|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN BA MƯƠI CHÍN
PHẨM THẬP ĐỊA THỨ HAI MƯƠI SÁU
THỨ MƯỜI PHÁP VÂN ĐỊA
Na
do tha chúng Tịnh Cư Thiên
Nghe các thắng hạnh trong địa nầy
Tâm hoan hỉ nhảy múa trên không
Thảy đều kiền thành cúng dường Phật.
Tịnh Cư Thiên: Còn có tên là Ngũ Tịnh Cư Thiên,
là nơi sinh về của các bậc Thánh chứng quả Bất
hoàn Đệ tứ thiền thuộc về sắc giới, chỉ có Thánh
nhân ở, không có các loài nào khác nữa. Cõi trời
nầy có năm nơi:
1. Vô Phiền Thiên: Nơi không có tất cả mọi tạp
phiền.
2. Vô Nhiệt Thiên: Nơi không có tất cả mọi nhiệt
não.
3. Thiện Hiện Thiên: Nơi hay hiện thắng pháp.
4. Thiện Kiến Thiên: Nơi hay thấy thắng pháp.
5. Sắc Cứu Kính Thiên: Nơi sắc thiên tối thắng.
Thiên chúng của cõi Tịnh Cư Thiên rất nhiều,
không thể thống kê được. Na do tha: Là một trong
mười sáu số mục lớn của Ấn Độ, ý nghĩa là không
biết được chính xác số mục. Những vị Thiên chúng
đó, nghe Bồ Tát Kim Cang Tạng nói cảnh giới
thắng hạnh của Cửu địa và sự biểu hiện thực tại
của Bồ Tát Cửu địa phát tâm tinh tấn tu hành,
cùng với sự thành tựu quả vị thù thắng, thần
thông diệu dụng đủ thứ các thắng hạnh rồi, trong
tâm họ hoan hỉ vui mừng đến cực điểm, nên mọi
người đều nhảy múa. Tịnh Cư Thiên vốn ở trong hư
không, do công đức tịnh nghiệp của người trời,
mà thần thông hoá hiện ra một cõi trời an lạc,
chẳng có sự giới hạn, cũng chẳng có một thật
thể. Thiên chúng hoan hỉ nhảy múa, vạn phần kiền
thành cung kính, dùng tâm ý rất khẩn thiết biểu
hiện sự cúng dường chư Phật - Phật Thích Ca Mâu
Ni, Tỳ Lô Giá Na Phật và mười phương ba đời chư
Phật Thế Tôn.
Chúng
Bồ Tát không thể nghĩ bàn
Cũng ở trong không đại hoan hỉ
Đều thắp hương duyệt ý tối thượng
Xông khắp chúng hội khiến thanh tịnh.
Lúc đó, không những Thiên chúng của trời Tịnh Cư
hoan hỉ nhảy múa, mà chúng Bồ Tát trong pháp hội
nầy, đến từ mười phương cõi nước – không cách gì
biết được Bồ Tát số bao nhiêu. Chư Phật dùng
Phật nhãn quán, cũng không biết được có bao
nhiêu, cho nên nói “Chúng Bồ Tát không thể nghĩ
bàn”. Tuy các Ngài có định lực “Như như bất
động, rõ ràng sáng suốt”, nhưng lúc đó cũng bị
tâm hoan hỉ giao động, mà nhảy múa trong hư
không. Đồng thời các Ngài đều thắp lên hương
thơm trân quý tối thượng, mùi thơm của hương đó,
khiến cho người ngửi được tâm rất sung sướng,
mỗi vị người trời và Bồ Tát thân tâm đều thanh
tịnh.
Tự
Tại Thiên Vương và Thiên chúng
Vô lượng ức số tại hư không
Khắp rải y trời cúng dường Phật
Trăm ngàn vạn thứ phất phới rơi.
Lúc đó, Thiên Vương của cõi trời Đại Tự Tại và
Thiên chúng cõi trời Đại Tự Tại, cũng nhiều vô
lượng ức số, họ cũng nhảy múa ở trong hư không,
dùng y trời quý báu để cúng dường chư Phật. Có
trăm vạn thứ y trời, rơi xuống từ trong hư
không, giống như “Trời mưa hoa báu, phất phới
rơi xuống”. Bất quá đây là “Trời mưa y báu, phất
phới rơi xuống”.
Thiên
chúng thể nữ vô lượng số
Thảy đều hân hoan cúng dường Phật
Đều tấu đủ thứ âm nhạc hay
Đều dùng lời nầy để khen ngợi:
Lúc đó, chư Thiên - Trời Tịnh Cư, trời Đại Tự
Tại, còn có các Thiên nữ cõi trời khác, cũng
không biết số là bao nhiêu, họ hoan hỉ nhảy múa,
diễn tấu âm nhạc hay nhất, hợp xướng vang ra âm
thanh rất hoà nhã, dùng để biểu hiện cúng dường
chư Phật, và cũng dùng kệ tán thán khen ngợi
mười phương chư Phật.
Thân
Phật an toạ một cõi nước
Tất cả thế giới đều hiện thân
Thân tướng đoan nghiêm vô lượng ức
Pháp giới rộng lớn đều đầy khắp.
Các Thiên nữ tán thán khen ngợi vô lượng công
đức của Phật, tướng tốt thù thắng vi diệu, phước
huệ đầy đủ. Thân Phật an nhiên tĩnh toạ ở trong
một cõi nước. Kỳ thật, khi mỗi vị Phật ra đời
thị hiện thành đạo, thì chẳng phải chỉ trong một
nước; mà tất cả những thế giới khác cũng đồng
thời thị hiện thành Phật, hiển hiện tướng trạng
thành đạo. Thân tướng khi Phật thị hiện thành
đạo, thì đoan nghiêm vô thượng, tướng tốt vô
lượng ức khó có thể hình dung hết được. Trong
các cõi nước rộng lớn vô biên tận cùng pháp
giới, chẳng có một hạt bụi nào mà chẳng đầy khắp
thân Phật tướng tốt đoan nghiêm, cho nên nói
“Pháp giới rộng lớn đều đầy khắp”.
Nơi
một lỗ lông phóng quang minh
Diệt khắp tối phiền não thế gian
Hạt bụi cõi nước biết được số
Số quang minh nầy không dò được.
Trong mỗi lỗ lông trên thân Phật, đều phóng đại
quang minh, mỗi mỗi quang minh lại hoá ra vô
lượng quang minh. Vô lượng quang minh lại không
lìa khỏi một quang minh, cho nên nói là “đại
quang minh”. Diệu dụng của quang minh nầy là
diệt trừ khắp phiền não đen tối của thế gian.
Chúng sinh thấy được quang minh nầy, thì phá trừ
đen tối lớn nhất của họ là tham sân si. Chẳng
còn tham sân si, thì chẳng còn phiền não. Chẳng
còn phiền não thì chẳng còn đen tối, tức là ánh
sáng, tức là thân Phật đầy khắp pháp giới. Hạt
bụi trong cõi nước mười phương thế giới, có thể
tính đếm được rõ ràng, nhưng đối với quang minh
của chư Phật phóng ra, rốt ráo có bao nhiêu ?
Rốt ráo có thể chiếu bao xa ? Rốt ráo chiếu sáng
bao nhiêu nơi ? Chẳng có ai có thể biết được,
chẳng có ai có thể dùng ví dụ nói ra được rõ
ràng, càng không thể trắc lượng được nó.
Hoặc
thấy Như Lai đủ các tướng
Chuyển bánh xe chánh pháp vô thượng
Hoặc thấy du hành các cõi Phật
Hoặc thấy tịch nhiên an bất động.
Phật xuất hiện ra đời, thị hiện tướng trạng, tuỳ
theo phẩm loại chúng sinh mà thấy khác nhau. Có
chúng sinh nhìn thấy Phật đầy đủ ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đang ở đó chuyển
bánh xe chánh pháp vô thượng, giáo hoá chúng
sinh. Hoặc có chúng sinh lại thấy Phật du hành
đến mười phương cõi nước chư Phật, làm đại Phật
sự. Hoặc có chúng sinh nhìn thấy Phật đang an
nhiên tĩnh toạ ở đó, an ổn bất động.
Hoặc
hiện ở cung trời Đâu Suất
Hoặc hiện hạ sinh vào thai mẹ
Hoặc hiện trụ thai hoặc xuất thai
Đều khiến thấy trong vô lượng cõi.
Hoặc có chúng sinh nhìn thấy Phật ở tại cung
trời Đâu Suất, đang ở đó hậu bổ Phật vị. Hoặc có
chúng sinh nhìn thấy Phật sắp hàng sinh xuống
nhân gian, ở tại đó quán sát nhân duyên, tìm
dòng dõi sinh vào, và tuyển chọn một người có
đại phước đức căn lành, để làm Phật mẫu cho Ngài
thị hiện, sau đó nhập vào thai mẹ. Trụ thai mười
tháng, xuất thai, tướng trạng hoàn toàn hợp với
người thường sinh ra. Vì bổn ý của Phật là muốn
cho người thế gian biết Phật cũng là một người
phàm, trải qua tu hành Phật đạo, mà sau đó chứng
ngộ, thành vị Phật công đức căn lành viên mãn
đầy đủ. Ở trong kinh điển tuy nói là Phật thừa
nguyện trở lại, nhưng tám tướng thành đạo là thị
hiện cho chúng sinh thấy. Khi Ngài ở trong thai
mẹ, vẫn chuyển đại pháp luân, vì tất cả chúng
sinh quỷ thần thuyết pháp, làm đại Phật sự. Đó
là cảnh giới của Bồ Tát, thần thông diệu dụng
của Phật. Đối với lối nói nầy, bất tất phải đi
nghiên cứu, cũng không cần sinh hoài nghi, đây
chẳng phải điều mà phàm phu hiểu được. Phật thị
hiện các thứ hiện tượng trên, chẳng giới hạn
trong một cõi nước, Ngài khiến cho hết thảy
chúng sinh trong cõi nước chư Phật mười phương,
đều thấy được.
Hoặc hiện xuất gia tu thế đạo
Hoặc hiện đạo tràng thành Chánh giác
Hoặc hiện thuyết pháp hoặc Niết Bàn
Khiến khắp mười phương thảy đều thấy.
Có chúng sinh nhìn thấy Phật thị hiện tướng một
vị xuất gia Tỳ Kheo, Ngài đang ở tại thế gian tu
đạo khó nhẫn nhục, đạo khó hành, tức cũng là đạo
chúng sinh khó tin. Hoặc lại thấy Phật ở trong
đạo tràng của cõi nước nào đó, ngồi trên kim
cang toà dưới cội bồ đề thành Chánh giác - chứng
đạo thành Phật. Hoặc lại thấy Phật hiện thân
đang thuyết pháp, giáo hoá các đại Bồ Tát. Hoặc
lại thấy Phật thị hiện sắp vào Niết Bàn. Các
tướng ở trên là tướng trạng tám tướng thành đạo
một đời của Phật. Phật dùng thần thông diệu dụng
công đức thành tựu của Ngài, khiến cho chúng
sinh khắp mười phương thế giới, thảy đều nhìn
thấy được những cảnh giới nầy. Mỗi chúng sinh
đều cảm thấy Phật đối với mình thuyết pháp, cũng
giống như mặt trời chiếu sáng khắp thế giới,
khiến cho hết thảy hữu tình vô tình, đều cảm
thấy mặt trời đang chiếu lên thân của mình, cũng
đồng một đạo lý.
Ví như huyễn sư biết huyễn thuật
Ở trong đại chúng làm nhiều việc
Trí huệ Như Lai cũng như thế
Ở trong thế gian hiện thân khắp.
Ở trước nói về tám tướng thành đạo, chuyển bánh
xe chánh pháp, giáo hoá tất cả chúng sinh đủ thứ
tướng trạng, giống như nhà huyễn thuật. Nhà
huyễn thuật hiểu biết được pháp ảo thuật, dùng
thủ pháp hư huyễn không thật, ở trước mặt đại
chúng, biến hoá ra rất nhiều sự vật mê hoặc tai
mắt người. Phật giáo hoá chúng sinh, cũng giống
như nhà huyễn thuật, thị hiện tướng trạng tám
tướng thành đạo, để vì chúng sinh thuyết pháp,
hy vọng chúng sinh thấy rồi, có thể bỏ mê về với
giác ngộ.
Các vị! Đối với chúng sinh thuyết pháp, không
chỉ có Phật, và pháp sư ở trước mặt. Ý mà tôi
nói ra những lời nầy, là muốn cho các vị biết
rằng, vạn sự vạn vật trong trời đất, đâu chẳng
phải là đang thuyết pháp! Hữu tình nói pháp hữu
tình; người thiện nói pháp thiện, người chánh
nói pháp chánh, dạy người tu thập thiện, học Bát
chánh đạo, trồng nhân lành được quả lành. Người
ác nói pháp ác, người tà nói pháp tà, kẻ giết
người nói pháp giết người, kẻ phóng hoả nói pháp
phóng hoả. Làm mười điều ác, thì đoạ vào ba
đường ác – Súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Trồng
nhân ác được quả ác, khiến cho người thấy rồi,
sinh tâm hối cải, bỏ tà về chánh, bỏ vọng về
chân. Con kiến ở tại đây nói pháp con kiến,
khiến cho người thấy rồi, minh bạch đoàn kết là
sức mạnh. Có nhiều con vật nhỏ, sở dĩ có thể đề
kháng lại động vật lớn, là vì chúng có sức đoàn
kết. Con muỗi nói pháp con muỗi, nó nói nó kiếp
trước vì quá tham, tham tài vật của người, bất
chấp thủ đoạn, đời nầy tuy biến làm con muỗi,
phải hút máu người. Hoa cỏ cây cối núi đá vô
tình, cũng đang nói pháp; tuy nó không thể nói
được tiếng người, nhưng mùa xuân sinh ra, mùa hạ
sinh trưởng, mùa thu lá rơi, mùa đông tàng giữ
mầm mới cho năm tới. Duyên Giác thì do quán biến
hoá của vạn vật mà ngộ đạo, Ngài “Xuân quán trăm
hoa nở, thu ngắm lá vàng rơi”. Nếu chẳng phải
vạn vật đang ở đó nói pháp, sao Ngài có thể xúc
cảnh mà khoát nhiên khai ngộ ? Tất cả hết thảy
đều là biểu lộ trí huệ Bát nhã. Nếu đạt đến được
cảnh giới nầy, thì sẽ thấu rõ vạn vật đều đang
diễn nói diệu pháp đối với bạn, lúc đó còn có
phiền não gì để nói ? Lại có phiền não gì để
sinh ra ? Do đó:
“Vạn vật tĩnh quán giai tự đắc
Tứ thời giai cảnh dữ nhân đồng”
Nghĩa là:
Yên tĩnh ngắm nhìn vạn vật đều tự
có
Bốn mùa cảnh đẹp hoà đồng với con
người.
Chẳng có gì để lưu luyến, chẳng có gì mà buông
bỏ chẳng được. Thân bằng quyến thuộc, tài sản,
danh vọng, thế lực, một khi vô thường đến, chẳng
có gì mang theo được. Hôm nay nói pháp, ngày mai
nói pháp, ngày nói đêm nói, kỳ thật lại có pháp
gì để nói ?
“Pháp pháp bổn vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.
Nghĩa là:
Pháp pháp vốn không pháp
Không pháp pháp cũng pháp
Nay lúc truyền không pháp
Pháp pháp chưa từng pháp.
Những lời này là đối với bậc Thánh thượng trí mà
nói, cũng là bậc Thánh thượng trí có trí huệ mới
ngộ vào được. Trí huệ của Như Lai, thần thông
diệu dụng, cũng giống như nhà huyễn thuật, tại
thế gian mười phương cõi nước, thân tướng của
Ngài thị hiện khắp.
Phật trụ chân pháp tánh thâm sâu
Tịch diệt vô tướng đồng hư không
Mà ở trong đệ nhất thật nghĩa
Thị hiện đủ thứ những việc làm.
Phật trụ ở trong pháp tánh chân thật thâm sâu,
tịch nhiên bất động, rõ ràng sáng suốt, tướng gì
cũng chẳng có, giống như hư không. Cho nên nói
“Thân Phật đầy khắp hư không”, đây là chỉ pháp
thân của Phật mà nói. “Chân pháp tánh thâm sâu”
tức là diệu hữu, “Chân không chẳng ngại diệu
hữu, diệu hữu chẳng ngại chân không. Chân không
bổn lai chẳng không, diệu hữu bổn lai phi hữu”.
Chân không thì lìa tướng bặc lời. “Đệ nhất thật
nghĩa”, tức là chân thật nghịa, tức cũng là đệ
nhất nghĩa đế, đệ nhất thánh nghĩa đế. Phật ở
trong chân thật nghĩa đế, thị hiện đủ thứ diệu
hữu, làm những sự lý đều là lìa tướng bặc lời.
Những việc làm lợi ích chúng sinh
Đều y pháp tánh mà có được
Tướng và vô tướng không khác biệt
Vào nơi rốt ráo đều vô tướng.
Vì Phật từ bi tha thiết, chẳng buông bỏ chúng
sinh, Ngài nhiếp hết pháp môn phương tiện khéo
léo, đối với chúng sinh thuyết pháp, giáo hoá
chúng sinh, độ chúng sinh thoát biển khổ. Đây có
thể ví dụ như tâm mẹ hiền trên thế gian, tuy
nhiên con cái đều đã trưởng thành, mà vẫn xem
như con trẻ, ăn uống nóng lạnh, vẫn thường lo
lắng, cho nên nói “tấm lòng người mẹ”, nghĩa là
chỉ tâm từ bi mà nói. Phật cũng giống như người
mẹ hiền, thời khắc đều chú ý đến lợi ích chúng
sinh, chưa bao giờ tính xem chúng sinh phản ứng
thiện ác đối với Ngài, dù chúng sinh do tạo ác
nghiệp mà đoạ vào địa ngục, Phật cũng vào địa
ngục để cứu độ họ, khuyên chúng sinh phát bồ đề
tâm, cải ác hướng thiện. Tâm của Phật như vậy,
tất cả sự việc lợi ích chúng sinh, đều y chiếu
theo bổn thể pháp tánh chân như thật tướng mà
làm. Tướng và vô tướng vốn chẳng có gì phân
biệt, tất cả đều là hư vọng. Nếu đạt đến cảnh
giới “Nguồn gốc rốt ráo”, thì tự nhiên “Tức
tướng lìa tướng, tức không lìa không”.
Nếu ai muốn được Như Lai trí
Phải lìa tất cả vọng phân biệt
Có không thông đạt đều bình đẳng
Sớm làm đại Đạo Sư trời người.
Nếu như có người nghĩ muốn đắc được trí huệ
giống như Phật, thì phải lìa khỏi tất cả vọng
niệm, một niệm không sinh. Nếu có thể một niệm
không sinh, thì toàn thể quang minh trí huệ sẽ
hiển hiện ra. Nếu sáu căn hốt động, sinh khởi
vọng niệm, thì giống như đám mây che lấp mặt
trời. Trí huệ quang minh, tức cũng là tự tánh,
tự tánh bị che thì biến thành vô minh. Ý nghĩa
vô minh tức là tưởng phân biệt, tưởng biết, mà
sở đắc đều là vọng phân biệt, chỗ biết là tà
kiến điên đảo trái với tự tánh. Nếu như đối với
đạo lý “Có, không” đều thông đạt minh bạch, biết
: “Tức hữu vi, tức vô vi. Tức vô vi, tức hữu
vi”, đạo lý tương đối nầy, thì tự nhiên sẽ thông
đạt có, không, là bình đẳng, không, có, là bình
đẳng, thị, phi, là bình đẳng, thiện, ác, là bình
đẳng. Minh bạch được vấn đề căn bản nầy, thì sớm
sẽ làm đại Đạo Sư của trời người, tức cũng là
chứng được quả vị Phật, thành Phật.
Vô
lượng vô biên chúng Thiên nữ
Khen ngợi đủ thứ lời lẽ rồi
Thân tâm tịch tĩnh đều an lạc
Chiêm ngưỡng Như Lai đứng yên lặng.
Các Thiên nữ nhiều không thể nào tính đếm được,
dùng các thứ lời lẽ và âm thanh khác nhau, tán
thán khen ngợi chư Phật rồi, họ rất hoan hỉ nhảy
múa. Thân tâm của họ chuyển thành tịch nhiên an
lạc, đứng yên lặng chiêm ngưỡng dung nhan của
đức Phật.
Tức
thời Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
Biết các chúng hội đều yên lặng
Hướng Kim Cang Tạng mà thỉnh rằng:
Bậc đại vô uý chân Phật tử !
Khi đại chúng đều yên lặng, thì Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt liền biết nguyên nhân đại chúng giữ
yên lặng trong pháp hội, là vì muốn nghe Bồ Tát
Kim Cang Tạng tiếp tục diễn nói pháp môn vô
thượng của Địa thứ mười – Pháp vân địa. Do đó,
Ngài bèn hướng về Bồ Tát Kim Cang Tạng thỉnh
pháp, nói: Ngài là vị Bồ Tát đại vô uý, Ngài là
chân chánh đệ tử Phật từ miệng Phật sinh ra.
Từ Địa thứ chín vào Thập địa
Hết thảy công đức các tướng hạnh
Cùng với thần thông việc biến hoá
Xin bậc thông huệ hãy tuyên nói.
Pháp môn từ Địa thứ chín tiến vào pháp môn Địa
thứ mười, trong đó phải tu tập công đức và tướng
trạng tu hành, đủ thứ sự du hí thần thông, và
tất cả biểu hiện biến hoá sự vật, hy vọng Ngài
là vị Bồ Tát thông minh có trí huệ, vì chúng tôi
diễn nói giải thoát, khiến cho chúng tôi biết
pháp môn Thập địa mà chứng được quả vị Thập địa.
Bấy
giờ, đại Bồ Tát Kim Cang Tạng, bảo Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt rằng: Phật tử! Đại Bồ Tát từ Sơ địa
cho đến Địa thứ chín, dùng vô lượng trí huệ quán
sát giác ngộ rồi. Khéo tư duy tu tập. Khéo đầy
đủ pháp trắng. Tích tập vô biên pháp trợ đạo.
Tăng trưởng đại phước đức trí huệ. Rộng thực
hành đại bi. Biết thế giới khác biệt. Vào rừng
rậm cõi chúng sinh. Vào nơi thực hành của Như
Lai. Tuỳ thuận hạnh tịch diệt của Như Lai.
Thường quán sát lực vô sở uý pháp bất cộng của
Như Lai. Gọi là đắc được trí Nhất thiết chủng,
Nhất thiết trí, thọ chức vị.
Khi Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt hướng về Bồ Tát Kim
Cang Tạng thỉnh pháp, nói sự hy vọng của đại
chúng pháp hội rồi, lúc đó, đại Bồ Tát Kim Cang
Tạng bèn nói với Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt: Phật
tử! Ông biết đại Bồ Tát tu hành đủ thứ pháp môn,
tích tập đủ thứ căn lành, từ Sơ địa – Hoan hỉ
địa, trải qua quá trình từng địa từng địa đến
Địa thứ chín, giống như đã nói ở trên, là dùng
vô lượng đại trí huệ, luôn luôn quán sát tướng
tâm của tất cả chúng sinh. Hoàn toàn đều minh
bạch rồi, lại siêng năng không giải đãi khéo suy
gẫm pháp thâm sâu vi diệu mà chư Phật đã nói,
phát đại bồ đề tâm, như lý tu tập. Lại cầu viên
mãn đầy đủ tất cả pháp lành chẳng có sự nhiễm ô,
chẳng những biểu hiện thanh tịnh trên hành vi,
mà phải thật sự chân chánh thanh tịnh ở trong
nội tâm, đó mới là viên mãn pháp trắng tịnh. Lại
còn phải tích tụ vô lượng vô biên pháp môn trợ
giúp thành đạo, mới có thể tăng trưởng đại phước
đức, đại trí huệ được. Khắp rộng thực hành đại
bi, thương xót tất cả chúng sinh thọ khổ, biết
chỗ khác biệt trong mười phương thế giới, vào
sâu cõi chúng sinh, biết tất cả chúng sinh đều ở
trong rừng rậm phiền não, thọ khổ thọ nạn. Chứng
được quả vị của Phật tu hành đắc được. Luôn luôn
tuỳ thuận chư Phật, tu tập hạnh môn tịch diệt.
Thường quán sát mười lực, bốn vô sở uý, mười tám
pháp bất cộng của Phật, đó gọi là đại trí huệ
Nhất thiết chủng – trí huệ, đại trí huệ trong
Nhất thiết trí huệ, mà còn thọ chức vị quán đảnh
của Bồ Tát.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nhờ trí huệ như vậy, vào bậc thọ
chức rồi, liền đắc được tam muội Bồ Tát ly cấu.
Tam muội Vào pháp giới khác biệt. Tam muội Trang
nghiêm đạo tràng. Tam muội Tất cả thứ hoa quang.
Tam muội Hải tạng. Tam muội Hải ấn. Tam muội Cõi
hư không rộng lớn. Tam muội Quán tự tánh tất cả
các pháp. Tam muội Biết tâm hạnh tất cả chúng
sinh. Tam muội Tất cả Phật đều hiện tiền. Trăm
vạn A tăng kỳ tam muội như vậy, đều hiện ra ở
trước.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Đại Bồ Tát trong các Bồ Tát, Ngài
đắc được đại trí đại huệ như đã nói ở trên, vào
Địa thứ mười – Pháp vân địa, thọ chức vị Bồ Tát
rồi, liền đắc được tam muội lìa tất cả cấu nhiễm
của Bồ Tát. Lại đắc được tam muội vào hết thảy
pháp giới khác nhau. Lại đắc được tam muội trang
nghiêm đạo tràng. Lại đắc được tam muội hết thảy
hoa phóng quang. Lại đắc được tam muội hải tạng.
Lại đắc được tam muội hải ấn phát quang. Lại đắc
được tam muội rộng lớn như hư không. Lại đắc
được tam muội vào sâu tự tánh các pháp. Lại đắc
được tam muội biết tâm ý và hành vi của tất cả
chúng sinh. Lại đắc được tam muội mười phương
chư Phật đều hiện ra ở trước. Đủ thứ tam muội
như vừa nói ở trên, nhiều hàng trăm vạn A tăng
kỳ, đều hiện ra ở trước mặt.
Bồ
Tát ở nơi tất cả tam muội nầy, hoặc vào hoặc
khởi, đều được khéo léo. Cũng khéo biết rõ tất
cả tam muội sở tác khác biệt. Tam muội cuối cùng
tên là Thọ nhất thiết trí thắng chức vị.
Khi tam muội nầy hiện tiền, thì
có hoa sen báu lớn, đột nhiên xuất hiện. Hoa sen
rộng lớn đó, lớn bằng trăm vạn ba ngàn đại thiên
thế giới. Dùng các báu đẹp xen tạp trang nghiêm,
đẹp hơn tất cả cảnh giới thế gian, do căn lành
xuất thế sinh ra, biết các pháp tánh như huyễn,
các hành làm thành. Luôn phóng quang minh, chiếu
khắp pháp giới, chẳng phải chỗ chư Thiên có
được. Tỳ lưu ly ma ni báu làm cọng, chiên đàn
vương làm đài, mã não làm tua, vàng Diêm phù đàn
làm lá. Hoa đó thường có vô lượng ánh sáng, các
báu làm tạng, lưới báu giăng che. Có các hoa sen
nhiều như hạt bụi mười tam thiên đại thiên thế
giới làm quyến thuộc.
Khi Bồ Tát từ Địa thứ chín tiến vào Địa thứ
mười, thì Ngài chứng được tất cả tam muội –
chánh định chánh thọ, đều đã phương tiện khéo
léo, vận dụng tự như. Giả sử muốn vào tam muội
nào, hoặc muốn sinh khởi tam muội nào, đều tuỳ
tâm tự tại. Ngài cũng biết tất cả tam muội sinh
ra thần thông diệu dụng thâm sâu, có tác dụng
khác biệt nhau. Tam muội cuối cùng, tên là “Thọ
tất cả thù thắng trí huệ chức vị”. Khi tam muội
nầy hiện ra ở trước mặt Bồ Tát, thì có một đoá
hoa sen báu lớn đột nhiên xuất hiện ở trước mặt
Bồ Tát. Đoá hoa sen nầy lớn bằng trăm vạn ba
ngàn đại thiên thế giới, nó khác với hoa sen
thường, hoa sen nầy dùng đủ thứ báu đẹp thượng
hạng, phối hợp với nhau làm thành. Trên hoa sen
còn tạo ra rất nhiều sự vật tốt đẹp dùng để
trang nghiêm, đẹp hơn tất cả cảnh giới thế gian,
người thế gian không thể nào tưởng tượng được.
