanh, vậy thì bạn
sẽ làm được việc ‘Hạ
hóa’ này rất viên mãn.
Ngày nay người thế gian
tham tiền tài, tham
danh, tham lợi, chúng ta
làm gương tốt, phải xả
bỏ tài, danh, lợi sạch
sành sanh, như vậy là
‘hạ hóa’. Chẳng
cần phải nói, cũng chẳng
cần người ta biết, khi
bạn chịu làm, có một,
hai người biết thì họ sẽ
tuyên dương, sẽ nói cho
người ta biết. [Họ
sẽ nói:] “Những người
xuất gia ở nơi ấy làm
như vậy, những người
xuất gia ấy thân tâm
thanh tịnh, được đại tự
tại, trí huệ sung mãn”,
làm cho người thế gian
ngưỡng mộ, mong mỏi, đến
để học theo bạn, vậy thì
mới đạt đến hiệu quả
thật sự làm lợi ích cho
chúng sanh.
Tai nạn thế
gian từ đâu đến?
Người thế gian cho rằng
những chuyện xảy ra
trong thiên nhiên chẳng
liên quan đến chúng ta,
thế nên đều gán những
tai nạn này thành tai
hại thiên nhiên, chẳng
do sức lực con người có
thể làm nên, đều đẩy
trách nhiệm hết.
Chỉ có người chân chánh
học Phật biết được, y
báo và chánh báo là một
thể, y báo và chánh báo
chẳng hai. Ðặc
biệt là kinh Hoa Nghiêm,
giảng những đạo lý, chân
tướng sự thật này rất
thấu triệt, minh bạch.
Chúng ta khởi tâm động
niệm, những gì mình làm,
nhỏ như sợi lông tơ, như
hạt bụi, chẳng đáng gì
hết, nhưng đều ảnh hưởng
đến tận hư không, trọn
khắp pháp giới.
Thế nên Phật nói cho
chúng ta ‘cảm từ cộng
nghiệp’, chúng ta nghe
xong lời này nhất định
sẽ không có nghi hoặc gì
cả. Thời xưa, hàng
vua chúa bao gồm cả
những phần tử trí thức,
phần tử trí thức ở Trung
Quốc chẳng ai không đọc
sách Phật cả, họ đều
hiểu đạo lý này.
Khi gặp tai họa thiên
nhiên, họ đều hết lòng
phản tỉnh, sám hối, sửa
sai đổi mới, để cứu vãn
kiếp vận, họ hiểu được
đạo lý này. Hiện
nay người học khoa học
không thừa nhận sự thật
này, cho rằng đây là
vọng tưởng, ảo tưởng,
chẳng phù hợp với nguyên
tắc khoa học, [đấy là]
mê tín vào khoa học.
Những gì khoa học nghiên
cứu chỉ là một bộ phận
trong cả vũ trụ nhân
sanh, Phật pháp nói về
toàn thể, nếu chấp trước
một bộ phận nào đó thì
trước sau gì cũng sẽ tổn
hại đến toàn thể.
Chỉ có quan tâm đến cả
toàn thể thì mới giải
quyết vấn đề, đây là
điều chúng ta không thể
không biết. Trong
kinh điển Ðại Thừa, Phật
thường dạy chúng ta hiểu
rõ ý nghĩa đường hướng,
chúng ta hiểu cạn cợt
thì không được, phải
hiểu cho sâu, nhất định
phải đích thân ra sức mà
làm. Xem tiếp đoạn
kế:
Ðịa Tạng
bạch ngôn: Thánh Mẫu,
nhược hữu chúng sanh tác
như thị tội, đương đọa
ngũ vô gián địa ngục,
cầu tạm đình khổ, nhất
niệm bất đắc.
Ngài Ðịa
Tạng thưa rằng: ‘Thánh
Mẫu, nếu có chúng sanh
phạm những tội như vậy
thì phải đọa Ngũ Vô Gián
địa ngục, cầu tạm ngừng
sự đau khổ trong chừng
một niệm cũng không
được.
Vô Gián tức
là địa ngục A Tỳ, có lúc
trong kinh nói hai loại,
có lúc gộp cả hai lại
nói, rốt cuộc là một hay
là hai không nói tách
bạch, nhưng chúng ta có
thể xem như là một.
Ðịa Tạng Bồ Tát sơ lược
nêu lên năm tội nặng ở
đoạn trước, đều nhất
định sẽ đọa địa ngục Vô
Gián. ‘Nhược hữu
chúng sanh tác như thị
tội’, ‘như thị’ là chỉ
năm loại tội lớn.
Năm loại này đều là thập
ác nghiệp nghiêm trọng,
sau khi thọ báo ở địa
ngục xong ra khỏi địa
ngục vẫn còn dư báo, dư
báo ở tại ngạ quỷ, súc
sanh, chẳng biết đến lúc
nào mới có thể có được
thân người trở lại, thế
nên được thân người
tương đối chẳng dễ.
Thời gian trong ba đường
ác đều rất dài, địa ngục
thì chẳng cần phải nói
nữa. Còn cõi ngạ
quỷ, trong kinh Phật
nói, một ngày ở cõi ngạ
quỷ bằng một tháng ở
nhân gian, ở nhân gian
khi cúng tế quỷ thần thì
cúng ngày mồng một, mười
lăm, cũng như mời họ ăn
cơm, vừa đúng lúc!
Một ngày của họ bằng một
tháng của chúng ta, ngày
mồng một, ngày rằm vừa
đúng lúc chúng ta mời họ
ăn cơm trưa, ăn cơm tối,
đó là một ngày của họ.
Thọ mạng ngắn ở cõi ngạ
quỷ là một ngàn tuổi,
cũng tính một năm có ba
trăm sáu mươi ngày,
chiếu theo cách tính này
thì thọ mạng ở cõi ngạ
quỷ cũng quá dài, quá
dài. Lúc trước ông
Chương Thái Diệm từng
làm chức phán quan cho
Ðông Nhạc đại đế, mỗi
ngày ông đều làm việc ở
cõi quỷ, còn gặp những
quỷ thời triều Hán, ông
là người đọc sách, triều
Hán, hai triều Tấn, Tùy,
Ðường, ông đều gặp những
người ở triều đại này,
những tình hình như vầy
chúng ta đều phải biết.
Có một số
trong cõi súc sanh thọ
mạng rất ngắn, nhưng súc
sanh ngu si, vô cùng
chấp trước thân hình của
chúng nên rất khó thoát
ly cõi súc sanh.
Trong kinh, đức Phật
Thích Ca Mâu Ni nói với
chúng ta lúc ngài ở vườn
Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc một
thời gian, giảng kinh
thuyết pháp ở đó.
Kỳ Viên tinh xá có một
số công trình đang xây
dựng, đại khái là xây
nhà cửa, dưới đất có một
ổ kiến, Phật nhìn thấy
rồi cười. Các đệ
tử nhìn thấy Phật cười
nên hỏi tại sao?
Phật nói ổ kiến này, đã
trải qua bảy tôn Phật
rồi chúng nó vẫn còn làm
kiến. Thọ mạng của
chúng chẳng phải dài như
vậy, chúng nó chấp trước
thân hình ấy là chính
mình, chết đi đầu thai
cũng vẫn làm kiến, đời
đời kiếp kiếp làm kiến,
chẳng biết thoát ly, súc
sanh ngu si. Bạn
hiểu rõ chân tướng sự
thật xong mới biết ba
đường ác rất đáng sợ.
Làm sao sanh vào ba
đường ác? Là do
tạo mười ác nghiệp, phá
giới, tạo mười ác nghiệp
đọa ba đường ác.
Xin xem tiếp:
Ma Gia phu
nhân trùng bạch Ðịa Tạng
Bồ Tát ngôn, vân hà danh
vi Vô Gián Ðịa ngục.
Ma Gia
phu nhân lại hỏi Ðịa
Tạng Bồ Tát: ‘Tại sao
tên là địa ngục Vô
Gián?’
Ðây là lúc
Ma Gia phu nhân nghe Ðịa
Tạng Bồ Tát nói ‘địa
ngục Vô Gián’ nghiêm
trọng như vậy, đọa vào
địa ngục Vô Gián, ngàn
vạn ức kiếp cầu thoát
khỏi chẳng được, dễ sợ
quá. Cái gì gọi là
địa ngục Vô Gián?
Ma Gia phu nhân hỏi dùm
chúng ta.
Ðịa Tạng
bạch ngôn, Thánh Mẫu chư
hữu địa ngục tại Ðại
Thiết Vi sơn chi nội, kỳ
đại địa ngục, hữu nhất
thập bát sở.
Ngài Ðịa
Tạng thưa rằng: ‘Thánh
Mẫu, tất cả địa ngục đều
ở trong núi Ðại Thiết
Vi. Ðịa ngục lớn
có mười tám chỗ.’
Chúng ta
thường nói đến mười tám
tầng địa ngục, chính là
ý nghĩa này. Mười
tám tầng địa ngục là
mười tám ‘địa ngục lớn’.
Thứ hữu ngũ
bá, danh hiệu các biệt,
thứ hữu thiên bá, danh
hiệu diệc biệt.
Thứ kế
có năm trăm chỗ, danh
hiệu đều khác nhau; kế
nữa lại có đến ngàn
trăm, danh hiệu cũng đều
khác nhau.
Hết thảy
chúng sanh lúc còn ở thế
gian tạo tác tội nghiệp
có nặng nhẹ sai khác,
cho nên đọa lạc địa
ngục, chịu tội ở địa
ngục cũng có nặng nhẹ
khác nhau. Lúc
trước thầy Lý giảng kinh
có nhắc qua, trong kinh
Phật giảng kỹ về địa
ngục có đến bảy mươi mấy
loại, Kinh Ðịa Tạng chỉ
nói sơ lược mà thôi.
Chúng ta nghĩ coi, bảy
mươi mấy loại đương
nhiên cũng là đã nói tóm
gọn rồi, [sự thật thì]
chủng loại nhiều đến nỗi
chẳng có cách gì tính
đếm, Phật thường dùng
phương pháp quy nạp.
Giống như phiền não vô
lượng vô biên, Phật quy
nạp thành một trăm lẻ
tám loại lớn, dùng
phương pháp quy nạp.
Thế nên bảy mươi mấy
loại này cũng là dùng
pháp quy nạp, khổ nhất
chính là địa ngục Vô
Gián. Trong kinh
đức Phật nói những việc
thiện ác do chúng sanh
tạo đều có nhân quả báo
ứng, nhất định sẽ không
mất đi đâu hết.
Tâm thiện, hạnh thiện
nhất định cảm lấy quả
thiện; niệm ác, hạnh ác
nhất định cảm lấy ác
báo, chỉ cần tạo tác tội
nghiệp thì nhất định sẽ
có địa ngục, địa ngục là
chỗ khổ cùng cực.
Chúng ta xem tiếp đoạn
kinh kế tiếp, Ðịa Tạng
Bồ Tát nói:
Vô Gián
ngục giả, kỳ ngục thành.
Ngục Vô
Gián có ngục thành.
Phía ngoài
địa ngục có tường thành,
có tường bao bọc, tường
bao bọc giống như thành
lũy vậy.
Châu táp
bát vạn dư lý, kỳ thành
thuần thiết, cao nhất
vạn lý. Thành
thượng hỏa tụ, thiểu hữu
không khuyết. Kỳ
ngục thành trung chư
ngục tương liên, danh
hiệu các biệt, độc hữu
nhất ngục danh viết Vô
Gián.
Giáp
vòng hơn tám vạn dặm,
thành đó thuần bằng sắt,
cao một vạn dặm.
Trên thành có lửa tụ,
không có chỗ hở trống.
Trong ngục thành đó, các
nhà ngục nối tiếp nhau,
danh hiệu đều sai khác,
chỉ có một ngục tên là
Vô Gián.
Kinh nói
những chuyện này, địa
ngục bao lớn rất khó
tưởng tượng nổi.
‘Hơn tám vạn dặm’ còn
lớn hơn quả địa cầu
chúng ta, địa cầu chúng
ta còn chẳng lớn như
vậy. Tường thành
cao một vạn dặm, phi cơ
hiện nay của chúng ta
còn chưa bay cao như
vậy. Hiện nay
chúng ta ngồi máy bay
lớn nhất, chư vị thường
đi du lịch, ngồi máy bay
747 có thể bay đến Ðồng
Ôn Tằng
[2],
cỡ chừng ba vạn bộ (ft),
ba vạn bộ bằng khoảng
chừng hơn một vạn mét,
nghĩa là độ cao khoảng
mười kí lô mét mà thôi.
Một vạn dặm, chắc bằng
từ địa cầu lên tới cung
trăng. Trong kinh
Phật nói những lời này
chúng ta phải tin, kinh
Kim Cang nói với chúng
ta:
‘Như Lai là người nói
lời chân, lời thật, lời
đúng như vậy’
[3].
‘Như’ nghĩa là hoàn toàn
đúng như sự việc đó,
chẳng có chút phóng đại,
sự thật ra sao thì Phật
nói y như vậy, chẳng
tăng chẳng giảm thì gọi
là ‘Như ngữ’. Ðịa
ngục được tạo nên từ sự
biến hóa, là ‘hóa hiện’,
là do nghiệp lực của
chúng sanh tạo tội
nghiệp biến hiện ra.
Nếu không là người tạo
tội nghiệp nặng nề như
vậy thì dù địa ngục ở
ngay trước mặt, người ấy
cũng chẳng nhìn thấy.
Giống như cư sĩ Chương
Thái Diệm, ông yêu cầu
Ðông Nhạc đại đế phế bỏ
hình phạt Bào Lạc, Bào
Lạc là một hình phạt
trong địa ngục, ngày nay
chúng ta gọi hình phạt
này chẳng nhân đạo, dựa
trên lập trường nhân
đạo, chết thì để họ
chết, đừng cho họ đau
khổ như vậy, đừng hành
hạ họ như vậy.
Ðông Nhạc đại đế phái
tiểu quỷ dẫn ông ta đi
đến chỗ hành hình xem
thử, [tới ngay nơi ấy
nhưng] ông nhìn chẳng
thấy gì cả, từ đó ông
mới vỡ lẽ, hiểu được lời
Phật nói trong kinh.
Những hình phạt này
chẳng phải do Diêm La
Vương bày ra, mà là do
nghiệp lực của chính tội
nhân biến hiện nên,
chẳng phải do người khác
tạo thành, vậy thì chẳng
có biện pháp gì hết.
Nếu là do người khác tạo
dựng, dựa trên nhân đạo
thì đương nhiên có thể
phế trừ, nếu là do
nghiệp lực của chính
mình biến hiện thì chẳng
có cách gì cả.
Hiện tượng trong địa
ngục là một màn lửa,
biển lửa, chúng ta phải
tin chuyện này.
Kinh Phật nói địa ngục
có trạng huống như vậy,
những tôn giáo khác cũng
nói như vậy. Tuy
Cơ Ðốc Giáo chẳng nói
đến lục đạo, ít nhất thì
họ cũng nói đến tam đạo,
họ nói về Thiên đạo,
Nhân đạo, Ðịa Ngục đạo.
Tướng địa ngục mà họ nói
cũng là một màn lửa.
Từ đây có thể biết, hiện
tượng địa ngục nếu là
người có mức thiền định
sâu như phía trước chúng
ta thấy cô Bà La Môn, cô
niệm Phật đến nhất tâm
bất loạn, Sự nhất tâm
bất loạn bèn có khả năng
này, có thể ‘tham quan’
địa ngục; cô có khả năng
đích thân nhìn thấy
những trạng huống này.
Thế nên đối với lời Phật
dạy chúng ta không thể
hoài nghi. Kế
tiếp:
Kỳ ngục
châu táp vạn bát thiên
lý, ngục tường cao nhất
thiên lý, tất thị thiết
vi. Thượng hỏa
triệt hạ, hạ hỏa triệt
thượng, thiết xà, thiết
cẩu thổ hỏa trì trục,
ngục tường chi thượng,
đông tây nhi tẩu.
Ngục này
chu vi một vạn tám ngàn
dặm, tường ngục cao một
ngàn dặm, toàn bằng sắt,
ở trên lửa cháy phụt
xuốt, ở dưới lửa cháy
bốc lên. Trên
tường ngục có rắn sắt,
chó sắt phun lửa đuổi
bắt nhau chạy qua chạy
lại.
Ðây là lời
diễn tả cảnh tượng trong
địa ngục Vô Gián.
Ðịa ngục Vô Gián ở trong
địa ngục lớn, là một
phạm vi khổ nhất.
Gọi là Vô Gián, phía sau
sẽ nói rõ cho chúng ta,
thọ khổ vô gián, chẳng
gián đoạn. Do đó
có thể biết những địa
ngục khác tuy chịu khổ
nhưng còn có lúc tạm
ngưng. Nói cách
khác, còn cho bạn có dịp
‘nghỉ mệt’, nhưng địa
ngục Vô Gián thì không
được.
Ngục trung
hữu sàng, biến mãn vạn
lý, nhất nhân thọ tội,
tự kiến kỳ thân, biến
ngọa mãn sàng, thiên vạn
nhân thọ tội, diệc các
tự kiến, thân mãn sàng
thượng.
Trong
ngục có giường rộng khắp
vạn dặm, một người thọ
tội thì tự thấy thân
mình nằm chật cả giường,
ngàn vạn người thọ tội
thì mỗi người cũng tự
thấy thân mình đầy chật
cả giường.
Giường là
nơi xử phạt tội nhân,
giống như một cái ‘đài’.
