|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN BA MƯƠI SÁU
PHẨM THẬP ĐỊA THỨ HAI MƯƠI SÁU
THỨ TƯ DIỆM HUỆ ĐỊA
Phật tử
nghe hạnh rộng lớn nầy
Ưa thích
địa thù thắng thâm diệu
Tâm đều
vui mừng đại hoan hỉ
Khắp rải
hoa thơm cúng dường Phật.
Các vị
đại đệ tử của Phật ! Đã nghe qua Bồ Tát Kim Cang Tạng vì mọi người nói xong
hạnh môn rộng lớn của của Bồ Tát tu hành ở trên, biết được những hạnh môn đó
đều là vi diệu, thâm áo, thù thắng nhất, mọi người đều thích vào sâu nghiên
cứu tu tập. Do đó, trong tâm của các vị Bồ Tát toả ra sự vui mừng hoan hỉ vô
cùng. Các Ngài đều rải xuống rất nhiều loại hoa thơm danh quý nhất, để cúng
dường mười phương chư Phật và Đức Phật Thích Ca trong pháp hội.
Khi
diễn nói diệu pháp như vậy
Đại địa
nước biển đều chấn động
Tất cả
Thiên nữ đều hoan hỉ
Đều dùng
tiếng hay đồng khen ngợi.
Khi Bồ
Tát Kim Cang Tạng diễn nói pháp môn vi diệu địa thứ ba không thể nghĩ bàn
nầy, thì hết thảy sơn hà đại địa, nước trong bốn biển, đều cùng hiện ra sáu
thứ mười tám tướng chấn động.Thiên nữ nghe rồi đều rất hoan hỉ, cùng nhau
phát ra âm thanh hay đẹp, đồng thanh tán thán khen ngợi Tam Bảo.
Tự
Tại Thiên Vương rất hớn hở
Mưa
châu ma ni cúng dường Phật
Khen nói
Phật vì ta ra đời
Diễn nói
hạnh công đức bậc nhất.
Lúc đó,
Thiên Vương cõi trời Đại Tự Tại, cũng hoan hỉ vô lượng, đem vô lượng châu ma
ni cúng dường chư Phật. Ngài lớn tiếng tán thán đức Phật nói : "Đức Phật vì
chúng tôi chư Thiên, mới thị hiện ra đời, đặc biệt vì chúng tôi diễn nói
hạnh công đức tối thượng, thù thắng bậc nhất !"
Nghĩa
các địa bậc trí như vậy
Trong
trăm ngàn kiếp khó gặp được
Nay tôi
bỗng nhiên mà được nghe
Bồ Tát
thắng hạnh tiếng diệu pháp.
Bồ Tát
có đại trí huệ như vậy - Bồ Tát Kim Cang Tạng vì đại chúng pháp hội diễn nói
nghĩa lý mỗi địa trong Thập địa, thật là trong trăm ngàn kiếp cũng khó nghe
được một lần. Hiện tại tôi thật là may mắn, mới gặp được pháp hội nầy, nghe
được tiếng pháp vi diệu vô thượng.
Nguyện
hãy diễn nói bậc thông huệ
Đạo vô
dư quyết định địa sau
Lợi ích
tất cả các trời người
Các Phật
tử nầy đều thích nghe.
Bồ Tát
Giải Thoát Nguyệt nói với Bồ Tát Kim Cang Tạng : "Bồ Tát Kim Cang Tạng có
đại trí huệ ! Hiện tại chúng tôi muốn lắng nghe Ngài tiếp tục diễn nói Địa
thứ tư, có sự quan hệ phải biết đạo lý tu học và tướng trạng. Chẳng những
lợi ích cho sự tu học của các Bồ Tát, đồng thời cũng lợi ích cho các trời
người. Các Phật tử ở trong pháp hội cũng rất hoan hỉ nghe pháp môn nầy.
Giải
Thoát Nguyệt dũng mãnh đại tâm
Thỉnh
Kim Cang Tạng nói Phật tử !
Từ đây
tiến vào Địa thứ tư
Hết thảy
hạnh tướng xin tuyên nói.
Bồ Tát
Giải Thoát Nguyệt dũng mãnh tinh tấn phát tâm đại Bồ Tát, hướng về Bồ Tát
Kim Cang Tạng thỉnh pháp, gọi Ngài "đại đệ tử của Phật ! Từ Địa thứ ba tiến
vào Địa thứ tư, tất cả pháp môn tu hành, cùng với cảnh giới chứng được,
thỉnh cầu Ngài hãy vì chúng tôi giải thích nói cho rõ ràng".
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng, nói với Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt rằng : Phật tử !
Đại Bồ Tát đã khéo thanh tịnh Địa thứ ba rồi, muốn vào Diệm Huệ Địa thứ tư,
phải tu hành mười pháp minh môn. Những gì là mười ?
Đó là : Quán sát cõi chúng sinh,
quán sát pháp giới, quán sát thế giới, quán sát cõi hư không, quán sát thức
giới, quán sát dục giới, quán sát sắc giới, quán sát vô sắc giới, quán sát
cõi tâm rộng tin hiểu, quán sát cõi tâm lớn tin hiểu. Bồ Tát dùng mười pháp
minh môn nầy, mà vào được Diệm Huệ Địa thứ tư.
Bồ Tát
Giải Thoát Nguyệt nói xong những bài kệ ở trên rồi, Bồ Tát Kim Cang Tạng bèn
tiếp tục nói với Ngài : "Các vị đại đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát đã khéo tu
hành thanh tịnh Địa thứ ba, viên mãn công đức Địa thứ ba rồi, chứng được quả
vị Địa thứ ba rồi, lại muốn vào Địa thứ tư - Diệm huệ địa, thì phải tu hành
mười thứ Phật pháp, mới có thể minh bạch tiến vào cửa Phật pháp. Gì là mười
Phật pháp minh môn ? Nói chung đều có sự quan hệ độ chúng sinh về sự và lý.
Phân biệt lại nói, không ngoài :
1.
Quán sát cõi chúng sinh : Có đủ thứ nhân duyên thiện ác liên kết.
2.
Quán sát pháp giới : Nay là thời đại pháp hành thế nào, là chánh pháp ?
tượng pháp ? hay là mạt pháp ? là thế giới nhiễm, hay là thế giới tịnh ?
3.
Quán sát thế giới : Đã đến thời kiếp gì ? là thành ? là trụ ? là hoại ? là
không ?
4.
Quán sát cõi hư không : Chúng sinh trụ vào chánh báo, y báo, đều nương vào
hư không mà lập. Nên nói thứ pháp gì, mới có thể khế hợp với căn cơ của
chúng sinh ?
5.
Quán sát bản thức của chúng sinh, nhiễm ô và thanh tịnh, nên dùng pháp gì để
giáo hoá, khiến cho họ chuyển nhiễm thành tịnh ?
6.
Quán sát chúng sinh cõi trời dục giới : Nên dùng pháp gì để độ họ, khiến cho
họ có thể ly dục khử ái, không còn thọ, tưởng ?
7.
Quán sát chúng sinh cõi sắc giới.
8.
Quán sát chúng sinh vô sắc giới. Chúng sinh ba cõi nầy đều thuộc về sắc,
trong pháp do phiền não mà làm cho nhiễm. Bồ Tát biết ba cõi đều do tâm, vậy
nên dùng pháp nào mới có thể khế hợp, mới có thể cứu độ được chúng sinh ?
9.
Quán sát chúng sinh trên trời đủ tâm tin hiểu rộng lớn : Họ đã là phiền não
không nhiễm, đã thành tịnh phần nương tha, nay dùng phương pháp gì để trợ
giúp khiến cho họ tiến vào thượng thừa ?
10. Quán sát chúng sinh trên trời tâm tin hiểu lớn : Họ có thể phát tâm đại
Bồ Tát, vượt qua nhị thừa, tức là chúng sinh hành Bồ Tát đạo, nay nên dùng
phương pháp gì để trợ giúp họ viên mãn tâm bồ đề đã phát ?
Bồ
Tát dùng mười phương pháp nầy, quán sát viên mãn, do đó minh bạch tiến vào
tu hành pháp môn Địa thứ tư. Ý nghĩa Diệm huệ địa nghĩa là trí huệ hoả diệm,
giống như tia sáng nhoáng, chiếu sáng khắp mười pháp giới. Ba địa trước gánh
vác thế gian, từ địa nầy tiến vào tu trí huệ Thánh nhân xuất thế, xả bỏ định
ái, vĩnh viễn dứt phiền não, tu chứng bồ đề pháp phần.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Diệm huệ địa nầy, vì có thể dùng mười thứ trí thành thục
pháp, nên đắc được nội pháp của Địa thứ tư, sinh vào nhà Như Lai. Những gì
là mười ?
