|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN BA MƯƠI SÁU
PHẨM THẬP ĐỊA THỨ HAI MƯƠI SÁU
THỨ NĂM NAN THẮNG ĐỊA
Bồ
Tát nghe hạnh thắng địa nầy
Nơi pháp
hiểu ngộ tâm hoan hỉ
Trong không mưa hoa khen ngợi rằng
Lành
thay ! Đại sĩ Kim CangTạng.
Các vị
đại Bồ Tát, nghe xong diệu hạnh thù thắng của
Địa thứ tư rồi, đối với Phật pháp càng thấu hiểu
thâm sâu, hoàn toàn giác ngộ, thật là đều đại
hoan hỉ. Do đó, các Ngài ở trong không rải xuống
các thứ hoa báu, đồng thời cùng nhau vang ra lời
khen ngợi rằng: “Lành thay ! Đại Bồ Tát Kim Cang
Tạng”.
Tự
Tại Thiên Vương và Thiên chúng
Nghe
pháp hớn hở trụ hư không
Khắp
phóng đủ thứ mây sáng đẹp
Cúng
dường Như Lai vui tràn đầy.
Đại Tự Tại Thiên Vương và các Thiên chúng, nghe
Bồ Tát Kim Cang Tạng nói diệu pháp địa thứ tư
xong rồi, hoan hỉ hớn hở nhảy nhót ở trong hư
không, khắp phóng ra ánh sáng rực rỡ, cúng dường
đức Phật Thích Ca và các đại Bồ Tát. Sự hoan hỉ
vui mừng đó đầy khắp mười phương đại thiên thế
giới.
ChưThiên
thể nữ tấu âm nhạc
Cũng
dùng lời lẽ ca khen Phật
Đều nhờ
oai thần của Bồ Tát
Trong âm
thanh đó phát lời nầy:
Lúc đó,
thể nữ ở trên trời – các thiên nữ mặc đồ rất
xinh đẹp, diễn tấu lên nhạc trời rất êm tai vô
cùng. Họ nghe Bồ Tát Kim Cang Tạng diễn nói pháp
vi diệu thâm sâu của Địa thứ tư rồi, do đó vui
mừng diễn tấu lên nhạc trời, dùng lời lẽ phổ vào
ca khúc, để tán thán khen ngợi đức Phật, và khen
ngợi pháp vị nầy vô cùng tận. Đó đều là do công
đức tu hành của Bồ Tát cảm ứng, cùng với đại oai
thần lực gia bị của chư Phật, mới hiện ra các
cảnh giới đó. Trong âm thanh lời ca của các
Thiên nữ đó, có những câu dưới đây:
Nguyện
Phật xa xưa nay mới mãn
Phật đạo
lâu xa nay mới được
Thích Ca
Văn Phật đến cung trời
Bậc lợi
trời người lâu mới thấy.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất xa xưa về trước,
phát ra các đại thệ nguyện, trải qua ba đại A
tăng kỳ kiếp tinh tấn tu hành, mà nay mới viên
mãn, chính thức thành Phật. Tu hành Phật đạo là
con đường rất gian nan lâu dài, mà hôm nay đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng được quả vị Phật.
Viên mãn thành Phật, lại đến cung trời vì đại
chúng nói pháp. Vị Phật lợi ích trời người này,
phải trải qua thời gian lâu dài mới thấy được
Ngài - thật là một sự việc không dễ dàng ! Cho
nên đại chúng phải thiết thật y chiếu theo lời
dạy của Phật, tinh tấn siêng năng tu hành.
Biển
cả lâu xa nay mới động
Phật
quang lâu xa nay mới phóng
Chúng
sinh lâu xa mới an lạc
Âm thanh
đại bi lâu mới nghe.
Biển cả
vốn không động, nhưng đã trải qua thời gian lâu
xa, hiện tại cũng vừa mới động lại. Đức Phật
cũng phải trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp thời
gian tu hành, mới có thể thành Phật. Đã rất lâu
rồi không nhìn thấy được quang minh trí huệ của
Phật, hiện tại mới đại phóng quang minh. Chúng
sinh cũng đã trải qua thời gian rất lâu dài chưa
đắc được sự an lạc, hiện tại đức Phật Thích Ca
thành đạo xuất thế, chúng sinh cũng theo đó đắc
được sự an lạc. Đã rất lâu rồi không nghe được
âm thanh của Phật, hiện tại chúng ta lại được
nghe ! Âm thanh đại bi của Phật, dùng tám âm
thuyết pháp đối với chúng sinh, thảy đều thấu
rõ.
Công
đức bờ kia đều đã đến
Kiêu mạn
đen tối đều đã diệt
Thanh
tịnh cùng cực như hư không
Không
nhiễm thế pháp như hoa sen.
Đức Phật đã viên mãn công đức, đạt đến bờ bồ đề
bên kia. Tập khí mao bệnh, cống cao ngã mạn, đen
tối vô minh, cùng với tham sân si, phiền não tập
tánh của con người, cũng đều đã diệt trừ đoạn
sạch hết. Đức Phật đã chứng được pháp thân thanh
tịnh tơ hào không nhiễm, do đó giống như hư
không bao hàm vạn hữu. Trí huệ của Phật vượt qua
các thế giới, vượt khỏi ba cõi, giống như hoa
sen tuy sinh ra trong bùn, nhưng không nhiễm
bùn.
Đấng Đại
Mâu Ni hiện ra đời
Ví
như Tu Di hiện giữa biển
Cúng
dường dứt sạch tất cả khổ
Cúng
dường sẽ được trí chư Phật.
"Đấng
Đại Mâu Ni" là danh xưng của Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni. Đức Phật hiện ra đời, giống như núi đại
Tu Di từ trong biển lớn hiện ra. Khổ nạn của
chúng sinh, ai cúng dường đức Phật, thì người đó
có thể diệt trừ được tất cả thống khổ. Nếu bạn
hiểu được sự cúng dường đức Phật, thì bạn chắc
chắn sẽ đắc được trí huệ của chư Phật.
Chỗ
nầy đáng cúng không gì bằng
Thế nên
tâm vui cúng dường Phật
Như vậy
vô lượng các Thiên nữ
Phát lời
lẽ đó khen ngợi rồi.
Tại sao
phải cúng dường Phật ? Vì Phật đầy đủ công đức,
phước huệ đầy đủ viên mãn, là bậc Ứng Cúng của
trời người. Vì công đức của Ngài chí cao vô
thượng. Khi chúng ta cúng dường Phật, phải dùng
tâm chí thành nhất, và phẩm vật thù thắng nhất,
vui mừng cung kính cúng dường Phật. Vô lượng số
các Thiên nữ đó, phát ra lời lẽ hay đẹp ở trên
để tán thán khen ngợi chư Phật Bồ Tát.
Tất
cả cung kính vui tràn đầy
Chiêm
ngưỡng Như Lai đứng yên lặng
Lúc đó
Đại sĩ Giải Thoát Nguyệt
Lại
thỉnh vô uý Kim Cang Tạng
Các
tướng hạnh trong Địa thứ năm
Xin đại
Bồ Tát hãy tuyên nói.
Các chư
thiên ở trong pháp hội, và các đại Bồ Tát, cùng
nhau dùng tâm cung kính nhất, tràn đầy tâm pháp
hỷ, đảnh lễ chiêm ngưỡng đức Phật. Đức Phật hiện
ra quang minh từ bi, yên lặng ngồi ở tại đạo
tràng, như như bất động. Lúc đó, đại Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt, lại thỉnh vị đại Bồ Tát Kim Cang
Tạng đầy đủ bốn vô sở uý, vì đại chúng tiếp tục
diễn nói tất cả tướng trạng và quá trình tiến
hành tu Địa thứ năm.
Bấy giờ,
Bồ Tát Kim Cang Tạng bảo Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt rằng : Phật tử ! Đại Bồ Tát Địa thứ tư tu
hành thiện đạo viên mãn rồi, muốn vào Địa thứ
năm Nan Thắng Địa, phải nhờ mười thứ tâm thanh
tịnh bình đẳng.
Lúc đó,
Bồ Tát Kim Cang Tạng liền bảo Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt : "Các vị đại đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát
tu hành Bồ Tát đạo, tích tụ đủ thứ căn lành. Ở
tại Diệm huệ địa tu hành Bồ Tát đạo, làm các
nghiệp lành viên mãn rồi. Muốn tiếp tục tiến vào
Địa thứ năm - quả vị Nan thắng địa, thì phải tu
chứng mười thứ tâm trí huệ thanh tịnh bình đẳng,
mới có thể tiến vào".
Những
gì là mười ? Đó là : Tâm bình đẳng thanh tịnh
đối với Phật pháp trong quá khứ. Tâm bình đẳng
thanh tịnh đối với Phật pháp vị lại. Tâm bình
đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp hiện tại. Tâm
bình đẳng thanh tịnh đối với giới. Tâm bình đẳng
thanh tịnh đối với tâm. Tâm bình đẳng thanh tịnh
trừ thấy nghi hối. Tâm bình đẳng thanh tịnh nơi
trí đạo phi đạo. Tâm bình đẳng thanh tịnh tu
hành trí huệ kiến giải. Tâm bình đẳng thanh tịnh
quán sát tất cả pháp bồ đề phần. Tâm bình đẳng
thanh tịnh giáo hoá tất cả chúng sinh.
Những gì là mười ? Đó là :
1.
Đối với pháp chư Phật nói trong quá khứ, phải
dùng tâm bình đẳng không có sự ô nhiễm, không
phân biệt để tu trì.
2.
Đối với pháp chư Phật vị lại sẽ nói, cũng phải
dùng tâm bình đẳng không ô nhiễm trí huệ không
có sự phân biệt và sự thanh tịnh để học tập.
3.
Đối với pháp chư Phật hiện tại nói, cũng phải
dùng tâm bình đẳng không phân biệt và thanh tịnh
không ô nhiễm để học tập tu hành. Đối với pháp
ba đời chư Phật nói, đều dùng tâm bình đẳng
không phân biệt và để tu học.
4.
Trì giới bình đẳng, tức là mình nguyện thay thế
tất cả chúng sinh không trì giới, giữ giới thanh
tịnh. Đem công đức trì giới, bình đẳng hồi hướng
cho hết thảy chúng sinh, không sinh tâm phân
biệt thân sơ thương ghét.
5.
Tâm Bồ Tát đối với chúng sinh như nhau. Cho
nên : "Những gì mình không muốn, đừng bố thí cho
người khác". Những gì mình không hoan hỉ,đừng
bao giờ cho người khác; còn những gì mình muốn,
nên bố thí cho người khác. Tâm của Ngài có thể
bao hàm tất cả vạn vật trong hư không, rộng lớn
vô lượng vô biên, trụ khắp Hằng hà sa số thế
giới, chẳng có chút sai biệt nào.
6.
Thấy hoặc là một thứ nghiệp chướng, có thể
chướng đạo, do đó, người tu đạo nhiều không biết
bao nhiêu, mà người thành đạo rất ít, vì bị thấy
hoặc chướng ngại. Nếu trừ diệt được tà kiến che
đậy, và tâm hoài nghi hối hận, dùng tâm bình
đẳng thanh tịnh để tu hành nghiệp lành, thì nhất
định sẽ thành đạo. Giả sử có người, bố thí rồi
lại hối hận, cảm thấy bố thí cho người khác mình
sẽ thiếu ăn, đó là sự suy nghĩ sai lầm. Vì bố
thí cho người, cũng giống như bố thí cho chính
mình, công đức không mất đi.
7.
