Tập 3 (Số 14-12-03)
Xin mở kinh trang số một:
Như thị ngã văn, nhất
thời Phật tại Ðao Lợi
Thiên vị mẫu thuyết pháp
Tôi nghe như vầy, một
thuở nọ đức Phật tại
cung trời Ðao Lợi vì mẹ
thuyết pháp.
Trong đoạn này chúng ta
giảng đến ‘Nhất thời’, ý
nghĩa của ‘Nhất thời’
cần phải bổ sung một
chút. Trong Phật
pháp, thời gian có hai
cách nói: một là ‘sát na
tế’, Phật nói đây là
‘thật thời’, tức là chân
thật, là chân tướng của
thời gian. Ngoài
ra còn có một danh từ
gọi là ‘Tam Ma Da’, có
nghĩa là ‘trường thời’,
ngày nay chúng ta gọi là:
tướng tiếp nối.
Trong kinh Kim Cang có
nói: ‘Như lộ diệc như
điện’, lộ là sương,
chúng ta biết thời gian
rất ngắn, buổi sáng có
sương, khi mặt trời mọc
thì sương tan.
Dùng việc này để ví cho
‘trường thời’, ví cho
tướng tương tục; điện
(ánh chớp) ví cho
thời gian chân thật.
Thời gian chân thật
trong kinh Hoa Nghiêm,
phẩm Thập Ðịnh gọi là
‘sát na tế’
[1](trong
khoảng một sát na),
đó mới là thật.
Chúng ta
rất khó cảm nhận được
quan niệm ‘sát na tế’.
Hiện nay khoa học tiến
bộ, dùng máy móc khoa
học để quan sát chúng ta
mới cảm nhận được chút
ít. Nhưng thật ra
‘sát na tế’ chính là như
trong kinh thường nói:
‘sanh diệt đồng thời’,
vì thời gian sanh diệt
của nó quá ngắn ngủi,
lục căn chúng ta chẳng
thể cảm nhận được.
Những gì lục căn của
chúng ta có thể cảm
nhận, nói cách khác,
phải là thời gian tương
đối dài. Vừa mới
kích thích liền phản ứng
tức thời, tuy là nói
‘lập tức’ nhưng cũng
phải trải qua thời gian
rất dài. Nếu nói
là ‘sát na tế sanh diệt’
thì chúng ta hoàn toàn
cảm nhận không được.
Không những phàm phu lục
đạo chúng ta, người cõi
trời thông minh hơn con
người, cảm ứng linh mẫn
hơn nhiều nhưng cũng
chẳng cảm nhận tới, thậm
chí Thanh Văn, Duyên
Giác, Quyền Giáo Bồ Tát
[cũng không được].
Trong kinh Phật nói với
chúng ta Bát Ðịa Bồ Tát
mới có thể nhìn thấy A
Lại Da, A Lại Da thuộc
về ‘sát na tế’, phải có
công phu định lực sâu
như Bát Ðịa Bồ Tát mới
cảm nhận đến ‘sát na
tế’. Sát na sanh
diệt, trong kinh Phật
thường dùng ‘chẳng sanh
chẳng diệt’ để hình
dung. Nếu không có
sanh diệt thì nói ‘chẳng
sanh chẳng diệt’ là
thừa, chẳng có ý nghĩa
gì hết; thật ra chẳng
sanh chẳng diệt nghĩa là
đích thực có sanh, có
diệt, nhưng vừa sanh đã
diệt mất rồi, hầu như
sanh diệt đồng thời, cho
nên mới gọi là ‘chẳng
sanh chẳng diệt’; lời
nói này mới có ý nghĩa,
sanh diệt đồng thời,
thời gian ngắn ngủi đến
cùng cực. Nói thật
ra khoa học kỹ thuật
hiện nay tuyệt chẳng thể
đo lường thời gian ngắn
ngủi này được, thời gian
máy móc có thể đo lường
được đã rất dài rồi.
Ðây là chữ ‘nhất thời’ nói
trong kinh, chữ này hoàn
toàn là chân thật, chúng
ta phải lắng lòng thể
hội. Nếu hiểu được
‘nhất thời’ thì bạn sẽ
hiểu được ‘hết thảy pháp
chẳng sanh chẳng diệt’,
được vậy thì chẳng lo sợ
sanh tử nữa, bạn hiểu
được ‘Phàm những gì
có tướng đều là hư vọng’.
Tướng hư vọng chẳng sanh
chẳng diệt, đó mới là
chân tướng, nhưng chúng
ta chẳng thấy được, Bát
Ðịa Bồ Tát trở lên mới
nhìn thấy. ‘Nhất
thời’ ở đây nếu muốn nói
trên sự tướng thì chính
là lúc cơ duyên đức Phật
Thích Ca Mâu Ni giảng
kinh thành thục, đó gọi
là ‘nhất thời’.
Cách nói này cũng viên
mãn phi thường, hết thảy
kinh đều dùng chữ này,
nhân duyên Phật giảng bộ
kinh này đã thành thục
rồi.
Nhân duyên lần này vô cùng
đặc biệt, thù thắng, chỗ
giảng kinh cũng rất hy
hữu, Phật ở tại cung
trời Ðao Lợi chứ chẳng
phải ở chỗ khác.
‘Phật’ là chủ thành tựu,
người chủ giảng trong
pháp hội này, Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chữ ‘tại’ rất hoàn hảo,
đặc biệt là nói trên sự
tướng. Nói ‘tại’
cũng là lời chân thật!
Người thế gian chúng ta
có rất nhiều sự hiểu
lầm, [nhiều khi có] một
quan niệm sai lầm cả đời
cũng chẳng biết. Chúng
ta cử ra vài thí dụ đơn
giản, buổi sáng thức dậy
rửa mặt, mặt cần phải
rửa hay không? Các
bạn nói mặt cần phải rửa
không? Nói ‘Rửa
mặt’ là sai rồi, rửa
những chất dơ trên mặt
chứ chẳng phải rửa mặt.
[Cũng như nói] giặt quần
áo, quần áo cần giặt
không? Chỉ giặt
những bụi bặm trên quần
áo. Các bạn nghĩ
xem chúng ta có bao
nhiêu quan niệm sai lầm.
Chùi bảng đen trong
phòng học, bảng đen cần
phải chùi hay không?
Chùi là chùi bụi phấn
chứ đâu phải là chùi
bảng đen, bảng đen chùi
một cái thì sơn đen tróc
mất, đâu còn gọi là bảng
đen nữa. Thế mới
biết trong đời sống hằng
ngày bạn nghĩ xem có bao
nhiêu quan niệm sai lầm,
sai quá chừng, ai cũng
sai nhưng cứ nghĩ như
vậy là đúng. Ðến
lúc đức Phật nói sự thật
ra, mình nghe xong cảm
thấy kỳ lạ.
Chữ ‘tại’ là lời nói chân
thật, nếu nói bạn ‘trụ’
là không đúng, bạn làm
sao ‘trụ’? Hôm nay
dọn lại đây, ngày mai
dọn tới chỗ kia, đâu có
‘trụ’, chỉ nói thân thể
lúc bấy giờ ở ‘tại’ đâu,
nói như vậy mới đúng.
Thế nên mới nói ‘Phật
tại’. Thực ra
chúng ta cũng ‘tại’, hôm
nay ‘tại’ Tân Gia Ba,
hiện nay ‘tại’ Tịnh Tông
Học Hội, tối nay ‘tại’
Cư Sĩ Lâm, đều là ‘tại’.
‘Trụ’ là ở đó chẳng
động; thường di động thì
gọi là ‘tại’. Chữ
‘trụ’ trong Phật pháp là
gì? Tâm an trụ.
Bạn ‘trụ’ trong cung
điện lầu các, Phật ở nơi
đây gọi cung điện lầu
các là từ bi, tâm an trụ
trong từ bi, tâm an trụ
trong chánh giác, đó gọi
là ‘trụ’, vĩnh viễn
chẳng rời khỏi thì gọi
là ‘trụ’. Thân
luôn luôn di động thì
gọi là ‘tại’, cho nên
trên sự tướng thì gọi là
‘tại’.
Lần này Phật ở đâu?
Tại ‘Ðao Lợi Thiên’,
tầng trời thứ hai trong
Dục Giới. Người
thế gian biết có thiên,
biết có thiên thần, rất
cung kính thiên thần,
xưng ngài là Thượng Ðế,
người Trung Quốc xưng
ngài là Ngọc Hoàng Ðại
Ðế, đại khái đều là Ðao
Lợi Thiên Chủ. Họ
không biết bên ngoài cõi
trời còn cõi trời khác.
Phật nói với chúng ta
thế giới Sa Bà có hai
mươi tám tầng trời, số
lượng trong mỗi tầng
cũng vô lượng vô biên,
từ dưới lên trên có hai
mươi tám tầng chia thành
Tam Giới: Dục Giới, Sắc
Giới, Vô Sắc Giới.
Dục Giới là cõi còn dục
vọng, ăn uống, nam nữ,
vẫn chưa đoạn dứt nhưng
càng lên cao thì càng
mỏng dần. Ðến Sắc
Giới thì dục vọng này
chẳng còn nữa, chúng ta
thường nói người ở cõi
trời Sắc Giới chẳng còn
những thứ ‘tiền tài, sắc
đẹp, tiếng tăm, ăn uống,
ngủ nghỉ’ này nữa.
Người cõi Sắc Giới chẳng
cần ăn uống, cũng chẳng
cần ngủ nghỉ, vĩnh viễn
tỉnh thức; chẳng cần ăn
uống, dùng thiền duyệt
làm thức ăn nhưng họ còn
sắc thân, có sắc tướng.
Ðến Vô Sắc Giới là cõi
phàm phu cao cấp nhất
trong lục đạo, ngay cả
thân thể này họ cũng
chẳng cần nữa.
Trước khi Phật pháp
truyền đến Trung Quốc,
đời cổ Trung Quốc xuất
hiện một người có đại
trí huệ, Lão Tử.
Lão Tử nói: ‘Tôi có
niềm ưu tư to lớn vì tôi
có cái thân này’
[2].
Tôi có âu lo lớn lao, đó
là gì? Vì có thân
này là một sự phiền lụy,
phiền phức. Ngài
có sự giác ngộ như vậy,
có lẽ Lão Tử đã sanh lên
cõi Vô Sắc Giới, vì ngài
chán ghét thân thể, sắc
tướng này. Ở cõi
Vô Sắc Giới thì sắc
tướng chẳng còn nữa.
Một số người chúng ta
thường nói đến ‘Linh
Giới’ chắc là nói về Vô
Sắc Giới thiên, trong
cõi ấy rất tự tại vì
chẳng có sắc tướng.
Trên đây là cách phân
loại, phân chia thành
tam giới, hai mươi tám
tầng trời, đây là một
phạm vi trong sự giáo
hóa của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
có sanh tử hay không?
Nói cho chư vị biết,
chẳng có. Chỉ là
ứng hóa, ngài xuất hiện
ở thế gian này, là dùng
ứng thân xuất hiện.
Chúng ta nhìn thấy ngài
có sanh, có diệt, thật
sự ngài diệt xong là đến
tinh cầu khác, đến chỗ
khác lại xuất hiện giáo
hóa chúng sanh, đây là
hiển thị sự đại tự tại.
Phật có rất nhiều cách
giải thích cho chữ
‘Thân’, kinh Hoa Nghiêm
nói có mười Thân, thông
thường thì chúng ta nói
ba Thân; ba thứ nói kỹ
thì chia thành mười thứ,
mười thứ quy nạp lại thì
thành ba. Thứ nhất
là ‘Pháp Thân’, là chân
thân, hết thảy thân đều
sanh từ thân này.
Do đó pháp thân là thân
căn bản nhất, có thể
sanh hết thảy vạn pháp,
có thể hiện thân tướng
của chúng ta, có thể
hiện tướng cõi nước, sơn
hà đại địa, tất cả thân
tướng đều từ pháp thân
biến hiện thành.
Thứ hai là ‘Trí Thân’,
cũng gọi là ‘Báo Thân’,
là thân trí huệ, nghĩa
là trí huệ của ngài đã
khai mở, trí huệ đã hiện
tiền, đối với hết thảy
vạn sự vạn vật trong vũ
trụ nhân sanh chẳng gì
không biết, chẳng gì
không thể. Thứ ba
là ‘Ứng Hóa Thân’, có
hai ý nghĩa. Ứng
Thân là tùy loại hiện
thân, nên dùng thân gì
để được độ thì ngài liền
hiện thân ấy. Thế
nên Phật đến nhân gian,
đến cõi nào, ngài chẳng
có chướng ngại, vô cùng
tự tại, muốn đến thì
đến, muốn đi thì đi, đến
đi tự do.
Chẳng giống phàm phu chúng
ta, chúng ta mang Nghiệp
Báo Thân, chẳng tự do tí
nào, hoàn toàn chịu sự
chi phối của nghiệp lực.
Nói chịu nghiệp lực
khống chế thì mọi người
khó hiểu, chúng ta nói
cách khác, chịu vận mạng
khống chế, chịu vận mạng
chi phối thì mọi người
dễ hiểu, thế nên:
‘tất cả đều là vận
mạng, nửa điểm cũng
chẳng do người’, bạn
nói như vậy có khổ
không? Mạng là gì?
Mạng chính là nghiệp,
nghiệp báo. Trước
kia tạo thiện nghiệp,
đời này được thiện báo,
quá khứ tạo ác nghiệp,
đời này chịu quả báo
chẳng thiện, thế nên
những thọ dụng cả đời
này, ngạn ngữ có câu:
‘một miếng ăn, miếng
uống, chẳng gì là không
định sẵn’
[3],
tức là đạo lý này, đúng là
nửa điểm - một tí gì
cũng chẳng do người.
Nhưng Phật, Bồ Tát đến thế
gian này, quý ngài đến
đầu thai và cũng thị
hiện chết đi, quý ngài
sanh tử tự tại, không
phải do nghiệp lực mà là
nguyện lực. Ở thế
gian này muốn sống cuộc
đời như thế nào thì sống
như thế ấy, muốn ở bao
nhiêu năm thì ở bấy
nhiêu, sanh tử tự tại.
Lúc nào muốn ra đi, đi
đến đâu, quý ngài hiểu
rõ ràng, minh bạch, đến
đi tự do, đó gọi là
nguyện lực thọ thân, là
nguyện lực chứ chẳng
phải nghiệp lực.
Chúng ta phải hiểu những
đạo lý này rồi sau đó
mới biết nên học Phật
như thế nào, làm thế nào
chuyển nghiệp lực của
chúng ta thành nguyện
lực, bản lãnh của chư
Phật, Bồ Tát là ở chỗ
này. Các ngài có
thể chuyển, chúng ta
cũng có thể chuyển, bắt
đầu chuyển từ đâu?
Phải bắt đầu chuyển từ
tâm, sau khi tâm chuyển
thì thân sẽ chuyển; nếu
nói chuyển từ thân, tâm
chẳng chuyển thì không
được, chuyển như thế nào
cũng chẳng giống, nhất
định phải chuyển từ tâm.
Tâm thì phải ‘trụ’ chứ
chẳng phải ‘tại’.
Trong kinh Hoa Nghiêm,
Bồ Tát có Thập Trụ, đó
là nói về trụ, là ‘tâm
trụ’ chứ không phải
‘thân trụ’. Bồ Tát
trụ chỗ của Phật trụ,
như vậy mới đúng.
Trong kinh Phật nói với
chúng ta có bốn chỗ trụ,
bốn chỗ này đều chính
xác. Hai thứ đầu
vẫn còn ở trong lục đạo,
chưa ra khỏi lục đạo.
‘Thiên trụ’ tức là đời
sau nhất định có thể
sanh đến trời Dục Giới.
Trời Dục giới có sáu
tầng, sau này sẽ giới
thiệu cho chư vị biết.
‘Thiên trụ’ tức là tâm
an trụ tại thập thiện
nghiệp đạo, bố thí, trì
giới, tu thập thiện
nghiệp đạo thì đời sau
bạn nhất định sẽ sanh
lên trời, phước báo lớn
hơn nhân gian chúng ta
rất nhiều, hưởng phước
trời. Thứ hai là
‘Phạm Trụ’, Phạm Trụ tức
là tu thiền định, tu tâm
thanh tịnh, hết thảy dục
niệm đạm bạc, đối với
ngũ dục lục trần coi rất
lợt lạt, trong tâm tràn
đầy từ, bi, hỷ, xả.
‘Từ’ là vui với người,
đem khoái lạc cho người,
giúp người khoái lạc;
‘Bi’ là làm cho người
bớt khổ, chúng sanh có
khổ, giúp họ giải quyết
khổ nạn; ‘Hỷ’ là nhìn
thấy người khác được
phước, được chuyện tốt,
nhất định chẳng có tâm
đố kỵ, chỉ sanh tâm hoan
hỷ; ‘Xả’ là có thể buông
xuống vạn duyên.
Tâm thường an trú tại từ
- bi - hỷ - xả, sanh đến
trời Sắc Giới, hai cái
‘trụ’ trong Tam Giới này
kể ra còn chính đáng.
Nhưng người chúng ta
hiện nay không như vậy,
hiện nay tâm người an
trụ ở đâu? An trụ
ở tham, sân, si, mạn,
như vậy thì không xong
rồi! An trụ tại
tham, sân, si, mạn, an
trụ tại giết hại, trộm
cắp, dâm dục, nói dối
thì quả báo sẽ ở ba
đường ác. Thế nên
họ chẳng phải ‘Thiên
trụ’, chẳng phải ‘Phạm
Trụ’, mà là ‘Quỷ trụ,
Ðịa ngục trụ, Súc sanh
trụ’, họ làm những thứ
này. Chúng ta đối
với những Lý, Sự này rõ
ràng, minh bạch, phải
biết tâm an trụ ở đâu,
sau này sanh ra hậu quả
gì, vô cùng dễ sợ.
Thứ ba là ‘Thánh trụ’ tức
là trụ ở tâm Bồ Ðề.
Thánh giả là Tiểu Thừa:
Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát. Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát tuy
chẳng đồng nhưng họ có
một điểm giống nhau, tức
là tâm nhất định trụ tại
Tam Tam Muội
[4], đây là
điểm tương đồng.
Thứ tư là ‘Phật trụ’,
trụ ở chỗ Phật trụ, nếu
nhập vào cảnh giới này
thì bạn sẽ là quả vị
Thập Trụ Bồ Tát.
Chân chánh học Phật nhất
định phải an tại chỗ
Phật trụ, Phật trụ ở
đâu? ‘Ðại Tam
Không Tam Muội’: Không,
Vô Tướng, Vô Nguyện; Vô
Nguyện cũng gọi là Vô
Tác. Nếu thực hiện
trong Tịnh Tông thì an
trụ ở ‘Niệm Phật Tam
Muội’, đối với những
cảnh giới khác sâu rộng
vô cùng, chúng ta rất
khó cảm nhận, không bằng
y theo lời dạy của Phật,
chúng ta để tâm an trụ
tại ‘Niệm Phật Tam
Muội’, chuyện này tương
đối dễ học tập.
Niệm Phật là nhân, thành
Phật là quả, việc
này thật sự là hiếm có,
thù thắng khôn sánh.
Trên đây nói về ý nghĩa
của hai chữ ‘tại’ và
‘trụ’.
Hôm nay ‘Phật tại Ðao Lợi
Thiên’, ở Ðao Lợi Thiên
làm gì? ‘Vị mẫu
thuyết pháp’. Phải
y theo cách nói trong
‘Tăng Nhất A Hàm’, pháp
hội kỳ này là do Ðế
Thích Thiên Vương, tức
là Ðao Lợi Thiên Chủ
khải thỉnh. Ðao
Lợi Thiên Chủ rất thông
minh, rất có trí huệ,
ngài nói quá khứ hết
thảy chư Phật đều đã đến
Ðao Lợi Thiên thuyết
pháp cho mẹ, báo ân sanh
dưỡng của mẹ, Thế Tôn
thành Phật rồi, đương
nhiên cũng chẳng ngoại
lệ. Thế Tôn nhận
lời mời của Ðao Lợi
Thiên Chủ, đến Ðao Lợi
Thiên mở ra pháp hội
này. Nhân duyên
này rất sâu, câu chuyện
cũng rất dài, kể chuyện
thì sẽ ngưng trệ việc
giảng kinh, cho nên
chúng ta lược bớt câu
chuyện này, nhưng cũng
không thể không biết.
