|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN
BỐN MƯƠI BỐN
PHẨM THẬP NHẪN
THỨ HAI MƯƠI CHÍN
Ở trước đã giảng về thập định và thập thông, bây
giờ giảng về thập nhẫn. Có định lực rồi mới có
thần thông. Muốn có thần thông thì phải nhẫn,
nhẫn được thì mới có định lực, đây là sự tác
dụng với nhau, như kiền ba chân, thiếu một không
đứng vững được.
Chữ nhẫn được cấu tạo bởi chữ tâm và chữ đao,
trên chữ tâm có chữ đao. Giống như tâm bị đao
cắt rất đau đớn, nhưng phải nhẫn chịu, không thể
nổi nóng. Tâm đau đớn không dễ gì nhẫn chịu
được, nhưng không thể nhẫn cũng phải nhẫn, do
đó :
« Nhẫn những gì người khác không
nhẫn được ».
Khi con người chưa gặp cảnh giới, thì tự mình
cho rằng mình nhẫn được, nhẫn cũng nhẫn được,
nhường cũng nhường được, song khi cảnh giới đến,
thì không nhận thức được. Nhẫn cũng nhẫn không
được, nhường cũng không nhường được, chạy theo
vô minh, càng chạy thì cách chân lý càng xa, do
đó trí huệ không thể hiện tiền được.
Phẩm này là phẩm thứ ba mươi chín trong Kinh Hoa
Nghiêm, thuộc về phẩm thứ ba mươi chín, nên gọi
là Phẩm Thập Nhẫn thứ ba mươi chín.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Hiền bảo các Bồ Tát rằng : Phật
tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ nhẫn, nếu đắc được
nhẫn nầy, thì sẽ đắc được bậc vô ngại nhẫn của
tất cả Bồ Tát, tất cả Phật pháp, vô ngại vô tận.
Sau khi nói Phẩm Thập Thông rồi, thì lúc đó, Bồ
Tát Phổ Hiền quán sát nhân duyên đại chúng trong
pháp hội, nên nói pháp gì thì nói pháp đó. Quán
căn cơ đại chúng rồi, đúng là nên nói pháp môn
thập nhẫn, cho nên Bồ Tát Phổ Hiền bèn nói với
hết thảy Bồ Tát trong pháp hội rằng : « Các vị
đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát này tu hành hạnh
Bồ Tát, tích tập đủ thứ căn lành, viên mãn lục
độ vạn hạnh, Ngài phải tu hành pháp môn mười thứ
nhẫn này. Nếu đắc được mười thứ nhẫn nầy, thì sẽ
đắc được quả vị vô ngại nhẫn của tất cả Bồ Tát,
đối với tất cả Phật pháp, viên dung vô ngại,
viên mãn vô tận ».
Những
gì là mười ? Đó là : Âm thanh nhẫn, thuận nhẫn,
vô sanh pháp nhẫn, như huyễn nhẫn, như diệm
nhẫn, như mộng nhẫn, như vang nhẫn, như ảnh
nhẫn, như hoá nhẫn, như không nhẫn.
Những gì là mười thứ nhẫn ? Tức là :
1. Âm thanh nhẫn : Bất cứ là âm thanh tốt, hoặc
âm thanh không tốt; âm thanh chánh đáng, hoặc âm
thanh không chánh đáng; âm thanh thanh tịnh,
hoặc âm thanh không thanh tịnh. Phàm là thuộc về
tất cả âm thanh, đều phải nhẫn thọ, thậm chí
khiến cho bạn thọ không được cũng phải nhẫn.
Nhẫn không được mới phải nhẫn, thọ không được
mới phải thọ. Nếu thọ được, hà tất phải nhẫn ?
Giống như ở chợ náo nhiệt, tất cả tiếng nói
khiến cho bạn tâm phiền ý loạn, lúc đó, bạn nghe
mà không nghe, không bị chi phối, thì mới có
định lực. Do đó : « Giữa chợ náo nhiệt mà tu
hành », trải qua sự khảo nghiệm, mới có thể tăng
tấn đạo nghiệp.
2. Thuận nhẫn : Tức cũng là nghịch nhẫn. Bất cứ
là thuận hoặc là nghịch, đều phải nhẫn thọ.
Thuận nhẫn là cảnh giới bạn hoan hỉ, giống như
bạn hoan hỉ nhảy múa, nghe được tiếng âm nhạc
thì thân thể càng không tự chủ được bèn đứng dậy
nhảy. Nghịch nhẫn là cảnh giới bạn không hoan
hỉ, giống như người mà bạn nhàm chán, mà họ lại
đến tìm bạn để nhiễu loạn, cho nên thuận nghịch
đều phải nhẫn. Vì muốn học Phật pháp, cho nên
thọ người khinh khi, chịu người phỉ báng, chịu
người mắng chưởi, chịu người đánh đập, đều phải
nhẫn thọ. Do đó : « Nhẫn là báu vô giá », nhẫn
được mới có thể thành đạo. Có người nói : « Tôi
không muốn tu hành, vì tu hành quá khổ, không
thể ăn nhiều, không thể mặc nhiều, không thể ngủ
nhiều, tôi thật chịu không được, tôi muốn hoàn
tục » ! Người có tư tưởng như thế, không thể
chấp nhận được. Chúng ta tham thiền đả toạ, tức
là tu công phu nhẫn, phải chịu chân đau, phải
chịu lưng ê, nhẫn đến cực điểm, thì sẽ có tin
tức.
3. Vô sanh pháp nhẫn : Nói đơn giản là không
thấy có chút pháp sanh, cũng không thấy có chút
pháp diệt, nhẫn thọ nơi tâm. Tức cũng là cảnh
giới đoạn, thường, nhị kiến đều mất, ngã pháp
hai chấp không sanh.
4. Như huyễn nhẫn : Tất cả pháp thế gian như
huyễn như hoá, không thể nhận cho là chân thật.
Nếu nhận cho là chân thật, thì liền bị cảnh giới
chuyển, phải biết cảnh giới là hư huyễn không
thật, cho nên đừng chấp trước. Nếu không chấp
trước, tất cả đều buông bỏ được, thì sẽ được
giải thoát.
5. Như diệm nhẫn : Khi mùa xuân, ở xa nhìn đại
địa có hình tướng sóng nước, đến gần nhìn thì
không có, đó tức là hiện tượng dương diệm. Tất
cả sự vật thế gian, cũng giống như dương diệm,
tuy có hình nhưng không thật thể, đừng có cho nó
là chân thật, bằng không, thì tự mình cầu khổ
não mà thôi.
6. Như mộng nhẫn : Người ở trong mộng, vừa làm
quan, vừa phát tài, vừa có vợ đẹp, cảm thấy đời
người rất là mỹ mãn, khi tỉnh dậy thì vẫn không
có gì cả. Biết đời người như mộng, nếu nhẫn thọ
được, thì không có phiền não.
7. Như vang nhẫn : Vang là do tiếng mà phát ra,
nếu không có âm thanh, thì cũng không có tiếng
vang, vì tiếng vang chẳng có thật thể. Chúng ta
xem tất cả sự việc thế gian như tiếng vang mà
nhẫn thọ, thì tự nhiên sẽ đắc được tự tại.
8. Như ảnh nhẫn : Phải xem tất cả hết thảy đều
giống như ảnh. Do đó :
« Hoa trong gương, trăng dưới
nước ».
Nhìn tựa như có, kỳ thật là không, cái gì cũng
không có. Hiểu được đạo lý này, thì sẽ không
chấp trước.
9. Như hoá nhẫn : Tất cả thế gian đều biến hoá
mà có, bổn lai chẳng có, hốt nhiên mà có, đây là
hiện tượng biến hoá. Giống như nhà huyễn thuật,
trong không biến có, trong có hoá không. Nếu
quán thấy được như vậy, thì không có phiền não.
10. Như không nhẫn : Tất cả đều không, không có
thật thể. Trong Kinh Kim Cang có nói :
“Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bọt bong
Như sương cũng như điện
Hãy quán sát như vậy”.
Quán sát được như vậy, thì sẽ
được không nhẫn.
Đó là mười thứ nhẫn, ba đời chư
Phật đã nói, đang nói, và sẽ nói.
Pháp môn mười thứ nhẫn này, chư
Phật đời quá khứ đã nói, chư Phật đời hiện tại
đang nói, chư Phật đời vị lai sẽ nói. Ba đời chư
Phật đều nói pháp môn này, để giáo hoá chúng
sinh, khiến cho chúng sinh sớm lìa khỏi biển
khổ, cùng lên bờ bên kia.
THỨ NHẤT, ÂM THANH NHẪN
Phật tử! Thế nào là âm thanh nhẫn
của đại Bồ Tát? Đó là nghe pháp của chư Phật
nói, chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng hãi. Tin sâu
ngộ hiểu, ưa thích hướng đến, chuyên tâm nghĩ
nhớ, tu tập an trụ.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là âm thanh nhẫn
của đại Bồ Tát tu? Tức là nghe được pháp của
mười phương chư Phật nói, không kinh hãi, không
sợ sệt. Tin sâu pháp của chư Phật nói, giác ngộ
thấu hiểu pháp của chư Phật nói. Ưa thích Phật
pháp, hướng về Phật pháp, chuyên tâm nhất chí để
nghĩ nhớ. Tức cũng là đọc tụng Kinh Hoa Nghiêm
Đại Phương Quảng Phật, hoặc đọc tụng Kinh Đại
Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm, hoặc đọc tụng Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, hoặc đọc tụng Kinh Kim Cang
Bát Nhã, chỉ cần chuyên tâm để tụng, thì nhất
định sẽ thuộc lòng. Tuy thuộc lòng, nhưng vẫn
phải y pháp tu hành, bằng không, cũng giống như
ca hát, không có lợi ích gì. Ví như trong Kinh
nói : “Không sát sinh, không trộm cắp, không tà
dâm, không nói dối, không uống rượu”. Đây là năm
giới lớn căn bản. Phàm là Phật giáo đồ, đều phải
giữ gìn, không được phạm giới, song có người
biết rõ mà cố phạm, như vậy lại có ích gì?
Do đó : “Tri hành hợp nhất”, mới có lợi ích. Cho
nên đối với pháp của chư Phật nói, chẳng những
phải nghĩ nhớ, mà còn phải tu tập, còn phải an
trụ.
Đó gọi là âm thanh nhẫn thứ nhất
của đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ nhất
của đại Bồ Tát tu, gọi là âm thanh nhẫn.
THỨ HAI, THUẬN NHẪN
Phật tử! Thế nào là thuận nhẫn
của đại Bồ Tát? Đó là đối với các pháp, tư duy
quán sát, bình đẳng không trái, tuỳ thuận biết
rõ, khiến cho tâm thanh tịnh, chánh trụ tu tập,
hướng nhập thành tựu.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là thuận nhẫn của
đại Bồ Tát tu? Tức là nói đối với tất cả các
pháp, phải tư duy, phải quán sát. Phải bình đẳng
để tư duy và quán sát, không thể trái với tất cả
Phật pháp, phải tuỳ thuận tất cả Phật pháp, phải
biết rõ tất cả Phật pháp. Bất cứ học Phật pháp
gì, đều phải khiến cho tâm thanh tịnh, không tạp
nhiễm, không có ý niệm không chánh đáng. Chánh
trụ nơi Phật pháp, tu tập Phật pháp. Như vậy thì
sẽ hướng nhập Phật pháp, thành tựu Phật pháp.
Đó gọi là thuận nhẫn thứ hai của
đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ hai
của đại Bồ Tát tu, gọi là thuận nhẫn.
THỨ BA, VÔ SINH PHÁP NHẪN
Phật tử! Thế nào là vô sanh pháp
nhẫn của đại Bồ Tát?
Phật tử! Đại Bồ Tát này, chẳng
thấy có chút pháp sanh, cũng chẳng thấy có chút
pháp diệt. Tại sao?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là vô sanh pháp
nhẫn của đại Bồ Tát tu? Các vị đệ tử của Phật!
Vị đại Bồ Tát này, chẳng thấy có chút pháp sanh
ra, cũng chẳng thấy có chút pháp tiêu diệt đi.
Không sanh không diệt, nhẫn thọ nơi tâm. Lý do
tại sao?
Vì nếu không sanh thì không diệt,
nếu không diệt thì không cùng tận. Nếu không
cùng tận thì lìa cấu bẩn. Nếu lìa cấu bẩn thì
không có sự sai biệt. Nếu không có sự sai biệt,
thì không xứ sở. Nếu không xứ sở thì tịch tĩnh.
Nếu tịch tĩnh thì lìa dục. Nếu lìa dục thì không
tạo tác. Nếu không tạo tác thì không có nguyện.
Nếu không có nguyện thì không chỗ trụ. Nếu không
chỗ trụ thì không đến không đi.
Vì nếu như không có sanh thì
không có diệt, nếu không có diệt thì không cùng
tận. Nếu không cùng tận thì lìa khỏi tất cả
nhiễm ô cấu bẩn. Nếu lìa khỏi tất cả trần cấu
thì không có sự phân biệt. Nếu không có sự phân
biệt, thì không có một xứ sở nào. Nếu không có
một xứ sở nào thì rốt ráo tịch tĩnh. Nếu rốt ráo
tịch tĩnh thì lìa khỏi tài, sắc, danh, ăn, ngủ,
năm dục niệm. Nếu lìa khỏi tất cả dục niệm thì
chẳng có tạo tác. Nếu chẳng có tạo tác thì chẳng
có nguyện. Nếu chẳng có nguyện thì chẳng có chỗ
trụ. Nếu không có chỗ trụ thì không đến không
đi.
Đó gọi là vô sanh pháp nhẫn thứ
ba của đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ ba
của đại Bồ Tát tu, gọi là vô sanh pháp nhẫn.
THỨ TƯ, NHƯ HUYỄN NHẪN
Phật tử! Thế nào là như huyễn
nhẫn của đại Bồ Tát?
Phật tử! Đại Bồ Tát này, biết tất
cả pháp thảy đều như huyễn. Do nhân duyên khởi,
ở trong một pháp hiểu nhiều pháp, ở trong nhiều
pháp hiểu một pháp.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là như huyễn nhẫn
của đại Bồ Tát tu? Các vị đệ tử của Phật! Vị đại
Bồ Tát này, biết tất cả các pháp, đều như huyễn
như hoá, do nhân duyên sinh khởi. Ở trong một
thứ pháp, thấu hiểu được nhiều thứ pháp; ở trong
nhiều thứ pháp, thấu hiểu được một thứ pháp. Do
đó :
“Một tức tất cả, tất cả tức một”.
Đó là cảnh giới một nhiều vô
ngại, nhiều một viên dung.
Bồ Tát này, biết các pháp như
huyễn rồi, thấu đạt cõi nước, thấu đạt chúng
sinh, thấu đạt pháp giới, thấu đạt thế gian bình
đẳng, thấu đạt Phật xuất hiện bình đẳng, thấu
đạt ba đời bình đẳng, thành tựu đủ thứ thần
thông biến hoá.
Vị đại Bồ Tát này, biết tất cả
các pháp, đều là hư huyễn. Tức thấu đạt tất cả
cõi nước cũng là hư huyễn, thấu đạt tất cả chúng
sinh cũng là hư huyễn, thấu đạt tất cả pháp giới
cũng là hư huyễn, thấu đạt tất cả thế gian là
bình đẳng, thấu đạt Phật xuất hiện là bình đẳng,
thấu đạt ba đời là bình đẳng. Thành tựu đủ thứ
thần thông biến hoá, đều là hư huyễn.
Ví như huyễn, chẳng phải voi,
chẳng phải ngựa. Chẳng phải xe, chẳng phải đi
bộ. Chẳng phải nam, chẳng phải nữ. Chẳng phải
đồng nam, chẳng phải đồng nữ. Chẳng phải cây,
chẳng phải lá, chẳng phải hoa, chẳng phải quả.
Chẳng phải đất, chẳng phải nước, chẳng phải lửa,
chẳng phải gió. Chẳng phải ban ngày, chẳng phải
ban đêm. Chẳng phải ngày, chẳng phải tháng,
chẳng phải nửa tháng, chẳng phải một tháng,
chẳng phải một năm, chẳng phải trăm năm, chẳng
phải một kiếp, chẳng phải nhiều kiếp. Chẳng phải
định, chẳng phải loạn. Chẳng thuần, chẳng tạp.
Chẳng một, chẳng khác. Chẳng rộng, chẳng hẹp.
Chẳng nhiều, chẳng ít. Chẳng lượng, chẳng vô
lượng. Chẳng thô, chẳng tế. Chẳng phải tất cả đủ
thứ các vật đó, đủ thứ chẳng phải huyễn, huyễn
chẳng phải đủ thứ, vì do huyễn, mà thị hiện đủ
thứ sự việc khác biệt.
Ví như huyễn biến hiện ra con
voi, chẳng phải là con voi thật. Huyễn biến hiện
ra con ngựa, chẳng phải là ngựa thật. Huyễn biến
hiện ra xe, chẳng phải là xe thật. Huyễn biến
hiện ra đi bộ, chẳng phải là đi bộ thật. Huyễn
hoá hiện ra người nam, huyễn hoá ra người nữ,
huyễn hoá ra đồng nam, huyễn hoá ra đồng nữ, đều
chẳng phải người nam thật, người nữ thật, đồng
nam thật, đồng nữ thật. Huyễn hoá ra cây, huyễn
hoá ra lá, huyễn hoá ra hoa, huyễn hoá ra quả,
đều chẳng phải là cây thật, lá thật, hoa thật,
quả thật. Huyễn biến hiện ra đất, chẳng phải đất
đai thật. Huyễn biến hiện ra nước, chẳng phải là
nước thật. Huyễn biến hiện ra lửa, chẳng phải là
lửa thật. Huyễn biến hiện ra gió, chẳng phải là
gió thật. Huyễn biến hiện ra ban ngày, chẳng
phải là ban ngày thật, huyễn biến hiện ra ban
đêm, chẳng phải là ban đêm thật. Huyễn biến hiện
ra ngày, chẳng phải là ngày thật. Huyễn biến
hiện ra tháng, chẳng phải là tháng thật. Huyễn
biến hiện ra nửa tháng, huyễn biến hiện ra một
tháng, huyễn biến hiện ra một năm, huyễn biến
hiện ra trăm năm, huyễn biến hiện ra một kiếp,
huyễn biến hiện ra nhiều kiếp, đều chẳng phải
thật. Huyễn hiện ra định, huyễn hiện ra loạn,
huyễn hiện ra thuần, huyễn hiện ra tạp, huyễn
hiện ra một, huyễn hiện ra khác, đều chẳng phải
thật. Tóm lại, phàm là hư huyễn hiện ra đều
chẳng chân thật.
Bồ Tát biết tất cả các pháp như
huyễn, cho nên không chấp trước, cũng chẳng chấp
trước rộng, cũng chẳng chấp trước hẹp, cũng
chẳng chấp trước nhiều, cũng chẳng chấp trước
ít, cũng chẳng chấp trước có số lượng, cũng
chẳng chấp trước không có số lượng. Cũng chẳng
chấp trước pháp thô, cũng chẳng chấp trước pháp
tế. Cũng chẳng chấp trước tất cả đủ thứ sự vật.
Đủ thứ chẳng phải hư huyễn, hư huyễn chẳng phải
đủ thứ. Do vì hư huyễn, cho nên thị hiện đủ thứ
sự vật khác nhau.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, quán
tất cả thế gian như huyễn. Đó là: Nghiệp thế
gian, phiền não thế gian, cõi nước thế gian,
pháp thế gian, thời thế gian, thú thế gian,
thành thế gian, hoại thế gian, vận động thế
gian, tạo tác thế gian.
Đại Bồ Tát cũng tình hình như
vậy, Ngài quán sát tất cả thế gian, đều là hư
huyễn. Đó là:
1. Nghiệp thế gian.
2. Phiền não thế gian.
3. Cõi nước thế gian.
4. Pháp thế gian.
5. Thời thế gian.
6. Thú thế gian.
7. Thành thế gian.
8. Hoại thế gian.
9. Vận động thế gian.
10. Tạo tác thế gian.
Mười thứ thế gian này, đều là hư
huyễn, chẳng phải chân thật.
Khi đại Bồ Tát quán tất cả thế
gian như huyễn, thì chẳng thấy chúng sinh sinh,
chẳng thấy chúng sinh diệt. Chẳng thấy cõi nước
sinh, chẳng thấy cõi nước diệt. Chẳng thấy các
pháp sinh, chẳng thấy các pháp diệt. Chẳng thấy
quá khứ có thể phân biệt, chẳng thấy vị lai có
khởi tác, chẳng thấy hiện tại một niệm trụ.
Chẳng quán sát bồ đề, chẳng phân biệt bồ đề.
Chẳng thấy Phật xuất hiện, chẳng thấy Phật vào
Niết bàn. Chẳng thấy trụ nguyện lớn, chẳng thấy
vào chánh vị, chẳng xuất tánh bình đẳng.
Khi đại Bồ Tát quán sát tất cả
thế gian như huyễn, thì chẳng thấy có chúng sinh
sinh, cũng chẳng thấy có chúng sinh diệt. Chẳng
thấy có cõi nước sinh, cũng chẳng thấy có cõi
nước diệt. Chẳng thấy có các pháp sinh, cũng
chẳng thấy có các pháp diệt. Chẳng thấy pháp quá
khứ có thể phân biệt, cũng chẳng thấy pháp vị
lai có sự khởi tác, cũng chẳng thấy pháp hiện
tại ở trong một niệm có chỗ trụ. Vì hết thảy tất
cả đều do hư huyễn thành tựu. Bồ Tát đối với tất
cả các pháp chẳng có tất cả sự chấp trước, hành
sở vô sự, cho nên chẳng thấy quá khứ, chẳng có
sự phân biệt quá khứ. Chẳng thấy vị lai, chẳng
có tác khởi vị lai. Chẳng thấy hiện tại, chẳng
có một niệm chấp trước hiện tại.
Bồ Tát chẳng quán sát bồ đề,
nhưng tu hạnh bồ đề. Do đó :
“Chỉ hỏi trồng trọt
Đừng hỏi thu hoạch”.
Khi mùa xuân trì làm ruộng, nỗ
lực trồng trọt, mà không hỏi mùa thu thu hoạch
như thế nào, đó là tư tưởng của người nông dân.
