|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN BA MƯƠI CHÍN
PHẨM THẬP ĐỊA THỨ HAI MƯƠI SÁU
THỨ CHÍN THIỆN HUỆ ĐỊA
Khi
nói Bồ Tát Bát địa nầy
Như Lai hiện sức đại thần thông
Chấn động mười phương các cõi nước
Vô lượng ức số khó nghĩ bàn.
Khi Bồ Tát Kim Cang Tạng diễn nói pháp môn Địa
thứ tám, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni và mười
phương chư Phật cùng nhau hiện sức đại thần
thông, khiến cho cõi nước chư Phật trong mười
phương đồng thời phát sinh sáu thứ chấn động. Vô
lượng ức số cõi nước, và mười phương chư Phật
đối với hiện tượng đại địa hốt nhiên chấn động,
đều phát sinh cảm giác không thể nghĩ bàn.
Tất
cả tri kiến của chư Phật
Thân đều khắp phóng đại quang minh
Chiếu sáng vô lượng cõi nước đó
Đều
khiến chúng sinh được an lạc.
Tất cả tri kiến của chư Phật, vô thượng tri
kiến, không thể nghĩ bàn, chỉ có Phật đấng vô
thượng, mới biết rõ nhau được. Thân của chư
Phật, đều khắp phóng ra vô lượng vô biên đại
quang minh, chiếu sáng vô lượng cõi nước chư
Phật, đều khiến cho vô lượng vô lượng cõi nước
chư Phật và chúng sinh, đều được bình an khoái
lạc.
Bồ
Tát vô lượng trăm ngàn ức
Đồng thời vọt thân lên hư không
Dùng đồ cúng hơn hẳn chư Thiên
Cúng dường bậc thuyết pháp tối thắng.
Vô lượng trăm ngàn vạn ức Bồ Tát, đồng thời đều
vọt thân lên hư không, hiển hiện đại thần thông.
Dùng đồ cúng dường thượng hạng hơn hẳn chư
Thiên, để cúng dường mười phương chư Phật, cúng
dường mười phương chư Phật và đức Phật Thích Ca
Mâu Ni nói pháp tối thượng vi diệu.
Đại Tự Tại Vương Trời Tự Tại
Cùng nhau đồng tâm vui vô lượng
Đều đem đủ thứ đồ cúng dường
Cúng Phật biển công đức thâm sâu.
Thiên Vương trời Đại Tự Tại và chư Thiên chúng,
mọi người đều cùng hoan hỉ, hy vọng có thể nghe
vô lượng Phật pháp vi diệu. Thiên Vương và chư
Thiên chúng, mỗi người đều đem đủ thứ đồ cúng
dường thượng hạng khác nhau, cúng dường mười
phương chư Phật. Vì công đức cúng dường Phật rất
lớn chẳng có bờ mé, thâm sâu như biển cả không
thấy đáy.
Lại
có Thiên nữ ngàn vạn ức
Thân tâm hoan hỉ đều đầy khắp
Đều tấu âm nhạc vô lượng thứ
Cúng dường đại Tôn Sư trời người.
Lại có ngàn vạn ức các Thiên nữ, hoan hỉ khắp
toàn thân, trong tâm thư thới. Thảy đều diễn tấu
âm nhạc khác nhau, vang ra âm thanh hay vi diệu.
Sự nhiệt liệt hân hoan đại nhạc hội đó, vì để
cúng dường đại Đạo Sư của trời người - tức là
Phật.
Bấy giờ âm nhạc đồng thời tấu
Trăm ngàn vạn ức vô lượng thứ
Đều nhờ sức oai thần của Phật
Vang ra diệu âm để tán thán.
Lúc đó, các vị Thiên nữ đồng tâm hợp ý diễn tấu
nhạc trời hoà nhã thánh khiết, có trăm ngàn vạn
ức nhạc khí đủ loại khác nhau, cùng nhau phát ra
âm thanh êm tai. Thật là “Nhạc nầy chỉ có ở trên
trời, nhân gian nào có những nhạc nầy”. Đó đều
là nhờ sức đại oai thần lực của chư Phật, mới có
đại diễn tấu rất hay như vậy. Mục đích diễn tấu
là vì tán thán Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo.
Tịch tĩnh điều nhu không dơ hại
Tuỳ bậc nhập vào khéo tu tập
Tâm như hư không đến mười phương
Rộng nói Phật đạo ngộ quần sinh.
Cảnh giới âm nhạc đó, khiến cho tinh thần con
người đi vào sự tịch tĩnh. Thân tâm điều nhu,
khiến cho phát sinh tâm bồ đề. Nhạc trời đó
không có tơ hào ô nhiễm bụi trần, không có hại
bất cứ ai. Mỗi người trời, hoặc người tại nhân
gian, chỉ cần nghe đến âm nhạc thánh khiết nầy,
thì đều tự nhiên phát đại tâm tu hành Phật đạo.
Bồ Tát Bát địa, tâm cảnh của Ngài đã giống như
hư không, không động bổn toà mà đến khắp mười
phương thế giới. Đến cõi nước mười phương chư
Phật, rộng vì tuyên nói Phật pháp, giáo hoá
chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh nghe
được Phật pháp rồi, đều lập tức khai ngộ.
Trên
trời nhân gian khắp mọi nơi
Đều hiện trang nghiêm không gì bằng
Do công đức Như Lai sinh ra
Khiến người thấy được thích Phật trí.
Bất cứ là trên trời, hoặc tại nhân gian, khắp
hết thảy mọi nơi, đều hiện ra cảnh giới trang
nghiêm không đâu bằng. Cảnh giới vi diệu vô
thượng nầy, là do công đức vô biên của chư Phật
hiển hiện ra. Diễn tấu nhạc trời, hiển hiện cảnh
giới trang nghiêm vô thượng, khiến cho người
nghe được, thấy được, sinh ra tâm hoan hỉ học
tập Phật pháp, hướng về cầu đại trí huệ như
Phật.
Không
rời một cõi đến các cõi
Như trăng hiện khắp chiếu thế gian
Âm thanh tâm niệm thảy đều diệt
Ví như hang núi dội tiếng vang.
Bồ Tát Bát địa Ngài không lìa bổn toà mà đến
khắp cõi nước chư Phật mười phương, giáo hoá
chúng sinh trong cõi nước chư Phật. Đạo lý nầy,
cũng giống như mặt trăng trong hư không. Mặt
trăng chỉ có một, nhưng mỗi người đều cảm thấy
mặt trăng chiếu sáng ở trước mặt mình. Bồ Tát
chẳng động mà du khắp mười phương, giáo hoá
chúng sinh, đồng với đạo lý mặt trăng tuỳ mỗi
người mà di động. Bồ Tát Bát địa âm thanh cũng
chẳng còn nữa, đường lời nói đã bặc. Tâm niệm
cũng đã diệt, tâm hành xứ diệt. Tuy nhiên như
vậy, nhưng Ngài giáo hoá chúng sinh, vẫn rộng
nói pháp yếu. Ví như người ở trong sơn cốc hoang
dã phát ra tiếng vang, thì khắp bốn phía sơn cốc
lập tức phản ứng đồng vang ra âm thanh. Âm thanh
tâm niệm của Bồ Tát, tuy nói đều “diệt”, nhưng
sự diệt nầy chẳng dính mắc vào “âm thanh tâm
niệm”.
Nếu
có chúng sinh tâm hạ liệt
Vì họ diễn nói hạnh Thanh Văn
Nếu tâm lanh lợi thích Bích Chi
Liền vì họ nói đạo trung thừa.
Giả sứ có chúng sinh, họ chẳng phát khởi đại
tâm, cũng chẳng có đại nguyện, thì tự nhiên
chẳng có đại lực. Họ tu hành, nghe pháp, thường
lấy nhỏ cho là đủ. Chỉ cầu chính mình, đây là
tâm chí của người tiểu thừa, cho nên nói “tâm hạ
liệt”. Gặp loại chúng sinh nầy, thì dùng pháp
Thanh Văn thừa nói với họ - Khổ, tập, diệt, đạo,
bốn diệu đế để giáo hoá họ. Nếu gặp người tâm
trí thông minh, căn tánh lanh lợi, họ hoan hỉ tu
cảnh giới Bích Chi Phật, thì dùng pháp trung
thừa mười hai nhân duyên nói với họ, khiến cho
họ tu học.
Nếu
người từ bi thích lợi ích
Vì họ nói đạo Bồ Tát tu
Nếu người tâm trí huệ tối thắng
Liền bày pháp vô thượng của Phật.
Nếu như gặp chúng sinh phát tâm đại từ bi, họ
hoan hỉ việc làm lợi ích chúng sinh, thì đó là
căn tánh của Bồ Tát thừa, bèn nói với họ đạo lý
tu hạnh Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo. Nếu như gặp
người căn tánh dũng mãnh lanh lợi, có trí huệ
hơn người một bậc, lại chỉ phát đại tâm, nguyện
cầu Phật đạo, thì nói với họ đạo lý Phật thừa
thành Phật thù thắng nhất.
Ví
như huyễn sư làm các việc
Đủ thứ hình tướng đều chẳng thật
Bồ Tát trí huyễn cũng như vậy
Chỉ hiện tất cả lìa có không.
Đây cũng giống như nhà huyễn thuật biểu diễn,
tuy nhiên biến hoá ra sự vật trăm kỳ ngàn quái,
để mê hoặc tai mắt con người. Kì thật, đều là
giả, hư huyễn, chẳng có gì là chân thật. Bồ Tát
dùng phương pháp phương tiện thiện xảo giáo hoá
chúng sinh, cũng dùng một thứ trí huệ huyễn hoá,
bất tất chấp trước vào sự vật. Tuy hiện ra rất
nhiều tướng trạng, nhưng Ngài chưa từng chấp vào
có tướng, không tướng, chỉ xem là trăng nước
Phật sự, hư huyễn Phật pháp mà thôi. Bồ Tát hành
sở vô sự, cảnh giới của Ngài là “Tức tất cả
tướng, lìa tất cả pháp”. Lìa pháp hữu vi, cũng
lìa pháp vô vi, tất cả không chấp trước. Tại sao
phàm phu không dễ trở thành Bồ Tát? Vì quá chấp
tướng. Được người khen thì hoan hi vui mừng, khi
bị người chê bai thì phiền não đau khổ. Suốt năm
mãn tháng đều để mắt tới sự tốt xấu, thị phi,
thành bại, có không. Bồ Tát thì vượt ra ngoài
tất cả những sự hữu hình, quét sạch tất cả pháp,
lìa khỏi tất cả tướng, không có tướng ta, tướng
người. Ta người đều như hư không, hư không thì
không thể nắm lấy đặng, xả bỏ cũng chẳng đặng,
không thể đắc được một thứ gì. Đời người tại thế
gian, đều xem mình là số một, tất cả những vật
ngoài thân đều muốn chiếm làm của mình, lao nhọc
suốt đời, phí hết tâm sức. Cuối cùng, chẳng phải
bạn có, cũng chẳng phải tôi được, hai tay đều
không, mang nghiệp đi chầu Diêm Vương như bóng
theo hình. Các vị cư sĩ hãy cẩn thận lời khuyên
nầy! Đừng trầm mê trong mộng tưởng hồ đồ điên
đảo nữa!
Tiếng
hay ngàn vạn thứ như vậy
Ca ngợi Phật rồi đứng im lặng
Giải Thoát Nguyệt nói nay chúng tịnh
Xin nói hành đạo của Cửu địa.
Các vị Thiên nữ diễn tấu nhạc trời như ở trên
vừa nói, có hàng ngàn vạn thứ âm thanh hay vang
lên ở trong hư không. Các vị đó ca ngợi tán thán
mười phương chư Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo. Khi
diễn tấu kết thúc rồi, các vị Thiên Vương, Thiên
tử, Thiên nữ chẳng rời khỏi, vẫn an nhiên im
lặng cung kính đứng tại chỗ. Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt nói với Bồ Tát Kim Cang Tạng: Hiện tại ở
trong pháp hội, các đại chúng thanh tịnh đều hy
vọng thỉnh cầu đại đức, tiếp tục diễn nói pháp
môn Địa thứ chín, về phương pháp tướng trạng, sự
tu hành.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng bảo Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt nói : Phật tử ! Đại Bồ Tát dùng vô lượng
trí như vậy, tư duy quán sát. Càng muốn cầu tịch
tĩnh giải thoát thù thắng hơn, lại tu tập trí
huệ Như Lại. Vào pháp bí mật của Như Lai, quán
sát tánh đại trí không nghĩ bàn, tịnh các môn
tam muội Đà la ni, đầy đủ đại thần thông. Vào
thế giới khác nhau, tu lực vô uý pháp bất cộng.
Theo chư Phật chuyển pháp luân, chẳng bỏ đại bi
nguyện lực xưa, vào được Thiện huệ Địa thứ chín
của Bồ Tát.
Khi Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt đại biểu chúng Bồ
Tát và Thiên chúng ở trong pháp hội, hướng về Bồ
Tát Kim Cang Tạng thỉnh cầu tiếp tục diễn nói
pháp môn và tướng trạng tu hành Địa thứ chín
rồi, thì lập tức Bồ Tát Kim Cang Tạng rất vui
mừng gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Đại Bồ
Tát tu hành Bồ Tát đạo, tích tập đủ thứ căn
lành, dùng trí huệ của Địa thứ tám Ngài tu được,
chuyên tâm tư duy, quán sát kỹ càng, hy vọng
được cảnh giới thù thắng hơn, tịch diệt hơn,
giải thoát hơn. Do đó, Ngài biết phải tiếp tục
chuyên cần tu tập trí huệ của Phật, mới thâm
nhập được môn bí mật không thể dùng ngôn ngữ
tương truyền của chư Phật. Quán sát tính năng
đại trí huệ không thể dùng để tư duy, không thể
dùng lời để truyền, rất rộng lớn, tinh vi. Thanh
tịnh tất cả, tổng trì pháp môn chánh định chánh
thọ, đầy đủ vô lượng số thần thông rộng lớn. Đi
đến các thứ thế giới khác nhau, tu học mười lực
của Phật, bốn vô sở úy, cùng với mười tám pháp
bất cộng của Phật. Thường hay theo mười phương
chư Phật chuyển bánh xe pháp, luôn luôn không xả
bỏ tâm đại bi, chưa từng quên sức đại nguyện
thuở xưa đã phát ra. Chuyên cần tu học như vậy,
thì sẽ tiến vào được Địa thứ chín - Thiện huệ
địa của Bồ Tát.
Phật
tử! Đại Bồ Tát trụ Thiện huệ địa nầy, biết như
thật về: Pháp hành thiện, bất thiện, vô ký, pháp
hành hữu lậu, vô lậu, pháp hành thế gian, xuất
thế gian, pháp hành nghĩ bàn, không nghĩ bàn,
pháp hành định, bất định, pháp hành Thanh Văn
Độc Giác, pháp hành Bồ Tát hạnh, pháp hành Như
Lai địa, pháp hành hữu vi, pháp hành vô vi.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Đại Bồ Tát tiến vào Thiện huệ Địa
thứ chín, lúc đó Ngài chân chánh minh bạch thế
nào là pháp hành thiện, thế nào là pháp hành bất
thiện, thế nào là pháp hành vô ký. Ý nghĩa vô ký
là ở giữa không thiện không ác. Ngài cũng thật
sự biết về pháp hành hữu lậu. Hữu lậu ví như một
cái bình bễ, đổ nước vào đều chảy ra ngoài hết.
Phàm phu làm việc ác thì bị quả báo ác, sẽ lậu
rớt xuống cõi địa ngục, súc sinh. Hạnh vô lậu là
làm việc thiện hướng thượng, làm việc lợi ích
đại chúng, chẳng có chút tập khí ác mao bệnh xấu
nào. Sáu căn thanh tịnh, sẽ thấu hiểu được đạo
lý không vô tướng. Ngài lại hiểu được pháp hành
thế gian, cũng hiểu được pháp hành xuất thế
gian. Pháp hành thế gian là hữu lậu, chẳng thanh
tịnh, luôn luôn đến đi trong điên đảo tham sân
si, đời đời kiếp kiếp bị che đậy lưu chuyển
trong vô minh phiền não. Pháp hành xuất thế gian
là vô lậu, vì đã thấy được đạo, ngược lại với
tất cả pháp thế gian hữu lậu, vĩnh viễn sống ở
trong cảnh giới thanh tịnh. Ngài lại biết pháp
hành nghĩ bàn và không nghĩ bàn khác nhau. Sự
khác giống nhau không nghĩ bàn của thế gian xuất
thế gian, là dùng trí không phân biệt “tức thế
xuất thế”, nghĩa là “tại trần xuất trần”. Lại
biết được pháp hành tu định, nếu không tu hành
theo chánh pháp thì không thể nào đắc được chánh
định, không thể đắc được tịch tĩnh khinh an, dễ
bị duyên cảnh giao động mà tán loạn. Ngài còn
biết pháp hành Thanh Văn và pháp hành Độc Giác.
Pháp hành Thanh Văn là bậc Thánh tiểu thừa –
pháp tứ đế “khổ tập diệt đạo” mà tu chứng quả
vị, đó là quả vị A la hán. Quả vị A la hán chia
ra làm bốn giai đoạn:
- Sơ quả Tu đà hoàn, đoạn trừ tam
giới tám mươi tám phẩm kiến hoặc. Kiến hoặc tức
là “thấy cảnh khởi tham ái”. Không bị cảnh
chuyển thì đối cảnh chẳng khởi tham ái, tức là
đoạn được kiến hoặc, đã đạt đến địa vị “Kiến
đạo”.
- Giai đoạn thứ hai gọi là Tư đà hàm, đã đoạn
dục giới tư hoặc sáu phẩm trước.
- Giai đoạn thứ ba gọi là A na hàm, đã đoạn dục
giới tư hoặc ba phẩm sau, lúc nầy đã đạt đến tu
đạo vị. Lại đoạn trừ được tam giới tám mươi mốt
phẩm tư hoặc. Tư hoặc là “Mê lý khởi phân biệt”,
đối với chân lý chẳng minh bạch, đối với tất cả
sự vật chẳng minh bạch, đều phát sinh nghi hoặc,
muốn biết thì phải đi tham khảo nghiên cứu suy
gẫm, vẫn còn vô minh tà tư duy .v.v...
- Đối với tất cả mê hoặc tư lự, đến giai đoạn vô
học vị nầy thì đều đã đoạn diệt, mà chứng được
tứ quả, tên là A la hán, gọi là vô học vị.
Ba quả vị trước gọi là hữu học vị, vì còn có sở
học. Đến tứ quả thì vô học, cho nên gọi là vô
học vị. Lúc nầy hành giả lớn tiếng xướng lên
“Ngã sinh dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ
biện, bất thọ hậu hữu”. Đây là quả vị cao nhất
của bậc Thánh tiểu thừa tu đạo, do chiếu cứ vào
bốn Thánh đế - Khổ, tập, diệt, đạo mà tu. Vì
biết đời người có các thứ nhân khổ quả khổ, cho
nên phát nguyện tu hành. Phát bốn hằng thệ
nguyện: “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ”, đây
tức là “khổ” đế. “Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn”, đây là độ “tập” đế. “Tập” là nhân của
“khổ”, “khổ” là quả của “tập”, muốn trừ “khổ”
thì phải đoạn “tập”. Đây vẫn còn đang nói về
pháp thế gian. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học”, đây là độ “đạo” đế. “Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành”, là độ “diệt” đế. Muốn thành
đạo nghiệp thì trước hết phải “diệt” trừ tất cả
pháp nhiễm ô thế gian. “diệt” là nhân của pháp
xuất thế gian, “đạo” là quả của pháp xuất thế
gian. Thanh Văn thừa thì tu pháp tứ đế mà chứng
quả.
Độc Giác thừa còn gọi là Bích Chi Phật thừa, còn
gọi là trung thừa. Độc Giác thì y cứ vào pháp
mười hai nhân duyên mà tu. Họ sống trong thâm
sơn cùng cốc, biệt lập với thế gian.
“Xuân quán trăm hoa nở, thu ngắm
lá vàng rơi”, nhờ đó mà giác ngộ đạo lý đời
người tất cả đều vô thường, khổ, không, vô ngã.
