|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN BỐN MƯƠI LĂM
PHẨM TRỤ XỨ CỦA CÁC BỒ TÁT
THỨ BA MƯƠI HAI
Bồ Tát chẳng có trụ xứ. Nếu Bồ Tát có trụ xứ,
thì chẳng thể xưng là Bồ Tát. Bồ Tát lấy từ bi
hỷ xả làm trụ xứ. Vì Bồ Tát chẳng có một tư
tưởng về cái ta, làm sao có trụ xứ? Trụ xứ ở đây
là chẳng có sự nhất định. Tuy chẳng có sự nhất
định, nhưng Bồ Tát Tâm Vương vẫn nói có phương
sở, có trụ xứ. Trụ này là trụ chỗ vô trụ, chẳng
có sự chấp trước. Xứ này là xứ chỗ vô xứ, cũng
chẳng có sự chấp trước. Nếu Bồ Tát chẳng có sự
chấp trước, thì gọi là Bồ Tát.
Bồ Tát cũng chẳng chấp trong, cũng chẳng chấp
ngoài, cũng chẳng chấp không, cũng chẳng chấp
có, tất cả đều không chấp trước. Hiện tại trụ xứ
này, bất quá là giả danh mà thôi. Phẩm này thuộc
về phẩm thứ ba mươi hai.
Bấy
giờ, đại Bồ Tát Tâm Vương ở trong chúng hội, bảo
các Bồ Tát rằng:
Khi Bồ Tát Tâm Vương nói xong Phẩm A Tăng Kỳ và
Phẩm Thọ Lượng rồi, nhưng cảm thấy ý vẫn chưa
hết, vẫn còn điều muốn nói. Cho nên lúc đó, vị
đại Bồ Tát Tâm Vương, ở trong pháp hội Hoa
Nghiêm, bảo hết thảy các Bồ Tát: “Trụ xứ của các
Bồ Tát”. Bồ Tát ở trong pháp hội, vốn đều biết
trụ xứ của các Bồ Tát. Vậy, tại sao còn phải hổ
tương vấn đáp? Vì Bồ Tát biết chúng ta chúng
sinh tương lai ở trong pháp hội Hoa Nghiêm tại
Vạn Phật Thánh Thành, giảng Kinh Hoa Nghiêm và
lắng nghe Kinh Hoa Nghiêm, cho nên, đây là vì
chúng ta mà nói.
Phật tử! Phương đông có nơi gọi là núi Tiên
Nhân, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát đang ở
trong đó. Hiện có Bồ Tát tên là Kim Cang Thắng,
với quyến thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, ba
trăm người tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói
pháp.
Theo ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ) mà nói,
thì phương đông là Giáp Ất Mộc, Giáp Mộc là
dương, Ất Mộc là âm. Do đó:
“Một âm một dương gọi là đạo”,
“Lệch dương lệch âm gọi là bệnh”.
Âm dương điều hoà, hay sinh vạn vật; âm dương
thất điều, thì vật chẳng sinh, đây là luật tự
nhiên của vũ trụ. Mộc là màu xanh, Mộc có sinh
khí hân hân hướng vinh, cho nên mùa xuân thuộc
Mộc thịnh vương. Mùa xuân là mùa đầu tiền trong
bốn mùa. Do đó, trước hết bắt đầu từ phương
đông.
Ngũ hành là phù hiệu chân lý của vũ trụ, chứ
chẳng phải từ chuyên dùng của đạo nào đó, vẫn là
danh từ thông dụng. Nho giáo có thể dùng, Đạo
giáo cũng có thể dùng, Phật giáo cũng có thể
dùng, đừng chấp trước vào. Phàm là hợp với chân
lý thì có thể xử dụng, không nên phân biệt đó
đây, có thành kiến môn hộ.
Phương đông thuộc Mộc, Giáp Ất Mộc. Phương nam
thuộc Hoả, Bính Đinh Hoả. Phương tây thuộc Kim,
Canh Tân Kim. Phương bắc thuộc Thuỷ, Nhâm Quý
Thuỷ. Chính giữa thuộc Thổ, Mậu Kỷ Thổ. Mộc màu
xanh, Hoả màu đỏ, Kim màu trắng, Thuỷ màu đen,
Thổ màu vàng. Đó là đại biểu của ngũ phương, ngũ
hành, ngũ sắc.