Đó là : Vì thâm tâm không thối
lùi, vì trong Tam Bảo sinh tịnh tín, rốt ráo không hoại, vì quán các hành
sinh diệt, vì quán các pháp tự tánh không sinh, vì quán thế gian thành hoại,
vì quán nhân nghiệp có sinh, vì quán sinh tử Niết Bàn, vì quán nghiệp chúng
sinh cõi nước, vì quán thời gian trước thời gian sau, vì quán không có gì
cùng tận, đó là mười.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Địa thứ tư nầy, quán trong thân theo thân quán, siêng năng
dũng mãnh nhớ biết, trừ diệt tham lam lo lắng của thế gian. Quán ngoài thân
theo thân quán, siêng năng dũng mãnh nhớ biết, trừ diệt tham lam lo lắng của
thế gian. Quán trong ngoài thân theo thân quán, siêng năng dũng mãnh nhớ
biết, trừ diệt tham lam lo lắng của thế gian.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Trụ nơi Địa thứ tư -
Bồ Tát Diệm huệ địa y cứ mười thứ trí huệ để suy gẫm, quán sát, do tu hành
mà thành thục pháp môn tu học. "Thành thục" : Tức là diệt trừ trí chướng
giải pháp tam địa trước, nhiếp vào Thánh trí xuất thế Địa thứ tư. Đắc được
"tâm trí pháp" thuộc về nội tâm, chẳng phải ngoại tướng, mà là thừa thọ tâm
pháp những gì đức Phật nói, giáo hoá chúng sinh, cho nên được sinh vào trong
gia tộc của đức Phật. Vì Địa thứ tư là bắt đầu pháp xuất thế, cho nên nói
"sinh" vào nhà Như Lai. Những gì là mười thứ trí huệ thành thục nội pháp ?
Đó là :
1.
Thâm tâm không thối lùi : Thâm tâm tức là tâm bồ đề của Bồ Tát phát ra.
"Không thối lùi" : Tức là vĩnh viễn không thối chuyển về hàng nhị thừa,
không thể giải đãi, phóng dật.
2.
Tâm tin đối với Tam Bảo tuyệt đối kiên định, không thể lay động, không hoài
nghi, do đó sinh ra tâm tôn kính thanh tịnh, vĩnh viễn không thất hoại.
3.
Bồ Tát quán sát các hành sinh diệt, minh bạch là vô thường khổ không, sinh
diệt vô thường.
4.
Quán tự tánh của tất cả các pháp, vốn không sinh không diệt. Vì tất cả pháp
vốn là vắng lặng, chẳng có bản thể, là nhân duyên sinh ra. Đức Phật nói :
"Nhân duyên sinh ra pháp
Ta nói tức là không.
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa trung đạo".
5.
Lại quán thế gian và tất cả thế gian, đều không thể tránh khỏi tướng kiếp:
Thành, trụ, hoại, không. Bồ Tát thương nhớ chúng sinh, cho nên phát tâm đại
bồ đề.
6.
Lại quán tất cả nghiệp. Chúng sinh thọ đủ thứ báo khác nhau, là do hạt giống
nghiệp, gặp duyên thành thục mà thọ báo chướng, cho nên "Thiện thì có thiện
báo, ác thì có ác báo", nhân quả tuần hoàn, tơ hào không sai.
7.
Lại quán sự khác nhau về sinh tử, Niết bàn, sinh tử lao nhọc, do tham dục
khởi, khổ não vô lượng; Niết Bàn vắng lặng, thường lạc ngã tịnh. Bồ Tát giác
ngộ được khổ sinh tử, liền biết hướng về bồ đề, vĩnh viễn dứt sinh tử, luôn
luôn thọ vui Niết Bàn. Ngài suy gẫm các pháp, biết rõ gì là sinh tử, gì là
Niết Bàn, liền được đạo không sinh không diệt.
8.
Lại quán tất cả chúng sinh, trong cõi nước và thọ sinh trong sáu nẻo khác
nhau, là do nhân nghiệp gì ? Lại biết họ hay tạo ra nghiệp gì, mới đắc được
quả báo đáng thọ đó.
9.
Lại quán thời gian trước, phiền não không có sự bắt đầu (vô thuỷ). Lại quán
thời gian sau, Niết bàn không có sự kết thúc (vô chung). Chỉ vì chúng sinh
sinh vọng tưởng trùng trùng, nên sinh ra nghiệp báo khác nhau.
10. Lại quán tất cả chúng sinh, phiền não vô tận, hư không vô tận, sinh,
già, bệnh, chết, hư nguỵ không có chủ, đều không cùng tận.
Ở
trên là mười thứ trí của Bồ Tát trụ Diệm huệ địa, tinh tấn chuyên cần quán
sát, suy gẫm, lại nương vào trí nầy mà thành thục pháp lý và sự tướng. Bồ
Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng Phật tử ! Khi Bồ Tát trụ vào Địa thứ tư,
Ngài tu tập pháp môn chỉ quán, khi quán trong thân thì, quán tưởng thân nầy
không sạch, là ba mươi sáu thứ vật thể bất tịnh và năm thứ bất tịnh tập
thành. Ba mươi sáu thứ vật bất tịnh :
1.
Tướng ngoài mười hai thứ : Tóc, lông, móng, răng, ghèn, nước mắt, nước dãi,
đàm, phân, nước tiểu, cấu bẩn, mồ hôi.
2.
Thân có mười hai thứ : Da, da ngoài, máu, thịt, gân, mạch, xương, tuỷ, mỡ
lá, mỡ miếng, não, màng.
3.
Bên trong có mười hai thứ : Gan, mật, ruột, dạ dày, lá lách, thận, tim,
phổi, sanh tạng, nhiệt tạng, xích đàm, bạch đàm.
Năm thứ bất tịnh :
a.
Chủng tử bất tịnh, do nghiệp kết quá khứ và tinh cha huyết mẹ làm chủng tử.
b.
Trụ xứ bất tịnh, chỗ ở trong thai mẹ bất tịnh.
c.
Tự tướng bất tịnh, thân có đủ chín lỗ, thường chảy ra vậy ô uế.
d.
Tự thể bất tịnh, vì thân có ba mươi sáu thứ vật bất tịnh hợp thành.
e.
Cứu kính bất tịnh, chết rồi chôn dưới đất làm thức ăn cho côn trùng, cuối
cùng thành phân đất.
Đối với thân bất tịnh nầy, sao lại sinh khởi tham ái ? Nếu muốn trừ khử lìa
tham ái tập khí ác lo buồn được mất từ vô thuỷ đến nay, thật không dễ dàng,
cho nên phải tinh tấn siêng năng, quyết tâm, có nghị lực, có sự dũng mãnh.
"Nhớ" nghĩa là sự giác ngộ, phải
minh bạch "thân" và "mạng" là vô thường, phải cảnh giác Phật pháp sẽ diệt,
phải biết thu nhiếp tán tâm, ghi nhớ không quên, sinh khởi chánh niệm.
"Biết" tức là có tâm kiên quyết, lập chí sám hối những lỗi lầm quá khứ, phát
nguyện không làm ác, làm điều thiện. Như thực hành theo lời nói, sức hành
thực tiễn, mới có thể trừ khử tất cả tham ái ràng buộc và thống khổ ưu bi
khổ não trên thế gian. Bồ Tát lại quán sát ngoài thân : "Ngoài thân" là chỉ
tất cả sắc, thanh, hương, vị, xúc, bên ngoài thân. Theo thân quán sát suy
gẫm tỉ mỉ bên ngoài thân, tất cả vạn sự vạn vật hiển hiện ra, đều là có
tiếng không có tiếng, có hình không có hình, nói pháp cho người thế gian
nghe. Nếu người đời minh bạch được hàm ý nói pháp của nó, thì có thể đạt
được thật tướng của tất cả các pháp. Thường hành tinh tấn, phản tỉnh, phá
trừ tà tri tà kiến, tôn kính chánh pháp, thành chánh hạnh, tu học trí huệ
của Phật, thì tự nhiên sẽ có thể trừ khử tất cả sự tham lam lo lắng của thế
gian. Kế tiếp lại "quán trong ngoài thân" : Quán trong thân : là quán sắc,
thọ, tưởng, hành, thức, năm uẩn bên trong thân. Quán ngoài thân : là quán
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sáu trần bên ngoài thân. Tất cả pháp trong
ngoài thân, phải theo đây để quán sát suy gẫm, biết rõ về tâm, thì trí huệ
sẽ hiện tiền. Còn phải siêng dũng mãnh nhớ biết, tự tại tu hành. Bồ Tát xa
lìa phiền não nhân gian, xả bỏ sự điên đảo vô tri thế gian, sao lại còn có
tham ái phóng dật, càng không sinh ra sầu lo khổ não.
Có câu rằng :
"Biết lỗi mà sửa đổi, không có
điều thiện nào bằng".
Ở trước đại chúng biểu thị lỗi
lầm của mình, ở trước Phật sám hối tội nghiệp của mình, như vậy, lỗi lầm sẽ
tiêu diệt. Nếu không muốn người biết, cũng không biết sửa đổi sám hối, ngược
lại che giấu, thì lỗi lầm sẽ vĩnh viễn tồn tại, bạn cũng vĩnh viễn không
biết sửa đổi sám hối.
Khi đức Phật còn tại thế, hai
chúng có phạm lỗi lầm, đều phải ra trước đại chúng bộc bạch sám hối. Đây
cũng giống như chiếc áo trắng bị dơ bẩn, phải giặt cho sạch. Tâm của con
người có sự ám ảnh, một khi sám hối thì sẽ khôi phục lại ánh sáng trí huệ
vốn có. Tại sao một số người không thể hiển lộ ra ánh sáng trí huệ ? Vì ai
ai cũng đều có bộ mặt giả, không muốn cho người khác biết lỗi lầm của mình.