Người tu hành phải minh bạch gì là chánh đạo, gì
là tà đạo. Phải tu hành theo chánh đạo, xa lìa
tà đạo. Phải có tâm trí huệ chọn pháp, y pháp mà
không y người. Phải dùng tâm bình đẳng thanh
tịnh không nhiễm để học tập tu hành.
8.
Bồ Tát phải tài bồi học rộng hiểu nhiều, suy gẫm
tường tận, đắc được trí huệ rồi, sẽ có chánh tri
chánh kiến, sẽ y giáo phụng hành, dùng tâm bình
đẳng thanh tịnh tu hành.
9.
Đối với tất cả Thánh pháp giác đạo - tức là pháp
bồ đề phần, dùng trí huệ tối thượng, quán sát kỹ
càng, dùng tâm bình đẳng thanh tịnh để thâm nhập
để tìm tòi.
10. Giáo hoá hết thảy chúng sinh, cũng phải dùng
tâm bình đẳng không phân biệt và trí huệ thanh
tịnh không ô nhiễm. Các vị thiện tín đến đây
nghe pháp, các vị cũng phải dùng mười thứ tâm
nầy để nghe pháp, để học tu pháp môn xuất thế,
mới có thể chứng được quả vị.
Đại Bồ
Tát dùng mười thứ tâm bình đẳng thanh tịnh nầy,
vào được Địa thứ năm của Bồ Tát.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát trụ Địa thứ năm nầy rồi, do khéo
tu pháp bồ đề phần. Do khéo thanh tịnh thâm tâm.
Lại do cầu đạo vô thượng thù thắng. Do
tuỳ thuận chân như. Do nguyện lực gia trì. Do từ
bi thương xót không bỏ tất cả chúng sinh. Do
tích tập phước trí trợ đạo. Do tinh tấn siêng
năng tu tập không ngừng. Do sinh ra phương tiện
khéo léo. Do quán sát chiếu sáng các bậc trên.
Do được Như Lai hộ niệm. Do niệm trí lực gia
trì, nên được tâm không thối chuyển.
Đại Bồ Tát dùng mười thứ tâm bình đẳng thanh
tịnh ở trên, tu hành tiến vào quả vị Địa thứ năm
rồi – Nan thắng địa. Vị đại Bồ Tát nầy, sau khi
tiến vào Địa thứ năm rồi, do:
1.
Ngài khéo biết tu học phương pháp bồ đề giác
phần.
2.
Biết thanh tịnh tâm bồ đề của mình.
3.
Càng biết tiếp tục cầu Phật đạo vô thượng thù
thắng.
4.
Cũng biết được tuỳ thuận chân tâm lý thể, dùng
tâm bình đẳng thanh tịnh để tu hành. Đó là nương
vào nguyện lực đã phát ra trong quá khứ để chi
trì.
5.
Đối với bất cứ chúng sinh nào, cũng đều biết
dùng từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng bình đẳng
thương xót họ.
6.
Biết tích tụ phước đức trí huệ để trợ giúp tu
đạo.
7.
Lại biết phải chuyên cần tinh tấn, tu học Phật
đạo, không có lúc nào ngừng nghỉ.
8.
Biết tu hành Bồ Tát đạo, mới có thể đắc được
pháp môn phương tiện khéo léo.
9.
Lại biết phải quán sát chiếu rõ kỹ càng, có thể
minh bạch được pháp môn tu hành của các Địa và
quả vị ở trên.
10. Lại biết chân chánh như pháp tu hành, có thể
đắc được chư Phật thường đến hộ niệm.
11. Biết vận dụng sức lực để chi trì, luôn luôn
tinh tấn tu hành không sinh nhàm mỏi. Do đó, Bồ
Tát biết những nhân tố ở trên, cho nên Ngài dũng
mãnh tinh tấn không thối chuyển, không giải đãi,
không mất tâm, chuyên chú một lòng tu hành.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy, biết như thật, đây là khổ
Thánh đế, đây là khổ tập Thánh đế, đây là khổ
diệt Thánh đế, đây là khổ diệt đạo Thánh đế.
Khéo biết tục đế, khéo biết đệ nhất nghĩa đế,
khéo biết tướng đế, khéo biết sai biệt đế, khéo
biết thành lập đế, khéo biết sự đế, khéo biết
sinh đế, khéo biết tận vô sinh đế, khéo biết
nhập đạo tri đế, khéo biết tất cả Bồ Tát địa thứ
lớp thành tựu đế, cho đến khéo biết Như Lai trí
thành tựu đế.
Các vị
đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy, Ngài minh
bạch chân thật, minh bạch bốn Thánh đế, tức là
bốn đạo lý chân thật mà đức Phật đã nói.
Thứ nhất: Ngài biết đạo lý “khổ”. Nghĩ muốn đừng
thọ khổ, thì phải dứt trừ tất cả phiền não, cầu
vui tịch diệt chân thật. Học tu đạo trước hết
phải “biết khổ”, thì phải “đoạn tập”, kế tiếp
“mộ diệt” phiền não, thì phải “tu đạo”, đây là
bốn bước tu hành bốn Thánh đế. Khổ của con
người, có nhiều vô lượng vô biên. Nói chung có
ba thứ khổ, tám thứ khổ và vô lượng thứ khổ.
Ba
thứ khổ:
a. Khổ khổ: Không nhà, không quần
áo, không chỗ ở, bần cùng khốn khổ, đây là sự
khổ nhất trong các thứ khổ.
b.
Hoại khổ: Ví như người nầy vốn giàu có sung
sướng, hưởng thụ bất tận. Nhưng bỗng nhiên gặp
tai nạn, hoặc tán gia bại sản, hoặc thân thuộc
ly tán, sống chết không biết. Như ở Trung Quốc
thời biến loạn, chính mắt tôi thấy nhiều người
bị thứ hoại khổ nầy, nhiều không biết bao nhiêu
mà nói. Bần cùng là khổ khổ, giàu có là hoại
khổ.
c.
Hành khổ: Thứ khổ nầy đa số mọi người đều không
ai tránh khỏi. Tuy nhiên chẳng có khổ khổ về bần
cùng, cũng chẳng có hoại khổ về giàu có, nhưng
con người từ bé đến già, niệm niệm trôi qua,
niệm niệm không ngừng, thọ khổ bôn ba lao lực.
Tám thứ khổ là:
1.
Sinh khổ: Con người khi lọt khỏi lòng mẹ, liền
khóc không ngừng, tại sao? Vì nó đã biết con
người sinh ra đời đều là khổ. Còn một nguyên
nhân khác, khi con người mới lọt lòng mẹ, thân
thể thọ cái lạnh không khí bên ngoài, da thịt
đau buốc giống như rùa sống lột mai.
2.
Già khổ: Con người lớn lên rồi già, ngũ quan tứ
chi đều già nua hết linh hoạt, mắt mờ tai điết,
tay chân đau yếu, tinh thần hết minh mẫn.
3.
Bệnh khổ: Bất cứ già trẻ, giàu nghèo, nam nữ, ai
ai cũng đều có bệnh, không bệnh này cũng bệnh
kia, không bệnh nặng cũng bệnh nhẹ, không một ai
tránh khỏi. Bệnh thì khổ vô cùng, không thể nào
diễn tả được.
4.
Chết khổ: Con người có sinh thì có chết, chết
cũng nhiều thứ khác nhau, chết và bệnh là bình
đẳng nhất. Giàu sang như ông vua, nghèo cùng như
kẻ ăn mày, đều không tránh khỏi cái chết. Thống
khổ về tử biệt, thê thảm đến cực điểm. Khi con
người sắp chết, nhục thể thống khổ vô cùng,
giống như bò sống lột da.
5.
Ái biệt ly khổ: Con người đều xả bỏ không được
người và đồ vật mà mình yêu thích, một khi phải
phân ly thì tâm tình thống khổ, cũng khó chịu
được.
6.
Oán tắng hội khổ: Tình hình này ngược lại với ái
biệt ly, bạn không thích người này, mà đi đâu
cũng gặp, cũng khó chịu vô cùng, đó cũng là một
thứ khổ.
7.
Cầu bất đắc khổ: Nghĩa là bạn muốn có được, bạn
ưa thích, mà không được như ý, cũng là khổ.
8.
Ngũ ấm xí thạnh khổ: Ngũ ấm tức là: Sắc thọ
tưởng hành thức, năm ấm này chi phối con người
làm cho điên đảo, lúc khóc lúc cười, lúc buồn
lúc vui, không được thanh tịnh, không được bình
an. Đó tức là bị năm ấm chi phối, khổ giống như
lửa thiêu đốt. Ở trên là sự thật về những sự
khổ, cùng với đạo lý thọ khổ mà chúng sinh
thường hay gặp.
“Khổ tập” Thánh đế: Tức là tất cả khổ tập tụ tập
lại với nhau, trở thành phiền não vô hạn. Vì
khổ, cho nên phải tìm phương pháp diệt khổ.
Nhưng trước hết phải minh bạch nguyên nhân sự
khổ, sau đó tìm phương pháp giải cứu - tức là
“tu đạo”, chỉ có tu đạo mới là đạo lý diệt khổ
thù thắng nhất.
Đồng thời, Bồ Tát này không những cũng phải biết
đạo lý của thế tục, cũng phải biết đạo lý thế
gian đệ nhất đẳng - tức là pháp xuất thế. Phải
minh bạch đạo lý tất cả tướng trạng của mọi sự
vật. Phải biết đạo lý đủ thứ sự vật sai biệt
khác nhau. Cũng phải hiểu rõ đạo lý tất cả sự
vật sinh khởi. Càng phải hiểu đạo lý tất cả sự
vật chết diệt. Phải giác ngộ đạo lý vận dụng trí
huệ tu học Phật đạo. Phải biết rõ quá trình tu
học Thập địa Bồ Tát đạo của Bồ Tát tu hành, là
làm thế nào để tuần tự tiến vào, để thành tựu
quả vị. Càng phải biết phải có trí huệ của Phật,
mới có thể thành tựu quả vị như Phật.
Vì
Bồ Tát này tuỳ tâm ưa thích của chúng sinh,
khiến cho họ hoan hỉ, nên biết tục đế. Vì thông
đạt một thật tướng, nên biết đệ nhất nghĩa đế.
Vì giác ngộ pháp tự tướng cộng tướng, nên biết
tướng đế. Vì biết rõ các pháp phân vị sai biệt,
nên biết sai biệt đế. Vì khéo phân biệt uẩn giới
xứ, nên biết thành lập đế. Vì giác ngộ thân tâm
khổ não, nên biết sự đế. Vì giác ngộ các cõi
sinh tương tục, nên biết sinh đế. Vì tất cả
nhiệt não rốt ráo diệt, nên biết hết vô sinh trí
đế. Vì sinh ra không hai, nên biết nhập đạo trí
đế. Vì chánh giác tất cả hạnh tướng, nên khéo
biết tất cả Bồ Tát địa. Thứ lớp tiếp tục thành
tựu, cho đến Như Lai trí thành tựu đế, dùng trí
lực tin hiểu mà biết, chứ chẳng phải dùng rốt
ráo trí lực mà biết được.
Vị Bồ
Tát này tuỳ thuận tâm ưa thích của chúng sinh,
khiến cho chúng sinh đều sinh hoan hỉ. Vì Ngài
hiểu được tâm lý của phàm phu tục tử, biết vận
dụng pháp thế gian. Ngài minh bạch đạo lý thật
tướng, cho nên thông đạt vô ngại với pháp thế
gian. Nghĩa là thân ở trong pháp thế gian, mà có
thể tu pháp xuất thế gian. Lục Tổ Huệ Năng đã
từng nói :
“Phật pháp tại thế gian,
Không lìa thế gian giác.