Vì đây là do Bồ Tát Thập địa trải qua vô lượng
kiếp, tu tập tích luỹ đủ thứ căn lành công đức
mà sinh ra. Là Bồ Tát Thập địa chứng ngộ các
pháp đều hư huyễn, biết rõ tất cả pháp chẳng có
bổn thể. Là hết thảy Bồ Tát cùng nhau tu hành
thiện nghiệp mà thành tựu. Đoá hoa sen lớn nầy
thường phóng ra ánh sáng rực rỡ rộng lớn, chiếu
khắp mười phương pháp giới, chẳng phải chỗ chư
Thiên có được. Tua của hoa sen nầy dùng tỳ lưu
ly ma ni báu làm thành. Chiên đàn vương tốt nhất
trong chiên đàn dùng làm đài, mã não làm tua,
vàng Diêm phù đàn làm lá. Hoa sen nầy thường
phóng ra ánh sáng rực rỡ, hàm chứa rất nhiều báu
vật, còn có lưới báu giăng che. Bên ngoài còn có
các hoa sen vây quanh, nhiều như hạt bụi mười
tam thiên đại thiên thế giới, dùng để làm quyến
thuộc của hoa sen lớn nầy.
Bấy
giờ, Bồ Tát ngồi lên toà hoa sen nầy, thân tướng
đều cân xứng với hoa. Vô lượng Bồ Tát dùng làm
quyến thuộc, đều ngồi trên những hoa sen khác,
vây khắp chung quanh. Mỗi vị đều đắc được trăm
vạn tam muội, hướng về đại Bồ Tát một lòng chiêm
ngưỡng.
Lúc đó, Thập địa Bồ Tát ngự trên hoa sen báu lớn
đó, thân thể của Ngài đều cân xứng với hoa sen.
Ngoài ra còn có các Bồ Tát nhiều không thể tính
đếm được, làm quyến thuộc của vị Bồ Tát nầy, đều
ngồi trên hoa sen khắp bốn phía, vây quanh Thập
địa Bồ Tát và hoa sen báu lớn. Những vị Bồ Tát
nầy, cũng đều đã chứng được trăm vạn tam muội.
Mọi người một lòng chuyên chú, chiêm ngưỡng Thập
địa Bồ Tát ngự trên hoa sen báu lớn.
Phật
tử! Đại Bồ Tát nầy với quyến thuộc của Ngài, khi
ngồi trên toà hoa sen, thì hết thảy quang minh,
cùng với lời lẽ, đều đầy khắp mười phương pháp
giới. Tất cả thế giới thảy đều chấn động, đường
ác dừng lại, cõi nước nghiêm tịnh. Bồ Tát đồng
hành đều vân tập đến. Âm nhạc trời người đồng
thời vang lên. Hết thảy chúng sinh đều được an
lạc, đem bất khả tư nghì đồ cúng dường, dâng
cúng tất cả chư Phật. Chư Phật chúng hội thảy
đều hiển hiện.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Vị Thập địa Bồ Tát nầy và quyến
thuộc của Ngài – các vị Bồ Tát khác, khi ngự
trên toà hoa sen, thì toà hoa sen đó phóng ra
quang minh, cùng với những lời của các Ngài phát
ra âm thanh, đầy khắp cùng mười phương pháp
giới. Hết thảy mười phương thế giới, đồng thời
đều chấn động! Khổ hình ở trong ba đường ác cũng
dừng lại. Mười phương cõi nước cũng thanh tịnh
trang nghiêm. Các Bồ Tát đồng hành đã từng tu
với nhau, chẳng có vị nào mà không đến pháp hội.
Tại nhân gian và trên trời đồng thời tấu âm nhạc
lên, trăm ngàn vạn thứ âm thanh đồng thời vang
ra. Hết thảy chúng sinh trong mười phương pháp
giới, đều cảm giác an ổn khoái lạc. Đem bất khả
tư nghì phẩm vật thượng hạng, cúng dường chư
Phật mười phương ba đời.Ở trong pháp hội đạo
tràng của mười phương chư Phật, đều hiển hiện ra
đoá hoa sen báu lớn nầy và pháp tướng trang
nghiêm của các Bồ Tát.
Phật
tử! Khi Bồ Tát nầy ngự trên toà hoa sen lớn đó,
thì ở dưới hai bàn chân, phóng ra trăm vạn A
tăng kỳ quang minh, chiếu khắp các đại địa ngục
trong mười phương, để diệt trừ khổ của chúng
sinh.
Nơi hai đầu gối, phóng ra trăm vạn A tăng kỳ
quang minh, chiếu khắp các cõi súc sinh trong
mười phương, để diệt trừ khổ của chúng sinh.
Nơi rún phóng ra trăm vạn A tăng kỳ quang minh,
chiếu khắp cõi Diêm La trong mười phương, để
diệt trừ khổ của chúng sinh.
Từ hai bên hông, phóng ra trăm vạn A tăng kỳ
quang minh, chiếu khắp tất cả cõi người trong
mười phương, để diệt trừ khổ của chúng sinh.
Từ trong hai tay, phóng ra trăm vạn A tăng kỳ
quang minh, chiếu khắp tất cả chư Thiên trong
mười phương, và hết thảy cung điện của A tu la.
Từ hai vai, phóng ra trăm vạn A tăng kỳ quang
minh, chiếu khắp tất cả Thanh Văn trong mười
phương.
Nơi cổ và lưng, phóng ra trăm vạn A tăng kỳ
quang minh, chiếu khắp thân Bích Chi Phật trong
mười phương.
Nơi mặt phóng ra trăm vạn A tăng kỳ quang minh,
chiếu khắp thân Bồ Tát từ sơ phát tâm, cho đến
Cửu địa Bồ Tát.
Từ giữa lông mày, phóng ra trăm vạn A tăng kỳ
quang minh, chiếu khắp thọ chức Bồ Tát trong
mười phương, khiến cho cung điện ma đều không
hiện được.
Từ trên đỉnh đầu, phóng ra trăm vạn A tăng kỳ
quang minh nhiều như số hạt bụi ba ngàn đại
thiên thế giới, chiếu khắp tất cả đạo tràng
chúng hội chư Phật Như Lai trong mười phương thế
giới.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Khi vị Thập địa Bồ Tát nầy ngự trên
toà hoa sen báu lớn đó, thì ở dưới hai bàn chân
của Ngài, phóng ra trăm vạn vô lượng số quang
minh. Quang minh đó chiếu đến các đại địa ngục
trong mười phương thế giới. Nơi nào có quang
minh đó chiếu đến, thì sẽ diệt trừ sự thống khổ
chịu khổ hình của chúng sinh trong địa ngục.
Lại ở hai đầu gối, phóng ra trăm vạn vô lượng số
quang minh, chiếu khắp đến tất cả cõi súc sinh
trong mười phương thế giới, diệt trừ thống khổ
của chúng sinh trong đường súc sinh.
Lại ở nơi rún của Ngài, phóng ra trăm vạn vô
lượng số quang minh, chiếu khắp đến Diêm la
vương trong mười phương thế giới, diệt trừ sự
thống khổ của ngạ quỷ.
Lại từ hai bên hông của Ngài, phóng ra trăm vạn
vô lượng số quang minh, chiếu khắp đến cõi người
trong mười phương thế giới, diệt trừ sự thống
khổ chịu khổ chịu nạn của con người.
Lại từ hai tay phóng ra trăm vạn vô lượng số
quang minh, chiếu khắp đến các bậc Thanh Văn
trong mười phương thế giới, khiến cho họ phá vô
minh hiển pháp tánh.
Lại từ cổ và lưng của Ngài, phóng ra trăm vạn vô
lượng số quang minh, chiếu khắp đến các bậc Bích
Chi Phật trong mười phương thế giới, khiến cho
họ phát tâm đại thừa.
Lại từ trên mặt của Ngài, phóng ra trăm vạn vô
lượng số quang minh, chiếu khắp đến Bồ Tát sơ
phát tâm, cho đến các vị Bồ Tát Cửu địa trong
mười phương thế giới.
Lại từ giữa lông mày phóng ra trăm vạn vô lượng
số quang minh, chiếu khắp đến thọ chức Bồ Tát
trong mười phương thế giới - Đại Sĩ thọ quán
đảnh vị. Quang minh đó là do sức oai đức của đại
Bồ Tát, nơi nào được chiếu đến, thì tất cả cung
điện của ma vương, đều bị che khuất, không thể
hiển hiện được.
Lại từ trên đảnh môn của Ngài, phóng ra trăm vạn
vô lượng số quang minh, nhiều như số hạt bụi ba
ngàn đại thiên thế giới, chiếu khắp đến pháp hội
đạo tràng của chư Phật trong mười phương thế
giới. Thập địa Bồ Tát phóng ra đại quang minh,
chiếu khắp cùng mười phương pháp giới, trong
mười phương pháp giới chẳng có một chỗ nào mà
chẳng có quang minh chiếu đến.
Nhiễu
bên phải mười vòng, rồi trụ ở trong hư không,
thành lưới quang minh, tên là Xí nhiên quang
minh. Sinh ra đủ thứ đồ cúng dường, để cúng
dường chư Phật. Các Bồ Tát khác, từ sơ phát tâm
cho đến Cửu địa, hết thảy đồ cúng dường không
bằng được, trăm phần chẳng bằng một, cho đến
toán số ví dụ cũng không bằng được.
Lưới quang minh đó, ở trước mỗi chúng hội của
Như Lai trong mười phương, mưa xuống các hương
thơm, tràng hoa, y phục, tràng phan lọng báu,
các đồ trang nghiêm ma ni, dùng để cúng dường.
Đều do căn lành xuất thế sinh ra, hơn hẳn tất cả
cảnh giới thế gian. Nếu có chúng sinh thấy biết
sự việc nầy, thì đều đắc được không thối chuyển
nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Đại quang minh vừa nói ở trên, chiếu khắp mười
pháp giới rồi, nhiễu quanh bên phải pháp hội
mười vòng, rồi dừng lại ở trong hư không phía
trên đạo tràng, kết thành lưới đại quang minh,
lưới quang minh đó tên là “Xí nhiên quang minh”.
Lúc đó, Thập địa Bồ Tát lại phát tâm làm các thứ
Phật sự cúng dường – Tài cúng dường, pháp cúng
dường, dùng để cúng dường mười phương chư Phật
và Phật Thích Ca Mâu Ni. Phẩm vật cúng dường đều
trân quý thượng hạng ít có trên thế gian, chẳng
những tại nhân gian khó thấy, mà tất cả phẩm vật
cúng dường của các Bồ Tát ở trong pháp hội – bao
quát các Bồ Tát từ sơ phát tâm cho đến Cửu địa
Bồ Tát, không thể nào so sánh được, trăm phần
chẳng bằng một. Thậm chí, muốn dùng phương pháp
toán số để tính lường cũng không biết được, muốn
tìm một ví dụ thích đáng cũng tìm không ra. Lưới
quang minh đó, đến khắp cùng đạo tràng pháp hội
của mỗi vị Phật trong mười phương, trong lưới
quang minh đó, mưa xuống hương thơm thượng diệu,
còn có tràng hoa, y phục, tràng phan, lọng báu,
ma ni báu .v.v... các thứ cúng phẩm trang
nghiêm, dâng lên cúng dường chư Phật. Đồ cúng
thượng diệu trân quý hiếm có trên đời đó, chẳng
phải tìm thấy được trên thế gian, mà là do từ
trong đời quá khứ, Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo,
thành tựu công đức xuất thế, mà sinh ra căn
lành, mới có cảnh giới đó. Nó vượt qua tất cả
cảnh giới thế gian. Nếu như có chúng sinh thấy
được cảnh giới đó, thị họ nhất định sẽ đắc được
bất thối chuyển Phật đạo Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác.
Phật
tử ! Đại quang minh đó làm việc cúng dường như
vậy rồi, lại nhiễu tất cả thế giới trong mười
phương, nơi mỗi đạo tràng chúng hội của chư Phật
đủ mười vòng, rồi vào dưới chân của các Như Lai.
Bấy giờ, chư Phật và các Bồ Tát, biết đại Bồ Tát
nào, ở trong thế giới nào, làm được hạnh rộng
lớn như vậy, đến bậc thọ chức.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Lưới đại quang minh nầy làm Phật sự
cúng dường chư Phật rồi, lại nhiễu bên phải mười
vòng tất cả thế giới trong mười phương, và hết
thảy đạo tràng pháp hội của chư Phật. Nhiễu xong
rồi, lưới quang minh đó lại vào dưới bàn chân
của mỗi vị Như Lai trong mười phương thế giới.
Tại sao trên đảnh Bồ Tát Thập địa phóng ra quang
minh phải vào dưới chân của Phật ? Có hai ý
nghĩa:
1. Biểu thị sự cung kính cao thâm nhất. Tuy
nhiên Thập địa đã đạt được cảnh giới không thể
nghĩ bàn, nhưng ở trước chư Phật, không thể tự
mình có tâm cao ngạo. Theo trình độ tu chứng mà
nói, thì Thập địa chỉ là bậc cao nhất trong Thập
địa, chưa đạt đến quả Phật viên mãn. Thần thông
trí huệ của Ngài còn thua Phật xa lắm, cho nên
Bồ Tát ở đâu cũng biểu hiện cung kính Phật,
không quên mình vẫn là đệ tử của Phật. Chẳng
những không thể biểu thị có tâm cống cao ngã mãn
đối với Phật, mà đối với bất cứ ai cũng vậy.
2. Là Như Lai hạ nhiếp, cho nên dưới chân phóng
quang. Bồ Tát là thượng nhiếp, quang thì vào
trong cảnh giới của Phật, là bình đẳng nhiếp với
nhau. Khi đại quang minh nầy nhiếp với nhau, thì
chư Phật và hết thảy Bồ Tát, lập tức biết ở
trong thế giới nào, có vị Bồ Tát nào, Ngài tu
tập đủ thứ căn lành xuất thế, Ngài có pháp môn
rộng lớn như vậy, đã đạt đến bậc thọ chức - thọ
quán đảnh vị.
Phật
tử ! Bấy giờ, mười phương vô lượng vô biên Bồ
Tát, cho đến chúng hội Bồ Tát Cửu địa, đều đến
vây quanh, cung kính cúng dường, một lòng quán
sát vị đại Bồ Tát nầy. Đương lúc quán sát, thì
các Bồ Tát đó, đều đắc được mười ngàn tam muội.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Khi chư Phật và các Bồ Tát làm như
ở trên vừa nói, thì có vô số Bồ Tát không thể
tính biết được, cùng với Cửu địa và các Bồ Tát
bậc dưới, đều đến vây quanh vị Bồ Tát Pháp vân
địa nầy, cung kính cúng dường vị Bồ Tát nầy,
chuyên tâm một lòng quán sát cảnh giới của vị Bồ
Tát Thập địa nầy. Đương lúc các Ngài quán sát,
thì ai nấy đều lập tức đắc được mười ngàn tam
muội.
Bấy
giờ, hết thảy Bồ Tát thọ chức trong mười phương,
đều ở trong tướng ngực kim cang trang nghiêm,
phóng ra quang minh, tên là Năng Hoại Ma Oán. Có
trăm vạn A tăng kỳ quang minh làm quyến thuộc,
chiếu khắp mười phương, hiện vô lượng thần thông
biến hoá. Sau đó lại trở về trong tướng ngực kim
cang trang nghiêm của đại Bồ Tát nầy, khi quang
minh đó vào rồi, khiến cho hết thảy trí huệ thế
lực của Bồ Tát nầy, càng tăng trưởng gấp trăm
ngàn lần.
Đương lúc chư Phật và các Bồ Tát quán sát Thập
địa Bồ Tát, thì hết thảy Bồ Tát thọ chức vị quán
đảnh trong mười phương, các Ngài đều là đại Bồ
Tát trợ giúp Phật tuyên hoá Phật pháp, giáo hoá
chúng sinh. Mọi người đồng thời đều ở trong
“tướng ngực kim cang trang nghiêm”, phóng ra đại
quang minh. “Tướng ngực kim cang trang nghiêm”
là một tướng tốt của Bồ Tát. Kim cang là biểu
thị nguyện lực của Bồ Tát, hạnh lực của Bồ Tát,
tâm của Bồ Tát đều kiên cố giống như kim cang.
“Trang nghiêm” là căn lành xuất thế tích tụ của
Bồ Tát tu trì, thành tựu phước đức, dùng làm sự
trang nghiêm của Bồ Tát. “Ngực” là trước ngực,
nghĩa là biểu thị ngực của Bồ Tát nầy vạn đức
trang nghiêm. Ngực của Bồ Tát chỉ có tư tưởng
lợi ích chúng sinh, chưa từng tính toán lợi ích
cho chính mình. Chỉ biết có người, không biết có
mình, đó tức là “Tướng ngực kim cang trang
nghiêm”. “Tướng” thì phải có nghiệp thiện đức
hạnh siêu việt, mới có thể thành tựu tướng như
vậy. “Đức hạnh” là chỉ lục độ vạn hạnh mà nói.
Lục độ vạn hạnh viên mãn rồi, những gì cần làm
đã làm xong, mới có “tướng ngực kim cang trang
nghiêm” nầy. Các đại Bồ Tát thọ chức trong pháp
hội, đều từ trong tướng ngực kim cang trang
nghiêm phóng ra quang minh, quang minh đó tên là
“Năng hoại ma oán”, hay phá hoại tất cả mọi cừu
oán của ma. Ngoài quang minh đó ra, còn có trăm
vạn A tăng kỳ quang minh làm quyến thuộc, chiếu
khắp đến mười phương thế giới, hiển hiện ra
không biết bao nhiêu thần thông biến hoá không
thể nghĩ bàn. Hiển hiện như vậy rồi, quang minh
đó lại vào trong “tướng ngực kim cang trang
nghiêm” của Thập địa Bồ Tát. Quang minh đó vào
trong tướng đó rồi, liền khiến cho Thập địa Bồ
Tát vốn có trí huệ, và thần thông thế lực của
Ngài, lập tức tăng trưởng, vượt trội gấp trăm
ngàn lần.
Bấy
giờ, mười phương tất cả chư Phật, từ giữa lông
mày, phóng ra quang minh thanh tịnh, tên là Tăng
Ích Nhất Thiết Trí Thần Thông, có vô số quang
minh dùng làm quyến thuộc. Chiếu khắp mười
phương tất cả thế giới, nhiễu bên phải mười
vòng. Thị hiện tự tại quảng đại của Như Lai,
khai ngộ vô lượng trăm ngàn ức Na do tha các
chúng Bồ Tát. Chấn động khắp cùng tất cả cõi
Phật, diệt trừ tất cả khổ trong các đường ác,
che lấp tất cả cung điện của ma. Hiển bày tất cả
những nơi chư Phật được bồ đề, đạo tràng chúng
hội, trang nghiêm oai đức. Chiếu khắp tận hư
không biến pháp giới tất cả thế giới như vậy
rồi, bèn đến ở trên hội Bồ Tát nầy, nhiễu quanh
bên phải rồi thị hiện đủ thứ sự trang nghiêm.
Khi Thập địa Bồ Tát nhiếp đại quang minh nầy,
nhờ đó mà khiến cho trí huệ thế lực tăng trưởng
gấp trăm ngàn lần. Lúc đó, mười phương chư Phật
đều từ giữa lông mày, phóng ra một luồng quang
minh thanh tịnh, tên là “Tăng Ích Nhất Thiết Trí
Thần Thông”. Quang minh đó liền tăng trưởng trí
huệ của Bồ Tát, cũng lợi ích chúng sinh. Ngoài
ra, lại có vô số quang minh làm quyến thuộc
Quang Minh Thanh Tịnh, chiếu sáng khắp mười
phương tất cả thế giới. Nhiễu bên phải mười
vòng, sau đó thị hiện sự tự tại quảng đại của
Phật, thị hiện công đức tự tại rộng lớn của
Phật, thị hiện diệu dụng tự tại quảng đại của
Phật, lại thị hiện thần thông tự tại quảng đại
của Phật. Nhờ quang minh nầy chiếu đến, mà khiến
cho vô lượng trăm ngàn ức Na do tha Bồ Tát đều
khai đại ngộ. Lúc đó, đại địa cũng chấn động
khắp, mười phương pháp giới tất cả cõi Phật,
cũng đều chấn động như vậy. Quang minh đó lại
hay diệt trừ thống khổ trong tất cả đường ác,
khiến cho sinh ra tất cả điều thiện. Lại hay che
lấp tất cả cung điện của ma vương, phá tan lưới
ma. Ở trong quang minh đó, lại thị hiện chỗ chư
Phật chứng ngộ bồ đề giác đạo, ở dưới cội bồ đề
tụ chúng làm Phật sự, chuyển bánh xe pháp. Pháp
hội trang nghiêm phi thường, Bồ Tát ở trong pháp
hội đều là đại Bồ Tát có đại oai đức. Quang minh
đó chiếu khắp đến tận hư không biến pháp giới
tất cả thế giới như vậy rồi, lại trở về trên
pháp hội của Thập địa Bồ Tát, nhiễu quanh bên
phải đạo tràng, lại thị hiện đủ thứ việc thần
diệu trang nghiêm.
Hiện
những việc đó rồi, bèn đi vào trên đảnh của đại
Bồ Tát. Các quang minh quyến thuộc đó, cũng đều
đi vào đỉnh của các Bồ Tát đó.
Bầy giờ, Bồ Tát đó đắc được trăm vạn tam muội mà
trước kia chưa đắc được, đây gọi là đã được bậc
thọ chức, vào cảnh giới của Phật, đầy đủ mười
lực, dự vào số chư Phật.
Quang minh đó hiển hiện ra đủ thứ việc thần diệu
rồi, nhập vào trên đỉnh đầu của Bồ Tát Thập địa
– Pháp vân địa. Quang minh làm quyến thuộc cũng
đều nhập vào trên đỉnh đầu của họ. Lúc đó, vị
Thập địa Bồ Tát lại chứng đắc trăm vạn tam muội
mà trước kia chưa từng đắc được. Đây là đã đắc
được bậc thọ chức, đã vào cảnh giới của Phật,
đầy đủ mười lực của Phật, từ đây sẽ liệt vào
trong danh số của Phật. Mười phương chư Phật lại
có thêm một vị bổ Phật mới. Vì còn có hai quả vị
Đẳng giác và Diệu giác chưa viên mãn thành tựu.
Phật tử ! Như Chuyển Luân Thánh Vương sinh ra
thái tử, mẹ là hoàng hậu, thân tướng đầy đủ. Vua
Chuyển Luân Vương bảo thái tử ngồi trên toà voi
trắng báu vàng đẹp, giăng lưới màn lớn, kiến lập
tràng phan lớn, đốt hương rải hoa, tấu lên các
âm nhạc. Lấy nước bốn biển lớn chứa trong bình
vàng, vua cầm bình nầy, rưới nước lên đầu thái
tử. Bấy giờ liền gọi là thọ chức vị vua, dự vào
số quán đảnh vua sát lợi. Liền đầy đủ thực hành
thập thiện đạo, cũng gọi là Chuyển Luân Thánh
Vương.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Ví như Chuyển Luân Vương sinh thái
tử, vì mẹ là hoàng hậu - đệ nhất phu nhân, thân
phận của thái tử khác với những con cái khác.
Hơn nữa, cha của thái tử có ba mươi hai tướng
tốt, cũng có những vẻ đẹp. Mẹ của thái tử cũng
đoan trang xinh đẹp, tài đức dung nhan đầy đủ,
sinh con ra đương nhiên thân tướng đầy đủ. Vua
Chuyển Luân Vương bảo thái tử ngồi trên toà voi
báu màu trắng làm bằng vàng rất đẹp, giăng lưới
màng rộng lớn, kiến tạo tràng lớn và phan lớn.
Đốt lên hương thơm nhất, rải đủ thứ hoa tươi,
lại diễn tấu các thứ âm nhạc hay. Lấy nước trong
bốn biển lớn – nước bốn biển đông nam tây bắc,
đựng trong bình vàng. Bấy giờ, vua Chuyển luân
cầm bình vàng, rưới nước bốn biển lên đầu thái
tử. Nghi thức nầy gọi là “thọ chức vị vua”. Từ
đây trở đi chính thức kế thừa ngôi vua làm
Chuyển Luân Thánh Vương, liệt vào trong danh vị
vua sát lợi, bèn có đầy đủ tư cách thực hành
thập thiện nghiệp đạo, tức cũng có thể gọi là
Chuyển Luân Thánh Vương.
Bồ
Tát thọ chức cũng lại như vậy. Vì nước trí huệ
của chư Phật rưới lên đảnh của Ngài, gọi là thọ
chức. Vì đầy đủ mười lực của Như Lai, nên dự vào
số chư Phật.
Thập địa Bồ Tát thọ chức cũng giống như vậy. Trí
huệ của mười phương chư Phật, như nước bốn biển
lớn, rưới vào trong tâm của vị Bồ Tát nầy, cho
nên cũng gọi là thọ chức. Vì Bồ Tát đã tu chứng
đến Thập địa, đã đầy đủ mười lực giống như Phật,
cho nên được liệt vào trong danh vị của Phật.
Phật
tử ! Đó gọi là Bồ Tát thọ chức đại trí. Bồ Tát
nhờ chức đại trí nầy, nên thực hành được vô
lượng trăm ngàn vạn ức Na do tha hạnh khó làm,
tăng trưởng vô lượng trí huệ công đức, gọi là an
trụ Pháp vân địa.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Ở trước tôi đã nói qua nghi thức lễ
quán đảnh là một ví dụ. Tại phương diện Bồ Tát
mà nói, thì gọi là “Bồ Tát thọ chức đại trí”.
Nghĩa là nói đại Bồ Tát thọ chức đại trí
huệ rồi, phải vào nơi Phật vị, chẳng bao lâu sẽ
thành Phật. Bồ Tát đã thọ chức đại trí làm hậu
bổ Phật, thực hành vô lượng trăm ngàn vạn ức Na
do tha việc không dễ làm được. Nào là: Khó làm
mà làm được, khó nhẫn mà nhẫn được, khó thọ mà
thọ được, khó trì mà trì được; bất cứ việc gì
người làm không được, Bồ Tát không từ ngàn hạnh
vạn khổ, quyết không bỏ qua, làm được mục đích
mời ngừng, đây gọi là khó làm mà làm được. Bồ
Tát có nguyện lực hằng tâm, Ngài luôn tinh tấn
không giải đãi, hay nhẫn thọ không thay đổi, hay
thanh tịnh thiền định, hay siêng tu tập Bát Nhã,
hay nghiêm cẩn trì giới, hay viên mãn tu thành
tựu bố thí, như vậy mới có thể tăng trưởng vô
lượng trí huệ, tích tập vô lượng công đức. Tu
hành như vậy, thì sẽ tiến vào Pháp vân địa - Địa
thứ mười, gọi là “An trụ Pháp vân địa”.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tại Pháp vân địa nầy,
biết như thật về : Dục giới tập, sắc giới tập,
vô sắc giới tập, thế giới tập, pháp giới tập,
hữu vi giới tập, vô vi giới tập, chúng sinh giới
tập, thức giới tập, hư không giới tập, Niết Bàn
giới tập.
Bồ Tát nầy biết như thật về : Chư kiến phiền não
hạnh tập, thế giới thành hoại tập, Thanh Văn
hạnh tập, Bích Chi Phật hạnh tập, Bồ Tát hạnh
tập, Như Lai lực vô sở uý sắc thân pháp thân
tập, trí Nhất thiết chủng Nhất thiết trí tập,
thị hiện được bồ đề chuyển bánh xe pháp tập, vào
tất cả pháp phân biệt quyết định trí tập. Tóm
lại, dùng Nhất thiết trí, biết tất cả tập.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Khi vị đại Bồ Tát nầy tu lục độ
vạn hạnh, tích tập đủ thứ căn lành, trụ nơi Pháp
vân địa, thì Ngài đã chứng đắc Vô thượng trí.
Ngài biết chân thật về nguyên nhân tất cả phiền
não trong dục giới, và tập tụ phiền não của tất
cả chúng sinh trong dục giới. Ngài lại biết chân
thật về nguyên nhân đủ thứ tập khí chưa trừ sạch
của chư Thiên sắc giới. Ngài lại biết tất cả
vọng tưởng của chúng sinh trong tận hư không
biến pháp giới. Ngài lại biết hết thảy tất cả
chúng sinh trên thế giới, đều có vô lượng tham
sân si. Ngài lại biết tất cả chúng sinh trong
tận hư không biến pháp giới, đều có nguyên nhân
vô minh. Ngài lại biết pháp hữu vi có hình có
tướng. Ngài lại biết pháp vô vi không hình không
tướng không chỗ làm. Ngài lại biết nguyên nhân
tích tụ tất cả phiền não, của hết thảy tất cả
chúng sinh. Ngài lại biết nguyên nhân kết thành
tất cả thức giới. Ngài lại biết tất cả hư không
giới. Ngài lại biết tất cả Niết Bàn giới. Vị Bồ
Tát Thập địa nầy, Ngài biết chân thật về đạo lý
và nhân duyên của tất cả chư kiến phiền não. Chư
kiến bao quát chánh tri chánh kiến, tà tri tà
kiến, và nhân tố tất cả vô minh phiền não. Ngài
lại biết thế giới hình thành như thế nào, lại
hoại diệt ra sao, những quan hệ đó Ngài đều
biết. Ngài lại biết bậc Thánh Thanh Văn tu pháp
bốn diệu đế - Khổ, tập, diệt, đạo, mà thành đạo.
