|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN 40
PHẨM THẬP ĐỊNH
THỨ HAI MƯƠI BẢY
Phẩm này giảng tại Kim Luân
Tự, ngày 2 tháng 4 năm 1977
Hôm nay giảng Phẩm Thập Định của
Kinh Hoa Nghiêm. Người nghe kinh, đối với ý
nghĩa bảy chữ "Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng
Phật" đại khái còn chưa thấu hiểu lắm, cho nên
trước hết lược giảng về đề kinh, khiến cho người
ban đầu nghe Phật pháp, có ấn tượng ở trong đầu.
Sau đó, càng thâm nhập hiểu rõ hơn nghĩa lý của
kinh văn.
Hoa là nhân hoa vạn hạnh, Nghiêm là trang
nghiêm. Dùng nhân hoa để trang nghiêm nhân quả
vô thượng. Đại là thể đại, tướng đại, dụng đại.
Phương là bốn phương. Quảng là quảng đại. Đại
Phương Quảng là pháp, Phật là người, Hoa Nghiêm
là dụ. Pháp của Đại Phương Quảng là pháp không
thể nghĩ bàn. Phật là người có trí huệ nhất. Hoa
Nghiêm Đại Phương Quảng Phật sáu chữ, đầy đủ
nhân, pháp, dụ, cho nên làm thành tên của bộ
kinh này.
Mỗi bộ kinh đều bao quát trong bảy loại làm tên
kinh (thất chủng lập đề). Bảy loại làm tên kinh,
hoặc dùng người (nhân) làm đề mục của kinh, hoặc
dùng pháp làm đề mục của kinh, hoặc dùng dụ làm
đề mục của kinh.
1. Dùng đơn nhân lập đề (chỉ dùng người làm đề
kinh) : Như Kinh A Di Đà, dùng danh từ Phật A Di
Đà (dịch là Vô Lượng Thọ, hoặc dịch là Vô Lượng
Quang), để làm tên kinh.
2. Dùng đơn pháp lập đề (chỉ dùng pháp làm đề
kinh) : Như Kinh Bát Nhã, dùng danh từ Bát Nhã
(dịch là trí huệ), đề làm tên kinh.
3. Dùng đơn dụ lập đề (chỉ dùng ví dụ làm tên
kinh) : Như Kinh Phạm Võng, dùng danh từ Phạm
Võng (lưới La tràng của Đại Phạm Thiên, trong lỗ
lưới đều có nạm hạt bảo châu, ánh sáng chiếu với
nhau, lỗ lỗ thông với nhau), để làm đề kinh. Ở
trên là đơn nhất (một thứ) lập đề.
4. Dùng nhân, pháp, lập đề : Như Phật Nói Kinh
Niết Bàn, Phật là người, Niết Bàn là pháp.
5. Dùng pháp, dụ, lập đề : Như Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, diệu pháp là pháp, liên hoa là dụ.
6. Dùng nhân, dụ, lập đề : Như Phật Nói Kinh Sư
Tử Hống, Phật là người, sư tử hống là dụ. Ba thứ
ở trên là phức (hai thứ) lập đề.
7. Dùng danh từ pháp, nhân, dụ, để lập đề. Hoa
Nghiêm Đại Phương Quảng Phật sáu chữ này, nếu
giảng kỹ càng, thì dù giảng mấy năm cũng giảng
không xong được. Hiện tại chỉ lược giảng đại
khái.
Kinh, tiếng Phạn gọi là Tu đa la, dịch là "khế
kinh", trên khế với lý của chư Phật, dưới khế
với căn cơ của chúng sinh. Kinh có bốn ý nghĩa :
1. Quán : Tức là xâu nghĩa đã nói lại với nhau.
2. Nhiếp : Tức là nhiếp trì sự hoá cơ.
3. Thường : Nghĩa là hằng thường không thay đổi,
kinh có chân lý cổ kim không thay đổi.
4. Pháp : Tức là phương pháp, vì kinh là quy tắc
ba đời đồng tôn tu hành. Còn có năm nghĩa nữa đó
là : Pháp bổn, vi phát, suối vọt, thước mực, kết
man. Tóm lại, kinh có rất nhiều ý nghĩa, hiện
tại chỉ nói chút chút.
Kinh Hoa Nghiêm có ba mươi chín phẩm, hiện tại
đang giảng là Phẩm Thập Định, là phẩm thứ hai
mươi bảy. Định là gì ? Nói đơn giản là tâm bất
động, tâm cảnh hợp nhứt, do đó :
"Trong không tâm, ngoài không
cảnh".
Không tâm không cảnh, tức là định. Tức cũng là :
“Mắt thấy hình sắc trong chẳng có
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng
hay”.
Đến được trình độ này thì : “Na Già thường tại
định, không lúc nào chẳng định”, lúc này thật là
tự tại, phiền não gì cũng chẳng còn nữa. Lúc
này, “Một niệm không sinh toàn thể hiện”, Phật
tánh vốn có sẽ hiện ra, nếu “Sáu căn dấy động bị
mây che”. Con mắt nhìn thấy sắc trần, bèn báo
cáo lên tâm vương rằng: Là đỏ, vàng, xanh,
trắng, đen, các màu sắc, thì thức phân biệt liền
lộ ra. Lúc này, vô minh che mất chân tâm, thì
trong tự tánh bị ràng buộc. Giống như, bầu trời
ngàn dặm không mây, thì bầu trời trong xanh, hốt
nhiên bị một vầng mây bay đến, che lấp ánh sang
mặt trời, bèn mất đi ánh sáng mặt trời.
Phẩm này giảng về đạo lý mười thứ định:
1. Phổ quang minh tam muội (Tam muội dịch là
Chánh định chánh thọ).
2. Diệu quang minh tam muội.
3. Thứ đệ biến vãng chư Phật quốc độ thần thông
tam muội.
4. Thanh tịnh thâm tâm hành tam muội.
5. Tri quá khứ trang nghiêm tạng tam muội.
6. Trí quang minh tạng tam muội.
7. Liễu tri nhất thiết thế gian Phật trang
nghiêm tam muội.
8. Nhất thiết chúng sinh sai biệt thân tam muội.
9. Pháp giới tự tại tam muội.
10. Vô ngại luân tam muội.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn ở tại nước Ma Kiệt Đề, A lan
nhã pháp Bồ đề đạo tràng.
Bấy giờ, tức là lúc đó. Là lúc nào ? Là lúc sau
khi nói xong Phẩm Thập Địa, lúc đang muốn nói
Phẩm Thập Định. Đức Thế Tôn là một trong mười
danh hiệu của Phật, Phật là người tôn quý nhất
trong thế gian và xuất thế gian. Ma Kiệt Đề dịch
là “Không độc hại”. Người dân trong nước đó, rất
là hiền lành, chẳng có pháp luật xử cực hình.
Nước Ma Kiệt Đề ở tại lưu vực sông Hằng tại Ấn
Độ, thủ đô là thành Vương Xá, ông vua tên là Tần
Bà Sa La (đệ tử của Phật). A lan nhã dịch là
“Nơi tịch tĩnh”, tức cũng là nơi tịch tĩnh pháp,
là nơi tu hành lý tưởng nhất. Đức Phật Thích Ca
thành Chánh Đẳng Chánh Giác ở tại Bồ đề đạo
tràng.
Thái tử Tất Đạt Đa (tên tục của Phật), Ngài là
người thừa kế ngôi vua, tương lai chắc chắn sẽ
sống trong giàu sang phú quý, hưởng thú vui vợ
đẹp con xinh. Song, Ngài cảm giác đời người là
khổ, không cách chi giải thoát, nên trong tâm
buồn phiền không vui.
Một ngày nọ, thái tử muốn ra khỏi hoàng cung du
ngoạn, sai tuỳ tùng chuẩn bị xe. Ngày thứ nhất
đi về cửa hướng đông, thấy một người phụ nữ đang
sinh nở, tâm trạng rất là đau khổ. Thái tử bèn
hỏi tuỳ tùng rằng :
- “Đó là việc gì thế ?”
- Tuỳ tùng đáp: “Người phụ nữ sắp sinh con”,
nhìn một lát thì đức bé sinh ra, oà lên khóc
không ngừng.
Thái tử thấy hoàn cảnh đó, rất buồn bã không
vui, bèn trở về hoàng cung, cảm giác “sinh” là
khổ.
Ngày thứ hai, thái tử đi đến cửa hướng nam, thấy
một ông già lom khom, đầu tóc bạc phơ chống gậy
đi, cảm thấy rất kỳ quái, bèn hỏi người tuỳ tùng
:
- “Đây là người như thế nào ?”
- Tuỳ tùng đáp : “Khi con người về già thì như
vậy, đi chẳng thuận tiện”.
Thái tử nghe được tâm rất buồn phiền, cảm thấy
“già” cũng là khổ, bèn quay trở về hoàng cung.
Ngày thứ ba, thái tử đi đến cửa hướng tây, thấy
một người bệnh nằm ở trên đất, rên la không
ngừng, kêu khổ thảm thiết, rất là bi ai. Thái tử
nghe được tiếng kỳ diệu, bèn hỏi tuỳ tùng:
- “Người này như thế nào ?”
- Tuỳ tùng đáp : “Người này bị bệnh sắp chết,
cho nên đau khổ rơi lệ”.
Thái tử nghe được sinh tâm thương xót buồn bã,
bèn trở về hoàng cung, cảm thấy “bệnh” cũng là
khổ.
Ngày thứ tư, thái tử đi đến cửa hướng bắc, phát
hiện có một người nằm ngủ ở trên đường, làm trở
ngại giao thông, bèn hỏi tuỳ tùng :
- “Người đó như thế nào ?”
- Tuỳ tùng đáp : “Người đó đã chết rồi”.
Thái tử không biết chết là gì ?
- Lại hỏi : “Chết là gì ?”
- Tuỳ tùng đáp : “Vì con người có bệnh trị không
khỏi, cho nên hết hơi thở thì chết”.
Thái tử cảm thấy “chết” cũng là khổ.
Bốn ngày đi dạo, khiến cho thái tử cảm thấy con
người có bốn cái khổ lớn (Sinh, già, bệnh,
chết), làm thế nào có thể giải thoát được ? Nghĩ
tới nghĩ lui, không biết cách nào để giải thoát
được, nên buồn bã vô cùng.
Một ngày nọ, thái tử tĩnh toạ dưới cây đại thọ ở
trong vườn hoa của hoàng cung, bỗng có một người
xuất gia (người trời) hiện ra ở trước mặt thái
tử, bèn nói với thái tử :
- “Nếu muốn liễu sinh thoát tử, thì chỉ có xuất
gia tu đạo, bằng không, không cách chi giải
thoát”.
Thái tử nghe rồi, bèn khởi lên ý niệm xuất gia.
Vào đêm mồng 8 tháng 2, lúc đó vừa mười chín
tuổi, cưỡi ngựa vượt thành, vào núi Tuyết xuống
tóc xuất gia tu đạo. Đi khắp nơi tìm thiện tri
thức mất thời gian hết năm năm, mà không được
gì. Vì thiện tri thức đương thời đều là ngoại
đạo, chẳng biết được pháp mười hai nhân duyên.
Thái tử lại phát nguyện muốn tu khổ hạnh cầu
giải thoát. Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một hạt mè, trở
thành ốm yếu như cây củi, trải qua thời gian sáu
năm như vậy, cũng chẳng đắc được phương pháp
giải thoát, bèn quyết tâm bỏ pháp môn khổ hạnh.
Đến dưới cội cây bồ đề, ngồi trên toà kim cang,
phát đại thệ nguyện rằng : “Nếu tôi không thành
Phật, thà chết quyết không rời khỏi chỗ này”. Do
đó, không ăn không uống, ngồi ở dưới gốc cây, tư
duy bốn mươi chín ngày, vào đêm mồng 8 tháng 12,
lúc đó đã ba mươi tuổi, thấy sao mai mọc mà ngộ
đạo, thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Ban
đầu thành Chánh Giác, tại Điện Phổ Quang Minh,
nhập vào tam muội Sát na tế chư Phật. Dùng Nhất
thiết trí tự thần thông lực, hiện thân Như Lai,
thanh tịnh vô ngại, không chỗ y chỉ, không có
phan duyên. Trụ Xa ma tha, tịch tĩnh cùng cực.
Đủ đại oai đức, không có nhiễm trước. Hay khiến
cho người thấy, đều được khai ngộ. Tuỳ nghi xuất
hiện, không thất thời, luôn trụ vào một tướng,
đó là vô tướng.
Ban đầu thành Chánh Giác: Tức là thành Phật,
Phật là tiếng Phạn, dịch là “Giác”, tức là giác
ngộ. Phàm phu thì không giác, dù có thông minh
như thế nào, cũng không thể giác ngộ. Tại sao ?
Vì ngày ngày điên đảo, không tranh danh thì cũng
tranh lợi. Trên danh lợi, bạn tranh tôi đoạt, hồ
đồ một đời còn không tự giác, thật là đáng
thương !
Hàng nhị thừa là tự giác, giác ngộ đời người là
khổ. Tuy tự mình giác ngộ rồi, nhưng không giác
ngộ kẻ khác. Hàng nhị thừa tức là Thanh Văn và
Duyên Giác. Các Ngài dứt trừ được phần đoạn sinh
tử, mà biến dịch sinh tử chưa dứt trừ được. Thế
nào là phần đoạn sinh tử ? Tức là một phần một
đoạn. Bạn có phần của bạn, tôi có phần của tôi.
Bạn có hình đoạn của bạn, tôi có hình đoạn của
tôi, mỗi người đều có một phần, một đoạn, nhưng
chẳng phải là vĩnh cửu, mà là tạm thời. Đây là
sinh tử ở trong ba cõi. Thế nào là biến dịch
sinh tử ? Tức là biến hoá thay đổi. Niệm niệm
sinh, niệm niệm diệt, vọng tưởng lung tung. Một
niệm diệt thì chết rồi; một niệm sinh, thì sống
lại. Đây là sinh tử ngoài tam giới. Cũng có thể
nói phần đoạn sinh tử là sinh tử của nhục thân.
Biến dịch sinh tử là sinh tử của tinh thần, hoặc
là nói sinh tử sinh lý và tâm lý.
Bồ Tát thì giác tha, không những mình đã giác
ngộ rồi, cũng khiến cho tất cả chúng sinh được
giác ngộ. Đây là tư tưởng đại từ đại bi của Bồ
Tát, nhưng chưa đạt đến bậc giác mãn. Khi Bồ Tát
đến được bậc Bát địa, thì mới dứt trừ được biến
dịch sinh tử. Thập địa Bồ Tát vẫn còn chút phần
vô minh hoặc chưa phá. Khi đến được bậc Đẳng
giác, vẫn còn một phần sinh tướng vô minh chưa
phá. Nếu phá được thì sẽ chứng được bậc Diệu
giác, tức là thành Phật.
Phật thì tự giác cũng tròn, giác tha cũng tròn,
giác hạnh tròn đầy. Do đó: “Ba giác tròn, vạn
đức đầy, nên gọi là Phật”. Ý nghĩa ban đầu thành
Chánh Giác, chỉ lược nói để tham khảo.
Tại điện Phổ Quang Minh: Sau khi Phật Thích Ca
Mâu Ni nói xong Phẩm Thập Địa ở điện Ma Ni Bảo
Tạng tại cung trời Tha Hoá Tự Tại, lại trở về
nhân gian, tại điện Phổ Quang Minh (lần thứ hai)
tuyên nói pháp Thập định.
Điện Phổ Quang Minh ở hướng đông nam Bồ đề đạo
tràng, khoảng ba dặm, tại khúc sông. Tương
truyền khi Long vương của con sông đó, thấy Phật
ban đầu thành Chánh Giác, ngồi lộ thiên dưới cội
bồ đề, cho nên dùng bảy báu tạo Điện cho đức
Phật. Phật trụ ở trong điện này nói pháp môn phổ
quang, huệ quang chiếu khắp thế gian, cho nên
gọi là điện Phổ Quang Minh.
Lúc đó, Phật ngồi ở trong Điện Phổ Quang Minh,
có mười thứ cảnh giới, nói sơ lược dưới đây:
1. Nhập vào tam muội Sát na tế chư Phật: Chữ
“Nhập” ở đây nghĩa là chứng đắc. Vốn không xuất
không nhập, có gì có thể nhập ? Chẳng qua, đây
là mình thể nghiệm đến cảnh giới. Sát na là thời
gian ngắn nhất (còn ngắn hơn 1 giây), trong một
sát na có chín mươi niệm, mỗi niệm có chín trăm
lần sinh diệt, tức chín trăm lần sinh tử. Đây là
biến dịch sinh tử của Bồ Tát. Phật là người đã
khai mở ngũ nhãn lục thông, mới biết cảnh giới
này.
Nhập vào sát na tế, tức là nhập vào chỗ chẳng có
bờ mé, đã tận hư không khắp pháp giới. Mười
phương ba đời tất cả chư Phật, Phật Phật đạo
đồng. Bạn như vậy, tôi như vậy, thường thường
như vậy, chẳng có gì khác biệt. Vị Phật này tức
là vị Phật kia, vị Phật kia tức là vị Phật này.
Giữa Phật với Phật, chẳng có phân biệt đó đây,
do đó :
“Mười phương chư Phật,
Cùng chung một pháp thân”.
Đều là một. Đến được trình độ này, thì chẳng còn
tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng
thọ mạng.
Tam muội chư Phật, nghĩa là nói tam muội của một
vị Phật, tức là tam muội của tất cả vị Phật đều
có; tam muội của tất cả vị Phật đều có, tức là
tam muội của một vị Phật. Do đó :
"Một tam muội tức là tất cả tam
muội,
Tất cả tam muội tức là một tam
muội".
Tam muội dịch là "Chánh định", chánh định khác
với tà định.
Tà định là gì ? Tức là định chẳng chánh đáng, là
tà định của ngoại đạo, là cuồng huệ của ngoại
đạo. Tuy nhiên ngoại đạo cũng có trí huệ, nhưng
chẳng chân chánh, dễ nhập vào đường tà. Pháp của
ngoại đạo giảng đều là tà tri tà kiến. Vừa nghe
xong cảm thấy như có đạo lý, nhưng chẳng rốt
ráo, về căn bản là sai. Sai chỗ nào ? Sai chỗ
"Không thể đoạn dục khử ái", vẫn chấp trước về
ái dục, cho nên là pháp nhiễm ô, nên đoạ vào
trong luân hồi, không thể liễu sinh thoát tử !
Chánh định là gì ? Tức là định chánh đáng, định
thanh tịnh, là vua trong định. Chư Phật Bồ Tát
mới có chánh định này. Những người khác đều
chẳng có chánh định này. Định của ngoại đạo là
trái đạo mà chạy theo, ngoài tâm cầu pháp, càng
truy cầu thì lìa nhà càng xa, càng xa thì càng
cầu, kết quả cầu vào trong ba đường ác.
2. Dùng Nhất thiết trí tự thần thông lực, hiện
thân Như Lai : Phật dùng Nhất thiết trí, tự động
phát ra thần thông lực, cũng là sức thiên nhiên,
mà hiện thân Như Lai. Do đó :
"Thân ngoại hữu thân giai hoá
tướng,
Niệm linh vô niệm tức bồ đề".
Phật ở trong định, hiện vô lượng thân đến khắp
cùng mười phương thế giới để giáo hoá chúng
sinh.
3. Thanh tịnh vô ngại : Tại sao Phật có sức thần
thông này ? Vì thân tâm của Phật đều thanh tịnh
nên không có chướng ngại, nhậm vận tự tại, biến
hoá vô cùng.
Thanh tịnh là gì ? Nói đơn giản là chẳng có pháp
ô nhiễm. Pháp ô nhiễm là gì ? Tức là pháp tình
dục của nam nữ. Nếu đoạn dục khử ái được, thì
tất cả đều thanh tịnh không nhiễm.
4. Không chỗ y chỉ, không có phan duyên : Thân
tâm thanh tịnh rồi, thì độc lập tồn tại, tự lực
cánh sinh, không ỷ lại bất cứ người nào, lại
không có tâm phan duyên. Tại sao ? Vì chẳng có
ái dục, cho nên không tự tìm khổ não, do đó :
"Thanh tâm quả dục". Chuyên tâm tham thiền đả
toạ, tụng kinh trì chú, tu tất cả pháp, hành tất
cả pháp, đây là pháp môn không hai.
5. Trụ Xa ma tha, tịch tĩnh cùng cực : Hay tu
hành như thế, thì trụ tại Xa ma tha (dịch là
"Chỉ"), nơi tịch tĩnh cùng cực, tức cũng là tu
tập pháp môn chỉ quán. Chỉ (ngừng) là ngừng tất
cả điều ác, quán là quán tất cả điều thiện. Khi
công phu đến nơi tịch tĩnh, tức là cảnh giới :
"Biết việc ít thì phiền não ít
Đến nơi vô cầu thì hết lo".
6. Đủ đại oai đức : Tại sao chẳng có ưu sầu ? Vì
đầy đủ tất cả đại oai đức. Do đó :
"Đạo cao long hổ phục,
Đức trọng quỷ thần khâm".
Khi đạo đạt đến tối cao thượng nhất, thì rồng
cũng khoanh mình lại, hổ cũng nằm xuống. Tại
sao ? Bị đạo hàng phục. Khi đức đạt đến tối tôn
trọng, thì quỷ cũng kính ngưỡng, thần cũng khâm
phục. Tại sao ? Vì có đại oai đức.
7. Không chỗ nhiễm trước : Có đại oai đức rồi,
thì đối với tất cả đều chẳng có nhiễm trước,
cũng chẳng chấp vào danh, cũng chẳng chấp vào
lợi. Nhìn thấu tất cả đều là : Vô thường, khổ,
không, vô ngã, quán như vậy thì tâm sẽ thanh
tịnh, chẳng còn tư tưởng ô nhiễm.
8. Hay khiến người thấy, thảy đều khai ngộ :
Phật khiến cho tất cả chúng sinh, phàm là người
thấy được Ngài, đều lập tức khai ngộ.
Các vị ! Ai muốn thấy Phật khai ngộ, thì điều
kiện đầu tiên phải quét sạch rác rến trong tâm,
chẳng còn chút bụi bặm nào. Khi đến được cảnh
giới này, thì :
Trong quán tâm, tâm chẳng có tâm
Ngoài quán hình, hình chẳng có
hình
Xa quán vật, vật chẳng có vật.
Mới có hy vọng thấy Phật khai ngộ, bằng không
thì miễn bàn, không có hy vọng. Tồn tại hy vọng,
đó là si tâm vọng tưởng, vĩnh viễn không thể
thành sự thật.
9. Tuỳ nghi xuất hưng, không thất thời : Phật
tuỳ thuận cơ duyên của tất cả chúng sinh, mà
xuất hiện ra đời. Lúc nào phải hàng sinh, thì
lúc đó hàng sinh, không thất thời. Chúng sinh
cần pháp gì, thì Phật nói pháp đó, do đó "Phương
tiện khéo léo", khiến cho tất cả chúng sinh toại
tâm mãn nguyện, sinh tâm cung kính đối với Phật,
hộ trì đạo tràng, làm Phật sự, cúng dường Phật,
gần gũi Phật.
10. Luôn trụ một tướng, đó là vô tướng : Phật
thường trụ một tướng. Gì là một tướng ? Tức là
nói về "Vô tướng". Vô tướng tức là chẳng chấp
trước vào tướng. Tướng từ vọng tâm sinh, chẳng
chấp thì không, nên gọi là thật tướng. Thật
tướng tức là tướng tâm thể thanh tịnh, không
tướng để thấy.
Với
các vị đại Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi
Phật tụ hội, thảy đều nhập vào bậc quán đảnh. Đủ
Bồ Tát hạnh, đồng với pháp giới, vô lượng vô
biên. Đắc được tam muội thấy khắp các Bồ Tát.
Đại bi an ổn tất cả chúng sinh, thần thông tự
tại, đồng với Như Lai. Trí huệ thâm nhập, diễn
nghĩa chân thật. Đủ Nhất thiết trí, hàng phục
được các ma. Tuy vào thế gian, mà tâm thường
tịch tĩnh. Trụ nơi vô trụ giải thoát của Bồ Tát.
Phật Thích Ca Mâu Ni và các đại Bồ Tát đồng
nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại với
nhau. Tu Bồ Tát hạnh, tích tập đủ thứ căn lành,
viên mãn lục độ vạn hạnh, mới đủ tư cách làm đại
Bồ Tát, tức cũng là đại Bồ Tát trong các Bồ Tát.
Cảnh giới của Kinh Hoa Nghiêm, là tận hư không
khắp pháp giới, chẳng có một pháp nào chẳng bao
quát. Nay đưa ra mười cõi Phật, biểu thị ý nghĩa
trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng. Cho nên,
pháp trong Kinh Hoa Nghiêm nói, đều dùng "Mười"
để làm đại biểu, như : Thập trụ, Thập hạnh, Thập
hồi hướng, Thập địa, Thập định, Thập thông, Thập
nhẫn .v.v…
Bồ Tát là nửa chữ Phạn, đầy đủ là Bồ đề tát đoả.
Bồ đề dịch là "Giác", Tát đoả dịch là "Hữu
tình", tức là giác hữu tình. Giác là giác ngộ,
hữu tình là chúng sinh. Phàm là động vật có máu,
có khí, có tri giác, có cảm tình, đều là hữu
tình chúng sinh. Vô tình chúng sinh là đất gỗ
ngói đá .v.v… Bồ Tát hay giác ngộ hết thảy hữu
tình chúng sinh, những người được Ngài giáo hoá
đều được giác ngộ, tức cũng là trở về nguồn cội,
khôi phục lại thanh tịnh. Lại có thể nói là hữu
tình giác. Bồ Tát là một vị giác ngộ ở trong
chúng ta chúng sinh. Tâm của Bồ Tát thì từ bi,
chỉ biết có chúng sinh, chẳng biết có chính
mình. Ngài hay nhẫn nhục, hay chịu thiệt thòi,
hay bố thí, hay cứu khổ, tu hành pháp môn lục độ
vạn hạnh.
Lục độ tức là : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí huệ. Vạn hạnh tức là
hạnh môn vô lượng vô biên. Dùng từ bi hỉ xả bốn
tâm vô lượng và bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng
sự, bốn pháp nhiếp để làm đại biểu. Tóm lại, Bồ
Tát thì lợi ích chúng sinh, chỉ muốn tốt cho
chúng sinh, dù có vào dầu sôi lửa bỏng cũng
không từ nan, cam tâm tình nguyện đi làm, đây
tức là tinh thần hy sinh tiểu ngã mà hoàn thành
đại ngã. Nay giải thích sơ lược về lục độ như
sau :
1. Bố thí : Mọi người không thể xả mà bạn xả
được, do đó « Đại hỉ đại xả tế hàm thức ». Hàm
thức tức là chúng sinh, xả bỏ rồi, tuyệt đối
không hối hận. Tư tưởng của Bồ Tát chỉ sợ chúng
sinh khốn khổ, không sợ mình khốn khổ. Bồ Tát xả
bỏ được cái mà người khác không xả bỏ được, nhẫn
được điều mà người khác không nhẫn được, nhường
được điều mà người khác không nhường được, thọ
được cái mà người khác không thọ được. Ai có thể
làm được trình độ này, thì người đó là Bồ Tát.
Bồ Tát lại có thể bên ngoài thì xả bỏ đất nước
vợ con, bên trong thì xả bỏ đầu mắt tuỷ não, ai
làm được trình độ này thì người đó là đại Bồ
Tát.
2. Trì giới : Bồ Tát trì giới rất là tinh
nghiêm, không dám giải đãi, cước đạp thật địa
trì giới, cho đến ý niệm giết hại cũng không
sinh khởi.
Nay dùng câu chuyện Tỳ Kheo Tảo Hệ để nói rõ sự
trì giới tinh nghiêm. Trước kia có năm, sáu vị
Tỳ Kheo, đi đến nơi khác để hoằng pháp, đi ngang
qua núi rừng, gặp bọn cướp, cướp đi mất tất cả
hành trang và y phục. Lại sợ các vị Tỳ Kheo đi
báo vua, nên muốn giết các vị Tỳ Kheo để bịt
miệng, để khỏi đi báo vua. Song, trong đó có một
tên cướp hiểu pháp Tỳ Kheo, bèn đề nghị rằng :
« Không nên giết họ, chỉ cần dùng tảo hệ trói
tay chân họ lại thôi, các vị đó vì giữ giới,
không làm thương hại đến cỏ cây, cho nên không
thể hoạt động, nên không thể đi báo vua ». Mọi
người đồng ý phương pháp này, bèn trói các vị Tỳ
Kheo lại trên cỏ.
Lúc đó, vào lúc giữa trưa, năm sáu vị Tỳ Kheo
đó, vì giữ giới luật, đứng nắng giữa trưa, mà
không hoạt động. Đến tối, lại bị mũi cắn, hàng
ngàn con muỗi đến hút máu trên thân các vị Tỳ
Kheo. Các vị đó càng nhẫn nhịn đau thương, đứng
trong cỏ ở trên núi, cúng dường cho muỗi. Tại
sao ? Vì Tỳ Kheo không làm thương hại đến sinh
mạng chúng sinh vô tình, hà huống là hữu tình
chúng sinh, càng không làm thương hại đến. Cho
nên, muỗi được cơ hội ăn một bữa no nê.
Lúc đó, có một vị Tỳ Kheo già bèn nói với đại
chúng rằng : « Chúng ta phải biết nhân quả, vì
chúng ta ở trong quá khứ, đã từng sát hại chúng
sinh, làm tổn hại vật, cho nên hôm nay phải thọ
quả báo này, mới tiêu trừ hết nghiệp chướng
trong quá khứ ». Những vị Tỳ Kheo trẻ nghe rồi,
cho rằng có đạo lý, nên nhẫn nại lại nhẫn nại,
nhẫn nại đến ngày sáng sớm ngày thứ hai, thì vẫn
đứng bất động ở đó.
Bấy giờ, ông vua đi vào núi săn bắn, phát hiện
các vị Tỳ Kheo loã thể đứng bất động ở đó, ở xa
nghi là cầm thú, đến gần xem là người, hiểu lầm
rằng loã thể ngoại đạo đang tu khổ hạnh, đến gần
trước mặt xem, thì mới biết là Tỳ Kheo. Bèn
hỏi : « Các vị làm gì ở đây ? Tại sao không mặc
y phục ? Có phải bị thần kinh không » ? Vị Tỳ
Kheo già bèn thuật lại việc gặp bọn trộm cướp,
nói rõ cho ông vua nghe, lại nói rõ nguyên nhân
tại sao đứng bất động. Các vị Tỳ kheo thà chết,
cũng không phá giới. Các vị phải chú ý ! Trọng
điểm tu hành là tại chỗ này, qua được cửa ải này
sẽ là cảnh giới « Liễu ám hoa mai lại nhất
thôn » !
Ông vua nghe rồi, rất là hoan hỉ, bèn nói :
« Đất nước của tôi, còn có những vị đại đức cao
Tăng như thế này ». Do đó, bèn đích thân đến mở
trói cho những vị Tỳ Kheo, các vị Tỳ Kheo mới
được tự do. Ông vua nói với họ rằng : « Từ nay
về sau, tôi phát tâm cúng dường các Ngài ». Bèn
sai người mang đến những tấm y mới để cúng
dường, các vị Tỳ Kheo vì mọi người diễn nói chân
thật nghĩa của Phật pháp. Do đó có thể chứng
minh, giữ giới luật trọng yếu như thế nào.
3. Nhẫn nhục : Tức là nhẫn ! Nhẫn ! Nhẫn đến lúc
không thể nhẫn, vẫn phải nhẫn, nhẫn mới có thể
việc lớn hoá nhỏ, việc nhỏ hoá không. Ai ai cũng
nhẫn được như thế, thì đến đâu cũng khó có thể
tìm thị phi. Cổ đức có nói rằng : « Nhẫn tức
nhẫn, nhiêu tức nhiêu, chữ nhẫn trên chữ tâm một
cái dao ». Khi nhẫn thì giống như dao cắt trong
tim, tuy đau đớn cũng phải nhẫn, do đó :
« Nhẫn phiến khắc, phong bình
lãng tịnh ».
Nghĩa là :
Nhẫn một chút, gió yên sóng lặng.
Việc thiên hạ bất hạnh, đều do không nhẫn được
mà phát sinh. Tục ngữ có nói :
« Chịu nhẫn một thời, khỏi buồn
trăm ngày ».
Đó là nói về kinh nghiệm, tôi có thể làm bảo
giám.
4. Tinh tấn : Tức là không lười biếng, không
giải đãi. Chúng ta người tu hành, mỗi người nhất
định phải tụng niệm 42 thủ nhãn, sớm tối tụng
một biến Chú Lăng Nghiêm, Chú Đại Bi, tụng càng
nhiều thì càng có cảm ứng, có cảnh giới không
thể nghĩ bàn. Những bài Chú khác đều có linh
nghiệm như nhau, thử rồi sẽ biết. Người tu hành,
tinh tấn càng tinh tấn, công đáo tự nhiên thành,
đến lúc lư hoả thuần thanh, thì sẽ chứng được
giải thoát. Lúc đó, thoát khỏi ba cõi, đến được
cõi Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
5. Thiền định : Tức là tĩnh lự, tức cũng là ngồi
thiền nhập định. Thiền định giống như khai thác
mỏ vàng, phải nỗ lực tìm cầu không ngừng, phải
dụng công khai quật quặng mỏ. Đến thời, sẽ đắc
được châu báu vô giá (minh tâm kiến tánh), trí
huệ quang minh, tận hư không khắp pháp giới,
chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới.
6. Bát Nhã : Tức là trí huệ. Trong tự tánh của
mỗi người, đều có đại trí huệ, giống như chư
Phật, không hai không khác, song mọi người đều
không biết. Giống như ở dưới đất đều có vàng,
không cách chi tìm cầu. Nếu muốn khai mở mỏ
vàng, thì trước hết học cách khai mở mỏ vàng,
bằng không thì giống như mò kim đáy biển, vĩnh
viễn tìm không được mỏ vàng ở dưới đất.
Đại Bồ Tát đông nhiều như số hạt bụi mười cõi
Phật, các Ngài đều chứng được bậc quán đảnh. Thế
nào là bậc quán đảnh ? Khi Bồ Tát làm Pháp Vương
tử, thì được mười phương chư Phật, dũi cánh tay
phải rờ đầu, dùng nước cam lồ trí huệ quán đảnh
cho Ngài. Thọ nghi thức quán đảnh rồi, thì tương
lai sẽ làm Phật, tức cũng là hậu bổ Phật vị.
Hiện tại Bồ Tát Di Lặc đang ở nội viện cung trời
Đâu Suất, chờ đợi thời gian đến, sẽ từ cung trời
Đâu Suất hàng sinh xuống thế giới Ta Bà thành
Phật, giáo hoá chúng sinh, lìa khổ được vui.
Hiện tại có những ngoại đạo nói lời bịa đặt mê
hoặc mọi người, họ nói : « Phật Di Lặc sắp hàng
sinh, đến khai đại hội Long Hoa, độ các bạn
thăng thiên, hưởng thọ khoái lạc vĩnh viễn ».
Người không minh bạch Phật pháp nghe rồi, tin
cho là thật. Tại sao họ nói hồ đồ, lường gạt tín
đồ như vậy ? Nói một câu đơn giản đó là kiếm
tiền, khiến cho tín chúng cúng dường. Tiền tài
đến nhiều thì họ mượn cơ hội để hưởng thụ. Bất
hạnh thay, có rất nhiều người ngu si, bị mê tín
làm hại, nên hết tiền, nhưng họ thì giàu. Các
vị ! Phải nhận rõ ràng đâu là chánh pháp ? Đâu
là tà pháp ?
Phật giáo nói ngày đức Phật Di Lặc ra đời, tính
như thế này : Hiện tại là kiếp giảm, thọ mạng
của con người khoảng bảy mươi tuổi. Mỗi một trăm
năm thì giảm một tuổi, giảm xuống còn mười tuổi
thì ngừng. Sau đó, mỗi một trăm năm lại tăng
thêm một tuổi, thân cao thêm một tất, tăng đến
tám vạn bốn ngàn tuổi thì ngừng. Sau đó, mỗi một
trăm năm giảm xuống một tuổi, thân giảm xuống
một tất, giảm xuống khoảng tám vạn tuổi thì, lúc
bấy giờ Bồ Tát Di Lặc mới thị hiện ra đời.
Thời gian năm mươi năm ở nhân gian của chúng ta,
là một ngày một đêm trên cõi trời Tứ Thiên
Vương. Bất quá chỉ hai mươi bốn tiếng mà thôi,
cõi trời Đao Lợi là mười hai tiếng, cõi trời Dạ
Ma là sáu tiếng, cõi trời Đâu Suất là ba tiếng.
Tính toán như vậy, ở tại nhân gian cảm thấy rất
dài, nhưng ở cõi trời Đâu Suất bất quá chỉ sáu
mươi mấy năm thời gian mà thôi.
Những vị đại Bồ Tát đó đều đầy đủ Bồ Tát hạnh.
Thế nào là Bồ Tát hạnh ? Nói đơn giản đó là ở
đâu cũng làm lợi ích cho chúng sinh, lúc nào
cũng giáo hoá chúng sinh. Thứ Bồ Tát hạnh này vô
lượng vô biên giống như pháp giới, do đó : « Tận
hư không, biến pháp giới », đắc được tam muội
thấy khắp các Bồ Tát, dùng tâm đại bi để an ổn
tất cả chúng sinh. Có thần thông tự tại diệu
dụng, giống như tự tại của chư Phật. Có trí huệ
rộng lớn, có thể vào sâu tất cả tạng kinh, diễn
nói được nghĩa lý chân thật. Lại đầy đủ Nhất
thiết trí huệ, hàng phục được tất cả các ma, phá
huỷ tất cả tà thuyết của thiên ma ngoại đạo. Tuy
nhiên Bồ Tát thường vào thế gian (hiện thân
thuyết pháp) để giáo hoá chúng sinh, nhưng chẳng
tham vui năm dục của thế gian, tâm thường tịch
tĩnh, do đó : « Đồng lưu bất hợp ô ». Bồ Tát
dùng bốn pháp nhiếp (Bố thí, ái ngữ, lợi hành,
đồng sự) để độ tất cả chúng sinh, trụ tại vô trụ
giải thoát của Bồ Tát, tức cũng là đắc được tam
muội giải thoát, vào định giải thoát.
Bồ Tát có tâm đại từ đại bi, thấy chúng sinh
đang thọ khổ thọ nạn, giống như chính mình đang
thọ khổ thọ nạn, cho nên đảo giá từ thuyền, từ
Thường Tịch Quang Tịnh Độ đến thế giới Ta Bà cứu
bạt chúng sinh thoát khỏi biển khổ, chính mình
chịu cực chịu khổ, không một lời than thở. Như
lời nguyện của Bồ Tát Địa Tạng :
« Chúng sinh độ tận, mới chứng bồ
đề
Địa ngục chưa trống, thề không
thành Phật ».
Đây tức là tinh thần của Bồ Tát.
Danh
hiệu của các Ngài là : Bồ Tát Kim Cang Huệ, Bồ
Tát Vô Đẳng Huệ, Bồ Tát Nghĩa Ngữ Huệ, Bồ Tát
Tối Thắng Huệ, Bồ Tát Thường Xả Huệ, Bồ Tát Na
Già Huệ, Bồ Tát Thành Tựu Huệ, Bồ Tát Điều Thuận
Huệ, Bồ Tát Đại Lực Huệ, Bồ Tát Nan Tư Huệ, Bồ
Tát Vô Ngại Huệ, Bồ Tát Tăng Thượng Huệ, Bồ Tát
Phổ Cúng Huệ, Bồ Tát Như Lý Huệ, Bồ Tát Thiện
Xảo Huệ, Bồ Tát Pháp Tự Tại Huệ, Bồ Tát Pháp
Huệ, Bồ Tát Tịch Tĩnh Huệ, Bồ Tát Hư Không Huệ,
Bồ Tát Nhất Tướng Huệ, Bồ Tát Thiện Huệ, Bồ Tát
Như Huyễn Huệ, Bồ Tát Quảng Đại Huệ, Bồ Tát Thế
Lực Huệ, Bồ Tát Thế Gian Huệ, Bồ Tát Phật Địa
Huệ, Bồ Tát Chân Thật Huệ, Bồ Tát Tôn Thắng Huệ,
Bồ Tát Trí Quang Huệ, Bồ Tát Vô Biên Huệ.
Trong các đại Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười
cõi Phật, cử ra một trăm vị Bồ Tát làm đại biểu,
trước hết nói ba mươi vị đại Bồ Tát mang danh
hiệu chữ huệ.
1. Bồ Tát Kim Cang Huệ : Kim cang đầy đủ có ba
nghĩa: kiên, minh, lợi. Kiên là kiên cố, chẳng
bị tất cả thiên ma ngoại đạo phá hoại được. Minh
là quang minh, trí huệ quang minh, như kim cang
quang minh. Lợi là sắc bén, có thể chặt đứt tất
cả phiền não, vô minh, vọng tưởng, sinh ra trí
huệ rất lớn. Vị Bồ Tát này, đầy đủ ba thứ công
dụng và sức lực kiên, minh, lợi, này.
2. Bồ Tát Vô Đẳng Huệ : Đẳng nghĩa là so sánh.
Trí huệ của vị Bồ Tát này tối cao tối thượng đặc
biệc nhất, bất cứ Bồ Tát nào cũng không thể so
sánh với Ngài.
3. Bồ Tát Nghĩa Ngữ Huệ : Lời lẽ của vị Bồ Tát
này nói ra, đều hợp với nghĩa lý, tức cũng là
chánh tri chánh kiến. Mỗi cử chỉ hành động lời
nói việc làm đều thích hợp. Đáng nói thì nói,
không đáng nói thì không nói, tuyệt đối không
nói những lời vô nghĩa, trừ khi không nói, khi
nói thì nhất định đúng đắn.
4. Bồ Tát Tối Thắng Huệ : Trí huệ của vị Bồ Tát
này tối thù thắng, chẳng phải trí huệ thế tục có
thể so sánh được.
5. Bồ Tát Thường Xả Huệ : Vị Bồ Tát này có tâm
từ bi, cho nên thường hành bố thí, xả được tất
cả vật chất và tất cả tinh thần, xả cho tất cả
chúng sinh, khiến cho chúng sinh thọ được lợi
ích, cải ác hướng thiện. Song, đáng xả thì xả,
không đáng xả thì không xả.
6. Bồ Tát Na Già Huệ : Na già dịch là « Rồng »
hoặc « Voi » (Long hoặc tượng). Ở trong nước sức
lực của rồng lớn nhất; ở trên mặt đất, sức lực
của voi lớn nhất. Vị Bồ Tát này thường ở trong
định, phát ra trí huệ quang minh, do đó : « Na
già thường tại định, chẳng lúc nào không định ».
7. Bồ Tát Thành Tựu Huệ : Vị Bồ Tát này, trí huệ
của Ngài hay thành tựu tất cả nguyện lực của
chúng sinh, hay trợ giúp tất cả chúng sinh thành
tựu việc thiện mà họ hy vọng ưa thích, chứ chẳng
phải là việc ác, do đó : « Có cầu tất ứng ».
8. Bồ Tát Điều thuận Huệ : Vị Bồ Tát này, Ngài
hay điều thuận chúng sinh cang cường. Phàm là
chúng sinh khó điều khó phục, đều bị điều thuận,
mà phát tâm bồ đề, tức cũng là trên cầu Phật
đạo, dưới độ chúng sinh.
9. Bồ Tát Đại Lực Huệ : Vị Bồ Tát này, sức trí
huệ của Ngài rất lớn không thể sánh được, hay
hàng phục được tất cả tà tri tà kiến của thiên
ma ngoại đạo.
10. Bồ Tát Nan Tư Huệ : Vị Bồ Tát này, trí huệ
của Ngài không thể nghĩ bàn, chẳng phải phàm phu
có thể suy lường, luận nghị được, đã đạt đến
cảnh giới diệu không thể tả.
11. Bồ Tát Vô Ngại Huệ : Vị Bồ Tát này, trí huệ
của Ngài chẳng có chướng ngại, bất cứ cảnh giới
gì cũng không chướng ngại được.
12. Bồ Tát Tăng Thượng Huệ : Vị Bồ Tát này, trí
huệ của Ngài ngày càng tăng lên, ngày càng cao
sâu, ngày càng tăng trưởng, chẳng có lúc nào
ngừng.
13. Bồ Tát Phổ Cúng Huệ : Vị Bồ Tát này, dùng
trí huệ quang của Ngài, cúng dường khắp mười
phương ba đời tất cả chư Phật.
14. Bồ Tát Như Lý Huệ : Vị Bồ Tát này, trí huệ
của Ngài đều dùng hợp tình hợp lý, thâm nhập
nghĩa lý.
15. Bồ Tát Thiện Xảo Huệ : Vị Bồ Tát này, Ngài
khéo dùng pháp môn phương tiện khéo léo, để dẫn
dắt chúng sinh đi trên con đường bồ đề. Chúng
sinh giống như người mất phương hướng,
không biết đi lối nào về nhà, do đó mà Bồ Tát
dẫn dắt họ.
16. Bồ Tát Pháp Tự Tại Huệ : Vị Bồ Tát này, khi
Ngài thuyết pháp thì rất là tự tại. Tại sao ? Vì
có đại trí huệ, đắc được cảnh giới bốn vô ngại
biện. Tất cả chúng sinh nghe pháp, lập tức minh
bạch chân lý Phật pháp.
17. Bồ Tát Pháp Huệ : Vị Bồ Tát này, Ngài đầy đủ
trí huệ Bát nhã, pháp nói ra đều viên dung vô
ngại, khiến cho chúng sinh nghe pháp khai ngộ.
18. Bồ Tát Tịch Tĩnh Huệ : Vị Bồ Tát này, khéo
về tịch tĩnh, ở trong định hay sinh ra đủ thứ
đại trí đại huệ.
19. Bồ Tát Xứ Không Huệ : Vị Bồ Tát này, trí huệ
của Ngài giống như hư không, chẳng có gì mà
không bao quát hết.
20. Bồ Tát Nhất Tướng Huệ : Vị Bồ Tát này,
thường là vô tướng, tuy vô tướng, nhưng vô sở
bất tướng.
21. Bồ Tát Thiện Huệ : Vị Bồ Tát này, khéo học
Bát nhã, khéo nói Bát nhã, có đại trí huệ này.
22. Bồ Tát Như Huyễn Huệ : Vị Bồ Tát này, thường
thường nhập tam muội như huyễn, ở trong định đắc
được trí huệ.
23. Bồ Tát Quảng Đại Huệ : Vị Bồ Tát này, trí
huệ của Ngài rộng lớn vô biên, không cùng
tận.
24. Bồ Tát Thế Lực Huệ : Vị Bồ Tát này, trí huệ
của Ngài có đại thế lực, có đại oai đức, phá
được tà luận của thiên ma ngoại đạo.
25. Bồ Tát Thế Gian Huệ : Vị Bồ Tát này, Ngài
đầy đủ hết thảy trí huệ thế gian, cũng đầy đủ
hết thảy trí huệ xuất thế gian.
26. Bồ Tát Phật Địa Huệ : Vị Bồ Tát này, Ngài
đầy đủ trí huệ của Phật địa, tức cũng là đại
viên cảnh trí.
27. Bồ Tát Chân Thật Huệ : Vị Bồ Tát này, trí
huệ của Ngài chân thật không hư, trải qua sự rèn
luyện mà thành, chẳng có hư nguỵ.
28. Bồ Tát Tôn Thắng Huệ : Vị Bồ Tát này, trí
huệ của Ngài tối tôn quý, tối thù thắng, nên
xưng là đệ nhất.
29. Bồ Tát Trí Quang Huệ : Vị Bồ Tát này, trí
huệ quang của Ngài chiếu khắp hết thảy chúng
sinh trong mười phương thế giới, khiến cho họ
được giải thoát.
30. Bồ Tát Vô Biên Huệ : Vị Bồ Tát này, trí huệ
của Ngài chẳng có bờ mé, có thể nói là tận hư
không khắp pháp giới.
Ở trên là danh hiệu của ba mươi vị Bồ Tát đồng
danh hiệu chữ huệ, biểu thị ý nghĩa thuần đức. Ở
dưới là bảy mươi vị Bồ Tát phân biệt làm danh
hiệu, biểu thị ý nghĩa tạp đức.
Bồ
Tát Niệm Trang Nghiêm, Bồ Tát Đạt Không Tế, Bồ
Tát Tánh Trang Nghiêm, Bồ Tát Thậm Thâm Cảnh, Bồ
Tát Thiện Giải Xứ Phi Xứ, Bồ Tát Đại Quang Minh,
Bồ Tát Thường Quang Minh, Bồ Tát Liễu Phật
Chủng, Bồ Tát Tâm Vương, Bồ Tát Nhất Hạnh, Bồ
Tát Thường Hiện Thần Thông, Bồ Tát Trí Huệ Nhạ,
Bồ Tát Công Đức Xứ, Bồ Tát Pháp Đăng, Bồ Tát
Chiếu Thế, Bồ Tát Trì Thế, Bồ Tát Tối An Ổn, Bồ
Tát Tối Thượng, Bồ Tát Vô Thượng, Bồ Tát Vô Tỉ,
Bồ Tát Siêu Luân, Bồ Tát Vô Ngại Hạnh, Bồ Tát
Quang Minh Diệm, Bồ Tát Nguyệt Quang, Bồ Tát
Nhất Trần, Bồ Tát Kiên Cố Hạnh, Bồ Tát Chú Pháp
Vũ, Bồ Tát Tối Thắng Tràng, Bồ Tát Phổ Trang
Nghiêm, Bồ Tát Trí Nhãn, Bồ Tát Pháp Nhãn, Bồ
Tát Huệ Vân, Bồ Tát Tổng Trì Vương, Bồ Tát Vô
Trụ Nguyện, Bồ Tát Trí Tạng, Bồ Tát Tâm Vương,
Bồ Tát Nội Giác Huệ, Bồ Tát Trụ Phật Trí, Bồ Tát
Đà La Ni Dũng Kiện Lực, Bồ Tát Trì Địa Lực, Bồ
Tát Diệu Nguyệt, Bồ Tát Tu Di Đỉnh, Bồ Tát Bảo
Đỉnh, Bồ Tát Phổ Quang Chiếu, Bồ Tát Oai Đức
Vương, Bồ Tát Trí Huệ Luân, Bồ Tát Đại Oai Đức,
Bồ Tát Đại Long Tướng, Bồ Tát Chất Trực Hạnh, Bồ
Tát Bất Thối Chuyển, Bồ Tát Trí Pháp Tràng, Bồ
Tát Vô Vong Thất, Bồ Tát Nhiếp Chư Thú, Bồ Tát
Bất Tư Nghì Quyết Định Huệ, Bồ Tát Du Hí Vô Biên
Trí, Bồ Tát Vô Tận Diệu Pháp Tạng, Bồ Tát Trí
Nhật, Bồ Tát Pháp Nhật, Bồ Tát Trí Tạng, Bồ Tát
Trí Trạch, Bồ Tát Phổ Kiến, Bồ Tát Bất Không
Kiến, Bồ Tát Kim Cang Dũng, Bồ Tát Kim Cang Trí,
Bồ Tát Kim Cang Diệm, Bồ Tát Kim Cang Huệ, Bồ
Tát Phổ Nhãn, Bồ Tát Phật Nhật, Bồ Tát Trì Phật
Kim Cang Bí Mật Nghĩa, Bồ Tát Phổ Nhãn Cảnh Giới
Trí Trang Nghiêm.
31. Bồ Tát Niệm Trang Nghiêm : Khi Ngài niệm
kinh tụng Chú, rất là trang nghiêm, long trọng
tuyệt đối không phóng dật.
32. Bồ Tát Đạt Không Tế : Ngài
thông đạt đạo lý không tế, cho nên chẳng có tất
cả sự chướng ngại.
33. Bồ Tát Tánh Trang Nghiêm : Tự
tánh của Ngài, không những thanh tịnh mà còn
trang nghiêm.
34. Bồ Tát Thậm Thâm Cảnh : Ngài
có cảnh giới thâm sâu, tức cũng là cảnh giới
không thể nghĩ bàn.
35. Bồ Tát Thiện Giải Xứ Phi Xứ :
Ngài khéo thấu hiểu tất cả các pháp, pháp nào
nên tu, pháp nào không nên tu.
36. Bồ Tát Đại Quang Minh : Ngài
thường phóng đại quang minh, chiếu khắp pháp
giới, khiến cho tất cả chúng sinh bỏ mê về giác.
37. Bồ Tát Thường Quang Minh :
Ngài thường phóng ra trí huệ quang minh, chẳng
lúc nào ngừng.
38. Bồ Tát Liễu Phật Chủng : Ngài
thấu rõ chủng tánh của Phật, tức cũng là tánh
diệu giác, diệu cực giác mãn.
39. Bồ Tát Tâm Vương : Đức hạnh
của Ngài đồng như tâm vương, có tác dụng lãnh
đạo.
40. Bồ Tát Nhất Hạnh : Lời nói
việc làm của Ngài là một, do đó « Nói ra thì
làm », tuyệt đối không nói dối, mà chẳng đi thực
hành.
41. Bồ Tát Thường Hiện Thần
Thông : Ngài thường hiển hiện thần thông. Tại
sao ? Vì dùng thần thông để thuyết pháp, giáo
hoá chúng sinh.
42. Bồ Tát Trí Huệ Nhạ : Trí huệ
của Ngài giống như giống mầm, ngày càng tăng
trưởng.
43. Bồ Tát Công Đức Xứ : Công đức
của Ngài làm đều quy túc xứ.
44. Bồ Tát Pháp Đăng : Pháp đăng
của Ngài rất sáng vô cùng, hay chiếu tất cả tâm
chúng sinh, để diệt trừ vô minh.
45. Bồ Tát Chiếu Thế : Trí huệ
quang của Ngài rất sung túc, hay chiếu chúng
sinh thế gian có căn lành, khiến cho tăng
trưởng; chúng sinh chẳng có căn lành thì khiến
cho họ gieo trồng.
46. Bồ Tát Trì Thế : Ngài có sức
đại thần thông, hay giữ gìn thế giới chẳng có sự
động đất, lâu dài không thể huỷ diệt.
47. Bồ Tát Tối An Ổn : Ngài hay
khiến cho thế gian tối an ổn, mà chẳng có tai
hại, khiến cho tất cả chúng sinh đều được an
lạc.
48. Bồ Tát Tối Thượng : Quả vị
của Ngài tối cao, đã đạt đến bậc Đẳng giác.
49. Bồ Tát Vô Thượng : Quả vị của
Ngài sắp đạt đến quả vị Diệu giác, tức cũng là
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
50. Bồ Tát Vô Tỉ : Trí huệ của
Ngài đạt đến cực điểm, không gì sánh bằng.
51. Bồ Tát Siêu Luân : Ngài là Bồ
Tát siêu quần tuyệt luân.
52. Bồ Tát Vô Ngại Hạnh : Công
phu Ngài tu hành, đã đến trình độ chẳng còn
chướng ngại nữa, được nhậm vận tự tại.
53. Bồ Tát Quang Minh Diệm :
Quang Minh của Ngài giống như lửa ngọn, chiếu
khắp tất cả mọi nơi.
54. Bồ Tát Nguyệt Quang : Quang
minh của Ngài giống như ánh sáng mặt trăng,
chiếu khắp tất cả chúng sinh, khiến cho tâm
thanh tịnh, chẳng có nhiệt phiền não.
55. Bồ Tát Nhất Trần : Ngài rất
thanh tịnh, một hạt bụi không nhiễm, vạn tư lự
đều không.
56. Bồ Tát Kiên Cố Hạnh : Hạnh
nguyện của Ngài rất là kiên cố, bất cứ gặp khó
khăn gì cũng đều không thối chuyển.
Hiện tại hai vị tam bộ nhất bái
(Hằng Thật và Hằng Triều), phát đại nguyện kiên
cố hạnh, bất cứ khốn khổ gian nan như thế nào,
nhất định cũng phải thành công.
57. Bồ Tát Chú Pháp Vũ : Ngài đổ
xuống mưa pháp lớn, để đượm nhuần mầm bồ đề của
tất cả chúng sinh, khiến cho lớn lên kết trái bồ
đề.
58. Bồ Tát Tối Thắng Tràng : Ngài
tối thù thắng tối trang nghiêm, giống như lưới
La tràng, khiến cho tất cả chúng sinh đều có
Phật tánh.
59. Bồ Tát Phổ Trang Nghiêm :
Ngài trang nghiêm khắp cùng, khiến cho tất cả
chúng sinh thành Phật.
60. Bồ Tát Trí Nhãn : Ngài có mắt
trí huệ, khéo phân biệt thị phi, biện rõ trắng
đen, tuyệt đối không điên đảo.
61. Bồ Tát Pháp Nhãn : Ngài thông
đạt được tất cả các pháp thật tướng, minh bạch
tất cả các pháp.
62. Bồ Tát Huệ Vân : Trí huệ của
Ngài giống như mây trắng, đầy khắp tất cả mọi
nơi.
63. Bồ Tát Tổng Trì Vương : Ngài
hay tổng tất cả các pháp, trì vô lượng nghĩa.
64. Bồ Tát Vô Trụ Nguyện : Nguyện
lực của Ngài vô trụ vô sở bất trụ, do đó : « Tận
hư không khắp pháp giới ».
65. Bồ Tát Trí Tạng : Ngài có trí
huệ vô tận tạng, lấy không hết, dùng không cạn.
66. Bồ Tát Tâm Vương : Ngài có
tâm vương trí huệ, đối với đạo lý tám thức thông
đạt vô ngại.
67. Bồ Tát Nội Giác Huệ : Ở trong
tâm của Ngài thường giác ngộ, niệm niệm sinh ra
trí huệ, niệm niệm giác ngộ.
68. Bồ Tát Trụ Phật Trí : Ngài
hay trụ ở trong trí huệ của Phật, thấu hiểu
nghĩa lý thật tướng của các pháp.
69. Bồ Tát Đà La Ni Dũng Kiện
Lực : Ngài hay tổng trì, dũng mãnh, kiện toàn,
có ba sức trí huệ này.
70. Bồ Tát Trì Địa Lực : Ngài chi
trì địa cầu, khiến cho không chấn động, bảo hộ
chúng sinh được an toàn.
71. Bồ Tát Diệu Nguyệt : Ngài có
diệu trí huệ không thể nghĩ bàn, như mặt trăng
sáng, ai ai cũng đều thấy được, ai ai cũng đều
thọ được lợi ích.
72. Bồ Tát Tu Di Đỉnh : Trí huệ
của Ngài giống như đỉnh núi Diệu Cao, cao siêu
đến cực điểm.
73. Bồ Tát Bảo Đỉnh : Ngài có trí
huệ như bảo như đỉnh, khiến cho tất cả chúng
sinh đều sinh tâm hoan hỉ, học tập theo Ngài.
74. Bồ Tát Phổ Quang Chiếu :
Quang minh của Ngài chiếu khắp tất cả thế gian,
chiếu phá tan ngu si của chúng sinh, thì trí huệ
sẽ hiện tiền.
75. Bồ Tát Oai Đức Vương : Ngài
có đại oai đức của ông vua, hay phá tà thuyết
của thiên ma ngoại đạo.
76. Bồ Tát Trí Huệ Luân : Ngài
dùng trí huệ luân để làm vũ khí, để tiêu diệt
mười đại ma quân.
77. Bồ Tát Đại Oai Đức : Ngài có
sức đại oai đức, khiến cho người thấy tự nhiên
khởi kính, tâm khâm phục, mà sinh tâm tín
ngưỡng.
78. Bồ Tát Đại Long Tướng : Ngài
thường thị hiện tướng rồng lớn đầy khắp hư
không, khiến cho người thấy sinh tâm sợ hãi, thì
lập tức cải ác hướng thiện.
79. Bồ Tát Chất Trực Hạnh: Ngài
dùng chất trực để tu hành, để giáo hoá chúng
sinh, do đó : « Tâm thẳng lẹ miệng », không
quanh co, có thể nói : « Tâm thẳng là đạo
tràng ».
80. Bồ Tát Bất Thối Chuyển: Ngài
dũng mãnh hướng về trước, tinh tấn tu hành, gặp
bất cứ sự đả kích, phỉ báng, huỷ nhục .v.v…
tuyệt đối không thối chuyển bồ đề tâm.
Bồ Tát có ba bất thối chuyển :
1. Niệm bất thối.
2. Hạnh bất thối.
3. Vị bất thối.
Niệm bất thối : Chẳng màng bất cứ
lúc nào, cũng không thối chánh niệm, mà tu tập
pháp đại thừa. Hạnh bất thối : Tu hành pháp lục
độ đại thừa, không tu pháp tứ đế của tiểu thừa.
Vị bất thối : Bồ Tát vị không thối lùi về nhị
thừa vị, thuỷ chung là hành Bồ Tát đạo.
81. Bồ Tát Trí Pháp Tràng: Ngài
hay y pháp tu hành, kiến pháp tràng lớn, thổi
loa pháp lớn, chuyển bánh xe pháp.
82. Bồ Tát Vô Vong Thất: Sức ký
ức của Ngài đặc biệt rất mạnh, phàm là kinh nghe
qua tai rồi, vĩnh viễn không quên mất.
83. Bồ Tát Nhiếp Chư Thú: Ngài
hay nhiếp thọ tất cả chúng sinh trong đường ác,
khiến cho họ được an vui.
84. Bồ Tát Bất Tư Nghì Quyết Định
Huệ: Ngài có trí huệ quyết định không thể nghĩ
bàn, hay biện rõ thị phi, phân biệt thiện ác.
85. Bồ Tát Du Hí Vô Biên
Trí: Ngài thường thị hiện tam muội du hí, có đại
trí huệ vô biên, chẳng có gì mà không biết,
chẳng có gì mà không thấy.
86. Bồ Tát Vô Tận Diệu Pháp Tạng:
Diệu pháp tạng của Ngài vô cùng vô tận, do đó :
« Dọc cùng tam tế, ngang khắp mười phương ».
87. Bồ Tát Trí Nhật: Trí huệ của
Ngài như mặt trời, chiếu khắp mười phương, phá
tan đen tối của chúng sinh, khiến cho tâm được
thanh tịnh quang minh.
88. Bồ Tát Pháp Nhật: Pháp quang
của Ngài, giống như ánh sáng mặt trời, chiếu
khắp đại địa, khiến cho vạn vật sinh trưởng,
khiến cho chúng sinh sinh căn lành.
89. Bồ Tát Trí Tạng: Trí huệ của
Ngài giống như bảo tạng, đáng có thì có, bao
quát hết thảy.
90. Bồ Tát Trí Trạch: Trí huệ của
Ngài giống như đại trạch, hay thấm nhuần tất cả
cỏ cây ngũ cốc, lợi ích chúng sinh.
91. Bồ Tát Phổ Kiến: Ngài hay
chiếu thấy khắp tâm chúng sinh, ai khởi vọng
tưởng, Ngài nhìn thì biết rõ, khiến cho bạn phát
bồ đề tâm.
92. Bồ Tát Bất Không Kiến: Ngài
quán sát cơ duyên chúng sinh thành thục, dùng
bốn pháp nhiếp để độ. Ai chưa thành thục thì sẽ
độ sau.
93. Bồ Tát Kim Cang Dũng: Ý chí
của Ngài rất kiên cố, một lòng cầu pháp, phàm là
gặp được pháp hội đều dũng mãnh tham gia.
94. Bồ Tát Kim Cang Trí: Trí huệ
của Ngài kiên cố sắc bén như kim cang, hay phá
tất cả tà thuyết.
95. Bồ Tát Kim Cang Diệm: Quang
minh của Ngài giống như lửa ngọn, chiếu tới
những nơi đen tối thành ánh sáng.
96. Bồ Tát Kim Cang Huệ: Trí huệ
của Ngài giống như kim cang, vật bên ngoài không
thể phá hoại được. Lại biết pháp thế gian là :
Vô thường, khổ, không, vô ngã, biết pháp xuất
thế là : Thường, lạc, ngã, tịnh.
97. Bồ Tát Phổ Nhãn: Ngài có mắt
trí huệ, hay quán sát khắp tất cả cảnh giới, đều
biết đều thấy.
98. Bồ Tát Phật Nhật: Ngài có trí
huệ của Phật, do đó : « Trí Phật như ngàn mặt
trời, quang minh của Phật chiếu khắp ba ngàn đại
thiên thế giới.
99. Bồ Tát Trì Phật Kim Cang Bí
Mật Nghĩa: Ngài hay tu trì pháp môn kim cang Bát
Nhã ba la mật và nghĩa lý bí mật.
100. Bồ Tát Phổ Nhãn Cảnh Giới
Trí Trang Nghiêm: Ngài có cảnh giới trí huệ thấy
khắp và pháp nhãn trang nghiêm.
Các vị đại Bồ Tát như vậy, nhiều
như số hạt bụi mười cõi Phật. Thuở xưa đều cùng
với Tỳ Lô Giá Na Như Lai tu các hạnh căn lành.
Các đại Bồ Tát như vậy, đông
nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật. Thuở xưa,
các Ngài đều cùng với Phật Tỳ Lô Giá Na tu tất
cả hạnh căn lành của Bồ Tát.
Tỳ Lô Giá Na dịch là "Biến nhất
thiết xứ" (Khắp tất cả mọi nơi), Ngài là thanh
tịnh pháp thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bất
cứ ở tại nơi nào, cũng đều có pháp thân của Ngài
ở đó, do đó : « Tận hư không, khắp pháp giới »,
cho nên nói vô tại vô bất tại, vô sở bất tại.
Bởi vậy nói chẳng có một chỗ nào mà có Ngài ở
đó, cũng chẳng có một chỗ nào mà chẳng có Ngài ở
đó. Tại sao ? Vì Ngài là cụ thể, viên mãn, cho
nên chẳng có chỗ nào mà chẳng có.
Tỳ Lô Giá Na Phật ở tất cả mọi
nơi, hoặc ở trên đầu bạn, hoặc ở trên thân bạn.
Những gì bạn làm Ngài đều nhìn thấy rất rõ ràng.
Bạn suy nghĩ gì, Ngài đều thấu rõ, do đó :
« Trong bụng quanh co,
Thần minh biết trước ».
Trong bụng nghĩ gì, thần minh đều biết. Thần tức
nhiên biết được, Phật lại càng biết. Cho nên
chúng ta cử tâm động niệm, đâu chẳng phải là
tội, đâu chẳng phải là nghiệp. Khởi vọng tưởng
tốt thì có nghiệp thiện, khởi vọng tưởng xấu,
thì có nghiệp ác. Nghiệp bao quát thiện ác hai
thứ. Tội chỉ là nghiệp ác, mà chẳng tạo nghiệp
thiện.
Chúng ta đang cùng nhau nghiên cứu Kinh Hoa
Nghiêm, đây là căn lành đã gieo trong quá khứ.
Tuy nhiên quốc tịch khác nhau, chủng tộc khác
nhau, nhưng mọi người có duyên cùng nhau tu hành
với nhau, đây là tiền nhân hậu quả. Phải cùng
nhau nghiên cứu, cùng nhau thảo luận, không thể
chướng ngại nhau, không thể đố kị nhau, phải y
giáo phụng hành, phải y pháp tu hành..
Hiện tại giảng kinh thuyết pháp, người minh bạch
nhiều thì đắc được nhiều lợi ích một chút. Người
minh bạch ít thì đắc được lợi ích ít một chút,
tóm lại, đều đắc được lợi ích. Dù là trẻ con ở
trong Phật đường, tuy không hiểu Phật pháp,
nhưng cũng gieo xuống căn lành, tài bồi phước
huệ. Phàm là nơi có pháp sư giảng kinh thuyết
pháp, ở trong phạm vi khả năng, nên cố gắng đến
nghe pháp, vì nghe pháp không những khai mở trí
huệ, mà còn có vô lượng công đức.
Bấy
giờ, đại Bồ Tát Phổ Nhãn, nương thần lực của đức
Phật, từ toà ngồi đứng dậy, hở y vai bên phải,
gối phải quỳ xuống đất, chắp tay bạch đức Phật
rằng: Đức Thế Tôn ! Con có chỗ muốn hỏi đức Như
Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, xin Ngài hứa khả.
Đức Phật nói với Phổ Nhãn rằng:
Tuỳ ý ông hỏi, ta sẽ vì ông mà nói, khiến cho
tâm ông hoan hỉ.
Bồ Tát Phổ Nhãn nói : Đức Thế Tôn
! Bồ Tát Phổ Hiền và các Bồ Tát trụ nơi hết thảy
hạnh nguyện của Phổ Hiền, thành tựu bao nhiêu
tam muội giải thoát? Mà nơi các đại tam muội của
Bồ Tát, hoặc nhập, hoặc xuất, hoặc lúc an trụ,
dùng đại tam muội không thể nghĩ bàn của Bồ Tát,
khéo nhập xuất. Hay ở nơi tất cả tam muội thần
thông biến hoá tự tại, chẳng có ngừng nghỉ.
Đức Phật nói : Lành thay Phổ Nhãn
! Ông vì lợi ích các chúng Bồ Tát quá khứ, vị
lai, hiện tại, mà hỏi nghĩa này.
Lúc đó, có vị đại Bồ Tát danh hiệu là Phổ Nhãn.
Vì khi Ngài ở tại nhân địa, thường tu tập diệu
pháp đại bi, tức cũng là pháp môn Thiên Thủ
Thiên Nhãn, cho nên đắc được phổ nhãn. Phổ nhãn
tức là hết thảy trong lỗ chân lông trên toàn
thân của Ngài, đều có con mắt, có thể xem thấy
tất cả mọi nơi chẳng có sự chướng ngại. Một số
Bồ Tát nhìn không thấy sự vật, mà Ngài nhìn
thấy. Một số Bồ Tát không minh bạch sự lý, mà
Ngài minh bạch. Tại sao ? Vì khi Ngài tu trì
pháp môn 42 Thủ Nhãn thì, đặc biệt chân thành,
rất tinh tấn, ngày nào cũng tu không gián đoạn,
cho nên đắc được Phổ nhãn tam muội.
Chúng ta tu pháp môn 42 Thủ Nhãn, tu trì thời
gian lâu rồi, cũng sẽ đắc được cảnh giới ngũ
nhãn lục thông. Lúc ban đầu tu hành thì, có chút
cảm ứng, tự mình cảm giác trong các lỗ chân lông
toàn thân đều có con mắt. Con mắt này lúc tu
pháp, thì có lúc mở lúc nhắm. Lâu dần, thì những
con mắt khắp toàn thân đều mở, có thể nhìn thấy
nhân duyên của tất cả chúng sinh khắp ba ngàn
đại thiên thế giới. Chúng sinh nào có duyên với
bạn, thì bạn đi giáo hoá chúng sinh đó. Pháp đại
bi ngàn tay ngàn mắt này là không thể nghĩ bàn.
Hiện tại, Bồ Tát Phổ Nhãn ở trong pháp hội Hoa
Nghiêm, làm đương cơ chúng. Đương cơ chúng là gì
? Tức là đại biểu hết thảy Bồ Tát trong pháp
hội, hướng về đức Phật thỉnh pháp, gọi là đương
cơ chúng.
Bồ Tát Phổ Nhãn, Ngài tu hạnh Bồ Tát, gieo trồng
đủ thứ căn lành, viên mãn lục độ vạn hạnh, cho
nên là vị đại Bồ Tát trong các Bồ Tát. Ngài
nương đại oai thần lực của Phật, từ toà ngồi
đứng dậy, hở bày vai bên phải, đây là biểu pháp,
biểu thị thân nghiệp thanh tịnh. Gối phải sát
đất, biểu thị ý nghiệp thanh tịnh. Chắp tay
hướng về đức Phật mà bạch, biểu thị khẩu nghiệp
thanh tịnh. Như vậy thân khẩu ý ba nghiệp thanh
tịnh, hướng về đức Phật thỉnh pháp. Đây là nghi
thức thỉnh pháp.
Bồ Tát Phổ Nhãn hướng về đức Phật bạch rằng:
“Đức Thế Tôn ! Con biết đức Phật đã thành tựu
quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nay có
vấn để không minh bạch, muốn thưa hỏi đức Thế
Tôn, xin Thế Tôn đại từ đại bi, thương xót hứa
khả”!
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói : “Phổ Nhãn ! Ông
muốn hỏi vấn đề gì đều được. Ta sẽ vì ông mà
giải thích nói, khiến cho ông đắc được câu trả
lời mãn nguyện, khiến cho tâm ông sinh đại hoan
hỉ.”
Bồ Tát Phổ Nhãn bắt đầu đưa ra câu hỏi để hỏi
đức Phật : “Đức Thế Tôn ! Bồ Tát Phổ Hiền có trí
huệ nhất, có biện tài nhất, lại có đại hạnh, lại
có đại nguyện. Cùng với các Bồ Tát trụ ở
trong hết thảy hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền,
các Ngài thành tựu bao nhiêu giải thoát tam muội
(chánh định chánh thọ) ? Đối với hết thảy tất cả
đại định của Bồ Tát, hoặc nhập vào định này ?
hoặc xuất định này ? Hoặc an trụ ở trong định ?
Đối với tam muội quảng đại không thể nghĩ bàn
của Bồ Tát, khéo nhập vào định này ? Khéo xuất
định này ? Đối với hết thảy tam muội, đều hổ
tương tự tại thần thông biến hoá. Cầu pháp môn
này chẳng có ngừng nghỉ. Phải tu hành như thế
nào ?”
Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Bồ Tát Phổ Nhãn
rằng : “Lành thay ! Phổ Nhãn ! Câu hỏi của ông
rất có ý nghĩa, tốt lắm ! Ông vì lợi ích hết
thảy tất cả Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai, mà
hỏi vấn đề này.”