Mẫu thân của Phật là Ma
Gia phu nhân, nói thực
ra cũng là đại quyền thị
hiện, đều là Phật, Bồ
Tát tái lai. Mỗi
người lúc tu nhân, phát
nguyện chẳng giống nhau,
ngài phát nguyện đời đời
kiếp kiếp làm người nữ
để làm mẹ của Phật, ngài
phát nguyện này.
Thế nên con của ngài là
Phật, phước báo của mẹ
sẽ rất lớn, đây là biểu
diễn cho chúng ta xem.
Phước báo lớn nhất, hoàn
toàn dựa vào phước thì
chỉ có thể sanh đến cõi
trời Ðao Lợi, từ trời Dạ
Ma trở lên thì không
thể. Chư vị xem
trong nhà Phật nói đến
Phật sự siêu độ Lương
Hoàng Sám vô cùng thù
thắng. Lương Hoàng
tức là Lương Võ Ðế,
Lương Võ Ðế khải thỉnh
Bảo Chí Công làm Phật sự
siêu độ cho phu nhân cho
nên gọi là ‘Lương Hoàng
Sám’. Lúc phi tử
của vua còn sống, bà tạo
nhiều ác nghiệp nên đọa
vào ác đạo. Bảo
Chí Công là một cao tăng
đắc đạo, Bảo Chí Công là
ai? Là Quán Thế Âm
Bồ Tát hóa thân đến, bạn
xem như vậy còn nói gì
nữa! Quán Thế Âm
Bồ Tát đích thân đến chủ
trì pháp hội này, chủ
trì pháp sự siêu độ này,
cũng chỉ có thể siêu độ
phi tử của vua đến cõi
trời Ðao Lợi. Chư
vị phải biết, chư Phật
Như Lai siêu độ thì chỉ
siêu độ đến trời Ðao
Lợi, muốn lên trên nữa
thì tự mình phải có công
phu tu hành, nếu chẳng
có công phu tu hành thì
không được. Thế
nên hiểu được chân tướng
sự thật này, thời gian
chúng ta còn sống phải
hết lòng tu hành, nếu
chẳng tu hành mà chỉ nhờ
người khác siêu độ, bản
lãnh có cao tới đâu thì
chỉ có thể đến trời Ðao
Lợi mà thôi. Nếu
siêu độ Phật sự là do
phàm phu chủ trì thì
hiệu quả sẽ rất yếu ớt,
chỉ có thể nói là làm
vẫn tốt hơn không làm.
Có hiệu quả gì rất khó
nói. Ngày nay bạn
đi đâu tìm được cao tăng
chân chánh đắc đạo,
Phật, Bồ Tát hay người
tái lai. Thế nên
phải hiểu đạo lý này rồi
sau đó tự chúng ta mới
thực sự nắm chắc lấy
thời gian, một tấc quang
âm là một tấc mạng
quang, phải hết lòng nỗ
lực.
Phước báo lớn như người mẹ
của Phật thì cũng chỉ
sanh đến trời Ðao Lợi.
Lên trên nữa cần phải có
công phu định lực, cần
có tâm thanh tịnh, tâm
thanh tịnh thành tựu
công đức chân thật.
Công đức ít, kém cỏi,
chưa đoạn Dục, chưa đoạn
tâm niệm ham muốn thì
sanh đến tầng trời thứ
tư của cõi Dục Giới, nhà
Phật gọi là ‘Vị Ðáo
Ðịnh’, bạn tu định chưa
đủ trình độ nhưng cũng
có tu. Thí dụ Tứ
Thiền, cõi Tứ Thiền cần
công phu thiền định một
trăm điểm thì mới đến Tứ
Thiền; cõi Tam Thiền cần
chín chục điểm, Nhị
Thiền cần tám chục điểm,
Sơ Thiền cần bảy chục
điểm. Nếu công phu
của bạn dưới sáu chục
điểm thì chẳng đến Sắc
Giới nổi. Nhưng
bạn cũng có công phu,
công phu thiền định của
bạn có khoảng sáu mươi
điểm, năm mươi điểm, bốn
mươi điểm, bạn cũng có
công phu, chẳng phải là
không điểm. Nếu
bạn chẳng tu, chỉ chuyên
tu phước, tu thập thiện
nghiệp đạo, tu bố thí,
trì giới, chẳng có công
phu định lực, chẳng xả
bỏ tâm niệm tình dục,
thì chỗ bạn sanh đến sẽ
là Tứ Vương Thiên và Ðao
Lợi Thiên. Có một
chút công phu định lực,
tâm địa có một ít thanh
tịnh mới có thể sanh đến
cõi trời Dạ Ma, Ðâu
Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa
Tự Tại. Càng lên
trên thì phước báo của
mỗi tầng càng lớn hơn,
thọ mạng càng dài hơn,
chân chánh là hưởng
phước vô tận.
Nhưng thọ mạng có dài
hơn thì cũng có lúc hết
quả báo, tức là có lúc
sẽ hưởng hết; sau khi
hưởng hết thì cũng phải
lưu chuyển theo nghiệp.
Thế nên sanh lên trời
chẳng phải là pháp cứu
cánh, chẳng bằng niệm
Phật cầu sanh Cực Lạc
thế giới, sanh đến Cực
Lạc thế giới là vô lượng
thọ, nói cách khác vĩnh
viễn chẳng sanh, chẳng
tử. Không những
trời Dục Giới chẳng sánh
bằng, trời Sắc Giới, Vô
Sắc Giới đều chẳng thể
sánh bằng. Thế nên
hết thảy chư Phật tán
thán A Di Ðà Phật, tán
thán Cực Lạc thế giới,
đạo lý là ở chỗ này.
Câu kinh ‘vị mẫu thuyết
pháp’, tuy pháp hội này
là do Ðế Thích Thiên Chủ
khải thỉnh, nhưng ý
nghĩa rất sâu. Thứ
nhất là vì tránh miễn
cho một số người hiểu
lầm Phật pháp. Học
Phật, đặc biệt là phát
tâm cạo đầu xuất gia,
hình như là từ đó trở đi
chẳng còn lo cho cha mẹ
nữa, người thế gian cho
vậy là chẳng có hiếu.
Ðặc biệt là người Trung
Quốc thường nói:
‘Có ba chuyện bất hiếu,
chẳng có con nối dõi là
lớn nhất’. Cha
mẹ mong bạn nối dõi
giòng họ, một khi bạn
xuất gia thì việc nối
dõi tông đường sẽ đoạn
mất, làm sao chẳng có
lỗi với cha mẹ, tổ tiên!
Người đời chẳng biết
xuất gia là đại hiếu,
đây là ý nghĩa thứ nhất.
Ý nghĩa thứ hai là làm
gương mẫu cho tứ chúng
đệ tử học Phật: tứ chúng
gồm xuất gia, tại gia,
nam chúng, nữ chúng,
khơi gợi tư tưởng hiếu
kính của họ, làm cho họ
chân chánh thể hội điều
thứ nhất ‘Hiếu dưỡng cha
mẹ’ trong Tam Phước.
Trong nhà Phật dù xuất
gia thì cũng không thể
không lo cho cha mẹ,
chẳng có đạo lý này.
Nhưng hình thức hiếu
dưỡng chẳng giống nhau,
hết lòng tu trì, phụng
hành theo lời Phật dạy,
dùng công đức ấy hồi
hướng cho cha mẹ; cha mẹ
có thể được chư Phật hộ
niệm, thiện thần bảo
hựu, đây mới là chân
hiếu. Người thế
gian hiếu thuận cha mẹ,
mướn vài người giúp việc
để chăm sóc cho đời
sống, còn đệ tử Phật nhờ
thiên long thiện thần
chăm sóc cho cha mẹ còn
châu đáo hơn những người
giúp việc. Nếu bạn
chẳng có tu trì thì
thiên long thiện thần
chẳng bảo hựu bạn, sẽ
khinh chê bạn. Nếu
bạn chân chánh tu hành,
có đạo có đức cảm động
đến thiên thần, họ tự
nhiên đến chiếu cố; bạn
chẳng cần phải cầu họ,
cũng chẳng phải thông
báo cho họ, [họ cũng] tự
nhiên chiếu cố.
Tại sao vậy? Vì
tôn kính bạn, tôn kính
cha mẹ bạn, thế nên có ý
nghĩa này.
a.
Chứng Tín Tự:
Lại xem đoạn kinh tiếp
theo:
Nhĩ thời thập phương vô
lượng thế giới, bất khả
thuyết bất khả thuyết
nhất thiết chư Phật cập
Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát
giai lai tập hội.
Lúc đó hết thảy chư Phật
và Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát
bất khả thuyết bất khả
thuyết từ mười phương vô
lượng thế giới đều đến
tham dự pháp hội.
Ðoạn kinh trên là Phát
Khởi Tự của kinh này.
Kinh này tổng cộng gồm
mười ba phẩm, phẩm thứ
nhất là phẩm Tựa, nhưng
chẳng gọi là phẩm Tựa mà
gọi là Phẩm Ðao Lợi
Thiên Cung, trên thực tế
phẩm này là phẩm Tựa.
Ý nghĩa trong phần tựa
vô cùng châu toàn viên
mãn, phía trước có sáu
thứ thành tựu, đây là
‘Chứng Tín Tự’; từ đoạn
kinh này về sau là Phát
Khởi Tự. Ðoạn Phát
Khởi Tự nói với chúng ta
vô cùng rõ ràng, hàm
nhiếp cả ‘Giáo, Lý,
Hạnh, Quả’; trong Khoa
Chú đoạn này được gọi là
‘Quả Nhân Tập Tán’
(Cùng khen ngợi quả và
nhân).
Chúng ta phải đặc biệt
chú ý những chỗ như vậy,
phải biết học tập như
thế nào, khi Phật thuyết
pháp thì trước hết phơi
bày quả báo ra cho mọi
người thấy, từ quả báo
này sanh khởi lòng tin.
Sau đó mới giải thích
quả báo hình thành như
thế nào, giảng về nhân
cho bạn thì bạn sẽ hết
lòng để nghe, bạn rất
muốn biết tại sao.
Ðây là thiện xảo phương
tiện của việc thuyết
pháp, chúng ta phải
biết. Thế nên mới
nói ‘Quả Nhân’ chứ chẳng
nói ‘Nhân Quả’.
Vừa mở đầu thì hiện lên
cái gì? Dạy bạn
xem những nhân vật tham
gia đại hội này, đây là
‘quả’. Ðây là
người, người là ‘quả
người’, do quả đức của
ngài cảm động nhiều
người như vậy đến tham
gia pháp hội.
Trước khi Phật giảng
kinh thì hiện tướng
lành, hiện các thứ hào
quang, những tướng lành
này là ‘Lý’. Văn
Thù Bồ Tát nhìn thấy
hiện tượng này nên sanh
khởi nghi hoặc, đây là
tiêu biểu ‘Hạnh’.
Thế Tôn và Bồ Tát một
người hỏi, một người
đáp, Văn Thù hỏi, Thế
Tôn trả lời, đây là
‘Giáo’. Cho nên
trong phần Tựa chúng ta
thấy ‘Giáo, Lý, Hạnh,
Quả’, lần tụ hội này là
quả báo. Giống như
trong kinh Hoa Nghiêm
vừa mở đầu trước lúc
giảng kinh thì nói về y
báo, chánh báo trang
nghiêm của Tỳ Lô Giá Na
Phật, bày quả báo ra cho
bạn thấy.
Chỗ này hiện ra sự chẳng
thể nghĩ bàn, chư vị có
thấy kinh văn như vầy
trong kinh nào không?
‘Nhĩ thời’, lúc Phật lên
cung trời Ðao Lợi thuyết
pháp cho mẹ, ‘mười
phương vô lượng thế
giới, bất khả thuyết bất
khả thuyết hết thảy chư
Phật’, chư vị có từng
thấy trong kinh nào ghi
lúc Phật giảng kinh, hết
thảy chư Phật đều đến
nghe? Chưa từng
thấy bao giờ.
Quang cảnh này làm sao
tưởng tượng được nổi!
Kinh Hoa Nghiêm cũng
chẳng có trường hợp này,
kinh Vô Lượng Thọ cũng
chẳng có, vô cùng hy
hữu! Không thể hàm
hồ, lơ là lướt qua.
Thường thường chúng ta
nói câu: ‘Một Phật ra
đời, ngàn Phật ủng hộ’,
đó là chư Phật hóa hiện
thành Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát tới để giúp
đỡ Phật hoằng hóa; còn
chỗ này không phải vậy,
chư Phật dùng thân phận
của Phật đến. Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni hôm
nay giảng kinh Ðịa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện, hết
thảy chư Phật đều đến
tham dự nghe giảng, số
người đến là ‘vô lượng
thế giới, nói
không xuể, kể không xiết
hết thảy chư Phật và Ðại
Bồ Tát Ma Ha Tát’; ‘Ðại
Bồ Tát Ma Ha Tát’ này
theo Phật cùng đến, tháp
tùng theo chư Phật. Số chư Phật đã nói không
xuể, kể không xiết, vậy
thì số Bồ Tát còn nhiều
hơn nữa, tất cả đều đến
dự hội. Ðoạn kinh
này tuyệt đối không thể
hàm hồ, lơ là lướt qua,
bạn phải nghĩ kỹ Thế Tôn
suốt đời giảng kinh bốn
mươi chín năm, giảng hơn
ba trăm hội, không có
hội nào thù thắng như
vậy. Ðây là những
người tham dự pháp hội,
là ‘Quả’, một phần trong
Giáo, Lý, Hạnh, Quả của
kinh.
Vì sao họ đều đến?
Chẳng có một vị Phật nào
không báo ân mẹ, hôm nay
đức Phật Thích Ca Mâu Ni
chẳng giảng pháp nào
khác, mà giảng pháp Ðịa
Tạng. Thuyết minh
hết thảy chư pháp đều
nương vào đại địa để
sanh khởi, đây là căn
bản. Ðịa Tạng tiêu
biểu cho cái gì?
Tiêu biểu ‘Hiếu Thân Tôn
Sư’, thế nên khi giảng
pháp ‘Hiếu Thân Tôn Sư’
thì hết thảy chư Phật
nhất định đích thân đến
tham gia, chư Phật đến
để làm ‘ảnh hưởng
chúng’. Ðao Lợi
Thiên Vương trong hội
này làm công đức chủ,
phước báo của ngài đã tu
quả thật rất lớn: thỉnh
Phật đến cung trời Ðao
Lợi giảng kinh Ðịa Tạng,
phước báo này rất lớn.
Thế nên hết thảy chư
Phật Như Lai đều đến đầy
đủ, một vị cũng không
sót, là một nhân duyên
vô cùng hy hữu!
Ðến để làm gì? Ðề
xướng Hiếu đạo.
Vừa gặp mặt liền tán
thán đức Phật Thích Ca
Mâu Ni, ý tán thán đó
cũng viên mãn đến cùng
cực.
b.
Phát Khởi Tự:
Tán thán
Thích Ca Mâu Ni Phật
năng ư ngũ trược ác thế
hiện bất khả tư nghị đại
trí huệ thần thông chi
lực, điều phục cang
cường chúng sanh, tri
khổ lạc pháp.
Tán thán đức Phật Thích
Ca Mâu Ni có thể ở trong
đời ác ngũ trược hiện
sức đại trí huệ thần
thông không thể nghĩ
bàn, điều phục chúng
sanh ương ngạnh, biết
được pháp khổ pháp vui.
Nói ra lời này chẳng dễ,
nếu không phải là chư
Phật Như Lai đích thân
tuyên thuyết, nói cho
chư vị biết, Bồ Tát cũng
chẳng nói được.
Tại sao vậy? Các
Ngài còn chưa vào cảnh
giới này thì làm sao nói
ra được! Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni xuất
hiện vào thời đại gì?
‘Ngũ Trược Ác thế’.
Ðến xã hội hiện nay của
chúng ta có thể nói là
‘Ngũ trược ác’, hầu như
phàm phu ngu muội vô tri
nhất cũng đã cảm biết
được. Năm mươi
năm, một trăm năm về
trước, phải là người có
trí huệ cao độ mới có
thể cảm biết hiện tượng
ngũ trược ác thế này,
phần đông người thường
không cảm giác được; [họ
nghĩ] thế gian chẳng tệ,
rất tốt, sinh sống rất
vui vẻ; họ chẳng cảm
giác được sự trược ác
này, ‘trược’ nghĩa là ô
nhiễm. Nửa thế kỷ
trước chúng ta chưa từng
nghe danh từ Hoàn Bảo
(bảo hộ môi
trường, hoàn cảnh)
ở đâu cả,
nói cách khác sự ô nhiễm
của môi trường còn có
thể chịu đựng được.
Ðợi đến lúc phát động
bảo hộ môi trường có
nghĩa là ô nhiễm môi
trường đã đến mức làm
cho người ta chịu không
nổi, chánh phủ địa
phương trên toàn thế
giới đều bắt đầu đề
xướng. Nói cách
khác, mức độ trược ác
này đã đến mức khá
nghiêm trọng nên mới có
danh từ này xuất hiện.
‘Ngũ’ là năm loại lớn,
năm loại ô nhiễm nghiêm
trọng, trong kinh Phật
gọi là ‘Ngũ trược ác
thế’. Trong Ngũ
trược, thứ nhất là Kiếp
Trược, Kiếp là nói về
thời gian, ngày nay
chúng ta gọi là thời đại
(tạm dịch cho chữ ‘niên
đầu’)
chẳng tốt, là nói về thời
tiết nhân duyên.
Nói thật ra, thời gian
có ô nhiễm gì đâu!
Ðây là một thời đại ô
nhiễm trầm trọng, chính
là nghĩa này. Nói
thật ra, thời đại ô
nhiễm là bốn thứ ô nhiễm
kể sau đây. Thứ
hai là ‘Kiến Trược’,
Kiến là Kiến giải, tư
tưởng, kiến giải sai
lầm, nhà Phật gọi là tà
tri tà kiến, có cái nhìn
sai lầm về chân tướng
của vũ trụ nhân sanh, đó
là ô nhiễm trên kiến
giải. Kế đó là
‘Phiền não trược’, dùng
cách nói hiện nay nghĩa
là ô nhiễm tư tưởng.
Hai thứ này hợp lại
chính là ô nhiễm tâm lý,
ô nhiễm tinh thần, việc
này rất nghiêm trọng!
Từ ô nhiễm tâm lý, ô
nhiễm tinh thần nhất
định sẽ dẫn đến sinh lý
và hoàn cảnh sanh hoạt ô
nhiễm, đó gọi là ‘Chúng
sanh trược’, nói theo
ngôn ngữ hiện nay thì đó
chính là hoàn cảnh sinh
hoạt ô nhiễm. Ngày
nay sanh thái của địa
cầu mất quân bình, khí
hậu bất bình thường, tai
nạn dồn dập, đều thuộc
về ‘Chúng sanh trược’.
Sau cùng là ‘Mạng
trược’, dùng ngôn ngữ
hiện đại để nói tức là
sinh lý ô nhiễm.
Dùng ngôn ngữ hiện đại
để giải thích Ngũ Trược
thì hai thứ đầu là kiến
giải ô nhiễm, tư tưởng ô
nhiễm, hợp lại chính là
tâm lý ô nhiễm, tinh
thần ô nhiễm; ‘Chúng
sanh trược’ chính là
hoàn cảnh sinh hoạt ô
nhiễm, ‘Mạng trược’ là
sinh lý ô nhiễm, tất cả
đều gọi là ‘Trược’.
