|
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Giảng Ký
Hòa thượng Tịnh Không giảng
tại Tịnh Tông Học Hội Tân
Gia Ba, 5-1998
Tập 5 (Số
14-12-05)
Chư vị pháp sư, chư vị đại đức, đồng học: Vì chúng
ta dùng nhiều bản in khác nhau nên không thể nêu lên
số trang, số hàng mỗi lần, hy vọng mọi người nghe
giảng đến đâu tự ghi nhớ lấy, lần sau nhất định sẽ
nối tiếp ở chỗ đó, đây là chuyện bất đắc dĩ, xin mọi
người chịu khó.
Xin mở kinh. Lần trước giảng đến trời Dục
Giới:
Ðó là cõi trời
Tứ Thiên Vương, cõi trời Ðao Lợi, cõi trời Tu Diệm
Ma, cõi trời Ðâu Suất Ðà, cõi trời Hóa Lạc, cõi trời
Tha Hóa Tự Tại.
Ðến đoạn này, chúng ta đã giảng về Tứ Thiên Vương,
điểm quan trọng là phải hiểu sự tiêu biểu pháp của
Tứ Vương Thiên mới có thể được thọ dụng chân chánh.
Nói một cách đơn giản, Ðông Phương Trì Quốc Thiên
Vương, xem tên biết ý nghĩa, vị Thiên Vương này dạy
chúng ta làm thế nào bảo vệ quốc gia của mình vĩnh
viễn được hưng vượng, chẳng suy thoái. Từ đó
dẫn đến làm thế nào giữ vững nhà mình, bảo hộ thân
mình, đời này chúng ta lập nghiệp, khỏe mạnh, vang
danh bốn biển, đức lưu đến đời sau, đây là sự thành
tựu chân thật trong đời của chúng ta, thế nên ý
nghĩa này rất sâu, rất rộng.
Nam Phương Thiên Vương dạy chúng ta phải mong cầu
tiến bộ, thời đại vĩnh viễn luôn tiến bộ, chúng ta
thường nói người nào đó chẳng theo kịp thời đại, ý
nghĩa là như vậy. Thời đại biến đổi, tiến tới
hằng ngày; chữ Tiến ở đây có thể hướng về mặt thiện,
cũng có thể hướng về mặt ác, đây là việc chúng ta
không thể không phân biệt. Nếu tinh tấn về
thiện pháp thì đây là mặt chánh, quốc thái dân an,
mưa thuận gió hòa; nếu tiến về hướng ác như tham,
sân, si, mạn thì nhất định sẽ đem lại động loạn
trong xã hội, thiên tai nhân họa, mọi người phải
chịu khổ, nhất định phải nhận thức việc này rõ ràng.
Phía trước đã nói đến việc chư Phật tán thán Thế Tôn
‘biết pháp khổ vui’, câu này rất phi thường!
Niềm vui chân chánh không phải chỉ là niềm vui trong
đời này, đời sau vĩnh viễn hưởng lạc, như vậy mới là
niềm vui chân chánh. Nếu nói đời này chúng ta
hưởng lạc, nhưng đời sau chịu khổ, như vậy là sai
rồi, sai quá đỗi! Những người đời này hưởng
lạc, đời sau chịu khổ không biết là bao nhiêu, đây
là việc chúng ta không thể không cảnh giác.
Trong lúc hưởng lạc lại tạo nghiệp, khi phước báo
hưởng hết, ác nghiệp hiện tiền thì bạn sẽ thọ báo
trong ba đường ác, như vậy là sai lầm to lớn.
Nam Phương Thiên vương tượng trưng cho sự tinh tấn
có trí huệ, có lý tánh, chẳng si mê, chẳng phải cảm
tình.
Tây Phương Thiên Vương là Quảng Mục Thiên Vương, dạy
chúng ta xem nhiều, tức là học tập nhiều. Bắc
Phương Thiên Vương là Ða Văn Thiên Vương, nhìn
nhiều, nghe nhiều, vĩnh viễn giữ vai trò của một
người [tìm tòi] học hỏi, tức là vĩnh viễn làm một
học sinh. Chỉ khi chứng được Phật quả viên
mãn, cứu cánh thì mới ở tại vị trí người thầy, đạo
sư chân chánh; Ðẳng Giác Bồ Tát còn là học
sinh, huống chi là những hạng khác. Mình vĩnh
viễn phải giữ tại địa vị học sinh. Người Trung
Quốc thời xưa nói: ‘Sống đến già, học đến già,
học chẳng hết’
chính là ý nghĩa này, cả đời đến già còn hiếu học.
Trong nhà Phật gọi là ‘Học Nhân’, Học Nhân tức là
học sinh, học tập làm người, vĩnh viễn học làm
người. Ai có thể làm người tốt, làm được viên
mãn, một mảy tơ cũng chẳng thiếu sót? Thành
Phật, chỉ có Phật mới là một người hoàn toàn, chúng
ta phải hiểu đạo lý này, phải hết lòng học tập.
Dùng cách nói hiện nay thì những vật trên tay Tứ
Thiên Vương gọi là ‘đạo cụ’. Nói vậy thì mọi
người dễ hiểu; đạo là tiêu biểu pháp, làm cho bạn
nhìn thấy, tiếp xúc đến thì bạn liền biết đại đạo lý
của vũ trụ nhân sanh, tức là phải nắm chắc nguyên
tắc này để học tập. Trên tay Ðông Phương Thiên
Vương cầm đàn tỳ bà, nhạc khí, không có nghĩa là ông
ta thích ca hát, khiêu vũ, cách nghĩ như vậy là sai.
Ngài dùng cái này để tiêu biểu làm thế nào hộ trì
quốc gia của bạn, hộ quốc quan trọng nhất là hành
‘trung đạo’. Nhà Nho nói ‘Trung Dung’, đạo
Trung Dung, nhà Phật nói ‘Trung đạo đệ nhất nghĩa
đế’, ngài dùng sợi dây đàn này để tiêu biểu pháp.
Khi chỉnh dây đàn, vặn quá chặt thì nó sẽ đứt, quá
chùng thì âm thanh chẳng kêu, nhất định phải vặn đến
vừa đúng, tiêu biểu cho ý nghĩa này. Vừa đúng,
chẳng căng, chẳng chùng, như vậy gọi là Trung Ðạo,
tiêu biểu ý như vậy. Chỗ cao minh của thánh
nhân là biết giữ ở mức chính giữa, chẳng lệch về hai
bên. Do đó đây là đạo cụ. Tay của Nam
Phương Thiên Vương cầm kiếm, kiếm tượng trưng cho
trí huệ, huệ kiếm, tiêu biểu cho ý này. Tay
Tây Phương Thiên Vương cầm rồng hoặc rắn, ở Ấn Ðộ và
Trung Quốc đều cho rằng rồng và rắn biết biến hóa,
tiêu biểu cho hết thảy người, sự, vật trong xã hội
thiên biến vạn hóa, bạn phải nhìn rõ ràng. Tay
phải cầm hạt châu, châu tiêu biểu chẳng biến đổi,
trong hết thảy sự thay đổi bạn nắm được nguyên tắc
chẳng biến đổi. Bất biến tức là Ðịnh Huệ, tức
là Thành Kính, nắm vững nguyên tắc này để xử sự, đối
người, tiếp vật, bất luận xã hội biến hóa như thế
nào, chỉ cần bạn nắm vững nguyên tắc thì có thể ứng
phó như ý, giáo hóa tự tại.
Tay Bắc Phương Thiên Vương cầm lọng (hay dù), lọng
che. Lọng tượng trưng cho ngăn ngừa ô nhiễm;
lúc chẳng có ô nhiễm thì xếp lọng lại, khi có ô
nhiễm thì giương lọng ra. Xã hội hiện nay của
chúng ta ai cũng ý thức đến mức ô nhiễm trầm trọng,
tâm lý ô nhiễm, tinh thần ô nhiễm, tư tưởng kiến
giải ô nhiễm, sanh lý ô nhiễm, hoàn cảnh bên ngoài ô
nhiễm. Hiện nay chúng ta tạo tượng của Tứ
Thiên Vương, lọng của Bắc Phương Thiên Vương phải
giương ra chứ không thể xếp lại, chúng ta phải hiểu
đạo lý này. Ý nghĩa giáo dục vô cùng sâu xa,
chúng ta không thể xem như thần minh, nếu xem như
vậy là sai, là mê tín.
Trời Ðao Lợi, người Trung Quốc gọi Thiên Chủ trời
này là Ngọc Hoàng Ðại Ðế, đại khái rất nhiều tôn
giáo ngoại quốc xưng là Thượng Ðế, Thiên Chúa chính
là ngài. Có rất nhiều cõi trời, mỗi tầng trời
đều có Thiên chủ, đều có một nhân vật lãnh đạo, tại
sao chúng ta khẳng định là Ðao Lợi Thiên Chủ, chẳng
phải Thiên chủ ở những cõi trời khác? Xem kinh
điển của họ, lý luận của họ, phương pháp tu hành rất
giống với trời Ðao Lợi. Tu thập thiện nghiệp
đạo thì có thể vãng sanh về cõi trời Ðao Lợi.
Chúng ta coi kinh điển của Cơ Ðốc Giáo, Moses có
mười điều răn, mười điều răn này rất tương tợ với
thập thiện nghiệp đạo. Chúng ta nhất định phải
hiểu, chẳng phải chỉ tin Thượng Ðế bèn được cứu,
chẳng có việc này. Phải tu pháp của Thượng Ðế
dạy, trong kinh điển Thượng Ðế dạy bạn làm thế nào
thì bạn phải làm theo như vậy mới được. Nếu
bạn làm chẳng được thì không thể sanh lên trời, Ngài
có điều kiện, như vậy mới hợp tình, hợp lý, hợp
pháp.
Chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ cũng có điều
kiện, không phải nói tôi tin thì có thể vãng sanh,
không được đâu. Hiện nay có một số người đề
xướng Bổn Nguyện Niệm Phật, [nói rằng] tôi phát
nguyện vãng sanh thì quyết định được sanh, đâu có
chuyện đơn giản như vậy! Trong ‘Nguyện’ có
‘Hạnh’ thì nguyện này mới gọi là nguyện chân thật,
trong kinh không biết Phật đã nói bao nhiêu lần.
Nguyện mà không có Hạnh thì gọi là nguyện suông,
nguyện đó hư giả, chẳng thể biến thành hiện thực.
Bạn phải hiểu ý nghĩa này, Phật chẳng lừa gạt người,
tự mình gạt mình thì sẽ bị thiệt thòi to lớn.
Dùng Hạnh để thực hiện Nguyện, biến nguyện vọng của
bạn thành thực tiễn. Vì sao chúng ta coi trọng
Tam Phước, Lục Hòa, đây là pháp căn bản do Phật dạy
trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, ba đời chư Phật
đều tu ba điều này, đó chính là Tịnh Nghiệp Chánh
Nhân. Chúng ta vãng sanh tây phương Cực Lạc
thế giới tu Tịnh Nghiệp, chúng ta tin A Di Ðà Phật,
tin tây phương Tịnh Ðộ, nguyện sanh tây phương Tịnh
Ðộ, điều kiện thấp nhất là phải làm được Tam Phước,
nếu chẳng làm được Tam Phước thì không thể vãng
sanh. Mỗi ngày niệm Phật, niệm mười vạn tiếng
Phật hiệu, người xưa nói: ‘hét bể cổ họng cũng
uổng công’, lời này là lời chân thật, chẳng giả
dối.
Trong Tam Phước tối thiểu phải làm được một điều thì
bạn mới có thể vãng sanh. Nếu bạn có thể làm
được điều thứ nhất ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự
sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại sanh vật, tu thập
thiện nghiệp’, phát nguyện niệm Phật cầu sanh
Tịnh Ðộ, thì bạn có thể vãng sanh Hạ Phẩm. Bạn
có thể làm được điều thứ hai, điều thứ hai đương
nhiên bao gồm điều thứ nhất, tức là cộng thêm:
‘Thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai
nghi’ thì bạn vãng sanh Trung Phẩm. Ðây là
ba bậc vãng sanh nói trong kinh Vô Lượng Thọ.
Nâng cao thêm, nếu bạn có thể ‘Phát Bồ Ðề tâm,
tin sâu nhân quả, đọc tụng Ðại Thừa, khuyến tấn hành
giả’ thì sẽ vãng sanh Thượng phẩm. Ðây là
pháp căn bản, đâu có nói phát nguyện suông, chẳng
cần tu hành mà có thể vãng sanh, Phật chẳng nói như
vậy. Muôn vàn xin đừng hiểu lầm, chẳng thể bỏ
uổng nhân duyên hiếm có trong đời này. ‘Ðịa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh’ là pháp căn bản, cả bộ
kinh này nói về cái gì? Chính là nói về Phước
thứ nhất: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng,
từ tâm chẳng sát hại, tu thập thiện nghiệp’, cả
bộ kinh nói về việc này. Bạn sẽ hỏi bốn câu
trong phước thứ nhất này phải nói như thế nào?
Cả bộ Ðịa Tạng Bổn Nguyện kinh này là chú giải [cho
bốn câu này]. Tu học đúng như lý, như pháp,
Thiện Ðạo đại sư nói: ‘Vạn tu vạn người về’,
ai cũng không bỏ sót. Nếu bạn tu không đúng
như pháp thì sẽ chẳng vãng sanh nổi, Phật chẳng nói
sai, là bạn đã hiểu sai ý tứ trong ấy. Trong
kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy chúng ta ‘Ðương hiếu ư
Phật’, dạy chúng ta tôn sư trọng đạo, đây là giáo
nghĩa của kinh Ðịa Tạng, nhất định phải hiểu những
đạo lý này.
Tu Diệm Ma Thiên cũng gọi là Dạ Ma thiên, tên của
cõi trời này đúng ra phải là Tu Diệm Ma Thiên.
Gọi là Dạ Ma thiên vì thiên chủ cõi ấy tên là Dạ Ma.
Tu Diệm Ma dịch nghĩa là ‘Diệu Thiện’, hiện nay lão
hòa thượng ở Phổ Ðà Sơn của chúng ta cũng có tên là
Diệu Thiện. Cõi trời này rất khoái lạc, rất
hoan hỷ, ngoài việc tu thập thiện nghiệp ra còn phải
tu Ðịnh, phải thêm công phu định lực mới có thể sanh
về. Chỉ tu thập thiện nghiệp thì không được,
chẳng thể vãng sanh, chỉ có thể sanh đến trời Ðao
Lợi mà thôi, muốn lên trên phải thêm công phu định
lực. Nói thật ra còn phải tu ‘Từ, Bi, Hỷ, Xả’,
đây là khoa mục chánh của cõi trời Sắc Giới, họ cũng
tu nhưng công phu đương nhiên chẳng sâu bằng người
cõi trời Sắc Giới; nhưng vẫn có tu. Càng lên
cao thì ở mỗi tầng công phu định lực, thiện lợi,
chúng ta gọi là tích công lũy đức, tăng lên gấp bội,
cứ lên mỗi tầng thì tăng thêm gấp bội, thiệt chẳng
đơn giản! Mọi người hãy suy nghĩ sanh lên trời
đã chẳng dễ rồi huống chi là vãng sanh về Tây phương
Cực Lạc thế giới để làm Phật! Chuyện này chúng
ta không thể coi thường, không thể coi như quá dễ;
nhưng cũng không thể coi như quá khó, nếu quá khó
thì bạn sẽ không dám tu. Coi quá dễ thì sẽ lơ
là, khinh thường, nhất định sẽ làm hỏng việc.
Người ở Trời Dục giới tu thượng phẩm thập thiện,
trong đó còn thêm một số ‘Vị đáo định’, nghĩa là họ
tu Ðịnh, công phu tu Ðịnh này vẫn chưa đạt được tới
trình độ nhất định. ‘Trình độ nhất định’ nghĩa
là hoàn toàn đè nén, che phủ ‘Dục’, chúng ta gọi là
Dục Vọng, đức Phật quy nạp thành năm thứ: ‘tiền tài,
sắc đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ nghỉ’ (Tài, Sắc,
Danh, Thực, Thùy) gọi là Ngũ Dục. Họ đã đè
phục được năm thứ Dục này, tuy chưa đoạn nhưng nhất
định chẳng khởi hiện hành thì mới có thể sanh đến
trời Sắc Giới. Họ đè phục được ngũ dục, nhưng
chẳng thể đoạn, cũng có thể nói sáu tầng trời này
càng lên cao thì dục niệm của họ càng lợt lạt.
Nếu hoàn toàn đè phục hết dục niệm, bày ngay trước
mặt họ đích thật chẳng động tâm, chẳng khởi ý niệm,
thì họ sẽ lên cõi Sắc Giới. Công phu định lực
này kể là đã thành tựu, họ có thể sanh đến cõi trời
Sơ Thiền ở Sắc Giới. Sắc Giới có mười tám tầng
trời. Chúng ta xem tiếp kinh văn:
Phạm Chúng thiên, Phạm Phụ thiên, Ðại Phạm thiên.
Trời
Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Ðại Phạm.
Ðây là cõi Sơ Thiền. Ba cõi trời Sơ Thiền này,
chúng ta gọi là ba tầng, nhưng trên thực tế chỉ là
một tầng, phước báo hưởng thọ chẳng giống nhau.
‘Phạm Chúng’ ví như nhân dân, người dân thường;
‘Phạm Phụ’ ví như đại thần, quan cao, quan lớn, sự
hưởng thọ đương nhiên cao hơn dân thường; ‘Ðại Phạm
Thiên’ ví như Thiên vương, phước báo càng lớn hơn.
Cùng một tầng trời có ba hạng hưởng thọ khác nhau.
Tuy cõi Sơ Thiền ở Sắc Giới có hưởng thọ, chư vị
phải biết họ chẳng có ý niệm, tâm địa thanh tịnh.
‘Phạm’ là tiếng cổ Ấn Ðộ, dịch nghĩa là thanh tịnh.
Sơ Thiền tâm địa đã thanh tịnh rồi, lên cao hơn thì
chẳng cần nói nữa, càng lên cao càng thanh tịnh.
Nhị Thiền gọi là ‘Quang Thiên’
Thiểu Quang thiên, Vô Lượng Quang thiên, Quang Âm
thiên.
Trời
Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm.
Cổ đức nói: Đại khái, Sơ Thiền vẫn còn tổ chức giống
xã hội nhân gian, có nhân dân, có quan liêu, có quốc
vương; Nhị Thiền trở lên chẳng còn nữa, thế giới
bình đẳng, chân chánh cộng hòa, chẳng có quốc vương,
đại thần gì hết, mọi người đều bình đẳng. Tuy
bình đẳng nhưng phước báo vẫn còn sai khác, sai khác
do đâu mà có? Công phu tu hành mỗi cá nhân
chẳng giống nhau. Thí dụ chúng ta học trong
trường, cùng một lớp thì mọi người đều giống nhau,
lúc thi cử thì có hạng nhất, hạng nhì, vẫn còn xếp
hạng, vậy thì có chỗ chẳng bằng nhau, trong chỗ đồng
có chỗ không đồng. Lúc chưa thành Phật thì
hiện tượng này vẫn tồn tại. Cùng là Ðẳng Giác
Bồ Tát, Ðẳng Giác Bồ Tát cùng nhau thi cử cũng có
hạng nhất, hạng nhì, hạng ba. Chỉ đến quả địa
Như Lai thì mới hoàn toàn bình đẳng, một chút sai
khác cũng chẳng có, những đạo lý và sự việc này
chẳng khó hiểu. ‘Trời Thiểu Quang’ có ánh sáng
nhưng ít hơn so với cõi khác; ‘Trời Vô Lượng Quang’
thì ánh sáng nhiều hơn. Ánh sáng này từ đâu
đến? Nói cho chư vị biết tâm thanh tịnh sẽ
phóng quang, tâm địa thanh tịnh sẽ phóng ánh sáng.
Thật ra hết thảy vạn vật đều phóng quang. Hôm
trước Sư Ngộ Toàn đem hình cho tôi xem, Sư nói ở
ngoài đời có một dụng cụ có thể chụp ‘Quang’ của
người. Sư đi chụp rồi lấy tấm hình cho tôi
xem; tôi nói muôn vàn đừng bị gạt, đừng bị người ta
gạt. Ðích thật con người có Quang, vật cũng có
Quang, ngay cả cỏ cây cũng có Quang, đây là sự thật.