Phổ
Nhãn ! Bồ Tát Phổ Hiền, hiện nay đang ở tại đây.
Đã thành tựu thần thông tự tại không thể nghĩ
bàn. Vượt lên trên tất cả các Bồ Tát, khó có thể
gặp được. Từ nơi vô lượng hạnh Bồ Tát sinh ra.
Bồ Tát đại nguyện đều đã thanh tịnh. Những hạnh
đã làm đều không thối chuyển. Vô lượng môn Ba la
mật, môn Đà la ni, môn vô tận biện tài, thảy đều
đã được thanh tịnh vô ngại. Đại bi lợi ích tất
cả chúng sinh. Nhờ nguyện lực xưa, hết thuở vị
lai mà không nhàm mỏi. Ông nên hỏi Bồ Tát Phổ
Hiền, Bồ Tát Phổ Hiền sẽ vì ông mà nói tam muội
tự tại giải thoát đó.
Phật lại gọi một tiếng : “Phổ Nhãn ! Ông hỏi Bồ
Tát Phổ Hiền và các chúng Bồ Tát trụ ở nơi hạnh
nguyện Phổ Hiền, đắc được bao nhiêu tam muội
giải thoát ? Hiện tại Bồ Tát Phổ Hiền đang ở
trong pháp hội này. Ngài đã thành tựu thần thông
tự tại diệu dụng không thể nghĩ bàn, vượt lên
trên hết thảy Bồ Tát, không dễ gì gặp được nhân
duyên này, phải từ tu vô lượng hạnh Bồ Tát sinh
ra, mới gặp được nhân duyên này. Đại nguyện của
Bồ Tát Phổ Hiền đều đã thanh tịnh mà còn viên
mãn. Hạnh môn của Bồ Tát tu, đều không thối
chuyển, cho đến tâm niệm thối chuyển cũng chẳng
có. Vô lượng vô biên pháp môn Ba la mật, pháp
môn Đà la ni không chướng ngại, pháp môn biện
tài vô cùng vô tận, những pháp môn này đều đắc
được thanh tịnh vô ngại. Ngài hành Bồ Tát đạo,
sinh ra tâm đại bi, vì có tâm đại bi mới có thể
lợi ích tất cả chúng sinh. Nguyện lực mà thuở
xưa Ngài phát ra, hết kiếp thuở vị lai, cũng
chẳng khi nào nhàm mỏi.
Phật lại gọi một tiếng : “Phổ Nhãn ! Ông nên hỏi
Bồ Tát Phổ Hiền về vấn đề này, Bồ Tát Phổ Hiền
sẽ nói cho ông biết đắc được tam muội tự tại
giải thoát, nhậm vận tự tại như thế nào ? Thế
nào là pháp giải thoát ? Bồ Tát Phổ Hiền sẽ nói
rõ cho ông minh bạch”.
Bấy
giờ, các chúng Bồ Tát ở trong hội nghe danh hiệu
Phổ Hiền, lập tức đắc được vô lượng tam muội
không thể nghĩ bàn. Tâm được vô ngại, tịch tĩnh
bất động, trí huệ rộng lớn, khó có thể dò lường.
Cảnh giới thâm sâu, không ai bằng được. Hiện
tiền đều thấy vô số chư Phật, đắc được lực của
Như Lai, đồng với tánh của Như Lai. Quá khứ vị
lai hiện tại thảy đều chiếu rõ. Hết thảy phước
đức không thể cùng tận, tất cả thần thông đều đã
đầy đủ.
Lúc đó, hết thảy tất cả Bồ Tát ở trong pháp hội
Hoa Nghiêm, nghe danh hiệu của Bồ Tát Phổ Hiền,
lập tức đắc được vô lượng tam muội không thể
nghĩ bàn. Trong tâm được không chướng ngại, tịch
tĩnh đến cực điểm, định lực đầy đủ nên không
không. Do định sinh huệ, cho nên trí huệ rộng
lớn, khó dò lường được trí huệ bao nhiêu ? Cảnh
giới này, rất là thâm sâu, không thể sánh bằng
được. Hết thảy Bồ Tát đều thấy được vô số chư
Phật hiện ra ở trước mặt mình, đắc được sức thần
thông của Phật, và hợp với pháp tánh của Phật mà
làm một. Trong quá khứ, vị lai, hiện tại ba đời
đều chiếu rõ, phước đức đắc được vô cùng vô tận,
hết thảy thần thông, Bồ Tát đều có đầy đủ.
Các
Bồ Tát đó ở chỗ Phổ Hiền, sinh tâm tôn trọng
khát ngưỡng muốn thấy. Đều quán sát khắp cùng
trong chúng hội, mà vẫn không thấy, cũng chẳng
thấy toà ngồi của Ngài. Đó là do oai lực của Như
Lai gia trì, cũng là thần thông tự tại của Phổ
Hiền, khiến được như vậy.
Hết thảy Bồ Tát ở tại đạo tràng của Bồ Tát Phổ
Hiền, đều sinh tâm tôn trọng, như lúc khát nước
cấp thời, đều muốn chiêm ngưỡng tôn nhan của Bồ
Tát Phổ Hiền. Đại chúng quán sát khắp cùng tứ
phía ở trong pháp hội Hoa Nghiêm, cũng không
thấy Bồ Tát Phổ Hiền, cũng không thấy toà ngồi
của Bồ Tát Phổ Hiền. Tại sao ? Vì đó là do đại
oai thần lực của Như Lai gia trì, cũng là thần
lực tự tại của Bồ Tát Phổ Hiền, khiến cho đại
chúng không thấy được thân tướng của Ngài.
Tuy nhiên Bồ Tát Phổ Nhãn chẳng thấy được, nhưng
cũng chẳng nhìn thấy Bồ Tát Phổ Hiền ở chỗ nào ?
Do đó :
“Sơ địa chẳng biết Nhị địa,
Thập địa chẳng biết Đẳng Giác”.
Nghĩa là Bồ Tát Sơ địa (Hoan hỉ địa), chẳng biết
cảnh giới của Bồ Tát Nhị địa (Ly cấu địa). Bồ
Tát Thập địa (Pháp vân địa), chẳng biết cảnh
giới của Bồ Tát Đẳng giác. Lại giống như học
sinh tiểu học chẳng biết trình độ của học sinh
trung học, học sinh trung học chẳng biết trình
độ của học sinh đại học, cùng một đạo lý như
vậy.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Nhãn bạch đức Phật rằng: Đức Thế
Tôn ! Bồ Tát Phổ Hiền, nay đang ở đâu ?
Đức Phật bảo Phổ Nhãn ! Bồ Tát
Phổ Hiền hiện đang ở tại chúng hội đạo tràng
này, ngồi gần chỗ ta, không hề rời chỗ ngồi.
Lúc đó, Phổ Nhãn và các Bồ Tát,
lại quán sát chúng hội đạo tràng nữa, tìm cầu
khắp nơi. Bạch đức Phật rằng: Đức Thế Tôn ! Nay
chúng con vẫn chưa thấy thân Bồ Tát Phổ Hiền và
toà ngồi.
Đức Phật nói: Đúng như vậy, thiện
nam tử ! Tại sao các ông không nhìn thấy ?
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn nói với đức Phật rằng :
“Đức Thế Tôn ! Bồ Tát Phổ Hiền hiện nay đang ở
đâu ?” Đức Phật nói với Bồ Tát Phổ Nhãn rằng:
“Phổ Nhãn ! Bồ Tát Phổ Hiền, hiện nay đang ở
trong chúng hội đạo tràng này, ngồi gần ta, nghe
ta nói pháp, chưa từng rời khỏi chỗ ngồi.”
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn và các chúng Bồ Tát, lại
quán sát khắp các chúng hội, tìm kiếm Bồ Tát Phổ
Hiền, vẫn không biết Ngài đang ở đâu ? Bồ Tát
Phổ Nhãn lại hỏi đức Phật : “Đức Thế Tôn ! Chúng
con đại chúng vẫn chưa nhìn thấy thân của Bồ Tát
Phổ Hiền và toà ngồi của Ngài. Xin đức Thế Tôn
từ bi, chỉ bày chúng con, để cho chúng con được
thấy Bồ Tát Phổ Hiền”.
Đức Phật nói : “Phổ Nhãn ! Đúng như thế, các vị
thiện nam tử ! Tại sao các ông đại chúng không
nhìn thấy Bồ Tát Phổ Hiền ?”
Thiện
nam tử ! Vì trụ xứ của Bồ Tát Phổ Hiền thâm sâu,
không thể nói được. Bồ Tát Phổ Hiền đắc được môn
trí huệ vô biên, nhập vào định sư tử phấn tấn.
Đắc được dụng tự tại vô thượng, nhập vào thanh
tịnh vô ngại tế, sinh ra mười lực của Như Lai.
Dùng pháp giới tạng làm thân, được tất cả Như
Lai cùng hộ niệm. Trong khoảng một niệm, đều có
thể chứng nhập trí vô sai biệt của chư Phật ba
đời, do đó các ông không thể nào thấy được vậy.
Phật lại nói : “Các vị thiện nam tử ! Vì trụ xứ
của Bồ Tát Phổ Hiền rất thâm sâu không thể nói
được, cho nên Bồ Tát Phổ Hiền đắc được môn trí
huệ không bờ mé. Ngài nhập vào định sư tử phấn
tấn, đắc được dụng tự tại vô thượng. Vào được bờ
mé thanh tịnh không chướng ngại. Sinh ra mười
thứ lực của Phật. Dùng tánh pháp giới tạng làm
thân của Ngài, dùng tánh hư không bình đẳng làm
diệu dụng của Ngài. Được hết thảy chư Phật, đều
cùng hộ niệm Ngài. Ở trong khoảng một niệm, hoàn
toàn chứng nhập được trí huệ không phân biệt của
chư Phật ba đời, tức là không cần suy nghĩ, lập
tức thấu rõ. Do nhân duyên đó, cho nên các ông
đại chúng không thể nào thấy được thân của Bồ
Tát Phổ Hiền.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Nhãn nghe Như Lai nói công đức
thanh tịnh của Bồ Tát Phổ Hiền, liền đắc được
mười ngàn A tăng kỳ tam muội. Dùng sức tam muội
quán sát khắp, khát ngưỡng muốn thấy Bồ Tát Phổ
Hiền, cũng không nhìn thấy được. Tất cả các
chúng Bồ Tát khác cũng đều không nhìn thấy.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn từ tam
muội dậy, bạch đức Phật rằng: Đức Thế Tôn ! Con
đã nhập mười ngàn A tăng kỳ tam muội, tìm xem Bồ
Tát Phổ Hiền, mà cuối cùng vẫn không thấy được.
Chẳng thấy thân và thân nghiệp, lời và lời
nghiệp, ý và ý nghiệp của Ngài, toà và trụ xứ
cũng đều không thấy.
Đức Phật nói : Đúng vậy, đúng
vậy, thiện nam tử ! Nên biết, đều do Bồ Tát Phổ
Hiền trụ sức giải thoát không nghĩ bàn.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn nghe Phật nói công đức
thanh tịnh của Bồ Tát Phổ Hiền, lập tức đắc được
mười ngàn A tăng kỳ tam muội, tức cũng là chánh
định chánh thọ. Bồ Tát Phổ Nhãn bèn dùng sức tam
muội, ở trong định lại quán sát khắp cùng, khát
ngưỡng muốn thấy Bồ Tát Phổ Hiền, nhưng vẫn
không nhìn thấy được. Các chúng Bồ Tát khác càng
không thể nhìn thấy được.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn xuất định, nói với đức
Phật rằng : “Đức Thế Tôn ! Con đã nhập vào mười
ngàn A tăng kỳ tam muội, muốn tìm xem Bồ Tát Phổ
Hiền, mà cuối cùng vẫn không nhìn thấy được,
cũng không nhìn thấy thân và thân nghiệp của
Ngài tạo ra, lại không nghe lời nói và nghiệp
lời nói của Ngài tạo ra, lại không thấy ý và ý
nghiệp của Ngài tạo ra. Toà ngồi của Ngài tại
chỗ nào ? Ngài đang ở đâu ? Con hoàn toàn không
nhìn thấy được”.
Đức Phật nói : “Phổ Nhãn ! Con nhìn không thấy
đâu, con nhìn không thấy đâu, thiện nam tử ! Vì
Bồ Tát Phổ Hiền chẳng chấp tướng, không có tướng
để thấy, không cảnh giới để thủ lấy. Nên biết,
đây đều do Bồ Tát Phổ Hiền trụ sức giải thoát
không nghĩ bàn”.
Phổ
Nhãn ! Ý ông thế nào ? Như có người nói đủ thứ
huyễn tướng trụ xứ ở trong văn tự huyễn thuật
chăng ?
Đáp rằng : Bạch đức Thế Tôn không.
Đức Phật nói : Phổ Nhãn ! Huyễn tướng ở trong
huyễn còn không thể nói, hà huống cảnh giới thân
bí mật, cảnh giới lời bí mật, cảnh giớiý bí mật
của Bồ Tát Phổ Hiền, mà ở trong đó có thể nhập,
có thể thấy. Tại sao ? Vì cảnh giới của Bồ Tát
Phổ Hiền thâm sâu không thể nghĩ bàn. Không có
số lượng, đã vượt qua số lượng, tóm lại, Bồ Tát
Phổ Hiền dùng huệ kim cang, vào khắp pháp giới.
Nơi tất cả thế giới, không chỗ đi, không chỗ
trụ. Biết tất cả thân chúng sinh tức đều chẳng
phải thân. Không đến, không đi. Đắc được thần
thông tự tại không đoạn tận, không sai biệt.
Không nương, không làm, không có động chuyển,
đến nơi bờ mé rốt ráo của pháp giới.
Thiện nam tử ! Nếu ai thấy được Bồ Tát Phổ Hiền,
hoặc được thừa sự, hoặc được nghe danh, hoặc có
tư duy, hoặc có nghĩ nhớ, hoặc sinh tin hiểu,
hoặc siêng quán sát, hoặc bắt đầu hướng về, hoặc
chân chánh tìm cầu, hoặc phát thệ nguyện, liên
tục không ngừng, thì đều đắc được lợi ích, không
có luống qua.
Phật lại nói: “Phổ Nhãn! Ý niệm của ông như thế
nào ? Như có người nói đủ thứ huyễn tướng trụ xứ
ở trong huyễn thuật văn tự chăng ?
Bồ Tát Phổ Nhãn đáp: “Đức Thế Tôn! Không thể nói
như thế”.
Phật lại nói: “Nhà huyễn thuật biến hoá huyễn
tướng, còn không thể nói rõ được, hà huống là
cảnh giới thân bí mật của Bồ Tát Phổ Hiền, biến
hoá vô cùng. Ngài có thể một thân biến làm vô
lượng thân, vô lượng thân quy về một thân. Một
thân không sở hiện, vô lượng thân cũng không sở
hiện. Pháp thân của Ngài khắp tất cả mọi nơi, mà
chẳng ở tại tất cả mọi nơi; chẳng ở tại tất cả
mọi nơi, lại khắp tất cả mọi nơi. Cảnh giới lời
bí mật của Ngài, cũng không thể nghĩ bàn, chưa
nói mà nói, nói mà chưa nói. Là kia nói mà đây
không biết, là đây nói mà kia không biết, đó đây
không biết nhau, cho nên là cảnh giới lời bí
mật. Tuy nhiên Ngài nói pháp, nhưng không ai
nghe được Ngài nói pháp. Tuy nhiên Ngài không
nói pháp, nhưng rất nhiều chúng sinh thường nghe
Ngài nói pháp, cho nên không thể dùng tướng để
thủ lấy cảnh giới này của Bồ Tát Phổ Hiền. Cảnh
giới ý bí mật của Ngài, ở trong cảnh giới bí mật
có thể thâm nhập có thể thấy được, thật không dễ
dàng”.
Đây là nguyên nhân gì ? Vì cảnh giới của Bồ Tát
Phổ Hiền quá sâu, thật là không thể nghĩ bàn.
Vẫn chẳng có số lượng, đã vượt qua số lượng. Đưa
ra chỗ quan trọng để nói: “Bồ Tát Phổ Hiền, Ngài
dùng trí huệ kim cang, vào khắp cùng tất cả pháp
giới, nơi tất cả thế giới, cũng không chỗ đi,
cũng không chỗ trụ. Do đó: “Đi mà chưa đi, trụ
mà chưa trụ”. Ngài biết thân của tất cả chúng
sinh đều là hư vọng, do đất nước gió lửa bốn đại
hoà hợp mà thành, do đó : “Hư vọng mà sinh, hư
vọng mà diệt”, chẳng có gì chân thật, cũng chẳng
có đến, cũng chẳng có đi. Ngài đã đắc được thần
thông diệu dụng tự tại không đoạn tận, không có
sự phân biệt, cũng chẳng có sự nương tựa, cũng
chẳng có làm. Tuy nhiên khắp tất cả mọi nơi,
nhưng chẳng động chỗ ngồi, mà đến khắp pháp
giới, đến bờ mé rốt ráo.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Bồ Tát Phổ Nhãn:
“Thiện nam tử ! Giả sử có chúng sinh, do có đại
nhân duyên mà thấy được Bồ Tát Phổ Hiền, hoặc
thừa sự cúng dường, hoặc nghe đến danh hiệu
Ngài, hoặc tư duy đại hạnh Phổ Hiền, hoặc nghĩ
nhớ đại hạnh Phổ Hiền, hoặc sinh tâm tin hiểu.
Do đó :
“Tin là nguồn đạo mẹ công đức,
Nuôi lớn tất cả các pháp lành”.
Có tâm tin hiểu rồi, còn phải minh bạch thấu
hiểu, mới có thể đắc được lợi ích của pháp. Hoặc
phải siêng quán sát đại nguyện quá khứ của Bồ
Tát Phổ Hiền phát ra là gì ? Tu đại hạnh gì ?
Quán sát rồi nhất định y pháp thực hành. Chỉ
biết Bồ Tát Phổ Hiền tu hành thế nào, mà không
thực hành, cũng giống như nói món ăn, đếm tiền
mướn, chẳng có ích lợi gì, hoặc hướng về hạnh
của Bồ Tát Phổ Hiền tu, hoặc chân chánh tìm cầu
Bồ Tát Phổ Hiền, hoặc phát đại thệ nguyện, học
tập mười đại nguyện vương của Bồ Tát Phổ Hiền.
Nếu theo đó mà tu trì liên tục không ngừng, thì
nhất định đều đắc được đại lợi ích, tuyệt đối
không thể luống qua”.
Đại hạnh đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền là vô
hình, nên một số Bồ Tát tìm không được, cũng
nhìn chẳng thấy. Tại sao ? Vì những gì Bồ Tát
Phổ Hiền làm đều lợi ích chúng sinh, nhưng không
để cho chúng sinh biết, mình thọ được lợi ích
của Bồ Tát Phổ Hiền, cho nên chúng sinh không
biết có Bồ Tát Phổ Hiền, đó là biểu hiện Bồ Tát
Phổ Hiền chẳng cầu danh, cũng chẳng cầu lợi.
Giống như thế giới Ta Bà chúng ta, “Nhà nhà Quán
Thế Âm, hộ hộ Di Đà Phật”. Song, trước mắt chẳng
nhận thức được Bồ Tát Quán Thế Âm, cũng có thể
nói trước mắt chẳng nhận thức được Bồ Tát Phổ
Hiền. Bồ Tát Phổ Hiền là làm không cho ai biết,
dạy không bảo cho ai hay, nên gọi là Đại Hạnh
Phổ Hiền Bồ Tát. Nếu cúng dường Bồ Tát Phổ Hiền,
hoặc nghe danh, hoặc tư duy, hoặc nghĩ nhớ, hoặc
tin hiểu, hoặc quán sát, đều đắc được lợi ích
đặc biệt, nhất định sẽ đắc được sự cảm ứng viên
mãn.
Bấy
giờ, Phổ Nhãn và tất cả chúng Bồ Tát, sinh tâm
khát ngưỡng đối với Bồ Tát Phổ Hiền, nguyện muốn
được thấy, bèn nói như vầy: Nam Mô Nhất Thiết
Chư Phật. Nam Mô Phổ Hiền Bồ Tát. Xưng như vậy
ba lần, cúi đầu đảnh lễ cung kính.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn và tất cả chúng Bồ Tát,
trong tâm sinh lòng khát ngưỡng đối với danh
vọng Bồ Tát Phổ Hiền, đều nguyện muốn được thấy
Bồ Tát Phổ Hiền, do đó bèn xưng như vầy : “Nam
Mô Nhất Thiết Chư Phật, Nam Mô Phổ Hiền Bồ Tát”.
Xưng hô như vậy ba lần, cúi đầu năm thể sát đất
đảnh lễ ba lần.
Bấy
giờ, đức Phật bảo Bồ Tát Phổ Nhãn và các chúng
hội rằng : Các Phật tử ! Các ông càng phải nên
lễ kính Phổ Hiền, phải siêng thỉnh cầu. Lại phải
chuyên tâm quán sát mười phương, nghĩ thân Phổ
Hiền hiện tại ở trước mắt. Tư duy như vậy khắp
cùng pháp giới. Thâm tâm tin hiểu, nhàm lìa tất
cả. Phát thệ với Phổ Hiền cùng một hạnh nguyện.
Nhập vào pháp chân thật không hai. Thân Ngài
hiện khắp tất cả thế gian, đều biết các căn
chúng sinh khác biệt. Khắp tất cả mọi nơi, tu
tập đạo Phổ Hiền. Nếu phát khởi đại nguyện như
vậy, thì sẽ thấy được Bồ Tát Phổ Hiền.
Lúc đó, Phật bảo Bồ Tát Phổ Nhãn và tất cả các
Bồ Tát nói rằng : “Các vị Phật tử ! Các ông càng
phải nên lễ kính Bồ Tát Phổ Hiền ! Phải siêng
thỉnh cầu, lại phải chuyên tâm chí thành khẩn
thiết để quán sát mười phương. Phải quán tưởng
Bồ Tát Phổ Hiền ngồi trên con voi trắng lớn sáu
ngà, đang ở trước các vị. Tư duy tận hư không
khắp pháp giới, khắp nơi đều thị hiện thân Bồ
Tát Phổ Hiền. Thấy được rồi, sinh tin hiểu thâm
sâu, mà chẳng có sự chướng ngại. Nhàm lìa tất
cả, gì cũng không cần nữa. Phát thệ nguyện lớn,
đi theo Bồ Tát Phổ Hiền, Ngài đến đâu, thì đi
đến đó. Ngài thực hành hạnh nguyện gì, thì hành
hạnh nguyện đó. Như vậy, sẽ vào được pháp môn
chân thật không hai. Lúc đó, thân của Ngài hiện
khắp tất cả thế gian, để giáo hoá chúng sinh.
Lại hoàn toàn biết chúng sinh có đủ thứ căn tánh
khác nhau, lại khắp cùng tất cả mọi nơi, tích
tập đạo Bồ Tát Phổ Hiền. Nếu phát được nguyện
lớn như vậy, thì sẽ thấy được thân của Bồ Tát
Phổ Hiền.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Nhãn nghe đức Phật nói xong,
cùng với các Bồ Tát đảnh lễ, cầu xin được thấy
Phổ Hiền đại sĩ.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn lắng nghe Phật nói xong,
bèn cùng với các Bồ Tát đảnh lễ Phật, thỉnh cầu
Phật từ bi, khiến cho được thấy Phổ Hiền đại sĩ
(Bồ Tát). Lúc đó, tâm của các Bồ Tát kiền thành
khát ngưỡng, hy vọng lập tức thấy được Bồ Tát
Phổ Hiền.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Hiền liền dùng sức thần thông
giải thoát, theo sự thỉnh cầu, mà hiện sắc thân,
khiến cho Bồ Tát Phổ Nhãn và tất cả các chúng Bồ
Tát, đều thấy Phổ Hiền gần gũi đức Như Lai. Ngồi
trên toà sen ở trong tất cả chúng Bồ Tát này,
cũng thấy Bồ Tát Phổ Hiền ở chỗ tất cả chư Phật,
trong tất cả thế giới khác, từ nơi đó thứ lớp
liên tục đi đến. Cũng thấy đang ở chỗ tất cả chư
Phật đó, diễn nói tất cả các Bồ Tát hạnh, khai
thị trí đạo Nhất thiết trí. Xiển minh tất cả
thần thông của Bồ Tát, phân biệt tất cả oai đức
của Bồ Tát, thị hiện tất cả chư Phật ba đời.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền liền dùng sức thần thông
giải thoát, theo sự thỉnh cầu của Bồ Tát Phổ
Nhãn và các Bồ Tát, mà thị hiện sắc thân, khiến
cho tất cả chúng Bồ Tát đều có cơ hội thấy được
Bồ Tát Phổ Hiền gần gũi đức Phật. Ngài ngồi trên
toà sen ở trong chúng Bồ Tát này. Cũng nhìn thấy
Bồ Tát Phổ Hiền đang ở chỗ tất cả chư Phật, ở
trong tất cả thế giới khác, ở đó lần lược tiếp
tục đến. Cũng nhìn thấy đạo tràng của tất cả chư
Phật, diễn nói tất cả hạnh môn của Bồ Tát tu
hành, khai thị đạo chủng trí trong Nhất thiết
trí, xiển dương thần thông diệu dụng của tất cả
Bồ Tát, phân biệt oai đức của tất cả Bồ Tát, thị
hiện tất cả chư Phật ba đời.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Nhãn và tất cả chúng Bồ Tát,
thấy thần biến đó, trong tâm đều hớn hở, sinh
đại hoan hỉ, đều đảnh lễ Bồ Tát Phổ Hiền, sinh
tâm tôn trọng, như thấy mười phương tất cả chư
Phật.
Bấy giờ, nhờ đại oai thần lực của Phật, và sức
tin hiểu của các Bồ Tát, nguyện lực xưa của Bồ
Tát Phổ Hiền, tự nhiên mưa xuống mười ngàn thứ
mây. Đó là: Đủ thứ mây hoa, đủ thứ mây tràng
hoa, đủ thứ mây hương, đủ thứ mây hương bột, đủ
thứ mây lọng, đủ thứ mây y, đủ thứ mây đồ nghiêm
sức, đủ thứ mây trân báu, đủ thứ mây hương đốt,
đủ thứ mây lụa màu. Bất khả thuyết thế giới sáu
thứ chấn động, tấu lên âm nhạc trời, âm thanh đó
vang xa. Bất khả thuyết thế giới phóng đại quang
minh, quang minh đó chiếu khắp bất khả thuyết
thế giới, khiến cho ba đường ác đều được diệt
trừ. Nghiêm tịnh bất khả thuyết thế giới, khiến
cho bất khả thuyết Bồ Tát nhập vào hạnh Phổ
Hiền, bất khả thuyết Bồ Tát thành tựu hạnh Phổ
Hiền, bất khả thuyết Bồ Tát đều được viên mãn
hạnh nguyện Phổ Hiền, thành tựu Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền và tất cả Bồ Tát, thấy
được thần thông biến hoá của Bồ Tát Phổ Hiền
rồi, sinh tâm đại hoan hỉ, nhảy nhót vui mừng,
đều đến trước Bồ Tát Phổ Hiền, cúi đầu đảnh lễ,
sinh tâm tôn trọng cung kính, giống như thấy
được mười phương tất cả chư Phật.
Lúc đó, nhờ đại oai thần lực của Phật, và sức
tin hiểu của các Bồ Tát, cùng với sức nguyện xưa
của Bồ Tát Phổ Hiền, mà tự nhiên mưa xuống mười
ngàn thứ mây cát tường đó là :
1. Đử thứ mây hoa.
2. Đủ thứ mây tràng hoa.
3. Đủ thứ mây hương.
4. Đủ thứ mây hương bột.
5. Đủ thứ mây mây lọng.
6. Đủ thứ mây y.
7. Đủ thứ mây đồ trang nghiêm.
8. Đủ thứ mây trân báu.
9. Đủ thứ mây hương đốt.
10. Đủ thứ mây lụa màu.
Lúc đó, lại có bất khả thuyết thế giới, đồng
thời phát sinh sáu thứ chấn động, đó là: Động,
khởi, dũng, biến, hống, kích. Lại diễn tấu lên
âm nhạc trời, âm thanh đó vang xa đến các thế
giới khác, đều có thể nghe được. Lại có bất khả
thuyết thế giới, phóng đại quang minh, quang
minh đó chiếu khắp bất khả thuyết thế giới,
khiến cho ba đường ác : Địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh, thảy đều tiêu diệt, không còn tồn tại. Lại
trang nghiêm thanh tịnh bất khả thuyết thế giới,
khiến cho bất khả thuyết Bồ Tát thành tựu hạnh
nguyện Bồ Tát Phổ Hiền, bất khả thuyết Bồ Tát
đều được viên mãn hạnh nguyện Phổ Hiền, chứng
được Phật vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Nhãn bạch đức Phật rằng : Đức
Thế Tôn ! Bồ Tát Phổ Hiền là bậc trụ nơi đại oai
đức, bậc trụ nơi vô đẳng, bậc trụ nơi không lỗi
lầm, bậc trụ nơi bất thối, bậc trụ nơi bình
đẳng, bậc trụ nơi bất hoại, bậc trụ nơi tất cả
pháp sai biệt, bậc trụ nơi tất cả pháp không sai
biệt, bậc trụ nơi tất cả chúng sinh chỗ tâm trụ
khéo léo, bậc trụ tất cả pháp tự tại giải thoát
tam muội.
Đức Phật nói : Đúng vậy, đúng vậy, Phổ Nhãn !
Như lời ông nói ! Bồ Tát Phổ Hiền có A tăng kỳ
công đức thanh tịnh. Đó là : Công đức vô đẳng
trang nghiêm, công đức vô lượng bảo, biển công
đức không nghĩ bàn, công đức vô lượng tướng,
công đức vô biên mây, công đức vô biên tế không
thể xưng tán, công đức vô tận pháp, công đức bất
khả thuyết, công đức tất cả Phật, công đức tán
thán khen ngợi không hết được.
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn nói với đức Phật rằng:
“Đức Thế Tôn ! Bồ Tát Phổ Hiền là bậc trụ trong
mười thứ cảnh giới:
1. Bậc trụ nơi đại oai đức.
2. Bậc trụ nơi vô đẳng.
3. Bậc trụ nơi không lỗi lầm.
4. Bậc trụ nơi bất thối.
5. Bậc trụ nơi bình đẳng.
6. Bậc trụ nơi bất hoại.
7. Bậc trụ nơi tất cả pháp sai biệt.
8. Bậc trụ nơi tất cả pháp không sai biệt.
9. Bậc trụ nơi tất cả chúng sinh chỗ tâm trụ
khéo léo.
10. Bậc trụ tất cả pháp tự tại giải thoát tam
muội.”
Đức Phật nói : “Đúng như vậy, đúng như vậy, Phổ
Nhãn ! Đúng như lời của ông nói. Bồ Tát Phổ Hiền
có A tăng kỳ công đức thanh tịnh, lược nói có
mười thứ :
1. Công đức vô đẳng trang nghiêm.
2. Công đức vô lượng bảo.
3. Biển công đức không nghĩ bàn.
4. Công đức vô lượng tướng.
5. Công đức vô biên mây.
6. Công đức vô biên tế không thể xưng tán.
7. Công đức vô tận pháp.
8. Công đức bất khả thuyết.
9. Công đức tất cả Phật.
10. Công đức tán thán khen ngợi không hết được.”
Bấy
giờ, đức Như Lai bảo Bồ Tát Phổ Hiền rằng : Phổ
Hiền ! Ông nên vì Phổ Nhãn và các chúng Bồ Tát
trong hội này, nói mười đại tam muội, khiến cho
họ khéo được nhập vào thành tựu viên mãn hết
thảy hạnh nguyện Phổ Hiền. Vì các đại Bồ Tát nói
mười đại tam muội này, khiến cho Bồ Tát quá khứ
đã được xuất ly, Bồ Tát hiện tại nay được xuất
ly, Bồ Tát vị lai sẽ được xuất ly.
Lúc đó, Phật bảo Bồ Tát Phổ Hiền nói : “Phổ Hiền
! Ông nên vì Bồ Tát Phổ Nhãn và các chúng Bồ Tát
trong pháp hội này, diễn nói mười đại tam muội,
khiến cho hết thảy Bồ Tát, đều khéo nhập vào tam
muội, thành tựu viên mãn hết thảy hạnh nguyện
Phổ Hiền”.
“Các vị đại Bồ Tát! Do nói mười đại tam muội này
mà khiến cho Bồ Tát quá khứ, đã được thoát khỏi
ba cõi. Khiến cho Bồ Tát hiện tại cũng được
thoát khỏi ba cõi. Khiến cho Bồ Tát vị lai cũng
được thoát khỏi ba cõi”.
Những
gì là mười ? Một là đại tam muội Phổ quang. Hai
là đại tam muội Diệu quang. Ba là đại tam muội
Thứ tự đến khắp cùng cõi nước chư Phật. Bốn là
đại tam muội Thâm tâm thanh tịnh hạnh. Năm là
đại tam muội Biết quá khứ trang nghiêm tạng. Sáu
là đại tam muội Trí quang minh tạng. Bảy là đại
tam muội Biết rõ tất cả thế giới Phật trang
nghiêm. Tám là đại tam muội Thân chúng sinh khác
biệt. Chín là đại tam muội Pháp giới tự tại.
Mười là đại tam muội Vô ngại luân.
Những gì là mười thứ đại tam muội ? Đó là :
1. Đại tam muội Phổ quang : Nhập
vào tam muội này, phổ quang chiếu khắp, có viên
mãn đại quang minh tạng.
2. Đại tam muội Diệu quang : Nhập
vào tam muội này, sinh ra quang vi diệu. Thứ
quang này là trong quang có quang, trong quang
hoá quang, trong quang phóng quang, là quang
diệu không thể tả.
3. Đại tam muội Thứ tự đến khắp
cùng cõi nước chư Phật : Nhập vào tam muội này,
có thể đồng thời thứ tự đến khắp cùng cõi nước
chư Phật mười phương, gần gũi chư Phật, cúng
dường chư Phật, giáo hoá chúng sinh, độ thoát
chúng sinh.
4. Đại tam muội Thâm tâm thanh
tịnh hạnh : Nhập vào tam muội này, hay làm cho
thân tâm thanh tịnh, chẳng có tư tưởng nhiễm ô.
5. Đại tam muội Biết quá khứ
trang nghiêm tạng : Nhập vào tam muội này, biết
được quá khứ trang nghiêm bảo tạng, nhập định có
thể nhập kiếp, một niệm vô duyên, xuất định thọ
pháp.
6. Đại tam muội Trí quang minh
tạng : Nhập vào tam muội này, có trí huệ chiếu
triệt vô tận tạng.
7. Đại tam muội Biết rõ tất cả
thế giới Phật trang nghiêm : Nhập vào tam muội
này, biết rõ mười phương thế giới chư Phật trang
nghiêm.
8. Đại tam muội Thân chúng sinh
khác biệt : Nhập vào tam muội này, biết thân
chúng sinh có phân biệt gì.
9. Đại tam muội Pháp giới tự
tại : Nhập vào tam muội này, trong pháp giới rất
là tự tại không chướng ngại.
10. Mười là Đại tam muội vô ngại
luân : Nhập vào tam muội này, có thể ba luân
nhiếp hoá, đều được tự tại. Lại đắc được mười vô
ngại, viên mãn Phật quả.
Mười đại tam muội này, chư đại Bồ
Tát, mới khéo vào được. Tất cả chư Phật quá khứ,
vị lai, hiện tại, đã nói, sẽ nói, đang nói.
Mười đại tam muội này, tất cả các
đại Bồ Tát mới khéo vào được. Chư Phật quá khứ,
chư Phật vị lai, chư Phật hiện tại, tất cả chư
Phật mười phương, đều đã nói pháp môn này, tương
lai sẽ nói pháp môn này, hiện tại đang nói pháp
môn này.
Nếu các Bồ Tát ưa thích tôn
trọng, tu tập không giải đãi, thì được thành
tựu. Người như vậy gọi là Phật, gọi là Như Lai,
cũng gọi là người đắc được mười lực, cũng gọi là
Đạo Sư, cũng gọi là Đại Đạo Sư, cũng gọi là Nhất
thiết trí, cũng gọi là Nhất thiết kiến, cũng gọi
là Trụ vô ngại, cũng gọi là Đạt chư cảnh, cũng
gọi là Nhất thiết pháp tự tại.
Nếu như các Bồ Tát ưa thích pháp
môn này, tôn trọng pháp môn này, y chiếu pháp
môn này, siêng năng tu tập, tuyệt đối không giải
đãi, thì sẽ thành tựu mười đại tam muội này.
Người tu hành như vậy, sẽ được mười danh hiệu :
1. Gọi là Phật.
2. Gọi là Như Lai.
3. Gọi là Người được mười lực.
4. Gọi là Đạo sư.
5. Gọi là Đại Đạo sư.
6. Gọi là Nhất thiết trí.
7. Gọi là Nhất thiết kiến.
8. Gọi là Trụ vô ngại.
9. Gọi là Đạt chư cảnh.
10. Gọi là Nhất thiết pháp tự
tại.
Bồ Tát này vào khắp tất cả thế
giới, mà chẳng chấp trước nơi thế giới. Vào khắp
tất cả cõi chúng sinh, mà chẳng thủ lấy nơi
chúng sinh. Vào khắp tất cả thân, mà chẳng ngại
nơi thân. Vào khắp tất cả pháp giới, mà biết
pháp giới không bờ mé. Gần gũi chư Phật ba đời,
thấy rõ tất cả các Phật pháp, khéo nói tất cả
văn tự, thấu đạt tất cả giả danh, thành tựu tất
cả đạo thanh tịnh của Bồ Tát, an trụ tất cả hạnh
khát biệt của Bồ Tát, ở trong một niệm, được
khắp nhất thiết trí ba đời, biết khắp tất cả
pháp ba đời, nói khắp tất cả giáo lý chư Phật,
chuyển khắp tất cả bất thối chuyển, Nơi quá khứ
vị lai hiện tại, mỗi mỗi đời, chứng khắp tất cả
đạo bồ đề, ở trong mỗi mỗi bồ đề này, biết rõ
khắp tất cả những gì Phật nói.
Những vị đại Bồ Tát này, có thể
vào khắp tất cả thế giới trong mười phương, mà
chẳng chấp trước nơi thế giới. Lại có thể vào
khắp tất cả cõi chúng sinh, mà chẳng thủ lấy nơi
chúng sinh. Lại có thể vào khắp tất cả thân, mà
nơi thân cũng chẳng có sự chướng ngại. Lại có
thể vào khắp tất cả pháp giới, biết pháp giới
cũng không có bờ mé. Lại có thể gần gũi tất cả
chư Phật ba đời. Lại thấy rõ tất cả pháp của chư
Phật nói. Lại khéo nói tất cả văn tự. Lại thấu
đạt tất cả giả danh. Lại có thể thành tựu tất cả
đạo thanh tịnh của Bồ Tát. Lại có thể an trụ tất
cả hạnh khác biệt của Bồ Tát. Ở trong một niệm,
có thể đắc được khắp Nhất thiết trí huệ ba đời,
biết được khắp tất cả Phật pháp ba đời, diễn nói
được khắp tất cả giáo nghĩa của chư Phật, chuyển
khắp cùng bánh xe pháp bất thối. Có thể ở trong
mỗi đời quá khứ, vị lai, hiện tại, khắp cùng
chứng được bồ đề giác đạo, ở trong bồ đề giác
đạo, thấu hiểu khắp tất cả pháp của chư Phật
nói.
Đây là môn pháp tướng của các Bồ
Tát. Là môn trí giác của các Bồ Tát. Là môn Nhất
thiết chủng trí vô thắng tràng. Là môn các hạnh
nguyện Phổ Hiền Bồ Tát. Là môn mãnh lợi thần
thông thệ nguyện. Là môn tất cả tổng trì biện
tài. Là môn các pháp ba đời khác biệt. Là môn
tất cả chư Phật thị hiện. Là môn dùng Tát bà nhạ
an lập tất cả chúng sinh. Là môn dùng thần lực
của Phật nghiêm tịnh tất cả thế giới.
Đây là mười thứ pháp môn của tất
cả đại Bồ Tát :
1. Là môn pháp tướng của các Bồ
Tát tu.
2. Là môn trí giác của các Bồ Tát
đắc được.
3. Là môn Nhất thiết chủng trí vô
thắng tràng.
4. Là môn các hạnh nguyện Phổ
Hiền Bồ Tát.
5. Là môn mãnh lợi thần thông thệ
nguyện.
6. Là môn tất cả tổng trì biện
tài.
7. Là môn các pháp ba đời khác
biệt.
8. Là môn tất cả chư Phật thị
hiện.
9. Là môn dùng Tát bà nhạ (Nhất
thiết trí) an lập tất cả chúng sinh.
10. Là môn dùng thần lực của Phật
nghiêm tịnh tất cả thế giới.
Nếu Bồ Tát vào tam muội này, thì
đắc được lực pháp giới không cùng tận. Đắc được
hạnh hư không, chẳng có chướng ngại. Đắc được
bậc Pháp Vương vô lượng tự tại. Ví như thế gian,
quán đảnh thọ chức. Đắc được vô biên trí, thông
đạt tất cả. Đắc được lực rộng lớn, mười thứ viên
mãn, thành tựu tâm không tranh, vào bờ mé tịch
diệt, đại bi không sợ hãi, giống như sư tử. Làm
bậc trượng phu trí huệ, thắp sáng đèn chánh
pháp. Tất cả công đức khen ngợi không hết được.
Thanh Văn Độc Giác, không thể nghĩ bàn. Đắc được
trí pháp giới, trụ bờ mé vô động, mà có thể tuỳ
tục khai diễn đủ thứ. Trụ nơi vô tướng, khéo vào
pháp tướng. Đắc được tự tánh thanh tịnh tạng,
sinh vào nhà Như Lai thanh tịnh. Khéo khai thị
đủ thứ pháp khác biệt, mà nhờ trí huệ thấu rõ
không chỗ có. Khéo biết thời, thường hành pháp
thí khai ngộ tất cả, gọi là bậc trí. Khắp nhiếp
chúng sinh, đều khiến cho thanh tịnh. Dùng trí
phương tiện, thị hiện thành Phật đạo, mà thường
tu hành hạnh Bồ Tát, không có dứt tận. Vào Nhất
thiết trí cảnh giới phương tiện, thị hiện đủ thứ
thần thông rộng lớn.
Nếu Bồ Tát vào mười thứ pháp môn
tam muội này, liền đắc được sức lực pháp giới
không cùng tận. Đắc được hạnh hư không, chẳng có
chướng ngại. Đắc được bậc Pháp Vương, chứng được
vô lượng tự tại. Ví như vương tử thế gian, khi
sắp lên làm vua thì, trước hết làm lễ quán đảnh,
đầu tiên ông vua dùng nước bốn biển đựng ở trong
bình vàng rưới lên đầu thái tử, sau đó thái tử
chính thức lên kế thừa ngôi vua. Thọ quán đảnh
rồi, mới tiếp thọ chức vụ, bắt đầu xử lý việc
nước. Đắc được vô biên trí huệ, chứng được vô
lượng biện tài, tất cả đều thông đạt vô ngại.
Đắc được thế lực rộng lớn, mười thứ sức lực đều
được viên mãn, sẽ thành tựu tâm vô tranh, do
đó :
« Tranh là tâm thắng phụ,
Trái ngược lại với đạo,
Bèn sinh ra bốn tướng,
Làm sao được tam muội »?
Không tranh luận là hoà bình. Tại
sao thế giới không hoà bình ? Vì do tranh. Tại
sao thế giới có phiền não ? Đều do tranh, khi
tranh thì có ta, người. Có ta, người rồi, thì có
thị phi. Có thị phi rồi, thì có phiền não. Càng
có phiền não thì càng muốn đấu tranh. Càng đấu
tranh thì càng phiền não, tự chuốc lấy cái khổ.
Hiện tại là thời kỳ đấu tranh
kiên cố, ai ai cũng đều muốn đấu tranh. Thậm chí
nhà này với nhà nọ đấu tranh. Nước này với nược
nọ đấu tranh. Nếu ai ai cũng đều không có tư
tưởng đấu tranh, thì thế giới sẽ hoà bình, thiên
hạ sẽ thái bình. Đến lúc đó, trời đất rất hoà
thiện, mưa thuận gió hoà. Thời đại Nghiêu Thuấn
ở Trung Quốc là như vậy đó, mưa hoà gió thuận,
quốc thái dân an. Vì Nghiêu Thuấn là hai vị đại
Thánh nhân, là ông vua hiền minh, đại công vô
tư, nơi nơi đều phục vụ cho nhân dân, cho nên
cảm động trời đất, mà phát sinh những hiện tượng
này. Nếu ai ai cũng đều tin Phật, nơi nơi đều vì
người, thì cảnh giới này sẽ xảy ra ở nhân gian,
chứ chẳng phải là vọng tưởng, mọi việc đều do
con người.
Chẳng có tâm tranh luận, thì sẽ
nhập vào bờ mé tịch diệt, do đó:
“Trong chẳng có thân tâm
Ngoài chẳng có thế giới”.
Hoặc là:
“Không ta không người quán tự tại
Chẳng không chẳng có thấy Như
Lai".
Đến được cảnh giới này, tức là bờ
mé tịch diệt. Có tâm đại bi rồi, thì chẳng có sự
sợ hãi. Thế nào là tâm đại bi ? Tức là ta người
đều một thể, thì chẳng còn tranh luận ta người
thị phi nữa. Thế nào là không sợ hãi ? Tức là gì
cũng không sợ, giống như sư tử, trở thành vua
trong loài thú. Trong Chứng Đạo Ca có nói :
« Sư tử hống, vô uý thuyết,
Bách thú văn chi giai não liệt,
Hương tượng bôn ba thất cước oai.
Thiên long tịch thính sinh hân
duyệt ».
Nghĩa là :
Sư tử hống, nói pháp không sợ hãi
Trăm thú nghe được đều kinh sợ
Đàn voi bỏ chạy mất oai nghi
Trời rồng nghe được sinh vui
mừng.
Bậc đại trượng phu trí huệ, thắp lên đèn sáng
chánh pháp. Chiếu rõ nguyên hình của thiên ma
ngoại đạo, mà hàng phục chúng. Tất cả công đức
của vị Bồ Tát này, khen ngợi không thể hết được.
Dù có dùng trí huệ của hàng nhị thừa Thanh Văn
và Duyên Giác, cũng không thể nghĩ được, cũng
không thể luận bàn được.
Vị Bồ Tát này đắc được trí huệ pháp giới, trụ
nơi cảnh giới như như bất động, rõ ràng sáng
suốt, mà có thể tuỳ theo đủ thứ pháp thế gian
khai diễn tất cả pháp môn. Trụ nơi cảnh giới vô
tướng, khéo vào tất cả các pháp thật tướng, đắc
được bảo tàng tự tánh thanh tịnh chẳng có ô
nhiễm. Sinh ở trong nhà Phật thanh tịnh, khéo
khai diễn đủ thứ pháp môn khác nhau, mà dùng trí
để thấu rõ tất cả các pháp, đều không chỗ có.
Khéo biết quán căn cơ chúng sinh, vì người nói
pháp, thường giảng kinh, bố thí pháp, khai đạo
tất cả chúng sinh, khiến cho họ tu hành, minh
bạch Phật pháp, đó gọi là bậc trí. Hay nhiếp thọ
khắp tất cả chúng sinh, đều khiến cho họ đắc
được thanh tịnh. Dùng trí huệ quyền xảo phương
tiện, thị hiện thành tựu Phật đạo Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Tuy nhiên thị hiện thành
Phật, nhưng vẫn chưa thành Phật quả, cho nên
thời khắc từ từ thường tu hạnh Bồ Tát đáng tu,
không có lúc nào dứt được, mới có thể chứng được
Nhất thiết trí huệ, chứng được cảnh giới phương
tiện thiện xảo; lại thị hiện đủ thứ thần thông
diệu dụng rộng lớn.
Cho
nên Phổ Hiền ! Nay ông nên phân biệt diễn nói
mười đại tam muội của tất cả Bồ Tát. Nay pháp
hội này thảy đều muốn nghe.
Phật lại nói : « Vì nhân duyên đó, này Phổ
Hiền ! Hiện tại ông nên phân môn biệt loại, diễn
nói kỹ càng đạo lý mười đại tam muội của tất cả
Bồ Tát đắc được. Hiện nay ở trong pháp hội Hoa
Nghiêm này, hết thảy Bồ Tát và chúng sinh, đều
hy vọng lắng nghe ông giảng pháp môn mười đại
tam muội của Bồ Tát tu ».
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Hiền theo chỉ thị của Như Lai,
nhìn Bồ Tát Phổ Nhãn và các chúng Bồ Tát, mà nói
rằng :
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền theo thánh chỉ của Phật,
quán sát Bồ Tát Phổ Nhãn và hết thảy chúng Bồ
Tát, mà nói ra nghĩa lý của mười đại tam muội
dưới đây.
THỨ NHẤT, TAM MUỘI PHỔ QUANG MINH
Phật
tử ! Thế nào là tam muội Phổ quang minh của đại
Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Thế nào gọi là tam muội phổ quang minh
của đại Bồ Tát tu hành ?
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này có mười pháp vô tận. Những
gì là mười ? Đó là : Chư Phật xuất hiện trí vô
tận. Chúng sinh biến hoá trí vô tận. Thế giới
như hình bóng trí vô tận. Vào sâu pháp giới trí
vô tận. Khéo nhiếp Bồ Tát trí vô tận. Bồ Tát bất
thối trí vô tận. Khéo quán tất cả pháp nghĩa trí
vô tận. Khéo trì tâm lực trí vô tận. Trụ tâm bồ
đề rộng lớn trí vô tận. Trụ tất cả Phật pháp
Nhất thiết trí nguyện lực trí vô tận.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát này tu
hành Bồ Tát hạnh, viên mãn lục độ vạn hạnh, tích
tập đủ thứ căn lành. Ngài có mười trí huệ vô
cùng vô tận. Những gì là mười ? Đó là :
1. Trí huệ của mười phương ba đời tất cả chư
Phật, xuất hiện ra đời vô cùng vô tận.
2. Bồ Tát giáo hoá chúng sinh, dùng trí huệ thần
thông biến hoá vô cùng vô tận.
3. Bồ Tát có trí huệ vô cùng vô tận, biết tất cả
thế giới hư vọng như hình bóng, chẳng chân thật.
4. Bồ Tát có trí huệ vô cùng vô tận, vào sâu
pháp giới.
5. Trí huệ vô cùng vô tận, khéo nhiếp hoá Bồ
Tát.
6. Bồ Tát có trí huệ vô cùng vô tận, bất thối
tâm bồ đề.
7. Bồ Tát có trí huệ vô cùng vô tận, khéo quán
sát nghĩa lý của tám muôn bốn ngàn pháp môn.
8. Bồ Tát có trí huệ vô cùng vô tận, khéo thọ
trì tất cả tâm lực.
9. Bồ Tát có trí huệ vô cùng vô tận, thường trụ
đại bồ đề tâm rộng lớn.
10. Bồ Tát có trí huệ vô cùng vô tận, trụ nơi
tất cả Phật pháp, Nhất thiết trí lực.
Phật
tử ! Đó gọi là mười pháp vô tận của đại Bồ Tát.
Các vị đệ tử của Phật ! Đó gọi là mười thứ pháp
môn vô cùng vô tận của đại Bồ Tát.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này phát mười thứ tâm vô biên.
Những gì là mười ? Đó là : Phát tâm vô biên độ
thoát tất cả chúng sinh. Phát tâm vô biên thừa
sự tất cả chư Phật. Phát tâm vô biên cúng dường
tất cả chư Phật. Phát tâm vô biên hiện khắp tất
cả chư Phật. Phát tâm vô biên thọ trì tất cả
Phật pháp không quên mất. Phát tâm vô biên thị
hiện vô lượng thần biến của tất cả chư Phật.
Phát tâm vô biên vì đắc được Phật lực, không bỏ
tất cả hạnh bồ đề. Phát tâm vô biên vào khắp
cảnh giới vi tế Nhất thiết trí, nói tất cả Phật
pháp. Phát tâm vô biên vào khắp cảnh giới rộng
lớn không nghĩ bàn của Phật. Phát tâm vô biên
nơi biện tài của Phật khởi chí ưa thích thâm
sâu, lãnh thọ các Phật pháp. Phát tâm vô biên
thị hiện đủ thứ thân tự tại, vào tất cả đạo
tràng chúng hội của Như Lai. Đó là mười.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát này, lại
phát mười thứ tâm bồ đề vô lượng vô biên. Những
gì là mười ? Đó là :
1. Phát tâm vô biên độ thoát tất cả chúng sinh.
2. Phát tâm vô biên thừa sự tất
cả chư Phật.
3. Phát tâm vô biên cúng dường
tất cả chư Phật.
4. Phát tâm vô biên hiện khắp tất
cả chư Phật.
5. Phát tâm vô biên thọ trì tất
cả Phật pháp không quên mất.
6. Phát tâm vô biên thị hiện vô
lượng thần biến của tất cả chư Phật.
7. Phát tâm vô biên vì đắc được
Phật lực, không bỏ tất cả hạnh bồ đề.
8. Phát tâm vô biên vào khắp cảnh
giới vi tế Nhất thiết trí, nói tất cả Phật pháp.
9. Phát tâm vô biên vào khắp cảnh
giới rộng lớn không nghĩ bàn của Phật.
10. Phát tâm vô biên nơi biện tài
của Phật khởi chí ưa thích thâm sâu, lãnh thọ
các Phật pháp.
11. Phát tâm vô biên thị hiện đủ
thứ thân tự tại, vào tất cả đạo tràng chúng hội
của Như Lai.
Đó là mười thứ tâm vô biên. Tuy
có mười một câu, nhưng là mười thứ tâm vô tận.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này có mười
thứ trí vào tam muội khác biệt. Những gì là
mười ? Đó là : Phương đông nhập định, phương tây
khởi. Phương tây nhập định, phương đông khởi.
Phương nam nhập định, phương bắc khởi. Phương
bắc nhập định, phương nam khởi. Phương đông bắc
nhập định, phương tây nam khởi. Phương tây nam
nhập định, phương đông bắc khởi. Phương tây bắc
nhập định, phương đông nam khởi. Phương đông nam
nhập định, phương tây bắc khởi. Phương dưới nhập
định, phương trên khởi. Phương trên nhập định,
phương dưới khởi. Đó là mười.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát này lại có mười thứ trí huệ vào tam muội
khác biệt. Những gì là mười ? Đó là :
1. Tại phương đông nhập định, từ
phương tây xuất định.
2. Tại phương tây nhập định, từ
phương đông xuất định.
3. Tại phương nam nhập định, từ
phương bắc xuất định.
4. Tại phương bắc nhập định, từ
phương nam xuất định.
5. Tại phương đông bắc nhập định,
từ phương tây nam xuất định.
6. Tại phương tây nam nhập định,
từ phương đông bắc xuất định.
7. Tại phương tây bắc nhập định,
từ phương đông nam xuất định.
8. Tại phương đông nam nhập định,
từ phương tây bắc xuất định.
9. Tại phương dưới nhập định, từ
phương trên xuất định.
10. Tại phương trên nhập định, từ
phương dưới xuất định.
Đó là mười thứ thần thông biến
hoá nhập định xuất định của đại Bồ Tát.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này có mười
thứ trí thiện xảo vào tam muội. Những gì là
mười ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát dùng ba ngàn
đại thiên thế giới làm một hoa sen. Hiện thân
ngồi kiết già khắp trên hoa sen này. Trong thân
lại hiện ba ngàn đại thiên thế giới, trong đó có
trăm ức tứ thiên hạ. Mỗi mỗi tứ thiên hạ, hiện
trăm ức thân. Mỗi mỗi thân, vào trăm ức trăm ức
ba ngàn đại thiên thế giới. Nơi thế giới đó, mỗi
mỗi tứ thiên hạ, hiện trăm ức trăm ức Bồ Tát tu
hành. Mỗi mỗi Bồ Tát tu hành, sinh trăm ức trăm
ức quyết định giải. Mỗi mỗi quyết định giải,
khiến cho trăm ức trăm ức căn tánh viên mãn. Mỗi
mỗi căn tánh, thành trăm ức trăm ức pháp nghiệp
bất thối của Bồ Tát. Những thân đã hiện đó,
chẳng phải một, chẳng phải nhiều, nhập định,
xuất định, không có lầm loạn.
Các vị Phật tử ! Vị đại Bồ Tát
này lại có mười thứ trí huệ thiện xảo vào đại
tam muội. Những gì là mười ? Các vị đệ tử của
Phật ! Các vị phải chú ý nghe, vị đại Bồ Tát này
tu hành Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh,
tích tụ đủ thứ căn lành.
1. Dùng ba ngàn đại thiên thế
giới làm một đoá hoa sen lớn.
2. Hiện thân ngồi kiết già khắp
trên hoa sen lớn này.
3. Tại thân tướng của Bồ Tát lại
hiện ra ba ngàn đại thiên thế giới.
4. Trong đó có trăm ức tứ thiên
hạ (bốn đại châu).
5. Mỗi tứ thiên hạ, hiện ra trăm
ức thân.
6. Mỗi mỗi thân, vào trăm ức trăm
ức ba ngàn đại thiên thế giới.
7. Ở trong những thế giới đó, mỗi
tứ thiên hạ, hiện ra trăm ức trăm ức Bồ Tát đang
ở đó tu hành.
8. Mỗi vị Bồ Tát tu hành, sinh ra
trăm ức trăm ức quyết định trí huệ giải.
9. Mỗi quyết định trí huệ giải,
khiến cho trăm ức trăm ức căn tánh viên mãn, mà
thành Phật đạo.
10. Mỗi căn tánh, thành tựu trăm
ức trăm ức pháp nghiệp bất thối của Bồ Tát.
Bồ Tát hiện những thân đó, cũng
chẳng phải một, cũng chẳng phải nhiều, cũng là
một, cũng là nhiều, một nhiều viên dung vô ngại.
Hoặc người nhập định, hoặc xuất định, không có
lầm loạn nhau, đều có thứ tự.
Phật tử ! Như La Hầu A Tu La
Vương, bổn thân cao bảy trăm do tuần. Hoá thân
cao đến mười sáu vạn tám ngàn do tuần, đứng ở
trong biển lộ nửa thân, cao ngang bằng núi Tu
Di.
Phật tử ! A Tu La Vương đó, tuy
hoá thân như thế, cao mười sáu vạn tám ngàn do
tuần, mà cũng không hoại tướng bổn thân. Các uẩn
giới xứ đều như cũ, tâm chẳng lầm loạn. Nơi thân
biến hoá không nghĩ là thân người khác, cũng
không nghĩ bổn thân đó chẳng phải thân mình. Vốn
thọ sinh thân, luôn thọ các sự an vui. Hoá thân
thường hiện đủ thứ tự tại thần thông oai lực.
Các vị đệ tử ! Ví như La Hầu A Tu
La Vương, bổn thân cao bảy trăm do tuần (tiểu do
tuần là bốn mươi dặm, trung do tuần là sáu mươi
dặm, đại do tuần là tám mươi dặm), biến hoá thân
hình cao mười sáu vạn tám ngàn do tuần, đứng ở
trong biển mới tới nửa thân, cao ngang bằng núi
Tu Di.
Các vị Phật tử ! Biến hoá thân
của La Hầu A Tu La Vương, tuy cao mười sáu vạn
tám ngàn do tuần, nhưng cũng không thể hư hoại
thân cũ. Năm uẩn, mười tám giới, mười hai xứ,
đều giống như thân cũ. Tâm cũng không lầm loạn,
không thể vì có sự biến hoá thân, mà nghĩ tưởng
là người khác. A Tu La Vương cũng không đối với
bổn thân, nghĩ chẳng phải là thân mình, A Tu La
Vương chẳng có tư tưởng điên đảo như thế. Vốn
thọ sinh thân, thường thọ tất cả các an vui.
Thân biến hoá luôn hiện ra đủ thứ tự tại, đủ thứ
thần thông, đủ thứ oai lực, đều là cảnh giới
không thể nghĩ bàn.
Phật tử ! A Tu La Vương có tham
sân si, đầy đủ kiêu mạn, mà còn biến hiện được
thân như vậy. Hà huống đại Bồ Tát thấu đạt được
tâm pháp như huyễn. Tất cả thế gian thảy đều như
mộng. Tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, đều như
hình bóng. Tất cả thế giới như biến hoá. Lời lẽ
âm thanh thảy đều như vang. Thấy pháp như thật,
dùng pháp như thật mà làm thân mình. Biết tất cả
pháp tánh vốn thanh tịnh, biết rõ thân tâm chẳng
có thật thể, thân này trụ khắp vô lượng thế
giới. Dùng trí huệ quang minh rộng lớn của Phật,
tịnh tu tất cả hạnh Bồ Tát.
Các vị đệ tử của Phật ! La Hầu A
Tu La Vương vẫn còn tâm tham, sân, si. Lại đầy
đủ tâm kiêu ngạo ngã mạn (A Tu La Vương tuy tu
hành, nhưng thiện ác lẫn lộn, có thiện có ác,
công đức đều có một nửa, cho nên làm A Tu La
Vương), mà còn biến hoá được thân như vậy, hà
huống là đại Bồ Tát, tu hành lục độ vạn hạnh,
lại chẳng còn tham sân si, lại thấu đạt thâm sâu
tất cả tâm và tất cả pháp, đều như huyễn như
hoá. Không những hết thảy tất cả vinh hoa phú
quý, danh văn lợi dưỡng của thế gian, đều giống
như mộng, mà tất cả chư Phật xuất hiện ra đời,
cũng đều như hình như bóng. Tất cả thế giới
giống như biến hoá ra. Tất cả lời lẽ âm thanh
biểu đạt, đều như vang. Bồ Tát thấy được pháp
chân thật, dùng pháp chân thật để làm pháp thân
của mình. Biết tất cả pháp tánh vốn đều là thanh
tịnh, thấu hiểu được thân tâm chẳng có thể tánh
chân thật, chỉ là đất nước gió lửa bốn đại giả
hoà hợp mà thành. Thân thể này, trụ ở khắp trong
vô lượng cảnh giới. Dùng trí huệ của Phật phóng
ra quang minh rộng lớn, chuyên tâm thanh tịnh tu
hành tất cả hạnh bồ đề.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, vượt qua thế gian, xa lìa thế gian, không
có mê loạn, không ai che lấp được.
Phật tử ! Ví như Tỳ Kheo quán sát
trong thân, trụ nơi quán bất tịnh, quán thấy
thân mình đều là bất tịnh. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, trụ tam muội này, quán sát pháp thân,
thấy các thế gian, vào khắp thân mình. Thấy rõ
trong thân, tất cả thế gian và pháp thế gian.
Nơi các thế gian và pháp thế gian, đều không
chấp trước.
Các vị Phật tử ! Vị đại Bồ Tát
này trụ tại đại tam muội Phổ quang minh, vượt
qua tất cả pháp thế gian, xa lìa tất cả pháp thế
gian. Chẳng có thiên ma ngoại đạo đến mê hoặc
Ngài, nhiễu loạn Ngài. Chẳng có quang minh khác
vượt hơn quang minh này của Ngài, che lấp được
quang minh này.
Các vị đệ tử của Phật ! Ví như Tỳ
Kheo, quán trong thân của mình, chín lỗ thường
chảy ra đồ bất tịnh, trụ nơi quán bất tịnh. Ngài
thấy rõ ngũ tạng lục phủ bên trong thân thể, đều
là vật bất tịnh. Đại Bồ Tát cũng như thế, khi
trụ ở trong tam muội này, quán sát pháp thân của
mình, nhìn thấy hết thảy tất cả thế gian, đều
vào khắp trong thân của mình. Thanh tịnh rõ ràng
nhìn thấy tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế
gian. Đối với hết thảy pháp thế gian và hết thảy
pháp xuất thế gian, đều chẳng chấp trước. Tại
sao ? Vì thân cũng không, tâm cũng không, thế
gian cũng không, cho nên chẳng chấp trước tất
cả.
Phật tử ! Đó là trí thiện xảo đại
tam muội Phổ quang minh thứ nhất của đại Bồ Tát.
Các vị Phật tử ! Đó tức là trí
huệ thiện xảo đại tam muội Phổ quang minh thứ
nhất của đại Bồ Tát tu.
THỨ HAI, TAM MUỘI DIỆU QUANG MINH
Phật tử ! Thế nào là tam muội
Diệu quang minh của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào gọi là tam muội
Diệu quang minh của đại Bồ Tát tu hành ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát này, có thể
vào ba ngàn đại thiên thế giới, nhiều như số hạt
bụi của ba ngàn đại thiên thế giới. Nơi mỗi mỗi
thế giới, hiện ra số thân nhiều như số hạt bụi
ba ngàn đại thiên thế giới. Mỗi mỗi thân, phóng
ra quang minh nhiều như số hạt bụi ba ngàn đại
thiên thế giới. Mỗi mỗi quang minh, hiện ra màu
sắc nhiều như số hạt bụi ba ngàn đại thiên thế
giới. Mỗi mỗi màu sắc, chiếu thế giới nhiều như
số hạt bụi ba ngàn đại thiên thế giới. Trong mỗi
mỗi thế giới, điều phục chúng sinh nhiều như số
hạt bụi ba ngàn đại thiên thế giới. Các thế giới
đó đủ thứ sự khác nhau, Bồ Tát đều biết. Đó là :
Thế giới tạp nhiễm, thế giới thanh tịnh, thế
giới sở nhân, thế giới kiến lập, thế giới đồng
trụ, thế giới quang sắc, thế giới lai vãng. Tất
cả như vậy, Bồ Tát đều biết, Bồ Tát đều vào. Các
thế giới đó, cũng đều đến nhập vào thân của Bồ
Tát, mà các thế giới chẳng có tạp loạn, đủ thứ
các pháp cũng không hoại diệt.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát này tu hành Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn
hạnh, tích tập đủ thứ căn lành. Ngài có thể vào
ba ngàn đại thiên thế giới, nhiều như số hạt cụi
của ba ngàn đại thiên thế giới. Ở trong mỗi thế
giới, lại hiện ra số thân nhiều như số hạt bụi
ba ngàn đại thiên thế giới. Ở trong mỗi thân,
lại phóng ra quang minh nhiều như số hạt bụi ba
ngàn đại thiên thế giới. Ở trong mỗi quang minh,
lại hiện ra màu sắc nhiều như số hạt bụi ba ngàn
đại thiên thế giới. Ở trong mỗi màu sắc, lại
chiếu sáng thế giới nhiều như số hạt bụi ba ngàn
đại thiên thế giới. Ở trong mỗi thế giới, lại
điều phục chúng sinh nhiều như số hạt bụi ba
ngàn đại thiên thế giới.
Hết thảy các thế giới đó có đủ
thứ hình tướng khác nhau, Bồ Tát hoàn toàn biết
được. Đó là : Thế giới tạp nhiễm, thế giới thanh
tịnh, nhân duyên thế giới thành tựu, thế giới
kiến lập như thế nào, thế giới đồng trụ ra sao,
thế giới có quang gì, thế giới có sắc gì, thế
giới đến như thế nào, thế giới đi như thế nào.
Tất cả những tình hình vi tế như vậy, Bồ Tát
hoàn toàn đều biết được, Bồ Tát hoàn toàn đều
vào được. Hết thảy thế giới đó, cũng đều đến
nhập vào trong thân của Bồ Tát, tuy nhiên hết
thảy thế giới đều đến nhập vào thân Bồ Tát, mà
các thế giới chẳng có tạp loạn, đủ thứ các pháp
cũng không hoại diệt.
Phật tử ! Ví như mặt trời mọc
lên, trước tiên chiếu núi Tu Di, sau chiếu núi
bảy báu. Ở giữa núi bảy báu và núi báu, đều có
hình ảnh ánh sáng, hiển hiện rõ ràng. Những hình
ảnh mặt trời ở trên núi báu đó, đều hiển hiện ở
trong hình ảnh giữa núi. Những hình ảnh mặt trời
ở giữa núi bảy báu đó, cũng đều hiển hiện trong
hình ảnh ở trên núi. Cứ hiện hình bóng với nhau
như vậy. Hoặc nói hình ảnh mặt trời xuất hiện
núi bảy báu. Hoặc nói hình ảnh mặt trời xuất
hiện giữa núi bảy báu. Hoặc nói hình ảnh mặt
trời nhập vào núi bảy báu. Hoặc nói hình ảnh mặt
trời nhập vào giữa núi bảy báu. Nhưng hình ảnh
mặt trời này chiếu hiện với nhau, chẳng có bờ
mé. Thể tánh chẳng có, cũng lại chẳng không.
Chẳng trụ ở núi, chẳng lìa khỏi núi, chẳng trụ ở
nước, cũng chẳng lìa khỏi nước.
Các vị đệ tử của Phật ! Ví như
lúc mặt trời vừa mới mọc lên, trước hết chiếu
núi Tu Di, sau đó chiếu núi bảy báu. Tại núi bảy
báu này và ở giữa núi báu, đều có ánh sáng mặt
trời và hình ảnh mặt trời, hiển hiện ra rõ ràng.
Những hình ảnh ở trên mỗi núi báu, đều hiển hiện
rõ trong hình ảnh ở giữa núi. Những hình ảnh ở
giữa núi bảy báu, cũng hiển hiện rõ ở trong hình
ảnh ở trên núi, cứ hiển hiện với nhau như vậy,
tức cũng là hình ảnh này chiếu hình ảnh kia,
hình ảnh kia chiếu hình ảnh này.
Hoặc nói hình ảnh mặt trời xuất
hiện ở trên núi bảy báu. Hoặc nói hình ảnh mặt
trời xuất hiện ở giữa núi bảy báu. Hoặc nói hình
ảnh mặt trời nhập vào trên núi bảy báu. Hoặc nói
hình ảnh mặt trời nhập vào ở giữa núi bảy báu.
Nhưng đó là hình ảnh mặt trời, chiếu hiện với
nhau, chẳng có bờ mé.
Hình ảnh mặt trời chẳng có thể
tánh, cũng chẳng phải chẳng có thể tánh. Hình
ảnh mặt trời này, chẳng trụ ở trên núi, cũng
chẳng lìa khỏi núi. Chẳng trụ ở trong nước, cũng
chẳng lìa khỏi nước.
Phật tử ! Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, trụ ở tam muội Diệu quang rộng lớn này,
chẳng hoại tướng an lập của thế gian, chẳng diệt
tự tánh các pháp của thế gian. Chẳng trụ ở trong
thế giới, chẳng trụ ở ngoài thế giới. Nơi các
thế giới chẳng có sự phân biệt, cũng chẳng hoại
tướng của thế giới. Quán tất cả pháp một tướng
vô tướng, cũng chẳng hoại tự tánh của các pháp,
trụ tánh chân thật, luôn không xả lìa.
Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ
Tát tu hành tam muội Diệu quang rộng lớn cũng
như thế. Giống như hình ảnh mặt trời của núi bảy
báu, chiếu sáng với nhau, cũng có thể nói là có,
cũng có thể nói là không có. Cũng có thể nói nó
là thật, cũng có thể nói nó là giả. Bồ Tát an
trụ ở trong tam muội diệu quang rộng lớn này,
không phá hoại tướng an lập của thế gian - tức
cũng là tướng pháp thế gian an lập lên như thế
nào. Thật tánh của tất cả các pháp, cũng chẳng
phải là không có. Chẳng trụ ở trong thế gian,
chẳng trụ ở ngoài thế gian. Đối với tất cả thế
giới, chẳng có gì phân biệt. Cũng chẳng phá hoại
tướng của thế giới, quán sát tất cả các pháp là
một tướng, cũng là vô tướng. Cũng chẳng hoại tự
tánh của tất cả các pháp, trụ nơi chân như tự
tánh, chẳng có xả bỏ, vĩnh viễn chẳng lìa khỏi.
Phật tử ! Ví như huyễn sư, khéo
biết huyễn thuật. Ở nơi ngã tư đường làm các
việc huyễn như : Khoảng một sát na trong một
ngày, hoặc hiện một ngày, hoặc hiện một đêm,
hoặc lại hiện làm bảy ngày bảy đêm, nửa tháng
một tháng, một năm trăm năm. Tuỳ theo ý muốn của
nhà huyễn thuật, đều thị hiện được. Thành ấp tụ
lạc, suối chảy hồ biển, mặt trời mặt trăng mây
mưa, cung điện phòng ốc, tất cả như vậy, đều đầy
đủ. Chẳng vì thị hiện trải qua năm tuổi, mà hoại
mất căn bổn một ngày một thời, chẳng vì bổn thời
rất ngắn ngủi, mà hoại sở hiện ngày tháng năm
tuổi. Tướng huyễn hiện rõ, nhưng ngày vốn có
chẳng diệt.
Các vị đệ tử của Phật ! Ví như
nhà huyễn thuật, có thể tự có hoá không, tự
không hoá có, tự không huyễn thật, tự thật huyễn
không. Ông ta khéo biến hoá ra đủ thứ cảnh giới.
Ông ta khéo biết đủ thứ pháp thuật huyễn hoá.
Ông ta ở tại ngã tư đường, biểu diễn đủ thứ pháp
thuật : Trong khoảng thời gian rất ngắn trong
một ngày, hoặc hiện thời gian một ngày dài, hoặc
hiện thời gian một đêm dài, hoặc hiện thời gian
bảy ngày bảy đêm, hoặc hiện thời gian nửa tháng
một tháng, hoặc hiện một năm, hoặc hiện trăm
năm, tuỳ theo ý mình muốn thế nào thì làm như
thế đó. Bất cứ hình tướng gì, cũng đều có thể
biến hoá ra. Hoặc thị hiện thành lớp ấp nhỏ,
hoặc thị hiện thôn xóm tụ lạc, hoặc thị hiện
suối chảy sông biển, hoặc thị hiện mặt trời mặt
trăng mây mưa, hoặc thị hiện cung điện phòng ốc,
tất cả sự vật như vậy, đều có thể thị hiện ra
đầy đủ.