Bồ Tát chẳng những không quán sát bồ đề, mà cũng
không phân biệt bồ đề. Bồ Tát chẳng chấp trước
vào Phật xuất hiện ra đời, cũng chẳng chấp trước
vào Phật nhập Niết Bàn, cũng chẳng chẳng chấp
trước vào đại nguyện của bậc Đẳng giác và Diệu
giác trụ. Do đó :
“Quét tất cả pháp, lìa tất cả
tướng”.
Cũng chẳng chấp trước vào thấy
chứng được quả vị Phật, cũng chẳng chấp trước
vào tánh bình đẳng. Tóm lại, gì cũng chẳng chấp
trước.
Bồ Tát đó, tuy thành tựu cõi
Phật, biết cõi nước không khác biệt. Tuy thành
tựu cõi chúng sinh, biết chúng sinh không khác
biệt. Tuy quán khắp pháp giới, mà an trụ pháp
tánh, tịch nhiên bất động. Tuy đạt được ba đời
bình đẳng, mà chẳng trái phân biệt pháp ba đời.
Tuy thành tựu uẩn xứ, mà dứt hẳn chỗ nương tựa.
Tuy độ thoát chúng sinh, mà biết rõ pháp giới
bình đẳng, không có đủ thứ sự khác biệt. Tuy
biết tất cả pháp xa lìa văn tự, không thể nói
được, mà thường thuyết pháp, biện tài vô tận.
Tuy chẳng chấp trước, việc giáo hoá chúng sinh,
mà chẳng bỏ đại bi, vì độ tất cả mà chuyển bánh
xe pháp. Tuy vì khai thị nhân duyên quá khứ, mà
biết tánh nhân duyên không có động chuyển.
Vị Bồ Tát đó, tuy thành tựu cõi
nước chư Phật, biết cõi nước không có sự phân
biệt. Tuy thành tựu cõi chúng sinh, biết chúng
sinh không có sự phân biệt. Loài người chúng ta,
tuy có chủng tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau,
văn tự khác nhau, phong tục khác nhau, nhưng mọi
người đều là con người. Bồ Tát tuy quán sát khắp
tất cả pháp giới, mà vẫn ở tại cõi nước của
mình, an trụ trong pháp tánh, tịch nhiên bất
động. Tuy Bồ Tát thấu đạt được ba đời đều là
bình đẳng, mà chẳng trái phân biệt pháp ba đời.
Tuy Bồ Tát thành tựu năm uẩn,
mười hai xứ, mười tám giới, mà dứt hẳn chỗ nương
tựa thế giới. Giống như Bồ Tát có thể phá một
phần vô minh cuối cùng, thì có thể thành Diệu
giác, nhưng Bồ Tát không phá một phần vô minh
này, vẫn hoà quang hỗn tục, ở trong chúng sinh
giáo hoá chúng sinh, làm mô phạm cho chúng sinh.
Ngài khiến cho chúng sinh sinh ra tư tưởng như
vầy: “Bạn có thể khai ngộ, tôi cũng có thể khai
ngộ. Bạn chứng được ngũ nhãn lục thông, tôi cũng
có thể chứng được ngũ nhãn lục thông”, có sự tác
dụng như thế.
Nếu hiện thân khác nhau, hoặc màu
da nhan sắc khác nhau, thì tâm chúng sinh sẽ
khởi hảo cảm tác dụng, sẽ dễ dàng giáo hoá. Cho
nên Bồ Tát ở trong mỗi chủng tộc, hiện thân
giống như vậy để vì chúng sinh thuyết pháp,
khiến cho mỗi chủng tộc sinh ra tâm lý tự hào
rằng: “Trong chủng tộc chúng ta cũng có người tu
đạo, cũng có người thành đạo”. Do đó bèn phát bồ
đề tâm, như vậy sẽ khiến cho chúng sinh có sự hy
vọng, mà chẳng tuyệt vọng. Bồ Tát dụng tâm khổ
cực như vậy, nghĩ hết biện pháp để giáo hoá
chúng sinh. Bồ Tát vì hằng thuận chúng sinh, mà
làm việc chúng sinh ưa thích, nhưng tuyệt đối
không chấp trước, đó tức là cảnh giới của Bồ
Tát.
Tuy Bồ Tát độ thoát tất cả chúng
sinh, mà biết rõ pháp giới là bình đẳng, chúng
sinh tức là Phật, Phật tức là chúng sinh, không
có đủ thứ mọi sự phân biệt. Có người nói: “Đạo
lý này tôi không tin”, tin hay không tin đều là
Phật giáo, vì tánh của bạn và tánh của Phật,
chẳng có sự phân biệt, là một thể, chẳng phải
vấn đề bạn tin hay không tin, bạn tin hay không
tin đều chẳng có quan hệ gì cả.
Tôi thường nói: “Hôm nay bạn
không tin Phật, tôi đợi bạn ngày mai. Ngày mai
bạn cũng không tin, thì tôi đợi bạn ngày mốt.
Ngày mốt bạn cũng không tin Phật, thì tôi đợi
bạn một năm, hoặc một đời, thậm chí nhiều đời,
cho đến một đại kiếp, cuối cùng sẽ có một ngày
bạn sẽ tin Phật”. Tại sao? Vì Phật giáo là tận
hư không khắp pháp giới, nếu bạn chạy ra ngoài
hư không được, thì bạn không cần tin Phật. Nếu
bạn có thể chạy ra ngoài pháp giới được, thì
cũng không cần tin Phật, chỉ e rằng bạn không có
bản lãnh như thế, cho nên bạn sớm sẽ tin Phật.
Tuy Bồ Tát biết tất cả các pháp
xa lìa tất cả văn tự, không lời lẽ để nói, do
đó: “Ngôn ngữ đạo đoạn”, tức là lời nói đã dứt
bặc, chẳng còn gì để nói. Bản thể của pháp là
chẳng lập ngôn ngữ, chẳng lập văn tự. Pháp tuy
nhiên không thể nói, nhưng Phật Bồ Tát lại luôn
luôn thuyết pháp, có cảnh giới biện tài vô tận,
thao thao bất tuyệt, đạo lý nói ra đều là chánh
tri chánh kiến, chẳng phải cường từ đoạt lý,
không có ai bắt bẻ được.
Tuy Bồ Tát chẳng chấp trước việc
giáo hoá chúng sinh, mà chẳng xả bỏ tâm đại bi,
vì độ tất cả mà chuyển bánh xe pháp. Có người
hỏi: “Thế nào là chuyển bánh xe pháp?” Bạn không
minh bạch thì có thể đến Kim Sơn Thánh Tự để
tham quan. Kim Sơn Thánh Tự hằng ngày chuyển
bánh xe pháp (giảng kinh thuyết pháp). Chuyển
đến chuyển lui, chuyển ra Kim Luân Thánh Tự (tại
Los Angeles), lại chuyển ra một Như Lai Tự (tại
Vạn Phật Thánh Thành). Càng chuyển càng nhiều,
tương lai hoằng dương Phật pháp đến toàn thế
giới.
Tuy Bồ Tát khai thị tất cả chúng
sinh, khiến cho họ biết nhân duyên và quả báo
đời quá khứ, mà Ngài cũng biết nhân duyên là
tánh không, chẳng có một thể nào cả, cho nên
chẳng động chuyển.
Đó gọi là như huyễn nhẫn thứ tư
của đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ tư
của đại Bồ Tát tu, gọi là như huyễn nhẫn.
THỨ NĂM, NHƯ DIỆM NHẪN
Phật tử! Thế nào là như diệm nhẫn
của đại Bồ Tát?
Phật tử! Đại Bồ Tát này, biết tất
cả thế gian giống như dương diệm. Ví như dương
diệm, không có phương sở, không trong, không
ngoài, chẳng có, chẳng không, chẳng đoạn, chẳng
thường, chẳng một sắc, chẳng đủ thứ sắc, nhưng
tuỳ thế gian lời nói hiển bày. Bồ Tát như vậy,
quán sát như thật, biết rõ các pháp, hiện chứng
tất cả, khiến cho được viên mãn.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là như diệm nhẫn
của đại Bồ Tát tu? Các vị đệ tử của Phật! Vị đại
Bồ Tát này, Ngài biết hết thảy tất cả pháp thế
gian giống như dương diệm, ở xa nhìn tựa như có,
đến gần nhìn thì không có, là hư vọng không
thật, nó chẳng có xứ sở nhất định, chẳng có nơi
đến, cũng chẳng có nơi đi. Nói nó có chăng? Ở
gần nhìn thì chẳng có; nói nó chẳng có chăng? Ở
xa nhìn thì tựa như vũng nước. Dương diệm cũng
chẳng phải đoạn, cũng chẳng phải thường, không
thể nói nó là đoạn diệt, vì nó tuỳ thời có thể
không có, nó cũng chẳng phải một thứ sắc, cũng
chẳng phải đủ thứ sắc, cũng chẳng phải chẳng có
sắc. Nhưng Bồ Tát tuỳ thuận chúng sinh thế gian,
mà dùng lời nói để hiển bày.
Bồ Tát dùng lý thể chân thật, trí
huệ chân chánh để quán cảnh giới này, thấu rõ
đạo lý thật tướng của tất cả các pháp, hiện
chứng tất cả quả vị, chẳng những khiến cho mình
được viên mãn bồ đề, cũng khiến cho tất cả chúng
sinh đều được viên mãn bồ đề, đó tức là tinh
thần tự giác giác tha của Bồ Tát.
Đó gọi là như diệm nhẫn thứ năm
của đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ năm
của đại Bồ Tát tu, gọi là như diệm nhẫn.
THỨ SÁU, NHƯ MỘNG NHẪN
Phật tử! Thế nào là như mộng nhẫn
của đại Bồ Tát?
Phật tử! Bồ Tát nầy, biết tất cả
thế gian như mộng. Ví như mộng, chẳng phải thế
gian, chẳng phải lìa thế gian, chẳng phải dục
giới, chẳng phải sắc giới, chẳng phải vô sắc
giới, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhiễm, chẳng
tịnh, mà có sự thị hiện.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là như mộng nhẫn
của đại Bồ Tát tu? Các vị đệ tử của Phật! Vị Bồ
Tát nầy, Ngài biết tất cả thế gian như giấc
mộng, chẳng có thật thể.
Khi chúng ta nằm mộng, chẳng biết
là đang nằm mộng. Ở trong mộng, vừa thăng quan,
vừa phát tài, vợ đẹp thiếp xinh, con cái đầy
nhà, đời sống vinh hoa phú quý, hưởng thọ vui
sướng, cảnh giới trong mộng như là thật, không
biết rằng đó là mộng. Họ ở trong mộng rất là
tuyệt vời, nếu có người nói với họ rằng: “Bạn
đang nằm mộng! Đó chẳng phải là thật, đều là
giả”, thì người đó nhất định không tin. Đợi khi
họ tỉnh mộng rồi, chẳng cần ai nói với họ đó là
mộng, họ cũng biết là đã nằm mộng. Cho nên nói
thế gian giống như mộng, nhưng mộng chẳng phải
là thế gian, cũng chẳng phải lìa thế gian, mộng
cũng chẳng phải trời dục giới, cũng chẳng phải
trời sắc giới, cũng chẳng phải trời vô sắc giới,
vì nó là mộng, mộng chẳng sinh, cũng chẳng diệt.
Cảnh giới của mộng chẳng phải nhiễm ô, chẳng
phải thanh tịnh, nhưng có lúc ở trong mộng lạy
Phật, tụng Kinh, ngồi thiền, đó là mộng thanh
tịnh. Có lúc ở trong mộng nhảy đầm, uống rượu,
ca hát, đó là mộng nhiễm ô, nhưng mộng đều có sự
thị hiện.
Mộng có năm thứ:
1. Vì thân thể không điều hoà,
nếu khí nóng nhiều, thì ở trong mộng sẽ thấy
lửa, hoặc mộng thấy màu đỏ.
2. Nếu khí lạnh nhiều, thì ở
trong mộng sẽ thấy nước, hoặc mộng thấy màu
trắng.
3. Nếu khí gió nhiều, thì ở trong
mộng sẽ thấy bay, hoặc mộng thấy màu đen, đó là
hiện tượng sinh lý.
4. Lại mộng thấy sự việc, nhiều
khi do suy nghĩ nhớ tưởng, do đó: “Ngày nghĩ
việc gì, thì đêm nằm mộng thấy”.
5. Hoặc dự cảm mộng, muốn khiến
cho biết việc tương lai, do đó: “Dự điềm cảm
ứng”. Năm thứ mộng này đều không sự thật, mà là
vọng kiến.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, biết
tất cả thế gian đều giống như mộng, vì chẳng có
thay đổi, vì tự tánh như mộng, vì chấp trước như
mộng, vì tánh lìa như mộng, vì bổn tánh như
mộng, vì sở hiện như mộng, vì vô sai biệt như
mộng, vì tưởng phân biệt như mộng, vì giác thời
như mộng.
Đại Bồ Tát cũng tình hình như
vậy, biết tất cả thế gian đều giống như mộng. Do
đó:
“Nhân sinh nhất trường mộng
Nhân tử mộng nhất trường
Mộng lý thân vinh quý
Mộng tỉnh tại cùng hương.
Triều triều thị tác mộng
Bất giác mộng hoàn lương
Mộng trung nhược bất tỉnh
Uổng tác mộng nhất trường”.
Nghĩa là:
Đời người một giấc mộng
Chết đi mộng một giấc
Trong mộng thấy giàu sang
Tỉnh mộng vẫn nghèo sơ.
Ngày ngày đang nằm mộng
Không biết đó là mộng
Trong mộng nếu không tỉnh
Uổng thay một giấc mộng.
Vì mộng chẳng có biến đổi, chẳng
có tự tánh, do hư vọng mà sinh, hư vọng mà diệt.
Nếu chấp trước mộng tốt, chấp trước mộng không
tốt, sẽ sinh ra sự chấp trước. Mộng là lìa khỏi
tự tánh, vì bản tánh của mộng là hư vọng, cho
nên trong mộng hiện ra đều không thật tại. Mộng
và mộng chẳng có sự phân biệt với nhau. Mộng là
do tưởng phân biệt mà có, đến lúc mộng giác ngộ
thì mới biết tất cả là vô thường, là hư vọng.
Mộng chẳng giác ngộ, cảm thấy là chân thật, con
người từ lúc sinh đến lúc chết, một đời hồ đồ,
chẳng có tỉnh táo, nếu chẳng phải đang nằm mộng,
vậy thì đang làm gì?
Người chân chánh minh bạch Phật
pháp, thì đắc được đại trí huệ, lúc đó, trong
mộng tỉnh dậy, quay đầu nhìn lại, thì con người
tại thế gian nhiều khổ quá, khổ khổ não não,
tranh tranh náo náo, một ngày đến tối, tuý sinh
mộng tử, chẳng biết tu hành, đợi đến lúc sắp
chết thì, thật là đáng thương xót! Do đó:
“Biển khổ không bờ,
Quay đầu là bến”.
Tôi khuyên các vị, lúc còn trẻ
khoẻ mạnh, nên phát tâm tu hành, đừng để thời
gian trôi qua lãng phí, do đó:
“Đừng đợi đến già mới học đạo
Mộ phần đa số người tuổi trẻ”.
Đó là như mộng nhẫn thứ sáu của
đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ sáu
của đại Bồ Tát tu, gọi là như mộng nhẫn.
THỨ BẢY, NHƯ VANG NHẪN
Phật tử! Thế nào là như vang nhẫn
của đại Bồ Tát?
Phật tử! Đại Bồ Tát nầy, nghe
Phật thuyết pháp, quán các pháp tánh, tu học
thành tựu, đến nơi bờ kia, biết tất cả âm thanh,
đều giống như vang, không đến, không đi, thị
hiện như vậy.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là như vang nhẫn
của đại Bồ Tát tu? Các vị đệ tử của Phật! Vị đại
Bồ Tát này, Ngài luôn luôn lắng nghe chư Phật
diễn nói tất cả các pháp, dùng trí huệ để quán
sát pháp tánh của tất cả các pháp, y pháp để tu
học, thành tựu pháp môn tu hành, đến được Niết
Bàn bờ bên kia. Bồ Tát biết hết thảy tất cả âm
thanh, đều giống như tiếng vang, chẳng đến, cũng
chẳng đi, đó đều là thị hiện mà thôi.
Phật tử! Đại Bồ Tát nầy, quán
tiếng Như Lai, chẳng từ trong ra, chẳng từ ngoài
ra, cũng chẳng từ trong ngoài mà ra. Chỉ biết
tiếng đó, chẳng trong, chẳng ngoài, chẳng trong
ngoài ra, mà có thể thị hiện khéo léo danh từ
câu văn, thành tựu diễn nói.
Các vị đệ tử của Phật! Vị đại Bồ
Tát nầy, Ngài có thể quán sát âm thanh của Phật
phát ra, chẳng phải từ bên trong phát ra, cũng
chẳng phải từ bên ngoài phát ra, cũng chẳng phải
ở trung gian trong ngoài phát ra. Tuy Bồ Tát
biết rõ âm thanh đó, chẳng phải từ bên trong bên
ngoài phát ra, nhưng có thể thị hiện khéo léo
danh từ câu văn, thành tựu để diễn nói tất cả
các pháp.
Ví như tiếng vang hang động, do
duyên mà khởi, với pháp tánh chẳng có trái nhau,
khiến cho các chúng sinh, tuỳ loại đều hiểu, mà
được tu học.
Như phu nhân của trời Đế Thích,
con gái của vua A tu la, tên là Xá Chi. Ở trong
một tiếng, mà vang ra ngàn thứ tiếng, tâm cũng
chẳng nghĩ làm ra như vậy.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vào
cõi không phân biệt, thành tựu thiện xảo tuỳ
loại tiếng. Ở trong vô biên thế giới, luôn
chuyển bánh xe pháp.
Ví như hang động truyền thanh,
tiếng nói trong hang núi sẽ hồi lại. Trong hang
động lớn tiếng niệm « Nam Mô A Di Đà Phật »,
tích tắc sẽ dội lại tiếng « Nam Mô A Di Đà
Phật », đó tức là như vang ứng tiếng. Cảnh giới
này là do nhân duyên mà khởi, song với pháp tánh
bổn lai chẳng trái với nhau. Thứ tiếng đó, khiến
cho tất cả chúng sinh tuỳ loại đều hiểu được, dù
nói với bất cứ loài chúng sinh nào, nghe được
đều hiểu rõ ràng, đều y theo pháp tu hành.
Giống như phu nhân của trời Đế
Thích, cô ta là con gái của vua A tu la, tên là
Xá Chi. Cô ta ở trong một thứ tiếng, phát ra
ngàn thứ tiếng. Đó là tự nhiên biến hoá ra,
chẳng phải do tâm cô ta nghĩ làm ra tiếng ấy.
Tóm lại, không cần tâm nghĩ, mà có thể thành tựu
tiếng đó. Nếu dùng tâm để nghĩ, thì thành vọng
tưởng, do đó :
« Vô tâm là cảm ứng,
Có tâm là vọng tưởng ».
Đủ thứ tiếng êm tai của cô Xá
Chi, khiến cho ai ai cũng đều hoan hỉ thưởng
thức.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế,
chứng được cảnh giới không phân biệt, thành tựu
thiện xảo tiếng tuỳ loại, để giáo hoá chúng
sinh. Tóm lại, Bồ Tát đến nơi nào giáo hoá chúng
sinh, thì dùng ngôn ngữ ở địa phương đó để nói
pháp, hoặc giáo hoá loại chúng sinh nào, thì
dùng ngôn ngữ của loài chúng sinh đó để thuyết
pháp. Ví như, thấy ngựa thì dùng lời nói của
ngựa để thuyết pháp, thấy bò thì dùng lời nói bò
để thuyết pháp. Bồ Tát ở trong vô biên thế giới,
thường chuyển bánh xe diệu pháp, không có lúc
nào ngừng nghỉ.
Bồ Tát nầy khéo hay quán sát tất
cả chúng sinh, dùng tướng lưỡi rộng dài mà vì họ
diễn nói, âm thanh đó vô ngại, khắp mười phương
cõi nước, khiến tuỳ sở nghi, nghe pháp đều khác
nhau. Tuy biết tiếng không khởi mà khắp hiện âm
thanh. Tuy biết vô sở thuyết mà diễn nói các
pháp, diệu âm bình đẳng, tuỳ loại đều hiểu được,
đều dùng trí huệ mà thấu đạt được.
Vị đại Bồ Tát nầy, Ngài khéo hay
quán sát nhân duyên của tất cả chúng sinh, mà vì
chúng sinh thuyết pháp (dùng tướng lưỡi rộng
dài, tức là thuyết pháp). Ngài quán sát căn
tánh, nên nói pháp gì, thì nói pháp đó. Do đó :
« Quán cơ thí giáo, vì người thuyết pháp ». Bồ
Tát dùng tướng lưỡi rộng dài, mà vì chúng
sinh diễn nói tất cả diệu pháp, âm thanh đó viên
dung vô ngại, khắp cùng mười phương cõi nước chư
Phật, Bồ Tát tuỳ căn cơ mà vì họ nói pháp, chúng
sinh đợi diệu pháp nầy để khai thị. Do đó :
« Bồ Tát một tiếng diễn nói pháp,
Chúng sinh theo loài đều hiểu
được »,
Đó tức là đạo lý nghe pháp đều
khác nhau. Ngộ nghĩa lý cũng có sâu có cạn, có
nhiều có ít. Đây chẳng phải là tâm Bồ Tát thiên
lệch, mà là quan hệ tâm lượng lớn nhỏ của chúng
sinh. Chúng sinh tâm lượng lớn, thì được nhiều
hơn một chút; chúng sinh tâm lượng nhỏ thì ít
hơn một chút. Đó là vấn đề tâm lượng lớn nhỏ của
chúng sinh, chứ chẳng phải tâm phân biệt của Bồ
Tát. Bồ Tát có tư tưởng vô duyên đại từ, đồng
thể đại bi, một luật bình đẳng giống nhau, không
phân biệt xa gần dày mỏng, đều là chúng sinh mà
Ngài phải độ.