Quang của mỗi người có màu sắc khác nhau, lớn nhỏ
khác nhau, một số người luyện Khí Công có thể nhìn
thấy, người có công phu định lực thì chẳng cần nói
nữa. Nhìn thấy Quang trên thân người của bạn,
người luyện khí công gọi đó là ‘Khí’, họ gọi bằng
danh từ ‘Khí’, người tu thiền định gọi đó là
‘Quang’. Từ màu sắc và cường độ lớn nhỏ của
Quang có thể biết tâm hạnh của người này là thiện
hay ác. Tâm địa thiện lương từ bi, tâm thiện,
hạnh thiện phóng ra Quang màu vàng kim, đây là thù
thắng nhất, tốt nhất. Kế đó là màu vàng, màu
kém hơn một chút. Tại sao quỷ thần nhìn
thấy người tu hành thì tôn kính? Họ nhìn thấy
Quang, năng lực này của họ là [nhờ quả] báo [mà có]
được, quỷ thần có quả báo được Ngũ Thông. Họ
nhìn thấy người tâm địa hiền lương, từ bi, hạnh
thiện, chẳng phải là người tu hành, nhưng Quang của
những người này cũng tốt, quỷ thần nhìn thấy đều tôn
kính, chẳng dám làm tổn hại.
‘Trời Quang Âm’ có thể dùng Quang để diễn đạt âm
thanh. Ở cõi Nhị Thiền, người ta trao đổi ý
kiến chẳng cần nói chuyện, nói chuyện rất mệt, nói
nhiều thì hao hơi, mệt thân thể. Họ trao đổi
bằng cách phóng quang, người khác nhìn thấy Quang ấy
đều hiểu ý nghĩa chứa đựng trong đó. Ngôn ngữ
rất có hạn, ngôn ngữ rất vụng về, từ Nhị Thiền trở
lên chẳng dùng ngôn ngữ, dùng phóng quang để thay
thế
Cõi Tam Thiền còn cao hơn nữa, tâm địa thanh tịnh
hơn, Tam Thiền gọi là ‘Tịnh Thiên’.
Thiểu Tịnh Thiên,
Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên.
Trời Thiểu Tịnh, Trời Vô Lượng Tịnh, Trời Biến Tịnh.
Cũng là dựa trên sự sai khác của tâm thanh tịnh mà
nói, đây là ba cõi trời Tam Thiền. Tam Quang,
Tam Tịnh đều là công hạnh cao thấp.
Tứ Thiền rất đặc biệt, tất cả có chín thứ chẳng
giống nhau, có chín cõi trời.
Phước Sanh Thiên, Phước Ái Thiên, Quảng Quả Thiên
Trời Phước Sanh, trời Phước Ái, trời Quảng Quả.
Ðây là cõi trời thông thường ở cõi Tứ Thiền, giống
với cõi Tam Thiền kể trên. ‘Phước Sanh, Phước
Ái, Quảng Quả’ gọi là Phước Thiên. Phước báo
lớn nhất thì không có Tam Tai. Ở đó không có
Tam Tai, Tam Tai là Hỏa tai, Thủy tai, Phong tai.
Hỏa tai có thể thiêu đến cõi Sơ Thiền, Sơ Thiền có
cả ba Hỏa, Thủy, Phong tai, chẳng thể tránh.
Nhị Thiền thì bị Thủy tai, nước có thể tràn ngập đến
trời Nhị Thiền, Nhị Thiền không có Hỏa tai, nhưng có
Thủy tai, Phong tai. Ở cõi trời Tam Thiền tâm
địa thanh tịnh, chẳng có Thủy và Hỏa tai, nhưng lại
có Phong tai. Ðến cõi Tứ Thiền thì phước báo
lớn hơn, cả ba Thủy, Hỏa, Phong tai đều chẳng có.
‘Thủy, Hỏa, Phong’ được gọi là Ðại Tam Tai trong
kinh Phật. Tiểu Tam tai là: ‘Kiếp đao binh, ôn
dịch, cơ cẩn’, cơ cẩn nghĩa là đói khát. Chúng
ta rất khó hiểu được ý nghĩa của Ðại Tam tai, Tiểu
Tam tai. Lúc trước đọc kinh cũng lơ là đọc
lướt qua, khi giảng kinh thì y chiếu chú giải của
người xưa cũng lướt qua.
Mấy năm trước tôi đến Nhật Bản phỏng vấn, đến Quảng
Ðảo (Hiroshima) và Trường Kỳ (Nagasaki), đến tham
quan tận nơi những chỗ bị dội bom nguyên tử, mới tự
nhiên hiểu được Tiểu Tam tai nói trong kinh Phật
chính là chiến tranh nguyên tử. Chỗ bị nổ bom
nguyên tử là nơi bị đao binh kiếp. Chiến tranh
tám năm giữa Trung Quốc và Nhật chưa kể là Tiểu Tam
tai, chiến tranh nguyên tử mới là Tiểu tam tai.
Trong kinh Phật nói kiếp đao binh kéo dài bao lâu?
Bảy ngày bảy đêm. Chiến tranh kéo dài bảy ngày
bảy đêm là kiếp đao binh. Chiến tranh tám năm
giữa Trung Quốc và Nhật chẳng phải là kiếp đao binh,
thế chiến thứ nhất, thế chiến thứ nhì cũng chưa phải
là kiếp đao binh. Chiến tranh nguyên tử, bom
nguyên tử nổ xong, [sau khi đến Nhật Bản] chúng tôi
mới bỗng nhiên hiểu được chuyện Phật nói
chính là chuyện này. Sau khi nổ xong, phóng xạ
tồn tại bảy tháng bảy ngày. Sau bảy tháng bảy
ngày này bạn chưa chết, mạng của bạn còn giữ được.
Có nhiều người bị nổ bom chẳng chết liền, nhưng
trong bảy tháng bảy ngày bị phóng xạ, họ sống nổi
hay không thì sau bảy tháng mới có thể xác định.
Phật gọi đây là ôn dịch, ôn dịch chính là việc này,
là nạn bị phóng xạ. Người Nhật nói với chúng
tôi, chỗ bị nổ bom đến năm thứ tám sau khi bom nổ
mới mọc cỏ, nghe xong chúng tôi mới hiểu được lời
Phật nói, cơ cẩn (nạn đói) kéo dài bảy năm bảy tháng
và bảy ngày, sau đó đất mới mọc cây cỏ được, nếu cây
cỏ chẳng mọc nổi thì người ta đương nhiên sẽ bị đói.
Chúng ta hãy suy nghĩ xem, sức mạnh của võ khí
nguyên tử hiện nay so với trái bom nổ ở Quảng Ðảo
không biết là mạnh gấp bao nhiêu lần. Ở Quảng
Ðảo, Trường Kỳ bị nổ bom vì bị bụi phóng xạ nghiêm
trọng nên tám năm sau cây cỏ mới mọc nổi. Thế
nên đại chiến thế giới lần thứ ba xảy ra tức là Tiểu
Tam tai mà Phật đã nói. Ðại Tam tai là sự hủy
diệt của tinh cầu, ngày nay chúng ta nhìn thấy hỏa
tai, những tinh cầu phát ra ánh sáng đó chính là
hỏa, toàn thể là một biển lửa, mặt trời chính là
biển lửa. Chúng ta rất khó hiểu rõ trạng thái
của Ðại Tam tai, hiện nay tình hình của Tiểu Tam tai
đại khái thì chúng ta có thể hiểu được đôi chút,
thiệt đáng sợ vô cùng! Cõi trời Tứ Thiền mới
là cõi trời đủ phước báo, chẳng bị Tam Tai.
Trong Ðại Trí Ðộ Luận, Phật nói người ở trời Sắc
Giới chủ yếu là tu thiền định, nếu chỉ tu thiền định
mà không tu phước thì đâu có phước báo lớn như vậy!
Thế nên họ phải tu Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả,
đây là chỗ tồn tâm của thiên nhân trên trời Sắc
Giới. Họ bố thí, trì giới, tu bố thì thì tâm
được vui, bố thí nhiều thì khoái lạc càng nhiều.
Thế nên họ có thể xả, chịu thí, nhờ vậy mới có thể
dùng công phu định lực của họ sanh đến cõi trời Tứ
Thiền. Sự khác biệt ở cõi Tứ Thiền cũng do
công phu định lực sâu hay cạn, phước tu được ít hay
nhiều, từ đó mới sanh ra những tướng trạng khác
biệt.
Vô Tưởng Thiên.
Trời Vô Tưởng.
Cõi Tứ Thiền còn một tầng đặc biệt, ‘Trời Vô Tưởng’.
Trong kinh Phật nói đây là trời ngoại đạo, hơn phân
nửa đều là học Phật, giải sai ý tứ của Phật.
Tu Ðịnh, trong Ðịnh, ý niệm gì cũng chẳng khởi lên,
một niệm chẳng sanh, vô tưởng, tu thành công thì
vãng sanh về cõi này. Chỉ có Ðịnh, chẳng có
Huệ là sai lầm; ý nghĩa của Thiền Ðịnh là
trong Ðịnh có Huệ. ‘Thiền Na’ là Phạn ngữ,
dịch nghĩa là ‘Tịnh Lự’, ‘Tịnh’ là Ðịnh, ‘Lự’ là có
công phu Quán Chiếu, cũng có nghĩa là họ hiểu rõ, họ
chẳng Ðịnh đến nỗi không biết gì cả. Một niệm
chẳng sanh, nhưng mọi việc đều rõ ràng, chuyện gì
cũng minh liễu, như vậy mới gọi là Thiền Ðịnh.
Nếu chỉ là một niệm chẳng sanh, việc gì bên ngoài
cũng chẳng biết, như vậy là không được, là có Ðịnh
chẳng có Huệ, tu như vậy thành công thì tương lai sẽ
vãng sanh về cõi trời Vô Tưởng. Sự tu hành
trong Phật pháp là ‘Ðịnh Huệ đẳng trì’ gọi là Thiền
Ðịnh. Sa Ma Tha, Tỳ Bà Xá Na, ‘Sa Ma Tha’ dịch
nghĩa là Chỉ Tức, ‘Tỳ Bà Xá Na’ dịch là Quán Tưởng,
hoặc Quán Kiến, Quán Sát, có những nghĩa như vậy.
Chỉ tu một thứ thì sẽ lệch về một bên, đều chẳng thể
thành tựu. Người chỉ tu Ðịnh thì dễ hôn trầm,
tu thành công thì sanh về cõi Trời Vô Tưởng.
Người chỉ tu Huệ thì không thể được Ðịnh, tâm nhảy
loạn xạ, vọng tưởng rất nhiều. Tại sao chú
trọng tại Thiền Ðịnh? Thiền là Ðịnh - Huệ đều
bằng nhau, Ðịnh - Huệ đẳng trì, công phu này mới
chính xác.
Năm thứ sau này là chỗ thánh nhân tu hành:
Vô Phiền Thiên, Vô
Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc
Cứu Cánh Thiên.
Trời Vô Phiền, trời Vô Nhiệt, trời
Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Cánh.
Thông thường còn xưng là ‘Ngũ Bất Hoàn Thiên’, ai
trụ ở đó? Tiểu Thừa Tam Quả, cũng được gọi là
‘Tịnh Cư Thiên’, thế nên Tứ Thiền là Phàm Thánh Ðồng
Cư Ðộ. Trời của phàm phu là trời Phước Sanh,
Phước Ái, Quảng Quả, và Vô Tưởng, thiên nhân ở bốn
cõi trời này chẳng nhìn thấy thiên nhân ở trời Tịnh
Cư, biết là họ ở nơi đó tu hành nhưng không nhìn
thấy họ. Giống như ở thế gian này, địa cầu
chúng ta cũng là Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ, có Phật, Bồ
Tát, A La Hán trụ ở địa phương này, loài người chúng
ta chẳng nhìn thấy họ. Quý vị tụng Từ Bi Tam
Muội Thủy Sám, trong ấy nói đạo tràng của tôn giả Ca
Nặc Ca ở Tứ Xuyên, người thường đến đó thì thấy toàn
là núi hoang vu, chẳng nhìn thấy gì hết, lúc Ngộ Ðạt
quốc sư đến đó nhìn thấy đạo tràng trang nghiêm.
Phải có duyên mới nhìn thấy cõi Phàm Thánh Ðồng Cư
Ðộ, không có duyên thì chẳng thấy. Trong kinh
nói tôn giả Ca Diếp còn chưa nhập Niết Bàn, còn ở
núi Kê Túc, ngài cũng thường ra ngoài đời, lúc ra
thì chúng ta cũng chẳng nhận biết được, ngài biết
biến hóa. Ngài phải đợi Phật Di Lặc ra đời,
truyền y bát của đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho Phật
Di Lặc. Phật Di Lặc xuất thế, trong kinh nói
năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau (5,670,000,000
năm), tôn giả Ca Diếp phải đợi thời gian dài như
vậy. Tâm người được thanh tịnh, thọ mạng được
tự tại, muốn trụ bao lâu thì trụ bấy lâu, chẳng trở
ngại.
Thế nên tôi khuyên mọi người phải phát nguyện,
nguyện lực phải mạnh hơn nghiệp lực thì bạn mới
chuyển, mới được tự tại. Nếu bạn không chịu
phát nguyện, đời này bạn nhất định sẽ chịu vận mạng
chi phối, bạn sẽ chẳng thoát nổi vận mạng.
Nhất định phải phát đại nguyện xả mình vì người, thì
bạn mới được tự tại, đời sống tự tại, thọ mạng tự
tại, trụ thế tự tại, giáo hóa tự tại, hết thảy sự
nghiệp chẳng có gì là không tự tại, nguyện lực chẳng
thể nghĩ bàn! Tại sao không chịu phát nguyện!
Ðời Ðường, Pháp Chiếu đại sư, tổ thứ tư Tông Tịnh
Ðộ, ngài nhìn thấy Ðại Thánh Trúc Lâm Tự của Văn Thù
Bồ Tát trên núi Ngũ Ðài, đây là người có duyên.
Ngài nhìn thấy Văn Thù, Phổ Hiền, nhìn thấy pháp hội
hơn một vạn người tụ hội, Văn Thù Bồ Tát đang giảng
kinh thuyết pháp, Ngài còn ở đó nghe một buổi, còn
thỉnh giáo Văn Thù Bồ Tát:
‘Phật pháp đã đi đến đời Mạt pháp,
căn tánh người đời Mạt Pháp độn, tu pháp môn gì dễ
thành tựu?’.
Văn Thù Bồ Tát dạy Ngài tu pháp môn
Niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ.
Pháp Chiếu vốn là tham thiền, nghe
xong lời dạy của Văn Thù Bồ Tát, phát nguyện chuyên
tâm niệm Phật. Ngài còn thỉnh giáo: ‘Làm
thế nào niệm Phật?’. Văn Thù Bồ Tát dạy phương
pháp niệm Phật cho Ngài. Sau đó ngài rời khỏi
Ngũ Ðài Sơn, trên đường về đi đến đâu ngài cũng đều
ghi dấu hiệu, sợ lạc đường, muốn lần sau trở lại.
Kết quả là làm dấu được vài chỗ rồi quay trở lại,
chùa chẳng còn nữa, chỉ còn một cảnh núi hoang vu,
thế mới biết là chẳng thể nghĩ bàn, đạo tràng đã
biến mất. Phàm phu chẳng nhìn thấy Phàm Thánh
Ðồng Cư Ðộ, chẳng có duyên ấy thì chẳng nhìn thấy
cảnh giới của thánh nhân.
Trong kinh nói Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ có ba chỗ: một
là thế giới Sa Bà của chúng ta, thứ hai là trời Ðâu
Suất tức là tầng trời thứ tư trên cõi Dục Giới, Ðâu
Suất Nội Viện là đạo tràng của Di Lặc Bồ Tát, thiên
nhân trời Ðâu Suất chẳng nhìn thấy, chỉ nghe nói,
chẳng biết ở đâu. Thứ ba là Trời Tịnh Cư ở cõi
trời Tứ Thiền tức là Ngũ Bất Hoàn Thiên, ba chỗ này
là Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ. Họ ở chỗ này tu
hành, tuy đều là thánh nhân Tam Quả, tại sao gọi là
‘Bất Hoàn’? Chẳng còn đến Dục Giới nữa, họ sẽ
thành tựu ở chỗ đó. Trong kinh nói người lợi
căn sẽ trụ ở Ngũ Bất Hoàn Thiên, trực tiếp ở đó
chứng quả A La Hán và siêu việt Tam giới, siêu việt
sáu nẻo luân hồi, đây là A La Hán lợi căn. Nếu
kém hơn, họ còn phải thông qua Tứ Không Thiên mới có
thể xuất Tam giới; người lợi căn chẳng cần thông qua
Tứ Không Thiên, trực tiếp chứng quả A La Hán, liền
xuất Tam giới, đây là thiên nhân cõi trời Tịnh Cư.
Chúng ta không cần phải giới thiệu thêm về Ngũ Bất
Hoàn Thiên. Kiến Tư phiền não trong Tam giới
gọi là Kiến Tư Hoặc, tam giới tám mươi mốt phẩm; Tam
giới chia thành chín cõi, mỗi cõi có chín phẩm, chín
nhân chín thành tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc, đến Ngũ
Bất Hoàn Thiên mới đoạn hết, đoạn hết mới chứng quả
A La Hán.
Năm xưa đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trên thế
gian này, thị hiện thành Phật dưới cây Bồ Ðề, sau
khi thành Phật giáo hóa chúng sanh. Giáo hóa
chúng sanh cần có người khải thỉnh, nếu không ai mời
thì Phật chẳng thể dạy. Người thế gian tuy
biết đức Phật nhưng ai biết được đây là một người có
đại tri huệ, đại đạo sư cho trời và người, ai biết
được? Người thế gian chẳng có người thỉnh thì
Phật phải nhập Niết Bàn, phải thị hiện diệt độ.
Thiên nhân ở trời Tịnh Cư nhìn thấy, họ thấy đức
Phật Thích Ca thị hiện nên mau mau xuống để thỉnh
cầu, thiên nhân cõi trời Tịnh Cư thay thế chúng ta
thỉnh cầu nên đức Phật mới trụ thế tám mươi năm,
giảng kinh thuyết pháp cho chúng ta trên ba trăm
hội, chúng ta phải cảm kích người cõi trời Tịnh Cư.
Nếu họ không thỉnh pháp thì thế gian này của chúng
ta chẳng nghe được Phật pháp, họ cũng rất từ bi,
thương xót hết thảy chúng sanh khổ nạn, khuyến thỉnh
Như Lai thuyết pháp.
Cõi cuối cùng:
Ma Hê Thủ La Thiên
Trời Ma Hê Thủ La
Có một số kinh nói Ma Hê Thủ La tức
là Sắc Cứu Cánh Thiên. Ở đây tại sao phải liệt
kê tên này riêng ra? Trong kinh cũng có nói,
Ma Hê Thủ La là thượng thủ của thiên nhân cõi Tịnh
Cư, ý nghĩa này cũng hay. Tịnh Cư thiên tức là
Ngũ Bất Hoàn Thiên, vị đại đức được tôn kính nhất
xưng là Ma Hê Thủ La. Ðây là do thiền định
được đại tự tại nên Ma Hê Thủ La cũng có thể xưng là
Ðại Tự Tại thiên. Ðây là mười tám tầng trời
Sắc Giới, giới thiệu đơn giản đến đây.
Câu tiếp theo:
Nãi chí Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ thiên.
Cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tướng Xứ.
Chữ nãi chí ở đây ngụ ý đã lược bớt. Ðã lược
bớt ‘Tứ Không Thiên, Vô Sắc Giới Thiên’. Thiên
nhân ở trời Vô Sắc Giới thật sự là phàm phu rất
thông minh, rất có trí huệ. Ở Trung Quốc cổ
đại, Lão Tử xuất hiện vào triều nhà Châu, thời đại
Xuân Thu (722
truớc
công nguyên
đến 481
trước công nguyên), cùng thời với
Khổng Tử, lớn tuổi hơn Khổng Tử. Người này rất
thông minh, ngài nói: ‘Tôi có một mối lo lớn vì
tôi có thân này’. Ngài nói tôi có một mối
lo lớn, vì sao? Vì tôi có cái thân này.
Thân là gốc khổ, nếu không có thân thể thì tốt biết
mấy, tự tại biết mấy; ngài là phàm phu bậc cao nên
mới biết thân là gốc khổ. Làm sao xả bỏ thân,
không cần nữa? Ngài chán ghét sắc thân, cộng
thêm công phu định lực của ngài, đích thật có thể xả
bỏ sắc thân này, lìa khỏi, thăng lên cõi trên, phần
nhiều chúng ta gọi là Linh Giới; y theo Phật pháp
thì chỉ có thần thức chẳng có sắc thân, hạng này
chúng ta xưng là ‘Vô Sắc Giới’. Người cõi trời
Sắc Giới đã xả bỏ Dục, đã xả bỏ ngũ dục lục trần,
phiền não nghiêm trọng này, thoát ra khỏi Dục Giới
đến cõi Sắc Giới. Sắc Giới vẫn còn sắc tướng,
thân thể, hoàn cảnh cư trú, những thứ này còn phiền
phức, còn chưa rốt ráo, xả bỏ những thứ này thì lên
đến Tứ Không Thiên. Tứ Không Thiên vẫn còn
trong phạm vi của lục đạo, chưa thoát ra khỏi lục
đạo.