Nhưng không thể vì ông ta thị
hiện pháp huyễn thuật, trải qua một năm thời
gian, mà bổn lai một ngày một giờ phá hoại. Cũng
chẳng vì thời gian một giờ rất ngắn ngủi, mà
ngày tháng năm tuổi sở hiện phá hoại. Huyễn
tướng của huyễn thuật hiện ra, tuy nhiên hiện ra
rất rõ ràng, nhưng một ngày một thời vốn có
không bị tiêu diệt.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vào
tam muội diệu quang rộng lớn, hiện ra A tăng kỳ
thế giới, vào trong một thế giới. A tăng kỳ thế
giới đó, mỗi mỗi đều có đất nước gió lửa, có
biển cả các núi, thành ấp tụ lạc, vườn rừng nhà
cửa, Thiên cung, long cung, Dạ xoa cung, Càn
thát bà cung, A tu la cung, Ca lâu la cung, Khẩn
na la cung, Ma hầu la già cung, đủ thứ sự trang
nghiêm, thảy đều đầy đủ.
Có cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc,
tiểu thiên thế giới, đại thiên thế giới, nghiệp
hành quả báo, chết đây sinh kia, hết thảy thời
tiết của tất cả thế gian, khoảnh khắc ngày đêm,
nửa tháng một tháng, một năm trăm năm, kiếp
thành kiếp hoại, cõi nước tạp nhiễm, cõi nước
thanh tịnh, cõi nước rộng lớn, cõi nước hẹp nhỏ,
ở trong các cõi đó, đều có chư Phật xuất hiện ra
đời. Cõi Phật thanh tịnh, có Bồ Tát chúng hội
vây khắp chung quanh, thần thông tự tại, giáo
hoá chúng sinh.
Các cõi nước đó ở tại phương chốn
nào, đều có vô lượng chúng người thảy đều đầy
dẫy. Hình thù dị thú đủ thứ chúng sinh, vô lượng
vô biên không thể nghĩ bàn. Do nghiệp lực thanh
tịnh quá khứ vị lai hiện tại, mà sinh ra vô
lượng châu báu tốt đẹp, những sự việc như vậy,
thảy đều thị hiện vào một thế giới.
Đủ thứ cảnh giới của vị đại Bồ
Tát này thị hiện, giống như nhà huyễn thuật đó.
Ngài vào tam muội diệu quang rộng lớn rồi, có
thể hiện ra A tăng kỳ thế giới, mà vào trong một
thế giới. Mỗi thế giới trong số A tăng kỳ thế
giới đó, đều có đất nước gió lửa, lại có biển cả
và các núi, thành ấp và tụ lạc, vườn rừng và nhà
cửa, lại có cung điện trên trời, cung điện của
long vương, cung điện của Dạ xoa, cung điện của
Càn thát bà, cung điện của A tu la, cung điện
của Ca lâu la, cung điện của Khẩn na la, cung
điện của Ma hầu la già, có đủ thứ sự trang
nghiêm, thảy đều viên mãn đầy đủ. Hoặc cõi dục,
cõi sắc, cõi vô sắc, tiểu thiên thế giới, đại
thiên thế giới, nghiệp tạo ra, thọ quả báo, có
cảnh giới chết đây sinh kia, hết thảy thời tiết
nhân duyên của tất cả thế gian, trong thời gian
khoảnh khắc thì trải qua một ngày một đêm, hoặc
nửa tháng một tháng, hoặc một năm trăm năm, hoặc
kiếp thành kiếp hoại, hoặc cõi nước tạp nhiễm,
hoặc cõi nước thanh tịnh, hoặc cõi nước rộng
lớn, hoặc cõi nước hẹp nhỏ, ở trong mỗi cõi
nước, đều có chư Phật xuất hiện ra đời, cõi Phật
thanh tịnh, có Bồ Tát chúng hội vây khắp chung
quanh, dùng sức thần thông tự tại, giáo hoá
chúng sinh.
Hết thảy tất cả các cõi nước đó,
bất cứ ở tại địa phương nào ? Xứ sở nào ? Đều có
vô lượng vô biên thính chúng, thảy đều đầy dẫy
trong cõi nước. Hoặc thân hình khác nhau, hoặc
có các cõi khác nhau, đủ thứ chúng sinh khác
nhau, có vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Do
nghiệp lực thanh tịnh trong quá khứ, vị lai,
hiện tại, ba đời tạo ra, nên sinh ra vô lượng vô
biên châu báu tốt đẹp, đủ thứ những sự việc như
vậy, thảy đều thị hiện vào một thế giới.
Bồ Tát ở đây đều thấy rõ khắp,
vào khắp, quán khắp, nghĩ khắp, biết khắp. Dùng
vô tận trí, đều biết như thật. Chẳng vì các thế
giới kia nhiều, mà hư hoại một thế giới này.
Chẳng vì một thế giới này, mà hư hoại nhiều thế
giới kia. Tại sao ? Vì Bồ Tát biết tất cả pháp
đều vô ngã, đó gọi là người vào pháp không mạng
pháp không làm. Vì Bồ Tát ở nơi tất cả thế gian,
siêng tu hành pháp không tranh, đó gọi là người
trụ pháp vô ngã. Vì Bồ Tát thấy tất cả thân như
thật, đều từ duyên khởi, đó gọi là người trụ
pháp không chúng sinh. Vì Bồ Tát biết tất cả
pháp sinh diệt đều từ nhân sinh ra, đó gọi là
người trụ nơi pháp Vô bổ già la. Vì Bồ Tát biết
các pháp bổn tánh bình đẳng, đó gọi là người trụ
pháp Vô ý sinh vô ma nạp bà. Vì Bồ Tát biết tất
cả pháp bổn tánh tịch tĩnh, đó gọi là người trụ
pháp tịch tĩnh. Vì Bồ Tát biết tất cả pháp một
tướng, đó gọi là người trụ pháp không phân biệt.
Vì Bồ Tát biết pháp giới không có đủ thứ pháp
khác biệt, đó gọi là người trụ pháp không nghĩ
bàn. Vì Bồ Tát siêng tu tất cả phương tiện, khéo
điều phục chúng sinh, đó gọi là người trụ pháp
đại bi.
Bồ Tát đối với đủ thứ cảnh giới
đã nói ở trước, đều viên mãn khắp mà thấy rõ, có
thể tiến vào khắp, quán sát khắp, tư duy khắp,
thấu rõ khắp, dùng vô tận trí huệ, đều biết như
thật. Bồ Tát chẳng vì các thế giới kia nhiều, mà
làm hư hoại một thế giới này. Cũng chẳng vì một
thế giới này, mà làm hư hoại nhiều thế giới kia.
Tại sao ? Vì Bồ Tát biết tất cả pháp đều vô ngã,
đó gọi là người vào pháp không mạng pháp không
làm. Vì Bồ Tát ở nơi tất cả thế gian, siêng tu
hành pháp không tranh luận, đó gọi là người trụ
pháp vô ngã. Vì Bồ Tát thấy tất cả thân như
thật, đều từ duyên khởi, do đó : « Nhân duyên
hoà hợp mà khởi, nhân duyên phân ly mà diệt, cho
nên là duyên khởi », đó gọi là người trụ pháp
không chúng sinh. Vì Bồ Tát biết tất cả pháp
sinh diệt, đều từ nhân sinh ra, đó gọi là người
trụ nơi pháp vô bổ già la (số thủ thú). Vì Bồ
Tát biết các pháp bổn tánh đều là bình đẳng, đó
gọi là người trụ pháp vô ý sinh vô ma nạp bà
(nho đồng). Vì Bồ Tát biết tất cả pháp bổn tánh
đều là tịch tĩnh, đó gọi là người trụ pháp tịch
tĩnh. Vì Bồ Tát biết tất cả pháp đều là một
tướng, đó gọi là người trụ pháp không phân biệt.
Vì Bồ Tát biết pháp giới không có đủ thứ pháp
khác biệt, đó gọi là người trụ pháp không nghĩ
bàn. Vì Bồ Tát siêng tu tất cả phương tiện, khéo
điều phục chúng sinh, đó gọi là người trụ pháp
đại bi.
Phật tử ! Như vậy Bồ Tát có thể
dùng A tăng kỳ thế giới vào một thế giới. Biết
vô số chúng sinh đủ thứ sự khác biệt. Thấy vô số
Bồ Tát đều phát bồ đề tâm. Quán vô số chư Phật
nơi nơi đều xuất hiện ra đời. Các Như Lai đó
diễn nói pháp, các Bồ Tát đó đều lãnh thọ. Cũng
thấy thân mình ở trong đó tu hành, mà không bỏ
chỗ đây mà thấy nơi kia. Cũng chẳng bỏ chỗ kia
mà thấy nơi đây. Thân kia thân đây không có sự
khác biệt. Vì vào pháp giới, thường siêng quán
sát, không có ngừng nghỉ, vì không bỏ trí huệ
không thối chuyển.
Các vị đệ tử của Phật ! Như vậy
Bồ Tát có thể dùng A tăng kỳ thế giới mà vào một
thế giới. Biết vô số vô lượng chúng sinh, có đủ
thứ sự khác biệt. Lại thấy vô số vô biên Bồ Tát
đều phát bồ đề tâm, hướng về quả vị bồ đề. Lại
quán vô số vô lượng chư Phật, tại hết thảy cõi
nước đều xuất hiện ra đời. Hết thảy chư Phật,
diễn nói Phật pháp, hết thảy Bồ Tát gần gũi chư
Phật, đều lãnh thọ được. Bồ Tát tu thập định,
cũng thấy thân mình ở chỗ mười phương chư Phật,
siêng năng tu hành, mà Bồ Tát không lìa khỏi chỗ
ở, mà đi đến nơi khác. Tuy nhiên tại chỗ kia có
Bồ Tát đang tu hành, nhưng đó là hoá thân của Bồ
Tát. Ngài cũng chẳng xả bỏ thế giới khác, mà trở
về thế giới đang ở. Thân Ngài ở tại cõi nước
khác và thân Ngài đang ở cõi nước này, chẳng có
gì phân biệt. Vì Bồ Tát có pháp thân, cho nên
vào được pháp giới. Bồ Tát thường siêng quán sát
cảnh giới này, không có lúc nào ngừng nghỉ, cũng
chẳng xả bỏ trí huệ, lúc nào cũng tu hành, tinh
tấn hướng về trước, không có lúc nào thối
chuyển.
Như có nhà huyễn thuật, ở tại một
nơi làm các huyễn thuật. Chẳng vì dùng huyễn
địa, mà hoại nơi bổn địa. Chẳng vì dùng huyễn
nhật, mà hoại bổn nhật.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, nơi
không có cõi nước, mà hiện có cõi nước. Nơi có
cõi nước, mà hiện không có cõi nước. Nơi có
chúng sinh, mà hiện không có chúng sinh. Nơi
không có chúng sinh, mà hiện có chúng sinh.
Không có sắc mà hiện có sắc. Có sắc mà hiện
không có sắc. Trước chẳng loạn sau, sau chẳng
loạn trước.
Bồ Tát biết rõ tất cả pháp thế
gian, cũng đều như vậy, giống như huyễn hoá. Vì
biết pháp huyễn nên biết trí huyễn, biết trí
huyễn nên biết nghiệp huyễn. Biết trí huyễn,
nghiệp huyễn rồi, khởi lên huyễn trí, quán tất
cả nghiệp. Như thế giới huyễn, chẳng phải ở bên
ngoài xứ mà hiện huyễn, cũng chẳng phải bên
ngoài huyễn mà có bổn xứ. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, chẳng ở ngoài hư không mà vào thế gian,
cũng chẳng phải ở ngoài thế gian mà vào hư
không.
Giống như nhà huyễn thuật, ở tại
một địa phương, mà làm đủ thứ việc huyễn thuật.
Chẳng phải vì tại địa phương này làm huyễn
thuật, mà phá hoại địa phương này. Chẳng phải vì
Ngài ở tại ngày này làm huyễn thuật, mà làm biến
hoại ngày này.
Đại Bồ Tát cũng như thế, có thể ở
nơi không có cõi nước, mà hiện ra có cõi nước.
Lại có thể ở nơi có cõi nước, mà hiện ra không
có cõi nước, có, không đều tuỳ ý biến hoá ra.
Lại có thể ở trong cõi nước có chúng sinh, mà
hiện ra không có chúng sinh. Lại có thể ở trong
cõi nước không có chúng sinh, mà hiện ra có
chúng sinh. Tại nơi không có nhan sắc, mà hiện
ra có nhan sắc. Tại nơi có nhan sắc, mà hiện ra
không có nhan sắc. Song, trước chẳng loạn sau,
sau cũng chẳng loạn trước.
Bồ Tát biết rõ tất cả pháp thế
gian hoàn toàn là như thế, giống như huyễn hoá.
Vì biết pháp là huyễn hoá không thật, cho nên
biết trí huệ cũng là huyễn hoá. Vì biết trí huệ
là hư huyễn không thật, cho nên biết nghiệp là
vọng huyễn. Biết trí là hư huyễn, nghiệp là hư
huyễn rồi, lại sinh khởi một thứ trí huệ hư
huyễn, để quán sát tất cả nghiệp quả.
Giống như thế giới huyễn hoá, ở
trong cảnh giới này biết là hư vọng, chẳng phải
ở bên ngoài cảnh giới, mà hiện ra hư huyễn; cũng
chẳng phải ở bên ngoài hư huyễn, lại có bổn xứ
Đại Bồ Tát cũng lại như thế,
chẳng phải ở ngoài hư không, mà tìm thế gian;
cũng chẳng phải ở ngoài thế gian, mà tìm hư
không. Hư không và thế gian vốn là một thể.
Tại sao ? Vì hư không thế gian
chẳng có sự khác biệt. Ở tại thế gian, cũng ở
tại hư không. Đại Bồ Tát trụ ở trong hư không,
thấy được, tu được đủ thứ nghiệp diệu trang
nghiêp khác biệt của tất cả thế gian.
Trong khoảng một niệm, đều biết
rõ vô số thế giới, hoặc thành, hoặc hoại. Cũng
biết các kiếp liên tục thứ lớp. Có thể ở trong
một niệm hiện vô số kiếp, cũng chẳng khiến cho
một niệm đó rộng lớn. Đại Bồ Tát đắc được giải
thoát huyễn trí không nghĩ bàn, đến bờ bên kia.
Trụ nơi huyễn tế, vào thế giới huyễn số. Suy gẫm
các pháp thảy đều như huyễn, chẳng trái với
huyễn thế. Tận nơi huyễn trí, biết rõ ba đời với
huyễn không khác. Quyết định thông đạt, tâm
không bờ mé. Như các Như Lai trụ nơi trí như
huyễn, tâm các Ngài bình đẳng. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, biết các thế gian thảy đều như
huyễn. Ở tại tất cả mọi nơi, đều không chấp
trước, không có cái gì là của ta.
Tại sao ? Vì hư không và thế gian
là một thể, chẳng có sự phân biệt. Ngoài hư
không chẳng có thế giới. Ngoài thế giới chẳng có
hư không, tức hư không tức thế giới. Cho nên, ở
tại thế gian, tức cũng là ở tại hư không. Đại Bồ
Tát trụ ở trong hư không, thấy được hư không tức
thế gian, thế gian tức hư không. Lại tu hành đủ
thứ nghiệp diệu trang nghiêm khác nhau của tất
cả thế gian, tức cũng là tại thế gian mà tu pháp
xuất thế gian.
Bồ Tát ở trong một niệm, biết rõ
vạn sự ở trong vũ trụ. Lại hiểu biết rõ vô số
thế giới, hoặc là thành, hoặc là hoại. Cũng biết
tướng kiếp này và kiếp kia thứ lớp liên tục. Ở
trong một niệm hiện ra, hiện ra vô lượng vô số
kiếp, cũng không làm cho thời gian một niệm rộng
lớn dài thêm.
Đại Bồ Tát đắc được trí huệ giải
thoát như huyễn không thể nghĩ bàn, đạt được
cảnh giới bờ bên kia. Trụ ở trong huyễn hoá, vào
trong huyễn số thế giới. Suy gẫm tất cả các
pháp, thảy đều như huyễn, không chấp trước. Tuy
là hư vọng, nhưng cũng không trái với pháp thế
gian hư huyễn, mà trí huệ hư vọng chẳng còn nữa.
Phải biết rõ ba đời và huyễn hoá chẳng có sự
phân biệt, quyết định thông đạt, tâm chẳng có bờ
mé. Giống như tất cả chư Phật, trụ ở trong trí
huệ hư vọng, tâm của các Ngài bình đẳng.
Đại Bồ Tát cũng như thế, tất cả
đều không chấp trước, biết tất cả thế gian đều
là hư vọng, đều là huyễn hoá. Ở tại tất cả mọi
nơi, đều không chấp trước, cũng chẳng có cái ta,
cũng chẳng có cái gì là của ta.
Như nhà huyễn thuật đó, làm các
việc huyễn. Tuy chẳng trụ với việc huyễn đó, mà
nơi việc huyễn cũng không mê hoặc. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, biết tất cả pháp đến nơi bờ
kia. Tâm chẳng cho rằng ta vào được nơi pháp,
cũng chẳng ở nơi pháp mà có sự lầm loạn.
Giống như nhà huyễn thuật đó, ông
ta có thể làm tất cả việc huyễn du hí. Tuy chẳng
trụ với việc huyễn đó, mà biết tất cả việc huyễn
đều là hư huyễn, chẳng bị việc huyễn mê hoặc.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, biết tất cả các
pháp, đạt đến rốt ráo bờ bên kia, trong tâm
chẳng cho rằng ta vào được pháp rốt ráo, cũng
chẳng nhận thức đối với pháp chẳng rõ ràng, cũng
không có sự điên đảo làm lầm loạn.
Đó là đại tam muội Diệu quang
minh thiện xảo trí thứ hai của đại Bồ Tát.
Đó là đại tam muội Diệu quang
minh thiện xảo trí thứ hai của đại Bồ Tát tu.
Bồ Tát minh bạch tất cả cảnh
giới, minh bạch tất cả các pháp, mà chẳng chấp
trước tất cả cảnh giới, chẳng chấp trước tất cả
các pháp. Đó tức là :
« Thấy sự sự thời xuất thế giới,
Thấy sự sự thời đoạ trầm luân.
Tóm lại, phàm phu thì mê hoặc tất
cả mọi sự, Bồ Tát thì giác ngộ tất cả mọi sự, do
đó :
« Mê là chúng sinh, giác là Bồ
Tát ».
QUYỂN BỐN MƯƠI MỐT
PHẨM THẬP ĐỊNH THỨ HAI MƯƠI BẢY
THỨ BA, THẦN THÔNG TAM MUỘI
THỨ TỰ ĐI ĐẾN CÕI NƯỚC CHƯ PHẬT
Phật tử ! Thế nào là thần thông
tam muội thứ tự đi đến cõi nước chư Phật của đại
Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Thế nào gọi là thần thông tam muội
thứ tự đi đến cõi nước chư Phật của đại Bồ Tát ?
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này qua phương đông vô số thế
giới. Lại qua khỏi các thế giới đó nhiều như số
hạt bụi thế giới. Ở trong các thế giới đó, nhập
tam muội này.
Hoặc sát na nhập, hoặc khoảnh
khắc nhập, hoặc liên tục nhập, hoặc mặt trời mọc
nhập, hoặc giữa trưa nhập, hoặc mặt trời lặn
nhập, hoặc ban đêm nhập, hoặc nửa đêm nhập, hoặc
cuối đêm nhập, hoặc một ngày nhập, hoặc năm ngày
nhập, hoặc nửa tháng nhập, hoặc một tháng nhập,
hoặc một năm nhập, hoặc trăm năm nhập, hoặc ngàn
năm nhập, hoặc trăm ngàn năm nhập, hoặc ức năm
nhập, hoặc trăm ngàn ức năm nhập, hoặc trăm ngàn
Na do tha ức năm nhập, hoặc một kiếp nhập, hoặc
trăm kiếp nhập, hoặc trăm ngàn kiếp nhập, hoặc
trăm ngàn Na do tha ức kiếp nhập, hoặc vô số
kiếp nhập, hoặc vô lượng kiếp nhập, hoặc vô biên
kiếp nhập, hoặc vô đẳng kiếp nhập, hoặc bất khả
số kiếp nhập, hoặc bất khả xưng kiếp nhập, hoặc
bất khả tư kiếp nhập, hoặc bất khả lượng kiếp
nhập, hoặc bất khả thuyết kiếp nhập, hoặc bất
khả thuyết bất khả thuyết kiếp nhập.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát này tu Bồ
Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh, tích tập đủ
thứ căn lành. Trải qua phương đông vô số vô
lượng thế giới. Lại trải qua các thế giới đó
nhiều như số hạt bụi thế giới. Ở trong các thế
giới nhiều như số hạt bụi đó, nhập thần thông
tam muội thứ lớp đi đến cõi nước chư Phật. Hoặc
khoảng sát na nhập vào tam muội này, hoặc trong
khoảnh khắc nhập tam muội này, hoặc liên tục
không ngừng nhập tam muội này, hoặc khi mặt trời
mọc nhập tam muội này, hoặc lúc giữa trưa nhập
tam muội này, hoặc lúc mặt trời lặn nhập tam
muội này, hoặc lúc đầu hôm nhập tam muội này,
hoặc lúc nửa đêm nhập tam muội này, hoặc lúc
cuối đêm nhập tam muội này, hoặc tại một ngày
nhập tam muội này, hoặc tại năm ngày nhập tam
muội này, hoặc tại nửa tháng nhập tam muội này,
hoặc tại một tháng nhập tam muội này, hoặc tại
một năm nhập tam muội này, hoặc tại trăm năm
nhập tam muội này, hoặc tại ngàn năm nhập tam
muội này, hoặc tại trăm ngàn năm nhập tam muội
này, hoặc tại ức năm nhập tam muội này, hoặc tại
trăm ngàn ức năm nhập tam muội này, hoặc tại
trăm ngàn Na do tha ức năm nhập tam muội này,
hoặc tại một kiếp nhập tam muội này, hoặc tại
trăm kiếp nhập tam muội này, hoặc tại trăm ngàn
kiếp nhập tam muội này, hoặc tại trăm ngàn Na do
tha ức kiếp nhập tam muội này, hoặc tại vô số
kiếp nhập tam muội này, hoặc tại vô lượng kiếp
nhập tam muội này, hoặc tại vô biên kiếp nhập
tam muội này, hoặc tại vô đẳng kiếp nhập tam
muội này, hoặc tại bất khả số kiếp nhập tam muội
này, hoặc tại bất khả xưng kiếp nhập tam muội
này, hoặc tại bất khả tư kiếp nhập tam muội này,
hoặc tại bất khả lượng kiếp nhập tam muội này,
hoặc tại bất khả thuyết kiếp nhập tam muội này,
hoặc tại bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp nhập
tam muội này.
Hoặc
lâu, hoặc gần, hoặc pháp, hoặc thời, đủ thứ sự
khác nhau. Bồ Tát ở đó chẳng sinh phân biệt. Tâm
không nhiễm trước, chẳng nghĩ hai, chẳng nghĩ
chẳng hai, chẳng nghĩ khắp, chẳng phân biệt.
Tuy lìa phân biệt đây, mà dùng
thần thông phương tiện từ tam muội khởi. Nơi tất
cả pháp không quên không mất, đến nơi rốt ráo.
Ví như mặt trời, đi vòng quanh chiếu khắp, ngày
đêm không ngừng. Mặt trời mọc lên gọi là ngày,
mặt trời lặn gọi là đêm. Ngày cũng chẳng sinh,
đêm cũng chẳng diệt. Đại Bồ Tát nơi vô số thế
giới nhập thần thông tam muội. Nhập tam muội
rồi, thấy rõ vô số thế giới đó, cũng lại như
thế.
Hoặc thời gian lâu dài, hoặc thời gian ngắn,
hoặc nhập định pháp này. Hoặc nhập định thời
gian này, có đủ thứ sự khác nhau. Bồ Tát nhập
vào tam muội này chẳng sinh tâm phân biệt, tâm
chẳng chấp trước, cũng chẳng nghĩ đến hai thứ
pháp này, cũng chẳng nghĩ chẳng phải hai thứ
pháp này. Cũng chẳng nghĩ khắp cùng, cũng chẳng
nghĩ đặc biệt. Tuy nhiên Bồ Tát lìa khỏi sự phân
biệt, mà dùng trí huệ thần thông phương tiện, từ
trong tam muội xuất định. Đối với tất cả pháp
chẳng quên chẳng mất, đến nơi rốt ráo.
Giống như mặt trời, đi vòng quanh chiếu khắp thế
gian, ngày đêm chiếu sáng không ngừng. Mặt trời
mọc gọi là ngày, mặt trời lặn gọi là đêm. Ngày
cũng chẳng sinh, đêm cũng không diệt.
Đại Bồ Tát ở trong vô số thế giới, nhập vào thần
thông tam muội, thấy rõ vô số thế giới như thế,
cũng giống như mặt trời chiếu sáng khắp.
Phật
tử ! Đó là thần thông đại tam muội thứ ba, Thiện
xảo trí thứ lớp đi đến các cõi nước chư Phật của
đại Bồ Tát.
Các vị Phật tử ! Đó là thần thông đại tam muội
thứ ba, Thiện xảo trí huệ thứ lớp đi đến các cõi
nước chư Phật của đại Bồ Tát tu.
THỨ TƯ, TAM MUỘI THANH TỊNH THÂM
TÂM HẠNH
Phật
tử ! Thế nào là tam muội Thanh tịnh thâm tâm
hạnh của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Thế nào là tam muội thanh tịnh thâm
tâm hạnh của đại Bồ Tát tu ?
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này biết số thân chư Phật đồng
chúng sinh. Thấy vô lượng Phật hơn số hạt bụi A
tăng kỳ thế giới.
Ở nơi mỗi chỗ các Như Lai đó, đem
tất cả các thứ hương thơm dâng lên cúng dường.
Đem tất cả các thứ hoa đẹp dâng lên cúng dường.
Đem tất cả các thứ lọng lớn như A tăng kỳ cõi
Phật dâng lên cúng dường. Đem tất cả đồ trang
nghiêm tốt đẹp, hơn hẳn tất cả thế giới dâng lên
cúng dường. Rải tất cả các thứ báu dâng lên cúng
dường. Đem tất cả các thứ đồ trang nghiêm, để
trang nghiêm nơi kinh hành dâng lên cúng dường.
Đem tất cả vô số ma ni bảo tạng thượng hạng dâng
lên cúng dường. Dùng Phật thần lực hoá ra ẩm
thực thượng vị hơn các cõi trời dâng lên cúng
dường. Tất cả cõi Phật có đủ thứ đồ cúng dường
thượng hạng, dùng thần lực thảy đều nhiếp lấy
dâng lên cúng dường.
Các vị Phật tử ! Vị đại Bồ Tát này tu Bồ Tát
đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh, tích tập đủ thứ
căn lành, Ngài biết có bao nhiêu chúng sinh, thì
có bấy nhiêu vị Phật. Thấy được vô lượng vô biên
chư Phật, số lượng đó đã vượt qua số hạt bụi A
tăng kỳ thế giới. Ở tại mỗi chỗ vị Phật, đem tất
cả các thứ hương thơm, để cúng dường Phật. Lại
đem tất cả các thứ hoa đẹp, để cúng dường
Phật.Đem tất cả các thứ lọng báu, lớn như A tăng
kỳ cõi Phật dâng lên cúng dường. Đem tất cả đồ
trang nghiêm tốt đẹp, hơn hẳn tất cả thế giới
dâng lên cúng dường. Rải tất cả các thứ báu đẹp
dâng lên cúng dường. Đem tất cả các thứ đồ trang
nghiêm, để trang nghiêm nơi kinh hành dâng lên
cúng dường. Đem tất cả vô số ma ni bảo tạng
thượng hạng dâng lên cúng dường. Dùng Phật thần
lực hoá ra ẩm thực, thượng vị hơn các cõi trời
dâng lên cúng dường. Hết thảy mười phương ba đời
tất cả cõi Phật, đủ thứ đồ cúng dường thượng
hạng, Bồ Tát dùng sức thần thông nhiếp lấy để
dâng lên cúng dường.
Ở nơi mỗi các Như Lai đó, cung kính tôn trọng,
cúi đầu đảnh lễ, thưa hỏi Phật pháp, khen Phật
bình đẳng, tán thán công đức chư Phật rộng lớn.
Vào đại bi của chư Phật đã vào, đắc được sức
bình đẳng vô ngại của Phật.
Trong khoảng một niệm, siêng cầu
diệu pháp ở chỗ tất cả chư Phật. Nhưng tướng thị
hiện ra đời, vào Niết Bàn của chư Phật như vậy,
đều vô sở đắc. Như tâm tán động, biết rõ sở
duyên khác biệt. Tâm khởi chẳng biết duyên khởi
chỗ nào. Tâm diệt chẳng biết duyên diệt chỗ nào.
Đại Bồ Tát này cũng lại như thế, trọn không phân
biệt tướng ra đời và Niết Bàn của Như Lai.
Bồ Tát ở trong đạo tràng của mỗi vị Phật, cung
kính Phật, tôn trọng Phật, đảnh lễ chân Phật, lễ
lạy cung kính, năm thể sát đất để thưa hỏi Phật
pháp, tán thán trí huệ bình đẳng của chư Phật,
khen ngợi công đức rộng lớn của chư Phật. Nhập
vào đại bi trí huệ của tất cả chư Phật đã chứng
được, đắc được pháp môn bình đẳng của Phật,
chẳng có sức lực chướng ngại. Trong một niệm,
đến được hết thảy đạo tràng của tất cả chư Phật,
siêng cầu tất cả diệu pháp của chư Phật nói.
Tuy nhiên, là như vậy, song đối
với chư Phật xuất hiện ra đời, hoặc vào Niết
Bàn, những tướng như thế, đều vô sở đắc, tức
cũng là chẳng có mọi sự chấp trước. Giống như
tâm tán loạn, biết rõ sở duyên như thế nào ? Khi
tâm niệm sinh khởi, cũng chẳng biết tại sao sinh
khởi, khi tâm niệm ngừng, cũng chẳng biết tại
sao ngừng. Đại Bồ Tát cũng như thế, trọn không
phân biệt tướng Phật xuất hiện ra đời, hoặc vào
Niết Bàn.
Phật tử ! Như dương diệm giữa ban
ngày, chẳng phải từ mây sinh ra, chẳng phải từ
sông sinh ra. Chẳng ở nơi đất, chẳng ở nơi nước.
Chẳng có, chẳng không, chẳng thiện, chẳng ác,
chẳng sạch, chẳng dơ, không thể uống rửa được,
không thể làm ô uế được. Chẳng có thể, chẳng
không thể. Chẳng có vị, chẳng không vị. Bởi do
nhân duyên mà hiện tướng nước. Vì thức biết rõ,
xa nhìn tựa như nước, mà khởi tưởng nước, đến
gần thì không có, tưởng nước tự diệt mất.
Đại Bồ Tát này cũng lại như thế,
chẳng đắc được tướng ra đời và Niết Bàn của Như
lai. Chư Phật có tướng và không tướng, đều do
tâm tưởng phân biệt.
Các vị đệ tử của Phật ! Giống như
dương diệm giữa ban ngày, ở xa nhìn tựa như có,
đến gần thì chẳng có. Dương diệm chẳng phải từ
trong mây sinh ra, cũng chẳng phải từ trong sông
sinh ra. Cũng chẳng từ đất sinh lên, cũng chẳng
từ nước sinh lên. Nói nó có chăng ? Cũng chẳng
có. Nói nó chẳng có chăng ? Cũng chẳng phải
không có. Nó cũng chẳng thiện, nó cũng chẳng ác.
Nó cũng chẳng sạch sẽ, nó cũng chẳng dơ bẩn. Tuy
ở xa nhìn tựa như nước, nhưng không thể dùng để
uống, không thể dùng để rửa. Cũng không thể làm
ô uế nó được. Ở gần nhìn nó chẳng có thể tướng
vật gì, ở xa nhìn tựa như có thể tướng. Nó chẳng
có vị gì hết, nó cũng chẳng phải không có vị.
Bởi do đủ thứ nhân duyên, cho nên hiện ra tướng
nước. Nếu nhận thức biết rõ, thì tự nhiên sẽ
minh bạch, ở xa nhìn tựa như nước, nên trong tâm
khởi vọng tưởng nước. Đến gần thì không có tướng
nước, nên vọng tưởng nước tự diệt mất. Đại Bồ
Tát này cũng lại như thế, Ngài minh bạch chẳng
có tướng ra đời của Phật, và cũng chẳng có tướng
Niết Bàn của Phật. Hoặc là có tướng hoặc là
không tướng, đó đều là do hiện tượng tâm vọng
tưởng phân biệt.
Phật tử ! Tam muội này gọi là
thanh tịnh thâm tâm hành. Đại Bồ Tát nơi tam
muội này, vào rồi thì khởi, khởi rồi chẳng mất.
Ví như có người ngủ thức dậy, nhớ việc trong
mộng. Khi thức giấc, tuy không ở trong cảnh
mộng, mà nhớ lại được, tâm không quên mất.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vào
tam muội thấy Phật nghe pháp. Từ định dậy nhớ
trì chẳng quên, đem pháp này diễn nói trong tất
cả đạo tràng chúng hội. Trang nghiêm tất cả cõi
nước chư Phật, vô lượng nghĩa lý, thảy đều thông
đạt. Tất cả pháp môn, cũng đều thanh tịnh. Thắp
sáng đuốc đại trí huệ, nối tiếp giống chư Phật.
Đầy đủ vô uý, biện tài không cạn, khai thị diễn
nói tạng pháp thâm sâu.
Các vị đệ tử của Phật ! Tên tam
muội này gọi là thanh tịnh thâm tâm hành. Đại Bồ
Tát đối với tam muội này, nhập định rồi, lại
xuất định. Xuất định rồi, đối với cảnh giới ở
trong định, tâm chẳng quên mất.
Ví như có người ngủ thức dậy, nhớ
lại cảnh giới ở trong chiêm bao. Khi thức tỉnh,
tuy nhiên không ở trong cảnh mộng, mà nhớ được
tất cả sự vật phát sinh ở trong mộng, tâm không
quên mất.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, nhập
vào trong định, thấy Phật nghe pháp. Từ trong
định dậy, nhớ trì chẳng quên mất, bèn đem pháp
này diễn nói trong tất cả đạo tràng chúng hội.
Trang nghiêm tất cả cõi nước chư Phật, vô lượng
vô biên nghĩa lý, hoàn toàn minh bạch thông đạt
không chướng ngại. Tất cả pháp môn tu, đều được
thanh tịnh. Thắp sáng lên đuốc lớn đại trí huệ,
trưởng dưỡng hạt giống chư Phật. Oai đức vô uý
đầy đủ viên mãn, biện tài vô ngại thao thao bất
tuyệt, khai thị diễn nói tạng pháp thâm sâu vô
thượng.
Đó là đại tam muội thiện xảo trí
thanh tịnh thâm tâm hành thứ tư của đại Bồ Tát.
Đó là đại tam muội thiện xảo trí
thanh tịnh thâm tâm hành thứ tư của đại Bồ Tát
tu.
THỨ NĂM, TAM MUỘI BIẾT QUÁ KHỨ
TRANG NGHIÊM TẠNG
Phật tử ! Thế nào là tam muội
Biết quá khứ trang nghiêm tạng của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào gọi là tam muội
biết quá khứ trang nghiêm tạng của đại Bồ Tát
tu ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát này biết chư
Phật quá khứ xuất hiện. Đó là : Trong kiếp thứ
tự, các cõi thứ tự. Trong cõi thứ tự, các kiếp
thứ tự. Trong kiếp thứ tự, chư Phật xuất hiện
thứ tự. Trong Phật xuất hiện thứ tự, nói pháp
thứ tự. Trong sự nói pháp thứ tự, các tâm ưa
thích thứ tự. Trong tâm ưa thích thứ tự, các căn
thứ tự. Trong căn thứ tự, điều phục thứ tự.
Trong sự điều phục thứ tự, chư Phật thọ mạng thứ
tự. Trong sự thọ mạng thứ tự, biết ức Na do tha
năm tuổi số lượng thứ tự.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát này tu hành, viên mãn lục độ vạn hạnh, tích
tập đủ thứ căn lành. Biết chư Phật quá khứ xuất
hiện ra đời. Lại biết trong kiếp quá khứ thứ tự,
cõi nước chư Phật thứ tự. Ở trong cõi nước chư
Phật thứ tự, hết thảy kiếp thứ tự, biết rõ với
nhau. Lại biết thứ tự ở trong kiếp đó, thứ tự có
vị Phật nào xuất hiện ra đời. Ở trong vị Phật
nào xuất hiện thứ tự, vị đó nói pháp thứ tự.
Trước hết nói pháp gì ? Sau đó nói pháp gì ? Đều
biết rõ hết. Ở trong việc Phật nói pháp thứ tự,
lại biết tất cả tâm hoan hỉ thứ tự. Ở trong tất
cả tâm hoan hỉ thứ tự, lại biết tất cả các căn
thứ tự. Ở trong tất cả các căn thứ tự, biết dùng
phương pháp gì để thứ tự điều phục chúng sinh. Ở
trong sự thứ tự điều phục chúng sinh, biết chư
Phật thọ mạng thứ tự. Trong sự thọ mạng thứ tự
của chư Phật, biết ức Na do tha năm tuổi số
lượng thứ tự.
Phật tử ! Vì đại Bồ Tát này đắc
được vô biên trí huệ thứ tự như vậy : Nên biết
chư Phật quá khứ, nên biết các cõi quá khứ, nên
biết pháp môn quá khứ, nên biết các kiếp quá
khứ, nên biết các pháp quá khứ, nên biết các tâm
quá khứ, nên biết các sự hiểu biết quá khứ, nên
biết các chúng sinh quá khứ, nên biết các phiền
não quá khứ, nên biết các nghi thức quá khứ, nên
biết các thanh tịnh quá khứ.
Các vị đệ tử của Phật ! Do vị đại
Bồ Tát này, đắc được vô biên đại trí huệ thứ tự,
nên biết tất cả chư Phật quá khứ, nên biết cõi
nước chư Phật quá khứ, nên biết pháp môn quá khứ
của chư Phật nói, nên biết các kiếp quá khứ, nên
biết pháp quá khứ của chư Phật nói, nên biết tất
cả tâm chúng sinh quá khứ, nên biết các sự hiểu
biết quá khứ của tất cả chúng sinh minh bạch,
nên biết các chúng sinh quá khứ là căn tánh gì,
nên biết tất cả chúng sinh quá khứ có phiền não
gì, nên biết tất cả nghi thức Phật pháp quá khứ,
nên biết pháp môn thanh tịnh quá khứ chư Phật
nói.
Phật tử ! Tam muội này gọi là Quá
khứ thanh tịnh tạng. Ở trong một niệm, vào được
trăm kiếp, vào được ngàn kiếp, vào được trăm
ngàn kiếp, vào được trăm ngàn ức Na do tha kiếp,
vào được vô số kiếp, vào được vô lượng kiếp, vào
được vô biên kiếp, vào được vô đẳng kiếp, vào
được bất khả số kiếp, vào được bất khả xưng
kiếp, vào được bất khả tư kiếp, vào được bất khả
lượng kiếp, vào được bất khả thuyết kiếp, vào
được bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.
Các vị đệ tử của Phật ! Tam muội
này tên gọi là Quá khứ thanh tịnh tạng. Ở trong
một niệm, vào được trăm kiếp, vào được ngàn
kiếp, vào được trăm ngàn kiếp, vào được trăm
ngàn ức na do tha kiếp. Lại vào được vô số kiếp,
vào được vô lượng kiếp, vào được vô biên kiếp,
vào được vô đẳng kiếp. Lại vào được bất khả số
kiếp, vào được bất khả xưng kiếp, vào được bất
khả tư kiếp, vào được bất khả lượng kiếp, vào
được bất khả thuyết kiếp, vào được bất khả
thuyết bất khả thuyết kiếp.
Phật tử ! Đại Bồ Tát đó vào tam
muội này, chẳng diệt hiện tại, chẳng duyên quá
khứ.
Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ
Tát đó, vào tam muội này, chẳng diệt thời gian
hiện tại, cũng chẳng duyên thời gian quá khứ.
Phật tử ! Đại Bồ Tát đó từ tam
muội này khởi, ở chỗ Như Lai, thọ mười pháp quán
đảnh không thể nghĩ bàn. Cũng đắc được, cũng
thanh tịnh, cũng thành tựu, cũng nhập vào, cũng
chứng được, cũng viên mãn, cũng thọ trì, bình
đẳng biết rõ, tam luân thanh tịnh.
Các vị đệ tử của Phật !Vị đại Bồ
Tát đó từ tam muội này xuất định, ở trong đạo
tràng của Phật, thọ mười pháp quán đảnh không
thể nghĩ bàn. Pháp đó phân biệt có hình và không
có hình. Quán đảnh có hình, tức là lúc thái tử
kế thừa ngôi vua, cử hành nghi thức, một số phàm
phu đều nhìn thấy được. Quán đảnh vô hình, tức
là lúc Bồ Tát kế thừa Pháp Vương tử vị, mười
phương chư Phật đều đến quán đảnh. Nghi thức đó
một số phàm phu không cách chi nhìn thấy được.
Vị Bồ Tát đó thọ quán đảnh vô hình, chỉ có Phật
và Bồ Tát đương sự mới biết với nhau được. Bồ
Tát chưa đạt đến trình độ này, cũng chẳng cách
chi biết được.
Vị đại Bồ Tát đó, đắc được mười
pháp quán đảnh rồi, lập tức cũng đắc được, lập
tức cũng thanh tịnh, lập tức cũng thành tựu,
cũng vào định này, cũng chứng định lực này, cũng
viên mãn Bồ Tát đạo, cũng tu trì tất cả Phật
pháp, cũng bình đẳng, cũng biết rõ, tam luân
cũng thanh tịnh. Tam luân là gì ? Tức là người
thí, người thọ, vật thí. Có bài kệ rằng :
"Người thí, kẻ nhận và vật thí
Ở trong ba đời vô sở đắc
Chúng ta an trụ tâm tối thắng
Cúng dường tất cả mười phương
Phật”.
Đó là tam luân thanh tịnh.
Những gì là mười ? Một là biện
luận chẳng trái nghĩa. Hai
là thuyết pháp vô tận. Ba là huấn từ không lỗi.
Bốn là lạc thuyết không dứt. Năm là tâm không sợ
hãi. Sáu là lời quyết thành thật. Bảy là chỗ
nương tựa của chúng sinh. Tám là cứu thoát ba
cõi. Chín là căn lành tối thắng. Mười là điều
ngự diệu pháp.
Những gì là mười pháp quán đảnh?
1. Biện không trái nghĩa: Lời lẽ
của Bồ Tát nói, đạo lý giảng giải chẳng trái với
tông chỉ, chẳng trái với nghĩa lý, là chánh
quyết không ngoa.
2. Thuyết pháp vô tận: Bất cứ Bồ
Tát nói pháp gì, đạo lý đều không cùng tận, càng
nói càng nhiều, vĩnh viễn nói không hết.
3. Huấn từ không lỗi: Lời lẽ Bồ
Tát dạy bảo, rất chánh quyết có đạo lý, tuyệt
đối không nói những lời không hợp tình hợp lý.
4. Lạc thuyết không dứt: Bồ Tát
thường muốn vì chúng sinh nói không gián đoạn.
5. Tâm không sợ hãi: Khi Bồ Tát
nói pháp, bất cứ gặp bậc đại đức đáng sợ nào,
tâm của Ngài cũng không sợ hãi.
6. Lời quyết thành thật: Lời lẽ
của Bồ Tát nói, nhất định chân thật thành khẩn,
tuyệt đối không có hư nguỵ.
7. Bảy là chỗ nương tựa của chúng
sinh: Bồ Tát làm chỗ nương tựa của chúng sinh.
8. Tám là cứu thoát ba cõi: Bồ
Tát hay cứu thoát tất cả chúng sinh ba cõi, lìa
khổ được vui, chấm dứt sinh tử.
9. Chín là căn lành tối thắng:
Căn lành của Bồ Tát thù thắng nhất.
10. Mười là điều ngự diệu pháp:
Bồ Tát thao thao bất tuyệt, rộng nói diệu pháp.
Ngài điều ngự được tất cả diệu pháp, chi phối
được tất cả diệu pháp, vận dụng được tất cả diệu
pháp.
Phật tử ! Đó là mười pháp quán
đảnh. Nếu Bồ Tát vào tam muội này, từ tam muội
khởi, không gián đoạn liền đắc được. Như Ca la
la, khi nhập thai tạng thì trong khoảng một
niệm, thức liền thác sinh. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, từ định này khởi, ở chỗ Như Lai, một
niệm liền được mười thứ pháp này.
Các vị đệ tử của Phật ! Đó là
mười thứ diệu pháp quán đảnh. Nếu Bồ Tát vào tam
muội này, từ tam muội xuất định, chẳng có gián
đoạn, liền chứng được. Giống như Ca la la, khi
nhập thai tạng, trong khoảng một niệm, thức liền
từ trong thai thác sinh. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, từ tam muội xuất định, ở tại đạo tràng của
Phật, trong khoảng một niệm, liền đắc được mười
thứ pháp môn quán đảnh này.
Phật tử ! Đó gọi là đại tam muội
Trí thiện xảo biết quá khứ trang nghiêm tạng thứ
năm của đại Bồ Tát.
Các vị đệ tử của Phật ! Đó là đại
tam muội Trí thiện xảo biết quá khứ trang nghiêm
tạng thứ năm của đại Bồ Tát tu.
THỨ SÁU, TAM MUỘI TRÍ QUANG MINH
TẠNG
Phật tử ! Thế nào là tam muội Trí
quang minh tạng của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào gọi là tam muội
trí quang minh tạng của đại Bồ Tát tu ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát đó trụ tam
muội này, biết được hết thảy chư Phật, trong tất
cả kiếp, của tất cả thế giới đời vị lai. Hoặc đã
nói, hoặc chưa nói. Hoặc đã thọ ký, hoặc chưa
thọ ký. Đủ thứ danh hiệu, thảy đều khác nhau. Đó
là : Vô số danh, vô lượng danh, vô biên danh, vô
đẳng danh, bất khả số danh, bất khả xưng danh,
bất khả tư danh, bất khả lượng danh, bất khả
thuyết danh. Sẽ xuất hiện ra đời, sẽ lợi ích
chúng sinh, sẽ làm Pháp Vương, sẽ làm Phật sự,
sẽ nói phước lợi, sẽ khen ngợi nghĩa lành, sẽ
nói nghĩa bạch phần, sẽ tịnh trị các điều ác, sẽ
an trụ công đức, sẽ khai thị đệ nhất nghĩa đế,
sẽ nhập quán đảnh vị, sẽ thành Nhất thiết trí.
Các Như Lai đó tu hạnh viên mãn,
phát nguyện viên mãn, vào trí huệ viên mãn. Có
chúng viên mãn, đủ viên mãn trang nghiêm, tập
công đức viên mãn. Ngộ pháp viên mãn, được quả
viên mãn, đủ tướng viên mãn, thành viên mãn
giác.
Các Như Lai đó danh tánh chủng
tộc, phương tiện thiện xảo thần thông biến hoá,
thành thục chúng sinh, vào Bát Niết Bàn. Tất cả
như vậy, thảy đều biết rõ.
Các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát đó tu Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh,
tích tập đủ thứ căn lành, trụ tại tam muội này,
biết được hết thảy tất cả chư Phật, ở trong tất
cả kiếp, của tất cả thế giới đời vị lai. Hoặc đã
thuyết pháp, hoặc chưa thuyết pháp, hoặc đã thọ
ký, hoặc chưa thọ ký, đủ thứ danh hiệu, thảy đều
khác nhau. Có vô số danh,vô lượng danh, vô biên
danh, vô đẳng danh, bất khả số danh, bất khả
xưng danh, bất khả tư danh, bất khả lượng danh,
bất khả thuyết danh. Sẽ xuất hiện ra đời, sẽ lợi
ích chúng sinh, sẽ làm Pháp vương, sẽ làm Phật
sự lớn, sẽ nói việc phước đức lợi ích, sẽ khen
ngợi nghĩa lý thiện, sẽ diễn nói nghĩa bạch phần
(làm các điều lành), sẽ tịnh trị các điều ác
(không làm các điều ác), sẽ an trụ tất cả công
đức, sẽ vì chúng sinh khai thị đệ nhất nghĩa đế,
sẽ khiến cho tất cả chúng sinh đều nhập vào quán
đảnh vị, sẽ thành tựu Nhất thiết trí.
Hết thảy tất cả chư Phật đó, tu
hạnh viên mãn, phát nguyện viên mãn, vào trí huệ
viên mãn. Có chúng sinh viên mãn, để ủng hộ đạo
tràng, đầy đủ viên mãn trang nghiêm, tập thành
công đức viên mãn. Tỏ ngộ pháp viên mãn, chứng
được quả viên mãn, đầy đủ tướng viên mãn, thành
tựu viên mãn giác.
Hết thảy tất cả chư Phật, danh
tánh chủng tộc, phương tiện thiện xảo, thần
thông biến hoá, thành thục tất cả chúng sinh,
cho đến vào Bát Niết Bàn. Tất cả như vậy, Bồ Tát
thảy đều biết rõ.
Bồ Tát đó ở trong một niệm, vào
được một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn
kiếp, trăm ngàn ức Na do tha kiếp. Vào số kiếp
nhiều như số hạt bụi cõi Diêm Phù Đề. Vào số
kiếp nhiều như số hạt bụi bốn thiên hạ. Vào số
kiếp nhiều như số hạt bụi tiểu thiên thế giới.
Vào số kiếp nhiều như số hạt bụi trung thiên thế
giới. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi đại thiên
thế giới. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi trăm cõi
Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi trăm ngàn
cõi Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi trăm
ngàn ức Na do tha cõi Phật. Vào số kiếp nhiều
như hạt bụi vô số cõi Phật. Vào số kiếp nhiều
như hạt bụi vô lượng cõi Phật. Vào số kiếp nhiều
như hạt bụi vô biên cõi Phật. Vào số kiếp nhiều
như hạt bụi vô đẳng cõi Phật. Vào số kiếp nhiều
như hạt bụi bất khả số cõi Phật. Vào số kiếp
nhiều như hạt bụi bất khả xưng cõi Phật. Vào số
kiếp nhiều như hạt bụi bất khả tư cõi Phật. Vào
số kiếp nhiều như hạt bụi bất khả lượng cõi
Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi bất khả
thuyết cõi Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi
bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Như vậy,
hết thảy kiếp số, tất cả thế giới vị lai, dùng
trí huệ thảy đều biết rõ.
Vị đại Bồ Tát này ở trong một
niệm, vào được một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp,
trăm ngàn kiếp, trăm ngàn ức na do tha kiếp. Vào
số kiếp nhiều như số hạt bụi cõi Diêm Phù Đề.
Vào số kiếp nhiều như số hạt bụi bốn thiên hạ.
Vào số kiếp nhiều như số hạt bụi tiểu thiên thế
giới. Vào số kiếp nhiều như số hạt bụi trung
thiên thế giới. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi
đại thiên thế giới. Vào số kiếp nhiều như hạt
bụi trăm cõi Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi
trăm ngàn cõi Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt
bụi trăm ngàn ức na do tha cõi Phật. Vào số kiếp
nhiều như hạt bụi vô số cõi Phật. Vào số kiếp
nhiều như hạt bụi vô lượng cõi Phật. Vào số kiếp
nhiều như hạt bụi vô biên cõi Phật. Vào số kiếp
nhiều như hạt bụi vô đẳng cõi Phật. Vào số kiếp
nhiều như hạt bụi bất khả số cõi Phật. Vào số
kiếp nhiều như hạt bụi bất khả xưng cõi Phật.
Vào số kiếp nhiều như hạt bụi bất khả tư cõi
Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi bất khả
lượng cõi Phật. Vào số kiếp nhiều như hạt bụi
bất khả thuyết cõi Phật. Vào số kiếp nhiều như
hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật.
Như vậy, hết thảy kiếp số tất cả thế giới vị
lai, Bồ Tát dùng trí huệ để quán sát, thảy đều
hoàn toàn biết rõ hết.
Vì biết rõ, nên tâm của Ngài lại
vào mười thứ môn trì. Những gì là mười ? Đó là :
Vào Phật trì, nên được chư Phật nhiều như số hạt
bụi bất khả thuyết cõi Phật hộ niệm. Vào pháp
trì, nên được mười thứ Đà la ni quang minh vô
tận biện tài. Vào hạnh trì, nên sinh ra các
nguyện viên mãn thù thắng. Vào lực trì, nên
không ai che lấp được, không ai thôi phục được.
Vào trí trì, nên tu hành Phật pháp không có sự
chướng ngại. Vào đại bi trì, nên chuyển bánh xe
pháp thanh tịnh bất thối. Vào thiện xảo sai biệt
câu trì, nên chuyển bánh xe tất cả văn tự, tịnh
tất cả pháp môn địa. Vào sư tử thọ sinh pháp
trì, nên mở khoá cửa pháp, thoát khỏi bùn lầy
tham dục. Vào trí lực trì, nên tu Bồ Tát hạnh,
thường không nghỉ ngơi. Vào thiện hữu lực trì,
nên khiến cho vô biên chúng sinh khắp được thanh
tịnh. Vào vô trụ lực trì, nên vào bất khả thuyết
bất khả thuyết kiếp rộng lớn. Vào pháp lực trì,
nên dùng trí vô ngại phương tiện, biết tất cả
pháp tự tánh thanh tịnh.
Vì Bồ Tát biết rõ hết thảy số
kiếp, nên tâm của Ngài lại vào được mười thứ môn
trì. Trì mà không mất thì đắc được lợi ích của
sự trì.Những gì là mười ? Đó là :
1. Vào môn Phật trì : Vì vào được
Phật lực trì, được chư Phật nhiều như số hạt bụi
bất khả thuyết cõi Phật gia bị để hộ niệm.
2. Vào môn pháp trì: Vào được tất
cả Phật pháp lực trì, nên được mười thứ Đà la ni
(tổng trì) quang minh vô tận biện tài.
3. Vào môn hạnh trì: Vào được tu
hành lực trì, nên sinh ra tất cả các nguyện viên
mãn thù thắng.
4. Vào môn lực trì: Vào được lực
lượng lực trì, nên không ai che lấp được, thôi
phục được.
5. Vào môn trí trì: Vào được trí
huệ lực trì, nên tu hành Phật pháp không có sự
chướng ngại.
6. Vào môn đại bi trì: Vào được
đại bi tâm để trì Phật pháp, nên thường chuyển
bánh xe pháp thanh tịnh bất thối.
7. Vào môn thiện xảo sai biệt câu
trì: Vào được kinh văn, khéo léo phân biệt câu
kinh trì, nên chuyển được bánh xe tất cả văn tự
Bát nhã, thanh tịnh tất cả pháp môn địa.
8. Vào môn sư tử thọ sinh pháp
trì: Vào được sư tử thọ sinh pháp trì, nên mở
khoá cửa pháp, thoát khỏi hố bùn lầy nhiễm ô.
9. Vào môn trí lực trì: Vào được
trí huệ lực trì, nên tu Bồ Tát hạnh, thường
không nghỉ ngơi.
10. Vào môn thiện hữu lực trì:
Vào được thiện tri thức lực trì, nên khiến cho
vô biên chúng sinh khắp được thanh tịnh.
11. Vào môn vô trụ lực trì: Vào
được vô trụ lực trì, nên vào được bất khả thuyết
bất khả thuyết đại kiếp rộng lớn.
12. Vào môn pháp lực trì: Vào
được pháp lực trì, nên dùng trí huệ vô ngại
phương tiện, biết tất cả pháp tự tánh là thanh
tịnh. Tuy nhiên có mười hai thứ môn trì, song vì
mười thứ môn trì, bất quá tăng thêm số mà thôi.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này rồi, khéo léo trụ bất khả thuyết bất khả
thuyết kiếp. Khéo léo trụ bất khả thuyết bất khả
thuyết cõi. Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả
thuyết đủ thứ chúng sinh. Khéo léo biết bất khả
thuyết bất khả thuyết chúng sinh dị tướng. Khéo
léo biết bất khả thuyết bất khả thuyết nghiệp
báo giống nhau khác nhau. Khéo léo biết bất khả
thuyết bất khả thuyết các căn tinh tấn, tập khí
các hạnh liên tục khác biệt. Khéo léo biết bất
khả thuyết bất khả thuyết vô lượng nhiễm tịnh,
đủ thứ tư duy. Khéo léo biết bất khả thuyết bất
khả thuyết pháp đủ thứ nghĩa, vô lượng văn tự,
diễn nói lời lẽ. Khéo léo biết bất khả thuyết
bất khả thuyết đủ thứ Phật xuất hiện ra đời,
chủng tộc thời tiết, hiện tướng thuyết pháp, bố
thí làm Phật sự, vào Bát Niết Bàn. Khéo léo biết
bất khả thuyết bất khả thuyết vô biên môn trí
huệ. Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả thuyết
tất cả thần thông, vô lượng biến hiện.
Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ
Tát trụ tam muội này rồi, khéo léo trụ trong bất
khả thuyết bất khả thuyết kiếp. Khéo léo trụ
trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi. Khéo
léo biết bất khả thuyết bất khả thuyết chúng
sinh. Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả
thuyết nghiệp báo khác nhau giống nhau. Khéo léo
biết bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sinh dị
tướng. Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả
thuyết nghiệp báo giống nhau khác nhau. Khéo léo
biết bất khả thuyết bất khả thuyết tinh tấn và
các căn, tập khí liên tục không dứt, các hạnh
khác biệt. Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả
thuyết vô lượng nhiễm và tịnh, đủ thứ tư duy.
Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả thuyết pháp
đủ thứ nghĩa lý, vô lượng văn tự, diễn nói lời
lẽ. Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả thuyết
đủ thứ Phật xuất hiện ra đời, chủng tộc gì ?
Thời tiết gì ? Hiện tướng gì ? Thuyết pháp gì ?
Thí làm Phật sự, vào Bát Niết Bàn. Khéo léo biết
bất khả thuyết bất khả thuyết vô biên môn trí
huệ. Khéo léo biết bất khả thuyết bất khả thuyết
tất cả thần thông, có vô lượng sự biến hiện.
Phật tử ! Ví như mặt trời mọc
lên, hết thảy làng xóm thành ấp, cung điện nhà
cửa, núi sông chim thú, cây rừng hoa quả, tất cả
đủ thứ các vật như vậy trong thế gian, người có
mắt đều thấy rõ ràng.
Phật tử ! Ánh sáng mặt trời bình
đẳng, không có sự phân biệt, mà hay khiến cho
con mắt thấy đủ thứ tướng. Đại tam muội này cũng
lại như thế, thể tánh bình đẳng, chẳng có phân
biệt, hay khiến cho Bồ Tát biết bất khả thuyết
bất khả thuyết, trăm ngàn ức Na do tha tướng
khác biệt.
Các vị đệ tử của Phật ! Ví như
khi mặt trời mọc lên, chiếu khắp thế gian,hết
thảy làng xóm, thành ấp, cung điện, nhà cửa, núi
sông, chim thú, cây rừng, hoa quả .v.v… tất cả
đủ thứ các vật như vậy trong thế gian. Người có
con mắt đều thấy rõ ràng.
Các vị đệ tử của Phật ! Ánh sáng
mặt trời rất bình đẳng, không có sự phân biệt,
nên chiếu khắp vạn vật, chẳng màng là chỗ thanh
tịnh, hoặc chỗ dơ bẩn, đều chiếu khắp. Phàm là
người có con mắt, đều nhìn thấy đủ thứ tướng.
Đại tam muội trí quang minh tạng,
cũng giống như ánh sáng mặt trời. Thể tánh là
bình đẳng, chẳng có phân biệt, hay khiến cho Bồ
Tát biết bất khả thuyết bất khả thuyết, trăm
ngàn ức na do tha tướng khác biệt.
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát này biết
rõ như vậy, thì khiến cho các chúng sinh đắc
được mười thứ chẳng luống qua.
Những gì là mười ? Một là thấy
chẳng luống qua, vì khiến cho các chúng sinh
sinh căn lành. Hai là nghe chẳng luống qua, vì
khiến cho các chúng sinh được thành thục. Ba là
cùng ở chẳng luống qua, vì khiến cho các chúng
sinh tâm điều phục. Bốn là phát khởi chẳng luống
qua, vì khiến cho các chúng sinh làm theo lời
nói, thông đạt tất cả nghĩa của các pháp. Năm là
tu hành chẳng luống qua, vì khiến cho vô biên
thế giới đều thanh tịnh. Sáu là gần gũi chẳng
luống qua, vì ở chỗ các Như Lai nhiều bất khả
thuyết bất khả thuyết cõi Phật, dứt bất khả
thuyết bất khả thuyết chúng sinh nghi. Bảy là
nguyện chẳng luống qua, vì tuỳ theo niệm của
chúng sinh, khiến làm cúng dường thù thắng,
thành tựu các nguyện. Tám là pháp khéo léo chẳng
luống qua, vì đều khiến cho được trụ nơi trí vô
ngại giải thoát thanh tịnh. Chín là mưa pháp vũ
chẳng luống qua, vì trong bất khả thuyết bất khả
thuyết các căn chúng sinh, phương tiện khai thị
Nhất thiết trí hạnh, khiến trụ vào Phật đạo.
Mười là xuất hiện chẳng luống qua, vì hiện vô
biên tướng, khiến cho tất cả chúng sinh đều được
chiếu đến.
Các vị đệ tử của Phật ! Vì vị đại
Bồ Tát này, lúc nào cũng tu hành đủ thứ tam
muội, cho nên khi Ngài biết rõ, thì cũng khiến
cho tất cả chúng sinh đắc được mười lợi ích
chẳng luống qua.Những gì là mười ?
1. Thấy chẳng luống qua: Thấy
được pháp thân của Bồ Tát không luống qua, vì
khiến cho các chúng sinh đều sinh căn lành.
2. Nghe chẳng luống qua: Nghe
được danh hiệu của Bồ Tát, cũng chẳng luống qua,
vì khiến cho các chúng sinh được thành thục. Do
đó : “Người chưa trồng căn lành khiến cho trồng,
đã trồng căn lành khiến tăng trưởng, căn lành đã
tăng trưởng khiến thành thục”.
3. Cùng ở chẳng luống qua: Nếu
tất cả chúng sinh và Bồ Tát cùng ở chung với
nhau, cũng chẳng luống qua, vì khiến cho tâm của
tất cả chúng sinh, đều được điều phục, chẳng còn
tất cả vọng tưởng, phiền não, cang cường.
4. Phát khởi chẳng luống qua:
Phát khởi bồ đề tâm, cũng chẳng luống qua. Bồ
Tát giáo hoá tất cả chúng sinh, y giáo tu hành,
làm theo lời nói, thì sẽ thông đạt tất cả nghĩa
lý thật tướng của các pháp.
5. Hành chẳng luống qua: Công phu
tu hành cũng chẳng luống qua. Bồ Tát hay khiến
cho vô biên thế giới đều được thanh tịnh.
6. Gần gũi chẳng luống qua: Phàm
là gần gũi công đức của Bồ Tát, cũng chẳng luống
qua. Ở chỗ các Như Lai nhiều bất khả thuyết bất
khả thuyết cõi Phật, dứt trừ nghi hoặc của bất
khả thuyết bất khả thuyết chúng sinh.
7. Nguyện chẳng luống qua: Bồ Tát
phát nguyện chẳng luống qua, chúng sinh phát
nguyện cũng chẳng luống qua. Tuỳ theo niệm của
chúng sinh, khiến làm cúng dường thù thắng,
thành tựu các nguyện lực rộng lớn.
8. Pháp khéo léo chẳng luống qua:
Pháp môn phương tiện khéo léo cũng chẳng luống
qua. Khiến cho đắc được trí huệ vô ngại giải
thoát thanh tịnh.
9. Mưa pháp vũ chẳng luống qua:
Thường nổi mây pháp lớn, thường mưa pháp lớn,
cũng chẳng luống qua. Trong bất khả thuyết bất
khả thuyết các loại chúng sinh, phương tiện khéo
léo khai thị hạnh môn Nhất thiết trí, khiến cho
tất cả chúng sinh trụ ở trong Phật đạo.
10. Xuất hiện chẳng luống qua:
Thị hiện vô biên tướng cũng chẳng luống qua,
khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được trí huệ
quang minh chiếu sáng, mà phát tâm bồ đề.
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát trụ tam
muội này, được mười thứ chẳng luống qua, thì các
chúng Thiên Vương đều đến đảnh lễ. Các chúng
Long Vương nổi mây hương lớn. Các Dạ Xoa Vương
đảnh lễ sát đất. A Tu La Vương cung kính cúng
dường. Ca Lâu La Vương vây quanh trước sau. Các
Phạm Thiên Vương đều đến khuyến thỉnh. Khẩn Na
La Vương, Ma Hầu La Già Vương đều cùng khen
ngợi. Càn Thát Bà Vương thường đến gần gũi. Các
ông vua nhân gian thừa sự cúng dường.
Các vị đệ tử của Phật ! Khi đại
Bồ Tát trụ tam muội này, đắc được mười thứ chẳng
luống qua, thì hết thảy các Thiên Vương và Thiên
chúng chư Thiên ba cõi, đều đến đảnh lễ vị đại
Bồ Tát này. Bốn biển các Long Vương xuất lãnh
quyến thuộc của họ, nổi mây hương lớn ở trong hư
không. Hết thảy tất cả Dạ Xoa Vương đều đến đảnh
lễ dưới chân vị đại Bồ Tát này. Hết thảy tất cả
A Tu La Vương cung kính cúng dường vị đại Bồ Tát
này. Hết thảy tất cả Ca Lâu La Vương vây quanh
trước sau vị đại Bồ Tát này. Hết thảt tất cả các
Phạm Thiên Vương, đều đến khuyến thỉnh vị đại Bồ
Tát này thuyết pháp cho tất cả chúng sinh. Hết
thảy tất cả Khẩn Na La Vương, Ma Hầu La Già
Vương đều đến khen ngợi tán thán vị đại Bồ Tát
này. Hết thảy tất cả Càn Thát Bà Vương thường
đến gần gũi vị đại Bồ Tát này. Hết thảy tất cả
các ông vua và thần dân trong thế gian, cũng đến
thừa sự cúng dường vị đại Bồ Tát này.
Phật tử ! Đó là đại tam muội Trí
thiện xảo trí quang minh tạng thứ sáu của đại Bồ
Tát.
Các vị đệ tử của Phật ! Đó là đại
tam muội Trí huệ thiện xảo trí quang minh tạng
thứ sáu của đại Bồ Tát tu.
THỨ BẢY, TAM MUỘI BIẾT RÕ TẤT CẢ
THẾ GIỚI PHẬT TRANG NGHIÊM
Phật tử ! Thế nào là tam muội
Biết rõ tất cả thế giới Phật trang nghiêm của
đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào gọi là tam muội
Biết rõ tất cả thế giới Phật trang nghiêm của
đại Bồ Tát tu ?
Phật tử ! Tam muội này tại sao
gọi là Biết rõ tất cả thế giới Phật trang nghiêm
?
Các vị đệ tử của Phật ! Tam muội
này, tại sao gọi là Biết rõ tất cả thế giới Phật
trang nghiêm ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, thứ tự vào thế giới phương đông, thứ tự vào
thế giới phương nam, phương tây phương bắc, bốn
hướng trên dưới, hết thảy thế giới, cũng đều vào
thứ tự như thế.
Các vị đệ tử của Phật! Vị đại Bồ
Tát này tu Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh,
tích tập đủ thứ căn lành, trụ trong tam muội
này, thứ tự vào thế giới phương đông, thứ tự vào
thế giới phương nam, thứ tự vào thế giới phương
tây, thứ tự vào thế giới phương bắc, lại thứ tự
vào bốn hướng thế giới, lại vào thế giới trên
dưới, hết thảy tất cả thế giới, đều y chiếu vào
thứ tự như thế.
Đều thấy chư Phật xuất hiện ra
đời. Cũng thấy tất cả thần lực của những vị Phật
đó. Cũng thấy hết thảy sự du hí của chư Phật.
Cũng thấy oai đức rộng lớn của chư Phật. Cũng
thấy tự tại tối thắng của chư Phật. Cũng thấy
đại sư tử hống của chư Phật. Cũng thấy chư Phật
tu các hạnh. Cũng thấy đủ thứ sự trang nghiêm
của chư Phật. Cũng thấy thần túc biến hoá của
chư Phật. Cũng thấy chúng hội vân tập của chư
Phật.
Ở trong những thế giới đó, đều
nhìn thấy tất cả chư Phật xuất hiện ra đời. Cũng
nhìn thấy tất cả thần lực của tất cả chư Phật
đó. Cũng nhìn thấy hết thảy sự sự du hí tam muội
của tất cả chư Phật. Cũng nhìn thấy oai đức rộng
lớn của tất cả chư Phật. Cũng nhìn thấy sức tự
tại tối thù thắng của tất cả chư Phật. Cũng nhìn
thấy đại sư tử hống của tất cả chư Phật, vì tất
cả chúng sinh thuyết pháp. Cũng thấy chư Phật tu
tất cả các hạnh. Cũng thấy đủ thứ sự trang
nghiêm của tất cả chư Phật. Cũng thấy thần túc
biến hoá của tất cả chư Phật. Cũng thấy chúng
hội vân tập của tất cả chư Phật.
Chúng hội thanh tịnh, chúng hội
rộng lớn, chúng hội một tướng, chúng hội nhiều
tướng, chúng hội xứ sở, chúng hội cư chỉ, chúng
hội thành thục, chúng hội điều phục, chúng hội
oai đức, tất cả đều thấy rõ như vậy.
Vị đại Bồ Tát này, lại thấychúng
hội thanh tịnh, chúng hội rộng lớn, chúng hội
một tướng, chúng hội nhiều tướng, chúng hội xứ
sở, chúng hội cư chỉ, chúng hội thành thục,
chúng hội điều phục, chúng hội oai đức, tất cả
đều thấy rõ như vậy.
Cũng thấy chúng hội đó, lượng lớn
nhỏ bằng cõi Diêm Phù Đề. Cũng thấy chúng hội
bằng bốn thiên hạ. Cũng thấy chúng hội bằng tiểu
thiên thế giới. Cũng thấy chúng hội bằng trung
thiên thế giới. Cũng thấy chúng hội bằng ba ngàn
đại thiên thế giới. Cũng thấy chúng hội đầy dẫy
trăm ngàn ức Na do tha cõi Phật. Cũng thấy chúng
hội đầy dẫy A tăng kỳ cõi Phật. Cũng thấy chúng
hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi trăm
cõi Phật. Cũng thấy chúng hội đầy dẫy cõi Phật
nhiều như số hạt bụi ngàn cõi Phật. Cũng thấy
chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi
trăm ngàn ức Na do tha cõi Phật. Cũng thấy chúng
hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi vô số
cõi Phật. Cũng thấy chúng hội đầy dẫy cõi Phật
nhiều như số hạt bụi vô lượng cõi Phật. Cũng
thấy chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt
bụi vô biên cõi Phật. Cũng thấy chúng hội đầy
dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi vô đẳng cõi
Phật. Cũng thấy chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều
như số hạt bụi bất khả số cõi Phật. Cũng thấy
chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi
bất khả xưng cõi Phật. Cũng thấy chúng hội đầy
dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi bất khả tư cõi
Phật. Cũng thấy chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều
như số hạt bụi bất khả lượng cõi Phật. Cũng thấy
chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi
bất khả thuyết cõi Phật. Cũng thấy chúng hội đầy
dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết
bất khả thuyết cõi Phật.
Vị đại Bồ Tát này, cũng thấy
chúng hội của chư Phật, lượng lớn nhỏ bằng cõi
Nam Diêm Phù Đề. Cũng thấy chúng hội bằng bốn
thiên hạ. Cũng thấy chúng hội bằng tiểu thiên
thế giới. Cũng thấy chúng hội bằng trung thiên
thế giới. Cũng thấy chúng hội bằng ba ngàn đại
thiên thế giới. Cũng thấy chúng hội đầy dẫy trăm
ngàn ức na do tha cõi Phật. Cũng thấy chúng hội
đầy dẫy A tăng kỳ cõi Phật. Cũng thấy chúng hội
đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi trăm cõi
Phật. Cũng thấy chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều
như số hạt bụi ngàn cõi Phật. Cũng thấy chúng
hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi trăm
ngàn ức na do tha cõi Phật. Cũng thấy chúng hội
đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi vô số, vô
lượng, vô biên, vô đẳng, cõi Phật. Cũng thấy
chúng hội đầy dẫy cõi Phật nhiều như số hạt bụi
bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả
lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả
thuyết cõi Phật.
Ở trong chúng hội đạo tràng, có
cõi Phật nhiều như số hạt bụi. Do đó, có thể
chứng minh thế giới có nhiều vô lượng vô biên,
không thể nào tính đếm được. Vì trí huệ phàm phu
của chúng ta có hạn, cho đến nay, cũng không
cách chi giao thông với những thế giới khác. Tuy
nhiên, con người đã đến được mặt trăng, nhưng
tình hình của vô lượng vô biên thế giới khác,
vẫn chưa biết được. Rốt ráo có sinh vật chăng ?
Không thể biết được. Nếu khi nào phát triển đi
đến được thế giới khác, thì những thế giới đó
không còn tồn tại nữa. Tại sao ? Vì bí mật trong
vũ trụ, khiến cho con người không dễ dàng minh
bạch.