Ngũ hành có sự khác nhau về tướng sinh môn, và
tướng khắc môn: Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ
sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, đó là
đạo lý tương sinh. Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ,
Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, đây
là đạo lý tương khắc. Do đó: “Cha mẹ sinh ta ra,
ta sinh ra con cháu”. Ví như Mộc hay sinh Hoả,
Mộc là cha mẹ của Hoả. Hoả hay sinh Thổ, Thổ là
con của Hoả. Thổ hay sinh Kim, Kim là cháu của
Hoả. Hồi đầu tương khắc, Kim khắc Mộc .v.v…
Đạo lý tương sinh tương khắc, vô cùng vô tận,
diệu không thể tả, tất cả sự lý trong trời đất,
đều có sự quan hệ này, bên trong đều hàm chứa
triết lý. Giống như sáu mươi bốn quẻ, đều bao
hàm ở trong Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ. Quẻ Càn là do
ngũ hành biến hoá mà ra, nếu nghiên cứu kỹ thì
có triết học rất sâu rộng. Âm dương, ngũ hành,
thiên can, và địa chi, tuy là phù hiệu, nhưng có
triết lý diễn biến vô cùng. Đó là văn hoá của
Trung Hoa, đáng tiếc có những người dùng không
chánh đáng, cuối cùng trở thành mê tín.
Bồ Tát Tâm Vương gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật! “Ở phương đông có một nơi, gọi là núi Tiên
Nhơn. Từ trước cho đến bây giờ, mười phương ba
đời các chúng Bồ Tát, đang ở trong núi đó. Bồ
Tát có thần thông biến hoá, ở bất cứ chỗ nào.
Ngẫu nhiên đến ở nơi đó, cũng có khả năng. Hiện
tại ở trong núi Tiên Nhơn, có vị Bồ Tát tên là
Bồ Tát Kim Cang Thắng, cùng với quyến thuộc của
Ngài và các chúng Bồ Tát, khoảng hơn ba trăm
người, đang cùng nhau tu hành. Bồ Tát Kim Cang
Thắng, thường ở trong núi đó, vì họ giảng kinh
thuyết pháp.
Phương
nam có nơi tên là núi Thắng Phong. Từ xưa đến
nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong đó. Hiện
tại có Bồ Tát tên là Pháp Huệ, cùng với quyến
thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, năm trăm người
tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói pháp.
Phương nam có một nơi, tên gọi là núi Thắng
Phong. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các
chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có
vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Pháp Huệ, và quyến
thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát, khoảng hơn
năm trăm người cùng ở với nhau. Bồ Tát Pháp Huệ
thường ở trong núi Thắng Phong, vì họ diễn nói
diệu pháp.
Phương
tây có nơi gọi là núi Kim Cang Diệm. Từ xưa đến
nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong đó. Hiện
tại có Bồ Tát tên là Tinh Tấn Vô Uý Hành, cùng
với quyến thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, ba
trăm người tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói
pháp.
Phương tây có một nơi, tên gọi là núi Kim Cang
Diệm. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các
chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có
vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Tinh Tấn Vô Úy Hành,
và quyến thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát,
khoảng hơn ba trăm người, cùng ở với nhau. Bồ
Tát Tinh Tấn Vô Úy Hành thường ở trong núi Kim
Cang Diệm, vì họ diễn nói diệu pháp.
Phương
bắc có nơi gọi là núi Hương Tích. Từ xưa đến
nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong đó. Hiện
tại có Bồ Tát tên là Hương Tượng, cùng với quyến
thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, ba ngàn người
tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói pháp.
Phương bắc có một nơi, tên gọi là núi Hương
Tích. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các
chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có
vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Hương Tượng, và quyến
thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát, khoảng hơn
ba ngàn người cùng ở với nhau. Bồ Tát Hương
Tượng thường ở trong núi Hương Tích, vì họ diễn
nói diệu pháp.
Phương
đông bắc có nơi gọi là núi Thanh Lương. Từ xưa
đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong đó.
Hiện tại có Bồ Tát tên là Văn Thù Sư Lợi, cùng
với quyến thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, một
vạn người tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói
pháp.
Phương đông bắc có một nơi, tên gọi là núi Thanh
Lương, tức nay là Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây của
Trung Quốc. Từ trước đến nay, mười phương ba đời
các chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện
tại có vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi,
và quyến thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát,
khoảng một vạn người người cùng ở với nhau. Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi thường ở trong núi Thanh
Lương, vì họ diễn nói diệu pháp.
Giữa
biển có nơi gọi là núi Kim Cang. Từ xưa đến nay,
các chúng Bồ Tát thường ở trong đó. Hiện tại có
Bồ Tát tên là Pháp Khởi, cùng với quyến thuộc
của Ngài các chúng Bồ Tát, một ngàn hai trăm
người tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói
pháp.