Cái đài này rất lớn,
người thọ tội tự cảm
thấy thân thể họ biến
lớn lên, hết thảy những
hình phạt đều thọ cùng
lúc, chịu đựng ngàn vạn
loại dụng cụ tra tấn
cùng lúc. Chẳng
phải chịu hình phạt này
xong rồi mới nhận đến
hình phạt kế tiếp, nếu
vậy thì còn có khoảng
trống, đó chẳng phải là
địa ngục vô gián.
Vô gián địa ngục tức là
chịu hết thảy tất cả
những hình cụ cùng lúc,
như núi đao, cây kiếm,
vạc dầu cùng chịu một
lượt, chẳng phải chịu
từng thứ riêng rẽ, tuyệt
chẳng có xen hở.
Rất nhiều người tạo tội
nghiệp này, mỗi người
cảm thấy thân của chính
mình nằm chật cả giường,
đầy cả địa ngục này, đây
là hóa thân. Cũng
như kinh Hoa Nghiêm gọi
là ‘vô chướng ngại pháp
giới’, người thọ tội và
những người thọ tội khác
chẳng có chướng ngại,
chịu tội cùng lúc, cùng
lúc cảm thấy thân thể
mình trải đầy địa ngục.
Phía dưới tổng kết lại:
Chúng
nghiệp sở cảm, hoạch báo
như thị.
Ðó là do
các nghiệp chiêu cảm mà
gặt lấy quả báo như vậy.
Trong Ðịa
Tạng Thập Luân Kinh nói
cho chúng ta về tội ngũ
nghịch. Trong
kinh, Phật giảng rất rõ
ràng, tội ngũ nghịch đọa
A Tỳ địa ngục, tức là
địa ngục Ngũ Vô Gián.
Ngũ nghịch là đại nghịch
bất đạo.
Thứ nhất là
‘Giết cha mẹ’. Cha
mẹ có ân đức to lớn đối
với mình, chẳng biết tri
ân báo ân, ngược lại còn
giết hại cha mẹ, tạo tội
đọa địa ngục Vô Gián.
Thứ hai là
‘Giết A La Hán’. A
La Hán là người tu hành
đắc đạo, ngài trụ ở địa
phương này là phước điền
cho những người ở đó,
người ở đó có phước,
tiếp nhận sự giáo hóa
của ngài. A La Hán
hiện nay chẳng còn, đi
đâu tìm A La Hán?
Nếu nói giết hại thiện
tri thức, vị thiện tri
thức này có thể giáo hóa
cả vùng đó, bạn giết họ,
thì tội này bằng tội
giết A La Hán. Câu
đầu là giết cha mẹ, đây
là phụ mẫu thân, giết A
La Hán là lão sư (thầy
giáo), ân đức của hết
thảy chúng sanh nặng
nhất chẳng vượt qua ‘cha
mẹ, thầy giáo’ thế nên
hết thảy thiện hạnh
chẳng vượt qua hiếu đạo,
hiếu thân tôn sư là
thiện hạnh hạng nhất.
Thứ ba là
‘Phá Hòa Hợp Tăng’.
Phá hoại Tăng đoàn, cũng
có nghĩa là phá hoại nơi
chốn giáo học, phá hoại
đại chúng giáo học, tội
này rất nặng.
Sau cùng là
ác tâm ‘Làm thân Phật
chảy máu’. Sanh
lòng sân hận hoặc tâm đố
kỵ, phước báo của Phật
rất lớn, chẳng có ai có
thể sát hại Phật, Phật
có rất nhiều thần Hộ
pháp bảo vệ, chẳng có
người nào có thể làm
hại. Làm thân Phật
ra máu là chuyện Ðề Bà
Ðạt Ða muốn hại Phật, từ
trên vách núi đẩy hòn đá
lớn muốn hại tánh mạng
của Phật. Thần Kim
Cang đập tan hòn đá này
trên không trung, hòn đá
này bị bể tan, mảnh vụn
rớt trúng chân Phật,
ngài bị thương chảy máu.
Ðây là tội ‘Làm thân
Phật ra máu’, tội này
cũng đọa địa ngục Vô
Gián. Nói cách
khác tức là phá hoại
chánh pháp, làm cho cơ
hội nghe pháp của xã hội
đại chúng bị cắt đứt,
thế nên tội này sẽ đọa
vào địa ngục Vô Gián.
Hựu chư tội
nhân, bị thọ chúng khổ.
Lại nữa
các tội nhân còn phải
chịu đủ sự khổ sở.
Câu này là
nói chung, phía sau cũng
nói sơ lược thêm.
Thiên bá Dạ
xoa, cập dĩ ác quỷ.
Trăm
ngàn Dạ xoa cùng các ác
quỷ.
Ðây là
những ác quỷ, Dạ xoa ác
quỷ trong địa ngục biến
hiện ra để chấp hành
hình phạt, ‘kinh Ðịa
Ngục’ gọi họ là ác thú,
đầu trâu mặt ngựa, họ
chẳng có hình tướng như
người, có hình tướng của
ác thú, dễ sợ vô cùng,
đáng kinh hãi vô cùng.
Khẩu nha
như kiếm, nhãn như điện
quang, thủ phục đồng
trảo, tha duệ tội nhân.
Răng như
kiếm, mắt như ánh điện
chớp, tay có móng đồng,
lôi kéo tội nhân.
Người thọ
tội nhìn thấy hình tướng
của địa ngục ai cũng
muốn tránh né.
Trốn tránh ở nơi nào?
Bốn bên đều là lửa, trên
dưới cũng là lửa.
Bạn muốn tránh né, những
ác quỷ này chụp lấy bạn
đẩy vô đống lửa.
Phục hữu Dạ
xoa chấp đại thiết kích,
trúng tội nhân thân,
hoặc trúng khẩu tị, hoặc
trúng phúc bối, phao
không phiên tiếp, hoặc
trí sàng thượng.
Lại có
quỷ Dạ xoa cầm cây kích
sắt lớn đâm vào mình tội
nhân, hoặc đâm trúng
miệng mũi, hoặc đâm
trúng bụng lưng, rồi hất
tung lên trên không và
hứng lấy, hoặc để lại
trên giường.
Ðây là
những việc ác quỷ hành
hạ tội nhân. Thời
cổ binh khí chỉ có những
loại này. Chúng ta
có thể suy tưởng được
hiện nay nếu trong địa
ngục nhất định sẽ có các
thứ như hơi độc, gas,
súng đại liên, có đạn
của súng đại bác, thậm
chí bom nguyên tử bùng
nổ, hết thảy đều có.
Lúc trước trong tâm
người ta chẳng có những
hiện tượng này, chẳng
biến ra những thứ này,
chỉ biến ra những dụng
cụ hành hình tra khảo mà
họ biết. Người
hiện đại rất dễ sợ, rất
đáng thương, tại sao?
Coi phim ảnh, coi truyền
hình, coi những chuyện
khủng khiếp này, hết
thảy đều chất chứa trong
A Lại Da Thức, khi đến
địa ngục A Tỳ thì hiện
ra toàn bộ, tất cả đều
phải thọ chịu. Thế
nên ít coi những phim
ảnh khủng bố, khoa học
giả tưởng này thì tốt
hơn, tuy có đọa địa
ngục, bớt đi không ít
hình phạt, lời tôi nói
là thật đấy! Nếu
quý vị thích coi những
phim ảnh này, trong A
Lại Da Thức chất chứa
những hạt giống này,
tương lai đọa địa ngục
sẽ tăng thêm nhiều hình
phạt hơn những người
thường, đạo lý nhất định
mà. Cho nên một
người chân chánh biết
cách tu học thì mắt
không xem cảnh ác, tai
không nghe âm thanh ác,
hết thảy những cảnh giới
ác liệt này chúng ta
đừng tiếp xúc, đừng tiêm
nhiễm là tốt nhất!
Nhất định sẽ có lợi ích
to lớn cho chính mình.
Ðây là nói về ác quỷ Dạ
xoa. Ngoài việc
này ra thì đây là chuyện
tiểu thuyết khoa học giả
tưởng thường nói:
Phục hữu
thiết ưng, đạm tội nhân
mục, phục hữu thiết xà,
giảo tội nhân cảnh, bá
chi tiết nội, tất hạ
trường đinh, bạt thiệt
canh lê, trừu trường tỏa
trảm, dương đồng quán
khẩu, nhiệt thiết triền
thân, vạn tử thiên sanh,
nghiệp cảm như thị.
Lại có
chim ưng sắt [mổ] ăn mắt
tội nhân, lại có rắn sắt
quấn cổ tội nhân, các
khớp xương và lóng đốt
[của tội nhân] đều bị
đóng đinh sắt dài, kéo
lưỡi cày bừa, móc ruột
bằm chém, rót nước đồng
sôi vào miệng, quấn sắt
nóng quanh thân, muôn
lần chết đi sống lại,
nghiệp cảm như thế.
Mỗi hình
phạt đều tiêu biểu cho
vô lượng sự thọ khổ, mỗi
thứ đều có nghiệp nhân,
trong kinh Phật đã nói
rõ, nói chung đều chẳng
lìa tham, sân, si, ba
thứ phiền não căn bản
này. Người ta
trong một đời nói thật
ra, chịu hại bởi ngu si
nặng nhất. Ngu si
là chẳng hiểu rõ sự lý,
dựa vào tà tri tà kiến
của mình mà hủy báng đạo
đức, tự mình tâm hạnh
bất chánh, còn dẫn dắt
người khác tà tri tà
kiến, cùng tạo ác
nghiệp. Đức Phật
khuyên chúng ta bố thí,
trong thời mạt pháp, ấn
tượng phụ sanh ra từ sự
bố thí không thể nói là
không có, phía trước có
nói ‘giả làm Sa môn, tâm
chẳng phải Sa Môn’,
người lường gạt chúng
sanh thật có, chẳng phải
là không có. Ðặc
biệt là thời kỳ mạt
pháp, Phật nói: ‘Tà
sư thuyết pháp như cát
sông Hằng’, những tà
sư này từ đâu tới?
Là con cháu của Ma
vương. Năm xưa lúc
đức Thế Tôn còn tại thế,
Ma Vương Ba Tuần muốn
phá hoại Phật pháp, trí
huệ, đạo đức, oai thần
của Phật quá lớn, Ma
Vương không có cách chi,
tạm thời chẳng thể phá
hoại, cũng học theo
Phật, cũng đến nghe kinh
nghe pháp. Nhưng ý
niệm phá hoại Phật pháp
chẳng tiêu mất, Ma Vương
nói với Phật: ‘Có một
ngày tôi sẽ phá hoại
Phật pháp’. Phật
nói: ‘Pháp của Ta là
chánh pháp, chẳng thể
phá hoại’. Ma
Vương đáp: ‘Ðợi đến khi
pháp vận của ông suy
thoái, thời kỳ mạt pháp,
tôi sai ma con, ma cháu
của tôi đều xuất gia,
đắp lên ca sa của ông để
phá Phật pháp của ông’.
Nghe xong đức Phật Thích
Ca Mâu Ni chẳng nói một
lời, rơi lệ, ấy là
“ví như trùng trên thân sư
tử rỉa thịt sư tử’.
Cho nên
những người xuất gia này
chẳng phải là đệ tử
Phật, mà là đệ tử Ma,
chuyên môn đến phá hoại
Phật pháp.
Chúng sanh
nhìn thấy những người
này, chẳng chịu bố thí.
‘Ông coi bố thí cho họ
hưởng thọ, chúng ta bị
họ gạt’, hủy báng bố
thí, nói bố thí chẳng có
quả báo, nói người ta bố
thí gặt được ác báo.
Khuyên người ta tích lũy
tiền tài, tự mình hưởng
thọ, trái ngược lời dạy
của Phật, nói tu thiện
không được thiện quả,
tạo ác cũng chẳng bị ác
báo, dùng những tà tri
tà kiến này mê hoặc
chúng sanh, làm chúng
sanh tạo vô lượng vô
biên tội nghiệp.
Phía sau những người này
có Ma vương gia trì, có
yêu ma quỷ quái ở kế bên
giúp đỡ. Chúng ta
nhìn thấy trong thời đại
hiện nay có những tà sư
thế lực rất lớn, đồ
chúng rất đông, dưới tay
họ có nhân tài, có tiền
bạc. Người tu học
chánh pháp rất đáng
thương, trong thế gian
này chẳng có lối thoát,
chẳng có người nhận thức
chánh pháp, đâu phải họ
không muốn hộ trì chánh
pháp? Nhưng không
nhận thức rõ, coi tà như
chánh, lấy chánh coi như
tà, thế nên chẳng có
người quan tâm hoằng
dương chánh pháp.
Nhưng chúng ta rất rõ,
tuy chẳng có người quan
tâm, thiện báo sẽ ở
tương lai, đây là đạo lý
nhất định. Nhất
định không thể vì người
ta mê hoặc, chúng ta
cũng bắt chước mê hoặc
điên đảo theo, vậy thì
sai lầm quá đỗi!
Họ mê, tôi chẳng mê; họ
tạo tội nghiệp, tôi
không tạo tội nghiệp.
Năm xưa lúc
Thế Tôn còn tại thế đã
làm tấm gương tốt nhất
cho chúng ta, ngày nay
chúng ta than khổ thì
phải so sánh với thời
đức Phật Thích Ca, đời
sống của ta sướng hơn
Ngài quá nhiều.
Ban đêm Ngài ngồi dưới
gốc cây nghỉ ngơi, ăn
cơm phải đi ra ngoài
khất thực, tối thiểu thì
chúng ta khỏi phải đi
khất thực, vẫn còn nhà
cửa để trú ngụ. Y
phục của chúng ta nhiều
hơn đức Phật quá nhiều,
đi du lịch còn có hành
lý, năm xưa lúc đức Phật
đi du lịch chẳng có hành
lý, ba Y đều mặc trong
người, tay cầm bình bát,
ngoài ra một vật gì cũng
chẳng có. Nếu
chúng ta không hết lòng
hoằng đạo thì làm sao
chẳng có lỗi với đức
Phật! Lúc Thế Tôn
còn tại thế, tuy có rất
nhiều vua chúa đại thần,
trưởng giả giàu có hộ
trì, đức Phật Thích Ca
Mâu Ni chẳng tiếp nhận,
thí dụ: ‘Ông xây cho tôi
một đạo tràng lớn, chùa
lớn’, …, chẳng bao giờ
có! Hết thảy những
đạo tràng này đều là
mượn dùng. Quyền
sở hữu của Kỳ Thọ Cấp Cô
Ðộc Viên là của thái tử
Kỳ Ðà, và trưởng giả Cấp
Cô Ðộc, chỉ là tiếp nhận
sự cúng dường của họ,
chúng ta thường nói Phật
chỉ có quyền sử dụng,
chẳng có quyền sở hữu.
Quyền sở hữu vẫn là của
họ, chỉ mượn dùng tạm
thời. Ngài đã nghĩ
rất châu đáo, rất viên
mãn, biết chúng ta trong
thời Mạt pháp, phải
đương đầu với rất nhiều
khổ nạn, nghĩ đến Tăng
đoàn của đức Phật năm
xưa thì tâm chúng ta sẽ
lắng xuống. Xin
xem tiếp đoạn kinh kế
tiếp:
Ðộng kinh
ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.
Trải qua
ức kiếp không lúc nào
mong ra khỏi được.
Người tạo
tội nghiệp địa ngục đọa
vào địa ngục, đặc biệt
là địa ngục Vô Gián,
thời gian phải dùng ức
kiếp để tính. ‘Cầu
xuất vô kỳ’, nhưng chúng
ta biết, thế giới mà
Phật nói, thế giới có
‘thành, trụ, hoại,
không’, [một chu kỳ]
thành - trụ - hoại -
không là một đại kiếp.
Chữ Kiếp trong ‘Ức kiếp’
là đại kiếp, trong mỗi
đại kiếp thì thế giới
trải qua [bốn giai đoạn]
thành, trụ, hoại, không.
Thế giới này hoại rồi,
những kẻ đọa địa ngục
phải đi đâu thọ tội?
Thế giới hoại thì địa
ngục cũng hoại theo,
không phải là họ có thể
thoát ra sao? Ở
đây Ðịa Tạng Bồ Tát nói:
Thử giới
hoại thời, ký sanh tha
giới
Lúc thế
giới này hư hoại thì
sanh nhờ qua thế giới
khác.
Thế giới
này của chúng ta hư hoại
rồi, thế giới khác còn
chưa hư thì họ bèn
chuyển qua địa ngục Vô
Gián ở thế giới khác,
vẫn phải vào địa ngục Vô
Gián.
Tha giới
thứ hoại, chuyển ký tha
phương, tha phương hoại
thời triển chuyển tương
ký, thử giới thành hậu
hoàn phục nhi lai.
Thế giới
khác đó hư hoại thì
chuyển sang phương khác,
lúc phương khác đó hư
hoại thì lại lần lượt
chuyển đi nữa, đến khi
nào thế giới này thành
thì trở về lại.
Chuyện này
phiền phức lớn lắm, do
đó mới nói ‘ức kiếp cầu
xuất vô kỳ’. Chúng
ta tạo nghiệp nói thật
ra quá dễ, chẳng hay
chẳng biết bèn tạo tội
nghiệp địa ngục, đâu
biết rằng tương lai chịu
khổ đến mức thê thảm như
vầy, kéo dài như vầy, có
ai biết được? Khi
đọc kinh này muôn vàn
xin đừng hiểu lầm mà cho
rằng: ‘Ðây là Phật dọa
chúng ta, chẳng phải
thật, chỉ nhằm khuyên
chúng ta đừng làm chuyện
ác’. Nếu chúng ta
nghĩ như vậy thì là sai
lầm quá đỗi! Ðến
lúc quả báo hiện tiền
thì hối hận không còn
kịp nữa. Phật làm
sao gạt người cho được?