Lìa thế cầu bồ đề,
Ví như tìm sừng thỏ”.
Tức là
đạo lý này. Bồ Tát lại biết đạo lý "không" tối
thắng đệ nhất nghĩa, giác ngộ được đạo lý pháp
"tự tướng" là tục, và "cộng tướng" là thật. Lại
biết đạo lý tu các pháp chứng được quả vị, có sự
sai biệt khác nhau. Lại minh bạch được đạo lý
năm uẩn, mười tám giới, mười hai xứ thành lập,
đều do nhân duyên mà thành tựu, chẳng có tự
tánh. Lại giác ngộ đạo lý sở dĩ thân tâm khổ
não, là do không minh bạch tất cả sự việc, mà
làm việc điên đảo. Lại giác ngộ đạo lý đến tất
cả các cõi, nguyên nhân nào tương tục không dứt,
nhờ đó mà biết sanh. Lại biết tất cả phiền não
vốn là không, nhờ tu hành mà được trí huệ, có
thể thấu rõ đạo lý không sinh không diệt. Tức đã
biết sinh là nhân của tập, vô sinh tức là thật
chứng của diệt, liền thoát khỏi sinh tử, không
sinh hai hạnh. Bồ Tát biết rõ đạo lý "tập" là
nhân của "khổ", bèn thâm nhập tu "đạo", cầu
chứng "diệt". Lại biết rõ tất cả hình tướng tu
hành, lại biết thứ lớp và từng bước tu Bồ Tát
hạnh, liên tục thành tựu quả giác. Cho đến biết
đạo lý trí huệ Như Lai thành tựu như thế nào.
Trí huệ của Bồ Tát này, là do tín tâm và sức
hiểu biết tu đắc được hậu đắc trí, chứ chẳng
phải nương vào trí huệ chân chánh bổn nhiên (căn
bản trí) mà đắc được.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này đắc được các đế trí như vậy
rồi, biết như thật tất cả pháp hữu vi hư vọng
trá nguỵ, lừa dối mê hoặc phàm phu ngu si.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy, đắc được những đạo lý
tối thượng nầy rồi, thành tựu đại trí huệ vô
thượng, chân chánh thấu hiểu tất cả pháp hữu vi,
đều là hư vọng không thật, chỉ có thể mê hoặc
những chúng sinh ngu si không có trí huệ.
Bấy
giờ, Bồ Tát tăng thêm đại bi, sinh đại từ quang
minh, đối với các chúng sinh.
Công phu
tu hành của Bồ Tát Địa thứ năm, tiến bộ hơn
nhiều so với ở trước. Đối với việc cứu độ chúng
sinh, biết vận dụng trí huệ phương tiện khéo
léo, tăng thêm tâm đại bi, tâm thương xót cũng
phân đồng với chư Phật.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này được trí lực như vậy, chẳng
xả bỏ tất cả chúng sinh, thường cầu trí huệ của
Phật. Quán tất cả hạnh hữu vi tiền tế hậu tế như
thật. Biết từ vô minh tiền tế, hữu, ái, nên
sinh. Sinh tử lưu chuyển, ở trong nhà các uẩn
không thể thoát ra, tăng trưởng nhiều sự khổ tụ
tập.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy tu Địa thứ năm, đắc
được đủ thứ sức trí huệ, không xả bỏ chúng sinh
thọ khổ. Ngài nỗ lực tinh tấn trên cầu trí huệ
của Phật, dưới độ tất cả chúng sinh. Ngài quán
sát kỹ càng, suy gẫm tất cả pháp hữu vi trên thế
gian, tại sao nó liên tục tiền tế (quá khứ) và
hậu tế (vị lai) không ngừng, nhân tố của nó là
gì ? Bồ Tát đắc được câu trả lời : Biết là do vô
minh tiền tế (quá khứ), hữu, chủng tử của ái, mà
sinh ra tất cả khổ đau vị lai. Những chủng tử
đó, khiến cho chúng sinh lưu chuyển sinh tử
trong sáu nẻo, đời đời kiếp kiếp ở trong ngục tù
năm uẩn, không thoát ra được, khổ não thiêu đốt,
ngày đêm tăng trưởng, các khổ tích tụ nơi thân
tâm.
Không
cái ta, không kẻ thọ, không kẻ dưỡng dục, càng
không kẻ thủ lấy số thân đời sau. Lìa cái ta của
ta, như quá khứ vị lai cũng như vậy, đều không
chỗ có. Hư vọng tham trước, dứt sạch thoát khỏi.
Hoặc có, hoặc không, đều biết như thật.
Bồ Tát
quán sát suy gẫm rồi, biết vốn chẳng có cái ta,
cũng chẳng có kẻ thọ, chẳng có kẻ dưỡng dục,
càng không thể lưu chuyển không ngừng, sinh sinh
không dứt ở trong sáu nẻo. Chỉ có lìa khỏi chủ
quan về cái ngã, và sự chấp trước về của ta, thì
mới có thể dứt quả khổ sinh tử. Thời quá khứ như
vậy, vị lại cũng như vậy, đều là không, đều là
giả. Chỉ vì con người tham cái không, cái giả,
hư vọng không thật tại. Nếu bạn dứt sạch hết tất
cả phiền não hư vọng, thì sẽ chứng được "diệt",
tức cũng là thoát khỏi thống khổ sinh tử của ba
cõi, chứng được "đạo". Đối với những cảnh giới
hư vọng hoặc có hoặc không, phàm phu chấp mê
không ngộ, cho nên không biết không giác. Bồ Tát
đã giác ngộ, cho nên Ngài minh bạch thật sự về
đạo lý này.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này lại nghĩ như vầy : Các phàm
phu này ngu si không trí huệ, rất đáng thương
xót. Có vô số thân, đã diệt, nay diệt và sẽ
diệt, diệt hết như vậy, mà không thể nghĩ nhàm
chán về thân. Lại càng tăng thêm biết bao việc
khổ, theo dòng sinh tử, không thể quay trở lại
được. Nơi nhà các uẩn, không cầu thoát khỏi.
Phật
tử ! Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các
vị đại đệ tử của Phật ! Vị Bồ Tát này tu đủ thứ
Bồ Tát đạo, tích tụ đủ thứ căn lành, Ngài lại
nghĩ như vầy : Phàm phu ngu si không minh bạch
tất cả lý không, lại chẳng có trí huệ, không
biết nhàm khổ, thật là đáng thương xót ! Họ đã
trải qua vô lượng số lần sinh tử huyễn diệt -
đời quá khứ diệt rồi, đời hiện tại cũng phải
diệt, đời tương lai cũng sẽ diệt. Sinh rồi chết
như vậy, chết rồi sinh như vậy, rất khổ mà không
biết, khổ nhiều mà không rõ, lưu chuyển như vậy,
cuối cùng diệt hết. Song, họ đối diện với sinh
tử, như thống khổ nơi thân tâm, mà chẳng thấu
hiểu sinh tư tưởng nhàm chán. Một đời so với một
đời càng tăng thêm vô minh, giống như người gỗ,
nương vào máy móc để di chuyển, không có thì
không thể lay động, mắt mù, bị động, tạo ra
nghiệp ác, trồng xuống nhân khổ, thuận theo dòng
nghiệp sinh tử, không thể nào quay trở về nguồn
cội được. Bị nhốt trong nhà năm uẩn không biết
thoát khỏi nhà lửa.
Không
biết lo sợ bốn rắn độc lớn, không nhổ được mũi
tên kiêu mạn kiến chấp, không diệt được lửa tham
sân si, không phá tan được vô minh đen tối,
không cạn khô được biển lớn ái dục, không cầu
đại Thánh đạo sư mười lực, mà nhập vào rừng rậm
ma ý, ở trong biển sanh tử, bị sóng giác quán
cuốn trôi nhận chìm.
Bốn đại
- đất, nước, gió, lửa, có sự độc ác giống như
rắn độc, nhưng phàm phu cũng không biết lo buồn,
sợ hãi, càng không thể nghĩ phương pháp thoát
khỏi. Tất cả tà tri tà kiến, cống cao ngã mạn,
đều giống như mũi tên độc, luôn bắn vào thân tâm
con người không ngừng. Không thể nhổ được mũi
tên độc ra, cũng chẳng có trí huệ diệt trừ được
lửa độc tham sân si, để được mát mẻ. Cũng chẳng
có phương pháp phá tan vô minh đen tối, để thấy
ánh sáng. Họ càng không thể làm khô cạn được
biển lớn ái dục, họ không biết cầu giác hạnh
viên mãn, phước huệ đầy đủ, của bậc Đạo sư trời
người, để được giải thoát. Các phiền não kiết
sử, sinh tử thống khổ như vậy, đều là tri kiến
của ma. Những việc làm của phàm phu, đều ở trong
tri kiến của ma, như tiến vào rừng sâu rồi không
thấy được mặt trời, lưu chuyển điên đảo, không
có ngày thoát khỏi. Ở trong biển lớn sinh tử, bị
"sóng giác quán cuốn trôi nhận chìm", ý nghĩ đều
là tà tri tà kiến dẫn đến nhân khổ, như sóng lớn
trong biển, cuốn trôi nhận chìm con người cho
đến chết cũng chẳng cách chi cứu được.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát này lại nghĩ như vầy : Chúng
sinh này thọ khổ như vậy, cô cùng khốn đốn,
không ai cứu, không chỗ nương, không đất, không
nhà, không mắt, không người dẫn dắt, vô minh che
đậy, ràng buộc trong đen tối.
Nay tôi vì tất cả chúng sinh đó,
mà tu hành pháp phước trí trợ đạo, độc nhất phát
tâm, không cầu bạn bè. Đem công đức nầy, khiến
cho các chúng sinh rốt ráo được thanh tịnh, cho
đến đắc được mười lực trí huệ vô ngại.
Các vị
đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo,
tích tập đủ thứ căn lành lại nghĩ như vầy :
Những chúng sinh nầy, thọ những phiền não thống
khổ như ở trên đã nói, giống như con cái chẳng
có cha mẹ, cô độc không chỗ nương tựa. Lại giống
như người lang thang tứ xứ, tứ cố vô thân. Lại
giống như gánh nặng đi đường xa, khát vọng có
người đến thay thế họ nhưng không thể được. Suốt
đời thọ sự ràng buộc bệnh già uy hiếp, bị nghiệp
hoặc quấy rối, hy vọng có người thiện đến cứu
cũng tìm chẳng được. Muốn tìm chỗ để nương nhờ,
cũng tìm không được. Chẳng có chỗ an toàn, tức
chẳng có nhà cửa để che gió che mưa, cũng chẳng
có vị thiện tri thức mắt sáng suốt để lãnh đạo
họ, giống như kẻ mù không có mắt. Vô minh sai
sử, phiền não trùng trùng, bốn phía khách trần
nhiễu loạn, tà niệm dấy lên, giống như con mắt
sinh ra màng, che lấp chẳng nhìn thấy được gì.
