|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN BA MƯƠI BẢY
PHẨM THẬP ĐỊA THỨ HAI MƯƠI SÁU
THỨ SÁU HIỆN TIỀN ĐỊA
Bồ Tát đã
nghe những thắng hạnh
Tâm đều
hoan hỉ mưa diệu hoa
Phóng
tịnh quang minh rải châu báu
Cúng
dường Như Lai khen khéo nói.
Các vị
đệ tử của Phật sau khi nghe Bồ Tát Kim Cang Tạng
nói xong hạnh môn thù thắng Địa thứ năm rồi, đều
sinh tâm đại hoan hỉ, vọt lên hư không rải xuống
hoa quý đẹp như mưa. Lại phóng ra quang minh
thanh tịnh, rải xuống vô lượng châu báu, để cúng
dường mười phương chư Phật và đức Phật Thích Ca.
Và còn tán thán khen ngợi nói : "Pháp bảo chư
Phật nói ra, đều là vi diệu vô thượng".
Trăm
ngàn Thiên chúng đều vui mừng
Cùng
trong hư không rải các báu
Tràng
hoa anh lạc và tràng phan
Lọng báu
hương thoa đều cúng Phật.
Nhiều
trăm ngàn Thiên nhân đều vui mừng nhảy múa, cùng
nhau ở trong hư không rải xuống vô số châu báu,
đủ thứ tràng hoa, anh lạc, tràng phan, còn có đủ
thứ lọng báu, hương thoa danh quý, đều dùng để
cúng dường chư Phật.
Tự
Tại Thiên Vương cùng quyến thuộc
Tâm sinh
hoan hỉ trụ hư không
Rải báu
thành mây để cúng dường
Khen nói
Phật tử khéo diễn nói.
Đại Tự Tại Thiên Vương cùng với quyến thuộc rất
hoan hỉ, cùng nhau ở trong hư không, rải xuống
vô lượng châu báu, hình thành giống như vầng
mây, dùng để cúng dường đức Phật. Đồng thời đều
lớn tiếng khen ngợi, thỉnh cầu Bồ Tát Kim Cang
Tạng nói : "Đại đệ tử của Phật ! Xin Ngài hãy
mau tiếp tục nói" !
Vô
lượng thiên nữ trụ trong không
Đều dùng
âm nhạc ca khen Phật
Trong
tiếng hát đều nói như vầy
Lời Phật
hay trừ bệnh phiền não.
Vô số
Thiên nữ đều ở trong hư không, cùng nhau tấu lên
nhạc trời rất hay, ca xướng tán thán khen ngợi
công đức của Phật. Ý nghĩa ca xướng đều nói như
vầy : "Lời dạy của đức Phật, lời lẽ nhu hoà,
nghe rồi có thể khiến cho tiêu trừ tám vạn bốn
ngàn phiền não và bệnh tật, mà đắc được mát mẻ".
Pháp
tánh vốn lặng không hình tướng
Giống
như hư không chẳng phân biệt
Vượt các
chấp lấy bặc lời lẽ
Chân thật bình đẳng thường thanh tịnh.
"Các
pháp không tự sinh, cũng chẳng từ tha sinh,
chẳng cùng chẳng không sinh, cho nên nói không
sinh". (chư pháp bất tự sanh, diệc bất tùng tha
sanh, bất cộng bất vô sanh, thị cố thuyết vô
sanh). Bản tánh của pháp là vắng lặng bất động.
Dụng của pháp là "cảm mà toại thông", nó không
hình không tướng, cho nên phải "quét tất cả
pháp, lìa tất cả tướng". Có phân biệt thì không
thể gọi là hư không. Người học Phật phải giống
như hư không, tức không chấp vào "pháp", càng
không chấp vào thấy "ta, người". Bản thể của
pháp là "Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt",
lìa văn tự lời nói, là chân thật, bình đẳng,
cũng là thanh tịnh, vắng lặng.
Nếu
hay thông đạt các pháp tánh
Nơi có
nơi không tâm chẳng động
Vì muốn
cứu đời siêng tu hành
Từ miệng
Phật sanh chân Phật tử.
Nếu như
bạn hay đối với tất cả sự tướng đều không chấp
trước, tức là thông đạt bản tánh của các pháp.
Tâm ý của bạn đều không bị pháp hữu vi, hoặc
pháp vô vi làm giao động. Bồ Tát vì cứu độ người
đời, cho nên nỗ lực siêng tu Phật đạo. Như vậy
mới từ trong miệng Phật sinh ra, từ pháp hoá
sinh ra chân chánh đệ tử Phật.
Không
thủ các tướng mà bố thí
Vốn dứt
các ác kiên trì giới
Hiểu pháp không hại thường kham nhẫn
Biết
pháp tánh lìa đủ tinh tấn.
"Không
thủ các tướng", tức là đối với chúng sinh chẳng
có thành kiến tốt, xấu, thiện, ác. Khi hành bố
thí, thì trong tâm chẳng có bất cứ mục đích gì,
vốn đều là tam luân thể không, dùng tâm đại từ
bình đẳng hành bố thí. Tam luân thể không là:
1.
Không người thí.
2.
Không người nhận.
3.
Không vật bố thí.
Tam luân đều không, mới thật là bố thí. Con
người khi mới sinh ra, vốn đều là thiện lương,
chỉ vì sau này tuỳ theo hoàn cảnh mà thay đổi,
làm thiện tạo ác, làm cho hồ đồ. Nếu như theo
thiện như dòng nước, biết lỗi liền sửa, kiên trì
giới hạnh, thì sẽ không tạo ra các điều ác. Bản
thân của pháp chẳng có thiện ác, pháp cũng chẳng
phải ràng buộc người. Người thấu rõ pháp, tức là
người thấu rõ lý, nhất định họ sẽ kiêm hư hoà
mục, không tranh với người. Biết pháp tánh và
pháp dụng, lìa khỏi tất cả chấp trước, tức là đủ
điều kiện tinh tấn.
Đã hết
phiền não vào các thiền
Khéo đạt
tánh không phân biệt pháp
Đầy đủ
trí lực hay rộng cứu
Diệt trừ
các ác xưng Đại Sĩ.
Đã
dứt sạch tất cả phiền não, tiến vào cảnh giới tứ
thiền, đắc được pháp hỉ giải thoát. Cũng thấu rõ
pháp tánh vốn không, cũng không phân biệt. Đầy
đủ tất cả trí lực, hay rộng độ hết thảy chúng
sinh. Diệt trừ hết tất cả niệm ác, như vậy tức
là trở thành một vị đại Bồ Tát.
Diệu
âm như vậy ngàn vạn thứ
Khen rồi
yên lặng chiêm ngưỡng Phật
Giải Thoát Nguyệt nói Kim Cang Tạng
Dùng
hạnh tướng nào vào địa sau ?
Âm
thanh vi diệu như vậy có ngàn vạn thứ. Các Bồ
Tát và Thiên chúng khen ngợi đức Phật rồi, mọi
người đều yên lặng tỏ ra niềm hân hoan chiêm
ngưỡng đức Phật. Lúc đó, Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt lại nói với Bồ Tát Kim Cang Tạng : "Dùng
pháp môn gì tu hành ? Có tướng trạng thế nào ?
Mới có thể tiến vào Địa thứ sáu ?"
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng nói với Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt rằng : Phật tử ! Đại Bồ Tát đã đầy
đủ Địa thứ năm, muốn vào Hiện Tiền Địa thứ sáu,
phải quán sát mười pháp bình đẳng.
Lúc đó,
Bồ Tát Kim CangTạng nói với Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt rằng : "Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ
Tát tu hành Bồ Tát đạo, tích tụ đủ thứ căn lành,
đã tu hành viên mãn pháp môn thứ năm Nan Thắng
Địa, hy vọng tiếp tục tiến vào - Hiện Tiền Địa
thứ sáu. Phải quán sát mười thứ pháp môn bình
đẳng. Tu mười pháp môn bình đẳng nầy, tuần tự
tiến dần, sau đó mới có thể tiến vào Địa thứ sáu
được ".
Những
gì là mười ?Đó là : Tất cả pháp không tướng nên
bình đẳng. Không thể nên bình đẳng. Không sanh
nên bình đẳng. Không thành nên bình đẳng. Bổn
lai thanh tịnh nên bình đẳng. Không hí luận nên
bình đẳng. Không lấy bỏ nên bình đẳng. Vắng lặng
nên bình đẳng. Như huyễn, như mộng, như bóng,
như vang, như trăng dưới nước, như hình trong
gương, như diệm, như hoá, nên bình đẳng. Có,
không chẳng hai nên bình đẳng.
Phải
quán sát mười thứ pháp môn bình đẳng như thế
nào ? Tức là :
1.
Tất cả pháp vốn chẳng có tướng trạng của nó, vì
chẳng có tướng trạng, cho nên "Pháp thì bình
đẳng, chẳng có cao thấp".
2.
Pháp không tự tướng, cũng không tự thể. Trên mỗi
thân chúng sinh đều có pháp, nhưng vì không có
tự thể, cho nên nhìn không ra.
3.
Pháp chẳng có sinh, cũng chẳng có diệt, vì không
sinh không diệt, cho nên bình đẳng.
4.
Pháp chẳng có thành, cũng chẳng có hoại, vì
chẳng thành chẳng hoại, cho nên bình đẳng.
5.
Pháp vốn thanh tịnh, cũng chẳng có gì có thể
nhiễm ô nó. Vì thanh tịnh không dơ, cho nên bình
đẳng.
6.
Pháp đều là chân thật, không thể hí luận, cho
nên bình đẳng.
7.
Pháp không thể thủ lấy được, cũng không thể bỏ
được, vì không lấy không bỏ, cho nên bình đẳng.
8.
"Các pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt
tánh". Nó vốn tịch diệt, không bị ngoại cảnh
biến động, cho nên là bình đẳng.
9.
Pháp là hư huyễn không thật. Pháp giống như nằm
mộng, pháp giống như hình bóng – nói nó có
chăng ? Nó chẳng có thật thể. Nói nó chẳng có
chăng ? Nó lại có hình bóng. Pháp giống như
tiếng vang, chỉ có thể nghe được âm thanh, nhưng
nhìn không thấy hình tướng, muốn cầm lên nhìn
xem cũng không thể được. Pháp lại giống như mặt
trăng trong nước, nhìn tựa như có, muốn lấy lại
lấy không được. Pháp giống như hình bóng trong
gương, giống như ngọn lửa. Pháp giống như biến
hoá, tựa như không lại hoá ra có, tựa như có lại
hoá ra không, chẳng có nhất định, cho nên bình
đẳng.
10. Có tức là có, có mà chẳng có. Không tức là
không, không mà chẳng không. Tức có tức không,
tức không tức có. Có không chẳng hai, cho nên
cũng là bình đẳng.
Bồ
Tát quán tất cả pháp như vậy, tự tánh thanh
tịnh, tuỳ thuận không trái. Được nhập vào Địa
thứ sáu Hiện Tiền địa. Đắc được tuỳ thuận nhẫn
minh lợi, chưa đắc được vô sinh pháp nhẫn.