Tuy Bồ Tát biết âm thanh chẳng
khởi chẳng diệt, nhưng khắp cùng hết thảy thế
giới, mà hiện hiện ra âm thanh, vì chúng sinh
thuyết pháp. Tuy Bồ Tát biết vô ngôn thuyết
tướng, vô văn tự tướng, vô tâm duyên tướng, cho
dù tâm tưởng niệm cũng không còn, hà huống có
thể nói ra ? Bổn lai ngôn ngữ tánh không, nói mà
không nói. Tuy nhiên biết vô sở thuyết, nhưng
vẫn phải đối với tất cả chúng sinh diễn nói tất
cả các pháp, khiến cho chúng sinh nghe pháp khai
ngộ. Âm thanh vi diệu của Bồ Tát diễn nói pháp
môn bình đẳng, chúng sinh tuỳ theo loài đều hiểu
được. Hết thảy chúng sinh đều vận dụng trí huệ
mà thấu đạt được đạo lý thật tướng của các pháp.
Đó là như vang nhẫn thứ bảy của
đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ bảy
của đại Bồ Tát tu, gọi là như vang nhẫn.
THỨ TÁM, NHƯ ẢNH NHẪN
Phật tử! Thế nào là như ảnh nhẫn
của đại Bồ Tát? Phật tử! Đại Bồ Tát nầy, chẳng
sinh ở thế gian, chẳng diệt ở thế gian. Chẳng
ở trong thế gian, chẳng ở ngoài thế gian. Chẳng
tu hành ở thế gian, chẳng phải chẳng tu hành ở
thế gian. Chẳng đồng nơi ở thế gian, chẳng khác
nơi ở thế gian. Chẳng qua lại ở thế gian, chẳng
phải chẳng qua lại ở thế gian. Chẳng trụ ở thế
gian, chẳng phải chẳng trụ ở thế gian. Chẳng
phải là thế gian, chẳng phải là xuất thế gian.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là như ảnh nhẫn
của đại Bồ Tát tu? Các vị đệ tử của Phật! Vị đại
Bồ Tát nầy, chẳng phải sinh tại thế gian, chẳng
phải diệt tại thế gian, cũng chẳng phải ở trong
thế gian, cũng chẳng phải ở ngoài thế gian.Đó là
tự tại của Bồ Tát, vô câu vô thúc, vô quái vô
ngại, cho nên chẳng giống với phàm phu.
Bồ Tát cũng chẳng phải tu hành
tại thế gian, cũng chẳng phải chẳng tu hành tại
thế gian, chẳng phải đồng nơi ở thế gian, chẳng
phải khác nơi ở thế gian, chẳng phải qua lại ở
thế gian, chẳng phải chẳng qua lại nơi thế gian,
chẳng phải trụ nơi thế gian, chẳng phải chẳng
trụ nơi thế gian, cũng chẳng phải tu pháp nhập
thế, cũng chẳng phải tu pháp xuất thế gian, tức
là ở giữa nhập thế xuất thế, xuất thế nhập thế.
Chẳng tu hành Bồ Tát hạnh, chẳng
xả bỏ đại nguyện, chẳng thật, chẳng không thật.
Tuy thường hành tất cả Phật pháp, mà làm được
tất cả việc thế gian, chẳng tuỳ theo dòng thế
gian, cũng chẳng trụ dòng pháp.
Bồ Tát tuy tu hành Bồ Tát hạnh,
nhưng cũng chẳng chấp trước Bồ Tát hạnh, cũng
chẳng xả bỏ đại nguyện của Bồ Tát. Pháp môn của
Bồ Tát tu, Ngài cũng chẳng chấp trước là thật,
cũng chẳng chấp là chẳng thật, tất cả đều không
chấp trước. Bồ Tát tuy thường tu hành hết thảy
tất cả Phật pháp, mà biện lý được tất cả việc
thế gian, cũng chẳng xả tục đế thế gian, mà tu
chân đế. Tuy tu chân đế, mà chẳng lìa tục đế thế
gian. Ngài làm sở vô sự, pháp thế gian tức là
pháp xuất thế gian, pháp xuất thế gian tức là
pháp thế gian. Chẳng có mọi sự phân biệt và mọi
sự chấp trước. Bồ Tát tuy xử lý tất cả tục đế
pháp thế gian, nhưng Ngài vẫn tuỳ duyên bất
biến, chẳng có chấp trước. Lại có thể bất biến
tuỳ duyên, chẳng chấp trước vào dòng pháp.
Ví như mặt trời mặt trăng, người
nam người nữ, nhà cửa núi rừng, sông suối các
thứ vật.
Giống như mặt trời và mặt trăng.
Lại giống như người nam và người nữ. Lại giống
như nhà cửa và núi rừng, lại giống như sông ngòi
và suối chảy các thứ vật.
Đều hiện bóng ở trong vật thanh
tịnh, như trong dầu, trong nước, trong thân,
trong châu báu, trong gương sáng.
Phàm là vật thanh tịnh, thì đều
hiện ra hình bóng của nó, như ở trong dầu, ở
trong nước, ở trong thân, ở trong châu báu, ở
trong gương sáng.
Bóng và dầu .v.v… chẳng một,
chẳng khác, chẳng lìa, chẳng hợp. Trong dòng
nước chảy cũng chẳng bị trôi đi, ở trong ao
giếng cũng chẳng bị chìm mất. Tuy hiện ở trong
đó, mà không chấp trước.
Bóng và dầu .v.v… các thứ vật,
chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng lìa khỏi,
chẳng hợp lại. Bóng và dầu ở trong nước cũng
chẳng trôi đi, ở trong ao giếng cũng chẳng chìm
đắm. Tuy nhiên hiện ở trong đó, bóng và dầu đều
không chấp trước.
Các chúng sinh biết ở nơi đây có
bóng đó hiện, cũng biết ở nơi kia không có bóng
như vậy. Vật xa, vật gần, tuy đều hiện bóng,
bóng chẳng tuỳ vật mà có gần xa.
Ở trước có nói tất cả chúng sinh
biết ở nơi đây có bóng nầy hiện ra, cũng biết ở
nơi kia chẳng có bóng như vậy. Vật xa và vật
gần, tuy đều hiện bóng, nhưng bóng chẳng tuỳ vật
mà có gần xa, nghĩa là vật có gần xa, mà bóng
chẳng có gần xa.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, biết
thân mình và thân họ, tất cả đều là cảnh giới
của trí, không cho là hai, rằng mình và họ khác
nhau, mà nơi cõi nước mình, nơi cõi nước họ đều
khác biệt, một thời hiện khắp.
Đại Bồ Tát cũng tình hình như
thế, biết tâm thân của mình và tâm thân của
người khác, tất cả đều vì có trí huệ, mới biết
có cảnh giới như thế. Thân mình và thân họ,
không cho đó là hai, nói rằng thân mình và thân
họ có sự phân biệt, mà đối với cõi nước của mình
ở, đối với cõi nước của họ ở đều khác biệt, một
thời hiện ra khắp đủ thứ cõi nước.
Như trong hạt giống, không có rễ
mầm thân đốt nhánh lá, mà hay sinh ra các việc
như thế. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, ở trong
pháp không hai, phân biệt hai tướng, phương tiện
khéo léo, thông đạt vô ngại.
Giống như ở trong hạt giống, vốn
chẳng có rễ, mầm, thân, đốt, nhánh, lá .v.v… mà
hay sinh ra các việc như thế. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, ở trong pháp không hai, miễn cưỡng
phân biệt có hai tướng, vốn chẳng có hai tướng,
nhưng dùng phương tiện khéo léo để nói thành hai
tướng, thông đạt đạo lý hai mà chẳng hai, chẳng
hai mà hai, viên dung vô ngại.
Đó là như ảnh nhẫn thứ tám của
đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ tám
của đại Bồ Tát, gọi là như ảnh nhẫn.
THỨ CHÍN, NHƯ HOÁ NHẪN
Đại Bồ Tát thành tựu nhẫn nầy,
tuy chẳng qua đến mười phương cõi nước, mà có
thể hiện khắp tất cả cõi Phật, cũng chẳng lìa
đây, cũng chẳng đến kia. Như bóng hiện khắp, sở
hành vô ngại, khiến cho các chúng sinh thấy thân
khác nhau. Đồng tướng kiên thật nơi thế gian, mà
đây khác biệt tức chẳng khác biệt, khác và chẳng
khác không có chướng ngại. Bồ Tát nầy, từ nơi
chủng tánh Như Lai mà sinh ra, thân lời và ý
thanh tịnh vô ngại, nên đắc được thân vô biên
sắc tướng thanh tịnh.
Đại Bồ Tát thành tựu nhẫn nầy,
sắc thân của Ngài tuy chẳng qua đến mười phương
cõi nước, mà có thể hiện khắp tất cả cõi Phật,
cũng chẳng lìa khỏi cõi nước của mình ở, cũng
chẳng đến cõi nước chư Phật. Giống như bóng hiện
khắp mọi nơi có ánh sáng, Bồ Tát hành pháp môn
nầy, có thần thông tự tại thiên biến vạn hoá, do
đó mà sở hành vô ngại, khiến cho tất cả chúng
sinh nhìn thấy được thân Bồ Tát khác nhau, đồng
như tướng kiên thật nơi thế gian. Tuy nhiên sự
khác nhau đó, nhưng vẫn là một dạng. Giống nhau
và khác nhau, chẳng có sự chướng ngại, do đó :
« Viên dung vô ngại », có thể nói là giống, cũng
có thể nói là khác.
Vị Bồ Tát nầy, từ nơi chủng tánh
của Phật mà sinh ra, thân cũng thanh tịnh, lời
cũng thanh tịnh và ý cũng thanh tịnh, ba nghiệp
thanh tịnh, chẳng có chướng ngại, bởi vậy, cho
nên đắc được diệu sắc thân vô biên sắc tướng
thanh tịnh.
Phật tử! Thế nào là như hoá nhẫn
của đại Bồ Tát ? Phật tử! Đại Bồ Tát nầy, biết
tất cả thế gian thảy đều như hoá.
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật! Thế nào là như hoá nhẫn
của đại Bồ Tát tu? Các vị đệ tử của Phật! Ngài
biết tất cả thế gian đều như hoá mà có, chẳng
thật.
Đó là : Tất cả chúng sinh ý
nghiệp hoá, vì giác tưởng khởi lên. Tất cả thế
gian các hành vi hoá, vì phân biệt khởi lên. Tất
cả khổ vui điên đảo hoá, vì vọng chấp lấy sở
khởi. Tất cả thế gian chẳng thật pháp hoá, vì
lời nói sở hiện. Tất cả phiền não phân biệt hoá,
vì tưởng nhớ khởi lên.
Tất cả chúng sinh ý nghiệp chẳng
thanh tịnh mà có biến hoá. Giống như chúng ta
hôm nay muốn làm việc này, ngày mai lại muốn làm
việc khác; hôm nay muốn xuất gia tu đạo, ngày
mai lại muốn hoàn tục kết hôn, đó tức là ý
nghiệp hoá. Ý chẳng nhất định, chẳng có định
lực, giữ yên không được, vẫn tuỳ thuận ý nghiệp
biến hoá khởi lên. Đó tức là giác quán các ác
khởi lên. Giác nầy, chẳng phải là giác tốt, mà
là ngu giác, tức cũng là nghĩ muốn biết thế nào
là ngu si ? Sao lại có thể đoạ địa ngục ? Sao
lại không thể giữ quy cụ ? Giác tưởng nầy tức là
tà tri tà kiến. Có tà tri tà kiến rồi, thì sẽ
chi phối bạn điên đảo, hồ đồ, cho nên tu đạo
chẳng dễ dàng.
Chúng ta người tu đạo, phải nhận
thức rõ ràng sáu tên tặc (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân,ý), đừng chạy theo chúng, vì chúng hay tạo
ra cho bạn rất nhiều phiền não, khiến cho bạn
sinh phiền não, khiến cho bạn sinh ra vô minh.
Cho nên người tu đạo, phải có chánh tri chánh
kiến, lúc nào cũng phải nghĩ đến tu hành như thế
nào, thành tựu đạo nghiệp như thế nào? Nghĩ
tưởng như thế tức là chánh tri chánh kiến. Có
chánh tri chánh kiến thì sẽ nghĩ tưởng thông
suốt, sẽ buông bỏ đặng, không còn chấp trước, do
đó : « Tâm không quái ngại ». Nếu cứ nghĩ tà tri
tà kiến thì làm gì cũng không tự chủ được, mà
tuỳ theo cảnh giới chuyển. Khi bị cảnh giới
chuyển thì sẽ điên đảo. Các vị ! Phải đặc biệc
chú ý ! Đừng bị cảnh giới chuyển, mà phải chuyển
cảnh giới, chìa khoá tu đạo là tại chỗ này.
Thế gian tất cả hết thảy các hành vi hoá, tức
cũng là hết thảy tất cả hành vi của chúng sinh.
Tại sao thế gian có những hành vi khác nhau như
thế ? Vì do trong tâm của chúng sinh phân biệt
mà sinh ra. Chúng sinh thế gian lấy khổ làm vui,
lấy vui làm khổ. Vui là nhân của khổ, khổ là quả
của vui. Cho nên người tu đạo phải tu khổ hạnh,
thì tương lai sẽ đắc được khoái lạc chân chánh
(Thường, lạc, ngã, tịnh, bốn đức Niết Bàn).
Người không tu hành chỉ tạm thời được khoái lạc,
nhưng phải thọ khổ sở lâu dài. Tại sao phải đoạ
địa ngục ? Vì tham đồ khoái lạc của thế gian.
Tại sao phải sinh về trời ? Vì khi tu hành thì
thọ khổ. Chúng sinh chẳng minh bạch đạo lý này,
cứ làm những việc điên đảo, chỉ tham đồ khoái
lạc trước mắt, chẳng cầu khoái lạc vĩnh cửu.
Chúng sinh ngu si, chẳng muốn tạm thời thọ khổ,
mà muốn thọ khổ vĩnh viễn, đây tức là điên đảo
hoá. Lấy giả làm thật, lấy thật làm giả, nhận
giặc làm con, đó là do vọng chấp lấy sở sinh
khởi.
Tất cả hết thảy thế gian đều chẳng thật tại, đều
là huyễn hoá, đó là do lời nói biểu hiện. Phàm
là do lời nói sở hiện, thì đều không rốt ráo,
cho nên nói chẳng phải là thật pháp. Người thế
gian đều chạy theo sau phiền não, có phiền não
rồi, thì có sự phân biệt; có phân biệt rồi, thì
liền có phiền não. Tại sao có phiền não ? Vì có
vọng tưởng, có vọng tưởng rồi thì liền có phân
biệt, cho nên nói do vọng niệm khởi lên.
Lại
có thanh tịnh điều phục hoá, vì không phân biệt
sở hiện. Nơi ba đời không chuyển hoá, vì vô sanh
bình đẳng. Bồ Tát nguyện lực hoá, vì tu hành
rộng lớn. Như Lai đại bi hoá, vì phương tiện thị
hiện. Chuyển pháp luân phương tiện hoá, vì trí
huệ vô uý biện tài sở thuyết.
Lại có một sự biến hoá thanh tịnh điều phục
chúng sinh, giáo hoá chúng sinh, đó là do chẳng
có tâm phân biệt biểu hiện. Tại sao ở trong ba
đời không thể chuyển hoá ? Vì có pháp môn vô
sanh bình đẳng. Bồ Tát dùng đại nguyện đại lực
để giáo hoá chúng sinh. Làm thế nào để đắc được
đại nguyện đại lực ? Vì phát bồ đề tâm rộng lớn,
chân thật tu hành. Phật có tâm đại bi, nhổ sạch
khổ của chúng sinh, dùng đủ thứ phương tiện khéo
léo để thị hiện, giáo hoá chúng sinh, phát bồ đề
tâm, tu vô thượng đạo. Thường chuyển diệu pháp
luân, phương tiện giáo hoá chúng sinh. Người có
đại trí huệ, mới chuyển được bánh xe pháp. Còn
cần phải có tinh thần đại vô uý, cần phải có
cảnh giới biện tài vô ngại, mới có thể giảng
kinh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh đắc được
lợi ích Phật pháp.
Bồ
Tát như vậy, biết rõ thế gian, xuất thế gian
hoá. Biết hiện chứng, biết rộng lớn, biết vô
biên, biết như việc, biết tự tại, biết chân
thật, chẳng hư vọng thấy có thể khuynh động
được, tuỳ sở hành thế gian, cũng chẳng hoại mất.
Bồ Tát biết rõ huyễn hoá của thế gian và xuất
thế gian rồi, biết hiện chứng, biết rộng lớn,
biết vô biên, biết như việc, biết tự tại, biết
chân thật, chẳng phải kiến giải hư vọng có thể
khuynh động được, nghĩa là không thể lay động
được. Bồ Tát tuy nhiên tuỳ thuận tục đế của thế
gian để xử lý tất cả mọi việc, nhưng vẫn không
hoại chân đế. Tuy thuận nơi sự, mà chẳng ngại
nơi lý; tuy thuận nơi lý, mà chẳng ngại nơi sự.
Sự lý viên dung, chân giả chẳng hai, cho nên mới
nói cũng chẳng hư hoại mất. Sự bất hoại nầy, có
thể nói bất hoại tục đế, do đó « Chân chẳng lìa
tục », lại có thể nói chẳng hoại chân đế, do đó
« Tục chẳng lìa chân ».
Ví
như hoá, chẳng từ tâm khởi, chẳng từ tâm pháp
khởi, chẳng từ nghiệp khởi, chẳng thọ quả báo.
Chẳng phải thế gian sinh, chẳng phải thế gian
diệt, chẳng thể theo đuổi, chẳng thể xúc chạm,
chẳng thể ở lâu, chẳng thể ở giây lát, chẳng
hành thế gian, chẳng lìa thế gian, chẳng chuyên
về một phương, chẳng thuộc khắp các phương,
chẳng hữu lượng, chẳng vô lượng, chẳng nhàm,
chẳng nghỉ, chẳng phải không nhàm nghỉ, chẳng
phàm, chẳng Thánh, chẳng nhiễm, chẳng tịnh,
chẳng sinh, chẳng chết, chẳng trí, chẳng ngu,
chẳng thấy, chẳng không thấy, chẳng nương thế
gian, chẳng vào pháp giới, chẳng thông minh,
chẳng đần độn, chẳng lấy chẳng không lấy, chẳng
sinh tử, chẳng Niết Bàn, chẳng có, chẳng không
có.
Giống như biến hoá, biến hoá là từ không hoá có,
từ có hoá không, biến hoá vô cùng. Tuy nhiên là
tâm khiến nó biến hoá, nhưng hoá ở đây chẳng
phải tâm, cho nên nói hoá chẳng từ tâm khởi,
cũng chẳng phải từ tâm pháp khởi, cũng chẳng
phải từ nghiệp khởi, cũng chẳng thọ quả báo gì
hết. Chẳng phải từ thế gian sinh ra, cũng chẳng
phải từ thế gian diệt. Biến hoá ở đây, vốn chẳng
có, không thể theo đuổi, không thể xúc chạm.
Biến hoá ở đây, chẳng phải ở lâu, chẳng phải ở
tạm, chẳng phải hành nơi thế gian, chẳng phải
lìa nơi thế gian. Biến hoá ở đây, chẳng chuyên
về một phương, cũng chẳng khắp thuộc về nhiều
phương. Chẳng phải hữu lượng, chẳng phải vô
lượng. Cũng chẳng nhàm mỏi, cũng chẳng nghỉ
ngơi. Chẳng phải chẳng nhàm mỏi, chẳng phải
chẳng nghỉ ngơi. Biến hoá ở đây, cũng chẳng
thuộc về phàm phu, cũng chẳng thuộc về Thánh
nhân. Cũng chẳng thuộc về pháp nhiễm, cũng chẳng
thuộc về pháp tịnh. Biến hoá ở đây, cũng chẳng
có sinh, cũng chẳng có chết. Cũng chẳng phải trí
huệ, cũng chẳng phải ngu si. Chẳng phải thấy,
cũng chẳng phải chẳng thấy. Biến hoá ở đây, cũng
chẳng phải nương thế gian mà sinh, cũng chẳng
phải vào pháp giới. Chẳng phải thuộc về thông
minh, chẳng phải thuộc về ngu si. Cũng chẳng
lấy, cũng chẳng không lấy. Biến hoá ở đây, cũng
chẳng thuộc về sinh tử, cũng chẳng thuộc về Niết
Bàn. Cũng chẳng thuộc về có, cũng chẳng thuộc về
chẳng có.
Bồ
Tát phương tiện khéo léo như vậy, tu hành nơi
thế gian, tu Bồ Tát đạo. Biết rõ pháp thế gian,
phân thân hoá vãng, chẳng chấp thế gian, chẳng
thủ lấy thân mình. Nơi thế gian, nơi thân mình,
không có phân biệt. Chẳng trụ thế gian, chẳng
lìa thế gian, chẳng trụ nơi pháp, chẳng lìa nơi
pháp.
Vì nhờ nguyện xưa, mà chẳng xả bỏ một cõi chúng
sinh nào, chẳng điều phục ít cõi chúng sinh,
chẳng phân biệt pháp, chẳng phải không phân
biệt. Biết các pháp tánh, không đến, không đi.
Tuy không chỗ có, mà đầy đủ Phật pháp, biết rõ
pháp như hoá, chẳng có, chẳng không.
Bồ Tát giống như sự biến hoá như vậy, dùng đủ
thứ pháp môn phương tiện khéo léo, tu hành nơi
thế gian hành Bồ Tát đạo. Biết rõ tất cả pháp
thế gian, hay phân thân hoá vãng đến mười phương
cõi nước chư Phật. Tại mười phương thế giới,
chẳng trụ vào nơi thế gian, cũng chẳng chấp lấy
thân thể của mình. Chẳng có ngã chấp, chẳng có
pháp chấp, cho nên đối với pháp thế gian, đối
với thân tướng của mình, chẳng có sự phân biệt.
Cũng chẳng trụ vào thế gian, cũng chẳng lìa khỏi
thế gian. Cũng chẳng trụ nơi pháp tướng, cũng
chẳng lìa khỏi pháp tướng.
Bồ Tát nhờ vào nguyện lực xưa kia của mình đã
phát, cho nên chẳng xả bỏ một cõi chúng sinh
nào, chẳng điều phục ít cõi chúng sinh. Chẳng
phân biệt nơi pháp, cũng chẳng phải chẳng phân
biệt pháp. Biết tất cả pháp tánh, chẳng có một
thể tánh, chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về
đâu. Tuy nhiên pháp tánh là không chỗ có, nhưng
vẫn dùng phương tiện khéo léo để diễn nói diệu
pháp của chư Phật nói, khiến cho tất cả chúng
sinh đều đầy đủ Phật pháp. Bồ Tát biết rõ đạo lý
của tất cả các pháp, như huyễn như hoá, chẳng có
chẳng không.