Cho nên, đương thời đức Phật dùng phương pháp đương chúng sám hối, khiến cho
con người đều có cơ hội hối lỗi làm mới lại. Có lúc, chính mình phạm lỗi lầm
mà không biết, do đó nhờ người khác tốt ý khích lệ, chỉ ra lỗi lầm của họ,
đây gọi là chỉ lỗi. Khiến cho họ sám hối, khôi phục lại thanh tịnh, đây là
quy luật thời chánh pháp trụ thế. Sau khi đức Phật vào Niết bàn rồi, dần dần
con người không dùng phương pháp sám hối này nữa, nên pháp dần dần mai một.
Như ngày nay Phật pháp mới truyền
vào tây phương, có thể nói là thời đại chánh pháp, cho nên phải tôn trọng
những gì đức Phật chế ra, đối với bốn chúng đệ tử, không màn phạm bất cứ lỗi
lầm gì, chỉ cần bộc bạch, thì sẽ khôi phục lại bản tánh thanh tịnh, đừng để
lưu lại sự ám ảnh ở trong tâm. Người tu hành đừng có tâm ích kỷ lợi mình,
nên quan niệm rộng rãi về "tiểu ngã" của mình mà trở thành người của đại
chúng. Việc có lợi cho đại chúng, có tổn hại về mình, dù cho tan thân nát
thịt, cũng nên tận sức gánh vát. Ngược lại, nếu việc tổn người lợi mình,
cũng không nên làm. Nếu thực hành theo đây, thì mới có thể thành tựu đạo của
Bồ Tát thực hành.
Như
vậy quán trong thọ, ngoài thọ, trong ngoài thọ, theo thọ quán. Quán trong
tâm, ngoài tâm, trong ngoài tâm, theo tâm quán. Quán trong pháp, ngoài pháp,
trong ngoài pháp, theo pháp quán. Chuyên cần dũng mãnh nhớ biết, diệt trừ
tham lam lo lắng của thế gian.
Lại nữa, Bồ Tát nầy đối với các
pháp ác bất thiện chưa sinh ra. Vì không muốn cho sinh ra, nên phải siêng
tinh tấn, phát tâm đoạn trừ. Các pháp ác bất thiện đã sinh ra, vì muốn dứt
trừ, nên siêng tinh tấn, phát tâm đoạn trừ. Các pháp lành chưa sinh ra, vì
muốn sinh ra, nên siêng tinh tấn, phát tâm thực hành. Các pháp lành đã sinh
ra, vì muốn trụ không mất đi, nên phải tu hành, khiến cho nó tăng trưởng
rộng lớn, mà siêng tinh tấn, phát tâm thực hành.
Như vậy
quán sát, nghiên cứu tỉ mỉ, hồi quang phản chiếu : Sự cảm thọ trong nội tâm
như thế nào ? Cảm thọ ở bên ngoài như thế nào ? Sự cảm thọ trong ngoài hợp
nhất lại như thế nào ? Đó gọi là theo tâm quán, là thuận theo thọ để quán
sát. "Thọ" gồm có "tâm thọ" và "thân thọ" : Sự thọ của sáu thức gọi là "tâm
thọ". Sự thọ của năm căn gọi là "thân thọ". Lại quán nội tâm như thế nào ?
Ngoại tâm lại như thế nào ? Nội ngoại tâm hợp nhất lại như thế nào ? Theo
tâm ý quán sát, nhờ tác dụng thật tâm nghiên cứu. Lại quán tất cả pháp bên
trong và tất cả pháp bên ngoài, pháp trong ngoài, theo pháp để quán sát.
Cũng phải siêng tinh tấn, dũng mãnh không giải đãi, niệm tất cả trí huệ,
diệt trừ tất cả tham ái và ưu sầu phiền não trên thế gian.
Người xuất gia phải thoát ra khỏi nhà tam giới – Thoát ra khỏi nhà dục giới,
nhà sắc giới, nhà vô sắc giới, còn phải thoát ra khỏi nhà phiền não, đoạn
trừ tất cả phiền não; thoát ra khỏi nhà thế tục tức là trừ khử tham ái. Muốn
chân chánh làm cho được viên mãn thì đương nhiên không dễ dàng, nhưng phải
khắc phục sự khó khăn, lực hành thực tiễn. Cổ ngữ có nói : "Nhân giả, gian
nan nhi hậu hoạch". Nghĩa là người thành tựu nhân tâm, phải trải qua quá
trình gian nan khốn khổ, mới có thể chân chánh thành thục tâm nhân từ, đạt
đến trí huệ viên dung vô ngại và nhân cách hoàn thành cao thượng mỹ mãn. Ở
trước có nói là nhiễm ô tham ái thế gian, hiện tại muốn nói sự khoái lạc
xuất thế gian. Ở trước không nói được viên mãn, hiện tại nói tỉ mỉ một chút.
Vị Bồ Tát tu Diệm huệ địa nầy, khi trong tâm của Ngài chưa sinh khởi các
niệm ác và pháp không tốt, thì vì muốn khiến cho các niệm ác và pháp không
tốt không sinh, cho nên phải phát tâm bồ đề, chuyên cần tinh tấn, dũng mãnh
không giải đãi. Phải dứt trừ tất cả các niệm ác và pháp không tốt như vậy.
Dứt trừ tức là dứt trừ sự giải đãi. Các điều ác tức là mười điều ác. Khiến
cho nó không sinh khởi lên; nếu đã sinh ra, thì phải cấp tốc khiến cho nó
dứt trừ. Cũng phải sinh tâm bồ đề dũng mãnh tinh tấn, phát tâm đại nguyện để
dứt trừ niệm ác và pháp bất thiện đó, đổi thành niệm thiện pháp thiện, tức
là mười điều thiện. Nếu như chưa sinh ra, mà hy vọng sinh khởi tâm thập
thiện, thì càng phải dũng mãnh tinh tấn không giải đãi. Phải phát tâm đại bồ
đề, phát tâm nguyện lớn, thiết thật làm được mười điều lành. Giả sử đã sinh
ra tất cả niệm thiện, vì muốn bảo trì thường hành mười điều lành, không thể
ngừng giữa đường, thì phải siêng năng tinh tấn, khiến cho niệm thiện hạnh
thiện ngày càng tăng trưởng rộng lớn, cũng phải dũng mãnh tinh tấn, phát tâm
đại bồ đề, thiết thật tu hành chánh tri chánh kiến, thành tựu bồ đề.
Lại
nữa, Bồ Tát nầy tu hành định dục giới muốn dứt trừ hạnh ác, thành tựu thần
túc, y chỉ vào nhàm chán, y chỉ vào lìa, y chỉ vào diệt, hồi hướng nơi xả.
Tu hành tinh tấn định, tâm định, quán định, đoạn định, thành tựu thần túc. Y
chỉ vào nhàm chán, y chỉ vào lìa, y chỉ vào diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại tiếp tục nói : "Ở trước nói về vị Bồ Tát nầy, khi Ngài tu
hành định dục giới, phải dứt trừ tất cả ác hạnh, sinh ra tất cả hạnh lành,
thì sẽ thành tựu thần túc thông – đây là một trong sáu thứ thần thông. Phải
y chỉ vào nhàm lìa tất cả pháp hạnh ác, dứt trừ tất cả pháp hạnh ác, cũng
phải diệt tất cả pháp hạnh ác. Đem tất cả hồi hướng về tất cả hạnh xả, tu
tất cả bố thí. "Xả", là phải xả những gì mình không thể xả, mới là thật xả
bỏ. "Tu hành tinh tấn định", là công phu tu định luôn không gián đoạn. Tâm
định; tức là tâm có định lực, không bị cảnh bên ngoài dụ hoặc làm giao động,
không bị nhân tình làm thay đổi. Có câu rằng : "Tám gió thổi không lay".
Tám gió là :
1. Xưng : Được người khen không
động tâm.
2. Cơ : Bị người chê cũng không
động tâm.
3. Khổ : Thọ khổ không lay động.
4. Lạc : An vui cũng không lay
động.
5. Lợi : Có lợi không lay động.
6. Suy : Có hại cũng không lay
động.
7. Huỷ : Bị phỉ báng không động
tâm.
8. Dự : Được người khen ngợi cũng
không động tâm.
Như vậy có thể chứng minh công
phu "tâm định", đến được trình độ nào. "Quán định" ; quán sát sự tu định có
sự thành tựu chăng. "Đoạn định" : Đoạn trừ tất cả ác hạnh. Như vậy sẽ thành
tựu thần túc thông, một trong sáu thần thông. Phải y chỉ vào sự nhàm tất cả
pháp thế gian, y chỉ lìa tất cả pháp thế gian, y chỉ diệt trừ tất cả ác hạnh
thế gian, hồi hướng về pháp môn bố thí hỉ xả". Bồ Tát tu hành như vậy, sẽ
đạt được cảnh giới "Mắt thấy hình sắc bên trong chẳng có, tai nghe chuyện
đời tâm chẳng hay", mới chân chánh có định lực.