Bồ Tát
nghiên cứu tất cả pháp, quán sát tất cả pháp,
hiểu rõ tất cả pháp, thông đạt tất cả pháp như
vậy, biết tự tánh thanh tịnh. Tuỳ thuận theo
pháp, không trái với đạo lý của pháp. Chiếu theo
đó mà tu hành, từng chút từng chút sẽ nhập vào
Địa thứ sáu - Hiện Tiền địa. Đắc được trí huệ
thông minh vô thượng như vậy. Tuỳ thuận theo
chân lý, kiếm trí huệ vốn minh lợi, nhìn thấu
tất cả sự việc, bình tâm tĩnh khí hoà bình xử
lý, đối với mọi người nhẫn nhịn nhu hoà. Tuy
nhiên được như vậy, nhưng vẫn chưa đắc được vô
sanh pháp nhẫn chân chánh.
Phật
tử ! Bồ Tát nầy quán như vậy rồi, lại dùng đại
bi làm đầu, đại bi tăng thượng, đại bi đầy đủ.
Quán thế gian sanh diệt, mà nghĩ như vầy : Thế
gian thọ sanh, đều do chấp cái ta, nếu lìa chấp
trước nầy, thì không có chỗ sinh.
Lại nghĩ như vầy : Phàm phu không
có trí huệ, chấp trước vào cái ta, thường cầu
có, không, suy nghĩ bất chánh, khởi hạnh hư
vọng, hành tà đạo, tạo tội, làm phước, làm bất
động, tích tập tăng trưởng.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị Bồ Tát nầy đang tu học Địa thứ sáu,
Ngài quán sát mười pháp bình đẳng như đã nói ở
trước rồi, biết được hành Bồ Tát đạo phải dùng
tâm đại bi làm đầu, phải dùng tâm đại bi làm
tăng thượng, phải dùng tâm đại bi để viên mãn
hết thảy hạnh Bồ Tát. Ngài quán sát tất cả hiện
tượng sinh diệt của thế gian, lại nghĩ như vầy :
Tất cả sinh vật trên thế gian (bao quát con
người trong đó) tại sao lại có sinh có diệt ?
Tại sao không thể nào chấm dứt sinh tử ? Đó đều
do chấp trước vào chữ "Ta". "Tướng ta" nhìn
không thấu, thì "thấy cái ta" không thể trừ
được, "chấp cái ta" không thể nào lìa được, cho
nên sinh tử không thể dứt được. Nếu như lìa khỏi
được tướng ta, chấp cái ta, thì sinh tử sẽ dứt
được. Bồ Tát lại nghĩ như vầy : "Vì phàm phu
chẳng có trí huệ, điên đảo ngu si, cho nên chấp
vào cái ta. Do chấp trước mà sinh ra cống cao
ngã mạn, luôn luôn dùng công phu trên pháp hữu
vi, pháp vô vi, không sinh tư tưởng chánh đáng.
Dùng vô minh làm nhân, cứ sinh ra tà tri tà
kiến, làm những việc ác hư vọng, ba nghiệp chẳng
thanh tịnh. Bàng môn tả đạo, thân đầy tội ác.
Nhưng có lúc lại làm chút căn lành công đức. Do
đó mà tội nghiệp thiện nghiệp xen tạp không rõ
ràng, chẳng có định kiến. Như đây tạo nghiệp quá
nhiều, không dễ thay đổi, thì trong nghiệp lực
không thể chuyển động được. Làm tội ngày càng
chồng chất, tăng trưởng không ngừng, một khi
nghiệp nhân chín mùi, thì sẽ theo nghiệp thọ
báo.
Ở trong
các hạnh, trồng hạt giống tâm, hữu lậu có thủ
lấy. Lại khởi cõi sau, sanh và lão tử. Do đó gọi
nghiệp là ruộng, thức là hạt giống, vô minh đen
tối che đậy, nước ái thấm nhuần, ngã mạn tưới
nước, lưới chấp kiến tăng trưởng, sinh mầm danh
sắc. Danh sắc tăng trưởng sinh ra năm căn. Các
căn tương đối sinh xúc, xúc đối sinh ra thọ, thọ
rồi mong cầu sinh ra ái. Ái tăng trưởng sinh ra
thủ, thủ tăng trưởng sinh ra hữu, hữu sinh rồi
thì ở trong các cõi khởi thân năm uẩn gọi là
sinh. Sinh rồi, suy biến là già, cuối cùng là
chết. Khi già chết thì sinh các nhiệt não. Vì
nhiệt não nên ưu sầu bi ai các khổ đều tụ tập.
Ở
trong các nghiệp hạnh tất cả thiện ác hỗn hợp,
thì ở trong ruộng tâm thức trồng xuống hạt giống
sinh tử lưu chuyển. "Hạt giống" nầy là "nhân"
của hữu lậu; có "nhân" nầy rồi, thì sinh ra
"chấp thủ". Có "chấp thủ", thì sẽ sinh ra "cõi
sau", bèn có "đời sau". Do "đời sau" nên có "già
chết". Tạo nghiệp cũng giống như một thửa ruộng.
Nhân thiện ác thu ở trong ruộng bát thức, tức là
hạt giống. Vô minh che lấp hạt giống nghiệp
ruộng. "Ái" giống như nước phân, thấm nhuần từ
từ những hạt giống chấp thủ, hữu, sinh, già,
chết. Dùng "ngã mạn" để tưới bón nghiệp ruộng,
thức giống. Tà kiến như tấm lưới, che đậy những
hạt giống nghiệp, khiến cho nó ngày càng tăng
trưởng, bèn sinh ra mầm "danh sắc" – bào thai.
Mầm danh sắc dần dần lớn lên, thì sinh ra "năm
căn" - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. "Sinh căn" và
"tánh căn" nầy tương đối, bèn sinh ra "xúc
giác". Phản ứng của xúc giác là "lãnh thọ". Có
cảm thọ rồi, bèn sinh ra tâm tham mong cầu – đây
tức là biểu hiện của "ái". "Ái dục" một khi tăng
trưởng, thì sinh ra ý niệm "thủ" lấy. "Thủ" tăng
cường, thì hình thành chiếm hữu dục; phàm những
gì thấy được, một khi hoan hỉ thì muốn chiếm làm
sở "hữu" của mình. Khi "hữu" thành thục, thì
thành công đầy đủ thân "năm uẩn" ở trong sáu nẻo
luân hồi, đó tức là "sinh". Sau khi "sinh" rồi,
thì chẳng bao lâu sẽ biến thành "suy già". Cuối
cùng, quy về cái chết. Khi lúc già chết, trăm
cảm giao tập, người xả bỏ không được ái ; thương
tiếc đồ vật, giống như mang đi không được. Ngàn
vạn phiền não, ràng buộc tâm. Do những phiền não
đó, khiến cho con người khi lâm chung thì tâm lo
lắng, buồn khổ, bi ai .v.v... nhiều thứ nói
không hết được, đều tụ tập lại với nhau.
Đó là do
nhân duyên nên tập hợp, chứ chẳng có kẻ tập,
nhậm vận mà diệt, cũng chẳng có kẻ diệt. Bồ Tát
tuỳ thuận quán sát tướng duyên khởi như vậy.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy lại nghĩ như vầy : Nơi đệ
nhất nghĩa đế không thấu hiểu, nên gọi là vô
minh. Làm những nghiệp quả là hành. Hành y chỉ
vào sơ tâm là thức. Thức cùng sinh với bốn thủ
uẩn là danh sắc. Danh sắc tăng trưởng là sáu xứ.
Căn cảnh thức ba việc hoà hợp là xúc. Xúc cộng
với sinh có thọ. Nơi thọ nhiễm trước là ái. Ái
tăng trưởng là thủ. Thủ khởi lên nghiệp hữu lậu
là hữu. Từ nghiệp khởi uẩn là sinh. Uẩn chín mùi
là già. Uẩn hoại là chết. Khi chết ly biệt, ngu
mê tham ái, lòng phiền muộn là sầu. Khóc rơi lệ
than thở là thán. Tại năm căn là khổ. Tại ý
tưởng là ưu. Ưu khổ chuyển nhiều thành não.
Như vậy chỉ có cây khổ tăng
trưởng. Không ta, không của ta, không kẻ làm,
không kẻ thọ. Lại nghĩ như vầy : Nếu có kẻ làm,
thì có làm việc. Nếu không kẻ làm, cũng không
làm việc. Trong đệ nhất nghĩa đế đều bất khả
đắc.
Do
"nhiệt não ưu bi" đủ thứ nhân duyên, nên đã
trồng xuống "đời sau". Tuy nhiên nói các khổ
tích tập, nhưng không có một thật thể nào khiến
cho nó tích tập, chỉ là hư vọng mà sinh, hư vọng
mà diệt. Vì hư vọng mới khiến cho con người sinh
ra chấp trước. Cho nên nói : "Chẳng có một người
nào tích tập, nó tự nhiên nhậm vận mà sinh ra,
nhậm vận mà diệt đi. Tức chẳng có năng diệt,
cũng chẳng có sở diệt. Chẳng có năng sinh, cũng
chẳng có sở sinh. Bồ Tát tư duy quán sát như
vậy, dùng trí huệ nghiên cứu những vấn đề nầy,
tuỳ thuận cảnh giới quán sát tướng trạng của
duyên khởi. Có thể kết luận rằng: Tất cả là hư
vọng không thật, duyên khởi không tánh. Do đó:
"Nhân duyên sinh ra pháp
Ta nói tức là không
Cũng gọi là tên giả
Cũng gọi nghĩa trung đạo".
Bồ
Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy tu hành Bồ Tát đạo,
tích tập đủ thứ căn lành, Ngài lại suy gẫm như
vầy : Phàm phu vì không minh bạch đệ nhất nghĩa
đế - Pháp bốn đế, cho nên gọi là "vô minh". "Vô
minh" tạo nghiệp, thọ quả báo, tức là "hành".
"Hành" là y chỉ tâm niệm lúc ban đầu, đây tức là
"thức". Với thức đồng sinh ra bốn thủ uẩn – 1.
Vô minh. 2. Hành. 3. Thức. 4. Danh sắc, tức gọi
là "danh sắc". Bốn thứ nầy đồng thời sinh ra.
"Danh sắc" lớn dần, bèn có lục nhập - mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý. Căn : Sáu căn còn gọi là lục
xứ, còn gọi là lục nhập. Cảnh : Sáu trần, tức là
tất cả sự tướng. Thức : Sáu thức, tâm phân biệt
khởi lên đối với sự tướng. Ba dạng nầy hợp lại
phát sinh ra một thứ tác dụng, tức là "xúc". Tự
xúc xúc tha, xúc giác tướng sinh, thì phát sinh
ra "thọ", là một sự cảm ứng tốt, xấu, tức là
"thọ". Trong sự lãnh thọ, tâm sinh nhiễm ô và
chấp trước, tức là một số người xem nặng "ái"
của sinh mạng thứ hai. "Ái" đến cực điểm, thì
sinh ra tâm "thủ", phải thủ lấy làm của riêng
mình. Do đây mà sinh ra tâm chiếm lấy làm của
riêng, bèn sinh ra "hữu". "Hữu" tức là nghiệp
hữu lậu. Từ trong nghiệp hữu lậu sinh ra "sắc"
uẩn, tức là "sinh", bèn có đời sau. Năm uẩn -
sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chín mùi rồi, tức
là "già". Đến khi năm uẩn tan hoại, bốn đại -
đất, nước, gió, lửa, đều phân tán, thì đến thời
kỳ chết. Người ngu si hồ đồ, đến giờ phút cuối
cùng vẫn tham luyến thân xác, mọi thứ xả bỏ
không được, buông bỏ chẳng đặng. Vì tham luyến,
nên trong tâm sinh ra phiền muộn, đây tức là
"sầu". Khóc lóc chảy nước mắt, kêu la không
ngừng gọi là "thán". Nói về năm căn thì cảm giác
rất là thống khổ, nói về tâm ý thì ưu bi khổ não
vô hạn. Tình huống thảm thiết nầy, càng ngày
càng thêm nhiều, đây tức là phiền não bi khổ.