Cõi thứ nhất ở Tứ Không Thiên là ‘Không Xứ Thiên’,
sau khi lìa khỏi Sắc Giới thì vào Không Xứ, tâm
duyên hư không chẳng có sắc tướng, Ðịnh này gọi là
Hư Không Ðịnh. Thứ nhì gọi là ‘Thức Xứ Thiên’,
‘Không’ cũng xả bỏ, Không và Sắc là hiển hiện tương
đối cho nên hư không chẳng chân thật. Họ xả bỏ
luôn Không, xả Không rồi vẫn còn Thức tồn tại, chỗ
họ duyên vào được đặt tên là ‘Thức Xứ’. Thật
ra xả Không là chẳng chấp vào Không, chứ không phải
thật sự xả bỏ Không. Chẳng còn chấp trước
tướng Không, ý niệm Không và Sắc đối lập nhau trong
tâm chẳng còn nữa, lúc đó còn Thức, nên gọi là Thức
Xứ. Người tu hành đến mức này nếu phát hiện
‘Thức’ vẫn còn là một chuyện phiền phức, vẫn chưa
rốt ráo, Thức chính là Phân Biệt, Phân Biệt cũng xả
luôn thì sẽ vào ‘Vô Sở Hữu Xứ Thiên’, tầng thứ ba ở
Vô Sắc Giới. Lúc tu Ðịnh này thì buông xả hết
thảy cảnh giới Trong - Ngoài, cảnh giới hai bên
Trong - Ngoài đều buông xả, xả bỏ hết nên gọi là ‘Vô
Sở Hữu’. Ðến tầng cao nhất ‘Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ Thiên’, vì ngay cả Thức cũng chẳng duyên
vào nên gọi là ‘Phi Tưởng’; chỗ chẳng khởi tác dụng
cũng chẳng duyên vào nên gọi là ‘Phi Phi Tưởng’.
‘Phi Tưởng Phi Phi Tưởng’ là cảnh giới cao nhất
trong Tam giới. Cách giải thích Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng rất nhiều, [chư vị] có thể tham khảo cách
giải thích trong kinh luận, kinh Lăng Nghiêm nói rất
rõ ràng, một số Phật Học Ðại Tự Ðiển cũng có giải
thích rõ, trên đây đã giải thích về Vô Sắc Giới
Thiên.
Phần đông những Học Nhân đến cảnh giới này cho rằng
đó là đại Niết Bàn trên quả vị của Như Lai, họ chẳng
biết đây là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, cứ tưởng
nhập vào cảnh giới này thì vĩnh viễn chẳng sanh
chẳng diệt. Ðâu biết họ còn thọ mạng, thọ mạng
của họ chính là công phu định lực, công phu định lực
của họ có thể duy trì được bao lâu? Trong kinh
nói tám vạn đại kiếp, con số này rất lớn. Tám
vạn đại kiếp là gì? Thế giới này trải qua một
lần ‘Thành, Trụ, Hoại, Không’ gọi là một đại kiếp.
Ðại kiếp này có bốn Trung kiếp, tức là Thành, Trụ,
Hoại, Không. Thế giới Sa Bà chúng ta hiện nay
đang ở kiếp Trụ. Tám vạn đại kiếp tức là thế
giới này thành, trụ, hoại, không tám vạn lần, họ có
công phu định lực sâu như vậy, thọ mạng dài như vậy.
Sau tám vạn lần thế giới thành, trụ, hoại, không,
thì họ vẫn phải đọa lạc, chẳng thể nâng cao thêm
nữa, chỉ có thể đọa xuống. Ðọa lần này thì đọa
rất thê thảm! Người ta thường nói trèo cao, té
nặng. Kinh Lăng Nghiêm nói người trời Tứ Không
đọa xuống, hơn phân nửa là đọa vào địa ngục A Tỳ.
Từ nơi cao nhất rớt xuống chỗ thấp nhất, tại sao?
Vì báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, vì lỗi hủy báng
Tam Bảo nên phải đọa địa ngục A Tỳ. Tại sao họ
có ý niệm hủy báng Tam Bảo? Họ tưởng mình đã
thành Phật, chứng được đại Niết Bàn, tại sao ngày
nay vẫn còn đọa lạc? Trong tâm liền hoài nghi
rằng lời chư Phật Như Lai là giả, chẳng phải thiệt,
thế nên đọa lạc. Vì họ hiểu sai, nhận lầm, đó
chẳng phải cảnh giới Niết Bàn của Như Lai.
Không những chẳng phải quả địa Như Lai, mà cũng
chẳng phải là quả địa Tiểu Thừa, hoàn toàn hiểu lầm.
Thế nên khi càng tu lên trên, trong cảnh giới ấy tà
- chánh rất khó phân biệt, đây là lý do tại sao
trong kinh Lăng Nghiêm đức Thế Tôn giảng Năm Mươi Ấm
Ma cho chúng ta. Khi ma cảnh hiện tiền mà
chúng ta cho đó là cảnh giới Phật thì sẽ bị lầm to.
Thế nên người sơ học chúng ta muốn tránh ma cảnh thì
phương pháp duy nhất là phải y giáo phụng hành,
tuyệt đối thuận theo những gì Phật dạy trong kinh;
tuyệt đối chẳng thể nương dựa những gì người khác
nói, chẳng giống lời Phật dạy trong kinh, như vậy
mới có thể tránh rơi vào ma đạo. Quan trọng
nhất là chúng ta phải tin Phật, chúng ta học theo
Phật, chúng ta thân cận một thiện tri thức, những gì
vị thiện tri thức này nói phù hợp với lời trong kinh
thì chúng ta mới tin; trong kinh chẳng nói như vậy
thì chúng ta không tin, chẳng thể học theo họ.
Phật nói vô lượng pháp môn, nói là vì ứng theo cơ
duyên lúc đó nên mới nói, cơ duyên khác nhau thì
Phật nói pháp khác nhau, vì thế chúng ta muốn học
pháp môn nào, y theo kinh điển nào, điểm này vô cùng
quan trọng, được vậy mới chẳng đến nổi giải sai chân
thật nghĩa của Như Lai. Thí dụ Phật nói với
chúng ta tây phương Cực Lạc thế giới tuyệt đối là có
thật, chúng ta tu Tịnh Ðộ thì chỉ noi theo kinh điển
Tịnh Ðộ. Trong kinh điển khác Phật nói vạn
pháp đều không, nếu bạn nói trong kinh đức Phật nói
hết thảy pháp đều không, nên tây phương Cực Lạc thế
giới cũng không, thế thì trật lất, bạn tin như vậy
thì chẳng phải bạn đã bỏ uổng cơ hội này hay sao.
Học pháp môn nào thì chỉ tu học noi theo kinh
điển của pháp môn đó mà thôi, những kinh điển
nói khác với kinh này thì tuyệt đối chẳng thể y theo
kinh đó.
Thực ra đạo lý này rất cạn cợt, chẳng sâu lắm, chẳng
khó hiểu. Giống như học trong trường đại học
hiện nay, bạn học khoa hệ nào, nhất định phải học
theo khóa trình của khoa hệ đó, bạn chẳng thể học
khoa khác; nếu bạn học lớp của khoa hệ khác, chẳng
giống với khoa mục của bạn, không những không trợ
giúp mà ngược lại có thể phá hoại, đây không phải là
đạo lý này sao! Trong kinh Phật thường dùng Y
Vương để thí dụ, thí dụ này càng rõ hơn nữa.
Thầy thuốc bắt mạch cho bịnh nhân rồi kê toa thuốc,
người khác không dám uống theo toa thuốc của bạn, vì
bịnh của họ không giống bịnh này. Nếu uống
thuốc này, uống vô rồi thì xong ngay, người khác
uống thuốc này thì chết liền. Tám vạn bốn ngàn
pháp môn, tám vạn bốn ngàn toa thuốc khác nhau, chữa
cho tám vạn bốn ngàn người bịnh khác nhau, làm sao
uống bừa bãi được! Thế nên chúng ta tu pháp
môn vãng sanh, nhất định phải noi theo ‘kinh vãng
sanh’. Trong Ðại Tạng kinh thì tam kinh nhất
luận gọi là ‘kinh vãng sanh’, đó là kinh Di Ðà, kinh
Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, Vãng Sanh Luận
của Thiên Thân Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh
Nguyện Phẩm, Ðại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương là
sau này mới thêm vào, thêm rất đúng, cũng có thể noi
theo, tuyệt đối sẽ không tạo thành vấn đề, hiện nay
xưng là Ngũ Kinh Nhất Luận. Chúng ta niệm Phật
cầu vãng sanh phải nương nhờ những kinh điển này,
như vậy là không sai, chẳng thể nương vào những kinh
khác. Nếu những gì nói trong kinh điển khác
tương ứng, phù hợp với lý luận, phương pháp, cảnh
giới nói trong Ngũ kinh Nhất luận này thì chúng ta
có thể tham khảo, nếu không tương ứng thì chúng ta
tuyệt đối không thể đọc, nhất định đừng xem, được
vậy thì công phu của chúng ta mới có thể nắm vững,
mới có thể thành tựu.
Nếu kinh gì bạn cũng xem, kinh gì
cũng học, vậy thì bạn bị phiền phức lớn lắm, không
những bạn tự tu học chẳng thể thành tựu mà cũng
chẳng thể giáo hoá chúng sanh. Khi bạn giáo
hóa chúng sanh, lấy một chút ở chỗ này, lấy một ít ở
chỗ kia, sẽ làm cho chúng sanh loạn đến mê hoặc điên
đảo. Ngày nay học Phật vô cùng khó khăn, tại
sao tôi không dạy trong Phật Học Viện, đạo lý là như
vậy. Phật học viện mở ra rất nhiều lớp học,
mời rất nhiều pháp sư, giảng cho học sinh ngày ngày
đều điên đảo, như say, như cuồng, chẳng đạt được
hiệu quả. Bản thân tôi học Phật đạt được một
chút lợi ích vì may mắn, gặp được thiện tri thức, do
một người dạy, chỉ tiếp nhận lời của một nhà, đi
theo một con đường, nên rất đơn thuần, chẳng phức
tạp, chẳng có nghi hoặc, điểm này rất quan trọng, vô
cùng quan trọng! Sau này chúng tôi mới hiểu
cái mà nhà Nho, nhà Phật gọi là Sư Thừa chính là ý
nghĩa này. Tôi chỉ học theo một thầy, nghe lời
của một thầy mà thôi, vị thầy này đối với tôi phải
chịu trách nhiệm. Nếu tôi còn muốn học theo
người khác thì người thầy này chẳng có cách gì để
dạy. Thật sự thân cận thiện tri thức, noi theo
Sư Thừa của người xưa, bạn theo sát vị thầy này,
nhất định chẳng thể học theo người thứ hai, chẳng
thể nghe lời dạy của người thứ hai, được vậy thì bạn
mới thành tựu. Vị thầy này phải chịu trách
nhiệm nhân quả đối với bạn, trách nhiệm này rất
nặng, nếu chỉ sai đường cho bạn, dẫn đi lầm đường
thì vị thầy này phải thọ ác báo. Nếu bạn chẳng
chịu tiếp nhận, bạn cứ đi khắp nơi nghe người khác,
vẫn còn xem bài của người khác, vậy thì người thầy
này sẽ chẳng chịu trách nhiệm cho bạn.
Hiện nay trở về sau có lẽ Sư Thừa sẽ
chẳng còn nữa, chẳng thể còn nữa, cho nên có thể
thành tựu được hay không hoàn toàn ở tại mỗi cá
nhân. Nói cách khác chẳng có vị thầy hết lòng
phụ trách dạy bạn, nói thật ra thầy giáo muốn tìm
học sinh như vầy cũng tìm không ra, hoàn toàn nhờ
giác ngộ của mình. Muốn chân chánh giác ngộ,
chân chánh thành tựu thì cũng phải đi theo đường cũ,
học theo một vị thầy.
Tôi khuyên mọi người, ngày nay chúng
ta học theo ai?
Học theo A Di Ðà Phật.
A Di Ðà Phật ở nơi đâu?
Kinh Vô Lượng Thọ chính là A Di Ðà
Phật.
Chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ, tiếp
nhận lời dạy của A Di Ðà Phật, những gì A Di Ðà Phật
dạy chúng ta làm thì chúng ta làm hết lòng; những gì
A Di Ðà Phật chẳng dạy chúng ta làm, chúng ta nhất
định không làm, chúng ta chỉ nghe lời dạy của A Di
Ðà Phật, chẳng nghe bất người nào, được vậy thì đời
này bạn nhất định sẽ vãng sanh!
Ngoài ra còn một vị đại đức có thể
giúp chúng ta là Ấn Quang đại sư, mỗi câu mỗi chữ
trong Ấn Quang Ðại Sư Văn Sao đều tương ứng với kinh
vãng sanh, nên thường thường đọc Văn Sao của Ấn Tổ,
làm bạn với Ấn Tổ, nghe lời dạy của Ngài, làm theo
lời dạy của Ngài, đoạn ác tu thiện, giữ trọn luân
thường, làm tròn bổn phận, tin sâu nhân quả, chắc
thật niệm Phật, nhất định sẽ được vãng sanh Tịnh Ðộ.
Ðây là con đường cầu vãng sanh, xuất ly tam giới lục
đạo duy nhất trong đời này của chúng ta, ngoài đường
này ra thì chẳng còn con đường thứ hai nào khác.
Xem đoạn kinh tiếp theo:
Nhất thiết Thiên
chúng, Long chúng, Quỷ Thần đẳng chúng tất lai tập
hội.
Hết thảy chúng
Trời, chúng Rồng, và các chúng Quỷ Thần đều đến tụ
hội.
Ðoạn này nói về những chúng Thiên
Long Bát Bộ. Chúng ta đọc tiếp, đoạn kinh văn
sau đây nói về các chúng thần.
Hựu hữu tha phương
quốc độ, cập Sa Bà thế giới.
Còn những cõi
nước ở phương khác và thế giới Sa Bà
Sa Bà thế giới là cõi của chúng ta,
và còn những thế giới ở phương khác.
Hải Thần, Giang
Thần, Hà Thần.
Thần Biển, Thần
Sông lớn, Thần Sông nhỏ.
Ðây là Thủy thần, thủy có lớn nhỏ,
người Trung Quốc gọi là Long Vương.
Thọ Thần, Sơn
Thần, Ðịa Thần, Xuyên Trạch Thần, Miêu Giá Thần, Trú
Thần, Dạ Thần, Không Thần, Thiên Thần, Ẩm Thực Thần,
Thảo Mộc Thần, như thị đẳng thần, giai lai tập hội.
Thần Cây, Thần
Núi, Thần Ðất, Thần Suối và Ao Ðầm, Thần Mùa Màng,
Thần Ngày, Thần Ðêm, Thần Hư Không, Thần Trên Trời,
Thần Ăn Uống, Thần Cỏ Cây, những vị thần như vậy đều
đến tụ hội.
Chúng ta gộp hai đoạn này nói chung.
Hai đoạn này nói về Bát Bộ và những chúng Thần.
Trước kia pháp sư Thánh Nhất ở Cửu Hoa Sơn giảng Ðịa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh, đối với những chúng
thần này đều có giới thiệu, thần cũng đến tham gia
đại hội này, lần tập hội này chẳng phải là ngẫu
nhiên, đều có nhân duyên sâu đậm với Ðịa Tạng Bồ Tát
lúc trước. Nếu không có duyên, đức Phật Thích
Ca Mâu Ni mở pháp hội lần này tại cung trời Ðao Lợi,
họ có tư cách gì để tham gia! Chúng ta thấy
đại chúng tham dự không thể có nghi hoặc, không
những có các chúng Trời, chúng Thần, phía sau còn có
chúng Quỷ. Chúng ta xem tiếp kinh văn:
Phục hữu tha
phương quốc độ cập Sa Bà thế giới chư đại quỷ vương,
sở vị Ác Mục Quỷ Vương, Ðạm Huyết Quỷ Vương, Ðạm
Tinh Khí Quỷ Vương, Ðạm Thai Noãn Quỷ Vương, Hành
Bịnh Quỷ Vương, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ
Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Ðại Ái Kính Quỷ Vương
[1][1],
như thị đẳng Quỷ Vương giai lai tập hội.
Lại có những
đại quỷ vương ở các cõi nước phương khác và thế giới
Sa Bà, như Ác Mục Quỷ Vương, Ðạm Huyết Quỷ Vương,
Ðạm Tinh Khí Quỷ Vương, Ðạm Thai Noãn Quỷ Vương,
Hành Bịnh Quỷ Vương, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ
Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Ðại Ái Kính Quỷ Vương,
các quỷ vương như vậy đều đến tụ hội.
Liệt kê ra mười hạng Quỷ Vương.
Quỷ đạo cũng tương đối phức tạp, những vị có phước
đức trong quỷ đạo thì được xưng là Quỷ Vương.
Chúng ta ở nhân gian tu phước, phước chẳng uổng phí,
phước báo là chân thật, những phước bạn tu, tương
lai nhất định sẽ được phước báo. Nhưng đến nơi
nào để hưởng phước báo? Không nhất định.
Phải coi bạn đến cõi nào, nếu bạn có phước thì bất
luận ở cõi nào cũng hưởng phước, đến quỷ đạo cũng sẽ
hưởng phước. Nói cho chư vị biết chỉ có cõi
địa ngục thì chẳng có cách chi; nếu bạn ở cõi người,
cõi trời, cõi súc sanh, cõi quỷ, ai có phước đều sẽ
hưởng phước, trong cõi quỷ thì làm Quỷ vương.
Những người, những chúng sanh này đều có duyên với
Phật, đặc biệt là duyên với Ðịa Tạng Bồ Tát rất sâu,
chúng ta từ kinh này thấy chúng sanh mười pháp giới
đều tụ hội nơi đây, chẳng thể nghĩ bàn, trong hết
thảy pháp hội chúng ta chưa từng thấy. Kinh
Hoa Nghiêm cũng có, mười pháp giới chúng sanh cũng
đến dự hội nhưng sánh chẳng bằng kinh Ðịa Tạng.
Tại sao? Hội kinh Ðịa Tạng này, phía trước
chúng ta thấy hết thảy chư Phật, mười phương ba đời
hết thảy chư Phật Như Lai một vị cũng không sót, hết
thảy đều đến đầy đủ, trong kinh Hoa Nghiêm chẳng
thấy được việc này. Từ chư Phật Như Lai đến
chúng sanh địa ngục, đến những quỷ vương, có rất
nhiều quỷ vương coi quản địa ngục, hết thảy đều đến
dự hội, vô cùng hiếm có!
Chúng ta đọc đoạn kinh này xong, nhất
định không thể coi thường, biết pháp hội này thù
thắng khôn sánh. Nguyên nhân là gì?
Những người này, chư Phật Như Lai này đều là học trò
của Ðịa Tạng Bồ Tát, hôm nay thầy giáo có công
chuyện, học sinh đâu dám chẳng đến! Ðịa Tạng
Bồ Tát có oai đức lớn như vậy sao? Ðúng vậy!
Ðịa Tạng là gì? Tâm địa, chẳng phải nói một
người. Phía trước vừa mở đầu đã giảng cho bạn,
‘Ðịa’ là tâm địa, chân tâm bản tánh, ‘Tạng’ là vô
lượng trí huệ đức năng có sẵn trong bản tánh, hết
thảy chúng sanh đều y theo cái này để tu hành thành
Phật. Ngày nay giảng Ðịa Tạng pháp môn, hết
thảy chư Phật Như Lai đều ủng hộ, hết thảy chúng
sanh phải nương nhờ, dựa vào, thế nên pháp hội này
thù thắng hạng nhất, Hoa Nghiêm không thể sánh bằng,
Hoa Nghiêm cũng phải nương theo nó để khơi dậy, nó
là chỗ nương dựa căn bản. Thế nên chư vị phải
hiểu tánh trọng yếu của vấn đề này, chỗ nương dựa
căn bản chính là phước thứ nhất nói trong Quán Kinh.
Nói cho chư vị biết nếu ngày nay chúng ta bỏ qua
‘hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không
giết hại, tu mười nghiệp thiện’ thì tu pháp môn
gì cũng chẳng thể thành tựu ngay trong đời này.
Tại sao? Vì bạn không có căn bản cho nên học
Phật phải trải qua vô lượng kiếp. Chúng ta học
Phật tuyệt chẳng phải chỉ học đời này thôi đâu,
trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta thấy nhóm người
cùng vua A Xà Thế, nói thực ra chính là nói chúng
ta, nhiều đời quá khứ đã từng cúng dường bốn trăm ức
Phật, đến nay vẫn còn là phàm phu, vẫn luân chuyển
trong sáu nẻo. Cúng dường bốn trăm ức Phật, tu
hành, nghe pháp chẳng ít, tại sao vẫn không thể
thoát khỏi Tam Giới? Tại sao chẳng thể vãng
sanh? Ðây là như lúc trước thầy Lý thường nói
trong một vạn người niệm Phật khó có được hai, ba
người vãng sanh. Ðạo lý gì? Vì bạn chẳng
tu từ căn bản.