Không nghe được chánh pháp, giống như bị nhốt
trong chỗ đen tối, bị phiền não trói buộc. Bồ
Tát lại nghĩ : Tôi phải vì những chúng sinh nầy,
tu tập phước huệ, cầu pháp môn trí huệ thù
thắng, và cầu trợ giúp tu đạo. Tôi tự một mình
phát tâm, không cầu người khác trợ giúp, ngoài
ra cũng chẳng tìm bạn bè đồng tu. Dùng những
công đức đó, khiến cho chúng sinh đắc được an
vui bờ Niết Bàn bồ đề, càng khiến cho họ đắc
được mười lực giống như đức Phật, nghĩa là đầy
đủ mười thứ trí lực và công dụng, cùng với bốn
trí huệ vô ngại như Phật và Bồ Tát.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát dùng trí huệ quán sát căn lành
tu tập như vậy, đều vì cứu hộ tất cả chúng sinh,
lợi ích tất cả chúng sinh, an lạc tất cả chúng
sinh, thương xót tất cả chúng sinh, thành tựu
tất cả chúng sinh, giải thoát tất cả chúng sinh,
nhiếp thọ tất cả chúng sinh. Khiến cho tất cả
chúng sinh lìa các khổ não, khiến cho tất cả
chúng sinh khắp được thanh tịnh, khiến cho tất
cả chúng sinh đều được điều phục, khiến cho tất
cả chúng sinh vào Bát Niết Bàn.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy tu Bồ Tát hạnh, tích
tập đủ thứ căn lành, Ngài dùng đủ thứ trí huệ
như đã nói ở trước, quán sát tất cả căn lành của
mình tu được, dùng để cứu hộ tất cả chúng sinh.
Lúc ban đầu phát tâm tu hành, đều vì cứu độ
chúng sinh, nên tu thiện. Tức nhiên như thế,
hiện tại Ngài phải làm :
1.
Cứu hộ chúng sinh trong biển khổ, khiến cho họ
thoát khỏi luân hồi sinh tử.
2.
Khiến cho chúng sinh trụ nơi bất thiện, đắc được
lợi ích của pháp lành.
3.
Khiến cho chúng sinh đã đắc được lợi ích pháp
lành, được an lạc, hoàn thành nghiệp thiện quả
thiện.
4.
Đối với chúng sinh nghèo thiếu, trợ giúp họ theo
chánh nghiệp, tài bồi tâm từ bi thương xót.
5.
Thấy chúng sinh tu hành nhiều chướng ngại, trợ
giúp họ thành tựu căn lành tu hành.
6.
Thấy chúng sinh tại thế gian thọ phiền não khốn
khổ mê hoặc, chỉ dẫn cho họ được chánh kiến, tài
bồi căn lành thành thục để được giải thoát.
7.
Đối với chúng sinh tà tri tà kiến, dùng pháp môn
khéo léo nhiếp thọ, giáo hoá họ, khiến cho họ
được niềm tin chân chánh.
8.
Khiến cho những chúng sinh ngu muội vô tri, chỉ
dẫn họ lìa khỏi khổ não, tinh tấn theo việc
chánh đáng.
9.
Nhìn thấy chúng sinh hạ liệt, đối với chân lý
lại sinh mê hoặc, phải khiến cho họ giải nghi
trừ hoặc, đắc được sự nhận thức rốt ráo.
10. Đối với chúng sinh khó điều khó phục, thì
phải có tâm nhẫn nại khéo dạy, cảm hoá họ, nhiếp
phục họ, khiến cho họ tâm vui thành phục, làm
người có trí nhu hoà thiện lương.
Bồ
Tát thương xót chúng sinh, khắp khiến cho chúng
sinh thọ được ích lợi giáo hoá của Phật, tu học
bồ đề, nhập vào đại Bát Niết Bàn, chấm dứt sinh
tử.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát trụ Nan thắng địa thứ năm, gọi
là nhớ, vì không quên các pháp. Gọi là trí, vì
hay khéo quyết định. Gọi là có thú hướng, vì
biết trải qua ý thú, lần lượt liên hợp. Gọi là
tàm quý, vì tự hộ hộ người. Gọi là kiên cố, vì
không bỏ giới hạnh. Gọi là giác, vì hay quán thị
xứ phi xứ. Gọi là tuỳ trí, vì không tuỳ theo họ.
Gọi là tuỳ huệ, vì khéo biết câu nghĩa phi nghĩa
khác nhau. Gọi là thần thông, vì khéo tu thiền
định. Gọi là phương tiện khéo léo, vì hay tuỳ
thế gian tu hành. Gọi là không nhàm đủ, vì khéo
tích tập phước đức. Gọi là không ngừng nghỉ, vì
thường cầu trí huệ. Gọi là không mỏi mệt, vì tập
đại từ bi. Gọi là vì họ siêng tu, vì muốn khiến
cho tất cả chúng sinh vào Niết Bàn. Gọi là siêng
cầu không giải đãi, vì cầu lực vô uý pháp bất
cộng của Như Lai. Gọi là phát tâm năng hành, vì
thành tựu trang nghiêm cõi Phật. Gọi là siêng tu
đủ thứ nghiệp lành, vì hay đầy đủ tướng tốt. Gọi
là thường siêng tu tập, vì cầu trang nghiêm thân
lời ý của Phật. Gọi là đại tôn trọng cung kính
pháp, vì ở nơi tất cả Bồ Tát pháp sư, theo lời
dạy mà tu hành. Gọi là tâm không chướng ngại, vì
dùng đại phương tiện, thường hành thế gian. Gọi
là ngày đêm xa lìa những tâm khác, vì thường
thích giáo hoá tất cả chúng sinh.
Các vị
đại đệ tử của Phật ! Những vị đại Bồ Tát nầy tu
Bồ Tát đạo, đầy đủ các thứ căn lành, trụ tại Nan
thắng địa thứ năm, có nhiều danh hiệu, đều căn
cứ vào sự tu hành của Ngài mà được. Tên gọi là
nhớ, vì Bồ Tát nầy chưa từng khi nào quên mất
tất cả pháp của chư Phật nói. Tên gọi là trí, vì
Ngài có đủ đại trí Bát nhã, đối với các sự việc
có sự nhận thức đúng đắn, bất cứ khó khăn gì,
Ngài cũng đều có thể lập tức phán đoán giải
quyết được, chẳng giống như một số người hoài
nghi do dự không giải quyết được. Tên gọi là có
thú hướng, vì Ngài rất có sức lý giải, các đại
Kinh điển một khi đọc tụng, thì tự nhiên thấu
triệt tông thú ý chỉ, thứ tự trước sau, đều dung
hội quán thông. Tên gọi là tàm quý, vì Bồ Tát
nầy hay nhẫn nhục mà tâm tánh nhu hoà, Ngài
thường ôm lòng tàm quý, không khinh quỷ thần. Tự
hộ bảy chi – thân ba, nghiệp ác của miệng có
bốn, không chiêu phi nghĩa, thà xả bỏ sanh mạng
không thiếu khuyết giới hạnh. Đồng thời cũng có
thể ảnh hưởng đến người khác, giữ gìn giới hạnh
thanh tịnh. Tên gọi là kiên cố, vì Ngài hay giữ
gìn giới hạnh thanh tịnh, không bị cảnh bên
ngoài dụ hoặc, có ý chí kiên cố. Tên gọi là
giác, vì Ngài là vị có tiên tri tiên giác và trí
huệ, biện rõ thị phi, không làm việc điên đảo,
biết rõ gì là hợp lý, gì không hợp lý. Tên gọi
là tuỳ trí, vì Ngài có chánh tri chánh kiến,
không tuỳ theo tà thuyết họ vâng mình cũng vâng,
mà giao động kiến giải của mình. Tên gọi là tuỳ
huệ, vì Ngài có sức lý giải rất cao minh, nghĩa
lý trong Kinh điển có chánh quyết chăng ? từ ngữ
có thích hợp chăng ? đều thấu biết được, chẳng
vì văn tự tán loạn, mà sinh tâm nghi hoặc. Tên
gọi là thần thông, vì Ngài đắc được thiền định
tam muội thâm sâu, có công phu thiền định chân
thật, từ trong thiền định có thể hiển hiện công
dụng thần thông trí huệ. Tên gọi là phương tiện
khéo léo, vì Bồ Tát hoá độ chúng sinh, dùng pháp
môn phương tiện điều phục nhiếp thọ, khéo léo
vận dụng, tuỳ thuận pháp thế gian, mà không trái
với pháp xuất thế. Tên gọi là không nhàm đủ, vì
Ngài khéo tích tụ phước đức, tăng trưởng căn
lành, siêng tu không ngừng, không nhàm đủ tích
tụ năm độ phước đức. Tên gọi là không ngừng
nghỉ, vì Ngài ngày đêm không giải đãi, tinh tấn
tu học, trên cầu Phật đạo dưới độ chúng sinh,
tăng trưởng trí huệ của mình. Tên gọi là không
mệt mỏi, vì Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh, đều tràn đầy
tâm hoan hỉ, tinh thần sung túc, chưa từng cảm
thấy mệt mỏi khổ sở, hy vọng dừng lại nghỉ ngơi.
Vì Ngài tích đủ tâm nhu hoà đại từ đại bi, ái hộ
chúng sinh, cứu độ chúng sinh. Tên gọi là siêng
tu, tất cả hành vi của Bồ Tát, đều là vì chúng
sinh. Ngài siêng tu không ngừng, ngày đêm tinh
tấn, mục đích là hy vọng chúng sinh vào đại Niết
Bàn, đắc được vui tịch diệt chân chánh. Tên gọi
là siêng cầu không giải đãi, vì Bồ Tát siêng cầu
không giải đãi, hy vọng đắc được mười lực đại
trí huệ, bốn trí vô ngại, vô sở uý, và mười tám
pháp bất cộng giống như đức Phật. Tên gọi là
phát tâm năng hành, vì Bồ Tát phát đại nguyện,
tu vạn hạnh, lại cước đạp thật địa làm được.
Công đức thành tựu viên mãn, dùng để trang
nghiêm cõi nước của chư Phật trong mười phương.
Tên gọi là siêng tu đủ thứ nghiệp thiện, vì Bồ
Tát siêng năng tu tập đủ thứ nghiệp thiện, tức
là mười điều lành. Nghiệp thiện viên mãn rồi, sẽ
đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.
Tên gọi là thường siêng tu tập, phàm là người tu
học Phật pháp, đều phải siêng năng tinh tấn, mà
Bồ Tát nầy trong hai mươi bốn giờ không giải đãi
lười biếng, khiến cho thân miệng ý ba nghiệp
thanh tịnh, đem công đức tu học nầy để trang
nghiêm cõi Phật mà đắc được danh hiệu nầy. Tên
là đại tôn trọng cung kính pháp, vì Bồ Tát dùng
tâm thành vô thượng, cung kính tôn trọng hết
thảy Bồ Tát và pháp sư, ở trong đạo tràng của
các Ngài lắng nghe Phật pháp, thiệt thực y giáo
phụng hành. Tên gọi là tâm không chướng ngại, Bồ
Tát vào thế gian, dùng tâm từ và trí huệ vô
lượng vô biên, phương tiện khéo léo, giáo hoá
chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh khắp
được lợi ích, phát tâm đại nguyện xuất thế nơi
nơi phương tiện vô ngại. Tên gọi là ngày đêm xa
lìa các tâm khác, vì Bồ Tát không sinh tư tưởng
nhiễm ô dù chỉ một phút một giây, Ngài đều vui
thích giáo hoá tất cả chúng sinh.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát siêng tu hành như vậy, dùng
bố thí để giáo hoá chúng sinh. Dùng ái ngữ, lợi
hành, đồng sự để giáo hoá chúng sinh. Thị hiện
sắc thân để giáo hoá chúng sinh. Diễn nói các
pháp để giáo hoá chúng sinh. Khai thị Bồ Tát
hạnh để giáo hoá chúng sinh. Hiển hiện đại oai
lực của Như Lai để giáo hoá chúng sinh. Thị hiện
lỗi lầm hoạn nạn của sinh tử để giáo hoá chúng
sinh. Khen ngợi lợi ích trí huệ của Như Lai để
giáo hoá chúng sinh. Hiện sức đại thần thông để
giáo hoá chúng sinh. Dùng đủ thứ hạnh phương
tiện để giáo hoá chúng sinh.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Khi đại Bồ Tát siêng năng tinh tấn tu
hành như vậy, Ngài dùng phương pháp bố thí để
giáo hoá chúng sinh, khiến cho chúng sinh biết
buông xả tâm tham, dùng từ bi đối đãi với người,
dùng phương pháp ái ngữ để khuyên nhủ chúng
sinh. Ai ai cũng đều hoan hỉ nghe lời của Ngài,
Ngài lúc nào cũng hoà nhan duyệt sắc, nói lời
nhỏ nhẹ tiếp dẫn những người ở trong sự khốn
khổ. Đồng thời, khai thị Phật pháp, trợ giúp
linh tánh của họ, dẫn dắt chúng sinh làm việc
thiện có ích cho người, cộng sự với người, cũng
tận sức giúp đỡ người. Dùng đức hoá người, làm
ảnh hưởng đến chúng sinh, lại khai thị tướng mạo
đoan chánh, phong độ bình dị gần người, giáo hoá
chúng sinh. Lại có thể diễn nói các hạnh môn
trong Phật pháp, giáo hoá chúng sinh tiếp thọ
khế hợp với pháp môn của mình, tu học pháp xuất
thế. Lại giải thích đối với chúng sinh, đưa ra
ví dụ công đức lợi ích tu hạnh Bồ Tát, khiến cho
chúng sinh phát nguyện tu học. Lại hiển bày sức
đại oai đức của Phật, để giáo hoá những chúng
sinh mệt mỏi thối lùi tâm, khiến cho họ tinh
tấn. Lại thị hiện các thứ sinh tướng nhân sinh
khác nhau, tướng già, tướng bệnh, tướng chết.