Phương pháp Phật giáo
hóa chúng sanh rất
nhiều, chẳng cần phải
dùng phương pháp lừa gạt
chúng sanh. Nói
thật ra một người quân
tử chân chánh trong thế
gian còn không chịu lừa
gạt chúng sanh huống chi
là Phật, Bồ Tát.
Chư vị phải biết vì lừa
gạt chúng sanh, gạt được
một lần, rồi sau đó
người ta sẽ vĩnh viễn
chẳng tin tưởng bạn nữa,
thế nên một người quân
tử chân chánh sẽ không
dùng thủ đoạn này, giữ
gìn chữ Tín của mình,
việc này rất quan trọng.
Người thế gian còn vậy
huống chi là chư Phật,
Bồ Tát. Các Ngài
có trí huệ viên mãn,
thiện xảo phương tiện
rốt ráo, thì làm sao có
thể dùng phương pháp dở
ẹt như vậy! Nếu
chúng ta hiểu rõ đạo lý
này thì mới tin mỗi chữ
mỗi câu trong kinh Phật
đều là chân thật, nhất
định không có một câu
nào giả dối. Nếu
chúng ta có thể tiếp
nhận, tin tưởng, làm
theo là chúng ta có
phước, người có phước
mới có thể tu phước,
người không có phước
muốn tu phước cũng không
được. Ðức Phật
trong kinh thường nhắc
chúng ta, người tu phước
đều là người có trí huệ,
có phước đức.
Vô gián tội
báo, kỳ sự như thị.
Tội báo
trong ngục Vô Gián là
như vậy.
Ðây là mô
tả trạng huống trong địa
ngục Vô Gián một cách
đơn giản cho Ma Gia phu
nhân.
Hựu ngũ sự
nghiệp cảm, cố xưng Vô
Gián.
Lại có
năm sự nghiệp cảm nên
gọi là Vô Gián.
Ðịa Tạng Bồ
Tát vô cùng từ bi nói rõ
thêm cho chúng ta tại
sao địa ngục này có tên
là Vô Gián? Vì có
năm sự việc, năm thứ
nghiệp cảm ứng thành khổ
báo này nên gọi là Vô
Gián. Năm sự việc
này chẳng có xen hở.
Hà đẳng vi
ngũ. Nhất giả nhật
dạ thọ tội dĩ chí kiếp
số vô thời gián tuyệt cố
xưng Vô Gián.
Những gì là năm?
Một là ngày đêm thọ tội
cho đến bao kiếp không
lúc nào dứt nên gọi là
Vô Gián.
Ðây là nói thời gian
chịu hình phạt chẳng
gián đoạn, từ ngày vô
địa ngục phải trải qua
ức kiếp mới có thể ra
khỏi, trong thời gian
này bị tra tấn, xử phạt
ngày đêm không gián
đoạn, chẳng có xen hở,
đó là ‘thời vô gián’.
Nhị giả,
nhất nhân diệc mãn, đa
nhân diệc mãn, cố xưng
Vô Gián.
Thứ hai
là một người cũng đầy
chật, nhiều người cũng
đầy chật nên gọi là Vô
Gián.
Thứ hai là
‘Hình vô gián’.
Thân thể của mình luôn
có cảm giác là thân này
lớn chật địa ngục, địa
ngục bao lớn thì thân
bạn sẽ lớn như vậy, đây
chính là ‘Hình vô gián’.
Trong địa ngục có hàng
ngàn người chịu tội, mỗi
người đều cảm giác thân
mình lớn bằng địa ngục,
địa ngục này là hóa
thân. Giống như
ánh đèn trong giảng
đường này vậy, ánh sáng
của mỗi ngọn đèn đều
chiếu soi khắp giảng
đường, mấy chục ngọn đèn
thì mỗi ngọn đèn đều
chiếu soi khắp giảng
đường, chẳng bị chướng
ngại, thân hình trong
địa ngục cũng giống như
vậy. Thứ ba là
‘Thọ khổ vô gián’:
Tam giả,
tội khí.
Thứ ba
khí cụ hành hình tội
nhân.
Ngày nay
chúng ta gọi là hình cụ.
Xoa bổng
Cái
chĩa, gậy.
Ðây là vật
thường dùng để hành hình
thời cổ.
Ưng xà lang
khuyển.
Chim
ưng, rắn, chó sói, chó.
Ðều bằng
sắt, phía trước chúng ta
đã thấy, ưng sắt, rắn
sắt, chó sói sắt, chó
sắt, la sát, dạ xoa, ác
quỷ vô cùng hung ác;
hiện ra hiện tượng này.
Ðối, ma,
cứ, tạc
Chày,
cối, cưa, đục
Chày cối,
trong Ðịa Ngục Biến
Tướng Ðồ chúng ta thấy
cảnh đem người đi xay
trong cái cối.
Người ta bị cưa ra từng
đoạn.
Tỏa, chước,
hoạch thang
Chém,
chặt, vạc dầu sôi
Hoạch thang
tức là vạc dầu.
Tỏa chước, tỏa là dùng
đao chém. Trong
đời đã từng tạo những
tội nghiệp này, A Lại Da
Thức chứa đựng những hạt
giống này, khi vào địa
ngục thì hoàn toàn hiện
ra. Những người ăn
thịt, thường ngày chẳng
ăn chay, trong nhà bếp
xắt thịt ra từng cục,
từng cục, là những cảnh
tượng này. Ðến lúc
vào địa ngục thì những
cảnh tượng này hiện lên,
giống y như vậy, ác quỷ
chém vào thân thể của
họ, chém thành từng cục,
từng cục. Thế nên
đây là hóa hiện, chắc
chắn không thể tránh
khỏi.
Thiết võng,
thiết thằng, thiết lư,
thiết mã.
Lưới
sắt, dây sắt, lừa sắt,
ngựa sắt.
Ðây là đầu
trâu mặt ngựa, ác quỷ vô
cùng hung dữ.
Sanh cách
lạc thủ, nhiệt thiết
kiêu thân.
Da sống
niềng đầu, sắt nóng rưới
thân.
Trạng thái
khổ sở khi bị gia hình,
sắt nóng đến chảy lỏng
rồi, nhiệt độ đó cao bao
nhiêu, rưới lên thân
mình, thân thể lập tức
biết thành than khét
lẹt.
Cơ thôn
thiết hoàn.
Khi đói
thì nuốt viên sắt.
Khi bạn đói
thì muốn ăn, mở miệng ra
thì ác quỷ nhét viên sắt
vào miệng bạn, viên sắt
này đốt nóng đỏ rực,
chẳng phải sắt lạnh, mà
là viên sắt nóng!
Khát ẩm
thiết trấp, tùng niên
cánh kiếp, số na do tha,
khổ sở tương liên, cánh
vô gián đoạn, cố xưng vô
gián.
Khát thì
uống nước sắt, quanh năm
suốt kiếp, số đến
na-do-tha kiếp, khổ sở
triền miên, không hề
gián đoạn, nên gọi là Vô
Gián.
Ở đây cũng
nói sơ lược vài thứ, nói
kỹ thì vô tận.
Ngày nay khi chúng ta
khởi tâm động niệm, hết
thảy tạo tác đâu có thể
nói là chẳng có quả báo?
Nói không có quả báo,
lời nói này thật sự là
tự dối mình, dối người.
Nhất định sẽ có quả báo.
Thế nên đời người mấy
chục năm ngắn ngủi, tại
sao không học làm một
người tốt? Ðại
thánh đại hiền thế gian,
xuất thế gian dạy chúng
ta phải tiết kiệm, phải
nhẫn nhịn. Trong
Luận ngữ có ghi đức hạnh
của Khổng Phu Tử có năm
thứ: ‘Ôn Hòa, Lương
Thiện, Cung Kính, Tiết
Kiệm, Nhường Nhịn’ (Ôn,
lương, cung, kiệm,
nhượng). Phu tử xử
sự, đãi người, tiếp vật
đều ôn hòa, lương thiện,
cung kính; đối với hết
thảy người, sự, vật đều
cung kính, tiết kiệm,
nhẫn nhịn. Lão
nhân gia làm ra hình
dáng cho chúng ta thấy,
chúng ta phải biết học
theo. Thích Ca Mâu
Ni Phật biểu hiện còn
viên mãn hơn, rốt ráo và
triệt để hơn nữa, vậy
thì tại sao không học
thánh nhân? Tại
sao không học Bồ Tát?
Học những chúng sanh tạo
nghiệp này thì khổ quá
đi thôi.
Thế Tôn tại
Ðao Lợi thiên cung trong
hội kinh này ủy thác
chúng sanh đời Mạt cho
Ðịa Tạng Bồ Tát giáo
hóa, có đạo lý.
Tam độc tham, sân, si
của chúng sanh thời Mạt
pháp tăng trưởng, chẳng
biết sám hối, hướng
thiện, chẳng biết hiếu
thân tôn sư, chẳng hiểu
thiện nhân thiện quả,
phải nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát
giáo huấn. Nói
cách khác, đời Mạt pháp
chân chánh có thể giáo
huấn hết thảy chúng
sanh, bộ kinh này là
khóa trình nhất định
phải học, phải thường
giảng giải, tuyên dương.
Phật giao phó [trách
nhiệm] hoằng dương kinh
này cho hết thảy Bồ Tát
tham dự hội, nghe xong
chúng ta phải phát tâm
gánh vác. Lời nhắn
nhủ của Phật tôi cũng
làm theo, cũng noi gương
Ðịa Tạng Bồ Tát, y chiếu
lời dạy trong kinh điển
mà tu hành, đoạn hết
thảy ác, tu hết thảy
thiện, chẳng lo đến sanh
mạng của mình, huống chi
là khổ nạn của sự sanh
hoạt. Nhất định
phải làm theo giáo giới
của Phật cho bằng được,
quả báo sau này nhất
định sẽ giống như kinh
nói, chúng ta phát
nguyện vãng sanh nhất
định sẽ được sanh Tịnh
Ðộ. Thứ tư là ‘Quả
vô gián’.
Tứ giả bất
vấn nam tử nữ nhân,
Khương Hồ di địch, lão
ấu quý tiện, hoặc long
hoặc thần, hoặc thiên
hoặc quỷ, tội hạnh
nghiệp hoặc, tất đồng
thọ chi, cố xưng Vô
Gián.
Thứ tư
là bất luận kẻ nam người
nữ, Khương Hồ di địch
[4],
già trẻ, sang hèn, hoặc
rồng hoặc thần, hoặc
trời hoặc quỷ, tội hạnh
nghiệp hoặc, đều đồng
chịu như nhau, nên gọi
là Vô Gián.
Những chúng
sanh thọ tội trong địa
ngục Vô Gián này rất
phức tạp, có người nam,
nữ, có người Trung Quốc,
người ngoại quốc.
‘Khương Hồ di địch’ ngày
nay chúng ta gọi là
những người khác chủng
tộc. ‘Già trẻ sang
hèn’ đây là nói về cõi
người. Ngoài cõi
người ra còn những cõi
khác, cõi trời, A Tu La,
súc sanh, ngạ quỷ, nếu
chúng sanh ở những cõi
này tạo những tội nghiệp
nói trên đều phải đọa
địa ngục A Tỳ để thọ quả
báo. ‘Long’ đại
diện cho cõi súc sanh,
‘Thần’ trong kinh Lăng
Nghiêm có nói đến cõi
Tiên. ‘Thiên’ bao
gồm cõi trời Dục Giới,
Sắc Giới, Vô Sắc Giới.
‘Quỷ’ là cõi ngạ quỷ.
Nói cách khác, năm cõi
ngoài cõi địa ngục tạo
tác tội nghiệp đều là
‘tội hạnh nghiệp cảm,
đều đồng chịu như nhau’,
thế nên gọi là vô gián.
Chúng sanh trong địa
ngục Vô Gián vô cùng
phức tạp.
Trong kinh
Phật chúng ta thấy Tứ
Thiền Thiên, Tứ Không
Thiên, ở cõi Tứ Không
thiên khi thọ mạng hết
thì hơn phân nửa đều đọa
vào địa ngục Vô Gián.
Người ta thường nói
“trèo cao té đau”.
Tại sao họ phải đọa địa
ngục Vô Gián? Họ
cho rằng mình sanh đến
trời Tứ Thiền, Tứ Không
là đã chứng đại Niết
Bàn. Khi thọ mạng
chấm dứt thì họ hối hận
nên hủy báng Tam Bảo,
[họ nói] ‘Chư Phật Như
Lai, Bồ Tát nói đại Niết
Bàn đều là giả, tôi đã
chứng rồi, khi thọ mạng
hết vẫn còn đọa lạc’.
Thế nên họ báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng,
trong sát na cuối cùng
hủy báng Tam Bảo, tội
này đọa địa ngục A Tỳ.
Họ chẳng biết cảnh giới
này đều là hư vọng, ngộ
nhận là cảnh giới Niết
Bàn, cho nên mới tạo tội
nghiệp cực nặng.
Thứ năm nói về ‘mạng vô
gián’.
Ngũ giả
nhược đọa địa ngục tùng
sơ nhập thời chí bá
thiên kiếp, nhất nhật
nhất dạ, vạn tử vạn
sanh, cầu nhất niệm
gián, tạm trụ bất đắc,
trừ phi nghiệp tận,
phương đắc thọ sanh, dĩ
thử liên miên cố xưng vô
gián.
Thứ năm
là nếu đọa địa ngục này
thì từ lúc mới vào đến
trăm ngàn kiếp, mỗi ngày
mỗi đêm đều vạn lần chết
đi vạn lần sống lại, cầu
xin tạm ngưng dù chừng
một niệm cũng không
được, trừ phi nghiệp tội
tiêu hết mới được thọ
sanh, vì cứ liên miên
như vậy nên gọi là vô
gián.
Nếu trong
địa ngục chịu hình phạt
xong rồi chết mất, vậy
thì phải chúc mừng cho
họ, đó là chuyện vui rất
lớn. Nếu trong địa
ngục chết mất thì bất
luận sanh đến cõi nào
cũng là siêu sanh, khổ
nạn cũng đều giảm nhẹ,
là chuyện vui to lớn.
Nhưng chẳng chết được,
vừa chết đi rồi bị gió
thổi một cái liền sống
lại, tiếp tục thọ báo,
thế nên ‘một ngày một
đêm, muôn lần chết đi
muôn lần sống lại’.
‘Vạn’ là hình dung,
chẳng phải là con số,
[thật ra thì] còn nhiều
hơn con số ‘vạn’ này
nữa. Chết đi sống
lại, xong rồi chết nữa,
cứ làm vậy hoài không
gián đoạn, tạm thời nghỉ
mệt một lát cũng không
được. ‘Trừ phi
nghiệp tiêu mất’, nghiệp
bạn tạo thọ khổ báo
trong địa ngục hết rồi
thì mới chết đi, siêu
sanh. Nếu tội
nghiệp chưa hết, thì
chẳng có cách chi thoát
ly, đạo lý này chúng ta
phải hiểu.
Hủy báng
Tam Bảo, chúng ta nêu
thí dụ này để nói.
Nếu bạn dùng miệng hủy
báng, nhất định phải đợi
ảnh hưởng của sự hủy
báng này trên nhân gian
tiêu mất thì mới được
thoát ra; nếu ảnh hưởng
này vẫn còn thì chẳng có
cách gì thoát khỏi địa
ngục được. Thời
gian của ảnh hưởng trên
ngôn luận chẳng dài, thí
dụ hủy báng Tam Bảo, có
người nghe bạn nói cũng
hủy báng theo; nhưng sau
khoảng chừng ba mươi
năm, năm mươi năm dần
dần thì mọi người cũng
quên mất, sức ảnh hưởng
mất hết. Nếu như
băng thâu âm hiện nay
thì phiền phức lớn lắm,
ảnh hưởng của việc này
quá lớn, thời gian sẽ
rất dài. Nếu có
người giữ lại những băng
thâu âm, thâu hình của
bạn hủy báng Tam Bảo,
thế thì phiền phức sẽ
rất lớn. Nếu họ
gởi vô bảo tàng viện giữ
như đồ cổ, họ giữ chừng
một vạn năm thì bạn sẽ ở
trong địa ngục một vạn
năm chẳng thể thoát
khỏi, đây là một việc
rắc rối. Nếu viết
lời hủy báng, in thành
sách thì còn phiền phức
lớn hơn nữa. Trên
thế giới này còn một
cuốn sách thì bạn chẳng
thoát ra nổi địa ngục A
Tỳ. Nhất định phải đợi
đến khi cuốn sách này
chẳng còn tồn tại trên
thế gian này nữa, đều bị
hư hoại mất hết thì bạn
mới thoát ra khỏi địa
ngục.
Cùng một
đạo lý, chúng ta nói
ngược lại nếu bạn tán
thán Tam Bảo, tán thán
việc thiện, chỉ cần sức
ảnh hưởng còn tồn tại
thì phước báo của bạn sẽ
được hưởng hoài.