Lại
nữa, Bồ Tát nầy tu hành tín căn, y chỉ vào nhàm, y chỉ vào lìa, y chỉ vào
diệt, hồi hướng nơi xả. Tu hành tinh tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn. Y
chỉ nhàm, y chỉ lìa, y chỉ diệt, hồi hướng nơi xả. Lại nữa, Bồ Tát nầy tu
hành tín lực, y chỉ vào nhàm, y chỉ vào lìa, y chỉ vào diệt, hồi hướng nơi
xả. Tu hành tinh tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực, y chỉ vào nhàm, y chỉ
vào lìa, y chỉ vào diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát
Kim CangTạng lại nói tỉ mỉ tiếp theo đạo lý ở trước. Khi vị Bồ Tát nầy tu
hành năm căn – tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn, thì y chỉ nhàm
chán thế giới Ta Bà, y chỉ thoát khỏi tất cả phiền não, y chỉ diệt tận tất
cả tập khí, hồi hướng về xả Ba la mật. Lại nói tỉ mỉ rằng, vị Bồ Tát Diệm
huệ địa nầy, tu hành năm lực – Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, huệ
lực, cũng đều y chỉ vào nhàm, y chỉ vào lìa, y chỉ vào diệt, hồi hướng về
"xả" Ba la mật. Đó là năm căn năm lực, lực là do căn sinh ra. Y chỉ vào
những hạnh môn nầy để tu hành, thì sẽ nhàm lìa tất cả pháp thế gian, tu hành
tất cả pháp xuất thế, hồi hướng về pháp môn xả.
Lại nữa,
Bồ Tát nầy tu hành niệm giác phần, y chỉ vào nhàm, y chỉ vào lìa, y chỉ vào
diệt, hồi hướng nơi xả. Tu hành trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỷ
giác phần, khinh an giác phần, định giác phần, xả giác phần. Y chỉ vào nhàm,
y chỉ vào lìa, y chỉ vào diệt, hồi hướng nơi xả.
Lại nữa,
Bồ Tát nầy tu hành chánh kiến, y chỉ vào nhàm, y chỉ vào lìa, y chỉ vào
diệt, hồi hướng nơi xả. Tu hành chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Y chỉ vào nhàm, y chỉ vào lìa,
y chỉ vào diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát tu hành công đức như vậy,
vì không bỏ tất cả chúng sinh, vì nguyện xưa gia trì, vì đại bi làm đầu, vì
đại từ thành tựu, vì nghĩ nhớ trí huệ nhất thiết trí, vì thành tựu trang
nghiêm cõi Phật, vì thành tựu lực của Như Lai, vô sở uý, pháp bất cộng, vì
tướng tốt âm thanh đều đầy đủ. Vì cầu đạo thù thắng vô thượng, vì tuỳ thuận
nghe sự giải thoát thâm sâu của Phật, vì suy gẫm đại trí phương tiện thiện
xảo.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng nói xong pháp môn năm căn năm lực rồi, kế tiếp lại nói về pháp
môn của Bồ Tát Diệm huệ địa, phải tiếp tục tu hành pháp môn bảy giác chi.
Còn gọi là bảy bồ đề phần, ý nghĩa là giác, quán sát. Đây là pháp môn định
huệ đồng đều. Trước hết phải tu :
1.
Niệm giác phần : Vì giác là tự thể, còn sáu thứ kia là nhân của giác; niệm
có thể thông hiển sáu thứ kia, vì đều nương vào niệm. Do quan hệ với niệm
hay khiến cho các pháp không thể quên mất, khiến cho trí huệ đồng đều. Khi
tu niệm giác phần thì cũng nương vào chánh niệm nầy, mà nhàm bỏ tất cả pháp
thế gian hữu lậu, xả bỏ lìa tất cả pháp hữu vi thế gian, diệt trừ tất cả tư
tưởng nhiễm ô thế gian, hồi hướng về xả Ba la mật của bốn tâm vô lượng. Bồ
Tát nầy còn phải tu hành sáu giác phần còn lại :
1.
Trạch pháp giác phần : Dùng trí huệ để chọn lựa pháp thật hay giả.
2.
Tinh tấn giác phần : Dùng tâm dũng mãnh, lìa hạnh tà, hành pháp thật.
3.
Hỷ giác phần : Tâm được pháp lành, liền sinh hoan hỉ.
4.
Khinh an giác phần : Đoạn trừ tướng thân tâm thô trọng, khiến cho không ô
nhiễm mà được khinh an.
5.
Định giác phần : Khiến cho tâm trụ nơi một cảnh mà không tán loạn.
6.
Xả giác phần : Xả các vọng sai và tất cả các pháp, hành xả bình đẳng, vĩnh
viễn trừ tham ái. Khi tu hành sáu giác phần nầy, thì cũng giống như y chỉ
chánh pháp, quán sát tư duy, nhàm bỏ tất cả, xa lìa tất cả, diệt trừ tất cả
tư tưởng hành vi bất thiện, hồi hướng về xả Ba la mật.
Vị
Bồ Tát nầy tiếp tục tu hành Bát chánh đạo, còn gọi là tám Thánh đạo, vì bát
chánh là Bồ Tát đạo, xa lìa bát tà, dứt các phiền não, sinh ra tất cả tam
muội không thể nghĩ bàn của Bồ Tát, khai thông Niết Bàn, cho nên gọi là
Thánh đạo :
1.
Chánh kiến : Tức là minh bạch đạo lý khổ tập diệt đạo bốn Diệu đế, tu chứng
được trí huệ vô lậu, làm chủ thể các chánh đạo.
2.
Chánh tư duy : Đã thấy được đạo lý bốn Thánh đế, còn phải suy gẫm khiến cho
thật trí tăng trưởng, dùng tâm vô lậu làm thể.
3.
Chánh ngữ : Dùng thật trí tu khẩu nghiệp, không nói lời phi lý, dùng giới vô
lậu làm thể.
4.
Chánh nghiệp : Dùng trí huệ trừ sạch tất cả thân nghiệp không chánh đáng,
trụ nơi thân nghiệp thanh tịnh, dùng giới vô lậu làm thể.
5.
Chánh mạng : Nương vào ba nghiệp thanh tịnh, thuận chánh pháp mà sinh sống,
lìa khỏi năm tà mạng, dùng giới vô lậu làm thể.
6.
Chánh tinh tấn : Phát dụng trí huệ chân thật, dũng mãnh không giải đãi tu
học đạo lý tiến vào Niết bàn, dùng chuyên cần vô lậu làm thể.
7.
Chánh niệm : Dùng thật trí nghĩ nhớ chánh đạo của Phật, không khiến cho sinh
khởi tà niệm, dùng niệm vô lậu làm thể.
8.
Chánh định : Dùng thật trí vào thiền định thanh tịnh, dùng định vô lậu làm
thể. Thực hành ngược lại Bát chánh đạo, tức là bát tà đạo. Bồ Tát tu Bát
chánh đạo nầy, cũng phải y chỉ vào thật trí, nhàm chán hồng trần, xả bỏ tham
ái dục cầu nhân gian, diệt sạch tư tưởng nhiễm ô, hồi hướng về xả Ba la mật.
Bồ
Tát Diệm huệ địa tu hành những công đức vô lậu nầy, là vì Ngài không muốn xả
bỏ chúng sinh ở trong biển khổ, hy vọng tế độ họ. Vì căn cứ vào tâm nguyện
quá khứ mà Ngài đã phát ra, khiến cho Ngài mãn nguyện. Vì dùng tâm đại bi
làm trọng yếu thứ nhất. Vì dùng đại từ để thành tựu hết thảy chúng sinh. Vì
suy gẫm thật trí huệ trong nhất thiết trí huệ. Vì thành tựu trang nghiêm cõi
nước của chư Phật. Vì thành tựu bốn thứ lực vô sở uý giống như Phật, và mười
tám thứ Phật pháp bất cộng, còn có tướng tốt giống như Phật, âm thanh hay,
tất cả đều viên mãn đầy đủ. Lại vì cầu Phật đạo thù thắng tối thượng. Lại vì
hy vọng tuỳ thuận chỗ nghe được tất cả Phật pháp đắc được diệu pháp giải
thoát thâm sâu nhất. Lại vì suy gẫm đại trí huệ và pháp môn phương tiện khéo
léo, có thể dùng giáo hoá chúng sinh. Vì có đủ thứ duyên, cho nên phải tu
hành Bồ Tát đạo. Những điều vừa nói ở trên có thể dùng ví dụ để hiển rõ :
"Pháp tánh như đại địa
Nơi niệm như hạt giống
Chánh cần là trồng trọt
Thần túc như mầm non
Năm căn như sanh căn
Năm lực như cành lá lớn lên
Nở hoa Thất giác chi
Kết quả Bát chánh đạo".
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Diệm huệ địa nầy, hết thảy thân kiến làm đầu. Ta, người
chúng sinh, thọ mạng, uẩn xứ giới, chỗ khởi chấp trước, khởi diệt, suy gẫm,
quán sát. Vì tu trị, vì của ta, vì tài vật, vì chấp nơi chốn, như vậy hết
thảy tất cả đều lìa.
Bồ Tát nầy nếu thấy nghiệp nào mà
Như Lai quở trách, phiền não ô nhiễm, thảy đều xả lìa. Nếu thấy nghiệp nào
thuận với Bồ Tát đạo, được Như Lai khen ngợi, thảy đều tu hành.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Khi Bồ Tát trụ tại
Diệm huệ địa tu hành, thì ở trong các "kiến", đầu tiên phải trừ khử "thân
kiến". Còn các kiến kia như "Ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả
kiến, năm uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành, thức; mười tám giới – sáu căn, sáu
trần, sáu thức; mười hai xứ - sáu căn, sáu trần", sinh ra phiền não, nhiễm
ô, chấp trước, kiêu mạn .v.v... tư dục, chẳng lợi ích gì cho sự tu trị thân
tâm.