Chúng sinh phần đông đắm chìm trong sự tham tài
cầu danh, do đó mà không tránh khỏi tạo ra các
nghiệp ác, thọ rất nhiều buồn phiền hoạn nạn. Bồ
Tát giáo hoá họ, khiến cho họ không những biết
lỗi lầm hoạn nạn, mà còn biết sửa đổi lỗi lầm.
Bồ Tát thị hiện thọ các thứ thiên tai nhân hoạ,
nhà tan người mất, các thảm trạng gian khổ cùng
cực, khiến cho chúng sinh thấy được, sinh ra tâm
giác ngộ hồi đầu, mới phát nguyện lớn, tu Bồ Tát
đạo. Rất nhiều chúng sinh không tin đại thừa, Bồ
Tát lại luôn luôn tán thán khen ngợi trí huệ tối
thượng của Phật, cùng với Phật vì chúng sinh mưu
tất cả công đức phước lợi, và dùng từ bi của
Phật, giáo hoá chúng sinh tất cả công đức bình
đẳng không khác biệt. Bồ Tát lại thấy chúng sinh
ngoại đạo, chúng sinh vô tri mê hoặc, mới hiện
đủ thứ sức thần thông, dùng để giáo hoá chúng
sinh ngoại đạo, khiến cho họ bỏ tối về sáng. Bồ
Tát lại dùng đủ thứ pháp môn phương tiện,
để giáo hoá chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ
được vui, an trụ nơi chánh mạng.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy siêng năng dùng phương tiện
giáo hoá chúng sinh như vậy, tâm luôn liên tục
hướng về trí huệ của Phật, khiến cho các căn
lành không thối chuyển, thường khuyên tu học
pháp thù thắng hạnh.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy tu hạnh Bồ Tát, tích tụ
đủ thứ căn lành, Ngài hay dùng đủ thứ phương
pháp như đã nói ở trên, phương tiện khéo léo,
không ngừng giáo hoá chúng sinh dù chỉ một phút
một giây. Tâm của Ngài cũng không ngừng hướng về
cầu trí huệ của Phật. Ngài chỉ biết dũng mãnh
hướng về trước, khiến cho căn lành tăng trưởng,
chưa từng giải đãi thối lùi, cũng trợ giúp chúng
sinh tiến tu không thối lùi. Tâm niệm Ngài siêng
năng tu học Phật pháp thù thắng, và các hạnh môn
có lợi ích độ sanh.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy, vì lợi ích chúng sinh, nên
học tập tất cả kỹ nghệ thế gian, như văn học,
toán số, đồ thư, ấn tỉ, địa thuỷ hoả phong, đủ
các thứ luận, thảy đều thông đạt.
Lại giỏi phương thuốc chữa lành
các bệnh, như điên cuồng, càn tiêu, quỷ mị, cổ
độc, đều trừ dứt được. Văn bút tán vịnh, ca múa,
kỹ nhạc, diễu cười, đàm luận, thảy đều khéo
giỏi. Quốc thành, thôn ấp, nhà cửa, vườn tược,
suối chảy, ao hồ, cỏ cây hoa thuốc, những thứ
giăng bày, thảy đều biết rõ. Vàng bạc, ma ni,
chân châu, lưu ly, ngọc bích, san hô, các bảo
tàng, đều biết nơi chốn, bày chỉ cho người. Đều
giỏi quán sát mặt trời, mặt trăng, tinh tú, chim
kêu, địa chấn, đêm mộng cát hung, thân tướng
sang hèn, không một chút sai lầm.
Trì giới nhập định, thần thông vô
lượng, bốn vô sắc, cùng với tất cả việc thế gian
khác, nhưng đối với chúng sinh chẳng tổn hại
nhiệt não. Vì lợi ích thảy đều khai thị, dần dần
khiến cho họ an trụ vào Phật pháp vô thượng.
Các vị
đại đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy tu hành
Bồ Tát đạo, tích tập đủ thứ căn lành, vì lợi ích
tất cả chúng sinh, cho nên Ngài đối với các kỹ
năng của thế gian, nhân văn nghệ thuật, chẳng có
môn nào mà không đi tìm tòi học tập. Ví như văn
tự, tuy chẳng phải là pháp xuất thế, nhưng văn
hay biểu thị cho ý, Ngài phải vào sâu điển tịch
tạo câu luyện chữ, cầu sức văn tự thần thông.
Toán số, đây là môn tinh mật nhất trong học
thuật, đại phàm thiên văn, địa lý, vật lý, hoá
học, điện học, cơ giới, y học .v.v... đều dùng
toán số làm cơ sở. Bất quá toán số nói trong
Kinh, là chỉ "số" tướng thanh khác biệt. Hơn nữa
số dùng ký số, toán dùng ký vị. Đồ thư : Tức là
tạng thư cổ kim trong ngoài, kinh sử tử tập,
những thứ đó đều là bảo tàng tri thức vô hạn uẩn
tàng, nguồn gốc lâu xa lưu truyền lâu dài ghi ở
trong lịch sử nhân văn, có thể trợ giúp bảo giám
kiến quốc lợi dân. Cho nên Bồ Tát đều thâm nhập
nghiên cứu, hấp thu tri thức rộng rãi, dùng để
mưu phúc lợi cho chúng sinh. Ấn loát : là dùng
đá ngọc điêu khắc thành. Vua chúa thời xưa dùng
trên chiếu thư, dùng làm biểu ký thật giả. Khắc
tám chữ trên miếng đó là : "Thọ mạng ư thiên,
tức thọ vĩnh xương". Người bình thường dùng chỉ
có thể gọi là ấn. Bồ Tát cũng hiểu biết nghệ
thuật chế làm ấn tỉ nầy và phương pháp giám biệt
thật giả tinh vi.
Địa, thuỷ, hoả, phong, bốn đại nầy với sự quan
hệ thân thể con người, mỗi thứ có chỗ thấy khác
nhau, nhất là dùng tà kiến nghị luận của ngoại
đạo càng nhiều. Bồ Tát dùng chánh tri chánh
kiến, xiểng dương giáo hoá. Cho đến tánh trọng
yếu của bốn đại trong vũ trụ, Bồ Tát giỏi biết
vận dụng lợi ích của nó như thế nào, làm thế nào
để ngăn ngừa hoạn nạn và trừ diệt tại hại của
nó. Như các thứ lý luận và thần luận của các
chuyên gia trước tác, bình phán, Bồ Tát đều tinh
thông, càng biết dùng để lợi ích chúng sinh.
Bồ
Tát lại có thể bắt mạch cho toa trị bệnh, Ngài
tinh thông y thuật trong ngoài, nội y ba độc tâm
lý con người, Ngài dạy họ tu tập giới định huệ,
dùng để trị tham sân si ba độc ác bệnh. Các thứ
bệnh đau bên ngoài thân thể, như do tham quá độ
mà sanh bệnh phong cuồng điên đảo, thân thể hốt
nhiên càn tiêu, mật vàng các thứ bệnh, Ngài đều
cho toa thuốc trị bệnh. Còn có một thứ bệnh là
quỷ quái, yêu ma, ở trong thân người tác quái,
khiến cho họ mê mất tâm tánh, bị ma lực chi
phối, làm thiện làm ác, đều không tự biết. Còn
có một thứ người ta gọi là "phóng cổ", đây là
một thứ tà thuật, phóng vào trong đồ ăn uống,
người ăn xong thì suốt đời bị họ khống chế. Muốn
phá trừ thứ tà pháp đó, chỉ có người trì Chú
Lăng Nghiêm. Như tôn giả A Nan bị nạn nữ Ma Đăng
Già, đức Phật sai Bồ Tát Văn Thù đi giải cứu,
tức là dùng Chú Lăng Nghiêm nầy. Bồ Tát ba học
tinh thâm, đương nhiên vì chúng sinh đoạn trừ
những tai hại nầy.
Văn bút tán vịnh, ca múa kỹ thuật, tức là dùng
văn tự tốt đẹp, biên ra lời thơ tán thán ca ngợi
công đức chư Phật. Đem lời thơ đó phổ vào âm
vận, trở thành thánh ca u nhã, phối hợp với vận
luật, dùng tứ chi thân thể biểu đạt ý trong
thánh ca, và dùng các thứ cung huyền nhạc khí,
diễn nhảy múa và kỹ nhạc thần kỳ có âm có sắc –
như là tán thán Tam Bảo, ca ngợi Thánh chúng.
Diễu cười đàm luận : đây là nghi thái đãi nhân
tiếp vật, nói cười vui vẻ, phong nhã cao thượng,
khiến cho người ưa thích gần gũi, thọ sự huân
nhiễm, dần dần hướng về sự giáo hoá của Phật.
Bồ
Tát đối với công trình kiến trúc, cũng đặc biệt
chuyên môn, như thiết kế quốc phòng công sự, đô
thành ấp lớn, kiến lập khu xã quốc dân, hoàng
cung, nhà cửa, vườn tược, chẳng có một nơi nào
mà làm không đẹp. Suối chảy, ao hồ, do nghề lợi
đạo, tận dụng sự tốt đẹp thiên nhiên, làm để
cúng dường cho người du ngoạn, lại có thể cúng
nước để làm ruộng đất. Cỏ cây hoa thuốc có quan
hệ giống thường thức, cùng với vườn thuốc tri
thức vườn rừng chung quanh, đều có nhiều sự lợi
ích. Bồ Tát lại biết giỏi về nơi xuất xứ của các
thứ trân bảo, và nhận thức những mỏ khoáng. Như
vàng bạc, lưu ly, ngọc bích, những bảo tàng nầy,
ma ni, chân châu, san hô, những thứ báu vật ở
trong biển nầy, Ngài đều biết ở chỗ nào, và còn
nói ra cho họ đi khai thác.
