Tập 7 (Số 14-12-07)
Xin mở kinh. Lần
trước giảng tới đoạn đức
Phật dạy cô Bà La Môn
dùng pháp môn Niệm Phật
sẽ biết được mẹ mình sau
khi chết thần hồn thác
sanh vào cõi nào.
Chúng ta biết Phật pháp
Ðại Thừa, Tiểu Thừa,
pháp môn vô lượng vô
biên, môn nào cũng có
thể thành Vô Thượng Ðạo.
Tại sao Phật chẳng dạy
cô dùng phương pháp Tham
Thiền, Trì Giới, Trì Chú?
Tại sao không dạy những
pháp môn này mà lại đặc
biệt dạy pháp môn Niệm
Phật, chúng ta nhất định
phải hiểu hàm ý ở đây.
Bất cứ pháp môn nào cũng
có thể đạt được Ðịnh,
đều có thể khai Huệ,
tổng cương lãnh của việc
tu học Phật pháp tức là
Ðịnh, Huệ, chư vị nhất
định phải hiểu việc này.
Cho nên vô lượng pháp
môn đều là phương pháp
tu Ðịnh, Huệ, đều là
cánh cửa để khai trí huệ,
phương pháp và cửa vào
chẳng giống nhau, nhưng
mục tiêu đạt được hoàn
toàn giống nhau.
Trong ấy đích thật có sự
sai khác dựa trên căn
tánh khó hay dễ, duy chỉ
có pháp môn Niệm Phật là
bao trùm cả ba căn, bất
luận là lợi căn [hay]
độn căn, hơn nữa thành
tựu nhanh chóng, ổn thỏa,
thích đáng, dễ dàng, thế
nên Phật dùng pháp môn
này để dạy cô. Cô
quả thật rất giỏi, nếu
nói theo pháp môn của
chúng ta, cô thuộc về
người hạng căn tánh
thượng đẳng; vì cô chỉ
niệm một ngày một đêm
liền đạt được nhất tâm
bất loạn, được Ðịnh.
Trong Ðịnh, cảnh giới
hiện tiền, chỉ có cô mới
có thể nhìn thấy.
Nếu Phật nói cho cô biết
mẹ cô đã sanh lên trời
Ðao Lợi được ba ngày rồi,
chưa chắc cô có thể tin
tưởng, vì chẳng chắc
thật. Cô nghĩ có
lẽ Phật thấy cô rất đáng
thương nên an ủi mình,
chưa chắc đã là thiệt.
Nhưng Phật chẳng nói dối,
nhất định phải là thiệt.
Lòng tin này chẳng chắc
thật. Cô đích thân
đến địa ngục để xem, thế
thì chẳng nói lời nào
được nữa.
Hơn nữa mẹ cô làm sao có
thể sanh lên trời?
Nhất định chẳng do Phật
lực, hôm qua [tôi] đã
nói với chư vị.
Nhờ tăng thượng duyên
của mẹ giúp cho cô dũng
mãnh tinh tấn, nội trong
một ngày có thể thành
tựu Niệm Phật Tam Muội,
mẹ cô nhờ công đức này
nên được sanh lên trời.
Nếu cô chẳng thể dũng
mãnh tinh tấn, chẳng đạt
được Niệm Phật Tam Muội,
thì mẹ cô chẳng được
phước lớn như vậy.
Phước của mẹ cô lớn hay
nhỏ là dựa trên công phu
tu trì của cô sâu hay
cạn. Lý luận này
mới hợp tình, hợp lý,
hợp pháp. Thế nên
thời xưa khi con cháu đỗ
đạt vinh hiển, cha mẹ và
tổ tiên của người ấy đều
được triều đình phong
thưởng; tại sao triều
đình phải phong thưởng
cha mẹ, tổ tiên?
Chúng ta thấy trong lịch
sử khi triều đình phong
quan, tuy cha mẹ của
người ấy chẳng còn tại
thế, đã qua đời, đều
phong tước vị cho cha mẹ
bằng với tước vị của
người ấy. Tại sao?
Người ấy là hiếu tử,
thành tựu của ông ấy là
nhờ cha mẹ dạy dỗ, ông
ấy vì muốn báo ân cha mẹ
nên mới dũng mãnh tinh
tấn; cha mẹ, ông bà đối
với ông ấy đều là tăng
thượng duyên thiện, là
đạo lý như vậy nên triều
đình mới phong thưởng.
Ði khắp nơi trong các
cõi nước của chư Phật,
hư không pháp giới, đạo
lý này đều được hết thảy
chúng sanh khẳng định,
chân lý vĩnh hằng chẳng
thay đổi chính là ở chỗ
này. Ðọc kinh này
xong chúng ta mới biết
làm sao siêu độ, siêu độ
sẽ được lợi ích gì, đây
là thật chẳng giả.
Kinh Ðịa Tạng là kinh
căn bản của Ðại Thừa
Phật pháp, thật ra phải
giảng kỹ nhưng thời gian
có hạn, chúng tôi chỉ
giảng hai mươi buổi, bốn
mươi giờ, chẳng thể nói
kỹ. Tương lai
chúng tôi nhất định sẽ
tìm thời gian giảng kỹ
hơn, đây là pháp căn bản
cho sự tu học của chúng
ta, nhất định không được
coi thường. Chúng
ta xem tiếp kinh văn:
Thời Bà La Môn nữ tầm lễ
Phật dĩ, tức quy kỳ xá,
dĩ ức mẫu cố.
Lúc đó Thánh Nữ Bà La
Môn lễ Phật xong liền
trở về nhà. Vì nhớ
mẹ.
Câu này
quan trọng. Tại
sao có thể y giáo phụng
hành? Tại sao có
thể ‘ngồi ngay ngắn
niệm’, ngồi ngay ngắn
tức là dùng tâm chân
thành, nhất tâm niệm
Phật. ‘Vì nhớ mẹ’
tức là phát tâm Bồ Ðề,
tương ứng với nguyên tắc
của kinh Vô Lượng Thọ:
‘Phát Bồ Ðề Tâm, Nhất
hướng chuyên niệm’.
Ðoan tọa
niệm Giác Hoa Ðịnh Tự
Tại Vương Như Lai.
Kinh nhất nhật nhất dạ.
Ngồi ngay thẳng niệm
Giác Hoa Ðịnh Tự Tại
Vương Như Lai.
Trải qua một ngày một
đêm.
Cô không ngủ, không
nghỉ! Trong Tịnh
Ðộ Thánh Hiền Lục chúng
ta thấy pháp sư Oánh Kha
đời Tống, truyện ký ghi
vị tỳ kheo phá giới này
đã làm rất nhiều ác
nghiệp. Ưu điểm
của ông là tự mình biết
đã tạo ác quá nhiều nên
tương lai nhất định sẽ
đọa địa ngục. Ðã
biết rồi tại sao còn tạo
nghiệp? Vì tập khí
quá nặng, khi gặp ác
duyên chẳng thể tự kiềm
chế. Nhưng ông
biết tương lai đọa địa
ngục rất dễ sợ, nghĩ đến
quả báo này nên ông rất
sợ. Ông hỏi những
đồng tham đạo hữu, họ
cho ông một cuốn Vãng
Sanh Truyện. Coi
xong ông rất cảm động,
đóng cửa lại niệm Phật,
không ngủ, không ăn,
cũng không uống nước,
niệm suốt ba ngày ba
đêm, A Di Ðà Phật đến.
Kinh Di Ðà nói nếu
[niệm] một ngày, nếu hai
ngày, nếu ba ngày đến
bảy ngày, chúng ta thấy
được, đây là thật chẳng
giả. Chúng ta niệm
Phật hết bảy ngày, niệm
hết bảy lần bảy ngày
nhưng cũng không thấy
Phật, đó là vì chẳng
đúng như pháp, vừa niệm
vừa khởi vọng tưởng, tạp
niệm, cho nên chẳng có
cảm ứng. Niệm Phật
đúng cách thì một tạp
niệm cũng chẳng có.
Giống pháp sư Oánh Kha
vì sợ đọa địa ngục, cứu
mạng khẩn cấp nên chẳng
khởi một tạp niệm, đây
là người có căn tánh
hạng trung bình.
Thánh Nữ Bà La Môn là
người thượng căn, một
ngày một đêm liền thành
tựu, pháp sư Oánh Kha ba
ngày ba đêm thành tựu,
chí thành khẩn thiết cảm
động Phật đến ứng.
Ðây là một ngày một đêm
đạt được Niệm Phật Tam
Muội, được Sự Nhất Tâm
Bất Loạn.
Hốt kiến tự
thân đáo nhất hải biên,
kỳ thủy dũng phất, đa
chư ác thú tận phục
thiết thân, phi tẩu hải
thượng đông tây trì
trục. Kiến chư nam
tử nữ nhân bá thiên vạn
số, xuất một hải trung,
bị chư ác thú tranh thủ
thực đạm.
Bỗng
thấy thân mình đến một
bờ biển, nước biển sôi
sùng sục, có nhiều thú
dữ toàn thân bằng sắt
bay nhảy trên biển, chạy
qua chạy lại đuổi nhau,
lại thấy nhiều người
trai và gái, số nhiều
đến trăm ngàn muôn,
thoạt chìm thoạt nổi
trong biển, bị các thú
dữ tranh giành ăn nuốt.
Ðây là cảnh
giới trong Ðịnh, cô thấy
được hiện tượng địa
ngục, thấy những người
này đang thọ tội, chúng
ta xem đoạn kinh tiếp
theo:
Hựu kiến Dạ Xoa.
Lại thấy Dạ Xoa
Dạ Xoa là ác quỷ trong
địa ngục.
Kỳ hình các
dị
Hình dáng khác nhau
Hình dáng kỳ quái
Hoặc đa thủ
đa nhãn, đa túc đa đầu,
khẩu nha ngoại xuất, lợi
nhận như kiếm.
Hoặc nhiều tay nhiều
mắt, nhiều chân nhiều
đầu, răng mọc chìa ra
ngoài, bén nhọn như gươm
‘Lợi nhận như kiếm’ [ý]
nói răng của họ bén
nhọn.
Khu chư ác
nhân sử cận ác thú.
Lùa những tội nhân đến
gần thú dữ
Thú dữ trong địa ngục
rất nhiều, đều đang ăn
thịt tội nhân.
Ðương nhiên tội nhân
nhìn thấy thú dữ thì
chạy! Những quỷ Dạ
Xoa xua đuổi, bắt những
tội nhân này lại cho thú
dữ ăn thịt, không phải
chỉ xua đuổi mà thôi.
Phục tự bác
quặc
Lại tự chụp bắt.
‘Bác quắc’ là đánh bằng
roi, lôi kéo rồi liệng.
Ðầu túc
tương tựu, kỳ hình vạn
loại, bất cảm cửu thị.
Túm quắp đầu và chân
lại, hình trạng muôn
thứ, chẳng dám nhìn lâu.
‘Chẳng dám nhìn lâu’,
không nhẫn tâm nhìn thấy
cảnh ấy, nhìn thấy trong
lòng tê tái. Ðây
là cảnh tượng những
người tạo ác nghiệp
trong thế gian này, đọa
địa ngục chịu khổ.
Thánh Nữ Bà La Môn đích
thân nhìn thấy.
Ðoạn kinh kế tiếp:
Thời Bà La
Môn nữ dĩ niệm Phật lực
cố tự nhiên vô cụ.
Lúc ấy Thánh nữ Bà La
Môn nhờ sức niệm Phật
nên tự nhiên không sợ
hãi.
Cô nhìn thấy hiện tượng
địa ngục, nhờ sức Niệm
Phật Tam Muội giúp cô
nhìn cảnh tượng này mà
chẳng sợ hãi.
Nhưng khởi lòng thương
xót, chẳng nhẫn tâm nhìn
thấy trạng thái bi thảm
này. Vào đến địa
ngục, trong ấy cũng có
người đến tiếp chuyện
với cô.
Hữu nhất
quỷ vương, danh viết Vô
Ðộc, khể thủ lai nghinh,
bạch Thánh Nữ viết Thiện
Tai Bồ Tát hà duyên lai
thử.
Có một quỷ vương tên là
Vô Ðộc, cúi đầu nghinh
đón, hỏi Thánh Nữ rằng:
‘Lành thay, Bồ Tát!
Duyên gì đến đây?’
Cảnh giới địa ngục chỉ
có hai hạng người thấy
được: một là tội nhân
đến đó để chịu tội; hai
là Bồ Tát đến đó độ hóa
chúng sanh, chỉ có hai
hạng người này.
Trừ hai hạng này ra, địa
ngục ở ngay trước mặt
bạn cũng chẳng nhìn
thấy. Lúc trước
lão cư sĩ Châu Kính Trụ
kể cho tôi nghe một câu
chuyện, chuyện này có
thật, cụ viết trong sách
của cụ. Nhân vật
chính trong câu chuyện
này là cha vợ của cụ,
tức là ông Chương Thái
Diệm. Lúc ông
Chương còn sống đã từng
làm chức phán quan cho
Ðông Nhạc đại đế, dùng
cách nói hiện nay tức là
Bí Thư trưởng, địa vị
rất cao. Ở Trung
Quốc có năm ngục, năm
ngục này có đại quỷ
vương, quản trị năm sáu
tỉnh, địa vị của ông
Chương chỉ thấp hơn Diêm
La Vương. Diêm La
vương cũng giống như ông
vua cai trị toàn quốc,
còn ông giống như một
Chư Hầu, cai trị một
vùng, lớn hơn một tỉnh.
Ông Chương là một người
học Phật, biết hình phạt
trong địa ngục rất thê
thảm, vô cùng tàn khốc.
Ông có tâm nhân từ, một
ngày nọ đề nghị với Ðông
Nhạc đại đế xin phế trừ
hình phạt Bào Lạc trong
địa ngục; Bào Lạc là gì?
Ðốt cột sắt cho nóng đỏ
lên rồi bắt tội nhân ôm
cột, vô cùng tàn khốc,
chúng ta gọi là hình
phạt chẳng nhân đạo; hy
vọng Ðông Nhạc đại đế có
lòng nhân từ, phế bỏ
hình phạt tàn khốc này.
Ðông Nhạc đại đế chẳng
nói gì hết chỉ sai hai
tiểu quỷ dẫn ông Chương
đi đến chỗ xử phạt để
xem. Ông Chương
liền đi theo hai tiểu
quỷ này, đại khái là đi
hết một đoạn đường rồi
hai tiểu quỷ này nói với
ông: ‘Tới rồi, chỗ xử
phạt ở đó kìa’.
Ông nhìn về phía ấy
nhưng không thấy gì cả,
lúc đó ông mới vỡ lẽ, tự
nhiên hiểu được.
Kinh Phật nói đây là
cảnh giới do nghiệp lực
biến hiện ra, chẳng phải
do Diêm La vương thiết
lập, Diêm La vương chẳng
có cách gì phế trừ, là
do nghiệp lực biến hiện
ra, từ đây mới hiểu đạo
lý giảng trong kinh
Phật.
Những cảnh giới trong
địa ngục này, những dụng
cụ tra tấn, dạ xoa, ác
quỷ đều là hình tướng do
ác nghiệp của mình biến
hiện tạo nên, cũng như
nằm mộng vậy; Tướng có
nhưng Thể không, Sự có
nhưng Lý không, cảnh
tượng sai khác muôn vàn,
đều là do ý niệm vọng
tưởng biến hiện ra.
Thế nên Phật dạy rất
hay:
‘Hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh’, tam ác
đạo cũng từ tâm tưởng
sanh, tại sao trong tâm
có ác niệm! Chúng
ta hiểu được đạo lý này
rồi mới biết. Nếu
chẳng muốn nhìn thấy tam
ác đạo thì nhất định
phải dứt trừ những ác
niệm trong tâm, không
những không thể nói lời
ác, thân không thể tạo
ác nghiệp, ý niệm cũng
không được khởi lên.
Hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh, hết thảy
cảnh giới đều là ‘pháp’,
chẳng có một chuyện gì
chẳng từ tâm tưởng sanh.
Người có định lực nhìn
thấy, Thánh nữ Bà La Môn
vừa chứng Niệm Phật Tam
Muội vì cô nhớ mẹ nên
cảnh giới này liền hiện
ra. Vô Ðộc quỷ
vương đến tiếp đón cô.
Khể thủ là lễ bái, tiếp
đón cô rất lễ phép.
Hỏi cô: “Lành thay Bồ
Tát’, Thiện Tai là xưng
tán, hiếm có dịp được Bồ
Tát quang lâm đến địa
ngục, chẳng biết vì
nguyên nhân gì mà ngài
đến đây?” Xin xem
tiếp kinh văn:
Thời Bà La
Môn nữ vấn quỷ vương
viết, thử thị hà xứ.
Vô Ðộc đáp viết thử thị
Ðại Thiết Vi Sơn, Tây
diện đệ nhất trùng hải.
Lúc đó Thánh nữ Bà La
Môn hỏi quỷ vương: ‘Ðây
này là nơi nào’?
Vô Ðộc trả lời: ‘Ðây là
tầng biển thứ nhất ở
phía tây núi Ðại Thiết
Vi’.
Ðây là cảnh giới cô nhìn
thấy. ‘Núi Ðại
Thiết Vi’ rốt cuộc là ở
chỗ nào? Trong
kinh Phật nói ở chính
giữa Tứ Ðại Bộ Châu là
núi Tu Di, núi Tu Di rốt
cuộc là ở đâu? Bảy
tầng núi, tám tầng biển,
bảy tầng núi ở đâu?
Trong kinh nói biển nước
mặn, chúng ta hiện nay
thấy nước biển có vị
mặn. Cảnh Phật nói
chẳng phải cảnh giới của
phàm phu chúng ta, phàm
phu chúng ta chẳng nhìn
thấy. Chuyện này
có thật không?
Chắc chắn là thật.
Tại sao chúng ta chẳng
nhìn thấy? Chúng
ta chẳng có khả năng đột
phá các tầng lớp không
gian, nếu chúng ta có
công phu định lực, có
thể nhìn thấy không gian
bốn chiều, năm chiều,
sáu chiều, thì những
chân tướng sự thật này
sẽ phơi bày trước mắt.
Ðịa ngục này, tầng biển
thứ nhất ở phía tây của
núi Thiết Vi, Thánh nữ
có thể nhìn thấy trong
Ðịnh, giới hạn trong
Ðịnh đã bị đột phá.
Chúng ta biết ở Trung
Quốc vào đời Ðường, Trí
Giả đại sư đọc kinh Pháp
Hoa nhập định, trong
Ðịnh ngài nhìn thấy núi
Linh Thứu, thấy đức Phật
Thích Ca Mâu Ni giảng
kinh Pháp Hoa ở núi Linh
Thứu, ngài còn ở lại
nghe một buổi. Ðây
là nói trong lúc nhập
định, ngài đã siêu việt
thời gian. Trí Giả
đại sư cách Phật Thích
Ca khoảng một ngàn bảy
trăm năm, đây là nói
ngài có thể quay trở về
quá khứ; tự mình ở núi
Thiên Thai, ngồi ở đó
như như chẳng động, ngài
có thể nhìn thấy núi
Linh Thứu ở Ấn Ðộ, đây
là siêu việt không gian.
Do đó chỉ cần có công
phu định lực, trong Ðịnh
chẳng còn phân biệt,
chấp trước nữa thì có
thể đột phá thời gian và
không gian. Thời
quá khứ và hiện nay có
nhiều người tu Ðịnh đều
có khả năng này, đây là
việc chúng ta có thể tin
được. Huống chi là
Thánh nữ Bà La Môn chân
thành, khẩn thiết, dũng
mãnh tinh tấn, đạt được
Niệm Phật Tam Muội, thế
nên cô nhìn thấy cảnh
giới địa ngục. Hãy
xem đoạn kinh tiếp theo:
Thánh nữ
vấn viết, ngã văn Thiết
Vi chi nội địa ngục tại
trung, thị sự thật phủ.
Thánh nữ hỏi: ‘Tôi nghe
trong núi Thiết Vi có
địa ngục, việc ấy có
thật không?’
‘Tôi nghe’ nghĩa là lúc
trước thường đọc kinh,
nghe kinh, nghe trong
kinh Phật nói biển lớn
trong núi Thiết Vi có
đại địa ngục. Hỏi
rằng: đó phải là sự thật
hay chăng? Từ đây
có thể thấy tuy thường
nghe kinh, thường đọc
kinh, cũng tin tưởng lời
Phật giảng, nhưng vẫn
đánh dấu hỏi như thường.
Nếu không hoài nghi, đến
chỗ này còn hỏi quỷ
vương làm gì!
Chẳng cần hỏi họ.
Do đó mới biết khó xây
dựng lòng tin dường nào,
trong kinh điển Ðại
Thừa, đại kinh đại luận
như Hoa Nghiêm, Ðại Trí
Ðộ Luận, đức Phật nhiều
lần nói rõ lòng tin rất
khó được, ‘lòng tin là
mẹ của công đức, cội
nguồn của đạo
[1]’.
Cội nguồn của Bồ Tát tu
hành chứng đạo là ở tại
lòng tin, lòng tin chân
chánh được xây dựng,
chẳng lay động thì tu
hành chứng quả đâu cần
ba đại a-tăng-kỳ kiếp?
Chẳng cần lâu như vậy.
Lòng tin của phàm phu
chúng ta được gọi là
‘đạo tâm như sương móc’
(lộ thủy đạo tâm), rất
dễ bị lay động, một cơn
gió thổi nhẹ thì lòng
tin bay mất tiêu rồi,
vậy thì còn thành tựu gì
nữa! Trong kinh
chúng ta đọc được rất
nhiều, chúng ta cũng
thấy rất nhiều, từ xưa
đến nay thế pháp, Phật
pháp, bất hiếu cha mẹ,
bội sư phản đạo, nếu có
thành tựu thì đều lọt
vào Ma đạo, sau này
chẳng thành tựu trong
Phật đạo, mà là [thành
tựu trong] Ma đạo, chúng
ta tin hay không?