Hiện tại trong Kinh Hoa Nghiêm có
các thế giới nhiều như số hạt bụi. Số hạt bụi
trong mỗi thế giới chẳng biết là bao nhiêu ? Hà
huống cõi Phật nhiều như số hạt bụi bất khả
thuyết bất khả thuyết cõi Phật, số lượng đó càng
không biết là bao nhiêu ? Song, vị đại Bồ Tát
này thảy đều thấy, đều biết rõ ràng có bao nhiêu
cõi Phật. Đây là sức thần thông diệu dụng.
Cũng thấy chư Phật ở trong chúng
hội đạo tràng đó, thị hiện đủ thứ tướng, đủ thứ
thời, đủ thứ cõi nước, đủ thứ biến hoá, đủ thứ
thần thông, đủ thứ trang nghiêm, đủ thứ tự tại,
đủ thứ hình lượng, đủ thứ sự nghiệp.
Bồ Tát cũng thấy chư Phật ở trong
chúng hội đạo tràng đó, thị hiện đủ thứ hình
tướng, đủ thứ thời gian thị hiện, ở trong số hạt
bụi cõi nước, thị hiện đủ thứ biến hoá, thị hiện
đủ thứ thần thông, thị hiện đủ thứ trang nghiêm,
thị hiện đủ thứ tự tại, thị hiện đủ thứ hình
lượng, thị hiện đủ thứ sự nghiệp.
Đại Bồ Tát cũng thấy thân mình
đến chúng hội đó. Cũng thấy thân mình nói pháp
tại đó. Cũng thấy thân mình thọ trì lời Phật
dạy. Cũng thấy thân mình khéo biết duyên khởi.
Cũng thấy thân mình trụ trong hư không. Cũng
thấy thân mình trụ nơi pháp thân. Cũng thấy thân
mình chẳng sinh nhiễm trước. Cũng thấy thân mình
chẳng trụ phân biệt. Cũng thấy thân mình chẳng
có mệt mỏi. Cũng thấy thân mình vào khắp các
trí. Cũng thấy thân mình biết khắp các nghĩa.
Cũng thấy thân mình vào khắp các địa. Cũng thấy
thân mình vào khắp các cõi. Cũng thấy thân mình
biết khắp phương tiện. Cũng thấy thân mình ở
khắp trước Phật. Cũng thấy thân mình vào khắp
các lực. Cũng thấy thân mình vào khắp chân như.
Cũng thấy thân mình vào khắp vô tranh. Cũng thấy
thân mình vào khắp các pháp.
Đại Bồ Tátcũng thấy thân mình đi
đến chúng hội chư Phật nhiều như số hạt bụi bất
khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Cũng thấy
thân mình nói pháp trong đại chúng đó. Cũng thấy
thân mình thọ trì kinh điển của Phật nói. Cũng
thấy thân mình khéo biết đạo lý tất cả nhân
duyên sinh khởi. Cũng thấy thân mình trụ trong
hư không. Cũng thấy thân mình trụ nơi pháp thân.
Cũng thấy thân mình chẳng có mọi sự ô nhiễm và
chấp trước. Cũng thấy thân mình chẳng trụ ở
trong sự phân biệt. Tại sao ? Vì Bồ Tát biết tất
cả đều hư vọng không thật. Cũng thấy thân mình ở
trong mười phương vô số thế giới, vì chúng sinh
diễn nói Phật pháp, chẳng có mệt mỏi. Cũng thấy
thân mình vào khắp nhất thiết trí huệ môn. Cũng
thấy thân mình biết khắp tất cả nghĩa lý. Cũng
thấy thân mình vào khắp tất cả các địa (Thập
địa). Cũng thấy thân mình vào khắp các cõi. Cũng
thấy thân mình biết khắp tất cả pháp môn phương
tiện. Cũng thấy thân mình ở khắp trước tất cả
chư Phật. Cũng thấy thân mình vào khắp tất cả
các lực (thập lực). Cũng thấy thân mình vào khắp
tất cả chân như diệu lý. Cũng thấy thân mình vào
khắp tất cả tam muội vô tranh. Cũng thấy thân
mình vào khắp tất cả các pháp.
Cảnh giới của Bồ Tát ngàn biến
vạn hoá, không thể nghĩ, không thể luận bàn, trừ
phi người đã khai mở ngũ nhãn mới thấy rõ, chẳng
phải phàm phu tục tử chúng ta thấu hiểu được.
Khi thấy như vậy, chẳng phân biệt
cõi nước, chẳng phân biệt chúng sinh, chẳng phân
biệt Phật, chẳng phân biệt pháp, chẳng chấp
trước thân, chẳng chấp trước thân nghiệp, chẳng
chấp trước tâm, chẳng chấp trước ý.
Ví như các pháp chẳng phân biệt
tự tánh, chẳng phân biệt âm thanh, mà tự tánh
chẳng xả bỏ, danh tự chẳng diệt. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, chẳng xả bỏ sự tu hành, tuỳ thế
gian mà làm, chẳng chấp trước vào hai điều này.
Khi Bồ Tát nhìn thấy thân mình,
biến hoá như vậy, Ngàichẳng có sự phân biệt cõi
nước, chúng sinh, chư Phật, các pháp .v.v… cũng
chẳng chấp trước thân, chẳng chấp trước nghiệp
do thân tạo ra, cũng chẳng chấp trước tâm, chẳng
chấp trước ý. Tóm lại, tất cả đều chẳng chấp
trước, tức cũng là đạt đến cảnh giới giải thoát.
Ví như các pháp chẳng phân biệt
tự tánh, chẳng phân biệt âm thanh. Tự tánh không
thể không có, danh tự chẳng diệt mất. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, chẳng xả bỏ hạnh Bồ Tát của
mình tu, hay tuỳ thuận thế gian mà làm, trong sự
tu hành và thế tục đều chẳng chấp trước.
Phật tử ! Đại Bồ Tát thấy vô
lượng quang minh màu sắc, vô lượng hình tướng
của Phật, đều viên mãn thành tựu, bình đẳng
thanh tịnh, mỗi mỗi đều hiện tiền, phân minh rõ
ràng. Hoặc thấy thân Phật đủ thứ quang minh,
hoặc thấy thân Phật viên quang một tầm, hoặc
thấy thân Phật sáng rực rỡ như mặt trời, hoặc
thấy thân Phật quang sắc vi diệu, hoặc thấy thân
Phật màu sắc thanh tịnh, hoặc thấy thân Phật màu
vàng thật, hoặc thấy thân Phật màu kim cang,
hoặc thấy thân Phật màu cam xanh, hoặc thấy thân
Phật vô biên màu sắc, hoặc thấy thân Phật màu
sắc xanh ma ni báu.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát
thường thấy tất cả chư Phật mười phương ba đời,
phóng vô lượng quang và vô lượng màu sắc. Lại
thấy chư Phật thị hiện vô lượng hình tướng (32
tướng, 80 vẻ đẹp), sự trang nghiêm thân đó vừa
viên mãn vừa thành tựu, lại bình đẳng, lại thanh
tịnh. Mỗi thứ cảnh giới đều hiện tiền, phân minh
rõ ràng.
Đại Bồ Tát hoặc thấy thân mười
phương chư Phật, có mười thứ quang sắc:
1. Có đủ thứ quang minh.
2. Có viên quang một tầm.
3. Có nhan sắc sáng rực như mặt
trời.
4. Có trong quang hiện quang,
trong màu sắc hiện màu sắc, có quang sắc vi diệu
không thể nghĩ bàn.
5. Có nhan sắc thanh tịnh.
6. Có nhan sắc vàng thật.
7. Có nhan sắc kim cang.
8. Có nhan sắc cam xanh.
9. Có vô biên nhan sắc.
10. Có nhan sắc màu xanh ma ni
báu.
Hoặc thấy thân Phật cao bảy
thước, hoặc thấy thân Phật cao tám thước, hoặc
thấy thân Phật cao chín thước, hoặc thấy thân
Phật cao mười thước, hoặc thấy thân Phật cao hai
mươi thước, hoặc thấy thân Phật cao ba mươi
thước. Như vậy cho đến một trăm thước, một ngàn
thước.
Hoặc thấy thân Phật cao một Câu
lô xá, hoặc thấy thân Phật cao nửa do tuần, hoặc
thấy thân Phật cao một do tuần, hoặc thấy thân
Phật cao mười do tuần, hoặc thấy thân Phật cao
trăm do tuần, hoặc thấy thân Phật cao ngàn do
tuần, hoặc thấy thân Phật cao trăm ngàn do tuần.
Hoặc thấy thân Phật cao bằng cõi
Diêm Phù Đề, hoặc thấy thân Phật cao bằng bốn
thiên hạ, hoặc thấy thân Phật cao bằng tiểu
thiên thế giới, hoặc thấy thân Phật cao bằng
trung thiên thế giới, hoặc thấy thân Phật cao
bằng đại thiên thế giới, hoặc thấy thân Phật cao
bằng trăm đại thiên thế giới, hoặc thấy thân
Phật cao bằng ngàn đại thiên thế giới, hoặc thấy
thân Phật cao bằng trăm ngàn đại thiên thế giới,
hoặc thấy thân Phật cao bằng trăm ngàn ức Na do
tha đại thiên thế giới.
Hoặc thấy thân Phật cao bằng vô
số đại thiên thế giới, hoặc thấy thân Phật cao
bằng vô lượng đại thiên thế giới, hoặc thấy thân
Phật cao bằng vô biên đại thiên thế giới, hoặc
thấy thân Phật cao bằng vô đẳng đại thiên thế
giới, hoặc thấy thân Phật cao bằng bất khả số
đại thiên thế giới, hoặc thấy thân Phật cao bằng
bất khả xưng đại thiên thế giới, hoặc thấy thân
Phật cao bằng bất khả tư đại thiên thế giới,
hoặc thấy thân Phật cao bằng bất khả lượng đại
thiên thế giới, hoặc thấy thân Phật cao bằng bất
khả thuyết đại thiên thế giới, hoặc thấy thân
Phật cao bằng bất khả thuyết bất khả thuyết đại
thiên thế giới.
Đại Bồ Tát,hoặc thấy thân Phật
cao bảy thước, hoặc tám thước, hoặc chín thước,
hoặc mười thước, hoặc hai mươi thước, hoặc ba
mươi thước, cho đến một trăm thước, một ngàn
thước.
Hoặc thấy thân Phật cao một Câu
lô xá, hoặc nửa do tuần, hoặc một do tuần, hoặc
mười do tuần, hoặc trăm do tuần, hoặc ngàn do
tuần, hoặc trăm ngàn do tuần.
Hoặc thấy thân Phật bằng cõi Diêm
Phù Đề, hoặc bằng bốn thiên hạ, hoặc bằng tiểu
thiên thế giới, hoặc bằng trung thiên thế giới,
hoặc bằng đại thiên thế giới, hoặc bằng trăm đại
thiên thế giới, hoặc bằng ngàn đại thiên thế
giới, hoặc bằng trăm ngàn đại thiên thế giới,
hoặc bằng trăm ngàn ức na do tha đại thiên thế
giới.
Hoặc thấy thân Phật bằng vô số
đại thiên thế giới, hoặc bằng vô lượng đại thiên
thế giới, hoặc bằng vô biên đại thiên thế giới,
hoặc bằng vô đẳng đại thiên thế giới, hoặc bằng
bất khả số đại thiên thế giới, hoặc bằng bất khả
xưng đại thiên thế giới, hoặc bằng bất khả tư
đại thiên thế giới, hoặc bằng bất khả lượng đại
thiên thế giới, hoặc bằng bất khả thuyết đại
thiên thế giới, hoặc bằng bất khả thuyết bất khả
thuyết đại thiên thế giới.
Tại sao phải nói số lượng nhiều
như vậy ? Vì tư tưởng của chúng ta nhỏ hẹp, có
giới hạn, không thể to lớn “tận hư không, khắp
pháp giới”, cho nên mục đích Phật Thích Ca diễn
nói Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật là phá
chấp trước của chúng sinh, dạy chúng ta nhìn
thấy lớn, đừng chấp trước lớn. Thấy nhỏ đừng
chấp trước nhỏ. Nếu chấp trước lớn thì bị lớn
lay chuyển, nếu chấp trước nhỏ thì bị nhỏ lay
chuyển. Như vậy thì chẳng có định lực. Người đó
định lực, thấy giống như không thấy, nghe giống
như không nghe, do đó :
“Mắt thấy hình sắc bên trong
chẳng có
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng
hay”.
Tức cũng là cảnh giới :
“Quán tâm bên trong, chẳng thấy
tâm
Quán hình bên ngoài, chẳng thấy
hình
Quán vật ở xa, chẳng có vật”.
Tất cả đều hư vọng không thật, cho nên cảnh giới
của Kinh Hoa Nghiêm, là phải mở rộng tâm lượng
rộng lớn. Do đó :
“Tâm bao thái hư
Lượng chu sa giới”.
Đừng có tâm lượng nhỏ hẹp, gặp sự
việc nhỏ như hạt bụi, nghĩ cũng không ra, buông
bỏ chẳng đặng. Cho nên trong Kinh Hoa Nghiêm nói
: “Hoặc có Bồ Tát, hoặc có chúng sinh, thấy được
thân Phật, có đủ thứ sự khác nhau”. Hoặc thấy,
hoặc chẳng thấy; hoặc có người thấy, có người
không thấy, hoặc thấy mà chẳng thấy, đây là pháp
không nhất định, ngàn vạn đừng chấp trước. Nếu
chấp trước, thì tự tìm phiền não.
Phật tử ! Bồ Tát thấy vô lượng
sắc tướng, vô lượng hình trạng, vô lượng thị
hiện, vô lượng quang minh, vô lượng lưới quang
minh của các Như Lai như vậy. Quang minh đó phân
lượng đồng pháp giới ở trong pháp giới, không
chỗ nào không chiếu đến. Khắp khiến cho phát
khởi vô thượng trí huệ. Lại thấy thân Phật không
có nhiễm trước, không có chướng ngại, thượng
diệu thanh tịnh.
Các vị Phật tử ! Bồ Tát thấy vô
lượng sắc tướng, vô lượng hình trạng, vô lượng
thị hiện, vô lượng quang minh, vô lượng lưới
quang minh, của mười phương ba đời tất cả chư
Phật như vậy. Quang minh đó phân lượng đồng pháp
giới ở trong pháp giới, không chỗ nào không
chiếu đến. Khắp khiến cho phát khởi vô thượng
trí huệ.
Thân Phật là vô tướng, là vô
hình. Nhưng vô tướng mà thấy tướng, vô hình mà
hiện hình. Thân Phật là vô lượng, ở tại Bồ Tát
và chúng sinh mà nhìn, thì thấy lớn thấy nhỏ. Ở
nơi thân Phật vốn chẳng lớn chẳng nhỏ. Thân Phật
đầy khắp pháp giới, bao la vạn hữu. Cho nên thấy
lớn thấy nhỏ, đều là tâm chúng sinh phân biệt mà
ra.
Bồ Tát lại thấy thân Phật thanh
tịnh không có nhiễm ô, cũng chẳng chấp trước,
lại không có chướng ngại, đó là tối vô thượng
thanh tịnh vi diệu. Chẳng giống như thân chúng
sinh, là bất tịnh, là ô nhiễm, có sự chấp trước.
Tóm lại, thân ai không có nhiễm ô chấp trước,
thì người đó là Phật. Thân ai nhiễm ô chấp trước
thì người đó là chúng sinh.
Nhiễm ô chấp trước là gì ? Nói
đơn giản là nhìn chẳng thấu, buông chẳng đặng.
Lúc nào cũng khởi vọng tưởng. Phật là bậc Thánh
vô niệm, không chấp, cho nên chẳng có nhiễm ô
chấp trước. Pháp thân của Phật, giống như hư
không, chẳng có mọi sự chướng ngại. Tất cả chúng
sinh đều ở trong pháp thân của Phật. Chúng ta
đang sinh hoạt ở trong pháp thân của Phật, mà
chính mình không biết. Pháp thân của Phật khắp
cùng tất cả mọi nơi, bất cứ là nơi thanh tịnh,
hoặc nơi dơ bẩn, đều có pháp thân của Phật ở đó.
Do đó : « Vô tại vô bất tại », tức nhiên là như
thế, nên chúng sinh chạy không ra khỏi pháp thân
của Phật.
Phật tử ! Bồ Tát thấy thân Phật
như vậy, mà thân Phật không tăng, không giảm. Ví
như hư không, trong lỗ hạt cải của con mọt ăn,
cũng chẳng nhỏ bớt, ở trong vô số thế giới, cũng
chẳng lớn thêm.
Thân của chư Phật cũng lại như
thế, khi thấy lớn, cũng chẳng tăng thêm, khi
thấy nhỏ cũng chẳng giảm bớt.
Phật tử ! Ví như mặt trăng, người
cõi Diêm Phù Đề nhìn thấy hình nhỏ, mà cũng
chẳng giảm bớt. Người ở trong mặt trăng, thấy
hình mặt trăng lớn, cũng chẳng tăng thêm.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trụ
tam muội này, tuỳ tâm ưa thích của Ngài, thấy
thân chư Phật đủ thứ hoá tướng, lời lẽ nói pháp,
thọ trì chẳng quên, mà thân Như Lai chẳng tăng,
chẳng giảm.
Phật tử ! Ví như chúng sinh, khi
mạng chung rồi, lúc sắp thọ sinh, chẳng lìa sự
thấy thanh tịnh của tâm. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, chẳng lìa sự thấy thanh tịnh của tam muội
thâm sâu này.
Các vị Phật tử !Bồ Tát thấy thân
Phật như vậy, mà thân Phật không lớn thêm, cũng
không nhỏ bớt. Ví như hư không, trong lỗ hạt cải
bị con mọt ăn, cũng chẳng nhỏ bớt, ở trong vô số
thế giới, cũng chẳng lớn thêm, đạo lý giống
nhau. Thân của chư Phật cũng lại như thế, khi
thấy lớn, cũng chẳng tăng thêm, khi thấy nhỏ
cũng chẳng giảm bớt. Trong Tâm Kinh có nói :
« Không sinh không diệt, không dơ không sạch,
không tăng không giảm ».
Chúng sinh do nghiệp báo, cho nên
thấy đủ thứ hình tướng khác nhau. Ví như chư
Thiên nhìn thấy hình tướng của nước là lưu ly,
con người thấy hình tướng của nước là nước. Quỷ
thấy hình tướng của nước là lửa. Mỗi loài có
nghiệp báo của họ, sự thấy hình tướng đều khác
nhau. Bồ Tát ở trong định thấy thân Phật có lớn
có nhỏ, có các thứ thân cao lớn khác nhau, nhưng
bổn thân Phật không lớn không nhỏ. Chúng ta
chúng sinh vốn chẳng thấy được Phật. Tại sao ?
Vì tu trì chẳng đủ và chẳng tương ưng với Phật
quang, cho nên chẳng có cảnh giới cảm ứng đạo
giao.
Các vị Phật tử ! Ví như mặt
trăng, người ở cõi Diêm Phù Đề nhìn thấy hình
tướng mặt trăng thì nhỏ, nhưng bổn thân của mặt
trăng chẳng có giảm bớt. Người ở trên mặt trăng,
(Hiện tại chứng minh trên mặt trăng chẳng có
sinh vật, đây là phàm phu dùng mắt thịt để quán
sát báo cáo. Song, nhục nhãn của Thánh nhân quán
sát thì có Bồ Tát, La Hán, trời người .v.v… đang
ở trên mặt trăng) thấy thế giới mặt trăng rất
lớn, nhưng bổn thân mặt trăng cũng chẳng tăng
thêm.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trụ
trong tam muội biết rõ tất cả thế giới Phật
trang nghiêm, tuỳ tâm ưa thích của Ngài, mà thấy
được thân chư Phật mười phương ba đời, có đủ thứ
tướng biến hoá khác nhau, Bồ Tát ở trong định
nghe lời lẽ chư Phật diễn nói diệu pháp rõ ràng
ghi nhớ trong đầu, thọ trì chẳng quên. Pháp thân
của Phật chẳng tăng chẳng giảm.
Các vị Phật tử ! Ví như tất cả
chúng sinh, khi mạng chung rồi, lúc sắp thọ
sinh, trong giai đoạn này là thân trung ấm, tức
cũng là « quỷ ». Khi năm ấm trước của con quỷ
này (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đã đoạn, năm
ấm sau chưa sinh. Linh hồn cũng có thể nói là
thức thứ tám (chủng tử) ở trong đen tối, đi khắp
nơi tìm kiếm cha mẹ có duyên để thọ sinh. Dù có
xa ngàn dặm, nếu phát hiện một chút ánh sáng
(không có duyên thì nhìn chẳng thấy ánh sáng
này), liền lập tức đến chỗ ánh sáng đó, trong
khoảnh khắc bèn đi thọ sinh.
Khi nam nữ giao cấu thì phóng ra
một thứ dâm quang, con cái phát hiện cảnh giới
này, nếu có vọng niệm thương cha ghét mẹ, tức là
thân nữ; còn nếu có vọng niệm thương mẹ ghét
cha, tức là thân nam. Do một niệm vô minh này
gieo xuống, mà thọ khổ luân hồi. Nếu chẳng có vô
minh tác quái, thấy mà tâm chẳng động, thì không
sinh, không sinh thì không chết. Lúc đó, chấm
dứt sinh tử, vĩnh viễn được giải thoát.
Chúng sinh dùng gì để thọ sinh ?
Là dùng tâm. Do đó : « Không lìa khỏi tâm ». Tâm
có phân ra âm dương, dương là thần, có thể hoá
sinh về trời; âm là quỷ, đầu thai vào nhân gian,
hoặc làm người, hoặc làm súc sinh.
Chẳng lìa khỏi tâm mà thấy được
cảnh giới này, là thanh tịnh. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, Ngài chẳng lìa khỏi cảnh giới thấy
thanh tịnh của tam muội thâm sâu này, đều là
thanh tịnh không nhiễm.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, thành tựu mười pháp mau chóng. Những gì là
mười ? Đó là : Mau tăng thêm các hạnh viên mãn
đại nguyện. Mau dùng pháp quang chiếu sáng thế
gian. Mau dùng phương tiện chuyển pháp luân, độ
thoát chúng sinh. Mau tuỳ nghiệp chúng sinh, thị
hiện cõi nước thanh tịnh của chư Phật. Mau dùng
trí bình đẳng, thú hướng nhập vào mười lực. Mau
cùng ở với tất cả Như Lai. Mau dùng sức đại bi,
phá tan quân ma. Mau dứt nghi của chúng sinh,
khiến cho họ sinh hoan hỉ. Mau tuỳ thắng giải,
thị hiện thần biến. Mau dùng đủ thứ diệu pháp
lời lẽ, tịnh các thế gian.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát trụ
tam muội này, thành tựu mười pháp mau chóng.
Những gì là mười ? Đó là :
1. Mau tăng thêm các hạnh viên
mãn đại nguyện : Tức là rất mau chóng tăng
trưởng công đức lục độ vạn hạnh, viên mãn đại
nguyện thuở xưa đã phát ra.
2. Mau dùng pháp quang chiếu sáng
thế gian : Tức là mau chóng dùng trí huệ quang
minh, để chiếu khắp hết thảy thế gian, khiến cho
tất cả chúng sinh phát bồ đề tâm.
3. Mau dùng phương tiện chuyển
pháp luân, độ thoát chúng sinh : Tức là mau
chóng chuyển đại pháp luân, dùng pháp môn phương
tiện khéo léo để độ thoát tất cả chúng sinh,
khiến cho họ lìa khổ được vui.
4. Mau tuỳ nghiệp chúng sinh, thị
hiện cõi nước thanh tịnh của chư Phật : Tức là
mau chóng tuỳ thuận nghiệp của chúng sinh, thị
hiện cõi nước chư Phật thanh tịnh, khiến cho
chúng sinh trụ ở trong đó được an ổn.
5. Mau dùng trí bình đẳng, thú
hướng nhập vào mười lực : Tức là mau chóng dùng
trí huệ bình đẳng, thú hướng nhập vào mười lực.
6. Mau cùng ở với tất cả Như
Lai : Tức là mau chóng cùng ở với chư Phật, nên
gần gũi chư Phật, thừa sự chư Phật.
7. Mau dùng sức đại bi, phá tan
quân ma : Tức là mau chóng dùng sức lực đại từ
đại bi để phá tan tất cả ma quân.
8. Mau dứt nghi của chúng sinh,
khiến cho họ sinh hoan hỉ : Tức là mau chóng
đoạn trừ nghi hoặc của chúng sinh, khiến cho họ
sinh tâm hoan hỉ.
9. Mau tuỳ thắng giải, thị hiện
thần biến : Tức là mau chóng tuỳ thuận giải
thoát thù thắng, thị hiện đủ thứ thần thông biến
hoá.
10. Mau dùng đủ thứ diệu pháp lời
lẽ, tịnh các thế gian : Tức là mau chóng dùng đủ
thứ lời lẽ diệu pháp, để thanh tịnh tất cả thế
gian, khiến cho đời ác năm trược biến thành thế
giới thanh tịnh.
Đả Phật thất lần này (ngày
20/8/1977) tại Vạn Phật Thành là lần thứ nhất.
Tục ngữ có nói : « Bắt đầu tốt đẹp, tức là thành
công một nửa ». Do đó : « Một thuận thì trăm
thuận ». Hy vọng mọi người dũng mãnh để niệm
Phật, chuyên tâm để niệm Phật, trói tâm khỉ lại,
đừng để nó chạy bên ngoài. Tự mình quản thúc
mình, niệm đến lúc nhất tâm bất loạn, thì sẽ
được Phật Di Đà gia bị, khiến cho bạn khai mở
đại trí huệ.
A Di Đà Phật, dịch là « Vô Lượng
Thọ Phật », hoặc dịch là « Vô Lượng Quang
Phật ». Vô lượng kiếp về trước, Ngài cũng là
chúng sinh, giống như bạn, tôi và mọi người,
chẳng có gì khác biệt. Bất quá, trước khi Ngài
xuất gia, lúc nào cũng tu pháp môn niệm Phật. Về
sau, xuất gia làm Tỳ Kheo pháp danh là Pháp
Tạng. Chẳng những Ngài tinh tấn niệm Phật, mà
còn phát ra 48 đại nguyện. Trong mỗi đại nguyện
đều nguyện nhiếp thọ tất cả chúng sinh, đến cõi
nước của Ngài (Thế giới Cực Lạc) thành Phật.
Trong một lời nguyện có nói rằng : « Nếu tôi
thành Phật, cõi nước của tôi gọi là thế giới Cực
Lạc, không có các sự khổ, chỉ thọ các điều
vui ». Lại nói : « Hết thảy chúng sinh mười
phương, nếu ai xưng danh hiệu của tôi, mà không
thành Phật, thì tôi không thủ Chánh Giác ». Vì
Phật A Di Đà có nguyện lực như thế, cho nên
chúng ta phải niệm sáu chữ hồng danh « Nam Mô A
Di Đà Phật », có thể đới nghiệp vãng sinh, hoa
nở thấy Phật. Muốn vãng sinh về thế giới Cực
Lạc, nhất định phải nhờ sức niệm Phật, mới được
vãng sinh về cõi đó; một phương diện phải nhờ
sức chính mình niệm Phật, phương diện khác phải
nhờ nguyện lực của Phật A Di Đà. Hai sức lực này
trợ giúp lẫn nhau, giúp cho vượt qua biển sinh
tử, khiến cho bạn bình an đạt đến thế giới Cực
Lạc.
Nay giải thích sơ lược về hồng
danh sáu chữ « Nam Mô A Di Đà Phật » : « Nam
Mô » ý nghĩa là quy mạng. Chúng ta đem thân tâm
tánh mạng đều quy y (nương tựa) Phật A Di Đà.
« A » nghĩa là vô. « Di Đà » nghĩa là lượng thọ.
Cho nên gọi là Phật Vô Lượng Thọ. Trong tịnh độ
tông có ba bộ kinh :
1. Kinh A Di Đà.
2. Kinh Vô Lượng Thọ.
3. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.
Bộ kinh thứ nhất, kinh văn rất
nông cạn dễ hiểu. Bộ kinh thứ hai, kinh văn sâu
hơn một chút, chẳng phải một số người hiểu được,
cho nên Kinh A Di Đà là kinh người niệm Phật
phải tụng. Trong kinh văn có nói : « Đức Phật đó
quang minh vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi
nước, không có chướng ngại, nên hiệu là A Di
Đà ». Lại nói : « Đức Phật đó thọ mạng, và nhân
dân của Ngài, vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp,
nên hiệu là A Di Đà ». Phật Vô Lượng Thọ hay
khiến cho tất cả chúng sinh tăng phước sống lâu.
Tên của Ngài còn dịch là Phật Vô Lượng Quang,
hay khiến cho tất cả chúng sinh đắc được đại trí
huệ quang minh, tương lai được sinh về thế giới
Cực Lạc phương tây, sớm thành Phật đạo, do đó :
« Mười phương Phật ba đời, đều cùng một pháp
thân ».
Niệm NamMô A Di Đà Phật, có bốn
phương pháp niệm :
1. Quán tưởng niệm Phật.
2. Quán tượng niệm Phật.
3. Trì danh niệm Phật.
4. Thật tướng niệm Phật.
Giải thích sơ lược như sau :
1. Quán tưởng niệm Phật : Phải
quán tưởng như vầy :
« Phật A Di Đà thân sắc vàng,
Tướng tốt trang nghiêm không ai
bằng ».
Phật A Di Đà có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi
vẻ đẹp. Thân phóng ra quang minh màu vàng, không
gì sánh bằng. Lại phải quán tưởng như vầy :
« Hào quang trắng bay lượng như
Tu Di,
Mắt Phật xanh biếc như nước bốn
biển ».
Giữa lông mày của Phật A Di Đà,
phóng ra quang minh màu trắng, bay lượng to lớn
như năm toà núi Tu Di. Mắt của Ngài xanh biếc
trong suốt như nước bốn biển. Lại phải quán
tưởng như vầy :
« Trong quang minh có vô số ức
hoá Phật,
Hoá Bồ Tát chúng cũng nhiều vô
biên ».
Ở trong quang minh của Phật A Di
Đà lại hoá hiện ra vô số ức vị Phật, lại hoá
hiện vô lượng vô biên Bồ Tát. Lại phải quán
tưởng như vầy :
« Bốn mươi tám nguyện độ chúng
sinh,
Chín phẩm sen vàng lên bờ giác ».
Khi Phật A Di Đà tại nhân địa, đã
từng phát bốn mươi tám đại nguyện. Ở trong mỗi
nguyện, đều độ chúng sinh lên bờ bên kia, thành
tựu Phật quả. Trong đó phân làm ba bậc, chín
phẩm. Ba bậc là bậc thượng, bậc trung, bậc hạ.
Chín phẩm là thượng ba phẩm, trung ba phẩm, hạ
ba phẩm. Thượng thượng phẩm thấy Phật, hạ hạ
phẩm thấy Bồ Tát.
2. Quán tượng niệm Phật : Phải
cúng phụng Thánh tượng Phật A Di Đà (hoặc tây
phương tam Thánh) nơi thanh tịnh. Khi niệm danh
hiệu Phật thì mắt quán Phật A Di Đà, miệng niệm
Phật A Di Đà, tâm nghĩ Phật A Di Đà, như vậy sẽ
khiến cho ba nghiệp thanh tịnh, sẽ được vãng
sinh về thế giới tây phương, do đó :
« Nguyện sinh về cõi tây phương
cõi tịnh độ
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh
Bồ Tát bất thối làm bạn lành ».
3. Trì danh niệm Phật : Hiện tại
chúng ta là tu trì danh niệm Phật, nhất tâm bất
loạn niệm sáu chữ hồng danh, kiền thành niệm,
hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm
ngày, hoặc sáu ngày. Hiện tại chúng ta đã niệm
được sáu ngày (ngày thứ sáu của Phật thất). Đợi
khi đến ngày thứ bảy, sẽ chứng được niệm Phật
tam muội. Niệm Phật tam muội là gì ? Tức là lúc
nào cũng chuyên tâm niệm, tinh thần tập trung
niệm. Lúc đó, đi chẳng biết đi, ngồi chẳng biết
ngồi, khát chẳng biết khát, đói chẳng biết đói,
ăn chẳng biết ăn, ngủ chẳng biết ngủ, bất cứ đi
đừng nằm ngồi, đều là sáu chữ hồng danh « Nam Mô
A Di Đà Phật ». Niệm đến bên trong cũng là A Di
Đà Phật, bên ngoài cũng là A Di Đà Phật, bất cứ
âm thanh gì, cũng đều biến thành âm thanh A Di
Đà Phật, lúc đó, chẳng còn vọng tưởng nào khác,
chỉ có một lòng niệm Phật, đó là đạt đến cảnh
giới niệm Phật tam muội.
4. Thật tướng niệm Phật : Tức
cũng là tham thoại đầu, tham « Niệm Phật là ai ?
Ai đang niệm Phật » ? Một lòng một dạ truy cứu
chữ « ai » này. Chữ « ai » này là kim cang vương
bảo kiếm, là chuỳ báu hàng ma, chém sạch hết
si tâm vọng tưởng. Đến lúc một niệm không sinh,
một pháp không nhiễm, sẽ tìm được chữ « ai ».
Tìm như thế nào ? Phương pháp này rất là đơn
giản, nghĩa là từng phút từng giây luôn để tâm
tới chữ « ai », đừng quên mất. Ăn cơm cũng tìm,
ngủ nghỉ cũng tìm, tìm tới tìm lui, sẽ chứng
được thật tướng (thật tướng vô tướng, vô tướng
vô bất tướng) trí huệ, sẽ giác ngộ đạo lý tất cả
các pháp thật tướng. Lúc đó, biển lặng trời
xanh, nhậm vận tiêu dao, thật là tự tại, vô câu
vô thúc, giải thoát tất cả.
Bốn thứ pháp môn niệm Phật này,
bất cứ y pháp môn nào tu hành, cũng đều sẽ thành
tựu, đều đắc được niệm Phật tam muội. Khi mạng
chung, không quái không ngại, rất an tường vãng
sinh tây phương.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này lại được
mười thứ pháp ấn, ấn tất cả pháp. Những gì là
mười ?
Một là căn lành bình đẳng đồng
với tất cả chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.
Hai là đắc được pháp thân trí huệ
không bờ mé đồng với các Như Lai.
Ba là trụ pháp không hai đồng với
các Như Lai.
Bốn là quán sát vô lượng cảnh
giới ba đời thảy đều bình đẳng đồng với các Như
Lai.
Năm là thông đạt được cảnh giới
pháp giới vô ngại đồng với các Như Lai.
Sáu là thành tựu mười lực, sở
hành vô ngại đồng với các Như Lai.
Bảy là vĩnh viễn dứt trừ hai
hành, trụ pháp vô tranh đồng với các Như Lai.
Tám là giáo hoá chúng sinh luôn
không ngừng nghỉ đồng với các Như Lai.
Chín là nơi trí thiện xảo, nghĩa
thiện xảo, hay khéo quán sát, đồng với các Như
Lai.
Mười là bình đẳng không hai với
tất cả Phật đồng với các Như Lai.
Các vị Phật tử !Vị đại Bồ Tát này
lại được mười thứ pháp ấn, ấn chứng tất cả các
pháp. Những gì là mười ?
1. Căn lành của Bồ Tát bình đẳng
đồng với tất cả chư Phật đời quá khứ, đời vị
lai, đời hiện tại. Đắc được pháp ấn căn lành
bình đẳng như thế, thì tương lai nhất định sẽ
thành Phật.
2. Bồ Tát đắc được pháp thân trí
huệ không bờ mé đồng với chư Phật mười phương ba
đời. Hết thảy chúng sinh thế gian đều trụ ở
trong pháp thân của Phật, do đó : « Pháp thân
như hư không ». Có ai sống ở ngoài hư không
chăng ? Cho nên đều ở trong pháp thân. Song,
chúng sinh tự mình không biết mà thôi. Tại sao ?
Vì chẳng có ngũ nhãn lục thông, cho nên nhìn
chẳng thấy pháp thân của Phật. Nếu người khai mở
ngũ nhãn sẽ nhìn thấy rất rõ ràng.
Ngũ nhãn là gì ? Trước hết nói
bài kệ :
« Thiên nhãn thông phi ngại
Nhục nhãn ngại phi thông
Pháp nhãn duy quán tục
Huệ nhãn liễu chân không
Phật nhãn như thiên nhựt
Chiếu dị thể hoàn đồng
Viên minh pháp giới cảnh
Vô xứ bất hàm dung ».
Lược giải thích như sau :
A. Thiên nhãn thông phi ngại :
Thiên nhãn thông đạt được tất cả sự vật hữu hình
và vô hình. Hữu hình nhìn thấy được, vô hình
nhìn thấu được, đều không có chướng ngại. Hết
thảy sơn hà đại địa, nhà cửa phòng ốc, phàm là
sự vật có hình có tướng, đều không che được
thiên nhãn. Trên thấy được hành động của chư
thiên, đang hưởng thụ khoái lạc gì ? Dưới nhìn
thấy được chúng sinh dưới các địa ngục, đang thọ
khổ hình gì ? Nhìn thấy rất rõ ràng.
B. Nhục nhãn ngại phi thông :
Nhục nhãn này, chẳng phải con mắt thịt của phàm
phu. Nhục nhãn này quán sát được vật có chướng
ngại, vật có hình tướng. Có thể nhìn thấy tất cả
thân Phật Bồ Tát, lại có thể nhìn thấy tất cả
yêu ma quỷ quái. Nếu nói nhục nhãn có chướng
ngại, thì không thể thông đạt tất cả cảnh giới,
đó là không đúng. Nhục nhãn của phàm phu có
chướng ngại, nhục nhãn của Thánh nhân không có
sự chướng ngại.
C. Pháp nhãn duy quán tục : Pháp
nhãn quán sát được pháp nghĩa trong tục đế. Mỗi
hạt bụi trong hư không, nhìn thấy đều có tam
tạng mười hai bộ kinh điển. Lại nhìn thấy pháp
hội Linh Sơn, đức Phật vẫn đang ở đó diễn nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, chưa tan hội.
D. Huệ nhãn liễu chân không : Huệ
nhãn biết rõ được trong chân không có những gì ?
Minh bạch đạo lý thật tướng chân không. Thấy
được tất cả sự vật vị lai, không cần tác ý, chỉ
nhìn thì biết rõ.
Hiện tại khoa học đang phát
triển, tuy nhiên đã phát minh điện tử, nguyên
tử, phân tử, hạch tử .v.v…nhưng khi phát minh
rồi, con người mới biết. Phàm là người có trí
huệ, vật trước khi phát minh, đều nhìn thấy
được. Giống như điện thoại, truyền hình, rađa
.v.v…trước khi phát minh, Bồ Tát đều biết đều
thấy.
Tôi thường nói : « Tương lai năm
trăm năm sau, hoặc một ngàn năm sau, con người ở
tại đông nam hai bán cầu, cách xa vạn dặm, không
cần dùng điện thoại không dây, cũng có thể nói
chuyện với nhau được, giống như đang ở trước
mặt, không cần nhìn truyền hình, cũng có thể
nhìn các thứ tiết mục. Đây là lời tiên đoán của
tôi, sẽ mau chóng trở thành hiện thực.
Có người hỏi : « Hoà thượng !
Ngài có căn cứ gì mà phát biểu lời không thể
nghĩ bàn như thế » ?
Đương nhiên là tôi có căn cứ,
bằng không, sẽ phạm giới vọng ngữ, tương lai sẽ
đoạ vào địa ngục cắt lưỡi. Căn cứ của tôi là
dùng ngũ nhãn để chứng minh. Ai khổ cực tu đạo,
tham thiền đả toạ, thì tự nhiên sẽ khai mở ngũ
nhãn. Lúc đó, chẳng có gì mà không thấy, chẳng
có gì mà không biết. Ai cũng đều có thần thông,
có thể đi bộ ở trong hư không, không cần ngồi
máy bay. Có thể đi bộ trên biển, không cần ngồi
trên thuyền. Hiện tại tôi nói những lời này, các
bạn không cần tin, cứ cho rằng là huyễn tưởng.
Các bạn nhắm mắt lại nghĩ thử xem : Hai trăm năm
trước, nếu có người nói tương lai có điện thoại,
bất cứ xa cách bao nhiêu, cũng nói chuyện được,
thì bạn chắc chắn sẽ không tin. Một trăm năm
trước, nếu có người nói tương lai có truyền
hình, không những nghe được tiếng ca hát, mà còn
nhìn thấy tiết mục biểu diễn, ngồi ở trong nhà
nhìn thấy được, không cần đến rạp hạt, rất là
thuận tiện. Bạn nhất định cho rằng người đó bị
thần kinh, là kẻ si nói mộng, làm sao mà có việc
kỳ quái như thế ? Hiện tại đều đã chứng minh, đã
trở thành sự thật. Những lời hôm nay tôi nói,
các bạn cho rằng là nói bậy, đợi đến lúc đó,
chẳng có ai nói với các bạn, các bạn cũng sẽ
tin.
E. Phật nhãn như thiên nhựt :
Phật nhãn sáng giống như ngàn mặt trời, có thể
chiếu vô số ba ngàn đại thiên thế giới. Song,
ánh sáng mặt trời chỉ chiếu dương chẳng chiếu
âm, ánh sáng trí huệ của Phật không phân biệt âm
dương, do đó : « Phật quang phổ chiếu ». Phật
nhãn nhìn thế gian đều biết đều thấy hết.
Chiếu dị thể hoàn đồng : Quang
minh của Phật chiếu vạn sự vạn vật, tuy nhiên
khác nhau, nhưng bản thể là một, chứ chẳng hai.
Viên minh pháp giới cảnh : Phật
nhãn cùng quán xem tất cả, bất cứ là chân đế,
hoặc là tục đế, chẳng màng là có hình, hoặc là
không hình, đều viên dung vô ngại, thấu rõ cảnh
giới trong pháp giới.
Vô xứ bất hàm dung : Tận hư không
khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà không
hàm dung ở bên trong, đều nhìn thấy được rất rõ
ràng, đó là oai lực của Phật nhãn.
Bồ Tát đắc được vô biên trí huệ,
biết được tất cả các pháp đều là không. Dùng
pháp nhãn để quán sát tất cả tục đế, dùng huệ
nhãn để quán sát tất cả chân đế, cho nên chứng
được chân lý người và pháp đều không, nhưng chưa
chứng minh lý ba không, vẫn chưa thành Phật.
3. Bồ Tát trụ pháp không hai đồng với chư Phật.
Pháp môn không hai tức là pháp thật tướng rốt
ráo. Bồ Tát Văn Thù hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
« Thế nào là pháp môn không hai » ? Ông Duy Ma
Cật ngồi yên không nói, đó tức là pháp môn không
hai, do đó : « Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ
diệt ».
4. Trí huệ của Bồ Tát quán sát vô lượng cảnh
giới ba đời thảy đều bình đẳng đồng với chư
Phật. Minh bạch tất cả các pháp đều là bình
đẳng, chẳng có sự phân biệt, đắc được pháp ấn
này. Pháp ấn là gì ? Tức là ấn tỉ diệu pháp,
chứng minh chánh pháp của Phật, cũng là pháp các
vị Tổ sư ấn khả với nhau, tâm tâm truyền với
nhau.
5. Bồ Tát chứng đắc thấu rõ thông đạt được cảnh
giới mười pháp giới vô ngại đồng với các Như
Lai. Pháp giới chúng sinh nào đáng độ, thì Bồ
Tát đến pháp giới đó để thọ sinh. Dùng bốn pháp
nhiếp để giáo hoá chúng sinh pháp giới đó, khiến
cho họ phát bồ đề tâm. Trên cầu Phật đạo, dưới
độ chúng sinh, đều thành Phật đạo.
6. Bồ Tát thành tựu mười lực của Phật, cảnh giới
sở hành vô ngại đồng với chư Phật. Mười lực tức
là :
a. Giác xứ phi xứ lực.
b. Ba đời nghiệp báo lực.
c. Chư Phật giải thoát tam muội lực.
d. Chư căn thắng liệt lực.
e. Chủng chủng giải lực.
f. Chủng chủng giới lực.
g. Nhất thiết chí xứ đạo lực.
h. Thiên nhãn vô ngại lực.
i. Túc mạng vô lậu lực.
j. Vĩnh đoạn tập khí lực.
7. Bồ Tát vĩnh viễn dứt trừ hai hành (thấy và
ái), chẳng có thấy cái ta và hành vi tình ái.
Làm thế nào mà chẳng có tư tưởng đó ? Phải tu
bốn vô lượng tâm (Từ, bi, hỉ, xả), thì mới tiêu
diệt được, vĩnh viễn dứt hai hành, như thế thì
trụ pháp vô tranh, đồng với chư Phật. Do đó :
« Tranh là tâm thắng phụ
Trái ngược lại với đạo
Bèn sinh bốn tướng tâm
Sao đắc được tam muội » ?
Vô tranh tức là :
« Hãy nhận chính mình sai
Đừng nói lỗi người khác
Lỗi người tức lỗi mình
Đồng thể gọi đại bi ».
Nói tóm lại, bất cứ người khác nói mình có chỗ
nào không đúng, chẳng màng là ý tốt phê bình,
hoặc ác ý phỉ báng, đều phải dùng tâm khiêm hư
để tiếp thọ, thừa nhận lỗi của mình, đừng biện
luận với người khác. Nếu biện luận, thì sẽ sinh
ra bốn tướng tâm (ta, người, chúng sinh, thọ
mạng), sẽ trái với tông chỉ tu đạo, làm sao đắc
được tam muội ? Cho nên, không tranh luận, chẳng
thị phi. Quán tưởng như thế, thì sẽ hoà bình với
nhau. Việc lớn hoá thành nhỏ, việc nhỏ hoá
không. Hết mưa trời lại sáng, sóng yên gió lặng.
8. Bồ Tát giáo hoá tất cả chúng sinh, khiến cho
họ phát tâm bồ đề, cầu vô thượng đạo, thường
chuyển bánh xe pháp, luôn luôn không ngừng nghỉ
đồng với chư Phật. Nhiệm vụ của Bồ Tát là cứu
khổ cứu nạn, thấy chúng sinh thọ khổ, nghe chúng
sinh thọ nạn, thì lập tức hoá thân đến cứu vớt
chúng sinh ra khỏi biển khổ, do đó :
« Vô duyên đại từ, đồng thể đại
bi ».
Bồ Tát xem chúng sinh giống như chính mình, cùng
một thể; chúng sinh thọ khổ thọ nạn, giống như
chính mình thọ khổ thọ nạn. Chúng ta phải học
tinh thần của Bồ Tát, tất cả vì chúng sinh mưu
cầu hạnh phúc, đừng có nghĩ đến mình, do đó :
« Hy sinh tiểu ngã, để hoàn thành
đại ngã ».
9. Bồ Tát nơi trí thiện xảo, nghĩa lý thiện xảo,
hay khéo quán sát, khéo thấu hiểu, đồng với chư
Phật. Khi Bồ Tát thực hành sâu vào nghĩa lý Bát
Nhã Ba La Mật Đa, thì thấy rõ năm uẩn đều không,
qua khỏi tất cả khổ ách. Bồ Tát biết các pháp
không tướng, không sinh không diệt, không dơ
không sạch, không tăng không giảm. Cho nên không
chấp trước, chứng được giải thoát.
10. Bồ Tát bình đẳng không hai với tất cả Phật
đồng với chư Phật. Do đó : « Phật Phật đạo
đồng ». « Ba đời tất cả chư Phật, đều cùng một
pháp thân ». Vị Bồ Tát này tu chứng biết rõ tất
cả thế giới Phật trang nghiêm tam muội, Ngài đắc
được mười pháp ấn này.
Phật
tử ! Nếu đại Bồ Tát thành tựu đại tam muội môn
thiện xảo phương tiện, biết rõ tất cả thế giới
Phật trang nghiêm này.
Là bậc vô sư, vì không nhờ người khác dạy, mà tự
vào tất cả Phật pháp.
Là bậc trượng phu, vì hay khai ngộ tất cả chúng
sinh.
Là bậc thanh tịnh, vì biết tâm tánh vốn tịnh.
Là bậc đệ nhất, vì hay độ thoát tất cả thế gian.
Là bậc an ổn, vì hay khai thị lợi ích tất cả
chúng sinh.
Là bậc an trụ, vì người chưa trụ vào chủng tánh
Phật, khiến cho họ trụ vào.
Là bậc biết chân thật, vì vào môn Nhất thiết
trí.
Là bậc không nghĩ khác, vì lời nói không hai.
Là bậc trụ pháp tạng, vì thệ nguyện biết rõ tất
cả Phật pháp.
Là bậc hay mưa pháp vũ, vì tuỳ tâm chúng sinh ưa
thích, đều khiến cho họ được đầy đủ.
Các vị Phật tử !Nếu như có vị đại Bồ Tát, thành
tựu đại tam muội môn thiện xảo phương tiện, biết
rõ tất cả thế giới Phật trang nghiêm này, liền
đắc được mười điều lợi ích dùng đức thành
người :
1. Là bậc vô sư : Bồ Tát là người không thầy mà
tự thông, chẳng nhờ người khác dạy mà biết,
chính mình tự vào tất cả Phật pháp, đắc được
chân lý của diệu pháp.
2. Là bậc trượng phu : Bồ Tát là đại trượng phu,
tức cũng là điều ngự trượng phu, điều phục giá
ngự được tất cả chúng sinh ba đời, khiến cho
chúng sinh lìa khổ được vui, chấm dứt sinh tử.
Vì Ngài hay khai ngộ tất cả chúng sinh, cho nên
xưng là đại trượng phu.
3. Là bậc thanh tịnh : Bồ Tát là người thanh
tịnh không nhiễm, vì biết tâm tánh vốn là thanh
tịnh.
4. Là bậc đệ nhất : Bồ Tát là thiện tri thức đệ
nhất thế gian, vì hay độ thoát tất cả thế gian.
5. Là bậc an ổn : Bồ Tát là thiện tri thức an ủi
tất cả chúng sinh, dùng từ bi để an ủi, khiến
cho họ phát bồ đề tâm. Dùng hỉ xả để khai thị
lợi ích tất cả chúng sinh, khiến cho họ khôi
phục lại tâm thanh tịnh vốn có.
6. Là bậc an trụ : Bồ Tát là người an trụ tại bồ
đề đạo, khiến cho người chưa trụ vào chủng tánh
Phật, phát đại bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo.
7. Là bậc biết chân thật : Bồ Tát là người biết
chân thật tất cả khổ vui của thế gian, hay vào
môn Nhất thiết trí.
8. Là bậc không nghĩ khác : Bồ Tát là thiện tri
thức chẳng còn vọng tưởng, lời nói ra đều là
chân thật, chẳng nói lời hư vọng không thật.
9. Là bậc trụ pháp tạng : Bồ Tát là thiện tri
thức trụ nơi pháp tạng, phát đại thệ nguyện,
nhất định phải thấu rõ nguồn gốc tất cả Phật
pháp.
10. Là bậc hay mưa pháp vũ : Bồ Tát là thiện tri
thức mưa xuống đại pháp vũ, khi giáo hoá chúng
sinh, thì tuỳ thuận sự hoan hỉ trong tâm chúng
sinh, mà khiến cho họ được đầy đủ toại tâm mãn
nguyện, đó là pháp môn phương tiện thiện xảo, do
đó :
« Muốn khiến vào Phật trí
Trước dùng câu dục móc ».
Phật
tử ! Ví như Đế Thích, nơi búi tóc trên đỉnh đầu,
có gắn hạt châu ma ni. Vì nhờ sức bảo châu mà
oai quang càng thạnh. Khi trời Đế Thích mới được
bảo châu này, liền đắc được mười pháp, vượt hơn
tất cả trời Ba Mươi Ba.
Những gì là mười pháp ? Một là sắc tướng. Hai là
hình thể. Ba là thị hiện. Bốn là quyến thuộc.
Năm là đồ dùng. Sáu là âm thanh. Bảy là thần
thông. Tám là tự tại. Chín là huệ giải. Mười là
trí dụng. Mười pháp như vậy, đều hơn tất cả trời
Ba Mươi Ba.
Các vị Phật tử !Ví như trời Đế Thích (Thích Đề
Hoàn Nhân), nơi búi tóc trên đỉnh đầu của ông
ta, có gắn hạt châu báu ma ni. Vì nhờ sức ánh
sáng bảo châu, cho nên oai quang của trời Đế
Thích đặc biệt càng thạnh, phóng đại quang minh.
Khi trời Đế Thích mới được bảo châu này, liền
đắc được mười pháp, vượt hơn tất cả trời Ba Mươi
Ba. Những gì là mười pháp ?
1. Sắc tướng viên mãn.
2. Hình thể thù thắng.
3. Thị hiện không ai bằng.
4. Quyến thuộc hơn hẳn.
5. Đồ dùng đầy đủ.
6. Âm thanh vang xa.
7. Thần thông biến hoá.
8. Tự tại diệu dụng.
9. Huệ giải vô ngại.
10. Trí dụng hợp nhất.
Mười pháp như vậy, đều hơn tất cả trời Ba Mươi
Ba.
Trời Đế Thích có nhiều tên gọi. Ở trong Phật
Giáo gọi là Thích Đề Hoàn Nhân, hoặc gọi là Nhân
Đà La Gia. Ở trong Cơ Đốc Giáo gọi là Thượng Đế,
trong Thiên Chúa Giáo gọi là Thiên Chúa. Ở trong
Đạo Giáo gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế. Một số người
gọi là Thiên Lão Gia. Vì ông ta ở trên trời Đao
Lợi, trên đỉnh núi Tu Di, chưa lìa khỏi thế
giới, một số tôn giáo cho rằng ông ta là chủ tể
tối cao, là chủ tạo vạn vật, là chủ nhân quản lý
vũ trụ. Kỳ thật, ông ta bất quá là chủ nhân của
địa cư Thiên mà thôi. Trong tam giới có hai mươi
tám từng trời, cõi trời của ông ta ở, chỉ là
từng trời thứ hai. Song, quyền lực của ông ta
rất lớn, ở trên thì quản lý các cõi trời (ba
mươi hai trời của trời Đao Lợi), ở giữa thì quản
lý thiện ác của nhân gian, ở dưới thì quản lý
chúng sinh địa ngục.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, khi mới đắc được
tam muội này, thì được mười trí tạng rộng lớn.
Những gì là mười ? Một là trí chiếu sáng tất cả
cõi Phật. Hai là trí biết tất cả chúng sinh thọ
sinh. Ba là trí làm khắp ba đời biến hoá. Bốn là
trí vào khắp tất cả thân Phật. Năm là trí thông
đạt tất cả Phật pháp. Sáu là trí nhiếp khắp tất
cả tịnh pháp. Bảy là trí khiến khắp tất cả chúng
sinh vào pháp thân. Tám là trí hiện thấy tất cả
pháp phổ nhãn thanh tịnh. Chín là trí tất cả tự
tại đến nơi bờ kia. Mười là trí an trụ tất cả
pháp rộng lớn tận khắp không sót thừa.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vượt qua tất cả Bồ
Tát. Từ khi mới đắc được đại tam muội biết rõ
tất cả thế giới Phật trang nghiêm này, thì đắc
được mười trí huệ tạng rộng lớn. Những gì là
mười ?
1. Trí chiếu sáng tất cả cõi Phật : Trí huệ
quang của Bồ Tát có thể chiếu khắp hết thảy cõi
Phật.
2. Trí biết tất cả chúng sinh thọ sinh : Bồ Tát
biết tình hình tất cả chúng sinh thọ sinh.
3. Trí làm khắp ba đời biến hoá : Bồ Tát có thể
làm cho ba đời khắp đều chuyển biến.
4. Trí vào khắp tất cả thân Phật : Bồ Tát vào
khắp được trong pháp thân của chư Phật.
5. Trí thông đạt tất cả Phật pháp : Bồ Tát thông
đạt tất cả Phật pháp của chư Phật nói.
6. Trí nhiếp khắp tất cả tịnh pháp : Bồ Tát
nhiếp trì khắp tất cả pháp thanh tịnh.
7. Trí khiến khắp tất cả chúng sinh vào pháp
thân : Bồ Tát khiến khắp tất cả chúng sinh vào
pháp thân của chư Phật.
8. Trí hiện thấy tất cả pháp phổ nhãn thanh
tịnh : Bồ Tát hiện thấy tất cả các pháp, phổ
nhãn thanh tịnh.
9. Trí tất cả tự tại đến nơi bờ kia : Bồ Tát đều
tự tại hết thảy tất cả, đến được rốt ráo bờ bên
kia.
10. Trí an trụ tất cả pháp rộng lớn tận khắp
không sót thừa : Bồ Tát an trụ ở trong pháp rộng
lớn, rốt ráo khắp không sót thừa.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội này, lại đắc được
mười thân oai đức thanh tịnh nhất. Những gì là
mười ?
Một là vì chiếu sáng bất khả thuyết bất khả
thuyết thế giới, nên phóng ra bất khả thuyết bất
khả thuyết quang minh luân.
Hai là vì khiến cho thế giới đều thanh tịnh, nên
phóng ra bất khả thuyết bất khả thuyết vô lượng
sắc tướng quang minh luân.
Ba là vì điều phục chúng sinh, nên phóng ra bất
khả thuyết bất khả thuyết quang minh luân.
Bốn là vì gần gũi tất cả chư Phật, nên hoá làm
bất khả thuyết bất khả thuyết thân.
Năm là vì thừa sự cúng dường tất cả chư Phật,
nên mưa xuống bất khả thuyết bất khả thuyết đủ
thứ mây hương hoa thù diệu.
Sáu là vì thừa sự cúng dường tất cả chư Phật, và
điều phục tất cả chúng sinh, nên ở trong mỗi lỗ
lông, hoá làm bất khả thuyết bất khả thuyết đủ
thứ âm nhạc.
Bảy là vì thành thục chúng sinh, nên hiện bất
khả thuyết bất khả thuyết đủ thứ vô lượng tự tại
thần biến.
Tám là vì ở chỗ đủ thứ danh hiệu tất cả chư Phật
trong mười phương thỉnh vấn pháp, nên một bước
vượt qua bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới.
Chín là vì khiến cho tất cả chúng sinh thấy nghe
được đều chẳng luống qua, nên hiện bất khả
thuyết bất khả thuyết thân đủ thứ vô lượng sắc
tướng, không ai thấy đỉnh được.
Mười là vì chúng sinh khai thị vô lượng pháp bí
mật, nên phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết
lời lẽ âm thanh.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tại tam muội
này, lại đắc được mười thân oai đức thanh tịnh
nhất. Những gì là mười ?
1. Vì chiếu sáng bất khả thuyết bất khả thuyết
thế giới, nên phóng ra bất khả thuyết bất khả
thuyết quang minh luân.
2. Vì khiến cho thế giới đều thanh tịnh, nên ra
phóng bất khả thuyết bất khả thuyết vô lượng sắc
tướng quang minh luân.
3. Vì muốn điều phục chúng sinh, nên phóng ra
bất khả thuyết bất khả thuyết quang minh luân.
4. Vì gần gũi tất cả chư Phật, nên hoá làm bất
khả thuyết bất khả thuyết thân.
5. Vì thừa sự cúng dường tất cả chư Phật, nên
mưa xuống bất khả thuyết bất khả thuyết đủ thứ
mây hương hoa thù diệu.
6. Vì thừa sự cúng dường tất cả chư Phật, và
điều phục tất cả chúng sinh, nên ở trong mỗi lỗ
lông, hoá làm bất khả thuyết bất khả thuyết đủ
thứ âm nhạc.
7. Vì muốn thành thục chúng sinh, nên hiện bất
khả thuyết bất khả thuyết đủ thứ vô lượng tự tại
thần thông biến hoá.
8. Vì muốn ở tại đạo tràng đủ thứ danh hiệu tất
cả chư Phật trong mười phương thỉnh vấn pháp,
nên một bước vượt qua bất khả thuyết bất khả
thuyết thế giới.
9. Vì khiến cho tất cả chúng sinh thấy hoặc nghe
được đều chẳng luống qua, có thể gieo trồng
xuống căn lành, nên hiện bất khả thuyết bất khả
thuyết thân đủ thứ vô lượng sắc tướng, không ai
thấy tướng đỉnh của Ngài được.
10. Vì chúng sinh khai thị vô lượng pháp bí mật,
nên phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết lời lẽ
và âm thanh, để giáo hoá tất cả chúng sinh.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát được mười thân oai đức thanh
tịnh nhất này rồi, khiến cho chúng sinh được
mười thứ viên mãn. Những gì là mười ?
Một là khiến cho chúng sinh được thấy Phật. Hai
là khiến cho chúng sinh tin sâu nơi Phật. Ba là
khiến cho chúng sinh lắng nghe pháp. Bốn là
khiến cho chúng sinh biết có thế giới của Phật.
Năm là khiến cho chúng sinh thấy thần biến của
Phật. Sáu là khiến cho chúng sinh nhớ nghiệp
tích tập. Bảy là khiến cho chúng sinh định tâm
viên mãn. Tám là khiến cho chúng sinh vào thanh
tịnh của Phật. Chín là khiến cho chúng sinh phát
tâm bồ đề. Mười là khiến cho chúng sinh viên mãn
Phật trí.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát đắc được mười thân
oai đức thanh tịnh nhất này rồi, khiến cho chúng
sinh được mười thứ pháp ích viên mãn. Những gì
là mười ?
1. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh đều
thấy được tất cả chư Phật trong mười phương.
2. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh tin
sâu nơi Phật. Thấy Phật rồi, phải tin không
nghi, mới có công đức.
3. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh có cơ
hội lắng nghe Phật pháp.
4. Bồ Tát hay khiến cho chúng sinh biết có thế
giới nào có Phật, liền sinh về thế giới đó nghe
kinh nghe pháp.
5. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh thấy
được thần thông biến hoá của chư Phật, mới tin
sâu nơi Phật.
6. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh nhớ
nghiệp tích tập, mà phát tâm bồ đề.
7. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh đắc
được cảnh giới định tâm viên mãn.
8. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh vào
trong trí huệ thanh tịnh của Phật.
9. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh phát
tâm bồ đề, cầu vô thượng đạo.
10. Bồ Tát hay khiến cho tất cả chúng sinh viên
mãn hết thảy trí huệ của Phật. Đó là do đại Bồ
Tát tu đại tam muội biết rõ tất cả thế giới Phật
trang nghiêm, Ngài hay khiến cho tất cả chúng
sinh đắc được mười thứ lợi ích viên mãn này.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát khiến cho chúng sinh đắc được
mười thứ viên mãn rồi, lại vì chúng sinh làm
mười Phật sự. Những gì là mười ?
Đó là : Dùng âm thanh làm Phật sự, vì thành thục
chúng sinh. Dùng sắc hình làm Phật sự, vì điều
phục chúng sinh. Dùng nghĩ nhớ làm Phật sự, vì
thanh tịnh chúng sinh. Dùng chấn động thế giới
làm Phật sự, vì khiến cho chúng sinh lìa cõi ác.
Dùng phương tiện giác ngộ làm Phật sự, vì khiến
cho chúng sinh không mất niệm. Dùng trong mộng
hiện tướng làm Phật sự, vì khiến cho chúng sinh
luôn chánh niệm. Dùng phóng đại quang minh làm
Phật sự, vì khắp nhiếp lấy các chúng sinh. Dùng
tu Bồ Tát hạnh làm Phật sự, vì khiến cho chúng
sinh trụ nguyện thù thắng. Dùng thành Chánh Đẳng
Giác làm Phật sự, vì khiến cho chúng sinh biết
pháp huyễn. Dùng chuyển bánh xe pháp làm Phật
sự, vì chúng nói pháp không mất thời cơ. Dùng
hiện trụ thọ mạng làm Phật sự, vì điều phục tất
cả chúng sinh. Dùng thị hiện Niết Bàn làm Phật
sự, vì biết các chúng sinh khởi nhàm mỏi.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát khiến cho tất cả
chúng sinh đắc được mười thứ viên mãn rồi, lại
vì chúng sinh làm mười hai thứ Phật sự. Những gì
là mười ? Đó là :
1. Bồ Tát dùng âm thanh để làm Phật sự, ví như
tán thán Phật, làm pháp nhạc .v.v… đều là vì
thành thục tất cả chúng sinh.
2. Bồ Tát dùng sắc hình để làm Phật sự, ví như
thị hiện 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, vì điều phục
tất cả chúng sinh.
3. Bồ Tát dùng nghĩ nhớ để làm Phật sự, vì thanh
tịnh chúng sinh.
4. Bồ Tát dùng chấn động thế giới để làm Phật
sự, vì khiến cho chúng sinh giác ngộ, biết tất
cả vô thường, phát bồ đề tâm, xa lìa ba đường
ác.
5. Bồ Tát dùng phương tiện khéo léo giác ngộ
chúng sinh để làm Phật sự, vì khiến cho chúng
sinh không mất niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng.
6. Bồ Tát dùng ở trong mộng thị hiện các tướng
để làm Phật sự, vì khiến cho chúng sinh luôn
luôn có chánh niệm.
7. Bồ Tát dùng phóng đại quang minh để làm Phật
sự, vì khắp nhiếp lấy tất cả chúng sinh.
8. Bồ Tát dùng tu Bồ Tát hạnh để làm Phật sự, vì
khiến cho tất cả chúng sinh trụ ở trong nguyện
thù thắng.
9. Bồ Tát dùng thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác
để làm Phật sự, vì khiến cho tất cả chúng sinh
biết rõ tất cả đều là hư huyễn như hoá, tìm
chẳng được một pháp nào chân thật.
10. Bồ Tát dùng chuyển bánh xe pháp để làm Phật
sự, vì tất cả chúng sinh nói pháp không mất thời
cơ.
11. Bồ Tát dùng hiện trụ thọ mạng để làm Phật
sự, vì điều phục tất cả chúng sinh.
12. Bồ Tát dùng thị hiện Niết Bàn để làm Phật
sự, vì biết các chúng sinh khởi nhàm mỏi.
Phật
tử ! Đó là đại tam muội Trí thiện xảo biết rõ
tất cả thế giới Phật trang nghiêm thứ bảy của
đại Bồ Tát.
Các vị Phật tử ! Đó là đại tam
muội Trí thiện xảo biết rõ tất cả thế giới Phật
trang nghiêm thứ bảy của đại Bồ Tát.
QUYỂN BỐN MƯƠI HAI
PHẨM THẬP ĐỊNH THỨ HAI MƯƠI BẢY
THỨ TÁM, TAM MUỘI TẤT CẢ
THÂN CHÚNG SINH KHÁC BIỆT
Phật tử ! Thế nào là tam muội Tất
cả thân chúng sinh khác biệt của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào là đại tam muội
tất cả thân chúng sinh khác biệt của đại Bồ
Tát ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, đắc được mười thứ không chấp trước. Những
gì là mười ? Đó là : Nơi tất cả cõi không chấp
trước. Nơi tất cả phương không chấp trước. Nơi
tất cả kiếp không chấp trước. Nơi tất cả chúng
không chấp trước. Nơi tất cả pháp không chấp
trước. Nơi tất cả Bồ Tát không chấp trước. Nơi
tất cả Bồ Tát nguyện không chấp trước. Nơi tất
cả tam muội không chấp trước. Nơi tất cả chư
Phật không chấp trước. Nơi tất cả địa không chấp
trước. Đó là mười.
Các vị Phật tử ! Vị đại Bồ Tát
này tu Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh,
tích tập đủ thứ căn lành công đức, khi trụ tam
muội tất cả thân chúng sinh khác biệt, đắc được
mười thứ tự tại không chấp trước. Những gì là
mười ? Đó là :
1. Đối với tất cả cõi Phật không
chấp trước.
2. Đối với tất cả địa phương
không chấp trước.
3. Đối với tất cả kiếp số không
chấp trước.
4. Đối với tất cả chúng sinh
không chấp trước.
5. Đối với tất cả pháp tướng
không chấp trước.
6. Đối với tất cả Bồ Tát không
chấp trước.
7. Đối với tất cả Bồ Tát nguyện
không chấp trước.
8. Đối với tất cả tam muội không
chấp trước.
9. Đối với tất cả chư Phật không
chấp trước.
10. Đối với tất cả địa vị không
chấp trước.
Đó là mười pháp không chấp trước.
Vì Bồ Tát quét tất cả pháp lìa tất cả tướng, cho
nên phá tất cả mọi sự chấp trước. Chúng ta người
tu đạo, cũng phải phá tất cả mọi sự chấp trước,
phải học tập theo tinh thần của Bồ Tát, vì người
chẳng vì mình. Tóm lại, vạn sự đều « OK », thì
chẳng có sự chấp trước. Nói cách khác, tốt cũng
chẳng chấp trước, xấu cũng chẳng chấp trước, tất
cả đều buông bỏ hết. Trong Tâm Kinh có nói :
« Vì không quái ngại, nên không có sợ hãi, xa
lìa điên đảo mộng tưởng, rốt ráo Niết Bàn ». Nếu
như buông bỏ được tất cả, thì không có quái
ngại, đó là chỗ tinh hoa của Phật pháp.
Phật tử ! Đại Bồ Tát nơi tam muội
này, vào như thế nào ? Khởi như thế nào ?
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát nơi
tam muội tất cả thân chúng sinh khác biệt, làm
thế nào nhập định ? Làm thế nào xuất định ? Đây
là vấn đề Bồ Tát Phổ Hiền tự hỏi tự đáp.
Phật tử ! Đại Bồ Tát nơi tam muội
này, trong thân nhập, ngoài thân khởi. Ngoài
thân nhập, trong thân khởi. Đồng thân nhập, khác
thân khởi. Khác thân nhập, đồng thân khởi. Thân
người nhập, thân Dạ Xoa khởi. Thân Dạ Xoa nhập,
thân rồng khởi. Thân rồng nhập, thân A tu la
khởi. Thân A tu la nhập, thân trời khởi. Thân
trời nhập, thân Phạm Vương khởi. Thân Phạm Vương
nhập, thân dục giới khởi. Trên trời nhập, địa
ngục khởi. Địa ngục nhập, nhân gian khởi. Nhân
gian nhập, cõi kia khởi. Ngàn thân nhập, một
thân khởi. Một thân nhập, ngàn thân khởi. Na do
tha thân nhập, một thân khởi. Một thân nhập, Na
do tha thân khởi.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát nơi
tam muội này, có những cảnh giới như vầy : Từ
trong thân nhập định, từ ngoài thân xuất định.
Từ ngoài thân nhập định, từ trong thân xuất
định. Từ đồng thân nhập định, từ khác thân xuất
định. Từ khác thân nhập định, từ đồng thân xuất
định. Từ thân người nhập định, từ thân Dạ Xoa
xuất định. Từ thân Dạ Xoa nhập định, từ thân
rồng xuất định. Từ thân rồng nhập định, từ
thân A tu la xuất định. Từ thân A tu la nhập
định, từ thân trời xuất định. Từ thân trời nhập
định, từ thân Phạm Vương xuất định. Từ thân Phạm
Vương nhập định, từ thân dục giới xuất định.
Bồ Tát có thể hoá thân ngàn vạn
ức, phân thân vô số lượng. Đó đây không ngại, ta
người vô ngại, trong ngoài vô ngại, đồng khác vô
ngại, đó tức là cảnh giới thần thông diệu dụng
của Bồ Tát. Bồ Tát nhập định hoặc xuất định,
không nhất định tại thân mình, tuỳ thời tuỳ lúc
đều có thể nhập định, tuỳ thời tuỳ lúc đều có
thể xuất định, chẳng thọ sự hạn chế của thời
gian và không gian, nhậm vận tự tại, diệu không
thể tả.
Bồ Tát ở trên trời nhập định, từ
địa ngục xuất định. Từ địa ngục nhập định, từ
nhân gian xuất định. Từ nhân gian nhập định, từ
cõi kia xuất định. Từ ngàn thân nhập định, từ
một thân xuất định. Từ một thân nhập định, từ
ngàn thân xuất định. Từ Na do tha thân nhập
định, từ một thân xuất định. Từ một thân nhập
định, từ Na do tha thân xuất định.
Bồ Tát vì tuỳ duyên giáo hoá tất
cả chúng sinh, tự do nhập định, tự do xuất định.
Cảnh giới này, toại tâm như ý. Hoan hỉ thế nào
thì như thế đó, một chút cũng không miễn cưỡng,
nhậm vận tự tại. Phàm là người thành tâm tu đạo,
đều chứng được cảnh giới này.
Trong chúng sinh Diêm Phù Đề
nhập, trong chúng sinh Tây Cù Đà Ni khởi. Trong
chúng sinh Tây Cù Đà Ni nhập, trong chúng sinh
Bắc Câu Lư khởi. Trong chúng sinh Bắc Câu Lư
nhập, trong chúng sinh Đông Bì Đề Ha khởi. Trong
chúng sinh Đông Bì Đề Ha nhập, trong chúng sinh
ba thiên hạ khởi. Trong
chúng sinh ba thiên hạ nhập, trong chúng sinh
bốn thiên hạ khởi. Trong chúng sinh bốn thiên hạ
nhập, trong chúng sinh tất cả biển khác biệt
khởi. Trong chúng sinh tất cả biển khác biệt
nhập, trong chúng thần tất cả biển khởi.
Bồ Tát ở trong chúng sinh Diêm
Phù Đề (Nam Thiệm Bộ Châu) nhập định, từ trong
chúng sinh Tây Cù Đà Ni (Tây Ngưu Hoá Châu) xuất
định. Trong chúng sinh Tây Cù Đà Ni nhập định,
từ trong chúng sinh Bắc Câu Lư (Bắc Câu Lư Châu)
xuất định. Trong chúng sinh Bắc Câu Lư nhập
định, từ trong chúng sinh Đông Bì Đề Ha (Đông
Thắng Thần Châu) xuất định. Trong chúng sinh
Đông Bì Đề Ha nhập định, từ trong chúng sinh ba
thiên hạ xuất định. Trong chúng sinh ba thiên hạ
nhập định, từ trong chúng sinh bốn thiên hạ xuất
định. Trong chúng sinh bốn thiên hạ nhập định,
từ trong chúng sinh tất cả biển khác biệt xuất
định. Trong chúng sinh tất cả biển khác biệt
nhập định, từ trong chúng thần tất cả biển xuất
định.