Ngài lại biết quá trình bậc Thánh Bích Chi Phật
tu pháp mười hai nhân duyên mà chứng quả. Ngài
lại biết Bồ Tát đại thừa tu lục độ vạn hạnh, khó
hành khổ hạnh, đại bi đại nguyện lợi ích chúng
sinh. Ngài lại biết nguyên nhân Như Lai chứng
được mười lực, bốn vô sở uý, mà thành tựu sắc
thân cùng pháp thân, và thành tựu Nhất thiết
chủng trí, Nhất thiết trí huệ thù thắng, thị
hiện được vô thượng bồ đề và chuyển bánh xe
pháp. Thập địa Bồ Tát hay vào sâu tất cả pháp,
hay phân biệt tất cả sự việc, có Nhất thiết trí
quyến định. Tóm lại, bất quá chỉ đưa ra những
điểm quan trọng để nói. Vị Thập địa Bồ Tát nầy –
Pháp vân địa, Ngài dùng Nhất thiết trí huệ, biết
tất cả tụ tập phiền não, tất cả tụ tập hạnh môn,
tất cả tụ tập đử thứ trí huệ.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy, dùng giác huệ tối thượng
như vậy, biết như thật về : Chúng sinh nghiệp
hoá, phiền não hoá, chư kiến hoá, thế giới hoá,
pháp giới hoá, Thanh Văn hoá, Bích Chi Phật hoá,
Bồ Tát hoá, Như Lai hoá, tất cả phân biệt không
phân biệt hoá. Đều biết như thật như vậy.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Vị đại Bồ Tát nầy, Ngài dùng trí
huệ giác ngộ tối thượng như đã nói ở trên, biết
chân thật về nghiệp của chúng sinh tạo ra, có sự
biến hoá như thế nào. Phiền não của chúng sinh
lại biến hoá ra sao. Tất cả tri kiến của chúng
sinh lại có biến hoá như thế nào. Thế giới nầy
có sự biến hoá như thế nào. Pháp giới nầy lại có
biến hoá như thế nào. Thanh Văn tu pháp bốn đế
lại có sự biến hoá như thế nào. Bích Chi Phật tu
mười hai nhân duyên lại biến hoá ra sao. Bồ Tát
tu lục độ vạn hạnh lại có biến hoá như thế nào.
Phật thành tựu mười lực, bốn vô sở uý, mười tám
pháp bất cộng, lại có sự biến hoá như thế nào.
Tất cả sự phân biệt và không phân biệt lại có sự
biến hoá khác nhau như thế nào. Những gì vừa nói
ở trên, Thập địa Bồ Tát đều biết chân thật.
Lại biết như thật về : Phật trì, Pháp trì, Tăng
trì, nghiệp trì, phiền não trì, thời trì, nguyện
trì, cúng dường trì, hành trì, kiếp trì, trí
trì, đều biết như thật như vậy.
Thập địa Bồ Tát lại biết chân thật về Phật trụ
trì trên thế giới nầy như thế nào. Pháp trụ trì
trên thế giới nầy như thế nào. Tăng nhân lại trụ
trì trên thế giới nầy như thế nào. Ngài đều biết
tình huống sự thật Tam Bảo trụ thế. Ngài lại
biết nhân loại thọ nghiệp lực trì sử. Sức lực
phiền não khiến con người lưu chuyển như thế
nào, không thể thoát khỏi sự trói buộc. Thời
gian trụ trì thế gian như thế nào. Nguyện lực
lại khiến con người bất khuất mà đạt thành đạo
nghiệp như thế nào. Cúng dường lại trụ trì thiện
hạnh như thế nào. Hành trụ trì như thế nào. Kiếp
thành tựu trụ thế như thế nào. Trí huệ trụ trì
tiến dẫn vạn hạnh như thế nào. Đủ thứ vấn đề
tính chất khác nhau như vậy, Bồ Tát đều biết
chân thật như lý như pháp.
Lại biết như thật chư Phật Như
Lai vào vi tế trí. Đó là : Tu hành vi tế trí,
mạng chung vi tế trí, thọ sinh vi tế trí, xuất
gia vi tế trí, hiện thần thông vi tế trí, thành
Chánh Giác vi tế trí, chuyển pháp luân vi tế
trí, trụ thọ mạng vi tế trí, Bát Niết Bàn vi tế
trí, giáo pháp trụ vi tế trí, đều biết như thật
như vậy.
Thập địa Bồ Tát lại biết chân thật Phật vào sâu
trí huệ vi tế như thế nào. Trí huệ nầy chẳng
phải Bồ Tát sơ phát tâm có thể vào được, Thập
địa Bồ Tát Ngài đều minh bạch được nguyên nhân
chư Phật vào được. Như đã nói tu hành đắc được
trí huệ vi tế. Công phu tu đạo là “Sai một ly,
đi ngàn dặm”, khởi một chút vọng tưởng cho rằng
không quan trọng, nhưng lập tức cắt đứt con
đường bồ đề, trồng xuống hạt giống địa ngục. Do
đó, người tu đạo ngàn vạn đừng tuỳ tiện dấy vọng
niệm, sẽ tránh khỏi thọ kết quả không tốt. Đây
là nguyên nhân khi tu đạo phải chú ý vi tế trí
huệ, phải minh bạch đạo lý. Bồ Tát còn biết khi
lâm chung thì phải chú ý tánh trọng yếu vi tế
trí huệ, phải làm thế nào mới có thế sinh về
đường lành, còn làm thế nào sẽ sanh vào đường
ác. Thọ sanh vi tế trí, tức là phải làm thế nào
mới có thể thọ sinh vào ba đường lành, để tránh
khỏi thọ vào bàng sinh chịu khổ. Xuất gia vi tế
trí, các vị đừng cho rằng xuất gia là chuyện dễ
dàng. Ít nhất cũng có sự quyết tâm lớn nhất,
phải buông bỏ được cha mẹ vợ con anh em bạn bè,
công danh phú quý đều không màng, chí nguyện như
vậy cũng là quyết tâm, cũng có thể nói là trí
huệ, chân chánh trí huệ, vi tế trí huệ. Hiện
thần thông vi tế trí, biểu hiện thần thông, phải
hợp thời đúng lúc, bằng không thì sẽ thọ hiệu
quả ngược lại. Thành Chánh Giác vi tế trí, tu
đạo chứng quả, khó làm mà làm được, mới thành
Phật đạo, đây nhất định phải có trí vi tế tối
thượng. Chuyển pháp luân vi tế trí, phải chuyển
bánh xe pháp như thế nào, giáo hoá chúng sinh,
mới có thể đạt được mục đích cứu độ chúng sinh.
Trụ thọ mạng vi tế trí, phải nuôi dưỡng sanh
mạng như thế nào, mới có thể khiến cho thọ mạng
sống lâu. Bát Niết Bàn vi tế trí, Phật thị hiện
nhân gian, thực hành việc hoá độ, khiến cho
chúng sinh khai mở tri kiến Phật, sau đó vào Bát
Niết Bàn, quá trình thời gian đó, cũng có đại
trí huệ mới lãnh đạo được vạn hạnh. Nên vào Niết
Bàn như thế nào, cũng phải có vi tế trí huệ
quyết định. Giáo pháp trụ vi tế trí, giáo lý của
Phật nói, diệu pháp nói ra, nên như thế nào mới
trụ thế lâu dài, đây cũng phải có vi tế trí huệ
để an bài. Ở trên nói về đủ thứ tác dụng của vi
tế trí, Thập địa Bồ Tát đều biết chân thật rõ
ràng.
Lại
vào nơi bí mật của Như Lai. Đó là: Thân bí mật,
lời bí mật, tâm bí mật. Thời phi thời tư lường
bí mật, thọ ký Bồ Tát bí mật, nhiếp chúng sinh
bí mật, đủ thứ thừa bí mật, tất cả chúng sinh
căn hạnh sai biệt bí mật, tạo nghiệp bí mật,
được Bồ Tát hạnh bí mật, đều biết như thật như
vậy.
Thập địa Bồ Tát lại có thể vào sâu nơi bí mật
của Phật. Những gì là nơi bí mật của Phật ? Tức
là: Vì đây nói mà kia không biết, vì kia nói mà
đây không biết, đó đây không biết nhau, nên gọi
là bí mật. Phật vì tất cả chúng sinh nói pháp,
chúng sinh đều hiểu biết được của mình mà chẳng
biết người khác, cho nên nói là nơi bí mật của
Phật. Như Kinh văn đã nói: Thân bí mật, tức thân
nghiệp bí mật, lời nói bí mật, tâm ý bí mật, đây
là ba nghiệp bí mật. Phải tu hành như thế nào
mới có thể tiêu trừ tội ba nghiệp, và còn có thể
tăng trưởng căn lành ba nghiệp. Thời và phi thời
tư lường đều có sự bí mật. Thọ ký Bồ Tát bí mật,
tức là khi mỗi vị đại Bồ Tát tu chứng đến quả vị
cuối cùng, thì có chư Phật đến vì các Ngài mà
thọ ký, chứng minh Ngài lúc nào thành Phật, cõi
nước thành Phật gọi là gì ? Thời gian trụ thế
bao lâu .v.v... Nhiếp chúng sinh bí mật, dùng
phương pháp gì nhiếp thọ chúng sinh, giáo hoá
chúng sinh. Đủ thứ thừa bí mật, bao quát Thanh
Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, và Thiên
nhân thừa, trong các thừa nầy có gì khác nhau
sai biệt bí mật. Hết thảy tất cả các phẩm loại
chúng sinh, trong quá khứ gieo trồng gốc lành,
tu hạnh lành, có những gì khác nhau bí mật.
Chúng sinh tạo nghiệp thiện ác khác nhau, tương
lai quả báo khác nhau bí mật. Tu thiện nghiệp
tức được Bồ Tát hạnh bí mật. Đủ thứ bí mật vừa
nói ở trên, Thập địa Bồ Tát đều biết rõ ràng.
Lại
biết vào hết thảy kiếp trí của chư Phật. Đó là :
Một kiếp vào A tăng kỳ kiếp. A tăng kỳ kiếp vào
một kiếp. Có số kiếp vào không số kiếp. Không số
kiếp vào có số kiếp. Một niệm vào kiếp. Kiếp vào
một niệm. Kiếp vào phi kiếp. Phi kiếp vào kiếp.
Kiếp có Phật vào kiếp không có Phật. Kiếp không
có Phật vào kiếp có Phật. Kiếp quá khứ vị lai
vào kiếp hiện tại. Kiếp hiện tại vào kiếp quá
khứ vị lại. Kiếp quá khứ vào kiếp vị lai. Kiếp
vị lai vào kiếp quá khứ. Kiếp dài vào kiếp ngắn.
Kiếp ngắn vào kiếp dài. Đều biết như thật như
vậy.
Trên tư tưởng của chư Phật thì, chẳng có quan
niệm về “thời gian”, cho nên chẳng có cái gọi là
quá khứ, hiện tại, vị lai. Chỉ là trong nhãn
quang của chúng sinh, mới có quan niệm về thời
gian quá khứ hiện tại vị lai. Chư Phật nói đạo
lý dùng kiếp vào kiếp, kiếp vào phi kiếp, cũng
là vì tuỳ thuận chúng sinh, không nói mà nói,
không lời mà lời, nói ngang nói dọc, nói bụi nói
cõi, nói thô nói tế, nói có nói không. Nói đủ
thứ pháp, thị hiện đủ thứ tướng, đều là muốn
khiến cho chúng sinh cảnh tỉnh vô thường mà sinh
thiện niệm. Thập địa Bồ Tát Ngài lại biết cảnh
giới trí huệ “vào kiếp” của chư Phật nói, như
kinh văn nói “Một kiếp vào A tăng kỳ kiếp”, bổn
lai thời gian là một kiếp, có thể tính nó trong
thời gian A tăng kỳ kiếp (vô lượng số); A tăng
kỳ kiếp vẫn có thể thu nó vào trong một kiếp.
Một kiếp có thể tán làm vô lượng kiếp, vô lượng
kiếp lại có thể nhiếp về một kiếp, đây tức là
đạo lý “một nhiều vô ngại”. “Kiếp có số vào kiếp
không số, kiếp không số vào kiếp có số”, có số
là có thể biết số mục xác thật, không số là
không thể biết rốt ráo có bao nhiêu. Kiếp có số
vô số nầy, có thể nhiếp với nhau để tính, đây
cũng là đạo lý “Một nhiều vô ngại, nhiều một
dung nhau”. “Một niệm vào kiếp, kiếp vào một
niệm”, một niệm có thể kéo dài làm vô lượng
kiếp, vô lượng kiếp lại có thể thu làm một niệm.
“Kiếp vào phi kiếp, phi kiếp vào kiếp”, thời
gian dài một đại kiếp, có thể với không đủ một
kiếp hợp thành một kiếp. Tuy nhiên, thời gian
không đủ một một kiếp, vẫn có thể tính nó là một
đại kiếp. “Kiếp có Phật vào kiếp không có Phật,
kiếp không có Phật vào kiếp có Phật”, có kiếp có
Phật ra đời, có kiếp không có Phật ra đời. Kiếp
có Phật ra đời, có thể biến đổi nó làm kiếp
không có Phật ra đời. Kiếp không có Phật ra đời,
lại có thể biến đổi nó làm kiếp có Phật ra đời.
“Kiếp quá khứ vị lai vào kiếp hiện tại, kiếp
hiện tại vào kiếp quá khứ vị lai”, chẳng có quan
niệm về kiếp quá khứ và kiếp vị lai, vì quá khứ
và vị lai đều vào kiếp hiện tại nầy, cho nên chỉ
có kiếp hiện tại. Kiếp hiện tại nầy lại có thể
làm kiếp quá khứ và kiếp vị lai, thì kiếp hiện
tại nầy chẳng còn nữa. “Kiếp quá khứ vào kiếp vị
lai, kiếp vị lai vào kiếp quá khứ”, chẳng có
kiếp quá khứ, vì nó đã vào kiếp vị lai. Kiếp vị
lai lại có thể vào kiếp quá khứ. “Kiếp dài vào
kiếp ngắn, kiếp ngắn vào kiếp dài”, kiếp dài có
thể hoá làm kiếp ngắn, kiếp ngắn lại có thể vào
kiếp dài. Đạo lý “Vào chung với nhau” nầy, cảnh
giới không thể nghĩ bàn nầy, chẳng phải Bồ Tát
sơ phát tâm có thể minh bạch được, phàm phu càng
không thể tưởng tượng đến được. Song, Thập địa
Bồ Tát Ngài đối với đủ thứ cảnh giới nhân duyên
đạo lý nầy, đều biết chân thật như vậy, vì Ngài
đã đầy đủ trí huệ vào kiếp của chư Phật.
Lại
biết những nơi trí của Như Lai vào. Đó là : Trí
vào lỗ chân lông, trí vào hạt bụi, trí chánh
giác vào thân cõi nước, trí chánh giác vào thân
chúng sinh, trí chánh giác vào tâm chúng sinh,
trí chánh giác vào hạnh chúng sinh, trí chánh
giác vào tuỳ thuận tất cả nơi, trí vào thị hiện
biến hành, trí vào thị hiện thuận hạnh, trí vào
thị hiện nghịch hạnh, trí vào thị hiện tư nghì
bất tư nghì thế gian biết rõ không biết rõ hạnh,
trí vào thị hiện Thanh Văn, trí Bích Chi Phật,
Bồ Tát hạnh, trí Như Lai hạnh.
Thập địa Bồ Tát lại biết chư Phật khắp vào nơi
các đạo trí huệ. Như Kinh văn nói trí vào lỗ
chân lông, là trí huệ khó nhất, phải vào trong
lỗ chân lông của tất cả chúng sinh, để giáo hoá
chúng sinh. Trí lại có thể vào hạt bụi, trình độ
vi tế đó, giống như bụi trong hư không, bổn lai
không biết số mục và thể tích của nó. Lại có trí
huệ chánh giác vào thân cõi nước. Thân cõi nước
là chỉ hữu tình thế gian, vô tình thế gian, khí
thế gian. Chánh giác là chánh giác thế gian, tức
tịnh cõi nước. Bồ Tát có trí huệ vào chư Phật
chánh giác thế gian. Lại có trí huệ chánh giác
vào thân chúng sinh, giống như chư Phật Bồ Tát
có lúc hoá hiện một cõi nước nghiêm tịnh, có lúc
hoá hiện một toà núi, hoặc một con sông. Sự thị
hiện đó, phát xuất từ tâm đại bi của Bồ Tát,
khiến cho chúng sinh được lợi ích mà phát tâm bồ
đề, tương lai sẽ thành Chánh Giác. Lại có trí
huệ chánh giác vào tâm chúng sinh. Lại có trí
huệ chánh giác vào hạnh chúng sinh. Lại có trí
huệ chánh giác vào tuỳ thuận tất cả mọi nơi. Lại
có trí huệ vào thị hiện biến hành. Lại có trí
huệ vào thị hiện thuận hạnh. Lại có trí huệ vào
thị hiện nghịch hạnh. Thuận nghịch cả hai, Bồ
Tát đều biết được. Lại có trí huệ vào thị hiện
tư nghì và bất tư nghì, thế gian có thể biết rõ
và không thể biết rõ hạnh. Lại có trí huệ thị
hiện Thanh Văn, trí huệ Bích Chi Phật hạnh, trí
huệ Bồ Tát hạnh, và Như Lai hạnh. Đủ thứ trí huệ
vô thượng ở trên, Bồ Tát đều đã chứng được.
Phật
tử ! Hết thảy trí huệ của tất cả chư Phật, rộng
lớn vô lượng, Bồ Tát nầy đều vào được.
Bồ Tát Kim Cang tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật! Hết thảy trí huệ của mười phương
chư Phật, rộng lớn vô lượng vô biên, vô thượng
thù thắng, Thập địa Bồ Tát Ngài đều chứng được.
Phàm là Phật có, thì Ngài đều vào được. Bảy thứ
trí ở trên vừa nói, đều là trí huệ của chư Phật.
Bồ Tát đắc được vào được, cho nên gọi là trí
đại.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát trụ địa nầy, liền đắc được Bồ
Tát giải thoát không nghĩ bàn, giải thoát không
chướng ngại, giải thoát tịnh quán sát, giải
thoát khắp chiếu sáng, giải thoát Như Lai tạng,
giải thoát tuỳ thuận vô ngại luân, giải thoát
thông đạt ba đời, giải thoát pháp giới tạng,
giải thoát quang minh luân, giải thoát vô dư
cảnh giới. Mười giải thoát nầy làm đầu, có vô
lượng trăm ngàn A tăng kỳ môn giải thoát, đều
đắc được trong Thập địa nầy.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát nầy - Thập địa Bồ
Tát trụ đến quả vị Pháp vân địa rồi, liền đắc
được thần thông cảnh giới chuyển biến tự tại,
giải thoát trí huệ, giải thoát tam muội không
thể nghĩ bàn. Cũng đắc được giải thoát trí huệ
và giải thoát tam muội viên dung vô ngại. Tịnh
quán sát giải thoát : “Tịnh” tức là thanh tịnh,
chẳng có nhiễm ô. Dùng diệu quán sát trí thanh
tịnh, để quán sát thế nào mới đắc được giải
thoát, cho nên gọi là “Tịnh quán sát giải
thoát”. Tức cũng là giáo hoá nhân gian gặp việc
không cần cấp tốc, không cần thần kinh quá nhanh
nhẹn. Phải đầu óc thanh tịnh, tư tưởng an tĩnh,
ngàn vạn đừng vọng động cử chỉ nhẹ nhàng, bằng
không, thì không thể nói là tịnh quán sát được.
Vì thanh tịnh quán sát, mới đắc được giải thoát.
Khắp chiếu sáng giải thoát, tức là trí huệ quang
có thể chiếu sáng đến khắp tận hư không, khắp
pháp giới, mà trước vào tướng chiếu sáng, như
vậy mới đắc được giải thoát. Như Lai tạng giải
thoát, nếu như có chấp trước vào Như Lai tạng,
thì không thể được Như Lai tạng giải thoát. Phải
“Không Như Lai tạng, bất không Như Lai tạng,
không bất không Như Lai tạng”. “Không Như Lai
tạng” tức là “Chân không”, “Bất không Như Lai
tạng” tức là “Diệu hữu”. “Không bất không Như
Lai tạng” tức là “Diệu hữu tức là chân không,
chân không đầy đủ diệu hữu. Diệu hữu phi hữu,
chẳng ngại chân không. Chân không chẳng không,
chẳng ngại diệu hữu”, đây là Như Lai tạng giải
thoát không chấp trước. Tuỳ thuận vô ngại luân
giải thoát, nếu hay tuỳ thuận vô ngại luân, tức
là viên dung vô ngại, căn bản chẳng nói chẳng
giải thoát. Nếu không tuỳ thuận, thì không thể
viên dung vô ngại, thì có sự chấp trước, thì
không đắc được giải thoát. Thông đạt ba đời giải
thoát, vốn chẳng có quá khứ, chẳng có hiện tại,
cũng chẳng có vị lại. Quá khứ tức là vị lai, vị
lai cũng tức là quá khứ. Quá khứ hiện tại vị
lai, ba thuở bất khả đắc. Bất quá trên tri kiến
của phàm phu, thì có quan niệm ba thuở. Nếu
thông đạt ba thuở thì rõ bất khả đắt, tức đắc
được giải thoát. Pháp giới tạng giải thoát, tất
cả mọi thứ đều bao tạng ở trong pháp giới, như
có thể y tướng thì có thể minh bạch, thông đạt
vô ngại, chẳng chấp trước tướng, thì đắc được
giải thoát, lại đắc được quang minh trí huệ luân
giải thoát. Lúc nầy, trí vô ngại, không nghĩ bàn
giải thoát của Bồ Tát, nương một mà biết rõ vô
lượng số, cho nên nói tất cả cảnh giới bao quát
vô dư giải thoát. Mười môn giải thoát nầy, là
tiến trụ quả vị Thập địa Bồ Tát đầu tiên chứng
được. Nếu nói tỉ mỉ, thì có vô lượng trăm ngàn A
tăng kỳ môn giải thoát khác, đều ở trong Pháp
vân địa chứng được.
Như
vậy cho đến vô lượng trăm ngàn A tăng kỳ môn tam
muội. Vô lượng trăm ngàn A tăng kỳ môn đà la ni.
Vô lượng trăm ngàn A tăng kỳ môn thần thông,
thảy đều thành tựu.
Như vậy vô lượng vô số trăm ngàn A tăng kỳ môn
tam muội. Vô lượng vô số trăm ngàn A tăng kỳ môn
tổng trì đà la ni. Vô lượng vô số trăm ngàn A
tăng kỳ môn thần thông. Tại Thập địa – Pháp vân
địa, Bồ Tát đều tu chứng thành tựu viên mãn đầy
đủ.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy, thông đạt trí huệ như vậy,
tuỳ thuận vô lượng bồ đề, thành tựu niệm lực
khéo léo.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát Pháp vân địa nầy,
Ngài thông đạt pháp môn thâm sâu vô thượng như
đã nói ở trên, chứng được đại trí vô thượng thù
thắng, tuỳ thuận vô lượng bồ đề, thành tựu pháp
môn phương tiện và niệm lực khéo léo.
Mười
phương vô lượng chư Phật, hết thảy vô lượng đại
pháp minh, đại pháp chiếu, đại pháp vũ. Trong
khoảng một niệm, đều an được, thọ được, nhiếp
được, trì được. Ví như, Ta Già La Long Vương
trút mưa lớn xuống, chỉ trừ biển lớn, còn tất cả
chỗ khác, đều không thể an được, không thể thọ
được, không thể nhiếp được, không thể trì được.
Tạng bí mật của Như lai, đại pháp minh, đại pháp
chiếu, đại pháp vũ, cũng lại như thế. Chỉ trừ
Thập địa Bồ Tát, còn tất cả chúng sinh khác,
Thanh Văn, Độc Giác, cho đến Cửu địa Bồ Tát, đều
không thể an được, không thể thọ được, không thể
nhiếp được, không thể trì được.
Lúc đó, công phu tu trì của Thập địa Bồ Tát, đã
đạt đến trong khoảng một niệm, có thể tiếp thọ
được hết thảy vô lượng đại pháp minh, đại pháp
chiếu, đại pháp vũ, của mười phương vô lượng chư
Phật, đều an được, thọ được, nhiếp được, trì
được. Ví như Ta Già La Long Vương trút xuống
lượng nước mưa rất lớn, chỉ có biển cả mới dung
nạp được nước mưa như vậy. Còn tất cả những sông
nhỏ, sông lớn, hồ nhỏ, hồ lớn, đều không thể
tiếp thọ được lượng nước mưa lớn như vậy, không
thể an lập được, không thể dung thọ được, không
thể nhiếp thu được, không thể trì thọ được. Pháp
tạng bí mật của Phật, đại pháp minh - đại trí
huệ quang minh. Đại pháp chiếu - đại trí huệ
quang, chiếu khắp tất cả vạn vật. Đại pháp vũ –
mưa lớn xuống, thấm nhuần khắp tất cả chúng
sinh, khiến cho tất cả chúng sinh sớm thành Phật
đạo. Từ bi, trí huệ, bình đẳng, vô lượng phước
đức của Phật cũng như vậy. Chỉ có Thập địa Bồ
Tát – Pháp vân địa, an được, thọ được, nhiếp
được, trì được. Còn các vị Bồ Tát những địa
dưới, và tất cả chúng sinh, bậc Thánh Thanh Văn
Độc Giác, cho đến Bồ Tát Cửu địa, đều không thể
an lập được, không thể dung thọ được, không thể
nhiếp hoá được, cũng không thể thọ trì được, đại
pháp tạng bí mật của Phật.
Phật
tử ! Ví như biển cả, an được, thọ được, nhiếp
được, trì được, lượng nước mưa lớn của đại Long
Vương mưa xuống. Hoặc hai, hoặc ba, cho đến vô
lượng các Long Vương mưa xuống, trong khoảng một
niệm, cùng lúc trút xuống, đều an được, thọ
được, nhiếp được, trì được. Tại sao ? Vì biển cả
rộng lớn vô lượng.
Bồ Tát trụ Pháp Vân địa, cũng lại như thế, an
được, thọ được, nhiếp được, trì được, pháp minh,
pháp chiếu, pháp vũ, của một vị Phật. Hoặc hai
hoặc ba, cho đến vô lượng vị Phật, trong khoảng
một niệm, cùng một lúc diễn nói, cũng đều như
thế. Cho nên địa nầy gọi là Pháp Vân.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Ví như biển cả hay an lập được,
dung thọ được, nhiếp được, trì được, một trận
mưa lớn của một vị đại Long Vương. Nếu như hai
vị, hoặc ba vị Long Vương, cho đến vô lượng số
Long Vương, trong khoảng một niệm, cùng một lúc
đổ xuống một trận mưa lớn, thì biển cả cũng an
được, thọ được, nhiếp được, trì được. Đây là
nguyên nhân gì ? “Vì đó là biển cả vô lượng rộng
lớn không có hạn lượng”.
Đại Bồ Tát trụ nơi Pháp vân địa, Ngài giống như
biển cả, pháp minh, pháp chiếu, pháp vũ, của một
vị Phật, Ngài an được, thọ được, nhiếp được, trì
được. Dù có hai vị Phật, hoặc ba vị Phật, thậm
chí cho đến vô lượng chư Phật, ở trong một niệm,
đồng thời đối với Ngài diễn nói diệu pháp của
mỗi vị Phật, thì Bồ Tát đều an được, thọ được,
nhiếp được, trì được. Cho nên Thập địa - Địa thứ
mười gọi là Pháp vân địa.
Bồ
Tát Giải Thoát Nguyệt nói : Phật tử ! Bồ Tát địa
nầy, ở trong một niệm, có thể ở chỗ bao nhiêu
đức Như Lai, an thọ chiếu trì đại pháp minh, đại
pháp chiếu, đại pháp vũ ?
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt nghe nói một đoạn ở
trên, bèn hỏi Bồ Tát Kim Cang Tạng rằng: Đại đệ
tử của Phật ! Vị Bồ Tát nầy trụ Pháp vân địa, ở
trong một niệm, có thể nơi đạo tràng của bao
nhiêu vị Phật, tiếp thọ, an lập, nhiếp nạp, trì
dụng đại pháp minh, đại pháp chiếu, đại pháp vũ
của chư Phật ?
Bồ
Tát Kim Cang Tạng nói : Phật tử ! Không thể dùng
toán số biết được. Tôi sẽ vì ông nói ví dụ nầy.