Một bên ngược một bên
thuận, chúng ta phải tìm
hiểu cặn kẽ, rõ ràng,
minh bạch. Thế nên
tại sao không giữ tâm
tốt, làm việc tốt, nói
lời tốt, làm người tốt
vậy? Phước báo vô
biên, ngược lại nếu tạo
tội nghiệp khổ báo cũng
vô biên, chỉ ở trên một
niệm mà thôi. Chư
Phật, Bồ Tát khuyên dạy
chúng ta giữ tâm tốt,
làm việc tốt, nói lời
tốt, làm người tốt, tiêu
chuẩn của tốt này ở đâu?
Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện kinh chính là
tiêu chuẩn tốt nhất.
Chúng ta khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ tạo tác
tương ứng với lời nói
trong kinh điển thì
đúng, nhất định sẽ được
phước; phước báo này sẽ
kéo dài nhiều đời nhiều
kiếp, vĩnh viễn hưởng
không hết. Muôn
vàn chẳng thể làm trái
ngược kinh giáo, tạo
những việc ác, chỉ nhằm
một chút lợi ích nhỏ
nhoi trước mắt, sau này
phải chịu khổ báo vô
cùng, vậy thì cái được
chẳng bù nổi cái mất.
Xem tiếp kinh văn:
Ðịa Tạng Bồ
Tát bạch Thánh Mẫu ngôn,
Vô Gián địa ngục thô
thuyết như thị, nhược
quảng thuyết địa ngục
tội khí đẳng danh, cập
chư khổ sự, nhất kiếp
chi trung cầu thuyết bất
tận.
Ðịa Tạng
Bồ Tát nói với Thánh Mẫu
rằng: ‘Nói sơ lược về
địa ngục Vô Gián là như
vậy. Nếu nói rộng
thêm về tên của những
khí cụ hành tội cùng
những sự khổ sở trong đó
thì suốt một kiếp cũng
không nói hết.’
Trong kinh
này chỉ báo cáo sơ lược
đơn giản mà thôi, nếu
nói tường tận, đây là
lời chân thật, nói một
kiếp cũng chẳng hết.
Một kiếp nói về cái gì?
Nói về danh xưng của địa
ngục, những hình phạt
trong địa ngục, tên của
dụng cụ hành hình, và
những sự khổ của nó, nói
một kiếp cũng chẳng hết.
Chẳng nói đến địa ngục
khác, chỉ nói về địa
ngục Vô Gián, nói một
kiếp cũng chẳng hết.
Nếu nói hết về mười tám
địa ngục thì hai kiếp,
ba kiếp, bốn kiếp cũng
sợ là chẳng nói hết,
chúng ta nhất định phải
hiểu sự thật này.
Ma Gia phu
nhân văn dĩ, sầu ưu hiệp
chưởng, đảnh lễ nhi
thoái.
Ma Gia
phu nhân nghe xong, buồn
rầu chắp tay đảnh lễ rồi
lui ra.
Ma Gia phu
nhân thay mặt chúng ta
khải thỉnh, nghe xong
rất buồn rầu. Buồn
rầu có hai nguyên nhân,
một là buồn cho chúng
sanh ở Diêm Phù Ðề, Ma
Gia phu nhân vô cùng
quan tâm thế gian này
của chúng ta.
Chúng sanh ở thế gian
chúng ta vẫn tiếp tục
tạo ác nghiệp không dứt,
đây là chỗ Ma Gia phu
nhân buồn rầu. Tự
mình muốn cứu vớt, tâm
có dư nhưng sức chẳng
đủ, đây cũng là việc phu
nhân buồn rầu.
‘Ðảnh lễ rồi lui ra’ là
tôn trọng Ðịa Tạng Bồ
Tát, lễ mạo vô cùng châu
đáo, đều là biểu diễn
cho chúng ta xem, dạy
chúng ta.
Ðược rồi,
thời gian đã hết.
Tập 10 (Số 14-12-10)
Xin mở kinh
văn:
PHẨM THỨ 4: NGHIỆP CẢM CỦA
CHÚNG SANH Ở CÕI DIÊM
PHÙ
Phẩm thứ tư. Từ
tên của phẩm này chúng
ta thấy rất rõ những
chuyện nói trong kinh
đều thuộc về thế giới
này, trong kinh Phật gọi
là Nam Diêm Phù Ðề Châu,
là chỉ địa cầu của chúng
ta. Phật nói tu
học Phật pháp lấy kinh
điển làm chính, đây là
‘Tứ Y’, dạy cho chúng ta
‘Y pháp chứ chẳng y
người, y nghĩa chứ chẳng
y ngữ’, đây là
nguyên tắc vĩnh hằng
không thay đổi.
Chúng ta thấy có một số
chú giải của cổ đức,
hình như chẳng phù hợp
với những gì khoa học
hiện đại quan sát, những
chỗ này chúng ta có thể
tồn nghi, không thể nói
những gì khoa học hiện
nay nói đều chính xác,
những gì trong kinh nói
đều là mê tín, nếu chúng
ta dùng phương pháp này
để quan sát thì sẽ sai
lầm quá đỗi. Vì
rất nhiều cảnh giới mắt
thịt chúng ta chẳng nhìn
thấy, chúng ta tin tưởng
lời Phật nói trong kinh.
Tổ sư đại đức chẳng nhập
vào cảnh giới này, nên
những gì họ nói không
nhất định hoàn toàn
tương ứng, chúng ta có
thể lấy làm tham khảo,
cũng chẳng cần phủ định,
chỉ biết có cách nói như
vậy là được rồi.
Nếu chư vị coi chú giải,
thí dụ nói trong Trường
A Hàm, tại sao mặt trăng
có bóng? Bóng này
là bóng của cây ở cõi
Diêm Phù Ðề. Hiện
nay những người tiếp
nhận giáo dục khoa học
hiện đại tuyệt đối sẽ
phủ nhận, như những chỗ
như vậy chúng ta không
cần phải tranh luận.
Nếu không thể hiểu rõ
triệt để thì cứ tồn nghi
cũng được. Xin xem
kinh văn:
Nhĩ thời
Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát bạch Phật ngôn, Thế
Tôn ngã thừa Phật Như
Lai oai thần lực cố,
biến bá thiên vạn ức thế
giới phân thị thân hình,
cứu bạt nhất thiết
nghiệp báo chúng sanh,
nhược phi Như Lai đại từ
lực cố, tức bất năng tác
như thị biến hóa.
Lúc đó Ðịa Tạng Bồ Tát
Ma Ha Tát bạch đức Phật:
‘Bạch Thế Tôn, con nương
nhờ sức oai thần của
Phật Như Lai nên chia
được thân hình này đến
khắp trăm ngàn vạn ức
thế giới để cứu vớt hết
thảy chúng sanh bị
nghiệp báo, nếu không
nhờ sức đại từ của Như
Lai thì chẳng thể biến
hóa được như thế.
Phật, Bồ Tát độ chúng
sanh, có câu là
‘Phương tiện có nhiều
cửa, đường về nguồn
chẳng hai’, đây là
do trí huệ viên mãn,
khéo léo cao độ biểu
hiện ra. Có rất
nhiều sự sắp đặt mà tâm
tư, quan niệm của phàm
phu chúng ta chẳng thể
đạt đến được. Phàm
phu nhất định không thể
nhìn trước mắt, trước
mắt chỉ là thủ đoạn,
nhất định phải nhìn mục
đích. Nếu mục đích
là thuần chánh thì thủ
đoạn phi pháp cũng là
thuần chánh, việc này
rất cao minh; nếu mục
đích là tà ác, dù thủ
đoạn có thiện đến đâu
cũng là tà ác. Như
lúc trước cha mẹ, thầy
giáo dạy học trò vậy, có
khi mắng chúng, đánh
chúng, trách mắng chúng,
nhưng đều có ý tốt, đều
hy vọng chúng hướng đến
chỗ tốt, sau này sẽ được
kết quả tốt. Nếu
mỗi ngày đều cưng chìu,
hết thảy đều thuận theo
ý thích của học trò, tập
cho chúng nhiều tánh
xấu, đến khi chúng lớn
lên làm điều tà vạy, thế
thì cha mẹ, thầy giáo
đều có lỗi. Phương
pháp của Phật, Bồ Tát
giáo hóa chúng sanh còn
cao minh hơn, đặc biệt
hơn. Trong kinh
Hoa Nghiêm chúng ta thấy
Thắng Nhiệt Bà La Môn,
Cam Lộ Hỏa Vương, Phạt
Tô Mật Ða Nữ, dùng
phương pháp tham, sân,
si, hình như đều hoàn
toàn phản nghịch với
đạo, nhưng sau cùng xem
kết quả của họ đều là
thanh lương tự tại, đều
có thể xa lìa tham, sân,
si, chứng được công đức
viên mãn của tự tánh,
thế nên đó đều thuộc về
thiện xảo phương tiện.
Trong kinh Ðịa Tạng
chúng ta nhìn thấy hiện
tượng này, còn thù thắng
hơn sự biểu diễn của ba
vị Bồ Tát trong kinh Hoa
Nghiêm, đều dùng địa
ngục, những quỷ vương ác
độc này, quỷ vương đều
là Bồ Tát hóa thân,
chẳng phải quỷ vương
thật sự. Quỷ vương
thiệt làm sao có thể
tham dự pháp hội của đức
Phật Thích Ca Mâu Ni ở
cung trời Ðao Lợi được?
Cõi người còn cao hơn
cõi quỷ, cao hơn nhiều,
nhưng Người cũng không
tham dự pháp hội của Thế
Tôn thì làm sao Quỷ, Súc
Sanh có thể tham dự?
Trong hàng quỷ vương có
vị thị hiện thân súc
sanh, họ đều là đại Bồ
Tát, đều là những nhân
vật giống Ðịa Tạng Bồ
Tát; nói cách khác tất
cả đều là Ðịa Tạng Bồ
Tát. Ngày nay
chúng ta có thể lý giải
được cách dạy học của
Phật, chân chánh có thể
phát tâm, y theo lý luận
và phương pháp của kinh
này để tu học, cũng phát
tâm ‘Ðịa ngục chẳng
không, thề chẳng thành
Phật’, vậy thì chúng
ta cũng gia nhập vào câu
lạc bộ của Ðịa Tạng Bồ
Tát, cũng là nhân vật
hàng đầu như Ðịa Tạng Bồ
Tát. Ðịa ngục tiêu
biểu cho cái gì?
Khổ nạn. Tất cả
những khổ nạn chúng sanh
trong thế gian, họ còn
chưa thoát khổ, còn chưa
thể phá mê khai ngộ, lìa
khổ được vui, Bồ Tát
chịu ở lại thế gian vĩnh
viễn giáo hóa chúng
sanh, chẳng thành Phật
đạo. Thật ra
‘chẳng thành Phật đạo’
là hình thức, chẳng phải
thiệt; Ðịa Tạng Bồ
Tát từ kiếp lâu xa đã
sớm thành Phật rồi.
Học trò của Ngài thành
Phật nhiều như vậy, thì
đâu có lý nào thầy giáo
không thành Phật cho
được? Chỉ là chẳng
ở ngôi vị Phật mà thôi.
Phật cũng giống như hiệu
trưởng, Ngài không làm
hiệu trưởng, vĩnh viễn
làm người giáo viên; học
trò đã làm hiệu trưởng
rồi, thầy giáo còn làm
giáo viên trong trường,
là ý nghĩa như vậy,
chúng ta nhất định phải
hiểu.
Ðịa Tạng Bồ Tát tôn
trọng Phật là biểu diễn
cho chúng ta xem.
Tuy là thầy của Phật,
Phật là học trò của
Ngài, nhưng hôm nay thầy
vẫn còn ở địa vị Bồ Tát,
học trò là địa vị Phật,
nhất định phải biểu thị
tôn sư trọng đạo, điểm
này chúng ta phải học
theo. Trong bất cứ
trường hợp nào, chúng ta
phải thường ghi nhớ, làm
gương tốt cho chúng
sanh; xã hội đại chúng
hiện nay có bao nhiêu
người biết hiếu thuận
cha mẹ? Bao nhiêu
người biết tôn trọng sư
trưởng? Sư là thầy
giáo, Trưởng là trưởng
bối. Chúng ta phải
đề xướng, nếu chúng ta
không làm thì đợi ai
làm? Ở nơi đây có
một số lão pháp sư đến
thăm viếng, hoặc chúng
ta đi thăm viếng những
lão pháp sư ở nơi khác,
chúng ta phải biết, tuổi
của họ cao hơn chúng ta,
thời gian họ xuất gia
lâu hơn chúng ta, giới
lạp
[5]
cao hơn chúng ta, nhất
định phải mời họ ngồi ở
phía trên. Tuy
chúng ta là khách, là
thượng khách của họ,
chúng ta cũng phải
nhường ghế thượng khách
cho họ. Tại sao
phải làm như vậy?
Tôn sư trọng đạo.
Khi họ nhường cho chúng
ta thì muôn vàn đừng
ngồi chễm chệ lên ghế
ấy; việc này cũng có thể
làm, chẳng phải không
thể làm. Tại sao?
Bạn hôm nay là khách, là
khách chính, thì có thể
như vậy. Nhưng khi
chúng ta mời họ ngồi lên
ghế thượng tọa, thì càng
có lợi cho việc giáo hóa
chúng sanh hơn nữa, phải
hiểu đạo lý này.
Niệm niệm vì Phật pháp,
niệm niệm vì chúng sanh,
như vậy mới đúng.
Hiện nay hết thảy chúng
sanh, phần đông người
trên toàn thế giới càng
ngày càng tăng thêm
tham, sân, si, tam độc
tăng trưởng sẽ đem đến
tai nạn khắp thế giới.
Hóa giải tai nạn phải
bắt đầu từ đâu? Từ
tâm con người, Ðịa Tạng
Bồ Tát làm gương mẫu cho
chúng ta. Pháp hội
tại Ðao Lợi thiên cung
ngày hôm nay, Ðao Lợi
thiên chủ là chủ nhân,
Thích Ca Mâu Ni Phật và
Ðịa Tạng Bồ Tát đều là
khách quý, Phật xưng tán
Bồ Tát, Bồ Tát cung kính
Thế Tôn, cung kính lẫn
nhau. Tại sao?
Vì hết thảy chúng sanh,
chúng ta phải hiểu ý
nghĩa này, tinh thần,
hình tượng chúng ta đều
phải học tập.
‘Bồ Tát bạch Phật ngôn’,
‘bạch’ là lời người nhỏ
nói với người lớn, là
lời kính trọng; nói rất
khiêm hư, rất cung kính.
‘Con nương nhờ sức oai
thần của chư Phật Như
Lai’, Ngài chẳng nói
mình có khả năng.
Ngày nay tôi có khả năng
này, phân thân độ hóa
chúng sanh ở vô lượng vô
biên thế giới, là nhờ
Phật lực gia trì.
Thật ra không nương Phật
gia trì Ngài cũng làm
được, đây là lời khiêm
nhường, cung kính, làm
gương mẫu cho hàng hậu
học chúng ta, chúng ta
có khả năng làm được,
cũng cảm kích lực lượng
của đại chúng gia trì.
Chúng ta hôm nay cử hành
pháp hội tại đây, bất
luận pháp hội lớn hay
nhỏ, đều phải nhờ sức
mạnh của đại chúng,
trước khán đài, phía sau
khán đài, trong và ngoài
đạo tràng, xã hội đại
chúng xuất lực xuất
tiền, thiện ý tán dương
đều là thần lực gia trì.
Bồ Tát hiểu rõ nên có
tâm chân thành cảm ân,
phàm phu mê hoặc chẳng
biết. Tuy Phật dạy
chúng ta, luôn nhắc nhở
nhưng chúng ta không
giác ngộ. Từ sáng
đến tối bất luận là lúc
nào chúng ta hồi hướng
‘Thượng báo tứ trọng
ân, hạ tế tam đồ khổ’,
niệm hai câu này đến
thuộc làu rồi, có hiểu ý
nghĩa trong ấy không?
Thật sự là không hiểu.
Nếu bạn hiểu thiệt thì
hết thảy chúng sanh đối
với mình đều có ân đức.
Người hộ trì, người tán
thán, cúng dường có ân
đức, nói thêm với quý
vị, người hủy báng,
người phá hoại cũng có
ân đức, người hãm hại
cũng có ân đức.
Những việc trái nghịch
này công đức ở chỗ nào?
Công đức là làm cho
chúng ta phản tỉnh, cảnh
giác. Bồ Tát giáo
hóa chúng sanh, một
người thì từ mặt chính,
một người thì từ mặt
trái, mặt chính khuyến
thiện, mặt trái giúp bạn
cảnh giác, đoạn dứt ác.
Giúp bạn nhìn đến mặt
trái này, bạn sẽ nghĩ
như vậy chẳng tốt, mình
phải đoạn dứt nhân ác,
thị hiện đủ thứ quả báo
ác để nhắc nhở bạn, làm
cho bạn giác ngộ.
Nếu chẳng có những
nghịch duyên này, những
‘tăng thượng duyên’
nghịch này, thì người ta
sẽ mê hoặc trong thuận
cảnh, chẳng biết giác
ngộ. Thế nên mỗi
khi nghịch cảnh xảy ra,
người ta có thể giác
ngộ, lập tức quay về, đó
chẳng phải là ân đức hay
sao! Trong kinh
Ðịa Tạng, những việc
giống như vậy rất nhiều,
chúng ta phải xem xét
kỹ.
‘Cứu vớt
hết thảy những chúng
sanh bị nghiệp báo’,
những chúng sanh khổ nạn
tạo nghiệp thọ báo này,
đặc biệt là ở địa ngục,
trong địa ngục tạo tội
nghiệp nặng nhất, thọ
khổ cùng cực. Ðịa
Tạng Bồ Tát dùng đại
nguyện lực để giúp đỡ
những chúng sanh khổ nạn
này, nên dùng thân gì để
được độ thì Ngài bèn
hiện thân đó, nên dùng
phương pháp gì để giáo
hóa thì Ngài bèn dùng
phương pháp đó, thiện
xảo phương tiện vô cùng.