Bồ Tát phải quán sát tỉ mỉ sự
sinh diệt, vào sâu suy gẫm những cảnh giới đó, biết rõ như huyễn như hoá,
đều chẳng có, đều là không. Ở trong pháp đó, quán sát tu trị sự thấy, phát
hiện hết thảy tự ngã kiến của mình, tất cả tư hữu kiến tài vật thuộc về ta,
chấp trước nơi an xứ pháp định kiến – Do đó, trên thân kiến mà mà sinh ra
phiền não, vọng tưởng, ngã chấp, pháp chấp. Hiện tại đều muốn xả lìa, vứt
bỏ.
Vị Bồ Tát nầy nếu thấy ác nghiệp
nầy, điều mà đức Phật không hoan hỉ, Phật quở trách, là tất cả phiền não
nhiễm ô, thì Ngài nhất định xả bỏ nó và còn xa lìa nó. Nếu như nhìn thấy
nghiệp lành, thì thuận theo tu hành đạo phẩm phải tu trị, là lời dạy không
trái với đức Phật nói, được Như Lai khen ngợi, Ngài phải y giáo phụng hành,
như pháp tu hành.
Phật
tử ! Bồ Tát nầy tuỳ theo chỗ khởi phương tiện huệ, tu tập nơi đạo, và trợ
đạo phần. Như vậy mà được tâm nhuận trạch, tâm mềm mại, tâm điều thuận, tâm
lợi ích an lạc, tâm không tạp nhiễm, tâm cầu vô thượng thắng pháp, tâm cầu
trí huệ thù thắng, tâm cứu tất cả thế gian, tâm cung kính tôn đức không trái
với lời dạy bảo, tâm tuỳ chỗ nghe pháp đều khéo tu hành.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát tại Diệm huệ
địa, tuỳ theo phương tiện trí huệ đã chứng được ở trong Tứ địa, công đức
tích tập được, cùng với pháp môn trợ giúp Ngài tu đạo, liền đắc được tâm trí
quang minh nhuận trạch. Tâm mềm mại từ hoà. Tâm điều thuận chẳng có chút
nóng giận, thì khí huyết điều hoà. Ngài có tâm khiến cho người được an ổn
khoái lạc, tuỳ thời làm lợi ích chúng sinh. Ngài chẳng có chút tâm tham sân
si và tạp nhiễm dục niệm. Ngài thường thường có tâm kiền thành cầu thắng
pháp vô thượng. Ngài hy vọng cầu được tâm trí huệ tối thượng thù thắng giống
như Phật. Tâm đại bi phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh khổ nạn trên thế
gian, muốn khiến cho họ lìa khổ được vui. Ngài có tâm cung kính lễ kính
thiện tri thức, tôn trọng đại đức hiền Thánh, kính cẩn tiếp thọ sự giáo hoá
của các Ngài, mà không làm trái ý. Ngài có tâm y giáo phụng hành, bất cứ ở
nơi nào nghe được pháp lành, thì Ngài đều y theo pháp lành mà tu hành.
Bồ
Tát nầy biết ân, biết báo ân, tâm rất hoà thiện. Đồng trụ an lạc, chất trực
mềm mại, không có ngã mạn, khéo thọ lời dạy dỗ, được lòng người nói.
Bồ Tát nầy thành tựu nhẫn như
vậy, thành tựu điều nhu như vậy, thành tựu tịch diệt như vậy, thành tựu nhẫn
điều nhu tịch diệt như vậy. Tịnh trị nghiệp của địa sau, khi tác ý tu hành,
thì được sự tinh tấn không ngừng nghỉ, tinh tấn không tạp nhiễm, tinh tấn
không thối chuyển, tinh tấn rộng lớn, tinh tấn vô biên, tinh tấn hẫy hừng,
tinh tấn không ai bằng, tinh tấn không thể hoại, tinh tấn thành thục tất cả
chúng sinh, tinh tấn khéo phân biệt đạo phi đạo.
Bồ Tát nầy tâm giới thanh tịnh,
thâm tâm không mất, ngộ hiểu sáng suốt, căn lành tăng trưởng, lìa cấu bẩn ô
trược thế gian, dứt các nghi hoặc, đầy đủ minh đoán, ưa thích sung mãn, được
đức Phật hộ niệm, vô lượng chí nguyện vui thích, thảy đều thành tựu.
Vị Bồ
Tát nầy thọ được sự lợi ích trợ giúp Ngài tu hành Bồ Tát đạo, trong tâm rất
cảm kích, biết ân đức nầy rất khó được, cũng biết làm thế nào để báo đáp ân
đức vô thượng đó. Tâm địa của Ngài rất hoà thiện, Ngài cùng ở với bất cứ ai,
cùng ở với nhau, đều làm cho người khác có cảm giác rất tốt, khiến cho vui
vẻ ôn hoà giống như vào mùa xuân. Chất trực của Ngài nhu hoà, tâm tánh thành
thật ngay thẳng, chẳng có tơ hào khiến cho người khác cảm giác khó chịu,
cũng chẳng có chỗ nào khiến cho người khác không dám gần gũi. Ngài chẳng
kiêu mạn đối với ai, đối với lời dạy của thiện tri thức Ngài đều rất vui
thích tiếp thọ, các đại Bồ Tát rất hoan hỉ được nghe giảng nói Kinh Hoa
Nghiêm. Vị Bồ Tát nầy có tư chất tốt lành như vậy, do đó thành tựu công đức
nhẫn Ba la mật, thành tựu phẩm đức thân tâm điều hoà mềm mại, đắc được vui
tịch diệt thường lạc ngã tịnh thanh tịnh không nhiễm. Nhẫn Ba la mật, điều
nhu tịch diệt như vậy, công phu tu hành như vậy đều thành tựu, do đó có thể
tiến vào Địa thứ năm – Nan thắng địa, chuyên tâm nhất chí tu học Địa thứ
năm. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát ngày đêm không giải đãi, tinh tấn tu học
Phật đạo không ngừng nghỉ. "Tinh tấn không tạp nhiễm", nghĩa là không giải
đãi, cũng không quá cấp tốc, không nhanh không chậm, bình đẳng hằng thường.
"Tinh tấn không thối chuyển", niệm không thối, hạnh không thối, vị không
thối nơi tự thừa. Hai điểm ở trên quan hệ về phương tiện tự lợi. "Tinh tấn
rộng lớn", tâm niệm rộng lớn, có tâm lợi tha. Rộng lớn đến tận hư không,
khắp pháp giới, đều là nơi và đối tượng của Ngài tu hành. "Tinh tấn vô
biên", phát nguyện nhiếp thọ vô biên chúng sinh, bố thí lợi ích khắp, giáo
hoá khiến cho họ tu hành. "Tinh tấn hẫy hừng", tuỳ thuận dạy dỗ, tinh tấn tu
học giống như lửa. "Tinh tấn không ai bằng", tinh tấn chẳng có ai bằng, và
không ai sánh được. "Tinh tấn không thể hoại", chẳng có bất cứ sức lực gì có
thể cản trở Ngài hoặc phá hoại sự tinh tấn của Ngài. "Tinh tấn thành thục
tất cả chúng sinh", tự mình tu Bồ Tát đạo, cũng có thể giáo hoá tất cả chúng
sinh tu Bồ Tát đạo, khiến cho căn lành của tất cả chúng sinh thành thục.
"Khéo phân biệt đạo phi đạo tinh tấn", khéo minh bạch lý giải, thế nào là
Phật đạo, thế nào là ma đạo, có trí huệ dứt nghi, có sức lực không sợ hãi
điều phục họ, tinh tấn chân chánh tu tập. Bổn tâm của vị Bồ Tát nầy tinh tấn
thanh tịnh rồi, thì tâm bồ đề của Ngài vĩnh viễn không thối chuyển, vĩnh
viễn không thất hoại. Ngài triệt để giác ngộ, lý giải, minh bạch. Căn lành
của Ngài ngày càng tăng trưởng, thoát khỏi ô nhiễm ác trược của thế gian.
Dứt trừ tất cả nghi hoặc quá khứ. Minh bạch những gì phải dứt trừ, những gì
phải nhiếp thọ, viên mãn đầy đủ, trong tâm sung mãn hoan hỉ vô hạn, mười
phương chư Phật đều đích thân hộ niệm vị Bồ Tát nầy. Chí nguyện vô lượng,
đều thành tựu vui mừng ở trong tự tánh – Đó là bổn tâm giới mãn túc quả.
Phật
tử ! Bồ Tát trụ Diệm huệ địa nầy, do nguyện lực, nên được thấy nhiều vị
Phật. Thấy nhiều trăm vị Phật, thấy nhiều ngàn vị Phật, thấy nhiều trăm ngàn
vị Phật, cho đến thấy nhiều trăm ngàn ức Na do tha vị Phật, đều cung kính
tôn trọng, thừa sự cúng dường. Y phục, toạ cụ, thức ăn uống, thuốc thang,
tất cả đồ tư sanh, đều đem dâng cúng. Cũng đem cúng dường tất cả chúng Tăng.
Đem căn lành nầy, thảy đều hồi
hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ở chỗ vị Phật đó, cung kính nghe
pháp, nghe rồi thọ trì, tu hành đầy đủ.
Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát trụ tại Diệm
huệ địa, do nguyện lực thuở xưa đã phát ra, cho nên được thấy rất nhiều vị
Phật. Được thấy bao nhiêu vị Phật ? Có thể thấy được hàng trăm vị Phật, hàng
ngàn vị Phật, hàng trăm ngàn vị Phật, cho đến có thể thấy được trăm ngàn ức
Na do tha vị Phật. Bồ Tát thấy Phật rồi, Ngài đều cung kính, tôn trọng những
vị Phật đó, hầu hạ phụng dưỡng những vị Phật đó, đem các thứ vật tốt nhất
dâng cúng lên những vị Phật đó. Đại khái là tất cả những vật dùng hằng ngày
như : Y phục để mặc, toạ cụ để ngồi, thức ăn uống thượng hạng, bổ dưỡng thân
thể, hoặc thuốc men trị bệnh, chẳng có gì mà không bố thí dâng cúng lên chư
Phật, đồng thời cũng đem những đồ vật đó dâng cúng lên các vị hiền Thánh
Tăng. Tu tập căn lành như vậy, hoàn toàn hồi hướng về quả vị Vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Ở tại đạo tràng của chư Phật thuyết pháp, dùng thái độ cung
kính nghe pháp, chỉ cần nghe được chánh pháp rồi, thì Ngài thọ dụng chiếu cứ
tu hành, cung hành thực tiễn.
Lại
nữa, ở trong pháp của các đức Phật đó, xuất gia tu đạo. Lại càng tu trị thâm
tâm tin hiểu, trải qua vô lượng trăm ngàn ức Na do tha kiếp, khiến cho các
căn lành, càng thêm sáng tịnh.
Phật
tử ! Ví như thợ vàng, rèn luyện vàng thật, làm đồ trang sức. Những kim khí
khác không thể sánh kịp. Đại Bồ Tát cũng lại như vậy, trụ nơi Địa nầy hết
thảy căn lành, căn lành Địa thấp hơn không thể sánh kịp.
Như báu ma ni thanh tịnh quang
luân, hay phóng quang minh, các châu báu khác không thể sánh kịp. Gió mưa
các duyên khác đều không thể hoại được. Đại Bồ Tát cũng lại như vậy, trụ nơi
Địa nầy, Bồ Tát địa thấp hơn không thể sánh kịp, các ma phiền não đều không
thể hoại được.
Bồ Tát nầy ở trong bốn pháp
nhiếp, thì thiên nhiều về đồng sự, trong mười Ba la mật, thì thiên nhiều về
tinh tấn. Còn các hạnh khác, chỉ tuỳ sức tuỳ phần mà tu hành.
Vị Bồ
Tát nầy ở tại Diệm huệ địa, nghe pháp thọ trì, tu hành đầy đủ, ở trong pháp
ích của chư Phật, xả tục xuất gia. Ngài đoạn trừ các tham dục, lìa khỏi các
ái lạc, chuyên tu vô thượng Phật đạo. Vì công phu tu trị ngày càng tăng
trưởng, đối với pháp vi diệu vô thượng của chư Phật nói, từ nơi thâm tâm tin
phục, lại cũng tìm không ra tơ hào hoài nghi. Trải qua vô lượng kiếp, khiến
cho căn lành bồ đề của mình tu tập, ngày càng sáng rỡ tinh thuần.
Các vị đệ tử của Phật ! Tu trị như vậy, giống như thợ luyện vàng, lấy cát
vàng từ dưới mỏ vàng lên, rèn luyện thành thuần vàng, đem ra làm đồ trang
sức. Nếu vàng đó chưa rèn luyện, thì tuyệt đối không thể giống như vàng đã
luyện rồi. Bồ Tát Tam địa ở trước không bằng với vị Bồ Tát nầy. Đây cũng
giống như bảo châu ma ni, quang luân thanh tịnh, có thể phóng ra ánh sáng
rực rỡ, ánh sáng đó, cũng không phải báu vật khác có thể có được. Liền khiến
cho các nhân duyên mưa gió, cũng không thể làm tổn hoại được ánh sáng của
bảo châu ma ni được. Đại Bồ Tát kiên cố giống như ánh sáng châu ma ni. Bồ
Tát trụ ở ba địa trước, công phu tu trị của các Ngài, không bằng Bồ Tát Tứ
địa nầy. Bất cứ thiên ma ngoại đạo hoặc bất cứ phiền não bên ngoài nào đến,
đều không thể phá hoại tâm định của Ngài, làm lay động được ý chí của Ngài.
Khi vị Bồ Tát nầy dùng bốn pháp nhiếp độ chúng sinh, thì dùng nhiều phương
pháp đồng sự. Khi tu mười Ba la mật, thì tu nhiều pháp môn tinh tấn Ba la
mật. Ngoài ra ba pháp nhiếp kia và chín Ba la mật kia, thì không phải là
không tu, mà chỉ là tuỳ sức lực của mình, và duyên phận mà thôi.
Phật
tử ! Đó là lược nói về Địa thứ tư Diệm huệ địa của đại Bồ Tát. Bồ Tát trụ
địa nầy, phần nhiều làm Dạ Ma Thiên Vương. Dùng phương tiện khéo léo, hay
trừ thân kiến các hoặc của chúng sinh, khiến cho họ trụ chánh kiến. Bố thí,
ái ngữ, lợi hành, đồng sự, như vậy làm tất cả các nghiệp, đều không lìa niệm
Phật, không lìa niệm pháp, không lìa niệm Tăng, cho đến không lìa niệm đầy
đủ nhất thiết chủng trí, nhất thiết trí.
Bồ
Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Đây là là lược
nói về cảnh giới tu hành địa thứ tư Diệm huệ địa của đại Bồ Tát. Bồ Tát ở
tại quả vị nầy, đa số đều làm Dạ Ma Thiên Vương. Ngài dùng đủ thứ phương
tiện khéo léo, để tiêu trừ thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới kiến
thủ, tà kiến, các thứ mê hoặc của chúng sinh, khiến cho họ trụ vào chánh
pháp. Ngài dùng bốn pháp nhiếp - bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, làm tất
cả nghiệp lành, đều không lìa khỏi công đức niệm Phật, không lìa khỏi pháp
bảo thâm sâu vô thượng, không lìa khỏi ngưỡng mộ hiền Thánh Tăng thanh tịnh.
Cho đến tư duy bậc nhất thiết trí, nhất thiết trí huệ tối thượng thù thắng.
Lại
nghĩ như vầy, tôi sẽ ở trong tất cả chúng sinh là thượng thủ, là thắng, là
thù thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng, là vô thượng, cho đến là bậc y
chỉ của nhất thiết trí.
Nếu Bồ Tát nầy phát tâm siêng
tinh tấn, trong khoảng một niệm, vào được ức số tam muội, thấy được ức số vị
Phật, biết được thần lực của ức số vị Phật. Có thể chấn động ức số thế giới,
cho đến có thể thị hiện ức số thân. Mỗi mỗi thân, có ức số Bồ Tát làm quyến
thuộc.
Nếu dùng nguyện lực thù thắng của
Bồ Tát, tự tại thị hiện, thì hơn số trên đây, trăm ngàn ức kiếp, cho đến
trăm ngàn ức Na do tha kiếp, không thể đếm biết được.
Vị Bồ
Tát tại Diệm huệ địa nầy, lại suy gẫm như vầy, tôi phải ở trong hết thảy
chúng sinh lãnh đạo họ. Tôi phải có năng lực hơn người, có trí huệ đặc biệt,
đầu óc sáng suốt, có tư tưởng vi diệu hơn người, tất cả biểu hiện phải cao
hơn người bình thường. Thậm chí phải có trí huệ hơn tất cả mọi người, càng
phải có trí huệ cao hơn một bậc, để làm chỗ nương tựa cho những người có
trí. Nếu như vị Bồ Tát nầy tiến thêm một bước nữa, tâm dũng mãnh tinh tấn,
thì có thể ở trong khoảng một niệm, vào được ức số tam muội chánh định, có
thể thấy được ức số vị Phật, cũng biết được ức số thần thông. Ngài có thể
chấn động ức số thế giới, cho đến có thể biến hoá ức số thân, thị hiện khắp
mọi nơi. Trong mỗi thân thể, Ngài lại có thể biến hoá ra ức số Bồ Tát làm
quyến thuộc. Nếu nói về dùng nguyện lực thù thắng của vị Bồ Tát nầy đã phát
ra trong quá khứ, thì rất tự tại, an nhiên biểu hiện sự tích thần diệu,
nhiều hơn gấp bội trên đây, cũng chẳng có gì khó. Thị hiện như vậy, cùng tận
trăm kiếp, ngàn kiếp, cho đến trăm ngàn ức Na do tha kiếp, cũng không cách
chi nói hết được, đếm được số mục chính xác.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng :
Bồ Tát
đã tịnh Địa thứ ba
Lại quán
chúng sinh thế pháp giới
Không
giới thức giới và tam giới
Tâm đều
hiểu rõ nhập vào được.
Lúc đó,
Bồ Tát Kim Cang Tạng, sợ rằng đại chúng có chỗ không nghe rõ ràng. Ngài bèn
nương đại oai thần lực của mười phương chư Phật, quán sát tất cả nhân duyên
của chúng sinh, khiến cho người chưa trồng căn lành, gieo trồng xuống căn
lành; người đã trồng căn lành, làm cho tăng trưởng; người căn lành đã tăng
trưởng, khiến cho thành thục; người căn lành đã thành thục, khiến cho họ
được giải thoát. Cho nên Ngài muốn dùng phương pháp kệ tụng để thuật lại
nghĩa lý Kinh trường hàng vừa nói ở trên. Bồ Tát đã viên mãn ba địa ở trước,
đã chứng được quả vị thanh tịnh, kế tiếp Ngài lại quán sát chúng sinh giới,
thế giới, pháp giới, hư không giới, thức giới, và tam giới - dục giới, sắc
giới, vô sắc giới. Tâm của Ngài đã minh bạch, nên minh bạch làm thế nào để
tiến vào Địa thứ tư.