Tình hình nầy giống như một cây khổ, phía trước
kết đầy quả khổ, ngày ngày tăng trưởng. Trong
những quả khổ nầy, chẳng có phần nào là ta, cũng
chẳng có phần nào là của ta. Chẳng có một người
nào làm những chuyện nầy, cũng chẳng có một
người nào thọ những chuyện nầy. Tất cả những gì
hiện ra, đều là hư vọng không thật.
Bồ Tát lại suy gẫm như vầy : Giả
như có người làm những chuyện nầy, thì phải có
những sự tướng làm hiện ra ; nhưng chỉ có khổ,
lại chẳng có sự thật để chứng minh. Giả sử chẳng
có người làm việc, thì đương nhiên chẳng có sự
thật để biểu hiện. Đây gọi là khổ, ở trong đạo
lý đệ nhất nghĩa đế đều là không, hư vọng.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy lại nghĩ như vầy : Hết thảy
ba cõi, chỉ là một tâm. Như Lai từ đây mà phân
biệt diễn nói mười hai chi, đều nương vào một
tâm như vậy mà lập. Tại sao vậy ? Vì tuỳ theo sự
tham dục cùng sinh với tâm. Tâm là thức, sự là
hành. Nơi hành mê hoặc là vô minh. Vô minh cùng
sinh với tâm là danh sắc. Danh sắc tăng trưởng
là sáu xứ. Sáu xứ ba phần hợp là xúc. Xúc cùng
sinh là thọ. Thọ không nhàm đủ là ái. Ái nhiếp
lấy không bỏ là thủ. Các chi đó sinh là hữu. Hữu
khởi lên gọi là sinh. Sinh chín mùi là lão. Lão
hoại là tử.
Bồ Tát
Kim Cang lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy tu hành Bồ Tát đạo,
tích tụ đủ thứ căn lành, tại Địa thứ sáu - Hiện
tiền địa, lại nghĩ như vầy : Hết thảy tất cả ba
cõi – cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, đều do một
tâm niệm mà tạo thành. Đức Phật đối với hết thảy
chúng sinh trong ba cõi, phân môn biệt loại rất
rõ ràng, giải thích mười hai thứ nhân duyên
thành lập - đều nương vào một tâm niệm mới sinh
ra, cũng là do một tâm niệm chi trì. "Một tâm
đầy đủ mười pháp giới", tức là đạo lý nầy.
Do một tâm niệm mà sinh ra đủ thứ
nhân duyên, mà mỗi thứ lập thành danh tướng. Tại
sao vậy ? Vì tuỳ theo sự tướng mà sinh ra tham
dục. Tham dục cùng với tâm mới sinh ra "thức".
"Thức" tức là "tâm", lại gọi là "hành". Một khi
tâm niệm động tức là "thức", nó hay khởi dụng,
có thể phân biệt sự vật. Sự tức là "hành", có
hành vi biểu hiện cụ thể. Nơi "hành" mà mê hoặc
thì chẳng có lý trí, đầu não không rõ ràng, làm
ra sự việc điên đảo, không hợp với lý tánh. Vì
mê hoặc nên chẳng có trí huệ, cho nên làm việc
điên đảo, đây tức là "vô minh". "Vô minh" lại
cùng với "tâm thức" sinh ra "danh sắc" – danh tự
và nhan sắc, tức là ban đầu trồng xuống "bào
thai". "Danh sắc ngày càng lớn dần, bèn sinh ra
"sáu xứ" - còn gọi là sáu căn, hoặc là lục nhập
- mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu xứ phân làm
ba phần – 1. Sáu xứ. 2. Sáu cảnh còn gọi là sáu
trần. 3. Sáu thức. Nương vào căn, biết cảnh,
chạy theo sự phân biệt của ý thức. Ba thứ nầy
hợp lại với nhau thành "xúc". Ba cái mà thiếu
một thì không thể cùng sinh, vì "xúc" là có sự
phân biệt, có cảm giác. "Xúc" với "xúc" tương
đối - tự xúc, tha xúc, tự tha xúc, do đó sinh ra
"thọ", tức là "lãnh thọ" hoặc gọi là "lãnh nạp".
Trong sự "lãnh thọ", có cảm giác tốt xấu, bèn
sinh ra tâm tham, thọ thọ không ngừng. Sự tham
lãnh thọ nầy chẳng có lúc nào nhàm đủ, ở trong
đó bèn biến thành "ái". Do "ái" mà có "ái dục
sinh ra", hy vọng sở ái vĩnh viễn tồn tại không
mất. Một khi không hoan hỉ nữa thì "ghét muốn nó
chết đi", vĩnh viễn tiêu diệt. Ái bao nhiêu thì
hận bấy nhiêu. Do đó buông bỏ chẳng đặng, nhìn
không thấu, thì làm sao được tự tại ? Do "ái"
nhiếp lấy không bỏ, bèn quyết định lấy cho được,
do đó bèn sinh ra "hữu". Hữu nầy tức là hữu lậu.
"Hữu lậu tạo ra nghiệp, nghiệp nầy bèn trồng
xuống nhân đời sau. Nhân nầy giống như một hạt
giống. Hạt giống chín mùi sinh lên, thì gọi là
"sinh". "Sinh" ra rồi, càng ngày càng lớn lên
chín mùi thì "già" đi. Già rồi thì bắt đầu thối
hoá biến hoại, trước hết năm uẩn đều sinh ra
bệnh tật, mất đi tác dụng. Bốn đại cũng dần dần
phân hoá, cuối cùng tiêu tan. Bốn đại quy về
không, thì thân thể sẽ "chết" đi.
Phật
tử ! Trong đó vô minh có hai thứ nghiệp : Một là
khiến cho chúng sinh mê nơi sở duyên. Hai là
cùng với hành làm sinh ra nhân. Hành cũng có hai
thứ nghiệp : Một là hay sinh báo vị lai. Hai là
cùng với thức làm sinh ra nhân. Thức cũng có hai
thứ nghiệp : Một là khiến cho các hữu tương tục.
Hai là cùng với danh sắc làm sinh ra nhân. Danh
sắc cũng có hai thứ nghiệp : Một là hổ tương trợ
thành. Hai là cùng với sáu xứ làm sinh ra nhân.
Sáu xứ cũng có hai thứ nghiệp : Một là mỗi thứ
đều thủ lấy cảnh giới. Hai là cùng với xúc làm
sinh ra nhân. Xúc cũng có hai thứ nghiệp : Một
là hay xúc sở duyên. Hai là cùng với thọ làm
sinh ra nhân. Thọ cũng có hai thứ nghiệp : Một
là hay lãnh thọ thương ghét các sự việc. Hai là
cùng với ái làm sinh ra nhân. Ái cũng có hai thứ
nghiệp : Một là nhiễm trước việc đáng ưa thích.
Hai là cùng với thủ làm sinh ra nhân. Thủ cũng
có hai thứ nghiệp : Một là khiến các phiền não
tương tục. Hai là cùng với hữu làm sinh ra nhân.
Hữu cũng có hai thứ nghiệp : Một là hay khiến
sinh ở trong các cõi khác. Hai là cùng với sinh
làm sinh ra nhân. Sinh cũng có hai thứ nghiệp :
Một là hay khởi các uẩn. Hai là cùng với già làm
sinh ra nhân. Già cũng có hai thứ nghiệp : Một
là khiến các căn biến đổi. Hai là cùng với chết
làm sinh ra nhân. Chết cũng có hai thứ nghiệp :
Một là hay hoại các hành. Hai là không giác
biết, cho nên liên tục không ngừng.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị Phật tử !
Ở trong mười hai nhân duyên, "Vô minh" tạo thành
có hai thứ nghiệp quả chủ yếu : Một là nó khiến
cho chúng sinh mê nơi cảnh giới nương tựa. Phàm
là những cảnh giới tiếp xúc, đều không nhận thức
được nhân duyên rõ ràng, không hiểu thế nào đối
mặt với hiện thực, do đó mà mê hoặc điên đảo hồ
đồ. Thứ hai là do "vô minh", không trí huệ, làm
việc hồ đồ, những gì làm đều trở thành nhân tố
sinh khởi "hành". "Hành" cũng có hai thứ
nghiệp : Một là có thể sinh ra quả báu thọ vị
lai, do "hành" mà có thể tạo ra các thứ nghiệp,
tạo nghiệp thì phải thọ báo. Hai là làm nhân tố
"thức" sinh khởi. "Thức" cũng có hai thứ
nghiệp : Một là có thể khiến "hữu" tác nghiệp
liên tục không ngừng. Hai là làm nhân tố sinh
khởi ra "danh sắc". "Danh sắc" cũng có hai thứ
nghiệp : Một là có thể trợ giúp nghiệp khác
thành lập. Hai là làm ra nhân tố sinh khởi "sáu
xứ". "Sáu xứ" cũng có hai thứ nghiệp : Một là
"sáu xứ" đều giữ lấy cảnh giới của nó. Hai là
làm thành nhân tố sinh khởi "xúc". Nếu chẳng có
"sáu xứ", thì không thể có "xúc" sinh khởi, cho
nên nói "sáu xứ" hạt giống của "xúc". "Xúc trần"
cũng có hai thứ cảnh giới : Một là xúc trần năng
"xúc" sở duyên. Hai là làm "lãnh thọ" sinh khởi
hạt giống. "Thọ" cũng có hai thứ nghiệp quả :
Một là có thể lãnh thọ đủ thứ sự vật tốt xấu.
Hai là thành hạt giống sinh khởi "ái". "Ái"cũng
có hai thứ nghiệp quả : Một là đối với cảnh giới
sự tướng thấy được, sinh khởi tâm tham ái, do đó
mà mất đi lý trí, mê hồ nhiễm trước không thể tự
giác tự cứu, cho rằng "ái" mới là mục tiêu họ
đáng truy cầu, là một bảo bối duy nhất. Hai là
do nhiễm trước "ái", mà sinh ra tâm thủ lấy ích
kỷ, tâm chiếm đoạt, do đó trồng xuống nhân duyên
sinh ra "thủ". "Thủ" cũng có hai thứ nghiệp :
Một là khiến cho chúng sinh có tâm được mất, giữ
lấy được thì sinh ra tâm hoan hỉ, giữ lấy không
được thì sinh ra tâm phiền não, do phiền não đó
mà vĩnh viễn liên tục không thể dứt trừ. Hai là
lại làm ra nhân duyên sinh khởi "hữu", "hữu" tức
là hạt giống hữu lậu. Hạt giống hữu lậu sinh ra
gốc mầm "hữu", trở thành "hữu chi". "Hữu lậu"
tức là nghiệp không thanh tịnh, thứ nghiệp nầy
làm cho con người rớt vào vào ba cõi, hoặc những
cõi khác. "Hữu" và "lậu" là hai thứ không lìa
khỏi, "hữu" tức là "đời sau". "Hữu" cũng có hai
thứ nghiệp : Một là hay khiến cho chúng sinh thọ
sinh trong những cõi khác - lục đạo hoặc sáu
nẻo. Hai là làm thành nhân tố sinh khởi "đời
sau". "Sinh" cũng có hai thứ nghiệp báo : Một là
hay sinh ra "năm uẩn". Hai là làm hạt giống sinh
khởi "lão". Sinh ra rồi thì nhất định sẽ già đi.