Cuối cùng nói nếu chẳng
phải đại từ lực của Như
Lai gia trì, ‘thì sẽ
chẳng thể biến hóa được
như thế’, những dụng ý,
cách làm này, trong nhà
Phật chúng ta gọi là
Hành pháp -- phương pháp
tu hành, đều nhắc nhở
chúng ta, đều đau lòng
rát miệng thị hiện ở đây
để dạy chúng ta.
Xin xem đoạn kinh tiếp
theo, câu kinh kế tiếp
quan trọng phi thường.
Ngã kim hựu
mông Phật phó chúc, chí
A Dật Ða thành Phật dĩ
lai, lục đạo chúng sanh
khiển lịnh độ thoát.
Con nay
lại được đức Phật phó
chúc [từ nay] đến khi
Ngài A Dật Ða thành
Phật, phải làm cho chúng
sanh trong lục đạo đều
được độ thoát.
Phía trước
chúng ta đã đọc qua,
trong đoạn thời gian rất
dài sau khi Ngài nhập
diệt, đức Phật giao phó
việc độ thoát, giáo hóa
chúng sanh khổ nạn cho
Ðịa Tạng Bồ Tát và hết
thảy chư đại Bồ Tát tham
dự hội kinh này, nhưng
Ðịa Tạng Bồ Tát nắm phần
chính yếu. Những
câu này là Ðịa Tạng Bồ
Tát nhận lời phó chúc
của Thế Tôn, ngài y giáo
phụng hành. Nói
cách khác, khi Phật
không còn tại thế, ai sẽ
thay thế Phật? Ðịa
Tạng Bồ Tát thay thế
Phật mãi cho đến khi đức
Phật kế tiếp ra đời.
Từ đây có thể biết,
chúng ta thấy trong bộ
kinh này, cũng như ở hết
thảy cõi nước chư Phật
trong hư không pháp
giới, hóa thân của Ðịa
Tạng Bồ Tát tận hư
không, trọn khắp pháp
giới, khi thế giới nào
không có Phật trụ thế,
người đại diện cho Phật
đều là Ðịa Tạng Bồ Tát.
Không phải Ngài chỉ đại
diện sau khi Thế Tôn
diệt độ và trước khi
Phật Di Lặc ra đời, mà ở
hết thảy các cõi nước
chư Phật, trong đoạn
thời gian sau khi đức
Phật trước diệt độ và
trước khi đức Phật kế
tiếp ra đời, người thay
mặt đức Phật độ hóa
chúng sanh đều là Ðịa
Tạng Bồ Tát.
Ðịa Tạng Bồ
Tát đáng cho người ta
tôn kính, hoằng nguyện
của Ngài Ðịa Tạng, chư
Phật, Bồ Tát không thể
không tán thán, không
khâm phục. Tại sao
vậy? Ngài độ những
chúng sanh khó độ nhất,
những chúng sanh do Phật
độ phần nhiều đều có căn
cơ chín muồi rồi, Phật
mới xuất hiện đến độ họ.
Ðịa Tạng Bồ Tát độ những
chúng sanh căn tánh chưa
chín muồi, vẫn đang tạo
tội nghiệp như cũ, khó
độ nhất. Do đó
chúng ta phải đọc kỹ bộ
kinh này, phải suy nghĩ,
phải hiểu nghĩa thú, sau
đó mới biết kinh này
trong hết thảy kinh điển
cũng thuộc về pháp luân
căn bản. Ðặc biệt
là trong thế giới của
chúng ta, chúng sanh ở
Diêm Phù Ðề, đây là pháp
tu học căn bản của chúng
ta. Hiểu rõ đạo lý
này, đích thật có thể
diệt hết thảy tội, có
thể tu hết thảy thiện,
tại sao vậy? Muốn
có thể hiểu rõ ‘chân,
vọng, tà, chánh, thị,
phi, thiện, ác’ chẳng
dễ! Nếu chẳng có
trí huệ cao độ thì làm
không nổi. Câu sau
còn hay hơn nữa:
Dụy nhiên,
Thế Tôn nguyện bất hữu
lự.
Con xin
vâng, xin Thế Tôn chớ lo
âu.
An ủi Thế
Tôn, xin Ngài chớ lo
lắng. Trong thời
Mạt pháp, pháp diệt lâu
dài này, các tội khổ
chúng sanh đều do Bồ Tát
một vai gánh vác, Bồ Tát
gánh vác trách nhiệm
giáo hóa chúng sanh.
Xin xem kinh văn:
Nhĩ thời,
Phật cáo Ðịa Tạng Bồ
Tát, nhất thiết chúng
sanh vị giải thoát giả,
tánh thức vô định, ác
tập kết nghiệp, thiện
tập kết quả, vi thiện vi
ác, trục cảnh nhi sanh,
luân chuyển ngũ thú, tạm
vô hưu tức, động kinh
trần kiếp, mê hoặc
chướng nạn.
Bấy giờ
Phật nói với Ðịa Tạng Bồ
Tát: ‘Hết thảy chúng
sanh chưa được giải
thoát thì tánh thức
không định, quen làm
điều ác thì kết thành
nghiệp, quen làm điều
thiện thì kết thành quả;
làm thiện làm ác đều
theo cảnh mà sanh, luân
chuyển trong Năm Ðường,
chưa từng ngưng nghỉ,
trải qua trần kiếp, mê
hoặc chướng nạn
Ðây là lời
đức Phật nói với Ðịa
Tạng Bồ Tát, theo thói
quen thì chúng ta gọi là
khai thị cho Ðịa Tạng Bồ
Tát. Nói thật ra,
Bồ Tát ở đây là thay mặt
cho chúng ta, Thế Tôn
khai thị cho Bồ Tát,
nhưng thực tế là khai
thị cho chúng ta.
Hiện nay chúng ta đang ở
trong trạng thái gì, ở
đây đức Phật nói rõ.
Chúng ta tự mình nói
không được, tự mình mê
hoặc điên đảo, đức Phật
hiểu rõ, nhắc nhở chúng
ta.
‘Hết thảy
những chúng sanh chưa
giải thoát’, chúng ta
phải hiểu hai chữ ‘giải
thoát’, ‘giải’ là nói về
phiền não, phiền não
chẳng giải trừ, thuật
ngữ ngày nay gọi là
‘giải phóng’, phiền não
chưa được giải phóng.
‘Thoát’ là nói về sanh
tử, sáu nẻo luân hồi,
bạn chưa thể thoát khỏi
sáu nẻo luân hồi.
Tám chữ này chỉ chúng
sanh trong sáu nẻo.
Nếu chỉ nói hết thảy
chúng sanh, Tứ Thánh
pháp giới ngoài sáu nẻo
cũng là chúng sanh, cũng
thuộc về chúng sanh hữu
tình; nhưng khi thêm chữ
‘chưa giải thoát’ bèn
chuyên chỉ chúng sanh
trong sáu nẻo.
Chúng sanh trong sáu nẻo
có trạng thái như thế
nào? ‘Tánh thức vô
định’, ‘Tánh’ là tâm
tánh, ‘Thức’ là phân
biệt, chấp trước; chẳng
định, biến đổi quá lớn,
niệm trước vừa diệt,
niệm sau liền sanh,
chẳng nhất định tiếp
nối, thường thường thay
đổi chủ ý, như vậy gọi
là ‘tánh thức vô định’.
Ðừng nói chúng ta đối
với hết thảy người, hết
thảy sự, chúng ta chẳng
có chủ ý nhất định, đối
với mình cũng chẳng
khẳng định. Chuyện
nghĩ hồi sáng, đến tối
bèn thay đổi, đây là sự
thật. Trong hết
thảy ý niệm, Phật quy
nạp thành ba loại lớn:
‘thiện, ác, vô ký’, là
ba loại này. Thiện
và ác là tạo nghiệp, vô
ký là vô minh, cũng
chẳng phải là việc tốt,
chúng ta hiểu vô ký cũng
tạo nghiệp. Vô ký
tạo nghiệp gì?
Nghiệp hồ đồ, vô minh hồ
đồ, chẳng có trí huệ.
‘Ác tập kết
nghiệp’, đã tạo ác
nghiệp thì tương lai
phải thọ ác báo.
Một ác niệm phải thọ một
ác báo, cái gì gọi là
một ác niệm? Một ý
niệm [dài cỡ] một sát
na, một sát na cũng quá
dài rồi. Kinh Nhân
Vương nói với chúng ta:
một khảy móng tay có
chín trăm sanh diệt,
cũng tức là có chín trăm
ý niệm. Khởi một ý
niệm thì phải thọ một
lần quả báo, trong cuộc
đời mấy chục năm của
chúng ta tạo ra bao
nhiêu nghiệp, làm sao
không thọ báo cho được?
Quả báo đi theo sự thiện
ác của ý niệm, tùy theo
cái nhẹ, nặng, lớn, nhỏ,
lệch, viên mà quả báo sẽ
khác nhau.
‘Thiện tập
kết quả’, ‘quả’ là nói
về thiện báo, phước báo
nhân thiên, nhà Phật gọi
là tiểu quả. Câu
‘Vi thiện vi ác, trục
cảnh nhi sanh’ là nói
một người tại sao lại
tạo thiện, tại sao tạo
ác? Gặp duyên khởi
hiện hành. Thiện,
ác là hạt giống chất
chứa trong A Lại Da
Thức, hạt giống tập khí
vĩnh viễn sẽ không tiêu
mất, một khi gặp duyên
nó sẽ khởi lên.
Gặp ác duyên liền moi
tập khí ác đem ra, gặp
thiện duyên thì hạt
giống thiện sẽ khởi lên,
tự mình chẳng thể làm
chủ, chẳng thể khống
chế, thường gọi là chẳng
có định lực, chẳng có
trí huệ. Trí huệ
là quán sát minh liễu,
định lực là chẳng bị dụ
dỗ, mê hoặc, phải đến
cảnh giới này thì con
người mới không tạo
nghiệp. Nếu chẳng
tới cảnh giới này, những
sự thị - phi, thiện - ác
ở cảnh giới bên ngoài
bạn chẳng thể phân biệt
rõ ràng, bạn chẳng biết.
Chúng ta là phàm phu
chúng ta cũng chẳng
biết, Phật dạy chúng ta
một nguyên tắc rất tốt,
đó là dùng tâm thuần
thiện để xem người, xem
sự, xem vật, cách này
rất tốt, tuyệt đối sẽ
được lợi ích. Khi
gặp người thiện, việc
tốt, thì đây là Phật, Bồ
Tát thị hiện chánh diện
để dạy chúng ta, khi gặp
người ác, chuyện ác thì
đây là Phật, Bồ Tát thị
hiện nhắc nhở chúng ta;
xem hết thảy người, hết
thảy sự, hết thảy vật
đều là Phật, Bồ Tát thị
hiện thì tâm chân thành,
tâm cung kính của chúng
ta mới có thể sanh khởi.
Trong hội
kinh Hoa Nghiêm, Thiện
Tài đồng tử cũng dạy
chúng ta giống vậy, năm
mươi ba vị Phật, Bồ Tát
thị hiện nam nữ, già
trẻ, các ngành các nghề
chính là xã hội hiện
thực của chúng ta.
Nếu chúng ta muốn thành
tựu ngay trong đời này
thì chỉ có học theo cách
này mà thôi. Cách
học này, nói cho chư vị
biết, nhất định chẳng
phải miễn cưỡng mình,
chẳng phải ép mình nhất
định phải có cách nhìn
như vậy. Vốn là
như vậy, chẳng có tơ hào
miễn cưỡng. Trong
kinh chúng ta nghe chư
Phật, Bồ Tát giảng đơn
giản, vắn tắt những
nguyên lý, nguyên tắc
này. Kinh Hoa
Nghiêm nói hết thảy pháp
thế, xuất thế gian đều
‘duy tâm sở hiện, duy
thức sở biến’.
Nếu chúng ta chân chánh
có thể lãnh hội được ý
nghĩa của tám chữ này,
có thể ngộ được những gì
nói trong kinh Hoa
Nghiêm là thật, chẳng
giả, chẳng phải dạy
chúng ta giả dụ dùng
cách nhìn này, mà là
chân tướng sự thật.
Ðích thật ngoài mình ra,
hết thảy người, hết thảy
sự, hết thảy vật đều là
chư Phật, Bồ Tát đại từ
đại bi, đại quyền thị
hiện, thành tựu cho phàm
phu như mình. Chứ
[kinh Hoa Nghiêm] không
nói: “Anh cứ thử làm
theo cách giả dụ như vậy
xem sao!” Nếu [nói vậy]
thì không được rồi,
không có ý nghĩa như
vậy! Có [thật sự thị
hiện đại từ đại bi] như
vậy thì chúng ta mới
tiếp nhận được giáo huấn
chân thật của Như Lai.
Cho nên khi
chúng ta thấy chuyện
thiện, chuyện tốt, người
tốt thì phải khích lệ
mình, khi thấy người ác,
chuyện ác thì phải tự
cảnh giác; những người,
sự, vật này không có gì
chẳng phải là thiện tri
thức, không có ai chẳng
là Phật, Bồ Tát, được
vậy thì chúng ta trong
cảnh giới này, cả đời
này mới có thể viên
thành Phật đạo.
Sau khi mình học thành
công rồi cũng phải thị
hiện cho người khác
thấy, cũng nêu gương tốt
cho người khác.
Chữ ‘tốt’ ở đây chẳng
phải là chữ tốt trong
tốt - xấu, ‘tốt’ trong
tốt - xấu là tương đối,
chữ ‘tốt’ ở đây đã buông
bỏ hoàn toàn cả hai bên
tốt - xấu, là ‘tốt chân
thật’. Thế nên bạn
có thể thị hiện trên mặt
chánh, cũng có thể thị
hiện trên mặt trái, đều
có chung một mục đích
làm cho chúng sanh giác
ngộ, làm cho chúng sanh
quay về, như vậy gọi là
‘nêu gương tốt’.
Thế nên phải nhớ
‘vi thiện vi ác, trục cảnh
nhi sanh’ (làm thiện làm
ác đều theo cảnh mà
sanh), cảnh giới là
duyên, chỗ khác nhau lớn
nhất giữa người giác ngộ
và người mê hoặc là quán
sát cảnh duyên không
giống nhau, vận dụng
cảnh duyên để trợ tu
chẳng tương đồng.
Người giác ngộ thì khéo
quán sát cảnh duyên, lợi
dụng cảnh duyên để tăng
trưởng đạo nghiệp của
mình, người mê hoặc thì
mê trong cảnh duyên và
tạo nghiệp. Ở chỗ
này nói ‘kẻ chưa giải
thoát’ là những chúng
sanh mê hoặc điên đảo,
những chuyện thiện,
chuyện ác của họ đều là
tương đối. ‘Thiện’
là thiện pháp trong thế
gian, chỉ có thể đạt
được thiện quả ở cõi
trời và người, chẳng thể
thoát khỏi Tam giới.
‘Ác’ thì nhất định đọa
tam ác đạo, tam ác đạo
thì địa ngục là chính,
ngạ quỷ và súc sanh đều
là phụ thuộc.
‘Luân
chuyển ngũ đạo’, ‘luân
chuyển’ là luân hồi,
‘ngũ đạo’ là chẳng kể A
Tu La, chỉ nói Trời,
Người, Quỷ, Súc sanh,
Ðịa ngục, nói năm đường
này. Tại sao không
kể A Tu La? Kinh
Lăng Nghiêm nói với
chúng ta trừ cõi địa
ngục ra, bốn cõi kia đều
có A Tu La. Quả
báo A Tu La lớn nhất là
A Tu La ở cõi trời, kế
đó là nhân gian A Tu La,
trong cõi quỷ cũng có A
Tu La, quỷ vương A Tu La
ác độc, trong súc sanh
cũng có A Tu La, thế nên
A Tu La có thể không xếp
riêng ra. Nếu xếp
riêng ra một cõi A Tu La
thì là A Tu La ở cõi
Trời. Nếu chẳng
xếp riêng thì A Tu La ở
cõi Trời gộp chung vô
Thiên Ðạo. Thế nên
nói ngũ đạo, lục đạo đều
giống nhau. ‘Luân
chuyển ngũ đạo, tạm vô
hưu tức’ là nói sanh tử
luân hồi, trong kinh Đại
thừa đức Phật thường nói
‘sanh tử mệt mỏi chẳng
ngưng nghỉ’, ở cõi này
chết đi bèn đến cõi khác
đầu thai, sanh đến cõi
ấy; sanh tử xong rồi lại
tử sanh, vĩnh viễn chẳng
ngưng nghỉ, thế nên ví
như ‘bánh xe xoay vần’
-- luân chuyển’, khổ
chẳng thể tả.
‘Ðộng kinh trần kiếp’,
trải qua trần điểm kiếp.
‘Mê hoặc
chướng nạn’. ‘Mê’
là vô minh phiền não,
trong lục đạo gọi là
Kiến Tư phiền não, đây
là mê, mê hoặc.
‘Chướng’, thường nói về
Nhị chướng, Tam chướng.
Tam chướng ‘Hoặc,
Nghiệp, Khổ’, mê hoặc,
tạo nghiệp, thọ báo.
Tại sao là ‘chướng’?
Chướng ngại sự minh tâm
kiến tánh của bạn.