Những thứ này đều do
Phật nói trong kinh, là
do Ma nhiếp trì.
Chánh pháp nhất định là
từ hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng sự sư trưởng, y
theo lời dạy mà tu học
đúng như lý, như pháp
thì mới thành tựu.
Ðây là chuyện chúng ta
không thể không hiểu khi
đọc kinh luận Ðại Thừa,
không thể không lắng
lòng thể hội. Hãy
xem tiếp câu trả lời của
Vô Ðộc:
Vô Ðộc đáp viết, thật
hữu địa ngục.
Vô Ðộc trả lời: ‘Ðịa
ngục có thật’
Trả lời một cách vô cùng
khẳng định, đích thật là
có địa ngục. Nói
thật ra trong sáu nẻo,
những nẻo khác tạo ác
ít, cơ hội tạo ác ít,
còn trong thế gian này
cơ hội tạo ác quá nhiều.
Thiên nhân thì hiếu
thiện hiếu đức, chỉ có A
Tu La tập khí chưa đoạn
vẫn còn tiếp tục tạo ác.
Chúng sanh trong ác đạo,
chúng ta gọi là cõi súc
sanh, cõi ngạ quỷ, cõi
địa ngục chỉ có thọ tội,
hoàn toàn không có cơ
hội tạo ác. Cơ hội
tạo ác trong cõi ngạ quỷ
và cõi súc sanh đều ít,
rắn độc thú dữ tâm ác
độc nhưng nó cũng sát
hại chúng sanh khác
loại, sự sát hại rất hạn
chế, trong một đời nó có
thể sát hại bao nhiêu
sanh mạng? Chúng
ta coi những thú dữ như
sư tử, hổ, khi chúng nó
ăn no rồi, những con thú
nhỏ ở kế bên đi tới đi
lui, hình như nó không
nhìn thấy vậy.
Chúng ta xem thấy trong
chương trình ‘Ðộng vật
kỳ quan’ trên TV, cả đời
nó sát sanh cũng ít, đâu
có bằng con người!
Con người giết hại sanh
mạng không nhất định là
vì miếng ăn, thế nên rất
dễ tạo nghiệp.
Người giết người không
phải vì muốn ăn thịt
người, ngày nay
những võ khí nguyên tử,
một trái bom nguyên tử
dội xuống có thể giết
hại mấy trăm ngàn người,
mấy triệu người, bạn nói
tội nghiệp này nặng bao
nhiêu! Họ làm sao
không đọa địa ngục cho
được! Ðịa ngục từ
đâu đến? Từ ác
nghiệp biến hiện nên,
tuyệt chẳng phải do Phật
tạo ra, cũng chẳng phải
do quỷ thần tạo ra, mà
do nghiệp lực của mình
biến hiện ra.
Chúng ta xem kinh văn:
Thánh nữ
vấn viết ngã kim vân hà
đắc đáo ngục sở.
Thánh nữ hỏi: ‘Tôi làm
thế nào đến được địa
ngục này?’
Thánh nữ hỏi Vô Ðộc quỷ
vương: ‘Tại sao tôi lại
đến chỗ này?’
Chính cô cũng cảm thấy
rất kinh ngạc.
Vô Ðộc đáp viết, nhược
phi oai thần tức tu
nghiệp lực, phi thử nhị
sự chung bất năng đáo.
Vô Ðộc trả lời: ‘Nếu
không phải oai thần thì
phải là nghiệp lực.
Ngoài hai sức này ra thì
trọn chẳng thể đến được’
Vậy là đã nói rõ, giống
như lúc nảy chúng ta nói
về chuyện của ông Chương
Thái Diệm, ông Chương
chẳng tạo nghiệp địa
ngục và cũng chẳng phải
Bồ Tát nên địa ngục ngay
trước mặt nhưng ông
không nhìn thấy.
Nếu chẳng phải hai
nguyên nhân này, đi vô
địa ngục cũng chẳng thấy
gì hết. Nhất định
phải có hai điều kiện:
thứ nhất là ‘oai thần’,
đó là Bồ Tát đến địa
ngục để độ hóa chúng
sanh, họ có thể thấy;
thứ hai là ‘nghiệp lực’,
tức là tội nghiệp đọa
địa ngục, quả báo hiện
ra.
Thánh nữ hựu vấn, thử
thủy hà duyên nhi nãi
dũng phất, đa chư tội
nhân cập dĩ ác thú.
Thánh nữ
lại hỏi: ‘Do duyên gì mà
nước biển sôi sùng sục,
lại có nhiều tội nhân và
thú dữ như vậy?’
Cô hỏi Vô Ðộc tại sao
nước ấy lại sôi như vậy?
‘Dũng phất’ là như nước
sôi vậy, nước này rất
nóng, chẳng lạnh, tình
trạng biển này như vậy.
Nhiều tội nhân và thú dữ
trong nước này, do duyên
cớ gì? Kinh Lăng
Nghiêm nói về tình hình
này vô cùng tường tận,
nói rõ hiện tượng và đạo
lý cho chúng ta, đó là
‘tạo Thập Tập Nhân
[2],
thọ Lục Giao Báo
[3]’,
‘tập’ tức là tập khí,
bạn tạo mười thứ tập khí
chẳng thiện, tức là tập
khí của mười ác nghiệp,
thượng phẩm thập ác thì
bạn sẽ cảm thọ lục giao
báo trong địa ngục.
Vô Ðộc đáp viết, thử thị
Diêm Phù Ðề tạo ác chúng
sanh tân tử chi giả.
Vô Ðộc trả lời: ‘Ðó là
những chúng sanh tạo ác
trong Diêm Phù Ðề vừa
chết’
Ðây là tình huống mà
Thánh nữ thấy, ‘Diêm Phù
Ðề’ tức là địa cầu chúng
ta, chẳng phải là chỗ
khác, là bổn địa chúng
ta. Những người
này vừa chết.
Kinh tứ thập cửu nhật
hậu, vô nhân kế tự, vi
tác công đức, cứu bạt
khổ nạn, sanh thời hựu
vô thiện nhân, đương cứ
bổn nghiệp sở cảm địa
ngục, tự nhiên tiên độ
thử hải.
Quá bốn mươi chín ngày
không có người kế tự làm
công đức để cứu vớt khổ
nạn, lúc sanh tiền lại
chẳng làm việc thiện,
nên cứ theo bổn nghiệp
mà chiêu cảm quả địa
ngục, tự nhiên phải đến
biển này trước.
Chúng ta đọc câu này:
‘tạo ác chúng sanh’, đọc
đến những câu kinh này
lông tóc dựng đứng, đây
chẳng phải nói người
khác mà là nói đến chính
chúng ta. Chúng ta
khởi tâm động niệm, ngôn
ngữ tạo tác, giống như
kinh Ðịa Tạng có nói:
‘chẳng có gì không phải
tội’. Hiện nay
mỗi ngày đều tạo, mỗi
tâm niệm đều tạo, tạo
không ngừng, khi hơi thở
này không trở lại được
nữa thì làm sao đây?
Ðúng như trong Phật pháp
có nói:
‘Chúng sanh sợ quả, Bồ Tát
sợ nhân’, Bồ Tát có
tâm cảnh giác, chúng
sanh ngu si, ngu muội,
lúc quả báo chưa hiện
tiền thì không màng đến,
không tin tưởng, đến lúc
quả báo xảy ra thì hối
hận không kịp, thế nên
[đức Phật] mới dạy chúng
ta dứt ác, tu thiện.
Cái gì là thiện?
Phật dạy cho chúng ta
pháp căn bản, ba thứ
tịnh nghiệp ‘Tam Phước’
nói trong ‘Quán kinh’.
Phật dạy rõ ràng, minh
bạch như vậy, ba thứ này
là ‘chánh nhân Tịnh
nghiệp của ba đời chư
Phật’, đó chính là
Thiện. Trái ngược
với Thiện tức là Ác.
Trong một đời chúng ta,
những gì mình làm tương
ứng với Thiện hay tương
phản với Thiện, tương
phản tức là Ác; nếu
tương ứng với Thiện thì
sẽ được phước báo trong
cõi trời, người, nếu
tương ứng với Ác thì sẽ
chịu quả báo trong ba
đường ác, trong địa
ngục.
Trong Tịnh Nghiệp Tam
Phước
[4],
điều thứ nhất là phước
nhân thiên, nếu bạn làm
được thì đời sau sẽ sanh
đến cõi người, cõi trời
hưởng phước; nếu làm
không được thì coi tội
nghiệp của bạn nặng hay
nhẹ mà đi thọ báo trong
ba đường ác. Ba
đường ác là: ngạ quỷ,
súc sanh, địa ngục, coi
bạn tạo ác nhẹ hay nặng.
Ðiều thứ
hai là phước Tiểu Thừa,
nếu bạn làm được tương
ứng, y giáo phụng hành,
quả báo nhất định sẽ ở
cõi trời, hưởng phước
trời. Nếu tu hành
có công phu, chứng đến
Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả
thì sẽ sanh đến Ngũ Bất
Hoàn Thiên cõi trời Tịnh
Cư để hưởng phước.
Nếu trái ngược thì nhất
định sẽ sanh vào địa
ngục, ác quỷ thọ báo,
chẳng có súc sanh.
Trong cõi người có súc
sanh, quả báo của súc
sanh thì nhẹ hơn, còn
địa ngục và ngạ quỷ thì
quả báo nặng hơn, tại
sao vậy? Phước của
điều thứ hai lớn hơn
phước của điều thứ nhất,
cho nên nếu bạn tu được
thì phước sẽ lớn, nếu
trái ngược thì đọa lạc
cũng khổ hơn, cùng một
đạo lý.
Ðiều thứ ba
là phước báo Ðại Thừa,
nếu bạn y giáo phụng
hành thì bạn sẽ làm Bồ
Tát, siêu phàm nhập
thánh; nếu trái ngược
thì nhất định sẽ đọa địa
ngục, chẳng đọa ngạ quỷ,
súc sanh, nhất định đọa
địa ngục.
Chúng ta
phải hiểu rõ ràng, minh
bạch, hiểu cả Lý lẫn Sự,
rồi sau đó mình mới tin
sâu chẳng nghi.
Trong đời sống hằng ngày
phải luyện công phu ở
nơi nào? Nơi khởi
tâm động niệm, niệm niệm
đều tương ứng với Phật,
niệm niệm đều tương ứng
với Ðạo, Ðạo là gì?
Ðạo là chân như tự tánh,
tương ứng với tánh đức,
đời này chúng ta hy vọng
vãng sanh mới có thể đạt
được, làm sao có thể làm
ác hoài được! Ðời
người ngắn ngủi, đau
khổ, đặc biệt là thời
đại ngày nay, cả thế
giới động loạn, tai biến
vô thường, nhất định
phải giác ngộ hết thảy
sự việc trên thế gian
đều như mộng, như huyễn,
một thứ gì cũng chẳng
đạt được, đây là sự
thật.
Gần đây
chúng ta thấy kinh tế
Ðông Nam Á suy thoái,
bao nhiêu người có tiền
có của, lúc bình thường
đều là những người hiển
hách ghê gớm, [một thời
gian sau thì] nghe người
ta nói họ tự sát rồi.
Tại sao lại tự sát?
Bị phá sản? Trong
kinh Phật dạy: ‘Tài
là vật chung của năm
nhà’
[5],
chúng ta hiểu rồi, không
tiêm nhiễm mảy may, một
lòng hướng về đạo, được
vậy thì chúng ta mới
được cứu. Trong
kinh Phật nói: ‘tiền
tài, sắc đẹp, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghỉ’ là
ngũ dục, là năm cội gốc
của địa ngục; nếu bạn
tham luyến chẳng xả, thì
bạn sẽ có phần tham dự
vào cảnh giới địa ngục
giảng trong kinh Ðịa
Tạng này. Những
cảnh giới mà Thánh nữ
thấy ở đó là những chúng
sanh tạo ác nghiệp trên
địa cầu của chúng ta,
bạn hãy xem chúng sanh
tạo ác nghiệp nhiều hay
ít! Ở đây chẳng
nói người tin Phật mới
đọa địa ngục, người
không tin Phật thì sẽ
chẳng đọa địa ngục,
chẳng có việc này.
Nếu nói người không tin
Phật sẽ không đọa địa
ngục, vậy thì chúng ta
đừng tin Phật nữa; người
không tin Phật vẫn đọa
địa ngục như thường, bất
luận là bạn tin hay
không tin. Bạn tu
thiện thì nhất định sẽ
sanh lên trời, tạo ác
thì nhất định sẽ đọa
lạc, đây là đạo lý nhất
định, bất kể là bạn tin
hay không tin.
‘Những
người mới chết, sau bốn
mươi chín ngày’, chẳng
có con cháu vun bồi
phước cho họ. Ðạo
lý và phương pháp cúng
thất cho người mất đều
phát xuất từ kinh Ðịa
Tạng. Trong kinh
Phật đã nói lúc người ta
chết rồi nhưng chưa đi
đầu thai, đây là thân
Trung Ấm. Thân
Trung Ấm mỗi bảy ngày
phải trải qua một lần
‘biến dịch’ sanh tử, họ
rất khổ, cho nên mỗi bảy
ngày nên làm một lễ siêu
độ nhằm giảm bớt nỗi đau
khổ của họ, tu phước cho
họ. ‘Lúc còn sanh
tiền chẳng trồng thiện
nhân’, chẳng làm việc
thiện gì cả. ‘Nên
cứ theo bổn nghiệp mà
chiêu cảm quả địa ngục,
tự nhiên phải đến biển
này trước’. ‘Tự
nhiên’ nghĩa là không có
bất cứ ai cưỡng bức họ.
Ðịa ngục chẳng do người
ta tạo dựng, cũng chẳng
do Diêm La Vương thiết
lập, tự nhiên khi nghiệp
lực hiện tiền thì mới có
hiện tượng này.
Chúng ta xem tiếp đoạn
kinh tiếp theo:
Hải đông
thập vạn do tuần hựu hữu
nhất hải, kỳ khổ bội
thử, bỉ hải chi đông hựu
hữu nhất hải, kỳ khổ
phục bội.
Phía
đông mười vạn do tuần
của biển này còn có một
biển, những sự khổ ở đó
gấp bội biển này.
Phía đông của biển đó
lại có một biển, sự khổ
ở đó lại gấp bội lên.
Càng vô
trong thì tội nghiệp
càng nặng thêm, sự khổ
gia tăng gấp mấy lần
những gì bạn thấy ở đây.
Hiện nay những cảnh bạn
nhìn thấy là tầng biển
thứ nhất, tội nghiệp còn
nhẹ, tội cực nặng bạn
chưa thấy.
Tam nghiệp
ác nhân chi sở chiêu
cảm, cộng hiệu nghiệp
hải, kỳ xứ thị dã.
Do ác
nhân của ba nghiệp chiêu
cảm nên, gọi chung là
biển nghiệp, chính là
chỗ này.
Cảnh bạn
nhìn thấy trong kinh
Phật gọi là ‘biển
nghiệp’, biển nghiệp là
biển khổ. Ba
nghiệp là thân, ngữ, ý
tạo tác ác nghiệp nên bị
những quả báo này.
Ðịa ngục là như vậy,
mười pháp giới cũng như
vậy, hiện tượng này đều
do tự tâm biến hiện.
Kinh Hoa Nghiêm nói về
một nguyên tắc chung,
cương lãnh chung là
‘duy tâm hiện, duy thức
biến’, duy tâm hiện
trong ấy chẳng có Thức,
chẳng có Thức nghĩa là
chẳng có vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước.
Chư vị nên biết vọng
tưởng là A Lại Da, chấp
trước là Mạt Na, phân
biệt là ý thức thứ sáu.
Nếu chẳng dùng tám thức,
năm mươi mốt tâm sở thì
đó chính là ‘duy tâm
hiện’, cảnh giới duy tâm
hiện, trong kinh Phật
gọi đó là ‘Nhất Chân
pháp giới’. Nếu
bạn rơi vào vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước
thì sẽ khởi biến hóa
trong Nhất Chân pháp
giới, duy thức biến, tùy
theo nghiệp lực của bạn.
Nghiệp lực chính là vọng
tưởng, phân biệt, chấp
trước, biến hiện ra thập
pháp giới. Thập
chẳng phải là một con
số, chư vị phải hiểu,
‘thập’ tiêu biểu cho vô
lượng. Vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước
của mỗi người chẳng
giống nhau, pháp giới
biến hiện của mỗi người
chẳng giống nhau, thế
nên pháp giới vô lượng
vô biên. Nếu rơi
vào tham, sân, si, mạn
thì những cảnh giới biến
hiện ra chính là biển
nghiệp nói ở đây, Thánh
nữ Bà La Môn đích thân
nhìn thấy biển nghiệp
này. Xin xem tiếp
kinh văn:
Thánh nữ
hựu vấn quỷ vương Vô Ðộc
viết, địa ngục hà tại.
Thánh nữ lại hỏi quỷ
vương Vô Ðộc: ‘Ðịa ngục
ở đâu?’.
Cô hỏi: ‘Ðịa ngục ở
đâu?’
Vô Ðộc đáp
viết, tam hải chi nội,
thị đại địa ngục.
Vô Ðộc trả lời: ‘Trong
ba biển đều là đại địa
ngục’.
Biển nghiệp mà bạn nhìn
thấy hôm nay chính là
địa ngục.
Kỳ số bá
thiên, các các sai biệt.
Số nhiều
trăm ngàn, mỗi ngục đều
khác nhau.
Có địa ngục
lớn, lại còn địa ngục
nhỏ phụ thuộc.
Sở vị đại
giả, cụ hữu thập bát.
Những
địa ngục lớn tổng cộng
có mười tám.
Ðây là như
người thế gian chúng ta
nói đến mười tám tầng
địa ngục. ‘Mười
tám’ địa ngục là nói đến
những địa ngục lớn.
Thứ hữu ngũ
bá, khổ độc vô lượng.
Thứ hữu thiên bá, diệc
vô lượng khổ.
Bậc kế
đó có năm trăm, vô lượng
sự khổ độc. Bậc kế
nữa có đến trăm ngàn,
cũng có vô lượng sự khổ.
Ðại địa
ngục trong kinh nói có
tám ngục lạnh, tám ngục
nóng. Trong kinh
Phật nói đại địa ngục
đều ở phía dưới núi
Thiết Vi. Chúng ta
coi kinh tiếp:
Thánh nữ
hựu vấn đại quỷ vương
viết, ngã mẫu tử lai vị
cửu, bất tri hồn thần
đương chí hà thú.
Thánh nữ
lại hỏi đại quỷ vương:
‘Mẹ tôi mới chết chưa
lâu, không biết thần hồn
của bà đã đi đến cõi
nào?’
Cô đến hỏi
thăm chuyện của mình.
Cô nói với quỷ vương Vô
Ðộc rằng mẹ cô vừa mất
không lâu, không biết
hiện nay thần hồn của bà
ở nơi đâu? Người
thế gian chúng ta gọi
[thần hồn] là ‘linh
hồn’.
Quỷ vương
vấn thánh nữ viết, Bồ
Tát chi mẫu tại sanh tập
hà hành nghiệp.
Quỷ
vương hỏi Thánh Nữ: ‘Mẹ
của Bồ Tát lúc còn sống
thường làm những nghiệp
gì?’
Hỏi cô: ‘Mẹ
cô lúc còn sống làm nghề
gì?’ Hỏi làm nghề
gì thì biết nghiệp của
bà tạo là gì, thiện hay
chẳng thiện, đại khái có
thể phán đoán sau khi
chết đi thì bà sẽ sanh
đến cõi nào.
Thánh nữ
đáp viết, ngã mẫu tà
kiến, cơ hủy Tam Bảo.
Thánh nữ
trả lời: ‘Mẹ tôi tà
kiến, khinh chê hủy báng
Tam Bảo’
Tri kiến
chẳng chánh, đây là
chánh và tà. Chánh
tri chánh kiến là gì,
chúng ta phải rõ ràng,
minh bạch. Nói
thật ra, tri kiến của
lục đạo phàm phu đều
chẳng chánh, đây là điều
chúng ta phải biết.
Nếu chúng ta có chánh
tri chánh kiến thì làm
sao lại sanh đến lục
đạo! Ngoài lục đạo
là Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát, Phật;
Thanh Văn là Chánh giác,
Bồ Tát là Chánh Ðẳng
Chánh Giác. Quỷ
vương hỏi Thánh nữ, xưng
cô là Bồ Tát, rằng: ‘Mẹ
của Bồ Tát, lúc còn sống
làm nghề gì?’
Thánh nữ nói mẹ cô ‘tà
kiến’. Tà và chánh
đều có tiêu chuẩn, trong
Phật pháp thì tri kiến
của A La Hán mới được kể
là chánh tri chánh kiến,
thế nên trong kinh Phật
nhắc chúng ta lúc còn
chưa chứng quả vị A La
Hán thì không thể tin
tri kiến của mình, nếu
bạn cho rằng tri kiến
của bạn là chính xác thì
sẽ có vấn đề. Tại
sao nói tri kiến của A
La Hán mới là chánh tri
chánh kiến? A La
Hán đã đoạn dứt Kiến Tư
phiền não, cũng nghĩa là
coi việc gì cũng khách
quan, nói như vậy thì
quý vị dễ hiểu hơn.
Tại sao? Ngài
không có ‘Ngã (Tôi)’, vô
ngã, đã đoạn dứt ngã
chấp rồi.
Lục đạo
phàm phu khởi tâm động
niệm đều có ‘Tôi’, có
‘Tôi’ thì sẽ có thành
kiến, có quan niệm chủ
quan, tự nhiên bạn sẽ
nhìn sự việc sai lầm;
tôi tưởng là đúng, tôi
tưởng là chính xác, có
một cái nhìn của tôi,
như vậy là ‘hỏng’ mất
rồi. Thế nên đoạn
dứt Kiến Tư phiền não
thì tri kiến mới được kể
là ‘chánh’, tiêu chuẩn
là ở chỗ này. Chưa
đoạn Kiến Tư phiền não
thì chánh tri chánh kiến
ở đâu ra! Hiện nay
chúng ta phải làm sao?