Bạn đừng coi những người vãng sanh,
vãng sanh có tướng lành, có thể họ nghe kinh rất ít,
nghe pháp chẳng nhiều, nhưng họ thật sự đã vãng
sanh. Bạn lại hỏi thăm kỹ, người này nhất định
hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, tâm địa rất
từ bi. Bạn hỏi thăm xem trong đời sống hằng
ngày, xử sự đãi người tiếp vật, họ tuyệt đối phù hợp
điều thứ nhất trong Tam phước, có ai dạy họ không?
Chẳng có ai dạy họ. Họ vốn là như vậy, họ làm
người rất từ bi, rất kính trọng người, họ thật sự
làm được. Chúng ta chẳng bằng họ, tại sao vậy?
[Chúng ta mới] đọc được một ít sách vở, học được một
ít Phật pháp bèn cống cao ngã mạn, cảm thấy mình rất
giỏi, người ta chẳng bằng mình. Họ có thể vãng
sanh, chúng ta ngược lại bị lọt tuốt phía sau, còn
phải luân hồi, tại sao? Họ chưa từng đọc sách,
chẳng biết chữ, rất khiêm tốn, rất nhún nhường, luôn
cảm thấy mình chẳng bằng người, nhưng họ đã vãng
sanh được. Thế nên càng học nhiều, lúc trước
thầy Lý nói lúc chưa học thì còn biết hiếu thuận cha
mẹ, học cao rồi, cha mẹ chẳng có học, học vấn cấp
bằng của họ cao hơn cha mẹ nhiều, học càng cao thì
con mắt càng chạy lên trên đỉnh đầu, ngay cả cha mẹ
cũng chẳng coi ra gì, vậy thì làm sao có thể tôn
kính sư trưởng! Người như vậy, một ngày niệm
mười vạn tiếng Phật hiệu cũng chẳng thể vãng sanh.
Thế nên chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này, y
giáo phụng hành mới chẳng đến nỗi lãng phí đời này.
Bộ kinh Ðịa Tạng, đức Phật Thích Ca mở pháp hội tại
cung trời Ðao Lợi là để giảng pháp căn bản, cho nên
chúng sanh trong mười pháp giới đều đến tham gia
pháp hội này, chẳng thể nghĩ bàn phi thường!
Tên những thiên thần, quỷ thần này
chẳng khó hiểu, mọi người có thể xem tên hiểu nghĩa,
ở đây tôi lược bớt. Nếu các bạn muốn biết thì
có thể tham khảo giảng ký của Thánh Nhất pháp sư.
Giảng ký này phổ biến rất rộng, ngài giảng rất hay,
đơn giản, rõ ràng. Xin xem kinh văn:
Nhĩ thời Thích Ca
Mâu Ni Phật cáo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát
Ma Ha Tát: nhữ quán thị nhất thiết chư Phật Bồ Tát
cập thiên long quỷ thần, thử thế giới, tha thế giới,
thử quốc độ, tha quốc độ, như thị kim lai tập hội
đáo Ðao Lợi thiên giả, nhữ tri số phủ.
Bấy giờ Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Văn Thù Sư Lợi Pháp
Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: ‘Ông xem hết thảy
chư Phật, Bồ Tát và thiên long quỷ thần ở thế giới
này và thế giới khác, cõi nước này và cõi nước khác
đều đến tụ hội tại cung trời Ðao Lợi như vậy, ông
biết số lượng bao nhiêu chăng?
Chữ ‘Bất’ này phải đọc là ‘phủ’, như
chữ ‘khả phủ’(có được hay chăng? Có nên chăng?).
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là vị trí huệ hạng nhất trong
các Bồ Tát, Phật chẳng kêu ai khác, chỉ kêu ngài.
Nếu ngài không biết thì những vị khác chẳng cần hỏi
nữa. Phật hỏi ngài, ông xem thử những đại
chúng đến dự hội ‘Nhất thiết chư Phật Bồ Tát, cập
thiên long quỷ thần’, câu này nói về chánh báo, nói
về những người đến dự. Họ từ đâu đến? ‘Thử thế
giới, tha thế giới, thử quốc độ, tha quốc độ’ bao
gồm tận hư không, trọn khắp pháp giới, đây là y báo;
chúng ta nói đến từ bốn phương tám hướng, đến từ hết
thảy pháp giới, cõi nước chư Phật. Nhiều người
như vậy, ông biết số lượng là bao nhiêu chăng?
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trong hội kinh Vô Lượng
Thọ, chúng ta thấy đại chúng là hai vạn người, đại
chúng tham dự trong pháp hội này thật là chẳng thể
nghĩ bàn, nhìn thấy pháp hội thù thắng thì biết được
tánh trọng yếu của pháp môn. Chúng ta hãy coi
Văn Thù Bồ Tát trả lời ra sao.
Văn Thù Sư Lợi
bạch Phật ngôn: ‘Thế Tôn, nhược dĩ ngã thần lực,
thiên kiếp trắc độ, bất năng đắc tri’.
Văn Thù Sư Lợi
bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, nếu dùng thần lực của con
tính đếm trải qua ngàn kiếp cũng chẳng thể biết
được’.
Lời này là thật, chẳng phải giả.
Văn Thù là vị trí huệ hạng nhất trong các Bồ Tát,
ngài nói dùng khả năng của ngài quan sát, đo lường;
chữ ‘độ’ tức là độ lượng (đo lường), dùng thời gian
bao lâu? ‘Ngàn kiếp’, thời gian dài như vậy,
dùng khả năng của ngài để tính đếm, tính chẳng nổi.
Số người dự hội là bao nhiêu? Quá nhiều!
Phật cáo Văn Thù
Sư Lợi, ngô dĩ Phật nhãn quán cố, do bất tận số.
Phật nói với
Văn Thù Sư Lợi, Ta dùng Phật nhãn để tính cũng chẳng
tính nổi.
Phật nhãn chẳng có gì không biết,
chẳng có gì không thấy, Phật ở đây nói câu này là
lời khiêm tốn, lời khách sáo. Nói với Văn Thù
Sư Lợi, nếu Phật dùng Phật nhãn cũng chẳng tính nổi,
huống chi là ông! Ráng sức hình dung số người
tham gia pháp hội đông đảo tức là nói rõ sự thù
thắng trang nghiêm của pháp hội. Hàm ý chứa
đựng ở trong ấy là sự quan trọng của pháp hội, vô
cùng quan trọng, giảng hết thảy kinh cũng chẳng quan
trọng bằng giảng kinh Ðịa Tạng. Việc này cũng
giống như việc Tân Gia Ba không ngừng xây dựng,
chúng ta thấy khắp đường phố chỗ nào cũng đang xây
cất, xây lầu cao, bất luận là xây lầu gì, trước hết
phải đắp nền móng vững chắc, Ðịa Tạng pháp môn chính
là nền móng, bạn xem có quan trọng không! Bất
luận xây lầu cao bao nhiêu, bất luận hình thức như
thế nào, nền móng đều giống nhau, phải vững chắc,
phải kiên cố. Nói rõ Phật pháp sâu rộng, pháp
môn vô tận, vô lượng pháp môn đều xây dựng trên một
nền móng này, chẳng có cơ sở, chẳng có nền móng này
thì bất cứ pháp môn nào cũng không thể thành tựu, do
đó bạn mới hiểu được tánh quan trọng của pháp môn
này. Nhiều người đến tham dự như vậy tượng
trưng cho pháp môn vô lượng, vô lượng pháp môn đều
quy về một cơ sở này. Hết thảy chư Phật tu
hành thành Phật, chẳng phải chỉ noi theo một pháp
môn thành tựu, môn nào cũng có thể viên thành Phật
đạo. Nhưng hết thảy đều xây dựng trên cơ sở,
trên căn bản này, phế bỏ cơ sở thì nhất định chẳng
thể thành tựu. Chúng ta trong nhiều đời trước,
nhiều đời nhiều kiếp coi thường cơ sở này nên chẳng
thể thành tựu. Nếu cũng coi thường như cũ, thì
đời này niệm Phật chỉ là kết một chút duyên với A Di
Ðà Phật mà thôi, vẫn chẳng thể vãng sanh. Bạn
hỏi đến khi nào mới có thể vãng sanh tây phương Cực
Lạc thế giới? Khi bạn làm tròn điều thứ nhất
trong Tam Phước, tức là pháp môn Ðịa Tạng này, thì
bạn có thể vãng sanh.
Tôi đã nói với các bạn rồi, nếu bạn
làm được điều thứ nhất, vãng sanh tây phương Cực Lạc
thế giới Hạ Phẩm; nếu làm được điều thứ hai, có thể
làm được hai điều thì vãng sanh Trung Phẩm; làm được
cả ba điều thì vãng sanh Thượng Phẩm, đây là sự
thật. Nếu nói điều thứ nhất bạn làm không
được, nhưng bạn làm được điều thứ hai, thứ ba, chẳng
có việc như vậy, đó là giả. Giống như xây nhà
lầu, tôi không cần nền móng, cũng chẳng cần tầng thứ
nhất, tôi chỉ xây tầng hai, tầng lầu ba mà thôi, đâu
có đạo lý như vậy! Ðoạn kế tiếp Thế Tôn nói
nguyên nhân vì sao như vậy.
Thử giai thị Ðịa
Tạng Bồ Tát, cửu viễn kiếp lai dĩ độ, đương độ, vị
độ, dĩ thành tựu, đương thành tựu, vị thành tựu.
Ðó đều là do
Ðịa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay đã độ, đang
độ, chưa độ, đã thành tựu, đang thành tựu, chưa
thành tựu.
Ý nghĩa tiêu biểu pháp sâu. Vô
lượng kiếp đến nay, vô lượng pháp môn, hết thảy
thành tựu đều nương dựa trên cơ sở này, tượng trưng
cho ý nghĩa này. Mười phương chư Phật đã được
độ, đã thành tựu, ‘đang độ, đang thành tựu’ là hết
thảy Bồ Tát, ‘chưa độ, chưa thành tựu’ đều có duyên
phận sâu đậm với Ðịa Tạng Bồ Tát. Phàm những
người học Phật đều có duyên phận, nhưng hiện nay bạn
vẫn chưa được độ; đang độ chính là thiên long, quỷ
thần đại chúng, bao gồm những người như chúng ta
thuộc về chưa độ, chưa thành tựu. Chúng ta
chưa được độ, chưa thành tựu làm sao có thể đi đến
đã độ, đã thành tựu? Dựa vào sự nỗ lực của
mình, chúng ta trong đời này thực sự chịu làm, thực
sự chịu y giáo phụng hành, thì chúng ta chưa được
độ, chưa thành tựu sẽ từ từ đi đến đã độ, đã thành
tựu, ngay trong đời này sẽ thành tựu.
Chư vị đồng tu nhất định phải ghi
nhớ, chúng ta treo bốn chữ do cụ Phác
[2][2]
viết: ‘Tri ân báo ân’, báo ơn cha mẹ, báo ơn sư
trưởng, báo ơn Phật, báo ơn chúng sanh. Những
người này có ơn gì đối với chúng ta, mình phải biết
rõ thì mới ‘tri ân’, mới biết ‘báo ân’. Tại
sao người thế gian không biết báo ân? Vì họ
chẳng biết ân. Ngay cả chữ ‘tri’ trong ‘tri
ân’ họ cũng không biết thì làm sao có ý niệm báo ân!
Họ chẳng thể khởi lên ý niệm này. Có thể có
tâm báo ân tức là hiếu kính, bạn đã làm được ‘hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng’. Trong đời
sống hằng ngày ‘đoạn hết thảy ác, tu hết thảy
thiện’, tại sao vậy? Vì báo ân. Nếu bạn
chẳng đoạn ác tu thiện, không sửa sai đổi mới thì
bạn có lỗi với cha mẹ, với sư trưởng, đó là bất
hiếu. Trong xã hội, ngày nay chúng ta phát tâm
xuất gia, chẳng thể làm thầy, chẳng thể làm mô phạm
là bất hiếu, đây là đại bất kính. ‘Làm thầy’
là làm người dẫn đầu, người nêu gương cho xã hội đại
chúng, làm mô phạm cho xã hội, chúng ta khởi tâm
động niệm, ngôn ngữ tạo tác, hãy nghĩ coi mình có
thể làm gương cho xã hội đại chúng không? Nếu
không tức là chẳng có hiếu, chẳng kính, thì bạn
chẳng làm nổi. Tại sao chẳng nổi? Phải
tìm ra nguyên nhân ấy, phải dẹp trừ nguyên nhân ấy,
sửa sai đổi mới, chúng ta mới có thể từ ‘chưa độ’
đạt đến ‘đã độ’, từ ‘chưa thành tựu’ đạt đến ‘đã
thành tựu’, phải làm thật sự! Chuyện này là
chuyện của chính mình, chẳng phải là chuyện của
người khác, người khác giúp không nổi, nhất định
phải tự mình giác ngộ, tự độ chính mình, sửa lỗi
lầm, sửa tập khí, sửa tâm lý, đọc tụng Ðại Thừa, y
giáo phụng hành như vậy mới có thể thành tựu.
Nếu đời này chẳng thể khắc phục
chướng nạn của mình, khắc phục tập khí tật xấu của
mình, vẫn cứ theo thói cẩu thả, chúng ta đời này
cũng giống như những đời trước, chỉ kết duyên cùng
đức Phật A Di Ðà, cùng đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và
Ðịa Tạng Bồ Tát, đời này vẫn chẳng thể thành tựu.
Duyên đã kết rất sâu, kinh Di Ðà nói: ‘Chẳng thể
dùng ít thiện căn, phước đức, nhân duyên được sanh
cõi ấy’, duyên này đã kết từ nhiều đời nhiều
kiếp, vô lượng kiếp qua đã kết duyên sâu đậm này,
nhưng duyên vẫn chẳng thể thành tựu, vẫn còn thiếu
một đoạn, tức là chẳng thể khắc phục phiền não tập
khí của mình, đọc kinh nghe pháp chẳng thể thâm giải
nghĩa thú; hình như đã hiểu rồi, nhưng thực sự chưa
hiểu, làm sao biết bạn chưa hiểu? Vì bạn chưa
làm được. Nếu bạn đã hiểu rồi thì nhất định sẽ
làm được. Tại sao? Biết [giá trị của
món] hàng, đã nhận thức rồi. Trên hai bàn, một
bên thì để nắm đất, một bên thì để vàng ròng, nếu
tặng cho bạn một thứ, chỉ có thể lấy một thứ thì bạn
lấy cái nào? Bạn nhất định sẽ lấy vàng.
Tại sao? Vì bạn biết giá trị của nó.
Trong kinh điển Phật dạy chúng ta ‘thâm giải nghĩa
thú’ (hiểu sâu ý nghĩa), giải khó, hành dễ,
tại sao bạn làm không được? Vì bạn chẳng hiểu,
bạn chẳng liễu giải, Phật pháp đích thật là: biết
thì khó, làm thì dễ. Bởi vậy đức Phật Thích Ca
Mâu Ni giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm
là vì: biết thì khó, hành chỉ trong vòng một niệm.
Một ý niệm chuyển đổi trở lại thì liền siêu phàm
nhập thánh, ý niệm chẳng chuyển là vì ‘giải’ chẳng
thấu suốt, chẳng thâm nhập.
Hạnh Môn của chúng ta nói thật ra
nương dựa vào Giải Môn, nếu bạn ‘giải’ được càng
sâu, thì ‘hạnh’ của bạn càng châu đáo; có thể giảng
mà chẳng thể làm, nói thật ra chính là vì vẫn chưa
hiểu (giải) sâu nên chẳng thể làm nổi. Giảng
được nhất định sẽ làm được, nguyên nhân giảng được
nhưng làm không được là gì? Chỉ noi theo chú
giải của người khác, dựa trên lời văn mà giải nghĩa,
chính mình cũng chẳng hiểu. Tôi nghe nói còn
có một số người giảng kinh Phật, niệm một đoạn kinh
xong thì kể một câu chuyện, không biết tìm ở đâu ra
những câu chuyện này, nghe nói những câu chuyện này
chẳng dính dáng gì đến đoạn kinh trên, họ cũng gọi
là giảng kinh, như vậy thì làm sao ‘có thể hành’
được! Y theo chú giải của người xưa thì miễn
cưỡng còn có thể được. Nói thật ra cần phải tự
mình thấu triệt ý nghĩa trong kinh, tự mình làm được
rồi nói ra mới chính xác, chẳng có mảy may nghi hoặc
gì cả. Tại sao vậy? Ðã làm được, tự mình
thể nghiệm được hiệu quả, tự mình đạt được rồi.
Chúng ta xem tiếp đoạn kế:
Văn Thù Sư Lợi
bạch Phật ngôn: ‘Thế Tôn, ngã dĩ quá khứ cửu tu
thiện căn, chứng Vô Ngại Trí, văn Phật sở ngôn, tức
đương tín thọ’
Văn Thù Sư Lợi
bạch Phật: ‘Thế Tôn, con đã tu thiện căn từ lâu
trong quá khứ, chứng Vô Ngại Trí, vừa nghe Phật dạy
thì liền tin nhận’.
Văn Thù Bồ Tát nói ngài có thể tin
những gì Phật dạy. Phật nói đại chúng nhiều
như trên đều là do Bồ Tát Ðịa Tạng từ kiếp lâu xa
đến nay đã độ, đang độ, chưa độ đều tham dự pháp
hội, đã thành tựu, đang thành tựu, chưa thành tựu
đều đến cả, Văn Thù Bồ Tát tin được việc này, chẳng
nghi ngờ. Nhưng Văn Thù Bồ Tát lại đề ra:
Tiểu quả Thanh
Văn, thiên long bát bộ cập vị lai thế chư chúng sanh
đẳng tuy văn Như Lai thành thật chi ngữ, tất hoài
nghi hoặc, thiết sử đỉnh thọ, vị miễn hưng báng.
Tiểu quả Thanh
Văn, thiên long bát bộ và những chúng sanh đời vị
lai tuy nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc
sẽ hoài nghi, dù có lạy vâng cũng không khỏi hủy
báng.
Những lời này của Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát rất hay. Chưa khai mở trí huệ, công phu
chưa thành tựu, nghe xong lời này của Phật, không
khỏi hoài nghi. Ðịa Tạng Bồ Tát làm sao có
thần thông đạo lực lớn như vậy! Hết thảy chư
Phật mười phương ba đời đều do ngài độ, lời này
chúng ta có thể tin tưởng hay không? Văn Thù
Bồ Tát tin tưởng, chẳng hoài nghi, phần đông người
ta nghe xong sẽ hoài nghi nên chúng ta phải giải
thích rõ ràng đạo lý này. ‘Ðịa’ là tâm địa,
chân tâm, bản tánh, Ðịa Tạng Bồ Tát tiêu biểu cho
pháp này, không thể chấp cứng vào mỗi câu văn, nếu
vậy thì sai rồi, nhất định sẽ hoài nghi. Nếu
bạn cho rằng Ðịa Tạng Bồ Tát đại khái là Kim Ðịa
Tạng
[3][3]
ở Cửu Hoa Sơn thì sai rồi, Kim Ðịa Tạng là một phân
thân, hóa thân của Ðịa Tạng Bồ Tát, hóa thân của
ngài vô lượng vô biên. Thế nên phải hiểu rõ Lý
chân thật, Sự chân thật ở bên trong, như vậy chúng
ta sẽ chẳng hoài nghi, nếu không thì chúng ta sẽ có
nghi hoặc, từ nghi hoặc này đi đến báng pháp, tội
lỗi rất nặng. Mục đích Văn Thù Bồ Tát nêu lên
nghi vấn này là thỉnh cầu Thế Tôn thuyết minh tường
tận những sự tu nhân chứng quả, rộng độ chúng sanh
của Ðịa Tạng Bồ Tát cho đại chúng biết. Ðây là
việc trong đoạn kinh kế tiếp.
Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng
đến đây thôi.
Tập 6 (Số 14-12-06)
Xin mở kinh, xem đoạn kinh tiếp theo.
Duy nguyện Thế Tôn
quảng thuyết Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nhân địa tác
hà hạnh, lập hà nguyện, nhi năng thành tựu bất tư
nghị sự.
Xin nguyện Thế Tôn nói rõ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
lúc còn tu nhân đã làm hạnh gì, lập nguyện gì mà
thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như vậy.