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát an trụ
như hoá nhẫn như vậy, thì đều được đầy đủ đạo bồ
đề của tất cả chư Phật, lợi ích chúng sinh.
Các vị đệ tử của Phật ! Khi đại
Bồ Tát an trụ như hoá nhẫn như vậy, thì Ngài
được đầy đủ đạo bồ đề của tất cả chư Phật tu,
hay lợi ích tất cả chúng sinh.
Đó gọi là như hoá nhẫn thứ chín
của đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ chín
của đại Bồ Tát tu, gọi là như hoá nhẫn.
Đại Bồ Tát thành tựu nhẫn này,
phàm có làm gì, đều giống như hoá. Ví như hoá
sĩ, ở trong tất cả cõi Phật không chỗ nương trụ,
ở trong tất cả thế gian không có thủ trước, đối
với tất cả Phật pháp không sinh phân biệt, mà
hướng về Phật bồ đề không có lười mỏi.
Tu Bồ Tát hạnh, lìa các điên đảo.
Tuy không có thân, mà hiện tất cả thân. Tuy
không chỗ ở, mà ở các cõi nước. Tuy không có
sắc, mà hiện khắp các sắc. Tuy chẳng chấp thật
tế, mà chiếu rõ pháp tánh, bình đẳng viên mãn.
Khi đại Bồ Tát thành tựu thứ nhẫn
nầy, thì bất cứ làm gì cũng đều giống như huyễn
hoá, cho nên chẳng chấp trước, chẳng bị cảnh
giới chuyển. Ví như hoá sĩ, đối với tất cả cõi
nước chư Phật không chỗ nương trụ. Tại sao ? Vì
nó là biến hoá. Cõi nước biến hoá không thể
nương tựa, không thể an trụ. Đối với tất cả thế
gian không thủ trước. Tại sao ? Vì nó là biến
hoá. Thế gian biến hoá, không thể chấp, không
thể trước, mà là độc lập. Đồi với tất cả Phật
pháp chẳng sinh phân biệt, nhưng hướng về Phật
bồ đề chẳng có khi nào giải đãi. Chẳng giống như
phàm phu chúng ta, tu hành hai ngày rưỡi, cảm
thấy chẳng thành tựu, thì bỏ sự tu hành, hoặc
giải đãi. Mọi người phải biết đạo lý không tu
thì không đắc. Do đó : « Ông tu ông đắc, bà tu
bà đắc », nghĩa là ai chịu thật tâm tu hành, thì
người đó đến được cảnh vui bờ bên kia. Tu hành
Bồ Tát hạnh, mới xa lìa tất cả điên đảo mộng
tưởng.
Bồ Tát vốn là người không, pháp
không, chẳng chấp trước cái ta, chẳng chấp trước
pháp. Tức nhiên chẳng chấp trước cái ta, vậy là
chẳng có thân. Tuy nhiên chẳng có thân, nhưng
vẫn thị hiện tất cả thân. Tuy không chỗ ở, mà
vẫn ở trong mười phương cõi nước chư Phật. Tuy
chẳng chấp trước về sắc, mà vẫn hiện khắp trong
các sắc. Tuy nhiên chẳng chấp vào thật tế lý
thể, mà trí huệ quang minh chiếu khắp pháp tánh,
vừa bình đẳng, vừa viên mãn.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này, nơi tất
cả pháp, không chỗ y chỉ, gọi là bậc giải thoát.
Tất cả lỗi lầm, thảy đều xả lìa, gọi là bậc điều
phục. Chẳng động chẳng chuyển, vào khắp tất cả
chúng hội của Như Lai, gọi là bậc thần thông.
Nơi pháp vô sanh, đã được khéo léo, gọi là bậc
không thối chuyển. Đủ tất cả lực, Tu Di Thiết Vi
không thể làm chướng ngại được, gọi là bậc vô
ngại.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát này, đối với tất cả các pháp, không chỗ y
chỉ, vì chẳng còn chấp trước, cho nên pháp cũng
không nương tựa. Có người nói : « Tôi phải học
Bồ Tát, chẳng y chỉ vào pháp. Tôi chẳng cần học
Phật pháp, vì tôi đối với tất cả pháp, không chỗ
y chỉ ». Kiến giải của bạn thật là cao minh,
nhưng trí huệ của bạn vẫn không đủ, vẫn là ngu
si. Tại sao ? Vì Bồ Tát đã minh bạch tất cả các
pháp, nên hay thủ nơi pháp, hay dùng nơi pháp.
Pháp với pháp là viên dung vô ngại, cho nên Ngài
chẳng y chỉ nơi pháp. Phải biết Bồ Tát phương
tiện dụng pháp, giống như dụng nước, khoang đào
hướng đông thì chảy hương đông; khoang đào hướng
tây, thì chảy hướng tây. Lúc nào dùng, thì lúc
đó có, do đó :
« Lấy không hết, dùng không
cạn ».
Bồ Tát có cảnh giới biện tài vô
ngại, hỏi gì thì biết đó, có hỏi thì đáp, đạo lý
bạn không hiểu mà Ngài hiểu. Nếu bạn đạt đến
trình độ nầy, thì mới có thể không y chỉ vào
pháp. Hiện tại bạn một pháp cũng không thông :
Thế nào là chân như ? Thế nào là thật tướng ?
Vẫn không hiểu rõ ràng. Đã không minh bạch,
không biết, thì nên y vào pháp tu hành. Nếu vào
sâu được tạng kinh, thì trí huệ như biển, lúc
đó, mới có thể không y chỉ vào pháp.
Bồ Tát đối với tất cả các pháp,
không chỗ y chỉ, đây tức là Bồ Tát giải thoát.
Vì ngã pháp cả hai đều không, cho nên đối với
tất cả lỗi lầm thảy đều xả lìa, đây tức là Bồ
Tát điều phục. Điều phục gì ? Điều phục thân,
điều phục tâm, điều phục tất cả lỗi lầm. Bồ Tát
chẳng động chẳng chuyển (chẳng động bổn toà), mà
đến khắp đạo tràng chúng hội của mười phương chư
Phật, nghe kinh nghe pháp, đây tức là Bồ Tát
thần thông. Bồ Tát đối với vô sanh pháp nhẫn, đã
đắc được phương tiện khéo léo, để giáo hoá chúng
sinh, đây tức là Bồ Tát bất thối. Bất thối cái
gì ? Bất thối chuyển quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. Bồ Tát đầy đủ tất cả sức lực, dù núi
Tu Di và núi Thiết Vi, cũng không thể chướng
ngại được, sức lực nầy phá hoại được vật kiên
cố, vào sâu được chất kim cang. Tóm lại, bất cứ
vật gì, cũng không chướng ngại được, đây là Bồ
Tát vô ngại.
THỨ MƯỜI, NHƯ KHÔNG NHẪN
Phật tử ! Thế nào là như không
nhẫn của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào là như không
nhẫn của đại Bồ Tát tu ? Làm thế nào xem tất cả
như hư không ? Hư không chẳng có hình chất,
chẳng có chướng ngại. Hư không là không chẳng có
gì hết, cũng là chẳng có gì mà không có. Thoạt
nhìn chẳng có gì hết, phân tích lại thì cái gì
cũng có, đó là đạo lý chân không diệu hữu.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này, thấu rõ
tất cả pháp giới, như hư không, vì vô tướng. Tất
cả thế giới, như hư không, vì không khởi. Tất cả
pháp như hư không, vì không hai. Tất cả chúng
sinh hành như hư không, vì vô sở hành. Tất cả
Phật như hư không, vì không phân biệt. Tất cả
Phật lực như hư không, vì không khác biệt. Tất
cả thiền định như hư không, vì ba đời bình đẳng.
Sở thuyết tất cả pháp như hư không, vì không thể
nói. Tất cả thân Phật như hư không, vì vô trước
vô ngại. Bồ Tát dùng phương tiện như hư không
như vậy, thấu rõ tất cả pháp đều không chỗ có.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát này, Ngài tu pháp môn như không nhẫn, biết
rõ chín cảnh giới dưới đây :
1. Biết rõ tất cả pháp giới,
giống như hư không, vì pháp giới chẳng có hình
tướng.
2. Biết rõ tất cả thế giới, giống
như hư không, vì chẳng có sinh khởi.
3. Biết rõ tất cả Phật pháp,
giống như hư không, vì pháp chẳng có một, cũng
chẳng có hai.
4. Biết rõ hành vi của tất cả
chúng sinh, giống như hư không, vì hành vô sở
hành.
5. Biết rõ tất cả chư Phật, giống
như hư không. Vì chẳng có phân biệt giữa Phật,
chúng sinh và pháp.
6. Biết rõ tất cả Phật lực, giống
như hư không, vì chẳng có gì khác nhau.
7. Biết rõ tất cả thiền định,
giống như hư không, vì ba đời (quá khứ, vị lai,
hiện tại) đều là bình đẳng.
8. Biết rõ chư Phật nói tất cả
pháp, giống như hư không, vì bổn thể của pháp
không thể nói.
9. Biết rõ thân của tất cả chư
Phật, giống như hư không, vì chẳng có chấp trước
và chẳng có chướng ngại.
Các vị phải hiểu rõ ý nghĩa
« giống như hư không ». Bổn lai chẳng phải hư
không, giả tưởng nó là hư không, thì giống như
hư không, vì nó chẳng phải hư không, bạn nghĩ nó
là hư không, cho nên phải nhẫn. Bạn muốn nhận
thức cảnh giới này, thì nhận thức được, đó tức
là nhẫn.
Bồ Tát biết rõ tất cả đều là hư
không, dùng pháp môn phương tiện như hư không,
để minh bạch tất cả pháp, bổn lai đều là không
chỗ có; không chỗ có tức là không. Tức nhiên là
không, thì không còn có pháp chấp và ngã chấp.
Ngã chấp và pháp chấp đều không còn nữa, thì đó
chẳng phải hư không, thì là gì ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát dùng trí như
hư không nhẫn, khi thấu rõ tất cả pháp, thì đắc
được thân, thân nghiệp như hư không, đắc được
lời, lời nghiệp như hư không, đắc được ý, ý
nghiệp như hư không.
Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ
Tát dùng trí huệ như hư không nhẫn, khi thấu đạt
tất cả pháp, thì đắc được thân như hư không, bất
cử ở trong tĩnh, hoặc ở trong động, đều chẳng
thể đắc được thân tướng, vì không thể đắc được
thân tướng, cho nên thân cũng chẳng có nghiệp.
Đắc được lời như hư không, vì không có lời để
nói, cho nên lời cũng chẳng có nghiệp. Đắc được
ý như hư không, vì không chấp trước, cho nên ý
cũng chẳng có nghiệp.
Ví như hư không, tất cả pháp
nương tựa chẳng sinh, chẳng diệt. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, tất cả pháp thân không sinh,
không diệt.
Ví như hư không, không thể phá
hoại. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trí huệ các
lực không thể phá hoại.
Ví như hư không, chỗ nương tựa
của tất cả thế gian, mà không chỗ nương tựa. Đại
Bồ Tát cũng lại như thế, chỗ nương tựa của tất
cả các pháp, mà không chỗ nương tựa.
Ví như hư không, không sinh không
diệt, hay giữ gìn tất cả thế gian sinh diệt. Đại
Bồ Tát cũng lại như thế, không hướng, không đắc,
hay thị hiện hướng đắc, khiến khắp thế gian tu
hành thanh tịnh.
Ví như hư không, tuy là chỗ nương
tựa của tất cả pháp, nhưng không sinh không
diệt. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tất cả pháp
thân cũng không sinh không diệt.
Ví như hư không, không thể phá
hoại được. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trí huệ
và mười lực của Bồ Tát, không thể phá hoại được.
Ví như hư không, tuy là chỗ nương
tựa của tất cả thế gian, nhưng hư không không
chỗ nương tựa, chẳng có chấp trước.
Ví như hư không, tuy không sinh
cũng không diệt, nhưng hay giữ gìn tất cả thế
gian sinh diệt. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tuy
chẳng có sở hướng, chẳng có sở đắc, nhưng hay
thị hiện sở hướng sở đắc, khiến khắp hết thảy
chúng sinh tất cả thế gian, tu hành pháp môn
thanh tịnh.
Ví như hư không, không vuông,
không góc, mà hay hiển hiện vô biên vuông góc.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, không nghiệp, không
báo, mà hay hiển bày đủ thứ nghiệp báo.
Ví như hư không, chẳng đi, chẳng
đứng, mà hay thị hiện đủ thứ oai nghi. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, chẳng đi, chẳng đứng, mà
phân biệt được tất cả các hành.
Ví như hư không, chẳng có sắc,
chẳng không sắc, mà hay thị hiện đủ thứ các sắc.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, chẳng thế gian sắc,
chẳng xuất thế gian sắc, mà hay thị hiện tất cả
các sắc.
Ví như hư không, chẳng lâu, chẳng
gần, mà hay ở lâu, hiện tất cả vật. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, chẳng lâu, chẳng gần, mà hay ở
lâu, hiển bày các hạnh của Bồ Tát tu hành.
Ví như hư không, tuy không có
vuông, cũng không có góc, mà hay hiển hiện vô
biên vuông và góc. Đại Bồ Tát cũng lại như thế,
tuy bổn thân không có nghiệp, cũng không có báo,
mà hay hiển bày đủ thứ nghiệp và báo.
Ví như hư không, tuy chẳng có đi,
cũng chẳng có đứng, mà hay thị hiện đủ thứ oai
nghi. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tuy chẳng cần
đi đến chỗ nào, cũng chẳng cần đứng ở chỗ nào,
mà phân biệt được tất cả hạnh môn của sở hành.
Ví như hư không, tuy chẳng phải
sắc, cũng chẳng phải không sắc, mà hay thị hiện
đủ thứ tất cả các sắc. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, tuy chẳng phải nhan sắc thế gian, cũng
chẳng phải nhan sắc xuất thế gian, mà hay thị
hiện tất cả các sắc pháp.
Ví như hư không, nói nó là xa
chăng ? bên cạnh chúng ta có hư không. Nói nó
gần chăng ? dơ tay ra nắm chẳng được hư không,
cho nên nói hư không chẳng phải xa, cũng chẳng
phải gần, mà hư không hay trụ lâu dài, không lúc
nào bị phá hoại. Tại sao ? Vì nó là hư không,
không có gì cả, làm sao phá hoại được ? Chúng ta
phải chú ý chỗ này. Tại sao chúng ta có vô minh,
có phiền não ? vì chúng ta chẳng giống như hư
không, do đó :
« Tự tánh như hư không,
Chân vọng tại kỳ trung;
Ngộ triệt bổn lai thể,
Nhất thông nhất thiết thông ».
Nghĩa là :
Tự tánh như hư không
Chân vọng ở bên trong
Thấu triệt thể xưa nay
Một thông tất cả đều thông.
Hư không chẳng những trụ lâu dài,
mà còn hay hiện ra tất cả sự vật. Nhỏ như hạt
bụi, lơ lửng trong hư không; lớn như sơn hà đại
địa, nhà cửa phòng ốc, đều bao quát ở trong hư
không, không cách chi phá hoại được hư không.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, cũng chẳng xa, cũng
chẳng gần, mà thường trụ lâu ở đời, hiển bày tất
cả hạnh của Bồ Tát tu hành.
Ví như hư không, chẳng sạch,
chẳng dơ, chẳng lìa sạch dơ. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, chẳng chướng, chẳng không chướng, chẳng
lìa chướng, không chướng.
Ví như hư không, tất cả thế gian
đều hiện ra ở trước, chẳng hiện ở trước tất cả
thế gian. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tất cả
các pháp đều hiện ra ở trước, chẳng hiện ra
trước tất cả các pháp.
Ví như hư không, vào khắp tất cả
mà không bờ mé. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vào
khắp các pháp, mà tâm Bồ Tát không có bờ mé.
Ví như hư không, nó sạch chăng?
Cũng chẳng phải. Nó dơ bẩn chăng? lại chẳng
phải, nhưng hư không chẳng lìa sạch và dơ. Hiện
tại tuy không khí bị ô nhiễm, nhưng hư không vẫn
sạch. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, không thể nói
chẳng có chướng ngại, lại không thể nói chẳng
phải không có chướng ngại, tại sao? Vì chẳng lìa
khỏi chướng ngại, cho nên không có chướng ngại.
Ví như hư không, tuy tất cả thế
gian đều hiện ra ở trước hư không, nhưng chẳng
phải hư không hiện ra ở trước tất cả thế gian.
Tại sao? Vì hư không chẳng có gì cả, làm sao có
thể hiện? Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tuy tất
cả các pháp đều hiện ra ở trước Bồ Tát, nhưng Bồ
Tát không thể hiện ra trước tất cả các pháp.
Ví như hư không, tuy vào khắp tất
cả, mà không có bờ mé. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, vào khắp các pháp thật tướng, mà tâm nguyện
của Bồ Tát không có bờ mé, không có giới hạn.
Tại sao? Vì những gì Bồ Tát làm,
giống như hư không. Những sự tu tập, những sự
nghiêm tịnh, những sự thành tựu, thảy đều bình
đẳng. Một thể, một vị, một thứ phân lượng, như
hư không thanh tịnh khắp tất cả mọi nơi. Chứng
biết tất cả các pháp như vậy, nơi tất cả pháp,
không có sự phân biệt.
Nghiêm tịnh tất cả cõi nước chư
Phật, viên mãn tất cả không chỗ nương tựa thân,
thấu rõ tất cả phương hướng, không có sự mê
hoặc. Đủ tất cả các lực, không thể phá hoại. Đầy
đủ vô biên tất cả công đức, đã đến được nơi thâm
sâu của tất cả các pháp. Thông đạt tất cả đạo Ba
la mật, ngồi khắp tất cả toà kim cương, phát ra
khắp tất cả âm thanh tuỳ loại. Vì tất cả thế
gian chuyển bánh xe pháp, chưa từng thất thời.
Những tình hình như vậy là do
duyên cớ gì? Vì những gì Bồ Tát làm đều giống
như hư không. Những sự tu tập, những sự nghiêm
tịnh, những sự thành tựu, đều giống như hư
không, đều là bình đẳng. Một thể (thể tánh chân
như thật tướng), một vị (vị giải thoát), một thứ
phân lượng, thanh tịnh giống như hư không, đầy
khắp tất cả mọi nơi, chứng biết tất cả các pháp
như vậy, đều thấu rõ được, đối với tất cả các
pháp chẳng có sự phân biệt.
Bồ Tát hay trang nghiêm thanh
tịnh tất cả cõi nước chư Phật, viên mãn tất cả
không chỗ nương tựa thân. Thấu rõ tất cả phương
hướng, chẳng có lúc nào mê hoặc. Đầy đủ tất cả
sức lực, không thể bị phá hoại. Đầy đủ tất cả vô
biên công đức, đã đến được chỗ tất cả pháp thâm
sâu vi diệu. Thông đạt tất cả đạo Ba la mật đến
bờ kia, ngồi khắp tất cả bảo toà kim cang, phát
ra khắp tất cả âm thanh tuỳ loại đều hiểu được,
khắp vì tất cả chúng sinh thế gian, chuyển bánh
xe pháp, không khi nào thất thời.
Đó là như không nhẫn thứ mười của
đại Bồ Tát.
Đó tức là pháp môn nhẫn thứ mười
của đại Bồ Tát tu, gọi là như không nhẫn.
Đại Bồ Tát thành tựu nhẫn nầy,
đắc được thân không đến, vì thân không đi. Đắc
được thân không sinh, vì không diệt. Đắc được
thân bất động, vì không hoại. Đắc được thân
chẳng thật, vì lìa hư vọng. Đắc được thân một
tướng, vì vô tướng. Đắc được thân vô lượng, vì
Phật lực vô lượng. Đắc được thân bình đẳng, vì
đồng như tướng. Đắc được thân vô sai biệt, vì
bình đẳng quán ba đời. Đắc được thân đến tất cả
mọi nơi, vì mắt tịnh bình đẳng chiếu không
chướng ngại. Đắc được thân lìa dục tế, vì biết
tất cả pháp không hợp tan.
Đại Bồ Tát thành tựu mười thứ
nhẫn này rồi, lại đắc được mười hai thứ thân,
thậm chí đắc được vô lượng vô biên sắc thân.
Phàm phu chúng ta tại sao không có sắc thân như
thế? Vì chúng ta không thể nhẫn. Tại sao không
thể nhẫn? Vì chúng ta cho rằng tất cả thế gian
đều là chân thật, cho nên không thể nhẫn. Giả
như bị người mắng một câu, thì chịu không được;
giả như bị người nói một câu, thì nhẫn không
được.
Như có người nói: “Người nào đó
là chó!” thì người này chắc chắn sẽ không vui,
sao bạn lại mắng người? Giả thiết ban đầu tên
gọi của con người là chó, tên gọi chó là người.
Hiện tại giả như có người nói bạn là người, thì
bạn cũng chẳng vui, bèn sinh ra phiền não, tại
sao mắng tôi là người! Cho nên nói danh từ là
giả danh. Vì giả danh, nên nhìn không thấu suốt,
buông bỏ chẳng đặng, nên nói là mắng tôi, mắng
bạn, mắng họ, có nhiều phiền não như thế. Nhưng
nếu chẳng chấp trước cái tôi, thì chẳng chấp
trước về thân, cũng chẳng có tâm chấp trước,
chẳng có mọi sự chấp trước. Lúc đó, có người
mắng tôi, thì tôi xem như họ ca hát để thưởng
thức, nghĩ được như vậy thì chẳng có phiền não.
Chúng ta học Phật pháp là học chữ
nhẫn này. Tôi thường nói:
“Nhẫn là báu vô giá
Mọi người đối không tốt
Nếu thường hay nhẫn được
Mọi việc đều tốt đẹp”.
Nhẫn này là nhẫn những gì người
khác không nhẫn được, thọ những điều người khác
thọ không được, ăn những gì người khác không ăn
được, mặc những gì người khác không mặc được,
pháp môn này phải thật hành chân thật, không
phải chỉ nói suông là được. Do đó có câu:
“Bồ Tát sợ nhân không sợ quả
Phàm phu sợ quả không sợ nhân”.
