|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
QUYỂN BA MƯƠI BỐN
PHẨM THẬP ĐỊA THỨ HAI MƯƠI SÁU
THỨ NHẤT HOAN HỈ ĐỊA
Kinh Hoa Nghiêm có ba mươi chín phẩm, tám mươi
quyển, hiện tại giảng đến phẩm thứ hai mươi sáu
trong Kinh, đó là Phẩm Thập Địa. Tại sao gọi là
Phẩm Thập Địa ? Vì địa (đất) hay sinh trưởng vạn
vật, tất cả vạn vật cũng nương theo đất mà sinh,
nương theo đất mà lớn, nương theo đất mà thành,
nương theo đất mà trụ, nương theo đất mà được
giải thoát.
Trong đất lại có đủ thứ bảo tàng, đủ thứ vật
chất quý trọng, cho nên con người mới phát quật
mỏ vàng, mỏ đá quý, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ thiết .v.v...
các thứ khoáng sản từ dưới đất.
Trong Phẩm Thập Địa cũng có tất cả các mỏ, như
mỏ Phật, mỏ Bồ Tát, mỏ Thanh Văn, mỏ Duyên Giác,
mỏ cỏi trời, mỏ nhân gian, mỏ súc sinh, mỏ ngạ
quỷ, mỏ địa ngục. Mười pháp giới, mỗi giới (cõi)
ở dưới đất đều có mỏ nầy, chỉ là con người không
biết đi phát quật, nếu biết đi phát quật, thì sẽ
đắc được đủ thứ thành quả. Cho nên nói tất cả
vạn vật do đất mà sinh, do đất mà lớn lên, do
đất mà thành thục, do đất mà an trụ, do đất mà
được giải thoát.
Pháp môn Thập địa bao quát tất cả pháp môn, đều
có quan hệ mật thiết với tất cả pháp môn. Nếu
như chúng ta muốn tu hành Bồ Tát đạo, thì phải
do đất (địa) mà sinh khởi Bồ Tát đạo. Nếu như
chúng ta muốn tăng trưởng Bồ Tát đạo, thì phải
nhờ pháp môn Thập địa để tăng trưởng. Nếu như
chúng ta muốn thành thục Bồ Tát đạo, cũng phải
nhờ pháp môn Thập địa để thành thục. Nếu như
chúng ta muốn đắc được giải thoát Bồ Tát đạo,
thì càng phải nương vào pháp môn Thập địa để tu
hành, mới đắc được giải thoát của Bồ Tát đạo.
Pháp môn Thập địa nầy là phẩm thứ hai mươi sáu
trong Kinh Hoa Nghiêm, hiện tại giảng phần thứ
nhất của Phẩm Thập Địa thứ hai mươi sáu gọi là
Hoan Hỉ Địa.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn ở tại cung trời Tha Hoá Tự Tại,
điện Ma Ni Bảo Tạng, với chúng đại Bồ Tát tụ hội.
Các Bồ Tát đó đều không thối chuyển nơi Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đều từ thế giới
phương khác vân tập đến. Trụ nơi cảnh giới trí
của tất cả Bồ Tát trụ, vào nơi trí huệ của tất
cả Như Lai vào. Siêng thực hành không ngừng,
khéo thị hiện đủ thứ thần thông, làm các sự việc,
giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh mà không
lỗi thời. Vì thành tựu tất cả đại nguyện của Bồ
Tát, mà nơi tất cả đời, tất cả kiếp, tất cả cõi,
siêng tu các hạnh, không tạm giải đãi. Đầy đủ
phước trí trợ đạo của Bồ Tát, khắp lợi ích chúng
sinh mà luôn không thiếu sót. Đến nơi bờ kia rốt
ráo trí huệ phương tiện của tất cả Bồ Tát.
Bồ Tát
Kim Cang Tràng nói xong phẩm Thập Hồi Hướng rồi,
trước khi chưa nói Phẩm Thập Địa. Lúc đó, Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đang ở trên cung trời Tha
Hoá Tự Tại. Ý nghĩa cung trời Tha Hoá Tự Tại là
hay dùng âm nhạc của người khác xem như sự khoái
lạc của chính mình, rất nhậm vận tự tại ở trong
cung điện cõi trời. Toà cung điện đó dùng ma ni
bảo tạng làm thành, đồng thời còn có rất nhiều
đại Bồ Tát tụ hội. Đại Bồ Tát tức là Bồ Tát lớn,
có đạo đức tương đương, trí huệ tương đương, tu
hành tương đương. Chúng tụ hội là hình dung rất
nhiều, rất nhiều, chẳng phải là thiểu số, mà là
nhiều vô lượng vô biên Bồ Tát tụ lại một chỗ.
Những vị đại Bồ Tát đó, đều đã không thối chuyển
nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Niệm cũng
không thối chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, hạnh cũng không thối chuyển nơi Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, vị cũng không thối chuyển
nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ba không
thối chuyển tức là : Niệm không thối chuyển,
hạnh không thối chuyển, vị không thối chuyển.
Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác : Chánh giác - Bồ
Tát với hàng nhị thừa đều tu đắc được chánh giác.
Nhưng hàng nhị thừa chưa đắc được chánh đẳng,
cho nên không thể giác tha, chỉ là chánh giác mà
thôi. Bồ Tát không những tự giác, mà còn giác
tha. Bồ Tát đắc được chánh giác rồi, lại tu pháp
môn chánh đẳng của Phật, cho nên gọi là chánh
đẳng. Song, vẫn chưa đến được vô thượng, nghĩa
là còn có thượng sĩ, Bồ Tát còn gọi là Hữu
Thượng Sĩ, vì phía trên còn có Phật. Các vị hãy
nghĩ xem : chẳng phải tự mình nhận rằng đến được
trình độ nào đó, thì cũng giống như vậy. Tất cả
sự thành tựu, phải có người khác công nhận, mới
thật là thành tựu. Hàng nhị thừa tu được chánh
giác, có thể tự giác, không thể giác tha, cũng
chưa đến được chánh đẳng, cho nên chỉ có thể nói
chánh giác. Bồ Tát tu đã được chánh giác, có thể
tự giác, có thể giác tha, lại có thể đẳng giác.
Đẳng giác ngộ nơi Phật, gần bằng với Phật, đây
gọi là chánh đẳng, nhưng vẫn chưa được vô thượng.
Đức Phật thì có thể tự giác, lại có thể giác tha,
lại có thể chánh đẳng, mà còn đắc được vô thượng,
đây tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ý
nghĩa A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những vị đại Bồ
Tát nầy tuy nhiên chưa hoàn toàn đắc được vô
thượng, nhưng tuyệt đối không thối chuyển, thối
lùi về nhị thừa. Tương lai nhất định sẽ thành
Phật. Đều từ phương khác đến tụ hội : Những vị
Bồ Tát đó, chẳng phải ở tại thế giới Ta Bà nầy,
các Ngài đều từ mười phương vô lượng thế giới
nhiều như số hạt bụi đến tụ hội. Trụ nơi trí huệ
của tất cả Bồ Tát : Các Ngài đều đã đắc được trí
huệ của Bồ Tát, đạt đến cảnh giới của Bồ Tát trụ.
Các Ngài không những đã trụ nơi cảnh giới của Bồ
Tát, mà cho đến trí huệ của Phật cũng có được.
Tất cả chỗ đức Phật biết, các Ngài cũng đều biết,
bất quá chỗ biết chẳng thâm sâu giống như đức
Phật. Cảnh giới trí huệ của Phật chứng được, các
Ngài cũng gần chứng được. Siêng thực hành không
ngừng : Vì các Ngài đều dũng mãnh tinh tấn,
siêng tu Bồ Tát đạo mà chưa từng ngừng nghỉ.
Khéo thị hiện đủ thứ thần thông, các Ngài hay
dùng đủ thứ trí huệ, hiển hiện đủ thứ thần thông.
Làm các sự việc : Những việc làm của các Ngài là
giáo hoá chúng sinh, điều phục chúng sinh phải
biết thời cơ, nghĩa là đúng cơ duyên tốt, lúc
không đúng cơ duyên thì không nên nói pháp với
họ mà bạn lại đi nói, lúc không nên giáo hoá họ
mà bạn lại đi giáo hoá họ. Lúc thời cơ chưa
thành thục, chẳng những không thể khiến cho họ
tiếp thọ, ngược lại khiến cho họ sợ hãi, làm cho
họ nghi ngờ không tin, làm cho họ vĩnh viễn
không còn muốn nghe Phật pháp nữa, đây gọi là
lỗi thời, mất đi cơ hội. Bồ Tát giáo hoá chúng
sinh hợp thời hợp lúc, vận dụng thời cơ tốt nhất.
Ví như nông dân làm đất, họ phải biết lúc nào
gieo hạt giống xuống thì mới bỏ hạt giống xuống,
nếu lúc không nên gieo hạt giống mà bỏ hạt giống
xuống, thì không thể sinh trưởng, đó chẳng phải
là lãng phí công phu sao, lãng phí thời gian sao !
Bồ Tát giáo hoá chúng sinh, giống như nông phu
gieo hạt giống, biết lúc nào vì chúng sinh gieo
hạt giống, thì Ngài nương lúc đó vì chúng sinh
gieo xuống hạt giống bồ đề, đến khai phát đất
tâm của họ, dạy họ phát tâm bồ đề. Cho họ gieo
xuống hạt giống bồ đề, khiến cho nó sinh trưởng
từng chút từng chút, thành thục từng chút từng
chút, đắc được giải thoát từng chút từng chút,
đây chẳng phải là lỗi thời. Cho nên chúng ta
muốn giáo hoá người thì quan trọng nhất là nên
biết đúng thời. Mất đi thời cơ thì không đúng cơ.