Văn Thù Bồ Tát thấy trong đại hội này đại chúng hy
hữu, đông đảo, đương nhiên ngài biết rất rõ ràng,
rất minh bạch, nhưng còn người, trời, phàm phu, Nhị
Thừa, cho đến Quyền Giáo Bồ Tát nhìn thấy tình trạng
thù thắng này sẽ tránh không khởi nghi hoặc, thậm
chí còn có ý niệm hủy báng. Tổ sư đại đức y
theo kinh luận nói với chúng ta: nghi hoặc, báng
pháp nhất định sẽ đọa địa ngục A Tỳ. Những lời
giống như vầy chúng ta thường chẳng dám nói, tại
sao? Nói ra người ta càng nghi hoặc, càng hủy
báng, họ nghe xong sẽ nói: “Ông lấy chuyện này ra để
dọa người ta, đâu có tội nặng như vậy? Làm gì
có địa ngục?” Họ chẳng thể tiếp nhận, chẳng
thể tin tưởng. Thế nên những lời nói như vầy,
chúng ta tin tưởng thì tự mình sẽ có cảnh giác cao
độ: còn đối với đại chúng trừ phi đọc đến đoạn kinh
này thì chẳng thể không nói, nếu không đọc đến đoạn
kinh này thì chúng ta sẽ chẳng nói. Phải biết
tại sao chẳng nói? Nói xong không những không
có lợi mà còn giúp cho người ta tạo tội nghiệp, vậy
thì nói ra làm chi! Người ta đã đọa lạc rất
thảm rồi, chẳng nên làm cho họ đọa nặng thêm, đây
chính là đại từ đại bi. Thế nên trong thời
trược ác, Phật, Bồ Tát chẳng dùng thân tướng của
Phật xuất hiện trong thế gian là để giảm bớt sự nghi
hoặc, hủy báng của chúng sanh. Văn Thù Bồ Tát
vô cùng từ bi, giúp Thế Tôn giáo hóa chúng sanh.
Giống như hai Ngài đang biểu diễn trên sân khấu vậy,
một người hỏi, một người đáp. Ðịa Tạng Bồ Tát
làm sao có phước đức nhân duyên lớn lao như thế?
Triệu tập tận hư không trọn khắp pháp giới hết thảy
chư Phật, Bồ Tát, chúng sanh có duyên trong lục đạo
đến tham dự đại hội này, đây là chuyện chẳng thể
nghĩ bàn. Xin xem đoạn kinh phía dưới:
Phật cáo Văn Thù
Sư Lợi, thí như tam thiên đại thiên thế giới sở hữu
thảo mộc tòng lâm đạo ma trúc vĩ, sơn thạch vi trần,
nhất vật nhất số, tác nhất Hằng hà, nhất Hằng hà sa,
nhất sa nhất giới, nhất giới chi nội, nhất trần nhất
kiếp, nhất kiếp chi nội, sở tích trần số, tận sung
vi kiếp.
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi thí dụ như trong tam thiên
đại thiên thế giới hết thảy cây, cỏ, lùm, rừng, lúa,
đay
[4][4],
trúc, lau, núi, đá, hạt bụi, mỗi vật tính thành một
số, mỗi số là một sông Hằng, số cát trong mỗi sông
Hằng cứ một hạt cát là một thế giới, trong mỗi thế
giới tính mỗi hạt bụi là một kiếp, số bụi tích chứa
trong mỗi kiếp đều tính thành kiếp.
Trong đoạn này, Thế Tôn vì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói
ra nhân duyên sự tích độ hóa chúng sanh của Ðịa Tạng
Bồ Tát trước kia. Nói với Văn Thù Bồ Tát tức
là nói với chúng ta, Văn Thù Bồ Tát ở đây đại diện
cho chúng ta. Ðoạn này trước hết số lượng
chẳng thể nghĩ bàn; thí dụ này chúng ta chẳng cần
giải thích từng câu, giảng ký của Thánh Nhất pháp sư
có thuyết minh, ở đây chúng ta lược bớt. Con
số này chẳng có cách chi tính nổi, người trong thế
gian không thể tính, hiện nay máy móc, kỹ thuật điện
toán tối tân nhất cũng tính không nổi.
Ðịa Tạng Bồ Tát
chứng Thập Ðịa quả vị dĩ lai thiên bội đa ư thượng
dụ.
Ðịa Tạng Bồ Tát chứng quả vị Thập Ðịa đến nay còn
lâu gấp ngàn lần thí dụ trên.
Con số trong thí dụ trên, đây là nói về lúc Ðịa Tạng
Bồ Tát chứng quả vị Thập Ðịa đến nay, từ lúc chứng
Sơ Ðịa đến Thập Ðịa; nói cách khác thời gian lúc
trước quả Thập Ðịa đều không tính, nếu tính thì càng
nhiều hơn nữa, đếm chẳng nổi.
Hà huống Ðịa Tạng
Bồ Tát tại Thanh Văn, Bích Chi Phật địa.
Huống gì lúc Ðịa Tạng Bồ Tát còn là Thanh Văn, Bích
Chi Phật.
Chẳng tính thời gian trước đó, chỉ tính từ lúc chứng
được Ðịa Thượng
[5][5]
Bồ Tát trở đi đến nay, con số Hằng hà sa kiếp chẳng
sánh vào đâu? Thí dụ này nói thật ra cũng chỉ
có Phật mới nói được, nếu chúng ta dùng ngôn ngữ văn
tự để hình dung con số này cũng hình dung không nổi.
Văn Thù Sư Lợi, thử Bồ Tát oai thần thệ nguyện bất
khả tư nghị.
Văn Thù Sư Lợi, oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó
chẳng thể nghĩ bàn.
Ðây là lời tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát, oai đức, thần
thông, hoằng nguyện của ngài chẳng thể nghĩ bàn.
Nhưng chư vị nhất định phải ghi nhớ bổn nguyện của
Ðịa Tạng Bồ Tát tức là bổn nguyện của tự tánh chúng
ta; nói cách khác nếu chẳng có bổn nguyện của Ðịa
Tạng Bồ Tát chúng ta nhất định chẳng thể chứng được
Phật quả viên mãn. Bạn sẽ hỏi tại sao?
Trong tánh đức có thiếu khuyết thì bạn làm sao được
viên mãn! Ðịa Tạng pháp môn là khóa học thứ
nhất của Phật pháp Ðại Thừa, phải chiếu theo thứ tự
này để nói, đây là học trình của lớp đầu tiên, khóa
trình cơ sở, khóa trình cần thiết phải học.
Tại sao phát nguyện này: ‘Ðịa ngục chẳng không,
thề chẳng thành Phật’? Ðịa ngục là do tự
tánh chúng ta biến hiện thành, chẳng từ bên ngoài
đến, y báo, chánh báo trang nghiêm trong thập pháp
giới đều do tâm địa biến hiện ra. Trong tâm
bạn còn hiện lên hiện tượng địa ngục, còn hiện ra
hiện tượng lục đạo luân hồi, thì bạn làm sao chứng
được viên mãn Bồ Ðề! Ðây là đạo lý nhất định.
Phật pháp nói Lý với bạn, Lý chân thật, Sự chân
thật, chẳng phát nguyện này được không? Chúng
sanh khổ nạn trong địa ngục đều phải độ thoát vô
điều kiện, những người đang chịu khổ nạn trước mắt
ta có thể không giúp đỡ, không dang cánh tay ra trợ
giúp sao? Chúng ta nhìn thấy nhiều chuyện và
nhiều người chẳng như ý, còn sân giận, phải biết đây
chẳng phải là lỗi lầm của cảnh giới bên ngoài, mà là
lỗi lầm của chính chúng ta. Tại sao họ làm
chuyện ác, làm những việc chẳng đúng như pháp?
Vì chính mình chẳng tu hoàn hảo, chẳng làm gương tốt
cho người ta, là tội nghiệp của mình, phải tu từ chỗ
này. Bạn còn đập bàn nạt người ta, trừng mắt
nhìn người ta, thì tội bạn tăng thêm nữa, bạn chẳng
biết chúng sanh từ đâu đến sao? Chúng sanh tạo
tội nghiệp từ chỗ nào? Phật, Bồ Tát biết,
Phật, Bồ Tát đối với hết thảy chúng sanh đều từ bi.
Chúng ta học Phật phải bắt đầu từ đâu? Phải
giác ngộ từ những chỗ này, chân chánh giác ngộ!
Người ác đối với chúng ta, chúng ta phải dùng thiện
ý giúp đỡ họ, nếu họ chẳng tiếp nhận thì không sao
cả. Kinh Ðịa Tạng nói rất rõ, căn cơ của chúng
sanh có bốn thứ, chẳng thể chấp nhận, càng hiện rõ
tội nghiệp của chúng ta sâu nặng, chúng ta phải sám
hối từ chỗ này, tự độ rồi sau đó mới độ người, đây
là đạo lý nhất định. Phật, Bồ Tát tiếp dẫn
chúng sanh cũng chẳng có pháp nhất định, có lúc cũng
nổi giận, cũng trừng mắt nhìn, nhưng bạn phải biết
lúc họ nổi giận [có thể làm cho] chúng sanh giác
ngộ, sửa sai, quay đầu hướng thiện; còn chúng ta nổi
giận thì chúng sanh khởi tâm oán hận, tâm báo thù,
như vậy thì bạn sai rồi. Chúng ta ngu si, Bồ
Tát có trí huệ, chúng ta phải hiểu làm cách nào xử
sự, đãi người, tiếp vật, cho nên đặc biệt đề ra việc
‘làm thầy, làm mô phạm’. Phật, Bồ Tát là thầy
của trời, người, khi chúng ta xuất gia, người ta gặp
mặt liền xưng ‘Pháp sư’, đều xưng bạn là thầy;
‘Thầy’ tức là biểu suất (có nghĩa là nêu gương, dẫn
đầu), mô phạm, chúng ta khởi tâm động niệm, cử chỉ
hành động có thể làm mô phạm cho người ta không?
Hôm qua cư sĩ Lý Mộc Nguyên nói ra, tôi mới biết.
Cả đời tôi đối với chuyện của bất cứ ai, trước giờ
đều chẳng nghe, chẳng hỏi đến. Ông nói với tôi
sau khi những đồng tu khóa trước rời khỏi nơi đây,
họ phải dọn dẹp phòng, nhìn thấy những đồ chẳng cần
đều bỏ bừa bãi trong phòng, còn nhìn thấy trái táo
mới cắn một miếng xong rồi bỏ. Họ nhìn thấy
rất buồn, cách làm như vậy có thể làm gương tốt cho
người thế gian không? Chúng tôi nghe xong rất
buồn, chúng tôi không trách các bạn đồng học, chỉ
trách mình, tự chúng tôi làm không tốt, nhưng chúng
tôi sẽ nỗ lực sửa đổi, những đạo lý này đều phải
biết. Ðồ vật của thường trú chúng ta đều phải
trân trọng, quý tiếc từng ly từng tí. Cả đời
tôi chẳng xin ai một đồng nào, tại sao? Người
ta kiếm tiền chẳng dễ, phải hiểu dùm cho người ta.
Mỗi khi chúng ta dùng tiền đều phải tiết kiệm, chúng
ta tiết kiệm một phần tiền tức là đối với thường
trú, đối với Phật pháp bố thí một phần tiền, chúng
ta tu phước. Nếu bạn chẳng tu phước, thì phước
của bạn từ đâu đến? Ngày nay bạn chẳng thể
đoạn vô minh, tánh đức của bạn chẳng thể lưu lộ, thì
phước báo của bạn đều do tu mà có, nhất định chẳng
dám lãng phí. Cổ đại đức đều làm được, quy củ
của tòng lâm mỗi cây kim mỗi sợi chỉ, mỗi cọng cỏ
mỗi khúc cây, tuy rất nhỏ nhoi, chẳng có gì không
quý tiếc, đó là tích phước! Tích phước tức là
tu phước. Hiện nay nguyên nhân căn bản của hết
thảy lỗi lầm của con người chính là vì từ nhỏ chẳng
có người dạy, lớn lên tập thành thói quen này, dưỡng
thành tập khí rồi thì rất khó sửa, thế nên chúng ta
phải đề cao cảnh giác từng giờ từng phút. Tại
sao phải đọc kinh mỗi ngày? Ðọc kinh chính là
kiểm điểm mình, phản tỉnh, y theo lời dạy trong kinh
sửa đổi, tự tân, được vậy chúng ta mới được cứu.
Xử thế phải nhẫn nhường, phải nghĩ cho người khác,
phải nghĩ cho sự an toàn của cả xã hội; đừng nghĩ
cho cá nhân mình, nghĩ cho cá nhân chẳng có gì không
là tội, không là nghiệp. Tự mình mỗi ngày đều
tạo tội nghiệp nhưng không biết, còn tưởng mình tu
công đức. Trên đây đã nói xen vào chuyện khác
nhưng cũng rất quan trọng.
Chúng ta xem tiếp kinh văn. Phật nói oai thần
thệ nguyện của Ðịa Tạng Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn,
chúng ta phải hiểu hàm ý sâu xa trong câu này là gì?
Chúng ta phải học tập từ chỗ nào? Xem tiếp
đoạn kinh kế:
Nhược vị lai thế
hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị Bồ Tát danh
tự hoặc tán thán, hoặc chiêm lễ, hoặc xưng danh,
hoặc cúng dường, nãi chí thái họa khắc lũ, tố tất
hình tượng, thị nhân đương đắc bá phản sanh ư tam
thập tam thiên, vĩnh bất đọa ác đạo.
Nếu đời vị lai
có người thiện nam, người thiện nữ nào nghe được
danh hiệu Bồ Tát đó rồi khen ngợi, hoặc chiêm lễ,
hoặc xưng niệm danh hiệu, hoặc cúng dường, cho đến
tô vẽ, khắc chạm, tạc đúc, sơn thếp hình tượng,
người ấy sẽ được sanh một trăm lần vào cõi trời thứ
ba mươi ba, vĩnh viễn chẳng đọa ác đạo.
Lời Phật nói là thật, chẳng phải giả, Phật chẳng nói
dối. Có rất nhiều người đọc đến kinh này, cứ
tưởng là tạo một chút tội nghiệp chẳng sao, [Họ nói
chỉ cần] chúng tôi cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát, tương
lai còn được sanh một trăm lần đến trời Tam Thập
Tam, vĩnh viễn chẳng đọa ác đạo [kia mà]. Hiểu
lầm lời kinh, sau đó bị đọa vào ác đạo nên hủy báng:
“Lời đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong kinh chẳng
đáng tin, đều là giả, lừa gạt chúng tôi”. Báng
Phật, báng Pháp, báng Tăng lại đọa địa ngục A Tỳ, họ
chẳng hiểu ý nghĩa của Phật trong đoạn này.
‘Văn thị Bồ Tát danh tự’, trong chữ ‘Văn’ này bao
gồm ‘Tư’, ‘Tu’, ba Huệ của Bồ Tát. Bạn nghe
đến danh hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát, ý nghĩa của danh
hiệu Ðịa Tạng Bồ Tát là gì? Bạn phải chân
chánh hiểu rõ mới gọi là ‘văn danh’ (nghe tên), nếu
hoàn toàn chẳng hiểu rõ ý nghĩa trong danh hiệu thì
chẳng gọi là ‘văn’. Nếu chân chánh hiểu được,
nghe được danh hiệu này, thì kho báu trong tâm địa
của mình sẽ tương ưng, như vậy gọi là ‘văn danh’.
‘Xưng tán’ nghĩa là gì? Xưng tán tức là giảng
giải ‘Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh’, đó là xưng
tán. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xưng tán tại
cung trời Ðao Lợi, khuyến khích mình, và đại chúng
học theo Ðịa Tạng Bồ Tát, vậy gọi là xưng tán.
Chiêm lễ, xưng danh, cúng dường phía sau tức là chân
chánh tu hành. ‘Chiêm lễ’ nghĩa là chiêm
ngưỡng lễ kính, biểu hiện ở đâu? Biểu hiện
trên sự đối đãi cha mẹ, đối đãi sư trưởng.
Tinh thần của Ðịa Tạng Bồ Tát tức là ‘hiếu thân tôn
sư’, sau đó khuyếch đại tâm hiếu thân tôn sư này đến
hiếu kính hết thảy chúng sanh, đây là Ðịa Tạng bổn
nguyện, như vậy thì mới ‘chiêm lễ’ đến viên mãn.
Còn tâm khinh mạn bất kỳ chúng sanh nào thì chẳng
phải tu hạnh Ðịa Tạng. Nói đến ‘chiêm lễ’ cứ
tưởng là cúng một tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, mỗi ngày
khấu đầu lạy ngài, đâu phải là đơn giản như vậy!
Ðó là hoàn toàn giải sai ý nghĩa chân thật của Như
Lai, Phật nói chẳng sai mà bạn đã hiểu sai rồi.
Ðây là chỗ trong hết thảy kinh, Phật đã nhiều lần
khuyến khích chúng ta phải thâm giải nghĩa thú, bạn
giải càng sâu, hiểu càng thấu triệt, thì làm mới
được viên mãn. Chỉ hiểu trên mặt ngoài của
danh tự thì hoàn toàn sai lầm. Cổ đức thường
nói: ‘Noi theo văn giải
nghĩa, ba đời Phật phải kêu oan’
[6][6],
chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều kêu
oan uổng vì bạn giải sai lời của Phật, hiểu sai rồi.
Ngày nay có bao nhiêu người hiểu sai! Bạn phải
hỏi tại sao họ hiểu sai? Vì họ chẳng làm được,
chỉ đến khi làm được mới có thể [thấu suốt], thể hội
rõ ràng, mới thể hội đến những chỗ cao siêu, nếu bạn
không làm thì sao được? Bạn có thể làm được
một phần thì bạn sẽ thể hội được một phần; thể hội
được một phần thì bạn lại làm được một phần, Giải
lẫn Hạnh bổ sung và thành tựu cho nhau, Giải giúp
cho Hạnh, Hạnh giúp cho Giải, cứ luân chuyển thâm
nhập như vậy mới nhập đến chỗ sâu rộng.
‘Xưng danh’ tức là xưng danh hiệu Ðịa Tạng Bồ Tát.
Trong đó có hai thứ công đức, tự lợi là nhắc nhở
chính mình, niệm niệm đều chẳng rời pháp môn Ðịa
Tạng, cũng nghĩa là niệm niệm chẳng rời tâm địa pháp
môn, đây là Tự Lợi Ðức. Lợi Tha Ðức là niệm
niệm thức tỉnh những chúng sanh có duyên. Nói
thật ra ngày nay chúng sanh có duyên ít, quá ít, có
bao nhiêu người nghe đến danh hiệu này liền giác
ngộ? Ai chẳng giác ngộ cũng để cho họ nghe
được, trong A Lại Da Thức trồng hạt giống của danh
hiệu, một phen lọt vào tai thì vĩnh viễn làm hạt
giống đạo; nếu đời này không được lợi ích, có thể
nhiều đời nhiều kiếp về sau gặp được duyên, hạt
giống này sẽ nảy mầm, đây là làm lợi ích lâu xa cho
hết thảy chúng sanh, lợi ích ở tương lai.
Chúng sanh có căn cơ chín muồi sẽ được lợi ích ngay
trong hiện tại, vừa nghe xong họ liền biết tu học
như thế nào.
‘Cúng dường’, chư vị nhất định phải biết, trong các
sự cúng dường, quan trọng nhất là ‘y giáo tu hành
cúng dường’. Phổ Hiền Hạnh Nguyện dạy chúng ta
rất rõ ràng, hết thảy cúng dường của cải đều chẳng
bằng pháp cúng dường, trong Hạnh Nguyện Phẩm nêu ra
bảy loại pháp cúng dường. Thứ nhất là ‘Như
Giáo Tu Hành Cúng Dường’. Nếu chúng ta không
thể tu hành theo lời dạy thì sự cúng dường này là
giả. Chẳng phải cúng dường một chút hương hoa,
trái cây tức là mỗi ngày đều cúng dường Phật, nghĩ
như vậy là sai rồi. Chúng ta xem những vị tổ
sư đại đức chân chánh tu hành, trong Phật đường của
họ chẳng có vật gì cả, hương hoa, trái cây đều chẳng
có, họ cúng bằng cái gì? Chúng ta thấy Phật
đường của họ chỉ có một ly nước, đốt một ngọn đèn
dầu, ngoài ra chẳng có gì hết, họ thật sự cúng
dường, y giáo tu hành cúng dường.
Phía sau là cúng dường mở rộng ra, nghĩa rộng của sự
cúng dường, tức là tạo hình tượng của Bồ Tát.
Vẽ hình cũng được, điêu khắc cũng được, ‘khắc lũ’
tức là khắc gỗ, ‘tố tất’ tức là tạc đúc, đúc xi măng
cũng được, đúc bằng kim loại cũng được, đây là cúng
dường mở rộng ra. Làm cho hết thảy chúng sanh
có cơ duyên nghe đến danh hiệu của Bồ Tát, nhìn thấy
hình tượng của Bồ Tát, cho họ trồng thiện căn.
Tự mình hành Bồ Tát đạo, Bồ Tát làm sao thì mình làm
vậy, đó gọi là hành Bồ Tát đạo. Khuyến hóa hết
thảy chúng sanh, phước đức như vậy mới là ‘một
trăm lần sanh về cõi trời Ba Mươi Ba vĩnh viễn chẳng
đọa ác đạo’. Bạn nghĩ coi tại sao họ chẳng
đọa ác đạo? Chẳng tạo ác nghiệp, người tu hạnh
Ðịa Tạng Bồ Tát thì làm sao tạo ác nghiệp cho được!