‘Nạn’ là ‘Bát nạn’,
chúng ta thường nói về
‘tam đồ, bát nạn’, ‘nạn’
là bạn gặp nạn.
Trong ‘Tám nạn’ đặc biệt
phải để ý ‘thế trí biện
thông’ là một trong tám
nạn, một số người cứ cho
rằng ‘thế trí biện
thông’ là chuyện tốt.
‘Trường Thọ thiên’ là
một trong tám nạn,
‘Trường thọ thiên’ ở
đâu? Tứ Không
Thiên. Tại sao nói
Tứ Không Thiên là ‘bị
nạn’? Trong Tứ
Không Thiên chẳng có
Phật, Bồ Tát giảng kinh
thuyết pháp. Nói
‘nạn’, tám thứ nhân
duyên, mù điếc câm tám
thứ nhân duyên chướng
ngại cơ duyên nghe pháp
của bạn, làm cho bạn
chẳng dễ tiếp xúc đến
Phật pháp, chẳng có cơ
hội học Phật, như vậy
gọi là gặp nạn, chẳng
phải nạn thường, chẳng
có cơ hội học Phật chính
là gặp nạn. Trường
Thọ Thiên, sanh đến cõi
trời Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng, thọ mạng tám vạn
đại kiếp, trong thời
gian dài tám vạn đại
kiếp này chẳng được tiếp
xúc đến Phật pháp, bạn
nói xem: Như vậy thì
đáng tiếc dường nào!
Trong kinh
này, Phật, Bồ Tát tán
thán người ở cõi Diêm
Phù Ðề chúng ta.
Người ở Diêm Phù Ðề tuy
rất dễ tạo tội nghiệp,
nhưng cũng có chỗ tốt,
[tức là] cũng rất dễ
[giác ngộ và biết] quay
về cho nên Phật, Bồ Tát
tán thán. Ðịa Tạng
Bồ Tát nói khi chúng ta
làm việc thiện, việc
thiện rất nhỏ, ‘như sợi
lông, như một giọt’
chuyện thiện nhỏ nhoi
như vậy Phật, Bồ Tát
nhìn thấy cũng hoan hỷ,
đều vui lòng đến giúp
đỡ. Ðây là nói
chúng sanh ở địa phương
này tuy tạo nghiệp nhưng
dễ quay về. Còn
cõi trời, càng lên cao
càng khó quay về.
Trong kinh Phật có nói
đến ‘Hai mươi thứ học
Phật khó’. ‘Giàu
sang học Phật khó’,
người cõi trời giàu
sang, mỗi ngày hưởng
phước, hưởng được rất tự
tại, học Phật gian khổ
như vậy nên họ chẳng
chịu học, họ chẳng biết
khổ. ‘Bần cùng học
đạo khó’, một ngày ba
bữa ăn không no, mỗi
ngày đều chịu đói, trong
trạng thái đói meo như
vậy thì còn có lòng dạ
gì nữa để học Phật!
Ví trên trời là giàu
sang, tam ác đạo ví là
bần cùng, cả hai đều khó
khăn. Thế nên,
người nào trong nhà
tương đối đủ ăn, cũng
không giàu có lắm, cũng
chẳng bị chết đói, hạng
người này dễ giác ngộ,
họ biết khổ, dễ giác
ngộ. Thế nên Nhị
chướng, Tam Chướng, Bát
Nạn chẳng dễ thoát ly.
Phía dưới Thế Tôn lại
dùng thí dụ để nói:
Như ngư du
võng, tương thị trường
lưu, thoát nhập tạm
xuất, hựu phục tao võng.
Như cá
bơi trong lưới theo dòng
nước chảy, tạm thoát ra
được rồi lại mắc vào
lưới.
‘Ngư’ ví
chúng sanh, chúng sanh
trong lục đạo.
‘Võng’ ví như lục đạo,
tam giới lục đạo.
‘Trường lưu’ ví như tạo
nghiệp, luôn tạo vĩnh
viễn chẳng dứt.
‘Thoát nhập’ ví như sanh
tử luân hồi. Ví
như chúng sanh trong lục
đạo ‘tánh thức vô định’,
giống như cá bơi đi khắp
nơi, chẳng có phương
hướng, mục tiêu nhất
định, thường bơi vào
trong lưới. ‘Võng’
là la võng (lưới rập),
[tức là] lưới rập của
Ma, ‘Ma’ là gì? Ma
là chiết ma [tức là] dày
vò, thân tâm của bạn
vĩnh viễn bị dày vò, phá
hoại, khổ chẳng nói nổi.
Nguyên nhân căn bản là
như câu nói trong Phật
pháp: ‘Ái chẳng nặng
chẳng sanh Sa Bà, Niệm
chẳng nhất chẳng sanh
Tịnh Ðộ’.
Thuyết minh nguyên nhân
căn bản của lục đạo luân
hồi là gì? ‘Tình
chấp’, đây chẳng phải là
chuyện tốt. ‘Tình’
là cái gì? Nói cho
chư vị biết, ‘tình’ tức
là trí huệ, giác ngộ thì
nó là trí huệ, khi mê
thì nó là ‘tình’.
Trong kinh Phật thường
nói: ‘Phiền não tức Bồ
Ðề’, lúc giác ngộ thì
phiền não là Bồ Ðề, lúc
mê thì Bồ Ðề là phiền
não. Chư vị nhất
định phải biết trí huệ
vô lượng vô biên, phiền
não cũng vô lượng vô
biên, một mê thì hết
thảy đều mê, đem trí huệ
vô lượng vô biên trong
tự tánh đều biến thành
phiền não, tình chấp.
Một khi giác ngộ rồi thì
tất cả hết thảy vô lượng
vô biên phiền não khôi
phục trở thành vô lượng
vô biên trí huệ, đều ở
trong một niệm.
Nhất định phải giác!
Nhất định phải minh
bạch, hết thảy tình, ái
của lục đạo chúng sanh
phía trước đều có một
nguyên tắc cơ bản tồn
tại: tánh thức vô định;
nói cách khác ‘tình’ của
họ vô định, ‘ái’ của họ
vô định. Ngày nay
‘ái’, ngày mai không
‘ái’, hôm nay có ‘tình’,
ngày mai vô ‘tình’, đều
chẳng định.
Thế nên bạn
nhất định phải biết,
người thế gian bất luận
nói tình, nói ý, nói ái
với bạn, trong lòng bạn
nhất định phải hiểu rõ
ràng, minh bạch, giác
ngộ, đó là gì? Ðều
là tình ý giả dối, đừng
cho là thiệt. Nếu
bạn cho là thiệt thì bạn
sẽ mắc lầm. Lầm
cái gì? Cái lầm
của sanh tử luân hồi,
chẳng phải thiệt.
Nói cho chư vị
biết chỉ có Phật, Bồ Tát
mới có ‘chân ái’, ‘chân
tình’, vĩnh viễn chẳng
biến. Vì tánh thức
của Phật, Bồ Tát là
định, còn tánh thức của
phàm phu chúng sanh là
bất định. Cho nên
cái ‘tình’ của Phật, Bồ
Tát thật sự là ‘chân
tình’, ‘chân ái’, họ
chẳng dùng danh từ tình
và ái, các ngài dùng
‘từ’, dùng ‘bi’, từ bi
chính là chân tình chân
ái, vĩnh viễn chẳng biến
đổi, việc này chúng ta
phải hiểu rõ.
Chúng ta phải học theo
Phật, Bồ Tát, đối với
hết thảy chúng sanh thật
sự có tình, thật sự
thương yêu, vĩnh viễn
chẳng thay đổi, trong
kinh thường gọi là ‘vô
duyên đại từ, đồng thể
đại bi’.
Ở đây chúng
ta có thể nói thêm vài
câu, trong hết thảy kinh
điển trong bốn mươi chín
năm Phật thường nói,
chẳng biết là đã nói bao
nhiêu lần, mục đích đều
là để nhắc nhở chúng ta.
Năm xưa lúc Phật giảng
kinh thuyết pháp, mỗi
ngày đều có thính chúng
mới đến, Phật rất từ bi,
‘trong nhà Phật chẳng xả
[bỏ] một ai’, có một
người mới lại chưa nghe
những khai thị quan
trọng thì Phật đều lập
lại thêm lần nữa.
Mê mất tự tánh, tâm tánh
chẳng định, tình và ái
sanh khởi từ đây đều là
tạm thời ngắn ngủi, rất
dễ thay đổi, nhất định
chẳng phải thiệt.
Chúng ta phải học Phật,
tình và ái của Phật đều
là chân thật, vĩnh hằng
chẳng thay đổi. Vả
lại tình và ái này đều
thanh tịnh, mảy trần
chẳng nhiễm. Và
bình đẳng, chẳng phải là
đối với người này thì
thương, đối với người
kia thì ghét, là tận hư
không, trọn khắp pháp
giới. Ðối với
Phật, Bồ Tát kính ái,
đối với địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh cũng kính
ái, sự kính ái này đều
bình đẳng. Chẳng
phải đối với Phật, Bồ
Tát thì thêm một phần,
đối với súc sanh thì kém
một phần, tuyệt chẳng có
hiện tượng này.
Tại sao? ‘Ðại ái’
của các ngài lưu lộ từ
tự tánh, là đức năng vốn
sẵn có trong chân tâm.
Ðề kinh của
kinh Vô Lượng Thọ có ghi
‘Thanh Tịnh Bình Ðẳng
Giác’, lòng từ bi,
thương yêu rộng lớn của
ngài tuyệt đối tương ứng
với thanh tịnh, bình
đẳng, giác. Nếu
chẳng tương ứng với
thanh tịnh, bình đẳng,
giác thì đó là tình thức
vô định. Tại sao
vậy? Tâm ý thức
làm chủ. Phàm phu
chúng ta dùng tâm ý
thức, tâm ý thức chẳng
định, chúng ta nhất định
phải nhận thức rõ ràng.
Cho nên hết thảy lục đạo
chúng sanh chẳng thể
thoát ra khỏi sanh tử
luân hồi, nguyên nhân
chủ yếu là ở chỗ này.
Do đó có thể biết đời
này chúng ta niệm Phật
muốn cầu sanh tây phương
Cực Lạc thế giới, [chúng
ta] thường nói phải nhìn
thấu suốt, phải buông
xuống. Ðây là việc
thứ nhất phải buông
xuống, phải buông xuống
tình ý giả dối của thế
gian, buông xuống triệt
để. Sau khi buông
xuống thì nhấc lên, nhấc
lên ‘vô duyên đại từ,
đồng thể đại bi’ của
Phật, Bồ Tát.
‘Buống xuống được, nhấc
lên nổi’. Phát
khởi lòng thương rộng
lớn của Phật, Bồ Tát,
bạn có thể xả mình vì
người, cái gì cũng có
thể hy sinh, cái gì cũng
có thể buông xả để làm
lợi ích cho hết thảy
chúng sanh, đó chính là
học theo Ðịa Tạng Bồ
Tát. Xin xem tiếp
kinh văn:
Dĩ thị đẳng
bối, ngô đương ưu niệm.
Vì những
kẻ đó mà Ta phải lo
nghĩ.
Thế Tôn
đang ưu niệm chính là
việc này. Thế Tôn
chẳng lo việc khác, lo
nghĩ hết thảy tội khổ
chúng sanh trong tận hư
không, trọn khắp pháp
giới, ngài chẳng vì một
người nào đó. Phía
trước chúng ta thấy, Ma
Gia phu nhân hình như có
một chút tình chấp, đặc
biệt lưu luyến Diêm Phù
Ðề chúng sanh, lúc Ðịa
Tạng Bồ Tát nói pháp cho
bà thì tâm lượng ấy rộng
lớn hơn nhiều, đều là
làm khuôn mẫu cho chúng
ta xem. Ma Gia phu
nhân làm đúng hay sai?
Ðúng. Ðúng như thế
nào? Chúng ta giúp
đỡ chúng sanh thì bắt
đầu từ chỗ gần nhất,
không thể nói chẳng lo
chỗ gần, đi lo những chỗ
ở xa, chẳng có lý này,
chẳng hợp lý, chẳng hợp
pháp. Giúp đỡ
người nhất định phải bắt
đầu từ chỗ gần rồi tới
chỗ xa. Chỗ nào là
gần? Người nhà của
bạn là gần nhất, muốn độ
chúng sanh hãy độ người
nhà trước. Tại sao
độ người nhà không được?
Vì chính mình chẳng làm
được hoàn hảo, làm chẳng
đúng như pháp, người nhà
của bạn chẳng tin tưởng.
Nếu bạn làm đúng như
pháp, người nhà sanh tâm
cung kính, khâm phục
bạn, chịu học theo bạn,
chịu nghe lời của bạn.
Thế nên bạn phải làm
đúng như pháp, tự mình
phải làm ra một hình
dáng tốt đẹp cho người
ta thấy. Sau đó
làm ra cho thân thích
bạn bè, và những người
quen biết thấy, dần dần
mở rộng phạm vi này.
Ma Gia phu nhân dạy
chúng ta cách khéo léo
độ chúng sanh, còn Phật,
Bồ Tát dạy chúng ta một
cách toàn diện: tất cả
đều là thiện tri thức,
đều vì dạy chúng ta nên
mới làm ra những sự thị
hiện này, họ biểu diễn
cho chúng ta coi.
Nói thật ra, làm thế nào
mới có thể phát triển
Phật pháp, làm cho hết
thảy chúng sanh hoan hỷ
tiếp nhận? Kinh
Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện này là ‘kịch bản’
tốt nhất, có thể đem nó
lên sân khấu, đem nó
diễn thành phim truyện,
thành phim điện ảnh,
chẳng có ai không thích,
không ưa, thiện xảo
phương tiện làm lợi ích
cho chúng sanh.
Nhưng muốn
làm việc này, nói thật
ra phải nên hướng về
phía này mà phát triển,
những người biên kịch,
đạo diễn, diễn viên nên
đến giảng đường học
trước, chúng ta giảng
kinh này rõ ràng từ đầu
đến cuối, mọi người đều
phát tâm làm Ðịa Tạng Bồ
Tát, mọi người đều phát
tâm tạo dựng sự nghiệp
Ðịa Tạng, sau đó phim
này chắc chắn sẽ diễn
thành công. Hiện
nay cũng có một số phim
điện ảnh, phim kịch về
Phật Giáo, tôi xem thử
[thì thấy] cũng không lý
tưởng cho lắm.
Nguyên nhân là gì?
Ðạo diễn, diễn viên
chẳng hiểu Phật pháp nên
hiệu quả đương nhiên còn
rất kém. Diễn
viên, đạo diễn phải thật
sự hiểu giáo nghĩa, thâm
giải ý thú thì kịch bản
của họ, kỹ thuật diễn
kịch mới có thể thể hiện
rộng lớn trí huệ cao độ,
mới có thể đạt đến mức
thiện xảo phương tiện.
Chúng ta có tâm này,
nguyện này, nhưng duyên
chưa đủ. Ngày nay
chẳng có những diễn
viên, đạo diễn điện ảnh,
truyền hình cùng chúng
ta học Phật nên hiện nay
chúng ta làm chuyện này
không được. Nếu có
một nhóm người như vậy,
nhân duyên thành thục
rồi thì chúng sanh có
phước báo to lớn, chúng
sanh toàn thế giới sẽ có
phước báo to lớn, toàn
bộ kinh Hoa Nghiêm cũng
có thể đem lên sân khấu.
Tuy chúng ta chẳng giảng
kinh Hoa Nghiêm được bao
nhiêu, mới giảng được
một chút, các bạn nghe
[giảng] cũng được hưởng
đạo vị, đều có thể mang
lên sân khấu.
Trong đời sống hằng ngày
mỗi thứ chúng ta đều có
thể làm gương mẫu trong
sanh hoạt. Thế
nên học Phật, Bồ Tát tức
là học biểu diễn, chúng
ta chẳng diễn trên sân
khấu của nghệ sĩ, hiện
nay chúng ta diễn trên
sân khấu của xã hội.
Phải biết làm thế nào
diễn vở kịch này cho
hoàn hảo, làm cho những
chúng sanh chưa giải
thoát xem đến vở kịch
này có thể cảm ngộ, có
thể cảm động, có thể
giác ngộ thì có thể đạt
đến mục đích hoằng pháp
lợi sanh vậy.
Chúng ta
xem thử Phật lo nghĩ
những gì? Ngày nay
chúng ta lo nghĩ những
gì? Những gì chúng
ta lo âu đều sai, đều là
giả. Chúng ta lo
âu cái thân của mình,
tánh mạng tài sản, đều
là giả chẳng thật.
Thân là vô thường, vật
ngoài thân càng chẳng
thể được, nhất định phải
hiểu đạo lý này, hiểu rõ
chân tướng sự thật.
Hết thảy của chư Phật,
Bồ Tát đều chân thật,
chúng ta phải tin sâu,
hết lòng học tập, y giáo
phụng hành. Xem
tiếp câu phía sau:
Nhữ ký tất
thị vãng nguyện, lũy
kiếp trọng thệ, quảng độ
tội bối, ngô phục hà lự.
Đời
trước ông đã phát
nguyện, nhiều kiếp lập
trọng thệ, quảng độ
những kẻ có tội, thì Ta
còn lo gì nữa.
Thế Tôn
nghe Địa Tạng Bồ Tát báo
cáo cũng vô cùng hoan
hỷ, nói ông đã ‘tất thị
vãng nguyện’, Địa Tạng
Bồ Tát phát nguyện độ
chúng sanh chẳng phải ở
ngày hôm nay, vô lượng
kiếp trước ngài đã phát
nguyện này, nhiều đời
kiếp thực tiễn nguyện
vọng này của ngài, vả
lại đã phát nhiều lần.