Bồ
Tát đối với phương diện thiên văn như : nhật
thực nguyệt thực, tinh tú di động, hiện rồi mất,
Ngài cũng minh bạch về những đạo lý biến hoá
nầy. Về phương diện địa chất như : nguyên nhân
địa chấn và cấp số chấn động, Ngài cũng biết rất
rõ ràng. Ngài lại hiểu về tiếng chim, thời xưa
Trung Quốc có người hiểu tiếng chim. Bồ Tát còn
có thể thế người viên mộng, nói với bạn về mộng
tốt xấu, lại có thể xem tướng đoán mạng, chỉ bày
sự cát hung. Những tri thức thế tục nầy, từ
trong miệng Ngài nói ra, một chút cũng không sai
lầm, cho nên nói Bồ Tát trên biết thiên văn,
dưới biết địa lý, thông đạt nhân tình.
Phương diện tu hành của Bồ Tát, phàm là Bồ Tát
tu Bồ Tát đạo, Ngài nhất định trì giới cẩn thận.
Tại sao phải trì giới ? Vì không trì giới thì
không đắc được định, chẳng có định thì không thể
sinh huệ. Giới định huệ là ba học vô lậu. Phải
trì giới như thế nào ? Trì giới phải nghiêm cẩn,
không phóng dật, phải thanh tịnh, không thể có
chút tư tưởng ô nhiễm, không thể sinh ý tưởng
tham dục. Trì giới nhất định phải thanh tịnh, có
một câu ví dụ : "Thanh tịnh như trăng rằm", tờ
hào không trái phạm.
Thế nào gọi là trì giới ? Tức là chấp trì giới
luật – Tam quy ngũ giới của người tại gia, Bồ
Tát giới. Giới Sa Di của người xuất gia, giới Tỳ
Kheo Tỳ Kheo Ni, giới Bồ Tát, nhất định phải giữ
gìn cẩn thận, bảo hộ giới tướng giới thể. Giữ
gìn trong tâm ý, biểu lộ nơi hành vi, cho nên
một mặt siêng tu "giới định huệ", một mặt thiết
thực tiêu diệt "tham sân si". Nhập thiền định :
Hay trì giới mới có thể nhập thiền định, không
thể trì giới thì không thể nhập thiền định. Muốn
tu định thì phải giữ giới cẩn thận. Muốn đắc
được trí huệ thì trước hết phải tu định, do tu
thiền định mà hay phát sinh vô lượng trí huệ,
thần thông, đồng thời thiền định có thể đối trị
tham dục. Thần thông, nghĩa là "Không thể dò mà
lại không bị bất cứ sức trở ngại nào", Bồ Tát do
tu định mà đắc được sức lực nầy, vận dụng cứu độ
khắp chúng sinh, không bị mọi sự trở ngại nào,
tự tại vô ngại. Cũng đối trị tà ác cang cường.
Vô lượng : tức từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng, tu
bốn tâm vô lượng nầy sẽ được sinh về Phạm Thiên.
Cũng đối trị thuyết ngoại đạo giết ngựa cúng tế
cầu Phạm phước, diệt trừ chúng sinh vọng cầu
công đức nhiễm nghiệp. Tứ vô sắc : Tức là :
a.
Không vô biên xứ.
b.
Thức vô biên xứ.
c.
Vô sở hữu xứ.
d.
Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Đây đều là giai đoạn tu thiền định.
Những thứ ở trên và tất cả trí huệ thế gian cùng
với việc thế tục, chỉ cần chẳng tổn hại đối với
chúng sinh, không tăng thêm phiền não cho chúng
sinh, có lợi ích đối với chúng sinh, không màng
là pháp thế gian, hoặc pháp xuất thế, Bồ Tát đều
vì chúng sinh nói kỹ càng và chỉ bày cho chúng
sinh phương châm đúng đắn, khiến cho chúng sinh
thông tình đạt lý, dần dần ưa thích tu học tất
cả pháp môn vô thượng.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Nan thắng địa nầy, do nguyện lực
mà thấy được nhiều vị Phật. Như thấy được nhiều
trăm vị Phật, nhiều ngàn vị Phật, nhiều trăm
ngàn vị Phật, cho đến thấy nhiều trăm ngàn ức Na
do tha vị Phật. Đều cung kính tôn trọng, thừa sự
cúng dường y phục, thức ăn uống, ngoạ cụ, thuốc
thang, tất cả đồ tư sanh, thảy đều dâng cúng.
Cũng đem cúng dường tất cả chúng Tăng, đem căn
lành nầy, hồi hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác.
Ở chỗ
chư Phật cung kính nghe pháp, nghe rồi thọ trì,
tuỳ sức tu hành. Lại ở trong pháp của chư Phật
đó mà được xuất gia. Xuất gia rồi, lại càng nghe
pháp, đắc được Đà la ni, làm văn trì pháp sư.
Trụ trong địa nầy, trải qua trăm kiếp, ngàn
kiếp, cho đến vô lượng trăm ngàn ức Na do tha
kiếp, hết thảy căn lành, dần dần càng trong sáng
thanh tịnh.
Bồ
Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Bồ Tát chứng được quả vị Nan thắng
địa, do nhờ nguyện lực Ngài đã phát ra trong quá
khứ, mà thấy được rất nhiều vị Phật. Như ở trên
đã nói, thấy được nhiều trăm vị Phật, ngàn vị
Phật, trăm ngàn vị Phật, thậm chí thấy được trăm
ngàn ức Na do tha vị Phật. Đối với mỗi vị Phật,
Ngài đều cung kính tôn trọng như nhau. Lại dùng
tâm chí thành khẩn thiết thừa sự cúng dường rất
nhiều vị Phật. Ngài cúng dường y phục tốt nhất,
thức ăn uống thượng hạng, ngoạ cụ thích hợp,
thuốc thang quý giá, và tất cả những đồ tư sanh
dùng hằng ngày, không thiếu thốn thứ gì, thảy
đều dâng lên cúng dường chư Phật, cũng dùng
những vật chất đó cúng dường cho các vị hiền
Thánh Tăng, đem căn lành công đức tu được, hồi
hướng về quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Bồ
Tát Địa thứ năm ở trong đạo tràng của mười
phương chư Phật, lắng nghe Phật pháp đều hết sức
cung kính, chuyên chú một lòng lắng nghe. Sau
khi nghe rồi, nhất định thiết thực tôn chiếu tận
tâm tận sức dụng công tu hành. Bồ Tát nghe Phật
pháp rồi, đắc được rất nhiều lợi ích, liễu ngộ
sinh tử, phát nguyện xuất gia. Sau khi xuất gia
rồi, càng siêng nghe pháp. Mỗi khi có đạo tràng
thuyết pháp, không màng gần xa, không từ hạnh
khổ, nhất định đi nghe. Nhờ nghe mà đắc được Đà
la ni, dịch là tổng tất cả pháp, trì vô lượng
nghĩa. Trở thành một vị pháp sư hay nghe pháp,
lại hay thọ trì. Khi Bồ Tát trụ tại Địa thứ năm,
trải qua một trăm kiếp, một ngàn kiếp, thậm chí
phải trải qua vô lượng trăm ngàn ức Na do tha
đại kiếp, tu tập căn lành công đức, theo thời
gian dần dần càng thuần tịnh, càng trong sáng.
Phật
tử ! Ví như vàng thật, dùng xa cừ để đánh bóng
thì càng sáng tịnh. Hết thảy căn lành của Bồ Tát
ở địa nầy cũng lại như vậy. Dùng phương tiện huệ
suy gẫm quán sát, thì càng sáng tịnh.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Nay tôi đưa ra một ví dụ : Giống như
luyện vàng thật, dùng loại đá xa cừ để đánh
bóng, thì càng đánh bóng càng sáng, ánh sáng
càng trong suốt. Bồ Tát tại Địa thứ năm, Ngài tu
tập căn lành càng nhiều, thì công phu tu hành
của Ngài càng tiến bộ. Tu hành tiến bộ, thì căn
lành tích tập cũng càng nhiều, dần dần tiến đi
lên. Bồ Tát tu hành làm thế nào để tiến bộ ? Bồ
Tát chứng được Nan thắng địa, Ngài dùng phương
tiện trí huệ, để suy gẫm các pháp, quán sát pháp
giới. Nếu như tinh tấn siêng tu thì trí huệ ngày
càng sáng tỏ.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ tại Nan thắng địa nầy, dùng
phương tiện trí thành tựu công đức, căn lành địa
dưới không bằng được.
Phật
tử ! Như mặt trời mặt trăng tinh tú cung điện
quang minh, do sức gió gia trì, không thể trở
hoại được, các gió khác cũng không thể khuynh
động được. Hết thảy căn lành của Bồ Tát địa nầy
cũng lại như vậy. Dùng phương tiện trí tuỳ theo
sự quán sát, không thể trở hoại được, tất cả căn
lành của bậc Thanh Văn, Độc Giác, thế gian cũng
không thể khuynh động được. Trong mười Ba la
mật, Bồ Tát nầy thiên nhiều về thiền Ba la mật,
còn các Ba la mật kia chỉ tuỳ sức tuỳ phần mà tu
hành.
Các vị
đệ tử của Phật ! Bồ Tát chứng được Địa thứ năm –
Nan thắng địa, Ngài dùng phương tiện trí huệ,
thành tựu rất nhiều công đức. Công đức đó, những
Địa thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, của Bồ
Tát ở trước không bằng được.
Các vị đệ tử của Phật ! Giống như mặt trời, mặt
trăng, hết thảy tinh tú, và cung điện quang minh
của chư thiên, hoàn toàn nhờ sức gió chi trì,
mới không trở hoại, tuyệt đối không bị sức gió
khác làm khuynh động. Căn lành của Bồ Tát Địa
thứ năm, cũng giống như sức gió chi trì mặt
trời, mặt trăng và tinh tú, chẳng có bất cứ sức
lực nào có thể lay động được. Ngài dùng phương
tiện trí huệ, tuỳ thuận cảnh giới, thảy đều quán
sát, phân minh rõ ràng, cho nên chẳng có bất cứ
cảnh giới nào có thể dụ hoặc, hoặc làm lay động
được niềm tin của Ngài. Cũng chẳng phải tất cả
Thanh văn thừa, Độc giác thừa, và sự việc thế
tục có thể khuynh động được. Khi Bồ Tát Nan
thắng địa tu mười Ba la mật, thì thiên nhiều về
tu thiền Ba la mật, còn chín Ba la mật kia tuỳ
sức lực, và duyên phần của mình mà tu hành.
Phật
tử ! Đó là lược nói về Nan thắng địa thứ năm của
đại Bồ Tát. Bồ Tát trụ địa nầy, phần nhiều làm
Thiên Vương cõi trời Đâu Suất. Chỗ làm tự tại
nơi các chúng sinh, hàng phục được tất cả ngoại
đạo tà kiến, hay khiến cho chúng sinh trụ trong
thật đế. Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, làm
tất cả các nghiệp như vậy, đều không lìa niệm
Phật, không lìa niệm Pháp, không lìa niệm Tăng,
cho đến không lìa niệm đầy đủ nhất thiết chủng
trí, nhất thiết trí.
Các vị
đệ tử của Phật ! Đây chỉ là lược nói về cảnh
giới thật tại của đại Bồ Tát Địa thứ năm tu
hành. Khi Bồ Tát Địa thứ năm tu học, thì đa số
làm Thiên Vương cõi trời Đâu Suất. Về việc giáo
hoá chúng sinh, Ngài rất an nhiên tự tại, chẳng
có chút khó khăn gì. Hết thảy ngoại đạo tà kiến,
Ngài đều hàng phục được hết, khiến cho họ không
bị ảnh hưởng, mà sống trong sự lý chân thật,
dùng bốn pháp nhiếp - bố thí, trì giới, lợi
hành, đồng sự, sống cùng chung với chúng sinh.