Những hạt giống ác nghiệp tạo đời trước tuy vẫn còn,
ác duyên đời này đều đoạn dứt. Họ học theo Bồ
Tát, niệm Bồ Tát, có tâm Bồ Tát, có hạnh Bồ Tát, nói
lời của Bồ Tát, trong mười pháp giới thì duyên của
lục đạo đều cắt đứt, họ làm sao đọa ác đạo cho được!
Ðây là lý đương nhiên, chúng ta nhất định phải hiểu
rõ đạo lý này. Lại xem tiếp đoạn đức Thế Tôn
nói về nhân duyên đời trước của Ðịa Tạng Bồ Tát, ý
nghĩa này rất sâu.
Văn Thù Sư Lợi.
Này Văn Thù Sư
Lợi,
Trong kinh Phật, phàm những chỗ mở
đầu có nêu tên người đương cơ thì đoạn kinh văn tiếp
theo sau vô cùng quan trọng. Kêu tên tức là
nhắc họ, tiếp theo sau sẽ có lời giảng quan trọng,
kêu họ chú ý.
Thị Ðịa Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát ư quá khứ cửu viễn bất khả thuyết bất
khả thuyết kiếp tiền.
Trong thời quá khứ số kiếp bất khả thuyết bất khả
thuyết lâu xa về trước, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
Câu này chấm dứt ở đây vừa đúng chỗ.
Bất khả thuyết, bất khả thuyết kiếp, thời gian này
quá dài, quá dài, nói không hết.
Thân vi đại trưởng
giả tử.
Làm một vị đại
trưởng giả.
Người xưa có ý này, thân phận của ngài lúc trước là
một người đại ‘trưởng giả tử’. ‘Ðại trưởng giả
tử’, rất nhiều người đọc sai chỗ này rồi hiểu thành
‘con trai của đại trưởng giả’. Nhưng trên thực
tế chữ ‘Tử’ là một cách tôn xưng của người Trung
Quốc thời xưa, cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử,
cách dùng chữ ‘Tử’ này là ‘tôn xưng’. Ðại
Trưởng Giả Tử, chữ Tử này chính là chữ Tử trong tên
của Khổng Tử, Mạnh Tử, là lời xưng hô tôn kính.
Dùng ngôn ngữ hiện nay để nói thì ‘Tử’ là tôn kính,
Tôn kính Ðại Trưởng Giả, thêm chữ tôn kính này vào
phía trước, hồi xưa thì chữ tôn kính này được đặt
phía sau.
Thời thế hữu Phật.
Ðời lúc bấy giờ có Phật
Lúc bấy giờ, thế gian này có một tôn Phật.
Hiệu viết Sư Tử
Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.
Hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.
Sư Tử Phấn Tấn là thí dụ, sư tử là vua trong các
loài thú. ‘Cụ Túc Vạn Hạnh’ là nói Bồ Tát tu
hành công đức viên mãn, chứng được Phật quả vô
thượng. Ðây là ý nghĩa đơn giản của Phật hiệu.
Thời Trưởng Giả Tử
kiến Phật tướng hảo, thiên phước trang nghiêm, nhân
vấn bỉ Phật tác hà hạnh nguyện nhi đắc thử tướng.
Lúc đó Trưởng Giả Tử thấy đức Phật tướng mạo tốt
đẹp, ngàn phước trang nghiêm nên hỏi Ðức Phật đó tu
hạnh nguyện gì mà được tướng như vậy.
Ðây là chỗ chúng ta học tập. Lúc bấy giờ
Trưởng Giả tôn kính này thấy Sư Tử Phấn Tấn Như Lai
‘tướng hảo’ quang minh nên sanh tâm hoan hỷ; thỉnh
giáo đức Phật: ‘Tu như thế nào mới có được tướng tốt
của ngài?’ Tướng hảo quan trọng, làm đệ tử
Phật trong xã hội này nếu chúng ta chẳng có hình
tướng tốt thì chúng ta sẽ diệt Phật pháp. Xuất
gia đâu phải dễ, cổ đức thường nói: ‘Trước cửa
Ðịa ngục nhiều Tăng đạo’, phần đông người thường
trong xã hội tạo nghiệp địa ngục chẳng dễ, người
xuất gia tạo nghiệp địa ngục quá dễ, tại sao vậy?
Chẳng có hình tướng tốt thì bạn sẽ diệt Phật pháp,
tội nghiệp này của bạn sẽ [là nhân] đọa địa ngục A
Tỳ. Tại sao? Dạy cho xã hội đại chúng
hủy báng Phật pháp, người ta vừa nhìn hình dáng của
bạn như vậy, khinh chê bạn, khinh thường bạn, hủy
báng bạn, liền có thể hủy báng trọn hết cả Phật
pháp, tội nghiệp này của bạn dễ sợ lắm! Chư
Phật, Bồ Tát là mô phạm, hình tướng tốt nhất của
chín pháp giới. Trưởng Giả Tử được xưng là Tử,
mọi người tôn kính, là người có học thức, có đức
hạnh, hình tướng của Phật có thể làm cho ông ta nhìn
thấy Phật bèn khởi tâm cung kính, muốn đến học tập,
bạn nói hình tượng này hoàn hảo biết mấy.
Chúng ta ngày nay trong xã hội này chẳng xuất gia
thì không sao, một khi bạn xuất gia rồi thì bạn nhất
định phải học hình tướng của Phật, phải đầy đủ hình
tướng của Bồ Tát. Nếu không thì tại gia học
Phật cũng được, tạo tội làm chi! Tại sao phải
làm chuyện báng Phật, báng Pháp, báng Tăng này!
Việc này rất quan trọng.
Chúng tôi ngày nay giảng kinh Hoa Nghiêm rất dài,
đến đoạn ‘Năm mươi ba lần tham vấn’ sau cùng không
những yêu cầu người xuất gia, người tại gia học Phật
cũng giống người xuất gia, đều phải làm hình tướng
tốt nhất cho xã hội đại chúng. Nếu bạn làm
không nổi, thì bạn chẳng phải là đệ tử Phật, là đệ
tử mạo danh, Phật tử giả mạo, tạo vô lượng vô biên
tội nghiệp, quả báo ở ba đường ác đáng sợ vô cùng,
chúng ta không thể không biết việc này. Ðã học
Phật rồi thì tâm địa phải thanh tịnh, bình đẳng,
giác, phải diệt trừ tham, sân, si. Nếu còn
tranh quyền lợi với người, còn muốn cái này tốt, cái
kia chẳng tốt, đó là tâm luân hồi, tạo nghiệp luân
hồi. Nghĩ đến tâm Phật thanh tịnh bao nhiêu,
mảy trần chẳng nhiễm, thường suy niệm về chân tướng
của vũ trụ nhân sanh, chân tướng là tam tâm chẳng
thể được, chư pháp vô sở hữu, thế nên ở trong và
ngoài đều có thể đạt được thanh tịnh; bên trong một
niệm chẳng sanh, bên ngoài mảy trần chẳng nhiễm, như
vậy là Phật, Bồ Tát. Như vậy mới có thể sống
đời sống chân chánh, chúng ta thường gọi là đời sống
chân, thiện, mỹ, huệ thật sự, đời sống hạnh phúc mỹ
mãn thật sự, một tí cũng chẳng giả, chư Phật, Bồ Tát
sống đời sống như vậy. Chúng ta sống cuộc sống
như thế nào? Bên trong khởi tâm động niệm, bên
ngoài luôn luôn phan duyên, chúng ta sống đời sống
đầy dẫy phiền não, nghiệp chướng, đời luân hồi, nói
lời chẳng dễ nghe thì chính là đời sống của ác đạo.
Chúng ta đọc đến câu này, Phật sắp vào phần thứ nhất
trong nghiệp nhân của Ðịa Tạng Bồ Tát, dụng ý rất
sâu! Chư vị bất luận là tại gia học Phật, hay
xuất gia học Phật, nhất định phải làm một gương mẫu
tốt cho xã hội, nhất định phải làm hình tướng tốt
đẹp.
‘Thiên phước trang nghiêm’, chẳng phải chỉ có ba
mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Chúng ta
không nói đến ngàn phước trang nghiêm, chỉ nói ba
mươi hai tướng tốt, ba mươi hai tướng tốt từ đâu
đến? Ba mươi hai tướng là tướng phước đức, bạn
chẳng tu phước thì không được tướng hảo này.
Thiện gồm có hữu lậu và vô lậu. Thiện vô lậu
thì chúng ta làm không nổi, việc này quá cao, phiền
não tập khí chúng ta chưa đoạn, phải học từ đâu?
Bắt đầu từ thiện hữu lậu, nhất định phải đoạn ác tu
thiện. Nếu chúng ta làm được tiêu chuẩn của
thế gian pháp thì chúng ta là người thiện trong thế
gian, là gương tốt cho thế gian. Tướng lưỡi
rộng dài của Phật thành tựu do công đức chẳng nói
dối. Tư Mã Quang ở thời cổ Trung Quốc, đại
khái phần đông người ta đều biết, biệt hiệu của Tư
Mã Quang là Quân Thật, ‘Quân tử thành thật’, ông
thật sự đã làm được. Lúc về già ông tự phản
tỉnh, cả đời chẳng nói dối, ông nói những chuyện ông
đã làm suốt cả đời đều là ‘Chẳng có chuyện gì không
thể nói cho người ta biết’, cả đời chẳng làm một
chuyện gì mờ ám, không làm một việc gì chẳng thể nói
cho người ta biết. Ông cũng quy y Tam Bảo, là
hình tướng tốt của người tại gia. Ngày nay
chúng ta nói lời thành thật, đã học Phật được những
gì! Mỗi ngày đọc tụng Ðại Thừa, mỗi ngày phải
hết lòng phản tỉnh, hết lòng kiểm điểm, chẳng kể
kinh luận tụng được nhiều ít, cả đời làm được một
câu, hai câu thì cả đời thọ dụng chẳng cùng tận.
Phật giảng cho chúng ta căn bản của sự tu hành, nói
thật ra chính là ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’, Tịnh
nghiệp Tam phước mở rộng ra chính là hết thảy Phật
pháp; vô lượng vô biên Phật pháp cô đọng lại chính
là mười một câu này, tuyệt đối chẳng thể xem thường.
Mười một câu này cô đọng thêm nữa chính là một câu:
‘Hiếu dưỡng cha mẹ’. Ngàn kinh vạn luận, vô
lượng vô biên pháp môn của chư Phật Như Lai đã tuyên
nói đều chẳng vượt ra ngoài bốn chữ này. Chúng
ta giảng Tam Học, Lục Hòa, Lục Ðộ, Thập Nguyện, các
phương pháp tu hành đều biến thành hiện thực trên sự
hiếu kính, trong đời sống hằng ngày của chúng ta,
trên cách xử sự, đãi người, tiếp vật, đây là học
Phật thật sự. Học Phật thật sự phải thay đổi
hình dáng, sửa đổi tâm niệm, hành vi, như vậy gọi là
học Phật chân thật. Mỗi ngày đều đọc kinh,
thậm chí mỗi ngày giảng kinh thuyết pháp, nhưng tâm
vẫn chẳng sửa đổi, vẫn là tâm thế tục, vẫn là tâm
luân hồi, vẫn là tâm tham - sân - si - mạn, như vậy
thì làm sao được! Ðó là giả, chẳng phải thiệt.
Thật sự xả niệm, thanh tịnh, niệm niệm vì lợi ích
cho chúng sanh, chẳng vì mình. Trong kinh Hoa
Nghiêm chúng ta đọc thấy, nếu vì mình thì ngài trụ
trong đại Niết Bàn, vậy thì tự tại biết mấy; nếu vì
chúng sanh thì phải tùy loại hóa thân, chẳng màng
khổ nhọc. Ðây là quan niệm của người thế tục
chúng ta; Phật, Bồ Tát chẳng có khổ nhọc, tại sao
chẳng có khổ nhọc? Vì các ngài chẳng có Ta (vô
ngã), có Ta mới có khổ nhọc, chẳng có Ta thì ai khổ
nhọc? Chúng ta đọc đến câu này cảm khái muôn
vàn, chúng ta làm thế nào để học giống hình tướng
của Phật, Bồ Tát? Nếu chẳng hết lòng y giáo
phụng hành thì làm sao được! Hãy xem đoạn kinh
tiếp theo:
Thời Sư Tử Phấn
Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai cáo Trưởng Giả Tử, dục
chứng thử thân, đương tu cửu viễn độ thoát nhất
thiết thọ khổ chúng sanh.
Lúc đó Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai nói
với Trưởng Giả Tử nếu muốn chứng được thân tướng này
thì phải tu lâu đời hạnh độ thoát hết thảy chúng
sanh thọ khổ.
Ðây là nguyên do của Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Chư vị nhất định phải ghi nhớ, hiện nay đạo tràng
xây dựng chẳng giống như lúc trước, lúc trước đúng
như pháp, hết thảy tất cả chùa được xây đều phù hợp
với nghĩa thú tiêu biểu pháp, hiện nay chẳng đủ điều
kiện. Ðạo tràng chính quy (theo đúng truyền
thống) vừa bước vào cửa là Ðiện Thiên Vương, nhìn
thấy Di Lặc Bồ Tát trước nhất, Di Lặc Bồ Tát dạy bạn
cái gì? ‘Sanh tâm bình đẳng, hiện tướng vui
vẻ’
[7][7].
Phật pháp lấy việc từ bi làm gốc, phương tiện làm
cửa, Di Lặc Bồ Tát tượng trưng cho Từ bi làm gốc, Tứ
Ðại Thiên Vương tượng trưng cho phương tiện, phương
tiện làm cửa, Ðiện Thiên Vương dạy chúng ta việc
này. Bạn ở đạo tràng mỗi ngày đều phải đi qua
cửa này, mỗi ngày tiếp nhận sự un đúc này, làm cho
bạn từ từ thay đổi tâm ý. Ngày nay chúng ta có
ai hiểu được? Ai có tâm từ bi? Ai có cửa
phương tiện? Phương tiện chẳng phải là dạy
chúng ta có đủ phương tiện, nghĩ vậy là sai rồi.
Mà là tạo phương tiện cho hết thảy chúng sanh, tạo
cho họ có được phương tiện, còn mình phải từ bi, hai
việc này chẳng thể đảo lộn. Nếu nói họ từ bi
còn mình được phương tiện, vậy thì bạn đã lộn ngược
rồi. Do đó nhất định phải phát tâm, tâm này
chính là Tâm Ðại Bồ Ðề, ‘Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ’, đặc biệt là hết thảy chúng sanh đang
chịu khổ nạn, chúng sanh chịu khổ nạn nghĩa là gì?
Tức là lục đạo, đặc biệt chỉ ba đường ác. Chư
vị phải biết, chúng sanh trong ba đường ác ở đâu?
Tức là ở xung quanh chúng ta, thậm chí bao gồm chính
mình, tâm tham là cõi ác quỷ, sân khuể là cõi địa
ngục, ngu si là cõi súc sanh, tâm chúng ta là tham -
sân - si, lời nói tham - sân - si, tất cả tạo tác
đều chẳng lìa tham - sân - si, chúng ta đang tạo
nghiệp tam ác đạo đấy.
Ðịa Tạng Bồ Tát có năng lực hóa thân đến ba đường ác
độ thoát chúng sanh, ngày nay chúng ta chẳng có khả
năng này; chúng ta không có khả năng ấy nên phải độ
những chúng sanh còn chưa vào ba đường ác nhưng đang
tạo nghiệp nhân của ba đường ác, chúng ta phải độ
những người này. Phải biết những người này là
chúng sanh khổ nạn, đừng cho rằng hiện nay trong số
những người này có người giàu sang phú quý, người
thế gian nghĩ rằng họ rất sang trọng, trong mắt Phật
thì họ là chúng sanh trong ba đường ác. Chúng
ta làm sao độ họ? Trước hết phải tự mình xả bỏ
tham, sân, si, nếu chỉ nói suông thì không được,
phải làm ra hình dáng cho họ coi. Tôi xả bỏ
tham, sân, si, chẳng còn tham, sân, si, tôi sinh
sống cũng rất tự tại, cũng không tệ gì, làm cho họ
phản tỉnh từ những chỗ này, giác ngộ từ những chỗ
này. Phía trước Phật nói phải tạo dựng hình
tượng, bạn hãy xem sự tiêu biểu pháp trong đoạn đầu
của kinh Hoa Nghiêm, thứ nhất là nói đến đại địa,
tâm địa. Thứ hai là giảng về cây báu, ý nghĩa
của cây báu là gì? Cây lập nên gương tốt nhất.
Hết thảy chúng sanh ở cõi này, ở thế giới tha phương
chẳng có ai không thích cây cối, hoa cỏ, Phật bèn
dùng phương pháp này để thí dụ, chúng ta muốn một
cây thật tốt đẹp, làm cho người ta tiếp xúc đến đều
hoan hỷ. Hãy xem đoạn kinh tiếp theo:
Văn Thù Sư Lợi,
thời Trưởng Giả Tử nhân phát nguyện ngôn, ngã kim
tận vị lai tế bất khả kế kiếp, vị thị tội khổ lục
đạo chúng sanh quảng thiết phương tiện, tận linh
giải thoát nhi ngã tự thân phương thành Phật đạo.
Này Văn Thù Sư Lợi, lúc bấy giờ Trưởng Giả Tử nhân
đó bèn phát nguyện rằng: ‘Từ nay cho đến vô tận kiếp
chẳng thể tính ở đời vị lai, tôi sẽ vì chúng sanh
đang chịu tội khổ trong lục đạo lập ra nhiều phương
tiện, làm cho họ được giải thoát hết rồi tôi mới
thành Phật đạo.
Trong đoạn kinh này chúng ta lại thấy đức Phật Thích
Ca Mâu Ni kêu tên ngài ‘Văn Thù Sư Lợi’, không thể
coi thường đoạn kinh văn này, chẳng thể sơ ý.
‘Trưởng Giả’ làm gương tốt, làm mô phạm cho chúng
ta, khuyên chúng ta phát tâm, ông nghe Phật dạy xong
liền giác ngộ, quay về, và phát đại nguyện.
‘Ngã kim tận vi lai tế, bất khả kế kiếp’, đây là một
thời gian dài, chẳng phải thời gian ngắn, những kiếp
tận đời vị lai, nói cách khác thời gian vĩnh hằng,
vô cùng vô tận. ‘Vị thị tội khổ lục đạo chúng
sanh’, hoàn toàn tiếp nhận lời dạy của Phật vì chúng
sanh khổ nạn, hết thảy chúng sanh tạo tác nhiều nhân
khổ nhưng họ không biết, lúc quả khổ hiện tiền thì
hối hận không kịp, đến lúc đó thì trở tay không còn
kịp nữa. Trưởng Giả Tử phát tâm này, chính là
Ðịa Tạng Bồ Tát. Ngày nay chúng ta đọc đến
đoạn kinh này, có thể phát tâm này không? Nếu
có thể phát tâm này thì chúng ta sẽ đạt được lợi ích
chân thật nơi kinh Ðịa Tạng. Ðời sống của
chúng ta khổ, phải nghĩ đến những người khác trên
thế gian này còn khổ hơn mình, chúng ta không sợ
khổ, vì có khổ nên chúng ta mới thể hội đến hết thảy
chúng sanh khổ. Nếu chúng ta sống trong hoàn
cảnh rất giàu sang, khi người ta nói khổ thì mình
chẳng thể hội được, chỉ khi mình đã từng trải qua sự
khổ này rồi mới biết khổ là gì, tâm giúp đỡ khổ nạn
chúng sanh mới thiết tha. Nếu chưa từng trải
qua khổ nạn, bạn muốn ‘vì khổ nạn chúng sanh’ nhưng
chẳng thể nào thể hội được cái tâm ấy.