Phật tử ! Ví như mười phương, mỗi phương đều có
mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha số
hạt bụi thế giới cõi Phật, mỗi chúng sinh trong
thế giới đó, đều được văn trì đà la ni. Làm thị
giả của Phật, ở trong chúng Thanh Văn, là đa văn
bậc nhất. Như Tỳ Kheo Đại Thắng của đức Phật Kim
Cang Liên Hoa Thượng. Pháp của một chúng sinh
thọ, những người khác không thọ trùng.
Bồ Tát Kim Cang Tạng giải đáp Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt nói: Phật tử! Vấn đề Ngài hỏi không thể
nào dùng phương pháp tính toán mà biết được, bất
quá tôi có thể vì Ngài nói một ví dụ.
Phật tử! Ví như, mỗi phương trong mười phương có
mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha cõi
Phật, ở trong mỗi cõi Phật, có thế giới nhiều
như số hạt bụi cõi Phật, mỗi chúng sinh ở trong
những thế giới đó, đều đắc được văn trì đà la ni
- tức là tam muội đà la ni, pháp môn đà la ni
lắng nghe thọ trì. Làm thị giả của Phật, thường
thường là bậc đa văn bậc nhất, trong chúng hàng
Thanh Văn. Giống như thời đức Phật Kim Cang Liên
Hoa Thượng, Ngài có một vị Tỳ Kheo Đại Thắng,
Ngài là văn trì bậc nhất đương thời. Nếu mỗi
chúng sinh trong vô lượng thế giới trong vô
lượng cõi Phật thọ đại pháp minh, đại pháp
chiếu, và đại pháp vũ, những chúng sinh khác đều
không thể trùng Phật pháp nhau được.
Phật
tử ! Ý ông nghĩ sao ? Pháp của các chúng sinh đó
thọ, có số lượng chăng ? Hay là vô lượng ?
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt nói : Số đó rất nhiều,
vô lượng vô biên.
Bồ Tát Kim Cang Tạng nói : Phật tử ! Tôi vì ông
nói để cho ông hiểu rõ.
Phật tử ! Bồ Tát Pháp Vân địa nầy, ở chỗ một vị
Phật, trong khoảng một niệm, an thọ nhiếp trì,
đại pháp minh, đại pháp chiếu, đại pháp vũ, pháp
tạng ba đời, nhiều hơn tất cả chúng sinh trong
các thế giới văn trì pháp đã nói ở trên, trăm
phần chẳng bằng một, cho đến ví dụ cũng không
kịp được.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng Bồ Tát
Giải Thoát Nguyệt nói : Phật tử ! Nay tôi nói ví
dụ, theo ý nghĩ của Ngài thế nào ? Những chúng
sinh đó thọ Phật pháp, Ngài nói có số lượng
chăng ? Hay là không có số lượng ? Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt đáp nói : Số mục đó thật là nhiều,
không cách chi biết được chính xác, cũng không
thể nào dò lường được bờ mé của nó.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại nói với Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt : Phật tử ! Nay tôi sẽ vì Ngài giải
thích nói một phen, để cho Ngài minh bạch đạo lý
nầy.
Phật tử ! Vị Bồ Tát Pháp vân địa nầy, ở chỗ đạo
tràng của một vị Phật, trong khoảng một niệm, an
lập được, lãnh thọ được, nhiếp nạp được, văn trì
được đại pháp minh, đại pháp chiếu, đại pháp vũ
của Phật, và pháp tạng ba đời, nhiều hơn mỗi
chúng sinh văn trì Phật pháp, trong hết thảy thế
giới trong hết thảy cõi Phật như đã nói ở trên,
nếu so sánh với Bồ Tát Thập địa, thì tuy họ văn
trì rất lâu, nhưng không bằng một phần trăm, cho
đến dùng ví dụ để nói, cũng không tìm được một
ví dụ tương xứng để nói rõ được.
Như
ở chỗ một vị Phật, như vậy mười phương, cũng như
đã nói ở trên, bao nhiêu thế giới nhiều như số
hạt bụi cõi Phật. Lại hơn số nầy vô lượng vô
biên. Nơi mỗi chỗ các đức Như Lai đó, hết thảy
pháp minh pháp chiếu pháp vũ, pháp tạng ba đời,
đều an được, thọ được, nhiếp được, trì được, cho
nên địa nầy gọi là Pháp Vân.
Như ở tại đạo tràng của một vị Phật, giống như
vậy trong mười phương thế giới, trong các thế
giới nhiều như số hạt bụi cõi Phật như đã nói ở
trên, còn nhiều gấp bội hơn số mục đó vô lượng
vô biên. Ở tại đạo tràng của mỗi vị Phật, hết
thảy đại pháp minh, đại pháp chiếu, đại pháp vũ,
cùng với pháp tạng ba đời, vị Thập địa Bồ Tát
nầy, an được, thọ được, nhiếp được, trì được.
Cho nên địa nầy gọi là Pháp vân địa.
Phật
tử ! Bồ Tát địa nầy dùng sức tự nguyện, khởi mây
đại bi, chấn sấm đại pháp, ánh chớp thông minh
vô uý, mây dày phước đức trí huệ. Hiện đủ thứ
thân, đến đi khắp cùng. Trong khoảng một niệm,
đến khắp cùng mười phương trăm ngàn ức Na do tha
thế giới, nhiều như số hạt bụi cõi nước, diễn
nói đại pháp, hàng phục ma oán, lại hơn số nầy.
Nơi vô lượng trăm ngàn ức Na do tha thế giới
nhiều như số hạt bụi cõi nước, tuỳ tâm ưa thích
của các chúng sinh, tuôn mưa cam lồ, diệt trừ
tất cả lửa mê hoặc bụi trần, cho nên địa nầy gọi
là Pháp Vân.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Các vị phải biết vị Bồ Tát Pháp
vân địa nầy, thuở xưa Ngài đã từng phát đại
nguyện. Nhờ sức đại nguyện nầy mà sinh khởi tâm
đại bi dày như mây, để che hộ chúng sinh. Phát
ra tiếng sấm như trên trời, làm sư tử hống, vì
chúng sinh diễn nói diệu pháp, khiến cho chúng
sinh giác ngộ. Ngài thông đạt các pháp thật
tướng, minh bạch pháp nghĩa thâm sâu của chư
Phật nói, chứng đắc vô sở uý như Phật. Quang
minh trí huệ như ánh chớp, chiếu khắp pháp giới
tất cả chúng sinh. Phước huệ đầy đủ, giống như
vầng mây dày đặc ở trên trời. Bồ Tát thường thị
hiện đủ thứ thân tướng, bất chấp gian khổ ở
trong chúng sinh, cuối rồi lại bắt đầu, đến đi
khắp cùng, vì tâm bi tha thiết, không thể buông
bỏ đặng tất cả chúng sinh trong đường mê. Bồ Tát
có thể ở trong một niệm, đến khắp cùng mười
phương trăm ngàn ức Na do tha thế giới nhiều như
số hạt bụi, vì chúng sinh diễn nói diệu pháp lìa
khổ được vui, thoát khỏi sinh tử, khiến cho
chúng sinh sớm bỏ mê về với giác ngộ, và còn
hàng phục được thiên ma, chế các ngoại đạo, tất
cả ma oán cũng đều tiêu diệt được. Cảnh giới của
Thập địa Bồ Tát còn phải vượt qua công năng này.
Ngài có thể ở trong vô lượng trăm ngàn ức Na do
tha thế giới nhiều như số hạt bụi, tuỳ sự hoan
hỉ trong tâm của chúng sinh, ban cho cam lồ pháp
vũ, diệt trừ lửa nghiệp chướng bụi trần và mê
hoặc. Do vậy, nên Thập địa gọi là Pháp vân địa.
Phật
tử ! Bồ Tát địa nầy, nơi một thế giới, từ Trời
Đâu Suất giáng sinh, cho đến Niết Bàn, tuỳ tâm
chúng sinh đáng được độ mà hiện Phật sự. Hoặc
hai, hoặc ba, cho đến các cõi nước nhiều như số
hạt bụi như trên, lại hơn số trên đây, cho đến
vô lượng trăm ngàn ức Na do tha thế giới nhiều
như số hạt bụi cõi nước, cũng đều như vậy, cho
nên địa nầy gọi là Pháp Vân.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Vị Thập địa Bồ Tát nầy ở trong một
thế giới - một thế giới bao quát một mặt trời,
một mặt trăng, một bốn đại bộ châu, một núi Tu
Di. Bồ Tát từ cung trời Đâu Suất hạ sinh xuống
nhân gian (Vì thành Phật nhất định phải đến nhân
gian mới có thể thành Phật). Hạ sinh xuống nhân
gian, nhất định phải trải qua nhập thai. Bồ Tát
ở trong thai mẹ vẫn giáo hoá tất cả chúng sinh
và quỷ thần, chẳng giống như phàm phu ở trong
thai mẹ mê muội. Bồ Tát từ cung trời Đâu Suất hạ
sinh, nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo,
hàng ma, chuyển pháp luân, vào Niết Bàn, cộng
thành tám giai đoạn, nên gọi là tám tướng thành
đạo. Bồ Tát trải qua tám giai đoạn nầy, hoàn
thành bổn nguyện ra đời của Ngài, cho đến lúc
vào Niết Bàn. Trong khoảng giữa này, Ngài tuỳ
tâm ý của chúng sinh đáng được hoá độ, thì thị
hiện đủ thứ Phật sự, khiến cho chúng sinh sớm
thành đạo nghiệp. Hoặc hai thế giới, hoặc ba thế
giới, cho đến cõi nước chúng sinh nhiều như hạt
bụi như đã nói ở trên, còn nhiều hơn số trên,
cho đến vô lượng trăm ngàn ức Na do tha thế giới
nhiều như số hạt bụi cõi nước, và chúng sinh
nhiều như số hạt bụi, Bồ Tát cũng đều ở tại đó
giáo hoá tế độ chúng sinh, thị hiện quá trình
thành Phật. Do vậy, cho nên Thập địa gọi là Pháp
vân địa. Thập địa Bồ Tát gọi là Bồ Tát Pháp vân
địa.
Phật
tử ! Bồ Tát địa nầy trí huệ minh đạt, thần thông
tự tại. Tuỳ theo tâm niệm của mình, có thể đem
thế giới hẹp làm thế giới rộng, đem thế giới
rộng làm thế giới hẹp. Thế giới dơ làm thế giới
tịnh, thế giới tịnh làm thế giới dơ. Những thế
giới loạn trụ, thứ trụ, đảo trụ, chánh trụ, như
vậy vô lượng tất cả thế giới, đều hổ tương làm
với nhau.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Bồ Tát Pháp vân địa, trí huệ thông
minh của Ngài, đã đạt đến cảnh giới thông đạt vô
ngại, chiếu soi các pháp thật tướng, tu được tất
cả thần thông diệu dụng của Bồ Tát cần có, nhậm
vận tự như. Trí huệ và thần thông tuy là hai
danh từ, trên thật tế là một thể, có mối quan hệ
với nhau. Nếu chẳng có chân trí huệ, thì không
có thần thông. Chẳng có thần thông thì tuyệt đối
chẳng có trí huệ. Trí huệ sai khiến thần thông,
thần thông trợ giúp trí huệ. Trí huệ là nguồn
động lực của thần thông, thần thông là hiển hiện
của trí huệ. Có thần thông thì có trí huệ, có
trí huệ thì có thần thông. Thần thông tức là trí
huệ, trí huệ tức là thần thông. Thần thông tự
tại, là nói vận dụng đúng chỗ. Cần dùng phương
pháp gì để độ chúng sinh ? Thì biết dùng phương
pháp đó, đó tức là “Trí huệ thông đạt, thần
thông tự tại”. Tuỳ theo tâm ý chúng sinh, nhậm
vận tâm niệm của mình, mà thành đạt mục đích
giáo hoá chúng sinh.
Thập địa Bồ Tát lại có thể tuỳ tâm niệm của
mình, dùng thần thông biến hoá thế giới hẹp
thành thế giới rộng. Thế giới nhỏ biến thành thế
giới lớn. Lại có thể biến thế giới rộng thành
thế giới hẹp. Nhỏ có thể biến thành lớn, lớn lại
có thể biến thành nhỏ, đó đều là hiển hiện của
thần thông diệu dụng. Như trong Kinh Lăng Nghiêm
có nói :
“Nơi đầu sợi lông hiện cõi Bảo
vương,
Ngồi trong hạt bụi chuyển đại
pháp luân”.
Đầu sợi lông và hạt bụi đều rất nhỏ, cõi Bảo
vương và đại pháp luân là lớn. Trong nhỏ hiện
lớn, mà chưa từng phá hoại bản thể của nhỏ, cũng
chưa từng khiến vật hiển được lớn hẹp nhỏ lại.
Đó là diệu dụng của sự viên dung vô ngại và
nghĩa lý không thể nghĩ bàn, chẳng phải phàm phu
bình thường có thể lý giải được. Tôi cũng chẳng
hoài nghi, cũng chẳng vọng cầu, chỉ thật thà tin
lời pháp của Phật nói, thành khẩn chuyên tâm học
Phật, cuối cùng sẽ có một ngày đạt được cảnh
giới diệu dụng như Phật Bồ Tát. Thế giới dơ, tức
là thế giới ô nhiễm, tức cũng là thế giới ác năm
trược. Bồ Tát có thể biến thế giới dơ thành thế
giới tịnh. Thế giới tịnh, tức là thế giới Cực
Lạc. Vì trong tâm chẳng có năm trược, chẳng có
tham sân si mạn nghi, tức là thế giới tịnh. Bồ
Tát lại có thể biến thế giới tịnh thành thế giới
dơ. Tôi nghĩ có người nghe đến đoạn kinh văn
này, sẽ sinh khởi nghi vấn : Nếu như vậy, chẳng
phải Bồ Tát làm đảo lộn thế giới chăng ? Thế
giới xấu biến thành thế giới tốt, đương nhiên ai
ai cũng hoan hỉ. Biến thế giới tốt thành thế
giới xấu, chẳng phải khiến cho chúng sinh thọ
khổ chăng ? Không sai ! Tuy Ngài có thần thông
diệu dụng như vậy, nhưng Ngài tuỳ theo nghiệp
nhân nghiệp quả nghiệp báo của chúng sinh mà
biến hoá. Dơ tịnh vốn là tuỳ tâm chúng sinh mà
chuyển, hẹp rộng cũng tuỳ nghiệp của chúng sinh
mà thành. Tất cả tất cả đều lìa khỏi nghiệp đã
tạo ra của chúng sinh. Tạo nghiệp thọ báo, nhân
quả không bao giờ sai. Bồ Tát có thể biến hoá
thế giới này, chỉ là nhất thời, chẳng phải vĩnh
cửu. Đây chỉ là thần thông diệu dụng thị hiện
tạm thời mà thôi, cho nên nói “làm”. Ý nghĩa chữ
“làm” là Bồ Tát có thể làm như vậy, có thể “làm”
như thế. Thế giới dơ làm thế giới tịnh, cũng có
thể nói người này vốn là người ác, Bồ Tát độ họ
biến thành người thiện. Vốn là một người thiện,
Bồ Tát làm thế nào biến họ thành một người ác.
Những việc làm như vậy, đều là hư vọng trong
pháp hữu vi biến hoá thành tựu. Cho đến những
thế giới loạn trụ, đảo trụ, chánh trụ, cũng là
nói sự tướng khác nhau có thể nhậm vận thần
thông, tự tại chuyển biến. Vô lượng tất cả thế
giới như vừa nói ở trên, Thập địa Bồ Tát đều có
thể biến hoá với nhau, là hiện tượng “làm” tạm
thời.
Hoặc
tuỳ tâm niệm, ở trong một hạt bụi, để một thế
giới núi Tu Di, tất cả núi sông .v.v... mà tướng
của hạt bụi cũng như vậy, thế giới chẳng diệt.
Hoặc lại ở trong một hạt bụi, để hai, để ba, cho
đến bất khả thuyết núi Tu Di, tất cả núi sông
.v.v... mà hạt bụi đó, thể tướng vẫn như cũ, ở
trong thế giới thảy đều hiện rõ.
Hoặc tuỳ theo tâm niệm của chúng sinh, đem một
thế giới để vào trong hạt bụi. Thế giới đó cũng
có núi Tu Di, bảy tầng biển Hương Thuỷ, và tất
cả núi sông khác, nhưng hạt bụi đó vẫn không bị
phá hoại, nó cũng không biến lớn, thế giới cũng
không biến nhỏ, thể tướng vẫn như cũ. Cảnh giới
trong nhỏ hiện lớn này, cũng là thần thông diệu
dụng tự tại của Thập địa Bồ Tát.
Hoặc ở trong một hạt bụi, để hai thế giới, hoặc
ba thế giới, thậm chí để bất khả thuyết thế
giới, nhiều núi Tu Di như vậy, nhiều núi sông
như vậy. Nhưng hạt bụi đó vẫn nhỏ như thế, thể
tướng của nó không ảnh hưởng gì hết, vẫn như cũ,
còn thế giới trong hạt bụi, thể tướng của nó vẫn
y nguyên, mà hiển hiện ra rất rõ ràng.
Hoặc
tuỳ tâm niệm, ở trong một thế giới, thị hiện hai
thế giới trang nghiêm, cho đến bất khả thuyết
thế giới trang nghiêm. Hoặc ở trong một thế giới
trang nghiêm, thị hiện hai thế giới, cho đến bất
khả thuyết thế giới. Hoặc tuỳ tâm niệm, đem
chúng sinh trong bất khả thuyết thế giới, để
trong một thế giới. Hoặc tuỳ tâm niệm, đem chúng
sinh trong một thế giới, để trong bất khả thuyết
thế giới, mà chúng sinh không có tổn hại.
Hoặc tuỳ theo tâm niệm của chúng sinh, ở trong
một thế giới, thị hiện hai thế giới trang
nghiêm, cho đến thị hiện bất khả thuyết thế
giới. Hoặc tuỳ tâm niệm, đem chúng sinh trong
bất khả thuyết thế giới, để vào trong một thế
giới, mà những chúng sinh đó, cũng không cảm
thấy chật chội, họ vẫn sinh sống bình thường, đó
đây không phát sinh sự trở ngại. Hoặc tuỳ tâm
niệm, đem chúng sinh trong một thế giới, để vào
trong bất khả thuyết thế giới, mà những chúng
sinh đó, cũng không cảm thấy có sự bất an. Thần
thông diệu dụng như vậy của Thập địa Bồ Tát, là
cảnh giới không thể nghĩ bàn.
Hoặc
tuỳ tâm niệm, trong một lỗ chân lông, thị hiện
tất cả cảnh giới trang nghiêm của Phật.
Hoặc tuỳ tâm niệm chúng sinh, ở trong một lỗ
chân lông, thị hiện tất cả Phật sự trang nghiêm
trong cảnh giới của chư Phật. Lỗ chân lông thì
nhỏ nhất, cảnh giới của Phật thì lớn nhất, đây
cũng là biểu thị thần thông diệu dụng của Thập
địa Bồ Tát, vận dụng tự như, diệu dụng của sự
trong nhỏ hiện lớn.
Hoặc
tuỳ tâm niệm, ở trong một niệm, thị hiện thân
nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết thế giới.
Mỗi mỗi thân, thị hiện tay nhiều như hạt bụi như
vậy. Mỗi mỗi tay, đều cầm hộp hoa, trấp hương,
tràng phan, lọng báu, nhiều như số cát sông
Hằng, đến khắp mười phương, cúng dường chư Phật.
Mỗi mỗi thân, lại thị hiện số đầu cũng nhiều như
vậy. Mỗi mỗi đầu, lại thị hiện số lưỡi cũng
nhiều như vậy. Ở trong niệm niệm, đến khắp mười
phương, khen ngợi công đức của Phật.
Thập địa Bồ Tát có lúc lại tuỳ thuận tâm niệm
chúng sinh, ở trong khoảng một niệm, thị hiện
thân nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết thế
giới. Mỗi mỗi thân lại thị hiện tay số nhiều
cũng như vậy. Mỗi mỗi tay đều cầm hộp hoa, trấp
hương, tràng phan, lọng báu, đủ thứ đồ trang
nghiêm nhiều như số cát sông Hằng, đến khắp mười
phương cúng dường chư Phật. Mỗi mỗi thân lại thị
hiện số đầu cũng nhiều như vậy. Mỗi mỗi đầu lại
thị hiện số lưỡi cũng nhiều như vậy. Những cái
lưỡi đó, ở trong mỗi một niệm, đều nói về Phật
pháp, khắp cùng mười phương, đều khen ngợi công
đức của chư Phật.
Hoặc tuỳ tâm niệm, trong khoảng một niệm, khắp
cùng mười phương, thị hiện thành Chánh Giác, cho
đến vào Niết Bàn, cùng với việc cõi nước trang
nghiêm. Hoặc hiện thân mình, khắp cùng ba đời,
mà trong thân đó, có vô lượng chư Phật, và việc
cõi Phật trang nghiêm, thế giới thành hoại thảy
đều hiển hiển.
Thần thông diệu dụng của Thập địa Bồ Tát, chúng
ta chúng sinh không thể dùng tâm để suy nghĩ,
không thể dùng lời nói để ví dụ, cho nên nói là
không thể nghĩ bàn. Bồ Tát tuỳ theo tâm niệm của
chúng sinh, có thể ở trong một niệm, đến khắp
cùng mười phương thế giới, thị hiện thành Chánh
Đẳng Chánh Giác – thành Phật, giáo hoá chúng
sinh, chuyển bánh xe pháp, cuối cùng thị hiện
vào Niết Bàn, cùng với tất cả thiện nghiệp Phật
sự trang nghiêm cõi nước chư Phật. Hoặc lại thị
hiện thân Ngài, có thể khắp cùng ba đời, mà
trong thân đó, lại có thể thị hiện vô lượng số
chư Phật, cùng với sự tướng trang nghiêm trong
cõi nước chư Phật. Những hiện tượng thế giới
thành trụ hoại không, thảy đều hiển hiện rõ
ràng.
Như nay có rất nhiều người không tin ba đời, bây
giờ tôi đưa ra một ví dụ nông cạn dễ hiểu: Chúng
ta đều tin có sự thật ngày hôm qua, hôm nay, và
ngày mai. Hôm qua tức là quá khứ, hôm nay tức là
hiện tại, ngày mai tức là vị lai, đây là quan
niệm thời gian gần nhất, xa như các nhà khảo cổ,
ghi lại lịch sử mấy ngàn năm đã trôi qua, đó là
chứng thật đời quá khứ xa xôi. Trước mắt sự việc
từng giây, từng giây trôi qua, đây là hiện tại
trôi qua không ngừng. Nhà tiên tri dự đoán tình
hình thế giới tiến bộ bao nhiêu năm sau, trình
trạng nhân loại biến hoá, văn minh vật chất,
thay đổi biên giới cõi nước, động thái chiến
tranh và hoà bình, đó đều là dự đoán và hy vọng
của tương lai. Như các sự việc đó, chúng ta có
tin chăng ? Đạo lý ba đời cũng lại như thế. Thập
địa Bồ Tát thị hiện đủ thứ sự việc như vậy, mục
đích là giáo chúng sinh có duyên, nói pháp đối
với họ, khiến cho chúng sinh minh bạch ‘pháp thể
như vậy’, khiến cho chúng sinh phát tâm bồ đề,
tu học Phật đạo. Thế giới thành hoại, phải trải
qua một đại kiếp – Hai mươi tiểu kiếp làm một
trung kiếp, bốn trung kiếp làm một đại kiếp.
Trong thời gian lâu dài đó, thế giới do thành mà
trụ, do trụ mà hoại, do hoại mà không. Sau đó có
thế giới mới xuất hiện, kết thúc rồi lại bắt
đầu.
Hoặc
ở trong một lỗ chân lông nơi thân mình, thổi ra
tất cả luồng gió, mà đối với chúng sinh không có
não hại. Hoặc tuỳ tâm niệm, dùng vô biên thế
giới làm một biển cả. Nước trong biển đó, hiện
hoa sen lớn, quang minh nghiêm đẹp, che khắp vô
lượng vô biên thế giới. Trong đó thị hiện việc
cây bồ đề lớn trang nghiêm, cho đến thị hiện
thành Nhất thiết chủng trí.
Hoặc ở trong mỗi lỗ chân lông trên thân của Thập
địa Bồ Tát, thổi ra các luồng gió – Như gió nhẹ,
gió lớn, gió bão, gió lốc .v.v... Những thứ gió
đó, chẳng màng lớn nhỏ, ôn hoà, mãnh liệt, đều
không não hại đối với chúng sinh, không làm hại
chúng sinh. Hoặc tuỳ theo tâm niệm, biến vô biên
thế giới thành biển cả. Ở trong biển cả đó, sinh
ra một đoá hoa sen lớn, đoá hoa sen đó phóng ra
quang minh sáng rỡ, rất nghiêm đẹp, quang minh
đó che khắp không biết bao nhiêu thế giới. Ở
trong những thế giới đó, lại thị hiện ra cây bồ
đề chúa lớn, Bồ Tát ngồi dưới cội bồ đề thành
đạo, trời rồng tám bộ chúng, chư Thiên tử, chư
thần và mười phương chư Phật Bồ Tát đều vây
quanh. Nhất thiết chủng trí, tức là một danh từ
khác của sự thành Phật. Phật thường thường dùng
chữ “biển” để hình dung số lượng lớn, vì biển có
tám đức tướng:
1. Dần dần sâu hơn: Sâu từng chút từng chút,
không biết được đáy, trước mắt tuy có đáy biển
trắc lượng tra dò, cũng chỉ có thể biết đại
khái, đến chỗ sâu nhất không đáy, thì không thể
biết được bí mật đáy biển.
2. Cùng một vị mặn: Tất cả các dòng nước chảy ra
biển, đều có cùng một vị mặn.
3. Hải triều không quá hạn: Biển đều có hải
triều, triều có lúc, sóng cũng có lúc.
4. Có tất cả bảo tàng: Trong biển có rất nhiều
đặc sản mà trên mặt đất không có, như bảy báu
trân châu, san hô bảy màu, hải vị danh quý, các
thứ khoáng tạng, đá, dầu .v.v...
5. Chỗ ở của chúng sinh thân lớn: Trong biển có
động vật rất lớn, mà trên mặt đất chẳng có, như
thân rồng biển dài cả mấy trăm do tuần, có cá
lớn hàng mấy trăm ngàn cân, những chúng sinh
thân lớn đó đều ở trong biển.
6. Không chứa tử thi: Tuy biển rộng lớn vô biên,
sâu không biết đáy, nhưng không chứa tử thi.
7. Hết thảy tất cả dòng nước lớn nhỏ, và vô số
Long vương đồng thời mưa xuống, mà nước biển
không thấy tăng giảm.
8. Nước các dòng sông, ngòi, đều đổ vào, đều mất
tên cũ.
Ở trên là tám đức tướng của biển.
Hoặc
nơi thân mình, hiện ra mười phương thế giới tất
cả quang minh, ma ni bảo châu, mặt trời mặt
trăng tinh tú mây chớp các ánh sáng. Hoặc dùng
miệng hà hơi, có thể động mười phương vô lượng
thế giới, mà không làm cho chúng sinh có ý tưởng
sợ hãi. Hoặc hiện mười phương phong tai hoả tai,
cùng với thuỷ tai. Hoặc tuỳ tâm ưa thích của
chúng sinh, thị hiện sắc thân trang nghiêm đầy
đủ. Hoặc nơi thân mình, thị hiện thân Phật. Hoặc
nơi thân Phật mà hiện thân mình. Hoặc nơi thân
Phật hiện cõi nước mình, hoặc nơi cõi nước mình
mà hiện thân Phật.
Thập địa Bồ Tát có lúc ở nơi thân Ngài, hiện ra
vô lượng quang minh, chiếu sáng mười phương thế
giới. Quang minh đó như ánh sáng ma ni bảo châu,
còn có ánh sáng như mặt trời mặt trăng tinh tú
mây chớp .v.v... chẳng có gì mà chẳng hiện. Hoặc
dùng miệng thổi một hơi - thổi hơi tức là một sự
hô hấp, có thể khiến cho mười phương vô lượng
thế giới bị chấn động, nhưng chẳng khiến cho
chúng sinh sợ hãi.
Gần đây nhất, có một nhà dự đoán nói: Vào ngày
10 tháng sau tại San Francisco sẽ phát sinh động
đất nghiêm trọng, đây nói không chừng một vị đại
Bồ Tát nào đó ở tại đó hà hơi chăng ! Tôi có thể
nói một câu chịu trách nhiệm rằng: Chỉ cần ngày
nào tôi còn ở San Francisco, thị tuyệt đối không
để cho động đất, làm cho mọi người lo sợ. Tại
sao tôi dám nói như thế ? Vì hiện tại tôi đang
giảng Kinh Hoa Nghiêm. Từ năm 1968, bắt đầu
giảng Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh A Di
Đà, Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Kim Cang .v.v... cho
đến hôm nay, chưa từng gián đoạn. Giảng kinh
thuyết pháp, tức là chuyển đại pháp luân. Thiên
Long bát bộ thần linh, nhất định sẽ đến hộ trì
đạo tràng, thì làm sao có tai nạn xảy đến ? Thập
địa Bồ Tát có lúc, hoặc ở tại mười phương thế
giới hiển hiện phong tai, hoả tai và thuỷ tai.