Vì thành tựu tất cả đại nguyện của Bồ Tát : Đại
Bồ Tát vì thành tựu tâm đại nguyện lúc tu Bồ Tát
đạo phát ra. Nơi tất cả đời : ở trong hết thảy
thế giới. Tất cả kiếp : ở trong vô lượng vô biên
kiếp lâu dài. Tất cả cõi : ở trong hết thảy cõi
nước của chư Phật. Siêng tu các hạnh : Các Ngài
đều rất chuyên cần dũng mãnh tinh tấn tu hành
hết thảy hạnh môn của Bồ Tát. Không tạm giải đãi :
chưa từng lười biếng, cũng không nghĩ ngơi. Đầy
đủ phước trí trợ đạo của Bồ Tát : Đầy đủ phước
đức và trí huệ của Bồ Tát để trợ giúp mình tu
đạo. Lợi ích chúng sinh, không chỉ mình tu hành,
mà còn phải luôn luôn không quên lợi ích khắp
chúng sinh. Mà luôn không thiếu sót : tức là
không mệt mỏi, không lười biếng, bất cứ lúc nào
cũng không nói không hành Bồ Tát đạo, chẳng lợi
ích chúng sinh. Đạt đến trí huệ phương tiện của
tất cả Bồ Tát : đạt đến được trí huệ của tất cả
Bồ Tát, và biết vận dụng tất cả phương tiện. Bờ
bên kia rốt ráo : đến được quả vị cao nhất, tiến
vào Niết Bàn thanh tịnh bờ bên kia, chứng đắc
khoái lạc thường lạc ngã tịnh.
Thị
hiện vào sinh tử và dùng sinh tử mà không xả bỏ
tu hạnh Bồ Tát. Khéo vào tất cả thiền định giải
thoát tam muội, Tam ma bạt đề, thần thông minh
trí của Bồ Tát. Các sự bố thí đều được tự tại,
đắc được tất cả thần lực tự tại của Bồ Tát.
Trong khoảng một niệm không chỗ động tác, đều có
thể đi đến tất cả đạo tràng chúng hội của Như
Lai làm thượng thủ trong chúng, thỉnh Phật
thuyết pháp. Hộ trì bánh xe chánh pháp của chư
Phật, dùng tâm rộng lớn, cúng dường thừa sự tất
cả chư Phật. Thường siêng tu tập tất cả hạnh sự
nghiệp của Bồ Tát. Thân Ngài hiện khắp tất cả
thế gian, âm thanh của Ngài khắp cùng mười
phương thế giới, tâm trí vô ngại, thấy khắp hết
thảy công đức của tất cả Bồ Tát ba đời, đều đã
tu hành mà được viên mãn, trong bất khả thuyết
kiếp nói không hết được.
Thị hiện
vào sinh tử : Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo, Ngài
thì sinh tử tự do, Ngài thì sinh tử tức Niết Bàn,
phiền não tức bồ đề. Ngài đều thị hiện tất cả :
thị hiện đủ thứ sinh, thị hiện đủ thứ tử, thị
hiện các loài chúng sinh, thị hiện thân thể các
loài hữu tình, trên là chư thiên, con người, A
tu la, dưới đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh,
trong mỗi đường Bồ Tát đều thị hiện sinh tử. Thị
hiện đủ thứ sinh, để độ đủ thứ chúng sinh, khiến
cho họ phát tâm bồ đề. Thị hiện đủ thứ tử, khiến
cho tất cả chúng sinh minh bạch thống khổ của sự
chết, cho nên Bồ Tát mới thị hiện vào cảnh giới
sinh tử. Và dùng Niết Bàn : Bồ Tát thị hiện sinh
như thế nào, các thứ thống khổ của sự chết như
thế nào, dùng để giáo hoá chúng sinh. Sau đó lại
thị hiện tu khổ hạnh, khiến cho chúng sinh biết
biến hoá sinh tử như thế nào vào nơi Niết Bàn.
Mà không xả bỏ tu Bồ Tát hạnh : Bồ Tát Ngài ở
trong mỗi loài chúng sinh hành Bồ Tát đạo, mà
không bao giờ xả bỏ sự tu hành Bồ Tát đạo của
Ngài. Không màng ở trong loài chúng sinh nào,
Ngài đều hành Bồ Tát đạo để lợi ích tất cả chúng
sinh. Khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm đại
bồ đề. Khéo vào tất cả thiền định giải thoát tam
muội của Bồ Tát : Ngài khéo chứng được thiền
định, giải thoát, chánh định chánh thọ, Tam ma
bạt đề, sự tu hành của Bồ Tát. Thần thông minh
trí : minh bạch tất cả trí huệ và diệu dụng của
ba minh sáu thông.
Ba
minh là: Thiên nhãn minh, thiên nhĩ minh, túc
mạng minh, hoặc là lậu tận minh.
Sáu thông : thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông,
tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông và
lậu tâm minh.
Các sự bố thí đều đắc được tự tại : tất cả hành
vi của Bồ Tát đều nhậm vận tự tại, đắc được thần
lực tự tại của Bồ Tát, Ngài thị hiện sinh tử,
Niết Bàn, và thị hiện tu Bồ Tát đạo, luôn luôn
đều đắc được tất cả hết thảy nhậm vận tự tại
thần thông diệu dụng của Bồ Tát. Trong khoảng
một niệm, không có động tác : Tức là trong
khoảng một tâm niệm, không cần có sự động tác.
Như bạn thấy Ngài đang đi, kỳ thật Ngài đang ở
khắp cùng mười phương. Như bạn thấy Ngài đang ăn
cơm, mà thần thông của Ngài đã vào tất cả đạo
tràng của Như Lai. Như bạn thấy Ngài đang ngủ,
mà Ngài đã hoá thân đến các cõi nước chư Phật
khác. Như bạn thấy Ngài đang ngồi đó, không làm
việc gì cả, nhưng Ngài đã hoá thân đến vô lượng
vô biên cõi nước của chư Phật giáo hoá chúng
sinh. Cho nên tất cả biểu hiện của Bồ Tát, tuyệt
đối không phải sự tuỳ tiện định luận của chúng
ta.
Các vị ! Ngàn vạn đừng dùng nhãn quang của phàm
phu nhận định sai lầm về Bồ Tát, Bồ Tát không
tuỳ tiện mạo muội nhận trách nhiệm của mình. Đều
đi đến tất cả đạo tràng chúng hội của Như Lai,
Ngài tuỳ thời tuỳ lúc, có thể đi đến hầu cận
mười phương chư Phật, lễ bái mười phương chư
Phật, cúng dường mười phương chư Phật. Tuỳ thời
Ngài đều quán sát chúng sinh mười phương, như có
tai nạn gì, cần người cứu tế trợ giúp, thì Ngài
sẽ hoá thân đến cứu, hoá độ. Cho nên Bồ Tát hay
đi đến tất cả đạo tràng chúng hội của Như Lai,
mà làm thượng thụ, làm lãnh tụ đại chúng trong
tất cả pháp hội. Thỉnh chư Phật thuyết pháp,
Phật thuyết pháp cần có người đến thỉnh pháp,
nếu không thỉnh, thì Phật không nói pháp. Người
thỉnh pháp, đi nhiễu bên phải ba vòng, Phật mới
nói pháp, tức là chuyển bánh xe pháp. Hộ trì chư
Phật, Bồ Tát đến khắp nơi hộ trì chúng hội đạo
tràng của chư Phật. Bánh xe chánh pháp, chuyển
bánh xe chánh pháp, đây chẳng phải là việc bình
thường, khi ở đâu chuyển bánh xe chánh pháp, thì
đều kinh thiên động địa, hộ pháp chư Thiên và
các đại Bồ Tát đều hộ trì và nghe pháp.
Chùa Kim Sơn chúng ta ở nước Mỹ là thường chuyển
bánh xe chánh pháp, đáng tiếc không có ai nhận
thức, ví như ở tại San Francisco đã lâu trời
không mưa, chúng ta cầu nguyện thì trời mưa
xuống, đó là sự cảm ứng do chúng ta thường nói
chánh pháp, chuyển bánh xe chánh pháp. Không chỉ
con người cần chư Phật hộ trì, mà chư Phật cũng
cần các Bồ Tát hộ trì. Dùng tâm rộng lớn, cúng
dường thừa sự tất cả chư Phật : Bồ Tát dùng chân
tâm rộng lớn, để cúng dường chư Phật, theo lời
dạy của chư Phật, đi hoá độ chúng sinh. Thường
siêng tu tập tất cả hết thảy sự nghiệp của Bồ
Tát : luôn không đoạn tuyệt tu tập sự nghiệp của
Bồ Tát làm. Thân Ngài hiện khắp tất cả thế gian :
thân của Ngài hiện khắp cùng mười phương tất cả
thế giới. Âm thanh của Ngài khắp cùng mười
phương pháp giới : những vị Bồ Tát đó, không
những thân của Ngài hiện khắp mười phương thế
giới, mà âm thanh của các Ngài, đồng thời cũng
vang đến khắp cùng mười phương pháp giới. Tâm
trí vô ngại : tâm và trí huệ của các Ngài cũng
đã đạt đến sự viên dung vô ngại. Thấy khắp hết
thảy công đức của tất cả Bồ Tát ba đời, các Ngài
đều thấy khắp cùng đến ba đời – đời quá khứ, vị
lai, hiện tại, hết thảy công đức của tất cả Bồ
Tát. Đều đã tu hành được viên mãn : hết thảy
công đức của tất cả Bồ Tát có đủ, các Ngài cũng
đều tu hành viên mãn. Trong bất khả thuyết kiếp,
nói không hết được : công đức của các vị Bồ Tát
đó tu hành, thần thông diệu dụng, ở trong vô
lượng kiếp thời gian lâu dài, nói không hết được.
Danh
hiệu của các Ngài là : Bồ Tát Kim Cang Tạng, Bồ
Tát Bảo Tạng, Bồ Tát Liên Hoa Tạng, Bồ Tát Đức
Tạng, Bồ Tát Liên Hoa Đức Tạng, Bồ Tát Nhựt
Tạng, Bồ Tát Tô Lợi Gia Tạng, Bồ Tát Vô Cấu
Nguyệt Tạng, Bồ Tát Phổ Hiện Trang Nghiêm Tạng,
Bồ Tát Tỳ Lô Giá Na Trí Tạng, Bồ Tát Diệu Đức
Tạng, Bồ Tát Chiên Đàn Đức Tạng, Bồ Tát Hoa Đức
Tạng, Bồ Tát Câu Tô Ma Đức Tạng, Bồ Tát Ưu Bát
La Đức Tạng, Bồ Tát Thiên Đức Tạng, Bồ Tát Phước
Đức Tạng, Bồ Tát Vô Ngại Thanh Tịnh Trí Đức
Tạng, Bồ Tát Công Đức Tạng, Bồ Tát Na La Diên
Đức Tạng, Bồ Tát Vô Cấu Tạng, Bồ Tát Ly Cấu
Tạng, Bồ Tát Chủng Chủng Biện Tài Trang Nghiêm
Tạng, Bồ Tát Đại Quang Minh Võng Tạng, Bồ Tát
Tịnh Oai Đức Quang Minh Vương Tạng, Bồ Tát Kim
Trang Nghiêm Đại Công Đức Quang Minh Vương Tạng,
Bồ Tát Nhất Thiết Tướng Trang Nghiêm Tịnh Đức
Tạng, Bồ Tát Kim Cang Diệm Đức Tướng Trang
Nghiêm Tạng, Bồ Tát Quang Minh Diệm Tạng, Bồ Tát
Tinh Tú Vương Quang Chiếu Tạng, Bồ Tát Hư Không
Vô Ngại Trí Tạng, Bồ Tát Diệu Âm Vô Ngại Tạng,
Bồ Tát Đà La Ni Công Đức Trì Nhất Thiết Chúng
Sinh Nguyện Tạng, Bồ Tát Hải Trang Nghiêm Tạng,
Bồ Tát Tu Di Đức Tạng, Bồ Tát Tịnh Nhất Thiết
Công Đức Tạng, Bồ Tát Như Lai Tạng, Bồ Tát Phật
Đức Tạng, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt. Các chúng
đại Bồ Tát như vậy, nhiều vô số vô lượng, vô
biên vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả
tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, Bồ Tát Kim
Cang Tạng làm thượng thủ.