‘Ác’ là ‘thập ác’, hết
thảy chúng sanh chẳng
làm việc thiện.
Thân tạo ‘sát sanh, trộm
cắp, tà dâm’, miệng tạo
‘vọng ngữ’ tức là không
nói thật, lừa gạt người
khác, ‘lưỡng thiệt’ tức
là ly gián thị phi, ‘ác
khẩu’ tức là nói lời độc
ác; ‘ỷ ngữ’ tức là nói
lời bóng gió, lường gạt
chúng sanh, tạo ra những
khẩu nghiệp này; còn ý
nghiệp, trong tâm có
‘tham, sân, si, mạn’,
những thứ này là ‘Ác’.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
xuất hiện trong thời đại
Trược, Ác này.
‘Hiện’ là thị hiện, thị
hiện đại trí huệ chẳng
thể nghĩ bàn. Câu
này nói Phật xuất hiện ở
thế gian này, làm ra một
hình dáng cho chúng sanh
coi, hình dáng gì?
Hình dáng đại trí huệ.
Hiện nay chúng ta gọi là
‘làm thầy, làm mô phạm’,
làm người dẫn đầu cho xã
hội đại chúng, làm
gương, làm mô phạm cho
xã hội đại chúng.
Ngài có thể thị hiện
trong đời ác ngũ trược
này, hết thảy chư Phật
đều tán thán, tán thán
Phật trong đời trược ác
làm ra một gương tốt cho
những chúng sanh khổ nạn
này.
‘Thần thông chi lực’ bốn
chữ này nói về biểu hiện
bên ngoài của Ngài.
‘Bất khả tư nghị đại trí
huệ’ là nói về biểu hiện
bên trong. Biểu
hiện bên ngoài chính là
giúp đỡ xã hội, hết thảy
chúng sanh, nói về khả
năng của ngài mạnh mẽ.
‘Thông’ là thông đạt,
chẳng có gì ngài chẳng
biết. Hết thảy sự
vật, đạo lý, nhân quả,
hiện tượng, biến hóa
trong thế gian, chẳng có
gì là không biết, chẳng
có gì là không thể, đó
gọi là ‘thần thông’.
Thần nghĩa là thần kỳ,
khó trắc lường nổi, vượt
quá tri thức của phàm
phu. Thần thông
này chẳng phải là bảy
mươi hai phép biến hóa
của Tôn Ngộ Không, không
phải ý này, nếu nghĩ vậy
thì bạn hoàn toàn hiểu
lầm. Sự việc gì
Phật đều thông suốt, nói
cách khác, các thứ nghi
nan tạp chứng trong xã
hội chúng ta ngày nay
Phật chẳng có gì không
biết, ngài có khả năng
giúp đỡ chúng ta giải
quyết những khó khăn
này.
‘Ðiều phục cang cường
chúng sanh’. Cư sĩ
Duy Ma đã từng nói:
‘Chúng sanh ở cõi Diêm
Phù Ðề cang cường, khó
giáo hóa’.
‘Cang cường’ là tánh
ương ngạnh, chấp trước
cứng chắc, rất khó tiếp
nhận lời dạy dỗ của
Phật. Chúng ta có
thể nhìn thấy việc này
trong xã hội hiện thực,
họ bài xích Phật pháp,
gây chướng ngại cho sự
giáo học Phật pháp, hiển
thị tánh ương ngạnh.
Họ không chịu nghiên cứu
Phật pháp, Phật pháp rốt
cuộc là gì? Họ
cũng chẳng biết;
Ghép vô một chữ mê tín,
tiêu cực, lạc hậu thì
liền bỏ xó qua một bên,
chẳng biết đây là của
báu, thật sự có thể giải
quyết vấn đề của ngũ
trược ác thế.
Bốn chữ sau cùng này rất
tài tình: ‘tri khổ lạc
pháp’, nói ra bốn chữ
này chẳng dễ.
Chúng sanh khổ, tại sao
khổ? Chúng sanh
mong cầu sự vui, tại sao
không đạt được sự vui?
Có người nào trên cả thế
giới không chịu khổ!
Có ai không mong cầu
khoái lạc! Khổ từ
đâu đến? Lạc từ
đâu đến? Chẳng ai
biết. Làm sao lìa
khổ? Làm sao được
vui? Những lý luận
và phương pháp này chẳng
có ai biết. Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni
biết được, trong kinh
đức Phật dạy rất rõ
ràng, rất minh bạch, nếu
chúng ta muốn lìa khổ,
được vui, kinh điển Ðại
Thừa chỉ dẫn hoàn hảo
nhất, chỉ đạo, hướng dẫn
chúng ta, mục tiêu của
sự giáo học Phật pháp
chính là dạy chúng ta
lìa khổ, được vui.
Chư Phật tán thán đức
Phật Thích Ca Mâu Ni
cũng để ‘Quả’ ở phía
trước, làm cho người ta
chú ý. Hai đoạn
kinh này không có câu
nào chẳng làm lông tóc
dựng đứng, vô cùng hy
hữu! Có người nào
mở pháp hội có thể làm
cho hết thảy chư Phật
Như Lai đều đến nghe,
người nào có thể nhìn
được chư Phật Như Lai,
được sự tán thán chẳng
thể nghĩ bàn như vậy.
Chư Phật tán thán đức
Phật Thích Ca, tức là
chư Phật hỗ tương tán
thán, chúng ta phải hiểu
đạo lý này, Phật Phật
đạo đồng. Nói cách
khác, chỉ có chư Phật
Như Lai mới chịu thị
hiện trong ngũ trược ác
thế, đây chính là tinh
thần của Ðịa Tạng Bồ
Tát, ‘Tôi không vào
địa ngục, ai vào địa
ngục!’, địa ngục là
chỗ khổ nhất.
Những chúng sanh khổ nạn
này, tôi không giúp họ
thì ai giúp họ!
Chỗ càng nhiều khổ nạn,
Bi tâm của Phật, Bồ Tát
càng nặng, càng muốn đến
đó để dạy dỗ, giúp đỡ
mọi người, chỉ cần những
chúng sanh khổ nạn này
chịu tiếp nhận, Phật, Bồ
Tát liền tới; nếu không
chịu tiếp nhận, Phật, Bồ
Tát muốn giúp đỡ cũng
chẳng có cách gì.
Có thể tin, có thể giải,
có thể học thì Phật, Bồ
Tát nhất định sẽ xuất
hiện trong thế gian này.
Ngày nay tại sao lại đến
Tân Gia Ba giảng hội
kinh này? Tại sao
không giảng ở chỗ khác?
Chúng ta chẳng thiên vị,
chẳng có tâm riêng tư,
và cũng chẳng tham ái
địa phương này.
Hoàn toàn là do duyên ở
địa phương này thành
thục. Duyên gì?
Người ở địa phương này
có thể tin, có thể giải,
có thể hành; địa phương
này đầy đủ bốn điều kiện
Tín, Giải, Hạnh, Chứng.
Trong mười mấy năm nay
chúng ta ở địa phương
này hoằng dương Tịnh Ðộ,
khuyên mọi người niệm
Phật cầu sanh Tây phương
Cực Lạc thế giới, trong
những năm này, ở Tân Gia
Ba, Mã Lai Á, lúc nào
cũng có thể nghe đến
người niệm Phật vãng
sanh, thường luôn nghe
đến. Cư sĩ Lý Mộc
Nguyên vô cùng nhiệt
tâm, lúc lâm chung các
đồng tu niệm Phật hơn
phân nửa đều mời cư sĩ
Lý Mộc Nguyên trợ niệm,
lo hậu sự cho họ, ông đã
thấy được tướng lành quá
nhiều, quá nhiều!
Ngày nay Lý cư sĩ phát
tâm như vậy là do ông ta
đã nhìn tận mắt, nghe
tận tai, niệm Phật vãng
sanh bất thoái thành
Phật là thật, chẳng phải
giả. Bởi vậy nên
ông ta làm thật hết
lòng, rất nhiệt tâm như
vậy, tín nguyện của ông
chẳng phải phát suông
đâu, là đã nhìn thấy sự
thật nên mới phát khởi
đấy.
Chỉ có Phật mới thấu
triệt pháp khổ vui trong
lục đạo tam đồ, biết
được triệt để, được rốt
ráo, cho nên Phật có khả
năng giúp đỡ chúng ta
giải quyết vấn đề, giúp
chúng ta lìa khổ được
vui. Tuyệt đối
không thể xem thường hai
đoạn kinh này, đây là vô
thượng diệu pháp của chư
Phật Như Lai khác miệng
đồng âm tuyên thuyết,
chúng ta có thể coi như
tổng cương lãnh của đức
Phật Thích Ca Mâu Ni thị
hiện trong thế gian
giảng kinh hơn ba trăm
hội, thuyết pháp bốn
mươi chín năm.
Phật xuất hiện trong thế
gian để làm gì? Để
làm việc này.
Sau khi tán thán, chư vị
hãy xem tiếp kinh văn:
Các khiển
thị giả, vấn tấn Thế
Tôn.
Mỗi vị đều sai thị giả
đến vấn an Thế Tôn.
Ðây là lễ mạo, Phật phái
thị giả đến vấn an đức
Phật Thích Ca Mâu Ni.
Lễ tiết, đây cũng làm
một hình dáng cho người
ta coi, ‘Lễ’ này chẳng
thể bỏ. Người
chẳng có lễ thì sẽ chẳng
ở yên trong thế gian
được, nhưng hiện nay
người ta đều coi thường
lễ tiết. Nếu coi
thường lễ tiết thì nói
thật ra dù tu học Phật
pháp có giỏi cách mấy,
quả báo sẽ ở đâu?
Quả báo sẽ chẳng ở cõi
người, hơn phân nửa là ở
cõi quỷ. Ðến đoạn
nói về Quỷ vương ở phía
sau, nói rõ nhân của
những quỷ vương này thì
quý vị sẽ hiểu. Tu
hành Phật pháp giỏi vô
cùng, nhưng cống cao ngã
mạn, chẳng có lễ tiết,
quả báo sau này sẽ đến
quỷ đạo làm quỷ vương.
Trong kinh Hoa Nghiêm
giảng về những vị làm
Thế Chủ, Khí Thế Gian
Chủ, thần núi, thần cây,
thần hoa, thần nước,
những vị này sẽ có
khuynh hướng như vậy.
Phật pháp được xây dựng
trên cơ sở Hiếu Kính,
khuyên chư vị đồng tu
phải giác ngộ, có Hiếu
Thân Tôn Sư thì chúng ta
mới có thể hướng về Phật
đạo, đi về Cực Lạc thế
giới, nếu chẳng có ý
niệm này thì tuy tu học
Phật pháp nhưng sẽ đến
quỷ đạo làm quỷ vương.
Nếu tốt hơn nữa thì bạn
có thể đến thiên đạo;
thiên đạo thì có trời
Dục Giới, trời Sắc Giới
không được, nhất định
phải biết. Ở đây
là dạy Lễ, dạy Kính.
Thị thời Như Lai hàm
tiếu, phóng bá thiên vạn
ức đại quang minh vân.
Bấy giờ, Như Lai mỉm
cười, phóng ra trăm ngàn
muôn ức vầng mây sáng rỡ
lớn.
Chỗ này nói về Phật hiện
tướng lành. Trong
quang minh vân (vầng mây
sáng) hiển lý, phóng
quang. Chúng sanh
lợi căn nhìn thấy hào
quang đều hiểu hết những
lời dạy của Phật, chẳng
cần phải dùng lời nói,
‘quang minh’ tiêu biểu
cho trí huệ, ‘trăm ngàn
muôn ức vầng mây sáng rỡ
lớn’ chính là vô lượng
vô biên trí huệ, trong
vòng sát na tế toàn bộ
đều hiện ra, chẳng cần
thời gian dài, trong
vòng sát na liền phơi
bày vô lượng vô biên trí
huệ trước mặt hết thảy
đại chúng. ‘Thị
thời’ tức là lúc chư
Phật Như Lai tán thán,
phái thị giả đến vấn an
đức Phật Thích Ca Mâu
Ni, Thế Tôn mỉm cười.
Phóng quang là tiêu biểu
pháp, hào quang này từ
đâu ra? Trong chân
như bản tánh vốn có đầy
đủ Bát Nhã quang minh,
Phật vì chúng sanh
thuyết pháp căn cứ vào
chỗ này. Phật
thuyết hết thảy pháp bắt
đầu từ đâu? Từ
trong tự tánh vốn sẵn đủ
Bát Nhã thể hiện ra, hôm
nay nói chỗ y cứ của hết
thảy pháp, biểu hiện ra
một lượt cho mọi người
coi.
‘Bá thiên vạn ức’ nói
chẳng hết, cho nên sau
đó lược nêu ra vài điều,
nếu nói kỹ thì nói không
hết, giản lược nêu ra
mười điều. Tuy là
giản lược nêu ra, chư vị
phải biết cũng giống như
cách tiêu biểu pháp
trong kinh Hoa Nghiêm,
bất cứ câu nào cũng đầy
đủ trăm ngàn muôn ức
quang minh vân, một tức
là hết thảy, hết thảy
tức là một. Thế
nên khi chúng ta nghe
kinh, nghe pháp, nếu
người giảng dùng tâm
chân thành, tâm cung
kính, thì liền cùng
quang minh của Phật khởi
tác dụng cảm ứng, Phật
quang sẽ soi rọi đạo
tràng đó cũng giống như
đại quang minh vân chiếu
soi trên không trung của
đạo tràng [tại cung trời
Ðao Lợi] này. Phía
dưới người nói, người
nghe sanh vô lượng hoan
hỷ, chẳng phải do người
ấy giảng hay, nói khéo,
chẳng phải vậy, người
hiện nay gọi đó là ‘từ
trường’ chẳng giống
nhau, đây là sự gia trì
của Phật, từ bi gia trì,
quang minh nhiếp thọ.
Nói về câu đầu tiên:
Sở vị: Ðại
Viên Mãn Quang Minh Vân.
Ðó là vầng mây sáng Ðại
Viên Mãn
‘Ðại Viên Mãn’, đây là
điểm giống nhau trong
những vầng mây khác
nhau. Viên mãn tức
là một chút khiếm khuyết
đều chẳng có, chính là
toàn thể tánh đức tỏ lộ.
Tại sao hết thảy chúng
sanh có thể khởi cảm ứng
đạo giao? Tâm
chúng sanh và tâm Phật
không hai không khác.
Sai khác ở đâu?
Chúng sanh còn mê, Phật
đã giác. Khi giác
là tâm tánh, khi mê cũng
là tâm tánh, tâm tánh
chẳng có giác, mê.
Trong hết thảy chúng
sanh, thường nói đến hữu
tình chúng sanh, chúng
ta ngày nay gọi là động
vật, chúng sanh hữu tình
trong chín pháp giới;
ngoài hữu tình chúng
sanh còn có vô tình
chúng sanh, ngày nay
chúng ta gọi là thực
vật, khoáng vật, đều từ
trong tự tánh biến hiện
ra. Kinh Hoa
Nghiêm nói: ‘Hữu Tình
và Vô Tình cùng viên mãn
chủng trí’
[5].
Viên là viên mãn, đồng
viên chủng trí tức là
đồng thời thành Phật, là
ý như vậy. Tại
sao? Cùng một pháp
thân, cùng một thể tánh.
[Đối với] người giác
ngộ, núi sông đại địa
đều là tự thân, cùng
mình là một thể, thế nên
sẽ quan hoài vô điều
kiện,
yêu thương, bảo vệ
vô điều
kiện, đó gọi là ‘đại từ
đại bi’, thế nên câu
tiếp sẽ là ‘Ðại Từ Bi
Quang Minh Vân’.
Phải biết Phật như vậy,
chúng ta cũng như vậy.
Hôm nay Phật hiển hiện
chẳng thể nghĩ bàn, vô
lượng vô biên tự tánh
quang minh; hôm nay
chúng ta hiện ra vô
lượng vô biên phiền não
vô minh, chúng ta biến
thành nông nỗi này, hoàn
toàn phản nghịch với
tánh đức, biến thành một
chúng sanh đáng thương
xót. Thế nên tự
mình phải giác ngộ, phải
quay về, phải thọ trì
đọc tụng, y giáo phụng
hành, người như vậy mới
thật sự quay về.
Vừa quay về thì cùng đại
quang minh vân của Phật
khởi tác dụng cảm ứng
đạo giao.
Ðại Từ Bi
Quang Minh Vân.
Vầng mây sáng Ðại Từ Bi.
‘Từ Bi’ là chỗ nương dựa
cho sự phát tâm của
chúng ta. Tứ Hoằng
thệ nguyện
‘Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ’ nương dựa
vào cái gì mà phát tâm?
Nương dựa vào tâm từ bi.
Quang Minh Vân ở đây
tiêu biểu cho đức năng
viên mãn của chân tâm tự
tánh, Bát Nhã trí huệ
vốn có. Chư Phật,
Bồ Tát, Bồ Tát ở đây là
chỉ cho Pháp Thân đại
sĩ; khi chưa chứng Pháp
thân thì tánh đức chưa
hiển lộ, chẳng có quang
minh vân; các ngài có
đại từ bi, chẳng thể
thêm quang minh vân.
Thêm quang minh vân thì
tối thiểu phải là Pháp
Thân đại sĩ, phá một
phẩm vô minh, chứng một
phần pháp thân, thật sự
cùng tâm cùng nguyện,
cùng đức cùng hạnh với
Phật, thì trong đoạn này
hiển lộ chẳng sót, đây
là sự tướng. Tứ
hoằng thệ nguyện phát
khởi từ chỗ này.
Ðịa Tạng Bồ Tát phát
nguyện này viên mãn, rốt
ráo, ‘địa ngục chẳng
không, thề chẳng thành
Phật’, từ bi đến
cùng cực! Chúng
sanh khổ nạn trong địa
ngục ngài đều độ, huống
chi là những chúng sanh
khác, đây gọi là phổ độ
chín giới chúng sanh.
Khoảng thời gian sau khi
đức Phật Thích Ca Mâu Ni
diệt độ và trước khi Di
Lặc Bồ Tát giáng sanh
quá dài. Trong
thời gian dài như vậy
chẳng có Phật ra đời,
cái khổ của chúng sanh
chúng ta không thể nào
tưởng tượng nổi.
Phật, Bồ Tát chẳng có
tâm từ bi sao? Có
chứ, phải làm sao?
Trong thời gian này Phật
giao phó sự nghiệp giáo
hóa chúng sanh cho Ðịa
Tạng Bồ Tát. Lúc
Phật chẳng ở thế gian
thì Ðịa Tạng Bồ Tát đại
diện cho Phật Thích Ca,
Thế Tôn chẳng nhờ Bồ Tát
khác, mà nhờ Ðịa Tạng Bồ
Tát. Do đó có thể
biết sau khi đức Phật
diệt độ, khi Bồ Tát Di
Lặc chưa xuất thế, dùng
phương pháp gì để giáo
hóa hết thảy chúng sanh?
Dùng Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh, đây là lời
phó chúc của Thế Tôn.
Ðịa Tạng Bồ Tát nhận sự
ủy thác của Thế Tôn,
chẳng cô phụ đức Phật
Thích Ca, ngài đích thật
đảm đương trách nhiệm
này, từ bi đến cùng cực!
Chúng ta phải dùng ‘Ðại
Từ Bi Quang Minh Vân’
phát tâm Bồ Ðề, thượng
cầu hạ hóa, độ mình, độ
chúng sanh. Câu
thứ ba:
Ðại Trí Huệ
Quang Minh Vân.
Vầng mây sáng Ðại Trí
Huệ.
Ðây là chỗ y cứ cho sự
tu hành của chúng ta.
Bất luận tu học pháp môn
nào, không có trí huệ
thì không thể thành tựu,
nhất định phải nương vào
trí huệ, trí huệ từ đâu
có? Nói cho chư vị
biết, trí huệ nhất định
chẳng
do sự học hỏi, ghi nhớ mà
có.