Tu tập nghiệp lành như vậy, lúc nào cũng đều
không quên niệm công đức từ bi của Phật, không
lìa khỏi niệm Pháp nghĩa thâm sâu vi diệu, không
lìa khỏi niệm sức học khổ hạnh của hiền Thánh
Tăng, và lúc nào cũng cảnh giác chính mình, phải
viên mãn đầy đủ nhất thiết trí huệ tối thượng và
trí huệ thù thắng nhất, tuyệt đối không tán
loạn.
Lại
nghĩ như vầy : Tôi phải ở trong chúng sinh làm
thượng thủ, làm thắng, làm thù thắng. Làm diệu,
làm vi diệu. Làm thượng, làm vô thượng. Cho đến
làm bậc y chỉ của trí nhất thiết trí.
Bồ Tát
trụ Địa thứ năm, Ngài lại nghĩ như vầy : Tôi
phải ở trong chín pháp giới chúng sinh, làm lãnh
tụ của họ, làm tốt, làm lãnh tụ tốt nhất. Có
năng lực không thể nghĩ bàn, có trí lực vô vi
bất tri. Còn phải làm nhân cách toàn mỹ, làm bậc
lãnh đạo phước huệ đầy đủ, tức là thành Phật.
Cho đến làm y chỉ sư của bậc trí huệ cao minh,
tức là đắc được Chánh đẳng chánh giác.
Nếu
Bồ Tát nầy phát tâm siêng tinh tấn, trong khoảng
một niệm đắc được ngàn ức tam muội, thấy được
ngàn ức vị Phật, biết thần lực của ngàn ức vị
Phật, có thể chấn động ngàn ức thế giới của
Phật, cho đến thị hiện ngàn ức thân, mỗi mỗi
thân thị hiện ngàn ức Bồ Tát dùng làm quyến
thuộc. Nếu dùng nguyện lực thù thắng của Bồ Tát,
thì tự tại thị hiện, hơn số trên đây. Trăm kiếp,
ngàn kiếp, cho đến trăm ngàn ức Na do tha kiếp,
cũng không đếm biết được.
Vị Bồ
Tát tại Nan thắng địa nầy, nếu Ngài phát nguyện
siêng năng tinh tấn tu học, thì trong khoảng một
niệm sẽ chứng được thật tướng lý thể, đắc được
ngàn ức tam muội – chánh định chánh thọ, luôn
luôn thấy được ngàn ức vị Phật vì Ngài nói pháp,
biết rõ sức thần thông của trăm ngàn ức vị Phật,
đồng thời Ngài cũng có sức thần thông của ngàn
ức vị Phật. Một khi Ngài dơ tay, hay bước chân,
thì có thể khiến cho đại địa chấn động, không
những chấn động một cõi Phật, mà cho đến ngàn ức
thế giới của chư Phật, đều có sáu thứ chấn động.
Ngài lại ở trong khoảng một niệm, hoá ra ngàn ức
thân thị hiện ra đời, mỗi một hoá thân, lại có
thể thị hiện ngàn ức Bồ Tát làm quyến thuộc của
Ngài. Nếu như dùng nguyện lực đặc thù của Bồ
Tát, thì an nhiên tự tại hiển hiện những thần
thông đó, thị hiện ở trước chúng sinh, sẽ hơn số
mục vừa nói ở trên. Nếu như trong trăm kiếp,
ngàn kiếp, cho đến trăm ngàn ức Na do tha kiếp
thời gian, cũng không thể nào đếm biết được có
bao nhiêu.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng, muốn thuật lại nghĩa
trên mà nói bài kệ rằng:
Bồ Tát
Tứ địa thanh tịnh rồi
Suy gẫm
ba đời Phật bình đẳng
Giới tâm
trừ nghi đạo phi đạo
Quán sát
như vậy vào Ngũ địa.
Lúc đó,
Bồ Tát Kim Cang Tạng, muốn thuật lại đạo lý đã
nói ở trước, khiến cho mọi người thấu rõ hơn,
bèn dùng phương thức bài kệ để nói lại :
Bồ
Tát tu hành công đức Địa thứ tư đã viên mãn rồi,
đắc được lý thể thanh tịnh rồi. Bồ Tát thường tu
pháp môn thiền định, vì thiền định có thể sinh
ra trí huệ. Thiền na là tiếng Phạn, dịch là tư
duy tu. Bồ Tát chẳng có lúc nào mà không ở trong
định dụng công, Ngài suy gẫm pháp của chư Phật
ba đời nói; các pháp bình đẳng, chẳng có cao
thấp.
Giới tâm : Người tu hành, thứ nhất là phải trì
giới, trì giới thì phải: "Không làm các điều ác,
làm hết thảy điều lành", chẳng màng việc ác lớn
nhỏ đều không làm. Vì rằng : "Đừng cho việc
thiện nhỏ mà không làm, đừng cho việc ác nhỏ mà
làm", tích tụ tiểu ác thì sẽ thành đại ác, tích
tụ tiểu thiện, thì sẽ thành đại thiện. Tục ngữ
nói : "Núi Thái là do từng hạt bụi tích tụ mà
thành". Hành giả phải có giới tâm thanh tịnh.
Trừ nghi : Không làm ác, thì không sinh ra ác
chướng. Không chướng thì chẳng có nghi hoặc. Tâm
nghi đã dứt, thì tự nhiên sẽ phá được vô minh.
Đạo phi đạo : "Phải đạo thì tiến, trái đạo thì
lùi". Hợp với lý thì y theo pháp tu hành, không
hợp lý thì cải ác hướng thiện. Người hay trì
giới, thì nhất định minh bạch thế nào là hợp lý,
thế nào không hợp lý. Thế nào là "đạo", thế nào
là "phi đạo". Tóm lại, Người hay trì giới, thì
họ chắc chắn phân biệt được đạo, phi đạo. Suy
gẫm quán sát như vậy, thì sẽ tiến vào Địa thứ
năm.
Niệm
xứ làm cung, căn làm tên
Chánh
cần làm ngựa, thần túc: xe
Áo giáp
năm lực phá oán địch
Dũng
mãnh không lùi vào Ngũ Địa.
Bốn niệm
xứ giống như cây cung dương lên, năm căn năm lực
giống như mũi tên nhọn. Bốn chánh cần giống như
thiên lý mã, bốn như ý túc giống như chiếc xe
báu. Năm lực giống như áo giáp kiên cố, phá được
tất cả oán địch. Bồ Tát siêng tu các pháp môn
như vậy, dũng mãnh tinh tấn quyết định không
thối lùi, để vào Địa thứ năm.
Tàm
quý làm y, giác phần: man
Tịnh giới làm hương, thiền: hương thoa
Trí huệ phương tiện diệu trang nghiêm
Vào rừng
tổng trì vườn tam muội.
Phải
luôn luôn biết tàm quý (hổ thẹn), giống như y
phục bảo vệ thân. Bảy giác phần giống như hoa
man trên đầu dùng để trang nghiêm. Trì giới
thanh tịnh giống như đốt hương thơm - chân tâm
đốt hương không dùng tay, chân tâm niệm Phật
không dùng miệng, chỉ biết trang nghiêm giới
định huệ, thì tự nhiên sẽ đi hướng về con đường
bồ đề. Thiền định giống như hương thoa. Tất cả
trí huệ, tất cả pháp môn phương tiện, là đồ cúng
dường trang nghiêm tối thượng. Như vậy hướng về
tùng lâm "tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa",
nhập vào trong vườn hoa lớn chánh định chánh thọ
(tam muội).
Như
ý làm chân, chánh niệm: cổ
Từ bi
làm mắt, trí huệ: răng
Sư tử vô
ngã trong loài người
Phá oán
phiền não vào Ngũ Địa.
Bốn như
ý túc giống như hai chân của con người, chánh
niệm giống như cái cổ của con người, tâm từ bi
làm con mắt, trí huệ làm răng. Con người viên
mãn đầy đủ như vậy, mới có thể làm sư tử trong
loài người. Lại thêm chẳng có tướng ta, thấy cái
ta, tướng người, thì có thể làm sư tử không sợ
hãi, giáo hoá chúng sinh. Lúc đó, cũng tự nhiên
phá trừ được oán tặc phiền não, tiến vào Địa thứ
năm tu hành.
Bồ
Tát trụ Địa thứ năm nầy
Chuyển
tu đạo thanh tịnh thù thắng
Chí cầu
Phật pháp không thối chuyển
Tâm niệm
từ bi không nhàm mỏi.
Khi Bồ
Tát trụ tại Địa thứ năm nầy, triển chuyển tu tập
các thứ pháp môn thù thắng, và cầu Phật đạo
thanh tịnh vô thượng. Chí nguyện của Bồ Tát, chỉ
một lòng siêng cầu Phật đạo, thề không thối
chuyển. Không lúc nào quên niệm từ bi hỷ xả,
dùng bốn tâm vô lượng nầy đối đãi chúng sinh,
vĩnh viễn không nhàm lìa chúng sinh, cũng không
sinh tâm mỏi nhàm.
Tích
tập phước trí thắng công đức
Tinh cần
phương tiện quán địa trên
Phật lực
gia trì đủ niệm huệ
Biết rõ
bốn đế đều như thật.
Đức Phật ba A tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp
trồng tướng tốt, tích tụ căn lành, cho nên thành
tựu đấng Lưỡng Túc phước huệ đầy đủ, làm bậc chí
tôn chí thượng của thế gian và xuất thế gian.
Phước huệ đầy đủ tức là công đức thù thắng. Bồ
Tát Địa thứ năm tuy đã tích tập vô lượng công
đức thù thắng, nhưng vẫn tiếp tục nỗ lực, dùng
phương tiện trí huệ để quán sát, nghiên cứu
tướng trạng tu hành của Địa thứ sáu. Chỉ nương
vào sức nỗ lực của chính mình vẫn không đủ, phải
vào Địa thứ sáu, phải đắc được tam muội của Phật
gia trì, thì mới đầy đủ chánh niệm chánh huệ. Có
chánh niệm chánh huệ rồi, mới có thể minh bạch
triệt để đạo lý chân thật : khổ tập diệt đạo,
mới thành thật tu tập pháp môn bốn đế.
Khéo
biết thế đế thắng nghĩa đế
Tướng đế
khác biệt thành lập đế
Sự đế
sinh tận và đạo đế
Cho đến
Như Lai vô ngại đế.
Bồ Tát
không những biết pháp bốn đế của thế gian, mà
Ngài cũng biết tất cả sự lý của thế gian. Như
đạo lý có tướng, phân biệt tất cả đạo lý sự vật,
đạo lý thế gian thành lập như thế nào, đạo lý sự
việc thế gian sinh và diệt như thế nào, tại sao
phải tu hành ? Đạo lý làm thế nào để tu hành,
đạo lý thấu rõ chư Phật chứng được đại trí huệ
vô ngại, chẳng có sự việc gì mà Bồ Tát không
biết rõ ràng.
Quán
đế tuy vi diệu như vậy
Chưa
được vô ngại thắng giải thoát
Nhờ đây
hay sinh đại công đức
Cho nên
vượt qua trí thế gian.
Bồ Tát
quán sát những đạo lý thế gian, xuất thế gian
như ở trên như vậy, tuy đã biết vi diệu rồi,
nhưng vẫn chưa đắc được giải thoát vô ngại thù
thắng. Giải thoát vô ngại thù thắng, hay sinh ra
công đức lớn nhất tốt nhất, hay thành tựu vượt
qua thế trí biện thông của thế gian, vượt qua
trí huệ của một số người.