"Lão" cũng có hai thứ nghiệp quả : Một là hay
khiến cho các căn suy yếu, tướng mạo biến thành
xấu xí, da nhăn tóc bạc, đó là hiện tượng các
căn biến đổi. Hai là làm nhân tố sinh sinh khởi
"tử". "Tử" cũng có hai thứ nghiệp quả : Một là
hay phá hoại lý tưởng của con người, trở ngại
tất cả mọi việc con người đang làm. Hai là do ở
trong "vô minh" hôn mê không giác, sinh sinh tử
tử, tuần hoàn liên tục, cuối rồi lại bắt đầu,
không thể dứt được sinh tử.
Phật
tử ! Trong đây vô minh duyên hành, cho đến sinh
duyên lão tử, do vô minh cho đến sinh làm duyên,
nên khiến hành cho đến lão tử trợ giúp hình
thành không dứt. Vô minh diệt thì hành diệt, cho
đến sinh diệt thì lão tử diệt. Do vô minh cho
đến sinh không làm duyên, nên khiến cho các
hành, cho đến lão tử đoạn diệt không trợ giúp
hình thành.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Ở trong mười hai nhân duyên, từ "vô minh"
mà nói. Do "vô minh" mới sinh ra "hành". "Hành"
lại tiếp tục sinh ra các nhân duyên sau, cho đến
"lão, tử", cuối cùng rồi lại bắt đầu tuần hoàn
không dứt. Cho nên đều nói là do "vô minh" mới
dẫn đến "sinh". Do "vô minh" làm duyên cho đến
"sinh", khiến cho "hành" đến "lão tử" tiếp tục
không ngừng, trợ giúp lẫn nhau, từ trên xuống
dưới thành mười hai nhân duyên. Nếu "vô minh"
diệt trừ rồi, thì "hành" cũng sẽ diệt, cho đến
"sinh, lão, tử" cũng đều diệt trừ hết. Là do
nguyên nhân gì ? Vì chẳng còn "vô minh" thì
chẳng còn hạt giống, thì các nhân duyên ở sau
không thể nào sinh khởi, mất đi căn cứ liên quan
trước sau với nhau. "Hành" đến "lão tử" đều dứt
trừ, thì không thể hổ tương trợ giúp tương tục
trợ thành.
Phật
tử ! Trong đây vô minh ái thủ không dứt là phiền
não đạo. Hành và hữu không dứt là nghiệp đạo.
Các phần khác không dứt là khổ đạo. Tiền tế hậu
tế phân biệt diệt thì tam đạo dứt. Như vậy ba
nghiệp lìa ngã, ngã sở, chỉ có sinh diệt giống
như bó lau.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Nếu không thể đoạn trừ "vô minh, ái và
thủ" trong mười hai nhân duyên, thì đây tức là
hoặc nghiệp, sẽ trở thành phiền não. Nếu như
không thể đoạn trừ "hành và hữu", thì sẽ trở
thành gốc rễ của nghiệp. Còn các nhân duyên khác
không thể đoạn trừ, thì sẽ trở thành nhân tố của
khổ. Còn nếu có thể ở trong đời trước và đời
sau, phân biệt thảy đều diệt trừ những nhân
duyên nầy, thì có thể đoạn trừ được ba thứ nguồn
gốc căn bản. Lúc đó tam đạo - phiền não đạo,
nghiệp đạo, khổ đạo, sẽ lìa khỏi (ngã và ngã
sở). Nghĩa là nói : Ở trong tam đạo vốn chẳng có
ngã và ngã sở. Sinh diệt nhân quả giống như bó
cỏ lau, nó là hai rễ đều sinh, hổ tương nương
lập với nhau, không thể độc thành. Tam đạo lìa
khỏi ngã và ngã sở thì sinh diệt tự nhiên sẽ
dứt.
Lại
nữa, vô minh duyên hành là quán quá khứ. Thức
cho đến thọ là quán hiện tại. Ái cho đến hữu là
quán vị lai. Từ đây về sau triển chuyển liên
tục.
Lại
nói : Ý nghĩa "Vô minh duyên hành" là quán nhân
tạo ra quá khứ. "Thức cho đến thọ" là quán hiện
tại tất cả đều do nghiệp quá khứ tạo ra. "Ái cho
đến hữu" là quán nhân của vị lai mà đắc được quả
vị lai. Từ đây về sau triển chuyển liên tục.
Vô
minh diệt thì hành diệt là quán đối đãi đoạn
diệt. Lại nữa, mười hai chi đều có ba khổ. Trong
đó vô minh hành, cho đến sáu xứ là hành khổ. Xúc
thọ là khổ khổ. Còn những cái khác là hoại khổ.
Vô minh diệt thì hành diệt, là ba khổ dứt.
"Vô
minh" diệt, thì "hành" diệt. Đây là nói về diệt,
là một thứ đối đãi. Lại nữa, "hữu" trong mười
hai nhân duyên, còn gọi là "ba khổ". Trong đó
"vô minh hành cho đến sáu xứ", là "hành khổ".
"Xúc và thọ" là khổ trong sự khổ. Còn những chi
khác là "hoại khổ". Vô minh diệt thì hành không
thể sinh ra, tức cũng diệt luôn, những chi sau
càng không thể nào sinh ra, cho nên ba khổ thảy
đều diệt hết.
Lại
nữa, vô minh duyên hành, vô minh nhân duyên sinh
ra các hành. Vô minh diệt thì hành diệt, không
có vô minh thì các hành cũng không, những cái
khác cũng như vậy.
Lại nói
tại sao "vô minh" có thể sinh ra "hành" ? Vì "vô
minh" là không có trí huệ, hồ đồ không minh bạch
chánh tà thị phi, do đó mà sinh ra rất nhiều tà
tri tà kiến, khởi hoặc tạo nghiệp, do nó mà sinh
ra "hành" và những nhân duyên khác. Nếu "vô
minh" diệt thì "hành" diệt. Vì chẳng còn "vô
minh", nên những nhân duyên khác cũng không cách
nào sinh khởi, đây tức là đạo lý "vô minh diệt,
hành diệt cho đến sinh lão tử diệt.
Lại
nữa, vô minh duyên hành là sinh trói buộc. Vô
minh diệt thì hành diệt, là diệt trói buộc.
Những cái khác cũng như vậy.
Lại nữa, vô minh duyên hành là
tuỳ thuận vô sở hữu quán. Vô minh diệt thì hành
diệt, là tuỳ thuận tận diệt quán, những cái khác
cũng như vậy.
Lại nói
về ý nghĩa "vô minh duyên hành", tức giống như
dùng một sợi dây thừng, trói buộc con người lại,
khiến cho không được tự do. Ý nghĩa "Vô minh
diệt thì hành diệt" : Giống như chặt đứt sợi dây
thừng, thì cởi trói, mà được tự do. Cũng không
còn những cái khác trói buộc nữa. Lại nói một
cách khác : Nghĩa là căn cứ nghiên cứu kết luận,
quán sát kỹ càng cảnh giới thật tế, tuỳ thuận
đạo lý chân thật, biết tất cả đều là không chẳng
chỗ có, đây là vô sở hữu quán. Biết tất cả đều
không chẳng chỗ có, "vô minh" diệt rồi, thì
"hành" cũng diệt. Đây là trải qua sự nghiên cứu,
tuỳ thuận sự quán sát mà biết tất cả đều là
không, cho nên đoạn diệt – đây là tận diệt quán.
Các thứ nhân duyên sau nương đạo lý nầy, đều đắc
được câu trả lời, tất cả đều là không huyễn.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát quán nghịch thuận mười thứ duyên
khởi như vậy. Đó là vì hữu chi tương tục, vì
nhất tâm nhiếp trì, vì tự nghiệp khác biệt, vì
chẳng bỏ lìa nhau, vì tam đạo không dứt, vì quán
quá khứ hiện tại vị lai, vì ba khổ tụ tập, vì
nhân duyên sinh diệt, vì sinh diệt trói buộc, vì
vô sở hữu tận quán.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Đại Bồ Tát đi ngược trở lại như vậy, quán
sát chân chánh, quán sát ngược lại, quán sát
nguyên nhân mười hai nhân duyên sinh khởi, nương
vào đạo lý gì mà tiếp nối không dứt ? Bồ Tát đắc
được câu trả lời là :
1.
Chi "hữu" trong mười hai nhân duyên là hữu lậu,
hay tạo đủ thứ nghiệp ác. Nghiệp nhân tức là hạt
giống của đời sau, do đó mà tiếp nối không dứt.
2.
Mười hai nhân duyên đều nương vào tâm mà khởi,
không lìa một tâm, được một tâm nhiếp lấy.
3.
Nghiệp của mỗi người tạo ra, đều khác nhau.
4.
Những nghiệp đó không dễ gì bỏ lìa, vì buông
chẳng đặng, tức là chướng ngại.
5.
Ba thứ đạo - phiền não đạo, nghiệp đạo, khổ đạo,
đều không dễ gì đoạn diệt sạch hết.
6.
Quán quá khứ là như vậy, hiện tại là như vậy, vị
lai vẫn như vậy, nhân quả ba đời biết không thể
dứt.
7.
Ba khổ ngày càng tích luỹ, không dễ hết được.
8.
Đủ thứ nhân quả, tạo thành sinh diệt không dứt.
9.
Sinh diệt như bị trói buộc, không thể giải thoát
được.
10. Tất cả không chẳng chỗ có. Quán sâu như vậy,
Bồ Tát biết pháp thế gian không trái với pháp
xuất thế.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát dùng mười thứ tướng quán các
duyên khởi như vậy, biết không có cái ta, không
người, không thọ mạng, tự tánh không, không
người làm, không người thọ, liền được môn giải
thoát không hiện tiền. Quán các chi hữu, đều tự
tánh diệt, rốt ráo giải thoát, chẳng có chút
pháp tướng sinh, liền đắc được giải thoát môn vô
tướng hiện tiền.