Tôi nghe rất nhiều, đọc
nhiều, nhớ nhiều, đó là
thông minh của thế gian,
trong kinh Phật gọi là
‘thế trí biện thông’.
Trong Phật đạo, ‘thế trí
biện thông’ là một trong
tám nạn, nếu bạn gặp
phải thì rất khó, tại
sao? Kẹt vào ‘Sở
tri chướng’, những gì
bạn biết trở thành
chướng ngại, chướng ngại
bạn minh tâm kiến tánh,
chướng ngại bạn đạt được
định, chướng ngại bạn
khai trí huệ. Trí
huệ từ đâu đến?
Trí huệ nhất định phải
được từ thiền định,
thiền định từ đâu đến?
Thiền định nhất định
được từ Trì giới.
Ðây gọi là ‘Tam Vô Lậu
Học’. Tuy Ðại thừa
pháp môn chẳng coi trọng
giới luật trên hình
thức, Ðại thừa nói đến
Tâm Ðịa Giới pháp, còn
thù thắng hơn hình thức,
phải làm thật sự!
Thiền định là tâm thanh
tịnh, sáu căn tiếp xúc
với cảnh giới sáu trần
bên ngoài, ‘ngoài
không trước tướng, trong
không động tâm’, đó
gọi là thiền định, đó là
chân chánh tu thiền
định. Nếu lục căn
chúng ta tiếp xúc với
cảnh giới lục trần, vẫn
còn bị cảnh giới bên
ngoài thu hút, vẫn còn
khởi tâm động niệm, vậy
là hỏng bét rồi!
Công phu chân chánh, tu
hành chân chánh ở đâu?
Chính là dụng công ở chỗ
sáu căn tiếp xúc cảnh
giới sáu trần, chúng ta
dùng công phu niệm Phật,
phương pháp này rất tốt.
‘Niệm đầu’
[6]
vừa động, thì dùng ‘A Di
Ðà Phật’ chuyển liền,
chuyển thành A Di Ðà
Phật, trong đó Tam học:
Giới, Ðịnh, Huệ đầy đủ
cùng lúc. Nếu bạn
có thể chuyển thì bạn
tuân thủ pháp, đây là
Trì giới. Nhìn
thấy cảnh giới bên ngoài
thuận tâm thì khởi tham
ái, tâm tham vừa động
thì ‘A Di Ðà Phật’
chuyển trở lại, đó là
Trì giới. Thấy
hoàn cảnh không vừa ý,
trong tâm không ưa thích
thì liền ‘A Di Ðà Phật’
chuyển lại. Nếu
bạn có thể chuyển trở
lại, tiếp nhận sự giáo
huấn của Phật, Phật dạy
chúng ta làm như vậy,
chúng ta làm như vậy, đó
là ‘Trì giới’. Sau
khi chuyển trở lại, đối
với hết thảy cảnh giới
đều không để ý nữa, quay
về niệm Phật, đó là tu
‘Ðịnh’. Nhất tâm
xưng niệm A Di Ðà Phật,
‘Huệ’ ở trong đó.
Thế nên [nhiều người]
chẳng biết sự tu học của
Tịnh Tông thù thắng,
hoàn thành Giới - Ðịnh -
Huệ Tam Học ngay trong
một niệm, viên mãn đầy
đủ. Sau đó xử sự,
đãi người, tiếp vật,
thiện ý tự nhiên sẽ sanh
ra, thế nên công phu tu
hành của bạn sâu cạn
chẳng có tơ hào ẩn dấu
được, đều bộc lộ trên
gương mặt, âm thanh,
từng cử chỉ, từng động
tác của bạn, công phu tu
hành của bạn làm sao ẩn
dấu được? Trong
ngoài như nhau. Ẩn
dấu là đối với người ngu
mà nói, người ngu chẳng
nhìn thấy nên mới bị bạn
gạt, người chân chánh có
trí huệ thì không dấu
nổi, vừa tiếp xúc liền
hiểu rõ. Thế nên
‘đại trí huệ’ là chỗ
nương dựa của sự tu hành
của chúng ta. Câu
thứ tư:
Ðại Bát Nhã
Quang Minh Vân.
Vầng mây sáng Ðại Bát
Nhã.
Ý nghĩa của Bát Nhã và
trí huệ có khi giống
nhau, nhưng hai chữ này
gộp chung một chỗ thì ý
nghĩa đương nhiên có sai
khác. Bát Nhã như
trong kinh Bát Nhã nói:
‘Thật Tướng Bát Nhã,
Quán Chiếu Bát Nhã, Văn
Tự Bát Nhã’. Ðại
trí huệ ở phía trước
chúng ta giải nghĩa là
Huệ trong Giới - Ðịnh -
Huệ; nhưng Ðịnh nhất
định phải có Giới, ‘Ðịnh
cộng Giới’, người có
Ðịnh sẽ chẳng phạm lỗi.
Người có Huệ gọi là ‘Ðạo
cộng Giới’, Trì Giới ở
trong đó còn cao minh
hơn nữa. Do đó
‘Huệ’ giống như ba tầng
lầu, tầng thứ ba nhất
định bao gồm hai tầng
dưới, tầng dưới chẳng
bao gồm tầng trên, Giới
chẳng bao gồm Ðịnh, Ðịnh
chẳng bao gồm Huệ; Ðịnh
nhất định sẽ bao gồm
Giới; Huệ nhất định sẽ
bao gồm Giới và Ðịnh.
Bát Nhã, ở đây chúng ta
y theo cách nói của kinh
Bát Nhã, Thật tướng Bát
Nhã là Thể. Thật
tướng vô tướng, cũng tức
là chẳng có Phân biệt
trí, Thật trí, đối với
hết thảy pháp rõ ràng,
minh bạch nhưng trong đó
chẳng có phân biệt.
Phân biệt còn không có,
thì đâu có chấp trước!
Thế nên được gọi là Thật
Tướng Bát Nhã.
Thật tướng tức là chân
tướng, người đó hiểu rõ
chân tướng, chúng ta
thường gọi là hiểu rõ
chân tướng của vũ trụ
nhân sanh rốt ráo triệt
để, trí huệ này được gọi
là ‘Thật Tướng Bát Nhã’.
Thật Tướng Bát Nhã khởi
tác dụng gồm có hai
loại: một là ‘Tự thọ
dụng’, hai là ‘Tha thọ
dụng’. Tự thọ dụng
là ‘Quán Chiếu Bát Nhã’,
dùng cách nói hiện
nay tức là sống một đời
sống có trí huệ cao tột,
hoặc giống như những
Pháp Thân đại sĩ đã
chứng quả,
các ngài sống đời sống
viên mãn trí huệ, tương
ứng với quang minh vân.
Phàm phu chúng ta có thể
sống đời sống cao đẳng
trí huệ, đó là rất hiếm
có, như vậy bạn mới hiểu
được Quán Chiếu.
Tổng cương lĩnh của Quán
Chiếu, trong kinh Kim
Cang, Phật dạy:
‘Phàm những gì có tướng
đều là hư vọng’.
Thế nên đối với hết thảy
pháp tướng, họ có thể
không phân biệt, không
chấp trước, có thể tùy
duyên mà không phan
duyên, cái gì cũng được,
cái gì cũng tự tại, mỗi
ngày sinh hoạt thanh
tịnh, khoái lạc vô cùng!
Tùy cảnh ngộ đều an lạc,
phú quý có sự khoái lạc
của phú quý, nghèo hèn
có sự khoái lạc của
nghèo hèn; phú quý,
nghèo hèn là sự tướng,
khoái lạc đều bằng nhau,
đều bình đẳng, đều sinh
hoạt rất viên mãn, đều
được khoái lạc.
Ðây là Quán Chiếu Bát
Nhã, sự thọ dụng của
chính mình. ‘Văn
Tự Bát Nhã’ tức là lợi
tha, Tha thọ dụng, giúp
đỡ người khác.
Trong Văn Tự bao gồm
diễn nói, nói cách khác
Quán Chiếu bao gồm sự
tướng, tức là làm ra
hình dáng cho người ta
coi, ngày nay chúng ta
gọi là ‘thân giáo’, Văn
Tự Bát Nhã là ‘ngôn
giáo’. Do đó có
thể biết Thật Tướng Bát
Nhã là ‘ý giáo’.
Thân, ngữ, ý đều giáo
hóa hết thảy chúng sanh,
đều giúp đỡ hết thảy
chúng sanh. Trong
Thật Tướng tuy nói là ý
giáo, nhưng chẳng có
niệm đầu của ‘ý’; nếu có
niệm đầu của ‘Ý’ thì
không phải là Thật Tướng
Bát Nhã trí huệ.
Bát Nhã là ‘tức tướng
ly tướng, ly tức đồng
thời’
(chính
ngay nơi tướng mà lìa
tướng, cùng một lúc vừa
là ‘lìa’, vừa là ‘chính
là’),
như vậy mới có thể phá
trừ hết thảy mê hoặc.
Câu thứ năm:
Ðại Tam Muội Quang Minh
Vân
Vầng mây sáng Ðại Tam
Muội.
Tam Muội là Phạn ngữ, là
dịch âm từ tiếng Ấn Ðộ,
nghĩa là ‘Chánh thọ’,
hưởng thọ chánh thường
(hưởng thọ một cách chánh
đáng, đúng mực, hợp lý).
Phật nói sự hưởng thọ
của lục đạo chúng sanh
chẳng chánh thường.
Các thứ hưởng thọ được
quy nạp thành năm loại
lớn, thân có hai loại:
‘khổ thọ’ và ‘lạc thọ’.
Khổ thì vô lượng vô
biên, Lạc cũng vô lượng
vô biên, dùng hai loại
này bao gồm hết cả.
Tâm lý, chúng ta gọi là
Tinh thần. Thân
thể bằng xương thịt có
hai loại ‘khổ’ và ‘lạc’
này. Tâm lý có hai
loại: ‘Buồn’ và ‘Vui’.
Ðó là bốn loại: khổ và
lạc là tương đối, buồn
và vui cũng tương đối.
Sau cùng còn một loại
lớn, thân chẳng có khổ
và lạc, tâm lý chẳng có
buồn và vui, như vậy rất
tốt, trạng thái này gọi
là ‘Xả thọ’, tổng cộng
là năm loại này.
Xả thọ rất tốt, nhưng
thời gian rất ngắn,
không kéo dài được, tạm
thời thân xả bỏ khổ,
lạc, tâm xả bỏ buồn,
vui, chỉ là tạm thời.
Nếu Xả Thọ này có thể
duy trì mãi thì gọi là
Tam Muội, tức là Chánh
Thọ, thế nên Tam Muội
cũng được dịch là Thiền
định, chư Phật Như Lai
vĩnh viễn trong Xả Thọ.
Tây phương gọi là Cực
Lạc thế giới, chúng ta
cứ dùng cách suy nghĩ
sai lầm của chúng ta để
hạn cuộc cái ‘lạc’ của
tây phương, cứ tưởng cái
‘lạc’ này là lạc trong
khổ - lạc, như vậy là
sai rồi! Chẳng
phải ‘lạc’ trong khổ -
lạc; khổ, lạc hai bên
đều xả bỏ hết, đó là
‘chân lạc’! Thế
nên tới tây phương Cực
Lạc thế giới, năm thứ
Thọ: khổ, lạc, buồn,
vui, xả này đều chẳng
có, đó mới gọi là Cực
Lạc thế giới.
Chúng ta phải hiểu ý
nghĩa này.
Ðại Tam Muội có thể phá
hết thảy chướng ngại.
Khoa học gia hiện đại
biết thế gian này có rất
nhiều chướng ngại, thí
dụ họ phát hiện không
gian ba chiều, chúng ta
hiện nay đang sống trong
không gian ba chiều này,
họ biết có không gian
bốn chiều, năm chiều.
Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
nói ông đã coi báo cáo
khoa học, ông nói khoa
học gia đã khẳng định
tối thiểu có mười một
chiều không gian tồn
tại. Nếu y theo
cách nói của Phật pháp
thì không hẳn như vậy
thôi đâu, chúng ta làm
sao biết được?
Chúng ta biết những
không gian nhiều chiều
khác nhau này hình thành
như thế nào, chúng ta
hiểu được đạo lý này.
Phật nói những không
gian này là do vọng
tưởng, phân biệt, chấp
trước biến hiện ra,
chúng ta biết hết thảy
chúng sanh có vô lượng
vô biên vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, cho
nên thời gian, không
gian sẽ có vô lượng vô
biên chiều, đâu thể chỉ
có mười một chiều, hai
chục chiều thôi đâu!
Ðây là thật, chẳng phải
giả. Cho dù trong
không gian ba chiều,
hoàn cảnh sinh sống hiện
nay của chúng ta, trong
đó vẫn còn rất nhiều
chướng ngại. Nói
ba chiều, bốn chiều là
nói theo cách phân chia
đại khái, cũng giống như
cách nói mười pháp giới
trong nhà Phật.
Chúng ta gọi mỗi pháp
giới là một chiều thì đó
là mười chiều không
gian, cộng thêm Nhất
chân pháp giới thì là
mười một chiều.
Nhưng mỗi pháp giới lại
có rất nhiều [pháp giới
nhỏ ở trong ấy], đếm
chẳng hết. Nếu bạn
thật sự đạt được Tam
Muội, an trú trong Tam
Muội, vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước đều dứt
hết thì sẽ phá được tất
cả giới hạn này.
Công phu thiền định cạn
sâu chẳng đồng, Ðịnh cạn
thì đột phá một tầng,
hai tầng, Ðịnh sâu hơn
thì có thể đột phá nhiều
tầng hơn, chúng ta biết
những tình hình này rất
rõ ràng.
Trong thế gian có một số
người tu Ðịnh, có một cụ
kể cho tôi nghe vào thời
thế chiến thứ nhì vừa
qua, trong thời gian
chiến tranh ấy cụ ở
Giang Tây, ở đó có một
vị đạo sĩ, đạo sĩ này có
thần thông, nói thật ra
là có công phu định lực.
Nhà cụ ở hơi thấp, đạo
sĩ này kêu cụ dọn nhà và
nói chỗ đó vài ngày nữa
sẽ bị ngập nước.
Ðạo sĩ cũng ở vùng gần
đó, cụ bèn sai người dò
xem đạo sĩ này có dọn
hay không? Cụ thấy
đạo sĩ dọn nhà nên cụ
cũng dọn theo. Quả
đúng như vậy, hoàn toàn
phù hợp với thời gian
đạo sĩ này đã nói.
Một dấu hiệu báo trước
gì cũng chẳng có, kết
quả là núi lở, chỗ ấy bị
ngập, từ đó cụ mới biết
vị đạo sĩ này có thần
thông. Sau đó
không lâu vị đạo sĩ nói
ông ấy nhìn thấy chỗ nào
đó xảy ra chiến tranh,
nói ra phương hướng, đại
khái là cách bao xa, ông
đã nhìn thấy được.
Cụ này là một người
lính, là một quan lính
cao cấp, cụ nói vị đạo
sĩ này nói không đúng,
cụ chẳng nghe tin này.
Kết quả là ba tháng sau,
người Nhật bất thình
lình tấn công Trân Châu
Cảng (Pearl Harbor,
Hawaii), cùng với phương
vị, tình huống, khoảng
cách, ba tháng trước ông
đã nhìn thấy rồi.
Do đó có thể biết thời
gian quá khứ, hiện tại,
tương lai đều tồn tại
đồng thời. Ðó là
công phu định lực nhỏ,
chẳng phải đại định, có
thể đột phá thời gian ba
tháng, sự việc ba tháng
sau ông có thể thấy.
Ông ở một căn nhà nhỏ
trong núi sâu, ông có
thể nhìn thấy Hạ Uy Di,
Trân Châu Cảng ở cách đó
mấy ngàn dậm, đây là
công phu định lực nhỏ
thôi. Hiện nay
ngoài thị thành có lưu
thông ‘Thánh kinh mật
mã’
[7],
ông ta có thể nhìn thấy
ba ngàn năm sau, công
phu định lực của ông này
còn sâu hơn vị đạo sĩ kể
ở trên. Ðạo sĩ này
chỉ có thể nhìn thấy
cảnh giới vài tháng, vài
năm, vài ngàn dặm thôi.
Tam Muội chẳng thể nghĩ
bàn, có thể đột phá hết
thảy chướng ngại.
Như Lai đã
đoạn dứt vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước,
nên năng lực của ngài
viên mãn, tận hư không
trọn khắp pháp giới
chẳng có gì không biết,
chẳng có gì không thể,
chúng ta hiểu được đạo
lý này; từ đó chúng ta
mới tin tưởng lời Phật
nói, lời ngài nói là
thật chẳng phải giả,
ngài đích thật có năng
lực này. Ngài có
năng lực này, chúng ta
cũng có. Ngày nay
chúng ta mất hết năng
lực này là vì chúng ta
không có Ðịnh, trong tâm
mỗi ngày vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước cả
đống, thiệt thòi là ở
chỗ này, chúng ta nhất
định phải giác ngộ, phải
hiểu rõ.
Ðược rồi,
hôm nay chúng ta giảng
đến đây thôi.
Tập 4 (Số 14-12-04)
Xin mở kinh. Hôm
qua giảng đến đoạn Thế
Tôn phóng quang hiện
tướng lành, trong mười
thứ quang minh vân này
chúng ta giảng đến ‘Ðại
Tam Muội Quang Minh Vân’
thứ năm. Bây giờ
chúng ta bắt đầu từ
quang minh vân thứ sáu:
Ðại Cát Tường Quang Minh
Vân.
Vầng mây sáng Ðại Cát
Tường.
‘Cát
Tường’ ở thời cổ Trung
Quốc là một chữ thông
dụng trong việc hỏi
thăm, chúc tụng.
Cát tường là gì?
Cổ đức nói đây là một từ
‘nghĩa lợi’, tức là
chúng ta đáng được, đều
có thể đạt được một cách
viên mãn. Còn những gì
không đáng được, nếu bạn
muốn đạt được thì đó là
‘tai họa’, đó gọi là
‘bất nghĩa’. Chúng
ta dùng tài vật để thí
dụ, những đồ vật ‘bất
nghĩa’ trong Phật pháp
là đồ trộm cắp, bạn
chẳng nên có, bất luận
là dùng thủ đoạn gì, nếu
bạn đạt được thì tội lỗi
rất nặng. Thế nên
‘Cát tường’ là đáng
được, bạn có thể đạt
được viên mãn, đây là
‘nghĩa lợi’, ‘nghĩa’ tức
là đáng được.
Câu này nói rõ đây là
‘đức’ đáng được.
Trong Phật pháp, Ðại Bồ
Ðề, Ðại Niết Bàn là
những gì chúng ta muốn
đạt được, trí huệ đức
năng vốn sẵn có trong tự
tánh là những gì chúng
ta muốn đạt được, cùng
với trí huệ và công đức
của quả địa chư Phật
chẳng hai, chẳng khác,
chúng ta hiểu được ý
nghĩa này. Dù là
chính mình, chúng ta lấy
phàm phu để nói, tánh
đức của chúng ta chẳng
khai mở, trong thế gian
này chẳng phải chỉ một
đời này thôi, mà đời đời
kiếp kiếp phước báo của
chúng ta có thể nói đều
là tu được (nhờ tu
mới được), chẳng
xứng tánh. Khi
kiến tánh thì trong tự
tánh của bạn có trí huệ,
phước báo mới có thể
hiện tiền, phước báo đó
mới là chân thật, giống
như nước suối tuôn trào,
lấy hoài chẳng hết, dùng
hoài chẳng cạn, đó là
phước báo xứng tánh.
Trước lúc kiến tánh thì
phước đức này là do tu
mà được, tu được thì sẽ
dùng hết, ở đây chúng ta
nêu một thí dụ cho mọi
người dễ hiểu.