Đại Bồ Tát hiển hiện tai nạn, khiến cho chúng
sinh thọ tai nạn thống khổ, đây chẳng phải là Bồ
Tát không từ bi, cố ý chơi cười với chúng sinh,
cho chúng sinh chịu khổ. Đây là đối với những
chúng sinh tạo nghiệp, cố ý cho chúng sinh một
chút tai nạn, để cho họ chịu khổ mà sinh tâm
giác ngộ. Bổn lai phải có trăm ngàn người thọ
tai hại tử vong, như nay bất quá tử vong một số
người, đây là ý nghĩa tiểu trưng mà đại giới. Có
lúc cũng do tai nạn tổn thất rất lớn, tử vong
rất nhiều. Hiện tượng đó là một thứ công nghiệp,
là do chúng sinh tự tạo nghiệp ác, cho nên không
thể tránh khỏi tai nạn. Tôi nói như vầy: Đây
chẳng phải là biện hộ cho Bồ Tát. Do đó, có câu
“Phải đạo thì tiến, trái đạo thì lùi”, tin hay
không các vị tự suy gẫm.
Bồ Tát có lúc lại tuỳ tâm hoan hỉ của chúng
sinh, lại thị hiện một vị thiếu niên tướng mạo
rất viên mãn, đoan trang, tốt đẹp, ai thấy cũng
đều sinh tâm hoan hỉ, thích gần gũi. Xưa kia, có
vị Ngọc Lâm quốc sư, tướng mạo đoan chánh viên
mãn, thân như lưu ly, con gái của Vương tể tướng
thấy lần đầu, dù bỏ mạng cũng muốn kết hôn. Ngọc
Lâm quốc sư lúc đó giữ chức hương đăng trong
chùa, đương nhiên không thể cưới cô ta. Nhưng
giữa hai người có một đoạn nhân duyên kiếp
trước, và Vương tiểu thư chỉ có Ngọc Lâm mới độ
được. Do đó, hoà thượng phương trượng kêu Ngài
hoàn tục, để giải quyết câu chuyện nầy. Trong
đêm động phòng Ngọc Lâm quốc sư nói với Vương
tiểu thư, hướng dẫn cô tham thiền chạy hương,
chạy đến nỗi đầu tóc tán loạn, mồ hôi chảy khắp
mình, tay chân mệt mỏi, son phấn loè loẹt, mặt
mày trông khó coi. Lúc này, Ngọc Lâm quốc sư kêu
Vương tiểu thư lại soi gương, cô ta nhìn thấy
hình mình trong gương như vậy, lập tức sinh tâm
hổ thẹn, tự giác thân nhơ bẩn, phát tâm tu hành.
Bồ Tát thị hiện sắc thân đoan trang đầy đủ, là
hy vọng chúng sinh thấy, rồi sau đó phát tâm bồ
đề. Lại như Bồ Tát Địa Tạng Vương thuở xưa, khi
làm trưởng giả tử, đâu chẳng phải khi thấy tướng
tốt của đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như
Lai, ngàn vạn trang nghiêm, do hỏi Phật nguyện
gì mà được tướng như thế ?
- Phật đáp: “Phải độ thoát tất cả chúng sinh thọ
khổ lâu dài”.
- Bồ Tát Địa Tạng lập tức phát đại nguyện: “Hết
thuở vị lai, không biết bao số kiếp, vì tất cả
tội khổ chúng sinh, rộng bày phương tiện, khiến
giải thoát hết, mới thành Phật đạo”.
Bồ Tát Địa Tạng Vương phát hoằng thệ nguyện nầy,
quả nhiên đắc được tướng tốt trang nghiêm. Bồ
Tát hoặc nơi thân thể mình, thị hiện làm thân
Phật, trang nghiêm đầy đủ giống như Phật. Hoặc
lại ở nơi thân Phật mà hiện làm thân mình. Thân
Phật thân mình, không hai không khác. Hoặc tại
thân thể của Phật hiện ra cõi nước của mình.
Hoặc tại cõi nước của mình lại hiện ra thân
Phật.
Phật
tử ! Bồ Tát Pháp Vân địa này, có thể hiện như
vậy và vô lượng trăm ngàn ức Na do tha thần lực
tự tại khác.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Vị Thập địa Bồ Tát Pháp vân địa
nầy, Ngài có thể thị hiện đủ thứ như đã nói ở
trên, và có thể thị hiện trăm ngàn ức Na do tha
thần thông diệu dụng năng lực cảnh giới tướng
trạng khác.
Bấy
giờ, các Bồ Tát trong hội, và Thiên, Long, Dạ
Xoa, Càn Thát Bà, A tu la, Tứ Thiên Vương hộ
đời, Thích Đề Hoàn Nhân, Phạm Thiên, Tịnh Cư, Ma
Hê Thủ La, các Thiên tử .v.v... đều nghĩ như vầy
: Nếu Bồ Tát mà thần thông trí lực như vậy, thì
đức Phật lại như thế nào ?
Khi Bồ Tát Kim Cang Tạng nói xong thần thông trí
lực của Thập địa Bồ Tát rồi, thì lúc đó chư Bồ
Tát và Thiên Long bát bộ, Tứ Thiên Vương hộ thế,
Thích Đề Hoàn Nhơn, Thiên Vương Đại Phạm Thiên,
Thiên Vương Tịnh Cư Thiên, Thiên Vương Ma Hê Thủ
La Thiên, cùng với các vị Thiên tử ở trong pháp
hội, mọi người đều nghĩ như vầy: Nếu như thần
thông trí huệ của Thập địa Bồ Tát không thể nghĩ
bàn như thế, vậy thì thần thông trí lực của
Phật, lại như thế nào ? Với Phật có gì khác biệt
?
Bấy
giờ, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt biết ý nghĩ của
các chúng hội, bạch với Bồ Tát Kim Cang Tạng
rằng : Phật tử ! Nay đại chúng nầy, nghe thần
thông trí lực của Bồ Tát đó, sa vào lưới nghi.
Lành thay nhân giả ! Xin hãy thị hiện chút việc
trang nghiêm thần lực của Bồ Tát, để dứt trừ
lòng nghi đó.
Lúc đó, các đại chúng trong pháp hội đối với
việc nầy mà sinh tâm hoài nghi, Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt biết việc hoài nghi ở trong tâm của
họ, cho nên bèn đối với Bồ Tát Kim Cang Tạng nói
: Phật tử ! Hiện tại những đại chúng này, nghe
Ngài giảng Thập địa Bồ Tát có thần thông trí lực
như thế, mọi người không thể tránh khỏi sự sinh
tâm hoài nghi, bị sa vào lưới nghi. Lành thay
nhơn giả ! Xin Ngài hãy vì họ mà dứt trừ lưới
nghi nầy, thị hiện chút ít việc thần thông trí
lực trang nghiêm của Bồ Tát, khiến cho các đại
chúng trong pháp hội dứt trừ sự nghi hoặc trong
tâm.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng bèn nhập vào tam muội
Nhất thiết Phật quốc độ thể tánh. Khi vào tam
muội này, thì các Bồ Tát và tất cả đại chúng,
đều tự thấy thân mình ở trong thân Bồ Tát Kim
Cang Tạng, ở trong đó đều thấy hết thảy đủ thứ
việc trang nghiêm của ba ngàn đại thiên thế
giới, trải qua ức kiếp nói không hết được.
Lại ở trong đó, thấy cây bồ đề
chu vi mười vạn ba ngàn đại thiên thế giới, cao
trăm vạn ba ngàn đại thiên thế giới, cành lá che
phủ cũng lại như thế. Có toà sư tử xứng với thân
cây, trên toà có đức Phật, hiệu là Nhất Thiết
Trí Thông Vương Phật. Tất cả đại chúng đều thấy
đức Phật đó ngồi trên toà sư tử dưới cội bồ đề,
có đủ thứ các tướng dùng làm trang nghiêm, dù
trải qua ức kiếp, nói cũng không hết được.
Bồ Tát Kim Cang Tạng qua sự thỉnh cầu của Bồ Tát
Giải Thoát Nguyệt đại biểu các đại chúng trong
pháp hội, đồng thời cũng vì dứt trừ sự nghi hoặc
của đại chúng, lập tức nhập vào tam muội “Nhất
thiết Phật quốc độ thể tánh”. Vào tam muội này
rồi, các vị Bồ Tát và các Thiên Vương, Thiên Tử
trong pháp hội, mọi người đều nhìn thấy thân của
mình, thảy đều ở trong thân của Bồ Tát Kim Cang
Tạng. Ở trong đó, cũng nhìn thấy trong ba ngàn
đại thiên thế giới có đủ thứ sự tướng trang
nghiêm. Những sự tướng đó, dù có trải qua thời
gian ức kiếp, cũng nói không hết được. Lại ở
trong đó, nhìn thấy một cây bồ đề vương, thân
cây bồ đề đó chu vi mười vạn ba ngàn đại thiên
thế giới, cao trăm vạn ba ngàn đại thiên thế
giới. Cành lá che trùm cũng trăm vạn ba ngàn đại
thiên thế giới. Phía dưới có toà sư tử - pháp
toà của Phật thuyết pháp, to lớn tương xứng với
cây bồ đề. Trên toà sư tử có vị Phật, hiệu là
Nhất Thiết Trí Thông Vương Phật. Đại chúng và
các vị Bồ Tát trong pháp hội, đều nhìn thấy vị
Phật đó ngồi trên toà sư tử dưới cội bồ đề, và
còn nhìn thấy đủ thứ tướng tốt trang nghiêm đức
Phật. Những tướng trạng trên đây, dù có trải qua
ức kiếp thời gian, cũng nói không hết được.
Bồ
Tát Kim Cang Tạng thị hiện đại thần lực như vậy
rồi, khiến cho chúng hội đều trở về chỗ cũ.
Bấy giờ, các đại chúng được chưa
từng có, sinh ý nghĩ kỳ đặc, mà ngồi yên lặng,
một lòng chiêm ngưỡng Bồ Tát Kim Cang Tạng.
Bồ Tát Kim Cang Tạng thị hiện đại thần thông đại
trí lực không thể nghĩ bàn như đã thấy ở trên
rồi, bèn khiến cho chúng hội các đại chúng trong
pháp hội và các vị đại Bồ Tát trở về chỗ cũ. Lúc
đó, các đại chúng trong pháp hội, các vị Bồ Tát,
cùng với bậc Thánh hàng nhị thừa, mọi người đều
cảm giác đến được cảnh tướng đó, chưa bao giờ
được thấy qua, không sao tránh khỏi sinh ra tư
tưởng kỳ đặc, ngồi yên lặng chiêm ngưỡng Bồ Tát
Kim Cang Tạng, đợi Ngài giải thích đạo lý vi
diệu này.
Bầy giờ, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt hướng về Bồ
Tát Kim Cang Tạng nói : Phật tử ! Tam muội này
thật là hi hữu, có đại thế lực, tên của nó là gì
?
Bồ Tát Kim Cang Tạng nói : Tam muội này tên là
Nhất thiết Phật quốc độ thể tánh.
Lúc đó, đại Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt, lại nói
với Bồ Tát Kim Cang Tạng : Phật tử ! Ngài vừa
mới nhập vào tam muội này, rất là kỳ đặc hy hữu,
chúng tôi chưa từng thấy qua. Tam muội này có
đại thế lực, tên gọi là gì ? Xin hãy nói cho đại
chúng biết.
Bồ Tát Kim Cang Tạng đáp rằng: Tam muội này tên
là “Nhất thiết chư Phật quốc độ thể tánh” – Cõi
nước chư Phật và bản lai thể tánh của nó.
Lại hỏi : Cảnh giới của tam muội này như thế nào
?
Đáp rằng : Phật tử ! Nếu Bồ Tát tu tam muội này,
tuỳ tâm nghĩ đến, thì ở trong thân hiện ra thế
giới nhiều như cát sông Hằng, cõi Phật nhiều như
hạt bụi, lại hơn số nầy, vô lượng vô biên.
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt lại hỏi : Hiện tượng
cảnh giới tam muội này như thế nào ? Có thể nói
với đại chúng chăng ?
Bồ Tát Kim Cang Tạng đáp : Các vị đệ tử của Phật
! Nếu như Bồ Tát tu tập thành tựu tam muội này
rồi, thì họ có thể tuỳ tâm như ý, tuỳ theo tâm
niệm, tất cả đều có thể thành tựu hiện tiền,
cũng có thể ở trong thân thể của mình, thị hiện
ra thế giới cõi nước chư Phật nhiều như số cát
sông Hằng, và còn có thể vượt qua hơn đây, vô
lượng vô biên nhiều cõi nước chư Phật.
Phật tử ! Bồ Tát trụ Pháp Vân địa, được vô lượng
trăm ngàn các đại tam muội như vậy. Thân Bồ Tát
nầy, thân nghiệp, không thể dò biết được. Lời,
lời nghiệp. Ý, ý nghiệp. Thần thông tự tại, quán
sát ba đời. Cảnh giới tam muội, cảnh giới trí
huệ, du hí tất cả các môn giải thoát. Biến hoá
làm ra, thần thông làm ra, quang minh làm ra,
lược nói cho đến cất chân, hạ chân, tất cả các
việc làm như vậy, cho đến Pháp Vương tử trụ
Thiện huệ địa Bồ Tát, cũng đều không biết được.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Bồ Tát tu chứng được Thập địa Pháp
vân địa, Ngài chứng đắc được tam muội chẳng phải
là ít, mà là vô lượng trăm ngàn các thứ đại tam
muội. Thân và thân nghiệp của Thập địa Bồ Tát -
Nghiệp thiện của Ngài tạo ra, chẳng có ai dò
lường được, biết được. Lời nói và nghiệp lời nói
của Ngài, ý và nghiệp ý, đều thanh tịnh. Ba
nghiệp thanh tịnh, cho nên Ngài đắc được đại
thần thông, vận dụng tự tại. Có thể quán sát
cảnh giới tam muội ba đời. Có cảnh giới trí huệ,
có thể du hí tất cả đủ thứ pháp môn giải thoát.
Biến hoá làm tất cả, sức thần thông làm tất cả.
Trí huệ quang minh làm tất cả, nói cũng nói
chẳng hết được. Hiện tại lược nói đại khái : Bồ
Tát cất chân hạ chân, đều có thể khiến cho đại
địa sáu thứ biến hoá chấn động. Làm đủ thứ như
vậy, dù Pháp Vương tử, cho đến Thiện huệ địa Bồ
Tát - Cửu địa Bồ Tát, các Ngài không thể biết
được cảnh giới của Thập địa Bồ Tát.
Phật
tử ! Hết thảy cảnh giới của Bồ Tát Pháp Vân địa
này, chỉ lược nói như vậy. Nếu nói rộng ra, giả
sử trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp, nói cũng
không hết được.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ
tử của Phật ! Vị Bồ Tát Thập địa Pháp vân địa
này, hết thảy cảnh giới của Ngài như đã nói ở
trên, bất quá chỉ là lược nói đại khái. Nếu như
muốn nói tỉ mỉ rõ ràng, thì dù có trải qua vô
lượng vô biên trăm ngàn A tăng kỳ đại kiếp, cũng
không cách chi nói hết được.
Bồ
Tát Giải Thoát Nguyệt nói : Phật tử ! Nếu cảnh
giới thần thông của Bồ Tát như vậy, thì sức thần
thông của Phật lại như thế nào ?
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt lại đưa ra câu hỏi nơi
đại chúng pháp hội rằng : Đệ tử của Phật ! Giả
sử thần thông cảnh giới của Thập địa Bồ Tát, dù
có trải qua trăm ngàn A tăng kỳ đại kiếp cũng
không cách chi nói hết được. Vậy, cảnh giới thần
thông trí lực của Phật lại như thế nào ?
Bồ Tát Kim Cang Tạng đáp : Phật tử ! Ví như có
người, nơi bốn thiên hạ lấy một cục đất, mà nói
rằng : Đất của vô biên thế giới nhiều, hay là
cục đất này nhiều ? Tôi xem câu hỏi của ông cũng
lại như thế. Trí huệ của Như Lai vô biên vô
đẳng, làm sao Bồ Tát so sánh được !
Bồ Tát Kim Cang Tạng nói : Đệ tử của Phật ! Ví
như có người, lấy một cục đất nơi bốn châu thiên
hạ, mà hỏi rằng : “Đất trong vô biên thế giới
nhiều ? Hay là đất trong tay của ta nhiều”? Nay
tôi quán sát câu hỏi của ông cũng lại như thế.
Trí huệ của Phật chẳng có bờ mé, chẳng có gì có
thể so sánh bằng được. Làm sao trí huệ của Bồ
Tát Thập địa có thể so sánh với Phật được !
Lại nữa Phật tử ! Như lấy chút đất nơi bốn thiên
hạ, phần còn lại vô lượng. Thần thông trí huệ
của Pháp vân địa này, nơi vô lượng kiếp chỉ nói
ít phần, hà huống Như Lai địa.
Hiện tại tôi tiếp tục nói ví dụ này. Đệ tử của
Phật ! Như ở trước nói chỉ lấy một chút đất
trong bốn thiên hạ, đất còn lại ngoài đại địa là
vô lượng số. Tại Bồ Tát Pháp vân địa, thần thông
và trí huệ của Ngài, phải trải qua vô lượng
kiếp, mới nói được chút phần mà thôi, hà huống
là thần thông và trí huệ của Phật, trí đức viên
mãn, đã chứng được đến cực điểm, làm sao có thể
nói được chút ít phần, để so sánh với Như Lai ?
Do ví dụ của đoạn kinh văn này, khiến cho tôi
nhớ lại, năm nọ lúc Phật còn trụ thế, có một lần
pháp hội, Phật dùng tay lấy lên một chút đất,
bèn hỏi đại chúng trong pháp hội rằng : “Các vị
hãy xem đất trong bàn tay của ta nhiều ? Hay là
đất trong đại địa nhiều” ?
Đại chúng đều đáp rằng : “Dĩ
nhiên đất ngoài đại địa nhiều”!
Đức Phật nói : “Chúng sinh ở trên
thế gian này, từ vô lượng kiếp đến nay, chuyển
tới chuyển lui không ngừng ở trong sáu nẻo luân
hồi, sinh sinh tử tử, sinh diệt biến đổi, đừng
nói thành Phật không dễ, dù được thân người cũng
chẳng dễ dàng”. Cho nên nói :
“Được sinh làm người, như đất
trong bàn tay.
Mất đi thân người, như đất ngoài
đại địa”.
Do đó có thể chứng minh, được thân người rất khó
khăn, được thân người rồi lại có thể tu hành thì
càng khó hơn, tu hành mà thành đạo nghiệp, được
giải thoát càng khó hơn nữa. Do vậy, đức Phật
lại nói : “Thân người khó được, Phật pháp khó
nghe, trung quốc khó sinh vào”. Hiện nay có thể
đổi là “Mỹ quốc khó sinh vào”, vì trung quốc bất
hạnh, gặp lúc đại kiếp nạn, cũng giống như chẳng
có Phật pháp. Như ngày nay Phật pháp truyền đến
phương tây, cho nên nói “Mỹ quốc khó sinh vào”.
Tức chúng ta đã biết thân người khó được như
vậy, tại sao không lợi dụng mấy mươi năm có hạn,
để tu công đức vô tận? Mạng sống của con người
thì có hạn, công đức thì vô cùng. Cổ nhân có
nói:
“Quang âm tựa tiễn như lưu thuỷ
Chuyển nhãn tựu thị bạch đầu
ông”.
Nghĩa là :
Thời gian như tên tợ nước chảy
Nháy mắt tóc trắng phủ đầy đầu.
Lại nói :
"Lưu thuỷ nhất khứ bất phục hoàn
Thất tức nhân thân nan tái phục".
Nghĩa là :
Nước chảy qua rồi không trở lại
Mất đi thân người khó được lại.
Gì là vô tận ? Chỉ có tu hành ! Đạo nghiệp với
công đức, trải qua thiên cổ mà không diệt mất.
Chúng ta đến thế giới này, vì cái gì ? Ai kêu
chúng ta đến ? Phải chăng chúng ta tự nguyện
đến ? Phải chăng bị bắt buộc đến ? Đều không
phải ! Là tuỳ theo nghiệp thọ báo, tuỳ theo
nghiệp đã tạo ra trong quá khứ mà đến để thọ quả
báo. Tại sao phải thọ quả báo ? Vì căn cứ vào
mỗi người đã tạo ra những gì, đó là nhân, đó là
nghiệp nhân; có nhân thì có quả, quả tức là báo
phải thọ. Thiện có thiện báo, ác có ác báo,
chẳng phải không báo, tuỳ thời sẽ đến. Giả sử
chúng ta tu pháp môn vượt khỏi ba cõi, thì sẽ
không thọ sự thống khổ sinh tử luân hồi nữa.
Cổ nhân từng có tám câu cảnh
tỉnh, cũng là lời pháp khuyên người tu hành.
Họ nói rằng :
"Bất cầu đại đạo xuất mê đồ" -
Nếu con người không tu hành, không cầu Phật đạo,
để thoát khỏi đường mê ba cõi, thì "Chung phụ
hiền tài khởi trượng phu" – Đó chẳng phải là cô
phụ tài năng hiền mà có đức, tài hoa thông minh
trí huệ, đây há là việc làm của đại trượng phu
chăng ! Đại trượng phu phải có tài năng lớn,
nghị lực lớn :
"Hai tay khai mở đường sinh tử,
Hai mắt phá chìm cửa danh lợi".
Kế tiếp rằng : "Thời gian trăm
năm đá lửa thiêu" - Đời người có thể sống đến
một trăm tuổi, nhưng thời gian như ánh chớp,
nháy mắt qua rồi không trở lại. Lại giống như
lửa, một khi thiêu đốt thì cháy sạch.
"Một đời thân tựa bọt bóng nước"
- Một đời người, vì danh lợi phú quý, cực nhọc
bôn ba làm ăn, cuối cùng hai bàn tay trắng ra đi
mà không trở lại, giống như bọt nước trong biển,
nháy mắt huyễn diệt không còn.
"Vợ tài vứt đi còn gì đâu" - Một
khi con quỷ vô thường đến, thì vợ cũng không,
con cũng không, tài sản cũng đều không. Ở dưới
huỳnh tuyền lục thân quyến thuộc khó gặp được.
"Tội nghiệp đều làm khó dối mình"
– Con người đến lúc chết, gì cũng chẳng mang
theo được, dù lúc sinh tiền là anh hùng cái thế,
cũng thế thôi ! Chỉ có tội nghiệp tạo ra lúc
sinh tiền, đi theo bạn mà thọ quả báo.
"Thử hỏi đống vàng cao như núi" –
Hãy tự hỏi bạn một đời, phí hết biết bao khổ sở
gian nan, dụng hết tâm tư, giành giựt chiếm đoạt
vàng bạc châu báu, chất đống cao như núi.
"Mua được vô thường không đến
chăng" ? Có thể nào mua được con quỷ vô thường
không đến mời bạn đi gặp vua Diêm Vương chăng ?
Chúng ta nghe được những lời này, phải mau mau
giác ngộ ! Bằng không, sẽ trôi nổi ở trong sáu
nẻo luân hồi, lúc nào mới có ngày chấm dứt ? Có
người muốn làm công đức, nhưng không biết làm ở
đâu, muốn gieo trồng vào ruộng tốt, cũng chẳng
biết gieo trồng ở đâu. Bây giờ, tôi thông báo
với bạn một tin mới, Vạn Phật Thành là ruộng
công đức của hết thảy mọi người. Ai muốn làm
công đức, thì hãy mau đến Vạn Phật Thành làm.
Vạn Phật Thành là thuở ruộng phì nhiêu, Vạn Phật
Thành là bảo tàng của đại chúng, ai muốn đến
khai phát bảo tàng này, thì đều có thể đến phát
quật. Vạn Phật Thành là dự bị chung của thiện
nam tín nữ toàn thế giới. Ai muốn trồng căn
lành, thì hãy đến Vạn Phật Thành ! Ai muốn mãn
tâm nguyện, thì hãy đến Vạn Phật Thành ! Ai muốn
đạt được hy vọng thì hãy đến Vạn Phật Thành !
Vạn Phật Thành là vạn hữu bảo khố, bất quá cần
phải có người có phước đức, thì mới có thể đến
đây làm công đức. Vạn Phật Thành còn là một mảnh
đất sinh ra vạn Phật, có vô lượng số Bồ Tát đến
đây hộ pháp. Điểm này, hy vọng mọi người biết mà
đừng thất thời.
Bây giờ, tôi nói một câu tục ngữ
thế gian : Vạn Phật Thành hôm nay, thì gió cũng
mau đến, mưa cũng mau đến, nước cũng mau đến, ở
đây phong thuỷ đều đầy đủ. Phong thuỷ này rất
đặc biệt, biết nhìn phong thuỷ thì chẳng thấy
được. Không biết nhìn phong thuỷ lại nhìn thấy
được, tức có kỳ diệu này. Như Vạn Phật Thành hôm
nay, năm sau nhìn lại, thì khác nhau. Năm sau
nữa nhìn lại, thì chẳng giống như trước. Tuỳ
theo sự thay đổi tiến bộ từng năm, tiến triển
theo từng năm tháng, đây là điều tất nhiên. Ai
đến cũng đều toại tâm như ý, cầu phú quý được
phú quý, cầu con trai, con gái, được con trai,
con gái, cầu Phật đạo chứng bồ đề, có cầu tất
ứng.
Phật tử ! Nay tôi vì ông dẫn việc
để làm chứng, khiến cho ông được biết cảnh giới
của Như Lai.
Phật tử ! Giả sử mười phương, mỗi
phương đều có cõi nước chư Phật nhiều như số hạt
bụi vô biên thế giới, mỗi cõi nước, đều đầy dẫy
Bồ Tát Thập địa như vậy, nhiều như mía tre lau,
lúa mè rừng rậm. Các Bồ Tát đó, trong trăm ngàn
ức Na do tha kiếp tu Bồ Tát hạnh, phát sinh trí
huệ, so với cảnh giới trí huệ của Như Lai, trăm
phần chẳng bằng một, cho đến không bằng một phần
Ưu ba ni sa đà.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Nay tôi vì các vị
dẫn việc cụ thể để chứng mình, khiến cho các vị
biết được cảnh giới của Như lai.
Các vị đệ tử của Phật ! Giả sử
mười phương, mỗi phương đều có vô biên thế giới,
trong những thế giới đó, lại có cõi nước chư
Phật, nhiều như số hạt bụi, ở trong mỗi cõi
Phật, có vô số Bồ Tát Thập địa đầy dẫy ở trong
đó, nhiều giống như mía tre lau lúa mè rừng rậm.
Các vị Bồ Tát đó ở trong trăm ngàn ức Na do tha
kiếp tu Bồ Tát hạnh, sinh ra trí huệ, nếu so
sánh với cảnh giới trí huệ của một vị Phật, thì
chẳng bằng một phần trăm, cho đến dùng số mục
lớn nhất, hoặc dùng số mục nhỏ nhất – cũng chẳng
bằng một phần Ưu ba ni sa đà.
Phật tử ! Bồ Tát này trụ trí huệ
như vậy, chẳng khác với thân miệng ý nghiệp của
Như Lai. Chẳng bỏ các lực tam muội của Bồ Tát.
Trong vô số kiếp, thừa sự cúng dường tất cả chư
Phật. Trong mỗi mỗi kiếp, đem tất cả các đồ cúng
dường để cúng dường chư Phật, được tất cả thần
lực của chư Phật gia trì, trí huệ quang minh
ngày càng tăng thêm thù thắng. Hết thảy vấn nạn
ở trong pháp giới, đều khéo giải thích, trăm
ngàn ức kiếp không có ai khuất phục được.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Vị Bồ Tát Pháp vân
địa này, Ngài đã có trí huệ thượng diệu như vậy,
thì thân khẩu ý ba nghiệp của Ngài, công đức
thanh tịnh, giống như đức Như Lai. Ngài đã đạt
đến công phu tu trì như vậy, nhưng Ngài không
kiêu ngạo tự mãn, không xả bỏ tất cả tam muội Bồ
Tát hạnh đã tu được trước kia. Trong quá trình
tu hành của Ngài, từ vô số kiếp đến nay, không
lúc nào mà chẳng gần gũi Phật, thừa sự hầu hạ
chư Phật, thành tâm cúng dường chư Phật. Ở trong
mỗi kiếp, đều đem đủ thứ phẩm vật cúng dường
thượng hạng để cúng dường chư Phật. Do đó, được
chư Phật dùng thần lực trí huệ gia bị cho Ngài,
khiến cho trí huệ quang minh của Ngài, ngày càng
lớn, ngày càng sáng. Ngài ở trong mười pháp
giới, bất cứ ai có vấn nạn gì đến hỏi Ngài, Ngài
đều trả lời giải thích rõ ràng, khiến cho người
hỏi được câu trả lời vừa ý. Dù trải qua trăm
ngàn ức đại kiếp, cũng chẳng có ai khuất phục
được Ngài.