Khi có Phật ra đời thì thấy Phật nghe pháp,
chứng ngộ rồi gọi là Duyên Giác. Không có Phật
ra đời là tự ngộ, gọi là Độc Giác, hoặc Bích Chi
Phật. Vị Bồ Tát cửu địa nầy, cũng biết tu pháp
hành Bồ Tát hạnh, Bồ Tát thì tu lục độ hoặc thập
độ vạn hạnh, rộng lớn vô biên, hành giả đại hạnh
đại nguyện đại lực, lấy sự cứu độ chúng sinh lìa
khổ được vui làm hạnh nghiệp chủ yếu, lấy tâm
đại bi làm đầu, chỉ cầu trồng trọt, không hỏi
thu hoạch. Ngài cũng minh bạch pháp hành của
Phật tu hành, là phước huệ song tu, cho nên xưng
là “Lưỡng Túc Tôn”. Phật thì phước huệ đầy đủ,
được trời người đều tôn kính. Phật lợi ích tất
cả chúng sinh, bình đẳng chẳng có sự khác biệt.
Phật tự giác viên mãn, giác tha cùng khắp, đây
tức là pháp hành của Như Lai địa. Pháp hành hữu
vi thì có hình có tướng, vô thường, hữu lậu,
nhiễm ô. Trong Kinh Kim Cang có nói :
“Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bọt bóng
Như sương cũng như điện
Hãy quán sát như vậy”.
Lại nói rằng:
“Phàm hết thảy các tướng, đều là
hư vọng”.
Pháp hành vô vi: Là xuất thế gian, không hình
không tướng, thanh tịnh không nhiễm. Đủ thứ pháp
hành nầy, Bồ Tát cửu địa Ngài đều thấu rõ không
sót thừa.
Bồ
Tát nầy dùng trí huệ như vậy, biết chúng sinh
như thật về: Tâm rừng rậm, phiền não rừng rậm,
nghiệp rừng rậm, căn rừng rậm, hiểu rừng rậm,
tánh rừng rậm, ưa muốn rừng rậm, tuỳ miên rừng
rậm, thọ sinh rừng rậm, tập khí liện tục rừng
rậm, ba tụ khác biệt rừng rậm.
Vị Bồ Tát Thiện huệ Địa thứ chín nầy, dùng trí
huệ thù thắng tu chứng của Ngài, biết sự thật
nhiều tâm chúng sinh giống như rừng rậm, lại còn
khiến cho người phức tạp khó nắm bắt. Tục ngữ có
câu rằng: “Tâm người không giống tựa như mặt
họ”. Phiền não rừng rậm: Phiền não của con người
nhiều không thể nào biết hết, cho nên gọi là
rừng rậm. Dùng trí huệ của Phật phân tích ra có
tám vạn bốn ngàn thứ, nên Phật nói tám vạn bốn
ngàn pháp môn, dạy chúng sinh để chế phục phiền
não của họ. Nghiệp rừng rậm: Chúng sinh làm gì
cũng đều gọi là nghiệp. Nghiệp có thiện nghiệp
và ác nghiệp, cũng nhiều như rừng rậm. Trồng
nhân thiện thì kết quả thiện, trồng nhân ác thì
kết quả ác. Nhân quả không rõ, điên đảo luân
chuyển, sinh sinh tử tử, đều do nghiệp sai khiến
vậy. Căn rừng rậm: Căn là chỉ căn tánh khác nhau
của chúng sinh, cũng giống như rừng rậm. Hiểu
rừng rậm: Sự lý mà chúng sinh hiểu cũng đều khác
nhau, cũng giống như rừng rậm. Tánh rừng rậm:
Nghĩa là nói tâm tánh chúng sinh khác nhau, cũng
như rừng rậm. Cũng có thể nói là tánh năng và
giống loại nhiều sự khác biệt. Ưa muốn rừng rậm:
Do căn tánh chúng sinh khác nhau, cho nên ưa
thích tự nhiên khác nhau, cho nên nói ưa muốn
giống như rừng rậm. Tuỳ miên rừng rậm: Tuỳ miên
là một thứ trong phiền não, tuỳ miên phiền não
của chúng sinh cũng giống như rừng rậm. Thọ sinh
rừng rậm: Thọ sinh là chỉ chúng sinh đầu thai
kiếp khác. Chúng sinh thọ sinh là tuỳ theo
nghiệp lực, làm nghiệp gì thì nghiệp dẫn dắt đến
nơi đó thọ sinh. Phẩm loại của chúng sinh giống
như rừng rậm, nơi thọ sinh đương nhiên nhiều
cũng giống như rừng rậm. Tập khí liên tục rừng
rậm: Muốn biết nhân đời trước, đời này mình đang
thọ. Muốn biết quả đời sau, đời nay mình đang
làm. Tập khí xấu đời trước nhiều, thì đời này tỳ
khí lớn. Tập khí sẽ trở thành tập tánh, điên
điên đảo đảo, thị phi chánh tà chẳng rõ. Việc
chân chánh, lời chân chánh, thì nhiều người nghe
chẳng vào, học chẳng được. Còn tà môn ngoại đạo
thì học mau lắm, đó đều do tập khí đời trước sai
khiến vậy. Chủng tử tập khí nầy rất khó đoạn
sạch, cần phải liên tục, cho nên nói tập khí
liên tục chẳng dứt như rừng rậm. Ba tụ khác biệt
rừng rậm: Đây là chỉ tất cả chúng sinh mà nói,
có thể chia ra ba thứ: Một thứ chúng sinh, có
thể đắc được chánh định, nhất định chứng ngộ.
Một thứ chúng sinh, sinh tánh tà ác, không thể
đắc được tu chứng khai ngộ. Một thứ chúng sinh ở
giữa cả hai, có thiện có ác. Có duyên gặp được
thiện tri thức cũng có thể đắc được định khai
ngộ, vô duyên chẳng gặp được thiện tri thức thì
không thể đắc được chánh định khai ngộ. Chúng
sinh như vậy cũng nhiều giống như rừng rậm.
Bồ
Tát nầy biết đủ thứ tướng tâm chúng sinh như
thật. Đó là: Tướng tạp khởi, tướng tốc chuyển,
tướng hoại bất hoại, tướng không hình chất,
tướng không bờ mé, tướng thanh tịnh, tướng dơ
không dơ, tướng ràng buộc không ràng buộc, tướng
huyễn làm ra, tướng tuỳ các cõi sinh. Trăm ngàn
vạn ức như vậy cho đến vô lượng, đều biết như
thật.
Bồ Tát Thiện huệ Địa thứ chín, Ngài biết tâm
chúng sinh như thật, do bởi các tư tưởng khác
nhau, biểu thị ra tướng trạng, nên có đủ thứ sự
khác nhau. Như là tướng tạp khởi: Đó là tướng
tám thức duyên cảnh, đồng thời sinh khởi rất
nhiều ý niệm, nhất thời hiển ra sự biểu hiện bất
định. Tướng tạp loạn trong tâm thất điên bát
đảo, tạp loạn lung tung, vọng tưởng lăn xăn,
chẳng có chút quy cụ gì cả. Tướng tốc chuyển: Do
vọng tưởng rất nhanh lại chuyển đến một thứ vọng
tưởng khác, trong đầu óc đầy dẫy vọng tưởng,
chuyển tới chuyển lui rất nhanh, chẳng có giây
phút nào tạm ngừng. Tướng hoại bất hoại: Hoại
tức là diệt, bất hoại là sinh, tức là tướng sinh
diệt. Tướng không hình chất: Là chẳng có dạng
hình thể. Là tướng đệ nhất nghĩa, nghĩa là tâm
thân bất khả đắc, tâm thể lìa niệm. Tướng không
bờ mé: Tức là tự tướng, thuận theo cảnh giới
không bờ không mé, lấy cảnh khác nhau, tức là
tâm dụng. Tướng thanh tịnh: Tức là diệt trừ tất
cả phiền não nhiễm ô, khôi phục tự tánh thanh
tịnh. Tướng dơ không dơ: Dơ là tuỳ duyên, có
phiền não, có nhiễm ô, chẳng thanh tịnh. Không
dơ là bản tánh thanh tịnh, lìa tất cả tạp nhiễm,
vọng tưởng, phiền não, tự giác Thánh trí, chân
vọng. Tướng ràng buộc không ràng buộc: Ràng buộc
là không tự do, tức là do phiền não trói buộc.
Chẳng ràng buộc thì được giải thoát, xả lìa
phiền não trói buộc chẳng thanh tịnh. Tướng
huyễn làm ra: Huyễn là do thần thông biến hoá
hiện ra, là một thứ huyễn trí, là một thứ tướng
trạng tác ý hiện ra. Tướng tuỳ các cõi thọ sinh:
Tuỳ theo nghiệp tạo ra, nghiệp tức là nhân,
nghiệp có nghiệp lực, nó mang theo thức thứ tám
đến nơi đáng được quả báo thì đi thọ sinh. Phàm
phu thì theo nghiệp mà thọ sinh, Bồ Tát thì theo
nguyện lực mà thọ sinh, vì cứu độ chúng sinh, mà
thọ sinh trong sáu nẻo, tuỳ theo chúng sinh đáng
được độ mà hiện các thứ tướng hình. Đủ thứ tướng
trạng vừa nói ở trên, tuy nhiên có trăm ngàn vạn
ức cho đến nhiều vô số vô lượng, nhưng Bồ Tát
vẫn biết đúng như thật.
Lại
biết đủ thứ các tướng phiền não. Đó là: Tướng
lâu xa tuỳ hành, tướng vô biên dẫn khởi, tướng
câu sanh chẳng bỏ, tướng miên khởi một nghĩa,
tướng với tâm tương ưng không tương ưng, tướng
tuỳ cõi thọ sinh mà trụ, tướng ba cõi khác biệt,
tướng ái kiến si mạn lỗi lầm hoạn nạn như mũi
tên cắm vào, tướng ba nghiệp nhân duyên chẳng
dứt. Lược nói cho đến tám vạn bốn ngàn, đều biết
như thật.
Bồ Tát Thiện huệ Địa thứ chín, Ngài lại biết đủ
thứ tướng phiền não của chúng sinh: Tất cả chúng
sinh đều do phiền não ràng buộc, nên biểu hiện
ra các thứ tướng trạng khác nhau, như tướng lâu
xa tuỳ hành: Thứ nghiệp chướng phiền não nầy, là
do từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp
đi theo con người ở trong sáu nẻo các cõi, chẳng
màng bạn đi thọ sinh ở đâu, thì nó sẽ đến đó
ràng buộc, không lìa khỏi. Nói về con người, rất
nhiều người chẳng những không xả lìa phiền não,
mà còn rất hoan hỉ phiền não, xem phiền não như
thức ăn, thường phát sinh nóng giận. Tướng vô
biên dẫn khởi: Phiền não vô biên, không bờ bến,
vô lượng, vừa nhiều vừa rộng, tuỳ thời tuỳ lúc,
chỉ một việc nhỏ thì dẫn đến phiền não, do đó
đưa đến nhiều việc không như ý. Tướng câu sanh
không bỏ: Thứ phiền não nầy với câu sinh mà ra,
tức là với nghiệp cảm câu sanh cùng ra. Ví như,
em bé vừa mới lọt lòng mẹ thì khóc oà lên, đây
là biểu hiện của phiền não. Tướng miên khởi một
nghĩa: “Miên” tức là tuỳ miên phiền não. “Khởi”
là hiện hành. Hiện hành bị tham sân si ràng
buộc. Hiện hành, chủng tử hoặc nghiệp là nhân
duyên căn bản sinh khởi phiền não đồng dạng.
Tướng với tâm tương ưng chẳng tương ưng: Tức là
là hình tướng sở sinh phiền não hay tương ứng
với tâm. Có lúc không thể gọi nổi giận, mà trong
tâm chưa sinh phiền não, đây có nghĩa là tướng
chẳng tương ưng biểu hiện bên ngoài với tâm.
Tướng tuỳ cõi thọ sinh mà trụ: Tức là tuỳ theo
nghiệp đã tạo, thiện ác khác nhau, cõi thọ sinh
sẽ khác nhau, tuỳ theo quả báo tướng trạng phải
thọ. Tướng ba cõi khác nhau: Cõi dục, cõi sắc,
cõi vô sắc, phiền não ba cõi này đều khác nhau.
Tướng ái kiến si mạn lỗi lầm hoạn nạn như mũi
tên cắm vào: “Ái” trói buộc phàm phu, do “ái”
ghét có hận. “Ái” biểu hiện ngoài mặt vui vẻ,
nhưng ái lại có ái biệt ly khổ, có khổ thì có
phiền não. Thế giới Ta Bà là vui ít khổ nhiều.
“Kiến” tức là khổ, do “kiến” (thấy) nên khởi
tham ái, mà thường kiến lại khởi phân tranh bất
hoà, cho nên “ái, kiến” đều có phiền não. Do đây
lại biến thành “si”, có tà kiến rồi, thì có lúc
do tà kiến mà sinh “mạn, cống cao”. Bốn thứ tâm
ý nầy giống như mũi tên nhọn, cắm sâu vào trong
ruộng tâm con người, tạo ra đủ thứ tướng trạng
lỗi lầm hoạn nạn. Tướng ba nghiệp nhân duyên
chẳng dứt: Ba nghiệp là chỉ thân, miệng, ý mà
nói. “Thân” nghiệp chẳng thanh tịnh, “miệng”
nghiệp, “ý” nghiệp nhất định chẳng thanh tịnh.
“Miệng” nghiệp chẳng thanh tịnh, thì “thân
nghiệp ý nghiệp” cũng chẳng thanh tịnh. “Ý”
nghiệp chẳng thanh tịnh, thì “thân nghiệp khẩu
nghiệp” nhất định cũng chẳng thanh tịnh. Nếu ý
nghiệp chẳng khởi nghiệp tham sân si, thì “thân”
tuyệt đối không làm những việc giết hại, trộm
cắp, tà dâm, “miệng” nghiệp cũng tuyệt đối không
nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, chửi mắng.
Ba nghiệp tạo nhân đều có quan hệ với nhau. Nếu
ba nghiệp nầy vĩnh viễn chuyển động không ngừng,
thì tạo ra nhiều tướng trạng khác nhau. Ở trên
chỉ là nói sơ lược về các thứ tướng trạng, nếu
nói tỉ mỉ thì e rằng có tám vạn bốn ngàn tướng
nghiệp. Tuy nhiều, nhưng Bồ Tát Địa thứ chín vẫn
biết rất rõ ràng.
Lại
biết đủ thứ các tướng nghiệp. Đó là: Tướng
thiện, bất thiện, vô ký. Tướng có biểu thị,
không biểu thị. Tướng với tâm cùng sinh không
lìa. Tướng nhân tự tánh sát na hoại, mà thứ lớp
tập quả không mất. Tướng có báo, không báo.
Tướng thọ các báo đen tối. Tướng như ruộng vô
lượng. Tướng phàm Thánh khác biệt. Tướng hiện
thọ sinh, thọ hậu thọ. Tướng thừa, phi thừa,
định, bất định. Lược nói cho đến tám vạn bốn
ngàn tướng, đều biết như thật.
Bồ Tát Địa thứ chín, Ngài lại biết đủ thứ tướng
trạng tất cả các nghiệp, như tướng thiện bất
thiện vô ký: Hình tướng thiện, hình tướng bất
thiện, tức là hình tướng tà ác. Tướng vô ký tức
là ở giữa cả hai, chẳng thiện, cũng chẳng ác.
Tướng có biểu thị thì có hình thể, tướng chẳng
có biểu thị, thì chẳng có hình thể. Tướng với
tâm cùng sinh không lìa: Nghiệp là do vô minh
tạo thành, khởi hoặc, thọ báo, đều do nghiệp mà
có. Vô minh với tâm cùng sinh, với sinh đều đến,
chẳng dễ gì xả lìa nó được, do đó có tướng thiện
ác cùng sinh chẳng lìa. Tướng nhân tự tánh sát
na hoại, mà thứ lớp tập quả không mất: Tự tánh
tạo nghiệp, trong khoảng sát na giống như hoại,
mà giống nghiệp tồn tại, nó vẫn theo “duyên”, có
thứ lớp, tập tụ thành một thứ quả báo, không thể
mất đi sự thọ báo. Tướng có báo, không báo: Có
nghiệp nặng phải thọ quả báo, như làm việc thiện
rồi, lại có thể tiêu trừ những nghiệp ác, cho
nên lại có quả báo không thọ. Tướng thọ các báo
đen tối: Đen tối là chỉ địa ngục, hoặc là cõi
ác, hoặc trong cõi súc sinh, ngạ quỷ. Thọ đủ thứ
tội báo trong đường đen tối, vì tạo nghiệp quá
nhiều, thứ tướng nầy nhất định xấu ác đen tối
phi thường. Tướng như ruộng vô lượng: Chúng sinh
tạo nghiệp, hình thành tướng nhiều giống như
ruộng lưới, cũng nhiều sự khác nhau. Tướng phàm
Thánh khác biệt: Nghiệp báo của phàm phu và
Thánh nhân chẳng giống nhau, hiện ra tướng khác
nhau. Tướng hiện thọ sinh, thọ hậu thọ: Bồ Tát
biết đủ thứ tướng chúng sinh đời hiện tại thọ
quả báo, hoặc là đời sau thọ quả báo, hoặc đời
sau thọ quả báo. “Thừa” là tướng đại thừa tiểu
thừa. “Phi thừa” là tướng địa ngục, súc sinh,
ngạ quỷ, A tu la. "Định" là tướng của tất cả
những người tu hành. "Bất định" là tướng của
những người không tu hành. Vô lượng vô biên đủ
thứ tướng ở trên, hiện tại chỉ lược nói một ít,
nếu nói tỉ mỉ thì có tám vạn bốn ngàn tướng như
vậy. Bồ Tát Địa thứ chín Ngài đều biết được
nguồn gốc của những tướng đó.
Lại
biết tướng căn mềm trung thắng. Tướng thuở trước
thuở sau khác biệt, chẳng khác biệt. Tướng
thượng trung hạ. Tướng phiền não đều sinh không
lìa nhau. Tướng thừa, phi thừa, định, bất định.
Tướng thuần thục điều nhu. Tướng tuỳ lưới căn
nhẹ chuyển thành hoại. Tướng tăng thượng không
thể hoại. Tướng thối chuyển bất thối chuyển khác
biệt. Tướng xa tuỳ cùng sinh bất đồng. Lược nói
cho đến tám vạn bốn ngàn tướng, đều biết như
thật.
Bồ Tát Cửu địa lại có thể biết các căn của chúng
sinh, có sự câu sanh khác biệt, có căn tánh
thông minh, có hạ liệt - mềm tức là hạ liệt. Có
trung đẳng bình thường, chẳng tốt chẳng xấu. Đều
tuỳ căn tánh mà hiện tướng. Tướng thuở trước là
tướng đời quá khứ. Tướng thuở sau là tướng đời
vị lai. Có tướng bất đồng, cũng chẳng có tướng
bất đồng. "Thượng" là thượng đẳng. "Trung" là
trung đẳng, chẳng tốt cũng chẳng xấu. Thứ tướng
nầy chiếm hết bảy mươi lăm phần trăm trong chúng
sinh, là tướng nhiều nhất bình thường phổ thông.
"Hạ" là hạ liệt, thường thường có nhiều người
năm căn không đủ, những chúng sinh nầy trí năng
cũng rất thấp. Tướng phiền não câu sanh chẳng
lìa nhau : Vô minh phiền não từ trước mang đến,
động một cái liền nóng giận, loại chúng sinh nầy
nhất định sinh tánh hung bạo tàn nhẫn, khiến cho
mọi người không dám gần gũi. "Thừa" là đại thừa,
tức là tướng định. "Phi thừa" là bất thục, tức
cũng là tướng bất định. "Thế gian" là phi thừa,
bất định, nhưng có thể giáo hoá khiến cho vào
Phật đạo. Tướng thuần thục điều nhu : Tức là
tướng định hoà mục từ ái, khiến cho mọi người có
thể gần gũi. Tướng tuỳ lưới căn nhẹ chuyển thành
hoại : Lưới căn nghĩa là nói "lục nhập" triển
chuyển ràng buộc với nhau, không được giải
thoát, do đó theo sự ràng buộc nầy trầm luân
biến đổi, sinh trụ chẳng lâu, cho nên nói
"chuyển thành tướng hoại". Tướng tăng thượng
không thể hoại : Đây là chỉ phàm phu, hoặc hàng
nhị thừa, họ có thể trừ diệt chướng, cầu tu hành
tiến về trước, nên nói là tăng thượng, hay tăng
thượng thì không thể hướng về hoại, đây là tướng
tốt. Tướng thối bất thối khác biệt : Đây là chỉ
tịnh nghiệp của Bồ Tát mà nói. Thối là thối
chuyển, chẳng tiến bộ tức là thối tâm. Bất thối
tức là bất thối bồ đề tâm. Có ba thứ bất thối :
1. Vị bất thối : Không thối lùi về hàng nhị
thừa.