Tánh đức ví như tài sản
của bạn, có gia nghiệp,
trong nhà có mỏ vàng,
trong mỏ tàng trữ vô
cùng phong phú, đời đời
kiếp kiếp đều dùng chẳng
hết. Nhưng hiện
nay cái mỏ vàng này bị
đá bít kín, chẳng thể sử
dụng, một đồng cũng
chẳng có, muốn có cơm ăn
phải đi làm công, bạn
kiếm chút ít tiền để
sống qua ngày, trong nhà
tuy có tài sản ức vạn
nhưng bạn chẳng sử dụng
được.
Bát Nhã, trí huệ, công
đức, của cải trong tự
tánh chúng ta cũng giống
như mỏ vàng này vậy,
chưa được khai thác, cho
nên hiện nay phải cực
khổ đi làm chuyện vặt để
kiếm chút tiền, phước
báo này hưởng chẳng hết.
Vả nữa, phải đi làm một
cách đúng lý đúng pháp,
nếu đầu cơ cầu may, làm
chuyện phi pháp thì bạn
sẽ phạm tội. Khi
phạm tội thì những gì
bạn đáng có nhưng không
có được, lại còn bị pháp
luật trừng phạt, đạo lý
này cũng giống vậy.
Thế nên chúng ta ở thế
gian này phải hiểu rõ,
những gì chúng ta chẳng
đáng được thì nhất định
không thể lấy. Chữ
‘đạo tặc’ trong nhà
Phật, ý của chữ ‘đạo’ là
không cho mà lấy, bất
luận là dùng thủ đoạn
gì, bạn chiếm được những
tài vật chẳng hợp pháp
là họa chứ chẳng phải là
phước, nhất định phải
hiểu điểm này. Cho
dù những của cải trong
số mạng có sẵn chúng ta
cũng phải giác ngộ, sự
thọ dụng trong sinh hoạt
đời này nói thật ra rất
ít. Chúng ta đừng
nghĩ đến cả đời, nghĩ
đến cả đời thì dễ phạm
nhiều lỗi lầm.
Người chân chánh giác
ngộ sẽ nghĩ như thế nào?
Một ngày, sự thọ dụng
của tôi ngày hôm nay,
tuyệt đối không nghĩ về
ngày mai, nghĩ về ngày
mai thì bạn sẽ có vọng
tưởng, phân biệt, chấp
trước, thì bạn sẽ sai
lầm, chỉ tưởng ngày hôm
nay, chẳng có ngày mai.
Những gì cần dùng hôm
nay còn dư lại đều bố
thí cho người khác, có
phước cùng hưởng với hết
thảy chúng sanh.
Nếu bạn hỏi ngày mai
phải tính sao?
Ngày mai sẽ có nhiều
hơn. Tại sao lại càng
nhiều hơn? Người
này đang trồng phước,
khi trồng phước thì
phước báo sẽ vĩnh viễn
tăng trưởng thêm, nó sẽ
chẳng tiêu mất.
Chúng ta thấy người thế
gian, ở khắp nơi trên
thế giới có thể thấy
những người có tiền cắm
cúi tích trữ, liều mạng
để gia tăng của cải của
mình, đối với sự nghiệp
phước lợi của xã hội,
nhìn thấy người nghèo
khổ một cắc cũng không
chịu cho. Nhưng
trải qua vài năm thì họ
xảy ra sai sót, nhà tan
cửa nát, tài sản của họ
đều tiêu hao mất hết.
Hiện tượng này cổ kim
trung ngoại đều có, chỉ
cần lưu ý một chút thì
thế gian hiện nay ngày
càng rõ ràng. Tại
sao không đem số còn dư
đi tu phước? Ðây
chính là mê hoặc điên
đảo. Chúng ta nói
đến ‘Cát tường’ nhất
định phải hiểu ý nghĩa
này. Tánh đức thì
chúng ta tạm thời không
bàn, trên tu đức biết
mình tu như thế nào, làm
sao tu mới được phước
lợi to lớn, kinh này dạy
cho chúng ta biết.
Phía dưới thứ bảy là:
Ðại Phước Ðức Quang Minh
Vân.
Vầng mây sáng Ðại Phước
Ðức.
Thêm vào ba chữ Quang
Minh Vân đều là xứng
tánh. Phước Ðức là
trợ đạo, trong Bồ Tát
Hạnh từ Bố Thí đến Thiền
Ðịnh đều thuộc về trợ
đạo. Do trợ duyên
của Bố thí, Trì giới,
Nhẫn nhục, Tinh tấn,
Thiền định mới thành tựu
trí huệ vô lậu.
Thí dụ không có năm thứ
đầu, cho dù có trí huệ,
trí huệ này là hữu lậu,
trí huệ hữu lậu trong
Phật pháp gọi là ‘thế
trí biện thông’, chẳng
phải trí huệ Bát Nhã.
Tại sao đức Phật đặc
biệt chú trọng tu phước?
Lúc chúng ta thọ Tam
Quy, ‘Quy y Phật, Nhị
Túc Tôn’, chữ Nhị ở đây
là phước và huệ; Túc là
viên mãn. Sau khi
thành Phật, cả hai phước
đức và trí huệ đều viên
mãn, trong phước đức
chẳng ai sánh bằng cho
nên xưng là tôn quý
nhất. Do đó có thể
biết đức Phật tuyệt
chẳng phản đối người ta
tu phước, mà còn khuyến
khích người ta tu phước,
tại sao vậy? Tu
đạo là một công việc
tương đối chẳng dễ dàng,
nhân duyên chướng đạo
rất nhiều, lúc bạn tu
học chướng ngại cho việc
chứng đạo rất nhiều;
phước đức có thể bảo hộ
chánh pháp, có thể chân
chánh hộ trì bạn.
Chúng ta nói thiên long
quỷ thần hộ pháp đến để
hộ cho pháp của bạn, họ
dựa vào cái gì để hộ
pháp của bạn? [Là
vì] thấy bạn có phước,
có đức, nếu bạn chẳng có
phước đức, không tu
phước đức, mỗi ngày khấu
đầu chắp tay, người ta
chẳng đếm xỉa đến bạn
thì dựa vào gì để hộ
pháp cho bạn! Nếu
bạn chịu tu bố thí,
người ta khâm phục bạn,
tán thán bạn; bạn chịu
trì giới, người ta tôn
kính bạn. Cho nên
chúng ta yêu cầu chư
Phật hộ niệm, long thiên
ủng hộ, chẳng phải mỗi
ngày khấu đầu, mỗi ngày
cầu họ, cấu kết với họ,
nịnh hót họ, không thể
được! Chỉ cần mình
hết lòng y theo lời Phật
dạy mà làm, chẳng cần
phải cầu ngài, chẳng cần
để ý, tự nhiên sẽ được
hộ trì. Tại sao
vậy? Ngài tôn kính
bạn, bạn nổi bật trong
đại chúng, người ta tạo
nghiệp, bạn tu phước, là
đạo lý như vậy, chúng ta
phải hiểu rõ.
Trên hình thức thì chúng
ta làm theo nghi thức,
thật ra đây là làm cho
đại chúng xem, dùng
phương thức này khơi gợi
đại chúng, làm cho những
chúng sanh mê hoặc điên
đảo này giác ngộ, hồi
đầu, thế nên những nghi
thức này nên làm trang
nghiêm, long trọng, đạo
lý là như vậy. Tuy
xã hội đại chúng chẳng
nhìn thấy, nhưng chúng
ta làm nghi thức này
trang nghiêm, long trọng
thì quỷ thần nhìn thấy.
Do đó có thể biết tất cả
hình thức đều là để phổ
độ hết thảy chúng sanh,
đó chỉ là bên ngoài; có
bề ngoài thì phải có nội
dung bên trong, bên
trong là chân tu.
Nội tâm thanh tịnh, bình
đẳng, giác, biểu hiện ở
bên ngoài là lục độ vạn
hạnh, thành tựu phước
báo chân thật rộng lớn.
Phước báo có thể trừ
chướng ngại, có thể giúp
chúng ta khai trí huệ,
ngạn ngữ thế gian thường
nói: ‘Phước chí tâm
linh’, phước báo của
người này đến thì họ vô
cùng thông minh.
Lúc bình thường coi họ
ngu khờ, nhưng khi phước
báo hiện tiền thì họ sẽ
đột nhiên thông minh,
lời này có đạo lý.
Tu định là nguyên nhân
chủ yếu để khai huệ, tu
phước là trợ duyên, giúp
đỡ bạn khai huệ, thế nên
phải phước huệ song tu.
Câu kế là:
Ðại Công
Ðức Quang Minh Vân
Vầng mây
sáng Ðại Công Ðức.
‘Công đức’
khác với phước đức.
Chúng ta thường gọi
Phước đức là Phước báo,
phước báo có thể cùng
hưởng với người khác,
công đức thì không thể.
Công đức là gì?
‘Công’ là sự tu học của
bạn có công phu, khi tu
học có công phu thì bạn
nhất định có thâu hoạch;
chữ ‘đức’ này cùng nghĩa
với chữ ‘được’ (đắc),
bạn nhất định có được
thâu hoạch. Thí dụ
trì giới có công, tu
giới được rất tốt, có
công; thiền định là đức,
nhờ Giới được Ðịnh.
Giữ giới có tốt cách mấy
nhưng không thể đắc
định, công phu cứ thiếu
một chút. Giữ giới
được rất tốt, tại sao
không được định?
Cổ đức nói rất hay, tự
mình tu hành rất tốt,
nói theo cách nói hiện
nay: rất đáng kiêu ngạo,
như vậy là hỏng rồi!
Bạn nghiên cứu kinh
điển, nghiên cứu rất
hay, rất đáng kiêu ngạo;
giảng kinh trên giảng
đài, giảng rất hay, rất
đáng tự hào, một khi vừa
ngạo mạn thì hỏng rồi,
công đức liền mất hết.
Ngạo là gì? Phiền
não, trì giới đến sau
cùng phiền não hiện
tiền. Trong Ðàn
Kinh, Lục Tổ Huệ Năng
đại sư dạy rất hay:
‘Nếu là người chân chánh
tu đạo chẳng nhìn thấy
lỗi người thế gian’,
bạn trì giới phải trì
đến lúc chẳng thấy lỗi
người khác thì sẽ được
Định, bạn trì giới sẽ
biến thành công đức.
Trì giới được Định là
công đức; trì giới chẳng
được Định là phước đức.
Thế nên trì giới có hai
loại, một là công đức,
hai là phước đức.
Nhờ trì giới mà được
Định.
Tu Ðịnh cũng vậy, tu
Ðịnh có thể khai trí huệ
thì Ðịnh này biến thành
công đức, như vậy thì có
công. Tu Ðịnh mà
chẳng thể khai trí huệ,
thì Ðịnh này là thiền
định thế gian, tu được
tốt cách mấy, Tứ Thiền
Bát Ðịnh. Chư vị
phải biết Tứ Thiền Bát
Ðịnh đều chưa khai trí
huệ, không xuất nổi Tam
Giới, chúng ta nhất định
phải hiểu đạo lý này.
Người tu hành rất dễ
khởi Tăng Thượng Mạn, đó
tức là như người hiện
nay nói ‘đáng được kiêu
ngạo’, người ta chẳng
biết tôi, tôi cao hơn
người ta một bậc.
Chỉ cần có tâm niệm này
thì công đức của bạn
hoàn toàn mất hết.
Ðại công đức có thể diệt
tội, có thể diệt ác, có
thể sanh thiện, công đức
có thể diệt ác, sanh
thiện. Nếu tu học
mà Ác còn tăng trưởng,
Thiện chẳng thể sanh,
vậy là hoàn toàn sai
lầm, điều này chúng ta
không thể không biết.
Cương lãnh, nguyên tắc
tu hành của nhà Phật chú
trọng ở ‘tu quán’.
Nhà Thiên Thai nói: ‘Tam
Chỉ Tam Quán’, chúng ta
niệm Phật cũng chẳng
tách lìa nguyên tắc tu
quán. ‘Quán’ là
gì? Quan niệm.
Tu quán tức là sửa đổi
những quan niệm sai lầm
lúc trước của chúng ta
trở lại, đó gọi là tu
quán. Nói chung,
tu học có ba giai đoạn,
trong Tông Môn thường
nói. Thứ nhất là
‘Quán Chiếu’, quán chiếu
là gì? Thường
thường nhắc nhở những
quan niệm giác ngộ, thời
thời khắc khắc nhắc nhở,
đó là quán chiếu.
Công phu quán chiếu đắc
lực rồi, trong Tịnh Ðộ
Tông chúng ta tức là
‘công phu thành phiến’,
có công phu này nhất
định được sanh Tịnh Ðộ.
Tại sao vậy? Niệm
niệm có thể chẳng mê,
niệm niệm đều đề khởi
quán chiếu, trong Tịnh
Ðộ Tông chúng ta tức là
một câu Phật hiệu, khi
tâm địa vừa động niệm,
lục căn tiếp xúc cảnh
giới lục trần, trong tâm
khởi lên một tâm niệm.
Tâm niệm chẳng ra ngoài
thiện - ác, thuận theo ý
tứ của mình thì khởi tâm
tham, chẳng hợp ý tứ
mình thì khởi sân khuể,
sẽ động tâm niệm này,
khi chẳng nghịch chẳng
thuận thì khởi niệm vô
ký, như vậy đều chẳng
tốt. Thế nên khi
lục căn tiếp xúc cảnh
giới lục trần, tánh cảnh
giác rất cao, ý niệm vừa
khởi thì liền ‘A Di Ðà
Phật’, liền chuyển thành
‘A Di Ðà Phật’ lập tức,
trong Tông Môn gọi đó là
công phu quán chiếu.
Cổ đức có nói: ‘chẳng
sợ niệm khởi, chỉ sợ
giác chậm’.
Tâm niệm vừa khởi lên,
không sao hết, phải cảnh
giác cho nhanh, lập tức
đề khởi Phật hiệu, thay
đổi tâm niệm này, đây là
công phu quán chiếu.
Lúc công phu quán chiếu
sâu thì tự nhiên vọng
tưởng, tâm niệm sẽ chẳng
khởi, công phu thật có
thể khống chế, sẽ chẳng
khởi nữa, đây tức là ‘Sự
Nhất Tâm Bất Loạn’,
trong Tông Môn gọi là
‘Chiếu Trụ’, là được
định, thiền định hiện
tiền.
Ðến công phu thượng tầng
là ‘Chiếu Kiến’, chúng
ta đọc Tâm Kinh: ‘Quán
Tự Tại Bồ Tát chiếu kiến
ngũ uẩn giai không’,
chiếu kiến, ‘kiến’ là
trí huệ khai mở, từ định
khai huệ, trong Tịnh
Tông chúng ta tức là ‘Lý
Nhất Tâm Bất Loạn’, tức
là chiếu kiến.
‘Chiếu kiến ngũ uẩn giai
không’, ngũ uẩn giai
không tức là chân tướng
sự thật của vũ trụ nhân
sanh, nhìn thấy hết thảy
pháp trong vũ trụ, chân
tướng là
‘vô sở hữu, bất khả đắc’.
Đức Phật nói hai câu này
trong kinh ‘Ðại Bát Nhã’
lập đi lập lại mấy trăm
lần, thế nên bạn xem sáu
trăm quyển kinh Ðại Bát
Nhã xong, không nhớ
những thứ khác, đều quên
hết nhưng ấn tượng [của
sáu chữ này] rất sâu
đậm! Chỉ cần bạn
nhớ sáu chữ này thì bạn
đã tìm được tinh tủy của
sáu trăm quyển kinh Ðại
Bát Nhã. Thế Tôn
thuyết pháp đích thật có
sự khéo léo (xảo diệu)
của ngài, sẽ làm cho bạn
ghi nhớ những điểm chính
yếu. Tại sao vô sở
hữu, bất khả đắc?
Kinh Kim Cang nói:
‘Phàm những gì có tướng
đều là hư vọng’.
‘Tất cả pháp hữu vi, như
mộng, huyễn, bọt, bóng’.
Phẩm Thập Ðịnh trong
kinh Hoa Nghiêm nói càng
thấu triệt hơn, chân
tướng sự thật là gì?
Sát na tế, đây mới là
chân tướng sự thật.
‘Sát na tế’ tức là chẳng
sanh chẳng diệt, nếu bạn
thật sự thấu triệt, minh
bạch, khế nhập cảnh giới
này, thì xin chúc mừng
bạn, bạn thiệt là tài
giỏi. Tại sao vậy?
Bạn chứng được quả vị Vô
Sanh Pháp Nhẫn, Vô Sanh
Pháp Nhẫn tức là hiểu rõ
sát na tế, hết
thảy pháp chẳng sanh
chẳng diệt, sanh diệt
đồng thời. Kinh
Lăng Nghiêm nói:
‘Ngay nơi
đó hiện ra, cũng từ nơi
đó diệt hết’[8],
tức là ‘sát na tế’, thế
nên mới vô sở hữu,
thế nên mới bất khả
đắc, đây là chân
tướng sự thật. Nếu
bạn tưởng là có sở
hữu, tưởng là có
sở đắc thì đó là
vọng tưởng. Chúng
sanh trong thập pháp
giới, đừng nói lục đạo,
đều chẳng tách lìa vọng
tưởng. Thế mới
biết cửa ải ‘vọng tưởng’
này rất khó phá, phá
được cửa ải vọng tưởng
này thì bạn sẽ vượt
thoát thập pháp giới,
bạn sẽ nhập vào Nhất
Chân pháp giới.
Thế nên công đức nhất
định phải tu, phước đức
cũng phải tu.
Phước đức chú trọng trên
sự tướng, công đức chú
trọng trên tâm địa.
Xem tiếp câu thứ chín:
Ðại Quy Y Quang Minh
Vân. Ðại Tán Thán
Quang Minh Vân.
Vầng mây sáng Ðại Quy Y,
vầng mây sáng Ðại Tán
Thán
Quy y nói ở đây tức là
quay về tự tánh, đó gọi
là ‘Ðại Quy Y’,
Quy y Tam Bảo, nói thật
ra nhà Phật nói quy y
Tam Bảo, lý luận là y cứ
trên câu này.
Trong Tam Bảo, thứ nhất
là Phật Bảo, Phật Bảo là
Tự Tánh Giác, tự tánh
biến trọn khắp pháp
giới, thế nên ở đây dùng
‘Quang Minh Vân’ để hiển
thị. Phàm phu mê
mất tự tánh, chiêu cảm
vô lượng vô biên tai
nạn. Chúng ta dùng
một thí dụ để nói, viên
mãn tánh tướng, tánh tuy
chẳng có tướng nhưng có
thể hiện hết thảy tướng,
những tướng được hiện là
tướng phần của tự tánh,
tánh tướng là một, nhất
định chẳng phải hai.
Chúng ta lấy tự tánh
hiện tướng ví như một
thân thể, như vậy thì
chư vị dễ hiểu; trong
thân thể có một bộ phận
giác ngộ, nhưng có một
bộ phận mê hoặc.
Bộ phận nào đang mê
hoặc? Không nhất
định. Một chỗ nào
trên thân thể sanh ghẻ,
có mủ, loét ra, sưng lên
giống như một bộ phận
chúng sanh đang mê hoặc.
Cánh tay này sanh ghẻ,
lở loét, còn cánh tay
kia mau mau giúp đỡ,
cánh tay kia là Phật, Bồ
Tát, cánh tay này là
chúng sanh, [cả hai] đều
là một thể. Chúng
sanh không biết tận hư
không, trọn khắp pháp
giới đều là chính mình;
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước chính là bịnh
độc, một chỗ trên thân
mình sanh ghẻ, lở loét,
chính mình chịu khổ.
Thế nên chúng sanh thọ
khổ thì Phật thọ khổ;
chúng sanh được vui thì
Phật được vui; đều là
một thể cả.
A Di Ðà Phật là ai?