Phật tử ! Ví như thợ vàng, dùng
vàng thật tốt đẹp làm đồ trang sức, đại ma ni
báu xen lẫn trong vàng. Tự Tại Thiên Vương mang
những đồ trang sức này vào mình, thì các đồ
trang sức khác của chư Thiên không bằng được.
Bậc Bồ Tát này cũng lại như thế. Ban đầu từ Sơ
địa cho đến Cửu địa, hết thảy trí hạnh của tất
cả Bồ Tát đều không bằng được Bồ Tát Thập địa.
Trí huệ quang minh của bậc Bồ Tát này, hay khiến
cho chúng sinh, cho đến nhập vào trí Nhất thiết
trí, trí quang minh khác không được như vậy.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Ví như người thợ
vàng, họ dùng vàng thật tốt đẹp nhất, làm đồ
trang sức mang trên mình, dùng ma ni báu xen lẫn
bên trong. Đại Tự Tại Thiên Vương mang đồ trang
sức đó lên mình, thì chói sáng đẹp vô cùng, các
đồ trang sức khác của chư Thiên không bằng được.
Tất cả trí huệ thần thông của Bồ Tát Thập địa so
sánh với trí huệ của các bậc Bồ Tát khác cũng
như thế. Bắt đầu từ Sơ địa – Hoan hỉ địa, cho
đến Cửu địa - Thiện huệ địa, hết thảy các địa Bồ
Tát, trí huệ và hạnh tu chứng của các Ngài, đều
không bằng Bồ Tát Pháp vân địa. Bồ Tát Pháp vân
địa dùng trí huệ quang minh của Ngài, hay khiến
cho chúng sinh đắc được lợi ích, tiến bộ khiến
cho họ nhập vào trí huệ của Phật, chứng được bồ
đề. Còn trí huệ quang minh của các bậc Bồ Tát
khác không thể bằng được trí huệ quang minh của
Bồ Tát Thập địa.
Phật tử ! Ví như quang minh của
Ma Hê Thủ La Thiên Vương, hay khiến cho thân tâm
của chúng sinh mát mẻ, tất cả quang minh khác
không bằng được. Trí huệ quang minh của Bồ Tát
Thập địa này, cũng lại như thế, hay khiến cho
chúng sinh đều được mát mẻ, cho đến trụ nơi trí
Nhất thiết trí. Tất cả Thanh Văn Bích Chi Phật,
cho đến Cửu địa Bồ Tát, trí huệ quang minh đều
không bằng được.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Ví như quang minh
của Ma Hê Thủ La Thiên Vương, hay làm cho tất cả
chúng sinh, sau khi tiếp thọ rồi, cảm giác thân
tâm đều mát mẻ, các quang minh khác không bằng
được quang minh của Ma Hê Thủ La Thiên Vương
phóng ra. Thập địa - Bồ Tát Pháp vân địa, trí
huệ quang minh của Ngài cũng lại như thế, cũng
hay làm cho thân tâm chúng sinh cảm thọ mát mẻ,
tiến tới đạt được trí huệ Nhất thiết trí, thành
tựu cảnh giới của Phật. Bậc nhị thừa Thanh Văn,
Bích Chi Phật, cho đến Cửu địa Bồ Tát, trí huệ
quang minh của các Ngài đều không bằng được.
Phật tử ! Đại Bồ Tát này, đã an
trụ trí huệ như vậy, thì chư Phật Thế Tôn lại vì
Ngài nói trí ba đời, trí pháp giới khác biệt,
trí khắp tất cả thế giới, trí chiếu tất cả thế
giới, trí niệm tất cả chúng sinh, cho đến vì
Ngài nói đắc được trí Nhất thiết trí.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ Tát Thập
địa – Pháp vân địa, Ngài đã tu chứng được trí
huệ tối thượng thù thắng, an trụ ở trong sự
chứng được trí huệ thần diệu. Chư Phật Thế Tôn
lại vì Ngài nói trí huệ ba đời, trí huệ vi tế
khác biệt trong pháp giới, trí huệ khắp tất cả
thế giới, trí huệ chiếu khắp tất cả thế gian,
trí huệ từ bi thương nhớ tất cả chúng sinh, cho
đến vì Ngài nói đắc được trí huệ Nhất thiết trí,
trí huệ tiến vào Phật đạo.
Bồ Tát này ở trong mười Ba la
mật, thì trí Ba la mật tăng thượng nhất. Còn các
Ba la mật khác tuỳ sức mà tu.
Phật tử ! Đó là nói sơ lược về
đại Bồ Tát Pháp vân địa thứ mười. Nếu nói rộng
ra, thì giả sử trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp,
nói cũng không hết được.
Vị Bồ Tát Pháp vân địa này, khi
Ngài tu mười thứ Ba la mật, thì trong quá trình
tu Thập địa, Ngài chuyên tu về trí Ba la mật, vì
"Trí quyết đoán được hết tất cả". Còn chín Ba la
mật kia chẳng phải không tu hành, chỉ là tuỳ
duyên tuỳ phần tuỳ sức mà tu.
Các vị đệ tử của Phật ! Những gì
nói ở trên, quan hệ đến đủ thứ sự tướng và cảnh
giới của Bồ Tát Thập địa, chỉ là nói sơ lược đại
khái mà thôi. Giả sử muốn nói tỉ mỉ rõ ràng, thì
dù trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp thời gian, e
rằng cũng nói không hết được.
Phật tử ! Bồ Tát trụ địa này,
phần nhiều làm Ma Hê Thủ La Thiên Vương, tự tại
nơi pháp, hay truyền thọ hạnh Ba la mật của tất
cả Bồ Tát cho chúng sinh Thanh Văn Độc Giác. Hết
thảy vấn nạn trong pháp giới, không ai khuất
phục được.
Tất cả các việc làm như bố thí,
ái ngữ, lợi hành, đồng sự, đều không lìa khỏi
niệm Phật, cho đến không lìa khỏi niệm trí Nhất
thiết chủng trí. Lại nghĩ như vầy : Tôi phải ở
nơi tất cả chúng sinh làm thượng thủ, làm thắng,
cho đến làm chỗ nương tựa cho bậc Nhất thiết
trí. Nếu siêng năng tinh tấn, trong khoảng một
niệm, thì đắc được tam muội nhiều như số hạt
bụi, mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha
cõi Phật, cho đến thị hiện các Bồ Tát làm quyến
thuộc nhiều như số hạt bụi nói trên.
Các vị đệ tử của Phật ! Giai đoạn
Bồ Tát tu chứng quả vị Pháp vân địa, phần nhiều
thị hiện làm Ma Hê Thủ La Thiên Vương, quan niệm
và nhận thức đối với pháp rất đúng đắn chánh
quyết. Sự vận dụng pháp cũng rất viên dung tự
tại, tuỳ tâm tự như. Và còn hay giáo hoá chúng
sinh, truyền thọ hạnh Ba la mật của Bồ Tát bậc
dưới tu cho hàng nhị thừa bậc Thánh. Các vấn nạn
trong pháp giới, không còn ai khuất phục được
Ngài. Ngài dùng bốn pháp nhiếp : Bố thí, ái ngữ,
lợi hành, đồng sự, giáo hoá các chúng sinh và
làm tất cả Phật sự, làm những gì cũng đều không
lìa khỏi tông chỉ giáo hoá của Phật, và công đức
nghĩ nhớ niệm Phật, càng không lìa khỏi nghĩ nhớ
chủng trí đầy đủ của chư Phật, và trí Nhất thiết
trí - tức song chiếu, không, giả, hai đế, tức
cũng là trí huệ của Phật, cảnh giới của Phật. Bồ
Tát lại nghĩ như vầy : Tôi phải ở trong tất cả
chúng sinh, vì họ làm lãnh tụ, làm thủ lãnh nhẫn
khổ chịu cực thù thắng, và làm chỗ nương tựa của
bậc Nhất thiết trí. Nếu như càng siêng năng tinh
tấn, thì có thể trong khoảng một niệm, đắc được
tam muội – chánh định chánh thọ nhiều như số hạt
bụi mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha
cõi Phật, lại còn có thể thị hiện các Bồ Tát làm
quyến thuộc nhiều như số hạt bụi nói trên. Ma Hê
Thủ La Thiên Vương tức là Trời Đại Tự Tại, trên
đỉnh của sắc giới, khi Thập địa Bồ Tát sắp thành
Phật hiện thắng báo Đại Tự Tại Thiên Vương.
Nếu dùng nguyện lực thù thắng của
Bồ Tát, tự tại thị hiện, thì hơn số trên đây.
Như là: hoặc tu hành, hoặc trang nghiêm, tin
hiểu, việc làm, thân, lời nói, quang minh, các
căn, thần biến, hoặc âm thanh, hoặc hành xứ, cho
đến trăm ngàn ức Na do tha kiếp, không thể tính
đếm biết được.
Nếu như dùng đại nguyện lực thù
thắng của Bồ Tát Thập địa phát ra thuở xưa, mà
nay tuỳ tâm thị hiện, thì sẽ nhiều hơn số mục đã
nói ở trên. Như là : Pháp môn Bồ Tát tu hành,
tịnh nghiệp trang nghiêm cõi Phật, tin hiểu thâm
sâu, làm Phật sự, thân nghiệp, ngữ nghiệp, trí
huệ quang minh, các căn, thần thông biến hoá,
hay vì chúng sinh đều hiểu một tiếng, và đạo của
Bồ Tát tu hành .v.v... cho đến trải qua trăm
ngàn ức Na do tha kiếp, cũng chẳng cách chi đếm
biết được.
Phật tử ! Tướng tu hành của đại
Bồ Tát Thập địa này, thứ lớp hiện tiền, thì sẽ
hướng nhập vào trí Nhất thiết trí. Ví như nước
ao A Nậu Đạt chảy ra bốn con sông lớn, nước
những con sông này chảy khắp cõi Diêm Phù Đề.
Chẳng những không cạn kiệt, mà còn nhiều thêm,
cho đến chảy vào biển, làm cho nước biển đầy
dẫy.
Các vị đệ tử của Phật ! Tướng
trạng tu hành trong Thập địa của vị đại Bồ Tát
này, nương theo thứ lớp tuần tự mà tiến. Từ Sơ
địa cho đến Thập địa - tiến trình tu hành của
Pháp vân địa, đều đầy đủ viên mãn rồi, thì rất
thuận lợi tiến vào cảnh giới trí huệ của Phật.
Ví như nước ao A Nậu Đạt chảy ra bốn con sông
lớn, nước bốn con sông lớn lại chảy ra khắp cõi
Diêm Phù Đề, nó chẳng những không chảy hết cạn
kiệt, mà còn tăng thêm không ngừng, chảy một
mạch ra biển cả, làm cho nước biển vĩnh viễn đầy
dẫy, mà nước bốn con sông lớn vẫn không tăng
không giảm.
Phật tử ! Bồ Tát cũng thế, nước
từ bồ đề tâm chảy ra căn lành đại nguyện, dùng
bốn pháp nhiếp mà tràn đầy chúng sinh. Chẳng
những không cùng tận, mà lại càng tăng trưởng,
cho đến chảy vào biển Nhất thiết trí, làm cho
biển trí huệ tràn đầy.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát Thập địa –
Pháp vân địa, Ngài cũng như nước ao A Nậu Đạt
chảy ra bốn con sông lớn. Từ lúc ban đầu phát bồ
đề tâm, tu hành Bồ Tát đạo, tích tập đủ thứ công
đức, tài bồi nước công đức căn lành đại nguyện,
dùng bốn pháp nhiếp, hoá độ chúng sinh, khiến
cho chúng sinh đắc được mùi vị chánh pháp, tràn
đầy thân tâm, chẳng khi nào cùng tận. Càng khiến
cho căn lành ngày càng tăng trưởng, cuối cùng
đại nguyện được thành tựu, cho đến chảy vào
trong biển Nhất thiết trí, làm cho biển trí huệ
tràn đầy ruộng tâm.
Phật tử ! Bồ Tát Thập địa, do
Phật trí mà có sự khác biệt.
Các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát
Thập địa – Pháp vân địa, vì tu bình đẳng Phật
trí, mà khởi các hạnh, cho nên tuỳ theo quá
trình tu hành trong Thập địa, mà từ từ tăng lên,
tu đến không còn sự khác biệt. Khi chưa đạt được
viên mãn, do đó mà hiển hiện có sự khác biệt, vì
Pháp vân địa cách thành Phật còn có một khoảng
cách.
Như do đại địa, mà có mười núi
chúa. Những gì là mười ? Đó là : Núi chúa Tuyết,
núi chúa Hương, núi chúa Tỳ Đà Lê, núi chúa Thần
Tiên, núi chúa Do Càn Đà, núi chúa Mã Nhĩ Sơn,
núi chúa Ni Dân Đà La, núi chúa Chướt Yết La,
núi chúa Kế Đô Mạt Để, núi chúa Tu Di Lư.
Như do nương vào đại địa, mà có
mười toà núi chúa. Những gì là mười núi chúa ?
Đó là : Núi chúa Tuyết, núi chúa Hương, núi chúa
Tỳ Đà Lê, núi chúa Thần Tiên, núi chúa Do Càn
Đà, núi chúa Mã Nhĩ Sơn, núi chúa Ni Dân Đà La,
núi chúa Chướt Yết La, núi chúa Kế Đô Mạt Để,
núi chúa Tu Di Lư.
Phật tử ! Như núi chúa Tuyết, tất
cả cỏ thuốc đều ở trong đó, lấy không hết được.
Bồ Tát trụ Hoan Hỉ địa, cũng lại như thế. Tất cả
thế gian kinh thư kỹ thuật, văn tụng chú thuật,
đều ở trong địa này, nói không hết được.
Các vị đệ tử của Phật ! Giống như
toà núi chúa Tuyết lớn, tất cả cỏ thuốc danh quý
trên thế gian, đều ở trong đó, lấy không hết
được. Bồ Tát tu chứng được Sơ địa – Hoan hỉ địa,
cũng giống như núi chúa Tuyết, vì tất cả kinh
thư, kỹ thuật, văn tụng, chú thuật .v.v... trên
thế gian, đều bao quát ở trong một địa này, Bồ
Tát đều phải tu tập thông đạt viên mãn, nói cũng
nói không hết được.
Phật tử ! Như núi chúa Hương, tất
cả các thứ hương thơm, đều tụ tập ở trong đó,
lấy không hết được. Bồ Tát trụ Ly Cấu địa, cũng
lại như thế. Tất cả giới hạnh oai nghi của Bồ
Tát, đều ở trong đây, nói không hết được.
Các vị đệ tử của Phật ! Lại như
núi chúa Hương, tất cả hương thơm trên thế gian
đều ở trong toà núi đó, lấy dùng không hết được.
Bồ Tát tu tập chứng được Địa thứ hai – Ly cấu
địa, cũng giống như núi chúa Hương, tất cả giới
hạnh và oai nghi của Bồ Tát, đều ở trong địa này
tu chứng viên mãn, nói không hết được.
Phật tử ! Như núi chúa Tỳ Đà Lê,
thuần bằng châu báu hình thành, tất cả các thứ
báu đều ở trong đó, lấy không hết được. Bồ Tát
trụ Phát Quang địa cũng lại như thế. Tất cả
thiền định thần thông, tam muội giải thoát, Tam
ma bát để của thế gian, đều ở trong đây, nói
không hết được.
Các vị đệ tử của Phật ! Lại giống
như núi chúa Tỳ Đà Lê, thuần bằng đá báu hình
thành, tất cả trân kỳ bảo tàng trên thế gian đều
ở trong đó, lấy không hết được. Bồ Tát tu chứng
quả vị Địa thứ ba – Phát quang địa, cũng giống
như núi chúa Tỳ Đà Lê, tất cả thiền định, thần
thông, tam muội giải thoát, tam ma bát để - chỉ
quán .v.v... pháp môn tu hành trên thế gian, đều
ở trong địa này tu tập thành tựu, nói không hết
được.
Phật tử ! Như núi chúa Thần Tiên,
thuần bằng châu báu hình thành, ngũ thông thần
tiên đều ở trong đó, không cùng tận. Bồ Tát trụ
Diệm Huệ địa, cũng lại như thế. Tất cả trí huệ
thù thắng đều ở trong đây, nói không hết được.
Các vị đệ tử của Phật ! Lại như
núi chúa Thần Tiên, cũng hoàn toàn thuần bằng đá
báu hình thành. Các ngũ thông thần tiên đều ở
trong đó, nhiều không biết số bao nhiêu. Ngũ
thông là : Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông,
tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông.
Bồ Tát tu chứng Địa thứ tư - Diệm huệ địa, cũng
giống như núi chúa Thần Tiên, vì phàm là người
tu đạo phải đắc được trí huệ thù thắng, đều phải
ở trong giai đoạn này tu tập chứng được, nói
cũng nói không hết được.
Phật tử ! Như núi chúa Do Càn Đà,
thuần bằng châu báu hình thành. Dạ Xoa, đại
thần, đều ở trong đó, không cùng tận. Bồ Tát trụ
Nan Thắng địa, cũng lại như thế. Tất cả thần
thông tự tại như ý, đều ở trong đây, nói không
hết được.
Các vị đệ tử của Phật ! Lại giống
như núi chúa Do Càn Đà, thuần bằng châu báu hình
thành. Các loại Dạ Xoa khác nhau, và có Thần đại
oai lực, đều ở trong núi này, nhiều không biết
được số bao nhiêu. Bồ Tát tiến vào Địa thứ năm –
Nan thắng địa, cũng giống như núi chúa này. Hết
thảy thần thông biến hoá nhậm vận tự tại, đều ở
trong Địa này tu chứng viên mãn, nói cũng không
hết được.
Phật tử ! Như núi chúa Mã Nhĩ,
thuần bằng châu báu hình thành. Tất cả các thứ
quả đều ở trong đó, lấy không hết được. Bồ Tát
trụ Hiện Tiền địa, cũng lại như thế. Nhập duyên
khởi hiện Thanh Văn quả chứng, đều ở trong đây,
nói không hết được.
Các vị đệ tử của Phật ! Lại như
núi chúa Mã Nhĩ, cũng thuần bằng châu báu hình
thành, tất cả các thứ quả danh quý trên thế gian
đều ở trong núi này, lấy không hết được. Bồ Tát
tiến vào Địa thứ sáu - Hiện tiền địa, cũng giống
như núi chúa này, Ngài vào sâu đạo lý duyên
khởi, đồng với quả vị Thanh Văn đắc được. Còn có
vô số bậc Thánh chứng quả, đều trụ ở trong núi
đó, nói cũng không hết được.
Như núi chúa Ni Di Đà La, thuần
bằng châu báu hình thành. Đại lực Long Thần đều
ở trong đó, không cùng tận. Bồ Tát trụ Viễn Hành
địa, cũng lại như thế. Phương tiện trí huệ chứng
quả Độc Giác, đều ở trong đây, nói không hết
được.
Lại như núi chúa Ni Di Đà La,
cũng thuần châu báu hình thành. Đại lực Long
Thần đều ở trong núi này không cùng tận. Bồ Tát
chứng nhập Địa thứ bảy - Viễn hành địa cũng như
thế. Vượt qua trước một địa vào sâu đạo lý duyên
khởi, mà thành tựu phương tiện trí huệ, cũng ở
trong một địa này tu học viên mãn. Đồng như bậc
Thánh quả vị Độc Giác, nhiều chẳng biết bao
nhiêu; giống như ở trong núi chúa này, nói cũng
không hết được.
Như núi chúa Chướt Yết La, thuần
bằng châu báu hình thành. Các chúng tự tại đều
trụ ở trong đó, không cùng tận. Bồ Tát trụ Bất
Động địa, cũng lại như thế. Tất cả Bồ Tát tự tại
đi khắp thế giới khác biệt, đều ở trong đây, nói
không hết được.
Lại như núi chúa Chướt Yết La,
cũng thuần bằng châu báu hình thành, hết thảy
tất cả bậc Thánh tự tại, đều ở trong núi đó,
cũng chẳng biết có bao nhiêu. Bồ Tát tu chứng
Địa thứ tám - Bất động địa, cũng giống như núi
chúa này. Tất cả hạnh tu học của Bồ Tát đều
thành tựu thần thông diệu dụng nhậm vận tự tại,
không động thân mà có thể phân thân đến vô số
thế giới khác nhau, đều ở trong địa này tu chứng
đầy đủ, cũng nói không hết được.
Như núi chúa Kế Đô, thuần bằng
châu báu hình thành. A Tu La Vương đại oai đức,
đều ở trong đó, không cùng tận. Bồ Tát trụ Thiện
Huệ địa, cũng lại như thế. Tất cả thế giới sinh
diệt trí hành, đều ở trong đây, nói không hết
được.
Lại như núi chúa Kế Đô, cũng
thuần bằng châu báu hình thành. Có A tu la vương
đại oai đức, ở trong núi đó không biết được số
bao nhiêu. Bồ Tát từ Bất động địa tiến vào Địa
thứ chín - Thiện huệ địa, cũng như thế. Vì tất
cả đạo lý duyên khởi sinh diệt trên thế gian,
cùng với pháp môn trí huệ và tu hành làm thế nào
để tiêu trừ sinh và diệt lưu chuyển khổ não, đều
ở trong địa này thành tựu viên mãn, cũng nói
không hết được.
Như núi chúa Tu Di Lư, thuần bằng
châu báu hình thành. Chư Thiên đại oai đức đều ở
trong đó, không cùng tận. Bồ Tát trụ Pháp Vân
địa, cũng lại như thế. Lực vô sở uý bất cộng
pháp của Như Lai, tất cả Phật sự, đều ở trong
đây, vấn đáp tuyên nói, không thể hết được.
Lại như núi chúa Tu Di Lư, thuần
bằng châu báu hình thành. Có chư Thiên đại oai
đức, đều ở trong núi này, chẳng biết số bao
nhiêu. Bồ Tát tu chứng tiến vào Địa thứ mười –
Pháp vân địa, cũng giống như núi chúa Tu Di Lư.
Mười lực của Phật, bốn vô sở uý, mười tám pháp
bất cộng, cùng với tất cả Phật sự thù thắng, Bồ
Tát phải chứng đắc đủ thứ cảnh giới ở trên đây,
phải ở trong địa này tinh tấn tu học, viên mãn
công đức đầy đủ, mới có thể tiến vào quả vị Đẳng
Giác Diệu Giác, mà chứng quả Phật. Những quá
trình này, đều thành tựu trong Thập địa. Cùng
với các thứ vấn nạn, thảy đều giải đáp, tuyên
nói diệu pháp .v.v... nói không hết được.
Dùng mười núi ví dụ Thập địa :
Hai núi trước thể là núi đất, biểu thị thế gian.
Tám núi sau thể đều thuần bằng châu báu, biểu
thị thanh tịnh, hàm nghĩa tại nơi pháp. Trong
mỗi đoạn đều có "Nói không hết được, không cùng
tận", ý nghĩa là : Tuỳ thuận tu hành, vĩnh viễn
không gián đoạn, vĩnh viễn không tạm ngừng.
Phật tử ! Mười núi chúa báu này,
đồng ở trong biển, do khác biệt mà được tên. Bồ
Tát Thập địa, cũng lại như thế. Đồng ở trong
Nhất thiết trí, do khác biệt mà được tên.
Các vị đệ tử của Phật ! Mười toà
núi chúa báu này, đều ở trong biển, vì mỗi toà
núi đều có điểm đặc biệt của nó, nên được tên
cũng khác nhau. Bồ Tát tu học pháp môn Thập địa,
mỗi địa đều có chỗ tu chứng khác nhau, nên gọi
tên quả vị cũng khác nhau. Tuy nhiên, đồng ở
trong Nhất thiết trí của Phật, nhưng sự tu hành
trong Thập địa cũng có ưu điểm, nhược điểm khác
biệt, hành tướng các địa cũng khác nhau, căn cứ
vào giáo lý hành tướng, mà được tên các địa khác
nhau.
Phật tử ! Ví như biển cả, nhờ
mười tướng, mà được tên là biển cả, không bị đổi
tên. Những gì là mười ? Một là : Thứ tự sâu dần.
Hai là : Không chứa tử thi. Ba là : Các dòng
nước chảy vào trong biển, đều mất tên. Bốn là :
Đều đồng một vị mặn. Năm là : Có vô lượng châu
báu. Sáu là : Không thể đến đáy được. Bảy là :
Rộng lớn vô lượng. Tám là : Chỗ thân lớn ở. Chín
là : Thuỷ triều không quá hạn. Mười là : Chứa
hết nước mưa to, mà không bao giờ tràn.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Ví như biển cả, vì
có mười tướng trạng đặc biệt, nên được tên là
"biển cả", dùng tên "biển" này không bao giờ bị
đổi tên. Những gì là mười ?
1. Nước trong biển thứ tự sâu dần
từng chút từng chút.
2. Biển tuy rộng lớn sâu không
thấy đáy, nhưng tử thi ở trong biển trôi dạt,
không thể nào chìm xuống.
3. Các dòng nước, bất luận sông
hồ, chảy vào biển rồi, đều gọi là nước biển,
vĩnh viễn mất đi tên nguồn của nó.
4. Bất cứ nước gì chảy vào trong
biển, đều biến thành một vị mặn, chẳng có vị nào
khác.
5. Trong biển sinh sản ra đủ thứ
ngọc ngà châu báu.
6. Chẳng cách chi biết được độ
sâu của biển, không thể nào biết được nơi nào là
đáy biển.
7. Biển rộng lớn vô lượng, nhìn
không thấy bờ.
8. Là nơi động vật thân lớn ở.
9. Nước biển thường có hiện tượng
thuỷ triều lên xuống nhất định, chưa bao giờ
vượt qua thời hạn.
10. Biển có dung lượng vô hạn,
bất cứ đổ xuống bao nhiêu trận mưa lớn, cũng
không thấy nước biển tăng, không có mưa xuống
cũng không thấy nước biển giảm, cho nên nó không
tràn, cũng không khô cạn.
Bồ Tát hạnh cũng lại như thế, vì
dùng mười tướng, nên gọi là Bồ Tát hạnh, không
bị đổi tên. Những gì là mười ? Đó là Hoan Hỉ
địa, sinh ra đại nguyện dần dần càng sâu. Ly Cấu
địa, không chứa tất cả thây phá giới. Phát Quang
địa, xả lìa danh tự giả của thế gian. Diệm Huệ
địa, với công đức của Phật đồng một vị. Nan
Thắng địa, sinh ra vô lượng phương tiện thần
thông, làm các trân bảo của thế gian. Hiện Tiền
địa, quán sát lý duyên sinh thâm sâu. Viễn Hành
địa, giác huệ rộng lớn, khéo quán sát. Bất Động
địa, thị hiện việc rộng lớn trang nghiêm. Thiện
Huệ địa, đắc được giải thoát thâm sâu, du hành
nơi thế gian, biết đúng như thật không quá hạn.
Pháp Vân địa, thọ được tất cả mưa đại pháp minh
của chư Phật Như Lai, không nhàm đủ.
Pháp môn Bồ Tát tu hành, giống
như biển cả, cũng có mười đức tướng, cho nên gọi
là "Bồ Tát hạnh", danh từ chuyên môn thuộc về tu
hành, không thể tuỳ ý sửa đổi, cũng không thể
nào bị đổi tên. Những gì là mười ? Đó là :
1. Hoan hỉ địa : Bồ Tát tại địa
này hay sinh ra tất cả đại nguyện đại lực, tinh
tấn tu hành, từng bước ngày càng thâm sâu, cho
đến đạt được mãn nguyện.
2. Ly cấu địa : Ly cấu tức là xả
lìa tất cả tư tưởng và vọng niệm nhiễm ô, tất cả
lời nói hành động chẳng thanh tịnh đều xả lìa
hết. Nhất là phải đoạn dục niệm, dục niệm không
đoạn thì không thể nói là ly cấu. Dục niệm thấy
về việc làm tức là phá giới, thì chưa được ly
cấu. Thanh tâm đoạn dục, không phá giới, tức là
thanh tịnh ly cấu. Cho nên, nơi quả vị Ly cấu
địa, phải nghiêm thủ quy luật. Người phá giới,
giống như là thây chết. Tại Ly cấu địa không
dung nạp pháp nhiễm ô.
3. Phát quang địa : Bồ Tát tu
chứng được Phát quang địa, đã thành tựu trí huệ
quang minh, vì Ngài đã xả lìa tất cả nhiễm ô, đã
được thanh tịnh. Tất cả giả danh giả tướng của
thế gian cũng xả lìa, chẳng còn tâm háo thắng,
tâm cầu danh, tâm cầu lợi. Minh bạch tất cả trên
thế gian đều là không, là giả, vô thường, cho
nên nói "Xả lìa thế gian danh tự giả".