Như vậy vào không vô tướng rồi,
không có nguyện cầu, chỉ trừ đại bi làm đầu,
giáo hoá chúng sinh. Liền đắc được môn giải
thoát vô nguyện hiện tiền. Bồ Tát tu ba môn giải
thoát như vậy, lìa nghĩ tưởng cái ta đó, lìa
nghĩ tưởng người làm, người thọ, lìa nghĩ tưởng
có và không.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Đại Bồ Tát Địa thứ sáu tu hành Bồ Tát đạo
tích tập đủ thứ căn lành, Ngài căn cứ vào mười
phương pháp như đã nói ở trên, quán tưởng duyên
khởi của mười hai thứ nhân duyên. Ngài biết
trong tất cả sự vật, đều chẳng có "cái ta" tồn
tại, đây là không ta ; cũng chẳng có "người"
khác tồn tại, cũng chẳng tồn tại "thọ mạng". Đây
là chúng sinh không, tự tánh của nó vốn không,
chẳng có bản thể. Tức chẳng có người làm, cũng
chẳng có người thọ. Quán sát như vậy, bèn chứng
được pháp môn giải thoát không, thấu rõ các pháp
không tướng. Ý nghĩa hiện tiền là nói trí và
cảnh đều đến được chỗ sâu xa. Lại quán tất cả
duyên khởi của "hữu", tự tánh của nó vốn là vắng
lặng, vốn chẳng có sự trói buộc, vốn là giải
thoát, cũng chẳng sinh ra một chút pháp tướng
nào. Quán sát như vậy, lập tức chứng được pháp
môn một tướng vô tướng. Năng sở đều vắng lặng,
thì vô tướng hiện tiền. Quán tưởng như vậy rồi,
từ không mà vào giả, minh bạch tất cả tướng cũng
đều là giả, liền giác ngộ thêm. Gì cũng chẳng
có, thì không cầu, cũng không nguyện, tất cả
vọng tưởng đều tiêu mất, huyễn hoá. Chỉ có một
tâm đại bi mới là chân thật, quan trọng bậc
nhất. Có tâm đại bi, mới có thể giáo hoá chúng
sinh, độ chúng sinh trong sự khổ nạn, lợi ích
chúng sinh. Đắc được sự giác ngộ nầy, lập tức
chứng được pháp môn giải thoát không, vô tướng,
vô nguyện, hiện tiền. Bồ Tát suy gẫm thâm trầm
như vậy, quán sát kỹ càng, tinh chuyên tu học,
chuyên tâm nghiên cứu ba môn giải thoát ở trên –
môn giải thoát không, môn giải thoát tướng, môn
giải thoát nguyện. Suy gẫm lìa khỏi không người
không ta, ta người đều không còn nữa. Suy gẫm
lìa khỏi người làm, người thọ, năng sở cả hai
đều không. Suy gẫm lìa khỏi có và không, đến
được cảnh giới chân không.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy đại bi càng tăng thêm, tinh
chuyên tu tập, vì chưa mãn pháp bồ đề phần, nên
khiến cho viên mãn. Bèn nghĩ rằng : Tất cả hữu
vi, có hoà hợp thì chuyển, không hoà hợp thì
không chuyển. Duyên tập thì chuyển, duyên không
tập thì không chuyển. Tôi biết pháp hữu vi nhiều
các hoạ hoạn như vậy, phải dứt nhân duyên hoà
hợp nầy. Nhưng vì thành tựu chúng sinh, nên cũng
không rốt ráo diệt các hành.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát chứng được Địa thứ sáu nầy,
vì tỏ ngộ ba pháp môn giải thoát, biết được sự
quan trọng của tâm đại bi, thường thường dũng
mãnh tinh tấn tu học, thì tâm đại bi ngày càng
tăng trưởng. Ngoài nguyên nhân Bồ Tát siêng tu
những pháp môn nầy, vẫn là do Ngài tu học bồ đề
giác đạo chưa được viên mãn, cho nên hy vọng
muốn sớm được viên mãn đầy đủ. Do đó, Bồ Tát
nghĩ như vầy : Tất cả pháp hữu vi đều do nghiệp
hoặc hoà hợp với nhau mới sinh khởi, như vô minh
duyên hành. Có hoà hợp thì tiếp nối không dứt.
Không hoà hợp thì không thể nối tiếp không dứt.
Do duyên đầy đủ không thiếu, nên khởi tác dụng,
nối tiếp không dứt. Nhân duyên không đầy đủ thì
sẽ không sinh khởi tác dụng, không thể nối tiếp
không dứt. Giả xử tuy nhiên có hành, mà không có
ái để thấm nhuần nó, thì không thể sinh khởi các
nhân duyên sau. Hiện tại Bồ Tát biết tất cả nhân
duyên hoà hợp sinh ra pháp, đưa đến rất nhiều
phiền não và tai nạn, khiến cho con người thường
gặp những chuyện không như ý, do đó phải dứt trừ
nhân duyên hoà hợp, sau đó giáo hoá chúng sinh,
thành tựu chúng sinh, bất tất phải hoàn toàn
diệt sạch hết. Vẫn ở trong tất cả các pháp lưu
lại một chút khuyết giận, để thích ứng với căn
cơ của chúng sinh.
Phật
tử ! Bồ Tát quán sát pháp hữu vi nhiều các lỗi
ác như vậy, chẳng có tự tánh không sinh không
diệt, mà luôn khởi đại bi không bỏ chúng sinh,
liền đắc được Bát Nhã Ba La Mật hiện tiền, tên
là Vô chướng ngại trí quang minh. Thành tựu trí
quang minh như vậy rồi, tuy tu tập bồ đề phần
nhân duyên, mà không trụ trong pháp hữu vi. Tuy
quán pháp hữu vi tự tánh vắng lặng, cũng không
trụ trong vắng lặng, vì pháp bồ đề phần chưa
viên mãn.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Bồ Tát hiện tiền địa quán sát nhân duyên
hoà hợp sinh ra của pháp hữu vi như vậy, minh
bạch nó có rất nhiều khuyết điểm, có thể tạo
thành rất nhiều lỗi ác, khiến cho con người buồn
rầu hoạ hoạn không ngừng. Pháp hữu vi nầy vốn
chẳng có tự tánh, dùng vọng sinh vọng, dùng lỗi
ác sinh lỗi ác. Nó vốn chẳng có tự thể, cho nên
không sinh không diệt. Tuy nhiên Bồ Tát quán tất
cả các pháp như đây không hợp đạo lý, nhưng mà
Ngài vẫn thường sinh khởi tâm đại bi cứu hộ
chúng sinh, không nhẫn bỏ chúng sinh đáng thương
xót. Do đó, Ngài liền đắc được đại trí huệ, và
chứng được hữu vi Niết Bàn bình đẳng hiện tiền.
Tên của Bát nhã nầy gọi là "Vô chướng ngại đại
quang minh". Bồ Tát thành tựu đại trí huệ nầy
rồi, tuy nhiên vẫn phải tiếp tục tu học nhân
duyên của bồ đề giác đạo, nhưng Ngài chẳng vì sự
mà mất lý, chấp trước vào pháp hữu vi, mà là
biết hữu vi mà chẳng vi. Tuy nhiên Ngài quán sát
biết rõ pháp hữu vi chẳng có bản thể, tự tánh là
vắng lặng, nhưng Ngài thấy lý không hoại sự,
không trụ ở trong pháp vắng lặng, vì pháp giác
đạo mà Ngài tu chưa được viên mãn, cho nên Ngài
không trụ nơi có, cũng chẳng trụ nơi không.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Hiện Tiền địa nầy, vào được
không tam muội, tự tánh không tam muội, đệ nhất
nghĩa không tam muội, đệ nhất không tam muội,
đại không tam muội, hợp không tam muội, khởi
không tam muội, như thật chẳng phân biệt không
tam muội, chẳng xả lìa không tam muội, lìa chẳng
lìa không tam muội. Bồ Tát nầy đắc được mười tam
muội không như vậy làm đầu, trăm ngàn không tam
muội thảy đều hiện tiền. Mười vô tướng, mười vô
nguyện môn tam muội như vậy làm đầu, trăm ngàn
vô tướng vô nguyện môn tam muội thảy đều hiện
tiền.
Bồ Tát
chẳng trụ không, chẳng trụ có. Nếu như chấp vào
không, thì không thể tu hành tiến về trước được,
phạm vào nhị thừa trung đạo tự hoá, được ít cho
là đủ, vướng vào mao bệnh mê hoặc bởi không. Giả
như chấp vào có, thì chấp trước vào người, chấp
trước vào pháp. Cho nên Bồ Tát chẳng chấp vào
không, cũng chẳng chấp vào có, "người, pháp" cả
hai đều vong mất, chẳng chấp vào "có, không". Do
công đức trợ đạo chưa đầy đủ, còn phải siêng tu,
lục độ vạn hạnh, hành sở vô sự.
Bồ
Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Khi Bồ Tát trụ tại hiện tiền địa,
Ngài siêng tu lục độ vạn hạnh và pháp môn hiện
tiền địa, thì Ngài chứng được :
1.
Thật không, tức là "vào không", cho nên Ngài vào
được không tam muội – chánh định, lìa khỏi "có".
Tam muội nầy chẳng chấp vào tất cả pháp hữu vi.
2.
Tự tánh không, tức là không tánh. Tự tánh vốn là
không, chẳng rời vào "không", cũng chẳng rơi vào
"có". Bồ Tát cũng chứng được chánh định tự tánh
không, tức là "pháp không".
3.
Đệ nhất nghĩa không tam muội, tức là hiểu rõ đệ
nhất nghĩa đế, chẳng chấp vào đệ nhất nghĩa.
4.
Đệ nhất không tức so với đệ nhất nghĩa "không"
càng tiến thêm một bước, tức chẳng rơi vào
"không", cũng chẳng rơi vào "có", "không, có"
chẳng hai, vào tam muội nầy, thì tất cả đều
chẳng chấp trước nữa. Đây là chánh định không
chẳng chỗ không.
5.
Đại không là chánh định lớn mà không ngoài, nhỏ
mà không ở trong.
6.
Hợp không tam muội, còn gọi là chánh định Bát
nhã ba la mật. Hợp tức là hợp không chỗ hợp,
trong ngoài đều không.
7.
Khởi không tam muội tức là chánh định khởi chẳng
chỗ khởi.
8.
Như thật tam muội là chánh định chân thật lý
thể, chẳng có mọi sự phân biệt về "không".
9.
Chẳng xả lìa tam muội, tức là chánh định lìa
chẳng chỗ lìa.
10. Lìa chẳng lìa tam muội tức là không chẳng
chỗ "không". Lìa với chẳng lìa đều chẳng chỗ có.
Bồ Tát địa thứ sáu, Ngài chứng được mười thứ
chánh định chánh thọ nầy, nhận thức được quyết
thật về "không" chẳng lay động, lãnh hội được
diệu lý không. Lại dùng mười thứ pháp môn tam
muội vô tướng vô nguyện làm chỗ nương tựa hướng
về, do đó, trăm ngàn thứ pháp môn không vô tướng
vô nguyện, tự nhiên đều hiển hiện đắc được.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ hiện tiền địa nầy, lại càng tu
tập đầy đủ tâm không thể hoại, tâm quyết định,
tâm thuần thiện, tâm thâm sâu, tâm không thối
chuyển, tâm không dừng nghỉ, tâm rộng lớn, tâm
không bờ mé, tâm cầu trí, tâm phương tiện huệ
tương ưng, thảy đều viên mãn.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Khi Bồ Tát trụ tại địa thứ sáu - Hiện
Tiền địa, thì Ngài đặc biệt lưu ý tu tập trí
vĩnh viễn không thể hoại mất, tâm đại bi, thì có
thể diệt trừ chướng ngại của sự tu hành, sớm
được quả vị viên mãn. Trước hết Ngài đối với
niềm tin có sự quyết định vững chắc. Thứ hai là
công phu tu hành phải chú ý về tâm điều hoà nhu
nhẫn. Thứ ba không trụ vào niệm ác, chẳng sợ
ngoại đạo, có trí huệ Bát nhã thâm sâu. Thứ tư
tâm bồ đề chẳng thối về nhị thừa. Thứ năm là
phải có tâm lúc nào cũng tinh tấn, không mệt
mỏi. Thứ sáu là phải có tâm rộng lớn vô lượng,
chẳng có sự phân biệt "ta người". Thứ bảy là
phải có tâm lợi ích chúng sinh, không chấp vào
bờ mé. Thứ tám là phải có tâm cầu trí huệ vô
thượng. Thứ chín là phải có trí huệ phương tiện
khéo léo, giáo hoá chúng sinh, và tất cả mọi
việc đều tuỳ thuận thích nghi tương ưng. Thứ
mười có mười thứ tâm đại đạo bi trí như ở trên
đã nói, thì đạo quả tu tập sẽ được đầy đủ thành
tựu viên mãn.
Phật
tử ! Bồ Tát dùng mười thứ tâm nầy, tuỳ thuận
Phật bồ đề, chẳng sợ dị luận, vào các trí địa.