Tự tánh Di Ðà. Tỳ
Lô Giá Na là ai? Tự tánh
Tỳ Lô Giá Na, chẳng phải
ai khác, đều là chính
mình. Ai biết
được? Thế nên nói
thật cho bạn biết, bạn
sợ quá chừng, đều không
tin, còn hủy báng Phật,
còn tạo tội nghiệp nặng
hơn. Thế nên có
rất nhiều lời chân thật
đức Phật chẳng nói, nói
ra bạn sẽ sợ, bạn sẽ
chẳng tin, không thể
tiếp nhận. Nếu
chúng ta quả nhiên tỉnh
ngộ, hư không pháp giới
đều là chính mình, lòng
đại từ đại bi của bạn
đối với bất cứ người
nào, bất cứ chuyện gì,
bất cứ vật gì đều thương
mến, lòng thương ấy,
lòng quan tâm chăm sóc
ấy, lòng giúp đỡ ấy tự
nhiên sẽ sanh lên, còn
phân chia ta - người nữa
sao! Bạn cung kính
tôi, tán thán tôi, tôi
thương mến bạn, giúp đỡ
bạn; bạn hủy báng tôi,
chà đạp tôi, sĩ nhục
tôi, tôi vẫn thương mến
bạn, vẫn giúp đỡ bạn.
Tại sao vậy? Bạn
mê, tôi chẳng mê.
Người chẳng mê thì biết
là một thể, người mê thì
chia ra thành tôi, chia
ra thành họ, cũng giống
như trên thân thể bị
bịnh, bị ghẻ vậy, những
tế bào này mê hoặc điên
đảo, chẳng thể điều hòa
cùng với cả thân thể,
chẳng hòa với mọi người;
hòa thì khỏe mạnh, không
hòa thì sẽ sanh bịnh.
Chư Phật Như Lai tán
thán đức Phật Thích Ca
Mâu Ni xuất hiện trong
Ngũ Trược Ác thế, dạy dỗ
chúng sanh ương ngạnh,
khó dạy, ý nghĩa của câu
này vô cùng sâu
rộng! Nhóm chúng
sanh ương ngạnh, khó dạy
này cũng giống như một
bộ phận trên thân thể bị
sưng mủ vậy, cùng với
mọi người chẳng hòa, họ
ở đây phân chia ta và
người, chính họ đang
chịu khổ chịu nạn, đọa
địa ngục, biến thành ngạ
quỷ, phải chịu những tội
khổ này. Vốn là
chẳng có, vốn là chẳng
đáng có, họ nhất định
phải tạo tác, nhất định
phải thọ chịu, đâu có
cách chi nữa!
Chẳng có biện pháp.
Những gì Phật có thể
giúp đỡ là dạy dỗ, giảng
dạy, nói rõ chân tướng
sự thật, chúng ta tự
mình phải giác ngộ, nhất
định phải quay về, quay
lại là bến bờ.
‘Quy’ chính là quay về,
‘Y’ chính là nương tựa,
phải nương tựa tánh đức,
ở đây dùng ‘Quang Minh
Vân’ để tượng trưng,
trong kinh Hoa Nghiêm
dùng ‘Ðại Phương Quảng’
để tượng trưng.
Ðại Phương Quảng trong
kinh Hoa Nghiêm chính là
Quang Minh Vân nói trong
kinh này. Chư vị
phải hiểu đoạn này, mười
câu này, Quang Minh Vân
này hàm nhiếp toàn bộ
kinh Hoa Nghiêm, kinh
Hoa Nghiêm hàm nhiếp
toàn bộ Phật pháp.
Vô lượng vô biên pháp
môn do mười phương ba
đời hết thảy tất cả chư
Phật giảng đều bao hàm
trong mười thứ Quang
Minh Vân này, một pháp
cũng chẳng sót, chúng ta
phải thể hội ý nghĩa
này.
Quy y Pháp, Pháp là Tự
Tánh Chánh, Tự Tánh
Chánh là gì? Tự
tánh vốn có sẵn trí huệ
Bát Nhã. Tự Tánh
Giác là ‘Căn Bản Trí’,
Tự Tánh Chánh là ‘Hậu
Ðắc Trí’, chúng ta gọi
là ‘Quyền Trí’.
Khi xử sự, đãi người,
tiếp vật chúng ta phải
từ chỗ này cảm nhận, khế
nhập, sau đó thực hiện
trong đời sống, công
việc, trong khi xử sự,
đãi người, tiếp vật,
chúng ta sẽ khế nhập
cảnh giới Phật.
Nhập cảnh giới Phật thì
tự nhiên sẽ siêu việt
thập pháp giới, lục đạo
luân hổi thì khỏi nói vì
đã siêu việt thập pháp
giới rồi. Chúng ta
khởi tâm động niệm,
những gì mình làm, mình
tạo cùng Pháp Thân đại
sĩ chẳng hai chẳng khác,
chúng ta tuy chưa chứng
Pháp Thân nhưng cùng
Pháp Thân đại sĩ thực sự
giống nhau, đây chính là
‘đại tâm phàm phu’ nói
trong kinh Hoa Nghiêm.
Ðại tâm phàm phu niệm
Phật vãng sanh, nói cho
chư vị biết, nhất định
sẽ sanh Thật Báo Trang
Nghiêm Ðộ, bốn cõi, ba
bậc, chín phẩm chúng ta
đều có phần. Thiện
Ðạo đại sư dạy rất hay,
cổ đức trước thời Thiện
Ðạo đại sư thường nói
bốn phẩm thượng: Thượng
Thượng phẩm, Thượng
Trung phẩm, Thượng Hạ
phẩm, Trung Thượng phẩm,
họ nói bốn phẩm thượng
này đều là Bồ Tát vãng
sanh, phàm phu không có
phần. Thiện Ðạo
đại sư là A Di Ðà Phật
tái lai, ngài dạy chúng
ta:
‘Chín phẩm vãng sanh đều ở
tại duyên, gặp duyên
chẳng giống nhau’,
lời này nói rất hay!
Chúng ta là phàm phu,
gặp duyên thù thắng thì
chúng ta sẽ sanh phẩm
Thượng Thượng, Bồ Tát
nếu chẳng gặp duyên này
thì họ vãng sanh có thể
chỉ được phẩm Trung Hạ,
là do gặp duyên chẳng
đồng, chẳng phải do
chuyện khác. Như
vậy mới là pháp bình
đẳng, phù hợp với giáo
nghĩa của đề kinh:
‘Thanh Tịnh, Bình Ðẳng,
Giác’, thế nên chúng ta
đọc kinh, nghiên giáo sẽ
không uổng phí.
Hiện nay thời gian của
tôi hơi ít một chút,
phải giảng bốn bộ kinh
cùng lúc, ở đây ba bộ,
tại Hương Cảng giảng Tứ
Thập Hoa Nghiêm.
Tôi nói tuy lạc thực
(biến thành
hiện thực)
trong đời sống hiện tại,
nhưng tôi coi những chú
sớ của cổ đại đức, tôi
coi rất hết lòng, tôi sẽ
không nhất định nói theo
họ, nhưng những gì tôi
giảng nhất định khế hợp
với ý tứ của họ.
Nếu giảng theo chú sớ
của người xưa, người
hiện nay nghe không
hiểu, chẳng thể tiếp
nhận, cũng làm chẳng
nổi. Chúng ta phải
chân chánh hiểu nghĩa
kinh, sách của người xưa
có thể cung cấp cho
chúng ta tham khảo, coi
họ nói như thế nào.
Sau đó coi hiện nay là
thế giới như thế nào,
chúng sanh hiện nay có
căn cơ gì, bịnh của họ ở
tại đâu? Họ cần
những gì? Chúng ta
có được sự khải thị của
kinh điển, chú sớ của cổ
đại đức, suy cũ ra mới,
chúng ta giúp đỡ chúng
sanh khổ nạn hiện nay.
Ngày nay giải quyết vấn
đề xã hội, giải quyết vô
lượng vô biên tai nạn do
người tạo ra cũng vậy,
tai nạn tự nhiên cũng
vậy, đều phải làm một sự
chuyển biến to lớn từ
trong tâm, đó là nhất
định phải thương yêu
người đời, mở rộng tâm
thương yêu mình để
thương yêu hết thảy
chúng sanh, được vậy thì
hết thảy tai nạn đều
tiêu trừ. Chỉ biết
mình, chẳng biết người
khác, thậm chí làm những
chuyện tổn người lợi
mình, đây là lời người
thế gian nói, người mê
hoặc điên đảo nói.
Người chân chánh minh
bạch nhìn thấy cái gì?
Tổn hại người nhất định
sẽ chẳng lợi mình,
chuyện tổn hại người sẽ
tổn hại mình, chư vị
phải biết như vậy.
Cái gì mới thực sự là
lợi mình? Lợi
người mới thật sự là lợi
mình, lợi ích xã hội mới
thực sự lợi ích gia tộc
của bạn. Người thế
gian mê hoặc điên đảo
chẳng biết đạo lý này,
chẳng biết chân tướng sự
thật, tại sao vậy?
Vì cả xã hội, cả thế
giới là những tế bào
trong thân thể của mình,
chỉ lo cho bộ phận này,
không lo cho bộ phận kia
thì bộ phận kia sẽ sanh
bịnh. Bạn phải lo
cho hết thảy, ăn uống,
nơi chốn, cư trú, hấp
thụ dinh dưỡng, mỗi bộ
phận trong thân thể đều
phải đạt đến. Cung
cấp thức ăn không đồng
đều thì sẽ sanh bịnh, có
bộ phận hấp thụ dinh
dưỡng rồi, còn bộ phận
khác thiếu thì tứ đại sẽ
chẳng điều hòa.
Dùng thí dụ này để nói
cả thế giới cũng vậy,
chỉ lo cho quốc gia của
mình, chẳng màng đến
quốc gia khác, kết quả
khi quốc gia khác bị
nạn, chúng ta cũng chịu
liên lụy. Hiện nay
mọi người từ từ thấy
được sự thật này, nhưng
vẫn chưa biết quay về,
chưa biết nguyên nhân
căn bản ở chỗ nào!
Thế nên Phật pháp trước
tiên mở rộng tâm lượng
của chúng ta, ‘tâm
bao trùm hư không, lượng
gồm thâu các cõi nhiều
như cát’
, như vậy
mới thật sự ‘quy y
Chánh’; tự tánh vốn sẵn
có chánh tri chánh kiến,
y cứ cho hết thảy xử sự,
đãi người, tiếp vật
trong đời sống.
Thứ ba là ‘Quy Y Tăng’,
‘Tăng’ có nghĩa là Tịnh.
Nói theo cách hiện nay
là xã đoàn, đoàn thể.
Phật pháp xưng bốn người
là ‘chúng’, dùng cách
nói hiện nay tức là một
đoàn thể nhỏ. Bốn
người trở lên cùng chung
sanh hoạt, làm việc, thì
đây là một đoàn thể nhỏ.
Người trong đoàn thể này
đều tu Lục Hòa Kính thì
được gọi là Tăng Ðoàn,
gọi là Tăng Chúng.
Ai cũng tu Lục Hòa Kính,
ai cũng có tâm địa thanh
tịnh viên mãn, đây là
Tăng Ðoàn đáng được
người tôn kính trong hết
thảy đoàn thể ở cõi
trời, cõi người.
Tại sao vậy? Họ
hòa hợp, hòa mục, người
Trung Quốc thời xưa cũng
nói ‘Hòa vi quý’,
Luận Ngữ nói: ‘Lễ chi
dụng, hòa vi quý’,
Hòa là tôn quý nhất,
‘Chúng trung tôn’, tôn
nghĩa là đáng được người
ta tôn kính, là một đoàn
thể rất tôn quý.
Ðoàn thể này càng lớn,
số người càng nhiều, ý
kiến bất hòa thì chẳng
là Tăng Ðoàn, chẳng là
đoàn thể được mọi người
tôn kính. Ý kiến
từ đâu tới? Ý kiến
đều là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, chư vị
nghĩ thử coi đúng không?
Chẳng phải chân thật,
trong tự tánh vốn chẳng
có vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước.
Ý nghĩa của mười câu này
rất sâu, bắt đầu bằng
‘Ðại Viên Mãn’, kết thúc
bằng ‘Ðại Tán Thán’,
đúng là viên mãn đến
cùng cực. Tám câu
ở giữa thì ‘Từ Bi’ là
chỗ chúng ta phát tâm
nương tựa, ‘Trí Huệ’ là
chỗ y chiếu cho chúng ta
tu hành, ‘Bát Nhã’ phá
hết thảy mê hoặc điên
đảo, ‘Tam Muội’ trừ hết
thảy chướng ngại, ‘Cát
Tường’ là đức đáng được,
‘Phước Ðức’ là đức trợ
đạo, ‘Công Ðức’ là diệt
ác sanh thiện, ‘Tam Bảo’
là chỗ quy y chân thật,
đây là đại cương của
tánh đức viên mãn, sau
cùng tổng kết bằng ‘Tán
Thán’. Ai tán
thán? Những người
đối với Sự Lý này chẳng
hiểu, chẳng rõ ràng, thì
làm sao tán thán nổi!
Có năng lực tán thán, có
tư cách tán thán là chư
Phật Như Lai, các ngài
hiểu rõ triệt để, thế
nên chư Phật Như Lai tán
thán thành tựu của bạn,
tán thán bạn đã thực sự
quay về. Ở đây
chúng ta nhất định phải
biết chúng sanh và Phật
vốn chẳng hai, thế nên
chư Phật Như Lai lễ kính
chúng sanh, chỉ có chúng
sanh coi thường Phật, Bồ
Tát, chẳng kính trọng.
Hủy báng Phật, Bồ Tát,
chẳng tin Phật, Bồ Tát,
vu khống Phật, Bồ Tát,
[nhưng] Phật, Bồ Tát
tuyệt chẳng vì vậy mà xa
lìa chúng sanh, sẽ vĩnh
viễn ở nơi đó quan hoài,
vĩnh viễn thương mến.
Phật chẳng xa lìa chúng
sanh, chúng sanh quay
lưng xa lìa Phật, Bồ
Tát, đây là chân tướng
sự thật. Ngày nay
chúng ta học Phật, phải
học Phật, Bồ Tát, phải
học cách dụng tâm, học
cách hành trì của Phật,
Bồ Tát, chẳng thể học
theo chúng sanh, nếu học
chúng sanh thì chúng ta
cũng sẽ luân hồi lục
đạo, đã luân hồi vô
lượng kiếp rồi, khổ
chẳng thể tả, vẫn còn
muốn tiếp tục nữa sao?
Trước kia chẳng gặp kinh
Ðại Thừa là chướng nạn,
chẳng có duyên để giác
ngộ, chẳng có duyên để
quay về. Ngày nay
gặp được, đích thật là
nhân duyên hiếm hoi từ
vô lượng kiếp. Ðã
gặp rồi thì phải quý
tiếc, phải từ đó quay
về, chẳng tiếp tục tạo
nghiệp luân hồi nữa,
buông xuống hết thảy
thân tâm thế giới, y
giáo phụng hành, thật
thà niệm Phật, như vậy
mới tốt. Ðoạn phía
dưới:
Phóng như thị đẳng bất
khả thuyết quang minh
vân dĩ.
Phóng ra những vầng mây
sáng chẳng thể nghĩ bàn
như vậy xong.
Câu này là tổng kết.
Ðoạn trước Thế Tôn phóng
quang, hiển thị Lý Thể
sở chứng của mình, tức
là hiển thị tánh đức
viên mãn; Phật có, chúng
sanh cũng có.
Phóng quang hiện tướng
lành, nói thực ra chỉ có
Pháp Thân Ðại Sĩ mới
hiểu rõ, vừa nhìn thấy
pháp luân viên mãn do
Thế Tôn, mười phương hết
thảy chư Phật Như Lai
nói xong, liền tức khắc
tiếp nhận viên mãn,
[chuyện này chỉ có] Pháp
Thân đại sĩ mới làm
được! Thập pháp
giới chúng sanh nhìn
thấy, cảm thấy hy hữu,
hoan hỷ tán thán, nhưng
chẳng biết ất giáp gì
cả, chẳng biết rốt cuộc
là có ý nghĩa gì?
Họ đều chẳng hiểu, vậy
thì phải làm sao?
Ngài thuyết pháp, không
nói thì chúng ta làm sao
hiểu! Thế nên:
Hựu xuất chủng chủng vi
diệu chi âm.
Lại phát ra những âm
thanh vi diệu.
Do đó có thể biết phóng
quang hiện tướng lành độ
người thượng thượng căn,
phát âm thanh vi diệu là
để độ người trung hạ
căn. Người trung
hạ căn nhìn thấy hào
quang chẳng hiểu được
hàm ý trong đó, nhất
định phải yêu cầu đức
Phật thuyết pháp.
Chỗ này nói:
‘Phát ra những âm thanh
vi diệu’, chư vị
phải ghi nhớ, đây là nói
với chúng sanh trong thế
giới Sa Bà, thế giới
chúng ta đúng như lời
của Văn Thù Bồ Tát:
‘Chân giáo
thể của chỗ đó, thanh
tịnh ở tại âm thanh và
lắng nghe’
[9].
Trong hội kinh Lăng
Nghiêm, Thế Tôn để Văn
Thù Bồ Tát tuyển chọn
pháp Viên Thông cho
chúng ta, tức là tuyển
chọn pháp môn nào thích
hợp nhất cho căn tánh
của chúng sanh ở thế
gian này. Văn Thù
Bồ Tát tuyển chọn
‘Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ
Căn Viên Thông Chương’,
nói rõ chúng sanh thế
giới Sa Bà nhĩ căn (căn
tai) lanh lợi nhất.
Bạn cho họ coi, đọc
kinh, bạn cho họ coi
kinh chẳng dễ khai ngộ,
bạn kêu họ nghe kinh thì
dễ khai ngộ hơn, công
đức của nhĩ căn mạnh hơn
nhãn căn. Thế
nhưng căn tánh của chúng
sanh ở khắp nơi trong
mười phương thế giới
chẳng giống nhau, giống
trong kinh nói người
nước Hương Tích thì nhĩ
căn chẳng tốt, bạn để họ
coi, họ chẳng khai ngộ,
nghe thì họ cũng chẳng
hiểu; mời họ ăn cơm, vừa
ăn thì họ liền khai ngộ,
chuyện này tuyệt diệu,
thế nên họ dùng cơm thơm
tho (hương phạn) để làm
Phật sự. Tại sao
vậy? Thiệt căn
(căn nếm mùi vị) lanh
lợi. Thế nên hết
thảy chúng sanh, căn
tánh nào lanh lợi chẳng
nhất định. Nếu Thế
Tôn giảng kinh Ðịa Tạng
ở nước Hương Quốc, đoạn
sau này nhất định sẽ
‘lại dùng các thứ cơm vi
diệu thơm tho’, phải
vậy chăng? Chính
là sự việc như vậy.
Sẽ chẳng
‘phát ra những âm thanh vi
diệu’, đây là chuyên
dùng để nói với chúng ta
ở thế gian này, thế nên
chỗ này phải hiểu, Phật
thuyết pháp nhất định
phải khế lý, khế cơ.
Phía trước phóng Quang
Minh Vân là khế lý, chỗ
này là nói khế cơ, đều
đáng để chúng ta dụng
tâm học tập. Phật
phóng quang, chúng ta
cũng phải phóng quang,
chúng ta chẳng thể rõ
ràng như Phật, chúng ta
phải phóng quang như thế
nào? Tâm địa của
bạn có từ bi chân thật
thì tự nhiên sẽ hiển lộ
tướng từ bi quang, người
ta vừa nhìn thấy bạn
[liền cảm thấy] ‘người
này rất từ bi’; tâm địa
rất thanh tịnh thì [họ
cảm thấy] ‘người này rất
thanh tịnh’, đó là phóng
quang. Trong tâm
bạn thật sự chứa đựng
những gì trong kinh nói
thì tự nhiên sẽ từ mặt,
từ thân thể bạn phóng
quang, không những phóng
quang mà còn phát hương
thơm nữa, ‘hương quang
trang nghiêm’.
Hương vị của phàm phu
rất khó ngửi, tâm địa
của người tu hành thanh
tịnh quang minh, hương
vị trên thân của họ rất
thơm, chúng ta rất ít
thấy.