Trong chúng thần tất cả biển
nhập, trong thuỷ đại tất cả biển khởi. Trong
thuỷ đại tất cả biển nhập, trong địa đại tất cả
biển khởi. Trong địa đại tất cả biển nhập, trong
hoả đại tất cả biển khởi. Trong hoả đại tất cả
biển nhập, trong phong đại tất cả biển khởi.
Trong phong đại tất cả biển nhập, trong tất cả
bốn thứ đại khởi. Trong tất cả bốn thứ đại nhập,
trong pháp vô sinh khởi. Trong pháp vô sinh
nhập, trong núi Diệu Cao khởi. Trong núi Diệu
Cao nhập, trong núi bảy báu khởi. Trong núi bảy
báu nhập, trong tất cả đất đai đủ thứ cây cỏ lùm
rừng hắc sơn khởi. Trong tất cả đất đai đủ thứ
cây cỏ lùm rừng hắc sơn nhập, trong tất cả diệu
hương hoa báu trang nghiêm khởi. Trong tất cả
diệu hương hoa báu trang nghiêm nhập, trong tất
cả chúng sinh thọ sinh của tất cả bốn thiên hạ
phương dưới phương trên khởi.
Bồ Tát ở trong chúng thần tất cả
biển nhập định, từ trong thuỷ đại tất cả biển
xuất định. Trong thuỷ đại tất cả biển nhập định,
từ trong địa đại tất cả biển xuất định. Trong
địa đại tất cả biển nhập định, từ trong hoả đại
tất cả biển xuất định. Trong hoả đại tất cả biển
nhập định, từ trong phong đại tất cả biển xuất
định. Trong phong đại tất cả biển nhập định, từ
trong tất cả bốn thứ đại xuất định. Trong tất cả
bốn thứ đại nhập định, từ trong pháp vô sinh
xuất định. Trong pháp vô sinh nhập định, từ
trong núi Diệu Cao xuất định. Trong núi Diệu Cao
nhập định, từ trong núi bảy báu xuất định. Trong
núi bảy báu nhập định, từ trong tất cả đất đai
đủ thứ cây cỏ lùm rừng hắc sơn khởi. Trong tất
cả đất đai đủ thứ cây cỏ lùm rừng hắc sơn nhập
định, từ trong tất cả diệu hương hoa báu trang
nghiêm xuất định. Trong tất cả diệu hương hoa
báu trang nghiêm nhập định, từ trong tất cả
chúng sinh thọ sinh của tất cả bốn thiên hạ
phương dưới phương trên xuất định.
Trong tất cả chúng sinh thọ sinh
tất cả bốn thiên hạ phương dưới phương trên
nhập, trong chúng sinh tiểu thiên thế giới khởi.
Trong chúng sinh tiểu thiên thế giới nhập, trong
chúng sinh trung thiên thế giới khởi. Trong
chúng sinh trung thiên thế giới nhập, trong
chúng sinh đại thiên thế giới khởi. Trong chúng
sinh đại thiên thế giới nhập, trong chúng sinh
trăm ngàn ức na do tha ba ngàn đại thiên thế
giới khởi. Trong chúng sinh trăm ngàn ức Na do
tha ba ngàn đại thiên thế giới nhập, trong chúng
sinh vô số thế giới khởi. Trong chúng sinh vô số
thế giới nhập, trong chúng sinh vô lượng thế
giới khởi. Trong chúng sinh vô lượng thế giới
nhập, trong chúng sinh vô biên cõi Phật khởi.
Trong chúng sinh vô biên cõi Phật nhập, trong
chúng sinh vô đẳng cõi Phật khởi. Trong chúng
sinh vô đẳng cõi Phật nhập, trong chúng sinh bất
khả số thế giới khởi.
Bồ Tát ở trong tất cả chúng sinh
thọ sinh tất cả bốn thiên hạ phương dưới phương
trên nhập định, từ trong chúng sinh tiểu thiên
thế giới xuất định. Trong chúng sinh tiểu thiên
thế giới nhập định, trong chúng sinh trung thiên
thế giới xuất định. Trong chúng sinh trung thiên
thế giới nhập định, từ trong chúng sinh đại
thiên thế giới xuất định. Trong chúng sinh đại
thiên thế giới nhập định, từ trong chúng sinh
trăm ngàn ức Na do tha ba ngàn đại thiên thế
giới xuất định. Trong chúng sinh trăm ngàn ức Na
do tha ba ngàn đại thiên thế giới nhập định, từ
trong chúng sinh vô số thế giới xuất định. Trong
chúng sinh vô số thế giới nhập định, từ trong
chúng sinh vô lượng thế giới xuất định. Trong
chúng sinh vô lượng thế giới nhập định, từ trong
chúng sinh vô biên cõi Phật xuất định. Trong
chúng sinh vô biên cõi Phật nhập định, từ trong
chúng sinh vô đẳng cõi Phật xuất định. Trong
chúng sinh vô đẳng cõi Phật nhập định, từ trong
chúng sinh bất khả số thế giới khởi.
Trong chúng sinh bất khả số thế
giới nhập, trong chúng sinh bất khả xưng thế
giới khởi. Trong chúng sinh bất khả xưng thế
giới nhập, trong chúng sinh bất khả tư thế giới
khởi. Trong chúng sinh bất khả tư thế giới nhập,
trong chúng sinh bất khả lượng thế giới khởi.
Trong chúng sinh bất khả lượng thế giới nhập,
trong chúng sinh bất khả thuyết thế giới khởi.
Trong chúng sinh bất khả thuyết thế giới nhập,
trong chúng sinh bất khả thuyết bất khả thuyết
thế giới khởi. Trong chúng sinh bất khả thuyết
bất khả thuyết thế giới nhập, trong chúng sinh
tạp nhiễm khởi. Trong chúng sinh tạp nhiễm nhập,
trong chúng sinh thanh tịnh khởi. Trong chúng
sinh thanh tịnh nhập, trong chúng sinh tạp nhiễm
khởi.
Bồ Tát ở trong chúng sinh bất khả
số thế giới nhập định, từ trong chúng sinh bất
khả xưng thế giới xuất định. Trong chúng sinh
bất khả xưng thế giới nhập định, từ trong chúng
sinh bất khả tư thế giới xuất định. Trong chúng
sinh bất khả tư thế giới nhập định, từ trong
chúng sinh bất khả lượng thế giới xuất định.
Trong chúng sinh bất khả lượng thế giới nhập
định, từ trong chúng sinh bất khả thuyết thế
giới xuất định. Trong chúng sinh bất khả thuyết
thế giới nhập định, trong chúng sinh bất khả
thuyết bất khả thuyết thế giới xuất định. Trong
chúng sinh bất khả thuyết bất khả thuyết thế
giới nhập định, từ trong chúng sinh tạp nhiễm
xuất định. Trong chúng sinh tạp nhiễm nhập định,
từ trong chúng sinh thanh tịnh xuất định. Trong
chúng sinh thanh tịnh nhập định, từ trong chúng
sinh tạp nhiễm xuất định.
Đoạn văn này nói về cảnh giới của
Bồ Tát, là « không nhập mà chẳng tự được vậy ».
Tức cũng là toại tâm như ý, muốn lúc nào nhập
định thì lúc đó nhập định. Muốn nơi nào xuất
định, thì nơi đó xuất định. Chẳng bị thời gian
và không gian hạn chế. Lớn thì như núi Tu Di,
nhỏ thì như hạt bụi, tuỳ ý biến hoá, đây là cảnh
giới như ý thông của Bồ Tát.
Cảnh giới Kinh Hoa Nghiêm là khai
mở tâm chúng sinh rộng lớn từng chút từng chút.
Từ một đến mười, từ mười đến trăm, từ trăm đến
ngàn, từ ngàn đến vạn, từ vạn đến ức, cho đến vô
số vô số, vô lượng vô lượng. Chủ yếu làm cho tư
tưởng rộng lớn, phải có cảnh giới «dọc bao thái
hư, ngang khắp pháp giới ».
Kinh Hoa Nghiêm nói về thế giới
vô lượng, cõi nước vô lượng, chư Phật vô lượng,
Bồ Tát vô lượng, tất cả tất cả, đều không có hạn
lượng. Cảnh giới đó, chẳng phải người tâm nhỏ
lượng nhỏ minh bạch được, hiểu thấu được.
Chúng ta chúng sinh điên điên đảo
đảo, lấy phải làm quấy, lấy quấy làm phải, chẳng
nhận thức được chủ nhân ông của chính mình. Lấy
nhiễm khổ làm vui, bỏ giác hợp trần, nhận giặc
làm con, thật là đáng thương ! Bồ Tát rất từ bi
đối với chúng ta, giống như mẹ hiền dạy con cái.
Cha mẹ hy vọng con trai thành rồng, con gái
thành phụng, Bồ Tát thì hy vọng chúng sinh thành
Phật, hy vọng chúng sinh không điên đảo, không
chấp trước, phát tâm bồ đề, tu vô thượng đạo.
Song, chúng sinh chẳng nghe lời, vẫn cứ điên
đảo, vẫn cứ chấp trước. Như vậy, chẳng phải là
cô phụ một phen khổ tâm của Bồ Tát chăng ? Chúng
ta người tu đạo, phải mau hồi đầu, cải ác hướng
thiện, nghe lời dạy của Bồ Tát. Toàn bộ Kinh Hoa
Nghiêm Đại Phương Quảng Phật đều nói về đạo lý
tu Bồ Tát đạo, độ hoá chúng sinh. Nếu chúng ta
như pháp thực hành một câu, một bài kệ, thì công
đức vô lượng, thọ không hết.
Nơi mắt nhập, nơi tai khởi. Nơi
tai nhập, nơi mắt khởi. Nơi mũi nhập, nơi lưỡi
khởi. Nơi lưỡi nhập, nơi mũi khởi. Nơi thân
nhập, nơi ý khởi. Nơi ý nhập, nơi thân khởi. Nơi
mình nhập, nơi họ khởi. Nơi họ nhập, nơi mình
khởi. Trong một hạt bụi nhập, trong hạt bụi vô
số thế giới khởi. Trong hạt bụi vô số thế giới
nhập, trong một hạt bụi khởi. Thanh Văn nhập,
Độc Giác khởi. Độc Giác nhập, Thanh Văn khởi.
Thân mình nhập, thân Phật khởi. Thân Phật nhập,
thân mình khởi. Một niệm nhập, ức kiếp khởi. Ức
kiếp nhập, một niệm khởi. Đồng niệm nhập, thời
khác khởi. Thời khác nhập, đồng niệm khởi. Tiền
tế nhập, hậu tế khởi. Hậu tế nhập, tiền tế khởi.
Tiền tế nhập, trung tế khởi. Trung tế nhập, tiền
tế khởi. Ba đời nhập, sát na khởi. Sát na nhập,
ba đời khởi. Chân như nhập, ngôn thuyết khởi.
Ngôn thuyết nhập, chân như khởi.
Bồ Tátnơi mắt nhập định, từ nơi
tai xuất định. Nơi tai nhập định, từ nơi mắt
xuất định. Nơi mũi nhập định, từ nơi lưỡi xuất
định. Nơi lưỡi nhập định, từ nơi mũi xuất định.
Nơi thân nhập định, từ nơi ý xuất định. Nơi ý
nhập định, từ nơi thân xuất định. Nơi mình nhập
định, từ nơi họ xuất định. Nơi họ nhập định, từ
nơi mình xuất định.
Bồ Tát ở trong một hạt bụi nhập,
từ trong hạt bụi vô số thế giới xuất định. Trong
hạt bụi vô số thế giới nhập định, từ trong một
hạt bụi xuất định. Thanh Văn nhập định, từ Độc
Giác xuất định. Độc Giác nhập định, từ Thanh Văn
xuất định. Thân mình nhập định, từ thân Phật
xuất định. Thân Phật nhập định, từ thân mình
xuất định. Một niệm nhập định, từ ức kiếp xuất
định. Ức kiếp nhập định, từ một niệm xuất định.
Đồng niệm nhập định, từ thời khác xuất định.
Thời khác nhập định, từ đồng niệm xuất định.
Tiền tế nhập định, từ hậu tế xuất định. Hậu tế
nhập định, tiền tế xuất định. Tiền tế nhập định,
từ trung tế xuất định. Trung tế nhập định, từ
tiền tế xuất định. Ba đời nhập định, từ sát na
xuất định. Sát na nhập định, từ ba đời xuất
định. Chân như nhập định, từ ngôn thuyết xuất
định. Ngôn thuyết nhập định, từ chân như xuất
định.
Phật tử ! Ví như có người, bị quỷ
nhập, làm cho thân họ rung động, không thể được
an. Quỷ không hiện thân, khiến thân họ như vậy.
Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng lại như thế.
Thân mình nhập định thân họ khởi. Thân họ nhập
định thân mình khởi.
Các vị Phật tử ! Ví như có người,
bị quỷ nhập, thân thể của họ rung động không
ngừng, không thể được an tĩnh. Quỷ chẳng hiện
thân, mà khiến cho người khác phát sinh tình
hình như thế, rung động không ngừng. Đại Bồ Tát
cũng như thế, chẳng nhìn thấy thân Ngài, mà Ngài
có thể ở trên thân của bạn xuất định. Do đó kinh
văn có nói : « Tại thân mình nhập định, từ thân
người khác xuất định. Tại thân người khác nhập
định, từ thân mình xuất định ». Cảnh giới này
chẳng chướng ngại nhau.
Phật tử ! Ví như tử thi, vì nhờ
lực của Chú mà có thể dậy đi, tuỳ theo các việc
đều làm được. Tử thi và Chú tuy đều khác biệt,
mà có thể hoà hợp, thành tựu việc đó.
Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng
lại như thế. Đồng cảnh nhập định, mà khác cảnh
khởi. Khác cảnh nhập định, mà đồng cảnh khởi.
Các vị Phật tử !Ví như tử thi,
nhờ sức lực của Chú ngữ, mà có thể khiến cho tử
thi dậy đi. Tử thi tuy chẳng còn tri giác, nhưng
có thể thay thế bạn làm việc, những việc làm đều
thành tựu. Tử thi và Chú tuy đều khác biệt,
nhưng Chú ngữ có thể khiến cho tử thi đi được,
lại có thể hợp tác với nhau, thành tựu việc làm
đó. Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng lại như
thế. « Đồng cảnh nhập định, mà khác cảnh xuất
định. Khác cảnh nhập định, mà đồng cảnh xuất
định ». Cảnh giới này chẳng có chướng ngại nhau.
Phật tử ! Ví như Tỳ Kheo, đắc
được tâm tự tại. Hoặc dùng một thân làm nhiều
thân, hoặc dùng nhiều thân làm một thân. Chẳng
phải một thân chẳng còn, mà nhiều thân sinh.
Chẳng phải nhiều thân chẳng còn, mà một thân
sinh.
Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng
lại như thế. Một thân nhập định nhiều thân khởi,
nhiều thân nhập định một thân khởi.
Các vị Phật tử ! Ví như Tỳ Kheo,
đắc được như ý thông, tức là toại tâm như ý,
biến hoá vô cùng. Hoặc dùng một thân mà biến
thành nhiều thân, hoặc dùng nhiều thân mà biến
thành một thân. Chẳng phải nói thân này chẳng
còn mà sinh ra nhiều thân. Cũng chẳng phải nhiều
thân chẳng còn, lại làm một thân. Đây là cảnh
giới thần thông biến hoá không thể nghĩ bàn. Đại
Bồ Tát trụ tam muội này, cũng lại như thế. « Một
thân nhập định nhiều thân xuất định, nhiều thân
nhập định một thân xuất định ». Cảnh giới này
chẳng chướng ngại nhau.
Tỳ kheo có ba ý nghĩa :
1. Khất sĩ : Trên khất pháp của
chư Phật, để nuôi huệ mạng; dưới khất thực của
chúng sinh, để nuôi dưỡng sắc thân.
2. Bố ma : Khi Tỳ Kheo thọ giới
cụ túc, đắc giới hoà thượng hỏi :
- « Ông có phải là đại trượng phu
không ? »
- Đáp : « Là đại trượng phu ».
- Lại hỏi : « Ông có phát bồ đề
tâm chăng ? »
- Đáp : « Đã phát bồ đề tâm ».
Lúc đó, ma vương nghe được, bèn
sinh sợ hãi. Tại sao ? Vì quyến thuộc của ma lại
bớt đi một người, còn quyến thuộc của Phật lại
thêm một người, cho nên sinh tâm sợ hãi.
3. Phá ác : Tức là phá phiền não
ác. Vì Tỳ Kheo có ba ý nghĩa này, nên không
dịch. Khi Trung Quốc phiên dịch kinh điển tiếng
Phạn, có năm loại không dịch :
1. Bí mật không dịch : Như Chú
ngữ.
2. Tôn trọng không dịch : Như
« Bát Nhã », « Bồ đề ».
3. Thuận cổ không dịch : Như « A
nậu đa la tam miệu tam bồ đề ».
4. Đa hàm không dịch : Như « Tỳ
Kheo ».
5. Thử phương vô bất dịch : Như
« quả Am ma la ».
Phật tử ! Ví như đại địa, chỉ có
một vị, mà sinh ra cây cỏ đủ thứ vị khác nhau.
Tuy đất không khác nhau, mà vị có sự khác nhau
đặc thù.
Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng
lại như thế, không có sự phân biệt, mà có một
thứ nhập định nhiều thứ khởi, nhiều thứ nhập
định một thứ khởi.
Các vị Phật tử !Ví như đại địa,
tuy chỉ có một vị, mà sinh ra cây cỏ đủ thứ vị
khác nhau. Có vị đắng, có vị ngọt, có vị chua.
Đất không khác nhau, mà sinh ra thực vật có vị
khác nhau. Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng lại
như thế, không có gì phân biệt, mà « Tại một thứ
nhập định, từ nhiều thứ xuất định, tại nhiều thứ
nhập định, một thứ xuất định ». Cảnh giới này
chẳng chướng ngại nhau.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, đắc được mười pháp khen ngợi của sự khen
ngợi. Những gì là mười ? Đó là : Vì vào chân
như, nên gọi là Như Lai. Vì giác tất cả pháp,
nên gọi là Phật. Vì được tất cả thế gian khen
ngợi, nên gọi là pháp sư. Vì biết tất cả pháp,
nên gọi là Nhất thiết trí. Vì là chỗ nương tựa
của tất cả thế gian, nên gọi là chỗ nương tựa.
Vì thấu đạt tất cả pháp phương tiện, nên gọi là
Đạo sư. Vì dẫn dắt tất cả chúng sinh vào đạo Tát
bà nhạ, nên gọi là đại Đạo sư. Vì làm đèn của
tất cả thế gian, nên gọi là quang minh. Vì tâm
chí viên mãn, nghĩa lợi thành tựu, những gì cần
làm đã làm xong, trụ trí huệ vô ngại, phân biệt
biết rõ tất cả các pháp, nên gọi là Thập lực. Vì
tự tại thông đạt tất cả pháp luân, nên gọi là
bậc thấy tất cả. Đó là mười.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát trụ
nơi tam muội này, đắc được mười pháp khen ngợi
của sự khen ngợi. Những gì là mười ? Đó là :
1. Vì vào chân như, nên gọi là
Như Lai : Vì Bồ Tát chứng nhập chân như thật
tướng lý thể, cho nên gọi là Như Lai.
2. Vì giác tất cả pháp, nên gọi
là Phật : Vì Bồ Tát giác ngộ thấu rõ tất cả các
pháp, cho nên xưng là Phật.
3. Vì được tất cả thế gian khen
ngợi, nên gọi là pháp sư : Vì Bồ Tát có tâm từ
bi, độ khắp chúng sinh, được hết thảy mọi người
thế gian khen ngợi, cho nên xưng là Pháp sư.
4. Vì biết tất cả pháp, nên gọi
là Nhất thiết trí : Vì Bồ Tát biết rõ tất cả
Phật pháp, cho nên xưng là Nhất thiết trí.
5. Vì là chỗ nương tựa của tất cả
thế gian, nên gọi là chỗ nương tựa : Vì Bồ Tát
là chỗ nương tựa của tất cả chúng sinh thế gian,
cho nên xưng là chỗ nương tựa.
6. Vì thấu đạt tất cả pháp phương
tiện, nên gọi là Đạo sư : Vì Bồ Tát thấu rõ
thông đạt tất cả tất cả pháp phương tiện, cho
nên xưng là Đạo sư.
7. Vì dẫn dắt tất cả chúng sinh
vào đạo Tát bà nhạ, nên gọi là đại Đạo sư : Vì
Bồ Tát dẫn dắt tất cả chúng sinh đều vào đạo Tát
bà nhạ (Nhất thiết trí), cho nên xưng là đại Đạo
sư.
8. Vì làm đèn của tất cả thế
gian, nên gọi là quang minh : Vì Bồ Tát là đèn
quang minh của tất cả thế gian, cho nên xưng là
quang minh.
9. Vì tâm chí viên mãn, nghĩa lợi
thành tựu, những gì cần làm đã làm xong, trụ trí
huệ vô ngại, phân biệt biết rõ tất cả các pháp,
nên gọi là Thập lực : Vì tâm chí của Bồ Tát đã
viên mãn, nghĩa lợi đã thành tựu, những gì cần
làm đã làm xong, chẳng còn thọ thân sau nữa, trụ
nơi trí huệ không có chướng ngại, phân biệt biết
rõ được tất cả các pháp, cho nên xưng là Thập
lực.
10. Vì tự tại thông đạt tất cả
pháp luân, nên gọi là bậc Thấy tất cả : Vì Bồ
Tát tự tại thông đạt tất cả pháp luân, cho nên
xưng là bậc Thấy tất cả. Đó là mười pháp khen
ngợi.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
nầy, lại được mười thứ quang minh chiếu sáng.
Những gì là mười ?
Đó là : Được quang minh của tất
cả chư Phật, vì bình đẳng với chư Phật. Được
quang minh của tất cả thế giới, vì nghiêm tịnh
khắp. Được quang minh của tất cả chúng sinh, vì
đều đến điều phục. Được vô lượng vô uý quang
minh, vì pháp giới làm đạo tràng diễn nói. Được
quang minh không khác biệt, vì biết tất cả pháp
không có các thứ tánh. Được quang minh phương
tiện, vì nơi tất cả pháp lìa dục tế mà chứng
nhập. Được quang minh chân thật, vì nơi tất cả
pháp lìa dục tế tâm bình đẳng. Được quang minh
khắp tất cả thế gian thần thông biến hoá, vì
được Phật gia trì luôn không ngừng nghỉ. Được
quang minh khéo tư duy, vì đến được bờ tự tại
của tất cả chư Phật. Được quang minh tất cả pháp
chân thật, vì trong một lỗ lông khéo nói tất cả.
Đó là mười.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát trụ
tam muội này, lại đắc được mười thứ quang minh
chiếu sáng. Những gì là mười ? Đó là :
1. Bồ Tát đắc được quang minh của
tất cả chư Phật, vì bình đẳng với chư Phật.
2. Bồ Tát đắc được quang minh của
tất cả thế giới, vì trang nghiêm thanh tịnh khắp
tất cả thế giới.
3. Bồ Tát đắc được quang minh của
tất cả chúng sinh, vì đều đến điều phục tất cả
chúng sinh.
4. Bồ Tát đắc được vô lượng vô uý
quang minh, vì dùng pháp giới làm đạo tràng diễn
nói diệu pháp.
5. Bồ Tát đắc được quang minh
không phân biệt, vì biết tất cả pháp không có
các thứ tự tánh.
6. Bồ Tát đắc được quang minh
phương tiện, vì đối với tất cả pháp lìa khỏi dục
tế, mà chứng nhập chân như.
7. Bồ Tát đắc được quang minh
chân thật, vì nơi tất cả pháp lìa dục tế tâm và
pháp là bình đẳng.
8. Bồ Tát đắc được quang minh
khắp tất cả thế gian thần thông biến hoá, vì
được Phật gia trì luôn không ngừng nghỉ.
9. Bồ Tát đắc được quang minh
khéo tư duy, vì đạt đến được bờ bên kia tự tại
của tất cả chư Phật.
10. Bồ Tát đắc được quang minh
tất cả pháp chân thật, vì trong một lỗ lông khéo
nói tất cả các pháp. Đó là mười thứ quang minh.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, lại được mười thứ vô sở tác. Những gì là
mười ?
Đó là : Thân nghiệp vô sở tác,
lời nghiệp vô sở tác, ý nghiệp vô sở tác, thần
thông vô sở tác, rõ pháp không tánh vô sở tác,
biết nghiệp chẳng hư hoại vô sở tác, trí vô sai
biệt vô sở tác, trí không sinh khởi vô sở tác,
biết pháp không diệt vô sở tác, tuỳ thuận nơi
văn chẳng hoại nơi nghĩa vô sở tác. Đó là mười.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát trụ
tam muội này, lại được mười thứ nghiệp vô sở
tác, tức cũng là mười thứ thanh tịnh, cũng có
thể nói là mười thứ pháp tịch diệt. Những gì là
mười ? Đó là :
1. Thân nghiệp vô sở tác : Tức là
thân thanh tịnh không ô nhiễm
2. Lời nghiệp vô sở tác : Tức là
miệng thanh tịnh không nhiễm ô.
3. Ý nghiệp vô sở tác : Tức là ý
thanh tịnh không nhiễm.
4. Thần thông vô sở tác : Thần
thông vốn là thanh tịnh, không có sở tác.
5. Rõ pháp không tánh vô sở tác :
Thấu được tất cả pháp chẳng có tự tánh, chẳng có
sở tác.
6. Biết nghiệp chẳng hư hoại vô
sở tác : Biết được tất cả nghiệp thiện không hư
hoại, chẳng có sở tác.
7. Trí vô sai biệt vô sở tác :
Trí huệ chẳng có sự phân biệt, thông đạt được
tất cả, đây cũng là vô sở tác.
8. Trí không sinh khởi vô sở
tác : Trí huệ chẳng có sinh khởi, mà biết rõ tất
cả, đây cũng là vô sở tác.
9. Biết pháp không diệt vô sở
tác : Vì Bồ Tát biết các pháp không sinh không
diệt, cho nên vô sở tác.
10. Tuỳ thuận nơi văn chẳng hoại
nơi nghĩa vô sở tác : Vì Bồ Tát hay tuỳ thuận
nơi câu văn, lại chẳng hoại nơi nghĩa lý, cho
nên vô sở tác.
Đó là mười thứ nghiệp vô sở tác.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ nơi tam
muội này, có vô lượng cảnh giới, đủ thứ sự khác
biệt. Đó là : Một nhập nhiều khởi, nhiều nhập
một khởi. Đồng nhập khác khởi, khác nhập đồng
khởi. Tế nhập thô khởi, thô nhập tế khởi. Đại
nhập tiểu khởi, tiểu nhập đại khởi. Thuận nhập
nghịch khởi, nghịch nhập thuận khởi. Không thân
nhập có thân khởi, có thân nhập không thân khởi.
Không tướng nhập có tướng khởi, có tướng nhập
không tướng khởi. Trong khởi nhập trong nhập
khởi. Như vậy đều là cảnh giới tự tại của tam
muội này.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát trụ
nơi tam muội này, lại có vô lượng cảnh giới, đủ
thứ sự khác biệt. Đó là : Tại một nhập định, từ
nhiều xuất định. Tại nhiều nhập định, từ một
xuất định. Tại đồng nhập định, từ khác xuất
định. Tại khác nhập định, từ đồng xuất định. Tại
tế nhập định, từ thô xuất định. Tại thô nhập
định, từ tế xuất định. Tại đại nhập định, từ
tiểu xuất định. Tại tiểu nhập định, từ đại xuất
định. Tại thuận nhập định, từ nghịch xuất định.
Tại nghịch nhập định, từ thuận xuất định. Tại
không thân nhập định, từ có thân xuất định. Tại
có thân nhập định, từ không thân xuất định. Tại
không tướng nhập định, từ có tướng xuất định.
Tại có tướng nhập định, từ không tướng xuất
định. Tại trong khởi nhập định, từ trong nhập
xuất định. Nhập định xuất định như vậy đều không
ngại nhau. Đó là cảnh giới tự tại của tam muội
này.
Phật tử ! Ví như nhà huyễn thuật,
trì chú được thành tựu, có thể hiện ra đủ thứ
hình tướng khác nhau. Chú với huyễn khác nhau,
mà làm huyễn được. Tuy chú là tiếng, mà có thể
huyễn làm nhãn thức biết đủ thứ các sắc, nhĩ
thức biết được đủ thứ các tiếng, tĩ thức biết
được đủ thứ các mùi, thiệt thức biết được đủ thứ
các vị, thân thức biết được đủ thứ các súc, ý
thức biết được đủ thứ cảnh giới.
Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng
lại như thế. Trong đồng nhập định trong khác
khởi, trong khác nhập định trong đồng khởi.
Các Phật tử !Ví như nhà huyễn
thuật trì chú ngữ, có thể tự không hoá có, tự có
hoá không, có thể hiện ra đủ thứ hình tướng khác
nhau. Giống như một bình không có rượu, ông ta
niệm chú thì trong bình tự nhiên có rượu. Lại
đem một hạt giống hoa, trồng xuống đất, lập tức
đâm chồi nảy mầm, ra cành ra lá, đơm hoa kết
trái, trong khoảnh khắc liền thành tựu. Lại có
thể ở trong lửa sinh ra hoa sen rất đẹp. Cảnh
giới này, đều do huyễn tướng trì chú mà hiện ra.
Chú và huyễn tướng tuy khác nhau, nhưng chú có
thể làm huyễn tướng. Niệm chú chỉ là âm thanh,
mà làm ra đủ thứ cảnh giới hư vọng – nhãn thức
biết đủ thứ các màu sắc, nhĩ thức biết được đủ
thứ các tiếng, tĩ thức biết được đủ thứ các mùi,
thiệt thức biết được đủ thứ các vị, thân thức
biết được đủ thứ các súc, ý thức biết được đủ
thứ cảnh giới. Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng
lại như thế. Ở trong đồng nhập định, từ trong
khác xuất định, ở trong khác nhập định, từ trong
đồng xuất định. Đây là cảnh giới xuất định nhập
định toại tâm như ý không thể nghĩ bàn.
Phật tử ! Ví như khi trời Ba Mươi
Ba đánh nhau với A tu la, chư Thiên thắng lợi, A
tu la thua trận. Vua A tu la thân cao lớn bảy
trăm do tuần, bốn binh vây quanh vô số ngàn vạn,
dùng sức huyễn thuật, đem tất cả quân lính cùng
nhau chạy trốn trong lỗ ngó sen.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, đã
khéo thành tựu các huyễn trí địa. Huyễn trí tức
là Bồ Tát, Bồ Tát tức là huyễn trí. Cho nên, có
thể ở trong pháp không phân biệt nhập định, ở
trong pháp phân biệt khởi. Ở trong pháp phân
biệt nhập định, ở trong pháp không phân biệt
khởi.
Các vị Phật tử !Ví như khi Đế
Thích trời Ba Mươi Ba đánh nhau với A tu la, thì
chư Thiên thường thắng lợi. Có lúc A tu la chiến
thắng, trời Đế Thích không cách nào kháng cự,
bèn đến chỗ đức Phật cầu cứu. Đức Phật nói cho
ông ta một câu chú, niệm : « Ma Ha Bát Nhã Ba La
Mật Đa », dịch ra nghĩa là « Đại trí huệ đến bờ
kia ». Ma Ha nghĩa là « Đại », Bát Nhã là « Trí
huệ », Ba La Mật Đa là « Đến bờ kia ». Đế Thích
trở về trời Ba Mươi Ba, bèn nói với binh trời
tướng trời rằng : « Khi các vị gặp binh lính A
tu la, thì hãy thành tâm niệm ‘‘Ma Ha Mát Nhã Ba
La Mật Đa’’, đây là pháp mà đức Phật ban tặng để
đánh lui quân địch ».
Ngày thứ hai lại đánh với A tu
la. Binh trời tướng trời đều niệm câu chú này
quả nhiên linh nghiệm, binh lính A tu la thua bỏ
chạy. Tại sao ? Vì binh trời tướng trời thân đều
phóng ra ánh sáng rất mạnh, binh lính A tu la
không thể nào mở mắt ra được, cho nên bại trận
bỏ chạy.
A tu la dịch là « Vô đoan
chánh », vì tướng mạo của người nam rất là xấu
xí, ngũ quan chẳng đoan chánh. Song, nữ A tu la
rất xinh đẹp, ai thấy cũng đều thương mến. Vợ
đẹp của trời Đế Thích là con gái của vua A tu
la. Do đó, có thể biết người trời vẫn còn dục
tham luyến sắc đẹp. Chư Thiên đến được cõi sắc
giới, mới dứt được sắc dục. Người ở cõi sắc giới
là hoá sinh, chỉ có diệu sắc thân, chứ chẳng còn
nam nữ khác nhau.
Vua A tu la thân cao lớn bảy trăm
đại do tuần, lại có bốn thứ binh (tượng binh, mã
binh, xa binh, bộ binh) vây quanh vô số ngàn
vạn. Vua A tu la dùng sức huyễn thuật, đem tất
cả quân lính cùng nhau chạy trốn trong lỗ ngó
sen. Đây là cảnh giới lớn nhỏ vô ngại, tức cũng
là cảnh giới trong lớn có thể hiện nhỏ, trong
nhỏ có thể dung lớn, dung nạp với nhau không
ngại. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vì tu hành
căn lành, cho nên thành tựu tất cả huyễn trí
địa, tức cũng là trí huệ thần thông. Huyễn trí
tức là Bồ Tát, Bồ Tát tức là huyễn trí. Vì vậy
cho nên, có thể ở trong pháp không phân biệt
nhập định, từ trong pháp phân biệt xuất định. Ở
trong pháp phân biệt nhập định, từ trong pháp
không phân biệt xuất định. Đó là thần thông diệu
dụng của Bồ Tát tu, đã đạt đến cảnh giới nhậm
vận tự tại. Tóm lại, muốn như thế nào thì như
thế đó, chẳng có mọi sự chướng ngại. Đó là do
trí huệ biến hoá, chứ chẳng phải do thức biến
hoá.
Phật tử ! Ví như nông phu, trong
ruộng gieo giống xuống, hạt giống ở dưới, quả
sinh ở trên. Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng
lại như thế. Trong một nhập định, trong nhiều
khởi. Trong nhiều nhập định, trong một khởi.
Các vị Phật tử !Ví như nông phu,
trong ruộng đất gieo hạt giống ngũ cốc xuống,
trồng hạt giống ở dưới đất, quả thật sinh trưởng
ở trên đất. Đây là luật nhân quả tự nhiên. Đại
Bồ Tát trụ tam muội này, cũng lại như thế. Có
thể ở trong thân một chúng sinh nhập định, từ
trong thân nhiều chúng sinh xuất định. Ở trong
thân nhiều chúng sinh nhập định, từ trong một
thân chúng sinh xuất định, chẳng có chướng ngại.
Phật tử ! Ví như tinh cha huyết
mẹ của nam nữ hoà hợp, hoặc có chúng sinh ở
trong đó thọ sinh. Bấy giờ, gọi là Ca la lã vị.
Từ đây lần lược trụ ở trong thai mẹ, đầy đủ mười
tháng. Do sức nghiệp thiện, nên tất cả chi phần
đều được thành tựu, các căn không thiếu, tâm ý
sáng tỏ. Ca la lã với sáu căn, thể tướng đều
khác nhau. Do nghiệp lực, khiến cho lần lược
thành tựu, thọ đủ thứ các loại quả báo khác
nhau.
Bồ Tát cũng lại như thế, từ Nhất
thiết trí Ca la lã vị, tin hiểu nguyện lực, dần
dần tăng trưởng. Tâm của Bồ Tát rộng lớn, nhậm
vận tự tại. Trong không nhập định, trong có
khởi. Trong có nhập định, trong không khởi.
Các vị Phật tử ! Ví như khi tinh
cha huyết mẹ của nam nữ hoà hợp, hoặc có một
thân trung ấm thọ sinh. Lúc đó, thức thọ sinh
gọi là Ca la lã vị. Từ đó bắt đầu lần lược sống,
đầy đủ mười tháng, sinh ra thế gian này, tiếp
thọ các sự khổ, nhưng chúng sinh vẫn cứ lấy khổ
làm vui.
Lược thuật quá trình của đời
người là : Trước hết bắt đầu từ vô minh, vô minh
tức là vọng tâm tham ái của nam nữ. Vô minh
duyên hành : Hành tức là tánh hành vi. Nam nữ
yêu nhau kết thành vợ chồng, để nối dõi giống
nòi, nên có hành vi này. Hành duyên thức : Thức
tức là bào thai, tinh cha huyết mẹ kết tinh thể,
tức cũng là nơi ký thác thọ sinh của thân trung
ấm. Thức duyên danh sắc : Bào thai ở trong bụng
mẹ sinh ra hệ thống thần kinh (danh), còn sinh
ra nhục thể (sắc). Danh sắc duyên lục nhập : Tức
nhiên có trạng thái tâm lý và sinh lý, thì đương
nhiên sinh ra sáu căn, tức cũng là mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý. Lục nhập duyên súc : Súc là
súc giác, tức cũng là có sự tác dụng của tri
giác. Khi đứa bé sinh ra thì da tiếp súc với
không khí, biết cảm giác lạnh nóng. Súc duyên
thọ : Có tiếp súc thì có cảm thọ, cảm thấy thọ
tốt thì đi tranh lấy. Thọ duyên ái : Vì lãnh thọ
tất cả tốt đẹp, nên tăng thêm tâm ái. Ái duyên
thủ : Có tâm ái rồi, thì tìm hết biện pháp, hết
tâm sức để tranh lấy, chiếm làm sở hữu của mình.
Thủ duyên hữu : Vì thủ lấy, nên tạo ba nghiệp
thân, khẩu, ý. Có nghiệp tạo rồi, bèn có hạt
giống thọ sinh. Hữu duyên sinh : Do đó : « Khởi
hoặc, tạo nghiệp, thọ báo ». Vì nhất thời hồ đồ,
bèn tạo ra nghiệp thọ sinh, nên có quả báo lai
sinh. Sinh duyên lão tử : Lai sinh có thân năm
uẩn, thì đương nhiên có sự uy hiếp lão tử. Từ
nhỏ lớn lên thành thiếu niên, từ thiếu niên
thành thanh niên, từ thanh niên rồi già, do già
rồi chết đi – đó là quá trình đời người phải đi
qua, bất cứ người nào cũng không tránh khỏi. Đây
là luật nhân quả ba đời tuần hoàn, sinh sinh tử
tử, tử tử sinh sinh, từ vô thuỷ kiếp đến nay,
vĩnh viễn không dứt được gốc, đó là vòng mười
hai nhân duyên sinh mạng.
Người tu đạo tức là dứt sinh tử,
không thọ khổ luân hồi. Làm thể nào để dứt sinh
tử ? Chỉ có một phương pháp, tức là niệm « Nam
Mô A Di Đà Phật », niệm đến lúc nhất tâm bất
loạn, thì có thể đới nghiệp vãng sinh về thế
giới Cực Lạc, hoa nở thấy Phật. Ở đó hoa sen hoá
sinh, chẳng có con nít, chỉ hiện thân thể chín
phẩm thành người. Ngoài ra còn có một phương
pháp chấm dứt sinh tử đó là tham thiền. Tham đến
cảnh giới tứ thiền, chẳng biết đủ mà dừng lại,
đó vẫn là cảnh giới của phàm phu. Phải tiếp tục
dụng công phu tiến về trước, trải qua trời Ngũ
Bất Hoàn, lúc đó vượt qua trời Tứ Không, mà ra
khởi tam giới, sẽ dứt được phần đoạn sinh tử.
Bây giờ đưa ra một vấn đề, để mọi
người cùng nhau nghiên cứu : Tại sao người nam
thương người nữ ? Người nữ thương người nam ? Có
người nói : « Đây là thiên tính ! Khổng Tử đã
từng nói : ‘’Tánh tham sắc vậy’’, đây là tham
dục của con người ». Bởi nhân duyên này, cho nên
chúng sinh do sắc dục mà sinh, do sắc dục mà
chết. Ai phá được ải sắc dục, đoạn dục khử ái,
thì không bị mười hai nhân duyên ràng buộc, sẽ
được giải thoát.
Con người sinh ra thế giới này,
đều là có nhân duyên. Có người có duyên lành đến
làm cha con, hoặc mẹ con. Có người có báo oán
đến làm cha con, hoặc mẹ con. Cho nên, có những
con cái đến trả nợ, cũng có những con cái đến
đòi nợ, do đó :
« Không con, không cái, không oan
gia ».
Nếu nói về nhân quả, thì có những
sự việc hoàn toàn chân thật. Nay đưa ra một câu
chuyện để tham khảo.
Phong tục nhân gian trước kia, hễ
có lễ cưới, sinh con, đám ma .v.v…đều thỉnh mời
mấy Thầy đến tụng kinh. Mục đích là để được cát
tường như ý, tiêu tai sống lâu, vãng sinh về Cực
Lạc. Một ngày nọ, hoà thượng Xã Thuận (sơ tổ của
tông Hoa Nghiêm) đến nhà trai chủ ứng cúng. Thọ
trai xong, vợ chồng trai chủ bồng em bé đến
trước mặt hoà thượng, thỉnh hoà thượng từ bi gia
trì cho em bé, muốn cho em bé được sống lâu giàu
có. Hoà thượng dùng pháp nhãn quán sát, biết
nhân duyên của đứa bé, đứa bé đó đến để đòi nợ,
vì muốn cho đôi bên giải trừ oán cừu, hoà thượng
bèn kêu vợ chồng trai chủ bồng đứa bé đến bờ
sông. Hoà thượng ôm đứa bé liệng xuống sông.
Lúc đó, vợ chồng trai chủ khóc
lóc, kêu hoà thượng đòi con lại. Hoà thượng nói
với họ rằng : « Các vị hãy trở về nhìn con của
các vị đi » ! Vợ chồng trai chủ trở về nhìn xem,
thì ở trong nước hiện ra thân một người nam,
trợn mắt nói với vợ chồng đó rằng : « Ai là con
của các vị ! Ba năm trước, tôi là người buôn
bán, ngồi thuyền của các vị qua sông, các vị
thấy tôi có tiền, bèn sinh tâm bất lương, giết
tôi cướp tiền của. Khi thuyền đến giữa sông, bèn
xô tôi té xuống sông, để chiếm đoạt tài vật của
tôi. Đời này tôi đến để đòi nợ, nay may mắn gặp
hoà thượng từ bi, hoà giải cho chúng ta. Bằng
không, nhất định tôi sẽ làm hại quý vị nhà tan
người mất ». Nói xong không thấy tông tích nữa.
Lúc đó, vợ chồng như ngây như dại, rất là hổ
thẹn. Bèn kính thỉnh hoà thượng Xã Thuận làm
pháp hội Thuỷ Lục Không, siêu độ cô hồn dã quỷ,
đều được vãng sinh. Từ đó về sau, vợ chồng tụng
kinh lễ Phật, ăn chay suốt đời.
Thai nhi ở trong bụng mẹ, mãn
mười tháng, do sức nghiệp thiện, nên ngũ quan tứ
chi, tất cả đều được đầy đủ. Ngũ tạng lục phủ
đều thành tựu, các căn không thiếu. Tâm ý minh
bạch tất cả sự lý. Ca la lã vị này với sáu căn,
thể tướng đều khác nhau. Do nghiệp lực thiện đã
tạo ra trong kiếp trước, khiến cho lần lược
thành tựu thai nhi, thọ đồng loại (người), hoặc
loài khác (súc sinh) đủ thứ các loại quả báo
khác nhau.
Bồ Tát tu Bồ Tát đạo, viên mãn
lục độ vạn hạnh cũng lại như thế, từ Nhất thiết
trí ca la lã vị, vì có nguyện lực tin hiểu, dần
dần tăng trưởng. Tâm của Bồ Tát đặc biệt rộng
lớn, nhậm vận tự tại, tất cả đều toại tâm như ý.
Cảnh giới này, chẳng có tơ hào chướng ngại. Ở
trong chân không nhập định, từ trong diệu hữu
xuất định. Ở trong diệu hữu nhập định, từ trong
chân không xuất định, không có chướng ngại.
Phật tử ! Ví như cung rồng, nương
đất mà lập, chẳng nương hư không. Rồng nương
cung điện mà ở, cũng chẳng phải ở trong hư
không, mà hay nổi mây đầy khắp trong hư không.
Có người ngước nhìn thấy cung điện. Nên biết đó
là thành của Càn Thát Bà, chẳng phải cung rồng.
Phật tử ! Rồng tuy ở dưới thấp,
còn mây giăng trên trời. Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, cũng lại như thế. Nơi không tướng nhập, có
tướng khởi. Nơi có tướng nhập, không tướng khởi.
Các vị Phật tử ! Ví như cung điện
rồng ở trong biển, nương đất mà lập, chẳng
phải ở trong hư không. Rồng nương cung mà ở,
cũng chẳng phải ở trong hư không. Nhưng khi nổi
mây mưa xuống, thì mây giăng đầy khắp trong hư
không. Có người ngước nhìn lên hư không, thấy có
cung điện. Nên biết đó là thành thị của Càn Thát
Bà, chứ chẳng phải cung điện của rồng.
Các vị Phật tử ! Rồng tuy ở dưới
biển, nhưng khi nổi mây mưa xuống thì ở trên hư
không. Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng lại như
thế. Nơi không tướng nhập, từ có tướng xuất
định. Nơi có tướng nhập, từ không tướng xuất
định, chẳng có chướng ngại.
Phật tử ! Ví như cung điện của
Diệu Quang Đại Phạm Thiên Vương ở, gọi là Nhất
thiết thế gian tối thắng thanh tịnh tạng. Ở
trong đại cung điện đó, thấy khắp các bốn thiên
hạ trong ba ngàn đại thiên thế giới, cung trời,
cung rồng, cung Dạ Xoa, cung Càn Thát Bà, cung A
Tu La, cung Ca Lâu La, cung Khẩn Na La, cung Ma
Hầu La Già, chỗ ở nhân gian, và ba đường ác, núi
Tu Di đủ thứ các núi, biển cả sông ngòi, ao đầm
nguồn suối, thành ấp làng xóm, cây rừng các báu,
tất cả đủ thứ sự trang nghiêm như vậy, tột cùng
hết thảy bờ mé đại luân vi. Cho đến du trần vi
tế ở trong hư không, thảy đều hiển hiện ra ở
trong Phạm cung. Giống như thấy mặt mình hiện ra
trong gương sáng.
Đại Bồ Tát trụ đại tam muội Tất
cả thân chúng sinh khác biệt này, biết đủ thứ
cõi, thấy các vị Phật, độ đủ thứ chúng, chứng đủ
thứ pháp, thành tựu đủ thứ hạnh, viên mãn đủ thứ
giải, vào đủ thứ tam muội, khởi đủ thứ thần
thông, được đủ thứ trí huệ, trụ đủ thứ sát na
tế.
Các vị Phật tử !Ví như cung điện
của Diệu Quang Đại Phạm Thiên Vương ở, gọi là
Nhất thiết thế gian tối thắng thanh tịnh tạng. Ở
trong đại cung điện đó, thấy khắp tất cả các bốn
thiên hạ trong ba ngàn đại thiên thế giới. Hết
thảy cung điện trời, cung điện rồng, cung điện
Dạ xoa, cung điện Càn thát bà, cung điện A tu
la, cung điện Ca lâu la, cung điện Khẩn na la,
cung điện Ma hầu la già, cùng với chỗ ở nhân
gian, và ba đường ác.
Ở trong Phạm cung đó, lại thấy
núi Tu di đủ thứ các núi, đủ thứ biển cả, đủ thứ
sông ngòi, đủ thứ ao đầm, đủ thứ nguồn suối,
thành ấp, làng xóm, cây rừng, các báu .v.v…tất
cả đủ thứ sự trang nghiêm như vậy, tột cùng hết
thảy bờ mé đại luân vi. Cho đến du trần vi tế
tận cùng ở trong hư không, thảy đều hiển hiện ra
ở trong đại cung điện Nhất thiết thế gian tối
thắng thanh tịnh tạng của Diệu Quang Đại Phạm
Thiên. Giống như thấy tướng mặt mình hiện ra
trong gương sáng.
Đại Bồ Tát trụ đại tam muội tất
cả thân chúng sinh khác biệt này, biết đủ thứ
cõi Phật, thấy được các vị Phật, độ được đủ thứ
chúng, chứng được đủ thứ pháp, thành tựu đủ thứ
hạnh, viên mãn đủ thứ tri giải, vào được đủ thứ
tam muội, sinh khởi đủ thứ thần thông, đắc được
đủ thứ trí huệ, trụ tại đủ thứ sát na tế.
Ở trên đưa ra sáu ví dụ :
1. Dụ về huyễn hiện sáu cảnh.
2. Dụ về A tu la chạy trốn.
3. Dụ về nông phu gieo giống.
4. Dụ về thọ thai lớn lên.
5. Dụ về rồng ở dưới mây ở trên.
6. Dụ về Phạm cung hiện khắp.
Đó là biểu thị đại Bồ Tát thị
hiện, khi nhập vào đại tam muội Tất cả thân
chúng sinh khác biệt, có vô lượng cảnh giới, có
đủ thứ sự khác biệt, nhậm vận tự tại, muốn nhập
định lúc nào ? Lúc nào xuất định ? Nơi nào nhập
định ? Nơi nào xuất định ? Đều toại tâm như ý,
chẳng có chướng ngại. Cảnh giới này, thật là
không thể nghĩ bàn, diệu không thể tả.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này đến được
mười thứ thần thông bờ kia. Những gì là mười ?
Đó là :
Thần thông bờ kia đến được chư
Phật tận hư không khắp pháp giới.
Thần thông bờ kia đến được Bồ Tát
rốt ráo không khác biệt tự tại.
Thần thông bờ kia đến được hay
phát khởi Bồ Tát hạnh nguyện rộng lớn, vào Như
Lai môn Phật sự.
Thần thông bờ kia đến được hay
chấn động tất cả thế giới, tất cả cảnh giới đều
khiến cho thanh tịnh.
Thần thông bờ kia đến được hay tự
tại biết nghiệp quả không nghĩ bàn của tất cả
chúng sinh, đều như huyễn hoá.
Thần thông bờ kia đến được hay tự
tại biết tam muội thô tế nhập xuất tướng khác
biệt.
Thần thông bờ kia đến được hay
dũng mãnh vào cảnh giới Như Lai, mà ở trong đó
phát sinh đai nguyện.
Thần thông bờ kia đến được hay
hoá làm Phật hoá chuyển pháp luân, điều phục
chúng sinh, khiến cho sinh giống Phật, khiến cho
vào Phật thừa, sớm được thành tựu.
Thần thông bờ kia đến được hay
biết rõ bất khả thuyết tất cả bí mật câu văn mà
chuyển pháp luân, khiến cho trăm ngàn ức Na do
tha bất khả thuyết bất khả thuyết pháp môn đều
được thanh tịnh.
Thần thông bờ kia đến được chẳng
mượn ngày đêm năm tháng kiếp số, một niệm đều có
thể thị hiện ba đời. Đó là mười.
Các vị Phật tử !Đại Bồ Tát này
đến được cảnh giới mười thứ thần thông bờ kia.
Bờ kia tức là Ba la mật. Những gì là mười ? Đó
là :
1. Thần thông bờ kia đến được chư
Phật tận hư không khắp pháp giới.
2. Thần thông bờ kia đến được Bồ
Tát tự tại rốt ráo không khác biệt.
3. Thần thông bờ kia đến được hay
phát khởi Bồ Tát hạnh nguyện rộng lớn, vào môn
của Như Lai, làm đủ thứ Phật sự
4. Thần thông bờ kia đến được hay
chấn động tất cả thế giới, tất cả cảnh giới đều
khiến cho thanh tịnh.
5. Thần thông bờ kia đến được hay
tự tại biết nghiệp quả không nghĩ bàn của tất cả
chúng sinh, đều như huyễn như hoá.
6. Thần thông bờ kia đến được hay
tự tại biết tất cả tam muội thô tế nhập xuất
tướng khác biệt.
7. Thần thông bờ kia đến được hay
dũng mãnh vào cảnh giới của Như Lai, mà ở trong
đó phát sinh đai nguyện.
8. Thần thông bờ kia đến được hay
hoá làm tướng Phật, hoá làm chuyển pháp luân,
điều phục chúng sinh, khiến cho sinh giống tánh
Phật, khiến cho vào diệu pháp của Phật thừa, sớm
được thành tựu.
9. Thần thông bờ kia đến được hay
biết rõ bất khả thuyết tất cả bí mật câu văn, mà
chuyển đại pháp luân, khiến cho trăm ngàn ức Na
do tha bất khả thuyết bất khả thuyết pháp môn
đều được thanh tịnh.
10. Thần thông bờ kia đến được
chẳng giả mượn ngày đêm năm tháng kiếp số, trong
một niệm, hoàn toàn đều có thể thị hiện ba đời.
Đó là cảnh giới mười thứ thần thông bờ kia.
Phật tử ! Đó là đại tam muội Trí
thiện xảo tất cả thân chúng sinh khác biệt thứ
tám của đại Bồ Tát.
Các vị Phật tử ! Đó là đại tam
muội Trí huệ thiện xảo tất cả thân chúng sinh
khác biệt thứ tám của đại Bồ Tát tu nhập vào.
THỨ CHÍN, TAM MUỘI TỰ TẠI PHÁP
GIỚI
Phật tử ! Thế nào là tam muội Tự
tại pháp giới của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào gọi là đại tam
muội Tự tại pháp giới của đại Bồ Tát phải tu
hành ?
Phật tử ! Đại Bồ Tát này ở nơi
con mắt của mình, cho đến nơi ý nhập tam muội,
gọi là tự tại pháp giới. Trong mỗi lỗ chân lông
nơi thân của Bồ Tát, đều nhập tam muội này. Tự
nhiên biết được các thế gian, biết các pháp thế
gian, biết các thế giới, biết ức Na do tha thế
giới, biết A tăng kỳ thế giới, biết thế giới
nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết cõi Phật.
Thấy trong tất cả thế giới có Phật xuất hiện ra
đời, Bồ Tát chúng hội, thảy đều đầy dẫy. Quang
minh thanh tịnh, thuần thiện không tạp, rộng lớn
trang nghiêm, đủ thứ các báu dùng để nghiêm sức.
Các vị Phật tử !Vị đại Bồ Tát này
tu hành Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh,
tích tập đủ thứ căn lành. Ở nơi con mắt của
mình, cho đến nơi ý của mình, nhập tam muội, đại
tam muội này tên gọi là Tự tại pháp giới.
Trong mỗi lỗ chân lông nơi thân
của Bồ Tát, đều nhập tam muội Tự tại pháp giới,
tự nhiên biết được cảnh giới của tất cả thế
gian, biết được tất cả pháp thế gian, biết được
tất cả thế giới, biết được ức Na do tha thế
giới, biết được A tăng kỳ thế giới, biết được
thế giới nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết cõi
Phật. Lại thấy được trong tất cả thế giới có
Phật xuất hiện ra đời, Bồ Tát đại chúng pháp
hội, đều đầy dẫy khắp thế giới. Vừa quang minh
vừa thanh tịnh, thuần thiện không tạp, vừa rộng
lớn lại trang nghiêm. Dùng đủ thứ các châu báu
để nghiêm sức.
Bồ Tát ở nơi đó, hoặc một kiếp,
trăm kiếp, ngàn kiếp, ức kiếp, trăm ngàn ức Na
do tha kiếp, vô số kiếp, vô lượng kiếp, vô biên
kiếp, vô đẳng kiếp, bất khả số kiếp, bất khả
xưng kiếp, bất khả tư kiếp, bất khả lượng kiếp,
bất khả thuyết kiếp, bất khả thuyết bất khả
thuyết kiếp, bất khả thuyết bất khả thuyết Phật
sát vi trần số kiếp, tu Bồ Tát hạnh, thường
không ngừng nghỉ.
Bồ Tát ở trong chúng hội đạo
tràng, hoặc một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, ức
kiếp, trăm ngàn ức Na do tha kiếp, vô số kiếp,
vô lượng kiếp, vô biên kiếp, vô đẳng kiếp, bất
khả số kiếp, bất khả xưng kiếp, bất khả tư kiếp,
bất khả lượng kiếp, bất khả thuyết kiếp, bất khả
thuyết bất khả thuyết kiếp, bất khả thuyết bất
khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp, trong thời
gian dài này, Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh, luôn luôn
không ngừng nghỉ, cũng chẳng có khi nào nhàm
mỏi. Đó là đại hạnh đại nguyện của Bồ Tát, tinh
thần đó, khiến cho mọi người khởi tâm kính phục.
Lại ở trong vô lượng kiếp như
vậy, trụ tam muội này. Cũng nhập, cũng khởi,
cũng thành tựu thế giới, cũng điều phục chúng
sinh, cũng rõ khắp pháp giới, cũng biết khắp ba
đời, cũng diễn nói các pháp, cũng hiện đại thần
thông. Đủ thứ phương tiện, không chấp, không
ngại, vì nhờ nơi pháp giới mà đắc được tự tại.
Khéo phân biệt mắt, khéo phân
biệt tai, khéo phân biệt mũi, khéo phân biệt
lưỡi, khéo phân biệt thân, khéo phân biệt ý. Đủ
thứ sự khác nhau như vậy, đều khéo phân biệt,
tột cùng bờ mé.
Bồ Tát lạiở trong vô lượng kiếp
như vậy, khi trụ nơi tam muội tự tại pháp giới,
cũng nhập định, cũng xuất định, cũng thành tựu
thế giới, cũng điều phục chúng sinh, cũng rõ
khắp pháp giới, cũng biết khắp ba đời, cũng diễn
nói các pháp, cũng thị hiện đại thần thông. Đủ
thứ phương tiện, cũng không chấp trước, cũng
không chướng ngại.
Bồ Tát ở trong pháp giới, nhờ đắc
được nhậm vận tự tại, cho nên khéo phân biệt
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu căn. Đủ thứ
các căn khác nhau như vậy, Bồ Tát hoàn toàn phân
biệt được, tột cùng bờ mé. Cảnh giới đó, Bồ Tát
có đại trí huệ mới phân biệt rõ ràng được.
Bồ Tát khéo thấy biết như vậy
rồi, bèn sinh khởi mười ngàn ức Đà la ni pháp
quang minh, thành tựu mười ngàn ức hạnh thanh
tịnh, đắc được mười ngàn ức các căn, viên mãn
mười ngàn ức thần thông, vào được mười ngàn ức
tam muội, thành tựu mười ngàn ức thần lực,
trưởng dưỡng mười ngàn ức các lực, viên mãn mười
ngàn ức thâm tâm, vận động mười ngàn ức lực trì,
thị hiện mười ngàn ức thần biến, đầy đủ mười
ngàn ức Bồ Tát vô ngại, viên mãn mười ngàn ức Bồ
Tát trợ đạo, tích tập mười ngàn ức Bồ Tát tạng,
chiếu rõ mười ngàn ức Bồ Tát phương tiện, diễn
nói mười ngàn ức các nghĩa, thành tựu mười ngàn
ức các nguyện, sinh ra mười ngàn ức hồi hướng,
tịnh trị mười ngàn ức Bồ Tát chánh vị, thấu rõ
mười ngàn ức pháp môn, khai thị mười ngàn ức
diễn nói, tu trị mười ngàn ức Bồ Tát thanh tịnh.
Bồ Tát khéo thấy biết như vậy
rồi, bèn sinh khởi mười ngàn ức đà la ni pháp
quang minh, thành tựu mười ngàn ức hạnh thanh
tịnh, đắc được mười ngàn ức các căn, viên mãn
mười ngàn ức thần thông, vào được mười ngàn ức
tam muội, thành tựu mười ngàn ức thần lực,
trưởng dưỡng mười ngàn ức các lực, viên mãn mười
ngàn ức thâm tâm, vận động mười ngàn ức lực trì,
thị hiện mười ngàn ức thần biến, đầy đủ mười
ngàn ức cảnh giới Bồ Tát vô ngại, viên mãn mười
ngàn ức Bồ Tát trợ đạo, tích tập mười ngàn ức Bồ
Tát tạng, chiếu rõ mười ngàn ức Bồ Tát phương
tiện, diễn nói mười ngàn ức các nghĩa, thành tựu
mười ngàn ức các nguyện, sinh ra mười ngàn ức
hồi hướng, tịnh trị mười ngàn ức Bồ Tát chánh
vị, thấu rõ mười ngàn ức pháp môn, khai thị mười
ngàn ức diễn nói, tu trị mười ngàn ức Bồ Tát
thanh tịnh.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này, lại có
vô số công đức, vô lượng công đức, vô biên công
đức, vô đẳng công đức, bất khả số công đức, bất
khả xưng công đức, bất khả tư công đức, bất khả
lượng công đức, bất khả thuyết công đức, vô tận
công đức.
Phật tử ! Bồ Tát này nơi công đức
như vậy, đều đã làm đủ, đều đã tích tập, đều đã
trang nghiêm, đều đã thanh tịnh, đều đã thấu
triệt, đều đã nhiếp thọ, đều hay sinh ra, đều
đáng khen ngợi, đều được kiên cố, đều đã thành
tựu.
Các vịPhật tử ! Đại Bồ Tát lại
thành tựu vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất
khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng,
vô cùng vô tận công đức như vậy,
Các vị Phật tử ! Vị Bồ Tát này
đối với công đức như đã nói ở trên, đều đã viên
mãn đầy đủ, đều đã tích tập thành tựu, đều đã
trang nghiêm thanh tịnh, đều đã thấu triệt, đều
đã nhiếp thọ chúng sinh, đều hay sinh ra Bát
nhã, đều đáng tán thán khen ngợi, đều được kiên
cố bất hoại, đều đã thành tựu đạo nghiệp.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, được danh hiệu chư Phật phương đông, nhiều
như số hạt bụi mười ngàn ức A tăng kỳ cõi Phật
nhiếp thọ. Mỗi mỗi danh hiệu, lại có chư Phật
nhiều như số hạt bụi mười ngàn ức A tăng kỳ cõi
Phật, thảy đều khác biệt. Như phương đông,
phương nam tây bắc bốn hướng trên dưới cũng lại
như thế.
Chư Phật đó đều hiện ra ở trước
mặt, vì hiện cõi nước chư Phật thanh tịnh, vì
nói vô lượng thân của chư Phật, vì nói mắt khó
nghĩ bàn của chư Phật, vì nói vô lượng tai của
chư Phật, vì nói mũi thanh tịnh của chư Phật, vì
nói lưỡi thanh tịnh của chư Phật, vì nói tâm vô
trụ của chư Phật, vì nói thần thông vô thượng
của Như Lai.
Các vịPhật tử ! Đại Bồ Tát trụ
tam muội này, được danh hiệu chư Phật phương
đông, nhiều như số hạt bụi mười ngàn ức A tăng
kỳ cõi Phật nhiếp thọ. Ở trong mỗi danh hiệu,
lại có Phật nhiều như số hạt bụi mười ngàn ức A
tăng kỳ cõi Phật, mỗi vị Phật đều khác biệt. Như
phương đông là như thế, phương nam, tây, bắc,
bốn hướng trên dưới, cũng lại như thế.
Hết thảy chư Phật đó, thảy đều
hiện ra ở trước mặt, vì hiện cõi Phật thanh tịnh
của chư Phật, vì nói vô lượng thân của chư Phật,
vì nói mắt khó nghĩ bàn của chư Phật, vì nói vô
lượng tai của chư Phật, vì nói mũi thanh tịnh
của chư Phật, vì nói lưỡi thanh tịnh của chư
Phật, vì nói tâm vô trụ của chư Phật, vì nói
thần thông vô thượng của Như Lai.
Khiến tu vô thượng bồ đề của Như
Lai. Khiến được âm thanh thanh tịnh của Như Lai.
Khai thị bánh xe pháp bất thối của Như Lai. Hiển
bày vô biên chúng hội của Như Lai. Khiến vào vô
biên bí mật của Như Lai. Tán thán tất cả căn
lành của Như Lai. Khiến vào pháp bình đẳng của
Như Lai. Tuyên nói giống tánh ba đời của Như
Lai. Thị hiện vô lượng sắc tướng của Như Lai.
Xiển dương pháp hộ niệm của Như Lai. Diễn xướng
pháp âm vi diệu của Như Lai. Biện minh tất cả
thế giới của chư Phật. Tuyên dương tất cả tam
muội của chư Phật. Thị hiện chúng hội thứ tự của
chư Phật. Hộ trì pháp không nghĩ bàn của chư
Phật. Nói tất cả pháp giống như huyễn hoá. Thấu
rõ tánh của các pháp không có động chuyển. Khai
thị tất cả pháp luân vô thượng. Khen ngợi vô
lượng công đức của Như Lai. Khiến vào tất cả các
mây tam muội. Khiến biết tâm như huyễn, như hoá,
vô biên, vô tận.
Tại sao ở trước nói đủ thứ pháp ?
Vì Phật khiến cho tất cả Bồ Tát tu hành vô
thượng bồ đề của Như Lai. Khiến cho tất cả Bồ
Tát đắc được âm thanh thanh tịnh của Như Lai.
Khai thị bánh xe pháp bất thối của Như Lai. Hiển
bày vô biên chúng hội của Như Lai. Khiến vào vô
biên bí mật của Như Lai. Tán thán tất cả căn
lành của Như Lai. Khiến vào pháp môn bình đẳng
của Như Lai. Tuyên nói giống tánh ba đời của Như
Lai. Thị hiện vô lượng sắc tướng của Như Lai.
Xiển dương pháp môn hộ niệm của Như Lai. Diễn
xướng pháp âm vi diệu của Như Lai. Biện minh tất
cả thế giới của chư Phật. Tuyên dương tất cả tam
muội của chư Phật. Thị hiện chúng hội thứ tự của
chư Phật. Hộ trì pháp môn không nghĩ bàn của chư
Phật. Nói tất cả pháp giống như huyễn hoá. Thấu
rõ tự tánh của các pháp là tịch tĩnh, không có
lúc nào động chuyển. Khai thị tất cả pháp luân
vô thượng. Khen ngợi vô lượng công đức của Như
Lai. Khiến vào tất cả các mây tam muội. Khiến
biết tâm như huyễn như hoá, chẳng chân thật, là
vô biên vô tận.
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát trụ tam
muội Tự tại pháp giới này, mỗi phương trong mười
phương, đều có danh hiệu Như Lai, nhiều như số
hạt bụi mười ngàn A tăng kỳ cõi Phật. Trong mỗi
danh hiệu, đều có Phật nhiều như số hạt bụi mười
ngàn A tăng kỳ cõi Phật, đồng thời hộ niệm.
Khiến cho Bồ Tát này được vô biên
thân. Khiến cho Bồ Tát này được tâm vô ngại.
Khiến cho Bồ Tát này nơi tất cả pháp, hay nhớ
không quên. Khiến cho Bồ Tát này nơi tất cả
pháp, được huệ quyết định. Khiến cho Bồ Tát này
càng thêm thông minh sáng suốt, nơi tất cả pháp,
đều được lãnh thọ. Khiến cho Bồ Tát này nơi tất
cả pháp, đều được sáng tỏ. Khiến cho Bồ Tát này
các căn dũng mãnh lanh lợi, nơi pháp thần thông,
đều được khéo léo. Khiến cho Bồ Tát này được
cảnh giới vô ngại, đi khắp pháp giới, luôn không
ngừng nghỉ. Khiến cho Bồ Tát này được trí vô
ngại, rốt ráo thanh tịnh. Khiến cho Bồ Tát này
dùng sức thần thông, tất cả thế giới thị hiện
thành Phật.
Các vịPhật tử ! Khi đại Bồ Tát
trụ tam muội tự tại pháp giới này, mỗi phương
trong mười phương thế giới, đều có danh hiệu Như
Lai, nhiều như số hạt bụi mười ngàn A tăng kỳ
cõi Phật. Trong mỗi danh hiệu, đều có Phật nhiều
như số hạt bụi mười ngàn A tăng kỳ cõi Phật,
đồng thời hộ niệm Bồ Tát trụ tam muội này.
Khiến cho vị Bồ Tát này được vô
biên thân. Khiến cho vị Bồ Tát này được tâm vô
ngại. Khiến cho vị Bồ Tát này nơi tất cả pháp,
đắc được sức nhớ không quên. Do đó :
« Một khi lọt qua tai,
Vĩnh viễn là giống đạo ».
Khiến cho vị Bồ Tát này nơi tất
cả pháp, đắc được huệ quyết định, vì có con mắt
chọn pháp, cho nên có trí huệ quyết định. Khiến
cho vị Bồ Tát này càng thêm thông minh sáng
suốt, nơi tất cả pháp, đều được lãnh thọ. Khiến
cho vị Bồ Tát này nơi tất cả pháp, hoàn toàn
được minh bạch sáng tỏ. Khiến cho vị Bồ Tát này
các căn dũng mãnh lanh lợi, nơi pháp thần thông
tự tại, hoàn toàn đắc được phương tiện khéo léo.
Khiến cho vị Bồ Tát này đắc được cảnh giới vô
ngại, đi khắp pháp giới, luôn không ngừng nghỉ.
Khiến cho vị Bồ Tát này được trí vô ngại, rốt
ráo thanh tịnh. Khiến cho vị Bồ Tát này dùng sức
thần thông, trong tất cả thế giới thị hiện thành
Phật.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, được mười thứ biển. Những gì là mười ? Đó
là : Được biển chư Phật, vì đều được thấy. Được
biển chúng sinh, vì đều điều phục. Được biển các
pháp, vì hay dùng trí huệ đều biết rõ. Được biển
các cõi, vì dùng thần thông không tánh, không
làm, đều đi đến. Được biển công đức, vì tất cả
tu hành đều viên mãn. Được biển thần thông, vì
hay rộng thị hiện khiến cho khai ngộ. Được biển
các căn, vì đủ thứ khác nhau đều khéo biết. Được
biển các tâm, vì biết tất cả chúng sinh đủ thứ
khác biệt vô lượng tâm. Được biển các hạnh, vì
hay dùng nguyện lực đều viên mãn. Được biển các
nguyện, vì đều khiến cho thành tựu vĩnh viễn
thanh tịnh.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ
tam muội này, đắc được lợi ích mười thứ biển sâu
rộng. Những gì là mười ? Đó là :
1. Đắc được biển pháp tánh của
tất cả chư Phật, vì đều thấy được tất cả chư
Phật.
2. Đắc được biển tất cả chúng
sinh, vì đều điều phục được chúng sinh cang
cường.
3. Đắc được biển tất cả các pháp,
vì hay dùng Nhất thiết trí huệ, hoàn toàn biết
rõ.
4. Đắc được biển tất cả các cõi,
vì dùng thần thông không tánh không làm, đều đi
đến cõi nước chư Phật.
5. Đắc được biển tất cả công đức,
vì tất cả tu hành đều viên mãn.
6. Đắc được biển tất cả thần
thông, vì hay rộng thị hiện rộng lớn khiến cho
khai ngộ.
7. Đắc được biển tất cả các căn,
vì biết các căn của tất cả chúng sinh, có đủ thứ
khác nhau.
8. Đắc được biển tất cả các tâm,
vì biết tâm của tất cả chúng sinh, có đủ thứ
khác biệt vô lượng.
9. Đắc được biển tất cả các hạnh,
vì hay dùng nguyện lực đều viên mãn hạnh môn.
10. Đắc được biển tất cả các
nguyện, vì đều khiến cho thành tựu đạo quả, vĩnh
viễn thanh tịnh.
Phật tử ! Đại Bồ Tát được mười
thứ biển như vậy rồi, lại được mười thứ thù
thắng. Những gì là mười ?
Đó là : Một là đệ nhất ở trong
tất cả chúng sinh. Hai là thù đặc nhất ở trong
tất cả chư Thiên. Ba là tự tại nhất ở trong tất
cả Phạm Vương. Bốn là không nhiễm trước nơi các
thế gian. Năm là tất cả thế gian không che khuất
được. Sáu là tất cả các ma không mê hoặc loạn
được. Bảy là vào khắp các cõi, không có quái
ngại. Tám là nơi nơi thọ sinh, biết không vững
bền. Chín là tất cả Phật pháp đều được tự tại.
Mười là tất cả thần thông đều thị hiện được.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát đắc
được lợi ích mười thứ biển sâu rộng như vậy rồi,
lại được mười thứ lợi ích thù thắng siêu tuyệt.
Những gì là mười ? Đó là :
1. Bồ Tát ở trong tất cả chúng
sinh là đệ nhất không có ai bằng.
2. Bồ Tát thù thắng nhất lại đặc
biệt ở trong tất cả chư Thiên.
3. Bồ Tát tự tại nhất ở trong tất
cả Phạm Vương.
4. Bồ Tát không nhiễm ô, cũng
không chấp trước trong tất cả thế gian.
5. Quang minh của tất cả thế gian
không cách chi che khuất được quang minh của Bồ
Tát.
6. Tất cả các ma không mê hoặc
nhiễu loạn được tâm thanh tịnh của Bồ Tát.
7. Tuy Bồ Tát vì độ sinh, mà vào
khắp các cõi thọ sinh, nhưng không có sự quái
ngại.
8. Khi Bồ Tát nơi nơi thọ sinh,
biết tất cả đều không vững bền, nên không tham
luyến.
9. Bồ Tát đối với tất cả Phật
pháp, đều được nhậm vận tự tại.
10. Bồ Tát đắc được tất cả thần
thông, đều có thể thị hiện trước tất cả chúng
sinh.
Phật tử ! Đại Bồ Tát được mười
thứ thù thắng như vậy rồi, lại được mười thứ
lực. Nơi cõi chúng sinh, tu tập các hạnh. Những
gì là mười ?