Giống như chúng ta mỗi
ngày đều niệm Tứ Hoằng
Thệ Nguyện
‘Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ, phiền não vô
lượng thệ nguyện đoạn’,
mỗi ngày chúng ta đều
‘niệm’ tứ hoằng thệ
nguyện, chứ chẳng ‘phát’
tứ hoằng thệ nguyện, nếu
thật sự ‘phát’ được thì
còn phải nói nữa ư!
Nếu quả thật đã phát
nguyện này thì bạn sẽ
chẳng là phàm phu nữa.
Không là phàm phu thì là
gì? Bạn sẽ là Phát
Tâm Trụ Bồ Tát.
Chúng ta coi kinh Hoa
Nghiêm nói Phát Tâm Trụ
Bồ Tát là địa vị gì?
Địa vị Sơ Trụ trong Viên
Giáo, bạn đã siêu việt
lục đạo, siêu việt thập
pháp giới, tứ hoằng thệ
nguyện đã phát thật sự
bèn siêu việt.
Không những chẳng còn
trong lục đạo, bạn cũng
chẳng còn trong thập
pháp giới, vừa phát liền
siêu việt. Mỗi
ngày đều niệm thì không
được, ‘niệm’ thì không
thể siêu việt, phải chân
thật ‘phát’. Chúng
ta quan sát cặn kẽ, tứ
hoằng thệ nguyện có phải
là Địa Tạng Bổn Nguyện
hay không? Phải,
chẳng sai khác gì cả.
Hôm nay tại cung trời
Đao Lợi, Địa Tạng Bồ Tát
cũng phát nguyện nữa,
tiếp nhận lời phó chúc
của Thế Tôn giúp đỡ
những chúng sanh khổ nạn
này. Thế Tôn ở nơi
đây nói lời này là tán
thán Ngài. ‘Lũy
kiếp trùng thệ’, chữ này
đọc [như âm của chữ]
‘trọng’ cũng được, đọc
âm chữ ‘trùng’ cũng
được, đều được hết.
‘Trọng’ là lời nguyện
của ngài rất nặng.
‘Trùng’ là
Ngài đã phát nguyện
nhiều lần rồi, hai cách
đọc chữ này, hai ý nghĩa
này đều hợp lý.
Phật thấy họ sốt sắng
gánh vác thì cũng rất an
ủi, chẳng phải âu lo
nữa, chẳng phải bận tâm
nữa.
Thật ra
hoàn toàn là biểu diễn
cho chúng ta coi, chư vị
phải hiểu, Thích Ca Mâu
Ni Phật cũng hóa thân
làm Địa Tạng Bồ Tát.
Tại sao không dùng thân
Phật để xuất hiện trong
thế gian này, tiếp tục
thuyết pháp cho chúng
ta? Không thể
được, những chúng sanh
này tâm thức chẳng định.
Chư vị phải hiểu, nếu
thấy Phật trụ thế lâu
dài, chúng sanh sẽ giải
đãi, làm biếng: ‘Không
sao đâu, hôm nay không
nghe kinh, ngày mai Ngài
cũng sẽ giảng nữa, năm
nay không học, hai năm
sau học cũng chẳng trễ,
lúc nào Ngài cũng giảng
mà!’. Nếu nói Phật
sẽ lập tức diệt độ thì
họ sẽ khẩn trương, ‘phải
học mau lên, không học
thì sẽ chẳng còn cơ hội
nữa’, họ sẽ khẩn trương
lên. Thế nên Phật
thị hiện diệt độ, thị
hiện trụ tại thế gian
đều là thiện xảo phương
tiện, chúng ta phải hiểu
ý nghĩa này. Việc
cầu học không phải cũng
vậy hay sao.
Lúc trước
tôi học ở Đài Trung,
trong một thời gian
ngắn, tôi đạt được lợi
ích nhiều hơn phần đông
những bạn học khác.
Vì nguyên nhân gì?
Chúng tôi là người ở
phương xa đến, đến Đài
Loan làm khách, thời
gian rất ngắn, phải học
mau mau, học hết lòng,
không thôi thì đến một
ngày nào đó sẽ mất cơ
hội. Những người
cư trú ở thị xã Đài
Trung chẳng có quan niệm
này, thầy Lý thường trú
ở thị xã Đài Trung, năm
nay không thành thì vẫn
còn năm tới, năm tới
không thành thì cũng còn
năm tới nữa. Có
tâm ấy thì vĩnh viễn sẽ
làm biếng, mãi đến lúc
thầy Lý vãng sanh cũng
vẫn chưa học thành tựu.
Thầy Lý cư trú ở Đài
Trung suốt ba mươi tám
năm, tâm lý này chẳng
giống nhau. Chúng
tôi đến làm khách, tâm
trạng này rất khẩn
trương, phải nắm chắc
lấy cơ hội này, biết
rằng một khi mất cơ hội
thì chẳng dễ gì kiếm lại
được. Phật, Bồ Tát
xuất hiện ở thế gian
này, dùng thân phận của
Phật để xuất hiện cũng
là ý nghĩa này, chẳng
thể trụ lâu dài.
Thị hiện trụ thế lâu dài
thì chúng sanh trở về
sau sẽ lười biếng, lời
giáo học của Phật sẽ
chẳng linh nữa, thế nên
không thể thị hiện trụ
lâu dài.
Xin xem
tiếp đoạn kinh văn kế
tiếp, Thế Tôn và Địa
Tạng Bồ Tát một bên hỏi,
một bên trả lời, kế bên
lại thêm một vị Bồ Tát
vào.
Thuyết thị
ngữ thời, hội trung hữu
nhất Bồ Tát Ma Ha Tát
Nói đến
đây, trong hội có một vị
Bồ Tát Ma Ha Tát.
Những Bồ
Tát này đều là Đẳng Giác
Bồ Tát, đều chẳng phải
là Bồ Tát thường.
Danh Định
Tự Tại Vương
Hiệu là
Định Tự Tại Vương.
Từ danh
hiệu này của Ngài chúng
ta liền biết, Ngài được
đại tự tại trong thiền
định. Trong Phật
pháp thường nói: ‘Na
Già thường tại định, vô
hữu bất định thời’
[6].
Bạch Phật
ngôn: ‘Thế Tôn, Địa Tạng
Bồ Tát lũy kiếp dĩ lai
các phát hà nguyện, kim
mông Thế Tôn ân cần tán
thán duy nguyện Thế Tôn
lược nhi thuyết chi.’
Bạch đức
Phật: ‘Bạch Thế Tôn, Địa
Tạng Bồ Tát từ nhiều
kiếp đến nay đã phát
nguyện gì mà nay được
Thế Tôn ân cần khen ngợi
như thế? Cúi mong
đức Thế Tôn lược nói
cho’.
Trong đại
hội, Thế Tôn tán thán
Địa Tạng Bồ Tát, Định Tự
Tại Vương Bồ Tát đâu
phải là không biết, đã
biết rõ nhưng vẫn hỏi.
Vì ngài biết hội kinh
này khi kết tập kinh
tạng nhất định sẽ truyền
lâu xa, những người
chẳng tham gia hội này
thấy thái độ đức Phật
tán thán Địa Tạng Bồ
Tát, chắc không khỏi
hoài nghi. Bồ Tát
rốt cuộc có những nguyện
gì, có đức hạnh gì mà
được Thế Tôn tán thán
như vậy? Nhưng
những người không tham
gia pháp hội phải đi đâu
hỏi? Sau này dù
cho có những câu hỏi này
nhưng cũng chẳng có chỗ
để hỏi. Định Tự
Tại Vương Bồ Tát từ bi,
ngài biết được, thay thế
chúng ta đặt câu hỏi để
Thế Tôn nói rõ cho chúng
ta biết, đoạn trừ nghi
hoặc của chúng ta.
Thế nên cách đặt câu hỏi
này trong kinh Phật gọi
là
‘câu hỏi đem lại lợi lạc
cho hữu tình’, đáng
để chúng ta học tập.
Có khi chúng ta chẳng có
nghi hoặc nhưng nghĩ đến
người khác có thể nghi
hoặc thì cũng phải đặt
câu hỏi. Đặc biệt
là ngày nay chúng ta lợi
dụng phương pháp khoa
học, giảng kinh, diễn
giảng gì cũng thâu hình,
thâu âm rồi phổ biến lưu
thông, cho nên nghe kinh
không nhất định phải ở
hiện trường, có thể phía
ngoài hiện trường người
nghe càng nhiều hơn,
chẳng thể thống kê.
Nếu họ có nghi hoặc thì
đi đâu để hỏi? Thế
nên đặt những câu hỏi
nhằm đem lại lợi ích cho
hữu tình, chúng ta nên
học theo. Xin xem
kinh:
Nhĩ thời
Thế Tôn cáo Định Tự Tại
Vương Bồ Tát: ‘Đế thính,
đế thính, thiện tư niệm
chi, Ngô đương vị nhữ
phân biệt giải thuyết’.
Bấy giờ
Thế Tôn bảo Định Tự Tại
Vương Bồ Tát: ‘Lắng
nghe, lắng nghe, hãy
khéo suy xét, Ta sẽ vì
ông mà giải bày rõ
ràng’.
Bồ Tát đặt
câu hỏi, Thế Tôn nhất
định sẽ giải đáp, vả lại
Thế Tôn biết câu trả lời
này có thể đem lại lợi
ích cho rất nhiều, vô
lượng vô biên đại chúng
chẳng có mặt lúc ấy.
Trước lúc khai thị,
những câu này giới
khuyến Bồ Tát, nói thật
ra chính là giới khuyến
đại chúng hiện tiền
chúng ta, phải ‘lắng
nghe, lắng nghe, hãy
khéo suy xét’, tám chữ
này rất quan trọng.
Chúng ta nghe có hiểu ý
của Phật không then chốt
ở tám chữ này.
Trong bài khai kinh kệ
nói: ‘Nguyện giải Như
Lai chân thật nghĩa’,
nếu chẳng có tám chữ này
thì bạn sẽ rất khó giải
nghĩa chân thật của Như
Lai. ‘Đế’ là gì?
‘Đế’ là chân thành, dùng
tâm chân thành để nghe.
Chân thành là gì?
Rời khỏi vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước
thì gọi là ‘đế thính’;
nói cách khác, lúc nghe
pháp trong tâm chẳng
được phép có vọng tưởng,
được vậy thì gọi là
‘lắng nghe’.
‘Thiện tư niệm chi’,
‘thiện tư’ tức là ‘chỗ
ngộ’, sau khi nghe xong
sẽ có chỗ ngộ, nhà Phật
chúng ta gọi là khai
ngộ, nghe pháp khai ngộ.
Lắng nghe mới có thể
khai ngộ, ngộ xong phải
‘niệm chi’, niệm là
hạnh, ‘niệm tư tại tư’
(niệm ở đâu thì chú tâm
ở đó).
Trong tám chữ này đều bao
gồm cả tín, nguyện,
hạnh, đều gói gọn trong
ấy. Đây là tâm
niệm, thái độ nhất định
phải có khi nghe pháp,
nếu chẳng có tâm này,
chẳng có thái độ này thì
giống như câu: ‘nghe
mà cũng như chưa nghe,
nghe mà cũng như chẳng
nghe’. Nghe
pháp như vậy cũng giống
như chẳng nghe gì cả,
vậy thì uổng lắm.
Nãi vãng
quá khứ vô lượng a tăng
kỳ na do tha bất khả
thuyết kiếp
Vào thuở
quá khứ, vô lượng
a-tăng-kỳ na-do-tha số
kiếp chẳng thể nghĩ bàn
Đây là nói
về chuyện xưa của Địa
Tạng Bồ Tát. Giới
thiệu vị Bồ Tát này cho
chúng ta, cho chúng ta
nhận biết, hiểu rõ Địa
Tạng Bồ Tát, sau đó
chúng ta mới tin tưởng
ngài, mới chịu học theo
ngài. Phải nói rõ
nhân duyên tu học đời
quá khứ của Địa Tạng Bồ
Tát, sự tích của Địa
Tạng Bồ Tát trong vô
lượng kiếp vĩnh viễn nói
chẳng hết, chỉ có thể
nêu ra vài chuyện trong
những sự tích này.
Đây là do Thích Ca Mâu
Ni Phật nói cho chúng
ta, một chuyện lúc Địa
Tạng Bồ Tát vừa phát
tâm, thời gian lúc ấy
quá lâu rồi, chúng ta
thường nói đây là con số
thiên văn.
Nhĩ thời
hữu Phật.
Lúc đó
có đức Phật.
Ở thời đại
đó, trong những kiếp xa
xôi, thời đó có một vị
Phật.
Hiệu Nhất
Thiết Trí Thành Tựu Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Hiệu là
Nhất Thiết Trí Thành Tựu
Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Mười hiệu
này trong nhà Phật là
thông hiệu của chư Phật,
mười hiệu này hiển thị
trí huệ đức năng trên
quả địa Phật. Khi
thành Phật, chứng quả
thì trí huệ, đức năng vô
lượng vô biên, và xưng
tán, tuyên thuyết chẳng
hết. Phật đem vô
lượng vô biên trí huệ,
đức năng trên quả địa
quy nạp thành mười loại,
rồi dùng mười đức hiệu
này để biểu thị.
Mười đức hiệu này chúng
ta nói sơ lược qua:
‘Nhất thiết
trí thành tựu’ là biệt
hiệu của Phật, hết thảy
trí huệ thành tựu rồi.
Từ ‘Như Lai’ trở về sau
cả mười hiệu này là
‘thông hiệu’, mỗi vị
Phật đều có mười danh
hiệu này, đây là việc
chư vị đồng tu phải ghi
nhớ, phải hiểu, đừng
hiểu lầm. Vì có
nhiều người nói [và hỏi]
các vị Phật, ‘vị Phật
nào lớn nhất? Như
Lai Phật lớn nhất’.
Đây là một quan niệm sai
lầm, coi tiểu thuyết
nhiều quá rồi, Tôn Ngộ
Không chẳng nhảy ra khỏi
bàn tay của Như Lai
Phật. Mỗi vị Phật
đều xưng là Như Lai, cho
nên Như Lai là thông
hiệu.
‘Như Lai’
phải giải thích làm sao?
Một cách nói đơn giản
nhất, Phật hiện nay
giống như cổ Phật tái
lai nên gọi là Như Lai.
Phật Phật đạo đồng, khi
thành Phật rồi thì cái
gì cũng bình đẳng, hoàn
toàn tương đồng.
Bồ Tát không thể giống
Bồ Tát, chẳng hoàn toàn
giống nhau, Phật cùng
Phật là hoàn toàn giống
nhau, thế nên mới nói
Phật ngày nay giống như
cổ Phật tái lai.
Nếu nói ý nghĩa đó sâu
thêm, trong kinh Kim
Cang có một cách giải
thích
‘Như Lai giả, chư pháp như
nghĩa’, cách giải
thích này rất hay.
‘Chư pháp như nghĩa’,
chữ ‘như’ này là gì?
Như chính là chân như
bản tánh. Tất cả
hết thảy chư pháp và
chân như bản tánh đều
tương ứng, đó gọi là
‘Như Lai’, ý nghĩa này
nói vô cùng viên mãn,
nếu từ mặt Lý mà nói.
Nói như cổ Phật tái lai
là nói từ mặt Sự.
Còn rất nhiều ý nghĩa
khác, chúng ta lược bớt.
‘Ứng Cúng’,
cúng là cúng dường.
Trong hết thảy mọi
người, Phật là ‘người
thiện’ chân thật cứu
cánh viên mãn, người có
đại trí huệ cứu cánh
viên mãn, đức năng to
lớn, là gương tốt cho
chúng ta, thầy tốt của
chúng ta, đáng được
chúng ta cúng dường;
chúng ta cúng dường ngài
sẽ có phước báo.
Thế nên mới gọi là Ứng
Cứng, đáng được người,
trời cúng dường.
Thông hiệu
thứ ba, ‘Chánh Biến
Tri’. ‘Tri’ là
chẳng có gì không biết,
‘Biến’ là phổ biến,
chẳng có gì ngài chẳng
biết. Không những
biến tri mà còn thật sự
biến tri, những gì ngài
biết chẳng có gì sai
lầm. Hết thảy kinh
pháp do Phật nói đâu thể
nào có sai lầm!
Nếu có sai lầm đại khái
đều vì người sau này
dùng ý tứ riêng của mình
sửa đổi nên mới sanh ra
sai lầm. Thế nên
kinh điển lưu thông đến
ngày hôm nay, được phiên
dịch trải qua mấy ngàn
năm, thời cổ những bản
viết tay khó tránh khỏi
có chữ sai, bỏ sót câu
văn, ngày nay chúng ta
làm những việc này đều
biết, là một chuyện rất
khó khăn. Dù phát
hiện có chữ nào đó trong
kinh có thể chẳng đúng
lắm, là chữ sai, chỗ nào
đó có vấn đề, cũng tuyệt
đối không thể sửa đổi.
Nếu bạn phát hiện ra, có
thể ghi chú ở kế bên,
dùng cách ghi chú ở ven
bìa, nguyên văn không
thể sửa đổi. Đây
là vì đạo lý gì?