Trước kia tôi ở Hương
Cảng nghe các bạn đồng
tu nói, nghe nói Lão hòa
thượng Hư Vân một năm
tắm một lần, cạo đầu một
lần. Y phục mùa
đông hay mùa hè cũng chỉ
có một bộ, hờm
(ghét)
trên cổ áo đóng rất dày
nhưng lại có mùi thơm,
chẳng khó ngửi, đây là
lời một số đồng tu ở
Hương Cảng nói với tôi.
Ðó là mùi hương gì?
Chúng ta thường gọi là
Ngũ Phần Giới Hương,
‘Ngũ Phần Pháp Thân
Hương’ là: ‘Giới, Ðịnh,
Huệ, Giải Thoát, Giải
Thoát Tri Kiến’.
Chúng ta xét từ điểm này
thì ý tứ liền rất viên
mãn, chân thành, thanh
tịnh, từ bi. Có
thể thấy tánh đức tỏ lộ,
chẳng có chỗ nào chẳng
đến, không những thân
phóng quang, toát hương
thơm, ngay cả hoàn cảnh
chỗ ngài cư trú cũng
toát hương thơm, hiện
nay một số người chúng
ta gọi là từ trường
chẳng đồng. Hoàn
cảnh chỗ ngài cư trú khi
chúng ta đi vào sẽ cảm
thấy rất thư thái, cảm
thấy rất tự tại, đó là
vì hoàn cảnh chỗ ngài cư
trú có quang minh, tuy
mắt thịt chúng ta chẳng
thấy được làn sóng quang
minh của ngài nhưng
chúng ta có thể cảm nhận
được. Ðoạn này là
nói về âm thanh thuyết
pháp. Xin coi kinh
văn:
Sở vị: Ðàn
Ba La Mật âm, Thi Ba La
Mật âm, Sằn Ðề Ba La Mật
âm, Tỳ Ly Da Ba La Mật
âm, Thiền Ba La Mật âm,
Bát Nhã Ba La Mật âm.[10]
Như là tiếng Ðàn Ba La
Mật, tiếng Thi Ba La
Mật, tiếng Sằn Ðề Ba La
Mật, tiếng Tỳ Ly Da Ba
La Mật, tiếng Thiền Ba
La Mật, tiếng Bát Nhã Ba
La Mật.
Chúng ta
nói trước sáu câu này,
sáu câu này nói về Lục
Ðộ. Thứ nhất ‘Ðàn
Na’ là tiếng Phạn, dịch
nghĩa là ‘Bố Thí’.
Chư Phật, Bồ Tát, nói
thật ra tức là Pháp
Thân. Pháp Thân là
gì? Họ khẳng định
tận hư không, trọn khắp
pháp giới đều là chính
mình. Họ nhất định
chẳng cho rằng thân này
là mình, tận hư không
trọn khắp pháp giới mới
là chính mình, thế nên
họ chứng được vô lượng
thọ. Hư không pháp
giới chẳng diệt, thân
này của chúng ta có sanh
diệt, ví giống như cái
gì? Tế bào trong
thân chúng ta, tế bào có
lớp mới thay lớp cũ, có
sanh diệt. Nhưng
thân này phải trụ mấy
mươi năm, thời gian của
tế bào rất ngắn. Y
Học hiện đại nói thân
thể người ta cứ bảy năm
là một chu kỳ, hết thảy
tế bào có một lần thay
đổi. Thế nên trước
bảy năm những tế bào cũ
đã mất đi, những tế bào
hiện nay đều là mới hết,
vĩnh viễn lớp mới thay
lớp cũ. Tre già
măng mọc, tại sao chúng
ta chẳng đổi một cái
mới, đổi cái tốt, mới
hoàn toàn? Thí dụ
một cái máy, linh kiện
(bộ phận)
trong máy hư rồi, tìm một
linh kiện tương tợ như
cái này rồi gắn vào thì
cũng có thể dùng được,
đó là đồ cũ chẳng phải
mới. Tại sao không
lựa một linh kiện mới
hoàn toàn gắn vô, thế
thì thân thể này của bạn
vĩnh viễn khoẻ mạnh,
sống lâu, người một trăm
tuổi còn giống như người
trẻ tuổi vậy, tại sao?
Bạn thay tế bào này bằng
tế bào mới, thanh tịnh,
chẳng ô nhiễm.
Nhưng khi chúng ta thay
đổi đều đổi tế bào ô
nhiễm. Ô nhiễm như
thế nào? Vọng
tưởng, phân biệt, chấp
trước của bạn đã ô
nhiễm, những gì đổi được
đều chẳng tốt đẹp!
Bạn xem con nít cũng
vậy, con nít bảy tuổi,
mười tuổi, đã đổi hai
chu kỳ rồi, tại sao vẫn
còn tốt như vậy?
Vọng tưởng ít, vọng
niệm ít. Nếu nói
một câu khó nghe thì tâm
niệm hại người, hại mình
ít, thế nên những tế bào
họ đổi vẫn còn mới.
Tuổi càng lớn thì tâm
niệm hại người hại mình
càng nhiều, càng mạnh,
càng đổi thì càng tệ, là
đạo lý như vậy.
Chúng ta nhìn xem thế
giới của Phật, tây
phương Cực Lạc thế giới
cũng vậy, tại sao thể
chất của người ta vĩnh
viễn không thay đổi?
Hình như ngưng tụ tại
nơi ấy, trên thực tế có
phải là ngưng tụ không?
Không phải, hay là đời
đời chẳng trụ. Tức
là trong sự thay cũ đổi
mới của họ hoàn toàn
chẳng có vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước.
Nghĩa là linh kiện mới
vừa đổi này là hoàn toàn
mới, vĩnh viễn sẽ mới
hoài. Trong máy
này thay mười lần, thay
hai mươi lần đều là thay
đồ mới, là đạo lý như
vậy. Sự thiệt thòi
của chúng ta ở tại đâu?
Tự mình hại mình, tự tư
tự lợi, chuyện này chẳng
phải là ‘tự lợi’ mà là
‘tự tư tự hại’, danh từ
dùng sai rồi, đâu có
chuyện tự lợi? Là
tự hại. Lợi tha
mới là tự lợi, ai biết
việc lợi tha?
Phật, Bồ Tát biết lợi
tha, người giác ngộ biết
lợi tha. Người mê
hoặc điên đảo chỉ biết
tự lợi, tự lợi là tự
hại, chẳng phải là tự
lợi.. Nói đến lợi
không đúng. Chẳng
nói gì khác, chỉ nói về
tình trạng sức khỏe thì
bạn sẽ hiểu, tự mình hại
chính mình. Tại
sao tế bào thay cũ đổi
mới này chẳng thể đổi
thành mới hoàn toàn,
chẳng thể đổi thành khoẻ
mạnh? Phải biết
tham, sân, si, mạn là
độc tố bịnh hoạn nặng
nhất, trong tâm của bạn
có tham, sân, si, mạn
thì đổi tế bào đều là tế
bào bị bịnh, đều mang
độc tố bịnh hoạn nghiêm
trọng, bạn không có lợi
gì hết! Dù con nít
cũng có tâm tham, sân,
si, mạn, nhưng rất yếu
ớt, chẳng mạnh, những
độc tố trong các tế bào
thay đổi của nó rất ít,
người lớn tuổi mang theo
độc tố bịnh hoạn rất
nhiều. Nếu chúng
ta chẳng thâm nhập kinh
tạng, chẳng hiểu đạo lý
Ðại Thừa, chúng ta làm
sao biết nổi những chân
tướng sự thật này!
Khoa học gia tìm tòi đến
ngày nay vẫn chưa phát
hiện ra, cũng chẳng tìm
hiểu. Thế nên vừa
mở đầu thì dùng Sáu Ba
La Mật để trước mặt, hết
thảy chư Phật, Bồ Tát
giảng kinh thuyết pháp
cho chúng sanh, dạy
chúng sanh tu hành chứng
quả đều chẳng ra ngoài
sáu cương lãnh này.
Bố Thí gồm
có ‘Bố Thí tài vật, bố
thí pháp, bố thí vô úy’,
khi Thế Tôn giảng kinh,
thuyết pháp cho hết thảy
chúng sanh thì cả ba thứ
bố thí này đều trọn đủ.
Giảng kinh thuyết pháp
có ‘bố thí tài vật’, tài
vật gì? Nội tài,
nội tài là trí huệ, thể
lực, đây là bố thí nội
tài. Những gì nói
ra là quan niệm và
phương pháp, đây là
‘pháp bố thí’.
Chúng sanh được pháp
này, hiểu rõ pháp này,
có thể lìa khỏi hết thảy
âu lo, buồn rầu, khổ
não, biết được con đường
thoát ly luân hồi, đây
là ‘vô úy bố thí’.
Chư Phật, Bồ Tát làm ba
thứ bố thí này.
Bản thân các ngài trì
giới, ‘Trì giới’ tức là
đúng như pháp, đời sống
của ngài có quy củ, ngài
thuyết pháp có lý luận,
có thứ tự, chẳng có gì
không đúng như pháp, như
pháp chính là trì giới.
‘Nhẫn nhục’ là có tâm
nhẫn nại, sanh nhẫn,
pháp nhẫn, hết thảy
chúng sanh chống lại,
Phật, Bồ Tát có thể
nhẫn, chẳng nề hà, chẳng
giữ trong tâm.
Ngày nay chúng ta nói
những tai biến tự nhiên
này cũng có thể nhẫn.
Tu học Phật pháp cần
phải có thời gian rất
dài, phần cuối kinh Hoa
Nghiêm có đoạn Thiện Tài
đồng tử năm mươi ba lần
tham vấn, tham học cũng
rất cực nhọc, chẳng có
một việc gì không thể
nhẫn. Nói cách
khác, ngài có tâm nhẫn
nại rất lớn nên ngài có
thành tựu to lớn.
Thành tựu lớn nhỏ, nói
thật ra là hoàn toàn tỷ
lệ thuận theo tâm nhẫn
nại, bạn có tâm nhẫn nại
bao lớn thì bạn sẽ có
thành tựu lớn bấy nhiêu,
nếu bạn chẳng có tâm
nhẫn nại thì thành tựu
của bạn sẽ chẳng thể
tiến triển thêm.
Thế nên Nhẫn nhục xong
thì mới có Tinh tấn.
‘Tỳ Ly Da’
là ‘Tinh tấn’. Tấn
là tiến bộ, tinh là tinh
thuần; ‘Tinh’ hoàn toàn
là nói về vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước;
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước ngày càng ít,
đây là ‘tinh’. Trí
huệ, đức năng ngày càng
sáng tỏ, càng nhiều, đây
là tiến bộ. ‘Thiền
định’ là trong tâm có
chủ tể, chẳng bị lay
động bởi hết thảy.
Hiện nay đồng tu học
Phật, chúng ta được Phật
pháp thực sự chẳng dễ,
pháp môn vô thượng hy
hữu, đắc lực ở chỗ Tổ Tổ
truyền thừa, chúng ta
gặp được thiện tri thức
mới biết được, mới hiểu
được. Chẳng gặp
chân thiện tri thức thì
pháp môn này bày trước
mặt bạn, bạn chẳng biết
quý, gặp rồi mà bỏ lỡ,
bạn nói như vậy đáng
tiếc biết bao.
Trong hết thảy pháp môn,
pháp môn Tịnh Ðộ thù
thắng bậc nhất, có bao
nhiêu người biết được?
Bao nhiêu người có thể
hiểu rõ triệt để?
Chỉ có hiểu rõ thật sự
thì mới có thể sanh khởi
lòng tin, cứu độ chúng
sanh thời Mạt pháp.
Thời Mạt pháp còn chín
ngàn năm, phương pháp gì
có thể độ những chúng
sanh khổ nạn này?
Chỉ có pháp môn Niệm
Phật, pháp môn Niệm Phật
y cứ vào kinh thứ nhất
là kinh Vô Lượng Thọ.
Kinh Vô
Lượng Thọ được dịch tổng
cộng mười hai lần tại
Trung Quốc, có mười hai
bản dịch gốc. Lúc
Thế Tôn còn tại thế đã
giảng nhiều lần nên
nguyên văn có rất nhiều
bản khác nhau.
Chúng ta phải coi hết
những bản kinh này mới
có thể nhận thức Tây
phương Cực Lạc thế giới
rõ ràng, mới có thể kiên
định tín nguyện, việc
này rất quan trọng!
Nhưng muốn gộp chung
những bản dịch gốc này
lại để xem thì thời đại
hiện nay chẳng dễ, huống
gì là thời xưa!
Thế nên việc hội tập rất
cần thiết. Người
hội tập lần đầu tiên là
cư sĩ Vương Long Thư, là
một vị tại gia, bản hội
tập của ngài được ghi
vào Ðại Tạng Kinh.
Chư vị phải biết những
tác giả, tác phẩm có thể
ghi vào Ðại Tạng đều
được sự thừa nhận của
bốn chúng đệ tử trong
Phật môn, khẳng định
chẳng có sai lầm mới
được ghi vào Ðại Tạng.
Chẳng phải những trứ tác
thông thường đều có thể
ghi vào Ðại Tạng Kinh,
phải được sự tiến cử của
cao tăng đại đức đương
thời, gởi cho nhà vua
coi, hoàng đế phê chuẩn
xong mới có thể ghi vào
Tạng kinh, chứng minh
trứ tác này chẳng có sai
lầm.
Tổ Liên Trì
của Tịnh Ðộ Tông chú
giải Di Ðà Kinh Sớ Sao,
những đoạn trích dẫn
kinh Vô Lượng Thọ có hai
phần ba là dùng bản ‘Ðại
A Di Ðà Kinh’ của Long
Thư cư sĩ, tức là bản
hội tập kinh Vô Lượng
Thọ, như vậy là Liên Trì
đại sư thừa nhận và
khẳng định. Bồ Tát
Long Thư tự mình đích
thật niệm Phật đứng mà
vãng sanh, nếu ngài hội
tập chẳng đúng, tạo tội
lỗi thì ngài làm sao có
thể đứng vãng sanh?
Việc này nói rõ công đức
của ngài vô lượng vô
biên. Nhưng bản
hội tập của cư sĩ Long
Thư chỉ bao gồm bốn bản
dịch gốc. Hội kinh
Vô Lượng Thọ trong kinh
Ðại Bảo Tích đời Ðường,
cư sĩ Long Thư chẳng xem
qua nên bản hội tập của
ngài cũng chưa viên mãn.
Nhiều người trong các
đời sau chú ý đến vấn đề
này, Bành Tế Thanh đầu
đời Thanh đã làm một bản
tiết hiệu[11],
chẳng phải hội tập.
Năm Hàm Phong, cư sĩ
Ngụy Nguyên hội tập
thành một bản nhưng
những chỗ lấy - bỏ đều
chẳng thích hợp, Ấn
Quang đại sư có lời phê
bình bản này. Thế
nên đến những năm đầu
Dân Quốc, cư sĩ Hạ Liên
Cư phải làm một bản hội
tập viên mãn nhất.
Hạ lão cư sĩ là người
tái lai, chẳng phải
người thường. Có
người nói với tôi từ bức
ảnh của ngài nhìn thấy
thân thể ngài trong
suốt, [việc này] nói cho
tôi biết ngài chẳng phải
người thường, là người
tái lai, là Phật, Bồ Tát
tái lai, đến để cứu độ
chúng sanh thời Mạt
pháp.
Tương lai
kinh điển Tịnh Tông đến
thời Phật pháp diệt tận,
kinh Vô Lượng Thọ còn
được lưu lại trên thế
gian một trăm năm.
Những đại đức đương thời
như lão pháp sư Huệ
Minh, lão pháp sư Từ
Châu bên Luật Tông, lão
cư sĩ Mai Quang Hy đều
khẳng định tương lai bản
kinh cuối cùng được lưu
truyền một trăm năm
chính là bản hội tập
này. Bản này là
bản hội tập những bản in
gốc của kinh Vô Lượng
Thọ hợp thành, nếu chư
vị không tin thì có thể
lấy năm bản dịch gốc ra
đối chiếu, đừng hủy báng
nữa, đừng kỳ thị nữa,
tạo nên tội nghiệp vô
lượng vô biên. Nếu
bạn nói lão cư sĩ Hạ
Liên Cư là một cư sĩ, cư
sĩ chẳng có khả năng để
hội tập, thế thì bạn hãy
xuất gia, bạn hãy hội
tập xem. Vương
Long Thư là cư sĩ, Ngụy
Mặc Thâm cũng là cư sĩ,
những công tác hội tập
từ đời Tống đến Dân Quốc
đều do cư sĩ tại gia
làm, Liên Trì đại sư là
Tổ sư, là người xuất
gia, đã khẳng định, thừa
nhận. [Những lời
hủy báng bản hội tập
này] đều là thiên kiến
của cá nhân, thật rất
đáng tiếc!
Hiện nay ở
Tân Gia Ba chúng ta phát
tâm giảng rõ bản hội tập
kinh Vô Lượng Thọ của
lão cư sĩ Hạ Liên Cư
thêm một lần, [nội dung]
giảng lần này phải rõ
hơn những lần giảng
trước gấp nhiều lần.
Nếu chúng ta không hiểu
rõ triệt để Lý Sự, nhân
quả của Tịnh Tông, trong
tâm chẳng có chủ ý, niệm
Phật được vài năm, gặp
một người lại nói những
câu bóng gió như vầy:
‘Tôi nghe nói chẳng cần
phải niệm Phật nhiều như
vậy, cũng chẳng cần phải
trì giới, chẳng cần phải
ăn chay, chỉ cần phát
nguyện vãng sanh thì
cũng được!’. Câu
này đề xướng việc gì?
Ðề xướng ‘Bổn Nguyện
Niệm Phật’, như vậy là
hại chết người ta!
Họ chiếu theo nguyện thứ
mười tám trong bốn mươi
tám nguyện [của đức Phật
A Di Ðà ghi trong] kinh
Vô Lượng Thọ, lúc lâm
chung một niệm, mười
niệm cũng có thể vãng
sanh. Lúc bình
thường chuyện xấu xa gì
đều làm cũng chẳng sao,
đến lúc lâm chung niệm
mười niệm, A Di Ðà Phật
liền đến tiếp dẫn thì
được vãng sanh.
Lời này nói chẳng sai
[nhưng] lúc lâm chung
đầu óc của bạn có tỉnh
táo, rõ ràng không?
Nếu lúc lâm chung bạn
bất tỉnh nhân sự, mê man
ngớ ngẩn, dù cao tăng
đại đức đến hộ niệm thì
bạn cũng chẳng thể vãng
sanh. Người hiện
nay chẳng có công phu
định lực, nghe lời gạt
gẫm chứ chẳng nghe lời
khuyên lơn, nhận đồ giả
chứ chẳng nhận đồ thiệt.
Kinh Lăng Nghiêm nói rất
rõ, thời đại hiện nay
của chúng ta ‘Tà sư
thuyết pháp như cát sông
Hằng’. Bạn
đừng nghe theo những
người đến từ bên ngoài,
‘hòa thượng bên ngoài
biết niệm kinh’, coi
thường người bản xứ, mê
theo, tin theo người đến
từ nơi khác, bạn sẽ bị
lầm, sai lầm quá đỗi!
Hy vọng đồng tu niệm
Phật phải quay lại, y
theo lời dạy của Ấn
Quang lão pháp sư:
‘Tận lực giữ trọn luân
thường, Làm tròn bổn
phận, Ngăn ngừa tà ác,
Giữ tâm tánh chân thành,
Tín nguyện niệm Phật,
Cầu sanh Tịnh Ðộ’
[12],
được vậy thì đời này của
chúng ta mới được độ.
Thế nên ‘Thiền định’ là
trong tâm có chủ tể,
chẳng nghe lời đồn đãi.
Trì Giới
Niệm Phật nhất định là
chính xác, chẳng ăn thịt
chúng sanh là tâm từ bi,
bạn xem cách tiêu biểu
pháp ở phía trước, mười
vầng mây sáng, tiếp theo
sau Ðại Viên Mãn là Ðại
Từ Bi, Phật pháp lấy ‘từ
bi làm gốc’, bạn làm sao
xả bỏ căn bản được!