Chúng ta mới bắt đầu học
Phật, một phẩm Kiến Tư
phiền não cũng chưa
đoạn, biện pháp duy nhất
là nương nhờ vào Phật,
thế nên phải nói đến tầm
quan trọng của ‘Tam Quy
Y’, y pháp chứ không y
người. Học pháp
nhất định phải có thầy
chỉ đạo, nếu không có
thầy chỉ dẫn thì bạn
chẳng có biện pháp nương
dựa trong Phật pháp.
Kinh luận Phật nói quá
nhiều, nếu bạn nương dựa
vào tất cả kinh luận,
thì bạn chẳng có trí
huệ, trong kinh này Phật
nói Không, trong kinh
kia lại nói Có, rốt cuộc
là Không hay là Có?
Bạn sẽ trở nên mờ mịt,
lộn xộn, bạn sẽ chẳng có
cách gì để nương dựa.
Lúc tôi mới học Phật,
đại học Ðài Loan có một
giáo sư rất nổi danh,
hiện nay đã qua đời.
Ông nói với tôi: ‘Có lúc
kinh Phật nói có lý, có
lúc thì chẳng có lý’.
Tôi nói:
‘Chỗ nào chẳng có lý?’.
Ông nói:
‘Tôi đã coi kinh Kim
Cang’.
Tôi hỏi:
‘Kinh Kim Cang nói như
thế nào?’.
Ông nói:
‘Giống như hai thùng
nước, đổ qua đổ lại, có
khi thì nói Có, [xong
rồi] có chỗ lại nói
Không, rốt cuộc là Không
hay là Có?’ Làm
cho người hiểu đôi đàng
đều được.
Thế nên
Phật nói: ‘Phật pháp
nếu không có ai giảng
thì dù có trí cũng chẳng
hiểu được’, đừng
thấy là giáo sư đại học
nổi tiếng [mà tưởng là
ông ta thông suốt],
không đúng đâu! Do
đó mới biết chánh tri
chánh kiến khó lắm!
Nếu chẳng có chánh tri
chánh kiến, nếu là người
tà kiến còn ‘khinh chê
Tam Bảo’. Sợ là
chúng ta tuy đã xuất gia
nhưng cũng phạm lỗi này,
chẳng biết chẳng giác
lại tạo ra những tội
nghiệp này, chính mình
cũng chẳng biết; cứ
tưởng là mình tài giỏi
lắm, chẳng có sai lầm,
luôn nhìn thấy lỗi của
kẻ khác.
Thiết hoặc
tạm tín, toàn hựu bất
kính.
Hoặc là
tạm tin, nhưng liền
chẳng kính.
Bốn câu này
của cô, chúng ta nghĩ kỹ
một chút, quan sát thế
gian này rồi tự phản
tỉnh, chắc mình cũng đều
phạm. Lòng tin của
chúng ta là đạo tâm
sương móc, khi có khi
không, chẳng vượt nổi
thử thách, khi gặp một
chút sóng gió, đạo tâm
chúng ta liền mất hết.
Chữ ‘kính’ này càng
không dễ, ‘kính’ phát
sanh từ lòng tin, nếu
không tin thì làm sao có
tâm kính trọng?
Ðối với Phật, Bồ Tát,
đối với cha mẹ còn không
cung kính, thì làm sao
có thể kính người, kính
sự, kính vật? Làm
không được, từ đó bạn
mới biết việc này rất
khó! Ðọc xong bốn
câu này chúng ta phải
nhắc nhở chính mình,
thường lấy bốn câu này
để trước mặt làm bài
minh.
[6]
Tử tuy nhật
thiển, vị tri sanh xứ.
Tuy mới
chết chưa lâu, mà chưa
biết thác sanh về đâu.
‘Nhật
thiển’ nghĩa là chết
chẳng lâu, chẳng biết
hiện giờ bà sanh vào
chốn nào? Câu này
nói quỷ vương đại khái
đã biết bà sanh vào cõi
nào.
Vô Ðộc vấn
viết, Bồ Tát chi mẫu,
tánh thị hà đẳng
Vô Ðộc hỏi: ‘Mẹ của Bồ
Tát tên họ là gì?’
Hỏi thêm một lần: Tên
của má cô là gì?
Thánh nữ đáp vấn, ngã
phụ ngã mẫu câu Bà La
Môn chủng.
Thánh nữ trả lời: ‘Cha
mẹ tôi đều thuộc dòng Bà
La Môn’.
Ở Ấn Ðộ họ được kể là
quý tộc, từ thời xưa đến
nay bốn dòng họ giai cấp
rất nghiêm, tôn quý nhất
là Bà La Môn.
Phụ hiệu
Thi La Thiện Kiến, mẫu
hiệu Duyệt Ðế Lợi
Cha tôi tên Thi La Thiện
Kiến, mẹ tên Duyệt Ðế
Lợi.
Nói tên cha mẹ ra, tên
này rất tốt, đều là tên
tốt. Tuy tên tốt
nhưng việc làm chẳng
tốt, Danh chẳng phù hợp
với Thật.
Vô Ðộc hiệp chưởng, khải
Bồ Tát viết, nguyện
Thánh giả khước phản bổn
xứ, vô chí ưu ức bi
luyến.
Vô Ðộc chắp
tay thưa với Bồ Tát:
‘Xin Thánh giả hãy trở
về bổn xứ, đừng quá
thương nhớ buồn rầu
nữa’.
Vô Ðộc nghe
xong, ‘khải’ nghĩa là
rất cung kính, rất cung
kính báo cáo với Thánh
nữ. ‘Khải’ nói
theo ngôn ngữ hiện nay
nghĩa là ‘báo cáo’, nói
một cách cung kính: ‘Xin
Ngài trở về, đừng lo nhớ
nữa’. Tại sao?
Duyệt Ðế
Lợi tội nữ.
Tội nhân
Duyệt Ðế Lợi.
Ðích thật
bà đã đến địa ngục rồi,
đã đến thọ khổ, không
sai, chuyện của bà mọi
người đều biết.
Sanh thiên
dĩ lai, kinh kim tam
nhật.
Sanh lên
trời đến nay đã ba ngày
rồi.
Hiện nay bà
chẳng ở nơi này nữa, bà
đã ở đây thọ tội, nhưng
bà đã được sanh lên
trời, sanh lên Trời Ðao
Lợi.
Vân thừa
hiếu thuận chi tử, vị
mẫu thiết cúng, tu phước
bố thí Giác Hoa Ðịnh Tự
Tại Vương Như Lai tháp
tự.
Nghe nói
nhờ con bà hiếu thảo, vì
mẹ thiết cúng, tu phước
bố thí chùa tháp thờ đức
Giác Hoa Ðịnh Tự Tại
Vương Như Lai.
Nghe nói bà
có con gái hiếu thuận,
tu phước cho bà.
Cô tu phước, cúng Phật
bố thí, đây là lòng hiếu
cảm đến thiên địa, tâm
hiếu chân thành, cảm
động thiên địa quỷ thần.
Trong kinh giảng cho
chúng ta hiếu dưỡng phụ
mẫu gồm dưỡng thân cha
mẹ, dưỡng tâm cha mẹ,
dưỡng chí cha mẹ;
người thế gian thường
trông mong con trai
thành rồng, con gái
thành phượng, đó là
‘chí’ của cha mẹ; nghĩa
là hy vọng con cái tương
lai có thành tựu chân
chánh, tài ba xuất
chúng. Nhưng rất
nhiều bậc cha mẹ trong
thế gian có tà kiến, cứ
tưởng đạt được công danh
phú quý trong thế gian
tức là tài giỏi hơn
người, quan niệm này sai
lầm. Như thế nào
mới gọi là ‘tài ba xuất
chúng’? Siêu phàm
nhập thánh, thành Phật,
thành Bồ Tát mới thật sự
là ‘tài ba xuất chúng’,
hết thảy thành tựu trong
thế gian chẳng thể so
sánh nổi. Thành
tựu tới đâu trong thế
gian cũng chẳng thoát ra
khỏi lục đạo luân hồi,
chỉ có thành Phật thành
Bồ Tát không những siêu
việt lục đạo, mà còn
siêu việt thập pháp
giới, đó mới là thành
tựu chân chánh.
Người làm cha mẹ nhưng
chưa học Phật chẳng biết
đạo lý này, chẳng hiểu
rõ chân tướng sự thật,
chúng ta đã tiếp xúc
Phật pháp nên hiểu rõ,
chúng ta phải làm cho
bằng được; không thể nói
cha mẹ không biết thì
chúng ta không làm.
Chuyện tốt, chuyện thiện
tuy cha mẹ chẳng biết,
đợi đến khi chúng ta làm
được rồi, cha mẹ sẽ đạt
được lợi ích lớn lao.
Mẹ của Bồ Tát đâu phải
là người thường!
Cúng Phật,
bố thí ba hạnh này đều
có. Ở đây nói
‘thiết cúng’, chúng ta
đã đọc phía trước, Thánh
nữ Bà La Môn cúng dường
hình tượng của Giác Hoa
Ðịnh Tự Tại Vương Như
Lai, vì vào thời Tượng
pháp [chỉ có thể cúng
dường hình tượng của
Phật], cảm động Phật đến
dạy cô phương pháp tu
hành, sau đó cô về nhà
dũng mãnh tinh tấn y
giáo phụng hành, đó là
tu phước, bố thí.
Tu phước, bố thí cho ai?
Cho mẹ mới mất của cô.
Thế nên sự bố thí của cô
làm là bố thí pháp, đó
chẳng phải là bố thí tài
vật. Trong sự cúng
dường có Pháp cúng
dường, Y giáo phụng hành
cúng dường, phước này
lớn lắm! Thế nên
Quỷ vương nói:
Phi duy Bồ
Tát chi mẫu đắc thoát
địa ngục.
Không
phải chỉ có mẹ của Bồ
Tát được thoát địa ngục.
Không phải
chỉ có mẹ của Bồ Tát
được thoát địa ngục,
thoát ly khổ hải.
Ưng thị vô
gián tội nhân, thử nhật
tất đắc thọ lạc, câu
đồng sanh ngật.
Những
tội nhân trong ngục Vô
Gián hôm đó đều được an
lạc, đều được thác sanh
hết.
Mẹ Bồ Tát
được người con hiếu,
được phước của bà nên
sanh lên trời, những
người cùng chịu tội ở
địa ngục đều được hưởng
ké, đều nhờ phước đó mà
cùng sanh lên trời;
không phải chỉ có mẹ Bồ
Tát được sanh lên trời,
những người trong địa
ngục cùng chịu tội với
bà lúc đó đều được sanh
lên trời. Từ đó
bạn mới biết phước báo
của sự bố thí thật chẳng
thể nghĩ bàn! Công
đức y giáo tu hành của
Thánh nữ Bà La Môn chẳng
thể nghĩ bàn! Ðây
là sự thật, chẳng phải
kể chuyện đời xưa, không
phải lấy chuyện này để
khuyến thiện. Chư
vị phải biết, đây là
chuyện thật một trăm
phần trăm, khi bạn tu
hành thành tựu sẽ độ
được biết bao nhiêu
người. Thế nên
trong Phật pháp thường
nói chẳng thể nghĩ bàn,
cảnh giới chẳng thể nghĩ
bàn, từ chỗ này chúng ta
cũng có thể hiểu được
vài phần.
Quỷ vương
ngôn tất, hiệp chưởng
nhi thoái.
Quỷ
vương nói xong, chắp tay
cáo lui.
Quỷ vương
báo cáo chuyện này xong
rồi cáo lui.
Bà La Môn
nữ tầm như mộng quy.
Thánh nữ
Bà La môn dường như nằm
mộng tỉnh dậy.
Cũng như
nằm mộng vậy, thật ra cô
chẳng phải trong mộng,
mà là trong Ðịnh.
Từ trong định xuất định.
Ngộ thử sự
dĩ
Biết
chuyện này xong.
Cô giác ngộ
rồi, biết rõ hoàn toàn
chuyện này, hoàn toàn
minh bạch.
Tiện ư Giác
Hoa Ðịnh Tự Tại Vương
Như Lai tháp tượng chi
tiền, lập hoằng thệ
nguyện, nguyện ngã tận
vị lai kiếp, ứng hữu tội
khổ chúng sanh, quảng
thiết phương tiện sử
linh giải thoát.
Bèn
trước tháp tượng của
Giác Hoa Ðịnh Tự Tại
Vương Như Lai lập hoằng
thệ nguyện: ‘Tôi nguyện
từ nay đến tận kiếp vị
lai sẽ vì chúng sanh mắc
phải tội khổ mà rộng lập
phương tiện làm cho họ
được giải thoát.’
Ðây là lần
phát nguyện đầu tiên
trong khi tu nhân của
Ðịa Tạng Bồ Tát.
Lần thứ nhất phát tâm
học Phật là đại Trưởng
giả, nhìn thấy hình
tượng của Phật rồi phát
tâm. Phía trước
tôi đã nhắc nhở các bạn
đồng học: Hình tượng
phải hoàn hảo, thường
thường nghĩ đến chúng ta
là đệ tử Như Lai, đặc
biệt là đệ tử Di Ðà.
Di Ðà là ‘ánh sáng tôn
quý nhất, vua trong các
vị Phật’, làm sao chúng
ta có thể làm mất mặt A
Di Ðà Phật được!
Nếu tâm niệm chúng ta
khởi lên một niệm chẳng
thiện thì sẽ có lỗi với
đức Phật A Di Ðà, khi
chúng ta làm một việc
chẳng thiện thì chúng ta
sẽ chịu tội nghiệp rất
nặng, làm sao xứng đáng
là học trò của A Di Ðà
Phật! Học trò của
A Di Ðà Phật là như thế
này ư? Chân chánh
làm một học trò tốt của
A Di Ðà Phật nhất định
phải y giáo phụng hành.
Tại sao dạy bạn mỗi ngày
phải đọc tụng Ðại Thừa?
Chính là để ghi nhớ lời
dạy của A Di Ðà Phật,
những gì Phật dạy chúng ta
làm, chúng ta làm được
hay chưa? Những gì
Phật dạy chúng ta chớ
nên làm, chúng ta còn
làm không?
Chân chánh làm học trò
của A Di Ðà Phật đúng
như ý nghĩa của nó thì
trong đời này bạn nhất
định sẽ được vãng sanh
Tịnh độ. Trong đời
hiện tại, nếu người ta
không tôn kính bạn cũng
chẳng có gì lạ!
Người ta là phàm phu,
phàm phu mắt thịt, ngay
cả Phật họ cũng chẳng
tôn kính thì làm sao họ
tôn kính bạn!
Nhưng bạn phải biết chư
Phật hộ niệm, tán thán,
long thiên quỷ thần, Bồ
Tát tôn trọng bạn, tại
sao vậy? Những
người này có Tha tâm
thông, có Thiên nhãn
thông, họ có thể nhìn
thấy tâm thiện của bạn,
họ biết bạn khởi tâm
động niệm [gì]; phàm phu
chẳng biết, phàm phu ngu
si.
Ðịa Tạng Bồ
Tát ở đây dạy chúng ta
phát nguyện, làm ra
gương mẫu cho chúng ta
coi, nguyện này tức là
‘Tứ Hoằng Thệ Nguyện’.
‘Nguyện tôi tận cùng
kiếp vị lai’, trên thời
gian chẳng có chấm dứt,
vĩnh hằng. Chẳng
phải nói chuyện này tôi
phải làm trong vòng bao
lâu, nói tôi phải làm
trong một kiếp, mười
kiếp, trăm kiếp, ngàn
kiếp, không phải vậy.
Mà là tận cùng kiếp vị
lai. Ðối tượng
giúp đỡ là những chúng
sanh tội khổ này, cũng
chẳng nói nhất định;
‘chúng sanh mắc phải tội
khổ’, chẳng chọn oán hay
thân, chỉ cần nhìn thấy
có chúng sanh chịu khổ
nạn thì liền ‘rộng lập
phương tiện làm cho họ
độ thoát’. Rộng
lập phương tiện gì?
Ðoạn phiền não, học pháp
môn, thành Phật đạo, đây
đều là rộng lập phương
tiện. Chúng ta
chẳng đoạn phiền não,
chẳng học pháp môn thì
dùng phương pháp gì để
độ chúng sanh? Do
đó mới biết Bồ Tát đoạn
phiền não, đoạn tập khí,
học pháp môn chẳng vì
mình mà là vì hết thảy
khổ nạn chúng sanh,
chúng ta phải có tâm
nguyện này, hết thảy
những việc tu học của
mình hôm nay đều vì họ,
chẳng vì mình; nếu vì
mình thì có thể qua loa
sơ sài, có thể tùy tiện.
Nhưng nhìn thấy vô số
chúng sanh đang tạo tội
nghiệp cực nặng, một tí
tâm giải đãi hàm hồ
chúng ta đều không thể
khởi được, vì sao?
Vì phải dạy dỗ những
chúng sanh khổ nạn này,
việc gì cũng phải hết
lòng, phải dũng mãnh
tinh tấn.
Nếu vậy bạn
hỏi: tự tôi tu hành
thành tựu, được không?
Có thể độ chúng sanh
không? Kinh này
bày ra đây, cô Bà La Môn
một người tu hành, một
người thành tựu, không
những mẹ cô được độ,
những người cùng chịu
khổ với mẹ cô, những
chúng sanh cùng đọa địa
ngục với mẹ cô đều được
sanh lên trời, không
phải sự thật bày ra ngay
chỗ này sao? Chúng
ta còn nghi hoặc gì nữa?
Một người thành tựu có
thể độ được vô lượng vô
biên chúng sanh.
Chỉ sợ là cá nhân bạn
không thể thành tựu, giả
bộ làm như thiệt thì
không được, giả dối thì
giúp đỡ người khác được
sao? Nhất định
phải làm thật sự từ bản
thân của mình.
Dùng lời nói của thế
gian chúng ta đề ra Bốn
Ðiều Tốt: ‘Giữ tâm tốt,
làm việc tốt, nói lời
tốt, làm người tốt’,
những năm gần đây chúng
tôi đề xướng việc này ở
khắp nơi trên thế giới,
làm một gương tốt cho xã
hội đại chúng, làm cho
đại chúng nhìn thấy hình
tướng này. Ðoạn
đầu trong kinh nói về
Trưởng Giả Tử, hình
tướng của Phật thị hiện
làm cho xã hội đại chúng
tiếp xúc đến hình tượng
này có được cảm ngộ, có
thể cảm động, như vậy là
đã độ chúng sanh.
Họ giác ngộ, quay về,
học theo bạn, học theo
Phật, người như vậy sẽ
được độ. Người
được độ dần dần thêm
nhiều, một người giác
ngộ sẽ dạy những người
xung quanh, thân bằng
quyến thuộc của họ, hàng
xóm láng giềng, bạn xem
sức ảnh hưởng này bao
lớn ? Nhất định
đừng cho rằng cá nhân
tôi một người tu hành có
ích gì đâu, trong kinh
dạy chúng ta, một người
tu hành sanh ra hiệu quả
chẳng thể nghĩ bàn.
Ðiểm quan trọng nhất
trong phẩm kinh này là
đoạn sau cùng Ðịa Tạng
Bồ Tát làm ra gương tốt
dạy chúng ta phát tâm.
Phật cáo
Văn Thù Sư Lợi, thời quỷ
vương Vô Ðộc giả, đương
kim Tài Thủ Bồ Tát thị,
Bà La Môn nữ giả, tức
Ðịa Tạng Bồ Tát thị.
Phật nói
với Văn Thù Sư Lợi: quỷ
vương Vô Ðộc lúc trước
bây giờ là Tài Thủ Bồ
Tát, còn Thánh Nữ Bà La
Môn đó chính là Ðịa Tạng
Bồ Tát.
Ðây là
chuyện vô lượng kiếp về
trước, hiện nay đều đã
thành tựu. Vô Ðộc
quỷ vương ngày trước bây
giờ là Tài Thủ Bồ Tát,
Thánh Nữ Bà La Môn ngày
trước bây giờ là Ðịa
Tạng Bồ Tát. Ðây
là chuyện lúc còn tu
nhân vô lượng kiếp về
trước.
Xin xem
tiếp kinh văn:
PHẨM THỨ
2: PHÂN THÂN TẬP HỘI
Nhĩ thời bá
thiên vạn ức bất khả tư,
bất khả nghị, bất khả
lượng, bất khả thuyết,
vô lượng a tăng kỳ thế
giới, sở hữu địa ngục
xứ, phân thân Ðịa Tạng
Bồ Tát câu lai tập tại
Ðao Lợi thiên cung.
Lúc đó
phân thân của Ðịa Tạng
Bồ Tát từ những chỗ có
địa ngục ở số trăm ngàn
vạn ức chẳng thể nghĩ,
chẳng thể bàn, chẳng thể
tính, chẳng thể nói vô
lượng a-tăng-kỳ thế giới
đều đến tụ hội tại cung
trời Ðao Lợi.
Chư vị có
thấy ý hướng thật sự của
đoạn kinh văn này ở đâu
không? ‘Nhĩ thời’
là lúc đức Phật Thích Ca
Mâu Ni ở cung trời Ðao
Lợi, lúc mở pháp hội
này; lúc chư Phật Như
Lai, Bồ Tát từ mười
phương thế giới, đại
chúng vân tập; Thế Tôn
cùng Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát một người hỏi, một
người đáp ở cuối đoạn
này. Con số nêu ở
đây thật là một con số
‘thiên văn’, chẳng có
biện pháp chi tính nổi.
‘Trăm ngàn vạn ức chẳng
thể nghĩ, chẳng thể bàn,
chẳng thể tính, chẳng
thể nói’, sau đó là ‘vô
lượng a-tăng-kỳ thế
giới’; thế giới vô biên,
chúng sanh vô tận.