Ở giữa biển đông có một nơi, tên gọi là núi Kim
Cang. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các
chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có
vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Pháp Khởi, và quyến
thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát, khoảng một
ngàn hai trăm người cùng ở với nhau. Bồ Tát Pháp
Khởi thường ở trong núi Kim Cang, vì họ diễn nói
diệu pháp.
Phương
đông nam có nơi gọi là núi Chi Đề. Từ xưa đến
nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong đó. Hiện
tại có Bồ Tát tên là Thiên Quan, cùng với quyến
thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, một ngàn người
tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói pháp.
Phương đông nam có một nơi, tên gọi là núi Chi
Đề. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các
chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có
vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Thiên Quan, và quyến
thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát, khoảng một
ngàn người cùng ở với nhau. Bồ Tát Thiên Quan
thường ở trong núi Chi Đề, vì họ diễn nói diệu
pháp.
Phương
tây nam có nơi gọi là núi Quang Minh. Từ xưa đến
nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong đó. Hiện
tại có Bồ Tát tên là Hiền Thắng, cùng với quyến
thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, ba ngàn người
tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói pháp.
Phương tây nam có một nơi, tên gọi là núi Quang
Minh. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các
chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có
vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Hiền Thắng, và quyến
thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát, khoảng ba
ngàn người cùng ở với nhau. Bồ Tát Hiền Thắng
thường ở trong núi Quang Minh, vì họ diễn nói
diệu pháp.
Phương
tây bắc có nơi gọi là núi Hương Phong. Từ xưa
đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong đó.
Hiện tại có Bồ Tát tên là Hương Quang, cùng với
quyến thuộc của Ngài các chúng Bồ Tát, năm ngàn
người tụ hội, thường ở trong đó mà diễn nói
pháp.
Phương tây bắc có một nơi, tên gọi là núi Hương
Phong. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các
chúng Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có
vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Hương Quang, và quyến
thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát, khoảng năm
ngàn người cùng ở với nhau. Bồ Tát Hương Quang
thường ở trong núi Hương Phong, vì họ diễn nói
diệu pháp.
Ở
giữa biển lớn, lại có trụ xứ gọi là Trang Nghiêm
Quật. Từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó.
Ở giữa biển lớn, lại có trụ xứ, tên gọi là
Trang Nghiêm Quật. Từ trước đến nay, mười phương
các chúng Bồ Tát thường ở trong đó.
Phía
nam Tỳ Xá Ly, có một trụ xứ tên là Thiện Trụ
Căn, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó.
Phía nam thành Tỳ Xá Ly (Quảng bát), tức thành
của cư sĩ Tịnh Danh ở, thuộc trung Ấn Độ, có một
trụ xứ tên là Thiện Trụ Căn, từ xưa đến nay,
mười phương các chúng Bồ Tát thường ở nơi đó.
Thành Ma Độ La, có một trụ xứ tên là Mãn Túc
Quật, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó.
Tại thành Ma Độ La (Khổng tước), có một trụ xứ
tên là Mãn Túc Quật, từ xưa đến nay, mười phương
các chúng Bồ Tát thường ở tại thành đó.
Thành Câu Trân Na, có một trụ xứ tên là Pháp
Toà, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó.
Tại thành Câu Trân Na (Đại mãnh pháp luật), có
một trụ xứ tên là Pháp Toà, từ xưa đến nay, mười
phương các chúng Bồ Tát thường ở tại thành đó.
Thành Thanh Tịnh Bỉ Ngạn, có một trụ xứ tên là
Mục Chân Lân Đà Quật, từ xưa đến nay, các chúng
Bồ Tát thường ở trong đó.
Tại thành Thanh Tịnh Bỉ Ngạn (tức nam Ấn Độ), có
một trụ xứ tên là Mục Chân Lân Đà Quật (tức chỗ
rồng ở), từ xưa đến nay, mười phương các chúng
Bồ Tát thường ở trong thành đó.
Nước Ma Lan Đà, có một trụ xứ tên là Vô Ngại
Long Vương Kiến Lập, từ xưa đến nay, các chúng
Bồ Tát thường ở trong đó.
Tại nước Ma Lan Đà, có một trụ xứ tên là Vô Ngại
Long Vương Kiến Lập (tức Phổ quang pháp đường),
từ xưa đến nay, mười phương các chúng Bồ Tát
thường ở trong nước đó.
Nước Cam Bồ Già, có một trụ xứ tên là Xuất Sinh
Từ, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó.
Tại nước Cam Bồ Già (Quả danh), có một trụ xứ
tên là Xuất Sinh Từ, từ xưa đến nay, mười phương
các chúng Bồ Tát thường ở trong nước đó.