2. Hạnh bất thối : Pháp tu hành bất thối.
3. Niệm bất thối : Chánh niệm không thối chuyển.
Tướng cả hai bất đồng. Tướng xa tuỳ cùng sinh
bất đồng : Xa tuỳ là nói tướng từ vô thuỷ đến
nay tuỳ nghiệp cùng sinh bất đồng. Vì thâm nhập,
cho nên gọi xa tuỳ. Những tướng ở trên, chỉ lược
nói, nếu nói tỉ mỉ thì vô tận, có tám vạn bốn
ngàn tướng. Tuy nhiên vô tận, nhưng Bồ Tát vẫn
biết như thật căn tướng của mỗi chúng sinh.
Lại
biết các sự hiểu biết hạ trung thượng, các tánh
hạ trung thượng, sự ưa muốn hạ trung thượng. Đều
lược nói cho đến tám vạn bốn ngàn.
Bồ Tát lại biết tướng trạng khác nhau về : Căn,
hiểu, muốn, ba thứ, hạ, trung, thượng. Ba thứ
tướng nầy là thuận theo sự phát triển. Y theo
căn sinh hiểu, y theo hiểu thì thành tánh, y
theo tánh thì khởi ham muốn, thảy đều tương tự
gọi là tướng thuận. Nghĩa lý tướng tham, gọi là
thuận nhập. Những thứ nầy chỉ là nói đại khái,
nếu nói tỉ mỉ thì cũng có tám vạn bốn ngàn.
Lại
biết các tuỳ miên đủ thứ tướng. Đó là : Tướng
cùng sinh với thâm tâm. Tướng cùng sinh với tâm.
Tướng tâm tương ưng, chẳng tương ưng khác biệt.
Tướng lâu xa tuỳ hành. Tướng vô thuỷ không ra
khỏi. Tướng trái với tất cả thiền định giải
thoát tam muội Tam ma bạt đề thần thông. Tướng
tam giới tương tục thọ sinh trói buộc. Tướng
khiến cho vô biên tâm tương tục hiện khởi. Tướng
mở cửa các nơi. Tướng kiên thật khó trị. Tướng
địa xứ thành tựu, không thành tựu. Tướng chỉ
dùng Thánh đạo nhổ được sự khổ.
Bồ Tát lại biết đủ thứ tướng tuỳ miên phiền não,
như tướng với thâm tâm cùng sinh – thâm tâm là
nói tướng tuỳ miên đi theo từ vô thuỷ đến nay,
phiền não rất vi tế khó quán sát, đến Thập địa
vẫn chưa dứt hết. Tướng với tâm cùng sinh : Đây
là chỉ tâm ý sáu thức phân biệt sự vật, là do sự
vật hiện tiền mà sinh khởi. Tướng tâm tương ưng
bất tương ưng khác biệt : Đây là y tam giới để
nói, tương ưng là đồng giới nội tương ưng, bất
tương ưng là bất đồng một giới khác tương ưng.
Bất quá có lúc tại đồng giới nội tuỳ theo cảnh
giới hiện tiền, cũng bất tương ưng. Tướng lâu xa
tuỳ hành : Là nói lâu xa kiếp đến nay đều là tuỳ
hành, thậm chí trên đến Hữu Đỉnh, hoặc nói hệ
tuỳ đến tướng Cửu địa. Tướng vô thuỷ không ra
khỏi : Đây là nói nghiệp vô thuỷ đến nay, do
chẳng có văn tư tu, nên chẳng có trí huệ sinh
khởi, tuỳ miên oán tặc làm liều, mà chúng sinh
không thể thoát khỏi phiền não nầy. Tướng trái
với tất cả thiền định giải thoát tam muội Tam ma
bạt đề : Vì chúng sinh chẳng biết tu hành, không
rõ chân lý, không thể diệt trừ tâm ái kiến,
chẳng đắc được tam muội thiền định và giải
thoát, cũng chẳng minh bạch phương pháp tu học
chỉ quán, tất cả đều trái với chánh pháp, mà
thuận với phiền não. Tướng tam giới tương tục
thọ sinh trói buộc : Ở trong tam giới không dứt
thọ sinh, ở đâu cũng bị vô minh phiền não trói
buộc. Tướng vô biên tâm tương tục hiện khởi :
Vọng tưởng không bờ không mé, ở trong tâm ý đây
khởi kia lặng không ngừng, khiến cho hiện ra
tướng hoảng hốt bất an. Tướng khai mở các xứ
môn : Là mở mười hai xứ, căn thức hai thứ đồng
sinh tác dụng, cho nên nói các môn. Tướng kiên
thật khó trị : Kiên thật là chỉ tham sân si ba
thứ độc hại, thâm nhập vào không dễ gì trừ diệt,
cho nên nói nó kiên thật khó trị. Tướng địa xứ
thành tựu, chẳng thành tựu : Tức là nói ở tại
các địa có thể thành tựu tướng quả vị các địa,
hoặc không thể thành tựu tướng quả vị các địa.
Tướng chỉ có y Thánh đạo tu hành của Phật nói,
mới có thể nhổ được tướng tất cả rễ khổ.
Lại biết tướng đủ thứ thọ sinh. Đó là : Tướng
tuỳ nghiệp thọ sinh. Tướng sáu cõi khác biệt.
Tướng hữu sắc vô sắc khác biệt. Tướng hữu tưởng
vô tưởng khác biệt. Tướng nghiệp làm ruộng, nước
ái thấm nhuần, tối vô minh che, thức là hạt
giống, sinh mầm đời sau. Tướng danh sắc đều sinh
không lìa nhau. Tướng si ái mong cầu nối thân
sau. Tướng muốn thọ muốn sinh vô thuỷ ưa chấp.
Tướng tham cầu hy vọng rằng thoát tam giới.
Bồ Tát Cửu địa lại biết đủ thứ tướng chúng sinh
thọ sinh : Đó là tướng khác nhau do chúng sinh
khởi hoặc, tạo nghiệp, đều khác nhau, thọ báo
cũng khác nhau, tuỳ theo nghiệp họ đã tạo mà thọ
sinh thọ báo. Tướng sáu cõi khác biệt : Sáu cõi
là sáu pháp giới - người có pháp giới của người,
trời có pháp giới của trời, địa ngục có pháp
giới của địa ngục, ngạ quỷ có pháp giới của ngạ
quỷ, súc sinh bao quát phi cầm tẩu thú trùng,
cũng có pháp giới của chúng, A tu la có pháp
giới của A tu la, nhưng căn tánh của A tu la
hung tàn thích đấu tranh, ở trong mỗi pháp giới
đều có căn tánh chúng sinh nầy, cho nên phàm là
người hay là súc sinh mà có căn tánh đấu tranh,
đều gọi là A tu la. Chúng sinh trong sáu cõi,
đều có tướng trạng khác nhau. Tướng trạng của
chúng sinh cõi sắc giới và vô sắc giới cũng rất
nhiều sự khác biệt. Tướng của chúng sinh có
tưởng và chúng sinh không tưởng cũng có sự khác
biệt, và chúng sinh phi hữu tưởng phi vô tưởng
cũng có đủ thứ sự khác nhau. Sinh tướng đủ thứ
sự khác nhau như ở trên, đều căn cứ vào nghiệp
nhân của họ, cho nên nói nghiệp giống như một
miếng ruộng đất, si ái thì giống như nước thấm
nhuần miếng ruộng đất nầy. Câu sinh vô minh thọ
vô thuỷ đến nay che đậy, thức a lại da hàm chứa
tất cả là hạt giống, những nhân duyên nầy hợp
với nhau thì sinh khởi mầm thân sau. Có danh sắc
rồi thì không thể lìa khỏi vô minh câu sanh, trở
thành một tướng trạng cụ thể. Lại có sự vô minh
ngu si sinh ra ái, hy vọng đắc được tướng vĩnh
viễn tương tục thành thân sau. Nghĩ lại có đời
sau, thọ sinh không ngừng, chấp trước tướng tham
ái vô thuỷ đến nay. Vọng tưởng ra khỏi tam giới
mà vẫn tham cầu tướng dục giới.
Lại
biết đủ thứ tướng tập khí. Đó là : Tướng tu hành
chẳng tu hành khác biệt. Tướng tuỳ cõi huân tập.
Tướng tuỳ chúng sinh hạnh huân tập. Tướng tuỳ
nghiệp phiền não huân tập. Tướng thiện bất thiện
vô ký huân tập. Tướng tuỳ nhập thân sau huân
tập. Tướng thứ lớp huân tập. Tướng chẳng đoạn
phiền não viễn hành không bỏ huân tập. Tướng
thật chẳng thật huân tập. Tướng thấy nghe gần
gũi Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát Như Lai huân
tập.
Bồ Tát Địa thứ chín lại biết đủ thứ hình tướng
tập khí biểu hiện của chúng sinh. Tập là huân
tập, khí là khí chất. Tập khí vốn không hình
không tướng, nhưng biểu hiện ra đủ thứ tướng
trạng trên sự tướng. Ý nghĩa huân tập là, giống
như lấy miếng vải trắng để ở chỗ có khói, một
lát sau thì miếng vải trắng biến thành màu vàng,
mà còn có mùi khói. Màu vàng là do huân tập, lưu
lại vị đạo, tức là khí chất. Cho nên nói tập khí
là do huân nhiễm mà ra, tập khí sâu dày là do
thời gian huân tập lâu dài. Tự tánh của con
người vốn sáng lạng, thanh tịnh, vì đời đời kiếp
kiếp, do vô minh bất giác sinh ra ba thứ tướng
vi tế - Nghiệp tướng, hiện tướng, chuyển tướng,
ba thứ tướng nầy hiện ra, thì trở thành tướng
trạng tập khí. Vì bị vô minh hiện ra, tức là tập
khí ô nhiễm, chẳng thanh tịnh. Ví dụ như đời
nầy, trẻ con học tập đi đứng, nói năng, mặc
đồ .v.v... khi lớn lên học về lễ nghi, đi học,
kỹ thuật .v.v... đều phải trải qua học từng chút
từng chút, mới có thể tiến bộ thuần thục. Bồ Tát
biết tập khí của chúng sinh là do huân tập mà
ra, ví như : Người tu hành có sự biểu hiện tập
khí tu hành, người chẳng tu hành có sự biểu hiện
tập khí chẳng tu hành, đó đều do duyên trong đời
quá khứ huân tập, cho nên biểu hiện tướng trạng
khác nhau. Chúng sinh trong sáu cõi, cũng tuỳ sự
thọ sinh trong đó sinh hoạt tập quán, huân tập
năm này tháng nọ, mà biểu hiện ra tướng tập khí
khác nhau trong mỗi cõi. "Tuỳ chúng sinh" là bao
quát chúng sinh chín pháp giới. Trừ sáu cõi
tướng tập khí chúng sinh ở trên ra không nói,
hiện tại chỉ nói tướng huân tập cõi Bồ Tát trong
ba pháp giới. Bồ Tát thì hoan hỉ tự độ độ tha,
tự lợi lợi tha. Cõi Thanh Văn, cõi Duyên Giác,
các Ngài nguyện làm tự liễu hán, đó đều là do
tập tánh của mỗi người khác nhau. Tướng tuỳ
nghiệp phiền não huân tập : Tuỳ theo nghiệp tạo
ra, đắc được báo đáng thọ, ác nghiệp ác báo,
phiền não nhất định theo ràng buộc, suốt đời
hiện tướng trong phiền não. Thiện là tập khí
tốt, bất thiện là tập khí xấu, vô ký là tập khí
không tốt cũng không xấu. Tướng tuỳ nhập thân
sau huân tập : Tuỳ theo sự trồng nhân, mà kết
quả đáng được, có đời nầy thì có đời sau; đời
nầy huân tập tập khí nặng, thì đời sau tập khí
nhất định sẽ nặng. Tướng thứ lớp huân tập : Y
theo thứ tự, tướng huân tập có ngằn có mé. Tướng
chẳng đoạn phiền não viễn hành không bỏ huân
tập : Phiền não chẳng dễ gì đoạn trừ. Viễn hành
là nói khiến cho bạn tu hạnh vô lậu, tướng huân
tập phiền não vẫn còn đi theo bạn, không chịu
lìa khỏi bạn. Tướng thật chẳng thật huân tập :
Thật là chân thật, tu Bồ Tát đạo, cầu trí huệ
chân thật Vô Thượng Chánh Giác. Chẳng thật là
hiện ra tướng huân tập chẳng chân thật. Tướng
thấy nghe gần gũi Thanh Văn Độc Giác Bồ Tát Như
Lai huân tập : Thấy nghe là nói phải có chánh
kiến, nghe chánh pháp, không gần nhị thừa và
ngoại đạo, dùng sự huân tập làm hạt giống. Tuỳ
theo hạt giống huân tập muốn gần gũi Thanh Văn
thừa, Bồ Tát thừa, hoặc Phật thừa, đều tuỳ theo
tướng trạng của sự huân tập.
Lại
biết tướng chánh định, tà định, bất định của
chúng sinh. Đó là : Tướng chánh kiến chánh định.
Tướng tà kiến tà định. Tướng cả hai bất định.
Tướng ngũ nghịch tà định. Tướng năm căn chánh
định. Tướng cả hai bất định. Tướng bát tà tà
định. Tướng chánh tánh chánh định. Tướng càng
không làm cả hai lìa bất định. Tướng sâu chấp tà
pháp tà định. Tướng tập hành Thánh đạo chánh
định. Tướng cả hai xả bất định.
Bồ Tát Địa thứ chín lại biết phải chăng chúng
sinh đắc được tướng chánh định, phải chăng nhập
vào tà định, hay là chưa đắc chánh định, cũng
chưa nhập vào tà định. Chúng sinh có tướng chánh
định chánh kiến. Nhập vào tà định tà kiến. Nhị
câu tức là không chánh huệ lựa chọn, lại không
bát vô nhân quả, vừa tốt vừa xấu, tướng cả hai
đều chẳng phải. Tướng ngũ nghịch tà định :
Ngũ nghịch là :
1. Giết cha.
2. Giết mẹ.
3. Giết A la hán.
4. Phá hoà hợp Tăng
5. Làm thân Phật chảy máu.
Tướng tà định nầy. Như Đề Bà Đạt
Đa tức là tướng tà định. Tướng năm căn chánh
định : Năm căn là : Tin, tấn, niệm, định, huệ.
Có năm căn nầy mới đắc được tướng chánh định.
Tướng nhị câu bất định : Cả hai tướng chánh tà
không thể phân biệt rõ ràng. Tướng bát định tà
định : Bát tà tức là ngược lại với bát chánh. Tà
kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà
tinh tấn, tà niệm, tà định. Tướng chánh tánh
chánh định : Tức là tướng tánh tình chánh đáng
và chánh quyết. Tướng càng không làm cả hai lìa
bất định : Tướng bất định cả hai đều không lìa.
Tướng chấp sâu tà pháp tà định : Tướng tà giáo
tà pháp tà định chấp trước thâm sâu của ngoại
đạo. Tướng tập hành Thánh đạo chánh định : Tướng
tu tập chánh đạo chánh định của Thánh nhân tu.
Tướng cả hai xả bất định : Tướng cả hai là chỉ
tà pháp tà định với chánh pháp chánh định của
Thánh đạo. Cả hai đều xả được, nhưng vẫn là bất
định. Ở trên là lược nói đủ thứ tướng, đều là
tập khí huân tập hình thành trải qua nhiều kiếp
của chúng sinh, mà hiển hiện ra tướng.
Phật tử ! Bồ Tát tuỳ thuận trí
huệ như vậy, gọi là trụ bậc Thiện Huệ địa. Trụ
địa nầy rồi, biết rõ các việc làm khác biệt của
chúng sinh, để giáo hoá điều phục, khiến cho họ
được giải thoát.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát Địa thứ
chín, Ngài tuỳ thuận đủ thứ trí huệ vô thượng
như đã nói ở trên, quán sát chúng sinh, suy gẫm
chúng sinh có đủ thứ phiền não, và các thứ tướng
trạng tập khí khác biệt, biết rõ như thật, cho
nên gọi là trụ bậc Thiện Huệ địa. Bồ Tát đã trụ
bậc Địa thứ chín nầy rồi, Ngài thấu rõ thông đạt
được những việc làm của tất cả chúng sinh, và
tướng trạng khác biệt, cùng với nguồn gốc phiền
não tập khí, Ngài bèn dùng pháp môn phương tiện
khéo léo, giáo hoá hết thảy chúng sinh, điều
phục hết thảy chúng sinh cang cường, khiến cho
họ đều được giải thoát, đắc được thân tâm bình
an tự tại.
Phật tử ! Bồ Tát nầy khéo diễn
nói pháp Thanh Văn thừa, pháp Độc Giác thừa,
pháp Bồ Tát thừa, pháp Như Lai thừa. Vì tất cả
hành xứ tuỳ trì huệ hành, hay tuỳ theo căn tánh
ham muốn hiểu biết của chúng sinh, sở hành có
khác, các tụ khác biệt. Cũng tuỳ thọ sinh phiền
não miên ràng buộc các nghiệp tập khí mà vì họ
thuyết pháp, khiến cho họ tin hiểu, tăng trưởng
trí huệ, theo thừa của họ mà được giải thoát.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát Địa thứ
chín, vì đã chứng được bốn trí vô ngại biện, đối
với sự diễn thuyết xiển dương Phật pháp các
thừa, đặc biệt đều thành tựu. Hay khéo léo diễn
nói vô ngại pháp môn Thanh Văn thừa của bậc
Thánh tu hành. Lại khéo diễn nói pháp môn Độc
Giác thừa của bậc Thánh tu học. Lại khéo diễn
nói pháp môn tu hành của Bồ Tát thừa. Ngài cũng
có thể diễn nói pháp môn tu học Phật đạo viên
mãn thành Phật quả. Pháp môn tất cả thừa và tất
cả mọi người tu hành, đều biết rõ như thật. Bồ
Tát dùng trí huệ của Ngài chứng được, quán sát,
suy gẫm đủ thứ căn tánh thiện ác của chúng sinh
- độn căn, lợi căn, tánh thiện, tánh ác. Chúng
sinh đều có sự ham muốn hiểu biết khác nhau -
muốn cái gì ? Hoan hỉ cái gì ? Biết cái gì ?
Trình độ hiểu biết thế nào ? Căn tánh ham muốn
hiểu biết của tất cả chúng sinh khác biệt đặc
thù, nhưng Bồ Tát tuỳ theo trí huệ tu chứng, đều
biết rõ biểu hiện khác nhau của chúng sinh trong
các cõi. Có chúng sinh thường ở trong sáu nẻo,
có chúng sinh lại ở trong bốn cõi; tuy là như
vậy, Bồ Tát tuỳ theo nguyện lực của Ngài, theo
chúng sinh đi thọ sanh. Ngài cũng thị hiện phiền
não, tuỳ miên phiền não trói buộc, đủ thứ
nghiệp, đủ thứ biểu hiện tập khí. Bồ Tát căn cứ
những thứ thống khổ nầy của chúng sinh, nhập
thân vào trong chúng sinh, thọ thống khổ như
nhau. Dùng bốn pháp nhiếp, rộng vì họ tuyên nói
đủ thứ Phật pháp thượng diệu. Chỗ Bồ Tát khác
với phàm phu, là Bồ Tát ở nơi cảnh giới, mà
không chấp vào cảnh giới, không mê nơi sự tướng.