Lìa đạo nhị thừa, hướng về Phật trí. Các ma
phiền não, không thể nào trở ngại phá hoại được.
Trụ nơi trí huệ quang minh của Bồ Tát, ở trong
pháp không vô tướng vô nguyện, đều khéo tu tập.
Phương tiện trí huệ luôn tương ưng với nhau.
Pháp bồ đề phần thường thực hành không bỏ.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát Địa thứ sáu nầy đang tu
tập, dùng mười thứ tâm trí huệ như đã nói ở
trên, tuỳ thuận bồ đề giác đạo thâm nhập thú
hướng, siêng tu tập mà được tự tại, do đó không
sợ thiên ma ngoại đạo, và tất cả tà tri tà kiến
của ngoại đạo luận sư nói. Bồ Tát chẳng những
không bị ảnh hưởng chúng, mà còn có thể hàng
phục được họ, sau đó một lòng thâm nhập vào trí
địa của Phật. Bồ Tát minh bạch tôn chỉ thú hướng
của hàng nhị thừa là không rốt ráo, cho nên Ngài
xa lìa Thanh văn Duyên giác, tự biết siêng tu
Phật trí. Ngài lại có thể đoạn trừ tất cả ma
chướng, chướng ngại sự tu tập, như phiền não
chướng, sở tri chướng .v.v... các loại ma chướng
đó, cũng không thể dùng sức để phá hoại quyết
tâm và sức trí huệ của Ngài được, vì Bồ Tát đã
thấu rõ thâm sâu về chân lý pháp không. Bồ Tát
thường trụ ở trong trí huệ, đối với không giải
thoát môn, vô tướng giải thoát môn, vô nguyện
giải thoát môn – ba thứ pháp môn nầy – Ngài đều
hiểu được tu tập và ứng dụng như thế nào, mà
không chấp trước vào ba cõi. Bồ Tát đắc được các
thứ trí huệ phương tiện quyền xảo, và pháp môn
tu tập. Pháp môn Bồ Tát giác đạo, cũng thường
thường tu tập, chưa từng xả bỏ.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ trong Hiện tiền địa nầy, đắc
được Bát Nhã Ba La Mật hạnh tăng thượng, đắc
được tam minh lợi thuận nhẫn, vì ở nơi các pháp
như thật tướng tuỳ thuận không trái.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy đang tu tập các thứ
pháp môn trong Địa thứ sáu - Hiện tiền địa, Ngài
tu đắc được thành quả trí huệ, đã đạt được trình
độ bờ bên kia. Nhưng Ngài vẫn siêng tu tập không
giải đãi, cho nên trí huệ quang minh của Ngài
càng ngày càng tăng trưởng. Do đó Bát nhã hiện
tiền, tất cả thuận nhẫn minh lợi. Ý nghĩa "thứ
ba" : Ở trong tam phẩm nhẫn, dùng "thuận nhẫn
minh lợi" làm tối thượng. Thuận nhẫn : ý niệm
quyết định lý lẽ không di động, khoảng giữa từ
Tứ địa đến Lục địa, thuận bồ đề đạo mà hướng về
quả vị vô sinh pháp nhẫn. Minh lợi : Thần thông
vô ngại các căn minh lợi, cùng với tất cả chân
lý các pháp thật tướng, Bồ Tát đều thông đạt vô
ngại. Ngài biết tùy thuận thật tướng để tu hành,
quyết định không trái ngược.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Hiện tiền địa nầy rồi, do nhờ
nguyện lực nên thấy được nhiều vị Phật. Thấy
được nhiều trăm vị Phật, cho đến thấy được nhiều
trăm ngàn ức Na do tha vị Phật.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Khi Bồ Tát trụ tại Hiện tiền địa, do nhờ
đại nguyện của Ngài phát ra trong quá khứ, cho
nên thấy được nhiều vị Phật. Tại sao một số
người không thấy được Phật ? Vị trong đời quá
khứ họ chẳng phát đại nguyện. Bồ Tát phát đại
nguyện lực, cho nên Ngài có thể thấy được nhiều
vị Phật, thấy được hàng trăm vị Phật, cho đến
thấy được trăm ngàn ức Na do tha vị Phật.
Đều dùng
tâm rộng lớn, tâm thâm sâu, cúng dường cung
kính, tôn trọng khen ngợi. Y phục thức ăn uống,
toạ cụ thuốc thang, tất cả vật tư sanh, đều dâng
lên cúng dường. Cũng đem cúng dường tất cả chúng
Tăng. Đem căn lành hồi hướng về Vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Ở chỗ các đức Phật cung kính
nghe pháp, nghe rồi thọ trì, đắc được như thật
tam muội, trí huệ quang minh. Tuỳ thuận tu hành,
nhớ giữ không bỏ. Lại đắc được pháp tạng thâm
sâu của chư Phật.
Bồ Tát
thấy được các đức Phật rồi, Ngài liền dùng tâm
rộng lớn vô lượng vô biên, tâm thành thâm sâu
không thể dò, dùng để cung kính cúng dường chư
Phật, tôn trọng khen ngợi mười phương ba đời chư
Phật. Lại đem y phục tốt đẹp nhất, thức ăn uống
thượng hạng, toạ cụ, thuốc thang, tất cả vật tư
sanh thường dùng hằng ngày, cung kính dâng lên
cúng dường mười phương ba đời chư Phật, cũng đem
những đồ vật đó cung kính dâng lên cúng dường
mười phương chư hiền Thánh Tăng. Đem các thứ căn
lành cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi,
hồi hướng về quả vị Phật Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Do công đức đó, Bồ Tát thấy được vô
số chư Phật như đã nói ở trên, đắc được sự thành
tựu như vậy. Vị Bồ Tát địa thứ sáu nầy, Ngài ở
tại đạo tràng của mười phương chư Phật, thân,
tâm, ý, kiền thành tụ tinh hội thần lắng nghe
Phật pháp. Nghe rồi, Ngài nhất định y giáo phụng
hành. Thọ nơi tâm, hành nơi thân, cho nên đắc
được chánh định chánh thọ chân thật, mà hiển ra
trí huệ quang minh vốn có. Ngài thuận theo trí
huệ, tu hành các pháp môn, suy gẫm ghi nhớ không
quên. Thành khẩn siêng tu Phật pháp như vậy, cho
nên được chư Phật hộ niệm, cũng đắc được pháp
tạng thâm sâu vi diệu của chư Phật.
Trải
qua trăm kiếp, ngàn kiếp, cho đến vô lượng trăm
ngàn ức Na do tha kiếp, hết thảy căn lành càng
thêm sáng tịnh. Ví như vàng thật, dùng báu tỳ
lưu ly mài dũa, thì càng thêm sáng tịnh.
Bồ Tát
siêng năng tu hành, trải qua trăm kiếp, ngàn
kiếp, cho đến vô lượng trăm ngàn ức Na do tha
kiếp, căn lành của Ngài tích tụ, càng thêm sáng
lạng, càng thanh tịnh hơn. Đây cũng giống như
luyện vàng thật, dùng đá báu tỳ lưu ly mài dũa
nhiều lần, thì khiến cho vàng càng sáng lạng,
càng thanh tịnh. Công phu tu hành của Bồ Tát
Hiện Tiền địa, căn lành tích tập, giống như vàng
thật, cũng từng kiếp từng kiếp đầy đủ viên mãn.
Hết
thảy căn lành của Bồ Tát địa nầy cũng lại như
vậy. Dùng phương tiện huệ theo dõi quán sát,
càng thêm sáng tịnh. Lại càng vắng lặng, chẳng
có che khuất được. Ví như ánh sáng mặt trăng
chiếu lên thân chúng sinh, khiến cho được mát
mẻ, bốn thứ gió không thể nào hoại được. Hết
thảy căn lành của Bồ Tát địa nầy cũng lại như
vậy, có thể diệt vô lượng trăm ngàn ức Na do tha
lửa phiền não của chúng sinh, bốn thứ ma đạo
không thể nào phá hoại được.
Bồ Tát
nầy ở trong mười Ba la mật, thiên nhiều về Bát
nhã ba la mật, còn các Ba la mật kia chỉ tuỳ sức
tuỳ phần mà tu.
Phật
tử ! Đó là lược nói về Hiện Tiền địa thứ sáu của
đại Bồ Tát.
Bồ Tát
tại Địa thứ sáu, hết thảy căn lành của Ngài,
cũng giống như vàng thật. Ngài dùng phương tiện
trí huệ khéo léo mà Ngài tu được, theo loại quán
sát, thì trí huệ quang minh của Ngài càng thêm
sâu rộng. Vì trí huệ vốn có của Ngài hiển hiện
ra. Chứng được trí huệ, giải thoát khỏi chướng
ngại, thì càng vắng lặng. Do trí huệ của Ngài
thanh tịnh, cho nên chẳng có bất cứ quang minh
nào có thể che khuất được, cũng chẳng có bất cứ
quang minh nào so sánh được. Ví như ánh sáng mặt
trăng trong hư không, chiếu sáng đến tất cả thân
chúng sinh, khiến cho hết thảy chúng sinh đều
cảm thấy mát mẻ tự tại. Dùng bốn thứ gió có thể
phá hoại tất cả các pháp để nói : Gió mùa xuân
điều hoà, ví dụ ma phiền não, vì có tâm ý thuận
ái. Gió mùa hè nóng, dụ như ma uẩn, nhiệt não
nhiều. Gió mùa thu mát mẻ, dụ cho tử ma, quả
chín tiêu sát. Gió mùa đông lạnh, dụ cho thiên
ma, hại người hành thiện. Bốn thứ gió nầy, tuy
mỗi thứ có oai lực của nó, nhưng không thể nào
phá hoại được ánh sáng mặt trăng, làm cho ánh
sáng mặt trăng ẩn đi. Căn lành của Bồ Tát Hiện
Tiền địa tu tập, cũng giống như ánh sáng mặt
trăng, chẳng có bất cứ vật gì có thể làm tổn hại
Ngài được. Căn lành của Bồ Tát tu tập, có thể
tiêu diệt vô lượng trăm ngàn ức lửa phiền não
của chúng sinh, bốn thứ ma – ma phiền não, ma
bệnh, ma chết, thiên ma, tuy nhiên lợi hại, cũng
không thể nào phá hoại được căn lành của Bồ Tát.
Bồ Tát Địa thứ sáu tu hành phần nhiều thiên về
Bát nhã trí huệ Ba la mật trong mười Ba la Mật,
còn chín Ba la mật kia không phải là không tu
hành, mà là tuỳ sức và duyên phần của mình mà tu
tập.
Các vị đệ tử của Phật ! Đây chỉ là nói sơ lược
về quá trình tu tập của đại Bồ Tát hiện tiền địa
thứ sáu, nói chút ít về cảnh giới thật tại mà
thôi.
Bồ
Tát trụ tại địa nầy, phần nhiều làm Thiện Hoá
Thiên Vương, việc làm đều tự tại. Tất cả Thanh
Văn vấn nạn điều gì, đều không khuất phục được,
hay khiến cho chúng sinh diệt trừ được ngã mạn,
vào sâu duyên khởi. Bố thí ái ngữ lợi hành đồng
sự, làm tất cả các nghiệp như vậy, đều không lìa
khỏi niệm Phật, cho đến không lìa niệm đầy đủ
nhất thiết chủng trí, nhất thiết trí.