Mới
lên Diệm địa tăng thế lực
Sinh nhà
Như Lai vĩnh không lùi
Nơi Phật
Pháp Tăng tin không nghi
Quán
pháp vô thường chẳng sinh khởi.
Bồ Tát
tiến vào Địa thứ tư, càng tăng thêm đạo nghiệp, tăng ích trí huệ, tăng thêm
thế lực và quang minh, càng tăng thêm đại đạo tâm của Bồ Tát. Đến được Địa
thứ tư rồi, liền sinh vào trong gia tộc của Phật, vĩnh viễn không thối lùi
nơi Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ Tát chứng được quả vị Địa thứ tư,
tâm tin đối với Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo càng sâu dày, càng vững chắc, tín
căn của Ngài vĩnh viễn không bị thiên ma ngoại đạo phá hoại. Ngài quán sát
tất cả các pháp đều là vô thường, chẳng có sinh khởi, cũng chẳng có hiện
tượng huỷ hoại.
Quán thế
thành hoại nghiệp sinh ra
Sinh tử,
Niết Bàn, cõi, các nghiệp
Quán
tiền hậu tế cũng quán hết
Tu hành
như vậy sinh nhà Phật.
Bồ Tát
Quán sát thế giới biến hoá : thành, trụ, hoại, không, đều do nghiệp quả của
chúng sinh mà sinh ra. Trong chúng sinh có : sinh, chết, có chứng được Niết
Bàn, lại có sinh đến cõi Phật nào đó, đây cũng là do nghiệp quả của mỗi
người khác nhau, nên nghiệp báo cảm ra cũng khác nhau. Quán tiền tế không
thể được, quán hậu tế cũng không thể được, quán trước mắt cũng không thể
được, hết thảy đều quán hết. Tu hành giống như vậy, sẽ được sinh vào trong
gia tộc của Phật, tức cũng là chứng được quả vị Phật.
Được
pháp đó rồi tăng từ mẫn
Càng
thêm siêng tu bốn niệm xứ
Thân thọ
tâm pháp quán trong ngoài
Thế
gian tham ái đều trừ bỏ.
Bồ Tát
chứng được quả vị Phật rồi, đối với các pháp thật tướng đã minh bạch thật
sự, do đó tâm từ bi thương xót đối với chúng sinh càng tăng thêm. Lúc đó,
Ngài bèn siêng tu học pháp môn bốn niệm xứ:
1.
Quán thân bất tịnh.
2.
Quán thọ thị khổ.
3.
Quán tâm vô thường.
4.
Quán pháp vô ngã.
Bên trong quán tâm, không thấy tâm; ngoài quán hình sắc, chẳng thấy hình
sắc; xa xa quán vật, chẳng thấy có vật. Sự tham của người thế gian, vị Bồ
Tát nầy cũng không tham; sự luyến ái của người thế gian, vị Bồ Tát nầy cũng
không luyến ái, Ngài trừ khử sạch tâm ái dục của người của người thế gian,
vì trừ khử sạch tâm tham ái của người thế gian, nên sinh ra một thứ định
lực. Có định lực rồi, thì không còn bị tất cả ngoại cảnh làm lay động. Làm
thế nào mới có thể có được công phu nầy ? Trước hết, phải tu pháp môn bốn
niệm xứ. Do quán thân có chín lỗ thường chảy ra đồ bất tịnh - mắt có ghèn,
mũi có nước mũi, tai có cức váy, miệng có đàm, đại tiện, tiểu tiện. Thân thể
nhơ nhớp như vậy, có gì mà tham luyến ? Lại quán hằng ngày thường nhiếp thọ,
tất cả cảm thọ và hưởng thụ về vật chất, kỳ thật đều là nhân tố trong sự
khổ. Quán tâm vô thường: Niệm niệm sinh diệt, chẳng có gì là vĩnh hằng. Quán
pháp vô ngã: Các pháp từ xưa nay, thường tự tướng tịch diệt, không thể dùng
lời lẽ để biểu đạt, sao lại có cái ta? Bồ Tát quán sát tu tập pháp môn bốn
niệm xứ, trừ khử sạch năm dục và tham ái.
Bồ
Tát tu hạnh bốn chánh cần
Ác pháp
trừ diệt thiện tăng trưởng
Thần túc
căn lực đều khéo tu
Thất
giác bát đạo cũng như vậy.
Bồ Tát
tu hành hạnh bốn chánh cần, tức là điều ác đã sinh ra, khiến dừng lại, điều
ác chưa sinh, khiến cho đừng sinh; điều thiện chưa sinh, khiến cho sinh ra,
điều thiện đã sinh, khiến cho tăng trưởng. Nói tóm lại, tức là nghiệp ác
hoặc niệm ác chưa sinh ra, thì phải khiến cho đừng sinh ra, như đã sinh ra
thì khiến cho nó tiêu diệt. Hết thảy nghiệp lành chưa sinh ra, thì khiến cho
nó sinh ra, đã sinh ra thì khiến cho tăng trưởng thêm. Tiến thêm một bước
nữa thì tu tập bốn như ý túc, năm căn, năm lực. Đồng thời, đối với bảy giác
chi, bát chánh đạo, cũng nỗ lực siêng năng tu tập. Ở trên là ba mươi bảy
phẩm trợ đạo.
Vì
độ chúng sinh tu hạnh đó
Nguyện
xưa hộ trì từ bi trước
Cầu nhất
thiết trí và cõi Phật
Cũng
niệm mười lực của Như Lai.
Vì muốn
độ tất cả chúng sinh, cho nên phải tu pháp môn ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Tâm
đại nguyện thuở xưa mà Bồ Tát đã phát ra, nay thành tựu căn lành công đức,
đều nhờ tâm từ bi sâu dày mới đắc được. Vì cầu nhất thiết trí huệ của Phật
và cõi nước Phật, chẳng những phải luôn luôn dụng công tu hành, mà còn phải
luôn luôn nghĩ nhớ đến mười thứ thần thông oai lực của Phật.
Bốn
vô sở uý pháp bất cộng
Tướng
tốt thù đặc âm thanh hay
Cũng
cầu đạo mầu nơi giải thoát
Và đại
phương tiện tu các hạnh.
Bồ Tát
chẳng những phải tu hành bốn điều không sợ hãi và mười tám pháp bất cộng, mà
còn phải tu tướng tốt thù thắng, cùng với âm thanh hay êm tai. Đồng thời
cũng cầu nghiệp không thể nghĩ bàn, đắc được thiền định và giải thoát. Vì
đắc được những pháp môn phương tiện tối đại tối thắng đó, cho nên đối với
những hạnh môn ở trên đều phải tinh tấn tu học.
Thân
kiến làm đầu sáu mươi hai
Ta
và của ta vô lượng thứ
Uẩn giới
xứ thảy các chấp trước
Trong
Địa thứ tư lìa tất cả.
Bồ Tát
nói : "Phải trừ khử sáu mươi hai thứ tà kiến, trước hết phải trừ khử thân
kiến trước". Ta và của ta có vô lượng vô biên, đủ thứ sự chấp trước ngã
kiến; còn có năm uẩn, mười tám giới, mười hai xứ những sự chấp trước ái thủ
nầy, Bồ Tát minh bạch đều là không. Khi Ngài tu tập pháp môn Địa thứ tư, thì
Ngài đều lìa bỏ tất cả.
Như
Lai quở trách hạnh phiền não
Là nhân
khổ hoạn đều dứt trừ
Bậc trí
tu hành hạnh thanh tịnh
Vì độ
chúng sinh tu tất cả.
Phàm là
bị Phật quở trách, vô minh phiền não không hoan hỉ, và tư tưởng hành vi, đều
phải triệt để dứt trừ. Vì phiền não đối với con người chẳng có tốt lành chút
nào, cho nên phải dứt trừ. Người có trí huệ, thì tu nghiệp thanh tịnh, là
điều Như Lai hoan hỉ khen ngợi nhất. Vì độ chúng sinh, nên phải tu tất cả
nghiệp lành.
Bồ
Tát siêng tu không giải đãi
Liền
được đầy đủ cả mười tâm
Chuyên
cầu Phật đạo không nhàm mỏi
Chí
mong thọ chức độ chúng sinh.
Bồ Tát
là bậc tu hành xả mình vì người, Ngài chỉ biết lợi ích chúng sinh, chưa từng
nghĩ về mình. Tư tưởng hành vi của Ngài ngược lại với những người phàm phu.
Bồ Tát chẳng tham vui một mình, hoàn toàn lấy niềm vui của chúng sinh làm
vui. Ngài chẳng lấy sự thương ghét làm thương ghét, mà là luôn luôn thuận
chúng sinh lấy sự hoan hỉ của chúng sinh làm hoan hỉ. Chỗ chấp trước của
phàm phu Ngài chẳng chấp trước. Đó mới là bậc chân thật tu hành Bồ Tát đạo.