Một là lực dũng kiện, vì điều
phục thế gian. Hai là lực tinh tấn, vì luôn
không thối chuyển. Ba là lực không chấp trước,
vì lìa các cấu nhiễm. Bốn là lực tịch tĩnh, vì
nơi tất cả pháp không tranh luận. Năm là lực
nghịch thuận, vì nơi tất cả pháp tâm tự tại. Sáu
là lực pháp tánh, vì trong các nghĩa được tự
tại. Bảy là lực vô ngại, vì trí huệ rộng lớn.
Tám là lực vô uý, vì hay nói các pháp. Chín là
lực biện tài, vì hay trì các pháp. Mười là lực
khai thị, vì trí huệ vô biên.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát đắc
được mười thứ thù thắng siêu tuyệt như vậy rồi,
lại đắc được mười thứ sức lực không thể nghĩ
bàn. Ở trong cõi chúng sinh, tu tập tất cả các
hạnh, đến được bất thối chuyển. Những gì là
mười ?
1. Lực dũng kiện : Vì hay điều
phục chúng sinh thế gian cang cường.
2. Lực tinh tấn : Vì ngày đêm
tinh tấn, luôn không thối chuyển.
3. Lực không chấp trước : Vì hay
lìa khỏi tất cả ô uế, mà không nhiễm trước.
4. Lực tịch tĩnh : Vì thường ở
trong định, đối với tất cả các pháp, không sinh
hoài nghi, không khởi tranh luận.
5. Lực nghịch thuận : Vì bất cứ
nghịch cảnh, hoặc thuận cảnh, đối với tất cả
pháp trong tâm tự tại.
6. Lực pháp tánh : Vì ở trong tất
cả nghĩa lý, nhậm vận tự tại, cho nên không có
chướng ngại.
7. Lực vô ngại : Vì trí huệ rộng
lớn, cho nên viên dung vô ngại.
8. Lực vô uý : Vì khéo thuyết
pháp, cho nên không có sợ hãi.
9. Lực biện tài : Vì thọ trì tất
cả các pháp, cho nên có đại biện tài.
10. Lực khai thị. Vì trí huệ vô
biên, cho nên giáo hoá chúng sinh phát tâm bồ
đề, học vô thượng đạo.
Phật tử ! Mười thứ lực này, là
lực rộng lớn, lực tối thắng, lực không thể hàng
phục, lực vô lượng, lực khéo tập, lực bất động,
lực kiên cố, lực trí huệ, lực thành tựu, lực
thắng định, lực thanh tịnh, lực rất thanh tịnh,
lực pháp thân, lực pháp quang minh, lực pháp
đăng, lực pháp môn, lực không thể hoại, lực rất
dũng mãnh, lực đại trượng phu, lực trượng phu
khéo tu tập, lực thành Chánh Giác, lực quá khứ
tích tập căn lành, lực an trụ vô lượng căn lành,
lực trụ Như Lai lực, lực tâm tư duy, lực tăng
trưởng Bồ Tát hoan hỉ, lực sinh ra Bồ Tát tịnh
tín, lực tăng trưởng Bồ Tát dũng mãnh, lực bồ đề
tâm sinh ra, lực Bồ Tát thanh tịnh thâm tâm, lực
Bồ Tát thù thắng thâm tâm, lực huân tập căn lành
của Bồ Tát, lực các pháp rốt ráo, lực thân không
chướng ngại, lực vào pháp môn phương tiện khéo
léo, lực diệu pháp thanh tịnh, lực an trụ đại
thế tất cả thế gian không thể khuynh động, lực
tất cả chúng sinh không thể che lấp.
Các vịPhật tử ! Mười thứ lực này,
lại đầy đủ ba mươi tám thứ lực. Tức là :
1. Lực rộng lớn.
2. Lực tối thắng.
3. Lực không thể hàng phục.
4. Lực vô lượng.
5. Lực khéo tập.
6. Lực bất động.
7. Lực kiên cố.
8. Lực trí huệ.
9. Lực thành tựu.
10. Lực thắng định.
11. Lực thanh tịnh.
12. Lực rất thanh tịnh.
13. Lực pháp thân.
14. Lực pháp quang minh.
15. Lực pháp đăng.
16. Lực pháp môn.
17. Lực không thể hoại.
18. Lực rất dũng mãnh.
19. Lực đại trượng phu.
20. Lực trượng phu khéo tu tập.
21. Lực thành Chánh Giác.
22. Lực quá khứ tích tập căn
lành.
23. Lực an trụ vô lượng căn lành.
24. Lực trụ Như Lai lực.
25. Lực tâm tư duy.
26. Lực tăng trưởng Bồ Tát hoan
hỉ.
27. Lực sinh ra Bồ Tát tịnh tín.
28. Lực tăng trưởng Bồ Tát dũng
mãnh.
29. Lực bồ đề tâm sinh ra.
30. Lực Bồ Tát thanh tịnh thâm
tâm.
31. Lực Bồ Tát thù thắng thâm
tâm.
32. Lực huân tập căn lành của Bồ
Tát.
33. Lực các pháp rốt ráo.
34. Lực thân không chướng ngại.
35. Lực vào pháp môn phương tiện
khéo léo.
36. Lực diệu pháp thanh tịnh.
37. Lực an trụ đại thế tất cả thế
gian không thể khuynh động.
38. Lực tất cả chúng sinh không
thể che lấp.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này nơi pháp
vô lượng công đức như vậy, hay sinh, hay thành
tựu, hay viên mãn, hay chiếu sáng, hay đầy đủ,
hay đầy đủ khắp, hay rộng lớn, hay kiên cố, hay
tăng trưởng, hay tịnh trị, hay tịnh trị khắp.
Các vị Phật tử ! Vị đại Bồ Tát
này, đối với pháp vô lượng công đức như đã nói ở
trước, hay sinh ra công đức này, hay thành tựu
công đức này, hay viên mãn công đức này, hay
chiếu sáng công đức này, hay đầy đủ công đức
này, hay đầy đủ khắp công đức này, hay rộng lớn
công đức này, hay kiên cố công đức này, hay tăng
trưởng công đức này, hay tịnh trị công đức này,
hay tịnh trị khắp công đức này.
Bờ mé công đức, bờ mé trí huệ, bờ
mé tu hành, bờ mé pháp môn, bờ mé tự tại, bờ mé
khổ hạnh, bờ mé thành tựu, bờ mé thanh tịnh, bờ
mé xuất ly, bờ mé pháp tự tại của Bồ Tát này,
không ai có thể nói được.
Bồ Tát này, sự đắc được, sự thành
tựu, sự thú nhập, sự hiện tiền, hết thảy cảnh
giới, hết thảy quán sát, hết thảy chứng nhập,
hết thảy thanh tịnh, hết thảy sự biết rõ, hết
thảy kiến lập, tất cả pháp môn. Trong bất khả
thuyết kiếp, không thể nói hết được.
Vị đại Bồ Tát này, tất cả bờ mé
của Ngài không cách chi biết được. Bờ mé công
đức, bờ mé trí huệ, bờ mé tu hành, bờ mé pháp
môn, bờ mé tự tại, bờ mé khổ hạnh, bờ mé thành
tựu, bờ mé thanh tịnh, bờ mé xuất ly, bờ mé pháp
tự tại. Mười thứ bờ mé này chẳng cách chi nói ra
được.
Vị Bồ Tát này, Ngài có công đức
không thể nghĩ bàn. Sự đắc được, sự thành tựu,
sự thú nhập, sự hiện tiền, hết thảy cảnh giới,
hết thảy quán sát, hết thảy chứng nhập, hết thảy
thanh tịnh, hết thảy sự biết rõ, hết thảy kiến
lập, tất cả pháp môn. Trong bất khả thuyết đại
kiếp, cũng không cách chi có thể nói hết được.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, biết rõ vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng,
bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả
lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả
thuyết tất cả tam muội.
Hết thảy cảnh giới của mỗi tam
muội đó, rộng lớn vô lượng. Ở trong cảnh giới,
hoặc nhập, hoặc khởi, hoặc trụ, hết thảy tướng
trạng, hết thảy thị hiện, hết thảy hành xứ, hết
thảy đẳng lưu, hết thảy tự tại, hết thảy trừ
diệt, hết thảy xuất ly, tất cả như vậy, thảy đều
thấy rõ.
Các vị Phật tử ! Khi đại Bồ Tát
trụ tam muội này, biết rõ vô số tam muội, vô
lượng tam muội, vô biên tam muội, vô đẳng tam
muội, bất khả số tam muội, bất khả xưng tam
muội, bất khả tư tam muội, bất khả lượng tam
muội, bất khả thuyết tam muội, bất khả thuyết
bất khả thuyết tất cả tam muội.
Ở trong những tam muội đó, mỗi
một thứ tam muội, hết thảy cảnh giới, rộng lớn
vô lượng. Ở trong cảnh giới, hoặc nhập định,
hoặc xuất định, hoặc trụ định, hết thảy tướng
trạng, hết thảy thị hiện, hết thảy hành xứ, hết
thảy đẳng lưu, hết thảy tự tại, hết thảy trừ
diệt, hết thảy xuất ly, tất cả tất cả như vậy
chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không
thấy được.
Phật tử ! Ví như cung của Vô
Nhiệt Não Đại Long Vương, nơi ao A Nậu Đạt chảy
ra bốn con sông lớn. Không đục, không tạp, chẳng
có dơ bẩn. Quang sắc thanh tịnh, giống như hư
không.
Bốn mặt ao đó, đều có một cửa
sông, chảy ra một con sông. Nơi cửa Tượng Khẩu,
chảy ra sông Hằng Già. Nơi cửa Sư Tử khẩu, chảy
ra sông Tư Đà. Nơi cửa Ngưu Khẩu, chảy ra sông
Tín Độ. Nơi cửa Mã Khẩu, chảy ra sông Phược Sô.
Bốn ao lớn đó, khi chảy ra, thì
cửa sông Hằng Già chảy ra cát bạc. Cửa sông Tư
Đà chảy ra cát kim cương. Cửa sông Tín Độ chảy
ra cát vàng. Cửa sông Phược Sô chảy ra cát lưu
ly.
Cửa sông Hằng Già màu bạc trắng.
Cửa sông Tư Đà màu kim cương. Cửa sông Tín Độ
màu vàng thật. Cửa sông Phược Sô màu lưu ly.
Mỗi cửa sông rộng một do tuần.
Nước bốn con sông lớn đó, đều chảy quanh ao A
Nậu Đạt bảy vòng, rồi theo phương diện mà chảy
ra bốn hướng, nổi sóng cuồn cuộn rồi chảy vào
biển.
Các vịPhật tử ! Ví như cung của
Vô Nhiệt Não Đại Long Vương, ở trên đỉnh Tuyết
Sơn. Có một cái ao lớn, tên là ao A Nậu Đạt,
dịch là “Vô nhiệt”. Ao đó chu vi năm mươi do
tuần, hình vuông. Có một vị đại Bồ Tát hành Bồ
Tát đạo, dùng nguyện lực hoá làm Long Vương, tên
gọi là A Na Bà Đạt Đa, sống ở trong đó.
Bốn phía chảy ra bốn con sông
lớn, để cung ứng cho chúng sinh ở Nam Thiệm Bộ
Châu sử dụng. Nước đó trong trẻo không đục không
tạp, chẳng có dơ bẩn. Ánh sáng và màu sắc của
nước rất thanh tịnh, giống như hư không.
Bốn mặt ao Vô Nhiệt đó, đều có
một cửa sông, chảy ra một con sông. Hướng đông
của ao đó, cửa Tượng Khẩu màu bạc trắng, nước
chảy ra thành sông Hằng Già. Hướng bắc của ao
đó, cửa Sư Tử khẩu màu kim cương, nước chảy ra
thành sông Tư Đà. Hướng nam của ao đó, cửa Ngưu
Khẩu màu vàng thật, nước chảy ra thành sông Tín
Độ. Hướng tây của ao đó, cửa Mã Khẩu màu lưu ly,
nước chảy ra thành sông Phược Sô.
Bốn ao lớn đó, khi chảy ra, thì
cửa sông Hằng Già chảy ra cát bạc. Cửa sông Tư
Đà chảy ra cát kim cương. Cửa sông Tín Độ chảy
ra cát vàng. Cửa sông Phược Sô chảy ra cát lưu
ly.
Cửa sông Hằng Già màu bạc trắng.
Cửa sông Tư Đà màu kim cương. Cửa sông Tín Độ
màu vàng thật. Cửa sông Phược Sô màu lưu ly. Mỗi
cửa sông rộng một do tuần. Nước bốn con sông lớn
đó, đều chảy quanh ao A Nậu Đạt bảy vòng, rồi
sau đó theo phương diện mà chảy ra bốn hướng
đông tây nam bắc, thế nước rất mạnh nổi sóng
cuồn cuộn, rồi chảy vào biển.
Ở giữa bốn con sông đó, đều có
báu trời làm thành hoa Ưu bát la, hoa Ba đầu ma,
hoa Câu vật đầu, hoa Phân đà lợi. Những hoa đó
toả ra hương thơm ngào ngạt kỳ lạ, sắc đẹp thanh
tịnh. Đủ thứ lá hoa, đủ thứ đài nhuỵ, đều bằng
các báu, tự nhiên chiếu rực rỡ, đều thành quang
minh, chiếu hiện với nhau.
Ao Vô Nhiệt đó, chu vi rộng lớn
năm mươi do tuần. Cát bằng các thứ báu đẹp, rải
khắp dưới đáy ao, có đủ thứ ma ni dùng để nghiêm
sức. Vô lượng báu đẹp trang nghiêm bờ ao.
Hương thơm chiên đàn toả khắp
trong ao. Hoa Ưu bát la, hoa Ba đầu ma, hoa Câu
vật đầu, hoa Phân đà lợi, và các hoa báu khác,
đều đầy khắp. Gió nhẹ thổi động, hương thơm toả
xa. Rừng hoa cây báu bày khắp chung quanh ao.
Khi mặt trời mọc lên, ánh sáng
chiếu khắp, trong ngoài sông ao, tất cả các vật,
chiếu sáng lẫn nhau, thành lưới quang minh. Các
vật như vậy, hoặc xa, hoặc gần, hoặc cao, hoặc
thấp, hoặc rộng, hoặc hẹp, hoặc thô, hoặc tế,
cho đến rất nhỏ như hạt cát, hạt bụi, đều là báu
đẹp, quang minh chiếu sáng.
Tất cả các vật đều hiện bóng mặt
trời, các vật đó cũng chuyển động hiện bóng lẫn
nhau. Các bóng như vậy, chẳng tăng, chẳng giảm,
chẳng hợp, chẳng tan, đều như bản chất mà được
thấy rõ.
Bốn con sông lớn đó, đều vòng về
bên phải, ở giữa mỗi con sông đó, đều có báu
trờilàm thành hoa Ưu bát la (hoa sen xanh), hoa
Ba đầu ma (hoa sen đỏ), hoa Câu vật đầu (hoa sen
vàng), hoa Phân đà lợi (hoa sen trắng). Những
hoa sen đó toả ra hương thơm ngào ngạt kỳ lạ,
không thể sánh bằng, màu sắc của hoa rất đẹp
thanh tịnh. Đủ thứ lá hoa, đủ thứ đài nhuỵ, đều
bằng các thứ báu. Có lá bằng vàng thật, hoa bằng
bạc trắng, rất là tươi tốt.
Ở giữa hoa tự nhiên chiếu rực rỡ,
ở giữa lá tự nhiên chiếu hiện, phóng quang minh
với nhau, chiếu sáng với nhau. Năm quang mười
sắc, sáng lạn chói mắt. Cảnh đó dị thường, khó
mà nhìn thấy được.
Ao Vô Nhiệt đó, đặc biệt rộng
lớn, chu vi năm mươi do tuần. Cát bằng các thứ
báu đẹp, rải đầy khắp dưới đáy ao, có đủ thứ ma
ni báu dùng để nghiêm sức ao. Dùng vô lượng báu
đẹp để trang nghiêm bờ ao. Dùng hương thơm chiên
đàn toả khắp trong ao. Trong ao có hoa Ưu bát
la, hoa Ba đầu ma, hoa Câu vật đầu, hoa Phân đà
lợi, và các hoa báu khác, đều đầy khắp. Khi gió
nhẹ thổi động, hương thơm toả xa mấy do tuần.
Bốn bên ao lại có rừng hoa cây
báu bày khắp chung quanh ao, rất là trang
nghiêm. Khi mặt trời mọc lên, ánh sáng chiếu
khắp trong ngoài sông ao, tất cả các vật, tiếp
bóng lẫn nhau, chiếu sáng lẫn nhau, tạo thành
lưới quang minh. Các vật như vậy, hoặc xa hoặc
gần, hoặc cao hoặc thấp, hoặc rộng hoặc hẹp,
hoặc thô hoặc tế, cho đến vật rất nhỏ như hạt
cát hạt bụi, đều là báu đẹp, quang minh chiếu
sáng.
Tất cả các vật đều hiện bóng mặt
trời, các vật đó cũng chuyển động hiện bóng lẫn
nhau. Do đó : “Bóng bóng chiếu nhau, bóng bóng
tiếp nhau”. Các bóng như vậy, chẳng tăng, cũng
chẳng giảm, cũng chẳng hợp, cũng chẳng tan, đều
là chất vốn có, ánh sáng vốn có, mà được thấy
rõ.
Phật tử ! Như ao Vô Nhiệt, nơi
bốn cửa, chảy ra bốn con sông, rồi nhập vào
biển. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, từ bốn biện
tài, chảy ra các hạnh, rốt ráo nhập vào biển
Nhất thiết trí.
Các vị Phật tử ! Như ao Vô Nhiệt,
nơi bốn cửa, chảy ra bốn con sông, rồi nhập vào
biển. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, từ bốn biện
tài, chảy ra các hạnh, rốt ráo nhập vào biển
Nhất thiết trí.
Như sông lớn Hằng Già, từ cửa
tượng khẩu màu bạc, chảy ra cát bạc. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, dùng nghĩa biện tài, nói tất
cả nghĩa môn mà tất cả Như Lai nói. Sinh ra tất
cả pháp trắng thanh tịnh, rốt ráo nhập vào biển
trí vô ngại.
Như sông lớn Tư Đà, từ cửa khẩu
sư tử màu kim cương, chảy ra cát kim cương. Đại
Bồ Tát cũng lại như thế, dùng pháp biện tài, vì
tất cả chúng sinh nói câu kim cang của Phật, dẫn
đến kim cang trí, rốt ráo nhập vào biển trí vô
ngại.
Như sông lớn Tín Độ, từ cửa ngưu
khẩu màu vàng, chảy ra cát vàng. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, dùng huấn từ biện thuyết, tuỳ thuận
phương tiện duyên khởi thế gian, khai ngộ chúng
sinh, khiến cho họ đều hoan hỉ, điều phục thành
thục, rốt ráo nhập vào biển phương tiện duyên
khởi.
Như sông lớn Phược sô, từ cửa mã
khẩu màu lưu ly, chảy ra cát lưu ly. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, dùng vô tận biện, mưa pháp
hàng trăm ngàn ức Na do tha bất khả thuyết,
khiến cho người nghe, đều được thấm nhuần, rốt
ráo nhập vào biển Phật pháp.
Như sông lớn Hằng Già, từ cửa
tượng khẩu màu bạc, chảy ra cát bạc. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, dùng nghĩa vô ngại biện tài,
nói tất cả nghĩa lý pháp môn mà tất cả Như Lai
nói. Sinh ra tất cả pháp trắng thanh tịnh, rốt
ráo nhập vào biển trí huệ vô ngại.
Như sông lớn Tư Đà, từ cửa khẩu
sư tử màu kim cương, chảy ra cát kim cương. Đại
Bồ Tát cũng lại như thế, dùng pháp vô ngại biện
tài, vì tất cả chúng sinh nói câu kim cang của
Phật, dẫn đến kim cang trí trong tự tánh, rốt
ráo nhập vào biển trí huệ vô ngại.
Như sông lớn Tín Độ, từ cửa ngưu
khẩu màu vàng, chảy ra cát vàng. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, dùng từ vô ngại biện tài, tuỳ thuận
phương tiện duyên khởi thế gian, để khai ngộ
chúng sinh, khiến cho họ đều đại hoan hỉ, điều
phục tất cả chúng sinh, thành thục tất cả chúng
sinh, rốt ráo nhập vào biển phương tiện duyên
khởi.
Như sông lớn Phược sô, từ cửa mã
khẩu màu lưu ly, chảy ra cát lưu ly. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, dùng nhạo thuyết vô ngại biện
tài, nói trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết
pháp môn, khiến cho người nghe, đều được thấm
nhuần pháp vũ, rốt ráo nhập vào biển pháp của
chư Phật.
Như bốn con sông lớn, tuỳ thuận
bao quanh ao Vô Nhiệt rồi, từ bốn phương chảy
vào biển. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, thành tựu
tuỳ thuận thân nghiệp, tuỳ thuận lời nghiệp, tuỳ
thuận ý nghiệp. Thành tựu trí làm tiền đạo thân
nghiệp, trí làm tiền đạo lời nghiệp, trí làm
tiền đạo ý nghiệp. Bốn phương chảy ra, rốt ráo
nhập vào biển Nhất thiết trí.
Phật tử ! Thế nào gọi là bốn
phương của Bồ Tát ?
Phật tử ! Đó là thấy tất cả chư
Phật mà được khai ngộ. Nghe tất cả pháp thọ trì
không quên. Viên mãn tất cả hạnh Ba la mật. Đại
bi thuyết pháp, đầy đủ chúng sinh.
Như bốn con sông lớn, tuỳ thuận
phương hướng bao quanh ao lớn Vô Nhiệt rồi, từ
bốn phương chảy nhập vào biển. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, thành tựu tuỳ thuận thân nghiệp,
lời nghiệp, ý nghiệp. Thành tựu trí làm tiền đạo
thân nghiệp, lời nghiệp, ý nghiệp. Từ bốn phương
chảy ra, cuối cùng chảy vào biển Nhất thiết trí.
Các vị Phật tử ! Thế nào gọi là
bốn phương của Bồ Tát ?
Các vị Phật tử ! Hãy chú ý lắng
nghe, đó là :
1. Bồ Tát thấy được tất cả chư
Phật, mà được khai ngộ, minh bạch bản lai diện
mục (bộ mặt thật xưa nay).
2. Bồ Tát nghe được tất cả pháp,
vì văn, tư, tu, ba huệ viên mãn, cho nên thọ trì
không quên.
3. Bồ Tát viên mãn được tất cả
hạnh Ba la mật.
4. Bồ Tát dùng đại bi tâm để
thuyết pháp, đầy đủ dục vọng của tất cả chúng
sinh.
Như bốn con sông lớn, bao quanh
ao lớn. Ở trong giữa ao đó, đều đầy dẫy hoa ưu
bát la, hoa ba đầu ma, hoa câu vật đầu, hoa phân
đà lợi. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, ở trong
giữa tâm bồ đề, chẳng bỏ chúng sinh, nói pháp
điều phục, đều khiến cho viên mãn vô lượng tam
muội, thấy cõi nước Phật trang nghiêm thanh
tịnh.
Như bốn con sông lớn, bao quanh
ao lớn Vô Nhiệt. Ở trong giữa ao đó, đều đầy dẫy
hoa ưu bát la, hoa ba đầu ma, hoa câu vật đầu,
hoa phân đà lợi. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, ở
trong giữa tâm bồ đề, chẳng bỏ chúng sinh nào,
mà vì họ nói đủ thứ pháp, để điều phục chúng
sinh cang cường, đều khiến cho viên mãn vô lượng
tam muội, thấy được cõi nước Phật đều trang
nghiêm thanh tịnh.
Như ao lớn Vô Nhiệt, có cây báu
chung quanh. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, hiện
cõi nước Phật chung quanh trang nghiêm, khiến
cho các chúng sinh hướng về bồ đề.
Như ao lớn Vô Nhiệt, có đủ thứ
cây báu chung quanh tứ phía. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, dùng sức thần thông biến hoá, thị hiện
cõi nước chư Phật chung quanh trang nghiêm,
khiến cho các chúng sinh hướng về bồ đề giác
đạo.
Như ao lớn Vô Nhiệt, bề ngang
rộng năm mươi do tuần, thanh tịnh không đục. Đại
Bồ Tát cũng lại như thế, tâm bồ đề rộng vô lượng
vô biên, căn lành đầy dẫy, thanh tịnh không đục.
Như ao lớn Vô Nhiệt, bề ngang
rộng năm mươi do tuần, nước rất thanh tịnh không
đục. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, phát tâm bồ đề
vô lượng vô biên, căn lành đầy dẫy pháp giới,
thanh tịnh không đục.
Như ao lớn Vô Nhiệt, dùng vô
lượng báu trang nghiêm bờ ao, rải hương chiên
đàn, đầy khắp trong đó. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, dùng trăm ngàn ức mười thứ trí báu, trang
nghiêm bờ bồ đề tâm đại nguyện, khắp rải hương
thơm tất cả các điều thiện.
Như ao lớn Vô Nhiệt, dùng vô
lượng các báu để trang nghiêm bờ ao, rải hương
bột chiên đàn, đầy khắp trong đó. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, dùng trăm ngàn ức mười thứ trí
huệ báu, để trang nghiêm bờ bồ đề tâm đại
nguyện, khắp rải hương thơm tất cả các điều
thiện.
Như ao lớn Vô Nhiệt, đáy ao rải
cát vàng, đủ thứ ma ni, xen lẫn trang nghiêm.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trí huệ vi diệu,
quán sát khắp cùng, bất khả tư nghì giải thoát
của Bồ Tát, đủ thứ pháp bảo, xen lẫn trang
nghiêm. Được tất cả pháp quang minh vô ngại, trụ
chỗ trụ của tất cả chư Phật, vào trong tất cả
phương tiện thâm sâu.
Như ao lớn Vô Nhiệt, đáy ao rải
đầy cát vàng, đủ thứ châu báu ma ni, xen lẫn để
trang nghiêm. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, dùng
trí huệ vi diệu, để quán sát khắp cùng, bất khả
tư nghì giải thoát của Bồ Tát. Có đủ thứ pháp
bảo, xen lẫn trang nghiêm. Được tất cả pháp vô
ngại quang minh, trụ nơi cảnh giới chỗ trụ của
tất cả chư Phật, vào được trong tất cả pháp môn
phương tiện khéo léo thâm sâu.
Như A Na Bà Đạt Đa Long Vương,
vĩnh viễn lìa khỏi mọi nhiệt não trong loài
rồng. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vĩnh viễn lìa
khỏi tất cả ưu não của thế gian. Tuy hiện thọ
sinh mà không nhiễm trước.
Như A Na Bà Đạt Đa Long Vương,
vĩnh viễn lìa khỏi tất cả mọi nhiệt não trong
loài rồng. Rồng sợ nhất là ánh nắng mặt trời
nóng, cho nên khi hành động thì dùng mây để che
đỡ. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vĩnh viễn lìa
khỏi tất cả ưu sầu phiền não của thế gian. Tuy
nhiên thị hiện thọ sinh trong sáu cõi, mà không
nhiễm trước tất cả thế gian.
Như bốn con sông lớn, thấm nhuần
tất cả đất đai cõi Diêm Phù Đề. Thấm nhuần rồi,
chảy vào trong biển cả. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, dùng sông bốn trí, thấm nhuần trời, người,
Sa môn, Bà la môn, khiến cho họ khắp vào biển
trí huệ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dùng
mười thứ lực để trang nghiêm. Những gì là bốn ?
Một là sông nguyện trí, cứu hộ
điều phục tất cả chúng sinh, thường không ngừng
nghỉ.
Hai là sông trí Ba la mật, tu
hạnh bồ đề, lợi ích chúng sinh. Đời quá khứ, vị
lai, hiện tại, liên tục vô tận, rốt ráo nhập vào
biển trí của chư Phật.
Ba là sông trí tam muội của Bồ
Tát, vô số tam muội, dùng để trang nghiêm. Thấy
tất cả chư Phật, vào biển chư Phật.
Bốn là sông trí đại bi, đại từ tự
tại, cứu khắp chúng sinh. Phương tiện nhiếp lấy,
không có ngừng nghỉ. Tu hành môn công đức bí
mật, rốt ráo nhập vào biển thập lực.
Như nước bốn con sông lớn, thấm
nhuần hết tất cả đất đai cõi Diêm Phù Đề. Thấm
nhuần rồi, bèn chảy vào trong biển cả. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, dùng sông bốn thứ trí huệ,
để thấm nhuần trời, người, Sa môn, Bà la môn,
khiến cho họ khắp vào biển trí huệ Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, dùng mười thứ lực để
trang nghiêm. Những gì là bốn thứ sông trí ?
1. Sông nguyện trí : Hay cứu hộ
tất cả chúng sinh, hay điều phục tất cả chúng
sinh, không có lúc nào ngừng nghỉ.
2. Sông trí Ba la mật : Thường tu
hạnh bồ đề, để lợi ích tất cả chúng sinh. Đời
quá khứ, vị lai, hiện tại, liên tục vô tận, rốt
ráo nhập vào biển trí của chư Phật.
3. Sông trí tam muội của Bồ Tát :
Dùng vô số vô lượng tam muội, để trang nghiêm.
Thấy được tất cả chư Phật, vào biển tất cả chư
Phật.
4. Sông trí đại bi : Dùng tâm đại
từ tự tại, để khắp cứu độ tất cả chúng sinh.
Phương tiện khéo léo để nhiếp lấy tất cả chúng
sinh, không có lúc nào ngừng nghỉ. Chuyên tu
hành môn công đức bí mật, rốt ráo nhập vào biển
thập lực.
Như bốn con sông lớn, từ ao Vô
Nhiệt chảy ra rồi, rốt ráo vô tận, nhập vào biển
cả. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, dùng đại nguyện
lực, tu hạnh Bồ Tát, tự tại tri kiến không cùng
tận, rốt ráo nhập vào biển Nhất thiết trí.
Như bốn con sông lớn, từ ao lớn
Vô Nhiệt chảy ra rồi, rốt ráo không hết được, mà
chảy nhập vào biển cả. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, dùng đại nguyện lực, để tu hạnh Bồ Tát,
nhậm vận tự tại, chánh tri chánh kiến, không có
lúc nào hết được, rốt ráo nhập vào biển Nhất
thiết trí.
Như bốn con sông lớn, nhập vào
biển cả. Không có gì chướng ngại, khiến cho
không nhập vào biển. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, thường siêng tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền,
thành tựu nhất thiết trí huệ quang minh, trụ nơi
pháp bồ đề của tất cả chư Phật, nhập vào trí của
Như Lai, không có chướng ngại.
Nhưbốn con sông lớn, nhập vào
biển cả. Không có gì chướng ngại được, khiến cho
không nhập vào biển. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, thường siêng tu tập hạnh nguyện Bồ Tát Phổ
Hiền, thành tựu quang minh nhất thiết trí huệ.
Trụ trong pháp bồ đề của tất cả chư Phật, chứng
được trí huệ của Như Lai, không có chướng ngại.
Như bốn con sông lớn, chảy thẳng
vào biển, trải qua nhiều kiếp, cũng không nhàm
mỏi. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, dùng hạnh
nguyện Phổ Hiền, hết kiếp vị lai, tu Bồ Tát
hạnh, vào biển Như Lai, chẳng sinh nhàm mỏi.
Như bốn con sông lớn, chảy thẳng
vào biển, trải qua vô số kiếp, cũng không có lúc
nào nhàm chán mệt mỏi. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, dùng hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, hết
kiếp thuở vị lai, tu Bồ Tát hạnh, vào biển pháp
của Như Lai, cũng chẳng sinh tâm nhàm mỏi.
Phật tử ! Như khi mặt trời mọc
lên, cát vàng, cát bạc, các kim cương, cát lưu
ly, và tất cả đủ thứ báu vật khác trong ao Vô
Nhiệt, đều có bóng mặt trời hiện ra trong đó.
Những cát vàng, cát bạc, cát kim cương, cát lưu
ly, tất cả báu vật, cũng đều lần lượt hiện bóng,
chiếu soi lẫn nhau, không có chướng ngại.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trụ
tam muội này, trong mỗi lỗ chân lông thân mình,
đều thấy chư Phật Như Lai nhiều như số hạt bụi
bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, cũng
thấy hết thảy cõi nước đạo tràng chúng hội của
các đức Phật đó. Ở chỗ mỗi đức Phật, nghe pháp
thọ trì, tin hiểu cúng dường, đều trải qua bất
khả thuyết bất khả thuyết ức Na do tha kiếp, mà
chẳng nghĩ nhớ thời tiết dài ngắn, các chúng hội
đó cũng không bị chật hẹp.
Các vịPhật tử ! Giống như khi mặt
trời mọc lên, thì hết thảy cát vàng, cát bạc,
các kim cương, cát lưu ly, và tất cả đủ thứ báu
vật khác trong ao Vô Nhiệt, đều có bóng mặt trời
hiện ra trong đó. Hết thảy tất cả cát vàng, cát
bạc, cát kim cương, cát lưu ly, tất cả báu vật,
mỗi thứ cũng đều lần lượt hiện ra hình bóng,
chiếu soi lẫn nhau, không có chướng ngại.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trụ
tam muội này, trong mỗi lỗ chân lông thân mình,
đều thấy chư Phật Như Lai nhiều như số hạt bụi
bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, cũng
thấy hết thảy cõi nước đạo tràng chúng hội của
các đức Phật đó. Bồ Tát ở nơi đạo tràng của mỗi
đức Phật, nghe Phật nói chánh pháp, thọ trì
chánh pháp, tin hiểu Phật pháp, cúng dường Phật,
thừa sự Phật, đều trải qua bất khả thuyết bất
khả thuyết ức na do tha kiếp, mà chẳng nghĩ nhớ
thời gian dài ngắn, hết thảy mọi người ở trong
chúng hội, cũng chẳng cảm giác chật hẹp.
Tại sao ? Vì dùng tâm vi diệu,
vào vô biên pháp giới. Vì vào vô đẳng sai biệt
nghiệp quả. Vì vào cảnh giới tam muội không nghĩ
bàn. Vì vào cảnh giới tư duy không nghĩ bàn. Vì
vào cảnh giới tự tại của tất cả chư Phật. Vì
được tất cả chư Phật hộ niệm. Vì được đại thần
biến của tất cả chư Phật. Vì được mười thứ lực
khó được khó biết của các Như Lai. Vì vào cảnh
giới hạnh viên mãn của Bồ Tát Phổ Hiền. Vì được
sức thần thông không mệt mỏi của tất cả chư
Phật.
Tại sao có những cảnh giới đó ?
Do nguyên nhân gì ? Vì dùng tâm vi diệu không
thể nghĩ bàn, mà đắc được mười thứ cảnh giới.
1. Vì vào được vô biên pháp giới.
2. Vì vào được nghiệp quả vô đẳng
sai biệt.
3. Vì vào được cảnh giới tam muội
không thể nghĩ bàn.
4. Vì vào được cảnh giới tư duy
không thể nghĩ bàn.
5. Vì vào được cảnh giới tự tại
của tất cả chư Phật.
6. Vì được tất cả chư Phật hộ
niệm.
7. Vì đắc được đại thần biến của
tất cả chư Phật.
8. Vì đắc được mười thứ lực khó
được khó biết của tất cả chư Phật.
9. Vì vào được cảnh giới hạnh
viên mãn của Bồ Tát Phổ Hiền.
10. Vì đắc được sức thần thông
không mệt mỏi của tất cả chư Phật.
Phật tử ! Tuy đại Bồ Tát có thể ở
trong định một niệm nhập xuất, nhưng cũng chẳng
bỏ thời gian lâu dài ở trong định, cũng chẳng
chấp trước.
Tuy nơi cảnh giới không nương
trụ, nhưng cũng không xả bỏ tất cả sở duyên.
Tuy khéo vào sát na tế, nhưng vì
lợi ích tất cả chúng sinh, mà thị hiện thần
thông của Phật, không nhàm đủ.
Tuy đồng vào pháp giới, nhưng
không được bờ mé pháp giới.
Tuy vô sở trụ, không có xứ sở,
nhưng luôn nhập vào Nhất thiết trí đạo. Dùng sức
biến hoá, khắp vào trong chúng vô lượng chúng
sinh, trang nghiêm đầy đủ tất cả thế giới.
Tuy lìa phân biệt điên đảo của
thế gian, vượt qua sự phân biệt tất cả các địa,
cũng không xả bỏ đủ thứ các tướng.
Tuy đầy đủ phương tiện khéo léo,
nhưng rốt ráo thanh tịnh.
Tuy không phân biệt các địa của
Bồ Tát, nhưng đều đã khéo vào các địa.
Các vịPhật tử ! Tuy đại Bồ Tát
đều trụ ở trong định, một niệm có thể nhập, một
niệm có thể xuất. Nhập định xuất định, nhậm vận
tự tại, nhưng cũng chẳng bỏ thời gian lâu dài ở
trong định, cũng chẳng chấp trước nơi định. Nhập
xuất đều ở trong cảnh giới như như bất động,
liễu liễu thường minh.
Tuy Bồ Tát ở trong cảnh giới,
cũng không nương tựa cảnh giới, cũng không chấp
trụ cảnh giới, nhưng cũng không xả bỏ tất cả sở
duyên tiếp cận.
Tuy Bồ Tát có thể nhập định trong
thời gian rất ngắn, nhưng vì lợi ích tất cả
chúng sinh, mà thị hiện thần thông của chư Phật,
không có khi nào nhàm mỏi và đầy đủ.
Tuy Bồ Tát đồng vào pháp giới,
nhưng không được bờ mé pháp giới.
Tuy Bồ Tát vô sở trụ, không có xứ
sở, nhưng luôn nhập vào đạo Nhất thiết trí. Dùng
sức biến hoá, khắp vào vô lượng đại chúng trong
chúng sinh, đầy đủ trang nghiêm tất cả thế giới.
Tuy Bồ Tát lìa khỏi tất cả phân
biệt điên đảo của thế gian, vượt qua được tất cả
địa phân biệt, nhưng Bồ Tát tức thế gian, lìa
thế gian, không xả bỏ đủ thứ các tướng, tức cũng
là tuy vượt xuất thế gian, nhưng không lìa khỏi
tất cả tướng của thế gian.
Tuy Bồ Tát đầy đủ pháp môn phương
tiện khéo léo, nhưng rốt ráo là diệu pháp thanh
tịnh.
Tuy Bồ Tát không phân biệt các
địa của Bồ Tát, nhưng đều đã khéo vào tất cả các
địa, đạt được địa vị Đẳng giác (địa vị cao nhất
của Bồ Tát).
Phật tử ! Ví như hư không, tuy
dung thọ tất cả sự vật, mà lìa có, không. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, tuy khắp vào tất cả thế
gian, mà lìa tưởng thế gian.
Tuy siêng độ tất cả chúng sinh,
mà lìa tưởng chúng sinh. Tuy biết sâu tất cả các
pháp, mà lìa tưởng các pháp. Tuy thích thấy tất
cả chư Phật, mà lìa tưởng chư Phật. Tuy khéo
nhập đủ thứ tam muội, mà biết tất cả pháp tự
tánh đều như, không có nhiễm trước. Tuy dùng vô
biên biện tài, diễn nói vô tận câu pháp, là tâm
luôn trụ lìa pháp văn tự. Tuy thích quán sát nói
pháp không lời, mà luôn thị hiện âm thanh thanh
tịnh. Tuy trụ tất cả pháp tế lìa lời nói, mà
luôn thị hiện đủ thứ sắc tướng. Tuy giáo hoá
chúng sinh, mà biết tất cả pháp rốt ráo tánh
không. Tuy siêng tu đại bi, độ thoát chúng sinh,
mà biết cõi chúng sinh vô tận vô số.
Tuy thấu đạt pháp giới thường trụ
không thay đổi, mà dùng ba luân điều phục chúng
sinh, luôn không nghỉ ngơi. Tuy thường an trụ
chỗ trụ của Như Lai, mà trí huệ thanh tịnh, tâm
không sợ hãi, phân biệt diễn nói đủ thứ các
pháp, chuyển bánh xe pháp, thường không nghỉ
ngơi.
Các vịPhật tử ! Ví như hư không,
tuy dung thọ tất cả sự vật, mà lìa nghĩ tưởng
có, không. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tuy Bồ
Tát khắp đi đến tất cả thế gian, giáo hoá tất cả
chúng sinh, nhưng lìa tưởng thế gian, hành sở vô
sự, không chấp tất cả tướng. Tuy Bồ Tát siêng độ
tất cả chúng sinh, nhưng lìa tưởng chúng sinh.
Trong Kinh Kim Cang có nói :
« Tôi phải diệt độ tất cả chúng
sinh,
Diệt độ tất cả chúng sinh rồi,
Mà không có một chúng sinh thật
diệt độ ».
Đây là lìa tưởng chúng sinh. Tuy
Bồ Tát biết sâu tất cả các pháp, nhưng lìa tưởng
các pháp, nghĩa là không chấp nơi pháp, không
chấp về tưởng. Tuy Bồ Tát thích thấy tất cả mười
phương chư Phật ba đời, nhưng lìa tưởng chư
Phật. Tuy Bồ Tát khéo nhập đủ thứ tam muội,
nhưng biết tự tánh của tất cả các pháp đều không
chỗ có, không chấp trước, đã đạt đến cảnh giới
chẳng chấp trước, không nhiễm trước. Tuy Bồ Tát
dùng vô biên biện tài, diễn nói vô tận câu pháp,
nhưng tâm luôn trụ nơi pháp lìa văn tự. Do đó :
« Lìa tướng lời nói,
Lìa tướng văn tự,
Lìa tướng duyên tâm ».
Tuy Bồ Tát hoan hỉ quán sát nói
pháp không lời, tức cũng là pháp vắng lặng,
nhưng luôn thị hiện âm thanh thanh tịnh, vì
chúng sinh diễn nói diệu pháp. Tuy Bồ Tát trụ
tất cả pháp tế lìa lời nói, nhưng luôn thị hiện
đủ thứ sắc tướng, tức cũng là ba mươi hai tướng,
tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân. Tuy Bồ Tát
giáo hoá tất cả chúng sinh, nhưng biết tất cả
pháp rốt ráo tánh không. Tuy Bồ Tát siêng tu đại
bi tâm, độ thoát tất cả chúng sinh, nhưng biết
cõi chúng sinh vô tận vô số, chúng sinh tuy
nhiên độ không hết, nhưng vẫn phải độ. Tuy Bồ
Tát thấu đạt pháp giới thường trụ không thay
đổi, nhưng dùng ba luân (thân, miệng, ý) để điều
phục chúng sinh cang cường, luôn không nghỉ
ngơi. Tuy Bồ Tát thường an trụ quả vị chỗ trụ
của Như Lai, nhưng trí huệ thanh tịnh, tâm không
sợ hãi, phân biệt diễn nói được đủ thứ diệu
pháp, chuyển được bánh xe pháp vô thượng, thường
không nghỉ ngơi.
Phật tử ! Đó là đại tam muội Trí
thiện xảo pháp giới tự tại thứ chín của đại Bồ
Tát.
Các vị Phật tử ! Đó là đại tam
muội Trí huệ thiện xảo pháp giới tự tại thứ chín
của đại Bồ Tát tu.
QUYỂN BỐN MƯƠI BA
PHẨM THẬP ĐỊNH THỨ HAI MƯƠI BẢY
THỨ MƯỜI, TAM MUỘI VÔ NGẠI LUÂN
Phật tử ! Thế nào là tam muội Vô
ngại luân của đại Bồ Tát ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vị đệ tử của Phật ! Thế nào gọi là tam muội
Vô ngại luân của đại Bồ Tát nên tu hành ?
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát nhập tam
muội này, thì trụ thân nghiệp vô ngại, lời
nghiệp vô ngại, ý nghiệp vô ngại. Trụ cõi Phật
vô ngại, được trí vô ngại thành tựu chúng sinh,
được trí vô ngại điều phục chúng sinh. Phóng
quang minh vô ngại, hiện lưới quang minh vô
ngại, thị hiện biến hoá rộng lớn vô ngại, chuyển
bánh xe pháp thanh tịnh vô ngại. Được tự tại vô
ngại của Bồ Tát, khắp vào lực của chư Phật, khắp
trụ trí huệ của chư Phật, làm những gì Phật làm,
tịnh những gì Phật tịnh, hiện thần thông của
Phật, khiến cho Phật hoan hỉ. Thực hành những gì
Phật thực hành, trụ đạo của Như Lai. Thường được
gần gũi vô lượng chư Phật, làm các Phật sự, tiếp
nối hạt giống của chư Phật.
Các vịPhật tử ! Vị đại Bồ Tát này
tu hành Bồ Tát đạo, viên mãn lục độ vạn hạnh,
tích tụ đủ thứ căn lành. Khi Ngài chứng được tam
muội Vô ngại luân, trụ nơi thân nghiệp vô ngại,
trụ nơi lời nghiệp vô ngại, trụ nơi ý nghiệp vô
ngại. Trụ cõi Phật vô ngại, đắc được trí huệ
thành tựu chúng sinh không chướng ngại, đắc được
trí huệ điều phục chúng sinh không chướng ngại.
Phóng ra trí huệ quang minh không chướng ngại,
hiện ra lưới quang minh trí huệ không chướng
ngại, thị hiện biến hoá rộng lớn không chướng
ngại, thường chuyển bánh xe pháp thanh tịnh
không chướng ngại. Đắc được nhậm vận tự tại
không chướng ngại của Bồ Tát.
Vị Bồ Tát này lại khắp vào mười
lực của tất cả chư Phật, lại khắp trụ trí huệ
của tất cả chư Phật, lại làm những gì mà tất cả
chư Phật làm, lại thanh tịnh cõi nước mà tất cả
chư Phật thanh tịnh, lại thị hiện thần thông của
tất cả chư Phật, khiến cho mười phương chư Phật
hoan hỉ tán thán. Lại thực hành những gì Phật
thực hành, lại trụ đạo của tất cả chư Phật. Lại
thường được gần gũi vô lượng chư Phật, lại
thường làm việc của tất cả chư Phật, lại tiếp
nối hạt giống của tất cả chư Phật.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này rồi, quán nhất thiết trí, tổng quán nhất
thiết trí, biệt quán nhất thiết trí. Tuỳ thuận
nhất thiết trí, hiển bày nhất thiết trí, phan
duyên nhất thiết trí. Thấy nhất thiết trí, tổng
thấy nhất thiết trí, biệt thấy nhất thiết trí.
Các vịPhật tử ! Đại Bồ Tát trụ
tam muội này rồi, hay quán sát nhất thiết trí
huệ. Lại hay tổng quát để quán sát nhất thiết
trí huệ. Lại hay phân biệt để quán sát nhất
thiết trí huệ. Lại hay tuỳ thuận nhất thiết trí
huệ. Lại hay hiển bày nhất thiết trí huệ. Lại
hay phan duyên nhất thiết trí huệ. Lại hay thấy
được nhất thiết trí huệ. Lại hay tổng quát thấy
được nhất thiết trí huệ. Lại hay phân biệt thấy
được nhất thiết trí huệ.
Nơi Bồ Tát Phổ Hiền, nguyện rộng
lớn, tâm rộng lớn, hạnh rộng lớn, thú hướng rộng
lớn, sở nhập rộng lớn, quang minh rộng lớn, xuất
hiện rộng lớn, hộ niệm rộng lớn, biến hoá rộng
lớn, đạo rộng lớn, không dứt, không lùi, không
nghỉ, không đổi, không mệt, không bỏ, không tán,
không loạn, thường tăng tấn, luôn liên tục.
Tại sao ? Vì đại Bồ Tát này ở
trong các pháp, thành tựu nguyện lớn, phát tâm
tu hành đại thừa, vào biển đại phương tiện Phật
pháp, dùng nguyện lực thù thắng, nơi hạnh của
các Bồ Tát tu hành, trí huệ chiếu sáng, đều được
khéo léo. Đầy đủ thần thông biến hoá của Bồ Tát,
khéo hộ niệm tất cả chúng sinh, như tất cả chư
Phật quá khứ, vị lai, hiện tại hộ niệm, đối với
các chúng sinh luôn khởi tâm đại bi, thành tựu
pháp không biến đổi của Như Lai.
Nơi Bồ Tát Phổ Hiền, nguyện lực
rộng lớn, tâm rộng lớn, tu hành rộng lớn, thú
hướng rộng lớn, sở nhập rộng lớn, quang minh
rộng lớn, xuất hiện rộng lớn, hộ niệm rộng lớn,
biến hoá rộng lớn, đạo rộng lớn, cũng không dứt
hẳn, cũng không thối lùi, cũng không nghỉ ngơi,
cũng không biến đổi, không mệt mỏi, không xả bỏ,
không tán mất, không mê loạn, thường tinh tấn
hướng về trước, siêng tu đạo của Bồ Tát tu,
thường liên tục không dứt, không nghỉ ngơi.
Đây là nguyên nhân gì ? Vì vị đại
Bồ Tát này đối với tâm bồ đề, luôn luôn tăng
tấn, liên tục không ngừng. Cho nên, ở trong tất
cả các pháp, thành tựu nguyện lớn đã phát ra,
phát tâm bồ đề đại thừa, vào biển đại phương
tiện Phật pháp, dùng nguyện lực thù thắng, đối
với hạnh môn của tất cả Bồ Tát tu hành, dùng trí
huệ để chiếu sáng, đều được pháp phương tiện
khéo léo. Đầy đủ hết thảy thần thông biến hoá
của tất cả Bồ Tát, khéo hộ niệm tất cả chúng
sinh, như tất cả chư Phật ba đời quá khứ vị lai
hiện tại hộ niệm. Đối với hết thảy tất cả chúng
sinh, luôn sinh tâm đại bi, thành tựu pháp không
biến đổi, tuỳ duyên không đổi, không đổi tuỳ
duyên của chư Phật.
Phật tử ! Ví như có người, dùng
ma ni báu để vào trong y phục màu sắc. Ma ni báu
đó, tuy đồng với màu sắc y phục, mà không bỏ tự
tánh. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, thành tựu trí
huệ dùng làm tâm báu. Quán nhất thiết trí đều
hiện rõ khắp, mà không bỏ các hạnh của Bồ Tát.
Tại sao ? Vì đại Bồ Tát phát đại
thệ nguyện, lợi ích tất cả chúng sinh, độ thoát
tất cả chúng sinh, thừa sự tất cả chư Phật,
nghiêm tịnh tất cả thế giới, an ổn chúng sinh,
vào sâu biển pháp. Vì tịnh cõi chúng sinh, mà
hiện đại tự tại, thí cho chúng sinh, chiếu khắp
thế gian, vào vô biên pháp môn huyễn hoá, chẳng
thối chuyển, chẳng mỏi nhàm.
Các vịPhật tử ! Ví như có người,
dùng châu báu ma ni báu để vào trong y phục màu
sắc. Ánh sáng châu báu ma ni đó, tuy đồng với
màu sắc y phục, nhưng tự tánh của châu báu vẫn
tồn tại, chẳng bỏ đi. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, thành tựu đại trí đại huệ dùng làm tâm báu.
Dùng diệu quán sát trí để quán sát nhất thiết
trí, đều hiện rõ khắp, mà không bỏ các hạnh của
Bồ Tát tu. Đây là nguyên nhân gì ? Vì đại Bồ Tát
phát đại bốn hoằng thệ nguyện :
« Chúng sinh vô biên thệ nguyện
độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành ».
Nguyện lợi ích tất cả chúng sinh,
độ thoát tất cả chúng sinh. Thừa sự mười phương
ba đời tất cả chư Phật, trang nghiêm thanh tịnh
tất cả thế giới. An ổn chúng sinh, khiến cho họ
vào sâu biển pháp tánh của tất cả chư Phật. Vì
thanh tịnh cõi chúng sinh, mà thị hiện cảnh giới
đại tự tại vô ngại. Thường hành bố thí cho chúng
sinh, khiến cho họ được pháp ích. Dùng trí huệ
quang minh để chiếu khắp tất cả thế gian, khiến
cho đen tối thành ánh sáng. Khiến cho tất cả
chúng sinh, đều đắc được đại trí huệ. Bồ Tát
biết tất cả đều như huyễn, như hoá, cho nên
chẳng chấp trước vào bất cứ sự việc gì. Hay vào
vô biên pháp môn huyễn hoá, chẳng thối chuyển,
chẳng mỏi nhàm, quán triệt thuỷ chung, hành Bồ
Tát đạo, cứu chúng sinh thoát khỏi biển khổ.
Phật tử ! Ví như hư không chi trì
các thế giới. Hoặc thành, hoặc trụ, không nhàm,
không mỏi, không gầy, không hư, không tan, không
hoại, không đổi, không khác, không có khác biệt,
chẳng bỏ tự tánh. Tại sao ? Vì tự tánh hư không
là như vậy. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, lập vô
lượng đại nguyện, độ tất cả chúng sinh, tâm
không nhàm mỏi.
Các vịPhật tử ! Ví như hư không,
hay chi trì hết thảy thế giới, hoặc thế giới
thành, hoặc thế giới trụ, hoặc thế giới hoại,
hoặc thế giới không. Trong tự tánh của hư không
chẳng có nhàm chán, chẳng có mỏi mệt; không có
gầy ốm, không có hư mục, không tan mất, không
phá hoại; không biến đổi, không có hai dạng. Bất
cứ trong tình huống nào, hư không chẳng có tâm
phân biệt, cũng chẳng có bỏ lìa tự tánh. Tại
sao ? Vì tự tánh hư không là như vậy. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, phát ra vô lượng đại nguyện,
độ thoát tất cả chúng sinh, đó là bổn phận của
Bồ Tát, độ thoát chúng sinh làm sự nghiệp. Tuy
độ chúng sinh, mà không chấp trước độ chúng
sinh, vì hành sở vô sự, cho nên tâm không nhàm
mỏi.
Phật tử ! Ví như Niết Bàn, quá
khứ vị lại hiện tại vô lượng chúng sinh, ở trong
sự diệt độ, mà trọn không nhàm mỏi. Tại sao ? Vì
tất cả các pháp bổn tánh thanh tịnh, đó là Niết
Bàn, làm sao trong đó có sự nhàm mỏi. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, vì muốn độ thoát tất cả chúng
sinh, khiến cho họ đều thoát khỏi, mà hiện ra
đời, sao lại khởi tâm nhàm mỏi.
Các vị Phật tử ! Ví như Niết Bàn
(không sinh không diệt), trong quá khứ, vị lại,
hiện tại, ba đời vô lượng chúng sinh, đều ở
trong sự diệt độ, mà trọn không nhàm mỏi. Tại
sao ? Vì bổn tánh của tất cả các pháp thanh tịnh
không nhiễm, đó là Niết Bàn. Tức nhiên là thanh
tịnh, sao lại có sự nhàm mỏi ? Nếu có sự nhàm
mỏi thì chẳng thanh tịnh, chẳng thanh tịnh thì
có sinh tử, thanh tịnh thì không sinh tử. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, vì muốn độ thoát tất cả
chúng sinh, khiến cho họ đều thoát khỏi ba cõi,
cho nên Bồ Tát mới thị hiện ra đời. Tức nhiên là
cam tâm tình nguyện vô điều kiện để độ chúng
sinh, sao lại có tâm nhàm mỏi ?
Phật tử ! Như Tát bà nhạ, hay
khiến tất cả Bồ Tát quá khứ vị lai hiện tại, đã
sinh, sẽ sinh, đang sinh vào nhà chư Phật, cho
đến khiến cho thành tựu vô thượng bồ đề, trọn
không nhàm mỏi. Tại sao ? Vì nhất thiết trí với
pháp giới không hai, vì nơi tất cả pháp không
chấp trước. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tâm của
Ngài bình đẳng, trụ nhất thiết trí, sao lại có
tâm nhàm mỏi.
Phật tử ! Như Tát bà nhạ (nhất
thiết trí), hay khiến tất cả Bồ Tát trong quá
khứ, vị lai, hiện tại, ba đời, đều sinh vào
trong nhà của chư Phật, hoặc đã sinh vào nhà của
chư Phật, hoặc vị lai sẽ sinh vào nhà của chư
Phật, hoặc hiện tại đang sinh vào nhà chư Phật,
cho đến khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu vô
thượng bồ đề, trọn không nhàm mỏi. Tại sao ? Vì
thể tánh của nhất thiết trí và pháp giới là một
chẳng phải hai. Người có trí huệ, chẳng chấp vào
tất cả các pháp, tức cũng là không có pháp chấp.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tâm của Ngài bình
đẳng, trụ nơi nhất thiết trí, thì làm sao lại có
tâm nhàm mỏi ? Tuyệt đối không có.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này có một
hoa sen. Hoa sen đó rộng lớn, tận cùng bờ mé
mười phương. Dùng bất khả thuyết lá, bất khả
thuyết báu, bất khả thuyết hương, để trang
nghiêm. Bất khả thuyết báu đó, mỗi thứ lại thị
hiện đủ thứ các báu, thanh tịnh tốt đẹp, rất
khéo an trụ.
Hoa sen đó thường phóng ra các
màu sắc quang minh, chiếu khắp mười phương tất
cả thế giới, không có sự chướng ngại. Vàng thật
làm lưới, giăng che phía trên. Linh báu lay động
vang ra âm thanh vi diệu, âm thanh đó diễn xướng
pháp nhất thiết trí.
Các vịPhật tử ! Vị đại Bồ Tát
này, Ngài có một đoá hoa sen lớn. Hoa sen đó đặc
biệt rộng lớn, thể tích của nó tận cùng bờ mé
mười phương. Dùng bất khả thuyết lá, và bất khả
thuyết báu, cùng với bất khả thuyết hương, để
trang nghiêm hoa sen lớn đó. Trong bất khả
thuyết báu đó, mỗi thứ lại thị hiện đủ thứ các
báu, thanh tịnh không nhiễm, tốt đẹp trang
nghiêm, rất khéo an trụ.
Hoa sen đó thường phóng ra các
màu sắc quang minh, chiếu khắp mười phương tất
cả thế giới, không có mọi sự chướng ngại. Dùng
vàng thật làm lưới báu, giăng che phía trên hoa
sen lớn đó. Phía trên hoa sen báu đó, lại có vô
lượng linh báu lay động nhẹ nhàng, vang ra âm
thanh vi diệu rất êm tai, khiến cho tất cả chúng
sinh nghe được âm thanh này, tâm rất hoan hỉ,
quên mất phiền não, quên luôn sự đói khát. Tại
sao ? Vì tinh thần tập trung lắng nghe âm thanh
hay, cho nên mới có cảnh giới đó. Trong âm thanh
đó, diễn xướng pháp nhất thiết trí, khiến cho
người nghe phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát đạo, khai
mở đại trí huệ.
Hoa sen lớn đó, đầy đủ thanh tịnh
trang nghiêm của Như Lai. Do tất cả căn lành
sinh ra, tiêu biểu sự cát tường, sự hiển hiện
thần lực. Có mười ngàn A tăng kỳ công đức thanh
tịnh. Chỗ thành tựu diệu đạo của Bồ Tát, chỗ
chảy ra tâm nhất thiết trí. Hình bóng mười
phương chư Phật, hiển hiện ra trong đó. Thế gian
chiêm ngưỡng, giống như tháp của Phật. Chúng
sinh thấy được, thảy đều lễ kính. Từ chỗ thấu rõ
chánh pháp huyễn sinh ra, tất cả thế gian không
thể ví dụ được. Đại Bồ Tát ngồi kiết già trên
hoa sen đó, thân Ngài không lớn nhỏ, rất tương
xứng với hoa sen.
Đoá hoa sen lớn đó, đầy đủ sự
thanh tịnh trang nghiêm của chư Phật. Đó là do
tất cả căn lành sinh ra, tiêu biểu bên ngoài để
quán, hoa sen đó cát tường dị thường, đó là thần
lực của Bồ Tát hiện ra, cũng nhờ mười phương chư
Phật gia bị sở hiện. Đoá hoa sen lớn đó, có mười
ngàn A tăng kỳ công đức thanh tịnh thành tựu,
cũng là sự tu hành lục độ vạn hạnh của Bồ Tát
thành tựu. Đó là từ tâm nhất thiết trí chảy ra.
Hình bóng của mười phương chư Phật, đều hiển
hiện ra trong hoa sen. Tất cả chúng sinh thế
gian chiêm ngưỡng đoá hoa sen lớn đó, giống như
bảo tháp của Phật. Hết thảy chúng sinh, phàm
thấy được đoá hoa sen đó, thảy đều cung kính lễ
bái. Đoá hoa sen đó là từ chỗ thấu rõ chánh pháp
huyễn sinh ra, tất cả lời lẽ và văn tự thế gian
không cách chi hình dung, không thể nào ví dụ
được.
Người có duyên, mới nghe được
Phật pháp, mà sinh tín tâm. Người không có
duyên, nghe pháp cũng không sinh tâm tin, chẳng
gần gũi thiện tri thức. Do đó :
« Nước mưa tuy nhiều,
Nhưng không thấm nhuần cây không
rễ
Cửa Phật tuy rộng,
Nhưng khó độ người vô duyên ».
Người có căn lành, mới có cơ hội
nghe được Phật pháp; người chẳng có căn lành,
không thể nghe được Phật pháp. Chúng ta đều là
người có căn lành, vì kiếp trước đã tu căn lành,
cho nên đời này nghe được chánh pháp. Hiện tại
phải thương tiếc căn lành, phải tài bồi căn
lành, khiến cho nó sinh rễ, khiến cho nó nở hoa,
khiến cho nó kết quả. Cũng có nghĩa là khiến cho
căn lành của mình tăng trưởng, khiến cho căn
lành của mình thành thục. Khi căn lành thành
thục thì liền được giải thoát.
Đại Bồ Tát ngồi kiết già trên hoa
sen báu lớn đó, thân Ngài lớn nhỏ, rất tương
xứng với hoa sen. Tóm lại, hoa sen lớn bao
nhiêu, thì thân Bồ Tát lớn bấy nhiêu, đó là biểu
thị tự nội mà quán, lượng chu sa giới; tự ngoại
mà quán, hộ chúng quán xem. Cho nên, cảnh giới
tức nhỏ tức lớn.
Ngồi kiết già còn gọi là ngồi kim
cang, còn gọi là ngồi hoa sen, còn gọi là ngồi
tu di, tuy nhiên danh từ khác nhau, nhưng tư thế
đều giống nhau, tác dụng như nhau. Pháp ngồi
này, sinh ra tất cả chánh định, sinh ra tất cả
chánh thọ. Từ trong sự ngồi kiết già này, sinh
ra trăm ngàn vạn ức môn tam muội.
Tại sao gọi là ngồi kim cang ? Vì
tư thế ngồi này rất là kiên cố, hay hàng phục
thiên ma, chế các ngoại đạo. Dùng định thắng
động, dùng định thắng loạn, vì định lực này,
vượt qua tất cả pháp thuật của ma vương (còn gọi
là ngồi hàng ma). Nếu ngồi được kiết già, thì sẽ
có cảnh giới như như bất động, rõ ràng sáng
suốt. Tự nhiên sinh ra đại định Lăng Nghiêm, vì
định lực này từ trong tâm kim cang sinh ra, nên
gọi là ngồi kim cang.
Tại sao gọi là ngồi hoa sen ? Vì
tư thế ngồi giống như hoa sen. Lại vì thường
ngồi trên hoa sen, biểu thị thân nhẹ mà có định
lực. Lại có ý nghĩa thủ hoa sen tạng thế giới,
nên gọi là ngồi hoa sen, còn gọi là ngồi cát
tường.
Tại sao gọi là ngồi tu di ? Vì tư
thế ngồi này, giống như núi Tu Di, an ổn bất
động, lớn mà không ngoài, nhỏ mà chẳng trong.
Tận hư không khắp pháp giới, đầy dẫy quang minh,
nên gọi là ngồi tu di.
Được thần lực của tất cả chư Phật
gia bị, khiến cho mỗi lỗ chân lông trên thân Bồ
Tát, đều phóng ra quang minh nhiều như số hạt
bụi trăm ngàn ức Na do tha bất khả thuyết cõi
Phật. Mỗi quang minh, đều hiện ra ma ni báu
nhiều như số hạt bụi trăm ngàn ức Na do tha bất
khả thuyết cõi Phật. Các ma ni báu đó đều gọi là
phổ quang minh minh tạng, đủ thứ sắc tướng dùng
để trang nghiêm. Thành tựu vô lượng công đức,
các báu và hoa dùng làm lưới la, giăng che phía
trên. Rải trăm ngàn ức Na do tha hương thơm thù
thắng, có vô lượng sắc tướng đủ thứ sự trang
nghiêm. Lại hiện lọng báu trang nghiêm không
nghĩ bàn để che phía trên.
Được thần lực của tất cả
mười phương chư Phật ba đời gia bị, khiến cho
mỗi lỗ chân lông trên toàn thân Bồ Tát, đều
phóng ra quang minh. Trong mỗi lỗ chân lông, đều
phóng ra quang minh, nhiều như số hạt bụi trăm
ngàn ức na do tha bất khả thuyết cõi Phật. Trong
mỗi luồng quang minh, lại hiện ra ma ni báu
nhiều như số hạt bụi trăm ngàn ức na do tha bất
khả thuyết cõi Phật. Các ma ni báu đó, đều đồng
một tên, đều gọi là phổ quang minh minh tạng.
Quang minh đó, chiếu khắp mười phương bất khả
thuyết bất khả thuyết thế giới, chúng sinh ở
trong mỗi thế giới, thọ được quang minh đó chiếu
sáng, không lâu liền thành tựu Phật đạo.
Các ma ni báu đó, phóng ra đủ thứ
vô lượng quang minh. Dùng đủ thứ sắc tướng dùng
để trang nghiêm. Cảnh giới đó, do Bồ Tát tu vô
lượng công đức mà thành tựu. Dùng các báu và hoa
để làm lưới la, giăng che phía trên hoa sen báu
lớn, khắp rải trăm ngàn ức na do tha hương thơm
đặc biệt thù thắng. Vô lượng sắc tướng có đủ thứ
sự trang nghiêm. Lại hiện lọng báu trang nghiêm
không thể nghĩ bàn, ở trong hư không để che phía
trên hoa sen báu lớn.
Mỗi ma ni báu, đều hiện lầu các
nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha bất
khả thuyết cõi Phật. Mỗi lầu các, lại hiện ra
toà sư tử liên hoa tạng, nhiều như số hạt bụi
trăm vạn ức Na do tha bất khả thuyết cõi Phật.
Mỗi toà sư tử, lại hiện ra quang
minh, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha
bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi quang minh, lại
hiện ra sắc tướng, nhiều như số hạt bụi trăm vạn
ức bất khả thuyết cõi Phật.
Mỗi sắc tướng, lại hiện ra quang
minh luân, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na
do tha bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi quang minh
luân, lại hiện ra hoa báu ma ni tỳ lô giá na,
nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha bất
khả thuyết cõi Phật.
Mỗi hoa báu, lại hiện ra đài,
nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha bất
khả thuyết cõi Phật. Mỗi đài, lại hiện ra chư
Phật, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha
bất khả thuyết cõi Phật.
Mỗi vị Phật, lại hiện thần biến,
nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha bất
khả thuyết cõi Phật. Mỗi thần biến, thanh tịnh
cõi chúng sinh, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức
Na do tha bất khả thuyết cõi Phật.
Trong mỗi hạt ma ni báu, đều hiện
ra lầu các nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức na
do tha bất khả thuyết cõi Phật. Trong mỗi lầu
các, lại hiện ra toà sư tử liên hoa tạng, nhiều
như số hạt bụi trăm vạn ức na do tha bất khả
thuyết cõi Phật.
Trong mỗi toà sư tử, lại hiện ra
quang minh, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức na
do tha bất khả thuyết cõi Phật. Trong mỗi quang
minh, lại hiện ra sắc tướng, nhiều như số hạt
bụi trăm vạn ức bất khả thuyết cõi Phật.
Trong mỗi thứ sắc tướng, lại hiện
ra quang minh luân, nhiều như số hạt bụi trăm
vạn ức na do tha bất khả thuyết cõi Phật. Trong
mỗi quang minh luân, lại hiện ra hoa báu ma ni
tỳ lô giá na, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức
na do tha bất khả thuyết cõi Phật.
Trong mỗi đoá hoa báu, lại hiện
ra đài, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức na do
tha bất khả thuyết cõi Phật. Trong mỗi toà đài,
lại hiện ra chư Phật, nhiều như số hạt bụi trăm
vạn ức na do tha bất khả thuyết cõi Phật.
Trong mỗi vị Phật, lại hiện thần
biến, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức na do tha
bất khả thuyết cõi Phật. Trong mỗi thứ thần
biến, thanh tịnh cõi chúng sinh, nhiều như số
hạt bụi trăm vạn ức na do tha bất khả thuyết cõi
Phật.
Trong mỗi chúng sinh, lại hiện ra
tự tại của chư Phật, nhiều như số hạt bụi trăm
vạn ức Na do tha bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi tự
tại, mưa Phật pháp, nhiều như số hạt bụi trăm
vạn ức Na do tha bất khả thuyết cõi Phật.
Mỗi Phật pháp, lại có Tu đa la,
nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha bất
khả thuyết cõi Phật. Mỗi Tu đa la, diễn nói pháp
môn, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha
bất khả thuyết cõi Phật.
Mỗi pháp môn, lại có kim cang trí
nhập vào pháp luân, nhiều như số hạt bụi trăm
vạn ức Na do tha bất khả thuyết cõi Phật, những
lời lẽ đều khác biệt, đều diễn nói khác nhau.
Mỗi pháp luân, thành thục cõi chúng sinh, nhiều
như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha bất khả
thuyết cõi Phật.
Mỗi cõi chúng sinh, lại có chúng
sinh, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức Na do tha
bất khả thuyết cõi Phật, ở trong Phật pháp được
điều phục.
Ở trong mỗi chúng sinh, lại hiện
ra tự tại của chư Phật, nhiều như số hạt bụi
trăm vạn ức na do tha bất khả thuyết cõi Phật. Ở
trong mỗi thứ tự tại, mưa Phật pháp, nhiều như
số hạt bụi trăm vạn ức na do tha bất khả thuyết
cõi Phật.
Ở trong mỗi Phật pháp, lại có Tu
đa la (kinh điển), nhiều như số hạt bụi trăm vạn
ức na do tha bất khả thuyết cõi Phật. Ở trong
mỗi Tu đa la, diễn nói pháp môn, nhiều như số
hạt bụi trăm vạn ức na do tha bất khả thuyết cõi
Phật.
Ở trong mỗi thứ pháp môn, lại có
kim cang trí, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức
na do tha bất khả thuyết cõi Phật, chứng được
pháp luân, lời lẽ khác biệt, đều diễn nói khác
nhau. Ở trong mỗi pháp luân, thành thục cõi
chúng sinh, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức na
do tha bất khả thuyết cõi Phật.
Ở trong mỗi cõi chúng sinh, lại
có chúng sinh, nhiều như số hạt bụi trăm vạn ức
na do tha bất khả thuyết cõi Phật, ở trong Phật
pháp được điều phục. Những cảnh giới ở trên, sum
la vạn tượng, thật là không thể nghĩ bàn.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội
này, thị hiện cảnh giới thần thông như vậy, vô
lượng sự biến hoá, đều biết như huyễn, nên không
chấp trước. An trụ vô biên bất khả thuyết pháp,
tự tánh thanh tịnh, pháp giới thật tướng. Trong
chủng tánh không bờ mé của Như Lai, không đến,
không đi, chẳng trước, chẳng sau, thâm sâu không
đáy. Hiện lượng sở đắc, dùng trí tự vào, chẳng
do người khác mà ngộ, tâm chẳng mê loạn, cũng
không phân biệt.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát khi
trụ tam muội này, thì thị hiện cảnh giới thần
thông như vậy, diệu dụng biến hoá, tự có hoá
không, tự không hoá có, vô lượng vô biên. Bồ Tát
đều biết tất cả sự biến hoá, như huyễn như hoá,
cho nên không nhiễm trước, không tham luyến, an
trụ trong vô biên bất khả thuyết pháp. Tự tánh
là thanh tịnh, pháp giới là thật tướng. Thật
tướng là tướng như thật, cũng là vô tướng, tướng
không hư vọng, nhưng vô sở bất tướng. Chứng được
chủng tánh của Như Lai, ở trong cảnh giới chẳng
có chướng ngại, cũng không đến, cũng không đi,
cũng chẳng trước, cũng chẳng sau, pháp đó thâm
sâu không đáy. Dùng hiện lượng sở đắc, dùng trí
huệ mà tự vào, chẳng phải do người khác giúp đỡ
mà khai ngộ, tâm của Bồ Tát chẳng mê loạn, cũng
không phân biệt.
Được tất cả chư Phật quá khứ vị
lai hiện tại khen ngợi, từ lực của chư Phật chảy
ra, vào tất cả cảnh giới của chư Phật, thể tánh
như thật. Mắt thanh tịnh hiện chứng, mắt trí huệ
thấy khắp, thành tựu mắt của Phật, làm đèn sáng
cho thế gian. Tu hành mắt trí huệ, biết được
cảnh giới, rộng khai thị pháp môn vi diệu.
Cảnh giới của Bồ Tát, được tất cả
chư Phật mười phương, quá khứ, vị lai, hiện tại,
khen ngợi tán thán. Là từ sức đại oai đức của
tất cả chư Phật chảy ra, nhập vào trong cảnh
giới của tất cả chư Phật. Thể tánh là chân thật,
không có hư vọng. Mắt pháp thanh tịnh hiện
chứng, mắt trí huệ thấy khắp, thành tựu mắt của
Phật, làm đèn sáng cho thế gian. Tu hành mắt trí
huệ, biết được cảnh giới, rộng vì tất cả chúng
sinh khai thị pháp môn vi diệu không thể nghĩ
bàn.