‘Những chỗ có địa ngục,
phân thân Ðịa Tạng’, Kim
Ðịa Tạng ở Cửu Hoa Sơn
của chúng ta cũng là một
trong những phân thân
của ngài, vô lượng vô
biên phân thân, ‘đều đến
tụ hội ở cung trời Ðao
Lợi’. Chư vị phải
biết đây là để nói rõ
những người tạo tội
nghiệp đọa địa ngục
nhiều như vậy nên Ðịa
Tạng Bồ Tát mới phân
thân, phân ra nhiều thân
như vậy, [từ việc này]
bạn mới biết có bao
nhiêu địa ngục!
Thế gian này có bao
nhiêu người tạo tội
nghiệp địa ngục! Ý
tứ chính là ở chỗ này.
Thế nên nhìn thấy hiện
tượng này thật đáng sợ
vô cùng! Tại sao
chúng sanh tạo tội
nghiệp? Vì chẳng
có người dạy, hết thảy
chúng sanh đều có thiện
căn, đều có tâm hướng
thiện, tiếc là chẳng có
người hướng dẫn, chẳng
có người giúp đỡ.
Trong kinh này dụng ý
chân chánh của Phật
chính là dạy chúng ta
phải học theo Ðịa Tạng
Bồ Tát, phải làm phân
thân của Ðịa Tạng Bồ
Tát. Chúng ta có
thể phát nguyện, có thể
tự làm gương mẫu, hướng
dẫn, luôn luôn khuyên
hết thảy chúng sanh đoạn
ác tu thiện, đây là tâm
của Ðịa Tạng Bồ Tát,
nguyện của Ðịa Tạng Bồ
Tát, hạnh của Ðịa Tạng
Bồ Tát.
Tứ chúng
đồng tu phải nhớ làm
gương cho đại chúng ở
mọi nơi, ở nhà thì làm
gương cho gia đình, ở
đạo tràng này thì làm
gương cho tứ chúng đồng
tu ở đây. Ðừng nói
người kia không làm thì
tại sao tôi phải làm?
Nói vậy là bạn sai rồi.
Người đó đọa địa ngục,
tại sao tôi không đọa
địa ngục? Không
phải là ý nghĩa này sao?
Ông đó đọa địa ngục, tôi
phải cứu ông đó, làm sao
tôi cứu ông được?
Tôi làm gương mẫu cho
ổng thấy, như vậy mới
đúng. Ổng tham
tiền tài, tại sao tôi
không tham? Ổng
tranh đoạt quyền lợi,
tại sao tôi không tranh?
Ðây là làm một hình
tượng địa ngục, kéo hết
mọi người vô địa ngục,
như vậy là sai rồi.
Chúng ta nhìn thấy người
ta đọa địa ngục, chúng
ta phải nêu gương tốt
‘làm thế nào thoát ly
địa ngục, siêu việt biển
khổ’, như vậy mới đúng.
Người khác tham tài,
tranh đoạt lợi lộc, rất
nhiều người làm, tất cả
người trên thế giới đều
làm nhưng tôi, cá nhân
tôi không làm.
Người làm thì mê hoặc
điên đảo, người chẳng
làm thì giác ngộ, quay
về, phải hiểu đạo lý
này. Ở thế giới
này dùng miệng để khuyên
người rất khó! Bạn
khuyên người ta làm,
nhưng tại sao bạn không
làm? Làm sao người
ta tin được? Nhất
định tự mình phải làm
được thì mới có thể khơi
gợi được lòng tin của
người khác, mới có thể
dẫn dắt người ta hướng
thiện, nhất định phải
đích thân thực hành.
Phật dạy Thánh nữ Bà La
Môn như vậy, cũng tức là
dạy chúng ta, nhất định
phải hết lòng, quay về,
dũng mãnh tinh tấn.
Xem đoạn kinh kế tiếp:
Dĩ Như Lai
thần lực cố, các dĩ
phương diện dữ chư đắc
giải thoát tùng nghiệp
đạo xuất giả, diệc các
hữu thiên vạn ức na do
tha số, cộng trì hương
hoa lai cúng dường Phật.
Do nhờ
thần lực của Như Lai,
phân thân từ mỗi phương
cùng những chúng đã được
giải thoát khỏi chốn
nghiệp đạo đông đến số
ngàn muôn ức na-do-tha
cùng cầm hương hoa đến
cúng dường Phật.
Ðoạn văn
này nói đại chúng cùng
đến với Ðịa Tạng Bồ Tát,
đại chúng này thật ra là
những vị tiếp nhận sự
giáo hóa của Ðịa Tạng Bồ
Tát và đã giác ngộ rồi,
trong kinh Hoa Nghiêm
gọi họ là Ðại Tâm Phàm
Phu. Hôm nay phân
thân của Ðịa Tạng Bồ Tát
đều tụ hội đến Ðao Lợi
Thiên Cung, những Ðại
Tâm phàm phu này thoát
thân từ địa ngục cũng
theo Ðịa Tạng Bồ Tát đến
cung trời Ðao Lợi để yết
kiến đức Phật. Ðại
hội ở Ðao Lợi Thiên Cung
hôm ấy vô cùng thù
thắng, vì sao? Hết
thảy chư Phật Như Lai
đều ở chỗ đó, sự cúng
Phật này vô cùng viên
mãn. Ðại chúng ở
Cực Lạc thế giới, vãng
sanh về Cực Lạc thế giới
phải phân thân đến các
cõi nước chư Phật ở khắp
hư không pháp giới để
cúng dường, nghe pháp.
Hôm nay chư Phật Như lai
đều tụ tập ở giảng đường
này, họ chẳng cần phân
thân đến các cõi nước,
những Ðại Tâm phàm phu
này đến cùng Ðịa Tạng Bồ
Tát có phước báo to lớn,
ở một nơi cùng lúc có
thể cúng dường hết thảy
chư Phật Như Lai, việc
này thù thắng biết bao!
Còn thù thắng hơn Cực
Lạc thế giới nữa!
Từ chỗ này chúng ta mới
thể hội được sự thù
thắng của Ðịa Tạng pháp
môn, tu học Ðịa Tạng thù
thắng, chỗ nào cũng hiển
thị hạng nhất, siêu việt
Cực Lạc thế giới, đây là
đại căn đại bổn của hết
thảy pháp môn. Họ
đều cầm hương hoa đến
cúng dường Phật, ‘hương
hoa’ là tiêu biểu pháp,
‘hương’ tiêu biểu cho
lòng tin thanh tịnh,
‘hoa’ tiêu biểu cho y
giáo phụng hành, ‘hoa’
tượng trưng cho ‘nhân’,
tu nhân chứng quả, đây
là tiêu biểu ‘như giáo
tu hành cúng dường’, như
vậy mới là chân chánh
cúng dường. Xin
xem tiếp kinh văn:
Bỉ chư đồng
lai đẳng bối, giai nhân
Ðịa Tạng Bồ Tát giáo
hóa, vĩnh bất thoái
chuyển ư A Nậu Ða La Tam
Miệu Tam Bồ Ðề.
Những
chúng cùng đến ấy đều
nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát giáo
hóa, làm cho vĩnh viễn
chẳng thoái chuyển nơi A
Nậu Ða La Tam Miệu Tam
Bồ Ðề.
Ở đây Phật
dạy chúng ta, nói với
chúng ta, những đại
chúng cùng đến với Ðịa
Tạng Bồ Tát có thể tham
dự hội kinh ở cung trời
Ðao Lợi, đều tiếp nhận
sự giáo hóa của Ðịa Tạng
Bồ Tát được sanh Tín
Căn, chúng ta gọi là Ngũ
Căn, Ngũ Lực: ‘Tín, Tấn,
Niệm, Ðịnh, Huệ’.
Họ có căn, cái này rất
quý, có căn mới vĩnh
viễn chẳng thoái chuyển
nơi Vô Thượng Bồ Ðề.
Tín căn của những người
này thành tựu xong, niệm
niệm đều hướng về Vô
Thượng Bồ Ðề, hết thảy
pháp trong thế gian và
xuất thế gian đều chẳng
lưu luyến, chỉ tìm cầu
Vô Thượng Bồ Ðề.
Thị chư
chúng đẳng, cửu viễn
kiếp lai, lưu lãng sanh
tử, lục đạo thọ khổ, tạm
vô hưu tức.
Những
chúng sanh này từ nhiều
kiếp lâu xa đến nay,
trôi lăn trong sanh tử,
chịu khổ trong sáu
đường, chưa từng tạm
ngưng.
Nói những
phàm phu này, những Ðại
Tâm phàm phu này, kể lại
lúc trước trong sáu nẻo
luân hồi, nói thật ra
chính là nhóm người
chúng ta, mệt mỏi sanh
tử chưa từng nghỉ ngơi
qua.
Dĩ Ðịa Tạng
Bồ Tát quảng đại từ bi,
thâm thệ nguyện cố, các
hộ quả chứng.
Nhờ lòng
từ bi quảng đại và thệ
nguyện sâu dầy của Ðịa
Tạng Bồ Tát, nên tất cả
đều chứng được quả vị.
Câu này nói
về nhân duyên được độ.
Nương nhờ lời dạy từ bi
và các thứ phương tiện
của Ðịa Tạng Bồ Tát,
hiển thị câu ‘từ bi làm
gốc, phương tiện làm
cửa’ thường nói đến
trong Phật pháp, Ðịa
Tạng Bồ Tát là tâm đại
từ bi. Chủng chủng
phương tiện là nói sự
khéo léo của ngài, vì
chúng sanh làm ra nhiều
thị hiện; nói cách khác:
vì chúng sanh làm ra
những hình tượng khác
nhau. Làm cho hết
thảy chúng sanh thấy
sắc, nghe âm thanh, tiếp
xúc những hình tượng này
có thể cảm nhận và tỉnh
ngộ, biết quay về, đây
chính là thiện xảo
phương tiện của Bồ Tát.
Thế nên Bồ Tát vì chúng
sanh làm thầy, làm mô
phạm, hướng dẫn, sau khi
họ tiếp xúc liền tỉnh
ngộ và quay về tu hành
chứng quả. Tuy quả
vị này chẳng giống những
quả vị thường nói như
Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát, mà là ‘quả vị’
Ðại Tâm Phàm Phu, việc
này vô cùng quý báu.
Bồ Ðề tâm được sanh
khởi, phiền não chưa
đoạn thì gọi là Ðại Tâm
phàm phu.
Ký chí Ðao
Lợi, tâm hoài dũng dược,
chiêm ngưỡng Như Lai,
mục bất tạm xả.
Khi đến
cung trời Ðao Lợi, lòng
họ vui mừng hớn hở chiêm
ngưỡng đức Như Lai, mắt
nhìn mãi không rời.
Hình dung
nhóm người này, khi đến
cung trời Ðao Lợi vui
mừng hớn hở, hoàn toàn
biểu lộ ra ngoài, hiển
lộ lòng cảm ân.
Cảm kích sự giáo huấn
của Ðịa Tạng Bồ Tát, cảm
kích ân đức của chư Phật
nhiếp thọ, hoàn toàn
hiển lộ chẳng giữ lại.
Hãy xem tiếp kinh văn:
Nhĩ thời
Thế Tôn, thư kim sắc tý,
ma bá thiên vạn ức bất
khả tư, bất khả nghị,
bất khả lượng, bất khả
thuyết vô lượng a tăng
kỳ thế giới chư phân
thân Ðịa Tạng Bồ Tát Ma
Ha Tát đảnh.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn đưa cánh
tay sắc vàng xoa đảnh
các phân thân của Ðịa
Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
trong trăm ngàn vạn ức
chẳng thể nghĩ, chẳng
thể bàn, chẳng thể tính,
chẳng thể nói vô lượng
a-tăng-kỳ thế giới.
Ý nghĩa
này, nói nhiều con số
này, ý tứ vô cùng sâu
dầy! Hiển thị
chúng sanh ở mười phương
thế giới tạo vô lượng vô
biên ác nghiệp, ý nghĩa
chân chánh là ở chỗ này.
Cho nên Ðịa Tạng phải
phân nhiều thân như vậy
để giúp đỡ những chúng
sanh khổ nạn ấy.
Ðịa Tạng Bồ Tát phân
thân càng nhiều, chúng
ta mới biết địa ngục
càng nhiều; biết địa
ngục càng nhiều thì biết
số người tạo tội nghiệp
địa ngục, chịu khổ báo
địa ngục càng nhiều.
Ở Ðao Lợi Thiên cung,
Thế Tôn an ủi Ðịa Tạng
Bồ Tát, xoa đảnh xong.
Nhi tác thị
ngôn.
Rồi nói
rằng:
Xoa đảnh là
an ủi. Phật nói:
Ngô ư ngũ
trược ác thế, giáo hóa
như thị cang cường chúng
sanh, lịnh tâm điều
phục, xả tà quy chánh.
Thập hữu nhất nhị,
thượng ác tập tại.
Ta ở trong
đời ác Ngũ Trược giáo
hóa những chúng sanh
ương ngạnh như vậy, làm
cho tâm họ điều phục, bỏ
tà về chánh. Trong
mười phần còn một, hai
phần vẫn theo thói ác.
Ðây là lúc
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
phó chúc Ðịa Tạng Bồ Tát
ở thiên cung, trách
nhiệm của Ðịa Tạng Bồ
Tát nặng hơn bất cứ
người nào. Lúc
Phật không còn tại thế,
sứ mạng giáo hóa chúng
sanh phải ủy thác cho
Ðịa Tạng Bồ Tát.
Chư vị phải biết đạo lý
này ở đâu? Tại sao
đức Phật Thích Ca chẳng
giao chuyện độ hóa chúng
sanh cho Quán Thế Âm Bồ
Tát? Tại sao không
giao cho Phổ Hiền Bồ
Tát, Văn Thù Bồ Tát?
Ðều là đại Bồ Tát hết,
tại sao không giao cho
các ngài mà phải nhờ Ðịa
Tạng Bồ Tát? Nói
thật ra những Bồ Tát đó
độ không nổi, chẳng có
cách gì độ được, chỉ có
Ðịa Tạng Bồ Tát có thể
độ mà thôi. Mọi
người hiểu ý nghĩa này
không? Ðịa Tạng Bồ
Tát dạy việc gì?
Hiếu thân Tôn sư.
Nếu người này không hiếu
kính cha mẹ, không tôn
kính sư trưởng, thì Bồ
Tát, Phật nào đến cũng
độ chẳng nổi. Sự
dạy học của Ðịa Tạng Bồ
Tát là xây dựng nền
móng, dạy lớp một Tiểu
học, Quán Thế Âm Bồ Tát
dạy lớp hai, Văn Thù Bồ
Tát dạy lớp ba, Phổ Hiền
Bồ Tát dạy lớp bốn; lớp
một còn chưa dạy hoàn
hảo thì những lớp phía
trên không thể dạy nổi.
Thế nên chư vị phải hiểu
thành Phật bắt đầu từ
chỗ nào? Hiếu thân
tôn sư. Lớp Ðịa
Tạng Bồ Tát dạy chính là
lớp Hiếu thân tôn sư,
nếu lớp này học không
được, thì khỏi cần nói
những lớp khác.
Hiếu thân tôn sư được
hoàn hảo rồi, Quán Thế
Âm Bồ Tát mới ra sức
được, mới dạy đại từ đại
bi được, mở rộng hiếu
thân tôn sư ra, đó là
việc Quán Thế Âm Bồ Tát
dạy, đạo lý là như vậy.
Thế nên lúc Phật chẳng
còn tại thế, nhất định
phải để Ðịa Tạng Bồ Tát
thay thế Phật. Cho
dù không thể đề cao cảnh
giới này, bạn chân chánh
làm được hiếu thân tôn
sư thì sẽ không đọa ba
đường ác; tuy không ra
khỏi Tam giới, nhưng
cũng chẳng đọa ba đường
ác, bởi vậy nên đây là
căn bản của Phật pháp.
Nếu chúng
ta không thể xây dựng
pháp căn bản thì nói
thật ra học Phật chỉ là
một [trồng một] nhân lâu
xa mà thôi. Trong
kinh Hoa Nghiêm có nói
đến mười loại căn cơ,
đây là viễn cơ, tức là
đời này không đạt được
lợi ích, trong Phật pháp
bạn chỉ un đúc một chút
hạt giống vào A Lại Da
thức của bạn, phải đợi
đời sau, đời sau nữa,
nhiều đời nhiều kiếp
sau, đến khi nào nhân
duyên chín muồi mới làm
tiếp tục, giúp chúng
sanh trồng nhân cho kiếp
lâu xa, trong đời này
nhất định sẽ chẳng thâu
hoạch được hiệu quả.
Nếu trong pháp môn Ðịa
Tạng này vun bồi cơ sở
rồi, cũng nghĩa là làm
được phước thứ nhất
trong Tam Phước, chư vị
phải biết, cả bộ kinh
Ðịa Tạng giảng về điều
gì? Chính là
‘Hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng sự sư trưởng, từ
tâm không sát hại, tu
mười nghiệp thiện’,
chính là bốn câu này.
Năm xưa tôi ở các thành
thị miền đông nước Mỹ
giảng Ðại ý kinh Ðịa
Tạng, có nhiều người cảm
thấy kỳ lạ: “Tịnh Không
pháp sư chuyên tu Tịnh
Ðộ, chuyên hoằng Tịnh
Ðộ, tại sao lại giảng
kinh Ðịa Tạng?”, có
người hỏi tôi như vậy.
Tôi nói: “Quý vị không
hiểu, những gì tôi giảng
chính là phước thứ nhất
trong ‘Tịnh Nghiệp Tam
Phước’, vẫn chuyên tu
chuyên hoằng, chẳng lìa
khỏi Tịnh Tông.”
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
dạy phu nhân Vi Ðề Hy,
Vi Ðề Hy phu nhân muốn
cầu sanh Tây phương Tịnh
Ðộ, thỉnh đức Phật Thích
Ca dạy phương pháp vãng
sanh cho bà. Trước
khi truyền dạy phương
pháp Niệm Phật, Ngài dạy
bà tu Tịnh Nghiệp Tam
Phước, dạy bà đây là cơ
sở, ba đời chư Phật đều
nhờ cơ sở này mới thành
tựu. Giống như xây
nhà vậy, dạy bạn làm sao
xây nhà? Phải dạy
bạn đắp nền móng, đắp
nền móng đàng hoàng rồi
mới dạy bạn làm sao xây
tiếp, bạn coi chuyện này
quan trọng biết bao.
Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện này chính là
phước thứ nhất trong Tam
Phước. Bạn nói
quan trọng hay không!
Tại sao ở
đạo tràng mới xây dựng
tôi nhất định phải giảng
kinh Ðịa Tạng mà chẳng
giảng kinh khác?
Không có tâm hiếu thuận
cha mẹ, tôn sư trọng đạo
thì không cần nói chuyện
gì hết, bạn làm sao xây
dựng Phật pháp?
Phật pháp là giáo học,
giáo dục, đạo thầy trò
(Sư đạo), Sư đạo xây
dựng trên cơ sở Hiếu
đạo. Nếu chẳng có
Hiếu đạo thì chẳng có Sư
đạo, vậy còn phải nói gì
nữa? Thế nên việc
này rất quan trọng.
Trong hai mươi mấy năm
nay tôi vẫn chẳng quên
đề xướng việc xây Từ
đường, Từ đường là một
trung tâm để dạy
đạo Hiếu từ xưa đến nay
ở Trung Quốc. Theo
chánh sách hiện nay của
chính phủ, Từ đường của
mỗi nhà chẳng còn nữa,
đã bị phế bỏ rồi, âu
cũng là một việc tốt.
Sau khi phế bỏ thì phải
xây cái mới, cái mới này
nên xây như thế nào?
Nên xây Từ đường cộng
đồng, đừng xây cho từng
nhà. Mỗi một huyện chỉ
xây một Từ đường, Từ
đường cho trăm họ.
Trước kia là cho từng
họ, Từ đường họ Trương,
Từ đường họ Lý, cái mới
của chúng ta phù hợp với
chánh sách của quốc gia,
xây Từ đường cộng đồng,
tốt lắm! Người cả
nước đoàn kết thành nhất
tâm, mỗi năm mùa xuân,
thu làm lễ cúng tế tổ
tiên, do Huyện trưởng
đứng ra cúng tế, như vậy
hay lắm! Mỗi huyện
có Từ đường chung của
huyện, tốt lắm, chúng ta
đề xướng Hiếu đạo; đừng
xây cho từng họ từng họ
nữa, làm cho các họ,
tông tộc từng họ trong
cả nước có thể đoàn kết
lại. Phế bỏ một
cái [tức từ đường cho
riêng từng họ], kiến
thiết một cái mới, tiến
bộ hơn trước, thù thắng
hơn trước. Như vậy là
rất đúng. Tôi đề
xướng xây dựng Tông Từ
cho trăm họ, không những
mỗi huyện nên xây một
cái, những nơi ở hải
ngoại có kiều bào đều
nên xây dựng giống vậy.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng ta giảng
đến đây.
Tập 8 (Số 14-12-08)
Xin mở kinh, phẩm thứ
nhì: Phân Thân Tập Hội,
bắt đầu từ đoạn thứ hai.
Lúc bấy giờ
đức Thế Tôn đưa cánh tay
sắc vàng xoa đảnh các
phân thân của Ðịa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát trong
trăm ngàn vạn ức chẳng
thể nghĩ, chẳng thể bàn,
chẳng thể tính, chẳng
thể nói vô lượng
a-tăng-kỳ thế giới.
Lần trước giảng đến chỗ
này, ý tứ trong đó rất
sâu. Từ đoạn khai
thị này của Thế Tôn
chúng ta biết phân thân
của Ðịa Tạng Bồ Tát thật
là vô lượng vô biên.
Tại sao Bồ Tát phải dùng
nhiều phân thân như vậy?
Chúng ta phải nghĩ đến
vấn đề này, nhất định là
vì chúng sanh tạo ác
nghiệp ở mười phương thế
giới quá nhiều, nên Ðịa
Tạng Bồ Tát cần phải
phân thân đi độ hóa.