Tức sự hành sự, thấy cảnh giới liền minh bạch
cảnh giới. Thuyết pháp với chúng sinh khế cơ,
khiến cho chúng sinh đều sinh ra tâm tin, minh
bạch hiểu rõ tiếp thọ chánh pháp. Khai mở cửa
trí huệ cho chúng sinh, khiến cho tăng trưởng
trí huệ, còn khiến cho mỗi loài chúng sinh, đều
ở trong pháp môn tu học của họ đắc được giải
thoát.
Phật tử ! Bồ Tát trụ bậc Thiện
huệ địa nầy, làm đại pháp sư, đủ hạnh pháp sư,
khéo giữ gìn pháp tạng của Như Lai. Dùng trí vô
lượng khéo léo, khởi bốn biện vô ngại. Dùng lời
lẽ Bồ Tát mà diễn nói pháp. Bồ Tát nầy thường
chuyển theo bốn trí vô ngại, không tạm xả lìa.
Những gì là bốn ? Đó là : Pháp vô ngại trí,
nghĩa vô ngại trí, từ vô ngại trí, lạc thuyết vô
ngại trí.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Khi Bồ Tát trụ ở
quả vị Thiện huệ địa, thường làm đại pháp sư, vì
chúng sinh diễn nói diệu pháp. Vì Ngài đã thành
tựu vô thượng trí huệ. Sức trí huệ khiến cho
khẩu nghiệp thanh tịnh, mới có thể diễn nói diệu
pháp thông đạt vô ngại, mà còn đầy đủ oai nghi,
tế hạnh của pháp sư. Làm đại pháp sư phải đầy đủ
mười đức hạnh :
1. Khéo biết nghĩa của pháp.
2. Hay rộng tuyên nói.
3. Trong chúng không sợ.
4. Vô ngại biện tài.
5. Phương tiện khéo nói.
6. Pháp tuỳ pháp hành.
7. Oai nghi đầy đủ.
8. Dũng mãnh tinh tấn.
9. Thân tâm không mệt.
10. Thành tựu sức nhẫn.
Bồ Tát Địa thứ chín, Ngài đều đầy
đủ mười đức tánh nầy, nên Ngài làm đại pháp sư.
Ngài lại khéo giữ gìn pháp tạng của Như Lai nói.
Nghĩa là nói Ngài khéo hay bố thí, khéo giữ
giới, khéo nhẫn nhục, khéo tinh tấn, khéo thiền
định, khéo tu tập Bát Nhã, rộng tu lục độ, mà
còn thiết thực hành trì.
Xưa kia có vị phu nhân Mạt Lợi,
bà ta một đời chuyên hành bố thí, giữ gìn giới
hạnh. Đem hết thảy tiền tài châu báu bố thí cho
chúng sinh, chưa từng hối tiếc, đối với người
thọ nhận thảy đều đối đãi bình đẳng, tơ hào
chẳng có tâm phân biệt. Về phương diện giới
hạnh, ba nghiệp thanh tịnh chẳng có tỳ vết.
Song, lúc lâm chung, hốt nhiên sinh ra chút tâm
sân hận. Do một niệm sân hận, liền bị đoạ lạc,
tái sinh làm con bò cạp, loài nầy rất độc. Thọ
sinh con bò cạp được bảy ngày thì chết. Sau khi
chết được sinh về cõi trời hưởng phước.
Các vị ! Nhờ bà ta một đời làm
công đức bố thí, trì giới, nhưng lúc lâm chung
khởi lên một niệm sân, mà bị đoạ vào súc sinh
làm trùng độc, vã lại do một đời làm nghiệp
thiện, nên được sinh về cõi trời. Do đó, có thể
thấy, làm người, nhất là người tu đạo, thời khắc
đều phải chiếu cứ giữ gìn tâm ý của mình, đừng
có sân hận, đừng tuỳ tiện sinh tâm sân hận. Vì
tâm sân hận tức là độc, cho nên phàm là người
tâm sân hận nặng, khi chết đi thì đoạ làm thân
rắn, thân bò cạp, thân ong độc, hoặc làm trăn
độc, những thứ súc sinh nầy đều có độc, nghiệp
báo rất nguy hiểm đáng sợ. Tu hành thì phải sửa
đổi tâm tham, tâm sân, tâm si, khiến cho trở
thành tâm từ bi bình đẳng rộng lớn, đối với bất
cứ người nào đều phải hoà bình từ ái, chẳng có
sự nóng giận. Người xưa có nói:
“Hành hữu bất đắc
Phản cầu chư kỷ”.
Nghĩa là làm việc không thuận
lợi, cũng phải phản tỉnh kiểm tra lại lỗi lầm
của mình. Mặt xấu nhất của người tu hành là có
lòng sân hận lớn, chuyên nói chuyện xấu người
khác, chỉ khen mình. Lúc nào cũng phải có tâm từ
bi, tâm hỉ xả, tuỳ thời xa lìa tâm tham sân si,
đó tức là giữ gìn pháp tạng của Như Lai. Từ bi
hỷ xả bốn tâm vô lượng, tám vạn bốn ngàn pháp
môn, đều là pháp tạng Như Lai, ở trong pháp tạng
Như Lai sung mãn trí huệ quang minh, người tu
đạo bất cứ đối nội đối ngoại, đối với người bất
cứ già trẻ lớn nhỏ, đều phải có tâm từ bi hỷ xả,
thì tự nhiên sẽ có cảm ứng. Như có người hay
dùng tay trị bệnh, không phải là tay của họ có
thể chữa bệnh, mà là tâm thành của họ có lòng từ
bi hỷ xả ái hộ người, chân tâm trợ giúp người,
cho nên dùng tay để tượng trưng. Trong Kinh Hoa
Nghiêm có một bài kệ rằng:
“Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Hãy quán tánh pháp giới
Hết thảy do tâm tạo”.
Hiện tại chúng ta cũng có thể nói
như vầy:
Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả tay ba đời
Hãy quán tánh pháp giới
Hết thảy do tâm tạo”.
Cho nên người mà có thần thông, thì tay của họ
có con mắt, có thể chữa bệnh. Nếu như chẳng có
tâm từ bi hỷ xả, tâm địa bất thiện, đối với
người không tốt, thì dù có thần thông, tay cũng
không thể linh nghiệm, sẽ chẳng có cảm ứng gì
hết. Người chẳng có tâm ích kỷ lợi mình, tuỳ
thời hành Bồ Tát đạo, không cần người đối với
mình tốt. Chúng ta chỉ cần đối với người cho
thật tốt, đừng hỏi người ta đối với mình như thế
nào, cho nên cổ nhân có nói: “Thi ân bất cầu
báo”. Những biểu hiện đó đều là giữ gìn pháp
tạng của Như Lai. Bồ Tát Địa thứ chín, Ngài đầy
đủ đức tánh của đại pháp sư, lại khéo giữ gìn
pháp tạng của Như Lai, cho nên Ngài hay dùng đủ
thứ vô lượng trí huệ phương tiện khéo léo, mà
sinh khởi bốn thứ biện tài thông đạt vô ngại,
diễn nói pháp môn của chư Phật nói, viên dung vô
ngại. Ngài dùng bốn tâm vô lượng, dùng trí huệ
bốn vô ngại biện tài và bốn pháp nhiếp khéo léo
của Bồ Tát, vì chúng sinh diễn nói diệu pháp của
chư Phật, khiến cho chúng sinh nghe đắc được sự
mát mẻ, xả lìa phiền não sinh tâm hoan hỉ. Đây
tức là tâm từ bi và diệu dụng của bốn vô ngại
trí biện tài.
Bồ Tát Thiện huệ địa, Ngài luôn luôn tuỳ thuận
bốn trí huệ vô ngại, linh hoạt vận dụng diễn nói
các pháp, vì giáo hoá chúng sinh, quán cơ nhiếp
thọ. Những gì là bốn trí huệ vô ngại ? Đó là:
1. Pháp vô ngại trí: Phật pháp đều viên dung vô
ngại, Phật Phật đạo đồng, pháp pháp vô ngại. Một
pháp hay sinh vô lượng pháp, vô lượng pháp không
lìa một pháp. Một tức là nhiều, nhiều tức là
một. Một nhiều không hai, một nhiều vô ngại.
Minh bạch được đạo lý nầy sẽ sinh khởi trí huệ,
vận dụng trí huệ nầy để diễn nói pháp của chư
Phật đã nói, tức là pháp vô ngại trí.
2. Nghĩa vô ngại trí: Đối với chúng sinh xiển
dương tám vạn bốn ngàn pháp môn, nghĩa lý đều
viên dung quán thông với nhau. Nghĩa lý cũng là
một nghĩa sinh vô lượng nghĩa, vô lượng nghĩa
quy về một nghĩa, một nhiều vô ngại, nên gọi là
“pháp môn không hai”. Trí huệ nầy gọi là nghĩa
vô ngại trí.
3. Từ vô ngại trí: Từ tức là dùng ngôn ngữ biểu
đạt sự lý, khiến cho người nghe được minh bạch.
Nếu nói rõ sự lý Phật pháp được rõ ràng, viên
dung vô ngại, khế hợp với căn tánh hiểu biết của
chúng sinh, thì tự nhiên khiến cho người sinh
khởi tâm tin. Thứ lời lẽ nầy, khiến cho người
tâm vui vẻ thành phục, vĩnh viễn không nhàm mỏi,
đây tức là từ vô ngại trí.
4. Lạc thuyết vô ngại trí: Lạc thuyết là hoan hỉ
nói, khéo nói, nguyện ý nói, tự động nói. Có
những người không hoan hỉ nói, biết mà không
muốn nói với người, ba lần thỉnh cầu mới nói.
Trong Kinh Hoa Nghiêm có vị Thắng Huệ Bồ Tát
nói:
“Phật pháp không người nói
Chỉ huệ không hiểu được”.
Tự mình minh bạch Phật pháp rồi, nếu bạn không
thích nói với người khác, thì người sơ cơ học
Phật pháp, làm sao mà hiểu được ? Cho nên, phải
có lạc thuyết tam muội, tức là thời khắc đều
nói, ngày đêm đều nói, năm tháng đều nói, vĩnh
viễn đều lạc thuyết không nhàm. Như ở Chùa Kim
Sơn ngày ngày giảng Kinh thuyết pháp, tức là
biểu hiện lạc thuyết vô ngại. Lạc thuyết vô
ngại, nhất định phải đầy đủ trí huệ ba thứ pháp
vô ngại ở trên, nghĩa vô ngại, từ vô ngại, mới
có thể có lạc thuyết vô ngại trí huệ biện tài.
Bồ
Tát nầy dùng pháp vô ngại trí, biết tự tướng của
các pháp. Nghĩa vô ngại trí, biết biệt tướng của
các pháp. Từ vô ngại trí, nói không sai lầm. Lạc
thuyết vô ngại trí, nói không dứt tận.
Bồ Tát Địa thứ chín khéo vận dụng trí huệ, cho
nên trí huệ càng dùng càng tăng trưởng. Ngài
siêng năng tu học pháp môn của chư Phật nói, cho
nên trí huệ của Ngài ngày càng thù thắng. Ngài
khéo suy gẫm quán sát tự tánh (tự tướng) của các
pháp, cho nên trí huệ quang của Ngài chiếu khắp
chúng sinh. Ngài thích đến đạo tràng của chư
Phật trong mười phương để nghe pháp, do đó trí
huệ của Ngài thông đạt vô biên. Lại dùng bốn vô
ngại trí để hình dung Ngài, thuyết minh trí huệ
thông đạt vô ngại, biện tài vô ngại của Ngài.
Bốn vô ngại biện còn gọi là bốn vô ngại trí.
Hiển bên ngoài thì dùng ngôn từ để thuyết minh,
tức là biện tài. Tàng ở bên trong thì do tự tánh
tự tâm bên trong phát ra, tức là trí huệ. Cho
nên gọi bên trong là trí, bên ngoài là biện. Bồ
Tát Địa thứ chín đắc được trí huệ pháp vô ngại
biện, biết được tự tướng của tất cả pháp. Tự
tướng của tất cả pháp như thế nào ? Tự tánh ra
làm sao ? Bồ Tát đều biết rõ.
"Các pháp tùng bổn lai
Thường tự tịch diệt tướng
Bất sinh diệc bất diệt
Bất khả dĩ ngôn tuyên".
Nghĩa là :
Các pháp từ xưa nay
Tự tướng thường vắng lặng
Không sinh cũng không diệt
Không thể dùng lời nói.
Đây tức là tự tướng tự tánh của tất cả các pháp.
Bồ Tát y cứ nghĩa vô ngại trí, lại biết biệt
tướng của các pháp. Biệt tướng tức là tướng đặc
biệt. Đã biết tự tướng của các pháp thường vắng
lặng, song nghĩa lý của mỗi thứ pháp môn đều
khác nhau.
Có tám vạn bốn ngàn pháp môn, thì có tám vạn bốn
ngàn nghĩa lý, mỗi nghĩa lý lại có nghĩa lý đặc
biệt của nó. Các pháp đều là vắng lặng, đây là
tướng chung. Mỗi pháp đều có nghĩa lý của nó,
đây tức là tướng đặc biệt của mỗi pháp. Tướng
đặc biệt thì hiển ra nghĩa lý đặc biệt của pháp.
Y cứ nghĩa vô ngại trí thì biết được tướng đặc
biệt của các pháp. Bồ Tát dùng từ vô ngại trí để
nói pháp nghĩa, tuyệt đối là chân thật, hợp với
pháp nghĩa, không thể nào sai lầm được. Không
hợp với pháp nghĩa, thì không thể tương ưng với
pháp, tức là sai lầm. Ví như bố thí, vốn là ban
cho người khác, nếu bạn kêu mọi người đem đồ tốt
cho tôi, còn bạn không bố thí cho người, đây tức
là tâm tham, tức là sai lầm. Như trì giới tinh
tấn .v.v... mình minh bạch rồi, dùng thân làm
khuôn phép, thân thể lực hành, cung hành thực
tiễn, làm Phật sự, và cũng dạy người khác thực
hành, ảnh hưởng đến người khác, dẫn đến sự tác
dụng, mới là chánh lý. Nếu việc gì cũng kêu
người khác làm, còn mình làm ngược lại, thì đều
là biểu hiện sai lầm. Là đệ tử Phật, ngày đêm
siêng năng, không thể sai lầm ! Sở dĩ Bồ Tát có
thể lạc thuyết, vì Ngài đã có trí huệ thông đạt
nghĩa lý của các pháp, do đó, Ngài cũng muốn
chúng sinh thấu đạt được Phật pháp, đắc được
thường lạc chân thật. Do vậy, Ngài chẳng có tờ
hào mệt mỏi, thường thấy cơ thuyết pháp, khiến
cho chúng sinh đắc được pháp lạc, khiến cho Phật
pháp hưng long, làm cho bánh xe pháp thường
chuyển.
Lại
nữa ! Dùng pháp vô ngại trí, biết tự tánh của
các pháp. Nghĩa vô ngại trí, biết sinh diệt của
các pháp. Từ vô ngại trí, an lập tất cả pháp nói
không dứt. Lạc thuyết vô ngại trí, tuỳ sự an lập
không thể hoại nói vô biên.
Bồ Tát Kim Cang Tạng cảm thấy
nghĩa lý của bốn vô ngại trí ở trên nói chưa
được viên mãn, do đó lại tăng cường ngữ ý, lại
thuyết minh bổ xung đối với bốn vô ngại trí.
Pháp là vô lượng vô biên, dọc bao thái hư, ngang
chu sa giới. Pháp là viên dung vô ngại, thông
đạt tất cả, chân thật, chánh quyết. Bồ Tát dùng
vô ngại trí, biết rõ tự tánh của các pháp. Dùng
nghĩa vô ngại trí, biết sinh diệt của các pháp.
Dùng từ vô ngại trí, an lập tất cả pháp – tám
vạn bốn ngàn pháp, dùng lưỡi rộng nói pháp nghĩa
của chư Phật, đối với chúng sinh tuyên nói không
dứt. Xưa kia đức Phật thuyết pháp hơn ba trăm
hội, trải qua bốn mươi chín năm, tức là dùng từ
vô ngại trí nói, dùng tinh thần lạc thuyết vô
ngại, trí huệ vô ngại tuỳ sự an lập giả danh,
giảng nói đạo lý các pháp đều dùng vô tánh làm
tự tánh. Như nói không gián đoạn, vĩnh viễn đều
nói không hết, thiên ma ngoại đạo cũng không
cách chi phá hoại được. Ý nghĩa an lập là nói
tất cả pháp giả danh đồng tướng. Pháp của Phật
nói là tận hư không khắp pháp giới, do đó khó
dùng lời nói, không cùng tận được, cho nên lạc
thuyết vô biên.
Lại nữa, dùng pháp vô ngại trí,
biết pháp hiện tại khác biệt. Nghĩa vô ngại trí,
biết pháp quá khứ vị lai khác biệt. Từ vô ngại
trí, nơi pháp quá khứ hiện tại vị lai, nói không
sai lầm. Lạc thuyết vô ngại trí, nơi mỗi mỗi đời
nói vô biên pháp tỏ rõ.
Bồ Tát Kim Cang Tạng tiếp tục
giải thích, lại nữa dùng thời gian để phân biệt
nói rõ bốn vô ngại trí. Ngài nói y cứ pháp vô
ngại trí, có thể biết được chỗ khác biệt của các
pháp đời hiện tại. Thông đạt nghĩa lý vô ngại
của các pháp, thì biết được điểm khác biệt nghĩa
lý của các pháp đời quá khứ và đời vị lai. Từ vô
ngại trí, đối với pháp của chư Phật ba đời quá
khứ hiện tại vi lại nói, đều thấu rõ, thọ trì,
dùng để giáo hoá chúng sinh, vì người tuyên nói,
tuyệt đối chẳng có lời lẽ sai lầm. Bồ Tát dùng
ba thứ trí huệ ở trên, rộng tuyên nói pháp yếu,
ở trong ba đời, ở trong đủ thứ loại chúng sinh,
Bồ Tát chẳng từ mệt nhọc, lạc thuyết vô lượng vô
biên nghĩa lý các pháp khác biệt, vĩnh viễn
không mệt mỏi.
Lại nữa, dùng pháp vô ngại trí,
biết pháp khác biệt. Nghĩa vô ngại trí, biết
nghĩa khác biệt. Từ vô ngại trí, tuỳ lời lẽ âm
thanh mà nói. Lạc thuyết vô ngại trí, tuỳ tâm họ
thích mà nói.
Lại nữa, Bồ Tát Kim Cang Tạng lại
dùng tướng Tu đa la (pháp) để phân tích pháp
nghĩa, tăng cường thuyết minh bốn thứ vô ngại
trí. Y theo pháp vô ngại trí, thì biết được các
pháp khác biệt. Minh bạch nghĩa lý các pháp,
sinh khởi vô ngại trí, thì biết nghĩa lý khác
biệt. Hay tuỳ loại tuyên nói các pháp, đây tức
là diệu dụng của từ vô ngại trí. Lạc thuyết vô
ngại trí, biết được tâm ý của chúng sinh, thì có
thể tuỳ tâm họ thích pháp gì, dùng ví dụ nào,
khiến cho chúng sinh thích nghe không chán. Bồ
Tát vận dụng bốn vô ngại trí, khế hợp với tâm
chúng sinh mà nói diệu pháp.
Lại nữa, pháp vô ngại trí, dùng
pháp trí biết sai biệt không khác. Nghĩa vô ngại
trí, dùng trí nầy biết khác biệt như thật. Từ vô
ngại trí, dùng thế trí nói khác biệt. Lạc thuyết
vô ngại trí, dùng đệ nhất nghĩa trí nói khéo
léo.