Khi Bồ Tát tại nhân địa, làm bất
cứ chuyện gì, cũng đều rất cẩn thận, sợ sai lầm
nhân quả. Khi Ngài thọ quả báo thì rất hoan hỉ
tiếp thọ, không một lời than oán. Phàm phu khi
trồng nhân thì chẳng sợ gì cả, tuỳ tiện có thể
giết người phóng lửa. Nói với người những lời tệ
bạc, mắng chưởi người, hoặc ác ý phê bình người.
Khi thọ quả báo thì mới cảm thấy đáng sợ. Có
người nói: “Tại sao tôi phải khổ thế này?” Là vì
trước kia bạn đã trồng xuống nhân này, cho nên
phải thọ quả này.
Thế giới hiện nay, tại sao các
nơi phát sinh tai nạn? Vì chúng sinh khởi hoặc,
tạo nghiệp, thọ quả báo. Người chẳng hiểu nhân
quả, bất cứ sự việc gì cũng đều đấu với người,
tranh với người, càng đấu tranh thì oán cừu càng
sâu, càng tranh thì thị phi càng nhiều. Chúng ta
người học Phật pháp, nên nhớ! Nên nhớ! Không thể
đấu với người, càng không thể tranh với người.
Do đó: “Tranh thì chẳng đủ, nhường thì có dư”,
thiệt thòi tức là chiếm tiện nghi, đây là nói về
kinh nghiệm.
Bồ Tát thành tựu nhẫn này:
1. Đắc được thân không từ đâu
đến, vì không chỗ đi, tức cũng là không đến
không đi.
2. Đắc được thân không sinh, vì
chẳng có diệt. Có sinh thì có diệt, nếu chẳng có
sinh, thì cũng chẳng có diệt.
3. Đắc được thân bất động, vì
chẳng có hoại. Tức nhiên chẳng hoại, sao lại có
động?
4. Đắc được thân không thật, vì
lìa khỏi hư vọng. Bồ Tát cảm thấy thân thể của
mình chẳng phải thật tại, cho nên lìa khỏi hư
vọng.
5. Đắc được thân một tướng, vì vô
tướng. Bồ Tát không còn tướng ta, thậm chí một
tướng cũng không có.
6. Đắc được thân vô lượng, vì
Phật lực vô lượng.
7. Đắc được thân bình đẳng, vì
đồng như tướng, cho nên chẳng có sự bất bình
đẳng.
8. Đắc được thân vô sai biệt, vì
bình đẳng quán ba đời không phân biệt. Đời quá
khứ, đời vị lai, đời hiện tại, chẳng có thân bất
đồng.
9. Đắc được thân đến tất cả mọi
nơi, vì mắt tịnh bình đẳng chiếu không chướng
ngại. Bồ Tát vì tu hành Bồ Tát đạo, cho nên đắc
được sắc thân thiên biến vạn hoá, đến đâu cũng
không có sự hạn chế.
Phàm là nơi nào có duyên với Bồ
Tát, Bồ Tát đều thị hiện thân đến độ chúng sinh,
thân lớn như cõi Phật, thân nhỏ như hạt bụi. Tại
sao? Vì Bồ Tát đắc được thiên nhãn, nhục nhãn,
pháp nhãn, huệ nhãn thanh tịnh. Dùng bốn thứ mắt
thanh tịnh này để chiếu khắp, mà chẳng có mọi sự
chướng ngại gì. Thanh tịnh tức là trong tâm
chẳng có tư tưởng nhiễm ô, tức cũng là chẳng có
niệm tham, chẳng có niệm dục, chẳng có niệm dâm,
như thế tức là đắc được mắt pháp thanh tịnh
(thanh tịnh pháp nhãn). Mắt pháp thanh tịnh này,
hay quán sát tận hư không khắp pháp giới, hết
thảy tất cả mọi nơi, có chúng sinh nào đáng được
độ, thì Bồ Tát liền thị hiện thân trước họ để độ
họ.
Một số người khi chưa đắc được
mắt pháp thanh tịnh, khi tụng kinh thì cần nhìn
kinh để tụng. Người đắc được con mắt pháp thanh
tịnh, khai mở mắt pháp thanh tịnh, quán sát tận
hư không khắp pháp giới đều là đạo tràng, đều là
chúng hội. Mười phương chư Phật, đang ở đó giảng
kinh thuyết pháp; mười phương Bồ Tát, đang ở đó
giảng kinh thuyết pháp. Cảnh giới này thật là
không thể nghĩ bàn! Người mắt pháp thanh tịnh
muốn niệm kinh, tụng kinh, có thể nhìn một cái
thì thấu rõ tất cả các pháp thật tướng, không
cần mở kinh ra để tụng, để đọc.
Ai muốn khai mở mắt pháp thanh
tịnh? Thì phải thâm nhập kinh tạng, trí huệ như
biển, thì chẳng có mọi sự chướng ngại. Người đắc
được mắt pháp thanh tịnh, nhìn bất cứ cái gì thì
thông suốt cái đó, nhìn thấu suốt qua tường
luôn, mà không bị chướng ngại, cách núi lớn cũng
nhìn thấu suốt được. Tóm lại, bất cứ sự vật gì,
cũng không cản che được.
Người đắc được mắt pháp thanh
tịnh, quán sát trong tâm người khác đang nghĩ
gì, đều biết được rõ ràng, nhưng không cần nói
với họ: “Ê! Hiện tại tôi biết bạn đang nghĩ gì”,
như vậy thì mọi người chẳng dám gần gũi bạn. Tại
sao? Vì sợ bạn biết được hết bí mật của họ, cho
nên phải hoà quang hỗn tục giống như họ. Giống
như có bảo châu, phải cất ở trong túi áo, không
thể cầm ra cho người xem. Nếu khoe rằng: “Bảo
châu của tôi, giá trị vô cùng”, khi bị kẻ trộm
biết được, nhất định sẽ bị trộm mất. Do đó, phải
cẩn thận, giữ bí mật, thì mới bình an vô sự, hoà
bình với nhau.
Có mắt pháp thanh tịnh, tuy nhiên
không bị người lấy trộm đi, nhưng có người sinh
tâm đố kị: “Sao tôi chẳng có? Tôi xuất gia đã
nhiều năm, dụng công tu đạo, nghiêm trì giới
luật, ngày ăn một bữa (trưa), ngủ ngồi. Tại sao
chẳng có cảnh giới này? Tại sao họ lại có?” Do
đó, trong tâm không được vui, đứng ngồi không
yên, chẳng phải từ vị, là đố kị hoặc là chướng
ngại? Chính mình cũng không biết rõ, rốt ráo tại
sao, cũng chẳng biết. Cho nên phải hoà quang, ôn
hoà, biểu hiện bên ngoài phải giống như họ.
Đừng khoe khoang phô trương trí
huệ của mình, đừng hiển lộ ra ngoài, như thế thì
chẳng có sự phân tranh. Họ và bạn giống nhau thì
họ chẳng sinh đố kị, chẳng sinh chướng ngại. Các
bạn sẽ không tin tại sao có người đố kị tôi,
chướng ngại tôi? Vì tôi và họ chẳng giống nhau.
Họ cảm thấy tôi là người kỳ quái, ngày chỉ ăn
một bữa, ngủ ngồi, hằng ngày đắp y, do đó họ
nói: “Người này quá ngu si! Ngày ăn một bữa, làm
sao có thể ngủ ngồi? Làm sao có thể chịu được?
Hằng ngày đắp y, thật là mệt quá”! Hoặc nói: “Ở
đó khổ quá, con người chịu không nổi, không biết
là thật hay là giả?” Hoặc nói: “Đại khái không
phải như thế đâu”! Tóm lại, những gì tôi làm đều
chẳng đúng, ăn một bữa cũng chẳng đúng, ngủ ngồi
cũng chẳng đúng, mặc y cũng chẳng đúng, họ phê
bình như thế.
Chẳng những tôi tu khổ như thế,
mà tôi giáo hoá đệ tử người Mỹ cũng tu khổ như
thế. Họ lại phê bình nói: “Thật là hại chết
người”! Có một lần, vị Thầy nọ đến tham quan
Phật giáo Giảng Đường (tiền thân Kim Sơn Thiền
Tự), phát hiện khoảng hai ba mươi cái hộp bằng
gỗ, không biết là để dùng làm gì? Buổi tối nhìn
thấy những thanh niên người Mỹ, sau khi làm khoá
lễ buổi tối xong, giống như chim về tổ, mỗi
người ngồi trên hộp gỗ ngủ. Lúc đó, vị Thầy đó
mới biết hộp gỗ dùng để làm gì, bèn nói với tôi:
- “Ai da, Thầy thật là hại người
chết! Sao lại ngược đãi họ như vậy, Thầy thật là
không đúng!”
- Tôi nói: “Tôi chẳng có dạy
chúng như thế, mà là chúng muốn như thế”. Tôi
không cách chi giải thích với ông ta.
Người xuất gia, nên lúc nào cũng
đắp y thì mới hiện tướng Tỳ Kheo. Hiện tại người
xuất gia, tự mình không đắp y, còn nói người
khác đắp y là không đúng. Các vị hãy nhìn xem!
Chạy đi đến nơi nào đây? Đừng nói bổn lai diện
mục của tự tánh chẳng nhận thức được, dù lông da
trên bổn lai diện mục cũng không nhận thức được.
Bên ngoài thấy được bổn lai diện mục đều không
biết được, lấy phải làm trái, lấy trái làm phải;
lấy đen làm trắng, lấy trắng làm đen, như vậy
làm sao giáo hoá người? Chẳng những người tại
gia phê bình như thế, mà người xuất gia cũng
công khai nói: “Mặt y là không đúng”. Có tư
tưởng như thế, thật khiến cho người đau lòng.
Chẳng có cách gì giảng chân lý với họ, càng
giảng chân lý thì họ càng không tin, ngược lại
còn nói: “Bạn mới là giả”. Phật giáo chẳng phải
thật đau lòng lắm sao! Chúng sinh tướng tức là
như thế.
10. Đắc được thân lìa dục tế,
phải lìa khỏi hành vi dâm dục, vì dâm dục tức là
nguồn gốc của sinh tử. Tại sao chúng ta sinh rồi
lại chết? Chết rồi lại sinh? Là vì có dâm dục.
Có ý niệm dâm dục thì có sinh tử. Lìa ý niệm dâm
dục thì sinh tử chấm dứt. Có người nói: “Tôi đã
dứt trừ ý niệm dâm dục”. Bạn nói đã dứt trừ ý
niệm dâm dục, nó vẫn đang ẩn tàng bên trong,
chính bạn chẳng biết mà thôi. Ý niệm dâm dục ở
trong thức thứ tám, chẳng biết có bao nhiêu, e
rằng còn cao hơn là núi Thái sơn, vì núi Thái
sơn là do từng hạt bụi tích tập mà thành, do đó:
“Do ít tích luỹ thành cao lớn”. Dâm dục trong
tâm của bạn còn nhiều hơn là những hạt bụi của
núi Thái sơn, bất quá mình chẳng phát hiện được
mà thôi. Nếu bạn thật không còn ý niệm dâm dục,
thì khi bạn đi đường, giầy không dính đất, không
có âm thanh. Có cảnh giới này, thì mới chứng
minh bạn đã lìa khỏi dâm dục.
Thế nào là thân lìa dục tế? Tức
là biết tất cả pháp, chẳng có hợp, cũng chẳng có
tan. Rất tự nhiên, chẳng phải tạo tác, chẳng
phải miễn cưỡng. Có người hỏi: “Thế nào là hợp?
Thế nào là tan?” Nói tóm lại, kết hôn tức là
hợp, ly hôn tức là tan. Phật pháp đang ở bên
cạnh của bạn, chứ chẳng lìa khỏi bạn mười vạn
tám ngàn dặm. Giảng Phật pháp ở bên ngoài, giảng
tới giảng lui, có ích lợi gì? Đối với các bạn
nghe kinh, chẳng có ích lợi thật tế nào cả. Cho
nên tôi giảng kinh, chỉ nói về ăn cơm, mặc y,
ngủ nghỉ, tức là đạo lý này. Các bạn hiểu được
rõ ràng, thì sẽ chứng được quả Thánh. Còn hiểu
không rõ ràng, hồ đồ tới, hồ đồ lui, khi chết
lại bị hồ đồ che đậy. Một đời đều hồ đồ, nghe
kinh cũng nghe không rõ ràng. Tại sao? Vì tôi
giảng hồ đồ, cho nên các vị nghe không rõ ràng.
Hiện tại tôi thành thật nói với các vị, tức là
điều này.
Đắc được thân hư không, không bờ
mé, vì phước đức tạng vô tận như hư không.
Đắc được thân pháp tánh bình đẳng
biện tài vô tận không dứt, vì biết tất cả pháp
tướng, chỉ là một tướng, không tánh làm tánh,
như hư không.
Đắc được thân âm thanh vô lượng
vô ngại, vì không gì chướng ngại như hư không.
Đắc được thân đầy đủ tất cả thiện
xảo thanh tịnh Bồ Tát hạnh, vì ở tất cả mọi nơi
đều không chướng ngại như hư không.
Đắc được thân tất cả biển Phật
pháp thứ lớp liên tục, vì không thể đoạn tuyệt
như hư không.
Đắc được thân trong tất cả cõi
Phật hiện vô lượng cõi Phật, vì lìa các tham
chấp như hư không vô biên.
Đắc được thân thị hiện tất cả
pháp tự tại không nghỉ ngơi, vì biển cả không bờ
mé như hư không.
Đắc được thân kiên cố thế lực tất
cả không thể hoại, vì như hư không giữ gìn tất
cả thế gian.
Đắc được thân các căn sáng lợi
như kim cang kiên cố không thể hoại, vì như hư
không tất cả kiếp lửa không thể thiêu đốt.
Đắc được thân sức lực giữ gìn tất
cả thế gian, vì sức trí huệ như hư không.
11. Bồ Tát lại đắc được thân hư
không, không bờ mé, vì phước đức tạng nhiều
chẳng cùng tận, giống như hư không.
12. Bồ Tát lại đắc được thân pháp
tánh bình đẳng biện tài vô tận không dứt, vì
biết tất cả pháp tướng, đều là một tướng. Một
tướng tức là vô tướng, là chẳng có tướng, là
vắng lặng, là tịch diệt. Pháp là vô tánh làm
tánh, căn bản không cách chi có thể nói, giống
như hư không.
13. Bồ Tát lại đắc được thân âm
thanh vô lượng vô ngại, cũng có thể nói thân của
Ngài chẳng có số lượng, chẳng có chướng ngại;
lại có thể nói âm thanh của Ngài chẳng có số
lượng, chẳng có chướng ngại, tại sao? Vì chẳng
cách chi có thể chướng ngại được âm thanh của
Ngài và thân thể của Ngài, cho nên nói giống như
hư không.
14. Bồ Tát lại đắc được thân đầy
đủ tất cả thiện xảo thanh tịnh Bồ Tát hạnh, vì
bất cứ ở đâu đều không chướng ngại giống như hư
không.
15. Bồ Tát lại đắc được thân tất
cả biển Phật pháp thứ lớp liên tục, vì không thể
đoạn tuyệt giống như hư không.
16. Bồ Tát lại đắc được thân
trong tất cả cõi Phật thị hiện vô lượng cõi
Phật, vì lìa khỏi tất cả niệm tham và mọi sự
chấp trước, giống như hư không.
17. Bồ Tát lại đắc được thân thị
hiện tất cả pháp tự tại không nghỉ ngơi, tại
sao? Vì giống như hư không, giống như biển cả,
chẳng có bờ mé.
18. Bồ Tát lại đắc được thân thế
lực kiên cố tất cả không thể hoại, tại sao? Vì
giống như hư không, hay giữ gìn tất cả thế gian.
19. Bồ Tát lại đắc được thân các
căn sáng lợi kiên cố như kim cang không thể
hoại, tại sao? Vì giống như hư không, bất cứ gặp
đại kiếp lửa gì, đều không thể bị thiêu đốt.
20. Bồ Tát lại đắc được thân sức
lực giữ gìn tất cả thế gian, tại sao? Vì sức trí
huệ giống như hư không.
Phật tử! Đó là mười thứ nhẫn của
đại Bồ Tát.
Các vị đệ tử của Phật! Đó tức là
pháp môn mười thứ nhẫn của đại Bồ Tát tu.
Ở Trung Quốc là lấy nghề nông lập
quốc, nhân dân đều biết đạo lý mùa xuân gieo
giống, mùa hạ trồng trọt, mùa thu thu hoạch, mùa
đông cất vào kho. Một năm bốn mùa, mọi người đều
ấm no, không bị khổ đói lạnh. Nếu như có người,
mùa xuân không gieo trồng, mùa hạ không trồng
trọt, thì khi đến mùa thu, ngồi ở trong nhà,
muốn thu hoạch ngũ cốc, lương thực, không thể
nào có được. Chúng ta tu hành cũng giống như làm
ruộng, trước hết làm việc lành trong ruộng
phước, khi việc thiện làm đến lúc viên mãn, thì
tất cả mọi vấn đề, sẽ tự nhiên giải quyết được
hết.
Tôi đến nước Mỹ hoằng dương Phật
pháp, vì cứu chúng sinh lìa khổ được vui, cho
nên hằng ngày giảng kinh thuyết pháp, khiến cho
họ khai mở trí huệ, biết rõ nhân quả báo ứng, là
vạn lần sự thật. Cho nên phải nhớ không thể sai
lầm nhân quả, bằng không sẽ đoạ vào địa ngục,
vĩnh viễn không được thân người. Nhưng tôi chưa
nói với các vị, nghe kinh có ích lợi gì. Nghe
kinh là hiểu biết về chân lý, minh bạch đạo lý
mà mình chưa hiểu. Thấu hiểu rồi, thì mới y pháp
tu hành, đắc được khoái lạc chân chánh. Do đó:
“Tin hiểu hành chứng”, chiếu theo bốn giai đoạn
này mà hướng về trước, thì sẽ đến được chỗ rốc
ráo.
Chúng ta hiểu rõ vấn đề này, thì
phải coi trọng Phật giáo, phải ủng hộ Phật giáo,
khiến cho Phật giáo ngày càng phát triển, tục
Phật huệ mạng, là trách nhiệm của Phật giáo đồ.
Bất cứ tôn giáo nào, cũng đều tạo
hạnh phúc cho chúng sinh, chẳng phải mang phiền
não đến cho chúng sinh. Chúng ta đối với bất cứ
tôn giáo nào, đừng có tâm thành kiến, phê bình
các tôn giáo khác không cao minh như Phật giáo.
Chúng ta phải dùng câu: “Đạo với hành, đừng trái
nhau”, làm nguyên tắc. Phải tích tập nghĩa lý
của tất cả tôn giáo lại với nhau, nghiên cứu
triệt để, lấy chỗ dài bổ xung chỗ ngắn, phát
dương quang đại, hướng về trước tiến tới, bằng
không, sẽ bị thời đại đào thải đi.
Có người hỏi tôi: “Ngài là giáo
gì?” Tôi là chân lý giáo, tôi là nhân giáo, tôi
là chúng sinh giáo, tôi là đại chúng giáo. Vì
chúng sinh là do con người thành, con người có
thể thành Phật, cho nên Phật giáo có thể gọi là
nhân giáo, cũng có thể gọi là chúng sinh giáo.
Phật giáo là tận hư không, khắp
pháp giới. Chúng ta phải thừa nhận tất cả tôn
giáo, đều là một bộ phận thuộc về Phật giáo,
nhưng tất cả tôn giáo, họ không thừa nhận là
Phật giáo, đó là chuyện của họ, đừng hỏi làm gì.
Chúng ta phải mở tâm lượng cho rộng lớn, bao la
vạn hữu. Tận hư không, khắp pháp giới, đều là
biểu hiện của chân lý.
Các vị chú ý! Từ nay về sau đừng
có phân biệt đó đây các tôn giáo khác. Họ phân
biệt chúng ta đó đây, nhưng chúng ta không phân
biệt họ đó đây, phải làm như thế thì sẽ không có
việc gì xảy ra, bằng không “Ông nói ông có lý,
bà nói bà có lý”, tranh luận với nhau, chẳng có
ý nghĩa gì hết. Chân lý không sợ khảo nghiệm,
khoa học càng tiến bộ, thì chứng minh Phật giáo
càng chính xác. Do đó: “Vàng thật thì không sợ
lửa”, càng luyện thì càng sáng, sáng lạn chói
mắt.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Phổ Hiền,
muốn thuật lại nghĩa này, mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền muốn
tường thuật lại nghĩa lý Thập nhẫn đã nói ở
trên, bèn dùng một trăm lẻ bảy bài kệ, để biểu
đạt ý nghĩa. Một trăm bài kệ trước, phân làm
mười đoạn, mỗi đoạn có mười bài kệ, nói về mười
thứ nhẫn. Bảy bài kệ sau là kết hỉ.
Ví như đời có người
Nghe có chỗ bảo tàng
Vì có thể hưởng được
Tâm sinh đại hoan hỉ.
Ví như trên thế gian, có hạng
người như vầy: Nghe được người nhà nói: “Ở dưới
đất chỗ đó có kho báu, nếu đào được kho báu nầy,
thì có thể giàu nhất thiên hạ”. Người đó cho
rằng có cơ hội, thì sẽ được kho báu đó, nên
trong tâm rất là vui mừng, vì kho báu giúp cho
họ muốn gì được nấy, làm cho họ toại tâm mãn
nguyện.
Như vậy bậc trí huệ
Bồ Tát chân Phật tử
Nghe được các Phật pháp
Tướng tịch diệt thâm sâu.
Bồ Tát có đại trí huệ, mới là đệ
tử chân chánh của Phật. Ngài hay nghe được tất
cả pháp của chư Phật nói, pháp đó đều là tướng
tịch diệt thâm sâu vô thượng, do đó:
“Chư hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt diệt rồi
Tịch diệt vi lạc”.
Nghĩa là:
Các hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.
Khi nghe pháp sâu này
Tâm Ngài được an ổn
Không kinh cũng không hãi
Cũng không sinh sợ sệt.
Khi Bồ Tát nghe được pháp Bát Nhã
thâm sâu, thì tâm của Ngài đắc được sự đại an
ổn, cũng không kinh hãi, cũng không sợ sệt. Hay
được an ổn như vậy, thì mới vào sâu được tạng
kinh, đắc được trí huệ rộng lớn như biển cả.