Các vị
đại Bồ Tát ở trong pháp hội nầy, danh hiệu của
các Ngài đều dùng công đức tu hành chứng được,
mà làm danh hiệu. Cho nên miệng chúng ta tụng
danh hiệu Bồ Tát, trong tâm suy gẫm thì sẽ hiểu
rõ Thánh hiệu của Bồ Tát đó, nghĩa là đại biểu
đức hạnh của Ngài. Bồ Tát ở trong hội nhiều vô
số, không thể tính đếm được, vô lượng, bất khả
xưng, vô biên, không thể nghĩ tưởng, vô đẳng,
nói cũng nói không hết được chúng đại Bồ Tát tụ
hội. Bồ Tát Kim Cang Tạng làm thượng thủ trong
chúng đại Bồ Tát đó - tức là lãnh tụ trong chúng
đại Bồ Tát.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng nương thần lực của
Phật, vào tam muội Bồ Tát đại trí huệ quang
minh. Vào tam muội đó rồi, lập tức mỗi phương
trong mười phương, qua các thế giới nhiều như số
hạt bụi mười ức cõi Phật, đều có các đức Phật
nhiều như số hạt bụi mười ức cõi Phật, đều đồng
danh hiệu Kim Cang Tạng hiện ra ở trước, nói
rằng : Lành thay ! Lành thay ! Kim Cang Tạng !
Có thể vào tam muội Bồ Tát đại trí huệ quang
minh.
Thiện nam tử ! Đó là nhờ các đức
Phật trong mười phương, nhiều như số hạt bụi
mười ức cõi Phật, cùng gia hộ cho ông, nhờ
nguyện lực xưa của Tỳ Lô Giá Na Như Lai ứng
chánh đẳng giác, cũng nhờ thắng trí lực của ông,
muốn khiến cho ông vì tất cả Bồ Tát nói các Phật
pháp quang minh không thể nghĩ bàn, đó là: Vì
khiến cho nhập vào trí địa. Vì nhiếp tất cả căn
lành. Vì khéo lựa chọn tất cả Phật pháp.
Lúc đó, Bồ Tát Kim Cang Tạng
nương oai thần lực của đức Phật Thích Ca Mâu Ni
và mười phương chư Phật, vào trong tam muội
(chánh định chánh thọ) đại trí huệ, đại quang
minh của Bồ Tát. Vào tam muội đó rồi : Nhập vào
tam muội đó rồi, thì tất cả cảnh giới đều hiện
ra. Lập tức các đức Phật nhiều như số hạt bụi
mười ức cõi Phật trong mười phương : Liền lúc
đó, mỗi phương trong mười phương, đều có các đức
Phật nhiều như số hạt bụi mười ức cõi Phật. Đều
đồng danh hiệu Kim Cang Tạng hiện ra : Các đức
Phật đều đồng một danh hiệu Kim Cang Tạng cùng
nhau hiện ra ở trước Bồ Tát Kim Cang Tạng. Nói
rằng : Đối với Bồ Tát Kim Cang Tạng nói lời như
vầy : Lành thay ! Lành thay ! Kim Cang Tạng !Tối
lắm ! Bồ Tát Kim Cang Tạng ơi ! Ông thật là tốt
lắm ! Vào được tam muội Bồ Tát đại trí huệ quang
minh : Ông vào được trong tam muội đại trí huệ,
đại quang minh của đại Bồ Tát.
Thiện nam tử ! Đó là nhờ các đức
Phật trong mười phương, nhiều như số hạt bụi
mười ức cõi Phật, cùng gia hộ cho ông : Đó là do
các đức Phật nhiều như số hạt bụi mười ức cõi
Phật, cùng nhau gia hộ cho ông, khiến cho ông
vào được tam muội nầy.
Nhờ nguyện lực xưa của Tỳ Lô Giá
Na Như Lai ứng chánh đẳng giác : Nhờ nguyện lực
thuở xưa của đức Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai (khắp
cùng tất cả mọi nơi) vô thượng chánh đẳng chánh
giác, gia bị cho ông. Cũng nhờ thắng trí lực của
ông : Cũng nhờ sức trí huệ thù thắng của ông tu
hạnh Bồ Tát đắc được, cho nên vào được tam muội
nầy. Muốn khiến cho ông vì tất cả Bồ Tát nói các
Phật pháp không thể nghĩ bàn : hy vọng ông vì
các Bồ Tát ở trong pháp hội tuyên nói Phật pháp
trí huệ tối thắng, quang minh vi diệu của chư
Phật. Đó là vì khiến nhập vào trí địa : nghĩa là
tuyên nói Phật pháp khiến cho tất cả chúng sinh
nhập vào bậc trí huệ. Nhiếp tất cả căn lành :
nhiếp hết thảy căn lành của tất cả chúng sinh tu
tập. Khéo lựa chọn tất cả Phật pháp : khiến cho
chúng sinh có con mắt biết chọn pháp, hiểu rõ ý
nghĩa pháp của chư Phật nói.
Vì rộng biết các pháp. Vì
khéo hay thuyết pháp. Vì không phân biệt trí
thanh tịnh. Vì tất cả pháp thế gian không nhiễm.
Vì căn lành xuất thế thanh tịnh.
Vì được cảnh giới trí huệ không
nghĩ bàn. Vì được nhất thiết trí vào cảnh giới
trí huệ. Vì thuỷ chung khiến cho được Thập địa
của Bồ Tát. Vì nói như thật tướng Thập địa khác
biệt của Bồ Tát. Vì duyên niệm tất cả Phật pháp.
Vì tu tập phân biệt pháp vô lậu.
Vì khéo lựa chọn quán sát đại trí quang minh
thiện xảo trang nghiêm. Vì khéo vào quyết định
trí môn. Vì tuỳ chỗ trụ xứ thứ tự hiển nói không
sợ hãi.
Vì được vô ngại biện tài quang
minh. Vì trụ bậc đại biện tài khéo quyết định.
Vì nghĩ nhớ Bồ Tát tâm không quên mất. Vì thành
thục tất cả cõi chúng sinh. Vì đến khắp tất cả
mọi nơi quyết định khai ngộ.
Vì rộng biết các pháp : Phật pháp
chẳng phải tri thức của thế gian dùng tục huệ mà
có thể hiểu được, phải vào sâu tạng Kinh, thì
mới mong được trí huệ như biển. Phật pháp như
biển cả, không có đại trí đại huệ, làm sao có
thể rộng nói các pháp. Chỉ mình biết tất cả các
pháp, không thể cho rằng biết chân thật, vì còn
phải khéo hay nói pháp : nói pháp cũng chẳng
phải là chuyện đơn giản, phải khéo sử dụng tất
cả phương pháp phương tiện khéo léo, tuyên nói
các pháp.
Vì không phân biệt trí thanh
tịnh : ở trong trí huệ còn phải đừng có sự phân
biệt, mới thấu hiểu tất cả diệu pháp thanh tịnh.
Thanh tịnh thì sinh ra trí huệ. Trí phân ra bốn
tên gọi là : thành sở tác trí, diệu quán sát
trí, bình đẳng tánh trí, đại viên cảnh trí. Vì
tất cả pháp thế gian không nhiễm : tất cả pháp
thế gian chỉ cần chuyển qua lại, tức là pháp
thanh tịnh không nhiễm. Biện pháp chuyển qua lại
là cải ác hướng thiện. Pháp thế gian thì nhiễm
ô, pháp xuất thế thì không nhiễm ô, thanh tịnh.
Vì căn lành xuất thế thanh tịnh :
hiểu được pháp xuất thế, thì tu căn lành xuất
thế, sẽ đắc được pháp thanh tịnh. Vì được cảnh
giới trí không nghĩ bàn : đắc được cảnh giới trí
huệ không thể nghĩ bàn. Vì được nhất thiết trí
vào cảnh giới trí : bậc nhất thiết trí là chỉ
đức Phật. Đắc được trí huệ của chư Phật, mới vào
được cảnh giới trí huệ. Vì thuỷ chung khiến cho
được Thập địa của Bồ Tát : lại khiến cho đắc
được Thập địa Bồ Tát – quá trình tu hành từ sơ
địa đến Thập địa. Sơ địa là bắt đầu, địa thứ
mười là chấm dứt.
Từ sơ địa đến Thập địa, trải qua
đủ thứ sự tu trì khác nhau, đều phải minh bạch,
phải chứng đắc. Người tu đạo thì sơ địa chẳng
biết cảnh giới của nhị địa, thập địa chẳng biết
cảnh giới của bậc Đẳng Giác. Cảnh giới của mỗi
người đều khác nhau. Công phu, pháp môn của gười
tu đạo cũng đều khác nhau. Vì nói như thật tướng
Thập địa khác biệt của Bồ Tát : giải nói chân
thật sự khác biệt về tướng trạng Thập địa của Bồ
Tát tu chứng được. Do pháp môn tu hành khác
nhau, nên cảnh giới đắc được cũng khác, tướng
trạng tu chứng tự nhiên có sự khác biệt. Bồ Tát
Kim Cang Tạng biết, thấu hiểu, cho nên hy vọng
Ngài giải nói như thật về sự khác biệt nầy. Vì
duyên niệm tất cả Phật pháp : duyên niệm tức là
suy niệm thuận theo Phật pháp mà chư Phật đã
nói. Lại có thể nói một cách chuyên nhất, chuyên
nhất chí niệm pháp của chư Phật nói. Vì tu tập
phân biệt pháp vô lậu : tu tức là tu hành; tập
tức là học tập.