Tôi cảm thấy chỗ này
không đúng nên tôi sửa
một chút, bạn cảm thấy
chỗ kia không đúng nên
sửa một chút, vậy thì
thôi rồi, thêm vài chục
năm nữa cuốn kinh này
hoàn toàn bị sửa đổi mất
hết, chẳng thể đọc tụng
được nữa. Thế nên
cho dù có sai lầm cũng
không thể sửa đổi, chỉ
có thể chú thích thêm.
Những đại đức từ xưa đến
nay đã làm được rất hoàn
hảo, họ phát hiện có chữ
sai, chữ đó có thể là
chữ gì hoặc chữ đó đáng
lý phải là chữ gì, họ
chú thích ở kế bên,
chẳng sửa đổi nguyên
văn, giữ bộ mặt sẵn có
lúc ban đầu vĩnh viễn
được lưu truyền mãi mãi,
làm lợi ích cho hàng hậu
học. Đây là một
cách làm có trách nhiệm
đối với lịch sử, đối với
chúng sanh, chúng ta
phải học theo, đây là
Chánh Biến Tri.
Một số tín
đồ tôn giáo khen ngợi
Thượng Đế là toàn năng,
toàn tri, Chánh Biến Tri
chính là toàn năng, toàn
tri. Nói thật ra,
Thượng Đế thật chẳng
phải toàn năng, toàn
tri, Phật mới toàn năng
toàn tri. Phật là
ai? Phật là chân
tâm bản tánh của chúng
ta, chân tâm bản tánh
của chúng ta mới thật sự
là toàn năng, toàn tri.
Vì tận hư không, trọn
khắp pháp giới đều là
tâm tánh biến hiện mà
ra, tâm tánh làm gì
không biết được, làm gì
không nổi? Thế nên
đây là một cách nói rất
hợp lý. Nếu tâm
tánh của chúng ta hoàn
toàn thấu lộ ra rồi,
hoàn toàn hiển thị ra,
đối với quá khứ, vị lai
của cả vũ trụ đích thật
đều là chánh biến tri,
đây chẳng phải giả.
‘Minh, Hạnh
Túc’, ‘Túc’ là viên mãn,
‘Minh’ tượng trưng trí
huệ, ‘Hạnh’ tượng trưng
cho tu học, hai thứ đều
viên mãn, đây là dùng
danh từ Phật pháp để
nói, tánh tu viên mãn.
Minh là Bát Nhã trí huệ
của tự tánh, là tánh
đức; Hạnh là tu đức.
Lúc còn chưa viên mãn
thì gọi là Bồ Tát, đã
viên mãn thì gọi là
Phật. Cũng có thể
xem như Giải Hạnh viên
mãn, ‘Minh’ là Giải,
‘Hạnh’ là tu hành, Giải
Hạnh viên mãn.
‘Thiện
Thệ’, trong Đại Thừa
kinh điển thường gọi là
‘Vô Trụ Niết Bàn’.
Vô Trụ Niết Bàn đích
thật là Thiện Thệ, tại
sao? ‘Thiện’ này
chẳng trụ sanh tử, chẳng
trụ Niết Bàn, vậy mới
gọi là Thiện. Phàm
phu trụ sanh tử, chẳng
thiện, chết rồi lại đầu
thai, chẳng thiện.
Nhị Thừa trụ Niết Bàn
cũng chẳng thiện, đọa
cái hố Vô Vi, chẳng khởi
tác dụng. Phật
cùng đại Bồ Tát là
thiện. Sanh tử,
Niết Bàn hai bên đều
chẳng trụ, như vậy mới
thật sự là Thiện Thệ.
Chẳng trụ Niết Bàn nên
ngài tùy loại hóa thân,
nên dùng thân gì để độ
thì ngài hiện thân ấy.
Chẳng trụ sanh tử, tuy
độ chúng sanh, tuy hóa
hiện nhiều thân độ hết
thảy chúng sanh, mảy
trần chẳng nhiễm, trong
tâm sạch sẽ, làm mà
không làm, không làm mà
làm. Cũng nói
không những chẳng chấp
trước trên sự tướng,
trong tâm cũng chẳng lưu
dấu vết, đây tức là
chẳng trụ sanh tử.
Chư vị phải biết, chẳng
trụ sanh tử chính là trụ
Niết Bàn, chẳng trụ Niết
Bàn chính là trụ sanh
tử. Ngài cả hai
bên đều chẳng trụ, hai
bên viên dung, chân
chánh gọi là ‘đại Niết
Bàn’, đây là đại Niết
Bàn trên quả địa Như
Lai; Đại Niết Bàn là cả
hai bên sanh tử và Niết
Bàn đều chẳng trụ.
‘Thế Gian
Giải’. ‘Thế Gian’,
quy mô nhỏ là lục đạo,
mở rộng ra là thập pháp
giới, mở rộng thêm nữa
thế và xuất thế gian là
tận hư không, trọn khắp
pháp giới, Phật đều
biết, chẳng có một việc
gì ngài chẳng hiểu, thế
nên ngài được xưng là
Thế Gian Giải. ‘Vô
Thượng Sĩ’, ‘Sĩ’ người
hiện nay gọi là phần tử
trí thức, thời xưa gọi
là người đọc sách, đọc
sách hiểu lý.
Trong số người đọc sách,
ngài cao nhất, trên
nhất, chẳng có ai cao
hơn, trên ngài; ngày nay
nói trong số phần tử trí
thức, ngài đạt đến đỉnh
chót vót, chẳng có ai
cao hơn ngài.
‘Điều Ngự
Trượng Phu’, danh hiệu
này được kiến lập từ sự
thiện xảo phương tiện
trong việc giáo hóa
chúng sanh của ngài.
Phật có trí huệ, có năng
lực, có sự khéo léo, có
thể điều phục tâm chúng
sanh, có thể giúp chúng
sanh đoạn ác tu thiện,
đây là giống như giá ngự
(cầm cương điều khiển).
‘Trượng phu’ là đại
trượng phu, cùng nghĩa
với ‘anh hùng’, hoàn
toàn tương đồng.
Những gì người khác làm
không nổi, ngài có thể
làm được, như vậy xưng
là đại trượng phu.
Ngài là Điều Ngự Trượng
Phu, có thể điều phục
chúng sanh trong chín
pháp giới, giúp họ giác
ngộ, giúp họ đoạn phiền
não, liễu sanh tử, xuất
Tam giới, thành Phật,
làm Tổ; Phật có năng lực
này. Đây là được
kiến lập trên đức năng.
‘Thiên Nhân
Sư’, Sư là sư phạm
(làm bậc thầy, làm gương
mẫu).
Hết thảy chư thiên, lấy
một chữ Thiên, một chữ
Nhân nghĩa là bao gồm
hết cả lục đạo.
Ngài là mô phạm, biểu
suất (có nghĩa là nêu
gương, dẫn đầu) cho hết
thảy chúng sanh trong
lục đạo, hết thảy chúng
hữu tình trong thập pháp
giới.
‘Phật’, chữ
này mọi người đều hiểu
rõ, đều minh bạch, là
chữ dịch âm từ Phạn văn
Ấn Độ. Ý nghĩa là
giác ngộ, hàm ý tự giác,
giác tha. Tự mình
giác ngộ, giúp người
khác giác ngộ, giác hạnh
viên mãn. Nếu chỉ
cầu tự giác, chẳng giúp
người khác là Tiểu Thừa,
A La Hán. Tự mình
giác ngộ và giúp người
khác giác ngộ là Bồ Tát.
Nếu tự giác, giác tha
đều viên mãn thì được
gọi là Phật, đây chính
là ý nghĩa của chữ Phật.
Làm thế nào mới kể là
viên mãn? Bồ Tát
‘tự giác’ có thể viên
mãn rồi, ‘giác tha’ thì
vẫn còn rất nhiều chúng
sanh chưa được độ, vậy
thì làm sao viên mãn?
Chư vị phải biết, sự
viên mãn này, Bồ Tát
giác tha vẫn là giúp cho
chính mình giác ngộ.
Chúng ta thường nói thầy
giáo dạy học trò, giáo
học giúp đỡ lẫn nhau
cùng tiến bộ. Đến
lúc nào mới viên mãn?
Trong quá trình giáo
học, tuy thời gian chúng
ta tự tu học chẳng dài,
trong vòng mười mấy năm,
mấy mươi năm, nhất định
có sự thể hội.
Chúng ta được một số học
sinh, một số đến cật
vấn, giúp đỡ cho chúng
ta rất nhiều. Có
một số vấn đề trọng đại,
người ta không hỏi thì
tự mình chẳng bao giờ
nghĩ đến; một khi họ vừa
hỏi, chúng ta mới nghĩ
đến. Coi tự mình
có trí huệ hay không?
Có trí huệ có thể trả
lời, không có trí huệ
thì phải mau đi tìm tài
liệu, đi thỉnh giáo
người khác, đây là giúp
đỡ chính mình, do đó
giáo học đích thật giúp
đỡ lẫn nhau cùng tiến
bộ.
Bồ Tát phải
đoạn Kiến Tư phiền não,
Trần Sa phiền não, phải
phá Căn bản Vô minh, nếu
chẳng nhờ hết thảy chúng
sanh giúp đỡ, họ cũng
chẳng có biện pháp chi.
Do đó trong quá trình
dạy học, hết thảy chúng
sanh giúp họ khai mở trí
huệ, đoạn phiền não, thì
họ mới chứng được Vô
Thượng Bồ Đề, như vậy
gọi là viên mãn.
Họ viên mãn xong thì mới
có thể viên mãn độ hết
thảy chúng sanh.
Chúng sanh được độ phải
nhờ duyên phận, Phật
chẳng độ người vô duyên.
‘Viên mãn’ trên sự độ
chúng sanh, họ có khả
năng độ Đẳng Giác chúng
sanh thì gọi là viên
mãn, họ thành Phật rồi.
Bồ Tát chẳng thể gọi là
viên mãn, tại sao?
Đẳng Giác Bồ Tát có thể
độ Thập Địa trở xuống,
chẳng thể độ Đẳng Giác,
vậy thì độ chúng sanh
chẳng viên mãn, hóa tha
chẳng viên mãn.
Sau khi thành Phật, ngài
có năng lực dạy hết thảy
chúng sanh, như vậy mới
gọi là viên mãn, ‘giác
hạnh viên mãn’ là có ý
nghĩa này. Có khả
năng độ Đẳng Giác chúng
sanh thì chẳng có gì
không thể độ, độ chúng
sanh viên mãn là như
vậy.
‘Thế Tôn’,
đầy đủ mười đức hiệu kể
trên thì được xưng là
Thế Tôn. Người
trong thế gian, xuất thế
gian đều tôn trọng ngài,
tôn kính ngài, ngài có
trí huệ và đức năng này
nên được xưng là Thế
Tôn. Giống như
ngày nay chúng ta xưng
người ta một cách khách
sáo: ‘Vị tôn kính’.
Tôn nghĩa là tôn kính,
thêm chữ Thế Tôn tức là
hết thảy chúng sanh đều
tôn kính, ý này rất
rộng, rất sâu.
Kỳ Phật thọ
mạng lục vạn kiếp.
Thọ mạng
của đức Phật đó là sáu
vạn kiếp
Trong thời đại đó, thọ
mạng của Phật dài, thọ
mạng của người ta cũng
dài, thọ mạng của Phật
thị hiện nhất định giống
đại chúng. Như
Thích Ca Mâu Ni Phật ba
ngàn năm trước xuất hiện
ở thế gian này của chúng
ta, lão nhân gia thị
hiện bảy mươi chín tuổi
viên tịch, chúng ta quen
nói Phật trụ thế tám
mươi năm, trên thực tế
là bảy mươi chín tuổi.
Nói đến tám mươi tuổi
thì người Trung Quốc gọi
là “hư tuế”
[7],
tám mươi năm! Phật trụ
thế tám mươi năm, giảng
kinh thuyết pháp bốn
mươi chín năm. Đây
là đức Phật Thích Ca Mâu
Ni thị hiện, rất giống
với thọ mạng của con
người ở thế gian này.
Do đó có thể biết ‘Nhất
thiết trí thành tựu Như
Lai’, phước báo của
chúng sanh thời đó lớn,
thọ mạng dài. Từ
đây có thể thấy được
phước báo của chúng sanh
ở địa phương đó, thời
đại đó rât lớn.
Vị xuất gia
thời, vi tiểu quốc
vương, dữ nhất lân quốc
vương vi hữu, đồng hành
thập thiện, nhiêu ích
chúng sanh.
Khi chưa xuất gia, ngài
là vua một nước nhỏ và
kết bạn với vua một nước
lân cận, cùng thực hành
thập thiện, làm lợi ích
cho chúng sanh.
Đây là kể chuyện của
Nhất Thiết Trí Thành Tựu
Như Lai, lúc ngài chưa
xuất gia, thời gian này
quá lâu xưa rồi.
Ngài đã thành Phật,
thành Phật phần lớn gọi
là tu hành, từ phàm phu
tu thành Phật trải qua
một thời gian rất dài.
Đây là nói về chuyện
nhiều kiếp trước lúc
ngài còn tu nhân, ngài
là vua một nước nhỏ, làm
bạn với vua nước lân
cận, hai vị vua nước lân
cận này vô cùng hiếm có,
đều là vua rất tốt.
‘Đồng hành thập thiện,
nhiêu ích chúng sanh’,
họ dùng phương pháp gì
để trị quốc? Dùng
‘thập thiện nghiệp đạo’
để trị quốc, đây là việc
vô cùng hiếm có.
‘Nhiêu ích’, ích là lợi
ích. Vua luôn hy
vọng nhân dân có đời
sống tốt đẹp, nhân dân
chân thật được lợi ích,
hạnh phúc, mỹ mãn.
Nhiêu nghĩa là phong
nhiêu, không những đem
lại lợi ích mà còn đạt
đến rất phong phú, bất
luận là trên đời sống
vật chất, đời sống tinh
thần, đều đạt đến mức
đầy đủ, vậy mới gọi là
nhiêu ích. Có thể
thấy tâm của vua thiện
phi thường.
Kỳ lân quốc
nội, sở hữu nhân dân, đa
tạo chúng ác.
Nhân dân trong nước lân
cận đa số tạo nhiều việc
ác.
Lân quốc là những quốc
gia cùng ranh giới với
họ, nhân dân những nước
đó tạo tác ác nghiệp.
Hai nước của họ thì tốt
hơn, hai vùng đất đó
tốt, vua dạy dân rất
đàng hoàng. Quốc
vương đời xưa, theo tiêu
chuẩn của nhà Nho có ba
điều: ‘Tác chi quân’,
quân là quân chủ, là
người lãnh đạo quốc gia.
‘Tác chi thân’, người
lãnh đạo là cha mẹ của
dân chúng, phải dùng tâm
cha mẹ thương yêu con
cái để đối đãi với dân
chúng trong nước, thương
dân như con, phải bảo hộ
họ, dưỡng dục họ.
Còn phải: ‘tác chi sư’,
là thầy giáo của nhân
dân, gương tốt của nhân
dân, khuôn mẫu của nhân
dân. Vậy mới là
một người lãnh đạo tốt
nhất, làm cho nhân dân
toàn quốc thật sự hưởng
được phước báo.
Hưởng phước của ai?
Phước của người lãnh
đạo, họ dạy được tốt.
Cũng là nói về ‘sư
phạm’, lúc trước chỗ vua
ở gọi là Kinh Sư; ‘Kinh’
nghĩa là lớn, ‘sư’ là sư
phạm, thành thị mô phạm.
Thành thị cả nước lấy
Kinh Sư làm gương mẫu,
mô phạm nên gọi là ‘sư’.
Danh xưng thật tốt, dụng
ý thật hay, thế nên
chúng ta đừng coi thường
việc chuyên chế của đế
vương đời xưa, nếu bạn
coi thường thì là sai
lầm. Ngày nay
chúng ta đến hoàng cung
ở Bắc Kinh coi thử, chỗ
làm việc trong hoàng
cung gọi là đại điện, là
nơi vua hội họp, tập hội
làm việc, gọi là gì?
Thái Hòa Điện.
Phía sau Thái Hòa Điện
là Trung Hòa Điện, sau
đó là Bảo Hòa Điện, ba
ngôi kiến trúc chính
này: Thái Hòa, Trung
Hòa, Bảo Hòa. Họ
dùng tâm gì? Dùng
tâm thái gì để đối với
nhân dân toàn nước?
Dùng ‘Hòa’, trên dưới
hòa mục, cả nước một
luồng hòa khí, vậy thì
quốc gia này đâu có lý
nào chẳng hưng vượng
được? Nhà Phật
chúng ta nói về Lục Hòa,
họ nói về Tam Hòa.
Thánh nhân thế gian và
xuất thế gian đều dạy
‘hòa là quý nhất’, chúng
ta phải hiểu ý này, thế
nên đây thật sự là thánh
chủ, hiền vương.
Nếu người nối ngôi, con
cháu đời sau, đều tuân
thủ theo nguyên tắc này
thì triều đại này sẽ
vĩnh viễn truyền mãi đến
đời sau, đâu thể diệt
vong được? Người
đời sau không tuân thủ,
làm xằng làm bậy, quốc
gia này bèn diệt vong,
chánh quyền bị lật đổ,
chúng ta nhất định phải
hiểu đạo lý này.
Hai vị vua này tốt nên
quốc gia của họ cũng
tốt. Nhưng những
quốc gia lân cận thì
không vậy, nhân dân tạo
ác, tạo tội thì đương
nhiên phải chịu quả báo.
Hôm nay đã hết giờ,
chúng ta tạm ngưng ở
đây.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin thành
thật cám ơn.
Một nhóm
Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng
9-2006