Nước Chấn Đán, có một trụ xứ tên là Na La Diên
Quật, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó.
Tại nước Chấn Đán (Trung Hoa), có một trụ xứ tên
là Na La Diên Quật (kiên ngưu). Tại tỉnh Sơn
Đông núi Thanh châu đông ngưu, hiện có Thánh
tích cổ Phật. Từ xưa đến nay, mười phương các
chúng Bồ Tát thường ở tại đó.
Nước Sớ Lặc, có một trụ xứ tên là núi Ngưu Đầu,
từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong
đó.
Tại nước Sớ Lặc (tức Sớ Lặc tỉnh Tân Cương), có
một trụ xứ tên là núi Ngưu Đầu (Vu Chấn tỉnh Tân
Cương), từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường
ở trong núi đó.
Nước Ca Diếp Di La, có một trụ xứ tên là Thứ Đệ,
từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở trong
đó.
Tại nước Ca Diếp Di La, có một trụ xứ tên là Thứ
Đệ, từ xưa đến nay, mười phương các chúng Bồ Tát
thường ở trong nước đó.
Thành Tăng Trưởng Hoan Hỉ, có một trụ xứ tên là
Tôn Giả Quật, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát
thường ở trong đó.
Tại Thành Tăng Trưởng Hoan Hỉ (tức Nam Ấn Độ),
có một trụ xứ tên là Tôn Giả Quật, từ xưa đến
nay, mười phương các chúng Bồ Tát thường ở trong
đó.
Nước Am Phù Lê Ma, có một trụ xứ tên là Kiến Ức
Tạng Quang Minh, từ xưa đến nay, các chúng Bồ
Tát thường ở trong đó.
Tại nước Am Phù Lê Ma (Quả danh), tức trung Ấn
Độ, có một trụ xứ tên là Kiến Ức Tạng Quang
Minh, từ xưa đến nay, mười phương các chúng Bồ
Tát thường ở trong nước đó.
Nước Càn Đà La, có một trụ xứ tên là Chiêm Bà La
Quật, từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó.
Tại nước Càn Đà La (Trì địa), có một trụ xứ tên
là Chiêm Bà La Quật (Hương hoa thụ danh), từ xưa
đến nay, mười phương các chúng Bồ Tát thường ở
trong đó
Bồ Tát là vô sở trụ, tức nhiên vô sở trụ, tại
sao lại nói là Ngài trụ? Đây là tuỳ thuận chúng
sinh mà nói. Rốt ráo Bồ Tát toại tâm sở dục,
muốn ở đâu thì ở đó. Muốn ở trong hạt bụi, thì ở
trong hạt bụi; muốn ở trong cung điện, thì ở
trong cung điện. Bồ Tát không vào mà chẳng tự
được. Cho nên nói Bồ Tát chẳng có trụ xứ.
Trong Kinh Hoa Nghiêm nói trụ xứ của Bồ Tát, đây
là khiến chúng sinh biết Bồ Tát vô tại vô bất
tại.
Hết tập 17
Hồi hướng công đức
Trong các sự bố thí, thì bố thí
pháp là cao thượng nhất. Vì ấn tống Kinh điển bố
thí cho mọi người đọc, khiến cho họ hiểu rõ
những lời đức Phật dạy, phát tâm tu học, thực
hành hạnh Bồ Tát, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha,
tích tụ căn lành công đức, hồi hướng về quả Vô
thượng bồ đề, cuối cùng sẽ chứng ngộ quả vị
Phật. Nhờ giáo lý Pháp bảo mà chúng ta tin,
hiểu, thực hành, và chứng ngộ.
Xin hồi hướng công đức pháp thí
cao thượng nầy, đến các bậc Thầy Tổ, và toàn thể
tất cả Phật tử đã phát tâm hùn phước ấn tống,
hữu danh hoặc vô danh, và thân bằng quyến thuộc
của tất cả quý vị còn sống hoặc đã quá vãng,
cùng pháp giới chúng sinh, thảy đều được lợi
lạc, căn lành tăng trưởng, tâm bồ đề kiên cố,
luôn luôn an trụ ở trong chánh pháp, tu hành
chánh pháp, rốt ráo được thoát khỏi sinh tử luân
hồi, đến được bờ giác ngộ bên kia.
Kệ hồi hướng công đức
Nguyện đem công đức nầy
Trang Nghiêmcõi Phật tịnh
Trên đền bốn ân nặng
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có ai thấy nghe
Liền phát tâm bồ đề
Khi bỏ báo thân nầy
Sinh về cõi Cực Lạc.
|