Thế nên Phật dạy chúng đệ tử: một là ‘dùng Giới làm
thầy’, hai là ‘dùng Khổ làm thầy’, đặc biệt là người
xuất gia, sanh sống cực khổ tốt hơn, luôn thường ở
trong tâm cảnh giác, một khi hưởng thọ thì không thể
nào chẳng mê hoặc điên đảo được. Do đó nhất
định phải hiểu, có phước, người xuất gia tu hành
chân chánh nhất định sẽ có phước báo, phước báo đến
thì đừng hưởng, nếu hưởng thì sẽ mê muội; khi phước
báo đến thì phải chia sớt cho hết thảy tội khổ chúng
sanh trong lục đạo hưởng, được vậy thì bạn thật sự
độ khổ. Mấy bữa nay chúng ta giảng kinh Hoa
Nghiêm đến đoạn đức Phật Tỳ Lô Giá Na xây dựng Hoa
Tạng thế giới chẳng để tự hưởng thọ, mà cho hết thảy
những Bồ Tát phá một phẩm vô minh, chứng một phần
pháp thân ở mười phương sát độ có chỗ an thân lập
mạng, có một đạo tràng tốt để tu hành, cung ứng cho
họ hưởng dụng, Phật chẳng hưởng thọ. Tây
phương Cực Lạc thế giới A Di Ðà Phật xây dựng Cực
Lạc Tịnh độ cũng chẳng phải cho ngài hưởng thọ, mà
để cung ứng cho hết thảy người niệm Phật ở mười
phương thế giới vãng sanh về đó tu hành hưởng dụng,
đâu có để cho mình hưởng thọ? Ðây đều làm ra
hình tượng tốt nhất cho chúng ta thấy. Thế nên
những tổ sư đại đức có phước báo to lớn xây dựng đạo
tràng xong tự mình có hưởng thọ không? Chẳng
có, tự mình ở trong phòng ‘phương trượng’
[8][8],
chỉ là một căn phòng nhỏ, phước báo dành cho hết
thảy thanh chúng (đại chúng thanh tịnh) hưởng thọ,
đây là tâm bình đẳng, tâm thanh tịnh. Chỉ cần
là người chân chánh tu hành, nếu họ không có chỗ ở,
khi họ đến nơi ấy chẳng bao giờ bị từ chối, chẳng
khi nào không được tiếp đãi, thế nên mới gọi là
‘thập phương thường trụ’, ‘thập phương đạo tràng’,
đâu có phải là vì danh văn lợi dưỡng của cá nhân.
Phật dạy chúng ta, tự ngài thị hiện làm gương cho
chúng ta, một tí gì cũng chẳng giả dối, chúng ta
nhìn thấy ngài phát tâm, chẳng sợ thời gian dài,
chẳng sợ công việc giáo học gian khổ.
‘Lập ra nhiều phương tiện, làm cho họ được giải
thoát hết rồi tôi mới thành Phật đạo’, đây tức là
nói: ‘Chúng sanh chẳng thành Phật, tôi chẳng
thành Phật’ cho nên Ðịa Tạng Bồ Tát vĩnh viễn
thị hiện ở quả vị Bồ Tát. Ngày nay chúng ta
thấy lời nói trong kinh này, mười phương ba đời hết
thảy chư Phật Như Lai đều tham dự đạo tràng này, đều
là do Ðịa Tạng Bồ Tát độ hóa, đã độ, đang độ.
Ðã độ, đã thành tựu là chư Phật, ngài còn ở quả địa
Bồ Tát. Học trò đều đã thành Phật, thầy giáo
còn là Bồ Tát, các chư Phật này đối với thầy không
ai chẳng đội ơn. Ngày nay đức Phật Thích Ca
Mâu Ni muốn tuyên dương pháp môn Ðịa Tạng, họ đến dự
hội tức là báo ơn, đến làm ‘ảnh hưởng chúng’.
Có pháp hội nào tất cả chư Phật đều đến tham gia?
Chẳng có đạo lý như vậy. Trong pháp hội này
hết thảy chư Phật đều đến đầy đủ, làm trang nghiêm
đạo tràng, trang nghiêm pháp hội, trang nghiêm pháp
môn này, làm cho hết thảy chúng sanh cảnh giác đến
pháp môn này thù thắng khôn sánh, không học pháp môn
này thì không được, là cơ sở của hết thảy chư Phật
thành Phật, là căn bản của việc thành Phật.
Nếu bạn muốn xả bỏ pháp môn này thì bạn chắc chắn sẽ
không thành tựu. Niệm Phật, nói thật ra chắc
chắn cũng chẳng thể vãng sanh. Cả đời hễ gặp
đạo tràng vừa xây dựng xong mời tôi giảng kinh, bộ
kinh đầu tiên tôi nhất định phải giảng là kinh Ðịa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện. Có đất, chúng ta có
mảnh đất, có đạo tràng là xây dựng cơ sở vật chất,
Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh là xây dựng tâm địa,
như vậy mới tương ứng. Khi đạo tràng được xây
dựng, được khôi phục thì bộ kinh đầu tiên phải giảng
là gì? Nhất định phải là Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh.
Dĩ thị ư bỉ Phật
tiền, lập tư đại nguyện, ư kim bá thiên vạn ức na do
tha bất khả thuyết kiếp thượng vi Bồ Tát.
Ðã ở trước đức Phật đó mà lập đại nguyện như vậy nên
đến nay đã ngàn vạn ức na-do-tha kiếp chẳng thể tính
đếm mà vẫn còn làm Bồ Tát.
Ðây là việc chúng ta nên học tập. Thế Tôn nói
ra nhân duyên của công án này, chúng ta phải thể hội
dụng ý của Ngài sâu rộng vô hạn, việc giáo học của
Ngài từ bi vô tận. Chúng ta biết rồi mới có
thể làm theo, mới có thể nói đến việc báo ân, tri ân
báo ân; nếu bạn lơ là niệm lướt qua, đoạn kinh này
chẳng dài, sơ ý đọc qua thì chẳng có ích lợi.
Hãy xem tiếp đoạn kế, đây là công án thứ nhì:
Hựu ư quá khứ, bất
khả tư nghị a tăng kỳ kiếp.
Lại số chẳng thể nghĩ bàn a-tăng-kỳ kiếp về trước.
Lúc này là sau lúc Ðại Trưởng Giả Tử, Ðại Trưởng Giả
Tử là người thứ nhất, người đầu tiên.
Thời thế hữu Phật
Lúc đó có Phật
Trong thế gian có một vị Phật.
Hiệu viết Giác Hoa
Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, bỉ Phật thọ mạng tứ bá
thiên vạn ức a tăng kỳ kiếp.
Hiệu là Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, đức Phật
đó thọ mạng bốn trăm ngàn ức a-tăng-kỳ kiếp.
Từ thọ mạng của Phật có thể thấy phước báo của chúng
sanh thời đó rất lớn, thọ mạng là một trong những
phước báo.
Tượng pháp chi
trung, hữu nhất Bà La Môn Nữ, túc phước thâm hậu,
chúng sở khâm kính, hành trụ tọa ngọa, chư thiên vệ
hộ.
Vào thời tượng pháp có một cô gái dòng Bà La Môn,
nhiều đời tích phước sâu dày, được mọi người kính
nể, đi đứng nằm ngồi đều được chư thiên hộ vệ.
Thọ mạng của Phật rất dài, nhưng duyên trụ thế giáo
hóa chúng sanh đã hết, đức Phật bèn thị hiện diệt
độ. Sau khi diệt độ giống như Thế Tôn của
chúng ta vậy, sau khi Phật diệt độ thì pháp vận còn
ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp, Mạt pháp.
Thời Chánh pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni dài một
ngàn năm, sau khi Phật diệt độ một ngàn năm đầu
tiên, Tượng pháp là thời gian một ngàn năm sau đó,
Mạt pháp một vạn năm kế tiếp. Không cần biết
là theo cách nói của người Trung Quốc hay cách của
người ngoại quốc, hiện nay là thời Mạt pháp, hai
ngàn năm sau khi Phật diệt độ, đây là thời Mạt pháp.
Lúc Phật pháp truyền đến Trung Quốc nhằm thời Tượng
pháp. Trong kinh Phật có lời dự đoán, Phật nói
thời Chánh pháp thì Giới Luật thành tựu, tu học noi
theo giới luật có thể chứng quả. Thời Tượng
pháp thì Thiền Ðịnh thành tựu, thế nên Thiền Tông
của Phật giáo Trung Quốc vô cùng hưng thịnh.
Vì nguyên nhân gì? Truyền đến nhằm thời kỳ
Tượng pháp, phù hợp với lời dự đoán của Thế Tôn,
Thiền Ðịnh thành tựu. Thời Mạt pháp thì Tịnh
Ðộ thành tựu, căn tánh của con người chẳng bằng đời
trước, tu Thiền chẳng những không thể khai ngộ, ngay
cả đắc định cũng không thể, chỉ có tu Tịnh Ðộ đới
nghiệp vãng sanh mới có thể thành tựu. Trong
kinh nói đây là Giác Hoa Ðịnh Như Lai, vào thời
Tượng pháp của Ngài có một cô gái dòng Bà La Môn, cô
này cũng quy y Phật pháp, là người học Phật.
‘Túc phước thâm hậu’, chúng ta gọi là thiện căn sâu
dày, nhiều đời quá khứ đã vun bồi phước, thiện căn
rất sâu. ‘Chúng sở khâm kính’, khâm nghĩa là
bội phục, đối với cô rất cung kính, đại chúng gặp
cô, đoạn trước có nói hình tượng thù thắng, được
phần lớn xã hội đại chúng tôn kính. ‘Hành trụ
tọa ngọa’, đây là tứ oai nghi, đều đủ để làm gương
tốt cho xã hội đại chúng, thế nên ngay cả thần trên
trời cũng tôn kính cô. ‘Chư thiên vệ hộ’, ngày
nay chúng ta gọi là thiên thần bảo hựu, giờ phút nào
cũng chẳng lìa khỏi cô thì gọi là ‘hộ vệ’. Chư
vị đồng tu phải biết xã hội hiện nay người tạo ác
nhiều, người làm việc thiện ít, thí dụ có một, hai
người làm việc thiện, thiên thần hộ vệ sẽ đặc biệt
nhiều; trước kia người thiện nhiều, thiên thần chia
nhau hộ trì người hành thiện, số thiên thần hộ trì
[cho mỗi người] sẽ không nhiều; hiện nay người ta
đều làm ác, chỉ có một, hai người thiện, tất cả
những thiên thần đều đến hộ vệ bạn (người thiện
này). Thiệt đó, chẳng phải giả, [vậy thì] tại
sao lại không tu thiện? Tại sao lại tạo ác?
Chúng ta dứt ác tu thiện, không cầu Bồ Tát, không
cầu Phật, cũng không cầu thiên thần, chư Phật tự
nhiên hộ niệm, thiên thần tự nhiên hộ vệ, đâu cần
chúng ta cầu họ! Chỗ này nói tin Phật quá khó,
hiện nay người thế gian học Phật chẳng tin Phật, tại
sao chẳng tin Phật? Ðặc biệt là người xuất
gia, Phật dạy chúng ta vạn duyên buông xuống, tất cả
đều phải xả bỏ thì ngày mai làm sao sinh sống?
[Nếu hỏi như vậy thì chính là] không tin Phật.
Nếu bạn là người xuất gia chân chánh, tâm địa thanh
tịnh, chẳng có một chút tâm mong cầu, đối với hết
thảy pháp trong thế gian này chẳng phan duyên, nếu
bạn bị đói chết, lạnh chết, nói cho chư vị biết tất
cả thần hộ pháp đều phải bị cách chức và bị tra hỏi,
đó là thật chẳng phải giả đâu. Nhưng mọi người
chẳng tin tưởng, tự mình vẫn muốn phan duyên, tự
mình làm, thần hộ pháp nhìn thấy bèn rất thích thú
vì được tự tại, [họ nói:] “Ðược lắm, tôi chẳng
cần lo nữa”, họ rất nhàn hạ, tự tại.
Có một năm tôi tại Cơ Long (Kuala Lumpur) Thập
Phương Ðại Giác Tự, lão hòa thượng thỉnh tôi giảng
kinh Lăng Nghiêm nhằm lúc an cư mùa hạ. Giảng
đường ở kế bên điện Vi Ðà, tôi nói với mọi người,
quý vị phải tin tưởng, đừng phan duyên, cứ ở trong
chùa tu hành đàng hoàng, đừng làm Kinh Sám Phật sự,
cũng đừng làm pháp hội, [nếu quý vị] đói chết, Bồ
Tát Vi Ðà sẽ bị cách chức và bị tra hỏi, đâu có đạo
lý ấy! Thế nên nói cả người xuất gia cũng
chẳng tin Phật, thì bạn làm sao dạy cho đại chúng
tin Phật! Chẳng có đạo lý này. Nếu chúng
ta thật sự tin tưởng thì không sợ, Phật, Bồ Tát bảo
hựu [lo lắng], thần hộ pháp hộ vệ, có thể đói một,
hai bữa cũng chẳng sao, tuyệt đối sẽ chẳng bao giờ
chết đói; chịu lạnh một chút, sẽ chẳng lạnh chết,
ngài (thần hộ pháp) nhất định sẽ đến. Nhất
định phải có lòng tin, như vậy mới gọi là học Phật,
mới gọi là chân chánh tin Phật; những gì bạn cần,
khi nhân duyên chín muồi những gì mong cầu đều nhất
định sẽ đến. Đạo lý này là do Chương Gia đại
sư truyền dạy cho tôi, tôi có lòng tin đối với Ngài,
Ngài chẳng lừa gạt tôi. Lúc đó đời sống của
tôi vô cùng gian khổ, chẳng có tiền để cúng dường
Chương Gia đại sư, tôi chẳng có khả năng ấy; Ngài
biết, chẳng trách tôi, đối với tôi rất tốt, vô cùng
từ bi, lo lắng. Mỗi tuần tôi gặp Ngài một lần,
lúc đó tôi phải đi làm, mỗi ngày chủ nhật gặp Ngài,
xin Ngài chỉ dạy. Ngài cho tôi hai giờ đồng hồ
mỗi tuần, lúc nào bận thì cho một giờ. Nếu một
tuần, hai tuần tôi chẳng đến gặp, Ngài đều phái
người kiếm tôi hoặc gọi điện thoại hỏi tôi: “Tại sao
không đến? Có bị bịnh gì không?” Vô cùng
quan tâm, chăm sóc, lòng thương mến đó làm cho tôi
không thể không đi.
Ðây là lời Ngài dạy tôi:
‘Trong nhà Phật, có cầu ắt ứng’, nếu bạn cầu
không được là vì bạn có nghiệp chướng, khi nghiệp
chướng tiêu trừ hết thì sẽ chẳng bao giờ không có
cảm ứng. Nhưng nhất định phải cầu đúng như lý,
như pháp, nếu bạn dùng tham - sân - si để cầu thì
Phật, Bồ Tát sẽ chẳng giúp bạn tăng thêm tham - sân
- si, sẽ chẳng giúp bạn tạo ác nghiệp. Nếu bạn
thật sự làm việc thiện, vì chúng sanh, Phật, Bồ Tát
cảm ứng đạo giao; nếu vì mình thì không được, nhất
định sẽ chẳng có cảm ứng. Nếu vì mình mà có
cảm ứng thì đó là Tà ma; Ma thúc đẩy dục vọng của
bạn, giúp bạn làm việc xấu. Phật, Bồ Tát sẽ
chẳng giúp người đi làm chuyện ác, chỉ cho bạn thiện
duyên chứ chẳng cho bạn ác duyên. Do đó có thể
biết phàm những gì tăng trưởng dục vọng của chúng
ta, tăng trưởng tham - sân - si, tự mình phải có
cảnh giác cao độ, đó là ác duyên chứ chẳng phải
thiện duyên. Nhưng khi người gặp được duyên
này, chẳng bao giờ không ưa thích, không đọa lạc,
không bị ma quỷ gạt, lọt vào vòng tay của ma, chúng
ta phải có tâm cảnh giác cao độ về chuyện này.
Thế nên lúc trẻ tuổi thân cận thiện tri thức rất
tốt, gốc rễ đã được vun bồi, khi xử sự, đãi người,
tiếp vật cả đời đều có tâm cảnh giác cao độ.
Chúng ta muốn được chư Phật hộ niệm, long thiên
thiện thần hộ vệ thì phải học từ chỗ này. Hãy
xem tiếp đoạn kinh phía sau:
Kỳ mẫu tin tà
Mẹ cô tin tà đạo
Mẫu thân là ngoại đạo
Thường khinh Tam
Bảo
Thường khinh chê ngôi Tam Bảo
Tội nghiệp này rất nặng
Thị thời Thánh Nữ
quảng thiết phương tiện, khuyến dụ kỳ mẫu, linh sanh
chánh kiến, nhi thử nữ mẫu vị toàn sanh tín, bất cửu
mạng chung, hồn thần đọa tại Vô Gián địa ngục.
Lúc đó Thánh Nữ lập nhiều phương tiện để khuyên nhủ
mẹ, hầu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa
tin hoàn toàn, chẳng bao lâu thì bà mạng chung, thần
hồn bị đọa vào địa ngục Vô Gián.
Tri kiến của mẹ cô chẳng ngay thẳng, phiền não tập
khí rất nặng. Ðại khái thì cũng ít thấy hình
tướng của người học Phật, Phật pháp trong thời Tượng
pháp suy thoái, hình tướng tốt của tứ chúng đệ tử
trong thời Chánh pháp còn nhiều, hình tướng tốt thời
Tượng pháp ít hơn. Thời Mạt pháp lại càng ít
nữa, càng hiếm hoi. Thế nên thời Mạt pháp nếu
chúng ta có thể chân chánh tu hành đúng như pháp thì
chư Phật hoan hỷ gấp bội hơn thời Tượng pháp, long
thiên thiện thần hộ vệ cũng tăng gấp bội, hiếm có
khó gặp. Chúng ta gặp được duyên thù thắng như
vầy thì tại sao tự mình lại chà đạp mình? Như
vậy thật là đáng tiếc, tạo tội nghiệp thì nhất định
sẽ bị đọa lạc.
Tại sao bà khinh chê Tam Bảo, hủy báng Tam Bảo?
Nói thật ra thì hình tướng của người xuất gia chúng
ta không tốt. Tại sao thời Phật còn tại thế,
đệ tử Phật được người trong xã hội từ quốc vương,
đại thần, đến hết thảy đại chúng tôn kính.
Nguyên nhân gì? Chúng ta phải nghĩ kỹ.
Thời Mạt pháp người xuất gia đi ra ngoài, người ta
chẳng kính trọng bạn, kinh chê bạn, ở một bên chỉ
chỏ, chê cười bạn, như vậy là vì nguyên nhân gì?
Chúng ta có thể trách người ta chăng? Trách
người là hoàn toàn sai lầm, hãy quay lại trách chính
mình, tín hạnh của chúng ta, hình tướng của chúng ta
chẳng đáng để xã hội đại chúng tôn kính. Bên
trong còn tham - sân - si - mạn, bên ngoài chỗ nào
cũng phan duyên, biểu hiện ra thật sự như mê tín,
dẫn dắt xã hội đại chúng mê tín, vậy thì làm sao
đáng để người ta tôn kính? Người ta dựa vào gì
để tôn kính bạn? Người ta có tôn kính bạn thì
đó cũng là mê tín, mê phù hợp với mê; giác tuyệt đối
sẽ chẳng tương ứng với mê. Nhưng sự tạo tội
nghiệp bất luận là bạn cốt ý hay vô ý, chắc chắn đều
có quả báo. Không thể nói vô ý tạo thì không
có quả báo, chẳng có việc này. Bạn hiểu pháp
luật mà còn phạm pháp, không biết pháp luật mà phạm
pháp thì cả hai đều phải chịu hình phạt, vẫn là có
tội; không thể nói vì tôi không hiểu pháp luật nên
tuy phạm pháp nhưng tôi không có tội; chẳng có
chuyện như vậy, chẳng hợp lý. Thế nên mẹ của
cô Bà La Môn đọa địa ngục Vô Gián.
Thời Bà La Môn nữ
tri mẫu tại thế bất tín nhân quả, kế đương đọa
nghiệp, tất sanh ác thú.
Lúc đó cô Bà La Môn biết mẹ cô khi còn sống chẳng
tin nhân quả, nghĩ ắt phải theo nghiệp mà sanh vào
đường ác.
Con bà là người con hiếu, cô học Phật hiểu đạo lý,
biết mẹ cô lúc còn sanh tiền chẳng tin nhân quả báo
ứng. ‘Kế’ là trong tâm suy nghĩ, trong tâm
đang tính toán. Cô nghĩ cả đời mẹ tạo nghiệp,
tương lai quả báo sẽ đi về đâu? Thiện nghiệp
nhất định được thiện quả, ác nghiệp nhất định có ác
báo, cô nghĩ mẹ cô tạo nghiệp nặng nề; hủy báng Tam
Bảo, nghiệp này rất nặng.
Toại mại gia
trạch, quảng cầu hương hoa cập chư cúng cụ, ư tiên
Phật tháp tự, đại hưng cúng dường.
Bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương hoa và những vật
lễ cúng, rồi đem đến chùa tháp thờ Phật làm lễ đại
cúng dường.
Cô tu phước cho mẹ. ‘Ư tiên Phật tháp tự’,
‘tháp’ là chỗ cất giữ xá-lợi của Phật, chỗ cúng
dường xá-lợi Phật gọi là ‘tháp’. ‘Tự’ là nơi
giáo hóa chúng sanh. Bổn ý của ‘Tự’, ý nghĩa
của ‘Tự’ được ghi trong Khoa Chú rất tường tận, làm
sao giải thích ý nghĩa của chữ Tự ở đây? Nghĩa
là tiếp nối, phần đông chúng ta gọi là hậu duệ, kéo
dài, sự nghiệp này phải kéo dài vĩnh viễn về sau.