Lại nghĩ
như vầy : Ở trong tất cả chúng sinh tôi phải làm
thượng thủ, làm tối thắng, cho đến làm bậc y chỉ
của nhất thiết trí. Bồ Tát nầy nếu siêng hành
tinh tấn, thì trong khoảng một niệm, đắc được
trăm ngàn ức tam muội, cho đến thị hiện trăm
ngàn ức Bồ Tát, dùng để làm quyến thuộc. Nếu
dùng nguyện lực tự tại mà thị hiện, thì nhiều
hơn số trên, cho đến trăm ngàn ức Na do tha số
kiếp, không thể đếm biết được.
Khi Bồ
Tát tu đến quả vị Địa thứ sáu, thì đa số đều thị
hiện làm Thiên Vương cõi trời Thiện Hoá. Những
gì Ngài làm đều nhậm vận tự tại, không bị bất cứ
gì làm khó khăn, hoặc trở ngại được. Dù hàng
Thanh Văn có vấn nạn đối với Phật pháp, thì vị
Bồ Tát nầy cũng không thể nào bị khuất phục
những vấn nạn đó. Vì Ngài đã thấu rõ đạo đế của
hàng nhị thừa nên hàng phục được. Vị Bồ Tát nầy
cũng rất khéo léo giáo hoá chúng sinh, hay khiến
cho chúng sinh được lợi ích, mà diệt trừ được ác
tập cống cao ngã mạn, khiến cho chúng sinh vào
sâu hiểu rõ được đạo lý chân thật của các pháp
duyên khởi. Bồ Tát độ hoá chúng sinh, trước hết
quán sát tập tánh và sự cần thiết của chúng
sinh, sau đó dùng : Bố thí, ái ngữ, lợi hành,
đồng sự, trong bốn pháp nhiếp. Như vậy, tất cả
công việc độ hoá, đều không quên tông chỉ Phật
pháp, cũng không trái với nguyên tắc đầy đủ trí
huệ, hoàn toàn bám vào trí huệ tối thượng để
hành sự.
Do
đó, Bồ Tát lại nghĩ như vầy : Tôi phải làm bậc
lãnh đạo trong tất cả chúng sinh, làm một bậc
lãnh đạo thù thắng có đầu não đặc biệt, cho đến
làm y chỉ sư của những người có trí huệ nhất.
Phải giống như đức Phật tự giác giác tha, làm
thầy của trời người. Nếu như vị Bồ Tát nầy dũng
mãnh tinh tấn không giải đãi, thì có thể ở trong
một niệm, đắc được trăm ngàn ức chánh định chánh
thọ (tam muội). Cũng có thể ở trong một niệm,
thị hiện được trăm ngàn ức Bồ Tát làm quyến
thuộc của Ngài. Nếu dùng nguyện lực mà Bồ Tát đã
phát ra trong quá khứ, thì Ngài rất tự tại thị
hiện tất cả, còn hơn số vừa nói ở trên, dù bạn
có dùng trăm ngàn ức Na do tha kiếp để tính đếm,
cũng không cách chi đếm rõ ràng được.
Bấy
giờ Bồ Tát Kim Cang Tạng muốn thuật lại nghĩa
trên, bèn nói kệ rằng :
Bồ Tát
viên mãn Ngũ địa rồi
Quán
pháp vô tướng cũng vô tánh
Không
sanh không diệt vốn thanh tịnh
Không có
hí luận không lấy bỏ.
Lúc đó,
Bồ Tát Kim Cang Tạng muốn tường thuật lại ý
nghĩa đã nói ở trên, do đó dùng phương pháp kệ
để nói ra. Kệ tụng nói như vầy :
Đại Bồ Tát tu tập hạnh Bồ Tát, tích tụ đủ thứ
căn lành, viên mãn chứng được Địa thứ năm rồi -
quả vị Nan Thắng địa, Ngài quán sát các pháp.
Biết các pháp vốn là không có thể, không tướng,
cũng không có tánh. Pháp không sanh, cũng không
hoại diệt, vì nó vốn thanh tịnh không nhiễm.
Pháp vốn không có chỗ gọi là hí luận, cũng không
có chất báu cụ thể có thể lấy, có thể bỏ.
Thể
tướng vắng lặng như huyễn thảy
Có,
không chẳng hai lìa phân biệt
Tuỳ
thuận pháp tánh quán như vậy
Trí nầy
đắc được vào Lục địa.
Thể
tướng của pháp là vắng lặng, nó giống như mộng
huyễn bọt bóng, như sương như điện. Có và không
chẳng có hai dạng, lìa khỏi sự phân biệt lời
nói. Bạn chỉ có thể tuỳ thuận chân lý của pháp
tánh để quán sát suy gẫm, nếu chứng được Bát nhã
trí huệ thù thắng, thì có thể tiến vào Địa thứ
sáu. "Trí nầy đắc được" là không, vô tướng, vô
nguyện ba thứ trí huệ.
Minh
lợi thuận nhẫn trí đầy đủ
Quán sát
thế gian tướng sanh diệt
Do sức
si ám thế gian sinh
Nếu diệt
si ám thế gian diệt.
Thông
minh có trí huệ tuỳ thuận pháp môn nhẫn tu học,
thì có thể đắc được đầy đủ tất cả trí huệ. Bồ
Tát quán sát tất cả trên thế gian, cùng với
tướng trạng sinh diệt của chúng sinh, đều do bị
sức ngu si, ám độn, mới lưu chuyển sanh tử tại
thế gian. Giả sử tiêu diệt hết sức ngu si ám
độn, thì không còn lưu chuyển sanh tử tại thế
gian nữa.
Quán
các nhân duyên thật nghĩa không
Không
hoại giả gọi hoà hợp dụng
Không
làm không thọ không nghĩ nhớ
Các hành
như mây giăng khắp nơi.
Quán sát tất cả nghiệp quả nhân duyên sanh khởi
trên thế gian, phân tích kỹ càng ra, thì chẳng
có một sự kiện gì chẳng phải là không. Đem tất
cả giả danh đó tập hợp lại với nhau, thì sẽ sanh
ra một thứ tác dụng. Kỳ thật vốn chẳng có người
tạo tác, chẳng có người thọ nhận, cũng chẳng có
gì suy nghĩ nhớ tưởng, buông bỏ chẳng đặng. Vì
"vô minh" mà hưng khởi các thứ nghiệp hành,
giống như mây theo duyên mới sanh, tuỳ cảnh
giăng bủa khắp nơi, thể tánh của nó là hư huyễn
không thật.
Không
biết chân đế gọi vô minh
Gây
tạo nghĩ nghiệp ngu si quả
Thức
khởi cùng sinh đó gọi sắc
Như vậy
cho đến các khổ tụ.
Thế nào
gọi là "vô minh" ? Không biết chân lý gọi là "vô
minh". Cứ làm những việc hồ đồ điên đảo, còn tự
mình cho là đúng, đây là biểu hiện hành vi "vô
minh". Những gì vọng tưởng nghĩ tà là nhân, làm
ra hành vi ngu si hồ đồ điên đảo là quả. Do "vô
minh" nên có "hành", có "hành" rồi thì sinh ra
"thức", ba thứ nầy tiếp tục sinh ra "danh sắc",
tiếp tục cho đến "sanh lão tử", kết thành quan
hệ đời đời kiếp kiếp, trong đời đời kiếp kiếp
thống khổ tích tụ lại với nhau.
Thấu
đạt ba cõi nương tâm có
Mười hai
nhân duyên cũng như vậy
Sinh
tử đều do tâm tạo ra
Nếu tâm
diệt rồi hết sinh tử.
Bồ Tát
Địa thứ sáu, Ngài đã chứng được đại trí huệ, cho
nên minh bạch hết thảy ba cõi đều do tâm hiện.
Nghĩa là mười pháp giới cũng do một tâm niệm
hiện ra - Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn,
trời, người, A tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa
ngục. Mười hai nhân duyên mà hình thành cũng do
tâm tạo ra. Con người lưu chuyển trong sanh tử
luân hồi, cũng bắt đầu từ một tâm niệm sinh
khởi. Do vọng tưởng tạo nghiệp, do nghiệp thọ
báo, cho nên nói: Lưới nghiệp vây bủa, luân hồi
trả nợ, sanh tử khó dứt. Nếu trong tâm không
sanh vọng niệm, thì đối với cảnh giới bên ngoài
đến, như như bất động, rõ ràng sáng suốt. Bởi
vậy:
“Một niệm không sinh toàn thể
hiện
Sáu căn giao động bị mây che”.
Chẳng còn niệm thì tâm sẽ diệt. Cống cao ngã
mạn, độc tố tham sân si chẳng còn nữa, sinh tử
cũng chấm dứt.
Vô
minh tạo nên có hai thứ
Trong
duyên không rõ là nhân hành
Như vậy
cho đến lão và tử
Từ đây
khổ sinh không cùng tận.
“Vô
minh” tạo nên nghiệp nhân có hai thứ: Một thứ là
làm tất cả, tức là nghiệp nhân, giống như hạt
giống. Hạt giống gặp duyên chín mùi tức là nhân
của “hành”. Như vậy tiếp tục về sau thẳng đến
“sanh, lão, tử”, tuần hoàn không ngừng, đều do
“vô minh” sinh ra. Ba khổ tám nạn cũng tuần tự
sinh ra, chẳng lúc nào cùng tận.
Vô
minh làm duyên không thể dứt
Duyên
khổ đó hết thảy đều diệt
Ngu si
ái thủ phiền não chi
Hành hữu
là nghiệp chi khác khổ.
Mười hai
nhân duyên từ “vô minh” sinh ra, tiếp tục diễn
biến tiến về trước, vô cùng vô tận, chẳng có lúc
nào đoạn diệt. Nếu hiểu rõ được đạo lý pháp môn
hoàn diệt, thì khiến cho các duyên khác không
sinh, thì mười hai nhân duyên cũng không, đoạn
diệt mất. Môn hoàn diệt và môn thuận sinh, cả
hai đều tương phản với nhau.
Môn thuận sinh là: “Vô minh duyên
hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh
sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc
duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên
hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử, ưu bi
khổ não”.
Môn hoàn diệt là: “Vô minh diệt
thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt”. Như vậy
thuận diệt về sau, thì tự nhiên các chi đều diệt
mất. Vì “vô minh” sinh ra “ái”, có “ái” rồi thì
sau đó có “thủ”, đây là nguồi gốc của phiền não.
“Hành duyên” và “hữu duyên” là chủ động lực tạo
nghiệp, tức cũng là trồng xuống nhân thọ báo đời
sau. Các duyên khác đều thuộc về nhân duyên của
khổ.
Si
đến sáu xứ là hành khổ
Xúc thọ
tăng trưởng là khổ khổ
Còn các
chi khác là hoại khổ
Nếu thấy
vô ngã ba khổ diệt.
Từ "Vô
minh" đến "sáu xứ" – cũng gọi là "lục nhập", đây
là hành khổ. "Xúc" và "thọ" hai thứ duyên này
tăng trưởng, tức là khổ trong khổ. Còn các chi
khác là hoại khổ. Nếu thấu đạt đạo lý tất cả vô
ngã, cũng không có ngã sở, thì ba khổ nầy sẽ
diệt trừ được.
Vô
minh và hành là quá khứ
Thức đến
thọ chuyển biến hiện tại
Ái thủ
hữu sinh khổ vị lai
Quán đãi
nếu dứt mờ mé dứt.
"Vô
minh" và "hành" hai chi nầy là nhân của quá khứ.