Lại nữa, Bồ Tát Kim Cang Tạng lại
y cứ trí tướng, y theo loại pháp để phân tích
pháp nghĩa. Pháp vô ngại trí, thì có thể biết
đạo lý đồng nghĩa, bất đồng nghĩa khác biệt của
các pháp. Dùng nghĩa vô ngại trí, thì biết được
chân thật kết luận khác biệt của trí nầy đắc
được. Từ vô ngại trí, nói pháp thế gian và pháp
xuất thế gian viên dung vô ngại. Thế trí là trí
huệ thế tục, tức là hậu đắc trí. Dùng trí huệ
thế gian để phân tích thật giả về pháp thế gian
và pháp xuất thế, vì muốn khiến cho chúng sinh
đắc được pháp nghĩa đệ nhất nghĩa thù thắng, giả
dùng phương tiện giải nói, khiến cho chân đế
được tương ưng, mà không điên đảo, như vậy mới
là khéo léo. Không gián đoạn, luôn luôn nói. Đa
phương giả thuyết, không sinh mỏi nhàm, như vậy
mới có thể gọi là lạc thuyết. Lạc về trí huệ
thuyết pháp, có thể khiến người nghe pháp, chứng
được đệ nhất nghĩa.
Lại nữa, pháp vô ngại trí, biết
các pháp một tướng bất hoại. Nghĩa vô ngại trí,
biết khéo léo về duyên khởi uẩn giới xứ đế. Từ
vô ngại trí, dùng tất cả âm thanh văn tự hay đẹp
dễ hiểu của thế gian để nói. Lạc thuyết vô ngại
trí, dùng chuyển thắng vô biên pháp minh để nói.
Lại nữa, Bồ Tát Kim Cang Tạng lại
dùng tướng không ngã mạn, y chân tục hai nghĩa
để phân biệt bổ xung thuyết minh bốn vô ngại
trí.
Pháp vô ngại trí : Biết được các
pháp là một tướng bình đẳng. "Bất hoại" là nói
không thể bị thiên ma ngoại đạo đến phá hoại
cảnh giới "vô ngã".
Nghĩa vô ngại trí : Pháp là một
tướng bất hoại, nghĩa lý thì viên dung vô ngại.
Dùng nghĩa vô ngại trí, biết năm uẩn - sắc, thọ,
tưởng, hành, thức, đều là không, Bồ Tát thì muốn
giáo hoá chúng sinh làm thế nào thấy được năm
uẩn đều không. "Giới" là mười tám giới - mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu căn, đối với ngoại
cảnh bèn sinh ra sáu trần - sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp. Sáu căn bên trong đối với sáu
trần bên ngoài, bèn sinh ra sáu thức – nhãn
thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức,
ý thức. Sinh khởi sáu thức rồi, thì có sự phân
biệt. Sáu căn, sáu trần, sáu thức, hợp lại thì
gọi là mười tám giới. "Xứ" tức là sáu căn bên
trong, sáu trần bên ngoài, hợp lại gọi là mười
hai xứ. "Đế" tức là bốn thánh đế - khổ, tập,
diệt, đạo. Duyên tức là vô minh duyên hành, hành
duyên thức, thức duyên danh sắc .v.v... cho đến
sinh duyên lão tử, gọi là mười hai nhân duyên.
Bồ Tát có nghĩa vô ngại trí, cho nên Ngài minh
bạch được những đạo lý nầy mà Phật đã chứng ngộ,
sinh khởi pháp môn phương tiện khéo léo. Tức
cũng là pháp môn lục độ - bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Dùng lục độ
để đối trị khuyết điểm của chúng sinh, phương
tiện giáo hoá họ. Dùng pháp môn bố thí để độ
chúng sinh xan tham. Pháp môn trì giới, độ những
chúng sinh huỷ phạm. Pháp môn nhẫn nhục, độ
những chúng sinh cang cường, tâm sân hận nặng.
Pháp môn tinh tấn, độ những chúng sinh giải đãi
lười biếng. Pháp môn thiền định, độ những chúng
sinh tán loạn. Pháp môn trí huệ, độ những chúng
sinh ngu si. Bồ Tát khéo léo dùng pháp môn lục
độ, để độ tất cả chúng sinh thoát khổ ách.
Từ vô ngại trí : Bồ Tát dùng lời
lẽ và văn tự hay đẹp của thế gian, để biểu đạt
nghĩa lý vô thượng mà không tổn nơi chân lý.
Lạc thuyết vô ngại trí : Là hoan
hỉ giảng Kinh thuyết pháp, nói diệu lý vô thượng
vô ngã. Từ cạn vào sâu, dần dần đối với chúng
sinh xiển dương đến nghĩa lý vô thượng thù
thắng. Sự khác biệt trong từ nghĩa, ví tế vô
biên, Bồ Tát đều dùng lạc thuyết vô ngại trí,
nói rõ ràng dễ hiểu, khiến cho chúng sinh nghe
rồi, sinh khởi vô lượng pháp lạc.
Lại
nữa, pháp vô ngại trí, biết tánh nhứt thừa bình
đẳng. Nghĩa vô ngại trí, biết tánh các thừa khác
biệt. Từ vô ngại trí, nói tất cả thừa không khác
biệt. Lạc thuyết vô ngại trí, nói mỗi mỗi thừa
vô biên pháp.
Lại nữa, Bồ Tát Kim Cang Tạng lại dùng tướng đại
tiểu thừa, căn cứ quyền thật để phân biệt pháp
nghĩa, y chứng diệu dụng bốn vô ngại trí. Pháp
vô ngại trí : Như thật tức là pháp. Biết đại
thừa, tiểu thừa, Bồ Tát thừa, Thanh Văn thừa,
Duyên Giác thừa, Phật thừa, đều là bình đẳng một
tánh. Nghĩa vô ngại trí : Biết quyền tức là
nghĩa. Biết các thừa vốn là bình đẳng một tánh,
nhưng phân biệt để quán sát tỉ mỉ, mỗi một thừa
lại có tánh khác nhau của nó. Từ vô ngại trí :
Có thể ba thừa quy về một thừa, tức là từ. Bồ
Tát biết Phật vì chúng sinh căn tánh bất nhất,
mà quyền tuyên nói ba thừa, kỳ thật mỗi thừa
chẳng có tánh phân biệt. Lạc thuyết vô ngại
trí : Khai phương tiện môn tức là vận dụng lạc
thuyết khéo léo. Bồ Tát diễn nói mỗi một thừa,
đều có vô biên phương pháp, tuỳ tâm hành chúng
sinh khác nhau, tuỳ cơ dùng nhiều pháp xiển
minh, nói pháp các thừa. Pháp tuy nhiên là vô
cùng vô tận vô biên, nhưng đều là một việc mà
thôi.
Lại
nữa, pháp vô ngại trí, biết tất cả Bồ Tát hạnh,
trí hạnh, pháp hạnh, trí tuỳ chứng. Nghĩa vô
ngại trí, biết Thập địa phân vị nghĩa khác biệt.
Từ vô ngại trí, nói tướng địa đạo không khác
biệt. Lạc thuyết vô ngại trí, nói tướng mỗi địa
vô biên hạnh.
Lại nữa, pháp vô ngại trí, y vào trí nầy biết
hạnh môn tu hành của Bồ Tát, trí huệ khai mở các
phương diện hạnh môn, pháp môn các pháp phương
tiện viên dung, y cứ trí huệ vô hạn tuỳ tu tuỳ
chứng. Nghĩa vô ngại trí : Có thể minh bạch
nghĩa lý và pháp môn khác nhau của mỗi địa trong
thập địa. Từ vô ngại trí : Phân biệt nói rõ đạo
lý thập địa, và chẳng có phân biệt tướng trạng.
Lạc thuyết vô ngại : Nói rõ tỉ mỉ về vô lượng vô
biên tướng trạng và cảnh giới tu hành mỗi địa
trong Thập địa.
Lại
nữa, pháp vô ngại trí, biết tất cả Như Lai một
niệm thành Chánh Giác. Nghĩa vô ngại trí, biết
đủ thứ thời, đủ thứ nơi, thảy đều khác biệt. Từ
vô ngại trí, nói thành Chánh Giác khác biệt. Lạc
thuyết vô ngại trí, nơi mỗi câu pháp, vô lượng
kiếp nói không hết.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại nói lại nữa, tăng thêm
sự thuyết minh bốn vô ngại trí thù thắng. Pháp
vô ngại trí : Biết mười phương ba đời có thể ở
trong một niệm, thành tựu quả vị Chánh Đẳng
Chánh Giác. Nghĩa vô ngại trí : Biết được đủ thứ
thời kiếp khác nhau, và ở trong cõi nước khác
nhau thành Chánh Giác, tuỳ việc thành Chánh Giác
hiện thân tướng Phật, y cứ chánh báo. Từ vô ngại
trí : Là nói Phật thành Chánh Giác, dùng đủ thứ
pháp môn khác nhau tu chứng được. Lạc thuyết vô
ngại trí : Trong mỗi câu pháp bao hàm pháp
nghĩa, dù có trải qua vô lượng kiếp thời gian,
nói cũng không hết được.
Lại
nữa, pháp vô ngại trí, biết tất cả lời lẽ, sức
vô sở uý, Phật pháp bất cộng, đại từ đại bi,
biện tài phương tiện, chuyển bánh xe pháp, trí
nhất thiết trí tuỳ chứng của Như Lai. Nghĩa vô
ngại trí, biết Như Lai tuỳ tám vạn bốn ngàn tâm
hạnh căn cơ hiểu biết âm thanh khác biệt của
chúng sinh. Từ vô ngại trí, tuỳ hạnh của tất cả
chúng sinh, dùng âm thanh khác biệt của Như Lai
để nói. Lạc thuyết vô ngại trí, tuỳ tin hiểu của
chúng sinh, dùng trí thanh tịnh hạnh viên mãn
của Như Lai để nói.
Đây là bổ xung lần thứ mười đối với bốn vô ngại
trí, để tăng thêm sự xiển minh. Pháp vô ngại
trí : Biết được lời nói âm thanh của chư Phật,
hay theo ý ngữ của mình, hay theo ý ngữ của
người khác, hay theo ý ngữ của mình và người
khác. "Lực" là chỉ có thể phá ma kiêu mạn. "Vô
uý" là hàng phục ngoại đạo. "Bất cộng" : Là
chẳng cùng chung có sự khác nhau nơi nhị thừa.
"Từ bi" : Là luôn luôn thuyết pháp không mỏi
mệt. "Biện tài" : Là thuyết pháp viên dung,
thông đạt vô ngại, chẳng bị vấn nạn bên ngoài
đến khuất phục. "Phương tiện" : Là hay tuỳ thuận
vật cơ. "Chuyển pháp luân" : Là diễn nói chánh
pháp. Dùng pháp vô ngại trí : Dùng mười lực của
Phật, bốn vô sở uý, mười tám pháp bất cộng nơi
nhị thừa, có tâm đại từ đại bi, phát huy biện
tài vô ngại, phương tiện khéo léo để chuyển bánh
xe pháp, đại trí huệ trong hết thảy trí huệ của
chư Phật, tuỳ chứng được. Nghĩa vô ngại trí :
Biết được Phật có thể tuỳ tâm ý của tám vạn bốn
ngàn loại chúng sinh, mà nhiếp thọ họ. Có thể
tuỳ "hành" của tám vạn bốn ngàn loại chúng sinh
mà ảnh hưởng họ. Có thể tuỳ "căn tánh" của tám
vạn bốn ngàn chúng sinh, mà khế hợp họ. Có thể
tuỳ trình độ lý giải của tám vạn bốn ngàn chúng
sinh, âm thanh khác biệt, mà giáo hoá họ. Từ vô
ngại trí : Tuỳ tâm hành của tất cả chúng sinh,
dùng viên âm của Phật, nói pháp đối với chúng
sinh, khiến cho chúng sinh tuỳ loài đều hiểu
được, giống như Phật dùng âm thanh khác nhau để
nói pháp. Lạc thuyết vô ngại trí : Tuỳ theo sự
tin hiểu của chúng sinh, dùng trí huệ của Phật,
thanh tịnh viên mãn đối với chúng sinh diễn nói
diệu pháp, đều khiến cho chúng sinh ngộ vô
thượng đạo.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Địa thứ chín, đắc được vô ngại
trí thiện xảo như vậy. Đắc được diệu pháp tạng
của Như Lai, mà làm đại pháp sư.
Bồ Tát Kim Cang Tạng giải thích xong bốn vô ngại
trí xong rồi, lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Bồ Tát tu tập pháp môn Địa thứ chín,
chứng được Thiện huệ địa, đắc được rất nhiều
phương tiện thiện xảo vô ngại trí như đã nói ở
trên, cũng đắc được pháp tạng thâm diệu của
Phật, do đó, mà Ngài hay vì thế gian làm đại
pháp sư.
Đắc được nghĩa Đà la ni, pháp Đà la ni, trí Đà
la ni, quang chiếu Đà la ni, thiện huệ Đà la ni,
chúng tài Đà la ni, oai đức Đà la ni, vô ngại
môn Đà la ni, vô biên tế Đà la ni, đủ thứ nghĩa
Đà la ni. Trăm vạn A tăng kỳ môn Đà la ni như
vậy, đều được viên mãn. Dùng trăm vạn A tăng kỳ
môn âm thanh biện tài thiện xảo, mà diễn nói
pháp.
Lại đắc được pháp môn nghĩa Đà la ni (tổng trì),
pháp môn giáo pháp Đà la ni, pháp môn trí huệ Đà
la ni, pháp môn quang chiếu Đà la ni, quang là
từ quang nhiếp thọ. Pháp môn thiện huệ Đà la
ni : Chúng sinh cang cường, thì sử dụng thiện
huệ để hàng phục. Pháp môn chúng tài Đà la ni :
Chúng tài là trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng
sinh. Pháp môn oai đức Đà la ni : Chỉ dạy oai
đức thắng lợi của đại thừa, khiến cho chúng sinh
hạ liệt, sinh khởi tánh thiện. Pháp môn không
thể chướng ngại Đà la ni : Bất đoạn biện tài, y
trí thường nói. Pháp môn chẳng có bờ mé Đà la
ni : Ưa thích nói, nói thâm sâu, vô tận không
lúc nào mệt mỏi. Và pháp môn các thứ nghĩa lý Đà
la ni : Ưa thích nói, nói rộng. Có hàng trăm vạn
A tăng kỳ, đủ thứ pháp môn Đà la ni như vậy, mỗi
pháp môn Đà la ni đều viên mãn thấu rõ, vì chúng
sinh mà diễn nói. Dùng trăm vạn ức pháp môn
thiện xảo âm thanh và biện tài vô ngại, để vì
chúng sinh diễn nói thượng diệu pháp nghĩa của
Phật.
Bồ
Tát nầy đắc được trăm vạn A tăng kỳ môn Đà la ni
như vậy rồi, ở nơi vô lượng chư Phật, ở trước
mỗi đức Phật, đều dùng trăm vạn A tăng kỳ
môn Đà la ni như vậy, lắng nghe chánh pháp. Nghe
rồi không quên, dùng vô lượng môn khác nhau, vì
họ diễn nói.
Vị Bồ Tát nầy đắc được trăm vạn A tăng lỳ môn Đà
la ni như đã nói ở trên rồi, Ngài đến chỗ đạo
tràng của vô lượng các đức Phật, ở trước mỗi vị
Phật, Ngài đều dùng trăm vạn A tăng kỳ môn Đà la
ni như vậy, để lắng nghe chánh pháp của chư
Phật. Ngài nghe rồi, thì không bao giờ quên,
chẳng giống như phàm phu chúng ta. Ngài đối với
mỗi yếu nghĩa, đều ấn nhập ghi nhớ thâm sâu.
Ngài hay dùng vô lượng phương pháp khác nhau,
tuỳ thời có thể vì chúng sinh mà diễn nói, khiến
cho họ tiếp thọ.
Bồ
Tát nầy khi mới thấy Phật, cúi đầu đảnh lễ cung
kính, bèn ở chỗ đức Phật, đắc được vô lượng pháp
môn. Pháp môn đắc được đây, chẳng phải văn trì
các đại Thanh Văn trong trăm ngàn kiếp lãnh thọ
được.
Vị Bồ Tát Cửu địa chứng Thiện huệ địa, bất cứ
Ngài thấy được vị Phật nào trong mười phương ba
đời, Ngài đều năm thể sát đất, thân tâm cung
kính lễ lạy. Bình thường chúng ta lễ Phật, nhất
định phải chuyên tâm nhất ý, cung kính kiền
thành lễ lạy, còn phải quán tưởng Phật đang ở
trước mắt. Lễ Phật chẳng phải là việc hình thức,
quan trọng nhất là chữ "kính". Bồ Tát cung kính
thành ý lễ lạy ở trước Phật đắc được vô lượng
tám vạn bốn ngàn pháp môn đều minh bạch. Pháp
môn mà Ngài chứng ngộ được, chẳng phải những bậc
Thánh Thanh Văn, đại A la hán có thể ở trong
thời gian trăm ngàn kiếp, nghe Phật pháp mà có
thể lãnh ngộ đắc được.
Bồ
Tát nầy được Đà la ni như vậy, vô ngại trí như
vậy, ngồi nơi pháp toà mà diễn nói pháp. Chúng
sinh khắp trong đại thiên thế giới, tuỳ tâm ưa
thích của họ, mà phân biệt diễn nói. Ngoài chư
Phật và thọ chức Bồ Tát ra, trong các chúng hội,
oai đức quang minh, không có ai bằng Ngài được.
Vị Bồ Tát Thiện Huệ địa nầy, tu học đắc được
pháp môn tổng trì nhiều như đã nói ở trên, lại
chứng được bốn đại trí huệ vô ngại như đã nói ở
trên, Ngài ngồi trên pháp toà thuyết pháp lớn,
mà đối với hết thảy các loại chúng sinh trong ba
ngàn đại thiên thế giới, diễn nói diệu pháp của
Phật nói. Ngài đều tuỳ theo tâm lý của những
chúng sinh đó, phân biệt môn loại, khế hợp với
tâm ưa thích của họ muốn được nghe, mà diễn nói
diệu pháp vô thượng. Đại chúng trong pháp hội,
ngoài chư Phật, và đại Bồ Tát đã thọ chức ra,
còn các đại Bồ Tát ở trong pháp hội, oai đức
quang minh, chẳng có ai bằng Ngài được.
Bồ
Tát nầy ngự tại pháp toà, muốn dùng một âm,
khiến cho các đại chúng đều hiểu được, thì liền
hiểu được. Hoặc có lúc tâm muốn dùng đủ thứ âm
thanh, khiến cho đại chúng đều được khai ngộ.
Hoặc có lúc tâm muốn phóng đại quang minh, diễn
nói pháp môn.
Hoặc có lúc tâm muốn ở trên mỗi
lỗ chân lông nơi thân họ, đều diễn nói pháp âm.
Hoặc có lúc tâm muốn cho đến ba ngàn đại thiên
thế giới, hết thảy tất cả vật hữu hình vô hình,
thảy đều vang ra tiếng diệu pháp. Hoặc có lúc
tâm muốn phát ra tiếng nói, khắp cùng pháp giới,
đều khiến cho họ hiểu được.
Hoặc có lúc tâm muốn tất cả tiếng
nói, đều làm pháp âm, luôn trụ không diệt. Hoặc
có lúc tâm muốn những ống tiêu, sáo, chuông,
trống, và ca vịnh, tất cả âm nhạc của tất cả thế
giới, đều diễn pháp âm. Hoặc có lúc tâm muốn ở
trong một chữ, tất cả câu pháp, lời lẽ, tiếng
nói khác biệt, thảy đều đầy đủ.
Hoặc có lúc tâm muốn khiến cho
đất nước gió lửa bốn đại, hết thảy hạt bụi, tụ
trong bất khả thuyết vô lượng thế giới, ở trong
mỗi hạt bụi, thảy đều diễn nói ra bất khả thuyết
pháp môn. Sở niệm như vậy, tất cả tuỳ tâm, thảy
đều thành tựu.
Vị Bồ Tát Cửu địa Thiện huệ địa nầy, khi Ngài
ngự trên pháp toà thuyết pháp, thì Ngài có thể
dùng một loại âm thanh diễn nói Phật pháp, khiến
cho tất cả đại chúng trong hội đều hiểu được. Có
khi Ngài cũng dùng các thứ loại ngôn ngữ âm
thanh khác nhau, đối với đại chúng pháp hội
thuyết pháp, khiến cho đại chúng nghe được liền
minh bạch, đều có thể khai ngộ, thành tựu đạo
nghiệp của mình tu học. Vì Bồ Tát Cửu địa, Ngài
cử tâm động niệm, đã được tuỳ tâm như ý, cảnh
giới thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn.