Nơi này là nơi tiếp nối huệ mạng của Phật nên được
gọi là ‘Tự’. Hiện nay người ta không hiểu ý
nghĩa này. Hồi xưa những cơ quan dưới quyền
nhà vua đều gọi là Tự, ý nghĩa là muốn cơ nghiệp đế
vương được truyền mãi đến đời sau. Ý nghĩa này
rất hay và cũng rất rộng, sự nghiệp giáo huấn chúng
sanh của Phật là nhằm giúp đỡ hết thảy chúng sanh tu
hành chứng quả, sự nghiệp này phải được vĩnh viễn
liên tục chẳng dứt, nơi đây là để làm công việc này,
nên được gọi là Tự.
Cúng Phật, phải ghi nhớ chỉ dùng tài vật của mình,
nếu dùng tài vật của người khác để tu phước thì sai,
tự mình chẳng được phước gì hết; nhất định phải dùng
vật của mình, không thể dùng vật của người khác.
Cô Bà La Môn chẳng có tài lực nên phải bán nhà rồi
dùng tiền ấy ‘sắm nhiều hương hoa và những vật lễ
cúng’ đem vào chùa cúng dường. Cách cúng dường
này là hình thức, hình thức này chúng ta ngày nay
rất nhiều, ai cũng biết. Hình thức cúng dường
có hiệu quả hay chăng? Phải coi cách dụng tâm
bên trong và ngoài có tương ứng hay không? Nếu
trong và ngoài tương ứng thì có công đức, nếu không
tương ứng thì chẳng có công đức. Còn có nhiều
người cúng dường nhưng lại tạo tội nghiệp, không
những chẳng có phước mà lại là họa. Cúng dường
như thế nào? Ðến trước mặt Phật, Bồ Tát tu
cúng dường to lớn, cầu phát tài, cầu thăng quan,
trước bàn thờ Phật, Bồ Tát ‘khấn vái’ khi được thăng
quan, được phát tài thì sẽ trở lại cúng thêm nhiều
nữa. Ðặt điều kiện, hối lộ với Phật, Bồ Tát,
coi Phật, Bồ Tát như tham quan, ô lại, cách cúng
dường như vậy không những chẳng có phước mà lại tạo
ra vô lượng vô biên tội nghiệp. “Nếu ngài phò
hộ cho con được phát tài, con kiếm được một triệu
thì nhất định sẽ đem một vạn đến cúng dường cho
ngài”; Phật, Bồ Tát đâu có ‘khờ’ như vậy, cho
người này lời chín mươi chín vạn, đâu có đạo lý như
vậy! Bạn xem Phật, Bồ Tát là hạng người nào?
Thế nên cách cúng dường như vậy sẽ tạo nên vô lượng
vô biên tội nghiệp, sẽ đọa vào tam ác đạo.
Ðừng thấy người ta đến tu cúng dường rồi cho là việc
tốt, chưa chắc như vậy đâu, bạn phải biết động cơ
của họ là gì rồi mới biết họ tạo phước hay họa.
Cúng dường như vậy xong nhưng không được thăng quan,
không phát tài nên quay lại trách móc, nói Phật, Bồ
Tát này không linh, [họ nói:] “Tôi cúng dường nhưng
ngài không phò hộ cho tôi phát tài, tôi oán hận, hủy
báng Tam Bảo”, tội nghiệp ấy càng tạo càng nặng.
Chúng ta hãy xem đoạn kinh tiếp theo:
Kiến Giác Hoa Ðịnh
Tự Tại Vương Như Lai, kỳ hình tượng tại nhất tự
trung tố họa oai dung, đoan nghiêm tất bị.
Thấy hình tượng của đức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương
Như Lai trong một ngôi chùa đắp vẽ oai dung, đầy đủ
đoan nghiêm.
Ðây là nói về cô Bà La Môn đến chùa miếu cúng dường,
cúng Phật. Phật chẳng còn tại thế, lúc đó
thuộc về thời Tượng pháp nên trong các tự viện chỉ
có hình tượng của Phật, tượng Phật đúc hoặc khắc;
cúng dường trước tượng Phật, tượng Phật tạo rất
trang nghiêm.
Thời Bà La Môn nữ
chiêm lễ tôn dung, bội sanh kính ngưỡng.
Lúc đó cô gái Bà La Môn chiêm lễ tôn dung, bội phần
kính ngưỡng.
Ðây là chân thành, những phẩm vật lễ cúng là vật bên
ngoài, bên trong có tâm chân thành, hiển thị trong -
ngoài như nhau. Cúng dường một chút phẩm vật
giống như khi chúng ta gặp một người nào đó, bất
luận là người thân hay người lạ, lâu quá chẳng gặp
thì khi gặp lại phải có một chút lễ vật, lễ vật
chẳng quý ở chỗ nhiều hay ít chỉ dùng để biểu lộ ý
cung kính. Biểu lộ chúng ta đối với người này
chẳng quên, thường ghi nhớ trong tâm, biểu lộ lòng
kính ngưỡng. Cúng Phật, và còn vì mẹ tu phước,
thế nên tâm này càng chân thành, càng khẩn thiết;
lòng chí thành có thể cảm, Phật bèn ứng, liền phát
sanh cảm ứng đạo giao.
Tư tự niệm ngôn
Phật danh Ðại Giác, cụ nhất thiết trí, nhược tại thế
thời ngã mẫu tử hậu, thảng lai vấn Phật, tất tri xứ
sở.
Thầm nghĩ rằng đức Phật là đấng Ðại Giác đầy đủ hết
thảy trí, nếu Phật còn tại thế thì sau khi mẹ tôi
mất, nếu như tôi đến hỏi Phật ắt sẽ biết được nơi mẹ
tôi thác sanh.
Hận mình phước báo không đủ, chẳng
sanh vào lúc Phật còn tại thế, mà sanh vào thời
Tượng pháp, Phật đã không còn tại thế.
Nếu Phật còn tại thế thì Phật có đại trí huệ, đại
thần thông, mình đến hỏi Phật sau khi mẹ mất rồi
sanh đến cõi nào, Phật chắc chắn sẽ nói cho mình
biết, tiếc là Phật chẳng còn. Trong tâm có
‘lời nói thầm’, không nhất định phải nói ra, trong
tâm có ý niệm này, cho thấy cô có lòng hiếu thảo,
muốn giúp mẹ thoát ly khổ nạn.
Thời Bà La Môn nữ
thùy khấp lương cửu, chiêm luyến Như Lai.
Lúc ấy cô Bà La Môn cúi đầu khóc thầm rất lâu, chiêm
ngưỡng quyến luyến tôn tượng của Như Lai.
Câu này hình dung lúc cô Bà La Môn trong tự viện,
lòng ân cần, nguyện vọng chí thành, khẩn thiết, từ
câu này chúng ta có thể cảm thấy lòng thành của cô,
khẩn thiết kỳ vọng, lòng thành như vậy có thể cảm.
Hốt văn không
trung thanh viết, khấp giả thánh nữ vật chí bi ai,
ngã kim thị nhữ mẫu chi khứ xứ.
Bỗng nghe trên không trung có tiếng nói: ‘Này thánh
nữ đang khóc kia, thôi đừng bi ai quá, nay ta sẽ nói
cho cô biết chỗ thác sanh của mẹ cô’.
Chí thành thì sẽ linh, cảm động Phật đến chỉ dẫn cô.
Bà La Môn nữ hiệp
chưởng hướng không nhi bạch không viết, thị hà thần
đức, khoan ngã ưu lự, ngã tự thất mẫu dĩ lai, trú dạ
ức luyến, vô xứ khả vấn tri mẫu sanh giới.
Thánh nữ chắp tay hướng lên hư không mà bạch rằng:
‘Chẳng hay thần đức nào đã giải bớt lòng âu lo của
con như vậy? Từ khi mẹ con mất đến nay, ngày
đêm thương nhớ, không có chỗ có thể hỏi mẹ con thác
sanh về cõi nào’.
Chữ ‘giới’ tức là thế giới nào? Cõi nào trong
thập pháp giới? Nẻo nào trong sáu nẻo?
Cô vô cùng cảm kích sự cảm ứng này, cô chẳng biết
tiếng nói này từ đâu phát ra? Cũng chẳng biết
ai nói? Cho nên cô chỉ biết hướng lên không
trung, âm thanh phát ra từ không trung, chẳng nhìn
thấy hình tướng, chỉ nghe âm thanh. ‘Là vị
thần đức nào?’.
Thời không trung
hữu thanh tái báo nữ viết, ngã thị nhữ sở chiêm lễ
giả, quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.
Kiến nhữ ức mẫu, bội ư thường tình chúng sanh chi
phần, cố lai cáo thị.
Lúc ấy trên không trung lại có tiếng nói cho cô
biết: ‘Ta là người cô đang chiêm lễ, là quá khứ Giác
Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, thấy cô nhớ mẹ, nhiều
hơn thường tình của chúng sanh nên Ta đến cho cô
biết’.
Chỗ này nói rõ nguyên nhân có thể cảm [đến chư
Phật], đây thật sự là một người con gái có hiếu, chí
thành có thể cảm đến Phật, người Trung Quốc thời xưa
thường nói: ‘Hiếu cảm thiên địa’, cho nên cảm
động Phật đến chỉ thị cho cô, làm cho cô mãn nguyện.
Bà La Môn nữ văn
thử thanh dĩ cử thân tự phác, chi tiết giai tổn, tả
hữu phù trì, lương cửu phương tô, nhi bạch không
viết, nguyện Phật từ mẫn tốc thuyết ngã mẫu sanh
giới, ngã kim thân tâm tương tử bất cửu.
Thánh nữ Bà La Môn nghe nói xong liền đứng dậy dập
đầu lạy xuống, khớp tay chân đều bị thương,
được người bên cạnh đỡ dậy. Một lát sau cô mới
tỉnh lại rồi bạch lên hư không: ‘Cúi xin đức Phật từ
bi thương xót, mau cho con biết mẹ con sanh về chốn
nào, nay thân tâm con đau xót đến cùng cực’.
Biết âm thanh này là âm thanh của Phật, cảm động đến
lễ lạy năm vóc sát đất, cách lễ này dùng toàn thân
tiếp lễ, cho nên lạy xuống xong khớp tay chân đều bị
thương; lạy vô cùng mãnh liệt, người thế gian thường
nói là khấu đầu vang thành tiếng, cảm động đến cùng
cực. Thế nên lúc lạy ngã xuống đất thì mê man
bất tỉnh. Một lát sau mới tỉnh lại, vừa tỉnh
lại liền cầu xin đức Phật nói cho biết chỗ mẹ thác
sanh. Cô đau xót đến cùng cực, ‘tương tử bất
cửu’ là đau xót đến cùng cực.
Thời Giác Hoa Ðịnh
Tự Tại Vương Như Lai cáo Thánh nữ viết, nhữ cúng
dường tất, đản tảo phản xá, đoan tọa tư duy ngã chi
danh hiệu, tức đương tri mẫu sở sanh khứ xứ’.
Lúc ấy đức Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai
bảo Thánh nữ: ‘Cô đã cúng dường xong, nên sớm về
nhà, ngồi ngay ngắn nghĩ tưởng về danh hiệu của Ta,
sẽ biết chỗ mẹ cô thác sanh.’
Ðức Phật chẳng trực tiếp nói cho cô biết mẹ cô hiện
nay đang ở chỗ nào, mà dạy cô một phương pháp, làm
theo phương pháp này thì cô nhất định sẽ biết.
Phương pháp gì?
Phương pháp niệm Phật.
Dạy cô, cô đã cúng dường xong hãy mau
về nhà, về nhà xong nhất tâm chấp trì danh hiệu, cô
hãy niệm Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, nhất
tâm xưng niệm. ‘Ðoan tọa tư duy’. Ðại
Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: ‘Nhớ Phật niệm Phật,
hiện tiền tương lai, nhất định thấy Phật’.
Tư duy tức là ức niệm, chẳng nói là miệng niệm, dùng
chữ ‘tư duy’, ý nghĩa này sâu. Phần đông chúng
ta niệm Phật là miệng niệm nhưng tâm không niệm, như
vậy thì hét bể cổ họng cũng uổng công. Niệm
Phật quan trọng nhất là trong tâm có Phật, tư duy
mới là chân thật niệm Phật, trong tâm đích thật có
Phật.
Thời Bà La Môn nữ,
tầm lễ Phật dĩ, tức quy kỳ xá
Lúc ấy Thánh nữ Bà La Môn lễ Phật xong liền trở về
nhà.
Nghe Phật nói hãy mau về nhà, làm xong nghi thức
cúng dường, hãy mau về nhà.
Dĩ ức mẫu cố, đoan
tọa niệm Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.
Kinh nhất nhật nhất dạ.
Vì nhớ mẹ nên cô ngồi ngay thẳng niệm Giác Hoa Ðịnh
Tự Tại Vương Như Lai. Trải qua một ngày một
đêm.
Cô về nhà chân thật niệm, y giáo phụng hành, dùng
tâm chân thành nhất tâm trì danh bèn có hiệu quả.
‘Trải qua một ngày một đêm’, đoạn thời gian này
chẳng dài.
Hốt kiến tự thân đáo nhất hải biên. Kỳ thủy
dũng phất, đa chư ác thú tận phục thiết thân, phi
tẩu hải thượng đông tây trì trục, kiến chư nam tử nữ
nhân bách thiên vạn số xuất một hải trung, bị chư ác
thú tranh thủ thực đạm.
Bỗng thấy thân mình đến một bờ biển, nước biển sôi
sùng sục, có nhiều thú dữ toàn thân bằng sắt bay
nhảy trên biển, chạy qua chạy lại đuổi nhau, lại
thấy nhiều người trai và gái, số nhiều đến trăm ngàn
muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển, bị các thú dữ
tranh giành ăn nuốt.
Ðây là cảnh giới trong định. Chư vị nên biết,
vì sao Phật dạy cô làm cách này? Tại sao không
trực tiếp nói cho cô biết rằng mẹ cô đang ở địa
ngục? Nói cho chư vị biết [nếu Phật] trực tiếp
nói cho cô ta chẳng có ích lợi gì hết, chẳng cứu nổi
mẹ cô. Làm sao mới cứu nổi mẹ cô? Tự cô
nhất định phải tu tập công đức thì cô mới có thể cứu
mẹ. Một ngày một đêm, cô chuyên tinh, tâm địa
chí thành, một ngày một đêm liền được nhất tâm bất
loạn, trong hết thảy phương pháp tu hành, phương
pháp này mau nhất. Tu pháp môn khác muốn đạt
được công phu này rất khó. Pháp môn Niệm Phật
dễ dàng, một ngày một đêm. Kinh Di Ðà dạy
‘nếu một ngày, nếu hai ngày, … đến bảy ngày’, cô
niệm suốt một ngày một đêm được nhất tâm bất loạn,
đạt được nhất tâm bất loạn nghĩa là chứng được ‘Niệm
Phật Tam Muội’. Chư vị nên biết Niệm Phật Tam
Muội có mức cạn sâu chẳng đồng, Hạ phẩm Niệm Phật
Tam Muội là Công Phu Thành Phiến, Trung phẩm là Sự
Nhất Tâm Bất Loạn, Thượng phẩm là Lý Nhất Tâm Bất
Loạn, cô đạt được Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Ðến Sự
Nhất Tâm Bất Loạn thì cô thành Bồ Tát, mẹ cô đương
nhiên sẽ được độ. Tại sao chỉ một ngày công
phu mà cô có thể chứng Nhất Tâm Bất Loạn? Nhờ
duyên của mẹ, nếu mẹ cô chẳng đọa ác đạo thì cô sẽ
chẳng tinh tấn như vậy, thế nên mẹ cô mới có phước.
Mẹ cô giúp cô dụng công tinh tấn, tức khắc liền
chứng đến quả vị Bồ Tát, mẹ cô được sanh lên trời là
vì đạo lý này.
Nếu Phật chẳng dạy cô cách này mà [trực tiếp] nói
cho cô biết mẹ cô đang ở cõi nào, cô khóc đến chết
cũng vô ích. Phật chẳng thể độ mẹ cô, nếu Phật
có thể độ thì chúng ta cần gì phải tu hành?
Chẳng cần tu hành nữa, tất cả đều được Phật độ, nếu
vậy thì Phật mới là đại từ đại bi, [nhưng] Phật
chẳng thể độ. Chính cô mới có thể độ cho mẹ
cô, nhờ mẹ tạo ra nhân duyên này nên cô mới hết lòng
tu hành, chỉ trong một ngày có thể đạt đến nhất tâm
bất loạn. Tại sao cô chân thành như vậy?
Tinh tấn như vậy? Là vì tâm cứu mẹ của cô
thiết tha đến cùng cực, nhờ sức mạnh này thúc đẩy,
đạo lý là như vậy, từ đây bạn mới hiểu nguyên lý của
sự siêu độ trong nhà Phật là ở chỗ này. Trong
sự siêu độ, nếu tâm của người làm việc siêu độ chẳng
thật khẩn thiết, tự mình chẳng thể nâng cao cảnh
giới của mình, chẳng thể tu hành chứng quả, thì
người siêu độ (người quá vãng) này sẽ chẳng thâu
được lợi ích gì hết. Cô tu thành Bồ Tát, mẹ cô
là mẹ của Bồ Tát, hơn nữa người mẹ này có công rất
lớn, giúp cho cô tu thành Bồ Tát, thì mẹ cô đương
nhiên sẽ từ địa ngục sanh lên trời, đây là đạo lý tự
nhiên.
Thế nên việc siêu độ trong nhà Phật có lý luận của
nó. Nếu không hiểu lý luận, cứ tưởng là niệm
vài cuốn kinh thì có thể siêu độ, đâu có chuyện dễ
dàng như vậy! Có nhiều người tạo tội nghiệp
trong thế gian, đến phút cuối tự mình cũng lo sợ, đi
kiếm vài vị pháp sư đến tụng kinh, tiêu tai, cầu
siêu. Siêu độ chẳng nổi! Chẳng có hiệu
quả. Nhưng nói chung có làm vẫn tốt hơn không
làm, vẫn còn biết kiếm vài vị sư tụng kinh, hồi
hướng, vẫn còn biết mình có tội. Nhưng phải
biết hiệu lực của cách làm [trên hình thức] như vậy
này rất kém, chẳng giúp gì được, chỉ có thể nói là
trồng một chút thiện căn mà thôi, không có hiệu quả,
phải làm như cô Thánh Nữ này mới có hiệu quả.
Do đó nếu người con hiếu muốn siêu độ cho cha mẹ quá
khứ hoặc thân bằng quyến thuộc thì phải hiểu đạo lý
này. Thỉnh pháp sư tụng kinh siêu độ thì chính
mình phải tham dự [vào buổi tụng kinh], tại sao vậy?
Vì mình không quen thuộc nghi thức, không biết tụng,
nên phải tụng theo pháp sư. Ai siêu độ?
Tự mình siêu độ, pháp sư chỉ là người trợ duyên,
hướng dẫn bạn làm việc này, tự bạn phải chân tâm sám
hối, phải khế nhập cảnh giới, được vậy thì người mà
bạn muốn siêu độ mới được độ, thật sự có phước.
Nếu hoàn toàn giao việc siêu độ này cho các vị pháp
sư, còn mình thì ở đó xem như chẳng có chuyện gì xảy
ra, như vậy chẳng có tác dụng gì hết, chẳng có cảm
ứng gì cả.
Thậm chí lúc tôi vừa mới học Phật, chưa xuất gia,
cũng chưa quy y, chỉ vừa tiếp xúc đến Phật pháp, có
một hôm đi chơi, đến chùa chơi, ngay lúc ấy trong
chùa đang làm Phật sự, đại khái là siêu độ cho cha
mẹ của một ông nọ. Pháp sư ở bên ngoài tụng
kinh, người nhà ở phía trong cười giỡn, vui vẻ đánh
bài tứ sắc, tôi nhìn thấy thiệt chẳng ra gì.
Giống cái gì? Giống như cha mẹ chết đi rất
tốt, cả nhà rất vui vẻ, cả nhà chẳng có tâm niệm bi
thương gì cả. Ðến lúc kêu ra lạy,
pháp sư kêu: ‘Đến đây ! Các vị ra lạy
một cái đi!’ Người nhà nói: ‘Dạ, mau mau đi ra
lạy.’ Lạy xong vừa trở vô bèn ngồi ngay vào
bàn đánh bài tiếp, thiệt chẳng ra giống gì, người
hiện nay chẳng hiểu lễ nghĩa gì cả, chẳng hiểu chân
tướng sự thật, vô cùng đáng thương, thật đúng như
trong kinh Phật gọi họ là những người đáng thương
xót, chúng ta phải thể hội ý nghĩa của câu này.
Ðã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức
giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin thành thật cám
ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng 9-2006
|