Ðây là hiển thị ý nghĩa
này, người tạo ác nghiệp
nhiều vô lượng vô biên.
Thế Tôn nói tiếp:
Rồi nói
rằng:
Ðây là lời
Phật Thích Ca nói:
Ta ở trong
đời ác Ngũ Trược giáo
hóa những chúng sanh
ương ngạnh như vậy, làm
cho tâm họ điều phục, bỏ
tà về chánh. Trong
mười phần còn một, hai
phần vẫn theo thói ác.
Ðức Phật an ủi Ðịa Tạng
Bồ Tát, Ðịa Tạng Bồ Tát
từ bi đến cùng cực.
Cùng một đạo lý, đức
Phật Thích Ca Mâu Ni
cũng từ bi đến cùng cực,
Bồ Tát phân thân vô
lượng vô biên, Phật có
khác gì đâu? Trong
kinh Phạm Võng chúng ta
thấy trăm ngàn ức hóa
thân Thích Ca Mâu Ni
Phật. Ðịa Tạng và Thế
Tôn như vậy, chúng ta
liền liên tưởng đến hết
thảy chư Phật Bồ Tát
chẳng có vị nào không
như vậy. Thế nên
việc này nói cho chúng
ta biết Phật, Bồ Tát còn
nhiều hơn số người tạo
tội nghiệp, lòng đại từ
đại bi này chúng ta
chẳng tìm đủ ngôn từ để
tán thán. Nhưng
chúng sanh đích thật
ương ngạnh khó giáo hóa,
tập khí quá nặng.
Phật, Bồ Tát giáo hóa
chúng sanh, dạy cho họ
cải tà quy chánh, ở đây
nói ‘trong mười người có
một, hai vẫn còn tập khí
ác’, nói cách khác, bảy
tám người trong mười
người đã được Phật, Bồ
Tát độ thoát rồi, như
vậy số người được độ
thoát không phải rất
nhiều sao? Chư vị
nên biết số người nói ở
đây là chỉ những chúng
sanh căn cơ chín muồi,
không nói đến những
chúng sanh căn cơ chưa
chín muồi. Cũng có
nghĩa là thiện căn,
phước đức của họ đã
thành thục rồi, Phật, Bồ
Tát đến tạo duyên phụ
giúp họ, là ý tứ như
vậy. Ða số những
người này đều có thể
tiếp nhận Phật pháp, y
giáo phụng hành, nhưng
vẫn còn thiểu số một,
hai trong mười người,
vẫn còn tập khí ác.
Trong kinh Hoa Nghiêm
chúng ta thấy có mười
loại chúng, liệt kê ra
mười loại đến nghe kinh
trong những đoàn thể
nhỏ, chúng ta có thể
nhận biết được.
Trên thực tế thì trong
đạo tràng của chúng ta
cũng có thể nhận biết.
Nếu họ chẳng có thiện
căn phước đức, chúng ta
giảng kinh ở đây họ đời
nào chịu đến nghe!
Cũng rất chăm chú nghe,
hình như cũng rất gắng
sức tu hành, nhưng một
lát thôi rồi tập khí tật
xấu gì cũng khởi lên
lại, đây là thuộc về
‘một, hai trong mười’
này. Hạng này được
độ trong đời này không?
Không thể được, chỉ
trồng thiện căn mà thôi.
Cho nên Phật giao những
chúng sanh này cho Ðịa
Tạng Bồ Tát, Phật chưa
độ hết những người căn
tánh chưa chín muồi này,
nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát độ
tiếp, mãi cho đến khi
Phật Di Lặc ra đời.
Chúng ta xem tiếp kinh
văn:
Ngô diệc
phân thân thiên bá ức,
quảng thiết phương tiện.
Ta cũng phân thân ngàn
trăm ức, rộng bày phương
tiện.
Ở đây đức
Phật Thích Ca nói ra,
phía trước là nói sơ
lược, ở đây nói kỹ hơn,
chia căn tánh của chúng
sanh thành bốn loại, ba
loại trong đó đều được
độ, loại chót chính là
‘một, hai trong mười’,
cụ thể nói rõ ra.
Hoặc hữu
lợi căn, văn tức tín
thọ.
Hoặc có kẻ
lợi căn, vừa nghe liền
tin nhận.
Ðây là
người thượng thượng căn,
vừa tiếp xúc Phật pháp
liền tin tưởng, liền
tiếp nhận, y giáo phụng
hành, họ liền được độ,
đây là [chúng sanh] được
độ vào thời Chánh pháp.
Hạng thứ hai:
Hoặc hữu
thiện quả, cần khuyến
thành tựu.
Hoặc kẻ có
thiện quả, phải ân cần
khuyên bảo mới thành
tựu.
Thiện căn,
phước đức cũng khá sâu
dầy, nhưng thua hạng
người kể trên. Nếu
chúng ta xếp vào ba thời
kỳ trong pháp vận của
Phật, đây là [chúng
sanh] được độ trong thời
Tượng pháp, còn thuộc
hàng lợi căn, tốt hơn
chúng ta bây giờ.
Hoặc hữu ám
độn, cửu hóa phương quy.
Hoặc có kẻ
ám độn, giáo hóa thật
lâu mới có thể quay về.
Ðây là hạng
căn tánh ám độn.
‘Ám’ là không có trí
huệ, ‘độn’ là căn tánh
không lanh lợi.
Ðối với chúng sanh hạng
này, Phật cũng chẳng bỏ
rơi. ‘Cửu hóa’
nghĩa là phải dùng thời
gian rất dài để giúp đỡ
họ. Chúng ta
thường nói ‘đi sâu
vào một môn, huân tu
trong thời gian dài’,
họ từ từ cũng sẽ giác
ngộ. Ðây là những
chúng sanh thời Mạt
pháp.
Hoặc hữu
nghiệp trọng, bất sanh
kính ngưỡng.
Hoặc có kẻ
nghiệp nặng, chẳng sanh
lòng kính ngưỡng.
Ðây không
phải là những người bên
ngoài, là chỉ bốn chúng
đệ tử trong nhà Phật,
thậm chỉ cũng đã xuất
gia, thọ giới, làm pháp
sư, làm trụ trì, đối với
Phật pháp chẳng sanh
kính ngưỡng. Tuy
nhìn thấy tượng Phật
cũng đảnh lễ, lạy, tuyệt
chẳng y giáo phụng hành,
như vậy là không có lòng
kính ngưỡng; nếu có lòng
kính ngưỡng thì nhất
định sẽ y giáo phụng
hành. Họ chẳng
chịu làm, Phật dạy chúng
ta không tham, [nhưng
họ] cứ tham, chẳng bỏ
lỡ, Phật dạy chúng ta
không si, họ vẫn si mê
như cũ, hạng người này
chính là ‘không sanh
lòng kính ngưỡng’.
Tại sao không sanh kính
ngưỡng? Nghiệp
chướng nặng, tuy họ nghe
lời Phật giảng, cũng
biết nói, nhưng lại hoài
nghi. Coi trọng
lợi ích trước mắt, họ
chẳng chịu xả bỏ, chẳng
chịu buông xuống, cùng
người thế gian tranh
danh đoạt lợi, sai lầm ở
chỗ này. Hạng
chúng sanh này tức là
loại ‘một, hai trong
mười’ nói ở trên.
Họ tiếp xúc Phật pháp,
trồng thiện căn trong ấy
nhưng đời này không thể
thành tựu. Ðây là
sau khi pháp của Thế Tôn
đã diệt, vị Phật kế đó,
Di Lặc Bồ Tát thành
Phật, khi nào mới đến?
Trong ‘Kinh Di Lặc Hạ
Sanh’ nói năm mươi sáu
ức bảy ngàn vạn năm sau,
Phật Di Lặc mới hạ sanh.
Thời gian này được tính
như thế nào? Trên
thật tế chư vị tính thử
xem, không khó, có thể
tính ra. Di Lặc Bồ
Tát hiện nay đang ở trời
Ðâu Suất, một ngày ở
trời Ðâu Suất bằng bốn
trăm năm ở nhân gian,
thọ mạng người cõi trời
Ðâu Suất rất dài, cũng
tính một năm ba trăm sáu
mươi lăm ngày, y theo
cách tính này; Tứ Vương
Thiên thọ mạng năm trăm
tuổi, Ðao Lợi Thiên thọ
mạng một ngàn tuổi, Dạ
Ma Thiên thọ mạng hai
ngàn tuổi, Ðâu Suất
Thiên thọ mạng bốn ngàn
tuổi. Cách tính
bốn ngàn tuổi là một
ngày của họ bằng bốn
trăm năm ở cõi người, cứ
như vậy tính ra, đại
khái tức là năm mươi sáu
ức bảy ngàn vạn năm, con
số này là do người đời
trước tính ra.
Chính xác hay không
chẳng quan hệ, bạn có
thể tự tính được.
Sau thời
gian dài như vậy, Phật
Di Lặc mới xuất hiện ở
nhân gian. Thời
gian không có Phật trước
đó thiệt là dài, quá
dài, trong thời gian này
Thế Tôn nhờ Ðịa Tạng Bồ
Tát thay thế Phật độ hóa
những chúng sanh khổ
nạn. Cho nên lúc
Phật không trụ thế, Ðịa
Tạng Bồ Tát là người đại
diện cho Phật. Do
đó trong pháp hội chúng
ta thấy Văn Thù, Phổ
Hiền Bồ Tát rất cung
kính Ðịa Tạng Bồ Tát, vì
Ðịa Tạng Bồ Tát là người
đại diện cho Phật.
Trong những kinh điển
khác chúng ta thấy lễ
tiết, ngôn từ không
giống nhau, rất là cung
kính.
Như thị
đẳng bối chúng sanh, các
các sai biệt phân thân
độ thoát.
Những hạng
chúng sanh sai khác như
vậy, Ta đều phân ra
nhiều thân khác nhau để
độ thoát cho từng hạng.
Ân đức lớn
lao của chư Phật, Bồ Tát
đối với chúng sanh trên
thế gian này chẳng có gì
bằng, ai có thể sánh
bằng? Trong mỗi
niệm không hề xả bỏ
chúng sanh, căn chín
muồi cũng độ, căn chưa
chín muồi cũng độ.
Căn chưa chín thì giúp
cho họ trở thành chín;
đã chín rồi thì nhất
định sẽ được độ.
Thời Mạt pháp chúng sanh
có căn cơ chín muồi
chính là Tịnh Ðộ, người
có thể chân chánh tin
tưởng lời dạy trong Tịnh
Ðộ, chắc thật niệm Phật
cầu nguyện vãng sanh.
Người có căn cơ chín
muồi trong thời Mạt pháp
sanh đến tây phương Cực
Lạc thế giới bất thoái
thành Phật, đó là căn
chín muồi. Chúng
sanh căn tánh chưa chín
muồi trong thời Mạt pháp
là những ai? [Là
những người] chẳng thể
tiếp nhận giáo pháp Tịnh
Ðộ. Ngày nay chúng
ta thấy những người học
Thiền, học Mật, học
những pháp môn khác,
chúng ta rất rõ ràng,
tại sao vậy? Trong
đời này họ nhất định
chẳng có khả năng tự
mình đoạn phiền não,
những pháp môn thông
thường chẳng ngoại lệ.
Khi Kiến Tư phiền não
đoạn dứt mới có thể vượt
thoát khỏi sáu nẻo luân
hồi, tuy thoát khỏi sáu
nẻo luân hồi nhưng vẫn
còn trong mười pháp
giới, mười pháp giới vẫn
còn là một vòng quanh
quẩn to lớn, vẫn còn
giới hạn. Còn phải
đoạn Trần Sa phiền não,
rồi tiến lên phá một
phẩm vô minh mới siêu
việt mười pháp giới,
chứng được pháp thân,
vãng sanh về Nhất Chân
pháp giới. Nhất
Chân pháp giới nói trong
kinh Hoa Nghiêm hơn phân
nửa là Hoa Tạng thế
giới. Khó lắm!
Chuyện này quá khó, khó
vô cùng! Ðừng nói
đoạn hết [tất cả] Kiến
Tư phiền não, một phẩm
Kiến Tư cũng chẳng dễ,
có bao nhiêu người có
thể phá Thân Kiến của
mình, có thể không nghĩ
về sự hưởng thọ của thân
này? Cửa ải này
phá xong thì mới phá một
phần của Kiến Tư, mới
phá một phẩm của tám
mươi tám phẩm.
Tuyệt chẳng khởi tâm
động niệm muốn cho thân
này hưởng thọ thì mới
phá được một phẩm Thân
Kiến; tám mươi tám phẩm
mới phá được một phẩm
thì chẳng dùng được.
Từ chỗ này chúng ta mới
biết tu học những pháp
môn khác thật sự cần
phải có lợi căn, thiện
quả như Phật nói mới
được. Lợi căn,
thiện quả gì chúng ta
cũng không có, chỉ có
một chút thiện căn,
phước đức, nhân duyên
này, nghe được giáo pháp
Tịnh Ðộ, hết lòng chắc
thật niệm Phật, như vậy
mới có được một chút
thành tựu.
Ðoạn kinh
văn phía sau giảng về
phổ hiện sắc thân, như
kinh Lăng Nghiêm nói nên
dùng thân gì để độ hóa
thì Phật, Bồ Tát dùng
thân đó. Phật, Bồ
Tát ở thế gian, chúng ta
phàm phu mắt thịt nhìn
không ra, nói thật ra
trong thế gian có rất
nhiều, rất nhiều, trong
những người buôn bán,
người giúp việc cũng có
Phật, Bồ Tát.
Chúng ta không có cảnh
giác cao nên thường mắc
lỗi, khinh mạn, khinh dễ
Phật, Bồ Tát, tạo ra vô
lượng vô biên tội
nghiệp, tự mình không
biết, Phật, Bồ Tát tuyệt
đối chẳng trách mắng
bạn. Những người
hiểu rõ sự thật này nhất
định sẽ chẳng dám khởi
tâm khinh mạn đối với
hết thảy chúng sanh.
Ý nghĩa quan trọng của
chư Phật, Bồ Tát thị
hiện như vậy là để dạy
chúng ta tu Phổ Hiền
Hạnh ‘Lễ Kính Chư Phật’,
đối với hết thảy người,
sự, vật đều phải chân
thành cung kính, đoạn
dứt phiền não cống cao
ngã mạn của mình.
Mọi người đều biết trong
lịch sử, hai vị Hàn Sơn,
Thập Ðắc ở chùa Quốc
Thanh là hóa thân của
Văn Thù và Phổ Hiền.
Các ngài làm gì trong
chùa? Làm công
việc lặt vặt, chẻ củi,
gánh nước trong nhà bếp.
Có ai kính trọng các
ngài! Phong Can là
A Di Ðà Phật tái lai,
ngài làm gì trong chùa?
Giã gạo, làm công việc
nặng nhọc trong nhà bếp,
phục vụ đại chúng, trong
chùa không có một ai
kính trọng ngài.
Sau này người ta biết
được, mới biết Phật, Bồ
Tát vốn đang chăm sóc
cho chúng ta, chúng ta
mỗi ngày mắc lỗi với các
ngài, có hối hận cũng
không kịp. Ðạo
tràng của chúng ta không
lẽ chẳng có Phật, Bồ Tát
hay sao? Có thể
Phật, Bồ Tát đang làm
việc trong nhà bếp mà
các bạn không biết, mỗi
ngày đều dèm chê họ.
Thế nên phải biết hóa
thân của chư Phật, Bồ
Tát thật sự đều ở xung
quanh chúng ta. Ở
đây nêu ra vài thí dụ để
nói rõ thêm:
Hoặc hiện
nam tử thân, hoặc hiện
nữ nhân thân, hoặc hiện
thiên long thân, hoặc
hiện thần quỷ thân.
Hoặc hiện
thân người nam, hoặc
hiện thân người nữ, hoặc
hiện thân Trời, rồng,
hoặc hiện thân quỷ,
thần.
Mắt thịt
chúng ta nhìn chẳng thấy
những vị này, họ thấy
chúng ta, họ ở xung
quanh chúng ta, có thể
ảnh hưởng chúng ta.
Lúc trước lão cư sĩ Châu
Kính Trụ kể cho tôi nghe
nhân duyên dẫn cụ học
Phật, ban đêm cụ nhìn
thấy quỷ nên mới tin
tưởng. Cụ là người
học khoa học, cũng làm
quan khá lớn, cứ cho
rằng những chuyện này là
mê tín, chẳng bao giờ
chịu tin. Cụ tiếp
xúc được rất nhiều,
nhưng thấy người khác,
nghe người khác kể đều
coi như nghe kể chuyện
cổ tích, bán tín bán
nghi. Cụ làm sao
sanh khởi lòng tin chân
chánh được? Cụ kể
cho tôi nghe, trong thời
kháng chiến cụ đang ở
Trùng Khánh, ban đêm
đánh bài ‘mà chược’ đến
một, hai giờ khuya mới
về nhà. Lúc đó
chẳng có xe, phải đi bộ,
cách rất xa mới có một
cột đèn, đại khái cỡ
chừng hai mươi nến, trên
đường tối đen như mực.
Trên đường đi về nhà,
khoảng đường khá dài,
cũng chẳng có cảm giác
gì khác lạ. Cụ
thấy có một người đang
đi trước cụ chẳng xa, là
một người đàn bà, cụ cứ
đi như vậy cũng chẳng để
ý. Sau khi đi được
một lúc cụ bỗng nhiên
giựt mình, [đặt câu hỏi]
tại sao bà này đi lang
thang một mình trong đêm
tối? Nghĩ như vậy
nên cụ nổi da gà, nhìn
kỹ lại mới thấy bà này
chỉ có phân nửa thân
phía trên, chẳng thấy
thân phía dưới, lúc bấy
giờ cụ mới thật sự khiếp
sợ. Nhờ gặp chuyện
này nên cụ mới bắt đầu
học Phật. Sau khi
học Phật, cụ nói chắc là
hóa thân của Quán Thế Âm
Bồ Tát ‘hoặc hiện thần
quỷ thân’, nếu chẳng
thấy tận mắt, bất kỳ ai
nói, cụ cũng sẽ bán tín
bán nghi, coi như nghe
chuyện cổ tích, nhờ [cụ
nhìn thấy bà này nên]
mới bước vào cửa Phật.
Phía dưới:
Hoặc hiện
sơn lâm xuyên nguyên, hà
trì tuyền tỉnh, lợi cập
ư nhân, tất giai độ
thoát.
Hoặc hiện
núi rừng, nguồn sông,
đồng bằng, sông hồ, suối
giếng để làm lợi ích cho
con người, làm cho tất
cả đều được độ thoát.
Ðây là hiện
‘Thân vô tình’.
Hiện nay mọi nơi đều đề
xướng du lịch ngắm cảnh,
lúc bạn đi du lịch, đi
chơi nhìn thấy những cây
cối, hoa cỏ, những cảnh
núi sông này, sau khi
nhìn thấy bèn có cảm
nhận giác ngộ, [những
cảnh tượng này] đều là
chư Phật, Bồ Tát biến
hiện. Tại sao
người khác nhìn thấy
không khai ngộ mà bạn
nhìn lại khai ngộ?
Cho nên một người khai
ngộ không nhất định phải
là nhân duyên gì, phàm
những gì giúp đỡ bạn
khai ngộ, bất luận là
người, sự, vật đều là
Phật, Bồ Tát gia trì.
Từ đó bạn mới biết,
không những Phật, Bồ Tát
thị hiện làm chúng sanh
hữu tình mà còn thị hiện
chúng sanh vô tình ở
xung quanh bạn nữa.
Chúng ta không biết ngôn
ngữ, thân thể tạo tác,
khởi tâm động niệm [của
chúng ta], thậm chí tự
mình không biết mình ngu
si ám độn, nhưng Phật,
Bồ Tát biết rõ ràng,
minh bạch. Người
Trung Quốc thời xưa có
câu:
‘Trên đầu ba thước có
thần minh’, lời này
chẳng giả. Số quỷ
thần nhiều, số Phật, Bồ
Tát còn nhiều hơn, đều
là đại từ đại bi, niệm
niệm không gì chẳng là
cảm hóa chúng ta, làm
cho chúng ta quay về,
sớm một ngày thoát khỏi
lục đạo luân hồi, không
tạo ác nghiệp nữa.
Thế nên phàm những gì có
lợi cho chúng sanh, đặc
biệt là có lợi cho chúng
sanh khai ngộ, giải
thoát, chúng ta biết đều
là Phật, Bồ Tát gia trì,
chẳng có nơi nào Phật,
Bồ Tát không hiện thân.
Hoặc hiện
Thiên Ðế thân, hoặc hiện
Phạm Vương thân.
Hoặc hiện
thân Thiên Ðế, hoặc hiện
thân Phạm Vương.
Chúng ta
đọc đến đây thì đừng coi
thường những tín đồ tôn
giáo khác. Ðối với
hết thảy tín đồ tôn giáo
khác chúng ta phải cung
kính, tâm và thái độ
cung kính họ cùng tâm và
thái độ đối với Phật, Bồ
Tát chẳng khác.
Tại sao vậy? Những
hạng chúng sanh nào Phật
độ không được, họ tin
Thượng Ðế, thì Phật, Bồ
Tát bèn hiện thân Thượng
Ðế để độ họ, như vậy
không phải là cùng một
chuyện hay sao?
Chẳng có gì khác nhau
hết. Chẳng qua là
ngài chỉ quẹo qua một
ngõ khác mà thôi, phải
sanh lên trời rồi sau đó
mới học Phật. Hiện
nay chúng ta đang học
Phật thì thù thắng hơn
họ rất nhiều, họ phải đi
đường vòng quanh.
Họ chẳng cung kính chúng
ta là đương nhiên rồi,
họ chẳng hiểu, có thành
kiến, có chấp trước, bài
xích. Chúng ta đối
với họ chẳng thể không
cung kính, chúng ta biết
Phật, Bồ Tát hóa thân
trên trời và nhân gian
vô lượng vô biên.