Cảnh giới nầy, một số người thấy đều là thần
thông. Tại phần của Bồ Tát cửu địa mà nói, thì
đây là cảnh giới của Ngài tu hành tích tụ đủ thứ
căn lành công đức mà thành tựu. Bồ Tát đắc được
cảnh giới nầy, hoàn toàn là hành sở vô sự, chẳng
chấp vào các tướng, cũng chẳng lìa các tướng.
Tức tất cả tướng nói tất cả pháp, tức tất cả
pháp hiện tất cả tướng. Tuy nhiên Ngài hiện tất
cả tướng, nhưng chẳng có sự chấp trước. Đại
chúng nghe đến đủ loại âm thanh của Bồ Tát Cửu
địa rồi, liền được khai ngộ, đây được nói là
"Nghe tiếng mà ngộ đạo".
Có lúc Bồ Tát lại muốn phóng đại quang minh, ở
trong quang minh, diễn nói đủ thứ pháp môn. Khi
vị A la hán muốn quán sát tất cả sự việc, thì
Ngài phải tác ý để quán sát (nhập định), mới
biết được tất cả tiền nhân hậu quả. Bồ Tát tu
chứng đến quả vị Bát địa, đã chứng được vô công
dụng hạnh, không cần nhập định tác ý quán sát,
mà có thể tuỳ thời minh bạch tất cả việc nhân
quả. Vì trí huệ vô thượng của Bồ Tát cao hơn
nhiều so với A la hán. Bồ Tát tu học pháp Bồ Tát
đại thừa, tâm của Ngài bao thái hư, lượng khắp
cùng sa giới. Cho nên khi Ngài phóng đại quang
minh, thì trong quang minh diễn nói diệu pháp
môn của chư Phật nói. Có lúc ở trong mỗi lỗ chân
lông trên thân của Ngài, đều hiển hiện diễn nói
diệu pháp, mỗi lỗ chân lông đều phóng đại quang
minh. Hoặc có lúc trong tâm Bồ Tát lại muốn,
thậm chí trong ba ngàn đại thiên thế giới, hết
thảy tất cả vật thể có hình tướng, và tất cả vật
thể không hình tướng, đều đang thuyết pháp, đều
đang nghe pháp, cho nên nói "Thảy đều diễn nói
ra lời tiếng diệu pháp".
Một núi Tu Di, một mặt trời, một mặt trăng, và
bốn đại bộ châu : Đông thắng thần châu, Nam
thiệm bộ châu, Tây ngưu hoá châu, Bắc câu lưu
châu, còn gọi là một bốn thiên hạ. Ba như vậy
hợp lại là một tiểu thế giới, tích tụ một ngàn
tiểu thế giới như vậy, thì gọi là một tiểu thiên
thế giới. Tích tụ một ngàn tiểu thiên thế giới,
thì gọi là một trung thiên thế giới. Tích tụ một
ngàn trung thiên thế giới, thì gọi là một đại
thiên thế giới, vì tiểu thiên, trung thiên, đại
thiên, có ba chữ thiên, nên gọi là tam thiên đại
thiên thế giới.
Hiện tại Bồ Tát có thể ở trong đó, hiện đại thần
thông. Hoặc có lúc Bồ Tát chỉ phát một loại lời
tiếng, chúng sinh nghe rồi, cũng tuỳ theo loài
mà hiểu rõ. Lời tiếng của Bồ Tát phát ra gọi là
viên âm, chẳng cần người khác phiên dịch, tự
nhiên biến thành lời tiếng khác nhau của mỗi
loài, chúng sinh khắp pháp giới nghe được, thảy
đều minh bạch. Hoặc có lúc Bồ Tát trong tâm lại
muốn, hết thảy lời tiếng, đều biến thành pháp
âm, chẳng riêng gì mình phát ra lời tiếng đang
thuyết pháp, mà cho đến mỗi loài chúng sinh phát
ra lời tiếng, cũng đều đang thuyết pháp. Khắp
pháp giới vạn sự vạn vật đều đang thuyết pháp :
Con người nói pháp của con người, Thần nói pháp
của Thần, Bồ Tát nói pháp của Bồ Tát, bậc Thánh
nhị thừa nói pháp của bậc Thánh nhị thừa, A tu
la thì nói pháp của A tu la. Tất cả âm thanh,
đều trở thành pháp âm, thường trụ không diệt,
giống như vô tuyến điện hiện nay, chạy mãi không
ngừng. Hoặc có lúc Bồ Tát lại muốn, tất cả những
ống tiêu, ống sáo, chuông, trống, và tiếng âm
nhạc ca vịnh trên thế gian, diễn tấu cũng đều là
pháp âm, ca vịnh thuần là phạm âm tán dương Tam
Bảo. Hoặc có lúc Bồ Tát lại muốn có thể trong
một chữ, tất cả lời tiếng trong câu pháp, đều
biểu rõ cụ thể ý nghĩa khác nhau của nó, mà còn
viên mãn nữa. Hoặc có lúc Bồ Tát trong tâm muốn
khiến cho bất khả thuyết vô lượng thế giới, đất
nước gió lửa bốn đại tích tụ trong đó, hết thảy
hạt bụi, trong mỗi một hạt bụi, đều diễn nói ra
vô lượng vô biên bất khả thuyết pháp môn.
Hết thảy tất cả những điều Ngài nghĩ như vậy,
đều có thể tuỳ tâm sở dục, chẳng có gì mà không
đắc được, cho nên nói cảnh giới của Bồ Tát là
không thể nghĩ bàn. Sự nghĩ muốn của Bồ Tát
chẳng phải là vọng tưởng, Bồ Tát muốn làm bất cứ
việc gì, đều không cần suy nghĩ tính toán, tuỳ
theo nguyện của Ngài mà thành.
Tôi giảng Kinh cần phải phiên dịch, vì tôi chẳng
phải là Bồ Tát, tôi là nghiệp chướng quỷ. Nghiệp
chướng của tôi quá nhiều, vì tuỳ thời tuỳ nơi
tôi hướng mọi người hoá duyên. Tôi hoá duyên
phiền não của người khác, hoá duyên nghiệp
chướng của người khác, hoá duyên tâm tham của
người khác, hoá duyên tâm sân của người khác,
hoá duyên tâm si của người khác, hy vọng mọi
người đều đem hết những thứ không có giá tiền
đó, bố thí hết cho tôi, cho nên tôi chỉ có
nghiệp chướng, chẳng có báu vật nào khác.
Phật
tử ! Giả sử Bồ Tát nầy, khiến cho hết thảy chúng
sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới, đều đến
trước mặt Ngài, mỗi người đều dùng vô lượng
tiếng nói mà vấn nạn Ngài, mỗi mỗi vấn nạn thảy
đều khác nhau, Bồ Tát trong khoảng một niệm, đều
lãnh thọ được hết, bèn dùng một tiếng, giải
thích khắp hết, khiến cho tuỳ tâm họ ưa thích,
thảy đều hoan hỉ.
Như vậy cho đến hết thảy chúng
sinh trong bất khả thuyết thế giới, trong khoảng
sát na, mỗi người đều dùng vô lượng tiếng nói mà
vấn nạn, mỗi mỗi vấn nạn thảy đều khác nhau, Bồ
Tát ở trong khoảng một niệm, đều lãnh thọ được
hết, cũng dùng một tiếng giải thích khắp hết,
đều tuỳ theo tâm ưa thích của mỗi người, thảy
đều hoan hỉ.
Cho đến chúng sinh đầy trong bất
khả thuyết bất khả thuyết thế giới, Bồ Tát đều
có thể tuỳ tâm ưa thích của họ, tuỳ theo căn
tánh, tuỳ theo sự hiểu biết, mà vì họ thuyết
pháp. Nương thần lực của Phật, rộng làm Phật sự,
khắp vì tất cả làm chỗ nương tựa cho họ.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát Thiện huệ địa nầy,
giả sử hết thảy chúng sinh, trong ba ngàn đại
thiên thế giới, đều đến ở trước mặt Ngài, mỗi
người đều dùng lời lẽ của mình, hỏi Ngài những
vấn đề mà mình không hiểu, kiền thành thỉnh cầu
chỉ bày. Mà câu hỏi của mỗi người đều khác nhau,
vì phẩm loại chúng sinh khác nhau, thì vấn đề tự
nhiên có sự khác nhau. Trong khoảng một niệm, Bồ
Tát đều minh bạch hết ý nghĩ của họ, bèn dùng
một thứ âm thanh, vì chúng sinh giải thích khắp
hết. Mỗi chúng sinh nghe rồi, đều hiểu rõ, cũng
khiến cho họ tuỳ tâm mãn nguyện, đắc được lời
giải đáp hy vọng của mỗi người, khiến cho họ
sinh tâm đại hoan hỉ. Cũng tình hình như vậy,
thậm chí hết thảy chúng sinh trong bất khả
thuyết thế giới, trong khoảng một sát na, mỗi
người đều dùng vô lượng lời tiếng mà hướng về Bồ
Tát đưa ra vấn đề khó khăn, mỗi vấn đề đều khó
khăn, nghĩa lý đều khác nhau, nhưng chỉ trong
khoảng một niệm, Bồ Tát đều minh bạch chỗ khó
khăn của họ hỏi, cũng dùng một thứ âm thanh, vì
đại chúng giải thích khắp hết, tuỳ sự hoan hỉ
trong tâm của họ, khiến cho họ đều được toại
nguyện. Cho đến, hết thảy chúng sinh trong bất
khả thuyết bất khả thuyết thế giới, Bồ Tát đều
có thể tuỳ sự cao hứng trong tâm của họ, tuỳ căn
tánh của họ, tuỳ sự hiểu biết của họ, mà vì họ
thuyết pháp. Bồ Tát nương đại oai thần lực của
mười phương chư Phật, làm đại Phật sự rộng lớn
khắp cùng, khắp vì tất cả chúng sinh, làm chỗ
nương tựa cho họ.
Phật
tử ! Bồ Tát nầy càng tinh tấn hơn, thành tựu trí
minh. Giả sử nơi đầu một sợi lông, có pháp hội
chư Phật nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết thế
giới. Mỗi mỗi chúng hội, có chúng sinh nhiều như
số hạt bụi bất khả thuyết thế giới. Mỗi mỗi
chúng sinh, có tánh dục nhiều như số hạt bụi bất
khả thuyết thế giới.
Chư Phật đó tuỳ tánh dục của họ,
đều ban cho pháp môn. Như nơi đầu một sợi lông,
tất cả nơi pháp giới cũng đều như vậy. Như vậy
vô lượng pháp môn nói ra, Bồ Tát ở trong một
niệm, đều lãnh thọ được hết, không có quên mất.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Vị Bồ Tát Thiện huệ địa nầy, ba
nghiệp thanh tịnh, đã đạt được trình độ viên mãn
vô lậu, lại nỗ lực tinh tấn, siêng tu thiện
nghiệp. Cho nên Ngài thành tựu vô thượng trí
huệ, như ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Giả
sử, nơi một đầu sợi lông, có chư Phật nhiều như
số hạt bụi bất khả thuyết thế giới, đều đang ở
đó tụ chúng làm pháp hội. Mỗi pháp hội, lại có
chúng sinh nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết
thế giới. Mỗi chúng sinh, lại có tâm tánh dục
vọng nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết thế
giới, thảy đều khác nhau. Tuy nhiên như vậy,
nhưng tại pháp hội của chư Phật, vẫn tuỳ theo
hết thảy chúng sinh, khế hợp với căn tánh ưa
thích dục vọng của họ, ban cho họ pháp môn khác
nhau. Nơi mỗi đầu sợi lông, nơi tất cả pháp
giới, thảy đều ban cho chúng sinh pháp môn khác
nhau, cũng đều diễn nói vô lượng pháp môn thượng
diệu như vậy. Bồ Tát ở trong một niệm, Ngài có
thể lãnh thọ vô lượng pháp môn nhiều như số hạt
bụi như đã nói ở trên, mà còn vĩnh viễn không
bao giờ quên mất. Nước trong sông lúc nào cũng
chảy, Chùa Kim Sơn tuyên dương Phật pháp, ngày
nào cũng giảng nói. Chúng ta vì muốn tục Phật
huệ mạng, khiến cho chánh pháp thường trụ, đèn
pháp sáng mãi, còn hơi thở một phút, thì nói
pháp một phút, còn hơi thở mười phút, thì nói
pháp mười phút, vì pháp quên mình, chẳng màng
được mất.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Địa thứ chín nầy, ngày đêm
chuyên cần, không có niệm nào khác, chỉ nhập vào
cảnh giới Phật, gần gũi Như Lai. Nhập vào giải
thoát thâm sâu của Bồ Tát, thường ở trong tam
muội. Luôn thấy chư Phật, chưa từng xả lìa. Ở
trong mỗi kiếp, thấy vô lượng vị Phật, vô lượng
trăm vị Phật, vô lượng ngàn vị Phật, cho đến vô
lượng trăm ngàn ức Na do tha vị Phật, cung kính
tôn trọng, thừa sự cúng dường. Ở chỗ chư Phật,
đủ thứ vấn nạn, đắc được thuyết pháp Đà la ni.
Hết thảy căn lành, càng thêm sáng tịnh.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Bồ Tát Ngài tuy nhiên đã chứng
được quả vị Địa thứ chín, nhưng vẫn không phân
ngày đêm, chuyên tâm nhất ý dũng mãnh tinh tấn,
tơ hào chẳng sinh tư tưởng nào khác. Chỉ nghĩ
muốn minh bạch Phật pháp, thâm nhập vào cảnh
giới của Phật, và gần gũi chư Phật. Đồng thời hy
vọng tiến nhập vào cảnh giới giải thoát thâm sâu
của các đại Bồ Tát, thường ở trong chánh định.
Chẳng màng là ở trong định, hoặc xuất định, Ngài
luôn luôn thấy được mười phương chư Phật, chưa
từng có tư tưởng lìa khỏi chư Phật. Bồ Tát ở
trong mỗi kiếp, thấy được vô số các đức Phật, vô
số trăm vị Phật, vô số ngàn vị Phật, thậm chí có
thể thấy được vô số trăm, ngàn, ức, Na do tha vị
Phật. Mà còn đối với mỗi vị Phật đều cung kính
tôn trọng, và thừa sự chư Phật. Thường ngày cúng
dường chư Phật, cũng rất ân cần chu đáo. Tại đạo
tràng của chư Phật, gặp lúc có sự nghi vấn về
phương diện nghĩa lý và sự tu trì, nhất định
thành khẩn thỉnh vấn, do đó đắc được tam muội
tổng trì lạc thuyết các pháp, căn lành công đức
tu được càng thêm quang minh thanh tịnh.
Ví
như vàng thật, thợ vàng khéo léo dùng làm mũ báu
của Chuyển Luân Thánh Vương, để trang nghiêm
trên đầu. Tất cả đồ trang nghiêm của những ông
vua nhỏ trong bốn thiên hạ, và các thần dân,
không ai bằng được.
Bồ Tát biểu hiện như vậy, giống như vàng thật,
qua tay thợ vàng khéo léo, dùng vàng tinh luyện
để làm một cái mão vua, đội trên đầu vua Chuyển
luân thánh vương, dùng để trang nghiêm đầu vua.
Hết thảy đồ nghiêm sức danh quý nhất của các ông
vua nhỏ, và tể tướng quần thần, cùng với dân
chúng trong bốn thiên hạ, cũng chẳng bằng cái mũ
bằng vàng của vua Chuyển luân thánh vương.
Chuyển luân Thánh vương phân làm bốn bậc : Kim
luân vương thống lãnh bốn thiên hạ, Ngân luân
vương thống lãnh ba thiên hạ, Đồng luân vương
thống lãnh hai thiên hạ, Thiết luân vương thống
lãnh một thiên hạ.
Căn
lành của Bồ Tát Cửu địa nầy, cũng lại như vậy.
Hết thảy căn lành của tất cả Thanh văn, Bích chi
Phật, và Bồ Tát bậc dưới, không thể bằng được.
Bồ Tát Địa thứ chín, Ngài tu tập đắc được đủ thứ
căn lành, giống như mũ vàng danh quý của vua.
Căn lành của các hàng nhị thừa bậc Thánh Thanh
Văn, Duyên Giác, cùng với các địa Bồ Tát bậc
dưới Cửu địa, không thể nào bằng với Bồ Tát Cửu
địa.
Phật
tử ! Ví như chủ Đại Phạm Thiên Vương hai ngàn
thế giới, thân phóng quang minh. Có thể chiếu
sáng đến những chỗ tối xa của hai ngàn thế giới,
phá tan đen tối. Hết thảy căn lành của Bồ Tát
địa nầy, cũng lại như vậy. Có thể phóng ra quang
minh, chiếu đến tâm chúng sinh, thì phiền não
đen tối, đều khiến tiêu diệt.
Bồ Tát Kim Cang Tạng e rằng đại chúng pháp hội
đã nhập vào vô văn tam muội, nên lớn tiếng hô
lên một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Hiện tại
tôi phải vì các vị nói một ví dụ : Giống như
Thiên Vương Đại Phạm Thiên thống trị hai ngàn
thế giới, trên thân có thể phóng ra đại quang
minh, quang minh nầy có thể chiếu khắp những nơi
đen tối xa xôi trong hai ngàn đại thiên thế
giới. Bình thường mắt thịt nhìn chẳng thấy,
quang minh thường không dễ gì chiếu đến được, mà
quang minh trên thân của Đại Phạm Thiên Vương
phóng ra, có thể chiếu sáng đến những nơi đó,
khiến cho những chỗ đen tối lập tức tiêu diệt.
Bồ Tát chứng đắc quả vị Địa thứ chín, Ngài tích
tu đủ thứ căn lành công đức, giống như quang
minh của Đại Phạm Thiên Vương. Ngài có thể hiện
ra trí huệ quang minh của Ngài, chiếu soi vào
nơi thâm tâm của chúng sinh, khiến cho chúng
sinh trừ sạch phiền não đau khổ của thân tâm,
diệt trừ đen tối, đắc được mát mẻ. Nguyên nhân
Bồ Tát đắc được trí huệ quang minh, là vì Ngài
tu nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ, tâm lượng
rộng lớn, chẳng có tâm đố kị, chẳng có tâm
chướng ngại người khác hướng đạo, chẳng có mọi
tư tưởng bất chánh, cũng chẳng có dục niệm, thảy
đều thanh tịnh không nhiễm. Ngài từng bước từng
bước tu trì phạm hạnh, vì tâm địa của Ngài thanh
tịnh, nên quang minh vốn có bèn hiển hiện ra.
Nếu tâm của Ngài đen tối, thì quang minh vốn có,
làm thế nào cũng không thể hiển hiện ra. Chỗ
khác nhau của Bồ Tát và phàm phu là, tư tưởng
của Ngài quang minh lỗi lạc, chỉ biết lợi người,
chẳng nghĩ lợi mình, lấy việc cứu người độ người
lợi người làm trách nhiệm của mình. Đối với hết
thảy chúng sinh, đều xem như nhau, nếu thấy
chúng sinh thọ khổ, thì Ngài cảm thấy như chính
mình chưa làm tròn trách nhiệm ái hộ, mới có
những chúng sinh nầy thọ khổ. Tuy nhiên Bồ Tát
phổ độ chúng sinh như vậy, nhưng trong tâm ý của
Ngài là độ mà không độ, lợi mà không lợi, không
có tâm "tôi đã độ chúng sinh, tôi đã cứu chúng
sinh". Ngài triệt để quét trừ tất cả tướng, lìa
tất cả tướng. Trí huệ quang minh của Ngài có
được, là do Ngài quét sạch tất cả dục niệm vọng
tưởng, chẳng còn dục niệm, nhờ đó mà ánh sáng
trí huệ hiển hiện ra. Chiếu triệt nơi thâm tâm
của chúng sinh, khiến cho tự tánh quang minh của
chúng sinh, cũng hiển hiện ra. Ánh sáng tự tánh
hiện ra, thì tự nhiên sẽ diệt trừ dứt sạch phiền
não đen tối.