4. Diệm huệ địa : Lúc này công
phu tu hành của Bồ Tát, đã được một vị, vĩnh
viễn không mất đi. Nghĩa là hàm có công đức như
Phật, cùng một vị với Phật, cuối cùng sẽ đắc
được pháp vị vô thượng bồ đề. Giống như các dòng
nước chảy vào biển, đều trở thành một vị.
5. Nan thắng địa : Bồ Tát tu hành
thành tựu, sinh ra vô lượng phương tiện thần
thông, công đức lợi ích thế gian, làm nghiệp
thiện lợi sinh, như biển có vô lượng ngọc ngà
châu báu.
6. Hiện tiền địa : Bồ Tát quán
sát được tất cả các pháp do duyên sinh, các pháp
do duyên diệt. Đạo lý thâm sâu pháp tánh duyên
khởi này, Bồ Tát đã minh bạch thọ dụng. Công đức
bất tận của Ngài giống như biển cả, không biết
đáy được.
7. Viễn hành địa : Bồ Tát có trí
huệ rộng lớn, khéo quán sát các pháp, rộng lớn
vô lượng như biển cả.
8. Bất động địa : Hay thị hiện
Phật sự rộng lớn trang nghiêm. Bồ Tát dùng thân
bất động mà đến khắp pháp giới, phổ độ chúng
sinh, đắc được vô lượng công đức thế gian. Giống
như biển làm chỗ ở cho thân lớn, trong Kinh có
nói : "Bậc thân lớn, dùng vô lượng thân tu Bồ
Tát hạnh".
9. Thiện huệ địa : Bồ Tát đắc
được các môn giải thoát thâm sâu, du hành nơi
thế gian, quán căn cơ chúng sinh mà truyền thọ
pháp môn thích hợp, khiến cho chúng sinh tu hành
được giải thoát. Biết đúng như thật, không quá
hạn, như hải triều không quá hạn.
10. Pháp vân địa : Bồ Tát chứng
được quả vị Pháp vân địa, Ngài tiếp thọ được đại
pháp minh, đại pháp vũ, của chư Phật, chưa từng
nhàm mỏi, chưa từng tự mãn. Như biển chứa được
nước bốn châu mà không tràn.
Phật tử ! Ví như châu đại ma ni,
có mười thứ tánh, hơn hẳn các châu báu khác.
Những gì là mười ? Một là sinh ra từ trong biển.
Hai là thợ khéo mài dũa. Ba là tròn đầy không
khuyết. Bốn là thanh tịnh lìa cấu bẩn. Năm là
trong ngoài sáng suốt. Sáu là khoan lỗ rất khéo.
Bảy là sỏ bằng dây báu. Tám là để trên tràng cao
bằng lưu ly. Chín là khắp phóng ra tất cả đủ thứ
ánh sáng. Mười là hay tuỳ ý của vua, mưa xuống
các báu vật, toại tâm mãn nguyện của chúng sinh.
Các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát
Kim Cang Tạng lại đưa ra một ví dụ, Ngài nói :
Giống như châu đại ma ni có mười thứ tánh đặc
thù, hơn các thứ báu khác. Những gì là mười thứ
tánh ?
1. Châu ma ni
sinh ra từ trong biển.
2. Phải trải
qua thợ mài dũa.
3. Châu ma ni là vua trong các
châu báu, tròn đầy tự nhiên, chẳng có chút
khuyết lõm nào, cũng chẳng có chút tì vết nào.
Tuy trải qua thợ khoan dùi, nhưng không tổn hại
chỗ toàn thiện của nó.
4. Châu này thanh tịnh trong suốt
tự nhiên, chẳng có chút bụi bặm nào.
5. Trong ngoài trong suốt, ánh
sáng suyên qua như gương.
6. Trải qua thợ khoang lỗ rất
khéo.
7. Sỏ dây bằng vàng.
8. Để nó ở trên tràng cao bằng
lưu ly.
9. Thường phóng ra năm thứ ánh
sáng, chiếu sáng từ trên tràng báu.
10. Hay toại tâm ý của vua, như
mưa xuống các thứ báu vật, và còn tuỳ thuận tâm
chúng sinh, toại tâm mãn nguyện của họ, cho nên
gọi là bảo châu.
Phật tử ! Nên biết Bồ Tát cũng
lại như thế, có mười thứ việc, nên hơn các bậc
Thánh khác. Những gì là mười ? Một là tâm Nhất
thiết trí. Hai là trì giới đầu đà, chánh hạnh
sáng tịnh. Ba là các thiền tam muội, tròn đầy
không khuyết. Bốn là đạo hạnh thanh bạch, lìa
các cấu uế. Năm là phương tiện thần thông, trong
ngoài sáng suốt. Sáu là duyên khởi trí huệ, hay
khéo khoan dùi. Bảy là xâu bằng dây các thứ
phương tiện trí. Tám là để ở trên tràng cao tự
tại. Chín là quán hành vi của chúng sinh, phóng
quang văn trì. Mười là thọ chức Phật trí, dự ở
hàng chư Phật, hay vì chúng sinh rộng làm Phật
sự.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Các vị nên biết,
Thập địa Bồ Tát cũng giống như châu ma ni, cũng
có mười việc khác với chúng sinh, hơn các Bồ Tát
khác. Những gì là mười ?
1. Bồ Tát tu pháp môn Thập địa,
các Ngài đều đã từng phát ra đại chí nguyện và
đại bồ đề tâm.
2. Phải giữ gìn tất cả giới luật,
ba nghiệp tuyệt đối phải thanh tịnh. Làm những
gì đều phải quang minh chánh đại, như trì giới
đầu đà.
3. Siêng tu tứ thiền bát định, và
các tam muội, phải tu học viên mãn, không thể
thiếu khuyết.
4. Đạo hạnh phải thanh bạch phi
thường, chẳng có nhiễm ô. Lìa khỏi tất cả lời
nói hành động ô uế.
5. Trong ngoài trong suốt : Là
nói Bồ Tát tu chứng trí huệ, đã đạt đến tất cả
thế xuất thế, vạn sự vạn vật, đều chiếu thấu,
trong ngoài minh bạch. Thần thông diệu dụng,
cũng biết thiện xảo phương tiện. Thấu suốt giống
như châu ma ni.
6. Thấu đạt duyên khởi, biết các
pháp thật tướng, trí hành khoan dùi. Giống như
châu ma ni khéo khoan dùi.
7. Bồ Tát có đủ thứ trí huệ
phương tiện vô ngại, thể dụng vi diệu. Thần lực
công đức, văn trì chiếu khắp. Như châu ma ni xâu
bằng dây báu. Trí huệ tức là dây báu của Bồ Tát.
8. "Để trên tràng cao tự tại", Bồ
Tát Bát địa đã chứng được vô công dụng hạnh.
Hạnh cao tự tại, như để trên tràng cao. Như châu
ma ni để trên tràng cao, ánh sáng chiếu khắp.
9. Bồ Tát quán sát khắp căn tánh
hành vi của chúng sinh, tuỳ cơ giáo hoá, khiến
cho chúng sinh được nghe chánh pháp, thọ nơi
tâm, trì nơi thực hành, đắc được văn trì sinh ra
trí huệ quang minh. Như châu ma ni khắp phóng ra
ánh sáng vạn trượng.
10. Thập địa Bồ Tát, công đức
viên mãn dần dần, giai đoạn phước huệ đầy đủ
rồi, thì lập tức được thọ chức quán đảnh, thọ
chức trí của Phật, từ đây liệt vào hàng chư
Phật, nhất định sẽ được thành Phật. Lúc này Bồ
Tát hay vì chúng sinh rộng làm đại Phật sự, hay
giáo hoá chúng sinh, hay diễn thuyết diệu pháp.
Như châu ma ni hay tuỳ ý của vua, hay theo tâm
nguyện của chúng sinh, mưa xuống các báu vật,
toại tâm mãn nguyện chúng sinh.
Phật tử ! Phẩm pháp môn này, tích
tập nhất thiết chủng, nhất thiết trí, công đức
Bồ Tát hạnh, nếu các chúng sinh không trồng căn
lành, thì không thể nghe được.
Các vị đệ tử của Phật ! Pháp môn
Thập địa này, Bồ Tát tích tập tất cả căn lành,
tích tập tất cả công đức, là pháp môn tu học Bồ
Tát hạnh, rộng thực hành Bồ Tát đạo, vì muốn cầu
chủng trí của Phật, chứng bồ đề giác quả. Phẩm
pháp môn này, nếu như chúng sinh thuở xưa chẳng
trồng xuống căn lành, chẳng làm vô lượng công
đức, đừng nói là thọ trì, e rằng cho đến nghe
cũng không thể nghe được tên phẩm Thập địa này.
Đừng nói là người tại gia, mà rất nhiều người
xuất gia cũng không thể nào nghe được tên này,
cho đến người đọc tụng cũng ít, thọ trì càng ít
hơn. Hôm nay chúng ta nghe đọc tụng được, nên
biết chúng ta thuở quá khứ đã từng gieo trồng
xuống căn lành lớn, cho nên mới thường nghe được
pháp môn phẩm Thập địa trong Kinh Hoa Nghiêm
này. Hy vọng các vị đặc biệt quý trọng phần nhân
duyên này.
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt nói :
Nghe pháp môn này được bao nhiêu phước ?
Lúc đó, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
nghe Bồ Tát Kim Cang Tạng nói pháp môn thù thắng
khó được nghe rồi, bèn hỏi Bồ Tát Kim Cang Tạng
rằng : Chúng tôi nghe được pháp môn công đức đủ
thứ căn lành tích tụ, và Nhất thiết trí huệ, có
thể đắc được bao nhiêu phước huệ ?
Bồ Tát Kim Cang Tạng nói : Như
phước đức của nhất thiết trí tích tập, nghe pháp
môn này, phước đức cũng như thế. Tại sao ? Vì
chẳng nghe pháp môn công đức này, thì làm sao có
thể tin hiểu thọ trì đọc tụng, hà huống tinh
tấn, theo lời tu hành ! Do đó, nên biết phải
nghe được pháp môn công đức nhất thiết trí tích
tập này, thì mới có thể tin hiểu thọ trì tu tập,
sau đó mới đến được bậc Nhất thiết trí.
Bồ Tát Kim Cang Tạng đáp Bồ Tát
Giải Thoát Nguyệt nói : Giống như Nhất thiết trí
của Phật, tích tập tất cả phước đức. Nghe được
pháp môn phẩm Thập địa này, phước đức cũng như
thế. Nhân duyên như thế nào ? Nếu bạn chưa từng
nghe qua pháp môn công đức nhất thiêt trí tích
tập này, mà bạn có thể tin, hiểu, lãnh thọ, tu
trì, mà còn có thể đọc tụng phẩm này, thì không
thể nào được. Nếu chưa từng nghe, thì bạn không
thể nào tin, hiểu, thọ, trì, và đọc tụng được,
hà huống tinh tấn ! Tức nhiên tin hiểu thọ trì
đọc tụng đều không thể, thì làm sao có thể theo
như lời trong kinh nói mà tu hành ! Vì đạo lý
này, nên bạn phải biết, "phải nghe phẩm pháp môn
tích tập nhất thiết trí huệ công đức này" - Phẩm
Thập địa, thì mới có thể tin, hiểu, thọ, trì,
đọc tụng, mới biết phải tinh tấn không giải đãi,
thì mới như pháp tu hành. Sau đó mới đạt đến
được công đức viên mãn, phước huệ đầy đủ, chứng
bồ đề giác đạo mà thành tựu quả Phật.
Bấy giờ, do thần lực của đức
Phật, do pháp như vậy, nên các thế giới nhiều
như số hạt bụi mười ức cõi Phật trong mười
phương, đều có sáu thứ, mười tám tướng chấn
động. Đó là : Động, biến động, đẳng biến động.
Khởi, biến khởi, đẳng biến khởi. Dũng, biến
dũng, đẳng biến dũng. Chấn, biến chấn, đẳng biến
chấn. Hống, biến hống, đẳng biến hống. Kích,
biến kích, đẳng biến kích.
Khi Bồ Tát Kim Cang Tạng trả lời
những vấn đề Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt hỏi xong
rồi, do đại oai thần lực của Phật, tức cũng là
do nói vô thượng đại pháp – Pháp môn Thập địa,
thì có các thế giới nhiều như số hạt bụi mười ức
cõi Phật, đồng thời đều phát sinh sáu thứ, mười
tám tướng chấn động. Đó là :
1. Động : Một phần đất nào đó
chấn động. Biến động : Là cả địa cầu đều chấn
động. Đẳng biến động : Địa cầu của mười phương
thế giới đều chấn động.
2. Khởi : Một nơi nào đó đột
nhiên có hiện tượng vọt lên. Biến khởi : Khắp
địa cầu đều có hiện tượng vọt lên. Đẳng biến
khởi : Hết thảy thế giới trong mười phương đều
đồng thời vọt lên.
3. Dũng.
4. Chấn.
5. Hống.
6. Kích, đều giải thích như vậy.
Động, dũng, khởi, thuộc về hình.
Chấn, hống, kích, thuộc về tiếng. Động đất có
lúc là một thứ tai nạn, có lúc chư Phật Bồ Tát
đang nói pháp thâm sâu vi diệu là điềm cát
tường.
Mưa các hoa trời, tràng hoa trời,
y trời, và các đồ trang nghiêm cõi trời, tràng
phan lọng báu. Tấu kỹ nhạc trời, âm thanh hoà
nhã, đồng thời phát ra tiếng, khen ngợi hết thảy
công đức bậc Nhất thiết trí. Như ở cung trời Tha
Hoá Tự Tại Thiên Vương thế giới nầy, diễn nói
pháp nầy, mười phương hết thảy tất cả thế giới,
cũng đều như thế.
Chẳng những mười phương thế giới,
các thế giới nhiều như số hạt bụi mười ức cõi
Phật, đều có sáu thứ mười tám tướng đại địa chấn
động, còn có trời mưa xuống các thứ hoa báu,
tràng hoa trời, y trời, và các thứ đồ trang
nghiêm cõi Phật, như tràng phan lọng báu .v.v...
Còn diễn tấu âm nhạc trời, âm nhạc đó rất u nhã
nhu hoà, nghe rất là êm tai vô cùng. Đủ thứ âm
nhạc đồng thời vang lên, chư Thiên tử Thiên nữ
đều ca xướng tán thán công đức của chư Phật, tán
thán pháp môn Thập địa thù thắng vi diệu, tán
thán pháp môn Thập địa bậc Nhất thiết trí, pháp
môn thành tựu quả vị Phật. Như tại thế giới này
- Thế giới Ta Bà, pháp hội trong cung trời Tha
Hoá Tự Tại Thiên Vương, đang diễn nói pháp môn
Thập địa thắng diệu, mười phương hết thảy tất cả
thế giới, cũng đều đang diễn nói phẩm pháp môn
Thập địa này.
Bấy giờ, lại do thần lực của
Phật, ngoài các thế giới nhiều như số hạt bụi
mười ức cõi Phật trong mười phương, đều có các
Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười ức cõi Phật,
đến pháp hội này, nói như vầy : Lành thay, lành
thay ! Kim Cang Tạng, hãy mau nói pháp này,
chúng tôi cũng đều đồng tên Kim Cang Tạng. Thế
giới chúng tôi ở thảy đều khác nhau, nhưng đều
đồng tên là Kim Cang Đức. Đức Phật đều đồng danh
hiệu là Kim Cang Tràng. Chúng tôi trụ ở trong
bổn quốc, đều thừa oai thần lực của Phật, mà nói
pháp này, chúng hội đều đồng nhau, văn tự câu
nghĩa, giống như ở đây nói, chẳng tăng chẳng
giảm. Đều nhờ thần lực của Phật mà đến pháp hội
này, vì Ngài làm chứng. Như nay chúng tôi đến
thế giới này, như vậy trong mười phương tất cả
thế giới, chúng tôi cũng đều đến làm chứng như
thế.
Lúc đó, lại nhờ oai thần lực của
Phật, ngoài các thế giới nhiều như số hạt bụi
mười ức cõi Phật trong mười phương, có các Bồ
Tát nhiều như số hạt bụi mười ức cõi Phật, đến
pháp hội này – Pháp hội Bồ Tát Kim Cang Tạng nói
phẩm Thập địa, cùng nhau nói rằng : Lành thay,
lành thay ! Bồ Tát Kim Cang Tạng ! Xin Ngài hãy
mau nói pháp môn Thập địa, chúng tôi các vị Bồ
Tát nhiều như số hạt bụi mười ức cõi Phật, đều
đồng danh hiệu với Ngài là "Kim Cang Tạng", thế
giới chúng tôi ở tuy nhiên là khác nhau, nhưng
cũng đều đồng tên là "Kim Cang Đức". Đức Phật
cõi nước chúng tôi đều đồng danh hiệu là "Phật
Kim Cang Tràng". Chúng tôi ở trong thế giới của
mình, thừa đại oai thần lực của Phật, cũng diễn
nói phẩm hạnh môn Bồ Tát này – pháp môn Thập
địa. Đại chúng Bồ Tát ở trong pháp hội và tất cả
tình hình trong đạo tràng, cũng giống như tại
pháp hội này. Nội dung văn tự kinh điển, từ câu
nghĩa lý, pháp môn Thập địa đang diễn nói, thảy
đều giống như phẩm pháp môn Thập địa đang diễn
nói ở đây, chẳng tăng chẳng giảm. Chúng tôi các
Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười ức cõi Phật,
đều nhờ sức đại oai thần lực của Phật, đến pháp
hội đạo tràng này, chúng tôi đến để vì Ngài làm
chứng. Như nay chúng tôi đến thế giới Ta Bà, như
vậy chúng tôi cũng đều đến tất cả thế giới trong
mười phương, để làm chứng như thế.
Bấy giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng
quán sát tất cả chúng hội mười phương, khắp cùng
pháp giới.
Lúc đó, Bồ Tát Kim Cang Tạng,
quán sát các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười ức
cõi Phật trong mười phương thế giới, hết thảy
đạo tràng pháp hội các nơi, khắp cùng pháp giới.
Muốn tán thán phát tâm Nhất thiết
trí. Muốn thị hiện cảnh giới Bồ Tát. Muốn tịnh
trị hạnh lực Bồ Tát. Muốn nói nhiếp thủ đạo Nhất
thiết chủng trí. Muốn trừ diệt tất cả cấu bẩn
thế gian. Muốn thí cho Nhất thiết trí. Muốn thị
hiện trí trang nghiêm không nghĩ bàn. Muốn hiển
bày các công đức của tất cả Bồ Tát. Muốn khiến
cho nghĩa Thập địa này thêm sáng tỏ. Nương thần
lực của đức Phật, mà nói bài kệ rằng :
Tâm đó tịch diệt luôn điều thuận
Bình đẳng vô ngại như hư không
Lìa các cấu trược trụ nơi đạo
Hạnh thù thắng này ông nên nghe.
Bồ Tát Kim Cang Tạng quán sát
khắp đạo tràng pháp hội, Ngài muốn tán thán phát
tâm Bồ Tát Nhất thiết trí – Sơ địa. Muốn tán
thán thị hiện cảnh giới của Bồ Tát - Bồ Tát Nhị
địa. Muốn tán thán tịnh trị pháp môn ba tụ tịnh
giới của Bồ Tát hạnh - Bồ Tát Tam địa. Tam tụ
tịnh giới là:
1. Nhiếp luật nghi giới.
2. Nhiếp thiện pháp giới.
3. Nhiếp nhiêu ích hữu tình giới.
Muốn tán thán diễn nói nhiếp thủ
đạo Nhất thiết chủng, Nhất thiết trí huệ của Bồ
Tát Tam địa, Tứ địa. Muốn tán thán trừ sạch ô
nhiễm cấu uế hết thảy thế giới của Bồ Tát Ngũ
địa. Muốn tán thán bố thí cho tất cả chúng sinh
trí huệ của Bồ Tát Lục địa. Muốn tán thán thị
hiện trí huệ không thể nghĩ bàn, trang nghiêm
cõi Phật của Bồ Tát Thất địa, thấu đạt cảnh giới
không chướng ngại. Muốn tán thán hiển bày trí
huệ không thể nghĩ bàn của tất cả Bồ Tát vô công
dụng hạnh, trang nghiêm thế gian của Bồ Tát Bát
địa. Muốn tán thán nói được, thọ được, các công
đức của Bồ Tát Cửu địa, Thập địa. Bồ Tát Kim
Cang Tạng muốn khiến cho đại chúng pháp hội, và
chúng sinh đời sau, đối với nghĩa lý phẩm pháp
môn Thập địa càng thêm sáng tỏ minh bạch một
chút, bèn nương oai thần lực của mười phương chư
Phật, và sự gia bị của Phật Thích Ca Mâu Ni, mà
nói ra bài kệ, thuật lại nghĩa lý trường hàng ở
trên.
Bài kệ nói : Tâm của Bồ Tát tịch
tĩnh, chẳng có vọng niệm, bất động. Vì luôn luôn
hàng phục được tâm mình, cũng điều hoà được tâm
mình, khiến cho tâm mình thuận theo lý mà tu
đạo. Tâm của Bồ Tát đối với tất cả chúng sinh
đều bình đẳng, trong tâm chẳng có chút bụi bặm
nào, cho nên tựa như hư không. Tâm Bồ Tát thanh
tịnh, Ngài đã lìa khỏi tất cả ô nhiễm và cấu
trược, thường trụ trong phạm hạnh và Phật đạo.
Phẩm Bồ Tát hạnh thù thắng này, các vị đệ tử của
Phật nên lắng nghe kỹ càng.
Trăm
ngàn ức kiếp tu các thiện
Cúng dường vô lượng vô biên Phật
Thanh Văn Độc Giác cũng như thế
Vì lợi chúng sinh phát đại tâm.
Bồ Tát ở trong thời gian dài trăm
ngàn ức kiếp, tu hành đủ thứ căn lành, tích tập
các công đức, cúng dường vô lượng vô biên chư
Phật, cũng cúng dường bậc Thánh hàng nhị thừa
Thanh Văn Độc Giác. Bồ Tát vì lợi ích tất cả
chúng sinh, cho nên phát tâm đại bồ đề, phát đại
nguyện lực.
Tinh cần trì giới thường nhu nhẫn
Hổ thẹn phước huệ đều đầy đủ
Chí cầu Phật trí tu rộng huệ
Nguyện được mười lực phát đại
tâm.
Chuyên nhất tinh tấn, siêng năng
học tập vô thượng đạo. Nghiêm trì tịnh giới,
không cẩu thả, không giải đãi, một chút thời
gian cũng không bỏ qua lãng phí, không vi phạm
giới luật. Nhu hoà tức là không cang cường,
không tàn bạo. Nhẫn là nhẫn nại. Tinh cần trì
giới phải chú ý đến chỗ mà người khác không
thấy, chẳng phải ở trước mặt người khác thì tinh
cần, hoặc ở trước mặt người khác thì trì giới,
mà là phải tinh cần trì giới lúc chỉ có một
mình. Khổng Tử có nói : "Thận độc" nghĩa là răn
cấm lúc ở một mình người khác không thấy, người
khác không biết, cẩn thận giữ gìn tinh cần trì
giới. Bồ Tát thì tinh cần trì giới, mà còn
thường nhu nhẫn. Hổ là hổ trước khi sai lầm xảy
ra, thẹn là thẹn sau khi sai lầm xảy ra.
Mỗi người nếu thường biết lỗi lầm
của mình, chú ý sửa đổi, không tái phạm nữa, thì
tự nhiên sẽ sinh ra tâm thiện, niệm thiện. Người
có tâm thiện, niệm thiện, thì nhất định thường
làm việc thiện, tức là tu phước. Phước đến tâm
linh, thì trí huệ tự nhiên sinh ra. Phước huệ
đều tròn đầy, cho nên nói "Hổ thẹn phước trí đều
đầy đủ". Bồ Tát tu phước tu huệ, rộng tu công
đức, chẳng phải Ngài muốn cầu phước báo sinh về
cõi trời, cõi người, mà chí nguyện của Ngài cầu
đại trí huệ giống như Phật, hy vọng đắc được
mười lực của Phật, cho nên Ngài phát tâm đại bồ
đề.
Ba đời chư Phật đều cúng dường
Tất cả cõi nước đều nghiêm tịnh
Biết rõ các pháp đều bình đẳng
Vì lợi chúng sinh phát đại tâm.
Bồ Tát phát nguyện cúng dường chư
Phật ba đời. Hết thảy tất cả cõi nước chư Phật,
đều khiến cho thanh tịnh trang nghiêm. Bồ Tát
thấu rõ các pháp đều bình đẳng, không cao không
thấp. Vì lợi ích tất cả chúng sinh, mà Bồ Tát
phát tâm đại bồ đề.
Trụ nơi Sơ địa sinh tâm này
Lìa hẳn các ác thường hoan hỉ
Nguyện lực rộng tu các pháp lành
Do lòng thương xót vào bậc sau.
Khi Bồ Tát phát đại nguyện độ
chúng sinh, tu học pháp môn Thập địa, tại Sơ địa
phát tâm vĩnh viễn lìa khỏi tất cả các điều ác,
thường thường sinh khởi tâm hoan hỉ. "Lìa hẳn
điều ác" tức là không làm các điều ác. "Thường
hoan hỉ" tức là làm các điều lành. Phát đại
nguyện lực rộng tu các pháp lành, do tâm đại bi
đứng đầu, thương xót chúng sinh, cho nên chứng
nhập vào "Ly cấu địa".
Giới nghe đầy đủ nhớ chúng sinh
Rửa trừ dơ bẩn tâm sáng sạch
Quán sát thế gian lửa ba độc
Bậc hiểu rộng lớn vượt Tam địa.
Bồ Tát chứng nhập Địa thứ hai –
Ly cấu địa, Ngài phụng trì lời dạy của chư Phật,
cẩn thận giữ gìn giới luật của chư Phật. Đến đạo
tràng của chư Phật trong mười phương nghe pháp,
giữ giới thanh tịnh, tu học văn huệ, cả hai đều
đầy đủ nên luôn nhớ chúng sinh, thương họ thường
thọ thống khổ ở trong biển khổ sinh tử, mà sinh
tâm đại từ bi. "Rửa trừ dơ bẩn", tức là rửa sạch
ô nhiễm trong tâm, những thứ bất tịnh đều tẩy
trừ đi hết, khiến cho tâm được thanh tịnh. Tâm
thanh tịnh tức là tâm sáng sạch. Tâm ô nhiễm dơ
bẩn thì đen tối, tâm thanh tịnh sáng sạch mới
sáng lạng. Bồ Tát dùng tâm quang minh sáng sạch,
trí huệ sung mãn, quán sát các loại chúng sinh
trên thế gian, đều bị vây hãm ở trong lửa độc
tham sân si. Bồ Tát có tâm từ bi rộng lớn, có
đại trí huệ, đắc được pháp môn giải thoát, bèn
nhập vào Địa thứ ba – Phát quang địa.
Ba cõi tất cả đều vô thường
Như tên vào thân khổ thiêu đốt
Nhàm lìa hữu vi cầu Phật pháp
Bậc trí rộng lớn vượt Diệm địa.
Ba cõi : Cõi dục, cõi sắc, cõi vô
sắc. Tất cả trong ba cõi đều không vĩnh cửu,
nháy mắt huyễn diệt. Sự vô thường đem đến cho
con người cảm thọ thống khổ, giống như mũi tên
bắn vào thân, lại thống khổ giống như lửa dữ
thiêu đốt. Chúng ta hãy mau giác ngộ, nhàm lìa
tất cả những sự vật hữu vi, vô thường, hư vọng
trên thế gian, mà thành tâm theo đuổi Phật pháp
chân thật, vĩnh hằng. Bậc Thánh có trí huệ rộng
lớn, bậc Thánh có sự hiểu biết chân chánh, đã
chứng được Diệm huệ địa.
Niệm huệ đầy đủ được đạo trí
Cúng dường trăm ngàn vô lượng
Phật
Thường quán các công đức tối
thắng
Người này tiến nhập Nan thắng
địa.
Niệm tinh tấn, huệ tinh tấn, niệm
huệ đồng thời tinh tấn, cho nên "Niệm huệ đầy
đủ", mà đắc được đạo chủng trí. Bồ Tát cúng
dường Phật, chẳng phải cúng dường một vị Phật,
hai vị Phật, mà là cúng dường trăm ngàn vô lượng
các vị Phật, khiến cho vô lượng chư Phật đều
sinh tâm hoan hỉ. Thường thường quán sát tất cả
công đức tối thù thắng. Hay chân chánh tu hành,
mới có công đức tối thù thắng. Vị Bồ Tát siêng
tu Phật đạo tiến vào được Địa thứ năm Nan Thắng
địa.