Quên mất căn bản thì làm
sao vãng sanh được!
Niệm câu A Di Ðà Phật
này, như thế nào gọi là
‘niệm’? Rất ít
người hiểu việc này, bạn
chỉ biết niệm trong
miệng, chẳng dùng được.
Người xưa nói một ngày
niệm mười vạn câu Phật
hiệu, có miệng niệm chứ
không có tâm niệm, hét
bể cổ họng cũng uổng
công. Bạn có thể
vãng sanh không?
Hai chữ Bổn Nguyện giảng
không sai, họ chẳng
giảng rõ ràng, tâm của
bạn, nguyện của bạn,
hạnh của bạn phải hoàn
toàn giống đức Phật A Di
Ðà, sau đó niệm một câu
thì một câu tương ứng,
niệm mười tiếng thì mười
tiếng tương ứng.
Nếu tâm bạn, nguyện của
bạn hoàn toàn trái
nghịch với Phật, bạn
niệm mười vạn tiếng cũng
chẳng tương ứng.
Tâm - Nguyện - Giải -
Hạnh của A Di Ðà Phật ở
đâu? Trong kinh Vô
Lượng Thọ.
Tôi giảng
kinh, nói chín phẩm vãng
sanh, cách nói của tôi
cùng với cách nói của
đại đức thời xưa có chỗ
khác nhau, nhưng ý nghĩa
chẳng khác, [nghe] cách
nói của tôi thì mọi
người dễ hiểu hơn. Pháp
môn Tịnh Tông cũng chẳng
trái nghịch giáo lý:
‘Tín - Giải - Hành -
Chứng’. Pháp môn
khác phải Giải (hiểu rõ
lý luận) xong rồi mới
Hành, pháp môn Tịnh Ðộ
phương tiện, tức là bạn
có thể Hành trước, vừa
Hành vừa Giải, chẳng
phải dạy bạn chỉ có Hành
chẳng có Giải; là dạy
bạn vừa Hành, vừa cầu
Giải. Chỉ có Hành
chứ không Giải cũng
được, chúng ta thấy rất
nhiều cụ già chẳng hiểu
kinh giáo, cũng chẳng
nghe kinh, một câu A Di
Ðà Phật niệm đến cùng,
lúc vãng sanh đứng, ngồi
mà vãng sanh, chúng ta
đều đã thấy được.
Họ là hạng người như thế
nào? Họ là những
người thật thà.
Thật thà là như thế nào?
Bạn nói với họ bất cứ
chuyện gì, họ đều nghe
lời, họ chắc thật niệm
câu A Di Ðà Phật, họ là
hạng người thật thà.
Người thật thà rất ít,
quá ít quá ít, trong một
vạn người may ra có một,
hai người thật thà như
vậy. Cả ngày từ
sáng đến tối luôn khởi
vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước là chẳng thật
thà, người chẳng thật
thà nhất định phải cầu
Giải. Rõ ràng lý
luận rồi, hiểu rõ phương
pháp rồi thì niệm câu
Phật hiệu này mới được
tương ứng. Cứ nhẹ
dạ, cứ nghe lời đồn đãi,
tà thuyết là không thật
thà; đến cuối cùng đánh
mất nhân duyên vãng sanh
thù thắng ngay trong đời
này của chúng ta, bạn
nói như vậy có đáng tiếc
không! Nhất định
đừng nghe lời đồn đãi,
trong tâm phải có chủ ý,
như vậy là ‘Thiền Ba La
Mật’.
‘Bát Nhã Ba La Mật’ là
trí huệ, tức là đối với
hết thảy Lý, Sự đều rõ
ràng minh bạch. Tuy rõ
ràng, minh bạch nhưng
tuyệt đối không chấp
trước, tuyệt chẳng phân
biệt, đó là chân trí
huệ. Ðây là tổng
cương lãnh tự hành hóa
tha của hết thảy chư
Phật Như Lai. Vì
người diễn nói, biểu
diễn là biểu diễn những
thứ này, khuyến đạo hết
thảy chúng sanh đều là
những cương lãnh này.
Xem tiếp:
Từ bi âm.
Hỷ xả âm.
Tiếng từ bi. Tiếng
hỷ xả.
‘Từ, Bi, Hỷ, Xả’ gọi là
‘Tứ Vô Lượng Tâm’, đây
là khoa mục tu chính yếu
của người ở trời Tứ
Thiền, cõi Sắc Giới.
Tham thiền mà chẳng có
Từ, Bi, Hỷ, Xả thì chẳng
thể sanh lên cõi trời Tứ
Thiền. Công phu
thiền định có giỏi cách
mấy cũng chỉ có thể sanh
đến trời Dục Giới, chẳng
thể sanh đến Tứ Thiền,
thế nên nhất định phải
tu Từ, Bi, Hỷ, Xả. ‘Tu’
nghĩa là gì? Chúng
ta hiện nay chẳng có,
nhất định phải học tập.
‘Từ’ là vui, vui vẻ giúp
đỡ người khác.
‘Bi’ là nhìn thấy người
ta khổ, giúp họ lìa khổ,
như vậy gọi là Bi.
Giúp đỡ người ta được
vui thì gọi là Từ.
Hỷ là tâm hoan hỷ, nhìn
thấy người khác lìa khổ
được vui thì sanh tâm
hoan hỷ, đó là ‘Tùy hỷ
công đức’. Một số
người mê hoặc điên đảo
trong thế gian thấy
người khác có được điều
tốt lại sanh tâm đố kỵ,
như vậy là sai. Ðố
kỵ sẽ chịu tổn hại to
lớn, hại chính mình, thế
nên ‘Hỷ’ là chuyển tâm
đố kỵ trở lại, chẳng có
tâm đố kỵ, chỉ có tâm
tùy hỷ. ‘Xả’ là
buông xuống hết thảy,
không chấp trước hết
thảy.
Giải thoát âm.
Tiếng Giải thoát
Giúp đỡ hết thảy chúng
sanh đoạn phiền não,
thoát khỏi Tam Giới, đây
là tiếng Giải thoát.
Vô Lậu âm.
Tiếng Vô Lậu.
Tức là Thanh Tịnh âm.
‘Lậu’ là danh từ thay
thế cho phiền não, ‘Vô
Lậu’ là phiền não đoạn
dứt, phiền não chẳng
sanh.
Trí huệ âm.
Ðại Trí Huệ âm.
Tiếng Trí huệ. Tiếng
Ðại Trí huệ.
Ðây là hai trí Quyền,
Thật. Phật pháp
dùng Trí huệ làm mục
tiêu chung cực cho sự
giáo học, trong Tam Học:
nhờ Giới được Ðịnh, nhờ
Ðịnh được khai trí huệ.
Trong kinh đức Phật dạy
chúng ta: ‘Bát Nhã có
thể sanh trí huệ’, Bát
Nhã chính là Thật Tướng
Trí Huệ. Còn Trí
Huệ chính là hai trí
Quyền, Thật. Chư
Phật, Bồ Tát dùng hai
thứ trí huệ này giúp đỡ
hết thảy chúng sanh, và
giúp chúng sanh đều khai
mở hai trí huệ này.
Sư tử hống âm. Ðại
Sư tử hống âm.
Tiếng Sư Tử
Hống, tiếng Ðại Sư Tử
Hống
Ðây là thí dụ, thí dụ
oai đức của Phật, Bồ Tát
thuyết pháp, dạy học
giống như tiếng Sư tử
hống, dùng Sư tử ví Bồ
Tát, dùng Ðại Sư tử ví
Phật. Bồ Tát có
thể dạy người Tam Thừa;
Phật có thể dạy hết thảy
chúng sanh, kể cả Ðẳng
Giác Bồ Tát, thế nên
xưng là Ðại Sư tử.
Vân Lôi âm. Ðại
Vân Lôi âm.
Tiếng Mây
Sấm, tiếng Mây Sấm Lớn
Ðây là thí
dụ. Vân có thể
trút mưa, trút là đổ.
Lôi là sấm chớp, có thể
chấn động tâm người, thí
dụ oai lực, thí dụ sức
chấn động của nó.
Phật, Bồ Tát thuyết pháp
có thể chấn động hết
thảy vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước của
chúng sanh; pháp của
Phật nói ví như mưa
pháp, trút xuống đồng
đều khắp nơi, chẳng phân
biệt, chẳng chấp trước.
Giống như trong kinh
Pháp Hoa nói lúc mưa rơi
xuống, cây lớn hấp thụ
nước nhiều, cọng cỏ hấp
thụ nước ít, mưa chẳng
có phân biệt cho người
này nhiều một chút, cho
người kia ít một chút,
là do căn tánh của con
người khác nhau.
Thế nên hết thảy chúng
sanh nghe Phật thuyết
pháp, người căn khí nhỏ
được lợi ích nhỏ, người
căn tánh lớn đạt được
lợi ích lớn. Người
thiện căn sâu dày ngộ
nhập sâu, người thiện
căn cạn cợt ngộ nhập
cạn, chẳng phải Phật có
phân biệt, chúng sanh
căn tánh chẳng giống
nhau nên mới có các hiện
tượng sai khác.
Ðây là dùng ‘vân lôi’ để
thí dụ, thí dụ Phật
thuyết pháp đều phổ
biến, chẳng có phân
biệt, chẳng có chấp
trước, thí dụ oai đức
của Phật thuyết pháp có
thể làm cho hết thảy
chúng sanh giác ngộ.
Lại xem phần kinh văn
tiếp theo:
Thuyết xuất
như thị đẳng bất khả
thuyết bất khả thuyết âm
dĩ.
Nói ra những âm thanh
bất khả thuyết bất khả
thuyết như vậy xong.
Câu này tổng kết âm
thanh thuyết pháp.
Sa Bà thế giới cập tha
phương quốc độ hữu vô
lượng ức thiên long quỷ
thần diệc tập đáo Ðao
Lợi Thiên Cung.
Thế giới Sa Bà và những
cõi nước ở phương khác
có vô lượng ức trời,
rồng, quỷ, thần đều tụ
đến Ðao Lợi thiên cung.
Âm thanh thuyết pháp của
Phật quả nhiên có hiệu
quả, chấn động cả hư
không pháp giới, chẳng
phải chỉ có thế giới Sa
Bà chúng ta. Sa Bà
thế giới là khu vực giáo
hóa của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, đây là một
đại thiên thế giới.
‘Tha phương quốc độ’ là
những cõi nước ở ngoài
Sa Bà, hết thảy cõi nước
chư Phật đều bị chấn
động. Những chúng
sanh có duyên ở mười
phương thế giới, có
duyên với ai? Có
duyên với đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, với Ðịa Tạng
Bồ Tát. Vì pháp
hội lần này muốn tuyên
dương Ðịa Tạng Bồ Tát tu
nhân chứng quả, các thứ
công đức độ hóa chúng
sanh chẳng thể nghĩ bàn.
Đặc biệt là đối với
những chúng sanh có
duyên với Ðịa Tạng Bồ
Tát trong mười phương vô
lượng vô biên cõi nước,
Thiên Long Quỷ Thần cũng
đến Ðao Lợi Thiên Cung
để tham dự pháp hội này.
Thế nên pháp hội lần này
có Phật, Bồ Tát, Thanh
Văn, Duyên Giác.
Kinh văn phía sau nói
với chúng ta Thiên Long,
Thần chúng, Quỷ vương
toàn bộ đều đến, pháp
hội này thiệt là vô cùng
thù thắng, chúng ta xem
đoạn kinh tiếp theo:
Sở vị: Tứ
Thiên Vương Thiên, Ðao
Lợi Thiên, Tu Diệm Ma
Thiên, Ðâu Suất Ðà
Thiên, Hóa Lạc Thiên,
Tha Hóa Tự Tại Thiên.
Ðó là cõi trời Tứ Thiên
Vương, cõi trời Ðao Lợi,
cõi trời Tu Diệm Ma, cõi
trời Ðâu Suất Ðà, cõi
trời Hóa Lạc, cõi trời
Tha Hóa Tự Tại.
Ðoạn này nói về cõi Trời
Dục Giới. Dục Giới
có sáu tầng, vì thời
gian có hạn chúng ta
chẳng thể nói kỹ về đoạn
này. Thánh Nhất
pháp sư lần trước đã
giảng kinh Ðịa Tạng ở
Cửu Hoa Sơn, ngài có
giảng ký, giảng ký này
đơn giản rõ ràng, đều có
giới thiệu sơ lược.
Ở đây tôi chỉ giới thiệu
cõi trời Tứ Thiên Vương,
giới thiệu cho quý vị
một cõi. Tứ đại
thiên vương, dân gian
Trung Quốc tục gọi là Tứ
Ðại Kim Cang, khi đến
chùa miếu xem, [tượng
của các ngài thường được
đặt ngay] cửa cổng chính
giống như bảo vệ vậy,
đây là thần hộ pháp,
thật ra là ‘Tứ Thiên
Vương Thiên’, Tứ đại
thiên vương đích thực
trong nhà Phật đại biểu
cho hộ pháp. Trong
Thiên Vương điện có cung
phụng Tứ Ðại Thiên
Vương, đồng thời cũng
cung phụng Di Lặc Bồ
Tát; Di Lặc Bồ Tát ở cõi
trời Ðâu Suất, là Hậu Bổ
Phật của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni. Tại sao
cúng Di Lặc Bồ Tát ở
Ðiện Thiên Vương?
Vả nữa, tượng của Di Lặc
Bồ Tát chẳng giống với
tượng Bồ Tát truyền
thống của Ấn Ðộ, mà tạo
hình giống Bố Ðại Hòa
thượng đời Tống ở Trung
Quốc. Thời Nam
Tống, Bố Ðại Hòa thượng
xuất hiện ở Phụng Hóa,
Chiết Giang, ngài mập
mạp, cả ngày cười toe
toét, luôn vác một bao
vải trên lưng. Bố
Ðại Hòa thượng từ nơi
nào đến? Chẳng ai
biết, và cũng chẳng ai
biết ngài tên gì, họ gì,
cả ngày từ sáng đến tối
ngài luôn vác bao vải
nên cái bao này trở
thành dấu hiệu tượng
trưng của ngài, khi
người ta nhìn thấy liền
xưng ngài là Bố Ðại Hòa
thượng, do đó Bố Ðại Hòa
Thượng bèn nổi danh.
Lúc viên tịch ngài nói
với mọi người rằng ngài
chính là hóa thân của Di
Lặc Bồ Tát, vừa nói xong
thì ngài liền ngồi yên,
thị tịch. Từ đó
người Trung Quốc tạo
tượng Di Lặc Bồ Tát
giống như hình dáng của
Bố Ðại Hòa Thượng.
Ngài biểu
thị cái hình tướng này,
nói thật ra trong kinh
thường nói đệ tử Phật
hóa hiện trên thế gian
này đối với Phật pháp
thọ trì, đọc tụng, vì
người diễn nói; diễn là
biểu diễn, ngài hoàn
toàn biểu diễn cho người
ta xem, làm một gương
tốt cho xã hội đại
chúng, để cho người khác
nhìn thấy có thể sanh
tâm giác ngộ. Bụng
to tượng trưng cho tánh
đức bao dung, thị hiện
bao dung; tâm lượng
người thế gian quá nhỏ,
chẳng thể bao dung người
khác. Di Lặc Bồ
Tát đại từ đại bi, Di
Lặc là Từ Thị, đại biểu
từ bi, thế nên thị hiện
hình tướng này là có thể
bao dung, ngài có thể
bao dung. Cái túi
vải cũng có ý nghĩa bao
dung, khi đến đâu người
ta cúng dường cái gì
ngài đều bỏ vào túi vải
này, chẳng phân biệt
sang hèn, chẳng phân
biệt tốt xấu, hết thảy
đều bình đẳng bỏ vào
túi.
Có người
hỏi: ‘Kính thưa Bố Ðại
hòa thượng, Phật pháp là
gì?’.
Ngài bèn
buông túi vải xuống đất.
Như vậy có ý nghĩa gì?
‘Buông xuống’; ai nhìn
thấy cũng hiểu là buông
xuống.
Sau khi
buông xuống rồi thì sao?
Ngài vác túi vải lên và
đi mất.
Sau khi
buông xuống, thì ‘nhấc
lên’. Buông xuống
nghĩa là trong tâm hoàn
toàn chẳng có vướng mắc;
nhấc lên cái gì?
Vì xã hội đại chúng phục
vụ. Chẳng có tâm
riêng tư, hoàn toàn hiến
dâng. Buông xuống
nổi, nhấc lên được, là
tượng trưng cho ý nghĩa
này. Mặt luôn nở
nụ cười tươi, chúng ta
để hình tướng cười tươi
của ngài ở chỗ dễ nhìn
thấy nhất, vừa bước vào
cửa liền thấy ngài, học
theo ngài phải buông
xuống, nhấc lên nổi,
phải học tánh đại từ đại
bi của ngài, luôn cười
tươi, thường sanh tâm
hoan hỷ, hoan hỷ tiếp
dẫn hết thảy đại chúng,
thế nên mới đặt hình
tướng của ngài ở Thiên
Vương Ðiện, như vậy chứa
đựng ý nghĩa gì?
Hộ pháp. Hộ cho
ai? Hộ cái gì?
Tiêu biểu cho ý nghĩa
‘Hộ từ bi tâm’.
Bảo hộ tâm từ bi của
mình, phải buông xuống,
nhấc lên, đừng quên ý
nghĩa này! Giữ cho
mình thường sanh tâm
hoan hỷ, tươi cười tiếp
đón người ta. Bố
đại hòa thượng biểu hiện
tánh đức của chúng ta,
phải hộ trì từ chỗ này.
Bạn xem ý nghĩa này sâu
sắc không, như vậy mới
có tư cách vào cửa Phật.
Bước vào cửa Phật cần
phải có điều kiện gì?
Phải có điều kiện này,
thật sự buông xuống nổi,
tâm địa thanh tịnh vô
vi, chân chánh có thể
nhấc lên, dùng Lục Ðộ
giáo hóa hết thảy chúng
sanh, tượng trưng cho ý
nghĩa như vậy.
Tứ Thiên
Vương: Ðông Phương Trì
Quốc Thiên Vương tượng
trưng Làm tròn trách
nhiệm; Nam Phương
Tăng Trưởng Thiên Vương
tượng trưng cho Cầu tiến
bộ, luôn cầu tiến, tuyệt
chẳng lạc hậu; Tây
Phương Quảng Mục Thiên
Vương, Bắc Phương Ða Văn
Thiên Vương tượng trưng
Học rộng nghe nhiều.
Người Trung Quốc có câu:
‘Ðọc vạn quyển sách, đi
vạn dậm đường’,
thành tựu cho học vấn,
đức năng chân thật của
mình, sau đó bạn mới có
thể phục vụ xã hội, quốc
gia, và hết thảy chúng
sanh. Nếu bạn
chẳng có trí huệ, đức
năng thì bạn lấy gì để
phục vụ! Là tượng
trưng cho ý nghĩa này.
Ý nghĩa vô cùng viên
mãn, đây là ý nghĩa
tượng trưng của Tứ Thiên
Vương.
Trong kinh
Phật nói cho chúng ta
biết, thọ mạng của Thiên
nhân là năm trăm tuổi.
Một ngày trên cõi Tứ
Vương Thiên bằng năm
mươi năm ở cõi người
chúng ta, một ngày cũng
có ba trăm sáu mươi
ngày, năm mươi năm ở
nhân gian bằng một ngày
của họ nên thọ mạng của
họ rất dài. Càng
lên cao thì tăng gấp
bội, thế nên thiên phước
rất lớn.
Ðược rồi!
Hôm nay chúng ta giảng
đến đây.
Trong quá trình chuyển ngữ
chắc không tránh khỏi
thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ
chính cho.
Xin
thành thật cám ơn.
Một nhóm
Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng
9-2006