Tu hành cũng phải học tập, mới có
thể minh bạch thế nào là pháp hữu lậu ? Thế nào
là pháp vô lậu ? Trong pháp hữu lậu có bao nhiêu
thứ pháp hữu lậu, trong pháp vô lậu lại có bao
nhiêu thứ pháp vô lậu. Một bên tu hành, một bên
học tập, một bên nghiên cứu. Cố gắng nghiên cứu,
phân biệt rõ ràng, thì mới minh bạch thế nào là
pháp vô lậu. Khéo lựa chọn quán sát đại trí
quang minh thiện xảo trang nghiêm : khéo lựa
chọn tức là khéo dùng mắt chọn pháp, dùng đại
trí huệ để quán sát các pháp. Có đại trí huệ thì
giống như đại quang minh. Có trí huệ quang minh,
thì mới khéo léo trang nghiêm các cõi nước chư
Phật. Khéo vào quyết định trí môn : khéo vào nơi
quyết định môn nhất thiết trí huệ. Phân biệt tất
cả rất thuần tịnh, không có sự hoài nghi. Vì tuỳ
theo chỗ trụ xứ thứ tự hiển nói không sợ hãi :
Bồ Tát tuỳ chỗ của Ngài, có thứ tự, lớp lang,
rất hiển rõ, tuyên nói chánh pháp, mà tơ hào
không sợ hãi. Vì được vô ngại biện tài quang
minh : đắc được đại trí huệ biện tài vô ngại. Vì
trụ bậc đại biện tài khéo quyết định : trụ nơi
quả vị có đại biện tài, hay khéo léo diệu dụng
quyết định các pháp. Vì nghĩ nhớ Bồ Tát tâm
không quên mất : luôn luôn nghĩ nhớ công đức của
chư Phật Bồ Tát, tâm không quên mất.
Vì thành thục tất cả cõi chúng
sinh : nghĩa là khiến cho tất cả chúng sinh,
người chưa trồng căn lành thì trồng xuống; đã
trồng rồi thì khiến cho tăng trưởng; đã tăng
trưởng thì khiến cho thành thục; đã thành thục
thì khiến cho được giải thoát, đó là ý nghĩa
thành thục tất cả cõi chúng sinh. Vì đến khắp
tất cả mọi nơi quyết định khai ngộ : hay đến
khắp cõi nước, tất cả đạo tràng chúng hội của
tất cả chư Phật mười phương ba đời. Quyết định
khai ngộ là nói đắc được đại trí huệ, đại biện
tài, đại thọ mạng, đại an lạc. Khai ngộ tất cả
các pháp, chứng được thật tướng tất cả các pháp.
Thiện nam tử ! Ông nên khéo léo
nói pháp sự khác biệt của pháp môn nầy, đó là :
Vì nương thần lực của Phật và trí huệ quang minh
của Như Lai gia trì. Vì thanh tịnh căn lành của
mình. Vì thanh tịnh khắp pháp giới. Vì nhiếp
khắp chúng sinh nên vào sâu pháp thân trí thân.
Vì thọ tất cả chư Phật quán đảnh. Vì được thân
lớn cao nhất tất cả thế gian. Vì vượt qua tất cả
con đường thế gian. Vì thanh tịnh căn lành xuất
thế. Vì đầy đủ trí nhất thiết trí.
Mười phương chư Phật cũng đến
khuyến thỉnh khen ngợi Bồ Tát Kim Cang Tạng nói:
Thiện nam tử! Ông nên dùng biện tài vô ngại của
ông, phương pháp khéo léo, tuyên nói sự khác
biệt về pháp môn đại trí quang minh của Thập địa
nầy. Vì nương thần lực của Phật, được trí huệ
quang minh của Như Lai gia trì: vì ông nương sức
oai thần của mười phương chư Phật, đại oai thần
lực của đức Phật Tỳ Lô Giá Na, đại oai thần lực
của đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, và trí huệ
quang minh của Như Lai gia bị cho ông. Vì thanh
tịnh căn lành của mình: thanh tịnh căn lành bồ
đề của mình. Vì thanh tịnh khắp pháp giới: khiến
cho khắp pháp giới được thanh tịnh. Nhiếp khắp
chúng sinh: nhiếp thọ khắp tất cả chúng sinh. Vì
vào sâu pháp thân trí thân: vào sâu tất cả pháp
thân và trí huệ thân.
Vì thọ tất cả chư Phật quán đảnh:
tiếp thọ chư Phật mười phương ba đời đến thọ ký,
quán đảnh, gia bị. Vì được thân lớn cao nhất tất
cả thế gian: đắc được pháp thân cao nhất, đại
trí huệ lớn nhất trong tất cả thế gian. Vì vượt
qua tất cả con đường thế gian: vượt qua được hết
thảy con đường pháp môn của tất cả thế gian. Vì
thanh tịnh căn lành xuất thế: đắc được căn lành
bồ đề thanh tịnh xuất thế gian. Vì đầy đủ trí
nhất thiết trí, đầy đủ nhất thiết trí huệ, cũng
khiến cho tất cả chúng sinh đắc được trí huệ
nhất thiết trí.
Bấy giờ, mười phương chư Phật ban
cho Bồ Tát Kim Cang Tạng thân sáng chói. Ban cho
nhạo thuyết biện tài vô ngại. Ban cho trí thanh
tịnh khéo phân biệt. Ban cho sức nghĩ nhớ không
quên. Ban cho huệ thấu rõ khéo quyết định. Ban
cho trí đến tất cả mọi nơi khai ngộ. Ban cho sức
thành đạo tự tại. Ban cho vô sở uý của Như Lai.
Ban cho trí biện tài nhất thiết trí nhân quán
sát phân biệt các pháp môn. Ban cho thân lời ý
thượng diệu đầy đủ trang nghiêm của tất cả Như
Lai.
Lúc đó, mười phương chư Phật ban
cho Bồ Tát Kim Cang Tạng thân sáng chói: tức là
gia bị ban cho Bồ Tát Kim Cang Tạng thân vô
thuợng thắng oai đức, giống như ông vua ở trong
đại chúng, không có người nào sáng chói bằng ông
vua được. Lại gia bị ban cho Bồ Tát Kim Cang
Tạng trí huệ thanh tịnh vô vi biện tài nhạo
thuyết biện rõ chánh pháp. Ban cho sức khéo nghĩ
nhớ không quên: Lại gia bị an cho Bồ Tát Kim
Cang Tạng khéo nghĩ nhớ danh nghĩa của chánh
pháp, không nói khác, không quên mất bổn tông.
Ban cho huệ thấu rõ quyết định: lại gia bị ban
cho Bồ Tát Kim Cang Tạng đủ thứ trí huệ phương
tiện khéo léo, thấy được căn cơ, tuỳ sở ứng, đưa
ra ví dụ nói rõ dứt nghi. Ban cho trí đến khắp
mọi nơi khai ngộ: lại gia bị ban cho Bồ Tát Kim
Cang Tạng trí huệ tuỳ nơi đều thấu hiểu chân lý
của chân đế, tục đế, trung đạo đệ nhất nghĩa.
Ban cho sức thành đạo tự tại: lại gia bị ban cho
Bồ Tát Kim Cang Tạng mười lực, khiến cho giáo
hoá chúng sinh dứt được nghi, thoát khỏi phiền
não, đắc được quả vị, cho nên nói thành đạo tự
tại. Ban cho vô sở uý của Như Lai: lại gia bị
ban cho Bồ Tát Kim Cang Tạng oai thần lực vô sở
uý. Ban cho trí biện tài nhất thiết trí nhân
quán sát phân biệt các pháp môn: Lại gia bị ban
cho Bồ Tát Kim Cang Tạng trí vô ngại biện tài
nhất thiết trí nhân tức là quán sát chư Phật,
phân biệt các thứ pháp môn. Ban cho thân lời ý
thượng diệu đầy đủ trang nghiêm của tất cả Như
Lai: chư Phật gia bị ban cho Bồ Tát Kim Cang
Tạng ba nghiệp thù thắng, đầy đủ sự trang nghiêm
của Bồ Tát.
Vì sao ? Vì đắc được pháp tam
muội nầy như vậy. Vì nguyện xưa phát khởi. Vì
khéo tịnh thâm tâm. Vì khéo tịnh trí luân. Vì
khéo tích tập trợ đạo. Vì khéo tu trị sở tác. Vì
niệm vô lượng pháp khí. Vì biết thanh tịnh tin
hiểu. Vì được tổng trì không sai lầm. Vì ấn pháp
giới trí khéo ấn.
Nguyên nhân gì Bồ Tát Kim Cang
Tạng được chư Phật gia bị, đắc được pháp môn tam
muội thù thắng nầy? Vì nguyện xưa sinh khởi: đó
là do nguyện xưa sâu nặng tại nhân địa phát ra,
muốn chứng được trí quang tam muội Thập địa nầy.
Vì khéo tịnh thâm tâm: cũng ở tại nhân địa khi
tu Bồ Tát hạnh, thì có căn lành và tâm thanh
tịnh niềm tin ưa thích cùng cực. Vì thanh tịnh
trí luân: trí huệ thanh tịnh, giống như vầng mặt
trời chiếu khắp pháp giới, là trí đức thanh tịnh
của Bồ Tát Kim Cang Tạng. Khéo tích tụ trợ đạo:
Ngài đời đời đều tích tụ căn lành sâu dày, thanh
tịnh vô vi, cho nên có thể tích tụ trợ đạo, đó
là phước đức của Bồ Tát Kim Cang Tạng. Vì khéo
tu trị sở tác: Bồ Tát Kim Cang Tạng khéo điều
phục tâm, thanh tịnh căn lành, dứt trừ phiền não
tập khí, đó là công phu tu trị của Ngài. Vì niệm
vô số pháp khí: Bồ Tát Kim Cang Tạng có thể nghe
thọ trì vô lượng Phật pháp, nghĩ nhớ không quên
mất, thật là pháp khí khó được. Vì biết thanh
tịnh tin hiểu: Bồ Tát Kim Cang Tạng dùng trí huệ
thanh tịnh của Ngài, khiến cho chúng sinh đối
với Phật pháp có tâm tin, có lý giải rõ ràng
chính xác. Vì được tổng trì không sai lầm: khiến
cho Phật pháp lưu thông, chúng sinh tin tưởng
tụng trì, đối với chân lý chánh pháp trước sau
đều không có sự hoài nghi, cũng không sai trái,
tổng tất cả pháp, trì tất cả nghĩa lý chánh
pháp. Vì pháp giới trí ấn khéo ấn, pháp giới
chúng sinh, được phụng trì chánh pháp, biết
thoát khỏi nhân quả sinh tử, dùng trí như thật
ấn khả, pháp lành ấn chứng.