Đại sĩ cầu bồ đề
Nghe tiếng rộng lớn đó
Tâm tịnh kham nhẫn được
Nhờ vậy không nghi hoặc.
Đại sĩ tức là đại Bồ Tát. Đại sĩ là bậc đã phát
tâm bồ đề (Trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng
sinh), cầu đạo bồ đề. Nghe được pháp âm rộng lớn
thâm sâu đó, thì trong tâm rất thanh tịnh, kham
nhẫn được pháp môn này, mà đắc được pháp môn này
không có sự nghi hoặc.
Tự
nghĩ nhờ nghe được
Pháp vi diệu thâm sâu
Sẽ thành nhất thiết trí
Đại Đạo Sư trời người.
Bồ Tát tự nghĩ nhờ nghiên cứu, tự mình nghe được
pháp vị diệu thâm sâu nầy, tương lai sẽ thành
tựu nhất thiết trí huệ, mà làm đại Đạo Sư của
trời và người, tức cũng là thành Phật, Phật là
sư biểu của trời người.
Bồ Tát nghe tiếng nầy
Tâm Ngài đại hoan hỉ
Phát sinh ý kiên cố
Nguyện cầu các Phật pháp.
Bồ Tát nghe được pháp âm vi diệu thâm sâu vô
thượng nầy, trong tâm sinh đại hoan hỉ, phát
sinh ý chí kiên cố, nguyện cầu pháp vi diệu của
chư Phật nói.
Nhờ vui thích bồ đề
Tâm Ngài dần điều phục
Khiến tin thêm tăng trưởng
Không trái chê Phật pháp.
Vì nhờ Bồ Tát hoan hỉ ưa thích bồ đề giác đạo,
cho nên tâm của Ngài dần dần được điều phục,
khiến cho tín tâm ngày càng tăng trưởng. Đối với
Phật pháp không trái ngược, không phỉ báng, mà
ủng hộ Phật pháp, tuyên dương Phật pháp.
Do
nghe pháp âm này
Tâm Ngài được kham nhẫn
An trụ chẳng lay động
Tu hành Bồ Tát hạnh.
Do nhờ nhân duyên, nên nghe được pháp âm này, mà
tâm của Ngài đắc được sự kham nhẫn, an trụ vào
cảnh giới kham nhẫn, nên tâm không bị lay động,
để tu tập Bồ Tát hạnh lục độ vạn hạnh.
Vì nhờ cầu bồ đề
Chuyên hành hướng bồ đề
Tinh tấn không thối chuyển
Chẳng bỏ các thiện nghiệp.
Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo, vì cầu đạo vô thượng
bồ đề, chuyên tâm nhất chí để tu hành, hướng về
đạo bồ đề, lúc nào cũng tinh tấn, chẳng thối
chuyển Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng
không xả bỏ tất cả nghiệp thiện.
Nhờ cầu đạo bồ đề
Tâm Ngài không sợ hãi
Nghe pháp thêm dũng mãnh
Cúng Phật khiến hoan hỉ.
Bồ Tát nhờ cầu bồ đề, cho nên ngày đêm tinh tấn
không giải đãi. Trong tâm của Bồ Tát chẳng sinh
tâm kinh hãi sợ sệt, cũng chẳng sợ Phật đạo lâu
xa, chỉ một lòng tinh tấn hướng về trước. Nghe
được pháp của chư Phật nói, tâm sẽ thêm dũng
mãnh tinh tấn. Bồ Tát thường hay đến cõi nước
chư Phật mười phương, để cúng dường chư Phật,
thừa sự chư Phật, khiến cho chư Phật sinh đại
hoan hỉ.
Như có người phước lớn
Đắc được kho vàng thật
Tuỳ thân mang trang sức
Làm các đồ trang nghiêm.
Giống như có người có phước báo lớn, đắc được
kho vàng thật, bèn đem vàng thật làm các thứ đồ
trang nghiêm, để mang trên thân, dùng để cúng
dường Tam Bảo.
Bồ Tát cũng như thế
Nghe nghĩa thâm sâu này
Suy gẫm thêm biển trí
Nhờ tu tuỳ thuận pháp.
Bồ Tát cũng như thế, nghe được nghĩa lý pháp
thâm sâu này, Ngài bèn tư duy tu hành, để tăng
thêm trí huệ rộng lớn như biển cả, còn tu hành
pháp môn tuỳ thuận chúng sinh.
Pháp có cũng thuận biết
Pháp không cũng thuận biết
Tuỳ pháp đó như vậy
Như vậy biết các pháp.
Pháp có tướng, Bồ Tát cũng biết, pháp không
tướng, Bồ Tát cũng biết. Tuỳ thuận tất cả pháp
để tu hành, có vô sinh pháp nhẫn, tuỳ thuận các
pháp, biết rõ tất cả các pháp thật tướng.
Thành tựu tâm thanh tịnh
Thấu triệt đại hoan hỉ
Biết pháp do duyên khởi
Dũng mãnh siêng tu tập.
Làm thế nào để được tâm thanh tịnh? Tức là
siêng tu lục độ vạn hạnh, thực hành đạo của Bồ
Tát tu. Như vậy mới viên mãn công đức, thành tựu
tâm thanh tịnh. Thành tựu rồi, mới thấu triệt
được, sau đó sẽ sinh tâm đại hoan hỉ. Biết tất
cả các pháp, là do nhân duyên sinh. Tuy thấu
triệt là không, nhưng chẳng chấp trước vào
không, mà dũng mãnh tinh tấn, siêng năng tu tập.
Bình
đẳng quán các pháp
Biết rõ hết tự tánh
Chẳng trái Phật pháp tạng
Giác khắp tất cả pháp.
Dùng tâm bình đẳng để quán sát tất cả các pháp,
thấu suốt biết rõ tự tánh của các pháp, chẳng
trái ngược với pháp tạng của chư Phật, giác ngộ
khắp đạo lý của tất cả các pháp.
Chí thích thường kiên cố
Nghiêm tịnh Phật bồ đề
Bất động như Tu Di
Một lòng cầu Chánh Giác.
Chí nguyện tâm hoan hỉ phải thường hoan hỉ, như
kim cang không bị phá hoại. Trang nghiêm thanh
tịnh giác đạo của Phật, chẳng lay chẳng động,
vững vàn như núi Tu Di, một lòng một dạ dùng
pháp môn cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nhờ phát tâm tinh tấn
Lại tu đạo tam muội
Vô lượng kiếp siêng tu
Chưa từng có thối thất.
Vì phát nguyện ý chí dũng mãnh tinh tấn, cho nên
lại siêng tu đạo tam muội. Từ vô lượng kiếp đến
nay, siêng năng tu hành, chưa từng khi nào thối
chuyển Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Pháp của Bồ Tát vào
Là chỗ của Phật hành
Do đó biết rõ được
Tâm Ngài không nhàm mỏi.
Pháp môn mà Bồ Tát chứng nhập, tức là chỗ hành
của Phật. Đối với pháp môn này, sau khi thấu rõ
hiểu biết rồi, thì tâm chẳng sinh nhàm mỏi, cũng
chẳng sinh giải đãi, lúc nghe kinh cũng không
ngủ gục. Tại sao muốn buồn ngủ? Vì tâm cầu pháp
không chân thật, không minh bạch tánh trọng yếu
của sự cầu pháp, cho nên bị cảnh giới hôn trầm
lay chuyển, mà sinh ra tâm nhàm mỏi. Nếu thành
khẩn cầu pháp, thì tuyệt đối không ngủ gục, nhất
định tập trung tinh thần để nghe kinh, trong tâm
cũng chẳng có mọi vọng tưởng.
Như pháp của Phật nói
Bình đẳng quán các pháp
Đâu chẳng bình đẳng nhẫn
Hay thành bình đẳng trí.
Như pháp của Phật nói, dạy chúng sinh dùng tâm
bình đẳng để quán sát tất cả các pháp, lại dạy
chúng sinh bình đẳng nhẫn thọ tất cả những gì
không thể nhẫn, không thể nhẫn cũng phải cố gắng
nhẫn, thì sẽ thành tựu bình đẳng trí huệ.
Tuỳ thuận lời Phật nói
Thành tựu môn nhẫn nầy
Như pháp mà biết rõ
Cũng chẳng phân biệt pháp.
Tuỳ thuận đạo lý của Phật nói, thì thành tựu
pháp môn nhẫn nầy. Ý nghĩa chữ « như » là nhứt
như, không phải nhị như. Nhứt như nhất thiết
như, nhất thiết như tức là chẳng có gì mà không
biết. « Như giả » tức là tất cả đều tự tại, tất
cả đều hợp với pháp. Biết rõ đều như pháp, không
tạo tác, chẳng có hành vi miễn cưỡng. Trong như
pháp, vốn chẳng có pháp phân biệt.
Trên
trời Tam Thập Tam
Hết thảy các Thiên tử
Cùng đồng ăn một bát
Thức ăn đều khác nhau.
Trên cõi trời Tam Thập Tam (trời Đao Lợi), hết
thảy tất cả các Thiên tử, tuy nhiên mọi người
cùng ăn cơm trong một cái bát, nhưng mùi vị thức
ăn đều khác nhau, mặn, ngọt, đắng, cay, chua,
năm vị tuỳ theo sự ưa thích của mỗi người mà có,
mùi vị này là tự nhiên.
Ăn đủ thứ thức ăn
Chẳng từ mười phương đến
Do nghiệp thiện mình tu
Tự nhiên ở trong bát.
Các Thiên tử dùng đủ thứ thức ăn uống, chẳng
phải từ mười phương đến, đều do nghiệp thiện của
mình tu, mà đắc đước quả báo thức ăn ngon, tự
nhiên đều hiện ra trong bát của mình. Người trời
nghĩ quần áo thì quần áo đến, nghĩ thức ăn thì
thức ăn đến, nghĩ cái gì thì có cái đó, đó là
quả báo của người trời.
Bồ Tát cũng như thế
Quán sát tất cả pháp
Đều từ nhân duyên khởi
Không sinh nên không diệt.
Bồ Tát cũng lại như thế, quán sát tất cả các
pháp, đều từ nhân duyên mà sinh ra. Vì không
sinh, nên không diệt. Pháp là tự nhiên mà sinh,
tự nhiên mà diệt, chẳng có miễn cưỡng.
Không diệt nên vô tận
Vô tận nên không nhiễm
Pháp thế gian biến đổi
Biết rõ không biến đổi.
Vì không sinh, nên không diệt. Vì không diệt nên
không cùng tận. Vì vô tận nên chẳng nhiễm ô. Đối
với pháp thành trụ hoại không biến đổi, Bồ Tát
biết rõ là hư vọng, không thật tại. Tức nhiên là
không thật, thì còn có gì thay đổi ?
Không đổi tức không xứ
Không xứ tức tịch diệt
Tâm Ngài không nhiễm trước
Nguyện độ các quần sinh.
Tức nhiên chẳng có biến đổi, thì chẳng có xứ sở,
vì chẳng có xứ sở, cho nên chỉ có tướng tịch
diệt. Trong tâm của Bồ Tát chẳng có tất cả pháp
nhiễm ô, cũng chẳng có tâm chấp trước tất cả
pháp. Nguyện lực của Bồ Tát là độ tất cả chúng
sinh lìa khổ được vui, chấm dứt sinh tử.
Chuyên niệm về Phật pháp
Chưa từng có tán động
Mà dùng tâm bi nguyện
Phương tiện hành nơi đời.
Bồ Tát chú trọng về Phật pháp. Phật pháp thì
không sinh không diệt, không dơ không sạch,
không tăng không giảm, cho nên chẳng có tán
động. Bồ Tát dùng tâm đại bi nguyện, để độ thoát
tất cả chúng sinh thế gian, khiến cho họ lìa
khỏi biển khổ. Dùng pháp môn thiện xảo phương
tiện, để giáo hoá tất cả chúng sinh thế gian,
khiến cho họ phát bồ đề tâm, cầu vô thượng đạo,
đến thẳng bờ bên kia.
Siêng
cầu nơi thập lực
Nơi đời mà chẳng trụ
Không đi cũng không đến
Phương tiện khéo thuyết pháp.
Bồ Tát hành Bồ Tát đạo, vì siêng cầu mười thứ
lực của Phật, tuy nhiên ở tại thế gian, nhưng
lại chẳng trụ nơi thế gian. Tại sao ? Vì cảnh
giới của Bồ Tát đắc được, đã đạt đến trình độ
không đi, cũng không đến, Bồ Tát dùng pháp môn
phương tiện khéo léo, để vì chúng sinh thuyết
pháp.
Nhẫn này trên hơn hết
Rõ pháp không cùng tận
Nhập vào chân pháp giới
Thật cũng không chỗ vào.
Pháp môn nhẫn Ba la mật này, là pháp cao hơn
hết. Bồ Tát thấu rõ tất cả các pháp, đều chẳng
cùng tận. Chứng được lý thể chân pháp giới, thật
ra không chỗ chứng, cũng không chỗ vào.
Bồ Tát trụ nhẫn này
Thấy khắp các Như Lai
Cùng đồng thời thọ ký
Gọi là thọ Phật chức.
Bồ Tát trụ cảnh giới vô sinh pháp nhẫn, thấy
khắp mười phương chư Phật, đồng thời thọ ký cho
Bồ Tát. Gọi là thọ Phật chức, tức cũng là ban
cho chức vị làm Phật.
Thấu rõ pháp ba đời
Tướng tịch diệt thanh tịnh
Mà hay độ chúng sinh
Đặt
vào trong thiện đạo.
Bồ Tát thấu rõ thông đạt tất cả các pháp ba đời,
đều là tướng tịch diệt thanh tịnh. Bồ Tát hay
tuỳ thời tuỳ lúc giáo hoá tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh đều trụ ở trong
thiện đạo.
Mười bài kệ ở trên, là kệ vô sinh nhẫn thứ ba.
Thế gian đủ thứ pháp
Tất cả đều như huyễn
Nếu biết được như vậy
Thì tâm không lay động.
Hết thảy đủ thứ pháp thế gian, tất cả tất cả đều
là hiện tượng hư huyễn không thật. Nếu thấu rõ
tất cả các pháp như vậy, thì tâm không thể lay
động.
Các nghiệp từ tâm sinh
Nên nói tâm như huyễn
Nếu lìa phân biệt này
Diệt khắp hết các cõi.
Tất cả nghiệp đều từ tâm mà sinh ra, do đó: “Tất
cả do tâm tạo”. Cho nên mới nói tâm giống như hư
huyễn. Nếu lìa khỏi sự phân biệt hư huyễn, như
vậy thì sẽ tiêu trừ diệt hết tam giới hai mươi
lăm cõi (lục đạo), không còn sót.
Ví như nhà huyễn thuật
Hiện khắp các sắc tượng
Đều khiến chúng tham vui
Rốt ráo không chỗ đắc.
Giống như có nhà huyễn thuật, ông ta có thể hiện
ra khắp đủ thứ sắc tượng, có thể đều là giả hình
giả tướng, bất quá khiến cho những người xem
tham trước sắc tướng, hoan hỉ sắc tướng. Rốt ráo
sắc tướng đều là hư huyễn, không chỗ đắc.
Thế
gian cũng như thế
Tất cả đều như huyễn
Không tánh cũng không sanh
Thị hiện có đủ thứ.
Thế gian và tình hình như vậy đều giống nhau,
tức cũng giống như nhà huyễn thuật biến hoá ra,
cho nên nói tất cả thế gian đều là hư huyễn
không thật. Vì chẳng có một thể tánh, cho nên
chẳng có sinh diệt, nhưng vẫn thị hiện có đủ thứ
tướng hư huyễn.
Độ thoát các chúng sinh
Khiến biết pháp như huyễn
Chúng sinh chẳng khác huyễn
Biết huyễn không chúng sinh.
Bồ Tát dùng đủ thứ pháp môn phương tiện, để độ
thoát tất cả chúng sinh, khiến cho họ biết tất
cả pháp, như huyễn như hoá. Chúng sinh cũng do
hư huyễn hoá ra. Nếu biết rõ tướng hư huyễn là
không thật tại, thì còn có tướng chúng sinh
chăng?
Chúng sinh và cõi nước
Hết thảy pháp ba đời
Như vậy đều không thừa
Tất cả đều như huyễn.
Hết thảy chúng sinh và hết thảy cõi nước, hết
thảy tất cả pháp ba đời, đều là hư huyễn, chẳng
có thật thể. Tất cả tất cả đều như huyễn như
hoá. Quán tưởng như vậy, liền không chấp trước,
cũng không phiền não.
Huyễn làm hình nam nữ
Và các ngựa trâu dê
Nhà cửa hồ sông ngòi
Vườn rừng hoa quả thảy.
Nhà huyễn thuật biến hoá tướng hình nam, tướng
hình nữ, tướng hình voi, tướng hình ngựa, tướng
hình trâu, tướng hình dê, hoặc biến hoá tướng
hình nhà cửa, tướng hình hồ, sông, ngòi, tướng
hình vườn, rừng, tướng hình hoa, quả v.v…
Huyễn vật không tri giác
Cũng không có trụ xứ
Tướng rốt ráo tịch diệt
Chỉ tuỳ phân biệt hiện.
Sự biến hoá ra huyễn vật, bản thân của nó chẳng
có tri giác, cũng chẳng có chỗ trụ xứ. Vật biến
hoá rốt ráo là tướng tịch diệt, chẳng có thật
thể, nhưng tuỳ thời tuỳ lúc mà phân biệt hiện ra
đủ thứ tướng hư huyễn.
Bồ Tát hay như vậy
Thấy khắp các thế gian
Có không tất cả pháp
Thấu đạt đều như huyễn.
Bồ Tát cũng như thế, tuỳ thời tuỳ lúc hay thị
hiện ra tất cả cảnh giới, hay thiên biến vạn hoá
sắc thân của Ngài. Hay thấy khắp tất cả thế
gian, bất cứ là pháp hữu vi, hoặc pháp vô vi,
đều thấu đạt biết rõ như huyễn hoá, chẳng có
thật thể.
Chúng sinh và cõi nước
Đủ thứ nghiệp tạo ra
Nhập vào như huyễn tế
Nơi đó không nương tựa.
Chúng sinh và cõi nước, đều do nghiệp cảm tạo
ra. Chúng sinh này thiện lương, chúng sinh kia
chẳng thiện lương, đó là nghiệp lực tạo thành.
Cõi nước này hưng khởi, cõi nước kia hoại đi,
đây cũng là nghiệp lực của chúng sinh sở cảm.
Tất cả đều nhập vào như huyễn tế. Tức nhiên là
như huyễn, thì không chỗ nương tựa.
Mười bài kệ ở trên là kệ thứ tư như huyễn nhẫn.
Như
vậy được thiện xảo
Tịch diệt không hí luận
Trụ nơi bậc vô ngại
Khắp hiện đại oai lực.
Bồ Tát không chấp trước như vậy, do đó đắc được
pháp môn thiện xảo phương tiện. Vốn là tịch
diệt, chẳng có tất cả hí luận. Bồ Tát trụ tại
địa vị viên dung vô ngại, khắp thị hiện thần lực
đại oai đức.
Dũng mãnh các Phật tử
Tuỳ thuận vào diệu pháp
Khéo quán tất cả tưởng
Ràng rịt nơi thế gian.
Các đệ tử của Phật dũng mãnh tinh tấn! Tuỳ thuận
như huyễn tam muội, chứng được tất cả diệu pháp.
Hay khắp quán sát tất cả vọng tưởng, giống như
lưới ràng rịt tại thế gian, chằng chịt với nhau,
mà đào thoát chẳng khỏi tấm lưới này.
Các tưởng như dương diệm
Khiến họ hiểu điên đảo
Bồ Tát khéo biết tưởng
Lìa bỏ mọi điên đảo.
Hết thảy vọng tưởng giống như dương diệm, hư
vọng không thật. Dương diệm là gì? Vào mùa xuân,
nhìn xa trên mặt đất, có hình trạng mờ mịt tựa
như đám nước. Đi đến gần xem thì không hình,
không tướng, chẳng có gì cả. Sự vọng tưởng này,
hay khiến cho chúng sinh, sinh hiểu điên đảo. Bồ
Tát khéo biết tất cả vọng tưởng, cho nên xả bỏ
lìa khỏi tất cả điên đảo mộng tưởng, chẳng sinh
mọi sự chấp trước.
Chúng sinh đều khác biệt
Hình loại chẳng một thứ
Thấu đạt đều là tưởng
Tất cả không chân thật.
Chúng sinh có thai noãn thấp hoá bốn thứ sinh
khác nhau. Dù chúng sinh đồng loại, cũng có sự
khác nhau; hà huống là chúng sinh khác loại,
càng khác nhau, cho nên nói nhiều loại chẳng
phải một loại. Ví như con người: Có người da
vàng, người da trắng, người da đen, người da đỏ.
Còn động vật: Thú chạy thì có loài thú chạy,
loài bay thì có loài bay, côn trùng thì có loại
côn trùng, mỗi thứ đều khác nhau. Tại sao? Vì
vọng tưởng của chúng sinh khác nhau, giống như
hạt bụi ở trong hư không. Chỗ nào có ánh sáng
mặt trời, thì nhìn thấy được bụi bay trong
không, bay lên, bay xuống, lúc bên đông, lúc bên
tây, lúc nam, lúc bắc. Vọng tưởng của chúng ta
cũng như thế, có người nghĩ đi lên, có người
nghĩ đi xuống, do đó: “Quân tử thì đi lên, tiểu
nhân thì đi xuống”. Hoặc tưởng đông, hoặc tưởng
tây, lăn xăn không ngừng, giống như hạt bụi.
Có người nghĩ muốn phát tài, liền mê về tiền
tài. Có người nghĩ muốn làm quan, thì mê về làm
quan. Có người nghĩ muốn đi học, thì mê về học.
Có người muốn làm ruộng, thì mê về làm ruộng.
Chúng sinh đều có mê của người đó. Tóm lại, muốn
làm gì, thì mê về cái đó. Đó tức là mê và tưởng
sinh ra chấp trước. Sự chấp trước này, nếu không
phá được, thì từ khi sinh ra đến chết, hồ đồ một
đời, cũng không thể minh bạch.
Tại sao hình loại khác nhau? Vì thuở xưa nghĩ
tưởng khác nhau. Thuở xưa nghĩ gì, thì đời này
có diện mạo như vậy. Tưởng điên đảo đó, lâu dần
thì đoạ lạc trong nghĩ tưởng của loài đó. Tóm
lại, thuở xưa tạo nghiệp nhân gì, thì đời này
sinh ra quả báo thân đó, mà làm chúng sinh trong
sáu nẻo.