Từ "thức" đến "thọ" mấy chi nầy là nhân hiện tại
đang chuyển biến con người. "Ái" và "thủ, hữu,
sinh" mấy chi nầy là nhân khổ của vị lai. Quán
sát suy gẫm kỹ càng nhân sinh khởi của
mười hai nhân duyên, hiểu rõ phương pháp đối trị
hoàn diệt chuyên tâm tu hành học đạo, đồng đối
đãi với khổ vô biên không bờ mé, cuối cùng dứt
tận diệt sạch hết.
Vô
minh làm duyên trói buộc sinh
Nơi
duyên lìa được trói buộc hết.
Từ nhân
sinh quả lìa sẽ dứt
Quán sát
từ đây biết tánh không.
Từ "Vô
minh" về sau sinh ra nhân duyên các chi khác, đó
tức là trói buộc "sinh". Nếu thấu hiểu được môn
hoàn diệt, thì từ "vô minh" duyên khởi nầy sẽ
đoạn diệt, trói buộc sinh sẽ hết, khổ cũng hết
chẳng còn nữa. Từ nhân duyên mới sinh ra quả
báo; lìa nhân duyên rồi, thì quả báo đương nhiên
sẽ lìa. Bạn thường quán sát suy gẫm về đạo lý
nầy, thì sẽ minh bạch "nhân duyên sinh ra pháp,
tất cả tức là không".
Tuỳ
thuận vô minh khởi các cõi
Nếu
không tuỳ thuận các cõi dứt
Đây có
kia có không cũng vậy
Mười thứ
suy gẫm tâm lìa chấp.
Nếu
thuận theo "vô minh" phát triển về sau, thì các
chi khác nhân duyên cũng thuận theo từng chi
từng chi sinh khởi. Nếu không thuận theo "vô
minh" phát triển về sau, thì các chi khác sẽ
không sinh khởi theo. Đạo lý nầy là : Có chi nầy
thì sẽ sinh ra chi khác. Nếu chi nầy không sinh
khởi, thì chi khác không thể sinh ra. Quán tưởng
kỹ càng mười thứ đạo lý nầy, kết luận lại là
"tâm phải lìa chấp trước".
Có
chi liên tục một tâm nhiếp
Tự
nghiệp chẳng lìa và ba đường
Ba tế ba
khổ nhân duyên sanh
Ràng
buộc khởi diệt thuận vô tận.
Vì "có"
chi nghiệp nhân nầy, khiến sinh tử liên tục
không dứt, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do một tâm
nhiếp với nhau không lìa, tức là chấp trước. Tự
mình tạo ra nghiệp ác thì không thể giải thoát
được, sẽ bị đoạ vào trong ba đường ác. Nghiệp
nhân ba đời đắc được báo của ba khổ, đó đều là
chi phối nhân duyên của thọ, khó thoát khỏi khổ
báo. Sự ràng buộc các thứ khổ của con người,
sinh diệt biến đổi, thuận theo vô minh, thì vĩnh
viễn chẳng có lúc nào dừng lại và hết được. Nếu
giác ngộ chân lý sinh diệt, lìa khỏi "có" và
"chấp trước" thì sẽ chấm dứt các khổ.
Như
vậy quán khắp duyên khởi hành
Không
làm không thọ không chân thật
Như
huyễn như mộng như hình bóng
Cũng như
kẻ ngu đuổi dương diệm.
Quán sát
khắp duyên khởi của các pháp như vậy, biết chẳng
có kẻ làm, cũng chẳng có kẻ thọ, càng không có
thể tánh chân thật, đều là giả không. Giống như
huyễn thuật, cảnh mộng, hoặc giống như hình
bóng, lại giống như kẻ ngu si đuổi theo dương
diệm, mà chẳng tìm được dương diệm, tất cả đều
là hư vọng không thật, bất khả đắc.
Như
vậy quán sát vào nơi không
Biết
duyên tánh lìa được vô tướng
Thấu rõ
hư vọng không nguyện cầu
Chỉ có
từ bi độ chúng sinh.
Như vậy
suy gẫm quán sát, thì chứng được chân lý
"không", minh bạch bản tánh của tất cả nhân
duyên, đều là không chẳng chỗ có. Có thể nhận
thức rõ ràng bản tánh của mười hai nhân duyên,
thì sẽ xa lìa "vô minh", chứng được pháp môn vô
tướng giải thoát. Biết tất cả pháp hữu vi đều là
hư vọng, sẽ chứng được pháp môn vô nguyện giải
thoát. Tất cả những gì đều buông xả hết, chỉ có
lưu lại tâm từ bi, dùng để giáo hoá chúng sinh,
mới là chân thật không hư.
Đại sĩ
tu hành môn giải thoát
Thêm ích
đại bi cầu Phật pháp
Biết các
hữu vi hoà hợp làm
Chí ưa
quyết định siêng hành đạo.
Đại Sĩ là một tên gọi khác của Bồ Tát. Cũng gọi
là chúng sinh Đại đạo tâm, vì Bồ Tát là do chúng
sinh tinh cần tu đạo mà thành tựu, vì Ngài có
đạo tâm kiên cố đặc biệt, cho nên được gọi là
chúng sinh có đại đạo tâm. Còn gọi là Đại khai
sĩ, hay khai mở trí huệ cho tất cả chúng sinh.
Còn gọi là đại Bồ Tát, đây là nửa tiếng Phạn,
nói cho đầy đủ là Bồ đề tát đoả, dịch là "giác
hữu tình", hay giác ngộ tất cả hữu tình. Hữu
tình tức là chúng sinh, còn gọi là "hữu tình
giác", nghĩa là một bậc giác ngộ trong hữu tình.
Bồ Tát tu học pháp môn giải thoát, Ngài biết
muốn đắc được giải thoát, phải diệt trừ tham sân
si, không chấp trước, thì mới không bị mọi sự
ràng buộc. Sỡ dĩ phàm phu bị ràng buộc, là vì tự
mình cùng với vô minh phiền não ràng buộc với
nhau, buông bỏ chẳng đặng tham sân si, chấp
trước tất cả hư huyễn vọng niệm, do đó chẳng
được giải thoát. Nếu phá trừ được vô minh, đoạn
sạch phiền não, tiêu diệt tham sân si, như vậy
thì sẽ đắc được pháp môn giải thoát, đắc được tự
do tự tại chân chánh, chẳng còn chấp trước ! Bồ
Tát đắc được môn giải thoát, đắc được đại lợi
ích, thì tâm đại bi càng tăng trưởng, tâm tinh
tấn trên cầu Phật đạo càng thêm vững chắc. Bởi
vậy Bồ Tát càng thấu rõ vạn sự vạn vật của thế
gian, cùng với sự hình thành tất cả pháp hữu vi
thành lập, đều không lìa khỏi nhân duyên hoà
hợp. Bồ Tát biết rõ những đạo lý nầy rồi, quyết
định phát ra tâm kiên cố, chí nguyện tu hành, ưa
thích siêng hành Phật đạo.
Môn
không tam muội đủ trăm ngàn
Vô tướng
vô nguyện cũng như vậy
Bát nhã
thuận nhẫn đều tăng thêm
Giải
thoát trí huệ được thành mãn.
Không
tam muội tức là thấu rõ chân đế của "không". Tam
muội là chánh định chánh thọ. Pháp môn tam muội
"không" nầy có trăm ngàn thứ. Tam muội vô tướng
vô nguyện cũng có trăm ngàn thứ loại. Bát nhã là
đại trí huệ vô thượng, pháp trí huệ xuất thế.
Tuỳ thuận nơi pháp môn vô sinh pháp nhẫn, càng
ngày càng tăng tấn, do đó mà pháp môn giải thoát
trí huệ được thành tựu viên mãn.
Lại
dùng thâm tâm cúng nhiều Phật
Ở trong
Phật giáo tu tập đạo
Được
Phật pháp tạng thêm căn lành
Như vàng
dùng lưu ly dũa bóng.
Bồ Tát
lại dùng tâm chí thành thâm sâu rộng lớn của
Ngài, luôn luôn cúng dường các đức Phật. Dưới sự
dạy bảo từ bi của Phật, tu tập vô thượng Phật
đạo, đắc được Phật pháp bảo tạng, căn lành cũng
càng tăng trưởng. Giống như vàng thật dùng lưu
ly đá báu để mài dũa, khiến cho sự sáng bóng
càng thêm sáng bóng.
Như
trăng mát mẻ bị các vật
Bốn gió
thổi đến không thể hoại
Bồ Tát
địa nầy vượt ma đạo
Cũng dứt
phiền não của chúng sinh.
Lại
giống như ánh sáng của mặt trăng chiếu lên thân
chúng sinh, khiến cho chúng sinh cảm thấy mát
mẻ. Gió bốn mùa xuân hạ thu đông, tuy sức gió
mỗi mùa khác nhau, cũng không thể phá hoại được
ánh sáng mát mẻ của mặt trăng. Bồ Tát địa thứ
sáu - Hiện tiền địa, định lực tu hành đã vượt
qua khỏi các ma đạo, hàng phục được các ma đạo.
Tâm đại bi mát mẻ của Bồ Tát, cũng hay diệt trừ
được bệnh nhiệt phiền não của chúng sinh.
Địa nầy
thường làm Thiện Hoá vương
Hoá đạo
chúng sinh trừ ngã mạn
Chỗ làm
đều cầu nhất thiết trí
Đều đã
vượt qua Thanh Văn đạo.
Bồ Tát
Hiện tiền địa, dùng nguyện lực của Ngài, thường
thị hiện làm Thiên Vương trời Thiện Hoá, giáo
hoá tất cả chúng sinh, khiến cho họ trừ khử tập
khí ác cống cao ngã mạn. Những gì Bồ Tát làm, và
tu tập tất cả pháp môn, cùng với tích tập đủ thứ
căn lành công đức, mục đích là muốn cầu được
nhất thiết chủng trí. Pháp môn tu hành và sự
thành tựu của Bồ Tát địa thứ sáu, đều đã vượt
qua pháp môn của bậc Thanh Văn Duyên Giác tu.
Địa nầy
Bồ Tát siêng tinh tấn
Được các
tam muội trăm ngàn ức
Cũng
thấy bao nhiêu vô lượng Phật
Ví như
mặt trời giữa mùa hạ.
Bồ Tát
Địa thứ sáu, lúc nào cũng tinh tấn không giải
đãi, cho nên Ngài mới đắc được vô lượng trăm
ngàn ức tam muội – chánh định chánh thọ. Đồng
thời cũng thấy được vô lượng vị Phật nhiều không
thể đếm biết được. Sự thành tựu đó, có thể dùng
mặt trời mùa hạ làm ví dụ, vì ai ai cũng đều cảm
thọ được ánh nắng gay gắt.
Thâm
sâu vi diệu khó thấy biết
Thanh
Văn Độc Giác không rõ được
Bồ Tát
Địa thứ sáu như vậy
Tôi vì
Phật tử đã nói xong.
Phật
pháp thâm sâu vi diệu vô thượng, rất khó thấy
được, cũng không dễ gì hiểu được. Thanh Văn và
Duyên Giác của hàng nhị thừa, các Ngài tuy đã ở
trong hàng Thánh, nhưng cũng không thể nào hiểu
biết hoàn toàn. Sự tu hành của các vị Bồ Tát Địa
thứ sáu - Hiện tiền địa, pháp môn và cảnh giới
của địa nầy, tôi - Bồ Tát Kim Cang Tạng đã vì
các vị đệ tử của Phật diễn nói xong rồi.
|