Bấy giờ, mười phương chư Phật đều
dũi tay phải xoa đầu Bồ Tát Kim Cang Tạng. Xoa
đầu rồi, Bồ Tát Kim Cang Tạng từ tam muội dậy,
bảo khắp tất cả chúng Bồ Tát rằng:
Các Phật tử ! Các Bồ Tát nguyện
khéo quyết định không tạp, không thể thấy, rộng
lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Hết
thuở vị lai, khắp tất cả cõi Phật, cứu hộ tất cả
chúng sinh, được tất cả chư Phật hộ niệm, vào
trí địa của chư Phật quá khứ hiện tại và vị lai.
Lúc đó, mười phương chư Phật, đều
dũi tay phải xoa đầu Bồ Tát Kim Cang Tạng. Phật
xoa đỉnh đầu rồi, Bồ Tát Kim Cang Tạng từ trong
định dậy, bảo khắp tất cả chúng đại Bồ Tát rằng:
Các vị đệ tử của Phật! Các Bồ Tát
nguyện: Các vị đại Bồ Tát phát nguyện lớn, khéo
quyết định không tạp: là dùng hết thảy trí huệ
chân thật mà Ngài đắc được, lựa chọn pháp lành
chẳng có một chút tạp nhạp nào. Nguyện đó là
nguyện lớn của Bồ Tát phát ra. Nhìn chẳng thấy:
tuy nói nhìn cũng nhìn không thấy, song, rộng
lớn đến khắp cùng pháp giới, rốt ráo như hư
không: nơi rốt ráo của Ngài như hư không tìm
chẳng có bờ mé. Hết thuở vị lai: đến khắp tất cả
cõi Phật, cứu hộ tất cả chúng sinh: Bồ Tát cứu
hộ hết thảy chúng sinh, không sợ hết thuở vị
lai. Cũng không khảo lự là ở đâu, đi đến khắp
tất cả cõi nước chư Phật. Được tất cả chư Phật
hộ niệm: Vì được tất cả chư Phật mười phương ba
đời hộ trì và nghĩ nhớ. Vào trí địa của chư Phật
quá khứ vị lai và hiện tại: Ngài đã chứng được
bậc trí huệ của chư Phật, Phật quá khứ, Phật vị
lai, Phật hiện tại.
Phật tử ! Thế nào là trí địa của
đại Bồ Tát ?
Các vị đệ tử của Phật ! Thế nào
gọi là trí huệ địa của đại Bồ Tát tu tập đủ thứ
căn lành và trí huệ địa của chư Phật ?
Phật tử ! Trí địa của đại Bồ Tát
có mười thứ: Chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại
đã nói, sẽ nói, đang nói, tôi cũng nói như vậy.
Các vị đệ tử của Phật ! Khi Bồ
Tát tu hành Bồ Tát hạnh, thì tích tập đủ thứ căn
lành trí huệ địa, lược nói có mười thứ: nếu muốn
nói tỉ mỉ, thì có vô lượng vô biên. Chư Phật quá
khứ đã nói, chư Phật vị lai sẽ nói, chư Phật
hiện tại đang nói. Tôi cũng phải nói mười thứ
tướng địa và thể địa của trí huệ địa giống như
chư Phật ba đời nói.
Những gì là mười ? Một là Hoan Hỉ
Địa. Hai
là Ly Cấu Địa. Ba là Phát Quang Địa. Bốn là Diệm
Huệ Địa. Năm là Nan Thắng Địa. Sáu là Hiện Tiền
Địa. Bảy là Viễn Hành Địa. Tám là Bất Động Địa.
Chín là Thiện Huệ Địa. Mười là Pháp Vân Địa.
Thế nào gọi là Thập địa ? Tên gọi
Thập địa là :
1. Hoan hỉ địa : Khi Bồ Tát tu
đến địa (bậc) nầy, thì rất hoan hỉ.
2. Ly cấu địa : Khi Bồ Tát tu đến
địa thứ hai, thì tất cả mọi sự trần cấu, vọng
tưởng, kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, đều
đoạn sạch.
3. Phát quang địa : Vì tất cả
trần lao vọng tưởng không còn nữa, thì hiện ra
trí huệ quang minh vốn có, cho nên gọi là phát
quang địa.
4. Diệm huệ địa : Đến địa nầy,
thì không những phát quang, mà còn phát ra lửa
sáng (hoả diệm) trí huệ.
5. Nan thắng địa : Tu hành chẳng
dễ gì tu đến địa vị nầy, vì không dễ gì đạt đến,
cho nên gọi là nan thắng địa.
6. Hiện tiền địa : Tất cả trí huệ
đều hiện tiền.
7. Viễn hành địa : Khi Bồ Tát tu
đến địa vị nầy, có thể bay đi biến hoá, hành
động tự như.
8. Bất động địa : Tức là thần
thông không động đạo tràng, mà du khắp mười
phương.
9. Thiện huệ địa : Bồ Tát tu được
thần thông biến hoá tự như, du khắp mười phương,
liền đắc được Bát nhã trí huệ thù thắng.
10. Pháp vân địa : Công đức của
Bồ Tát tu hành giống như mây che hộ khắp tất cả
chúng sinh.
Phật tử ! Mười địa nầy của Bồ
Tát, chư Phật ba đời đã nói, sẽ nói và đang nói.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Pháp môn Thập địa
của Bồ Tát tu hành, chư Phật ba đời, Phật quá
khứ đã nói, Phật vị lai sẽ nói, Phật hiện tại
đang nói.
Phật tử ! Tôi chẳng thấy có cõi
nước chư Phật nào, mà Như Lai ở trong đó không
nói Thập địa nầy. Tại sao ? Vì đây là đạo bồ đề
tối thượng mà đại Bồ Tát hướng tới, cũng là môn
pháp quang minh thanh tịnh, đó là sự phân biệt
diễn nói các địa của Bồ Tát.
Phật tử ! Chỗ nầy không thể nghĩ
bàn, đó là tuỳ chứng trí của các Bồ Tát.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Tôi chẳng thấy Như
Lai ở trong cõi Phật nào, mà không nói đạo lý
pháp Thập địa nầy. Vì sao ? Vì đây là đạo bồ đề
tối thượng mà đại Bồ Tát hướng tới, pháp nầy là
con đường bồ đề tối thượng của đại Bồ Tát tu
hành, cũng là môn pháp quang minh thanh tịnh, vì
pháp Thập địa cũng là pháp tu hành thanh tịnh
trí huệ quang minh. Nào là phân biệt diễn nói
các địa của Bồ Tát, pháp Thập địa rất là chánh
quyết, diễn nói tỉ mỉ quá trình Bồ Tát tu hành
Thập địa, hiển bày pháp trí huệ và sự hiểu biết
của tất cả Bồ Tát.
Các vị đệ tử của Phật ! Chỗ nầy
không thể nghĩ bàn, đạo lý Thập địa nầy, chẳng
có cách chi tưởng tượng đến được. Đó là tuỳ
chứng trí của Bồ Tát, đạo lý nầy tuỳ theo công
đức tu hành của các Ngài, mà chứng được trí huệ.
Bấy giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng nói
tên Thập địa của Bồ Tát rồi, yên lặng mà ngồi,
lại không phân biệt.
Lúc đó, tất cả chúng Bồ Tát nghe
tên Thập địa của Bồ Tát, mà không nghe giải
thích, đều sinh tâm khát ngưỡng, bèn nghĩ như
vầy : Do nhân duyên gì, mà Bồ Tát Kim Cang Tạng
chỉ nói tên Thập địa của Bồ Tát, mà không giải
thích ?
Lúc đó, Bồ Tát Kim Cang Tạng nói
xong tên pháp môn Thập địa của Bồ Tát tu hành
rồi, thì ngồi yên lặng không nói nữa, cũng không
tiếp tục phân biệt giải thích nghĩa lý pháp môn
Thập địa. Lúc ấy, tất cả chúng Bồ Tát, các đại
Bồ Tát từ mười phương đến, nghe Bồ Tát Kim Cang
Tạng nói tên pháp môn Thập địa của Bồ Tát xong,
mà không nghe sự giải thích đạo lý bên trong,
mọi người đều khát ngưỡng muốn nghe Ngài giải
thích, đồng thời trong tâm cũng khởi sự hoài
nghi, đó là do nguyên nhân gì, mà Bồ Tát Kim
Cang Tạng chỉ nói tên của pháp môn Thập địa, mà
không giải thích thêm ?
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt biết tâm
niệm của các đại chúng, bèn dùng kệ để hỏi Bồ
Tát Kim Cang Tạng rằng:
Vì sao bậc tịnh giác
Đủ niệm trí công đức
Nói các địa thượng diệu
Biết rõ không giải thích ?
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt ở trong
pháp hội, Ngài biết lúc đó trong tâm của các Bồ
Tát khởi niệm nghi, do đó bèn dùng kệ để hỏi Bồ
Tát Kim Cang Tạng rằng: Tại sao ? Ngài là vị Bồ
Tát giác ngộ thanh tịnh ! Bồ Tát niệm thanh
tịnh, trí huệ quang minh, tất cả công đức đều
đầy đủ. Nói tên pháp Thập địa của Bồ Tát rồi,
Ngài có khả năng mà không vì đại chúng giải
thích ?
Tất cả đều quyết định
Dũng mãnh không khiếp nhược
Vì sao nói tên địa
Mà không vì diễn nói ?
Bồ Tát Kim Cang Tạng ! Đối với
tất cả đạo lý, Ngài đều thấu rõ, cũng có tất cả
trí huệ quyết định. Ngài lại là một vị đại Bồ
Tát dũng mãnh tinh tấn, không có sự sợ hãi, tại
sao chỉ nói tên Thập địa, mà không vì đại chúng
giải thích cho họ biết ?
Các địa nghĩa lý hay
Chúng đây đều muốn nghe
Tâm họ không khiếp nhược
Xin vì phân biệt nói.