Thành tựu tâm bồ đề, hướng về
trượng phu thù thắng. Nơi các cảnh giới, chẳng
có chướng ngại. Vào trí huệ chủng tánh, sinh ra
các trí huệ. Lìa sinh pháp thế gian, mà hiện thọ
sinh. Thần thông biến hoá, điều phục tất cả như
vậy, đều là phương
tiện khéo léo.
Bồ Tát thành tựu tâm bồ đề, hướng
về đại trượng phu thù thắng. Đối với tất cả cảnh
giới, chẳng có chướng ngại. Vào trí huệ chủng
tánh, sinh ra nhất thiết trí huệ. Tuy nhiên lìa
khỏi pháp sinh tử thế gian, nhưng vẫn còn thị
hiện tướng thọ sanh tử. Dùng đủ thứ thần thông
biến hoá, phương tiện để điều phục chúng sinh,
tất cả như vậy đều là phương tiện khéo léo.
Công đức thấu hiểu mong muốn,
thảy đều thanh tịnh, vi diệu tối cực, đầy đủ
viên mãn. Trí huệ rộng lớn như hư không. Khéo
quán sát cảnh giới của các bậc Thánh. Tin hành
nguyện lực, kiên cố bất động. Công đức vô tận,
được thế gian khen ngợi.
Nơi tạng chỗ quán của tất cả chư
Phật, nơi đại bồ đề, biển nhất thiết trí, tích
tập các báu đẹp, làm bậc đại trí. Như hoa sen,
tự tánh thanh tịnh. Chúng sinh thấy được, đều
sinh hoan hỉ, đều được lợi ích. Trí huệ quang
minh chiếu khắp, thấy vô lượng chư Phật, tịnh
tất cả pháp.
Bồ Tát đối với công đức, sự thấu
hiểu, sự hy vọng, thảy đều thanh tịnh. Nói tóm
lại, dù ở trong pháp nhiễm ô, cũng tu pháp thanh
tịnh. Chỗ vi diệu đến chỗ tối cực nhất, lại đầy
đủ lại viên mãn. Nhất thiết rí huệ rộng lớn vô
biên, giống như hư không, bao la vạn hữu. Do
đó : « Chân không diệu hữu, diệu hữu chân
không ». Bồ Tát khéo quán sát cảnh giới của các
bậc Thánh, tức cũng là cảnh giới của Phật Bồ
Tát. Đầy đủ tâm tin và nguyện lực tu hành, kiên
cố bất động. Do đó : « Tám gió thổi không lay ».
Công đức của Bồ Tát vô cùng vô tận, được tất cả
chúng sinh thế gian khen ngợi. Đối với tất cả
tạng pháp chỗ quán của tất cả chư Phật, nơi đại
bồ đề, biển pháp nhất thiết trí, tích tập tất cả
căn lành báu đẹp, làm bậc đại trí. Giống như hoa
sen lớn, tự tánh của nó thanh tịnh. Nếu chúng
sinh thấy được hoa sen thanh tịnh, đều sinh tâm
hoan hỉ, đều đắc được lợi ích đáng được. Trí huệ
quang minh chiếu khắp tất cả chúng sinh, thấy
được mười phương vô lượng chư Phật, thanh tịnh
tất cả các pháp.
Tu hành tịch tĩnh, nơi các Phật
pháp, rốt ráo vô ngại. Luôn dùng phương tiện,
trụ Phật bồ đề, trong công đức tu hành, được
sinh ra. Đủ trí huệ của Bồ Tát, làm Bồ Tát
thượng thủ, được tất cả chư Phật cùng hộ niệm,
được oai thần của Phật, thành tựu pháp thân
Phật, niệm lực khó nghĩ bàn, nơi cảnh một duyên
mà vô sở duyên. Bồ Tát tu hành rộng lớn, vô
tướng vô ngại, đồng với pháp giới, vô lượng vô
biên. Bồ đề chứng được như hư không, chẳng có bờ
mé, không có ràng buộc chấp trước.
Bồ Tát tu hành đều là pháp tịch
tĩnh, đối với tất cả Phật pháp, được rốt ráo
không chướng ngại. Thường dùng phương tiện khéo
léo, trụ nơi bồ đề giác đạo của Phật. Hết thảy
công đức của Phật, ở trong sự tu hành, được sinh
ra diệu quả bồ đề. Nếu đầy đủ trí huệ viên mãn
của Bồ Tát, thì làm Bồ Tát thượng thủ, được tất
cả chư Phật mười phương cùng đến hộ niệm, được
đại oai thần lực của Phật, thành tựu pháp thân
của Phật, đầy khắp tất cả mọi nơi. Niệm lực của
Bồ Tát là khó nghĩ bàn, nơi mỗi một thứ cảnh
giới và mỗi một thứ duyên, chẳng phan duyên. Bồ
Tát tu hành rộng lớn vô biên, chẳng có tướng,
cũng chẳng có chướng ngại, đồng với pháp giới,
vô lượng vô biên. Bồ đề chứng được như hư không,
chẳng có bờ mé, không có ràng buộc chấp trước.
Trong các thế gian, khắp làm lợi
ích. Từ biển nhất thiết trí căn lành chảy ra,
đều thông đạt vô lượng cảnh giới, đã khéo thành
tựu pháp bố thí thanh tịnh, trụ tâm Bồ Tát, tịnh
hạt giống Bồ Tát, tuỳ thuận sinh ra bồ đề của
chư Phật. Nơi các Phật pháp đều được khéo léo,
đủ hạnh vi diệu, thành tựu sức kiên cố.
Bồ Tát đối với tất cả chúng sinh
thế gian, khắp làm lợi ích. Đó là do biển nhất
thiết trí sở tu căn lành chảy ra, hoàn toàn viên
mãn vô ngại, thông đạt vô lượng cảnh giới của
chư Phật, đã khéo thành tựu pháp môn bố thí
thanh tịnh, thường trụ tâm từ bi của Bồ Tát,
thanh tịnh hạt giống Bồ Tát, hay tuỳ thuận tu
hành, sinh ra bồ đề giác đạo của chư Phật. Đối
với tất cả đều đắc được phương tiện khéo léo,
đầy đủ hạnh môn vi diệu, thành tựu sức kiên cố.
Tự tại oai thần của tất cả chư
Phật, chúng sinh khó nghe được, Bồ Tát đều biết,
vào môn không hai. Trụ pháp vô tướng, nhưng lại
vĩnh viễn xả bỏ tất cả các tướng, mà rộng nói đủ
thứ các pháp. Tuỳ thuận tâm ưa muốn hiểu biết
của các chúng sinh, đều khiến cho họ điều phục,
đều khiến cho họ hoan hỉ.
Tự tại oai thần của tất cả chư
Phật mười phương ba đời, chúng sinh khó nghe khó
biết, chỉ có Đẳng giác Bồ Tát mới biết được cảnh
giới này, mà vào pháp môn không hai, trụ quả vị
pháp vô tướng. Bồ Tát là tức tướng lìa tướng, do
đó :
« Quét tất cả pháp, lìa tất cả
tướng ».
Bồ Tát lại vĩnh viễn xả bỏ tất cả
các pháp, nhưng lại rộng nói đủ thứ pháp tướng
của các pháp. Bồ Tát phát nguyện tuỳ thuận chúng
sinh, khiến cho trong tâm tất cả chúng sinh hoan
hỉ những gì, thì Bồ Tát vì chúng sinh nói pháp
đó, khiến cho chúng sinh cang cường, đều bị điều
phục. Khiến cho chúng sinh đều đại hoan hỉ.
Bồ Tát dùng pháp giới làm thân,
không có phân biệt. Trí huệ cảnh giới, không thể
cùng tận. Chí thường dũng mãnh, tâm luôn bình
đẳng. Thấy được bờ mé công đức của tất cả chư
Phật, thấu rõ tất cả kiếp thứ lớp khác nhau.
Bồ Tát dùng pháp giới làm thân,
hư không làm dụng. Chẳng có tất cả tâm phân
biệt, lìa khỏi tất cả thức, mà dùng nhất thiết
trí. Cảnh giới trí huệ của Bồ Tát vô cùng vô
tận. Chí nguyện của Bồ Tát thường dũng mãnh tinh
tấn, chẳng thối lùi về sau. Tâm của Bồ Tát luôn
bình đẳng, chẳng có sự phân biệt đó đây, nghĩa
là không ta, không người, không chúng sinh,
không thọ mạng, tâm bốn tướng. Bồ Tát thấy được
bờ mé công đức của tất cả chư Phật tu, thấu rõ
tất cả kiếp thứ lớp khác nhau, phân biệt rất rõ
ràng.
Bồ Tát khai thị tất cả pháp, an
trụ tất cả cõi, nghiêm tịnh cõi nước của tất cả
chư Phật, hiển hiện tất cả chánh pháp quang
minh, diễn nói tất cả Phật pháp quá khứ, vị lai,
hiện tại. Chỉ bày xứ sở của các Bồ Tát ở, làm
đèn sáng cho thế gian, sinh ra các căn lành,
vĩnh viễn lìa thế gian, thường sinh vào chỗ
Phật.
Bồ Tát khai thị chúng sinh tất cả
pháp, an trụ tại cõi nước của tất cả chư Phật,
trang nghiêm thanh tịnh cõi nước của tất cả chư
Phật, hiển hiện tất cả chánh pháp quang minh,
diễn nói tất cả Phật pháp ba đời quá khứ, vị
lai, hiện tại. Chỉ bày xứ sở của tất cả Bồ Tát
ở, làm đèn sáng cho thế gian, sinh ra tất cả các
căn lành, vĩnh viễn lìa khỏi tất cả pháp ô
nhiễm, thường sinh vào đạo tràng của Phật, gần
gũi Phật, thừa sự Phật.
Bồ Tát đắc được trí huệ sáng tỏ
đệ nhất của Phật, được tất cả chư Phật đều cùng
nhiếp thọ, đã vào số của chư Phật vị lai. Từ các
bạn lành mà được sinh ra, hết thảy chí cầu, đều
thành tựu quả.
Bồ Tát đắc được hết thảy tất cả
trí huệ, thấu rõ đạo lý đệ nhất nghĩa đế của
Phật, tức cũng là trung đạo. Trung đạo tức là
chẳng rơi vào bên có, chẳng rơi vào bên không,
hai bên. Được tất cả chư Phật mười phương ba
đời, đều cùng đến nhiếp thọ. Đã chứng nhập vào
số của chư Phật vị lai. Là từ các bạn lành mà
được sinh ra, hết thảy chí nguyện, đều được viên
mãn thành tựu quả.
Bồ Tát đầy đủ đại oai đức, trụ
tại ý tăng thượng, theo chỗ nghe được, đều khéo
diễn nói. Cũng vì khai thị thiện căn nghe pháp
trụ thật tế luân, nơi tất cả pháp, tâm không
chướng ngại, không xả bỏ các hạnh, lìa khỏi các
sự phân biệt.
Bồ Tát lại đầy đủ đại oai đức,
trụ tại tâm bồ đề tăng thượng. Bất cứ ở trong
đạo tràng nào, phàm là nghe được pháp của Phật
nói, đều nhớ mãi không quên, tuỳ thời tuỳ lúc
khéo nói diệu pháp, giáo hoá chúng sinh. Bồ Tát
khai thị chúng sinh, khiến cho chúng sinh nghe
pháp mà tăng trưởng căn lành, trụ tại thật tế
(chân như pháp tánh) luân. Đối với tất cả pháp,
trong tâm không chướng ngại. Không xả bỏ tất cả
hạnh môn của Bồ Tát tu, lìa khỏi tất cả tâm phân
biệt.
Nơi tất cả pháp, tâm không động
niệm. Đắc được trí huệ quang minh, diệt trừ các
ngu si đen tối. Đều chiếu sáng tất cả Phật pháp,
chẳng phá hoại các cõi, mà sinh trong đó. Biết
rõ tất cả cảnh giới các cõi. Từ xưa đến nay,
không có động tác. Thân lời ý nghiệp, thảy đều
vô biên.
Bồ Tát đối với tất cả pháp, thấu
hiểu thâm sâu, cho nên tâm không có vọng niệm.
Đắc được trí huệ quang minh, diệt trừ các ngu si
đen tối, đều chiếu sáng thông đạt tất cả pháp
của chư Phật nói, không cần phá hoại tam giới
hai mươi lăm cõi, tuy nhiên ở trong tam giới các
cõi, nhưng thấu rõ cảnh giới các cõi trong tam
giới. Từ vô thuỷ cho đến hiện tại, không có động
tác. Thân lời ý ba nghiệp, thảy đều vô lượng vô
biên.
Tuy tuỳ thế tục, diễn nói đủ thứ
vô lượng văn tự, mà luôn hoại lìa pháp văn tự.
Vào sâu biển Phật, biết tất cả pháp chỉ có giả
danh. Nơi các cảnh giới, không ràng buộc, không
chấp trước.
Bồ Tát tuy nhiên tuỳ thế tục của
thế gian, diễn nói đủ thứ vô lượng văn tự, nhưng
thường không phá hoại pháp chân đế lìa khỏi pháp
văn tự. Vào sâu biển trí huệ của Phật, biết tất
cả pháp chỉ có giả danh mà thôi. Đối với hết
thảy tất cả cảnh giới, không ràng buộc, không
chấp trước.
Thấu rõ tất cả các pháp, vốn
không chẳng chỗ có, tu các hạnh đều từ pháp giới
sinh ra. Giống như hư không, không tướng, không
hình, vào sâu pháp giới, tuỳ thuận diễn nói. Nơi
một môn cảnh giới, sinh ra nhất thiết trí.
Bồ Tát thấu rõ tất cả pháp, vốn
không chẳng chỗ có, tu các hạnh đều từ pháp giới
sinh ra. Giống như hư không, không tướng, cũng
không hình. Vào sâu pháp giới, tuỳ thuận chúng
sinh diễn nói diệu pháp. Ở trong một môn cảnh
giới, bèn sinh ra nhất thiết trí.
Quán bậc Thập lực, dùng trí tu
học. Trí làm kiều lương, đến Tát bà nhạ. Dùng
mắt trí huệ, thấy pháp vô ngại. Khéo vào các
địa, biết đủ thứ nghĩa lý. Mỗi mỗi pháp môn, đều
được sáng tỏ. Hết thảy đại nguyện, thảy đều
thành tựu.
Bồ Tát quán sát địa vị của mười
phương chư Phật thập lực, dùng trí huệ để tu học
tất cả Phật pháp. Dùng trí làm kiều lương, đến
bờ bên kia nhất thiết trí. Dùng mắt trí huệ,
thấy tất cả pháp không chướng ngại. Khéo vào
mười địa của Bồ Tát, biết rõ đủ thứ nghĩa lý.
Hết thảy mỗi một pháp môn, hoàn toàn minh bạch
thấu rõ. Đại nguyện của Bồ Tát phát ra, nguyện
nguyện đều thành tựu, chẳng có một nguyện nào mà
chẳng thành tựu.
Phật tử ! Đại Bồ Tát dùng nghĩa
lý này, để khai thị tánh không khác biệt của tất
cả Như Lai. Đây là môn phương tiện vô ngại. Đây
hay sinh ra Bồ Tát chúng hội. Pháp này chỉ là
cảnh giới tam muội. Đây hay dũng mãnh tinh tấn
vào Tát bà nhạ. Đây hay khai hiển các môn tam
muội. Đây hay vào khắp các cõi vô ngại. Đây hay
điều phục tất cả chúng sinh. Đây hay trụ bờ mé
không chúng sinh. Đây hay khai thị tất cả Phật
pháp. Nơi cảnh giới này, đều vô sở đắc.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát dùng
nghĩa lý này, để khai thị pháp tánh không khác
biệt của tất cả chư Phật. Đây là môn phương tiện
khéo léo không chướng ngại. Đây hay sinh ra Bồ
Tát đạo tràng chúng hội. Pháp này hết thảy đều
là cảnh giới tam muội. Đây hay dũng mãnh tinh
tấn vào Tát bà nhạ. Đây hay khai hiển tất cả môn
tam muội. Đây hay vào khắp tất cả cõi Phật không
chướng ngại. Đây hay điều phục tất cả chúng sinh
cang cường. Đây hay trụ bờ mé không chúng sinh.
Đây hay khai thị pháp của tất cả chư Phật nói.
Nơi tất cả cảnh giới này đều vô sở đắc, do
đó : « Vô trí diệc vô đắc ».
Tuy tất cả thời diễn nói khai
thị, mà luôn xa lìa vọng tưởng phân biệt.
Tuy Bồ Tát tất cả thời, diễn nói
diệu pháp, khai thị chúng sinh. Song, pháp môn
đó, luôn xa lìa tất cả vọng tưởng và phân biệt.
Ý nghĩa câu này là « Có chẳng ngại không », vì
dùng có là có ở trong không. Ý nghĩa bốn mươi
câu dưới đây là nói rõ đạo lý « Không chẳng ngại
có », vì không là không ở trong có. Cho nên một
câu ở trước là « Hai mà chẳng hai », bốn mươi
câu sau là « Chẳng hai mà hai ».
Tuy biết các pháp đều vô sở tác,
mà hay thị hiện tất cả tác nghiệp. Tuy biết chư
Phật không có hai tướng, mà hay hiển bày tất cả
chư Phật. Tuy biết không sắc, mà diễn nói các
sắc.
Tuy biết không thọ, mà diễn nói
các thọ. Tuy biết không tưởng, mà diễn nói các
tưởng. Tuy biết không hành, mà diễn nói các
hành. Tuy biết không thức, mà diễn nói các thức.
Luôn dùng pháp luân khai thị tất cả. Tuy biết
pháp không sinh, mà thường chuyển pháp luân.
Tuy biết pháp không khác biệt, mà
nói các môn khác nhau. Tuy biết các pháp không
có sinh diệt, mà nói tất cả tướng sinh diệt.
Bồ Tát tuy biết các pháp, vốn đều
không tạo tác, nhưng vẫn phải thị hiện tất cả
nghiệp làm ra và sở thọ quả báu.
Các pháp là gì ? Nói đơn giản tức
là tất cả pháp. Nói rộng ra tức là tám vạn bốn
ngàn pháp. Tám vạn bốn ngàn pháp lại chia thành
trăm pháp. Trăm pháp là những pháp gì ? Đó là :
1. Sắc pháp : Có 11 thứ pháp.
2. Tâm pháp : Có 8 thứ pháp.
3. Tâm sở pháp : Có 51 thứ pháp.
4. Bất tương ưng pháp : Có 24 thứ
pháp.
5. Vô vi pháp : Có 6 thứ pháp.
Tổng cộng lại có 100 pháp. Đây là
100 pháp của đại thừa, tiểu thừa chỉ có 75 pháp.
Nếu muốn thấu hiểu tường tận, thì hãy tham khảo
quyển Bách Pháp Minh Môn Luận.
Bồ Tát tuy biết tất cả chư Phật
không có hai tướng, chỉ có một tướng, mà vẫn
phải thị hiện mười phương ba đời tất cả chư Phật
đủ thứ tướng. Tại sao ? Vì muốn độ chúng sinh
thoát khỏi ba cõi, chấm dứt sinh tử, cho nên thị
hiện pháp môn phương tiện.
Bồ Tát tuy biết không có sắc, là
không, mà vẫn phải diễn nói pháp môn tất cả các
sắc. Các pháp vô ngã, năm uẩn đều không, đạo lý
này Bồ Tát đều thấu hiểu. Vì độ chúng sinh, cho
nên trong không nói có, trong có nói không, dùng
pháp phương tiện khéo léo, để giáo hoá chúng
sinh, khiến cho họ phát bồ đề tâm, cầu vô thượng
đạo.
Bồ Tát tuy biết thọ là không, mà
vẫn phải diễn nói pháp môn tất cả các thọ.
Bồ Tát tuy biết tưởng là không,
mà vẫn phải diễn nói pháp môn tất cả các tưởng.
Bồ Tát tuy biết hành là không, mà
vẫn phải diễn nói pháp môn tất cả các hành.
Bồ Tát tuy biết thức là không, mà
vẫn phải diễn nói pháp môn tất cả các thức.
Bồ Tát luôn thường chuyển đại
pháp luân, để khai thị tất cả chúng sinh, để
giáo hoá tất cả chúng sinh, khiến cho họ bỏ mê
về giác, chứng được giải thoát.
Bồ Tát tuy biết « Các pháp tùng
bản lai, thường tự tịch diệt tướng » không thể
dùng lời nói, mà vẫn ở trong pháp không sinh,
thường chuyển pháp luân, để vì tất cả chúng sinh
thuyết pháp.
Bồ Tát tuy biết tất cả pháp,
không có sự khác biệt, mà vẫn phải diễn nói tất
cả các môn khác nhau.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
không có sinh diệt, mà vẫn phải diễn nói tất cả
tướng có sinh diệt.
Tuy biết các pháp không thô,
không tế, mà nói tướng các pháp thô tế. Tuy biết
các pháp không có thượng trung hạ, mà hay diễn
nói pháp tối thượng. Tuy biết các pháp không thể
nói ra, mà hay diễn nói lời lẽ thanh tịnh.
Tuy biết các pháp không trong,
không ngoài, mà nói tất cả các pháp trong ngoài.
Tuy biết các pháp không thể biết rõ, mà nói đủ
thứ trí huệ quán sát. Tuy biết các pháp không có
chân thật, mà nói ra đạo lìa chân thật.
Tuy biết các pháp rốt ráo vô tận,
mà hay diễn nói hết các hữu lậu. Tuy biết các
pháp không trái, không tranh, nhưng cũng chẳng
không tự tha khác biệt.
Tuy biết các pháp rốt ráo vô sư,
mà thường tôn kính tất cả sư trưởng. Tuy biết
các pháp chẳng do người khác mà ngộ, nhưng
thường tôn kính các thiện tri thức.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có tướng thô, cũng chẳng có tướng tế, mà
vẫn phải diễn nói tướng pháp thô và pháp tế.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có phân biệt thượng trung hạ, đều là bình
đẳng. Trong Kinh Kim Cang có nói :
« Là pháp bình đẳng, chẳng có cao
thấp ».
Mà vẫn phải ở tại pháp bình đẳng
diễn nói pháp môn tối thượng.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
không thể dùng lời nói, do đó : « Lìa lời nói
tướng, lìa tướng văn tự, lìa tâm duyên tướng »,
mà hay diễn nói lời lẽ thanh tịnh.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có bên trong, cũng chẳng có bên ngoài, mà
vẫn phải diễn nói tất cả các pháp trong ngoài.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
là không thể biết rõ, mà vẫn phải diễn nói đủ
thứ trí huệ, để quán sát tất cả pháp.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có tánh chân thật, vốn là hư vọng, mà nói
ra pháp lìa khỏi hư vọng không thật, đắc được
đạo chân thật.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
là rốt ráo vô tận, mà vẫn phải diễn nói hết tất
cả pháp hữu lậu. Lại minh bạch pháp vô lậu. Pháp
hữu lậu tức là pháp có tướng, tức là pháp hữu
vi. Pháp vô lậu tức là pháp vô tướng, tức là
pháp vô vi.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
là không trái, không tranh, tức cũng là giữa
pháp và pháp, chẳng có trái nhau, chẳng tranh
luận với nhau, nhưng pháp cũng chẳng có sự phân
biệt có tự, cũng chẳng có tha.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
đến cực điểm rồi, không thầy mà tự thông, nhưng
luôn luôn tôn kính tất cả sư trưởng.
Tại sao không có người dạy mà tự
mình thông đạt ? Vì đến được cảnh giới :
« Quét tất cả pháp, lìa tất cả
tướng ».
Do đó :
« Lìa tướng lời nói,
Lìa tướng văn tự,
Lìa tướng tâm duyên ».
Nhưng Bồ Tát giáo hoá chúng sinh,
dạy họ phải tôn trọng sư phụ, hiếu kính trưởng
bối.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
là tự giác tự ngộ, chẳng phải do người khác dạy
mà khai ngộ, nhưng vẫn phải tôn kính tất cả
thiện tri thức, vẫn phải cúng dường thiện tri
thức.
Làm thế nào để tự giác tự ngộ ?
Tức là y pháp tu hành, tu đến chỗ rốt ráo, thì
vẫn cần chính mình đi giác ngộ. Pháp này tuy
nhiên là tự ngộ, nhưng đây là đốn ngộ. Vì thuở
xưa, kết quả do thiện tri thức giáo hoá từng
chút từng chút. Do đó :
« Lý là đốn ngộ, sự là tiệm tu ».
Tuy nhiên có căn lành, vẫn phải
tu hành, mới được khai ngộ.
Tuy biết pháp không chuyển, mà
chuyển pháp luân. Tuy biết pháp không khởi, mà
thị hiện các nhân duyên. Tuy biết các pháp không
có tiền tế, mà rộng nói quá khứ.
Tuy biết các pháp không có hậu
tế, mà rộng nói vị lai. Tuy biết các pháp không
có trung tế, mà rộng nói hiện tại. Tuy biết các
pháp không có tác giả, mà nói các nghiệp làm.
Tuy biết các pháp không có nhân
duyên, mà nói các nhân tập. Tuy biết các pháp
không có bình đẳng so sánh, mà nói đạo bình
đẳng, không bình đẳng.
Tuy biết các pháp không có lời
nói, mà quyết định nói pháp ba đời. Tuy biết các
pháp không có chỗ nương, mà nói nương pháp lành
để được thoát khỏi.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
là vắng lặng, chẳng có pháp có thể chuyển, mà
vẫn phải thường chuyển đại pháp luân, để giáo
hoá chúng sinh.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có sinh khởi, mà vẫn phải thị hiện nhân
duyên của tất cả pháp. Do đó :
« Các pháp do duyên khởi,
Các pháp do duyên diệt ».
Pháp duyên sinh, là chẳng có tự
tánh, do đó :
« Nhân duyên sinh ra pháp
Ta nói tức là không
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa trung đạo ».
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có tiền tế, mà rộng nói tất cả pháp quá
khứ.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có hậu tế, mà rộng nói tất cả pháp vị lai.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp,
chẳng có trung tế, mà rộng nói tất cả pháp hiện
tại.
Tại bổn thể pháp mà nói, là chẳng
có phân biệt quá khứ, hiện tại, vị lai, nhưng Bồ
Tát phân biệt ra để nói pháp ba đời. Tại sao
phải phiền phức như vậy ? Vì Bồ Tát thích làm
việc cực khổ, lại có thể nói Bồ Tát thích quản
nhàn sự, cho nên cam tâm tình nguyện đi hành Bồ
Tát đạo, vì lợi ích tất cả chúng sinh, mà chịu
hy sinh lợi ích của chính mình. Chịu khổ chịu
cực đi giáo hoá chúng sinh, thọ hết sự cực khổ,
mà không một lời oán trách. Đều hy vọng chúng
sinh cải tà theo chánh, bỏ tối về sáng. Cho nên
chỗ làm của Bồ Tát và chỗ làm của phàm phu đều
hoàn toàn khác nhau. Tư tưởng của phàm phu là
ích kỷ lợi mình. Nếu việc đối với mình có lợi
ích, thì tìm cách đi tranh giành, bằng không,
thì tuyệt đối không đi làm. Tư tưởng của Bồ Tát
thì ngược lại, chuyên nghĩ đến chúng sinh, chẳng
nghĩ đến mình, cho nên tinh thần « vô duyên đại
từ, đồng thể đại bi ».
Các vị hãy quán sát nhân loại
trên thế giới này, người nào vì mọi người mưu
hạnh phúc ? Vốn chẳng có, hoàn toàn đều vì
mình : Tôi phải mặc quần áo đẹp, tôi phải ăn
thức ăn ngon, tôi phải ở nhà sang trọng, tôi
phải chạy xe mới .v.v…Tóm lại, tất cả đều vì
mình mà nghĩ đến sự hưởng thụ. Ai Ai cũng có tư
tưởng như thế, thì thế giới làm sao mà thái
bình!
Mục đích học Phật là thay đổi tâm
ích kỷ, thành tâm đại công vô tư. Việc việc đều
vì người, mà chẳng vì mình. Hy sinh sự khoái lạc
của chính mình, đi trợ giúp người khác khốn khổ,
do đó : « Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa »,
đây là tông chỉ của Phật giáo.
Phật giáo là giáo cứu thế độ
nhân, ban cho chúng sinh sự khoái lạc, cứu khổ
chúng sinh. Chúng sinh có sự đau khổ, thì tận
sức đi cứu họ thoát khỏi biển khổ, thậm chí vào
chỗ dầu sôi lửa bỏng, cũng không từ nan, đây là
trách nhiệm của người Phật tử. Trước hết bắt đầu
từ chính mình, sau đó mới lan rộng tới quần
chúng, ai ai cũng như thế, thì thế giới sẽ hoà
bình, an cư lạc nghiệp.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
không có tác giả, mà vẫn phải nói tất cả tác
nghiệp, tức cũng là luật nhân quả, do đó :
« Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu »;
trồng nghiệp lành, thì thọ báo lành; trồng
nghiệp ác, thì thọ báo ác.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
không có nhân duyên, mà vẫn phải nói đạo lý tập
nhân của tất cả các pháp.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
không có bình đẳng so sánh, mà vẫn phải nói đạo
lý bình đẳng và không bình đẳng.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
không có lời nói, do đó : « Lời nói đã bặc, tâm
hành đã diệt », mà vẫn phải quyết định nói pháp
ba đời.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
không có chỗ nương, mà vẫn phải nói nương tựa
pháp lành, để được thoát khỏi tam giới hai mươi
lăm cõi.
Tuy biết pháp không thân, mà rộng
nói pháp thân. Tuy biết ba đời chư Phật vô biên,
mà hay diễn nói chỉ có một vị Phật. Tuy biết
pháp không sắc, mà hiện đủ thứ sắc.
Tuy biết pháp vô kiến, mà diễn
nói các kiến. Tuy biết pháp vô tướng, mà nói đủ
thứ tướng. Tuy biết các pháp không có cảnh giới,
mà rộng diễn nói cảnh giới trí huệ.
Tuy biết các pháp không có khác
biệt, mà nói hành quả đủ thứ sự khác biệt. Tuy
biết các pháp không có xuất ly, mà nói các hạnh
thanh tịnh xuất ly.
Tuy biết các pháp vốn thường trụ,
mà nói tất cả các dòng chuyển pháp. Tuy biết các
pháp không có chiếu sáng, mà luôn rộng nói pháp
chiếu sáng.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
không thân, mà vẫn phải rộng nói lý thể của pháp
thân.
Bồ Tát tuy biết ba đời chư Phật
vô biên không bờ mé, mà vẫn hay diễn nói chỉ có
một vị Phật, tức là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
không hình không tướng, không sắc, mà vẫn phải
thị hiện đủ thứ sắc tướng.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
vô kiến, mà vẫn phải rộng diễn nói đạo lý các
kiến.
Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
vô tướng, mà vẫn phải rộng nói đủ thứ tướng.
Bồ Tát tuy biết tất cả các các
pháp không có cảnh giới, mà vẫn phải rộng diễn
nói cảnh giới nhất thiết trí huệ.
Bồ Tát tuy biết tất cả các các
pháp không có phân biệt, mà vẫn phải nói quả báo
tu hành sở đắc, có đủ thứ sự phân biệt. Do đó :
« Thiện có thiện quả, ác có ác
quả;
Nếu không có báo, tức thời chưa
đến ».
Người học Phật, phải tin chân lý
nhân quả báo ứng.
Bồ Tát tuy biết tất cả các các
pháp không có xuất ly. Vì bổn thể của các pháp
là không sinh, không diệt, không dơ, không sạch,
không tăng, không giảm, mà Bồ Tát vẫn phải nói
làm thế nào tu hạnh thanh tịnh để thoát khỏi ba
cõi.
Bồ Tát tuy biết tất cả các các
pháp vốn thường trụ, không thay đổi, mà vẫn phải
nói pháp tất cả các dòng lưu chuyển biến hoá.
Bồ Tát tuy biết tất cả các các
pháp không có chiếu sáng, mà luôn luôn rộng nói
pháp trí huệ quang minh chiếu khắp.
Phật tử ! Đại Bồ Tát nhập vào tam
muội trí luân đại oai đức như vậy : Liền chứng
được tất cả Phật pháp. Liền nhập vào tất cả Phật
pháp.
Liền thành tựu, liền viên mãn,
liền tích tập, liền thanh tịnh, liền an trụ,
liền thấu đạt, cùng tất cả pháp tự tánh tương
ưng, mà đại Bồ Tát đó chẳng nghĩ như vầy : Có
bao nhiêu Bồ Tát, bao nhiêu Bồ Tát pháp, bao
nhiêu Bồ Tát rốt ráo, bao nhiêu huyễn rốt ráo,
bao nhiêu hoá rốt ráo, bao nhiêu thần thông
thành tựu, bao nhiêu trí thành tựu, bao nhiêu tư
duy, bao nhiêu chứng nhập, bao nhiêu thú hướng,
bao nhiêu cảnh giới ?
Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng
các vịPhật tử ! Vị đại Bồ Tát đó tu hành Bồ Tát
đạo, tích tập đủ thứ căn lành, viên mãn lục độ
vạn hạnh, Ngài nhập vào được tam muội trí luân
đại oai đức như vậy : Liền chứng được pháp của
tất cả chư Phật nói, liền nhập vào được pháp của
tất cả chư Phật nói, liền thành tựu pháp của tất
cả chư Phật nói, liền viên mãn pháp của tất cả
chư Phật nói, liền tích tập căn lành của tất cả
chư Phật Bồ Tát tích tập, liền thanh tịnh pháp
thân của tất cả chư Phật Bồ Tát, liền an trụ quả
vị của tất cả chư Phật Bồ Tát an trụ, liền thấu
đạt nghĩa lý của tất cả chư Phật Bồ Tát đã nói,
cùng với tự tánh của tất cả pháp tương ưng.
Vị đại Bồ Tát đó chẳng nghĩ như
vầy : Có bao nhiêu Bồ Tát ? Có bao nhiêu Bồ
Tát pháp ? Có bao nhiêu Bồ Tát rốt ráo ? Có bao
nhiêu huyễn vọng rốt ráo ? Có bao nhiêu biến hoá
rốt ráo ? Có bao nhiêu thần thông thành tựu ? Có
bao nhiêu trí thành tựu ? Có bao nhiêu tam muội
tư duy ? Có bao nhiêu trí huệ chứng nhập ? Có
bao nhiêu thú hướng về bồ đề đạo ? Có bao nhiêu
cảnh giới khai ngộ ? Bồ Tát không khởi những
vọng tưởng như thế.
Tại sao ? Vì Bồ Tát tam muội thể
tánh như vậy, vô biên như vậy, thù thắng như
vậy. Tam muội này đủ thứ cảnh giới, đủ thứ oai
lực, đủ thứ thâm nhập.
Tại sao Bồ Tát không khởi vọng
tưởng ? Vì Bồ Tát chứng được tam muội, lý thể là
như vậy, tức là vô biên như vậy, là thù thắng
như vậy. Cho nên, không cần khởi tất cả vọng
tưởng. Vì tam muội này, có đủ thứ cảnh giới, đủ
thứ oai lực, đủ thứ thâm nhập, cho nên chứng
được hai mươi tám thứ pháp môn dưới đây.
Đó là : Vào môn trí huệ bất khả
thuyết. Vào các sự trang nghiêm lìa phân biệt.
Vào vô biên thù thắng Ba la mật. Vào vô số thiền
định. Vào trăm ngàn ức Na do tha bất khả thuyết
trí rộng lớn. Vào thắng diệu tạng thấy vô biên
Phật. Vào nơi cảnh giới không ngừng nghỉ. Vào
pháp trợ đạo thanh tịnh tin hiểu. Vào các căn
mãnh lợi đại thần thông. Vào nơi cảnh giới tâm
vô ngại.
Đó là :
1. Vào môn trí huệ nhiều bất khả
thuyết.
2. Vào môn tất cả sự trang nghiêm
lìa khỏi sự phân biệt.
3. Vào môn Ba la mật vô biên thù
thắng.
4. Vào vô số vô lượng môn thiền
định.
5. Vào trăm ngàn ức na do tha bất
khả thuyết môn trí huệ rộng lớn.
6. Vào môn thắng diệu tạng thấy
vô biên Phật.
7. Vào môn cảnh giới không ngừng
nghỉ.
8. Vào môn pháp trợ đạo thanh
tịnh tin hiểu.
9. Vào môn các căn mãnh lợi đại
thần thông.
10. Vào môn cảnh giới tâm vô
ngại.
Nhập vào mắt thấy tất cả chư Phật
bình đẳng. Vào tích tập thắng chí hạnh của Phổ
Hiền. Vào trụ trí thân na la diên. Vào nói biển
trí huệ của Như Lai. Vào khởi vô lượng thứ tự
tại thần biến. Vào môn sinh ra vô tận trí của
tất cả chư Phật. Vào cảnh giới hiện tiền của tất
cả chư Phật. Vào tịnh tự tại trí của Bồ Tát Phổ
Hiền. Vào trí phổ môn khai thị vô tỉ. Vào tất cả
cảnh giới vi tế biết khắp pháp giới.
11. Bồ Tát có thể nhập vào môn
mắt thấy tất cả chư Phật bình đẳng.
12. Vào môn tích tập hết thảy tất
cả thù thắng chí hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền.
13. Vào môn trụ trí thân na la
diên (kiên cố).
14. Vào môn nói biển trí huệ của
Phật.
15. Vào môn khởi vô lượng thứ tự
tại thần biến.
16. Vào môn sinh ra vô tận trí
của tất cả chư Phật.
17. Vào môn cảnh giới hiện tiền
của tất cả chư Phật.
18. Vào môn thanh tịnh tự tại trí
huệ của Bồ Tát Phổ Hiền.
19. Vào môn trí huệ phổ môn khai
thị vô tỉ.
20. Vào môn tất cả cảnh giới vi
tế biết khắp pháp giới.
Vào khắp hiện pháp giới tất cả
cảnh giới vi tế. Vào tất cả trí huệ quang minh
thù thắng. Vào tất cả tự tại biên tế. Vào tất cả
biện tài bờ mé pháp môn. Vào khắp pháp giới trí
huệ thân. Vào thành tựu tất cả chỗ hành đạo
khắp. Vào tam muội khéo trụ tất cả sự khác biệt.
Vào tâm biết tất cả chư Phật.
21. Bồ Tát vào môn khắp hiện pháp
giới tất cả cảnh giới vi tế.
22. Vào môn tất cả trí huệ quang
minh thù thắng.
23. Vào môn tất cả tự tại biên
tế.
24. Vào môn tất cả biện tài bờ mé
pháp môn.
25. Vào môn đầy khắp pháp giới
trí huệ thân.
26. Vào môn thành tựu tất cả chỗ
hành đạo khắp.
27. Vào tam muội khéo trụ tất cả
tam muội khác biệt.
28. Vào tâm biết tất cả chư Phật.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này trụ hạnh
Phổ Hiền, niệm niệm vào trăm ức bất khả thuyết
tam muội, mà chẳng thấy tam muội Bồ Tát Phổ
Hiền, và cảnh giới trang nghiêm tiền tế của
Phật. Tại sao ?
Các vị Phật tử ! Vị đại Bồ Tát
này, tuy nhiên trụ ở trong hạnh Bồ Tát Phổ Hiền,
vẫn có thể ở trong niệm niệm, vào trăm ức bất
khả thuyết môn tam muội, mà vẫn chẳng thấy tam
muội của Bồ Tát Phổ Hiền, và cảnh giới trang
nghiêm tiền tế của Phật. Đây là nguyên nhân gì ?
Vì biết tất cả pháp rốt ráo vô
tận. Vì biết tất cả cõi Phật vô biên. Vì biết
tất cả cõi chúng sinh không nghĩ bàn. Vì biết
quá khứ không có bắt đầu. Vì biết vị lai không
cùng tận. Vì nói hiện tại tận hư không khắp pháp
giới vô biên. Vì biết cảnh giới tất cả chư Phật
không thể nghĩ bàn. Vì biết tất cả Bồ Tát hạnh
vô số. Vì biết cảnh giới biện tài của tất cả chư
Phật nói, vô biên bất khả thuyết. Vì biết tất cả
tâm huyễn duyên pháp vô lượng.
Vì vị đại Bồ Tát này vào tam muội
Vô ngại luân, cho nên biết mười thứ cảnh giới ở
dưới đây. Những gì là mười thứ cảnh giới ? Đó
là :
1. Vì biết tất cả pháp rốt ráo vô
cùng vô tận.
2. Vì biết tất cả cõi Phật, rốt
ráo vô lượng vô biên.
3. Vì biết tất cả cõi chúng sinh
không nghĩ bàn.
4. Vì biết quá khứ không có bắt
đầu.
5. Vì biết vị lai không cùng tận.
6. Vì nói hiện tại tận hư không
khắp pháp giới vô biên.
7. Vì biết hết thảy cảnh giới tất
cả chư Phật, đều không thể nghĩ bàn.
8. Vì biết Bồ Tát hạnh của tất cả
Bồ Tát tu hành, đều vô số vô lượng.
9. Vì biết cảnh giới biện tài tất
cả chư Phật nói, đều vô biên bất khả thuyết.
10. Vì biết tất cả tâm huyễn
duyên pháp, đều là vô lượng vô biên.
Phật tử ! Như châu như ý, tuỳ
theo sở cầu, tất cả đều được. Người cầu vô tận,
ý nguyện đều đầy đủ, mà thế lực của châu trọn
không hết, không dừng lại.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vào
tam muội này, biết tâm như huyễn, sinh ra cảnh
giới tất cả các pháp, khắp cùng vô tận, không
hết, không ngừng.
Tại sao ? Vì đại Bồ Tát thành tựu
hạnh trí vô ngại Phổ Hiền, quán sát vô lượng
cảnh huyễn rộng lớn, giống như hình bóng, không
tăng giảm.
Các vị Phật tử ! Giống như châu
như ý, tuỳ theo tâm ý mong cầu, khiến cho tất cả
đều đắc được sở cầu. Tuy nhiên dục vọng của
người cầu vô tận, nhưng đều khiến cho họ tuỳ tâm
mãn nguyện được đầy đủ. Thế lực của châu như ý,
trọn không hết, cũng không thiếu bớt.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, khi
vào tam muội vô ngại luân này, biết tâm do hư
huyễn sinh, do hư huyễn diệt. Do tâm huyễn sinh
ra cảnh giới tất cả các pháp, khắp cùng vô cùng
tận, cũng không hết, cũng không ngừng. Tại sao ?
Vì đại Bồ Tát thành tựu hạnh vô ngại và trí vô
ngại của Bồ Tát Phổ Hiền. Cho nên, quán sát được
vô lượng cảnh huyễn rộng lớn, giống như hình
bóng, là hư huyễn không thật, cũng chẳng tăng,
cũng chẳng giảm.
Phật tử ! Ví như phàm phu, đều
sinh tâm khác nhau, đã sinh, hiện sinh, và sẽ
sinh, chẳng có bờ mé, không dứt, không tận. Tâm
đó lưu chuyển, liên tục không đoạn tuyệt, không
thể nghĩ bàn.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, khi
vào môn tam muội phổ huyễn này, chẳng có bờ mé,
không thể dò lường. Tại sao ? Vì thấu đạt môn
phổ huyễn pháp vô tận của Bồ Tát Phổ Hiền.
Các vị Phật tử ! Ví như phàm phu,
đều sinh tâm vọng tưởng khác nhau, hoặc đã sinh
ra, hoặc hiện tại sinh ra, hoặc tương lai sẽ
sinh ra. Những vọng tâm đó, chẳng có bờ mé,
không thể dứt tuyệt, không thể cùng tận. Vọng
tâm đó lưu chuyển không dứt, liên tục không đoạn
tuyệt, cảnh giới đó không thể nghĩ bàn.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, khi
vào môn tam muội phổ huyễn này, chẳng có bờ mé,
không thể dò lường. Tại sao ? Vì thấu rõ thông
đạt môn phổ huyễn pháp vô tận của Bồ Tát Phổ
Hiền.
Phật tử ! Ví như Nan Đà Long
Vương, Bạt Nan Đà Long Vương, Ma Na Tư Long
Vương, và các đại Long Vương khác, khi mưa
xuống, giọt nước như trục bánh xe, không có bờ
mé. Tuy mưa như vậy, mà mây trọn không hết. Đây
là cảnh giới vô tác của các Long Vương.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, trụ
tam muội này, vào các môn tam muội Bồ Tát Phổ
Hiền. Trí môn, pháp môn, môn thấy chư Phật, môn
đến các phương, môn tâm tự tại, môn như trì, môn
thần biến, môn thần thông, môn huyễn hoá, môn
các pháp như huyễn.
Môn sung mãn bất khả thuyết bất
khả thuyết các Bồ Tát. Môn gần gũi Như Lai chánh
giác nhiều bất khả thuyết bất khả thuyết số hạt
bụi cõi Phật. Môn lưới huyễn rộng lớn bất khả
thuyết bất khả thuyết. Môn biết cõi Phật rộng
lớn khác biệt bất khả thuyết bất khả thuyết. Môn
biết thế giới có thể tánh không thể tánh bất khả
thuyết bất khả thuyết.
Môn biết chúng sinh tưởng bất khả
thuyết bất khả thuyết. Môn thời kiếp khác biệt
bất khả thuyết bất khả thuyết. Môn biết thế giới
thành hoại bất khả thuyết bất khả thuyết. Môn
biết các cõi Phật úp ngửa bất khả thuyết bất khả
thuyết.
Các vị Phật tử ! Ví như Nan Đà
Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương, Ma Na Tư Long
Vương, (Bà Già La Long Vương, Hoà Tu Cát Long
Vương, Đức Xoa Già Long Vương, A Na Bà Đạt Đa
Long Vương, Ưu Bát La Long Vương gọi là Bát Long
Vương), và hết thảy các đại Long Vương khác, khi
chúng mưa xuống, thì giọt nước mưa như trục bánh
xe rơi xuống không ngừng, chẳng có bờ mé. Tuy
mưa xuống vô lượng như vậy, nhưng mây trọn không
cùng tận. Đây là đạo lý gì ? Vì rồng có thần
thông, đầy đủ diệu dụng, không cần tạo tác,
không cần miễn cưỡng, đây là cảnh giới tự nhiên
của các Long Vương.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, khi
trụ tam muội vô ngại luân này, vào hai mươi thứ
pháp môn của Bồ Tát Phổ Hiền tu. Những gì là hai
mươi ? Đó là :
1. Vào pháp môn tất cả tam muội.
2. Vào pháp môn nhất thiết trí
huệ.
3. Vào pháp môn tất cả pháp.
4. Vào pháp môn thấy tất cả chư
Phật.
5. Vào pháp môn đến mười phương.
6. Vào pháp môn tâm tự tại.
7. Vào pháp môn như trì chúng
sinh.
8. Vào pháp môn thần thông biến
hoá.
9. Vào pháp môn thần thông diệu
dụng.
10. Vào pháp môn như huyễn như
hoá.
11. Vào pháp môn tất cả các pháp
như huyễn hoá.
12. Vào pháp môn đầy dẫy bất khả
thuyết bất khả thuyết các Bồ Tát.
13. Vào pháp môn gần gũi Như Lai
chánh giác, nhiều bất khả thuyết bất khả thuyết
số hạt bụi cõi Phật (ba ngàn đại thiên thế giới
là một cõi Phật).
14. Vào pháp môn lưới huyễn rộng
lớn bất khả thuyết bất khả thuyết.
15. Vào pháp môn biết cõi Phật
rộng lớn khác biệt bất khả thuyết bất khả
thuyết.
16. Vào pháp môn biết thế giới có
thể tính và không có thể tính bất khả thuyết bất
khả thuyết.
17. Vào pháp môn biết chúng sinh
tưởng bất khả thuyết bất khả thuyết, do đó :
« Tất cả chúng sinh bao nhiêu thứ
tâm,
Bồ Tát đều biết đều thấy ».
18. Vào pháp môn thời kiếp khác
biệt bất khả thuyết bất khả thuyết.
19. Vào pháp môn biết thế giới
hoặc thành, hoặc trụ, hoặc hoại, hoặc không, bất
khả thuyết bất khả thuyết.
20. Vào pháp môn biết tất cả cõi
Phật úp, hoặc ngửa, bất khả thuyết bất khả
thuyết.
Ở trong một niệm, đều biết như
thật, khi nhập vào như vậy, không có bờ mé,
không có cùng tận, không mỏi, không nhàm, không
dứt, không ngừng, không thối, không mất.
Ở trong các pháp, chẳng trụ phi
xứ. Luôn tư duy chân chánh, không trầm, không
cử. Cầu nhất thiết trí, thường không lùi bỏ. Vì
tất cả cõi Phật đèn chiếu sáng thế gian, chuyển
bất khả thuyết bất khả thuyết pháp luân.
Dùng diệu biện tài, thưa hỏi Như
Lai, không khi nào cùng tận. Thị hiện thành Phật
đạo, không có bờ mé. Điều phục chúng sinh, luôn
không xả bỏ.
Thường siêng tu tập hạnh nguyện
Phổ Hiền, chưa từng ngừng nghỉ. Thị hiện bất khả
thuyết bất khả thuyết thân sắc tướng, không có
đoạn tuyệt. Tại sao ? Ví như đốt lửa, theo duyên
đã có, thì trong lúc đó, lửa cháy không ngừng.
Bồ Tát ở trong một niệm, đều biết
cảnh giới đó chân thật, giống như khi nhập vào
môn tam muội phổ huyễn như vậy. Tuy nhiên không
có bờ mé, không có cùng tận, nhưng không mệt
mỏi, không nhàm chán, không dứt tuyệt, không
ngừng nghỉ, cũng không thối chuyển bồ đề tâm,
cũng không mất đi bồ đề tâm.
Ở trong tất cả pháp, chẳng trụ
nơi phi pháp. Luôn luôn tư duy chân chánh, không
khởi vọng tưởng, cũng không hôn trầm, cũng không
trạo cử. Bồ Tát ngồi thiền không ngủ gục, tại
sao phàm phu ngồi thiền hay ngủ gục ? Vì tâm cầu
pháp không chân thật. Bồ Tát mỗi cử chỉ hành
động, đều theo quy cụ, không phóng dật. Phàm phu
thì ngược lại, cho rằng giữ quy cụ thì không
được tự do, cho nên giải đãi phóng đãng. Phải
hiểu rằng, sự tự do như thế, khi chết đi rồi thì
chẳng còn tự do nữa.
Bồ Tát vì cầu nhất thiết trí, cho
nên thường không lùi bỏ bồ đề tâm. Vì tất cả cõi
nước chư Phật, làm đèn sáng chiếu thế gian. Lại
thường chuyển bất khả thuyết bất khả thuyết pháp
luân. Dùng biện tài không thể nghĩ bàn, thưa hỏi
Như Lai thật tướng của tất cả các pháp, chẳng
khi nào cùng tận. Thị hiện chư Phật thành tựu
đạo bồ đề Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không
có bờ mé. Thời thời điều phục chúng sinh cang
cường, không khi nào xả bỏ. Điều là điều luyện
thân khẩu ý ba nghiệp, phục là chế phục tất cả
vọng tưởng. Vì chúng sinh cang cường, khó điều
khó phục, Bồ Tát xử dụng từ bi hỷ xả bốn vô
lượng tâm để điều phục. Sau đó, lại dùng bố thí,
ái ngữ, lợi hành, đồng sự, bốn pháp nhiếp để
nghiếp thọ, khiến cho chúng sinh phát bồ đề tâm,
cầu vô thượng đạo. Bồ Tát luôn luôn siêng tu tập
hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, chưa từng ngừng
nghỉ. Lại thị hiện bất khả thuyết bất khả thuyết
thân sắc tướng, không có khi nào đoạn tuyệt. Tại
sao phải như thế ? Là nguyên nhân gì ? Đưa ra
một ví dụ, giống như đốt lửa, phàm là có vật làm
duyên để đốt cháy, thì trong lúc đó, lửa cháy
lên không ngừng.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, quán
sát chúng sinh giới, pháp giới, thế giới, giống
như hư không, chẳng có bờ mé. Cho đến có thể ở
trong khoảng một niệm, đến chỗ chư Phật, nhiều
như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi
Phật.
Ở chỗ mỗi vị Phật, vào bất khả
thuyết bất khả thuyết nhất thiết trí đủ thứ pháp
khác biệt. Khiến cho bất khả thuyết bất khả
thuyết cõi chúng sinh, xuất gia vì đạo, siêng tu
căn lành, rốt ráo thanh tịnh. Khiến cho bất khả
thuyết bất khả thuyết Bồ Tát, chưa quyết định
nơi hạnh nguyện Phổ Hiền, được quyết định, an
trụ môn trí huệ Phổ Hiền.
Dùng vô lượng phương tiện, vào
bất khả thuyết bất khả thuyết ba đời kiếp thành
trụ hoại rộng lớn khác biệt. Nơi bất khả thuyết
bất khả thuyết cảnh giới thế gian thành trụ hoại
khác biệt, sinh khởi bấy nhiêu đại bi đại
nguyện, điều phục vô lượng tất cả chúng sinh,
đều khiến không sót thừa. Tại sao ? Vì đại Bồ
Tát này muốn độ thoát tất cả chúng sinh, tu hạnh
Phổ Hiền, sinh trí huệ Phổ Hiền, đầy đủ hết thảy
hạnh nguyện Phổ Hiền.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, hay
quán sát nhân duyên chúng sinh giới, hay quán
sát pháp giới, hay quán sát thế giới, giống như
hư không, chẳng có bờ mé. Cho đến có thể ở trong
khoảng một niệm, đến đạo tràng của chư Phật,
nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả
thuyết cõi Phật.
Ở chỗ đạo tràng của mỗi vị Phật,
vào bất khả thuyết bất khả thuyết pháp môn nhất
thiết trí đủ thứ pháp khác biệt. Hay khiến cho
bất khả thuyết bất khả thuyết cõi chúng sinh,
xuất gia tu đạo, tinh tấn siêng năng tu tập căn
lành, rốt ráo đắc được thanh tịnh, chẳng có chút
nhiễm ô nào. Hay khiến cho bất khả thuyết bất
khả thuyết Bồ Tát, đối với hạnh nguyện của Bồ
Tát Phổ Hiền tu, người chưa quyết định nơi hạnh
nguyện Phổ Hiền, thì đắc được trí huệ quyết
định, để tu hạnh nguyện Bồ Tát Phổ Hiền, an trụ
môn trí huệ Phổ Hiền.
Dùng vô lượng pháp môn phương
tiện khéo léo, vào bất khả thuyết bất khả thuyết
ba đời kiếp thành trụ hoại rộng lớn khác biệt.
Nơi bất khả thuyết bất khả thuyết cảnh giới thế
gian thành trụ hoại khác biệt, sinh khởi bất khả
thuyết bất khả thuyết tâm đại bi và tâm đại
nguyện, điều phục vô lượng vô biên tất cả chúng
sinh, khiến cho hết thảy chúng sinh đều được
giải thoát, chẳng có một chúng sinh nào mà không
được độ. Tại sao ? Vì vị đại Bồ Tát này, muốn độ
thoát tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, cho
nên tu hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, sinh ra
trí huệ của Bồ Tát Phổ Hiền, đầy đủ hết thảy tất
cả hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.
Do vậy các Bồ Tát, phải ở nơi
giống loại như vậy, cảnh giới như vậy, oai đức
như vậy, rộng lớn như vậy, vô lượng như vậy,
không thể nghĩ bàn như vậy, chiếu sáng khắp như
vậy, tất cả chư Phật hiện tiền trụ như vậy, được
tất cả Như Lai hộ niệm như vậy, thành tựu căn
lành thuở xưa như vậy, trong tam muội tâm vô
ngại chẳng động như vậy.
Siêng năng tu tập, lìa các nhiệt
não, chẳng có mỏi nhàm, tâm chẳng thối chuyển,
lập chí thâm sâu, dũng mãnh chẳng sợ. Tuỳ thuận
cảnh giới tam muội, vào trí địa khó nghĩ bàn,
chẳng nương văn tự, chẳng chấp thế gian, chẳng
thủ lấy các pháp, chẳng khởi phân biệt, chẳng
nhiễm trước việc đời, chẳng phân biệt cảnh giới.
Vì vậy cho nên tất cả các Bồ
Tát, phải đối với nơi giống loại như đã nói ở
trước, cảnh giới như đã nói, oai đức như đã nói,
nguyện lực rộng lớn, vô lượng pháp môn, cảnh
giới không thể nghĩ bàn, trí huệ quang minh Phật
pháp chiếu sáng khắp, tất cả chư Phật thị hiện
trụ nơi ba đời như vậy, được tất cả chư Phật hộ
niệm và gia trì như vậy, thành tựu căn lành thuở
xưa như vậy, tâm Bồ Tát không chướng, không
ngại, ở trong tam muội bất động như vậy.
Siêng năng tu tập pháp môn hạnh
nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền tu tập. Phải lìa khỏi
tất cả nhiệt não, chẳng có khi nào mệt mỏi và
nhàm chán. Bồ Tát vì pháp, tâm chẳng thối
chuyển, lập xuống chí nguyện thâm sâu, dũng mãnh
tinh tấn, tâm chẳng sợ hãi, mà được an vui. Tuỳ
thuận cảnh giới tam muội, vào trí địa không thể
nghĩ bàn, tức cũng là chứng nhập quả vị Phật Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bồ Tát chẳng nhất định y chiếu
theo văn tự để tu hành, chẳng chấp trước vào tất
cả pháp hữu vi thế gian, cũng chẳng thủ lấy tất
cả pháp nhiễm ô thế gian, cũng chẳng sinh khởi
tất cả tâm phân biệt, cũng chẳng nhiễm trước tất
cả việc đời, cũng chẳng phân biệt tất cả cảnh
giới.
Nơi các pháp trí, chỉ nên an trụ,
không nên so lường. Tức là : Gần gũi nhất thiết
trí, ngộ hiểu Phật bồ đề, thành tựu pháp quang
minh, thí cho tất cả chúng sinh căn lành.
Ở trong cõi ma, cứu chúng sinh
thoát khỏi, khiến cho họ được vào cảnh giới Phật
pháp, khiến cho không bỏ đại nguyện, siêng quán
đạo xuất thế, thêm rộng cảnh thanh tịnh, thành
tựu các độ. Nơi tất cả chư Phật, sinh tin hiểu
thâm sâu. Thường phải quán sát tất cả pháp tánh,
không lúc nào tạm bỏ.
Bồ Tát đối với tất cả các pháp và
nhất thiết trí, phải an trụ ở trong đó, không
nên so lường, pháp rốt ráo có bao nhiêu ? Trí
rốt ráo có bao nhiêu ? Không thể sinh tâm phân
biệt. Nghĩa là : Gần gũi nhất thiết trí huệ, ngộ
hiểu Phật bồ đề giác đạo, thành tựu pháp trí huệ
quang minh. Sau đó bố thí cho tất cả chúng sinh,
khiến cho họ căn lành tăng trưởng. Đối với chúng
sinh ở trong cõi ma, phải cứu họ thoát khỏi biển
phiền não nước sâu lửa nóng, khiến cho họ được
vào cảnh giới Phật pháp.
Trước khi chúng ta chưa xuất gia
phát bồ đề tâm, đều làm quyến thuộc của ma
vương, làm việc gì cũng đều có quan hệ với ma,
ví như ích kỷ lợi mình, đố kị chướng ngại, tranh
luận đệ nhất, nói thị phi, đều bị ma chỉ huy.
Cho nên nói chúng sinh là quyến thuộc của ma.
Nếu tu hành thì sẽ thành Phật; nếu không tu hành
tức là chúng sinh. Đây là hai con đường giữa ánh
sáng và đen tối, do chúng sinh tự mình lựa chọn.
Cứ hưởng thụ tài sắc danh ăn và ngủ năm dục, thì
vĩnh viễn làm chúng sinh. Nếu xuất gia tu đạo,
chỉ cần « Siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham
sân si », thì thẳng đến cảnh Niết Bàn bờ bên
kia.
Bồ Tát có tâm từ bi, từ trong
cảnh ma, cứu độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh
sớm được giác ngộ, chứng được cảnh giới Phật
pháp, khiến cho tất cả Bồ Tát và phàm phu không
xả bỏ đại nguyện đã phát, siêng năng quán sát
con đường thoát khỏi ba cõi, tăng trưởng cảnh
giới thanh tịnh rộng lớn, thành tựu mười pháp
môn Ba la mật. Đối với pháp của mười phương ba
đời tất cả chư Phật đã nói, phải sinh tâm tin
hiểu thâm sâu, phải thường quán sát tự tánh của
tất cả các pháp, không lúc nào không quán sát.
Nên biết thân mình và các pháp
tánh, thảy đều bình đẳng. Phải hiểu rõ việc làm
của thế gian, chỉ bày cho họ trí huệ phương tiện
đúng như pháp. Phải thường tinh tấn, không có
ngừng nghỉ.
Nên quán thân mình, căn lành kém
ít. Nên siêng năng tăng trưởng các căn lành cho
họ. Nên tự mình tu hành đạo nhất thiết trí. Nên
siêng năng tăng trưởng cảnh giới của Bồ Tát. Nên
thích gần gũi các thiện tri thức. Nên cùng ở với
người đồng hành. Đừng nên phân biệt Phật, đừng
nên xả lìa niệm.
Nên thường an trụ pháp giới bình
đẳng. Nên biết tất cả tâm thức như huyễn. Nên
biết thế gian các hành như mộng. Nên biết nguyện
lực xuất hiện ra đời của chư Phật, giống như
hình bóng. Nên biết tất cả các nghiệp rộng lớn,
giống như biến hoá.
Nên biết lời nói thảy đều như
tiếng vang. Nên quán tất cả các pháp như huyễn.
Nên biết tất cả pháp sinh diệt, đều như âm
thanh. Nên biết chỗ đến của tất cả cõi Phật, đều
không thể tánh. Nên thưa hỏi Như Lai về Phật
pháp, mà không sinh tâm mệt mỏi. Nên vì khai ngộ
tất cả chúng sinh thế gian, mà siêng năng dạy
bảo, không xả bỏ chúng sinh. Nên vì điều phục
tất cả chúng sinh, biết thời thuyết pháp, mà
không ngừng nghỉ.
Nên biết thân thể của mình và tự
tánh của các pháp, thảy đều bình đẳng. Nên minh
bạch hiểu rõ việc làm của thế gian, chỉ bày cho
họ pháp chân thật, pháp trí huệ phương tiện.
Phải thường tinh tấn học tập Phật pháp, không có
ngừng nghỉ. Nên quán sát thân mình, thuở xưa tu
căn lành rất ít. Nên siêng tăng trưởng tất cả
căn lành, chẳng những khiến cho mình tăng trưởng
căn lành, mà cũng khiến cho họ căn lành tăng
trưởng.
Nên tự mình tu hành đạo nhất
thiết trí, cũng nên khiến cho họ tu hành đạo
nhất thiết trí, đó là tư tưởng của Bồ Tát. Do
đó : « Tự giác giác tha, tự độ độ tha, tự lợi
lợi tha ». Tư tưởng của tiểu thừa là « Tự giác
chẳng giác tha, tự độ chẳng độ tha, tự lợi chẳng
lợi tha ». Đó là tác phong của tự liễu hán !
Nên siêng năng tăng trưởng cảnh
giới của Bồ Tát. Nên ưa thích gần gũi tất cả
thiện tri thức. Nên cùng tu hành với thiện tri
thức mà ở với nhau. Đừng nên phân biệt tất cả
chư Phật. Đừng nên xả lìa niệm Phật niệm Pháp
niệm Tăng. Nên thường an trụ trong pháp giới
bình đẳng. Nên biết tất cả tâm thức đều hư vọng
như huyễn như hoá. Nên biết thế gian tất cả các
hành không chân thật như mộng như bọt nước.
Nên biết chư Phật xuất hiện ra
đời, đều vì nguyện lực đã phát ra trong quá khứ,
giống như hình bóng. Nên biết tất cả các nghiệp
rộng lớn, giống như biến hoá. Nên biết lời nói,
đều như tiếng vang. Nên quán tất cả các pháp như
huyễn không thật. Nên biết tất cả pháp sinh
diệt, đều như âm thanh, hốt có hốt không. Nên
biết chỗ đến của tất cả cõi Phật, đều chẳng có
một thật thể. Nên thưa hỏi pháp mà Phật đã nói,
không sinh tâm mệt mỏi. Nên vì khai ngộ tất cả
chúng sinh thế gian, siêng năng dạy bảo, không
xả bỏ chúng sinh. Nên vì điều phục tất cả chúng
sinh, biết lúc nào vì chúng sinh thuyết pháp,
vĩnh viễn không ngừng nghỉ. Tóm lại, tuỳ thời
tuỳ lúc vì chúng sinh thuyết pháp, do đó :
« Quán căn cơ chúng sinh, vì người thuyết
pháp ».
Nhìn lại đoạn kinh văn này, chúng
ta người tu đạo, phải triệt để phản tỉnh lại, có
phải hằng ngày y chiếu theo Phật pháp tu hành ?
Có tâm đại công vô tư chăng ? Có tâm ích kỷ
chăng ? Những gì chúng ta làm mỗi ngày là lợi
ích chúng sinh hay là lợi ích chính mình ? Phải
kiểm thảo triệt để lại xem.
Nếu muốn lợi ích chúng sinh, thì
lợi ích chúng sinh như thế nào ? Có phải mỗi
ngày khởi vọng tưởng lợi ích chúng sinh ? Có
phải mỗi ngày tìm người nhiễu loạn họ để lợi ích
chúng sinh ? Mỗi ngày điên điên đảo đảo, chẳng
nhận ra được mình sai. Mỗi ngày cẩu cẩu thả thả,
chẳng chịu thành thật tu hành. Như vậy có thể
lợi ích chúng sinh chăng ? Chẳng hồi quang phản
chiếu, chẳng trở về cầu nơi chính mình, như vậy
có thể lợi ích chúng sinh chăng ? Những chỗ này
phải đặc biệt chú ý.
Nếu mỗi ngày chuyên vì mình mà
tính toán, thì sẽ lỗ vốn. Giống như buôn bán,
phải làm cho tiền vốn có lời. Nếu như chuyên làm
việc lợi ích cho người khác, mà không lợi mình,
như vậy, thì sự làm ăn (đức hạnh) càng làm càng
phát triển. Chúng ta học Phật pháp, chỉ có một
phương pháp, đó là cước đạp thật địa, thành thật
tu hành. Phải biết mình từ vô thuỷ đến nay, vì
có tâm tham sân si, cho nên tu hành một chút
cũng không có sự thành tựu.
Nếu tâm nhiễm ô quá nặng, tâm
thanh tịnh quá nhẹ, thì tu đến thuở vị lai, cũng
không thể thành công. Cho nên phải tu hạnh
nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Vì hạnh nguyện của
Bồ Tát Phổ Hiền, chẳng có tư tưởng ích kỷ, chẳng
có hành vi ích kỷ. Nếu như dùng tà tri tà kiến
để chi phối hành vi của mình, ngày ngày chướng
ngại người khác tu hành, thì nhất định sẽ đoạ
vào địa ngục vô gián, vĩnh viễn không ra khỏi.
Hy vọng mọi người phải đoàn kết
nhất chí, phải hoà bình với nhau, dùng tâm thành
đối đãi với nhau, dùng đức cảm hoá. Chúng ta đều
là người có nhân duyên, mới có thể cùng ở một
chỗ học tập tu hành Phật pháp. Đây là căn lành
đã gieo xuống nhiều đời nhiều kiếp, cho nên mới
không phân biệt chủng tộc, không phân biệt quốc
tịch, mọi người cùng nhau hoà thuận. Chuyên tâm
cùng nhau nghiên cứu Phật pháp, tụng kinh trì
chú, tham thiền đả toạ. Do đó « Bốn biển đều là
huynh đệ », cũng có thể nói toàn thế giới đều là
người một nhà. Ai ai cũng quan niệm như vậy, lấy
Đức Phật Thích Ca làm thầy, chúng ta đều là con
cháu của Ngài, thì hà tất phải đấu tranh, tranh
sáng đoạt tối, làm tổn thương hoà khí, trở thành
kẻ địch. Có câu nói, nói rất là có đạo lý :
« Chẳng nhìn Tăng mà nhìn mặt
Phật ».
Mọi người đều là đệ tử của Phật !
Phải trợ giúp lẫn nhau, chỉ dẫn lẫn nhau, đồng
tâm hiệp lực, phát triển Phật giáo, khiến cho
rộng lớn, đến khắp cùng các nơi trên thế giới,
làm cho lòng người hướng thiện, chấm dứt chiến
tranh. Mọi người phải sớm tiến về trước, hoàn
thành sứ mạng của chúng ta.
Phật tử ! Đại Bồ Tát tu hành hạnh
Phổ Hiền như vậy. Viên mãn cảnh giới Bồ Tát như
vậy. Thông đạt đạo xuất ly như vậy. Thọ trì pháp
ba đời của chư Phật như vậy. Quán sát môn nhất
thiết trí như vậy.
Tư duy pháp không biến đổi như
vậy. Sáng sạch tăng thượng chí ưa thích như vậy.
Tin hiểu tất cả Như Lai như vậy. Biết rõ Phật
lực rộng lớn như vậy. Quyết định tâm không
chướng ngại như vậy. Nhiếp thọ tất cả chúng sinh
như vậy.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát thời
thời tu hành hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền, nơi nơi
trợ giúp chúng sinh thành tựu Phật đạo. Hay làm
viên mãn cảnh giới của Bồ Tát, sẽ thông đạt đạo
thoát khỏi ba cõi, sẽ thọ trì pháp của ba đời
chư Phật đã nói, thọ nơi tâm, trì nơi thân, phải
tâm miệng như một, nói được thì làm được, đừng
có « Khẩu đầu thiền ». Nếu nói được mà làm không
được, cũng chẳng có ích gì. Tóm lại, bất cứ làm
những gì đều lợi ích người khác đó là Phật pháp;
còn làm những gì mà lợi ích chính mình, đó là ma
pháp. Chánh tà hai pháp, do thiện ác để quyết
định. Người thiện thì giúp người, còn kẻ ác thì
hại người, tâm ích kỷ tuyệt đối không thể có;
tâm cứu đời cứu người, tuyệt đối không thể không
có. Do đó : « Hy sinh tiểu ngã, mà thành tựu đại
ngã ». Phải có tinh thần như thế, thì mới thật
là Phật tử.
Giống như dùng quán sát trí để
quán sát môn nhất thiết trí, để tư duy pháp
không biển đổi, tức cũng là đừng thấy khác mà
nghĩ sai lệch, bị cảnh giới chuyển. Sáng sạch
trí huệ tăng trưởng căn lành, chí nguyện để tu
hành, đắc được cảnh giới khoái lạc. Tin ngưỡng
thấu hiểu pháp của tất cả chư Phật nói, để biết
rõ Phật có sức lực rộng lớn, để tâm tin quyết
định không có sự chướng ngại, để nhiếp thọ tất
cả chúng sinh, Bồ Tát tu hành hạnh Phổ Hiền, đắc
được mười một cảnh giới như vậy.
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát nhập vào
tam muội đại trí huệ, chỗ trụ của Bồ Tát Phổ
Hiền như vậy, thì mười phương đều có bất khả
thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi cõi nước,
đều có danh hiệu Như Lai nhiều như số hạt bụi
bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi danh
hiệu, đều có chư Phật nhiều như số hạt bụi bất
khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, hiện ra ở
trước.
Các vị Phật tử ! Khi đại Bồ Tát
nhập vào tam muội đại trí huệ, chỗ trụ của Bồ
Tát Phổ Hiền như vậy, thì mười phương đều có bất
khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Ở trong mỗi
cõi nước, lại có danh hiệu Như Lai nhiều như số
hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật.
Ở trong mỗi danh hiệu, lại có chư Phật nhiều như
số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi
Phật, thảy đều thị hiện ra ở trước Bồ Tát.
Ban cho niệm lực của Như Lai,
khiến cho không quên mất cảnh giới của Như Lai.
Ban cho tất cả pháp huệ rốt ráo,
khiến cho vào nhất thiết trí.
Ban cho biết tất cả pháp đủ thứ
nghĩa quyết định huệ, khiến cho thọ trì tất cả
Phật pháp, nhập vào vô ngại.
Ban cho Phật bồ đề vô thượng,
khiến cho vào nhất thiết trí, khai ngộ pháp
giới.
Ban cho huệ rốt ráo của Bồ Tát,
khiến cho đắc được tất cả pháp quang minh, không
có các đen tối.
Ban cho trí bất thối của Bồ Tát,
khiến cho biết thời, phi thời, phương tiện khéo
léo điều phục chúng sinh.
Ban cho biện tài không chướng
ngại của Bồ Tát, khiến cho ngộ hiểu vô biên
pháp, diễn nói vô tận.
Ban cho sức thần thông biến hoá,
khiến cho hiện bất khả thuyết bất khả thuyết
thân khác nhau, vô biên sắc tướng, đủ thứ sự
khác nhau, để khai ngộ chúng sinh.
Ban cho âm thanh viên mãn, khiến
cho hiện bất khả thuyết bất khả thuyết âm thanh
khác nhau đủ thứ lời lẽ, để khai ngộ chúng sinh.
Ban cho sức không luống bỏ, khiến
cho tất cả chúng sinh, hoặc được thấy thân hình,
hoặc được nghe pháp, thảy đều thành tựu, không
có luống qua.
Có bất khả thuyết chư Phật, thị
hiện ở trước vị đại Bồ Tát này. Ban cho mười sức
trí huệ:
1. Ban cho niệm lực của Như Lai,
khiến cho không quên mất cảnh giới của Như Lai.
2. Ban cho tất cả pháp trí huệ
rốt ráo, khiến cho Ngài chứng nhập vào nhất
thiết trí.
3. Ban cho biết tất cả pháp đủ
thứ nghĩa lý, trí huệ quyết định, khiến cho Ngài
thọ trì tất cả Phật pháp, nhập vào pháp môn
không chướng ngại.