Chỉ cần có thể lợi người quên mình, ai ai cũng đều có thể hành Bồ Tát đạo.
Bồ Tát thọ khổ cũng chẳng cho rằng khổ, tu hành gian nan cũng không sợ thối
tâm. Ngài chỉ vì độ tất cả chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được vui, chấm
dứt sinh tử. Bồ Tát biết chúng sinh đang ở trong khổ nạn, cần cầu cứu độ. Bồ
Tát vì cầu được trí huệ độ hoá chúng sinh, ngày đêm thân tâm tinh tấn không
ngừng, thậm chí ở trong mộng, Ngài cũng làm công việc giáo hoá chúng sinh.
Phàm phu nhìn thấy Bồ Tát đang chìm sâu trong giấc ngủ, kỳ thật Ngài đã hoá
thân ngàn vạn ức, đến các cõi nước phương khác để độ chúng sinh. Cảnh giới
của Bồ Tát không thể nghĩ bàn, chẳng phải phàm phu tục tử có thể biết được,
minh bạch được, cho nên : “Bồ Tát siêng tu không giải đãi”, lúc nào cũng
tinh tấn. Vì tinh tấn không ngừng, nên viên mãn đầy đủ mười thứ tâm bồ đề
tinh tấn. Bồ Tát chuyên tâm nhất chí siêng cầu Phật đạo, không lãng phí chút
thời gian nào, chưa từng nghỉ ngơi, càng không nhàm mỏi. Chí nguyện của Ngài
là hy vọng tương lai sẽ thành Phật đạo, chứng được quả Phật, thọ chức vị
Pháp Vương, thọ ngôi quán đảnh, sau đó trở lại con thuyền từ bi, rộng độ
chúng sinh.
Cung
kính tôn đức tu hành pháp
Biết ơn
dễ bảo không hờn giận
Xả mạn
lìa xiểm tâm điều nhu
Lại thêm
tinh cần không thối chuyển.
Bồ Tát
cung kính mười phương chư Phật, tôn trọng bậc thiện tri thức đức cao vọng
trọng, tu tập tất cả pháp lành. Chúng ta cũng phải cung kính tôn trọng chư
Phật Bồ Tát và thiện tri thức, lấy ân đức báo đáp các Ngài. Tu hành Bồ Tát
đạo, đầy đủ chánh tri chánh kiến, cũng phải giáo hoá tất cả chúng sinh,
khiến cho họ cũng khôi phục lại chánh tri chánh kiến. Giáo hoá chúng sinh,
không lựa dễ độ hay khó độ, lấy thiện bỏ ác, mà là đối đãi bình đẳng như
nhau, không bỏ một chúng sinh nào. Dù chúng sinh nào ác nhất, Bồ Tát cũng
phát nguyện đến giáo hoá họ, khiến cho họ có thể thành Phật đạo. Bồ Tát giáo
hoá chúng sinh, dùng từ bi hỉ xả đối đãi với tất cả chúng sinh đáng thương
xót, Ngài chưa từng nóng giận đối với chúng sinh. Vì một khi nóng giận thì
sẽ khởi tâm nhàm bỏ. Bồ Tát giáo hoá chúng sinh, đều dùng tâm nhẫn nhục,
thái độ hoà mục. Như vậy giáo hoá chúng sinh mới có hiệu quả. Bồ Tát xả bỏ
tâm cống cao ngã mạn, chẳng giống như phàm phu tự cho rằng cao hơn người một
bậc, đối với người cũng không thể hiềm nghèo thích giàu, càng không thể xiểm
nịnh quý nhân có quyền có thế. Tâm tình của Ngài thường nhu hoà, từ bi, bình
đẳng. Công phu tu hành ngày càng tinh tấn, siêng tu giới định hiệ, diệt trừ
tham sân si. Vĩnh viễn không thối chuyển về hàng nhị thừa, không thối chuyển
về phàm phu, càng không thối chuyển đoạ vào ba đường ác. Đó là niệm không
thối, hạnh không thối, vị không thối.
Bồ
Tát trụ Diệm huệ địa nầy
Tâm Ngài
thanh tịnh mãi không mất
Ngộ hiểu
quyết định thiện tăng trưởng
Lưới
nghi cấu trược thảy đều lìa.
Bồ Tát
trụ tại quả vị Diệm huệ địa, Ngài đã đắc được trí huệ thanh tịnh, trong tâm
chẳng có chút tạp niệm nào. Trí huệ thanh tịnh đó, vĩnh viễn không bao giờ
mất đi. Chẳng có tâm nhiễm ô, thì sẽ không sinh ra dục niệm. Bất cứ cảnh
giới gì đến, Ngài cũng đều không thấy khác nghĩ lệch, cho nên nói không mất.
Vì chẳng có tạp niệm, tâm không sinh ô nhiễm, thì trí huệ quang minh sẽ hiện
tiền. Trí huệ đó là đại trí huệ, chân trí huệ, chẳng phải là thế trí biện
thông. Chân trí huệ có thể biết rõ thị phi, nhận thức được thế nào là đạo,
thế nào chẳng phải đạo, gì là pháp, gì là phi pháp. Chân trí huệ tức là
trạch pháp nhãn, có trạch pháp nhãn, thì không thể bị pháp thế gian làm mê
hoặc. Căn lành sẽ ngày càng tăng trưởng. Đối với Phật pháp đều minh bạch
nhận thức được, chẳng có chút lưới nghi nào, cũng chẳng hoài nghi. Hết thảy
nghi hoặc và đủ thứ tư tưởng không tốt, ý niệm không thuần tịnh trong quá
khứ, đều không còn nữa, đều đã xa lìa.
Địa
nầy Bồ Tát thắng trong người
Cúng Na
do tha vô lượng Phật
Lắng
nghe chánh pháp cũng xuất gia
Không
thể phá hoại như vàng thật.
Bồ Tát
tu chứng được Diệm huệ địa, là tối thù thắng nhất trong loài người. Quá khứ
Ngài đã từng cúng dường vô lượng Na do tha các vị Phật. Ngài ở trong pháp
hội của mười phương chư Phật, và ở trong pháp hội của mười phương các vị
pháp sư, lắng nghe chư Phật và các vị pháp sư nói chánh pháp rồi, bèn phát
tâm xuất gia. Ngài dụng công tu hành, cũng giống như vàng thật, không sợ khó
khăn nào, cũng không bị bất cứ trở ngại phá hoại nào.
Bồ
Tát trụ đây đủ công đức
Dùng trí
phương tiện tu hành đạo
Chẳng vì
các ma tâm thối chuyển
Ví như
báu đẹp không thể hoại.
Khi Bồ
Tát trụ tại Diệm huệ địa, đã đầy đủ vô lượng công đức. Dùng đại trí huệ của
Ngài đắc được, phương tiện khéo léo để tu hành Bồ Tát đạo. Ngài không thể do
người, sự việc, thời, địa, vật bên ngoài làm chướng ngại, không thể bị cảnh
giới huyễn hoá làm lay chuyển, cũng chịu đựng được sự khảo nghiệm của tà ma
ngoại đạo, những cảnh giới đó đều không làm cho Ngài thối tâm hoặc thay đổi
ý chí. Giống như báu vật tốt đẹp nhất, chẳng có bất cứ vật gì phá hoại được.
Trụ
đây thường làm chủ Dạ Ma
Nơi pháp
tự tại chúng tôn kính
Khắp hoá
quần sinh trừ ác kiến
Chuyên
cầu Phật trí tu nghiệp lành.
Bồ Tát
trụ tại Diệm huệ địa thường làm Thiên Vương Trời Dạ Ma, Ngài đối với tất cả
các pháp, đều thọ dụng nhậm vận tự tại, cho nên đại chúng trời người đều tôn
kính Ngài. Ngài khắp giáo hoá tất cả chúng sinh, khiến cho họ trừ khử tà tri
tà kiến, khôi phục lại chánh tri chánh kiến. Ngài chuyên tâm cầu trí huệ
giống như đức Phật, chuyên tu tập tất cả nghiệp lành.
Bồ
Tát chuyên cần thêm tinh tấn
Được tam
muội thảy đều ức số
Nếu dùng
nguyện trí lực mà làm
Vượt hơn
số đây không biết được.
Bồ Tát
tinh tấn chuyên cần, tăng thêm nỗ lực, tu học tất cả pháp lành, đắc được
chánh định chánh thọ, nhiều hàng trăm ngàn vạn ức. Nếu dùng nguyện lực và
trí huệ của Ngài đã phát ra trong quá khứ, và công phu tu hành mà nói, thì
sẽ vượt hơn số mục vừa nói ở trên, chẳng có ai có thể biết được tình hình sự
thật của Ngài.
Bồ
Tát Địa thứ tư như vậy
Tu hành
thanh tịnh đạo vi diệu
Công đức
nghĩa trí đều tương ưng
Tôi vì
Phật tử đã tuyên nói.
Quá
trình tu hành của Bồ Tát đạt đến giai đoạn Địa thứ tư như vậy, Ngài tu hành
đều là hạnh môn thanh tịnh, chứng được đều là Phật đạo vô thượng vi diệu.
Tích tụ căn lành công đức, chứng ngộ nghĩa thú cao tột, hiển bày trí huệ thù
thắng, từng chữ từng câu, đều tương ưng với nhau. Tôi - Bồ Tát Kim Cang
Tạng, hiện tại đã tuyên nói xong với các vị đệ tử của Phật.
|