Nghĩa lý mỗi một địa trong pháp
Thập địa, chắc chắn đều vi diệu không thể nghĩ
bàn. Hiện nay đại chúng trong pháp hội nầy, đều
muốn nghe Ngài giải nói. Những vị đại Bồ Tát
nầy, trong tâm của các Ngài cũng chẳng có gì sợ
hãi, cho nên đều mong muốn Ngài phân biệt giải
nói pháp Thập địa nầy cho họ nghe.
Chúng hội đều thanh tịnh
Lìa giải đãi nghiêm khiết
Được kiên cố bất động
Đủ công đức trí huệ.
Như các vị đại Bồ Tát ở trong đạo
tràng chúng hội nầy, thân tâm các Ngài đều thanh
tịnh, xa lìa hết tất cả bụi trần, dũng mãnh tinh
tấn không giải đãi, oai nghi nghiêm cẩn, liêm
khiết không tham danh lợi, không bị cảnh giới
lay động, không tạp nhiễm tưởng khác, tâm bồ đề
vĩnh viễn không thối chuyển hoặc giao động. Bởi
vì các đại Bồ Tát nầy đều đã đầy đủ đại công
đức, đại trí huệ.
Nhìn nhau đều cung kính
Tất cả đồng ngưỡng vọng
Như ong nhớ mật tốt
Như khát nghĩ cam lồ.
Mọi người đều rất cung kính thành
khẩn, chuyên tâm nhất chí ngưỡng vọng Ngài Bồ
Tát Kim Cang Tạng, vì họ giải nói pháp Thập địa
vi diệu thù thắng nầy. Trong tình huống nầy,
giống như con ong một lòng nghĩ đến mật ngọt,
lại giống như người khát nước, muốn có được nước
cam lồ để giải khát.
Bấy giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng đại
trí huệ không sợ hãi, nghe nói như vậy rồi, vì
muốn khiến cho tâm chúng hội hoan hỉ, vì các
Phật tử mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị Bồ Tát Kim Cang Tạng,
bậc đại trí huệ không sỡ hãi, nghe Bồ Tát Giải
Thoát Nguyệt nói bài kệ rồi, vì muốn khiến cho
các vị Bồ Tát ở trong pháp hội đều sinh tâm hoan
hỉ, cũng dùng kệ để nói với các vị đại Bồ Tát.
Việc hạnh địa Bồ Tát
Gốc chư Phật tối thượng
Hiển bày phân biệt nói
Khó hi hữu bậc nhất.
Việc Bồ Tát tại nhân địa tu hạnh
Bồ Tát, tức là việc đáng làm ở trong Thập địa,
những việc đó cao thượng không có gì sánh bằng.
Tu hành ở trong Thập địa, thì pháp môn căn bản
là thành Phật. Nếu muốn hiển rõ để phân biệt
diễn nói, thật là tối thượng bậc nhất, ít có
nhất, rất khó gặp.
Vi tế khó thấy được
Lìa niệm vượt tâm địa
Sinh ra cảnh giới Phật
Người nghe đều mê hoặc.
Hạnh Bồ Tát rất vi tế vi diệu,
nghĩa lý thâm diệu, chẳng dễ gì minh bạch, rất
khó suy gẫm. Muốn đạt được lìa niệm vượt qua
cảnh giới pháp môn tâm địa nầy, thì ngôn ngữ đạo
đoạn tâm hành xứ diệt, vượt khỏi mọi tư lự, lúc
nầy sinh ra tất cả đều là cảnh giới của Phật,
nếu người chẳng có công đức tu hành tương đương,
thì không thể nào hiểu được, nếu hốt nhiên nghe
nói về cảnh giới nầy, thì dễ dàng làm cho họ
hoài nghi và mê hoặc, huống chi nói đến việc tu
trì.
Giữ tâm như kim cang
Tin sâu thắng trí Phật
Biết tâm địa vô ngã
Nghe được thắng pháp nầy.
Sinh ra hoài nghi là vì chúng
sinh chẳng có trí huệ, cho nên đối với pháp môn
thù thắng nầy, không thể nào hiểu được. Nếu hay
tu trì đến được niềm tin vững chắc như kim cang,
tin sâu trí huệ thù thắng của Phật, đối với lời
dạy của Phật – pháp môn Thập địa, lý giải được
tướng vô ngã, thì sẽ nghe được tin thọ pháp môn
thù thắng nầy.
Như vẽ màu trên không
Như tướng gió trong không
Trí Mâu Ni như vậy
Phân biệt rất khó thấy.
Muốn nghe được pháp thù thắng
nầy, mà minh bạch thọ dụng, là bậc có trí huệ,
giống như vẽ màu sắc rực rỡ ở trong hư không,
lại giống như hình tướng của gió ở trong không,
phải biết đó đều là không thể nghĩ bàn, không
nên chấp trước. Trí huệ của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni thâm sâu vi diệu, cho nên khó phân biệt
giải thích nói, cũng không dễ gì khiến cho người
khác minh bạch tin thọ.
Tôi nghĩ Phật trí huệ
Tối thắng khó nghĩ bàn
Thế gian không thể thọ
Im lặng mà không nói.
Vì tôi nghĩ nhớ đến trí huệ của
Phật, thật là thù thắng nhất, không thể nào
tưởng tượng được. Trên thế gian khó có người
minh bạch được diệu pháp nầy, càng ít người có
thể lãnh thọ được Phật pháp chí lý, cho nên tôi
im lặng không giải thích với các vị.
Bấy giờ, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
nghe nói như vậy rồi, bạch Bồ Tát Kim Cang Tạng
rằng :
Phật tử ! Nay chúng hội nầy thảy
đều đã tụ tập, khéo tịnh thâm tâm, khéo trong
sạch ý niệm, khéo tu các hạnh, khéo tập trợ đạo,
khéo gần gũi trăm ngàn ức Phật, thành tựu vô
lượng công đức căn lành, bỏ lìa si hoặc, không
còn cấu nhiễm, thâm tâm tin hiểu, ở trong Phật
pháp không tuỳ theo chỉ dạy của người khác.
Lành thay Phật tử ! Hãy nương
thần lực của Phật mà vì diễn nói. Các Bồ Tát nầy
đối với chỗ rất thâm sâu như vậy, thảy đều chứng
biết.
Bấy giờ, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
muốn thuật lại nghĩa trên, mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
nghe Bồ Tát Kim Cang Tạng nói kệ rồi, tiếp tục
nói với Bồ Tát Kim Cang Tạng rằng : Ngài là đại
đệ tử của Phật ! Hiện tại các vị Bồ Tát ở trong
đại chúng pháp hội nầy đã tụ tập, các Ngài đều
đã khéo tịnh thâm tâm, vì đã tu được tất cả hạnh
lành, cho đến chỗ thâm sâu của tâm đều đã thanh
tịnh. Khéo trong sạch ý niệm, tư tưởng và ý niệm
của các Ngài cũng đều đã thanh tịnh. Khéo tu các
hạnh, về sự tu trì cũng biết tinh tấn dụng công
như thế nào. Khéo tập trợ đạo, cũng minh bạch
làm thế nào để dùng bi trí, thắng niệm để trợ
giúp họ hành chánh đạo, cũng biết tăng trưởng
trí huệ thì phải gần gũi nhiều vị Phật, phát
nguyện đời đời thấy Phật, thọ trì diệu pháp, mới
có thể thành tựu vô lượng căn lành. Vì đã từng
gần gũi trăm ngàn ức vị Phật, mới thành tựu vô
lượng căn lành, cũng mới bỏ lìa được ngu si và
mê hoặc, càng không còn trần cấu nhiễm ô. Thâm
tâm tin hiểu, dùng tâm thanh tịnh nhất, kiền
thành của các Ngài, tin hiểu nghĩa lý Phật pháp
thâm sâu. Một lòng học tập Phật pháp, không tin
tà thuyết của bàng môn tả đạo.
Đại Bồ Tát Kim Cang Tạng ! Ngài
là đệ tử tốt của Phật ! Xin Ngài nương đại oai
thần lực của Phật, để vì đại chúng diễn nói Phật
pháp nầy ! Các vị Bồ Tát ở trong pháp hội nầy,
đối với chỗ cực kỳ thâm sâu vi diệu của pháp
Thập địa nầy, các Ngài đều chứng biết được. Lúc
đó, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt vì muốn thuật lại
nghĩa lý ở trên, bèn dùng kệ để nói.
Nguyện nói an ổn nhất
Vô thượng hạnh Bồ Tát
Phân biệt nơi các địa
Trí tịnh thành Chánh Giác.
Lúc đó, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
nói: Tôi xin thỉnh đại Bồ Tát Kim Cang Tạng !
Hiện tại Ngài hãy nói Phật pháp tốt nhất, an ổn
nhất, pháp môn tối thượng của Bồ Tát tu hành.
Phân biệt giải thích đạo lý Thập địa, khiến cho
tất cả chúng sinh có thể đắc được trí huệ thanh
tịnh, tương lai đều có thể thành Phật.
Chúng nầy không trần cấu
Chí giải đều sáng sạch
Thừa sự vô lượng Phật
Biết được nghĩa địa nầy.
Các vị Bồ Tát ở trong đại pháp
hội nầy, đều đã xa lìa hết thảy nhiễm ô và trần
cấu, chí nguyện và lý giải của các Ngài, đều rất
thanh tịnh và minh bạch. Các Ngài cũng đã từng
thừa sự cúng dường vô lượng chư Phật, các Ngài
cũng thấu hiểu được nghĩa lý Thập địa.
Bấy giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng nói
: Phật tử ! Tuy chúng nầy đã tụ tập, khéo tịnh
tư tưởng, xả lìa ngu si và nghi hoặc, ở chỗ pháp
thâm sâu không theo sự chỉ dạy của người khác,
nhưng có những chúng sinh khác kém hiểu biết,
nghe việc thâm sâu không nghĩ bàn nầy, sinh ra
nhiều nghi hoặc, sẽ thọ các khổ não lâu dài. Tôi
thương những người nầy, cho nên im lặng.
Bấy giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng
muốn thuật lại nghĩa trên, bèn dùng kệ nói rằng.