4. Ban cho Phật bồ đề giác đạo vô
thượng, khiến cho Ngài vào nhất thiết trí, khai
ngộ pháp giới tất cả chúng sinh.
5. Ban cho huệ rốt ráo của Bồ
Tát, khiến cho Ngài đắc được tất cả pháp quang
minh, chiếu phá tất cả đen tối.
6. Ban cho trí huệ bất thối của
Bồ Tát, khiến cho Ngài biết thời thuyết pháp,
hoặc chẳng phải thời thuyết pháp, phương tiện
khéo léo để điều phục tất cả chúng sinh.
7. Ban cho biện tài không chướng
ngại của Bồ Tát, khiến cho Ngài khai ngộ thấu
hiểu vô biên Phật pháp, diễn nói vô tận diệu
pháp.
8. Ban cho sức thần thông biến
hoá, khiến cho Ngài hiện ra bất khả thuyết bất
khả thuyết thân khác nhau, vô lượng vô biên sắc
tướng, đủ thứ sự khác nhau, để khai ngộ tất cả
chúng sinh.
9. Ban cho âm thanh viên mãn vô
ngại, khiến cho Ngài hiện ra bất khả thuyết bất
khả thuyết âm thanh khác nhau, đủ thứ lời lẽ
khác nhau, để khai ngộ tất cả chúng sinh.
10. Ban cho sức không luống bỏ,
khiến cho tất cả chúng sinh, hoặc được thấy thân
hình Bồ Tát, hoặc nghe được pháp âm của Bồ Tát,
thảy đều thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, không có luống qua, nghĩa là không thể nào
không đắc được lợi ích. Tóm lại, phàm là thấy
được tướng của Bồ Tát, nghe được pháp của Bồ
Tát, đều thành Phật đạo.
Phật
tử! Vì đại Bồ Tát đầy đủ hạnh Phổ Hiền như vậy,
nên đắc được lực của Như Lai, thanh tịnh đạo
xuất ly, viên mãn nhất thiết trí. Dùng biện tài
vô ngại, thần thông biến hoá, rốt ráo điều phục
tất cả chúng sinh, đủ oai đức của Phật, thanh
tịnh hạnh Phổ Hiền, trụ đạo Phổ Hiền. Hết thuở
vị lai, vì muốn điều phục tất cả chúng sinh,
chuyển bánh xe pháp vi diệu của tất cả chư Phật.
Tại sao?
Các vị Phật tử! Vì đại Bồ Tát tu hành như vậy,
nên viên mãn đầy đủ hạnh Bồ Tát Phổ Hiền như
vậy, nên đắc được lực của Như Lai gia bị, thanh
tịnh đạo xuất ly ba cõi, viên mãn nhất thiết
trí. Dùng biện tài vô ngại, thần thông biến hoá
vô ngại, rốt ráo điều phục được tất cả chúng
sinh. Đầy đủ đại oai đức của Phật, thanh
tịnh hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu, trụ đạo của Bồ
Tát Phổ Hiền tu. Hết thuở vị lai, vì muốn điều
phục tất cả chúng sinh, mà chuyển bánh xe pháp
vi diệu của tất cả chư Phật. Đây là nguyên nhân
gì?
Phật
tử! Đại Bồ Tát này thành tựu các hạnh Bồ Tát đại
nguyện thù thắng như vậy: Là pháp sư của tất cả
thế gian. Là mặt trời pháp của tất cả thế gian.
Là mặt trăng trí huệ của tất cả thế gian. Là núi
chúa Tu Di của tất cả thế gian, cao lớn vòi vọi,
kiên cố bất động. Là biển trí không bờ của tất
cả thế gian. Là đèn sáng chánh pháp của tất cả
thế gian, chiếu khắp vô biên, liên tục không
dứt.
Vì tất cả chúng sinh khai thị vô biên công đức
thanh tịnh, đều khiến cho họ an trụ nơi công đức
căn lành. Tuỳ thuận nhất thiết trí đại nguyện
bình đẳng. Tu tập hạnh Phổ Hiền rộng lớn. Thường
hay khuyến phát vô lượng chúng sinh, trụ bất khả
thuyết bất khả thuyết tam muội hạnh rộng lớn,
hiện đại tự tại.
Các vị Phật tử! Vị đại Bồ Tát này, Ngài dùng đủ
thứ căn lành, thành tựu hạnh của tất cả Bồ Tát
tu và đại nguyện thù thắng như đã nói ở trước,
Ngài thành tựu đại nguyện và đại hạnh: Là đại
pháp sư của tất cả thế gian. Là mặt trời pháp
của tất cả thế gian. Là mặt trăng trí huệ của
tất cả thế gian, cũng là mặt trăng mát mẻ. Là
núi chúa Tu Di của tất cả thế gian, vì cao lớn
vòi vọi, hơn hẳn tất cả các núi khác, kiên cố
bất động. Là biển trí không bờ bến của tất cả
thế gian. Là đèn sáng chánh pháp của tất cả thế
gian, chiếu khắp mười phương vô biên thế giới,
liên tục không gián đoạn.
Vì tất cả chúng sinh khai thị vô biên công đức
thanh tịnh, khiến cho tất cả chúng sinh an trụ
nơi tất cả công đức căn lành. Tuỳ thuận nhất
thiết trí huệ, tất cả đại nguyện đều bình đẳng.
Tu tập hạnh Bồ Tát Phổ Hiền rộng lớn. Thường
khuyến phát vô lượng chúng sinh, trụ bất khả
thuyết bất khả thuyết tam muội đại hạnh Bồ Tát
Phổ Hiền rộng lớn, thị hiện thần thông biến hoá
đại tự tại.
Phật
tử! Đại Bồ Tát này trí huệ như vậy, chứng pháp
như vậy, nơi pháp như vậy, suy xét trụ thấy rõ.
Đắc được thần lực như vậy, trụ cảnh giới như
vậy, hiện thần biến như vậy, khởi thần thông như
vậy. Thường an trụ đại bi, thường lợi ích chúng
sinh, khai thị chúng sinh an ổn chánh đạo, kiến
lập phước trí tràng đại quang minh. Chứng được
giải thoát không nghĩ bàn, trụ nơi giải thoát
nhất thiết trí, đến bờ giải thoát bên kia của
chư Phật.
Học môn phương tiện giải thoát không nghĩ bàn.
Đã được thành tựu vào môn pháp giới khác biệt,
chẳng có tán loạn. Nơi bất khả thuyết bất khả
thuyết tam muội Phổ Hiền, du hí tự tại. Trụ nơi
trí huệ sư tử phấn tấn, tâm ý vô ngại.
Các vị Phật tử! Vị đại Bồ Tát này, đắc được
trí huệ như vậy, chứng được pháp môn như vậy.
Đối với pháp này, suy xét chứng được trí huệ
thấy rõ. Đắc được thần lực không thể nghĩ bàn,
trụ nơi cảnh giới không thể nghĩ bàn, hiện ra
thần biến không thể nghĩ bàn, sinh khởi thần
thông không thể nghĩ bàn. Thường thường an trụ
tâm đại bi, luôn luôn lợi ích tất cả chúng sinh,
khiến cho họ phát tâm bồ đề, thường thường khai
thị tất cả chúng sinh, an ổn trụ nơi bồ đề chánh
đạo, kiến lập phước trí tràng đại quang minh.
Chứng được giải thoát không nghĩ bàn. Trụ nơi
giải thoát nhất thiết trí, đến được bờ giải
thoát bên kia của tất cả chư Phật. Học tập môn
phương tiện giải thoát không nghĩ bàn, đã được
thành tựu vào môn pháp giới khác biệt. Pháp môn
tuy rất nhiều, nhưng chẳng có tán loạn. Đối với
bất khả thuyết bất khả thuyết tam muội của Bồ
Tát Phổ Hiền, nhậm vận du hí tự tại. Trụ nơi trí
huệ sư tử phấn tấn, tâm ý đều không có sự chướng
ngại.
Tâm
Bồ Tát thường trụ nơi mười đại pháp tạng. Những
gì là mười? Đó là: Trụ vào sự nghĩ nhớ tất cả
chư Phật. Trụ vào sự nghĩ nhớ tất cả Phật pháp.
Trụ nơi đại bi điều phục tất cả chúng sinh. Trụ
nơi trí huệ không nghĩ bàn thị hiện cõi nước
thanh tịnh. Trụ nơi quyết định giải vào sâu cảnh
giới của chư Phật.
Trụ nơi tướng bồ đề bình đẳng của tất cả chư
Phật quá khứ vị lai hiện tại. Trụ nơi bờ mé
không chướng ngại, không chấp trước. Trụ nơi tất
cả pháp tánh vô tướng. Trụ nơi căn lành bình
đẳng của tất cả chư Phật quá khứ vị lai hiện
tại. Trụ nơi trí tiên đạo thân miệng ý pháp giới
không khác biệt của tất cả Như Lai quá khứ, vị
lai, hiện tại. Trụ vào sát na tế, quán sát tất
cả chư Phật ba đời, thọ sinh, xuất gia, đến đạo
tràng, thành Chánh Giác, chuyển pháp luân, vào
Niết Bàn.
Vị đại Bồ Tát này, tâm của Ngài thường trụ ở
trong mười đại pháp tạng. Những gì là mười đại
pháp tạng? Đó là:
1. Thường trụ nghĩ nhớ danh hiệu của tất cả mười
phương chư Phật.
2. Thường trụ nghĩ nhớ pháp của tất cả mười
phương chư Phật.
3. Thường trụ tâm đại bi, để điều phục tất cả
chúng sinh, khiến cho chúng sinh thành tựu Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
4. Thường trụ trí huệ thị hiện cõi nước thanh
tịnh không thể nghĩ bàn.
5. Thường trụ quyết định giải vào sâu cảnh giới
của tất cả chư Phật.
6. Thường trụ tướng bồ đề bình đẳng của tất cả
chư Phật đời quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại.
7. Thường trụ nơi bờ mé không chướng ngại, không
chấp trước.
8. Thường trụ nơi tất cả pháp vô tánh, vô tướng.
9. Thường trụ nơi căn lành bình đẳng của tất cả
chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.
10. Thường trụ nơi trí tiên đạo thân miệng ý,
pháp giới không khác biệt của tất cả chư Phật
quá khứ, vị lai, hiện tại. Hoàn toàn vào sát na
tế, quán sát tất cả chư Phật ba đời, thọ sinh,
xuất gia, đến đạo tràng, thành Chánh Giác,
chuyển pháp luân, vào Niết Bàn.
Phật
tử! Mười đại pháp tạng này rộng lớn vô lượng,
bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả
thuyết, vô cùng tận, khó nhẫn thọ. Tất cả trí
huệ thế gian, không thể xưng tán tường thuật hết
được.
Các vị Phật tử! Mười đại pháp tạng này, rộng lớn
vô lượng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư,
bất khả thuyết, vô cùng tận, khó nhẫn thọ. Hết
thảy tất cả trí huệ thế gian, không cách chi tán
thán khen ngợi, tường thuật hết được.
Phật tử! Đại Bồ Tát này đã đến được bờ bên kia
các hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền. Chứng được pháp
thanh tịnh, chí lực rộng lớn. Khai thị chúng
sinh vô lượng căn lành, tăng trưởng tất cả thế
lực của Bồ Tát. Trong khoảng niệm niệm, đầy đủ
tất cả công đức của Bồ Tát, thành tựu tất cả các
hạnh của Bồ Tát, đắc được pháp đà la ni của tất
cả chư Phật, thọ trì pháp của tất cả chư Phật
nói. Tuy thường an trụ chân như thật tế, mà tuỳ
thuận tất cả lời nói của thế tục, thị hiện điều
phục tất cả chúng sinh. Tại sao? Vì đại Bồ Tát
trụ tam muội này, pháp như vậy.
Các vị Phật tử! Vị đại Bồ Tát này, đã đến được
bờ bên kia tất cả các hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền
tu. Chứng được pháp thanh tịnh, chí lực rộng lớn
vô biên. Khai thị tất cả chúng sinh, đắc được vô
lượng căn lành, tăng trưởng tất cả oai đức thế
lực của Bồ Tát tu. Trong khoảng mỗi một niệm,
đầy đủ tất cả công đức của Bồ Tát tu, thành tựu
hết thảy tất cả hạnh của Bồ Tát, đắc được pháp
đà la ni của tất cả chư Phật, thọ trì pháp của
tất cả chư Phật nói. Tuy thường an trụ ở trong
chân như thật tế, mà có thể tuỳ thuận tất cả lời
nói của thế tục. Thị hiện điều phục tất cả chúng
sinh cang cường. Tại sao? Vì khi đại Bồ Tát trụ
nơi tam muội Vô ngại luân, cho nên pháp như vậy.
Phật
tử! Đại Bồ Tát nhờ tam muội này, mà đắc được trí
rộng lớn của tất cả chư Phật. Được biện tài tự
tại khéo nói tất cả pháp rộng lớn. Được pháp vô
uý thanh tịnh thù thắng nhất trong tất cả thế
gian. Được trí huệ vào tất cả tam muội. Được
phương tiện khéo léo của tất cả Bồ Tát. Được môn
quang minh của tất cả các pháp. Đến được bờ bên
kia an ổn tất cả thế gian pháp. Biết tất cả
chúng sinh thời, phi thời. Chiếu mười phương thế
giới tất cả mọi nơi, khiến cho tất cả chúng sinh
được thắng trí. Làm Vô thượng sư của tất cả thế
gian, an trụ nơi tất cả các công đức, khai thị
cho tất cả chúng sinh tam muội thanh tịnh, khiến
cho họ vào trí huệ tối thượng. Tại sao?
Các vị Phật tử! Đại Bồ Tát nhờ trụ vào tam muội
này, mà đắc được mười thứ cảnh giới. Những gì là
mười?
1. Đắc được hết thảy trí huệ rộng lớn của tất cả
chư Phật.
2. Đắc được phương tiện khéo léo, biện tài vô
ngại nhậm vận tự tại, để nói tất cả Phật pháp
rộng lớn.
3. Đắc được pháp vô uý thanh tịnh thù thắng nhất
trong tất cả thế gian.
4. Đắc được trí huệ vào tất cả tam muội.
5. Đắc được pháp môn có đủ phương tiện khéo léo
của tất cả Bồ Tát.
6. Đắc được môn quang minh của tất cả các pháp.
7. Đến được bờ bên kia an ổn tất cả thế gian
pháp.
8. Biết tất cả chúng sinh thời, phi thời.
9. Chiếu mười phương thế giới tất cả mọi nơi,
khiến cho tất cả chúng sinh được trí huệ thù
thắng.
10. Làm vô thượng sư của tất cả thế gian, an trụ
nơi tất cả các công đức, khai thị cho tất cả
chúng sinh đắc được tam muội thanh tịnh, khiến
cho họ vào trí huệ tối thượng. Tại sao?
Vì
đại Bồ Tát tu hành như vậy, thì lợi ích chúng
sinh, tăng trưởng đại bi, gần gũi thiện tri
thức, thấy được tất cả chư Phật, thấu rõ tất cả
các pháp, đến được tất cả cõi Phật, vào được tất
cả phương, vào tất cả thế gian, ngộ tất cả pháp
tánh bình đẳng, biết tất cả chư Phật tánh bình
đẳng, trụ nhất thiết trí tánh bình đẳng.
Đại Bồ Tát tu hành tất cả Bồ Tát đạo như vậy,
thì có mười thứ cảnh giới, những gì là mười? Đó
là:
1. Hay lợi ích tất cả chúng sinh.
2. Hay tăng trưởng đại bi.
3. Hay gần gũi thiện tri thức.
4. Hay thấy được tất cả chư Phật.
5. Hay thấu rõ tất cả Phật pháp.
6. Hay đến được tất cả cõi nước chư Phật.
7. Hay vào tất cả địa phương.
8. Hay vào tất cả thế gian.
9. Hay ngộ tánh bình đẳng của tất cả pháp.
10. Hay biết tánh bình đẳng của tất cả chư Phật,
thì trụ nhất thiết trí tánh bình đẳng.
Ở
trong pháp đó, tạo nghiệp như vậy, chẳng tạo
nghiệp khác. Trụ tâm chưa đủ, trụ tâm chẳng tán
loạn, trụ tâm chuyên nhất, trụ tâm siêng tu, trụ
tâm quyết định, trụ tâm chẳng biến đổi. Tư duy
như vậy, tạo nghiệp như vậy, rốt ráo như vậy.
Ở trong pháp đó, tạo nghiệp thanh tịnh, chẳng
tạo nghiệp nhiễm ô. Trụ tâm vì pháp chưa đầy đủ,
trụ tâm chẳng tán loạn, trụ tâm chuyên nhất, trụ
tâm siêng tu hành, trụ tâm quyết định, trụ tâm
chẳng biến đổi. Bồ Tát tư duy như vậy, tạo
nghiệp như vậy, rốt ráo như vậy, tức cũng là
pháp môn tu hành, đều làm đến cực điểm.
Phật
tử! Đại Bồ Tát không nói khác, làm khác, mà nói
như thật, làm thật. Tại sao?
Các vị Phật tử! Đại Bồ Tát chẳng nói hai lời,
chẳng làm hai dạng. Những lời nói ra, đều như
pháp, việc làm đều hợp pháp. Đây là nguyên nhân
gì? Ở dưới đây có đưa ra mười ví dụ để nói rõ.
1. Ví dụ kim cang bất hoại.
2. Ví dụ sắc đẹp vàng thật.
3. Ví dụ ánh sáng mặt trời.
4. Ví dụ bốn ngọn núi Tu Di.
5. Ví dụ đại địa giữ gìn.
6. Ví dụ biển cả chứa nước.
7. Ví dụ tướng quân khai chiến.
8. Ví dụ luân vương hộ đời.
9. Ví dụ cây trồng lớn lên.
10. Khi mưa sinh giống.
Ví
như kim cang, nhờ không thể hoại mà được tên,
trọn không khi nào lìa khỏi sự bất hoại. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, nhờ tu hành các pháp mà
được tên, trọn không khi nào lìa khỏi tu hành
các pháp.
Giống như kim cang, ví nó kiên cố, không dễ gì
phá hoại, cho nên được tên là kim cang, trọn
không khi nào phá hoại được. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, vì tu lục độ vạn hạnh, mà được tên là
Bồ Tát, trọn không khi nào lìa khỏi lục độ vạn
hạnh.
Ví
như vàng thật, nhờ có màu sắc đẹp mà được tên,
trọn không khi nào lìa khỏi màu sắc đẹp. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, nhờ các nghiệp lành mà
được tên, trọn không khi nào lìa khỏi các nghiệp
lành.
Giống như vàng thật, nhờ màu sắc đẹp của nó mà
khiến cho mọi người ưa thích, cho nên được tên
là vàng thật, trọn không khi nào lìa khỏi màu
sắc đẹp. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vì làm tất
cả nghiệp lành, để lợi ích tất cả chúng sinh,
cho nên được tên là Bồ Tát, trọn không khi nào
lìa khỏi tất cả nghiệp lành.
Ví
như mặt trời, nhờ ánh sáng mà được tên, trọn
không khi nào lìa khỏi ánh sáng. Đại Bồ Tát cũng
lại như thế, nhờ trí huệ quang minh mà được tên,
trọn không khi nào lìa khỏi trí huệ quang minh.
Giống như mặt trời, nhờ có ánh sáng chiếu khắp
thế gian, khiến cho tất cả đều được lợi ích, cho
nên gọi là mặt trời, trọn không khi nào lìa khỏi
ánh sáng. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vì có trí
huệ quang minh, cho nên được tên Bồ Tát, trọn
không khi nào lìa khỏi trí huệ quang minh.
Ví như núi chúa Tu Di, nhờ bốn ngọn núi báu, ở
tại biển cả, cao lớn sừng sững mà được tên, trọn
không khi nào lìa khỏi bốn ngọn núi. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, nhờ các căn lành, ở tại thế
gian, cao lớn vòi vọi mà được tên, trọn không
khi nào lìa khỏi căn lành.
Giống như núi chúa Tu Di, có bốn ngọn núi báu, ở
giữa biển cả, cao lớn sừng sững mà được tên,
trọn không khi nào lìa khỏi bốn ngọn núi. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, nhờ các căn lành, ở tại
thế gian, cao lớn vòi vọi hơn tất cả chúng sinh,
mà được tên Bồ Tát, trọn không khi nào lìa khỏi
tất cả căn lành.
Ví như đại địa, nhờ giữ gìn tất cả vạn vật mà
được tên, trọn không khi nào lìa khỏi năng giữ.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, nhờ độ tất cả mà
được tên, trọn không khi nào lìa khỏi đại bi.
Giống như đại địa, nhờ giữ gìn tất cả vạn vật,
mà được tên là đại địa, trọn không khi nào lìa
khỏi năng giữ. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, nhờ
độ thoát tất cả chúng sinh, cho nên được tên là
Bồ Tát, trọn không khi nào lìa khỏi tâm đại bi.
Ví như biển cả, nhờ chứa các dòng nước mà được
tên, trọn không khi nào lìa khỏi nước. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, nhờ các đại nguyện mà được
tên, trọn không khi nào tạm lìa khỏi nguyện độ
chúng sinh.
Giống như biển cả, vì nó dung chứa tất cả các
dòng nước, cho nên được tên là biển cả, trọn
không khi nào lìa khỏi nước. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, nhờ tất cả các đại nguyện cứu chúng
sinh thọ khổ, cho nên được tên Bồ Tát, trọn
không khi nào tạm lìa khỏi nguyện độ chúng sinh.
Ví như tướng quân, nhờ giỏi tập luyện phương
pháp chiến đấu mà được tên, trọn không khi nào
lìa khỏi tài năng này. Đại Bồ Tát cũng lại như
thế, nhờ giỏi tu tập tam muội như vậy mà được
tên, cho đến thành tựu trí huệ nhất thiết trí,
trọn không khi nào lìa khỏi hạnh này.
Giống như tướng quân, ở trong trận mạc, quyết
thắng ngoài ngàn dặm, đều thắng lợi, đi đến đâu
thắng đến đó, bách chiến bách thắng. Hiểu rõ
thao lược tôn tử binh pháp. Vì thích chiến đấu,
cho nên được tên là đại tướng quân, trọn không
khi nào lìa khỏi khoa sự như thần, chưa bói đã
biết trước. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, nhờ
giỏi tu tập tam muội như vậy mà được tên Bồ Tát,
cho đến thành tựu trí huệ nhất thiết trí, trọn
không khi nào lìa khỏi từ bi hỉ xả bốn tâm vô
lượng.
Ví như Chuyển Luân Vương, thống trị bốn thiên
hạ, thường siêng bảo hộ tất cả chúng sinh, khiến
cho không hoạnh tử, luôn được an lạc. Đại Bồ Tát
cũng lại như thế, vào các đại tam muội như thế,
thường siêng hoá độ tất cả chúng sinh, cho đến
khiến cho họ rốt ráo được thanh tịnh.
Giống như Chuyển Luân Thánh Vương, thống trị bốn
thiên hạ, thường siêng bảo hộ tất cả chúng sinh,
khiến cho hết thảy chúng sinh không có tai nạn
hoạnh tử, luôn luôn được an lạc vô tỉ. Đại Bồ
Tát cũng lại như thế, vào các đại tam muội như
thế, thường siêng giáo hoá độ thoát tất cả chúng
sinh, cho đến khiến cho tất cả chúng sinh, rốt
ráo được thanh tịnh.
Ví như hạt giống gieo trồng xuống đất, cho đến
hay làm cho cành lá lớn lên. Đại Bồ Tát cũng lại
như thế, tu hạnh Phổ Hiền, cho đến hay khiến cho
tất cả chúng sinh tăng trưởng pháp lành.
Giống như hạt giống gieo trồng xuống đất, cho
đến hay làm cho nảy mầm, sinh rễ, ra cành lá lớn
lên, nở hoa, kết trái, lớn lên dần dần mà thành
thục. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tu hạnh của
Bồ Tát Phổ Hiền tu, cho đến hay khiến cho tất cả
chúng sinh, ngày càng tăng trưởng hết thảy pháp
lành.
Ví như mây lớn, tháng mùa hè nóng nực, đổ mưa
lớn xuống, cho đến tăng trưởng tất cả hạt giống.
Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vào các đại tam
muội như vậy, tu hạnh Bồ Tát, mưa đại pháp vũ.
Cho đến hay khiến cho tất cả chúng sinh rốt ráo
được thanh tịnh. Rốt ráo được Niết Bàn. Rốt ráo
được an ổn. Rốt ráo đến bờ bên kia. Rốt ráo hoan
hỉ. Rốt ráo dứt nghi.
Vì các chúng sinh làm ruộng phước rốt ráo. Khiến
cho nghiệp bố thí của họ đều được thanh tịnh.
Khiến cho họ đều trụ đạo bất thối chuyển. Khiến
cho họ đồng được trí nhất thiết trí. Khiến cho
họ đều được thoát khỏi ba cõi. Khiến cho họ đều
được trí rốt ráo. Khiến cho họ đều được pháp rốt
ráo của chư Phật Như Lai. Đặt để chúng sinh nơi
nhất thiết trí. Tại sao?
Giống như mây lớn, tháng mùa hè nóng nực, thường
đổ mưa lớn xuống, cho đến tăng trưởng tất cả hạt
giống. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, vào các đại
tam muội như vậy, tu hạnh của Bồ Tát tu, mưa đại
pháp vũ, đánh trống pháp lớn, thổi loa pháp lớn,
chuyển đại pháp luân, giáo hoá tất cả chúng
sinh.
Cho đến hay khiến cho tất cả chúng sinh rốt ráo
đắc được pháp thanh tịnh, lìa khỏi pháp nhiễm ô,
tức cũng là đắc được giới định huệ ba học, lìa
khỏi tham sân si ba độc, khiến cho tất cả chúng
sinh rốt ráo được Niết Bàn, tức cũng là không
sinh không diệt, đắc được thường, lạc, ngã,
tịnh, bốn đức. Khiến cho tất cả chúng sinh rốt
ráo được an ổn, chẳng có mọi phiền não. Khiến
cho tất cả chúng sinh rốt ráo đến được bờ bên
kia, chẳng còn thọ khổ trong luân hồi. Khiến cho
tất cả chúng sinh rốt ráo được hoan hỉ. Khiến
cho tất cả chúng sinh rốt ráo dứt được nghi.
Bồ Tát vì hết thảy chúng sinh làm ruộng phước
rốt ráo, khiến cho tất cả chúng sinh chẳng chấp
tướng bố thí, chẳng chấp tướng thọ, đều được
thanh tịnh. Khiến cho tất cả chúng sinh đều trụ
nơi giác đạo A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Khiến cho tất cả chúng sinh đồng được trí nhất
thiết trí. Khiến cho tất cả chúng sinh đều được
thoát khỏi nhà lửa ba cõi. Khiến cho tất cả
chúng sinh đều được trí huệ rốt ráo. Khiến cho
tất cả chúng sinh đều được pháp yếu rốt ráo của
chư Phật. Đặt để chúng sinh nơi nhất thiết trí.
Tại sao phải như vậy?
Vì đại Bồ Tát thành tựu pháp này, trí huệ sáng
tỏ, mà vào môn pháp giới, hay thanh tịnh vô
lượng các hạnh không thể nghĩ bàn của Bồ Tát. Đó
là:
Hay tịnh các trí, vì cầu nhất thiết trí. Hay
tịnh chúng sinh, vì khiến cho điều phục. Hay
tịnh cõi nước, vì thường hồi hướng. Hay tịnh các
pháp, vì khắp biết rõ. Hay tịnh chẳng sợ, vì
chẳng khiếp sợ. Hay tịnh vô ngại biện, vì khéo
diễn nói. Hay tịnh đà la ni, vì nơi tất cả pháp
được tự tại. Hay tịnh hạnh gần gũi, vì thường
thấy tất cả chư Phật ra đời.
Vì đại Bồ Tát thành tựu pháp này, trí huệ đã
sáng tỏ, mà vào môn pháp giới, cho nên hay thanh
tịnh vô lượng các hạnh không thể nghĩ bàn của Bồ
Tát. Đó là: Hay thanh tịnh nhất thiết trí, vì
cầu được nhất thiết trí huệ. Hay thanh tịnh tất
cả chúng sinh, vì khiến cho chúng sinh cang
cường bị điều phục. Hay tịnh tất cả cõi nước, vì
thường hồi hướng công đức, cầu trang nghiêm cõi
nước thanh tịnh. Hay thanh tịnh tất cả các pháp,
vì khắp biết rõ. Hay thanh tịnh không sợ, vì có
đức hạnh, cho nên chẳng khiếp sợ. Hay thanh tịnh
vô ngại biện, vì khéo léo diễn nói tất cả các
pháp. Hay thanh tịnh đà la ni, vì trong tất cả
pháp được tự tại. Hay thanh tịnh hạnh gần gũi
chư Phật, vì thường thấy tất cả chư Phật xuất
hiện ra đời.
Phật
tử! Đại Bồ Tát trụ tam muội này, đắc được trăm
ngàn ức Na do tha bất khả thuyết bất khả thuyết,
công đức thanh tịnh như vậy. Vì trong các cảnh
giới tam muội như vậy được tự tại. Vì được tất
cả chư Phật gia bị. Vì nhờ sức căn lành của mình
mà ra. Vì vào bậc trí huệ đại oai lực. Vì nhờ
sức các thiện tri thức dẫn đường. Vì sức hàng
phục tất cả các ma. Vì sức đồng phận căn lành
thuần tịnh. Vì sức thệ nguyện ưa thích rộng lớn.
Vì sức trồng căn lành thành tựu. Vì sức vô đối
của phước vô tận vượt qua các thế gian.
Các vị Phật tử! Khi đại Bồ Tát trụ tam muội vô
ngại luân, đắc được trăm ngàn ức na do tha bất
khả thuyết bất khả thuyết công đức thanh tịnh
như vậy.
Bồ Tát đối với tam muội này, đắc được mười thứ
lực. Những gì là mười?
1. Vì đắc được cảnh giới tam muội nhậm vận tự
tại.
2. Vì được tất cả chư Phật gia bị.
3. Vì nhờ sức căn lành thuở xưa của mình mà ra.
4. Vì vào bậc trí huệ có đại oai lực.
5. Vì nhờ sức các thiện tri thức dẫn đường.
6. Vì sức hàng phục tất cả các ma.
7. Vì sức đồng phận căn lành thuần tịnh.
8. Vì sức thệ nguyện ưa thích rộng lớn.
9. Vì sức trồng căn lành thành tựu.
10. Vì sức vô đối của phước vô tận vượt qua các
thế gian.
Bồ Tát phát bốn hoằng thệ nguyện:
"Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành".
Chúng ta là người học Phật pháp, cũng phải phát
bốn đại nguyện này, mỗi ngày phải y chiếu bốn
đại nguyện này mà thực hành, thì mới có sự tiến
bộ. Bằng không, miệng đọc thuộc làu, nhưng chẳng
thực hành, thì chẳng có chút ích lợi gì. Chẳng
những không thể độ chúng sinh, mà cho đến chính
mình cũng cứu không được. Nay giải thích sơ lược
bốn đại nguyện này:
Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ: Trước hết phải
hồi quang phản chiếu, tự mình hỏi mình, độ được
chúng sinh chưa? Nếu có độ chúng sinh, nhưng
đừng có chấp trước vào tướng chúng sinh. Trong
Kinh Kim Cang có nói:
"Tôi phải diệt độ tất cả chúng
sinh
Diệt độ tất cả chúng sinh rồi,
Mà không có một chúng sinh thật
được diệt độ".
Ý nghĩa này dạy mọi người đừng chấp trước vào
công đức của mình, đừng chấp trước vào tướng độ
chúng sinh, do đó:
"Độ sinh lìa tướng, lìa tướng độ
sinh".
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn: Trước hết phải
phản tỉnh, nhìn xem phiền não của mình đã dứt
chưa? Hiện nay nói thật với các vị, phiền não
của tôi cũng chưa dứt, nhưng muốn dứt phiền não.
Nói ra thật là xấu hổ, giảng kinh nhiều năm rồi,
mà vô minh vẫn chưa phá, phiền não vẫn chưa dứt,
thật có lỗi các vị, cho nên phiền não của các vị
cũng rất nhiều.
Song, tôi sớm đã từng nói với các vị: "Tôi muốn
hoá duyên với các vị, muốn hoá duyên lớn, chẳng
hoá duyên nhỏ". Thế nào là duyên lớn? Tức là
không hình không tướng. Thế nào là duyên nhỏ?
Nghĩa là có hình có tướng. Nóng giận phiền não
là không hình không tướng; tiền bạc châu báu là
có hình có tướng. Mười mấy năm trước tôi đã từng
nói qua: "Hãy đem nóng giận phiền não của quý
vị, bố thí hết cho tôi". Tôi hoan hỉ phiền não,
tôi muốn ăn cơm phiền não, tôi muốn mặc y phiền
não, tôi muốn ở nhà phiền não, tôi muốn ngồi toà
phiền não, nhưng các vị không để ý đến, không bố
thí bỏ được, vẫn giữ lại để chính mình dùng. Bất
cứ xuất gia bao nhiêu năm? Nếu không bố thí
phiền não, thì vĩnh viễn không thể chứng đạo.
Làm thế nào không có phiền não? Thì phải xem tất
cả chúng sinh đều là Phật. Nếu trực tiếp đối với
tất cả chúng sinh sinh phiền não, cũng giống như
gián tiếp đối với tất cả chư Phật mà sinh phiền
não. Chúng ta là đệ tử của Phật, không thể đối
với Phật sinh phiền não, cho nên phải dứt trừ
phiền não.
Người nào không chịu bố thí phiền não? Đó là
người ngu. Người có trí huệ, thì không có phiền
não. Tôi thường nói:
"Mọi việc đều đi qua
Nóng giận khó hoá giải
Thật không sinh nóng giận
Tức được báu vô giá.
Lại đừng có oán người
Mọi việc đều tốt đẹp
Phiền não vĩnh không sinh
Oan nghiệt biết đâu tìm!
Thường nhìn người không đúng
Khổ của mình chẳng dứt".
Mấy câu này đã nói với quý vị nhiều lần, nhưng
các vị coi như gió thoảng qua tai, chẳng lưu lại
trong tâm, nói xong quên mất, qua rồi không nhớ
nữa.
Tại sao hay có phiền não? Vì có nghiệp chướng,
có oan nghiệt. Trong vô lượng kiếp đến nay, giết
cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hoà hợp Tăng,
làm thân Phật chảy máu – phạm tội ngũ nghịch.
Tóm lại, phàm là ở trong Tăng đoàn, đâm thọc ly
gián, nói thị nói phi, khiến cho Tỳ Kheo nghi
ngờ, thậm chí tạo ra đủ thứ việc không tốt, đó
là phá hoà hợp tăng. Nếu phá hoại quy cụ trong
đạo tràng, khiến cho đạo tràng không được an ổn,
tạo ra nhiều việc phiền não, đó là làm thân Phật
chảy máu. Tạo năm tội ngũ nghịch này, nghĩ muốn
tu hành, thì những tội nghiệt này tìm đến nhiễu
loạn, khiến cho bạn không thể tĩnh tâm tu hành,
vọng tưởng lung tung, phiền não trùng trùng.
Người có bệnh hoạn, là vì có nghiệp chướng, oan
nghiệt đến tác quái, khiến cho tinh thần của bạn
hoảng hốt, không tự làm chủ được. Phàm là người
mạnh khoẻ, là do chẳng tạo oan nghiệt.
Vì trong quá khứ chúng ta chẳng giữ năm giới,
chẳng làm mười điều lành, cho nên chẳng có căn
lành. Đời này muốn phát bồ đề tâm, nhưng ma lại
đến nhiễu loạn. Vậy, phải làm bằng cách nào? Hãy
mau sám hối sửa lỗi làm con người mới, tâm bình
khí hoà, sửa lỗi triệt để, làm mới triệt để. Nên
nhớ! Không thể nửa sửa, nửa không sửa, đó là
hành vi gạt chính mình. Tu hành phải chân đạp
xuống đất, không thể xen tạp thành phần hư nguỵ
ở trong tâm. Tu đạo tức là tu thành thật, do đó:
"Tâm thành tức linh", tâm thành đến cực điểm thì
sẽ có cảm ứng. Nhà Nho có nói: "Tinh thành sở
chí, kim thạch vi khai".
Chúng ta lúc nào cũng phải kiểm thảo chính mình,
xem thử phiền não đã dứt chưa? Nếu chưa dứt thì
sớm dứt trừ, còn nếu đã dứt thì đừng để nó sinh
ra nữa. Phiền não là thứ tệ nhất, phiền thân não
tâm, là đá buộc chân người tu đạo.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Mỗi ngày các
vị đến nghe kinh, nghiên cứu Phật pháp, song
danh tướng cũng không nhớ.
- Hỏi: Thế nào là tứ niệm xứ? Tôi không biết.
- Hỏi: Thế nào là ngũ căn? Có phải hôm qua tôi
đốt hương ngũ căn chăng?
- Hỏi: Thế nào là lục độ? Con người của tôi
chẳng có sáu cái bụng!
- Hỏi: Thế nào là bát chánh đạo? Đại khái là tám
con đường!
- Hỏi: Thế nào là thập lực? Có phải là mười sức
lực chăng!
- Lại hỏi: Thế nào là mười tám pháp bất cộng?
Lại không biết. Một hỏi ba không biết, đến học
Phật pháp như vậy có tiến bộ chăng!
Pháp môn thì vô lượng, thử hỏi mình học chưa?
Nếu chưa học, thì hãy mau học. Nếu đã học rồi,
thì càng phải học cho nhiều. Phải dũng mãnh tinh
tấn, siêng học Phật pháp, thì tương lai có thể
trợ giúp Phật hoằng pháp, hoàn thành nhiệm vụ là
Phật giáo đồ. Bằng không, "Thư đáo dụng thời
phương hận thiếu", đến lúc dùng, hậu hối cũng
không kịp. "Sự phi kinh quá bất tri nan". Nghe
người ta giảng kinh thuyết pháp, cảm thấy rất dễ
dàng. Song, khi mình giảng thì mới biết mùi vị
của nó chẳng đơn giản, phải trải qua một phen
công phu khổ cực, thì mới được thắng lợi, không
thể làm á dương tăng.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành: Lời nguyện
này phải nương vào công phu thật để thành tựu,
chẳng phải nói suông, mà là thực hành. Nói mà
làm không được, thì vĩnh viễn không thể thành
đạo. Tự mình hỏi mình Phật đạo đã thành chưa?
Nếu chưa thành, thì hãy mau y pháp tu hành,
tương lai nhất định sẽ thành Phật đạo.
Bốn hoằng thệ nguyện này, các vị phải ghi nhớ mà
thực hành, đừng cô phụ mục đích mỗi ngày đến
nghe kinh. Nghe kinh là vì khai ngộ, khai ngộ
mới có thể thành Phật, cho nên nói Phật đạo vô
thượng thệ nguyện thành.
Phật tử! Đại Bồ Tát trụ tam muội này, được mười
pháp, đồng với tất cả chư Phật quá khứ, vị lai,
hiện tại. Những gì là mười?
Đó là: Được các tướng tốt đủ thứ sự trang
nghiêm, đồng với chư Phật. Hay phóng lưới đại
quang minh thanh tịnh, đồng với chư Phật. Thần
thông biến hoá điều phục chúng sinh, đồng với
chư Phật. Vô biên sắc thân thanh tịnh viên âm,
đồng với chư Phật. Tuỳ chúng sinh nghiệp, hiện
tịnh cõi Phật, đồng với chư Phật.
Hết thảy lời lẽ của tất cả chúng sinh, đều nhiếp
trì được không quên, không mất, đồng với chư
Phật. Vô tận biện tài, tuỳ tâm chúng sinh mà
chuyển pháp luân, khiến cho sinh trí huệ, đồng
với chư Phật. Đại sư tử hống, không khiếp sợ,
dùng vô lượng pháp, khai ngộ quần sinh, đồng với
chư Phật.
Trong khoảng một niệm, dùng đại thần thông vào
khắp ba đời, đồng với chư Phật. Khắp hiển bày
cho tất cả chúng sinh biết, sự trang nghiêm của
chư Phật, oai lực của chư Phật, cảnh giới của
chư Phật, đồng với chư Phật.
Các vị Phật tử! Khi đại Bồ Tát trụ tam muội vô
ngại luân, đắc được mười pháp, đồng với tất cả
chư Phật đời quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại.
Những gì là mười? Đó là:
1. Bồ Tát đắc được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, đủ
thứ sự trang nghiêm, đồng với chư Phật.
2. Bồ Tát hay phóng lưới đại quang minh thanh
tịnh ở trong hư không, đồng với chư Phật.
3. Bồ Tát dùng thần thông biến hoá để điều phục
tất cả chúng sinh, đồng với chư Phật.
4. Bồ Tát có vô biên sắc thân và viên âm thanh
tịnh, đồng với chư Phật. Phật có tám âm:
a. Âm cực tốt.
b. Âm nhẹ nhàng.
c. Âm hài hoà.
d. Âm êm tai.
e. Âm chẳng phải người nữ.
f. Âm chẳng lầm.
g. Âm sâu xa.
h. Âm chẳng hết được.
5. Bồ Tát tuỳ nghiệp của chúng sinh tạo ra, mà
hiện cõi Phật thanh tịnh, đồng với chư Phật.
6. Bồ Tát đối với hết thảy lời lẽ của tất cả
chúng sinh, như phi cầm có lời lẽ của phi cầm,
tẩu thú có lời lẽ của tẩu thú, cá rùa có lời lẽ
của cá rùa, côn trùng có lời lẽ của côn trùng.
Tóm lại, phi tiềm động thực, đều có lời lẽ của
chúng. Tất cả lời lẽ Bồ Tát đều nhiếp trì, không
quên không mất, đồng với chư Phật.
7. Biện tài của Bồ Tát như nước sông lớn chảy,
thao thao bất tuyệt, chẳng có khi nào cùng tận.
Bồ Tát có trí huệ phương tiện khéo léo, tuỳ
thuận tâm niệm của chúng sinh, mà thường chuyển
đại pháp luân, khiến cho chúng sinh đắc được trí
huệ, đồng với chư Phật.
8. Bồ Tát có oai lực của đại sư tử hống, trong
Chứng Đạo Ca có nói :
"Sư tử hống, vô uý thuyết.
Bách thú văn chi giai não liệt,
Hương tượng bôn ba thất cước uy,
Thiên long tịch thính sinh hân
duyệt",
Chẳng có khi nào khiếp sợ. Dùng vô lượng pháp
môn, để khai ngộ tất cả chúng sinh, khiến cho
chúng sinh bỏ mê về giác, bỏ tà theo chánh, thân
tâm kiện khang, tư tưởng thuần chánh, đồng với
chư Phật.
9. Bồ Tát trong khoảng một niệm, dùng đại oai
thần thông lực vào khắp cảnh giới ba đời vô
ngại, đồng với chư Phật. Có thể đem ba đời dời
đi, đời quá khứ tuy đã quá khứ, song có thể dời
đến hiện tại. Hiện tại tuy không ngừng, song có
thể dời đến vị lai. Đời vị lai tuy chưa đến,
song có thể dời về quá khứ. Lý luận cảnh giới
này là của bậc trí, người thế tục khó mà tin
được. Tại sao ? Vì sự chấp trước của người thế
tục quá sâu, cho rằng quá khứ tức là quá khứ,
hiện tại tức là hiện tại, vị lai tức là vị lai.
Làm sao mà dời đổi được ? Làm đảo lộn thời gian,
đâu có lý này !
Người thế tục không hiểu được đạo lý ba đời vô
ngại. Thật ra mà nói, vốn chẳng có quá khứ,
chẳng có vị lai, chẳng có hiện tại. Bất quá, tâm
chấp trước của chúng sinh khởi phân biệt mà
thôi. Ở trong đại viên cảnh trí của chư Phật, ba
đời không phân biệt. Ở trong thức A lại da của
chúng sinh, ba đời có sự phân biệt. Cho nên,
trong Kinh Kim Cang nói :
"Tâm quá khứ bất khả đắc
Tâm hiện tại bất khả đắc
Tâm vị lai bất khả đắc".
Đó là đạo lý thấu rõ ba tâm bất khả đắc, tức
cũng là dạy con người đừng chấp trước, đừng có
tâm phân biệt. Phải có tư tưởng viên dung vô
ngại. Do đó : "Dọc bao thái hư, ngang khắp sa
giới", phóng tâm lượng rộng lớn.
10. Bồ Tát khắp hiển bày cho tất cả chúng sinh,
biết sự trang nghiêm của chư Phật, oai lực của
chư Phật, cảnh giới của chư Phật, tất cả tất cả
đồng với chư Phật, chẳng có gì khác biệt.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Nhãn bạch với Bồ Tát Phổ Hiền
rằng : Phật tử ! Đại Bồ Tát này được pháp như
vậy, đồng với các Như Lai, sao chẳng gọi là
Phật ? Sao chẳng gọi là bậc Thập lực ? Sao chẳng
gọi là bậc Nhất thiết trí ? Sao chẳng gọi là bậc
được bồ đề trong trong tất cả pháp ? Sao chẳng
gọi là bậc thấy khắp ? Sao chẳng gọi là bậc thấy
vô ngại trong tất cả cảnh ? Sao chẳng gọi là bậc
giác tất cả pháp ? Sao chẳng gọi bậc trụ không
hai với ba đời chư Phật ? Sao chẳng gọi bậc trụ
thật tế ? Tại sao tu hành hạnh nguyện Phổ Hiền
chưa từng ngừng nghỉ ? Tại sao không thể rốt ráo
pháp giới xả Bồ Tát đạo ?
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Nhãn bèn nói với Bồ Tát Phổ
Hiền rằng : "Đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát này
đắc được đủ thứ pháp như vậy, đồng với cảnh giới
của chư Phật, chẳng có khác biệt. Song, tại sao
chẳng phải là Phật ? Tôi thật chẳng minh bạch.
Xin nhân giả từ bi, chỉ thị mười một vấn đề dưới
đây, trả lời rõ ràng những vấn đề này tại sao ?
1. Tại sao chẳng gọi là Phật ?
2. Tại sao chẳng gọi là bậc Thập lực ?
3. Tại sao chẳng gọi là bậc Nhất thiết trí ?
4. Tại sao chẳng gọi là bậc Được bồ đề trong
trong tất cả pháp ?
5. Tại sao chẳng gọi là bậc Thấy khắp ?
6. Tại sao chẳng gọi là bậc Thấy rõ viên dung vô
ngại trong tất cả cảnh giới ?
7. Tại sao chẳng gọi là bậc Giác ngộ tất cả
pháp ?
8. Tại sao chẳng gọi là bậc Trụ không hai với ba
đời chư Phật ?
9. Tại sao chẳng gọi là bậc Trụ thật tế lý thể ?
10. Tại sao vị đại Bồ Tát này, tu hành hạnh
nguyện của Phổ Hiền chưa từng ngừng nghỉ ? Tức
nhiên đồng với chư Phật, phải nên ngừng nghỉ,
không cần tu hành nữa.
11. Tại sao vị đại Bồ Tát này, không thể rốt ráo
pháp giới các pháp thật tướng ? Chưa xả bỏ đạo
của Bồ Tát tu ? Tức nhiên vẫn tu Bồ Tát đạo, làm
sao đồng với chư Phật ?
Bồ Tát Phổ Nhãn Ngài đương nhiên minh bạch mười
một vấn đền này, nhưng vì nghĩ đến đại chúng
trong pháp hội Hoa Nghiêm, và tất cả chúng sinh
tương lai, nên thỉnh Bồ Tát Phổ Hiền giải đáp.
Đây tức là tinh thần của Bồ Tát, nguyện làm ảnh
hưởng chúng, thay thế chúng sinh để thỉnh pháp.
Bấy
giờ, Bồ Tát Phổ Hiền nói với Bồ Tát Phổ Nhãn
rằng : Lành thay Phật tử ! Như lời Ngài hỏi, nếu
đại Bồ Tát này đồng với tất cả chư Phật, tại sao
chẳng gọi là Phật, cho đến không thể xả bỏ Bồ
Tát đạo ?
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền nói với Bồ Tát Phổ Nhãn
rằng : "Lành thay ! Lành thay ! Đệ tử của Phật !
Như lời Ngài hỏi, nếu đại Bồ Tát này đồng với
tất cả chư Phật, tại sao chẳng gọi là Phật, cho
đến không thể xả bỏ Bồ Tát đạo ?"
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này, đã tu tập đủ thứ hạnh
nguyện của tất cả Bồ Tát đời quá khứ, vị lai,
hiện tại, vào cảnh giới trí huệ, tức gọi là
Phật. Ở chỗ Như Lai tu hạnh Bồ Tát, không có
ngừng nghỉ, gọi là Bồ Tát.
Các lực của Như Lai, thảy đều đã vào, tức gọi là
thập lực. Tuy thành mười lực, thực hành hạnh Phổ
Hiền mà không ngừng nghỉ, gọi là Bồ Tát.
Biết tất cả pháp mà hay diễn nói, gọi là nhất
thiết trí. Tuy hay diễn nói tất cả các pháp, nơi
mỗi mỗi pháp tư duy khéo léo, chưa từng ngừng
nghỉ, gọi là Bồ Tát.
Biết tất cả pháp không có hai tướng, tức gọi là
ngộ tất cả pháp. Nơi đạo tất cả các pháp sai
biệt, hai mà chẳng hai, khéo léo quán sát, triển
chuyển tăng thắng, không có ngừng nghỉ, gọi là
Bồ Tát.
Đã thấy rõ cảnh giới phổ nhãn, gọi là phổ nhãn.
Tuy chứng được cảnh giới phổ nhãn, niệm niệm
tăng trưởng, chưa từng ngừng nghỉ, gọi là Bồ
Tát.
Nơi tất cả pháp, thảy đều chiếu rõ, lìa các ám
chướng, gọi là thấy vô ngại. Bậc thấy vô ngại
thường siêng nghĩ nhớ, gọi là Bồ Tát.
Phật tử ! Xin chú ý lắng nghe, nay tôi sẽ nói rõ
ràng về mười một vấn đền này.
1. Đại Bồ Tát này, đã tu hành học tập đủ thứ
hạnh nguyện của tất cả Bồ Tát quá khứ, vị lai,
hiện tại, ba đời, vào cảnh giới nhất thiết trí
huệ, liền gọi là Phật. Song, ở chỗ chư Phật vẫn
tu hạnh Bồ Tát, không có lúc nào ngừng nghỉ, cho
nên gọi là Bồ Tát.
2. Vị đại Bồ Tát này, đối với mười lực của chư
Phật, thảy đều chứng được, liền gọi là thập lực.
Tuy đã thành tựu thập lực, nhưng vẫn phải tu
hành hạnh môn của Bồ Tát Phổ Hiền, chẳng có lúc
nào ngừng nghỉ, cho nên gọi là Bồ Tát.
3. Vị đại Bồ Tát này, biết tất cả các pháp, minh
bạch tất cả nghĩa, hay vì tất cả chúng sinh diễn
nói nghĩa lý diệu pháp, liền gọi là nhất thiết
trí. Tuy hay diễn nói tất cả các pháp, nhưng ở
trong mỗi thứ pháp, dùng thiện xảo để tư duy,
chưa từng dừng lại, hoặc ngừng nghỉ, cho nên gọi
là Bồ Tát.
4. Vị đại Bồ Tát này, biết tất cả các pháp,
không có hai tướng, dù một tướng cũng không có,
tức gọi là ngộ tất cả pháp. Vì đối với đạo lý
hai tướng chẳng tướng, phân biệt tất cả các
pháp, dùng thiện xảo để quán sát, triển chuyển
tăng thắng, không có lúc nào ngừng nghỉ, cho nên
gọi là Bồ Tát.
5. Vị đại Bồ Tát này, đã thấy rõ cảnh giới phổ
nhãn, tức gọi là phổ nhãn. Tuy chứng được cảnh
giới phổ nhãn, nhưng niệm niệm tăng trưởng, vẫn
phải hướng về trước cầu tiến bộ, chưa từng ngừng
nghỉ, cho nên gọi là Bồ Tát.
6. Vị đại Bồ Tát này, đối với tất cả các pháp,
thảy đều chiếu rõ, lìa khỏi tất cả ám chướng,
cho nên gọi là thấy vô ngại. Vì Bồ Tát thường
siêng nghĩ nhớ tất cả chư Phật, cho nên gọi là
Bồ Tát.
Đã được mắt trí huệ của chư Phật, tức gọi là
giác ngộ tất cả pháp. Quán các Như Lai chánh
giác trí nhãn, mà chẳng phóng dật, gọi là Bồ
Tát.
Trụ chỗ Phật trụ, với Phật không hai, gọi là bậc
trụ với Phật không hai. Được Phật nhiếp thọ, tu
các trí huệ, gọi là Bồ Tát.
Thường quán tất cả thế gian thật tế, tức gọi là
bậc trụ thật tế. Tuy thường quán sát các pháp
thật tế, mà không chứng nhập, cũng không xả lìa,
gọi là Bồ Tát.
Chẳng đến, chẳng đi, chẳng đồng, chẳng khác, sự
phân biệt này thảy đều vĩnh viễn diệt trừ, tức
gọi là bậc nghỉ ngơi nguyện. Tu tập rộng lớn,
viên mãn bất thối, tức gọi là bậc chưa nghỉ
nguyện Phổ Hiền. Biết rõ pháp giới không có bờ
mé, tất cả các pháp, một tướng vô tướng, tức gọi
là rốt ráo pháp giới xả Bồ Tát đạo.
Tuy biết pháp giới không có bờ mé, mà biết đủ
thứ tất cả tướng khác nhau, khởi tâm đại bi, độ
các chúng sinh, hết thuở vị lai, không có mệt
mỏi, tức gọi là Bồ Tát Phổ Hiền.
7.Vị đại Bồ Tát này, đã chứng được mắt trí huệ
của chư Phật, tức gọi là giác ngộ tất cả pháp.
Vì mắt quán sát chánh giác trí huệ của tất cả
chư Phật, mà chẳng phóng dật, lúc nào cũng tinh
tấn, ở đâu cũng đều giữ quy cụ, cho nên gọi là
Bồ Tát.
8. Vị đại Bồ Tát này, trụ cảnh giới chỗ của Phật
trụ, với Phật không hai, gọi là bậc trụ với Phật
không hai. Vì được Phật nhiếp thọ, tu tập nhất
thiết trí huệ, cho nên gọi là Bồ Tát.
9. Vị đại Bồ Tát này, thường quán sát chân thật
lý thể của tất cả thế gian, tức gọi là bậc trụ
thật tế. Tuy thường quán sát các pháp thật tế,
mà không chứng nhập thật tế lý thể, cũng không
xả lìa chân thật lý thể, cho nên gọi là Bồ Tát.
10. Vị đại Bồ Tát này, chẳng đến, chẳng đi,
chẳng đồng, chẳng khác, sự phân biệt này, vĩnh
viễn diệt trừ, tức gọi là bậc nghỉ ngơi nguyện.
Vì Bồ Tát tu tập rộng lớn hạnh nguyện Phổ Hiền,
viên mãn bất thối, tức gọi là bậc chưa nghỉ
nguyện Phổ Hiền.
11. Vị đại Bồ Tát này, biết rõ pháp giới chẳng
có bờ mé, tất cả các pháp, một tướng vô tướng,
tức gọi là rốt ráo pháp giới xả Bồ Tát đạo. Tuy
biết pháp giới không có bờ mé, mà biết có đủ thứ
tất cả tướng khác nhau, khởi tâm đại bi, nguyện
độ tất cả chúng sinh, dù hết thuở vị lai, cũng
không có mệt mỏi, cũng không nhàm chán, cho nên
gọi là Bồ Tát Phổ Hiền.
Phật
tử ! Ví như voi chúa Y La Bát Na, ở núi Kim Hiếp
trong hang bảy báu. Hang đó chu vi đều dùng bảy
báu làm lan can. Cây đa la báu thứ tự thẳng
hàng. Lưới La bằng vàng thật che phủ phía trên.
Thân voi trắng khiết giống như ngọc kha tuyết,
phía trên dựng tràng bằng vàng, chuỗi bằng vàng,
lưới báu trùm vòi, linh báu thòng xuống. Thất
chi thành tựu, đầy đủ sáu ngà, đoan chánh sung
mãn, người thấy rất vui thích. Điều thuận lương
thiện, tâm không trái nghịch.
Các vị Phật tử ! Giống như voi chúa Y la bát na
(hương diệp), ở núi Kim Hiếp trong hang bảy báu.
Chu vi hang đó đều dùng bảy báu làm lan can, rất
là trang nghiêm. Lại có rất nhiều cây đa la báu,
thứ tự rất thẳng hàng, nhìn trái cũng thẳng
hàng, nhìn phải cũng thẳng hàng. Lại có lưới La
làm bằng vàng thật che phủ phía trên hang báu.
Thân voi chúa đó màu rất trắng khiết, giống như
ngọc kha tuyết, phía trên có tràng bằng vàng,
chuỗi làm bằng vàng. Lại có lưới báu trùm vòi,
linh báu thòng xuống, thất chi (bốn chân, đầu,
âm, đuôi) thành tựu, đầy đủ sáu ngà. Chẳng những
đoan chánh, mà còn sung mãn, người thấy rất vui
thích. Tánh tình của voi chúa điều thuận lương
thiện, bất cứ sự việc gì, tâm cũng không trái
nghịch mà không vui. Tóm lại, đều tuỳ thuận tâm
ý của chủ nhân (Thích Đề Hoàn Nhân), nghe sự
điều khiển, phục tùng mệnh lệnh.
Nếu
như trời Đế Thích sắp muốn đi du hành, thì bấy
giờ voi chúa liền biết ý của trời Đế Thích, bèn
từ hang báu ẩn hình, đến trước Đế Thích trời Đao
Lợi. Dùng sức thần thông biến hiện đủ thứ, khiến
cho thân nó hiện ra ba mươi hai đầu. Trên mỗi
đầu hoá hiện ra bảy ngà. Mỗi cái ngà hoá làm bảy
ao nước, trong mỗi ao nước có bảy hoa sen, trên
mỗi hoa sen có bảy thể nữ. Nhất thời đều tấu lên
trăm ngàn nhạc trời.
Bấy giờ, trời Đế Thích bèn ngồi lên voi báu, từ
điện Nan Thắng đi đến vườn hoa. Hoa phân đà lợi
đầy khắp trong đó. Lúc đó, Đế Thích đến vười hoa
rồi, từ voi chúa đi xuống, vào trong điện Tất Cả
Báu Trang Nghiêm, có vô lượng thể nữ theo hầu
đờn ca múa hát, thọ các sự khoái lạc.
Bấy giờ, voi chúa lại dùng thần thông, ẩn thân
voi, hiện ra thân trời, cùng với trời Đế Thích,
và các thể nữ, ở trong vườn hoa phân đà lợi vui
chơi. Thân tướng hiện ra, ánh sáng y phục, tới
lui nói cười nhìn ngắm, đều giống như chư Thiên
không khác, không thể phân biệt được là voi,
hoặc là chư Thiên. Voi và chư Thiên đều giống
nhau.
Nếu như trời Đế Thích (Thích Đề Hoàn Nhơn) nghĩ
muốn đi du hành, thì bấy giờ voi chúa liền biết
ý của trời Đế Thích, bèn từ hang báu ẩn hình,
đến trước Đế Thích trời Đao Lợi. Bèn dùng sức
thần thông biến hoá ra đủ thứ, khiến cho thân nó
đồng thời hiện ra ba mươi hai cái đầu. Trên mỗi
cái đầu hoá hiện ra bảy ngà. Trên mỗi cái ngà
đều hoá hiện bảy ao nước, trong mỗi ao nước đều
có bảy hoa sen báu lớn, trên mỗi hoa sen báu lớn
đó, lại hoá hiện ra bảy thể nữ. Nhất thời đều
tấu lên trăm ngàn thứ nhạc trời.
Bấy giờ, trời Đế Thích bèn ngồi lên voi báu
trắng lớn, từ điện Nan Thắng đi đến vườn hoa
thưởng ngoạn. Trong vườn hoa có hoa phân đà lợi
(hoa sen trắng) đầy khắp trong đó, hoa sen trắng
khiết, một bụi không nhiễm. Lúc đó, trời Đế
Thích đến vười hoa rồi, từ voi chúa trắng báu đi
xuống, đến điện Tất Cả Báu Trang Nghiêm. Có vô
lượng thể nữ theo hầu, đờn ca múa hát, thọ các
sự khoái lạc.
Bấy giờ, voi chúa lại dùng đủ thứ thần thông, ẩn
mất thân voi, hiện ra thân trời, cùng với trời
Đế Thích và tất cả thể nữ, ở trong vườn hoa phân
đà lợi cùng nhau vui chơi thưởng ngoạn. Voi chúa
trắng lớn hiện ra thân hình, ánh sáng y phục,
tới lui nói cười nhìn ngắm, đủ thứ hành động,
đều giống như người trời không khác, không ai có
thể phân biệt được nó là voi chúa trắng lớn biến
hoá ra người. Vì nó biến hoá ra người và người
trời giống nhau, không cách chi phân biệt được
thật giả.
Phật
tử ! Voi chúa Y La Bát Na đó, ở tại núi Kim Hiếp
trong động bảy báu, chẳng có sự biến hoá. Đến
trên trời Tam Thập Tam, vì muốn cúng dường Thích
Đề Hoàn Nhân, mà hoá ra đủ thứ vật vui thích,
thọ sự khoái lạc của chư Thiên, với chư Thiên
không khác.
Phật tử ! Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tu tập
hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, và các tam
muội, dùng các châu báu làm đồ trang nghiêm. Bảy
bồ đề phần làm thân Bồ Tát, phóng ra quang minh
dùng làm lưới. Kiến lập pháp tràng lớn, đánh
chung pháp lớn. Đại bi làm hang, đại nguyện kiên
cố dùng làm y. Trí huệ vô uý như sư tử, lụa pháp
quấn đầu, khai thị bí mật, đến được hạnh nguyện
bờ bên kia của các Bồ Tát.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát cũng lại như thế, tu
tập hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, và đủ thứ
các tam muội khác nữa, dùng đủ thứ các châu báu
làm đồ trang nghiêm. Bảy bồ đề phần làm thân của
Bồ Tát, phóng ra quang minh dùng làm lưới la.
Kiếp lập pháp tràng lớn, đánh chung pháp lớn.
Dùng tâm đại bi làm hang bảy báu, dùng đại
nguyện kiên cố làm y. Trí huệ vô uý oai lực dũng
mãnh như sư tử, dùng lụa pháp để quấn đầu, khai
thị pháp bí mật, đến được hạnh nguyện bờ bên kia
của các Bồ Tát tu.
Vì
muốn an xứ toà bồ đề, thành tựu nhất thiết trí,
đắc được tối Chánh Giác. Tăng trưởng hạnh nguyện
Phổ Hiền rộng lớn, không lùi không nghỉ, không
dứt không bỏ, đại bi tinh tấn, hết thuở vị lai,
độ thoát tất cả phiền não chúng sinh, chẳng bỏ
đạo Phổ Hiền.
Hiện thành tối Chánh Giác, hiện bất khả thuyết
bất khả thuyết môn thành Chánh Giác. Hiện bất
khả thuyết bất khả thuyết môn chuyển pháp luân.
Hiện bất khả thuyết bất khả thuyết môn trụ thâm
tâm. Tại bất khả thuyết bất khả thuyết cõi nước
rộng lớn, hiện môn Niết Bàn biến hoá.
Bồ Tát vì muốn an xứ toà bồ đề, cho đến thành
tựu nhất thiết trí, đắc được quả vị tối Chánh
Giác. Tăng trưởng hạnh nguyện Phổ Hiền rộng lớn,
vĩnh viễn không thối lùi, vĩnh viễn không nghỉ
ngơi, cũng không đoạn tuyệt, cũng không xả bỏ.
Đại từ bi thường tinh tấn, hết thuở vị lai, độ
thoát tất cả chúng sinh khổ não, khiến cho họ
được an lạc.
Bồ Tát cũng chẳng xả bỏ đạo của Bồ Tát Phổ Hiền
tu, thị hiện thành tựu tối thượng Chánh Giác.
Hiện ra bất khả thuyết bất khả thuyết pháp môn
thành Chánh Giác. Lại hiện ra bất khả thuyết bất
khả thuyết pháp môn chuyển đại pháp luân. Lại
hiện ra bất khả thuyết bất khả thuyết pháp môn
trụ thâm tâm. Tại bất khả thuyết bất khả thuyết
cõi nước rộng lớn, hiện ra pháp môn Niết Bàn
biến hoá.
Tại
bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới khác
nhau, mà hiện thọ sinh, tu hạnh Phổ Hiền. Hiện
bất khả thuyết bất khả thuyết Như Lai, tại bất
khả thuyết bất khả thuyết cõi nước rộng lớn, ở
dưới cội bồ đề thành tối Chánh Giác. Có bất khả
thuyết bất khả thuyết chúng Bồ Tát, gần gũi vây
quanh.
Hoặc ở trong khoảng một niệm, tu hạnh Phổ Hiền
mà thành Chánh Giác. Hoặc trong khoảng sát na,
hoặc một thời, một ngày, nửa tháng, một tháng,
hoặc vô số năm, hoặc một kiếp, như vậy cho đến
bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, tu hạnh Phổ
Hiền, mà thành Chánh Giác.
Bồ Tát ở trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế
giới khác nhau, mà hiện tướng thọ sinh, tu hạnh
Bồ Tát Phổ Hiền. Lại hiện bất khả thuyết bất khả
thuyết chư Phật, tại bất khả thuyết bất khả
thuyết cõi nước rộng lớn, ở dưới cội bồ đề thành
tựu tối thượng Chánh Giác. Có bất khả thuyết bất
khả thuyết chúng Bồ Tát, đến gần gũi đức Phật,
đến vây quanh đức Phật. Hoặc ở trong khoảng một
niệm, tu hạnh Phổ Hiền mà thành Chánh Giác. Hoặc
trong khoảng sát na, hoặc một thời, một ngày,
nửa tháng, một tháng, hoặc vô số năm, hoặc một
kiếp, như vậy cho đến bất khả thuyết bất khả
thuyết kiếp, tu hạnh Bồ Tát Phổ Hiền, mà thành
chánh giác.
Lại
ở trong tất cả cõi nước chư Phật, mà làm thượng
thủ. Gần gũi Phật, đảnh lễ cúng dường. Thỉnh vấn
quán sát cảnh giới như huyễn. Tịnh tu vô lượng
các hạnh, vô lượng các trí, thần thông biến hoá,
đủ thứ oai đức, đủ thứ trí huệ, đủ thứ cảnh
giới, đủ thứ thần thông, đủ thứ tự tại, đủ thứ
giải thoát, đủ thứ pháp minh, đủ thứ pháp giáo
hoá điều phục của Bồ Tát.
Bồ Tát lại ở trong tất cả cõi nước chư Phật, mà
làm thượng thủ. Gần gũi chư Phật, đảnh lễ chư
Phật, cúng dường chư Phật. Thỉnh vấn chư Phật
tất cả pháp môn, quán sát chư Phật tất cả pháp
môn. Trong cảnh giới như huyễn không thật,
chuyên tâm nhất chí để tu vô lượng các hạnh
thanh tịnh, vô lượng các trí, thần thông biến
hoá, đủ thứ oai đức, đủ thứ trí huệ, đủ thứ cảnh
giới, đủ thứ thần thông, đủ thứ tự tại, đủ thứ
giải thoát, đủ thứ pháp minh, đủ thứ pháp giáo
hoá điều phục của Bồ Tát.
Phật tử ! Bổn thân của đại Bồ Tát không diệt.
Dùng sức hạnh nguyện, tại tất cả mọi nơi, biến
hiện như vậy, tại sao ?
Các vị Phật tử ! Bổ thân của đại Bồ Tát không có
huỷ diệt. Dùng đủ thứ nguyện lực tu hành, ở tại
tất cả mọi nơi, tuỳ thời tuỳ lúc biến hiện như
vậy, tại sao ?
Vì muốn dùng thần lực tự tại của Phổ Hiền, để
điều phục tất cả chúng sinh. Vì khiến cho bất
khả thuyết bất khả thuyết chúng sinh đắc được
thanh tịnh. Vì khiến cho họ vĩnh viễn dứt bánh
xe sinh tử. Vì nghiêm tịnh các thế giới rộng
lớn. Vì thường thấy tất cả các Như Lai. Vì vào
sâu tất cả dòng Phật pháp. Vì nghĩ nhớ dòng dõi
chư Phật ba đời. Vì nghĩ nhớ pháp và pháp thân
của tất cả chư Phật mười phương. Vì khắp tu các
hạnh của tất cả Bồ Tát, khiến cho được viên mãn.
Vì vào dòng Phổ Hiền, tự tại chứng được nhất
thiết trí.
Bồ Tát tu pháp môn Thập định, là vì mười nguyên
nhân này :
1. Vì muốn dùng thần lực tự tại của Bồ Tát Phổ
Hiền, để điều phục tất cả các chúng sinh.
2. Vì khiến cho bất khả thuyết bất khả thuyết
chúng sinh, đều đắc được nguồn gốc thanh tịnh,
tánh diệu chân như.
3. Vì khiến cho tất cả chúng sinh vĩnh viễn dứt
bánh xe sinh tử. Gốc rễ của sinh tử là tình ái
mà ra, nếu dứt được vô minh tình ái, thì gốc rễ
sinh tử cũng dứt hẳn. Do đó : "Đoạn dục khử ái",
đây là phương pháp giải quyết gốc rễ sinh tử.
4. Vì trang nghiêm thanh tịnh tất cả mười phương
thế giới rộng lớn.
5. Vì thường thấy tất cả chư Phật mười phương ba
đời.
6. Vì vào sâu tất cả dòng pháp rộng lớn của tất
cả chư Phật.
7. Vì nghĩ nhớ dòng dõi chư Phật ba đời.
8. Vì nghĩ nhớ pháp và pháp thân của tất cả chư
Phật mười phương.
9. Vì khắp tu các hạnh của tất cả Bồ Tát, khiến
cho lục độ vạn hạnh sớm được viên mãn.
10. Vì khắp vào dòng pháp tánh của Bồ Tát Phổ
Hiền, nhậm vận tự tại chứng được nhất thiết trí.
Phật tử ! Ông nên quán đại Bồ Tát này, không bỏ
hạnh Phổ Hiền, không dứt Bồ Tát đạo, thấy tất cả
chư Phật, chứng nhất thiết trí, tự tại thọ dụng
pháp nhất thiết trí. Như voi chúa Y La Bát Na,
chẳng bỏ thân voi, mà ở trời Tam Thập Tam, được
trời Đế Thích cỡi, thọ khoái lạc trên trời, làm
người trời vui chơi. Hầu hạ Thiên chủ, vui chơi
với thể nữ, giống như chư Thiên, không có gì
khác biệt.
Phật tử ! Ông nên quán vị đại Bồ Tát này, Ngài
không bỏ hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu, cũng không
đoạn tuyệt Bồ Tát đạo. Thấy tất cả chư Phật
chứng được nhất thiết trí, tự tại thọ dụng pháp
môn nhất thiết trí. Giống như voi chúa Y la bát
na, chẳng bỏ thân voi, mà ở trời Tam Thập Tam,
được trời Đế Thích cỡi, thọ khoái lạc trên trời,
làm người trời vui chơi. Hầu hạ Thiên chủ, vui
chơi với thể nữ, giống như chư Thiên, không có
gì khác biệt.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát cũng lại như thế, không bỏ các
hạnh đại thừa Phổ Hiền, không thối chuyển các
nguyện. Được tự tại của Phật, đủ nhất thiết trí.
Chứng được giải thoát của Phật, không chướng
không ngại, thành tựu thanh tịnh. Nơi các cõi
nước không có nhiễm trước. Ở trong Phật pháp
không có phân biệt. Tuy biết các pháp khắp đều
bình đẳng, không có hai tướng, mà luôn thấy rõ
tất cả cõi Phật. Tuy đã bình đẳng đồng với chư
Phật ba đời, mà tu Bồ Tát hạnh liên tục không
ngừng.
Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát cũng lại như thế,
không xả bỏ tất cả hạnh môn đại thừa Bồ Tát Phổ
Hiền tu, không thối chuyển các nguyện đã phát,
đắc được tự tại của chư Phật, đầy đủ nhất thiết
trí huệ. Chứng được giải thoát của chư Phật,
cảnh giới không chướng, không ngại, thành tựu
quả vị thanh tịnh. Nơi các cõi nước của chư
Phật, không có nhiễm trước. Ở trong pháp của tất
cả chư Phật nói, không có phân biệt.
Tuy Bồ Tát biết tất cả các pháp, đều là bình
đẳng, không có hai tướng, mà luôn luôn thấy rõ
cõi nước của tất cả chư Phật. Tuy đã bình đẳng
đồng với chư Phật ba đời, mà vẫn tu tất cả hạnh
môn của Bồ Tát tu, liên tục không ngừng.
Phật tử ! Đại Bồ Tát an trụ pháp hạnh nguyện Phổ
Hiền rộng lớn như vậy, nên biết người đó tâm
được thanh tịnh.
Phật tử ! Đại Bồ Tát an trụ ở trong pháp hạnh
nguyện rộng lớn của Bồ Tát Phổ Hiền tu như vậy,
nên biết người đó tâm đắc được cảnh giới thanh
tịnh, không nhiễm ô.
Phật tử ! Đó là đại tam muội Vô ngại luân, tâm
thù thắng trí quảng đại thứ mười của đại Bồ Tát.
Phật tử ! Đó là đại tam muội Vô ngại luân, tâm
thù thắng trí huệ quảng đại thứ mười của đại Bồ
Tát tu.
Phật tử ! Đó là sở trụ mười đại tam muội luân,
hạnh Phổ Hiền của đại Bồ Tát.
Phật tử ! Đó là sở trụ mười đại tam muội luân,
hạnh Phổ Hiền của đại Bồ tát.
|