‘Thiên Ðế’ là danh xưng
của người Trung Quốc gọi
Ngọc Hoàng Ðại Ðế, là vị
được Ðạo Giáo sùng bái.
Thượng Ðế của một số tôn
giáo Tây phương đại khái
là Ðao Lợi Thiên Chủ.
‘Phạm Vương’ là Ðại Phạm
Thiên Vương, có một số
tôn giáo ở Ấn Ðộ sùng
bái Ðại Phạm Thiên.
Hoặc hiện
Chuyển Luân Vương thân.
Hoặc hiện
thân Chuyển Luân Vương.
Chuyển Luân
Vương là người có phước
báo lớn nhất trong cõi
người. Những báo
cáo về khoa học cận đại
thường đăng tin có những
vật phi hành chẳng rõ từ
đâu ngoài không gian
xuất hiện trên trái đất.
Những báo cáo này rất
nhiều, thậm chí còn nói
có người ngoài không
gian. Luân Bảo của
Luân Vương nói thật ra
rất giống với dĩa bay,
đây là công cụ giao
thông và cũng là võ khí
của ngài. Cho dù
những người này lái dĩa
bay đến đây, có phải họ
là Chuyển Luân Vương
không? Không chắc,
Chuyển Luân Vương sai
người đến đây khảo sát
tình hình, nhất định
chẳng phải Chuyển Luân
Vương. Làm sao
biết được? Chuyển
Luân Vương từ bi, đối
với hết thảy chúng sanh
tuyệt đối chẳng gây tổn
hại. Thế nên chúng
ta có thể nói nếu là
công cụ giao thông của
Luân Vương thì họ nhất
định là sứ giả của Luân
Vương. Cũng giống
như ngày nay chúng ta
phái người đi thám hiểm
ngoài không gian, phi
hành gia Mỹ đã đi, phi
hành gia Nga cũng đi
rồi, tuyệt đối chẳng
phải tổng thống Mỹ, tổng
thống Nga, là họ phái
người đi, đây là chuyện
chúng ta có thể tưởng
tượng được. Hiện
thân Chuyển Luân Vương.
Hoặc hiện
cư sĩ thân.
Hoặc hiện
thân cư sĩ.
Người tại
gia học Phật.
Hoặc hiện
Quốc vương thân, hoặc
hiện Tể phụ thân.
Hoặc hiện
thân Quốc vương, hoặc
hiện thân Tể phụ
Tể phụ là
quan, chúng ta gọi là
quan lớn, hiện nay những
chức Tổng lý, Thủ tướng,
Bộ trưởng đều là [chức]
Tể phụ.
Hoặc hiện
quan thuộc thân.
Hoặc hiện
thân các quan thuộc.
Ðây là
những quan viên trong
chính phủ, là thân phận
người tại gia.
Hoặc hiện
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu
bà tắc, Ưu bà di thân.
Hoặc hiện
thân Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di.
Ðây là thị
hiện thân phận của người
học Phật. Vì ở đây
có ghi Ưu bà tắc, Ưu bà
di, phía trước ghi cư
sĩ, giữa hai hạng này có
chỗ khác nhau. Cư
sĩ không nhất định là
người học Phật, là những
người tại gia có học
thức, có đạo đức, chẳng
làm quan. Ở đây có
chút sai khác như vậy.
Nãi chí
Thanh Văn, La Hán, Bích
Chi Phật, Bồ Tát đẳng
thân, nhi dĩ hóa độ, phi
đản Phật thân, độc hiện
kỳ tiền.
Cho đến
thân Thanh Văn, La Hán,
Bích Chi Phật, Bồ Tát,
v.v… để hóa độ, chứ
chẳng phải chỉ có thân
Phật hiện ra trước chúng
thôi đâu.
Ðức Phật
Thích Ca thị hiện lần
này là dùng thân Phật
thị hiện. Ngoại
trừ dùng thân Phật ra,
Ngài còn dùng những thân
khác thị hiện, trăm ngàn
vạn ức Ứng hóa thân đều
ở trong thế gian chúng
ta. Nếu chúng ta
hỏi đức Phật Thích Ca
hiện nay có ở đây không?
Ðương nhiên là có, chẳng
dùng thân Phật để xuất
hiện. Phàm phu
chúng ta cứ cho rằng đức
Phật Thích Ca đã diệt độ
rồi, là thân tướng của
Phật diệt độ. Nếu
Ngài thị hiện thân người
nam, người nữ, thiên
long, quỷ thần, cư sĩ,
tể quan, tỳ kheo, tỳ
kheo ni thì chúng ta làm
sao nhận ra? Lúc
nào cũng có, nơi nào
cũng có. Trên lịch
sử chúng ta chỉ biết Trí
Giả đại sư là đức Phật
Thích Ca Mâu Ni tái lai,
Ngài hiện thân tỳ kheo.
Ðây là thân phận lộ ra
mọi người mới biết được,
thân phận khác chưa lộ
ra quá nhiều, quá nhiều!
Thân phận lộ ra chỉ là
một phần vạn, hai phần
vạn mà thôi, đại đa số
thân phận chẳng lộ ra.
Nếu thân phận thường
thường lộ ra thì có ảnh
hưởng phụ đối với sự
hoằng truyền Phật giáo,
chẳng có lợi cho việc
giáo hóa chúng sanh, chỉ
lâu lâu mới lộ một lần,
việc này chúng ta nhất
định phải biết.
Thế nên đối với hết thảy
mọi người phải giữ lòng
cung kính, thái độ của
chúng ta phải thường giữ
tâm hoan hỷ, phải hiểu
đạo lý này, chư Phật, Bồ
Tát không ai là chẳng
vậy. Xem tiếp đoạn
kinh kế:
Nhữ quán
ngô lũy kiếp cần khổ, độ
thoát như thị đẳng nan
hóa cang cường tội khổ
chúng sanh.
Ông xem Ta
trải qua bao số kiếp cần
cù khổ nhọc độ thoát
những chúng sanh ương
ngạnh, đầy tội khổ, khó
khai hoá như thế.
Ðức Phật
Thích Ca thị hiện làm
gương mẫu cho Bồ Tát,
dạy Bồ Tát phá một phẩm
vô minh, chứng một phần
Pháp Thân thì sẽ có khả
năng biến hóa trăm ngàn
vạn ức hóa thân.
Ðáng nên học Phật, quảng
độ chúng sanh.
Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát,
Biệt Giáo Sơ Ðịa Bồ Tát
có thể tùy loại hóa
thân. Trong kinh
Lăng Nghiêm chúng ta
thấy Quán Thế Âm Bồ Tát,
chư vị nhất định phải
biết Quán Thế Âm Bồ Tát
trong kinh Lăng Nghiêm
là Sơ Trụ Bồ Tát, chẳng
phải là Ðẳng Giác Bồ
Tát. Ngài thuật
lại quá trình tu hành
của mình, lý luận và
phương pháp tu hành, báo
cáo cho đại chúng biết.
Công phu của Ngài là
‘Xoay trở vào trong nghe
tự tánh, tánh thành vô
thượng đạo’. Phá
một phẩm vô minh, kiến
tánh xong thì Ngài có
năng lực ba mươi hai
Ứng. Thế nên trong
hội Lăng Nghiêm chúng ta
biết Quán Âm là Sơ Trụ
Bồ Tát, Phát Tâm Trụ, Bồ
Ðề tâm vừa mới phát bèn
có năng lực lớn như vậy.
Quán Âm Bồ Tát trong
kinh Hoa Nghiêm, sau này
sẽ giảng đến Năm mươi ba
lần tham vấn của Thiện
Tài đồng tử, tham vấn
Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán
Thế Âm Bồ Tát này đại
biểu quả vị Thất Hồi
Hướng, Thất Hồi Hướng Bồ
Tát. Trong kinh
Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn
là Ðẳng Giác Quán Thế Âm
Bồ Tát. Bồ Tát
giống như Phổ Hiền trong
kinh Hoa Nghiêm vậy, có
‘Ðạo Tiền’, có ‘Ðạo Vị’,
Ðạo Tiền là trước lúc
chứng Ðẳng Giác, có thể
nói là từ quả vị Sơ Tín
đến Pháp Vân Ðịa gọi là
Ðạo Tiền; Ðẳng Giác là
Ðạo Vị. Sau khi
thành Phật, thả chiếc bè
từ, lại dùng thân Bồ Tát
độ hóa chúng sanh, cùng
việc Thế Tôn nói ở đây
chẳng nhất định phải
hiện thân gì, Ngài có
khả năng tận hư không,
trọn khắp pháp giới cùng
hết thảy chúng sanh cảm
ứng đạo giao, chúng sanh
có cảm, ngài liền có
ứng. Cảm của chúng
sanh có hiển, có ẩn,
hiển là gì? Có tâm
cầu Phật, Bồ Tát.
Ẩn là gì? Tâm niệm
cầu Phật, Bồ Tát tự mình
cũng chẳng biết, việc
này rất kỳ lạ. Tại
sao mình cầu Phật, Bồ
Tát đến giúp đỡ mà tự
mình chẳng biết?
Nói thật ra là vì thiện
căn phước đức của mình
đã chín muồi, tự mình
chẳng biết. Nhưng
mức chín muồi này của
bạn cảm động đến Phật,
Bồ Tát, chư Phật, Bồ Tát
nhất định sẽ ứng hóa đến
tạo cho bạn tăng thượng
duyên, để giúp đỡ bạn,
thành tựu cho bạn.
Bạn chẳng tìm Ngài, Ngài
đến tìm bạn, trong kinh
Vô Lượng Thọ có nói:
‘Làm người bạn chẳng
thỉnh của hết thảy chúng
sanh’, bạn chẳng mời
họ, họ tự động tới.
Phía sau là đoạn Thế Tôn
nhờ Ngài:
Kỳ hữu vị
điều phục giả, tùy
nghiệp báo ứng, nhược
đọa ác thú, thọ đại khổ
thời nhữ đương ức niệm
ngô tại Ðao Lợi Thiên
Cung ân cần phó chúc,
lịnh Sa Bà thế giới chí
Di Lặc xuất thế dĩ lai
chúng sanh tất sử giải
thoát, vĩnh ly chư khổ,
ngộ Phật thọ ký.
Còn những
kẻ chưa được điều phục
thì theo nghiệp mà chịu
báo ứng. Nếu họ
đọa vào đường dữ và chịu
nhiều sự đau khổ thì ông
nên nhớ Ta ở cung trời
Ðao Lợi đã ân cần phó
chúc [ông] làm cho chúng
sanh ở thế giới Sa Bà
đến lúc đức Phật Di Lặc
xuất thế đều được độ
thoát, vĩnh viễn xa lìa
các sự khổ, được gặp
Phật và được thọ ký.
Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni tại cung
trời Ðao Lợi ân cần ủy
thác công việc giáo hóa
chúng sanh cho Ðịa Tạng
Bồ Tát, vô cùng rõ ràng,
minh bạch. [Những
người] đã từng trong
thời gian giáo hóa của
Thế Tôn, kể cả thời Mạt
pháp, cũng có nghĩa là
trong pháp vận mười hai
ngàn năm của đức Phật
Thích Ca, những người đã
được nghe danh hiệu
Phật, nhìn thấy tượng
Phật, lúc Phật còn tại
thế đã thấy Phật, lúc
Phật chẳng còn tại thế
đã nhìn qua hình tượng
của Phật, hoặc là tượng
điêu khắc, hoặc là tranh
vẽ. Hoặc nghe đến
danh hiệu của đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, nhìn
qua hình tượng của Tam
Bảo, bất luận Tam Bảo
này là thiệt hay giả, có
tu hoặc chẳng có tu, đều
không quan trọng vì chỉ
cần họ có dịp tiếp xúc
thì đều được trồng thiện
căn. Tuy đã trồng
thiện căn nhưng ác
nghiệp tập khí của họ
quá nặng. Có thiện
căn dầy thì sanh một
chút cung kính, không
chịu y giáo phụng hành;
thiện căn mỏng thì không
những chẳng sanh tâm
cung kính, ngược lại còn
hủy báng. Thế nên
chư vị phải biết, lúc
mới học Phật chúng ta bị
một chút hủy báng chẳng
đáng kể gì hết.
Chư Phật Như Lai ứng hóa
nơi thế gian này, bị hủy
báng quá nhiều, quá
nhiều rồi, Phật chẳng
giữ trong tâm, đây là
việc chúng ta nên học
các ngài. Bị những
sự sỉ nhục, hủy báng
này, chúng ta nhìn chúng
sanh tạo tội nghiệp phải
nên khởi tâm thương xót,
làm sao chúng ta có thể
phiền họ được? Làm
sao có thể trách họ
được? Nếu còn sanh
khởi tâm muốn trả đũa
thì bạn hoàn toàn sai
mất rồi. Bạn phải
biết họ ngu si, họ chẳng
có trí huệ, phiền não
tập khí của họ quá nặng
nên họ mới tạo tác ác
nghiệp, thương xót họ
còn không kịp thì có lý
nào trách móc họ!
Ðây là chư Phật, Bồ Tát
thị hiện cho chúng ta
xem, dạy chúng ta làm
sao học tập. Người
tạo ác nghiệp thì nhất
định phải đọa địa ngục,
‘nếu đọa vào đường dữ và
lúc chịu nhiều đau khổ’,
đây là đọa địa ngục, tạo
tội nghiệp trong Phật
pháp.
Sau đó là
lời Thế Tôn phó chúc,
‘nhữ đương ức niệm’,
‘nhữ’ là chỉ Ðịa Tạng Bồ
Tát, lời này là nói với
Ðịa Tạng Bồ Tát: Ông nên
nghĩ đến. ‘Ngô’ là
đức Phật Thích Ca tự
xưng, Thế Tôn ‘tại Ðao
Lợi thiên cung’, hôm nay
‘ân cần phó chúc’, nhờ
ông làm việc này.
‘Lịnh Sa Bà thế giới,
chí Di Lặc xuất thế dĩ
lai chúng sanh’, đây
chẳng phải là chúng sanh
thông thường, đều đã gặp
được Phật pháp, những
chúng sanh tạo tội
nghiệp nơi Tam Bảo,
chúng ta phải hiểu rõ
việc này. Cũng như
phía trước có nói: ‘một,
hai trong mười người’,
số lượng trong đó rất
nhiều. Mãi đến lúc
Phật Di Lặc xuất thế,
thời gian này dài năm
mươi sáu ức bảy ngàn vạn
năm, là người xưa nói
như vậy.
‘Tất sử
giải thoát, vĩnh ly chư
khổ, ngộ Phật thọ ký’,
Ðịa Tạng Bồ Tát dùng
pháp môn gì? Nói
cho quý vị biết Ngài
dùng pháp môn Niệm Phật.
Nghiệp chướng, tập khí
của chúng sanh đời Mạt
pháp rất nặng, những
pháp môn khác nhất định
không thể thành tựu.
Tuy nói pháp môn bình
đẳng, chẳng có cao thấp,
nhưng căn tánh chúng
sanh chẳng đồng, tập
nhiễm chẳng đồng, tu học
những pháp môn khác khó
khăn, pháp môn niệm Phật
dễ hơn. Phía trước
chúng ta thấy cô Bà La
Môn, sau đó là cô Quang
Mục, cả hai đều dùng
pháp môn Niệm Phật.
Chỉ có pháp môn Niệm
Phật, vãng sanh đến tây
phương Cực Lạc thế giới
mới được thật sự giải
thoát, vĩnh viễn xa lìa
các sự khổ, gặp Phật A
Di Ðà được Ngài thọ ký,
đây đều là sự thật.
Nhĩ thời
chư thế giới, phân thân
Ðịa Tạng Bồ Tát cộng
phục nhất hình, thế lệ
ai luyến.
Bấy giờ các
phân thân của Ðịa Tạng
Bồ Tát ở các thế giới
hợp lại thành một hình,
rơi lệ ai luyến.
Ðây là Ðịa
Tạng Bồ Tát tiếp nhận
lời phó thác của đức
Phật Thích Ca, lúc đó
ngài rất cảm động.
Vô lượng phân thân có
thể hợp thành một thân.
Bạch kỳ
Phật ngôn, ngã tùng cửu
viễn kiếp lai mông Phật
tiếp dẫn, sử hoạch bất
khả tư nghị thần lực, cụ
đại trí huệ.
Bạch Phật
rằng: ‘Từ số kiếp lâu xa
đến nay, con nhờ đức
Phật tiếp độ dẫn dắt,
khiến cho con có thần
lực chẳng thể nghĩ bàn,
đầy đủ trí huệ rộng
lớn.’
Ðây là
những lời cảm ơn, chúng
ta phải thể hội ý tứ
này, ‘tri ân báo ân’.
Ðịa Tạng Bồ Tát có thành
tựu như vậy, ngài nghĩ
lúc ban đầu cũng là phàm
phu tu học thành tựu.
Ðược sự giúp đỡ của chư
Phật, Bồ Tát nên ngài
mới có thành tựu như
vậy. Luôn luôn
chẳng quên cội nguồn,
đoạn kinh này dạy chúng
ta phải tri ân.
Thân chúng ta có được từ
cha mẹ, cha mẹ sanh
mình, nuôi mình.
Khi mình khôn lớn thành
người rồi, có bao nhiêu
người có thể nghĩ đến ân
đức của cha mẹ?
Cầu học, học thành tài
rồi, có được bằng cấp,
có bao nhiêu người nghĩ
đến ân đức của thầy
giáo? Trong kinh
Ðại Bát Nhã, Phật nói
Nhị Ðịa Bồ Tát có tám
môn cần phải học, một
môn trong đó chính là
‘Tri ân báo ân’.
Chư vị phải biết, Nhị
Ðịa Bồ Tát là tiêu biểu
pháp, Nhị Ðịa tri ân báo
ân, vậy thì Sơ Ðịa, Thập
Hồi Hướng, Thập Hạnh,
Thập Trụ, Thập Tín có
cần tu không? Tất cả
đều phải tu. Hoa
Nghiêm nói lời chân thật
cho chúng ta, một vị thứ
tức là hết thảy vị, hết
thảy vị tức là một vị.
Thế nên chúng ta có thể
học được ‘đại pháp’ từ
trong kinh Hoa Nghiêm.
Những gì mỗi vị Bồ Tát
tiêu biểu, phía sau
chúng ta sẽ thấy, ba
mươi mấy loại Thần chúng
này, họ đều là Bồ Tát.
Lúc nãy có nói, nên dùng
thân quỷ thần thì họ
liền hiện thân quỷ thần,
đồng nam, đồng nữ, một
trăm bảy mươi mấy chúng
đều là Phật, Bồ Tát hóa
thân, đều triển hiện vạn
đức vạn năng trong tự
tánh của chúng ta.
Phổ Hiền tiêu biểu cho
Tổng Tướng (tướng
Chung), những chúng này
tiêu biểu cho Sai Biệt
Tướng, trong tổng có
biệt, trong biệt có
tổng: Tổng là một, Biệt
là nhiều, một là nhiều,
nhiều là một, một và
nhiều chẳng hai.
Phía trước
chúng ta thấy hai mươi
vị Bồ Tát tiêu biểu
pháp, mười vị Bồ Tát
trước cùng tên, mười vị
sau khác tên, dụng ý ở
đâu? Là nói với
chúng ta ‘Ðồng’ là ‘Ðồng
trong những cái Dị’, Dị
là ‘Dị trong những cái
Ðồng’, Ðồng và Dị chẳng
hai. Hiển thị ra
tâm tánh vạn đức vạn
năng của chúng ta, chữ
‘vạn’ này chẳng phải là
con số, trí huệ đức năng
trong tâm tánh là vô
lượng vô biên. Từ
đó bạn mới biết toàn bộ
Kinh Hoa Nghiêm nói về
cái gì? Nói về
Thể, Tướng, Tác Dụng của
tự tánh mình, chẳng nói
gì khác. Toàn bộ
kinh Hoa Nghiêm vốn là
nói về chính mình, ngàn
kinh vạn luận ngoài kinh
Hoa Nghiêm nói về sai
biệt; tóm lại Hoa Nghiêm
là Tổng, hết thảy kinh
luận là Biệt, Biệt là
Biệt của Tổng, Tổng là
Tổng của Biệt, là một
chẳng phải hai. Từ
cơ sở này, bạn nghĩ đến
tận hư không, trọn khắp
pháp giới đều là tự
mình, như vậy bạn mới có
thể Giải được viên mãn.
Giải viên mãn rồi thì
bạn phải Tu viên mãn,
phải Chứng viên mãn, đây
là mục tiêu chung cực
của Phật giáo.
Phương Ðông Mỹ tiên sinh
nói về: ‘sự hưởng thọ
tối cao của con người’,
một tí gì cũng chẳng
giả. Tôi có được
một chút thọ dụng, nên
tôi luôn luôn nhớ đến ân
đức của thầy. Phật
pháp thù thắng vô cùng,
vi diệu hạng nhất trong
thế gian và xuất thế
gian, nếu chẳng có cao
nhân chỉ điểm, bạn làm
sao nhận biết được?
Cả đời tôi
học Phật chẳng có ý mong
cầu, cảm ứng này là cảm
ứng tiềm tàng. Tôi
chẳng có tâm mong cầu,
chắc là thiện căn quá
khứ chín muồi nên tôi
gặp được những vị thầy
này, chư Phật, Bồ Tát
hóa hiện. Phương
pháp họ dạy cho tôi khác
với phương pháp dạy
người khác. Tôi
theo Phương tiên sinh
học Triết Học, ông giới
thiệu Phật pháp cho tôi,
dạy cho tôi biết Triết
học trong kinh Phật là
đỉnh cao nhất trong
Triết học thế giới, ngài
dùng phương pháp này
giới thiệu cho tôi.