Các vị thiện sĩ học tu đạo ! Nên nhớ phải dứt
phiền não, bất cứ cảnh giới gì hiện tiền, đừng
có nóng giận khởi phiền não. Một khi có phiền
não tức là phá giới; một khi có phiền não thì
hiện ra bộ mặt xấu xí; một khi có phiền não thì
sự đen tối sẽ trùm đậy lại, sẽ biểu hiện hành vi
khó coi, rất là không được quang vinh. Cho nên
người tu đạo, bất cứ gặp cảnh giới gì hiện tiền,
nghịch đến đều phải thuận thọ, nhẫn việc người
khác không thể nhẫn, tuyệt đối không thể thiên
nộ người. Do đó, người tu hành phải có trí huệ
chân chánh, và công phu chân chánh, mới có thể
dùng người chuyển cảnh, không thể để cảnh chuyển
người. Làm thế nào mới có thể làm được điều
nầy ? Cách duy nhất là diệt trừ tham sân si. Nếu
đạt đến công phu chẳng còn tham sân si, thì
phiền não gì cũng chẳng còn, do đó :
"Một niệm tâm sân khởi
Trăm vạn cửa chướng đều mở ra".
Thật là đáng sợ !
Bồ Tát nầy ở trong mười Ba la
mật, thì lực Ba la mật tối thắng nhất, còn các
Ba la mật kia, chỉ tuỳ sức tuỳ phần mà tu.
Vị Bồ Tát Địa thứ chín nầy, Ngài
tu tập công đức mười Ba la mật, trong đó Ngài
thiên nặng về lực Ba la mật, còn các Ba la mật
khác, thì chẳng phải là không tu, chỉ tuỳ sức
tuỳ duyên phần của mình mà tu. "Lực" ý nghĩa là
trợ giúp người, tuyệt đối chẳng phải dùng sức để
đàn áp kẻ yếu, làm chuyện vô lý để mình thắng,
mà là dùng nhu chế cương, dùng sức từ bi nhu để
chế cương, để làm việc mà người khác không thể
làm được, để làm việc mà người khác không chịu
làm, để làm việc mà người khác không dám làm.
Việc hợp với chân lý có thể lợi ích cho đại
chúng, đây mới có thể gọi là "lực" Ba la mật.
Phật
tử ! Đó là lược nói Địa thứ chín Thiện Huệ địa
của đại Bồ Tát. Nếu nói rộng ra, thì vô lượng
kiếp, nói cũng không hết được.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Kinh văn nghĩa lý vừa nói ở trên,
bất quá chỉ là lược nói cảnh giới và tướng trạng
tu hành Bồ Tát đạo Địa thứ chín Thiện huệ địa,
tích tập đủ thứ căn lành của đại Bồ Tát. Giả sử
tôi nói rộng ra với đại chúng, dù có trải qua vô
lượng kiếp thời gian, thì e rằng cũng không có
cách gì nói hết được những cảnh giới đó.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát trụ địa nầy, phần nhiều làm Đại
Phạm Thiên Vương chủ hai ngàn thế giới. Khéo hay
thống lý, tự tại làm lợi ích. Hay vì tất cả
Thanh Văn Duyên Giác và các Bồ Tát, phân biệt
diễn nói hạnh Ba la mật. Tuỳ tâm chúng sinh, hết
thảy vấn nạn, không thể khuất phục được. Bố thí,
ái ngữ, lợi hành, đồng sự, làm tất cả các nghiệp
như vậy, đều không niệm Phật, cho đến không lìa
niệm trí Nhất thiết chủng, Nhất thiết trí.
Bồ Tát lại nghĩ như vầy : Tôi sẽ là thượng thủ,
là thắng, ở trong tất cả chúng sinh, cho đến là
bậc y chỉ của Nhất thiết trí. Nếu Bồ Tát nầy
chuyên cần tinh tấn, thì trong khoảng một niệm,
đắc được trăm vạn A tăng kỳ tam muội nhiều như
số hạt bụi cõi nước, cho đến thị hiện trăm vạn A
tăng kỳ Bồ Tát nhiều như số hạt bụi cõi nước,
dùng làm quyến thuộc.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Đại Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh, tích
tập đủ thứ căn lành công đức, khi Ngài ở tại Địa
thứ chín Thiện huệ địa, đa số thị hiện làm Đại
Phạm Thiên Vương, chủ tể hai ngàn thế giới. Khi
Ngài thống trị hai ngàn thế giới, thì Ngài là
một vị Thiên Vương hiền năng, khéo trị lý chánh
sự, giáo hoá Thiên chúng, lợi ích chúng sinh.
Ngài có thần thông, tự tại diệu dụng. Ngài còn
có thể vì hàng nhị thừa Thanh Văn Duyên Giác, và
các địa Bồ Tát, giải thích tỉ mỉ, phân biệt diễn
nói các hạnh môn Ba la mật. Nếu có chúng sinh
đối với Phật pháp có chỗ không minh bạch, thì
Ngài cũng tuỳ căn tánh chúng sinh, lý giải năng
lực, giải thích tỉ mỉ cho họ hiểu. Bất cứ vấn đề
gì, cũng chẳng màng có người cố ý đến vấn nạn,
hoặc thật cầu chỉ thị, Ngài đều tâm bình khí hoà
vì họ nói rõ ràng, khiến cho họ tâm vui thành
phục. Bồ Tát Ngài có bốn vô ngại trí, tuyệt đối
không thể bị người vấn nạn mà trả lời không
được, hoặc bị biện luận thất bại. Bồ Tát đối với
chúng sinh bố thí, là chân thành, khó xả mà xả
được. Ngài giáo hoá chúng sinh, đều dùng bốn
pháp nhiếp, thường nói lời từ ái với chúng sinh,
khiến cho những chúng sinh cang cường, một khi
nghe lời từ bi chân thành từ trong tâm của Ngài
phát ra, dùng phương tiện trí huệ chánh ngữ để
nói, chẳng màng người giàu nghèo sang hèn, chẳng
có một người nào mà không tuỳ thuận Ngài, y chỉ
Ngài, theo Ngài quy y Phật, học Phật pháp. Bồ
Tát Ngài chỉ nhớ phải lợi ích chúng sinh, chưa
bao giờ nghĩ đến phải lợi ích chính mình. Ngài
và chúng sinh thường đứng với nhau, ở với nhau,
gọi là cùng đi, cùng ngồi, cùng nằm, cùng ăn với
nhau, tất cả với chúng sinh trở thành một khối,
vì chúng sinh được Ngài cảm hoá, chân chánh phát
tâm bồ đề. Bồ Tát dùng bốn pháp nhiếp giáo hoá
chúng sinh, những gì Ngài làm đều là nghiệp
thiện, vì Ngài từ bi chưa từng lìa niệm Phật,
niệm Pháp thâm sâu vô thượng, niệm Tăng rộng
trồng ruộng phước, niệm Nhất thiết chủng trí,
Nhất thiết trí. Và trên cầu Phật đạo, dưới độ
chúng sinh, đây mới là Phật sự mà Bồ Tát lúc nào
cũng nhớ không bao giờ quên. Bồ Tát lại nghĩ như
vầy : Tôi phải ở trong hết thảy chúng sinh làm
thủ lãnh của họ, thế họ thọ khổ, thọ nạn, làm
một bậc lãnh đạo thù thắng, đức tánh năng lực
đều hơn hẳn tất cả chúng sinh, xả mình vì người,
làm việc người khác không làm được, cho đến làm
bậc y chỉ có trí huệ nhất của những bậc nhất
thiết trí. Nghĩa là nói, trí huệ của Ngài đã đạt
đến trí huệ giống như Phật, Ngài là bậc Thánh vô
lậu, đã thoát khỏi sinh tử, đoạn dục khử ái.
Mục đích Bồ Tát tu hành là thành Phật, bằng
không thì Ngài hà tất phải nỗ lực siêng tu lục
độ vạn hạnh của Bồ Tát ? Nếu Bồ Tát Cửu địa
siêng tu tính tấn, thì trong khoảng một niệm, có
thể đắc được trăm vạn A tăng kỳ tam muội nhiều
như số hạt bụi cõi nước. Một A tăng kỳ là vô
lượng số, hiện tại có trăm vạn vô lượng số tam
muội nhiều như số hạt bụi cõi nước, nhiều đến cỡ
nào ? Nói đơn giản là không thể tưởng tượng
được. Lại có thể thị hiện trăm vạn A tăng kỳ Bồ
Tát, nhiều như số hạt bụi cõi nước để làm quyến
thuộc của Ngài.
Nếu
dùng nguyện lực thù thắng của Bồ Tát, tự tại thị
hiện, thì sẽ hơn số trên. Cho đến trăm ngàn ức
Na do tha kiếp, không thể đếm biết được.
Nếu như dùng nguyện lực thù thắng mà thuở xưa Bồ
Tát đã phát ra, thì tự tại thị hiện, sẽ nhiều
hơn số mục đã nói ở trên. Cho đến dùng trăm ngàn
ức Na do tha kiếp để tính toán, cũng không thể
nào biết được rõ ràng.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng muốn tuyên lại nghĩa
trên, bèn nói kệ rằng:
Vô lượng trí lực khéo quán sát
Tối thượng vi diệu đời khó biết
Khắp vào chỗ bí mật Như Lai
Lợi ích chúng sinh vào Cửu địa.
Bồ Tát Kim Cang Tạng e rằng các vị Bồ Tát trong
pháp hội, đạo lý nói ở trên, có chỗ không rõ
ràng. Do đó, dùng kệ để tường thuật lại. Mấy câu
Kinh văn nầy, Thánh tăng đại đức kết tập kinh
điển, thể hội tâm từ bi tha thiết của Bồ Tát Kim
Cang Tạng đương thời, hy vọng tăng thêm sức chú
ý của chúng sinh đời sau mà thêm vào. Hy vọng
các vị thiện tín nghe được, phát tâm dũng mãnh
tinh tấn !
Nguồn gốc vô lượng sức trí huệ, kinh văn ở trước
đã nói qua rồi, là do thuở xưa tu tập phạm hạnh
thanh tịnh mà ra. Bồ Tát Bát địa đã được trí huệ
bất động, Ngài đã đạt được cảnh giới : Không
nghịch, không thuận, không hoặc, không dục,
không thị, không phi, không tốt, không xấu,
không thành, không bại, không thiện, không ác.
Ngài hoàn toàn không bị cảnh bên ngoài lay
chuyển, mà chuyển được tất cả cảnh giới, cho nên
xưng là Bồ Tát Bất động địa.
Lúc đó, Ngài đã là "Trong không cảnh giới, ngoài
không một vật, căn trần thức đều đã ngừng hoạt
động, ý niệm do trí chỉ thị, chẳng do thức. Mắt
chẳng bị sắc trần làm ô nhiễm, tai chẳng bị
thanh trần mê hoặc, mũi chẳng bị hương trần sở
dụ, lưỡi chẳng bị vị trần sở di, thân chẳng bị
xúc trần sở mê, ý chẳng bị pháp trần làm giao
động". Được như vậy, thì sẽ sinh ra vô lượng trí
huệ. Vô lượng trí huệ tức là vô lượng sức lực.
Dùng sức trí huệ quán sát các pháp thật tướng,
cho đến "Pháp vi diệu thâm sâu vô thượng, trăm
ngàn vạn kiếp khó gặp được, Nay con thấy nghe
được thọ trì, nguyện hiểu nghĩa chân thật của
Như Lai". Pháp vi diệu thâm sâu nầy, phàm phu
thế gian làm sao mà hiểu được !
Chỉ có Bồ Tát Bát địa đã chứng được Diệu quán
sát trí, có thể vào sâu chỗ pháp tạng bí mật của
Phật mới hiểu được. Chỗ pháp tạng bí mật của
Phật, tức là "Vì kia nói mà đây chẳng biết, vì
đây nói mà kia chẳng biết, vì kia đây cùng nói,
mà kia đây đều chẳng biết, vì kia đây cùng nói,
mà kia đây đều biết". Chỗ bí mật nầy là chỗ vi
tế, tức là chỗ khó biết, tức là chỗ không minh
bạch. Bồ Tát siêng tu Phật đạo, nghĩa là muốn
cầu trí huệ như Phật, vào chỗ bí mật của Như
Lai. Vào sâu chỗ nầy, sẽ đắc được sức trí huệ vô
thượng, mới có thể quán sát khắp chúng sinh, lợi
ích chúng sinh, tức cũng là tiến vào Địa thứ
chín - Thiện huệ địa. Nếu Bồ Tát tại Địa thứ tám
không tiếp tục nỗ lực, siêng cầu tiến lên, thì ở
tại đó vĩnh viễn làm Bồ Tát Bất động địa, thì
vĩnh viễn không chứng được quả vị Phật.
Tổng
trì tam muội đều tự tại
Được đại thần thông vào các cõi
Lực trí vô uý pháp bất cộng
Nguyện lực bi tâm vào Cửu địa.
Bồ Tát tinh tấn tiến lên, đạt đến quả vị Địa thứ
chín, đắc được trăm ngàn vạn ức tổng trì tam
muội - tiếng Phạn gọi là Đà la ni. Tuỳ tâm như
ý, chẳng có gì mà không tự được, biến hoá vô
cùng. Đắc được tự tại như vậy, thần thông như
vậy, có thể hoá thân vô số lượng, vào khắp cõi
nước chư Phật trong mười phương, tuỳ duyên giáo
hoá chúng sinh. Lúc đó, Bồ Tát cũng đắc được trí
huệ vô thượng, mười lực, bốn vô sở uý, mười tám
pháp bất cộng giống như Phật. Tuy rằng phước trí
chưa viên mãn, nhưng thần thông diệu dụng giống
như Phật, đa số đã tu chứng được. Bồ Tát tiến
vào Địa thứ chín là nhân tố nguyện lực vốn có
của Ngài và tâm đại bi làm đầu vốn có của Ngài,
cho nên mới rất thuận lợi vào Địa thứ chín.
Trụ
nơi địa nầy trì tạng pháp
Rõ thiện bất thiện và vô ký
Hữu lậu vô lậu thế xuất thế
Nghĩ không nghĩ bàn đều khéo biết.
Bồ Tát trụ tại Địa thứ chín, Ngài lãnh thọ tu
trì tạng pháp bí mật của chư Phật, hết thảy tám
muôn bốn ngàn pháp môn, Ngài đều thấu suốt, biết
rõ các pháp thật tướng. Ngài biết khác nhau giữa
"thiện" và "bất thiện". Tu "thập thiện" tức là
"thiện". Tạo "thập ác" tức là "bất thiện". "Vô
ký" là nghiệp chẳng thuộc về "thiện nghiệp",
cũng chẳng thuộc về "thập ác", biểu hiện không
thiện không ác. Những nghiệp nầy Ngài đều minh
bạch rõ ràng. "Hữu lậu" : Tức là có "Hỉ nộ ai
lạc ái ác dục" thất tình, thì chẳng dễ gì thanh
tịnh, dễ sinh ra ý niệm tham sân si. Nếu diệt
trừ được ba độc, siêng tu ba học - giới định
huệ, tuy nhiên chưa đạt đến vô lậu, nhưng đang
hướng tới "vô lậu". "Vô lậu" : Thì phải làm được
đoạn dục khử ái, chẳng còn tập khí xấu, chẳng
còn phiền não vô minh, chẳng còn đố kị chướng
ngại, không ích kỷ lợi mình. Nói rõ hơn nữa là
phải đoạn trừ vô minh tình dụ, nếu làm được đến
giai đoạn nầy, thì đạt đến cảnh giới vô lậu. Vô
lậu thì không thể lậu xuống ba cõi thọ sinh tử
luân hồi, sẽ đắc được lậu tận thông. Lậu hết
rồi, lậu khô rồi, thì khô tình ái, khô tham dục.
Vì mọi người chưa nghe giải thích minh bạch về
"vô lậu", cho nên còn lậu, hy vọng nghe qua đạo
lý nầy rồi, hãy cố gắng nỗ lực tu hành, để đạt
đến cảnh giới thù thắng vi diệu nầy. Thế : là
thế gian, tất cả sự vật trên thế gian, tức là
pháp thế gian. Chúng ta ở trong nhân loại thế
gian, thì phải giữ chánh pháp tam cang ngũ
thường của nhân loại thế gian. Tam cang : Quân
thần, cha con, vợ chồng. Ngũ thường còn gọi là
ngũ luân : Quân thần, cha con, vợ chồng, anh em,
bạn bè. Xuất thế : Bỏ tục xuất gia tu đạo, đoạn
trừ dục của dục giới, cũng phá tan sắc của sắc
giới, đối với vô sắc giới cũng không, như vậy
mới thật sự ra khỏi nhà tam giới. Đoạn dục rồi,
trừ ái rồi, xả bỏ được thế tục, mới thật thanh
tịnh không nhiễm. Chuyên tâm tu học Phật đạo,
sống đời sống phạm hạnh, đó tức là xuất thế. Mục
đích cuối cùng tu học Phật đạo là chứng quả.
Chứng Sơ quả đoạn tam giới tám mươi tám phẩm
kiến hoặc. Chứng Nhị quả, Tam quả, đoạn dục giới
chín phẩm tư hoặc, lại đoạn sắc giới, vô sắc
giới, bảy mươi hai phẩm tư hoặc, tức cũng là tám
mươi mốt phẩm tư hoặc. Chứng Tứ quả gọi là A la
hán quả, từ đây không còn thọ lưu chuyển trong
sinh tử nữa, xưng là Thánh nhân xuất thế, đây là
quả vị cao nhất của hàng nhị thừa tu. Nếu không
phát đại tâm độ chúng sinh, không hồi tiểu hướng
đại, thì chỉ được xem là tự liễu hán, nên năm
xưa đức Phật đã chỉ trích những vị A la hán
chứng Tứ quả là "Tiêu nha bại chủng". Nguyên
nhân là vì nhập thế quá khổ, độ sinh không dễ,
hành đại thừa Bồ Tát đạo rất khó, phải chịu đựng
bao nhiêu gian khổ, cho nên những bậc Thánh
chứng tứ quả đã được liễu sinh thoát tử thì mãn
nguyện vậy, không chịu làm pháp khí đại thừa.
Nghĩ là dùng ý thức để tham cứu, hy vọng đắc
được một đáp án. Không nghĩ tức là không nghiên
cứu. Những người thông minh trên thế gian là
những nhà phát minh, nhà khoa học, họ là thế trí
biện thông, đạt đến đỉnh điểm. Não của họ linh
mẫn, tư tưởng tinh tế, phát minh đủ thứ sự vật,
sáng lập các thứ lý luận, đây là pháp nghĩ bàn.
Bồ Tát đối với tất cả pháp nghĩ bàn và không
nghĩ bàn, Ngài đều minh bạch rõ ràng.
Hoặc
pháp quyết định chẳng quyết định
Việc làm tam thừa đều quán sát
Hữu vi vô vi hành sai biệt
Biết rõ như vậy vào thế gian.
Bồ Tát Cửu địa, Ngài có con mắt chọn pháp, đối
với các pháp có sự nhận thức đúng đắn, biết thế
nào là pháp có tánh quyết định, thế nào là pháp
chẳng có tánh quyết định, do đó "Pháp vô định
pháp", đây phải có trí huệ cao độ, không thể tuỳ
ý tự làm. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, các bậc
Thánh ba thừa nầy làm gì, Ngài cũng đều quán sát
kỹ càng. Hữu vi là hữu sở tác vi, có tướng
trạng, gọi là pháp hữu vi. Vô vi là vô sở tác
vi, gọi là pháp vô vi. Hai thứ hành sự nầy khác
biệt, ở trong tâm mắt của Bồ Tát Cửu địa, thì
Ngài hành sở vô sự. Tuy Ngài tu hành lục độ vạn
hạnh, lợi ích chúng sinh, nhưng trong tâm của
Ngài chẳng có chút chấp trước nào, chưa từng tự
khen mình. Quét sạch tất cả pháp, lìa tất cả
tướng, chẳng chấp vào danh và tướng cảnh lục độ
vạn hạnh. Bồ Tát biết rõ hai thứ pháp khác nhau
như vậy, cho nên Ngài rất tự tại nhập thế độ
sinh, hành Bồ Tát đạo, không có tờ hào khốn khổ
khó khăn.