Trong Kinh Lăng Nghiêm có ghi như vầy: “Thai do
tình mà có, noãn do tưởng mà sinh, thấp do hợp
mà cảm, hoá do ly mà ứng”. Làm sao thành thai
sanh? Vì do tình cảm mà sinh ra. Nam nữ có ái
tình, mà sinh ra con cái. Sinh sinh không ngừng,
cho nên con cái tiếp nối vĩnh viễn không dứt
được. Làm thế nào thành noãn sinh? Vì do tưởng
mà sinh ra, giống như gà mái ấp trứng, ngày ngày
nghĩ tưởng gà con của nó, tưởng tới tưởng lui,
bèn tưởng ra gà con. Làm thế nào thành thấp
sinh? Vì chỗ ẩm ướt và hơi ấm hoà hợp mà cảm
sinh ra, giống như tất cả côn trùng. Làm thế nào
thành hoá sinh? Do biến hoá mà sinh, vì thích
mới chán cũ, mà lìa bỏ bổn thân của mình, cảm
ứng mà hoá ra thân khác. Như tằm hoá bướm.
Bồ Tát khéo biết tất cả đều là tưởng. Tài sắc
danh ăn và ngủ trong thế gian, có chân thật
chăng? Chúng sinh hồ đồ mà sinh, lại hồ đồ mà
chết, ở giữa đoạn thời gian này chẳng minh bạch.
Bất cứ người thông minh như thế nào, cũng không
thể sinh tử được tự do. Không thể sinh tử tự do,
thì đó là không minh bạch. Làm thế nào sinh tử
được tự do? Chỉ có một phương pháp, đó là học
Phật pháp, niệm danh hiệu Phật, tu thiền định,
thì mới có thể khống chế được sinh tử, mới biết
được đi về đâu. Tại sao? Vì tu đạo, mới minh
bạch được tất cả tướng điên đảo, mới minh bạch
được tất cả là hư vọng, tất cả đều không chân
thật. Như thế sẽ không khởi hoặc, không tạo
nghiệp, thì sẽ không thọ quả báo, sẽ ra khỏi
được tam giới, chấm dứt sinh tử.
Mười phương các chúng sinh
Đều vì tưởng che đậy
Nếu bỏ thấy điên đảo
Liền diệt tưởng thế gian.
Hết thảy chúng sinh mười phương thế giới, đều bị
điên đảo tưởng che đậy. Người thông minh thì bị
vọng tưởng che đậy ít một chút, người ngu si thì
bị vọng tưởng che đậy nhiều một chút. Trừ khi
người có đại trí huệ, mới phá được vọng tưởng.
Mục đích chúng ta tu đạo là phá vô minh, trừ
vọng tưởng. Nếu lìa khỏi được thấy điên đảo, thì
tất cả vọng tưởng thế gian sẽ tiêu diệt hết
sạch.
Thế gian như dương diệm
Nhờ tưởng có phân biệt
Biết đời trụ nơi tưởng
Xa lìa ba điên đảo.
Thế gian giống như dương diệm, ở xa nhìn tựa như
có, đến gần nhìn thì chẳng có, là hư vọng không
thật. Tưởng của chúng sinh thế gian, giống như
dương diệm, là chẳng rốt ráo. Giống loài chúng
sinh là do vọng tưởng mà hiện ra. Nếu chẳng có
vọng tưởng, thì tất cả cảnh giới cũng chẳng có,
cho nên vọng tưởng có đủ thứ tánh sai biệt khác
nhau.
Bồ Tát biết chúng sinh thế gian, đều trụ trong
vọng tưởng. Tưởng có sự phân biệt giữa thô tưởng
và tế tưởng. Thế nào là thô tưởng? Đó là những
gì nghĩ tưởng chẳng hợp đạo lý, chẳng hiện thật,
do đó: “Hồ tư loạn tưởng”. Thế nào là tế tưởng?
Đó là “Tưởng nhập phi phi”, tưởng những sự việc
chẳng có ý nghĩa gì hết. Nếu biết được tất cả
thế gian do tưởng mà thành, thì liền xa lìa được
ba thứ điên đảo. Những gì là ba:
1. Tưởng điên đảo: Ở trong cảnh giới sáu trần,
tưởng việc không hợp lý.
2. Thấy điên đảo: Về pháp sự lý, tà tri tà kiến,
tức là chẳng phải chánh tri chánh kiến.
3. Tâm điên đảo: Đây là gốc rễ của sự điên đảo.
Vì dùng vọng tâm tà thức để hiểu biết sự vật,
điểm xuất phát chẳng chánh quyết, đó chẳng phải
là điên đảo chăng?
Như
diệm lúc nóng gắt
Đời thấy rằng là nước
Thật ra không có nước
Bậc trí không nên cầu.
Vào thời tiết mùa hè, vì khí hậu quá nóng mà tạo
thành hiện tượng dương diệm. Người thế tục thấy
cho rằng là nước, kỳ thật đó chẳng phải nước, mà
là một thứ khí thể. Đến gần để nhìn thì chẳng có
gì hết. Người có trí huệ nhìn, biết là hình ảnh
hư vọng, cho nên không nên có sở cầu. Tức cũng
là không chấp vào cảnh giới, không bị cảnh giới
làm lay chuyển.
Chúng sinh cũng như thế
Đời hướng về chẳng có
Như diệm trụ nơi tưởng
Cảnh giới tâm vô ngại.
Tất cả chúng sinh cũng như thế, tất cả thế gian
hướng về sở cầu, đều chẳng có. Giống như dương
diệm ở trong tưởng của chúng sinh, tưởng nó là
nước, nhưng chẳng phải nước. Cảnh giới dương
diệm này, chẳng chướng ngại được tâm của bậc
trí, cho nên nói cảnh giới tâm vô ngại.
Nếu lìa hết các tưởng
Cũng lìa các hí luận
Kẻ ngu si chấp tưởng
Đều khiến được giải thoát.
Nếu lìa khỏi tất cả vọng tưởng, cũng lìa khỏi
tất cả hí luận. Hí luận tức là ngôn luận không
hợp lý, lời lẽ chẳng có ý nghĩa. Người ngu si
chấp trước vào vọng tưởng, truy cầu tất cả cảnh
giới hư vọng không thật. Bồ Tát có tâm đại từ
đại bi, khiến cho chúng sinh có vọng tưởng, đều
đắc được pháp môn giải thoát.
Xa lìa tâm kiêu mạn
Trừ diệt tưởng thế gian
Trụ nơi tận vô tận
Là Bồ Tát phương tiện.
Người tu đạo, trước hết xa lìa tâm kiêu ngạo ngã
mạn, mới có sự thành tựu, mới diệt trừ được tất
cả vọng tưởng thế gian. Nhưng mọi người đều có
sự chấp trước, buông bỏ chẳng được chính mình,
nhận rằng hơn hẳn mọi người, là vĩ nhân của thế
giới, cho nên cống cao ngã mạn, hoặc khinh sư
mạn pháp. Phàm là người có tư tưởng này, nhất
định sẽ đoạ địa ngục, tơ hào chẳng có vấn đề gì.
Trụ tại cảnh giới tận vô tận, tức cũng là trụ
chỗ vô sở trụ, do đó: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”, đó là pháp môn phương tiện tu hành Bồ Tát
đạo của đại Bồ Tát đắc được.
Mười bài kệ ở trên là kệ pháp môn như diệm nhẫn
thứ năm.
Bồ Tát rõ thế pháp
Tất cả đều như mộng
Phi xứ phi vô xứ
Thể tánh thường tịch diệt.
Bồ Tát tu hành pháp môn như mộng nhẫn, cho nên
biết tất cả đều như mộng. Nếu nói mộng là thật,
vậy nó đang ở chỗ nào? Chẳng có một chỗ nào có
thể tìm được nó. Nếu nói nó chẳng có chỗ nào,
nhưng ở trong mộng giống như có chỗ, tự nhiên
hiện ra cảnh giới. Phải biết rõ thể tánh của
mộng là hằng thường tịch diệt, tức cũng là bổn
lai chẳng có.
Cảnh giới của mộng là không chân thật, cho nên
đừng chấp trước, nhưng có lúc ở trong mộng có
thể biết trước sự việc tương lai sẽ xảy ra, đây
là mộng biết trước, vấn đề này sẽ nói sau. Hiện
tại đang nói về mộng hư vọng không thật, do đó:
“Đời người như mộng”, nếu nhìn đời người như
mộng không chân thật, thì còn có gì để lưu
luyến? Lại còn có gì để chấp trước? Lại còn có
gì mà nhìn không thấu? Lại còn có gì buông xả
chẳng đặng?
Cảnh giới của mộng, nắm bắt không thể được, xả
bỏ không thể được. Muốn đem mộng ra nhìn xem,
chẳng thể đem ra được. Muốn đừng nằm mộng cũng
không được. Tuy nhiên mộng là giả, nhưng hay
khiến cho tâm của bạn lay động.
Hiện tại chúng ta đang nằm mộng, nhưng mình
không tin đang nằm mộng. Như có người nói:
- “Ông ơi! Ông đang nằm mộng!”
Lúc đó bạn tuyệt đối không tin, bèn nói:
- “Tôi đang làm việc kiếm tiền, tôi đi học để có
kiến thức. Những gì tôi làm đều là chân thật,
sao lại nói tôi đang nằm mộng”. Đợi khi bạn tỉnh
mộng, không cần người khác nói bạn đang nằm
mộng, thì chính bạn cũng biết là đang nằm mộng.
Mộng này khi nào mới có thể tỉnh? Khi bạn tu
hành, tu đến chỗ chẳng còn sự chấp trước, chẳng
còn vô minh, chẳng còn vọng tưởng, chẳng còn
phiền não, thì lúc đó bắt đầu tỉnh, quay đầu
nhìn lại, nguyên lai là đang nằm mộng ban ngày!
Do đó:
“Biển khổ vô biên, quay đầu là
bờ”!
Đời người trước khi giác ngộ, đều là đang nằm
mộng ban ngày. Có người nói với bạn, bạn sẽ
không tin. Đợi khi bạn tỉnh, không có ai nói với
bạn, thì bạn cũng sẽ tin. Chúng ta người tu đạo,
tức là tu giác ngộ. Giác ngộ rồi, thì sẽ hiểu
tất cả đều như mộng. Lúc đó, không còn điên đảo,
không còn tham luyến vui năm dục hồng trần. Tất
cả đều nhìn thủng, buông xả đặng, minh tâm kiến
tánh, tức thân thành Phật.
Các pháp không phân biệt
Tâm như mộng chẳng khác
Ba đời các thế gian
Tất cả đều như vậy.
Tất cả các pháp đều không phân biệt, giống như
mộng, chẳng có hai dạng. Tất cả thế gian trong
ba đời, hết thảy tất cả, đều giống như cảnh giới
mộng, chẳng có thể tánh chẳng thật.
Thể mộng không sinh diệt
Cũng không có phương sở
Ba cõi đều như vậy
Bậc thấy tâm giải thoát.
Bản thể của mộng là chẳng sinh chẳng diệt, cũng
chẳng có phương nào và xứ sở nào. Dục giới, sắc
giới, vô sắc giới, đều đang nằm mộng. Nếu có tư
tưởng và kiến giải như vậy, thì thường trụ chân
tâm, tánh tịnh minh thể, sẽ đắc được giải thoát,
mà không bị sáu căn sáu trần lay chuyển.
Chúng ta nghe kinh phải chú ý, phải phân tích
lý, mới có sự thọ dụng. Bằng không, bất cứ nghe
bao nhiêu lần kinh, cũng không thể đắc được lợi
ích của pháp. Giống như ở trước có nói: “Thai do
tình mà có, noãn do tưởng mà sinh, thấp do hợp
mà cảm, hoá nhờ ly mà ứng”. Cảnh giới này, tức
là bị tình ái trói chặc, như thế thì sẽ không
được tự tại. Biết rõ sự việc chẳng đúng, vẫn cứ
đi làm, do đó: “Minh tri cố phạm”, hành vi này
không thể tha thứ được.
Lão Tử nói: “Thiên hạ đều biết, điều tốt là tốt,
mà vẫn làm ác”. Người thiên hạ đều biết tốt đẹp
là tốt, nhưng chẳng làm điều tốt đẹp, mà đi làm
việc ác. Lại nói: “Thiện là thiện, mà chẳng làm
thiện”. Người thiên hạ đều biết việc thiện là
tốt, nhưng chẳng chịu làm việc thiện. Đây là mao
bệnh mà một số người hay phạm, biết rõ niệm Phật
có thể vãng sinh về thế giới Cực Lạc phương tây,
nhưng không chuyên tâm niệm Phật.
Mộng
chẳng tại thế gian
Đâu chẳng tại thế gian
Đây hai chẳng phân biệt
Được vào nơi nhẫn địa.
Cảnh giới của mộng, tại thế gian tìm chẳng được.
Nhưng lìa thế gian đi tìm mộng, cũng tìm chẳng
được. Cho nên nói mộng cũng chẳng tại thế gian,
cũng chẳng tại xuất thế gian. Hai sự tư tưởng
này không cần phân biệt. Nếu có sự phân biệt,
thì có thức tâm, có vọng tưởng, có sự chấp
trước. Nếu chẳng có sự phân biệt, thì có trí
huệ, được giải thoát, được tự tại, lúc đó bèn
chứng nhập pháp môn như mộng nhẫn.
Ví như trong mộng thấy
Đủ thứ các tướng khác
Thế gian cũng như thế
Với mộng chẳng khác biệt.
Ví như cảnh giới thấy ở trong mộng, hoặc là
tướng đẹp, hoặc là tướng xấu, hoặc là tướng
thiện, hoặc là tướng ác, có đủ thứ tướng khác
nhau. Pháp thế gian cũng như thế, chẳng khác gì
đối với mộng. Tức nhiên là như thế, còn phải
chấp trước làm gì? Sao lại nhìn không thấu? Sao
lại buông bỏ không đặng? Sao lại phải khổ não?
Nói thẳng là tự mình làm phiền mình.
Người trụ nơi định mộng
Rõ đời đều như mộng
Chẳng đồng chẳng phải khác
Chẳng một chẳng đủ thứ.
Thấu hiểu về mộng thì có thể trụ ở trong định
mộng, thân ở trong mộng mà biết là mộng. Như vậy
thì sẽ thấu hiểu tất cả pháp môn thế gian, đâu
chẳng có gì mà không phải là mộng. Mộng và thế
gian cũng chẳng phải giống nhau, cũng chẳng phải
chẳng giống nhau. Cũng chẳng phải một, cũng
chẳng phải nhiều. Tại sao phải nói như vậy? Vì
dạy bạn đừng chấp trước. Cảnh giới của Kinh Hoa
Nghiêm là viên dung vô ngại. Giống tức là khác,
khác tức là giống; một tức là nhiều, nhiều tức
là một.
Chúng sinh các nghiệp sát
Tạp nhiễm và thanh tịnh
Như vậy đều biết rõ
Với mộng đều bình đẳng.
Chúng sinh do khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo,
cho nên có nghiệp nhiều như cõi nước hạt bụi. Có
nghiệp tạp nhiễm, có nghiệp thanh tịnh. Bất cứ
là nghiệp tạp nhiễm, hoặc là nghiệp thanh tịnh,
Bồ Tát đều hoàn toàn thấu rõ biết được, với mộng
là bình đẳng, chẳng có sự khác biệt. Trong Kinh
Kim Cang có nói:
“Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bọt bóng
Như sương cũng như điện
Hãy quán sát như thế”.
Đó tức là đạo lý này.
Các vị thiện tri thức! Tức nhiên biết là mộng,
tại sao mộng hoài không tỉnh? Còn mê mờ hồ đồ
nằm mộng, phải hồi quang phản chiếu, tự hỏi
mình: “Mỗi ngày những gì mình làm, là nghiệp tạp
nhiễm nhiều? Hay là nghiệp thanh tịnh nhiều?” Có
người nói: “Tôi ở trên thế giới này, nhận thức
chẳng rõ ràng, không biết gì là nghiệp tạp
nhiễm? Cũng không biết gì là nghiệp thanh tịnh”.
Hiện tại hãy nói nó cho rõ ràng. Hằng ngày cứ
vọng tưởng pháp tài sắc danh ăn ngủ năm dục, đó
tức là nghiệp tạp nhiễm. Hằng ngày cứ tu hành
pháp tín tấn niệm định huệ, đó tức là nghiệp
thanh tịnh.
Hạnh của Bồ Tát hành
Cùng với các đại nguyện
Thấu rõ đều như mộng
Với đời cũng không khác.
Hạnh môn của Bồ Tát tu hành, và phát ra tất cả
đại nguyện, thấu rõ biết được đều là mộng, chẳng
có thật tại. Và tất cả pháp hữu vi thế gian, đều
như nhau, cũng chẳng phân biệt. Phàm là có sự
phân biệt, thì không thể nhẫn được.
Rõ đời đều không tịch
Chẳng hoại nơi thế pháp
Ví như thấy trong mộng
Dài ngắn thảy các sắc.
Tuy Bồ Tát biết rõ tất cả thế gian đều là không
tịch, nhưng vẫn không hoại nơi pháp thế gian.
Giống như những gì thấy trong mộng, có các sắc
dài ngắn khác nhau.
Tên là như mộng nhẫn
Do đó rõ các pháp
Sớm thành vô ngại trí
Rộng độ các quần sinh.
Bởi nguyên nhân đó, cho nên gọi là như mộng
nhẫn. Bồ Tát nhờ đó mà thấu hiểu pháp thế gian
sớm sẽ thành tựu trí huệ vô ngại. Trí vô ngại
tức là Phật trí, thông đạt cảnh giới tự tại. Có
vô ngại trí rồi, thì mới rộng độ tất cả chúng
sinh, khiến cho họ phát bồ đề tâm, tu vô thượng
đạo.
Mười bài kệ ở trên là kệ như mộng nhẫn thứ sáu.
Tu hành hạnh như vậy
Sinh ra hiểu rộng lớn
Khéo biết các pháp tánh
Với pháp tâm không chấp.
Bồ Tát tu hành hạnh như hưởng nhẫn, khi tu đến
lúc viên mãn, thì sẽ sinh ra tin hiểu rộng lớn.
Khéo biết các pháp tánh, tức là chân như thật
tướng, không biến, không đổi. Do đó:
« Tuỳ duyên không đổi,
Không đổi mà tuỳ duyên ».
Tuy Bồ Tát thấu hiểu pháp tánh, nhưng tâm không
chấp trước.
Tất cả các thế gian
Đủ thứ các âm thanh
Chẳng trong cũng chẳng ngoài
Biết rõ đều như vang.
Tất cả hết thảy thế gian, có đủ thứ tất cả âm
thanh khác nhau. Nhưng những âm thanh đó, cũng
chẳng ở bên trong, cũng chẳng ở bên ngoài. Bồ
Tát biết rõ đều như vang, giống như trong động
vang ra tiếng, đó là do duyên khởi.
Như nghe đủ thứ vang
Tâm chẳng sinh phân biệt
Bồ Tát nghe âm thanh
Tâm cũng lại như thế.
Giống như nghe đủ thứ tiếng vang, trong tâm
chẳng sinh phân biệt. Bồ Tát nghe được các thứ
âm thanh, tâm của Ngài cũng như thế, chẳng khởi
tâm phân biệt. Bồ Tát đối với tất cả, đều chẳng
chấp trước, cho nên không phân biệt.
Chiêm
ngưỡng các Như Lai
Và nghe nói pháp âm
Diễn khế kinh vô lượng
Chỉ nghe không chấp trước.
Bồ Tát chiêm ngưỡng tất cả chư Phật, và nghe
diệu pháp âm của chư Phật, diễn nói kinh Phật
nhiều vô lượng vô biên. Tuy nhiên Bồ Tát nghe
kinh điển của chư Phật nói, nhưng không chấp
trước.
Hiện tại chúng ta nghe kinh, cũng không chấp
trước vào, nghĩa là không nhớ, quên mất, chẳng
biết giảng kinh gì. Tại sao? Vì không chấp !
Không chấp trước của Bồ Tát với không chấp trước
của chúng ta hoàn toàn khác nhau. Bồ Tát nhớ hết
thảy đạo lý ở trong kinh điển, nhưng vẫn không
chấp trước. Tại sao ? Vì Bồ Tát đã phá được pháp
chấp, cho nên không chấp trước. Chúng ta chẳng
phải muốn không chấp trước, mà là không nhớ. Vì
vậy phải học Bồ Tát nhớ đạo lý trong kinh điển,
nương theo pháp tu hành, học điều không chấp
trước này.
Như vang không chỗ đến
Sự nghe tiếng cũng thế
Mà phân biệt được pháp
Với pháp không trái lầm.
Sự không chấp trước của Bồ Tát, giống như tiếng
vang, chẳng chỗ đến. Bồ Tát nghe âm thanh cũng
không chấp trước, chẳng chỗ đến. Nhưng ở trong
âm thanh, có thể phân biệt được tất cả pháp âm
đến. Tiếng đó cũng không chỗ đến, không có chỗ
trái lầm đối với pháp, nghĩa là không trái ngược
với đạo lý của pháp.
Khéo rõ các âm thanh
Nơi tiếng chẳng phân biệt
Biết tiếng đều không tịch
Khắp vang tiếng thanh tịnh.
Bồ Tát khéo hiểu biết tất cả âm thanh pháp môn,
đối với âm thanh không phân biệt, biết âm thanh
vốn đều là không tịch, chẳng có gì cả, chỉ có
tiếng vang mà thôi. Diệu âm nói pháp này, là
tiếng thanh tịnh của lưỡi rộng dài diễn nói.
Rõ pháp chẳng tại lời
Khéo vào chỗ không lời
Mà thị hiện lời nói
Như vang khắp thế gian.
Bồ Tát thấu rõ tất cả pháp, vốn là không lời nói
tướng (vô ngôn thuyết tướng). Do đó: « Ly ngôn
thuyết tướng, ly văn tự tướng, ly tâm duyên
tướng », nghĩa là quét tất cả pháp, lìa tất cả
tướng. Bồ Tát khéo vào bờ mé vô ngôn thuyết
(không lời nói). Trong vô ngôn thuyết (không lời
nói), mà hay thị hiện lời nói. Giống như tiếng
vang của âm thanh khắp nơi thế gian.