Lúc đó, Bồ Tát Kim Cang Tạng lại
nói với Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt: Phật tử ! Tuy
nhiên các vị Bồ Tát ở trong pháp hội nầy, đều đã
khéo tịnh ý niệm, bỏ lìa nghi si và mê hoặc, đối
với pháp thâm sâu vi diệu đã tin sâu không còn
nghi ngờ nữa, cũng không chuyển theo bàng môn tả
đạo. Song, vẫn có những chúng sinh khác căn cơ
hạn hẹp, không minh bạch, nghe pháp lớn thâm sâu
vi diệu không thể nghĩ bàn nầy rồi, rất dễ sinh
ra nghi hoặc. Trong đêm dài vô minh ngu si – đây
là ý nghĩa hình dung chúng sinh vô tri, không
minh bạch pháp lớn, sinh tử mê muội, luân chuyển
không ngừng – nhìn không thấu được, buông bỏ
chẳng đặng, không đắc được tự tại, chính mình
làm khổ não mình. Tôi vì thương xót loại chúng
sinh nầy, cho nên im lặng không nói. Lúc đó, Bồ
Tát Kim Cang Tạng sợ đại chúng không minh bạch,
lại dùng kệ để thuật lại.
Tuy chúng nầy tịnh trí huệ rộng
Thâm sâu minh lợi hiểu thấu được
Tâm đều bất động như núi chúa
Không thể nghiêng úp như biển
lớn.
Bồ Tát Kim Cang Tạng nói: Tuy
nhiên các vị Bồ Tát ở trong đạo tràng nầy, đều
thanh tịnh, chẳng còn nhiễm ô, cũng có trí huệ
rộng lớn, càng có trí Bát nhã thâm sâu, thâm tâm
tin hiểu, biết rõ chánh tà, tâm tin của các Ngài
giống như núi chúa Tu Di, không bị cảnh bên
ngoài giao động, cũng giống như biển lớn không
có ai có thể lật nghiêng qua được.
Có người mới tu chưa thấu hiểu
Theo thức mà hành không theo trí
Nghe đây sinh nghi đoạ đường ác
Tôi thương hạng nầy nên không
nói.
Song, ở trong đại chúng nầy, cũng
có Bồ Tát mới phát tâm bồ đề, tu hành chưa được
bao lâu, trí huệ hiểu biết của họ không đủ, chỉ
nương theo thức để phân biệt tất cả cảnh giới,
chẳng có trí huệ chân chánh để nhận thức tất cả
cảnh giới. Thức chỉ có thể phân biệt, trí mới
nhận thức hiểu thấu được. Khi họ nghe pháp môn
Thập địa nầy, e rằng sẽ sinh ra tâm hoài nghi mà
không tu, không tin pháp lớn nầy, sẽ đoạ vào ba
đường ác - ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục. Tôi
thương xót những chúng sinh nầy, cho nên không
nói.
Bấy giờ, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
lại bạch Bồ Tát Kim Cang Tạng rằng : Phật tử !
Xin nương thần lực của Phật, phân biệt diễn nói
pháp không thể nghĩ bàn nầy, người nầy sẽ được
Như Lai hộ niệm mà sinh tâm tin thọ. Tại sao ?
Vì khi nói Thập địa, thì tất cả pháp Bồ Tát phải
như vậy, được Phật hộ niệm. Được hộ niệm nên nơi
trí địa nầy, hay sinh sự dũng mãnh. Tại sao ? Vì
đây là sự tu hành ban đầu của Bồ Tát, thành tựu
tất cả các Phật pháp. Ví như viết chữ nói số,
tất cả đều dùng tự mẫu làm gốc, tự mẫu rốt ráo,
không có chút phần lìa khỏi tự mẫu.
Phật tử ! Tất cả Phật pháp đều
dùng Thập địa làm gốc. Thập địa rốt ráo, thì tu
hành thành tựu, được nhất thiết trí. Do đó, Phật
tử ! Xin hãy diễn nói, người nầy sẽ được Như Lai
hộ niệm, khiến cho họ tin thọ.
Bấy giờ, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
muốn thuật lại nghĩa trên, bèn nói kệ rằng.
Lúc đó, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
lại nói với Bồ Tát Kim Cang Tạng : Phật tử ! Xin
Ngài hãy nương oai đức thần lực của mười phương
chư Phật và Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, phân
biệt nói pháp không nghĩ bàn nầy, phân tích giải
nói tỉ mỉ pháp môn không thể nghĩ bàn nầy, khiến
cho người nghe được pháp môn nầy, phá trừ nghi
hoặc của họ, mà sinh niềm tin, sẽ đắc được sự hộ
trì của chư Phật, mà sinh ra lòng tin. Vì sao ?
Vì khi nói pháp môn Thập địa, thì tất cả Bồ Tát
nghe pháp nầy, nhất định sẽ được chư Phật hộ
niệm. Vì được hộ niệm: Vì được chư Phật hộ niệm,
nên nghe được pháp Thập địa đại trí huệ nầy rồi,
sẽ sinh ra sự dũng mãnh, sinh ra tâm dũng mãnh
rất lớn. Vì sao ? Vì đây là sự thực hành ban đầu
của Bồ Tát, vì pháp môn nầy là pháp môn tu hành
của tất cả Bồ Tát. Vì thành tựu tất cả các Phật
pháp, mà tu trì pháp môn nầy, sẽ thành tựu hết
thảy pháp của Phật nói. Ví như vẽ chữ nói số,
đưa ra ví dụ, giống như viết chữ, bắt đầu thì
phải biết tự mẫu (chữ cái). Nói số, tức là liên
hợp rất nhiều chữ đơn trở thành một câu có ý
nghĩa. Tự mẫu rốt ráo, nếu bạn biết viết những
chữ cái, thì tuyệt đối không có tờ hào sai lầm.
Hết thảy chữ cũng không lìa khỏi chữ cái.
Phật tử ! Tất cả Phật pháp đều
dùng Thập địa làm gốc, hết thảy pháp của chư
Phật nói, đều dùng pháp Thập địa làm cơ bản.
Thập địa rốt ráo, nếu tu hành viên mãn pháp Thập
địa, thì có thể nói tu hành thành tựu, cũng sẽ
đắc được nhất thiết trí huệ. Cho nên, muốn thỉnh
Ngài Phật tử, vì các vị Bồ Tát trong pháp hội
nầy, mà diễn nói pháp môn nầy, khiến cho người
nghe được pháp nầy, nhất định sẽ được các Như
Lai hộ niệm, cũng khiến cho họ sinh ra tâm tin,
y giáo phụng hành. Lúc đó, Bồ Tát Giải Thoát
Nguyệt muốn thuật lại ý nghĩa vừa nói ở trên,
bèn dùng kệ để nói ra.
Lành thay Phật tử xin diễn nói
Hạnh các địa nhập vào bồ đề
Tất cả đấng Tự Tại mười phương
Đâu chẳng hộ niệm trí căn bản.
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt lại khen
Bồ Tát Kim Cang Tạng một tiếng nói : Ngài là đại
đệ tử của Phật ! Hy vọng Ngài thương xót tất cả
chúng sinh, vì chúng sinh diễn nói pháp môn Thập
địa nầy, có thể khiến cho những vị Bồ Tát nầy đi
vào trong bồ đề giác đạo, học tập tu trì pháp
môn các địa trong Thập địa. Mười phương chư Phật
Thế Tôn, đều đang gia trì, hộ niệm những người
nghe pháp môn Thập địa nầy, và người tu hành
pháp môn Thập địa, vì pháp Thập địa là trí huệ
căn bản.
An trụ trí đây cũng rốt ráo
Tất cả Phật pháp từ đây sinh
Ví như vẽ chữ tự mẫu nhiếp
Như vậy Phật pháp nương Thập địa.
“An trụ trí đây” là chỉ trí của
pháp Thập địa, nghĩa là nói trí huệ của pháp
Thập địa, là trí huệ triệt để nhất, chánh quyết
nhất, viên mãn nhất, thù thắng nhất. Tại sao gọi
là địa ? Vì pháp của chư Phật nói, đều từ Thập
địa sinh ra. Ví như viết chữ, nhất định phải căn
cứ theo tự mẫu (chữ cái), viết làm văn nhất định
trước hết từng chữ. Tất cả Phật pháp nương vào
Thập địa làm cơ sở mà sinh khởi, tu học Phật
pháp cũng phải lấy pháp Thập địa làm chỗ nương
tựa y cứ.
Bấy giờ, các chúng đại Bồ Tát,
cùng lúc đồng thanh, hướng về Bồ Tát Kim Cang
Tạng mà nói kệ rằng.
Khi Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt nói
xong bài kệ ở trên, thì lúc đó, vô lượng các vị
đại Bồ Tát trong mười phương, đồng thời đồng
thanh, cùng nhau dùng kệ hướng về Bồ Tát Kim
Cang Tạng thỉnh pháp, nói :
Trí thượng diệu vô cấu
Biện vô biên phân biệt
Tuyên dương lời sâu đẹp
Nghĩa tương ưng bậc nhất.
Đại đệ tử của Phật ! Bồ Tát Kim
Cang Tạng ! Ngài đã chứng được đại trí huệ thanh
tịnh vô cấu vi diệu tối thượng. Biện tài của
Ngài cũng vô lượng vô biên, nói rất là tỉ mỉ,
rất có đạo lý. Hiện tại hi vọng Ngài đối với
chúng tôi tuyên nói đạo lý vi diệu thâm sâu vô
thượng, với pháp môn Thập địa nghĩa tương ưng
bậc nhất.
Niệm trì hạnh thanh tịnh
Thập lực tập công đức
Biện tài phân biệt nghĩa
Nói địa tối thắng nầy.
Những vị Bồ Tát nầy đều là niệm
và tu hành, tất cả đều là người thanh tịnh, các
Ngài tu trì thập lực của Phật, tích tập đủ thứ
công đức, trí huệ cũng đã phân biệt tất cả nghĩa
lý và đại biện tài vô ngại. Xin thỉnh đại Bồ Tát
Ngài nói pháp môn Thập địa thù thắng nầy.
Định giới tập chánh tâm
Lìa ngã mạn tà kiến
Chúng nầy không niệm nghi
Xin nguyện nghe khéo nói.
Những người ở trong pháp hội nầy
nghe Ngài giải nói, đều là những bậc tu định giữ
giới thanh tịnh, có chánh tri chánh kiến, các
Ngài đã xa lìa cống cao ngã mạn, chẳng có tư
tưởng tà kiến, các Ngài đối với pháp môn Thập
địa không có ý niệm hoài nghi, đều rất thành tâm
chuyên nhất lắng nghe Ngài tuyên nói pháp môn
Thập địa.
Như khát nghĩ nước lạnh
Như đói tưởng thức ăn
Như bệnh nghĩ thuốc hay
Như ong tham mật tốt.