Trí huệ phương tiện khéo quán sát
Thị hiện đủ thứ cứu chúng sinh
Lại cúng đấng Vô thượng thập lực
Tiến vào vô sinh Hiện Tiền địa.
Dùng phương tiện trí huệ, khéo
quán sát tất cả các pháp. Dùng đủ thứ thần thông
thị hiện cứu độ chúng sinh. Lại cúng dường đấng
Thập lực - Phật, Phật là đấng tôn kính nhất trên
thế gian. Bồ Tát ở nơi địa này chứng được không
sinh không diệt, mà tiến vào Địa thứ sáu Hiện
tiền địa.
Chỗ đời khó biết mà biết được
Không thọ cái ta lìa có không
Pháp tánh vốn tịch tuỳ duyên
chuyển
Được vi diệu này hướng Thất địa.
Tất cả những gì trên thế gian khó
biết, mà Bồ Tát này đều thông đạt vô ngại, không
thọ ràng buộc "chấp cái ta", cũng lìa khỏi hai
bên "Có không", chẳng chấp vào có, không. Cũng
minh bạch được bản thể của pháp vốn là vắng
lặng, cho nên :
"Chư pháp tùng bản lai
Thường tự tịch diệt tướng
Bất khả dĩ ngôn thuyên".
Nghĩa là :
Các pháp từ xưa nay
Tướng thường là vắng lặng
Không thể dùng lời nói.
Nó tuỳ duyên sinh khởi, tuỳ duyên mà diệt, không
rơi về không, không chấp về có, tuỳ duyên không
đổi, không đổi mà tuỳ duyên. Bồ Tát đắc được trí
huệ vi diệu này, nên tiến vào Địa thứ bảy Viễn
hành địa.
Trí
huệ phương tiện tâm rộng lớn
Khó hành khó phục khó biết rõ
Tuy chứng tịch diệt siêng tu tập
Nhập Bất Động địa như hư không.
Người có đại trí huệ, đối với người với vật, thì
biết nhậm vận sử dụng phương tiện khéo léo, việc
gì cũng viên mãn, ai ai cũng hoan hỉ, tâm lượng
cũng rất rộng lớn, hay nhường người, bao dung
người. Do đó, việc khó làm mà làm được, không có
gì trở ngại. Người và việc khó điều phục, cũng
điều phục được. Tri thức khó biết cũng biết
được. Tuy đã chứng được lý thể tịch diệt, đã đắc
được rốt ráo thật tướng các pháp, nhưng Bồ Tát
vẫn siêng năng tu tập, mới hướng nhập Bất động
địa như hư không. Lúc này đã là như như bất
động, rõ ràng sáng suốt, đắc được vui tịch diệt
chân thật, nhập vào Địa thứ tám Bất động địa.
Phật
khuyên khiến từ tịch diệt khởi
Rộng tu đủ thứ các trí nghiệp
Đủ mười tự tại quán thế gian
Nhờ đây mà lên Thiện Huệ địa.
Khi Bồ Tát tại Địa thứ tám, trí huệ thần thông
của Ngài đã đạt đến cảnh giới thù thắng, nếu
không tiếp tục hướng về trước tiến tới, thì sẽ
chấp trước vào không kiến, cho nên chư Phật sợ
Bồ Tát dừng lại không tiến tới, mới khuyên Ngài
phải từ trong tịch diệt sinh khởi ra trí huệ,
rộng tu pháp môn trí huệ của chư Phật, như mười
lực, bốn vô sở uý, mười tám pháp bất cộng của
Phật. Đầy đủ mười thứ tự tại, quán sát tất cả
pháp nhân duyên của thế gian, từ những pháp môn
này mà hướng về trước nhập vào Địa thứ chín
Thiện huệ địa.
Dùng
vi diệu trí quán chúng sinh
Tâm hành nghiệp hoặc như rừng rậm
Vì muốn hoá họ hướng về đạo
Diễn nói thắng nghĩa tạng chư Phật.
Bồ Tát Địa thứ chín hay dùng trí huệ vi diệu
không thể nghĩ bàn, biết chúng sinh như thật,
quán sát nhân duyên của tất cả chúng sinh như
thật. Biết rõ tâm hành nghiệp hoặc của chúng
sinh, do tâm niệm mà khởi hoặc tạo nghiệp. Tạo
đủ thứ nghiệp, thọ đủ thứ quả báo, chẳng biết
được số lượng bao nhiêu, giống như là rừng rậm,
Bồ Tát dùng trí vô ngại, thấu rõ như chỉ tay. Bồ
Tát vì muốn giáo hoá những chúng sinh khổ não
này, hướng dẫn họ đi trên con đường bồ đề giác
đạo, mà diễn nói nghĩa đế thù thắng tối thượng
của chư Phật, xiển dương chánh pháp tạng của chư
Phật.
Thứ
lớp tu hành đủ việc thiện
Cho đến Cửu địa tập phước huệ
Thường cầu pháp chư Phật tối thượng
Được nước trí Phật quán đảnh cho.
Tu học Bồ Tát hạnh, tu trì Bồ Tát đạo, phải tuần
tự tinh tấn tu học, y giáo phụng hành, đầy đủ
hết thảy căn lành, mới đạt đến cảnh giới Địa thứ
chín. Tuy Bồ Tát đã thành tựu như vậy, nhưng vẫn
siêng năng trên cầu Phật đạo, cầu pháp môn trí
huệ vô thượng tối thắng của chư Phật, sẽ đắc
được nước trí huệ của chư Phật quán đảnh.
Đắc được vô số các tam muội
Cũng khéo biết rõ nghiệp họ làm
Tam muội cuối cùng gọi thọ chức
Trụ cảnh rộng lớn luôn bất động.
Bồ Tát tại Địa thứ chín lại đắc được vô lượng vô
số các thứ tam muội – chánh định chánh thọ. Cũng
khéo biết rõ chúng sinh làm là thiện, là bất
thiện, là vô ký. Cuối cùng chứng được tam muội
gọi là thọ chức. Trụ nơi cảnh giới rộng lớn như
hư không, thân luôn luôn bất động mà khắp cùng
pháp giới.
Khi
Bồ Tát được tam muội này
Hoa
sen báu lớn đột nhiên hiện
Thân lượng ngồi trên xứng với hoa
Phật tử vây quanh cùng quán sát.
Khi Bồ Tát đắc được tam muội cuối cùng, thì đột
nhiên có một đoá hoa sen báu lớn xuất hiện ở
trong định của Ngài. Đoá hoa sen báu lớn đó, lớn
cỡ mười ba ngàn đại thiên thế giới, Bồ Tát ngồi
trên toà hoa sen báu lớn đó, thân lượng của Ngài
xứng với hoa sen đó. Có vô số Phật tử - Các Bồ
Tát, vây quanh hoa sen báu lớn đó, đồng nhìn xem
cảnh giới thắng diệu hy hữu.
Phóng
đại quang minh trăm ngàn ức
Diệt trừ tất cả chúng sinh khổ
Lại ở trên đảnh phóng quang minh
Vào khắp hội chư Phật mười phương.
Thập địa Bồ Tát ngồi ở trên toà hoa sen báu lớn,
trên thân phóng ra trăm ngàn ức đại quang minh,
quang minh đó chiếu đến đâu thì đều diệt trừ tất
cả thống khổ của chúng sinh. Lại ở trên đảnh của
Ngài, phóng ra quang minh, chiếu đến khắp đạo
tràng pháp hội của mười phương chư Phật.
Đều trụ trong không làm lưới quang
Cúng dường Phật rồi vào dưới chân
Lập tức chư Phật đều biết rõ
Nay Phật tử này lên chức vị.
Từ trên thân Bồ Tát phóng ra quang minh, từ trên
đảnh Bồ Tát phóng ra quang minh, chiếu trong hư
không, cùng nhau kết thành lưới đại quang minh.
Lưới quang minh đó cúng dường mười phương ba đời
chư Phật rồi, bèn vào dưới bàn chân của Bồ Tát.
Lúc đó, mười phương ba đời chư Phật liền biết có
một vị Bồ Tát, tu hành chứng được quả vị Thập
địa, hiện tại vị Bồ Tát này đang đăng lên thọ
chức Phật vị, liệt vào hàng chư Phật.
Mười
phương Bồ Tát đến quán sát
Đại sĩ thọ chức phóng quang chiếu
Chư Phật giữa mày cũng phóng quang
Chiếu khắp mọi nơi nhập vào đảnh.
Bồ Tát từ mười phương đến xem lễ thọ chức quán
đảnh, nhiều như số cát sông Hằng. Lúc đó, Bồ Tát
Thập địa thọ chức, lại phóng đại quang minh,
chiếu khắp các vị Bồ Tát đến dự lễ quán đảnh.
Mười phương ba đời tất cả chư Phật, cũng từ giữa
chặng mày phóng ra quang minh, chiếu khắp đại
chúng Bồ Tát trong pháp hội, sau đó trở về nhập
vào đảnh của Bồ Tát Thập địa.
Mười
phương thế giới đều chấn động
Tất cả địa ngục khổ tiêu diệt
Bấy giờ chư Phật trao chức cho
Như Chuyển Luân Vương phong thái tử.
Khi Thập địa Bồ Tát phóng quang, và chư Phật
phóng quang, thì mười phương thế giới đồng thời
phát sinh hiện tượng chấn động. Hết thảy khổ của
chúng sinh thọ dưới địa ngục, cũng đồng thời
tiêu diệt. Lúc đó, mười phương ba đời chư Phật,
ban cho vị Thập địa Bồ Tát này thọ Phật chức,
làm lễ quán đảnh. Lễ long trọng giống như thái
tử của vua Chuyển Luân Thánh Vương thọ chức quán
đảnh.
Nếu
được chư Phật quán đảnh cho
Bồ Tát này gọi Pháp Vân địa
Trí huệ tăng trưởng không bờ mé
Khai ngộ tất cả các thế gian.
Thập địa Bồ Tát được mười phương chư Phật làm lễ
thọ chức quán đảnh cho Ngài rồi, thì chánh thức
được gọi là Bồ Tát Pháp vân địa, là mười phương
chư Phật chứng minh Ngài đã chứng được quả vị
Thập địa. Lúc đó, trí huệ của Bồ Tát tăng trưởng
đến cảnh giới không có bờ mé, cũng hay giác ngộ
hết thảy hữu tình trên thế gian, khiến cho tất
cả chúng sinh đều thọ được sự giáo hoá mà giác
ngộ.
Dục giới sắc giới vô sắc giới
Pháp giới thế giới chúng sinh giới
Hữu số vô số và hư không
Như vậy tất cả đều thông đạt.
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới, tức là bình
thường hay nói tam giới. Pháp giới, thế giới,
chúng sinh giới, ý nghĩ như nhau, cũng bao quát
ở trong tam giới. Trên thế gian hữu số và vô số
không thể tính đếm đo lường, cùng với tất cả
trong hư không. Đủ thứ các pháp thật tướng ở
trên đây, Thập địa Bồ Tát Ngài đều biết hết, đều
thông đạt vô ngại.
Tất cả hoá dụng đại oai lực
Chư Phật gia trì trí vi tế
Bí mật kiếp số đồng lỗ lông
Đều hay quán sát được như thật.
Hết thảy thần thông giáo hoá của Bồ Tát Pháp vân
địa giáo hoá chúng sinh, dùng trí huệ phương
tiện khéo léo, hiện đại oai thần lực, đều do
mười phương chư Phật gia trì mới đắc được. Như
bí tàng vi tế trí, kiếp số vi tế trí, đường lỗ
chân lông vi tế trí .v.v... Thập địa Bồ Tát đều
biết như thật, quán sát như thật.
Thọ sanh bỏ tục thành chánh đạo
Chuyển diệu pháp luân vào Niết Bàn
Cho đến pháp tịch diệt giải thoát
Và chỗ chưa nói đều biết được.
Phật từ cung trời Đâu Suất hạ sinh xuống nhân
gian, thọ sinh vào cung vua, nhập thai, trụ
thai, xuất thai, xả bỏ hoàng cung, xuất gia tu
khổ hạnh, chứng đạo, thành chánh giác, hàng ma,
chuyển diệu pháp luân, vào Niết Bàn, cho đến
chứng được diệu pháp tịch diệt, giải thoát. Cùng
với đủ thứ diệu pháp mà Phật đã nói, đang nói,
sẽ nói, Thập địa Bồ Tát đều biết được.
Bồ Tát trụ Pháp Vân địa này
Đầy đủ niệm lực trì Phật pháp
Ví như biển cả thọ rồng mưa
Địa này thọ pháp cũng như thế.
Khi Bồ Tát trụ tại Pháp vân địa, vì Ngài đã đầy
đủ niệm lực và huệ lực, tu trì Phật pháp của
mười phương chư Phật đã thọ. Giống như biển cả,
đồng thời tiếp nhận được rất nhiều nước mưa trời
rồng mưa xuống, mà chẳng phát sinh hiện tượng
tràn đầy. Lúc này, trí huệ của Thập địa Bồ Tát
cũng đồng thời lãnh nạp thọ trì được đại pháp
minh, đại pháp vũ, của mười phương chư Phật.
Mười phương vô lượng các chúng sinh
Đều được văn trì trì Phật pháp
Nơi một vị Phật được nghe pháp
Hơn số trên đây nhiều vô lượng.
Mười phương thế giới vô lượng vô biên chúng
sinh, đều đắc được tam muội văn trì, thọ trì
pháp môn chư Phật nói. Bồ Tát ở tại đạo tràng
của mỗi vị Phật lắng nghe Phật pháp, cũng ở tại
đại tràng của chư Phật mười phương ba đời lắng
nghe Phật pháp. Như nương vào nguyện lực thù
thắng thuở xưa của Bồ Tát, thì Ngài vẫn có thể
nhậm vận tự tại, hơn số trên đây vô lượng vô
biên.
Dùng
trí nguyện oai thần lực xưa
Một niệm khắp cùng mười phương cõi
Rưới mưa cam lồ diệt phiền não
Cho nên Phật nói Pháp Vân địa.
Dùng đại nguyện lực thuở xưa Bồ Tát đã phát ra,
tu được đại trí huệ, thành tựu sức đại oai thần,
có thể ở trong một niệm, đạt đến khắp cùng cõi
nước chư Phật trong mười phương. Bồ Tát giáo hoá
chúng sinh, hoằng dương chánh pháp, rưới mưa
pháp cam lồ cho chúng sinh, hay vì chúng sinh
tiêu diệt phiền não các khổ, cho nên Phật nói
Thập địa Bồ Tát, nên gọi là “Bồ Tát Pháp vân
địa”.
Thần
thông thị hiện khắp mười phương
Hơn hẳn cảnh trời người thế gian
Lại hơn số này vô lượng ức
Thế trí suy gẫm sẽ mê hoặc.
Thần thông diệu dụng của Thập địa Bồ Tát, tuỳ
tâm thị hiện khắp cùng mười phương thế giới. Hơn
hẳn cảnh giới nhân gian và trên trời, và còn gấp
bội hơn số nói ở trên vô lượng ức. Nếu bạn dùng
trí huệ thế gian để độ lượng Ngài, thì bạn nhất
định sẽ mê hoặc, vĩnh viễn nghĩ không thông
được.
Một cất chân lượng trí công đức
Cho đến Cửa địa không biết được
Hà huống tất cả các chúng sinh
Cùng với Thanh Văn Bích Chi Phật.
Thập địa Bồ Tát động tay cất chân, đều biểu hiện
ra vô lượng trí huệ, thành tựu vô lượng công
đức. Việc của Ngài làm đều dụng ý sâu xa, một số
Bồ Tát, cho đến Cửu địa Bồ Tát đều không biết
được mục đích và cảnh giới, hà huống tất cả
chúng sinh phàm phu ? Cho dù các bậc Thánh nhị
thừa Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng không biết
được.
Địa này Bồ
Tát cúng dường Phật
Mười
phương cõi nước đều khắp cùng
Cũng cúng
hiện tiền các Thánh chúng
Đầy đủ
trang nghiêm Phật công đức.
Bồ Tát
Pháp vân địa cúng dường Phật, chẳng phải chỉ cúng dường một vị Phật,
hai vị Phật, mà Ngài cúng dường khắp cùng mười phương cõi nước chư
Phật. Cũng cúng dường pháp, cũng cúng dường bậc Thánh nhị thừa và
các vị hiền Thánh Tăng hiện tiền. Công đức của Ngài viên mãn đầy đủ,
thành tựu trang nghiêm thân, trang nghiêm cõi nước, như hết thảy
công đức của Phật.
Trụ Địa
này lại vì chúng nói
Ba đời
pháp giới vô ngại trí
Chúng sinh
cõi nước cũng như thế
Cho đến
tất cả Phật công đức.
Bồ Tát trụ
tại Pháp vân địa, lại vì tất cả chúng sinh diễn nói diệu pháp, Bồ
Tát vì đã tu chứng được bốn vô ngại trí, cho nên Ngài đến pháp giới
ba đời thuyết pháp, tuyệt đối không có sự chướng ngại. Đi đến hết
thảy mười phương cõi nước vì chúng sinh thuyết pháp, cũng như thế
chẳng có bất cứ chướng ngại gì, cho đến có đủ trí huệ và công đức
của chư Phật.
Địa này
trí quang minh Bồ Tát
Chỉ bày
chúng sinh đường chánh pháp
Quang Trời
Tự Tại trừ đời tối
Quang này
diệt tối cũng như thế.
Bồ Tát
Pháp vân địa, trí huệ quang minh của Ngài, hay chỉ bày cho chúng
sinh một con đường chánh đáng, con đường tu học hạnh của Phật. Thiên
Vương Trời Tự Tại phóng quang, có thể phá trừ đen tối thế gian. Thập
địa Bồ Tát phóng quang minh trí huệ, chẳng những chỉ phá trừ đen tối
thế gian, mà còn diệt trừ vô minh đen tối trong tâm của chúng sinh,
hơn hẳn quang minh của thế gian.
Trụ
đây thường làm chủ ba cõi
Khéo hay
diễn nói pháp ba thừa
Một niệm
được vô lượng tam muội
Thấy được
chư Phật cũng như thế.
Chứng được
Thập địa - Quả vị Pháp vân địa của Bồ Tát, trong giai đoạn này, phần
nhiều hoá thân đến ba cõi để hành Bồ Tát đạo, thường thường hiện
thân Thiên Vương làm chủ ba cõi : Dục giới, sắc giới, vô sắc giới,
thống lãnh ba cõi, trị pháp ba cõi. Ngài đối với ba cõi chúng sinh,
khéo hay diễn nói pháp ba thừa – Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ
Tát thừa. Diệu pháp ba thừa là vì khế hợp với căn tánh chúng sinh.
Ngài tu được vô lượng đủ thứ tam muội, có thể trong khoảng một niệm,
không cần tác ý thì có thể đắc được, tuỳ tâm thọ dụng nhậm vận tự
tại. Ngài cũng có thể trong khoảng thời gian nháy mắt thấy được mười
phương ba đời, vô lượng vô biên chư Phật nhiều như số hạt bụi.
Địa này
nay tôi đã lược nói
Nếu muốn
rộng nói không hết được
Các địa như vậy trong Phật trí
Như mười
núi chúa cao vòi vọi.
Bồ Tát Kim Cang Tạng nói : Phẩm pháp môn Bồ Tát hạnh
này – Pháp môn Thập địa – Pháp vân địa, hiện tại tôi đã lược nói
xong những cảnh giới, những điểm chính, tướng trạng và quá trình tu
hành trong đó. Nếu muốn phân biệt nói rộng ra, thì e rằng hết thuở
vị lai, cũng nói không hết được. Như vậy pháp môn Thập địa, mỗi địa
đều có chỗ đặc thù thâm áo, ở trong biển trí của chư Phật, giống như
mười núi chúa lớn, cao vòi vọi đứng xừng xững ở trong biển lớn. Nhất
là Địa thứ mười này – Pháp vân địa Bồ Tát, ở trong biển cả Phật
pháp, có sự thành tựu thù thắng, đứng xừng xững ở trong các địa, bất
cứ một địa nào của Bồ Tát cũng không thể sánh bằng.
Sơ địa nghề nghiệp không hết được
Ví như núi Tuyết tụ thuốc hay
Nhị địa giới văn như núi Hương
Tam như Tỳ Đà sinh hoa đẹp.
Sơ địa là Hoan hỉ địa, ở trong địa này phần nhiều học
tập nghề thuốc, nói không thể hết được, giống như toà núi Chúa lớn,
tụ tập đủ thứ thuốc hay hiếm có, đều sinh sản ở trong núi này, hay
chữa bách bệnh cho chúng sinh. Nhị địa Bồ Tát chủ yếu tu hạnh trì
giới, và đa văn Phật pháp, xả lìa các điều ác dơ bẩn, thành tựu phạm
hạnh thanh tịnh, giống như núi chúa Hương sinh sản đủ thứ hương danh
quý, cho nên gọi là Ly cấu địa. Địa thứ ba như núi chúa Tỳ Đà, hay
sinh ra các thứ hoa đẹp thượng diệu. Vì Tam địa Bồ Tát, ở trong địa
này phải viên mãn đầy đủ tất cả thiền định, thần thông, giải thoát
tam muội và chỉ quán .v.v... cho nên gọi là Phát quang địa.
Diệm Huệ đạo báu vô cùng tận
Ví như núi Tiên thiện nhân ở
Ngũ địa thần thông như núi Càn
Lục như Mã Nhĩ đủ các quả.
Địa thứ tư gọi là Diệm huệ địa, Bồ Tát ở trong địa này, thành tựu
trí huệ trung đạo, nhiều như các thứ báu, vô cùng vô tận. Giống như
núi chúa Thần Tiên, có rất nhiều bậc tu hành ở trong đó, như ngũ
thông Thần tiên. Ngũ địa Bồ Tát thành tựu phương tiện thần thông,
trong ngoài sáng suốt, đầy đủ Nhất thiết chủng trí. Giống như núi
chúa Càn Đà La, tất cả đại thần đều ở trong đó, cho nên gọi là Nan
Thắng địa. Địa thứ sáu giống như núi chúa Mã Nhĩ, đầy đủ tất cả các
thứ quả, đều sinh sản ra ở trong núi này. Dùng núi này ví dụ Bồ Tát
Hiện tiền địa, “Tự hiện thể xuất các diệu dụng”, hoá đạo chúng sinh
tu học Phật đạo, mà chứng quả vị nhị thừa.
Thất địa đại huệ như núi Ni
Bát địa tự tại như Luân Vi
Cửu như Kế Đô tập vô ngại
Thập như Tu Di đủ các đức.
Thất địa Bồ Tát thành tựu đủ thứ phương tiện trí huệ
rộng lớn, không, có, vô ngại, hoá đạo chúng sinh, khắp ban cho Nhất
thiết trí, chứng được quả vị. Giống như núi Ni Dân Đà La, đại lực
Long Thần đều ở trong đó, nên gọi là Viễn hành địa. Bát địa - Bất
động địa Bồ Tát thành tựu trí vô công dụng không nghĩ bàn, trang
nghiêm thế gian. Tâm được tự tại, hay giáo hoá các chúng Bồ Tát bậc
dưới. Vì núi Luân Vi - tiếng Tàu, tức là núi chúa Chướt Yết La, có
rất nhiều vị Tiên tự tại ở trong đó, cho nên dùng núi này làm ví dụ.
Cửu địa - Thiện huệ địa Bồ Tát, tích tập bốn vô ngại trí đại lực
hành, hay khéo léo giáo hoá chúng sinh, giống như trong núi chúa Kế
Đô có đại oai đức A Tu La Vương. Thập địa – Pháp vân địa, giống như
núi chúa Tu Di, đầy đủ tất cả đức hạnh. Dùng Bồ Tát Pháp vân địa này
ví dụ đủ Như Lai lực, thành tựu vô uý, được bất cộng pháp, hay vì
chúng sinh diễn nói, hay thọ các công đức, vấn đáp vô tận vô ngại.
Sơ địa phát nguyện Nhị trì giới
Tam địa công đức Tứ chuyên nhất
Ngũ địa vi diệu Lục thâm sâu
Thất rộng huệ lớn Bát trang nghiêm.
Sơ địa – Hoan hỉ địa dùng đại nguyện lực làm trọng
tâm chủ yếu tu chứng. Địa thứ hai dùng giới hạnh thanh tịnh làm chủ,
cho nên gọi là Ly cấu địa. Địa thứ ba là tích tập đủ thứ công đức
thành tựu, do đó mà gọi là Phát quang địa. Địa thứ tư chí tại chuyên
nhất tu vượt qua thế gian đắc được tại tự tại, cho nên gọi là Diệm
huệ địa. Bồ Tát Địa thứ năm đắc được như ý thần thông, trí huệ tự
tại vi diệu khéo léo, nên gọi là Nan thắng địa. Địa thứ sáu - Hiện
tiền địa Bồ Tát có trí huệ thâm sâu. Địa thứ bảy - Bồ Tát Viễn hành
địa trí huệ rộng lớn không có bờ mé, tâm lượng bao quát Hằng sa. Địa
thứ tám – Bất động địa Bồ Tát dùng phước đức trang nghiêm ba đời.
Cửu địa tư lượng nghĩa vi diệu
Hơn hẳn tất cả đạo thế gian
Thập địa thọ trì pháp chư Phật
Biển hạnh như vậy không cạn hết.
Đại lực trí hành của Cửu địa Bồ Tát, suy gẫm tấc cả
nghĩa lý vi diệu, như thật quán sát tất cả thế gian, biết như thật
tất cả chúng sinh tánh hạnh thế gian. Nghĩa lý vi diệu này hơn hẳn
nhất thiết trí huệ thế gian, đạo lý tất cả người thế gian hành trì.
Thập địa Bồ Tát hay thọ trì đại pháp vân đại pháp vũ của mười phương
chư Phật, hay vì chúng sinh diễn nói diệu pháp môn của chư Phật.
Giống như hạnh môn tu Bồ Tát đạo, như biển cả, vĩnh viễn không bao
giờ khô cạn, chẳng cách chi nói hết được.
Mười hạnh hơn đời phát tâm trước
Trì giới thứ hai thiền thứ ba
Hạnh tịnh thứ tư thành tựu năm
Duyên sanh thứ sáu xâu suốt bảy.
Pháp môn Thập địa là học tu Bồ Tát hạnh, học hành Bồ
Tát đạo, muốn chứng quả Phật, thì phải tu học pháp môn vô thượng. Nó
hơn hẳn tất cả các pháp thế gian, là diệu pháp duy nhất muốn ra khỏi
thế gian, được mười phương ba đời chư Phật nói, mười phương Bồ Tát
phải tu. Bồ Tát phát đại bồ đề tâm tiến vào Sơ địa. Nghiêm cẩn thọ
trì thanh tịnh giới hạnh là hạnh môn Bồ Tát Địa thứ hai phải tu.
Thiền định thuộc về Địa thứ ba chú trọng tu. Tu hành tất cả hạnh môn
thanh tịnh là thuộc về Địa thứ tư. Hay thành tựu đủ thứ căn lành
công đức, thần thông diệu dụng là Địa thứ năm tu. Chứng được không
sinh không diệt, biết rõ thật nghĩa duyên sinh là giai đọan của Địa
thứ sáu. Địa thứ bảy có sự xâu suốt các địa dưới và phát tâm vị lai.
Thứ tám để tại tràng kim cang
Thứ chín quán sát chúng rừng rậm
Thứ mười quán đảnh tuỳ ý vua
Như vậy đức báu dần thanh tịnh.
Địa thứ tám là bất động bổn toà mà khắp cùng mười
phương, như bảo châu ma ni ở trên tràng cao, ánh sáng chiếu sáng
mười phương. Địa thứ chín dùng diệu quán sát trí, quán sát tất cả
chúng sinh ở trong biển khổ sinh tử, vì vô minh phiền não trói buộc
như rừng rậm. Địa thứ mười thuộc về quán đảnh vị, như "Bảo châu ma
ni hay tuỳ ý vua, mưa xuống các báu vật, như tâm chúng sinh được
toại tâm mãn nguyện". Thập địa Bồ Tát "Đã thọ Phật chức, liệt vào
hàng chư Phật, hay vì chúng sinh, rộng làm Phật sự". Giống như công
đức diệu báu thanh tịnh, mỗi ngày càng thanh tịnh trong sáng hơn.
Mười phương cõi nước nghiền làm bụi
Có thể một niệm biết được số
Lông đo hư không lường biết được
Ức kiếp nói đây không hết được.
Cõi nước chư Phật mười phương, có thể nghiền nát
thành bụi, có thể nói là hạt bụi nhiều vô lượng vô biên, nhưng có
thể trong khoảng một niệm biết được số hạt bụi là bao nhiêu! Dùng
một sợi lông để do lường hư không, vẫn có thể biết được số xát thực
bề ngang bao nhiêu, bề dọc bao nhiêu. Nhưng nếu hết kiếp thuở vị
lai, diễn nói pháp môn Thập địa này, thì e rằng không thể nào hoàn
toàn nói rõ ràng hết được.
|