Ông dạy học trong
trường, chẳng dạy việc
này cho những học sinh
khác. Sau khi tiếp
xúc đến Phật pháp, tôi
có duyên gặp Chương Gia
đại sư, căn cơ của tôi
là nhờ Chương Gia đại sư
xây dựng. Ðại sư
viên tịch cũng là vì
tôi, tôi biết rất rõ; vì
nếu Ngài không viên tịch
thì tâm học Phật của tôi
sẽ chẳng khẩn thiết như
vậy; khi Ngài ra đi rồi,
tôi mất chỗ nương dựa.
Tôi cùng Cam Châu Hoạt
Phật dựng lều nơi lò
thiêu của ngài, tôi ở đó
ba ngày ba đêm, hết sức
thành thật và suy tư
trong ba năm tôi theo
Ngài học, Ngài đã dạy
tôi những gì. Moi
móc trí nhớ, sắp xếp lại
những lời dạy trong ba
năm nay, tôi rất cảm
kích Ngài, gốc đã được
Ngài chôn sâu, rễ được
vun bồi vững vàng.
Sau đó theo học thầy Lý
mười năm mới có được một
ít thành tựu.
Người theo học thầy Lý
rất nhiều, quá nhiều,
tại sao không thể thành
tựu? Vì chẳng có
gốc rễ. Trong ba năm ấy
gốc rễ của tôi đã được
vun bồi. Tôi học
Phật, học Phật pháp theo
hai vị thầy, học Thế
pháp theo một vị thầy,
rất đơn thuần. Tôi
có thái độ của một người
học trò, y giáo phụng
hành, chẳng trái nghịch
lời dạy của thầy giáo,
tuân thủ lời dạy của
thầy, trong Phật pháp
gọi là ‘sư tư đạo hiệp’.
Chúng ta
giảng kinh dạy học, nhất
định phải cúng dường
thầy giáo ở một bên,
hiện trường này của
chúng ta có thầy giáo
hiện diện. Thầy
giáo dạy chúng ta, nếu
chẳng có hộ pháp đắc lực
thì cũng chẳng thể thành
tựu. Hàn quán
trưởng hộ trì ba mươi
năm, chúng ta treo ảnh
của bà ở đối diện, mỗi
lớp bà đều có tham dự và
nhìn thấy, tinh thần của
bà đích thật tồn tại
trong đạo tràng này,
trong lớp học chúng ta,
chư Phật, Bồ Tát đều
hiện diện. Chúng
ta dùng tâm niệm gì để
học tập? Cảm ân
đội đức. Chúng ta
biết đời này nhất định
thành tựu, chư Phật hộ
niệm, long thiên ủng hộ,
đâu có lý nào không
thành tựu được?
Hàn Quán Trưởng có huệ
nhãn, chẳng phải là
người thường, lần trước
pháp sư Hàn Quốc đến
đây, nhìn thấy tấm ảnh
này, [bảo Hàn Quán
Trưởng là] Quán Âm Bồ
Tát tái lai. Bà
giao phó công tác hộ
pháp cho cư sĩ Lý Mộc
Nguyên, ông Lý chẳng phụ
lời ủy thác này.
Lần đầu tiên Lý cư sĩ
đến thư viện ở Ðài Bắc,
Hàn Quán Trưởng tặng cho
ông một bộ Tây Phương
Tam Thánh, giao Phật Bảo
cho ông. Ðến lần
thứ hai tặng ông một bộ
‘Ðại Tạng Kinh’, giao
Pháp Bảo cho ông.
Sau khi vãng sanh, chúng
ta đều đến đây, cũng
giao Tăng Bảo cho ông
rồi. Ông phải phụ
trách hộ pháp nên mới có
nhân duyên thù thắng
này. Chúng ta
trong thời đại ngày nay
có nhiều tai nhiều nạn,
có thể ở đây giảng kinh
Hoa Nghiêm chẳng dễ, bạn
phải biết khai giảng
kinh này, người ở địa
phương này có phước báo
bao lớn, thiện căn bao
lớn. Nếu thiện
căn, phước đức, nhân
duyên chẳng đầy đủ thì
pháp hội này nhất định
sẽ chẳng mở nổi.
Pháp hội này có thể xây
dựng ở đây, là do hết
thảy chư Phật Như Lai hộ
niệm, long thiên thiện
thần thủ hộ, trong tâm
chúng ta biết rất rõ,
rất minh bạch.
Ân cha mẹ,
ân sư trưởng không thể
quên, Phật dạy chúng ta
‘Trên đền bốn ân nặng’.
Bốn ân này là ‘Ân cha
mẹ’, ‘Ân sư trưởng’; Tam
Bảo thuộc phạm vi của Sư
Trưởng, Tam Bảo là thầy
của chúng ta; ‘Ân quốc
gia’, ‘Ân chúng sanh’.
Quốc gia bảo vệ chúng
ta, làm cho chúng ta an
cư lạc nghiệp; chúng
sanh, chúng ta không thể
xa lìa xã hội, tách rời
đại chúng và sanh tồn
riêng rẽ. Ẩm thực
y phục của chúng ta đều
phải nhờ rất nhiều người
canh tác, trồng trọt tạo
thành, phải thường
thường suy nghĩ.
Làm sao báo ân?
Phải hết lòng học tập,
thật sự đoạn phiền não,
khai trí huệ, làm Phật,
làm Bồ Tát, giống Ðịa
Tạng Bồ Tát vậy, được
vậy thì mới là ‘Trên đền
bốn ân nặng, Dưới độ ba
đường khổ’. Ðịa
Tạng Bồ Tát làm gương
tốt nhất cho chúng ta,
chúng ta phải học tập.
Ðịa Tạng học theo Phật,
học rất giống, bạn coi
phía dưới Ngài nói:
Ngã sở phân
thân, biến mãn bá thiên
vạn ức Hằng hà sa thế
giới, mỗi nhất thế giới
hóa bá thiên vạn ức
thân, mỗi nhất thân độ
bá thiên vạn ức nhân,
lịnh quy kính Tam Bảo,
vĩnh ly sanh tử, chí
Niết Bàn lạc.
Các phân
thân của con thị hiện ở
khắp trăm ngàn vạn ức
Hằng hà sa thế giới,
trong mỗi thế giới hóa
hiện trăm ngàn vạn ức
thân, mỗi thân độ trăm
ngàn vạn ức người, khiến
họ quy kính Tam Bảo,
vĩnh viễn xa lìa sanh
tử, đến được Niết Bàn an
lạc.
Phật độ hóa
chúng sanh cũng phân
thân như vậy, độ thoát
như vậy, Ðịa Tạng Bồ Tát
biểu diễn rất hoàn hảo,
chân chánh là học trò
giỏi của Phật.
Ngài cũng giống như
Phật, phân thân đến thế
giới nhiều như số cát
sông Hằng, chẳng nề cực
nhọc, độ thoát vô lượng
vô biên chúng sanh.
Ba câu cuối này nói về
thành tích độ thoát
chúng sanh của Ngài.
Thứ nhất là nhất định
phải giúp chúng sanh quy
y Tam Bảo, kính ngưỡng
Tam Bảo, giai đoạn thứ
nhất này tiếp dẫn quảng
đại chúng sanh.
Quy y Tam Bảo chưa hẳn
có thể liễu thoát sanh
tử, thoát ly tam giới,
sự thật này mọi người
đều rất rõ ràng.
Có bao nhiêu người quy y
nhưng chẳng sửa đổi tập
khí, tật xấu, chẳng chịu
hết lòng tu học.
Giai đoạn thứ nhất, đó
là nghiệp chướng nặng
nề, họ còn chưa nghĩ đến
liễu sanh tử, còn cho
rằng sáu nẻo luân hồi
cũng khá tốt, chẳng chịu
xa lìa sáu nẻo luân hồi,
ngu ám. Những
người lợi căn đều biết
rõ sáu nẻo là khổ, tam
giới đều là khổ; ‘Khổ
Khổ, Hoại Khổ, Hành
Khổ’, họ biết tam giới
đều khổ, hạ quyết tâm
phải thoát ly biển khổ,
như vậy gọi là xuất tam
giới, vĩnh viễn thoát ly
sanh tử. Trong
sanh tử có hai loại,
người biết được cũng
chẳng nhiều: một là Phần
Ðoạn Sanh Tử, thân này
của chúng ta, còn một
loại gọi là Biến Dịch
Sanh Tử, rất ít người
biết đến. Ðoạn dứt
sanh tử của thân chúng
ta, thì siêu việt sáu
nẻo luân hồi được, A La
Hán và Bích Chi Phật đều
làm được. Biến
Dịch Sanh Tử thì hơi
phiền phức, mãi cho đến
Viên Giáo Ðẳng Giác Bồ
Tát vẫn chưa đoạn nổi
Biến Dịch Sanh Tử, khi
đoạn tận rồi thì mới
chứng được Phật quả Viên
Giáo. Ðịa Tạng Bồ
Tát giúp đến cùng, chẳng
phải chỉ giúp bạn một
giai đoạn, chẳng thoái
tâm giữa đường, một mạch
giúp đến cùng.
Ngày nay
chúng ta đọc kinh Ðịa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
nơi đây, có duyên với
Ðịa Tạng Bồ Tát, ở đây
có một mật nghĩa.
Mật nghĩa là gì?
Dạy chúng ta phải phát
tâm học theo Ðịa Tạng Bồ
Tát, phải phát tâm làm
Ðịa Tạng Bồ Tát, cô Bà
La Môn, cô Quang Mục đều
là gương tốt của chúng
ta. Nếu chúng ta
đọc kinh này xong, rất
cảm động, thực sự cũng
phát nguyện này: chúng
ta đến tận cùng kiếp vị
lai, độ thoát hết thảy
chúng sanh khổ nạn,
chúng sanh chưa thành
Phật, chúng ta sẽ không
thành Phật, như vậy thì
hiện tại bạn là Ðịa Tạng
Bồ Tát. Ðịa Tạng
Bồ Tát được gọi là đại
nguyện, bạn phát đại
nguyện này thì bạn sẽ
được chư Phật hộ niệm,
hết thảy Bồ Tát cung
kính vây quanh, chúng ta
phải học tập ở chỗ này.
‘Chí Niết Bàn lạc’, lìa
khổ được vui.
‘Vĩnh ly sanh tử’ là
giúp đỡ chúng sanh ‘lìa
khổ’, sau đó ‘được vui’.
Niết Bàn là niềm vui cứu
cánh viên mãn thanh
tịnh. Xin xem đoạn
kế:
Ðản ư Phật
pháp trung, sở vi thiện
sự, nhất mao nhất đế
[7],
nhất sa nhất trần, hoặc
hào phát hứa, ngã tiệm
độ thoát, sử hoạch đại
lợi.
Những chúng
sanh nào ở trong Phật
pháp dù làm việc thiện
chỉ bằng một sợi lông,
một giọt nước, một hạt
cát, một hạt bụi, hoặc
một mảy lông tóc, con
đều độ thoát dần, làm
cho họ được lợi ích lớn.
Người xưa
thường khuyên chúng ta:
‘Ðừng chê việc thiện nhỏ
rồi chẳng làm’.
Việc này là việc thiện
nhỏ nhoi, tôi làm để làm
gì? Ðây là quan
niệm sai lầm của chúng
ta. ‘Ðừng nói
việc ác nhỏ rồi cứ làm’,
đây là việc ác nhỏ,
chẳng sao cả, có hại gì
đâu, có thể làm, [nghĩ
vậy thì] sai rồi. Chư
vị nên biết việc thiện
nhỏ bằng mảy tơ cũng
trọn khắp hư không pháp
giới, ngược lại việc ác
bằng mảy tơ cũng trọn
khắp hư không pháp giới.
Ðừng nói những báo ứng
khác, [việc ác này] nhất
định sẽ chướng ngại tánh
đức của bạn, đó là phiền
phức, bạn sẽ chẳng thể
minh tâm kiến tánh.
Bạn xem Phật, Bồ Tát có
từ bi không, bạn chỉ có
một chút thiện liền có
thể cảm động các ngài
đến bảo hựu cho bạn,
giúp đỡ bạn. Do đó
có thể biết thiện không
thể không tu, ác chẳng
thể chẳng đoạn.
Hội này của
chúng ta là giảng cho
Cửu Hoa Sơn, đạo tràng
của Ðịa Tạng Bồ Tát.
Nhưng băng thâu hình của
chúng ta được lưu thông
toàn thế giới, số người
tham dự hội giảng kinh
này của chúng ta chẳng
thể nghĩ bàn.
Những người mắt thịt
chúng ta nhìn thấy, còn
chúng Bồ Tát, Thanh Văn,
Duyên Giác, và quỷ thần
trong sáu nẻo thì mắt
thịt nhìn không thấy.
Trong kinh này chúng ta
thấy việc còn thù thắng
hơn nữa, đó là mười
phương hết thảy chư Phật
Như Lai đều tham gia.
Hội giảng kinh này của
chúng ta có thù thắng
bằng hội ở cung trời Ðao
Lợi không? Nói cho
chư vị biết tuyệt đối
chẳng khác. Chúng
ta không có phước báo,
người thường nhìn thấy
giảng đường này quá nhỏ,
quá xấu tệ, người cõi
trời nhìn thấy đạo tràng
này xây bằng bảy báu,
đây là ghế Sư Tử, vô
cùng trang nghiêm, tướng
tùy tâm chuyển, một tí
gì cũng chẳng giả.
Thế nên chỉ cần hiểu rõ
những đạo lý, chân tướng
sự thật này xong, giống
như đã nói trong buổi
giảng kinh Hoa Nghiêm
ngày hôm qua, chúng ta
mới biết tự ái, tự trọng
thật sự. Chỉ có
người mê mất tự tánh mới
chẳng tự ái, chẳng tự
trọng, chà đạp chính
mình. Từ chỗ này
chúng ta cũng hiểu được
‘Giải’ vô cùng quan
trọng, ‘Giải’ giúp cho
bạn phá mê khai ngộ, ngộ
xong mới khởi tu, công
phu tu hành sẽ đắc lực,
thọ dụng sẽ rất rõ ràng.
Phải ghi nhớ câu kinh
văn này.
Duy nguyện
Thế Tôn bất dĩ hậu thế
ác nghiệp chúng sanh vi
lự, như thị tam bạch
Phật ngôn. Duy
nguyện Thế Tôn, bất dĩ
hậu thế ác nghiệp chúng
sanh vi lự.
Cúi mong
Thế Tôn đừng vì chúng
sanh đời sau tạo ác
nghiệp mà lo lắng.
[Ngài] bạch đức Phật ba
lần, nguyện đức Thế Tôn
đừng vì ác nghiệp chúng
sanh đời sau mà lo lắng.
Thế Tôn xoa
đảnh Ðịa Tạng Bồ Tát,
xoa đảnh an ủi Ngài,
giao sứ mạng độ hóa
chúng sanh cho Ngài.
Ðịa Tạng Bồ Tát chẳng
phụ sự ủy thác của Thế
Tôn, ở chỗ này chúng ta
thấy Ngài cũng an ủi Thế
Tôn, xin Thế Tôn đừng lo
âu, đừng vướng bận, việc
Thế Tôn giao cho Ngài,
Ngài nhất định sẽ làm.
Chữ ‘tam bạch’ nghĩa là
nói ba lần, cẩn trọng,
chân thành nhất định sẽ
y giáo phụng hành.
Nhĩ thời
Phật tán Ðịa Tạng Bồ Tát
ngôn, thiện tai thiện
tai, ngô trợ nhữ hỷ, nhữ
năng thành tựu cửu viễn
kiếp lai phát hoằng thệ
nguyện, quảng độ tương
tất tức chứng Bồ Ðề.
Lúc ấy đức
Phật khen ngợi Bồ Tát
Ðịa Tạng: ‘Lành thay,
lành thay, Ta hộ trợ cho
điều ông muốn, để ông
thành tựu các hoằng thệ
đã lập từ những kiếp lâu
xa đến nay. Khi
quảng độ xong ông liền
chứng Bồ Ðề.
Bồ Tát an
ủi Thế Tôn, Thế Tôn cũng
tán thán Bồ Tát.
‘Thiện tai, thiện tai’
hai lần, dùng cách nói
hiện nay của chúng ta
thì là ‘Tốt quá, tốt
quá’! Ý nghĩa
trong đó là Ngài hiểu
được tâm ý của Phật, y
giáo phụng hành, ghi nhớ
và tuân thủ lời dạy của
Phật, đây là thiện tai,
thiện tai. Còn có
thể phân vô lượng thân,
giáo hóa hết thảy chúng
sanh ương ngạnh, khó
giáo hóa. Chúng
sanh tuy chỉ tu việc
thiện nhỏ như sợi tóc,
phước nhỏ như cọng lông,
Bồ Tát nhìn thấy đều
sanh tâm hoan hỷ, việc
thiện nhỏ xíu cũng có
thể cảm động đến chư
Phật, Bồ Tát. Việc
thiện nhỏ còn không xả
bỏ, huống chi là việc
thiện lớn. Chư vị
nên biết tự bạn tu
thiện, trong Phật pháp
có câu nói: ‘Một
người con thành Phật,
chín họ sanh lên trời’,
lời này là thật, chẳng
giả. Tổ tiên của
bạn tuy đã qua đời, đọa
trong ác đạo cũng sẽ
được siêu thoát, không
khác gì việc nói trong
kinh Ðịa Tạng.
Hôm trước
cư sĩ Hồ gọi điện thoại
nói với tôi, bà ở Ðài
Trung gặp một người có
khả năng siêu thường
(đặc dị công năng),
người này vừa gặp bà
liền nói: ‘Nhờ phước bà
đã tu bố thí, cha bà đã
được sanh lên trời Ðao
Lợi rồi’. Bà gọi
điện thoại hỏi tôi có
thể nào được vậy không?
Tôi nói: có thể.
Nhất định là việc thật,
chẳng phải giả.
Người con thành tâm,
thành ý tu phước, những
gia quyến đã qua đời đều
được lợi ích.
Chúng ta muốn độ oan gia
chủ nợ, nhất định phải
hết lòng nỗ lực tu học,
chỉ khi tự mình có thành
tựu chân chánh thì mới
có thể độ nổi những oan
gia chủ nợ nhiều đời;
nếu bạn chẳng tu trì
chân chánh thì không
được. Ðó là giả,
chẳng thật. Bố
thí, bố thí một cách
thanh tịnh thì phước báo
lớn nhất. Bố thí
còn muốn danh văn lợi
dưỡng, phước báo đó rất
nhỏ. Tuy nhỏ nhưng
Bồ Tát cũng hoan hỷ,
việc thiện tí xíu Ngài
cũng chẳng bỏ, chúng ta
thấy được việc này trong
kinh. Việc thiện
nhỏ còn không xả huống
hồ là việc thiện to lớn
khi bố thí thanh tịnh.
Những chuyện này, nhân
duyên quả báo, chỉ cần
chúng ta lắng lòng quan
sát cặn kẽ trong xã hội
này rất nhiều, nơi nào
cũng có, nhưng vì chúng
ta quá sơ ý nên không
thấy đó thôi. Ðặc
biệt là thời đại hiện
nay, thiện nhân thiện
quả, ác nhân ác báo vô
cùng rõ ràng, hoàn toàn
phù hợp với lời dạy
trong kinh Ðịa Tạng, tơ
hào chẳng sai.
Chúng ta nên đọc thuộc
kinh này, suy nghĩ cặn
kẽ, y giáo phụng hành
thì mới có thể đạt được
lợi ích chân thật.
Xin xem đoạn kinh kế
tiếp:
PHẨM THỨ 3: QUÁN NGHIỆP
DUYÊN CHÚNG SANH
Ðây là đoạn
lớn thứ hai trong kinh
này. Ðoạn lớn thứ
nhất là hai phẩm trước,
Thế Tôn giới thiệu Ðịa
Tạng Bồ Tát cho chúng ta
nhận biết vị thiện tri
thức, vị thầy này.
Ba phẩm sau này thuyết
minh những chúng sanh
được Ðịa Tạng Bồ Tát độ,
cũng chính là những
chúng sanh được ngài
giáo hóa, ở đây đức Phật
nói rất rõ với chúng ta.
Xin xem kinh văn:
Nhĩ thời
Phật mẫu Ma Gia phu nhân
cung kính hiệp chưởng
vấn Ðịa Tạng Bồ Tát
ngôn: ‘Thánh giả, Diêm
Phù chúng sanh tạo
nghiệp sai biệt, sở thọ
báo ứng kỳ sự vân hà’.
Lúc đó Phật
Mẫu Ma Gia phu nhân cung
kính chắp tay hỏi Ðịa
Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thánh
giả, chúng sanh trong
cõi Diêm Phù tạo nghiệp
sai khác, cảm thọ báo
ứng như thế nào?’
Ðây là mẫu
thân của đức Phật Thích
Ca, Ma Gia phu nhân.
Ma Gia phu nhân sanh đức
Phật xong, phước báo này
quá lớn nên vãng sanh
đến trời Ðao Lợi, hưởng
phước trời. Còn ở
nhân gian chúng ta thì
chuyện này không phải là
một chuyện tốt, tại sao
sanh Phật xong qua mấy
ngày sau thì mẹ qua đời.
[Lúc nhỏ] Ðức Phật được
Di Mẫu (dì) nuôi dưỡng
đến lớn, mẫu thân sanh
Ngài đã lên trời Ðao Lợi
hưởng phước trời.
Hiểu được chân tướng sự
thật mới biết phước báo
của mẹ Ngài lớn.
Mắt thịt phàm phu chúng
ta nhìn thấy đều nghĩ
rằng đây là việc xui
xẻo, cách suy nghĩ hoàn
toàn khác biệt.
Một đời giáo hóa của đức
Thế Tôn đến lúc phải tạm
ngưng, những người có
thể tiếp nhận sự giáo
hóa của Ngài, phía trước
nói có bảy tám phần đều
đã được độ, một hai phần
còn lại nghiệp chướng,
tập khí quá nặng, khi
Phật còn tại thế không
được độ. Sau khi
Phật diệt độ làm cho
những người này nâng cao
cảnh giác, sau đó những
người này được đệ tử của
Phật độ hóa, nhân duyên
được độ của mỗi người
chẳng giống nhau.