Nếu
muốn biết các tâm chúng sinh
Thì hay dùng trí biết như thật
Đủ thứ chuyển nhanh hoại chẳng hoại
Các tướng vô chất vô biên thảy.
Nếu như Bồ Tát muốn biết tâm ý của chúng sinh,
thì Ngài dùng trí huệ mà Ngài tu được – tha tâm
thông, thì sẽ biết được như thật. Đủ thứ nghiệp,
có sự chuyển biến rất nhanh, hoặc sẽ biến hoại,
hoặc không thể biến hoại. Có việc có hình thể,
có việc không hình không thực chất. Có cái có
biên tế, có cái không biên tế, đủ thứ những đạo
lý nầy, đủ thứ tướng trạng nầy, Bồ Tát đều biết
được.
Phiền
não vô biên luôn bạn chung
Miên khởi một nghĩa nối các cõi
Tánh nghiệp đủ thứ đều khác biệt
Nhân hoại quả tập đều biết rõ.
Phiền não thì vô lượng vô biên, nó luôn luôn
theo chúng ta, làm bạn với con người. Tuỳ miên
phiền não sinh ra một thứ ý nghĩ, hoặc nhiều thứ
ý nghĩ, là nhân nối tiếp ở trong sáu cõi không
thể thoát khỏi. Ba nghiệp của chúng sinh tạo
thành nghiệp tánh khác nhau, có lúc tại nhân địa
trồng nhân thiện không thuần, thiện nhân hư hoại
đi. Về quả ác nghiệp trước hết thành thục, do đó
phiền não tập tụ mà thọ quả báo. Tiền nhân hậu
quả nầy có sự quan hệ với nhau, Bồ Tát Cửu địa
đều biết rõ ràng.
Đủ thứ các căn hạ trung thượng
Thuở trước thuở sau khác vô lượng
Hiểu tánh ưa muốn cũng như vậy
Tám vạn bốn ngàn đều biết hết.
Căn tánh của chúng sinh đủ thứ sự khác nhau, hạ
căn tức là liệt căn, hoặc gọi là nhu căn, nhu
nhược vô năng. Trung là trung căn, tức chẳng
phải thượng trí, cũng chẳng phải hạ ngu, người
phổ thông bình thường, chiếm phần đông đa số
trong nhân loại. Thượng là thượng căn, tức là
người tối thông minh có thượng trí. Thượng trí
có thượng trí thế gian và thượng trí xuất thế
gian. Thuở trước là đời quá khứ, thuở sau là đời
vị lai, cả hai thời gian nầy có sự khác biệt rất
lớn. Đủ thứ những căn tánh khác nhau của chúng
sinh như vậy, ở trong thời gian khác nhau, sức
hiểu biết của họ khác nhau, sinh tánh khác nhau,
ưa thích nhàm chán khác nhau, mong cầu dục vọng
khác nhau, nói một cách khái quát, có khoảng tám
vạn bốn ngàn thứ. Bồ Tát dùng trí không phân
biệt của Ngài, phân biệt hiểu rõ.
Chúng
sinh hoặc kiến luôn chuyển theo
Rừng rậm vô thuỷ chưa chặt trừ
Với chí cùng chung tâm đều sinh
Thường ràng buộc nhau chẳng đoạn tuyệt.
Chỗ phàm phu khác với Thánh nhân là mê và ngộ.
Phàm phu bị sự việc mê hoặc mà chẳng rõ lý, bậc
Thánh thì minh bạch nghĩa lý, thấu đạt tất cả sự
việc. Chúng sinh thọ khổ cũng là do bị việc đời
huyễn hoá mê hoặc, quan niệm nặng về cái ta,
biên kiến phân ưu mà khởi tranh luận. Đó là một
thứ tập khí, đã từng trải qua nhiều đời nhiều
kiếp, nó đều bám chặt ở trong ruộng thức thứ
tám, ràng rịt ý thức không buông tha. Từ vô thuỷ
đến nay, vô minh phiền não giống như rừng rậm
chằng chịt, chưa từng chặt trừ sạch được. Tuy
nhiên có không ít người muốn thoát khỏi sự ràng
buộc của hoặc, kiến, và rừng rậm vô minh, lập
chí hướng đạo, tìm cầu Phật pháp. Nhưng thứ vô
minh hoặc kiến nầy, nó cũng trói chặt theo tâm
thiện cùng tăng trưởng, đều ràng rịt không thể
đoạn tuyệt. Do đó : "Đạo cao một thước, ma cao
một trượng".
Chỉ
vọng tưởng chẳng phải vật thật
Chẳng lìa nơi tâm không xứ sở
Thiền định cảnh trừ vẫn thối chuyển
Kim cang đạo diệt mới rốt ráo.
Nếu gặp được thiện tri thức chỉ dẫn, một lòng
tin lời dạy của Phật nói, thì sẽ minh bạch tất
cả vọng tưởng, đâu thật có, mà đều là hư huyễn,
chẳng có gì nhất định, do đó : "Hãy quán tánh
pháp giới, tất cả do tâm tạo". Tu học thiền định
có thể điều nhiếp thân tâm, tăng thêm định lực.
Nếu chẳng có vị minh sư chỉ dẫn, không những
không thể đắc được phương pháp tu học, mà còn đi
lầm vào ma cảnh. Người tu thiền sợ nhất là chẳng
nhận thức được cảnh giới; không nhận thức được
cảnh giới, thì không thể chuyển được cảnh giới;
không thể chuyển được cảnh giới, thì bị cảnh
giới chuyển; bị cảnh giới chuyển, thì dễ thối
tâm, thối mất tâm bồ đề. Một khi tu thẳng đến
kim cang đạo diệt – trình độ kim cang hậu tâm,
thì mới đạt đến công phu rốt ráo không thể thối
chuyển – ba bất thối. Khi chứng được ba bất
thối, thì mới chẳng có sự nguy hiểm. Cho nên
người tu đạo, kị nhất là bị cảnh giới chuyển,
cảnh giới đến chẳng nhận thức, cảnh giới đi rồi
lại hối hận. Cảnh giới như thế nào ? Phàm là
ngoài thân mà thấy được, nghe được, trong tâm
tưởng tượng đến, đều là cảnh giới. Đủ thứ cảnh
giới phát sinh ra, thì phải thuận thọ nghịch
cảnh, tiếp nhận giải quyết. Có trí huệ đương cơ
lập đoạn, thì không thể sinh khởi kiến hoặc, tư
hoặc, văn hoặc (danh từ văn hoặc nầy trong giáo
lý không có, do tôi theo kiến hoặc, tư hoặc mà
chế tạo ra). Người tu học Phật đạo, không phân
biệt tại gia xuất gia, đều phải có trí huệ chân
chánh, thì mới không bị cảnh giới mê hoặc, mới
không thối mất bồ đề tâm.
Sáu
cõi thọ sinh đều khác nhau
Ruộng nghiệp, ái nhuận, vô minh che
Thức là hạt giống, mầm danh sắc
Ba cõi vô thuỷ luôn nối tiếp.
"Trong mộng rõ ràng có sáu cõi
Giác rồi không không vô đại
thiên".
Ý nghĩa hai câu nầy là kêu mọi người đừng chấp
trước gì hết, đời người giống như trong Kinh Kim
Cang có nói : "Như mộng huyễn bọt bóng". Một số
người thế tục không tin nhân quả, khởi hoặc tạo
nghiệp, điên đảo trắng đen, cho nên vĩnh viễn
trôi nổi trong sáu cõi, tuần hoàn vô đoan, chẳng
biết tìm đường thoát khỏi. Do đó : "Ra bụng
ngựa, vào thai lừa, trước mặt Diêm Vương mấy độ
rồi. Mới vừa đến trước điện Đế Thích, lại vào
trong nồi của Diêm Vương". Đây là nói chúng sinh
tạo nghiệp thọ sinh, nguyên nhân sáu cõi thọ
sinh khác nhau, do nhân tạo nghiệp khác nhau.
Nếu muốn minh bạch "nghiệp nhân" của mình, thì
hãy xem "Đời nầy minh đang thọ". Nếu muốn biết
"Quả báo đời sau, thì hãy xem đời này mình đang
làm gì ?" Nhân quả báo ứng, tơ hào không sai.
Bình thường chúng ta cử tâm động niệm, đâu chẳng
phải là tạo nghiệp, đâu chẳng phải là tội. Do
đó :
"Vô tâm vô niệm vô thức điền
Tư dục tạp niệm thị tội nghiệt".
Nghĩa là :
Không tâm không niệm không ruộng
thức
Ham muốn tạp niệm là tội nghiệt.
Lại nói :
Tâm chỉ niệm tuyệt chân phú quý
Tư dục đoạn tận chân phước điền.
Nghĩa là :
Tâm niệm ngưng bặc giàu sang thật
Ham muốn đoạn sạch thật phước
báu.
"Thức" là thức thứ tám A lại da thức, còn gọi là
tàng thức, nghiệp thiện ác tạo ra và ý niệm, đều
cất giữ trong tàng thức. "Nghiệp" giống như
miếng ruộng, làm những việc thiện ác, dấy động
niệm thiện ác đều là hạt giống, một chút một
giọt, không phân biệt lớn nhỏ nặng nhẹ, đều gieo
trồng xuống trong ruộng nghiệp. "Ái" tức là
nước, để thấm nhuần hạt giống trong ruộng
nghiệp, còn tăng thêm vô minh che đậy. Thức
thành tựu rồi, sẽ tuỳ theo đoạ vào trong ba cõi.
Ba cõi – cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, là vô
thuỷ cũng vô chung, vĩnh viễn nối tiếp không
dứt.
Hoặc
nghiệp tâm tập sinh các cõi
Nếu lìa nơi đây không còn sinh
Chúng
sinh đều ở trong ba tụ
Hoặc chìm kiến chấp hoặc hành đạo.
Vì kiến hoặc, văn hoặc, tư hoặc và nội tâm tích
tập, là nhân tố sinh khởi các cõi, nếu đoạn trừ
được hoặc nghiệp, thì sự tích tập trong tâm tự
nhiên chẳng còn nữa, cũng không còn tái sinh vào
trong ba cõi nữa. Chúng sinh đều ở trong ba tụ:
1. Tuyệt đối chánh.
2. Tuyệt đối tà.
3. Vừa chánh vừa tà.
Có kẻ chìm đắm trong kiến hoặc, cũng có người
biết siêng học Phật đạo.
Trụ
nơi địa nầy khéo quán sát
Tuỳ tâm họ thích và căn tánh
Đều dùng diệu biện tài vô ngại
Tuỳ người đáng độ nói khác nhau.
Bồ Tát tu chứng đến Thiện huệ Địa thứ chín, Ngài
đã chứng được Diệu quán sát trí, cho nên Ngài
khéo dùng Diệu quán sát trí nầy, để quán sát
nhân quả đạo lý của tất cả mọi sự. Khi Ngài giáo
hoá chúng sinh, thì phải quán căn cơ và sức hiểu
biết mà vì họ nói pháp. Bồ Tát dùng trí huệ vô
ngại, biện tài thù diệu, vì người nói pháp. Tuỳ
theo chúng sinh cần, ưu điểm thích hợp của chúng
sinh, phân biệt nói ngang nói dọc, thông đạt vô
ngại, dùng các thứ phương pháp khác nhau, giáo
hoá căn tánh khác nhau của chúng sinh, đều khiến
cho họ thích vào Phật đạo.
Ngồi
nơi pháp toà như sư tử
Cũng như ngưu vương bảo sơn vương
Lại như long vương bủa mây dày
Tuôn mưa cam lồ đầy biển lớn.
Vị Cửu địa Bồ Tát nầy, khi Ngài ngồi trên pháp
toà thuyết pháp, thì pháp tướng trang nghiêm của
Ngài, giống như sư tử, không dữ mà oai phong,
cũng giống như ngưu vương, lại giống như toà núi
báu hùng vĩ, lại giống như long vương khi nổi
mây mưa xuống. Đối với những người khát khao,
thì giống như mưa cam lồ pháp vũ, tràn đầy khắp
bốn biển.
Khéo
biết pháp tánh và áo nghĩa
Tuỳ thuận ngôn từ hay biện thuyết
Tổng trì trăm vạn A tăng kỳ
Ví như biển lớn thọ các mưa.
Bồ Tát Ngài rất khéo biết thật tướng các pháp,
cũng thấu rõ nghĩa lý áo diệu của các pháp. Ngài
tuỳ thuận chúng sinh căn tánh khác nhau, tuỳ
thuận lời lẽ âm thanh khác nhau của chúng sinh,
ngược lại đối với chúng sinh giải thích pháp vi
diệu thâm sâu của chư Phật nói, khiến cho chúng
sinh đều hiểu rõ. Bồ Tát chứng được môn Đà la ni
nhiều hàng trăm vạn A tăng kỳ, cũng đắc được môn
tổng trì nhiều như số hạt bụi. Cũng giống như
biển lớn, bất cứ nước sông hồ ao ngòi, đều chảy
vào trong biển cả. Thọ các mưa, tức là mưa lớn
mưa nhỏ đều vào trong biển cả hết.
Tổng
trì tam muội đều thanh tịnh
Trong một niệm thấy nhiều vị Phật
Chỗ mỗi vị Phật đều nghe pháp
Lại dùng diệu âm mà diễn xướng.
Tổng trì tam muội là chánh định chánh thọ, tổng
tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa, đều là thanh
tịnh không nhiễm. Bồ Tát có thể ở trong một niệm
thấy được vô lượng nhiều vị Phật, Ngài ở chỗ đạo
tràng của mỗi vị Phật, đều lắng nghe chư Phật
giảng kinh thuyết pháp. Ngài nghe Phật pháp rồi,
thì dùng âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn của
Ngài, đối với chúng sinh diễn nói rất rõ ràng.
Nếu
muốn ba ngàn đại thiên giới
Giáo hoá tất cả các quần sinh
Như mây giăng bủa rộng lớn khắp
Tuỳ căn dục họ khiến vui mừng.
Nếu như Bồ Tát muốn ở trong ba ngàn đại thiên
thế giới, giáo hoá khắp hết thảy các loại chúng
sinh, thì giống như mây trên trời, giăng bủa đầy
khắp hư không, chẳng có chỗ nào mà không có mây.
Tuy nói là vô lượng số chúng sinh, nhưng Bồ Tát
đều tuỳ theo căn tánh của họ, giáo hoá từng
người, khiến cho mỗi chúng sinh đều được pháp hỉ
sung mãn.
Đầu lông Phật chúng đông vô số
Chúng sinh ưa thích cũng vô cực
Ứng với tâm họ cho pháp môn
Tất cả pháp giới đều như vậy.
Ở tại mỗi đầu sợi lông, đều có vô số hoá Phật,
cũng không biết bao nhiêu hoá chúng sinh. Chúng
sinh ở trong vô lượng A tăng kỳ cõi nước, tâm ưa
thích của họ cũng vô lượng đến vô cực. Bồ Tát
đều có thể thích ứng với tâm lý của họ, mà ban
cho họ pháp môn, khiến cho họ đều thích ý tu
học. Tình hình giống như vậy, chẳng phải giới
hạn tại một thế giới, mà là khắp cùng mười
phương thế giới, trong tất cả cõi nước chư Phật,
cũng đều như vậy.
Bồ
Tát siêng thêm sức tinh tấn
Lại được công đức càng tăng thắng
Văn trì đủ loại các pháp môn
Như đất giữ được tất cả giống.
Bồ Tát chuyên cần tinh tấn, tăng thêm sức tu
học, do đó đắc được công đức càng ngày càng tăng
thêm thù thắng. Tại đạo tràng của mười phương
chư Phật, văn trì các thứ pháp môn vi diệu, diệu
dụng của nó giống như mặt đất, giữ gìn được vạn
vật, sinh trưởng tất cả vạn vật.
Mười
phương vô lượng các chúng sinh
Đều đến gần gũi ngồi trong hội
Một niệm tuỳ tâm đều vấn nạn
Một âm đối khắp đều thoả mãn.
Mười phương thế giới, vô lượng vô số chúng sinh,
mọi người đều đến pháp hội của Phật, gần gũi chư
Phật, cung kính ngồi đó lắng nghe thuyết pháp.
Những chúng sinh đó đều đưa ra vấn đề khó khăn
mà họ không hiểu, thỉnh cầu Bồ Tát giải đáp, Bồ
Tát ở trong một niệm đều minh bạch hết ý nghĩa
của họ. Bồ Tát dùng một thứ âm thanh, trả lời
khắp hết tất cả mọi người, làm cho họ thảy đều
được mãn nguyện.
Trụ
nơi địa nầy làm Pháp Vương
Tuỳ cơ giáo hoá không nhàm mỏi
Ngày đêm thấy Phật chưa từng bỏ
Vào sâu tịch diệt trí giải thoát.
Bồ Tát trụ tại Thiện huệ Địa thứ chín, có thể
làm vua trong các pháp (Pháp Vương). Giáo hoá
chúng sinh biết căn tánh chúng sinh để nói pháp
cho họ nghe, nghĩa là đáng dùng thân gì độ được,
thì hiện thân đó vị họ nói pháp. Giáo hoá cho họ
minh bạch Phật pháp, chưa từng sinh tâm nhàm
mỏi. Bồ Tát ngày đêm đều được thấy nhiều vị
Phật, nhưng Ngài chưa từng xả bỏ không thấy
Phật, dù chỉ trong một niệm. Bồ Tát vào sâu trí
huệ thường tịch diệt, và pháp môn chân lý giải
thoát.
Cúng
dường chư Phật thiện thêm sáng
Như mũ báu đẹp trên đầu vua
Lại khiến chúng sinh phiền não diệt
Ví như Phạm Vương quang chiếu khắp.
Bồ Tát siêng năng cúng dường mười phương chư
Phật, đắc được thiện căn ngày càng sáng tịnh,
giống như mũ báu đẹp trên đầu của Chuyển Luân
Thánh Vương, mũ báu của các ông vua nhỏ và thần
dân không thể nào so sánh được. Lại hay khiến
cho vô minh phiền não của chúng sinh đều diệt
trừ sạch. Như quang minh của Đại Phạm Thiên
Vương, chiếu khắp đến hai ngàn thế giới.
Trụ
đây thường làm Đại Phạm Thiên
Đem pháp tam thừa dạy chúng sinh
Làm các thiện nghiệp ích lợi khắp
Cho đến sẽ thành Nhất thiết trí.
Bồ Tát trụ tại Thiện huệ Địa thứ chín, dùng công
đức, trí huệ, thần thông diệu dụng của Ngài,
phần nhiều thị hiện làm Đại Phạm Thiên Vương.
Ngài đem phương pháp Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ
Tát để giáo hoá chúng sinh của Ngài, làm tất cả
đều là thiện nghiệp, lợi ích khắp tất cả chúng
sinh, cho đến tương lai, những chúng sinh đó đều
có thể sẽ thành Phật.
Một
niệm nhập vào các tam muội
A tăng kỳ cõi số hạt bụi
Thấy Phật thuyết pháp cũng như thế
Nguyện lực mà làm nhiều hơn trên.
Bồ Tát ở trong một niệm, có thể nhập vào tất cả
tam muội. Ở trong một niệm, có thể đến A tăng kỳ
cõi nước nhiều như số hạt bụi. Ở trong một niệm
có thể thấy được vô lượng số các đức Phật, cũng
có thể ở trong một niệm, diễn nói diệu pháp đối
với vô lượng số chúng sinh. Thần thông diệu dụng
nầy là nhẹ mà dễ dùng, nếu nói về dùng sức
nguyện lực mà Ngài đã phát ra trong quá khứ, thì
sẽ nhiều hơn số trên đây.
Đó
là Thiện huệ Địa thứ chín
Chỗ tu hành Bồ Tát đại trí
Thâm sâu vi diệu khó thấy được
Tôi vì Phật tử đã nói xong.
Tất cả những gì đã nói ở trên, là cảnh giới quá
trình tu học Địa thứ chín của Bồ Tát Thiện huệ
địa. Cũng đúng là pháp môn tu hành của Bồ Tát
Cửu địa có đại trí huệ. Pháp môn nầy thâm sâu vi
diệu, không dễ gì thấy được. Hiện tại tôi đã vì
các vị Phật tử nói xong rồi.
|