Biết rõ đường lời lẽ
Đầy đủ phần âm thanh
Biết tánh tiếng không tịch
Dùng lời đời để nói.
Bồ Tát thấu rõ tất cả con đường lời lẽ, đầy đủ
cảnh giới âm thanh. Biết bổn thể của âm thanh là
không tịch, chẳng có vật gì bên trong, bất quá
dùng lời lẽ và văn tự của thế gian, để diễn đạt
âm thanh của nó.
Như hết thảy tiếng đời
Hiện đồng pháp phân biệt
Tiếng đó đều khắp cùng
Khai ngộ các quần sinh.
Bồ Tát biết hết thảy âm thanh thế gian, thị hiện
âm thanh giống nhau, đủ thứ pháp khác nhau. Hết
thảy âm thanh này, hoàn toàn khắp cùng pháp
giới. Ở trong âm thanh diễn nói diệu pháp, khai
ngộ tất cả các quần sinh.
Bồ Tát được nhẫn này
Tịnh âm hoá thế gian
Khéo léo nói ba đời
Nơi đời không chấp trước.
Bồ Tát đắc được pháp môn như vang nhẫn, dùng âm
thanh thanh tịnh để giáo hoá tất cả chúng sinh
thế gian, phát bồ đề tâm, tu hành vô thượng đạo.
Bổn lai một đời cũng không thể nắm bắt được,
nhưng Bồ Tát dùng phương tiện khéo léo để nói ba
đời. Ba đời tức là đời quá khứ, đời hiện tại và
đời vị lai, tức cũng là hôm qua, hôm nay và ngày
mai. Bồ Tát đối với hết thảy tất cả pháp thế
gian, đều không chấp trước. Tại sao ? Vì người,
pháp, hai chấp đều không.
Mười bài kệ ở trên là kệ pháp môn như vang nhẫn
thứ bảy.
Vì muốn lợi thế gian
Chuyên tâm cầu bồ đề
Mà thường vào pháp tánh
Nơi đó không phân biệt.
Bồ Tát muốn lợi ích chúng sinh thế gian, chuyên
tâm nhất chí cầu vô thượng bồ đề, mà thường vào
bản thể của pháp tánh, nhưng đối với những điều
đó chẳng có tâm phân biệt.
Quán khắp các thế gian
Tịch diệt không thể tánh
Mà luôn làm lợi ích
Tu hành tâm chẳng động.
Bồ Tát quán sát khắp cùng tất cả thế gian, đều
là tịch diệt không có thể tánh. Nhưng Bồ Tát
thường hành Bồ Tát đạo, lợi ích tất cả chúng
sinh. Bồ Tát tu hành lục độ vạn hạnh, tức cũng
là tu định lực. Định lực này, là động mà chẳng
động. Do đó :
« Động tức là tĩnh, tĩnh tức là
động ».
Động tĩnh nhất như, động tĩnh không hai. Tại
sao ? Vì Bồ Tát lìa khỏi tất cả chấp trước, lìa
khỏi tất cả quái ngại, cho nên tâm chẳng động.
Chúng ta người tu đạo, phải minh bạch đạo lý
này. Không những ở trong tĩnh có thể tu định, mà
ở trong động cũng có thể tu định. Kỳ thật, trong
tĩnh có định lực, không như trong động có định
lực. Tại sao ? Vì khi động, nếu chẳng có định
lực, thì sẽ bị cảnh giới lay chuyển. Đừng đam
không chấp tịch. Đam không tức là hoan hỉ về
không, chấp tịch tức là chấp trước tịch tĩnh.
Phải ở trong tĩnh tu động, trong động tu tĩnh.
Tức tĩnh tức động, tức động tức tĩnh, động tĩnh
chẳng hai. Có người nói : « Tôi hoan hỉ tĩnh,
chẳng hoan hỉ động », đó là bạn chấp trước vào
tĩnh. Lại có người nói : « Tôi hoan hỉ động,
chẳng hoan hỉ tĩnh », đó là bạn chấp trước vào
động. Phải biết rõ tĩnh cũng là định, động cũng
là định, tĩnh động đều ở trong định. Cảnh giới
này là gì ? Tôi thường nói với các vị hai câu
này :
« Mắt thấy hình sắc trong chẳng
có
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng
hay ».
Và :
Thấy việc tỉnh việc lìa thế gian
Thấy việc mê việc đoạ trầm
luân ».
Định chẳng phải chỉ riêng ở trong tĩnh sinh ra;
ở trong động sinh ra định mới là thực dụng.
Người tu đạo, đạt đến cảnh giới viên dung vô
ngại, tức là tâm bất động, nghĩa là chẳng động
tâm. Khi Mạnh Tử được bốn mươi tuổi thì, mới bất
động tâm, đối với định lực có chút thành tựu.
Mạnh Tử nói :
« Cáo tử tiên ngã bất động tâm ».
Chứng minh cáo tử được bất động tâm sớm hơn Mạnh
Tử. Do đó :
« Thái sơn băng tiền nhi bất kình
Mỹ nữ đương tiền nhi bất động ».
Nghĩa là :
Núi Thái đổ xuống trước mắt mà
chẳng sợ
Người đẹp trước mắt mà chẳng
động.
Tu đạo tu đến cảnh giới này, thì liền thành tựu
đạo nghiệp.
Chẳng trụ nơi thế gian
Chẳng lìa nơi thế gian
Thế gian không chỗ nương
Chỗ nương không thể được.
Bồ Tát chẳng chấp trụ vào pháp thế gian, cũng
chẳng lìa khỏi pháp thế gian và pháp xuất thế
gian. Đối với pháp xuất thế gian, chẳng có chỗ
nương tựa. Muốn tìm chỗ nương tựa thì không thể
được.
Biết rõ tánh thế gian
Nơi tánh không nhiễm trước
Tuy
chẳng nương thế gian
Độ đời khiến siêu độ.
Bồ Tát biết rõ tự tánh tất cả pháp thế gian, đối
với tánh không có nhiễm trước. Tại sao ? Vì Bồ
Tát đã phá được ngã chấp và pháp chấp. Tuy Bồ
Tát chẳng nương tựa pháp thế gian, nhưng Bồ Tát
vẫn phải giáo hoá chúng sinh hữu tình thế gian,
khiến cho họ được siêu độ.
Hết thảy pháp thế gian
Đều biết hết tự tánh
Rõ pháp không có hai
Không hai cũng không chấp.
Hết thảy tất cả pháp thế xuất thế gian, Bồ Tát
đều biết chân thật tự tánh của tất cả các pháp,
cũng biết rõ tất cả pháp, đều là pháp môn không
hai (đệ nhất nghĩa đế), cũng chẳng có hai, cũng
chẳng chấp. Đó là cảnh giới Bồ Tát đối với pháp.
Tâm chẳng lìa thế gian
Cũng chẳng trụ thế gian
Chẳng ở ngoài thế gian
Tu hành nhất thiết trí.
Tâm của Bồ Tát chẳng lìa pháp thế gian, cũng
chẳng trụ pháp thế gian; cũng chẳng ở ngoài pháp
thế gian, tu hành nhất thiết trí. Nghĩa là nói
tu pháp xuất thế ở trong pháp thế gian, do đó :
« Tức thế gian lìa thế gian ».
Cảnh giới này dễ như trở bàn tay. Trở qua là
lòng bàn tay, lật lại là lưng bàn tay. Trong
kinh có nói :
« Phiền não tức bồ đề,
Bồ đề tức phiền não ».
Bạn chẳng tu hành, chẳng hiểu Phật pháp, tức là
phiền não. Hiểu rồi, tức là bồ đề. Bồ đề chẳng ở
ngoài phiền não, mà ở trong phiền não. Cho nên
nói phiền não tức là bồ đề, bồ đề tức là phiền
não. Tóm lại, biết dùng thì bồ đề, không biết
dùng tức là phiền não.
Ví như bóng trong nước
Chẳng trong cũng chẳng ngoài
Bồ Tát cầu bồ đề
Rõ đời chẳng phải đời.
Giống như bóng mặt trăng trong nước, cũng chẳng
phải ở trong nước, cũng chẳng phải ở ngoài nước.
Bồ Tát cầu vô thượng bồ đề, thấu rõ thế gian là
không, cho nên tâm chẳng sinh chấp trước.
Chẳng ở đời trụ xuất
Vì đời bất khả thuyết
Cũng chẳng ở trong ngoài
Như bóng hiện thế gian.
Bồ Tát chẳng chấp vào pháp thế gian và pháp xuất
thế gian. Vì thế gian là không, bất khả thuyết
bất khả thuyết. Nó chẳng ở trong thế gian, cũng
chẳng ở ngoài thế gian. Như mặt trăng hiện khắp
trong nước, giống như bóng hiện thế gian.
Vào nghĩa thâm sâu này
Lìa dơ đều thấu triệt
Chẳng bỏ tâm nguyện xưa
Đèn trí huệ chiếu khắp.
Bồ Tát chứng nhập vào chân thật nghĩa thâm sâu
này rồi, lìa khỏi tất cả bụi dơ, hoàn toàn biết
rõ thấu triệt, nhưng vẫn không xả bỏ tâm thệ
nguyện vốn đã phát ra, Ngài nguyện làm đèn trí
huệ, để chiếu khắp mười phương thế giới, khiến
cho chúng sinh phát tâm bồ đề, tu vô thượng đạo.
Thế gian không bờ mé
Trí vào đều bình đẳng
Hoá khắp các quần sinh
Khiến họ bỏ chấp trước.
Tuy thế gian chẳng có bờ mé, nhưng trí huệ của
Bồ Tát đầy khắp thế gian, bằng đồng với thế
gian. Giáo hoá khắp tất cả quần sinh, khiến cho
họ xả bỏ tất cả chấp trước, quay lưng với trần
lao hợp với giác ngộ, trở về cội nguồn.
Mười bài kệ ở trên, là kệ pháp môn như ảnh nhẫn
thứ tám.
Quán sát pháp thâm sâu
Lợi ích chúng quần sinh
Từ đây vào trí huệ
Tu hành tất cả đạo.
Bồ Tát quán sát pháp vi diệu thâm sâu vô thượng,
để lợi ích tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả
chúng sinh từ pháp môn này, chứng nhập vào trí
huệ, mà tu hành tất cả bồ đề giác đạo.
Bồ Tát quán các pháp
Thấu rõ đều như hoá
Mà hành hạnh như hoá
Rốt ráo mãi không bỏ.
Bồ Tát quán sát tất cả các pháp, thấu rõ được
lý, đều là như huyễn như hoá, chẳng có một thật
thể nào. Nhưng Bồ Tát vẫn hành Bồ Tát đạo, như
đồng hạnh huyễn, mà chẳng chấp trước, rốt ráo
vĩnh viễn chẳng xả bỏ chúng sinh. Vì cứu hộ
chúng sinh lìa khổ được vui, thời thời vì chúng
sinh diễn nói pháp chấm dứt sinh tử.
Tuỳ thuận hoá tự tánh
Tu tập đạo bồ đề
Tất cả pháp như hoá
Bồ Tát tu cũng thế.
Bồ Tát tuỳ thuận tự tánh huyễn hoá, mà siêng
năng tu tập bồ đề giác đạo, đều biết tất cả các
pháp, giống như huyễn hoá. Bồ Tát tu hành cũng
như thế, nhưng Bồ Tát vẫn không xả bỏ hạnh Bồ
Tát.
Tất cả các thế gian
Cùng với vô lượng nghiệp
Bình đẳng đều như hoá
Rốt ráo trụ tịch diệt.
Hết thảy tất cả thế gian, cùng với vô lượng
nghiệp, đều là bình đẳng, như huyễn như hoá,
chẳng có thể tánh chân thật. Rốt ráo trụ nơi
tịch diệt, tất cả tất cả đều do duyên mà sinh,
do duyên mà diệt, cuối cùng quy về tịch diệt.
Ba đời hết thảy Phật
Tất cả cũng như hoá
Nguyện xưa tu các hạnh
Biến hoá thành Như Lai.
Mười phương ba đời hết thảy tất cả chư Phật, tất
cả tất cả cũng như huyễn như hoá, nguyện thuở
xưa đã phát ra, mà tu hành tất cả hạnh môn. Khi
công đức viên mãn, thì biến hoá thành Như Lai.
Tu phước tu huệ, phước huệ đều tròn đầy, mới
thành Chánh Giác.
Phật
dùng đại từ bi
Độ thoát hoá chúng sinh
Độ thoát cũng như hoá
Hoá lực để thuyết pháp.
Phật dùng tâm đại từ đại bi, để độ thoát giáo
hoá tất cả chúng sinh. Tuy độ thoát chúng sinh,
cũng như huyễn như hoá, dùng hoá lực để vì họ
thuyết pháp, khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác,
cải ác hướng thiện.
Biết đời đều như hoá
Chẳng phân biệt thế gian
Hoá việc đủ thứ thù
Đều do nghiệp khác nhau.
Bồ Tát biết tất cả thế gian, đều giống như biến
hoá, cho nên chẳng phân biệt tất cả thế gian.
Hết thảy những sự việc biến hoá, có đủ thứ thù
đặc khác nhau, đó đều là do nghiệp lực sở cảm,
mà sinh ra đủ thứ sự việc khác nhau.
Tu tập hạnh bồ đề
Trang nghiêm nơi hoá tạng
Vô lượng khéo trang nghiêm
Như nghiệp làm thế gian.
Bồ Tát tu hành học tập hạnh bồ đề, trang nghiêm
ở trong hoá tạng. Có vô lượng vô biên tất cả sự
trang nghiêm, như nghiệp làm thế gian, chúng ta
tu đạo, phải phát tâm bồ đề, tức là cúng dường
chư Phật, gần gũi thiện tri thức cầu trí huệ của
Phật, độ hoá tất cả chúng sinh. Tu tập các từ
bi, tài bồi các căn lành, khiến cho tâm nhu hoà,
khiến cho chí kiên cường. Tóm lại, có tâm cầu
tiến hướng thượng, tức là tâm bồ đề.
Hoá pháp lìa phân biệt
Cũng chẳng phân biệt pháp
Đây hai đều tịch diệt
Bồ Tát hành như vậy.
Pháp biến hoá lìa khỏi sự phân biệt, cũng chẳng
phân biệt nơi pháp. Hai thứ này đều là tướng
tịch diệt. Hạnh của Bồ Tát tu hành cũng như thế.
Bồ Tát vì cứu độ chúng sinh, vì lợi ích chúng
sinh, mà hành Bồ Tát đạo, chẳng phải vì lợi ích
của mình, mà hành Bồ Tát đạo.
Biển hoá rõ nơi trí
Tánh hoá ấn thế gian
Hoá chẳng sinh diệt pháp
Trí huệ cũng như thế.
Biển biến hoá, rõ nơi trí huệ. Tánh biến hoá, ấn
tại thế gian. Biến hoá là pháp chẳng sinh chẳng
diệt, trí huệ cũng là pháp chẳng sinh chẳng
diệt. Bồ Tát đều biết tất cả pháp như hoá, cho
nên chẳng sinh tâm chấp trước. Chúng ta học Phật
pháp, tức là học « không chấp trước ». Nếu không
có tâm chấp trước, thì tất cả đều buông bỏ được,
buông bỏ tức là giải thoát.
Mười bài kệ ở trên là pháp môn như hoá nhẫn thứ
chín.
Thứ mười nhẫn quán rõ
Chúng sinh và các pháp
Thể tánh đều tịch diệt
Như không chẳng xứ sở.
Thứ mười là như không nhẫn, phải quán sát thấu
rõ triệt để. Thể tánh của chúng sinh và tất cả
pháp, đều là tịch diệt, giống như hư không,
chẳng có xứ sở nhất định.
Được trí như hư không
Lìa hẳn các chấp trước
Như không chẳng có gì
Nơi đời không chướng ngại.
Bồ Tát đắc được trí huệ như hư không, vĩnh viễn
lìa khỏi tất cả sự chấp trước. Giống như hư
không, chẳng có vật gì cả, cho nên đối với thế
gian, chẳng có gì chướng ngại.
Thành tựu sức không nhẫn
Như hư không vô tận
Cảnh giới như hư không
Chẳng phân biệt hư không.
Thành tựu sức không nhẫn này, giống như hư
không, chẳng có lúc nào cùng tận. Cảnh giới
giống như hư không, nhưng chẳng phân biệt hư
không. Hiện tại nhà khoa học mới phát hiện bí
mật của hư không (vũ trụ), có hệ thống ngân hà,
đó là do hàng ngàn vạn thái dương hệ mà thành.
Lại phát hiện có rất nhiều ngân hà xuất hiện.
Cách đây ba ngàn năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
đã biết rõ trong hư không, có tiểu thiên thế
giới, trung thiên thế giới, đại thiên thế giới,
nhìn thấy rất rõ ràng. Khoa học càng tiến bộ,
thì càng chứng minh pháp của Phật nói, đều là
chân lý, tuyệt đối không sai.
Hư không không thể tánh
Cũng lại không đoạn diệt
Cũng chẳng đủ thứ khác
Trí lực cũng như thế.
Tuy hư không chẳng có thể tánh, nhưng cũng chẳng
đoạn diệt, cũng chẳng có đủ thứ sự phân biệt.
Tại sao ? Vì nó là hư không ! Nếu có thể tánh,
thì có đoạn diệt, có phân biệt, đó chẳng phải là
hư không. Trí huệ lực cũng như thế.
Hư không chẳng ban đầu
Cũng lại không giữa cuối
Lượng đó không thể được
Trí Bồ Tát cũng vậy.
Hư không cũng chẳng có bắt đầu, cũng chẳng có
hiện tại, cũng chẳng có khi nào kết thúc. Lượng
của hư không không thể được. Trí huệ của Bồ Tát
cũng như thế, chẳng có ban đầu, chẳng có giữa,
chẳng có cuối.
Quán pháp tánh như vậy
Tất cả như hư không
Không sinh cũng không diệt
Sở đắc của Bồ Tát.
Như vậy quán sát pháp tánh, tất cả đều như hư
không. Cũng chẳng có sinh, cũng chẳng có diệt.
Đó là sở đắc của Bồ Tát.
Tự trụ như không pháp
Lại vì chúng sinh nói
Hàng phục tất cả ma
Đều là phương tiện nhẫn.
Bồ Tát tự trụ giống như không pháp, nhưng lại vì
tất cả chúng sinh diễn nói diệu pháp, lại hàng
phục tất cả thiên ma ngoại đạo, đều do sức
phương tiện nhẫn này mà thành tựu.
Tướng thế gian khác nhau
Đều không chẳng có tướng
Vào nơi chỗ không tướng
Các tướng đều bình đẳng.
Tướng thế gian, tuy nhiên có khác nhau, nhưng
đều là không, chẳng có tướng chân thật. Nếu vào
chỗ vô tướng, thì tất cả tướng hoàn toàn bình
đẳng, chẳng có phân biệt.
Chỉ dùng một phương tiện
Vào khắp các thế gian
Biết được pháp ba đời
Đều đồng tánh hư không.
Chỉ dùng một pháp môn phương tiện, vào khắp tất
cả thế gian, biết được tất cả các pháp ba đời,
hoàn toàn đồng với tánh hư không.
Trí huệ và âm thanh
Cùng với thân Bồ Tát
Tánh đó như hư không
Tất cả đều tịch diệt.
Trí huệ và âm thanh cùng với thân của Bồ Tát,
tánh giống như hư không, tất cả đều là tịch
diệt, chẳng có gì cả.
Mười bài kệ ở trên là kệ pháp môn như không nhẫn
thứ mười.
Như vậy mười thứ nhẫn
Tu hành của Phật tử
Tâm ý khéo an trụ
Rộng vì chúng sinh nói.
Mười thứ nhẫn đã nói ở trên, là hạnh môn tu hành
của Phật tử. Tâm phải khéo an trụ, rộng vì tất
cả chúng sinh diễn nói diệu pháp luân.
Nơi đây khéo tu học
Thành tựu lực rộng lớn
Pháp lực và trí lực
Là phương tiện bồ đề.
Đối với pháp nhẫn này phải khéo tu học, sẽ thành
tựu sức lực rộng lớn, sức lực của pháp, sức lực
của trí. Tóm lại, sẽ thành tựu được tất cả sức
lực, là sức phương tiện của bồ đề giác đạo.
Thông đạt môn nhẫn này
Thành tựu vô ngại trí
Vượt qua tất cả chúng
Chuyển pháp luân vô thượng.
Nếu thông đạt được pháp môn mười thứ nhẫn này,
thì sẽ thành tựu trí huệ vô ngại, tức cũng là
viên dung vô ngại, vượt qua được tất cả chúng
sinh, mà chuyển bánh xe pháp vô thượng, độ khắp
chúng sinh.
Tu hành hạnh rộng lớn
Số lượng không biết được
Biển trí Điều Ngự Sư
Mới phân biệt biết được.
Bồ Tát tu hạnh môn rộng lớn, số lượng không thể
được (bất khả đắc), chẳng biết là bao nhiêu? Chỉ
có biển trí huệ của Điều Ngự Sư (một trong mười
danh hiệu của Phật), mới phân biệt biết được có
bao nhiêu hạnh môn.
Bỏ ngã mà tu hành
Vào pháp tánh thâm sâu
Tâm thường trụ tịnh pháp
Dùng để thí quần sinh.
Xả bỏ cái bản ngã mà tu hành, thì mới chứng nhập
vào được trong pháp tánh thâm sâu, tâm đó thường
trụ ở trong pháp thanh tịnh. Dùng pháp này thí
giáo tất cả chúng sinh.
Chúng
sinh và bụi cõi
Còn có thể biết được
Các công đức Bồ Tát
Không thể độ hạn được.
Vô lượng chúng sinh và vô lượng bụi cõi, còn có
thể biết được số mục rốt ráo là bao nhiêu. Nhưng
tất cả công đức của Bồ Tát, chúng ta phàm phu
ngu si, không cách chi độ lượng được giới hạn,
không có bờ mé.
Bồ Tát thành tựu được
Mười thứ nhẫn như vậy
Trí huệ và sở hành
Chúng sinh không dò được.
Bồ Tát thành tựu được mười thứ pháp nhẫn này, đó
là trí huệ và công đức tu hành của Ngài mà thành
tựu. Phàm phu chúng sinh chẳng cách chi có thể
dò lường được.
|