Sau khi Phật giáo hóa
chúng sanh đến lúc tạm
ngưng, tiếp nhận lời mời
của Ðao Lợi thiên chủ,
mời Ngài đến cung trời
Ðao Lợi thuyết pháp cho
mẫu thân. Chuyện
này đức Phật Thích Ca
không thể từ chối, tại
sao? Hết thảy chư
Phật giáo hóa chúng sanh
đến cuối cùng nhất định
phải báo đáp ân đức của
mẫu thân, đến cung trời
Ðao Lợi giảng kinh Ðịa
Tạng Bổn Nguyện, có lẽ
đây là một quy củ nên
Phật lên cung trời Ðao
Lợi thuyết pháp cho mẫu
thân.
Ma Gia phu
nhân cũng trong hội này
gặp Ðịa Tạng Bồ Tát, do
bà khải thỉnh. Nói
thật ra, Ma Gia phu nhân
cũng là Phật, Bồ Tát hóa
thân, chẳng phải là
người thường. ‘Vấn
Ðịa Tạng Bồ Tát ngôn,
Thánh giả’, Ðịa Tạng Bồ
Tát là đại thánh, Ðẳng
Giác Bồ Tát. ‘Diêm
Phù chúng sanh’, Ma Gia
phu nhân là người ở cõi
Diêm Phù Ðề, tức là thế
giới chúng ta, từ thế
giới chúng ta sanh lên
cung trời Ðao Lợi.
Ở trời Ðao Lợi chẳng
quên quê cũ, ân tình này
rất nặng, rất sâu, đặc
biệt quan tâm đến những
chúng sanh tạo tội
nghiệp ở quê cũ.
‘Tạo nghiệp sai biệt, sở
thọ báo ứng’ những việc
này ra sao? Xin
Ðịa Tạng Bồ Tát khai
thị.
Ðịa Tạng Bồ
Tát ngôn, thiên vạn thế
giới nãi chí quốc độ,
hoặc hữu địa ngục, hoặc
vô địa ngục, hoặc hữu nữ
nhân, hoặc vô nữ nhân,
hoặc hữu Phật pháp, hoặc
vô Phật pháp, nãi chí
Thanh Văn, Bích Chi Phật
diệc phục như thị, phi
đản địa ngục tội báo
nhất đẳng.
Ðịa Tạng Bồ
Tát trả lời: ‘Trong ngàn
vạn thế giới cho đến các
quốc độ, nơi có địa ngục
hoặc không có địa ngục,
nơi có người nữ hoặc
không có người nữ, nơi
có Phật pháp hoặc không
có Phật pháp, cho đến
Thanh Văn và Bích Chi
Phật đều như vậy, chứ
chẳng riêng gì tội báo
nơi địa ngục thôi đâu.
Ðịa Tạng Bồ
Tát trả lời, hình như
câu trả lời chẳng đáp
đúng câu hỏi, tại sao?
Ma Gia phu nhân hỏi phạm
vi quá nhỏ, chỉ hỏi Diêm
Phù Ðề, chúng sanh ở
ngoài cõi Diêm Phù Ðề
rất nhiều, thế giới vô
biên. Ở đây có một
ý ngầm, ngầm chỉ tâm
lượng chúng ta phải lớn,
phải bằng hư không pháp
giới, mới có thể dứt trừ
hết thảy chướng nạn, tâm
lượng nhỏ nhất định tạo
nên chướng ngại.
Người thế gian tạo vô
lượng vô biên tội
nghiệp, bạn nghĩ xem là
vì nguyên nhân gì?
Ðều vì chính mình, vì cá
nhân, vì gia đình, vì
đoàn thể nhỏ của mình mà
tạo tội nghiệp; vì một
quốc gia, quốc gia này
xung đột với quốc gia
kia, phải đánh nhau, nếu
tâm lượng chúng ta mở
rộng một chút, vì toàn
thế giới, thì sự tranh
chấp giữa các quốc gia
sẽ bị tiêu trừ, liền
được hóa giải.
Nhưng chúng ta vì toàn
thế giới, sau này tinh
cầu của chúng ta cùng
tinh cầu khác có chiến
tranh, cũng sẽ phiền
phức nữa, lại chẳng an
toàn. Tâm lượng
được mở rộng, chúng ta
bao gồm những hành tinh
khác, vậy thì chiến
tranh giữa các tinh cầu
sẽ được tiêu trừ.
Hàm ý của kinh văn, nếu
có thể làm đến tâm bao
trùm hư không, lượng gồm
khắp các cõi nhiều như
cát giống tâm chư Phật,
Bồ Tát, thì hết thảy
hiểu lầm, ngăn cách đều
bị tiêu trừ, hết thảy
chúng sanh mới có thể
hưởng được hòa bình vĩnh
viễn. Nếu hết thảy
chúng sanh, chúng sanh
trong mười pháp giới đều
có thể hỗ trợ hợp tác,
sống chung hòa mục, đây
mới là biện pháp căn bản
để giải quyết vấn đề.
Do đó mới biết tâm lượng
nhỏ bé là căn nguyên của
hết thảy họa hại, nhất
định phải mở rộng tâm
lượng. Bao trùm
thái không, gồm thâu các
cõi là tâm lượng vốn sẵn
có, vốn đã vậy.
Tâm lượng biến thành nhỏ
nhoi là vì mê hoặc, vô
tri, chẳng hiểu rõ chân
tướng sự thật tạo nên.
Tâm lượng nhỏ vốn chẳng
có, tâm lượng lớn vốn
sẵn có, đạo lý là ở chỗ
này. Một người
hỏi, một người đáp hiển
thị lên ý nghĩa này, Ðịa
Tạng Bồ Tát ám chỉ Ma
Gia phu nhân tâm lượng
phải mở rộng, đừng chỉ
quan tâm đến Diêm Phù Ðề
thôi, nên quan tâm đến
hết thảy chúng sanh khổ
nạn ở tận hư không, trọn
pháp giới. Chuyện
này chẳng phải Ma Gia
phu nhân không biết, chỉ
giả bộ thôi. Nói
chung cảm tình người thế
gian rất nặng, rất sâu,
rất khó buông xuống.
Ma Gia phu
nhân trùng bạch Bồ Tát,
thả nguyện văn ư Diêm
Phù tội báo sở cảm ác
thú.
Ma Gia phu
nhân bạch lại với Bồ
Tát: ‘Tôi muốn nghe về
tội báo trong cõi Diêm
Phù chiêu cảm ác đạo.’
Bà vẫn muốn
hỏi về chuyện ở quê
hương. Hiển thị
cái gì? Hiển thị
cảm tình sâu nặng đối
với nơi mình ở, đặc biệt
từ bi. Ma Gia phu
nhân và Ðịa Tạng mỗi
người hiển thị một bên
đều tốt, đều rất sôi
nổi, đặc biệt thương xót
chúng ta, những chúng
sanh tạo tội hiện nay.
Ðịa Tạng
đáp ngôn, Thánh Mẫu, duy
nguyện thính thọ, ngã
thô thuyết chi.
Ðịa Tạng
trả lời: ‘Thánh Mẫu, xin
Ngài lắng nghe nhận lấy,
tôi sẽ lược nói việc
đó’.
Nếu Ma Gia
phu nhân hỏi thêm lần
nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát chỉ
nói tổng quát, không nói
chi tiết. Cứ hỏi
mấy lần nên Ðịa Tạng Bồ
Tát đương nhiên phải mãn
nguyện Ma Gia phu nhân.
Nói thật ra là mãn
nguyện cho chúng ta,
những chúng sanh hiện
nay, Ma Gia phu nhân
thay mặt chúng ta thỉnh
pháp. Ðịa Tạng
nói: ‘Ngã thô thuyết
chi’, ‘thô thuyết’ là
lời nói chẳng dễ nghe.
Lời nghe hay gọi là ‘tế
ngữ’, lời nói ngon ngọt.
Thô ngôn tức là lời
chẳng dễ nghe, tại sao?
Ðều nói về tội lỗi, về
tội báo, những lời này
gọi là ‘thô ngữ’.
Ý nghĩa của Thô và Tế là
như vậy.
Phật mẫu
bạch ngôn, nguyện Thánh
giả thuyết.
Phật mẫu
bạch rằng: ‘Xin Thánh
giả nói cho’.
Ðây là lời
thỉnh cầu chánh thức.
Tôi muốn nghe lời nói
‘thô ngữ’ của ông, muốn
nghe chuyện này.
Nhĩ thời
Ðịa Tạng Bồ Tát, bạch
Thánh Mẫu ngôn, Nam Diêm
Phù Ðề tội báo, danh
hiệu như thị.
Lúc ấy Ðịa
Tạng Bồ Tát nói với
Thánh Mẫu rằng: ‘Danh
hiệu của những tội báo
trong cõi Nam Diêm Phù
Ðề là như vầy.’
Từ những
danh hiệu này, chúng ta
phải hiểu ý nghĩa của
nó.
Nhược hữu
chúng sanh bất hiếu phụ
mẫu, hoặc chí sát hại,
đương đọa Vô Gián địa
ngục, thiên vạn ức kiếp,
cầu xuất vô kỳ.
Nếu có
chúng sanh chẳng hiếu
thuận cha mẹ, thậm chí
giết hại cha mẹ, thì
phải đọa địa ngục Vô
Gián trong ngàn vạn ức
kiếp, không bao giờ mong
ra khỏi được.
Ðịa Tạng Bồ
Tát nói tội nặng hạng
nhất chính là ‘bất hiếu
cha mẹ’. Ðịa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện kinh
hiển thị cho chúng ta về
hiếu đạo, Ðịa Tạng Bồ
Tát đời đời kiếp kiếp
thị hiện, phát thệ
nguyện sâu nặng đều vì
muốn báo ân cha mẹ, đều
vì làm trọn hiếu mới
phát hoằng nguyện, thế
nên bất hiếu là tội hạng
nhất. Ý nghĩa của
Hiếu vô cùng sâu.
Thanh Liên pháp sư là
người trước tác ‘Ðịa
Tạng Kinh Khoa Chú’,
ngài là người đời Thanh
trước kia, triều vua
Khang Hy. Ngài
trích dẫn rất nhiều kinh
luận để viết chú giải
này, là một chú giải hay
nhất cho kinh Ðịa Tạng.
Chúng ta muốn báo ân thì
phải lưu thông chú giải
này, tốt nhất là làm bản
in mới cho chú giải này,
vì bản cũ đã in nhiều
lần, chữ đã bị mờ đi
nhiều. Tuy tôi
giảng Ðịa Tạng Bồ Tát
Bổn Nguyện Kinh chẳng
hoàn toàn y theo chú
giải của Ngài, nhưng tôi
đọc rất kỹ chú giải này,
tôi đọc rất hết lòng.
Ở chỗ này
Ngài nêu ra trong phần
‘Chánh pháp niệm kinh’,
Phật giảng bốn thứ ân,
bốn ân khó báo. Ân
thứ nhất là ‘Ân mẹ’, thứ
nhì là ‘Ân cha’, thứ ba
là ‘Ân Như Lai’, thứ tư
là ‘Ân thuyết pháp sư’,
pháp sư giảng kinh
thuyết pháp, bốn ân này
khó báo. Bốn ân
này đều rất lớn, cha mẹ,
nhục thân chúng ta có
được từ cha mẹ, Pháp
thân huệ mạng của chúng
ta có từ Như Lai.
Như Lai chẳng còn tại
thế, chúng ta làm sao có
được? Chúng ta có
được từ pháp sư thuyết
pháp, trưởng dưỡng pháp
thân huệ mạng.
Trong kinh, Phật nói
cúng dường bốn hạng
người này được vô lượng
phước, hiện tiền nhất
định được người tán
thán, tương lai có thể
được Vô Thượng Bồ Ðề.
Làm sao có thể quên ơn
bội nghĩa được!
Thế nên học Phật phải
học từ đâu? Từ
hiếu thuận cha mẹ, tôn
kính thầy giáo. Từ
cơ sở Hiếu thân Tôn sư,
mở rộng ra có thể hiếu
thuận hết thảy chúng
sanh, tôn kính xã hội
đại chúng. Bạn có
thể thương cha mẹ,
thương sư trưởng, tự
nhiên sẽ có thể thương
quốc gia, thương chúng
sanh, đây là đạo lý nhất
định. Thế nên ‘Bất
hiếu cha mẹ’ là tội nặng
nhất trong những tội
nghiệp, đương nhiên phải
đọa ‘Vô Gián địa ngục’.
Phía sau sẽ giới thiệu
về Vô Gián Ðịa ngục.
Tội nặng thứ hai chính
là Bất kính Tam Bảo.
Ðiều đầu tiên là hiếu
đạo, điều thứ hai là sư
đạo.
Nhược hữu
chúng sanh xuất Phật
thân huyết, huỷ báng Tam
Bảo, bất kính tôn kinh,
diệc đương đọa ư Vô Gián
địa ngục, thiên vạn ức
kiếp, cầu xuất vô kỳ.
Nếu có
chúng sanh làm thân Phật
chảy máu, hủy báng Tam
Bảo, chẳng kính tôn
kinh, cũng sẽ phải đọa
vào địa ngục Vô Gián
trong ngàn vạn ức kiếp,
không bao giờ mong ra
khỏi được.
Chư vị nên
ghi nhớ thời gian ấy rất
dài, ‘thiên vạn ức
kiếp’. Tạo tội
nghiệp nói thật ra vô
cùng dễ dàng, thời gian
tạo tội nghiệp vô cùng
ngắn ngủi, nhưng tương
lai thọ khổ báo sẽ dễ sợ
vô cùng. Ðịa Tạng
Bồ Tát rát lòng mỏi
miệng nói chân tướng sự
thật ra cho chúng ta
biết, mấy ai tin nổi?
Một số người đọc kinh
này cứ tưởng là gì?
Tưởng đây là Phật giáo
khuyên người hướng
thiện, nói những lời này
để dọa người, khuyên
người đừng làm chuyện
xấu, chẳng nghĩ có thật
như vậy, chẳng cho rằng
đây là chuyện thật.
Là như trong kinh này
nói: ‘chúng sanh ương
ngạnh khó dạy’, cứ cho
là mình đúng, đâu biết
rằng đây là chân tướng
sự thật! ‘Xuất
Phật thân huyết’, công
án này từ Ðề Bà Ðạt Ða
mà ra, lúc Phật còn tại
thế. Phật đã nêu
nhiều gương tốt cho
chúng ta, người học Phật
đời sau noi theo, chúng
ta phải ghi nhớ, phải
học tập. Ðề Bà Ðạt
Ða là học trò của Phật,
phản bội sư đạo; tương
lai chư vị tự mình làm
pháp sư, cũng sẽ có học
trò, khi học trò phản
bội chư vị, có gì là tài
giỏi đâu? Học trò
của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni cũng đã phản bội
Ngài rồi mà? Ðây
là thị hiện cho chúng ta
xem. Trong số học
sinh có học sinh ngoan,
nghe lời, có học sinh
chẳng ngoan, phản bội
thầy giáo, Phật cũng làm
ra gương tốt cho chúng
ta xem, chúng ta phải rõ
ràng, phải minh bạch.
Học sinh tốt chúng ta
phải lo lắng cho họ, học
sinh phản nghịch tuyệt
đối chẳng trách mắng họ,
tuyệt đối chẳng thể có
tơ hào oán hận trong
tâm. Họ phản
nghịch mình, hủy báng
mình, thậm chí còn hãm
hại mình, cũng đừng ghi
nhớ trong lòng, coi như
chẳng có chuyện gì, ai
cũng có nhân duyên riêng
của người ấy, vĩnh viễn
giữ gìn tâm địa thanh
tịnh, bình đẳng, từ bi,
như vậy mới gọi là học
Phật. Phật dùng
tâm niệm, thái độ gì đối
xử với Ðề Bà Ðạt Ða,
chúng ta phải học theo.
Nhất định không được oán
hận trong lòng, đó là
sai lầm, vậy thì bạn là
phàm phu, vậy thì bạn
chẳng bình đẳng rồi,
chẳng phải là Phật, Bồ
Tát; Phật, Bồ Tát
đối với hết thảy chúng
sanh, oán hay thân gì
cũng bình đẳng.
Ðề Bà Ðạt
Ða muốn hại Phật, lúc đó
dùng những phương pháp
như sau. Biết đức
Phật mỗi ngày vào thành
Xá Vệ khất thực, trên
đường phải đi qua một
vách núi, Phật đi phía
dưới chân núi. Ðề
Bà Ðạt Ða liền ở phía
trên vách núi chuẩn bị
đá lớn, khi đức Phật đi
ngang, ông đẩy đá xuống
để mưu hại Phật, khởi ác
tâm này, làm chuyện này.
Phước báo của Phật rất
lớn, chẳng ai có thể hại
nổi, Phật có thần Kim
Cang hộ pháp. Khi
đá bị đẩy xuống, thần
Kim Cang lấy chùy Giáng
Ma đánh tan hòn đá.
Ðánh tan xong, mảnh nhỏ
văng trúng chân Phật
chảy máu, ‘xuất Phật
thân huyết’, đây là cốt
ý hại Phật. Ông ta
xúi giục vương tử A Xà
Thế, dùng cách nói hiện
nay là khuyên vương tử
soán ngôi, hại vua cha,
để lên làm vua. Ðề Bà
Ðạt Ða muốn hại chết đức
Phật để ông ta làm Phật.
Họ thương lượng với
nhau: ông thì làm vua
mới, còn tôi thì làm
Phật mới, chúng ta cùng
nhau giáo hóa chúng
sanh, thống lý đại
chúng. Tạo tác tội
nghiệp này, Ðề Bà Ðạt Ða
nhiều đời phải đọa lạc
vào địa ngục. Ðây
chính là không kính Tam
Bảo, lấy thí dụ này để
nói dụng ý rất sâu, dạy
cho chúng ta đối với
những người cốt ý hoặc
vô ý hại mình đều phải
học theo Phật, vẫn phải
từ bi thương xót, chẳng
có một chút oán hận gì,
được vậy thì chúng ta
mới đạt được sự thọ dụng
chân thật của Phật pháp.
‘Hủy báng
Tam Bảo’, Tam Bảo là
Phật, Pháp, Tăng.
Bịa chuyện, kiếm chuyện,
hủy báng. ‘Chẳng
kính tôn kinh’, đây là
kinh điển, đặc biệt nêu
ra Pháp bảo này, chẳng
tôn kính, chẳng coi
trọng kinh điển.
Tại sao hiện nay chúng
ta in kinh phải in thật
đẹp? Bất luận là
trên sự ấn loát, giấy
hay bao bìa đều vô cùng
đẹp đẽ, đây là tôn kính
Pháp bảo, làm cho hết
thảy chúng sanh nhìn
thấy cuốn sách này bèn
sanh tâm quý tiếc, chẳng
đến nỗi làm hư, làm
rách. Nếu rất bình
thường, in rất xấu tệ,
mọi người nhìn thấy
chẳng sanh tâm tôn kính,
thường tùy tiện bỏ bừa
bãi, chà đạp kinh điển,
đó không phải là chúng
ta dạy cho mọi người tạo
tác ác nghiệp hay sao,
tạo ra cơ hội cho họ,
đây là sai lầm.
Thế nên phải in cho đẹp,
hoàn mỹ, đừng để người
ta có cơ hội tạo tội
nghiệp, tâm này chính là
tâm từ bi. Ðây là
nói về chẳng kính Tam
Bảo, chẳng biết tôn sư
trọng đạo, làm vậy phải
đọa địa ngục.
Ðặc biệt là
thời đại bây giờ, người
biết báo ân đã quá ít
rồi, chúng ta phải đề
xướng. Ðề xướng
nhất định phải làm ra
gương mẫu cho mọi người
nhìn thấy, chỉ lấy miệng
nói thì không được,
chẳng có sức khuyến hóa.
Tôi báo ân thầy giáo,
tôi xây thư viện ở Ðại
Lục, quê Phương Ðông Mỹ
tiên sinh ở huyện Đồng
Thành, tỉnh An Huy.
Tôi xây một ‘Thư Viện
Ðông Mỹ Tiên Sinh’ ở
Ðồng Thành để kỷ niệm
thầy. Tôi đã thành
lập một Thư Viện Hoa
Tạng ở quê tôi để kỷ
niệm Hàn Quán Trưởng.
Tương lai nếu có cơ hội,
tôi cũng sẽ xây một Thư
Viện Hoa Tạng ở quê của
Hàn Quán Trưởng.
Tôi trú ở Thư Viện Từ
Quang, do thầy Lý xây
dựng, hết mười năm; hiện
nay đang liên lạc với
người ở Tế Nam, Sơn Ðông
để xây một Thư Viện Từ
Quang. Phải làm
thật sự, không làm không
được. Có một vị
đồng tu hỏi: ‘Vậy Chương
Gia đại sư thì sao?’.
Ðúng, mọi người đều nghĩ
đến, tôi sẽ xây một ‘Thư
Viện Chương Gia đại sư’.
Tôi nghĩ đến phải xây ở
đâu? Ðại học Nội
Mông Cổ, xây một ‘Chương
Gia đại sư Đồ Thư Quán’
ở đại học Nội Mông Cổ.
Tôi nhất
định sẽ làm được, phải
dùng hành động cụ thể để
thức tỉnh mọi người,
phải ‘Tri ân báo ân’.
Nếu mỗi người đều có tâm
báo ân, xã hội của chúng
ta sẽ tường hòa, có lợi
ích rất lớn đối với xã
hội quốc gia, công đức
lợi ích chân chánh.
Nếu không tri ân, vong
ân phụ nghĩa, thì xã hội
này sẽ thành ra như thế
nào! Dễ sợ vô
cùng. Nhất định
phải làm từ chính bản
thân mình, đây mới là
hoằng pháp lợi sanh, như
vậy mới gọi là chân
chánh học Phật.
Hôm nay đã
hết giờ, chúng ta giảng
đến đây thôi.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin thành
thật cám ơn.
Một nhóm
Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng
9-2006