Bèn
quán đế rồi biết hữu vi
Thể tánh
hư nguỵ không thật bền
Được
phần từ mẫn quang của Phật
Vì lợi
chúng sinh cầu Phật trí.
Bồ Tát
quán sát pháp thế gian rồi, biết pháp thế gian
đều là pháp hữu vi, không thanh tịnh. Thể tánh
của pháp hữu vi đều là hư giả, không thể trường
cửu, lại không chân thật. Nếu đắc được từ bi mẫn
niệm, quang minh trí huệ của Phật gia bị, thì
mới có thể lợi ích chúng sinh. Nhờ đó mà Bồ Tát
siêng cầu Phật trí, tức là vì cứu khắp chúng
sinh.
Quán
các hữu vi trước và sau
Vô minh
đen tối ái ràng buộc
Lưu
chuyển xoay vòng trong sự khổ
Không ta không người không thọ mạng.
Bồ Tát
Quán sát tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt
bóng, như sương cũng như điện. Giác ngộ như vậy
rồi, biết tiền tế diệt rồi, hậu tế lại sinh, đây
tức là hiện tượng pháp hữu vi không rốt ráo,
không chân thật. Vô minh : tức là không minh
bạch, gì cũng không biết, chẳng có trí huệ. Đen
tối đồng ý nghĩa với vô minh. Ái : tức là từ vô
minh đen tối sinh ra. Phiền não thống khổ của
người thế gian,đều do ái mà ra, bị ái ràng buộc,
giống như con tằm làm kén tự ràng buộc mình, đến
chết cũng không ngộ. Vô minh đen tối của ái,
ràng buộc con người lưu chuyển sinh tử trong sáu
nẻo, không thoát khỏi sự khổ não. Nếu giác ngộ
tri kiến không có cái ta, tri kiến không có
người, tri kiến không có chúng sinh, và tri kiến
không có thọ mạng, như vậy sẽ thoát khỏi sự ràng
buộc của ái, đắc được giải thoát chân thật.
Ái thủ
là nhân thọ khổ sau
Muốn tìm
bờ mé không thể được
Mê vọng
trôi chìm không kỳ về
Bọn nầy
đáng thương tôi phải độ.
Mười hai
nhân duyên là "vô minh" làm đầu, sau có "hành".
"Hành" là hành vi hai tánh "ái". Do hành vi
"ái", mà sinh ra "thức". Có thức rồi, tự nhiên
sinh ra danh sắc. Danh sắc tức là thai nhi. Thai
thành rồi thì sinh ra lục nhập - mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý. Có lục nhập thì có xúc trần. Do
cảm ứng của xúc trần tức là lãnh thọ. Do lãnh
thọ mà cần có ái, cần tức là dục vọng thủ lấy,
cho nên nói "Ái thủ là nhân", mà thọ khổ đời
sau. Thủ lấy thì sinh ra hữu, từ vô minh đến ái
thủ, do đó sinh sinh tử tử, mê hoặc vọng tưởng
càng dài càng nhiều, trôi chìm trong biển sinh
tử, vĩnh viễn không thời kỳ quay trở về. Những
chúng sinh đáng thương xót nầy, tôi phải đi độ
họ !
Uẩn:
nhà, rắn: cõi, mũi tên: chấp
Lửa tâm
cháy mạnh si ám nặng
Sông ái
trôi chuyển không rảnh xem
Biển khổ
dật dờ không người dắt.
Năm uẩn
tức là sắc thọ tưởng hành thức. Sáu căn sáu trần
là mười hai xứ, thêm sáu thức gọi là mưới tám
giới, những thứ nầy đều giống như rắn độc. Sáu
mươi hai thứ kiến hoặc, giống như mũi tên độc.
Lửa dục trong tâm thiêu đốt cháy hừng hực. Ngu
si một đời so với một đời ngày càng nặng, những
chúng sinh trôi nổi trong biển ái, lưu chuyển
trong sinh tử, chẳng có thời giờ quán sát suy
gẫm kỹ càng, sớm bị chết chìm ở trong biển khổ,
cũng chẳng có bậc thiện tri thức đến dẫn dắt họ.
Biết
như vậy rồi siêng tinh tấn
Chỗ làm
đều vì độ chúng sinh
Gọi là
bậc có niệm có trí
Cho đến
bậc giác hiểu phương tiện.
Bồ Tát
Ngài biết sự thật những thống khổ ở trên, cho
nên phải siêng năng tinh tấn. Động cơ khuyến
khích Ngài tu hành như vậy, là vì muốn độ những
chúng sinh thọ khổ đó. Đây là bậc hành giả có
chánh niệm, có trí huệ chân thật, lại là Bồ Tát
đã giác ngộ, có lý giải có phương tiện trí huệ.
Tu
hạnh phước trí không nhàm đủ
Cung
kính đa văn không mệt mỏi
Cõi nước
tướng tốt đều trang nghiêm
Tất cả
như vậy vì chúng sinh.
Bồ Tát
tu phước tu huệ, chưa từng sinh tâm tự mãn, càng
không có lúc nào cảm giác nhàm mỏi. Ngài cung
kính mười phương chư Phật, thường ở tại đạo
tràng nghe pháp, cũng chẳng sinh tâm mệt mỏi.
Đem những công đức đó, để trang nghiêm cõi nước
và ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tu
hành như vậy đều vì cứu độ tất cả chúng sinh.
Vì
muốn giáo hoá các thế gian
Giỏi
biết thư số ấn các pháp
Cũng lại
hiểu biết các phương thuốc
Chữa trị
các bệnh khiến lành hẳn.
Vì muốn
giáo hoá các chúng sinh thế gian, Bồ Tát tinh
thông văn tự Bát nhã, biên chép, toán số, ấn tỉ,
những kỹ thuật thường thức nầy, Ngài đều thâm
nhập nghiên cứu qua. Ngài cũng hiểu các thứ
thuốc, biết các chứng bệnh và chữa trị cho chúng
sinh, thuốc đến bệnh lành, linh nghiệm khởi tử
hồi sinh.
Văn
tự ca múa đều khéo giỏi
Nhà cửa
vườn hồ đều an ổn
Bảo tàng
phát hiện chỉ cho người
Vì lợi
ích vô lượng chúng sinh.
Bồ
Tát thông đạt tất cả việc thế gian, về phương
diện văn tự cũng rất thành tựu. Văn chương tả
rất hay, thơ từ ca múa cũng xuất chúng, biểu
hiện cảnh giới không thể nghĩ bàn. Cũng việc như
vậy, mà phàm phu làm, thường khiến cho con người
trầm mê đoạ lạc, nhưng Bồ Tát làm, ngược lại hay
khiến cho chúng sinh sinh tâm giác ngộ, đây tức
gọi là "đều khéo giỏi". Nhà cửa, vườn hoa, ao hồ
thảy, có sự quan hệ về thiết kế, kiến trúc, bố
trí, khiến cho kỹ thuật tài năng trang nghiêm
đẹp đẽ, đều được bình an yên ổn. Năm thứ ngũ kim
và đá quý cùng với những khoáng mỏ ở dưới đất,
Bồ Tát đều biết được ở chỗ nào, đều chỉ bày cho
người khác đi khai thác. Những gì Bồ Tát nói, Bồ
Tát làm, đều là chân thật. Ngài làm như vậy,
hoàn toàn vì hết thảy chúng sinh, mọi người đều
đắc được lợi ích.
Nhật
nguyệt tinh tú đất chấn động
Cho đến
thân tướng cũng quán sát
Tứ thiền
vô sắc và thần thông
Vì lợi
thế gian đều hiển bày.
Bồ Tát
chẳng những tu được văn tự Bát Nhã, mà đối với
thiên văn, địa lý, Ngài cũng đều thấu biết hết,
như nhật thực nguyệt thực, tinh tú thay đổi,
những đạo lý áo diệu đó, Ngài đều nghiên cứu
thâm nhập. Đối với thân thể tướng trạng của con
người, Ngài cũng giỏi quán sát. Về phương diện
tu đạo, cảnh giới tứ thiền, tình huống tứ vô sắc
định, và sáu thứ thần thông, Bồ Tát chân tu thật
học, diệu dụng ứng tâm. Vì lợi ích hết thảy
chúng sinh thế gian, cho nên Ngài phải hiển bày.
Bậc
trí trụ Nan Thắng Địa nầy
Cúng
Na do Phật cũng nghe pháp
Như dùng
báu đẹp dũa vàng thật
Hết thảy
căn lành dần sáng tịnh.
Bồ Tát
địa thứ năm, khi trụ tại Nan Thắng Địa, Ngài
cúng dường vô lượng chư Phật, cũng ở trong đạo
tràng của mười phương chư Phật, thường đi nghe
pháp. Tinh thần Bồ Tát siêng tu học như vậy, ví
như dùng báu đẹp để mài dũa vàng thật, càng mài
thì càng sáng. Bồ Tát tu hành càng tinh tấn, thì
căn lành cũng càng tinh thuần, ánh sáng trí huệ
càng sáng tịnh.
Ví
như tinh tú trong hư không
Sức gió
nhiếp trì không tổn động
Cũng như
hoa sen không dính nước
Đại sĩ
tu nơi đời như vậy.
Ví như
tinh tú ở trong hư không, chịu sức gió nhiếp trì
với nhau, mới không bị di động, hay bị tổn hại
rơi xuống. Lại giống như hoa sen báu lớn, tuy
sinh ra ở trong bùn ô nhiễm, mà không nhiễm bùn.
Tuy lớn lên ở trong nước, cũng không dính nước.
Bồ Tát phải có chí khí kiên cố như vậy, mới có
thể hành Bồ Tát đạo độ chúng sinh trong thế
gian.
Trụ
đây thường làm vua Đâu Suất
Hàng
phục dị đạo các tà kiến
Tu các
việc lành vì Phật trí
Nguyện được mười lực cứu chúng sinh.
Bồ Tát
tu chứng được Địa thứ năm, phần nhiều làm Thiên
Vương cõi trời Đâu Suất, vì Ngài có chánh kiến,
hiểu rõ chân lý, cho nên hàng phục được tất cả
nghị luận tà ma ngoại đạo, phá tan nhiều tà tri
tà kiến. Ngài tu tập căn lành công đức, đều vì
cầu được đại trí huệ giống như đức Phật, hy vọng
đắc được mười lực giống như Phật, dùng để cứu độ
tất cả chúng sinh.
Bồ
Tát lại tu đại tinh tấn
Tức thời
cúng dường ngàn ức Phật
Được
định động cõi cũng như thế
Nguyện
lực mà làm lại hơn trên.
Bồ Tát
tu hành càng dũng mãnh tinh tấn, ở trong một
niệm có thể cúng dường ngàn ức các vị Phật, có
thể đắc được ngàn ức tam muội, có thể chấn động
ngàn ức cõi Phật. Cũng như vậy, trong khoảng một
niệm có thể làm được, nếu dùng nguyện lực thù
thắng thuở xưa của Ngài, thì sẽ vượt qua số trên
NanThắng
Địa thứ năm như vậy
Đạo chân
thật tối thượng trong người
Tôi dùng
đủ thứ sức phương tiện
Vì các
Phật tử diễn nói xong.
Tất cả
cảnh giới chân thật của Nan Thắng Địa thứ năm
như đã nói ở trên, đều là đạo lý chân thật nhất,
cao thượng hơn hết trong loài người. Bồ Tát Kim
Cang Tạng nói: Tôi dùng đủ thứ phương tiện lời
lẽ, vì các đệ tử của Phật đã nói xong rồi.
|