Giống như người gặp lúc vừa nóng
vừa khát, nghĩ đến muốn uống một ly nước mát
lạnh. Lạnh: ý nghĩa là mát mẻ. Lại giống như
người đói, tưởng nghĩ đến có chút thức ăn, để ăn
cho đỡ đói. Lại giống như người bệnh, nghĩ đến
tìm thuốc hay để trị bệnh. Lại giống như con ong
hằng ngày đi tìm mật hoa, vì muốn làm một tổ ong
mật tốt, lưu trữ qua mùa đông.
Chúng tôi cũng như vậy
Nguyện nghe pháp cam lồ
Lành thay trí rộng lớn
Xin nói vào các địa.
Thành Thập lực vô ngại
Tất cả hạnh Thiện Thệ.
Đại chúng ở trong pháp hội nầy,
cũng giống như những tư tưởng vừa nói ở trên, hy
vọng lắng nghe để được sự giải khát, được ăn no,
chữa lành bệnh, diệu pháp xả lìa tất cả tham sân
si. Bồ Tát Kim Cang Tạng ngài là bậc có trí huệ
rộng lớn ! Xin Ngài nói làm sao để đi vào pháp
môn Thập địa. Vì Ngài đã thành tựu Thập lực
giống như Phật, đạt đến quả vị không chướng
ngại, cũng đã tu chứng đến tất cả các hạnh đồng
như Phật.
Bấy giờ, ở giữa chân mày của đức
Thế Tôn phóng ra luồng quang minh thanh tịnh,
tên là Bồ Tát Lực Diệm Minh. Có trăm ngàn A tăng
kỳ quang minh dùng làm quyến thuộc, chiếu khắp
mười phương tất cả thế giới, không có chỗ nào mà
không chiếu đến, khổ ba đường ác đều được ngừng
nghỉ. Lại chiếu đến tất cả chúng hội của Như
Lai, hiển hiện lực không nghĩ bàn của chư Phật.
Lại chiếu đến tất cả thân Bồ Tát được chư Phật
gia trì thuyết pháp trong mười phương tất cả thế
giới. Làm như vậy rồi, trở thành đài lưới mây
đại quang minh, trụ ở trên hư không.
Lúc đó, mười phương chư Phật,
cũng đều như vậy, từ giữa chân mày phóng ra
luồng quang minh thanh tịnh, quang minh đó tên
là Quyến Thuộc Tác Nghiệp, đều đồng như đây. Lại
cũng chiếu đến đức Phật và đại chúng ở thế giới
Ta Bà nầy, cùng với thân Bồ Tát Kim Cang Tạng,
toà sư tử, rồi trở thành đài lưới mây đại quang
minh, trụ ở trong hư không.
Lúc đó, ở trong đài quang minh,
nhờ oai thần lực của chư Phật, mà nói bài kệ
rằng.
Khi Bồ Tát nói bài kệ ở trên vừa
xong, thì lúc đó, ở giữa chân mày của đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, phóng ra luồng quang minh rất
thanh tịnh, quang minh đó tên gọi là Bồ Tát Đại
Trí Lực Diệm Quang Minh. Là quang minh lửa ngọn
pháp lực của Bồ Tát. Có trăm ngàn A tăng kỳ
quang minh làm quyến thuộc, riêng ngoài còn có
đủ thứ vô lượng quang minh, làm quyến thuộc cho
quang minh nầy. Chiếu đến khắp mười phương hết
thảy thế giới của chư Phật, chẳng có một nơi nào
mà không chiếu đến. Khổ của ba đường ác đều
ngừng nghỉ, khổ hình đang thọ ở trong ba đường
ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cũng đều tiêu
diệt. Lại chiếu đến hết thảy chư Phật ở trong
đạo tràng pháp hội, hiển hiện lực không nghĩ bàn
của chư Phật, dùng quang minh sáng chói đó để
hiển bày pháp lực của chư Phật không thể tưởng
tượng được. Lại chiếu đến thân Bồ Tát đang
thuyết pháp, được Phật lực của chư Phật gia trì
ở trong mười phương hết thảy thế giới. Làm việc
đó rồi, chiếu như vậy rồi, bèn trụ ở trong hư
không, kết thành đài lưới mây đại quang minh.
Lúc đó, chư Phật những phương khác trong mười
phương cũng lại như vậy, cũng giống nhau, từ
giữa chân mày phóng ra luồng quang minh thanh
tịnh, cũng tên là Bồ Tát Đại Trí Lực Diệm Quang
Minh. Quang minh đó tên là Quyến Thuộc Tác
Nghiệp, tác dụng làm quyến thuộc quang minh của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tác dụng ủng hộ với
nhau. Đều giống như ở đây, giống như quang minh
của đức Thế Tôn, chiếu khắp mười phương thế
giới, chiếu đến Phật, pháp hội đại chúng, thân
Bồ Tát Kim Cang Tạng ở thế giới Ta Bà, cùng với
toà sư tử của Ngài, rồi quang minh đó kết thành
đài lưới đại quang minh trụ ở trong hư không. Ở
trong đài quang minh, nhờ sức đại oai đức thần
thông của đức Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Phật,
mà nói ra bài kệ dưới đây.
Phật không ai bằng như hư không
Mười phương vô lượng thắng công
đức
Tối thắng vô thượng trong thế
gian
Đức Phật Thích Ca gia hộ họ.
Đức Phật, chẳng có ai có thể sánh
được, vi diệu giống như hư không. Đức Phật có
mười lực, lại có vô lượng công đức thù thắng. Ở
nhân gian, đức Phật tối thắng nhất, cao thượng
nhất. Phàm là người hay thuyết pháp độ sinh,
Phật lực sẽ gia bị cho bạn.
Phật tử sẽ nương lực chư Phật
Khai tạng pháp vương tối thắng
nầy
Các địa trí rộng hạnh thắng diệu
Dùng Phật oai thần phân biệt nói.
Phật tử ! Bồ Tát Kim Cang Tạng :
Ngài hãy nương sức oai thần của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni và mười phương chư Phật, vì đại chúng
khai diễn hạnh Bồ Tát thù thắng nhất của Pháp
Vương có đủ. Vì ở trong pháp Thập địa, mỗi địa
đều có trí huệ rộng lớn của mỗi địa, đều có pháp
môn tu hành vi diệu khác nhau của mỗi địa, nhờ
Phật lực gia trì, mới có thể phân biệt giải nói
tỉ mỉ.
Nếu được sức Thiện Thệ gia trì
Sẽ được pháp bảo nhập vào tâm
Các địa vô cấu lần lược đầy
Cũng đủ mười lực của Như Lai.
Nếu như bạn được Phật lực gia trì
(Thiện Thệ là một trong mười danh hiệu của
Phật), thì vô lượng pháp bảo sẽ nhập vào trong
biển não của bạn, khi diễn nói Phật pháp, thì
nói rất viên dung vô ngại, nghĩa lý phân minh.
Thập địa, mỗi địa đều thanh tịnh vô cấu, thêm
vào có thể nương tựa thứ lớp tu trì, thì nhất
định có thể chứng được quả vị viên mãn, cũng sẽ
đầy đủ mười lực giống như đức Phật.
Tuy trụ nước biển trong kiếp lửa
Kham thọ pháp nầy tất được nghe
Nếu có người không tin sinh nghi
Vĩnh viễn không nghe nghĩa như
vậy.
Tuy nhiên bạn trụ ở trong nước
biển nhiều như vậy, sâu như vậy, ở trong kiếp
lửa : thành, trụ, hoại, không, cũng nên nhẫn thọ
kiếp khổ nạn đó, gặp lúc giảng về Thập địa, thì
nhất định cũng muốn nghe (nghĩa là nói: thà chịu
khổ ở trong ba đường ác, cũng không bị tám nạn
chướng ngại sự nghe pháp). Như có người đối với
pháp Thập địa sinh nghi hoặc không tin, thì họ
vĩnh viễn chẳng có cơ hội nghe được pháp thù
thắng như vậy.
Nên nói các địa đạo thắng trí
Vào trụ lần lược mà tu tập
Từ cảnh giới hành pháp trí sinh
Vì lợi ích tất cả chúng sinh.
Bồ Tát Kim Cang Tạng ! Ngài nên
đối với đại chúng giải nói đạo lý trí huệ thù
thắng của Bồ Tát mỗi địa trong Thập địa. Khiến
cho đại chúng vào được trong pháp Thập địa, lần
lược khiến cho chúng sinh y theo thứ lớp tu tập,
từ trong cảnh giới tu hành, sinh ra pháp trí,
vượt qua tục trí, hy vọng có thể lợi ích tất cả
chúng sinh trong pháp hội.
Bấy giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng
quán sát mười phương, vì muốn khiến cho đại
chúng tăng trưởng niềm tin thanh tịnh, mà nói
bài kệ rằng.
Lúc đó, Bồ Tát Kim Cang Tạng quán
sát nhân duyên đại chúng trong pháp hội, hy vọng
khiến cho tâm tin hiểu của đại chúng tăng trưởng
thanh tịnh, lại dùng kệ để nói ra.
Đại đạo của Như Lai
Vi diệu khó biết được
Chẳng niệm lìa các niệm
Cầu thấy không thể được.
Đức Phật giống như con đường lớn.
Đại đạo tức là con đường của bậc Thánh. Chỗ vi
diệu của Ngài không thể tưởng tượng được. Khi
bạn đã lìa niệm rồi, còn phải tiến thêm một bước
nữa, ý niệm lìa niệm cũng phải xả bỏ. Nếu bạn
muốn dùng âm thanh, sắc tướng, cầu thấy Phật,
dùng thanh sắc cầu thấy pháp, thấy sắc cầu
thanh, như vậy không thể nào minh bạch pháp môn
Thập địa nầy.
Không sinh cũng không diệt
Tánh tịnh luôn vắng lặng
Người lìa cấu thông huệ
Trí đó chỗ tu hành.
Pháp môn Thập địa, tức là Phật
tánh của chúng ta vốn có, trí huệ vốn có, bản
tánh quang minh tạng vốn có. Bản tánh đó không
sinh không diệt, không dơ không sạch, không tăng
không giảm, luôn luôn thanh tịnh, vì thường
thanh tịnh, cho nên luôn luôn vắng lặng không
động. Bỏ một phần nhiễm ô, tăng thêm một phần
thanh tịnh. Nhiễm ô và thanh tịnh là pháp đối
đãi. Tăng thêm thanh tịnh tức là tăng thêm trí
huệ; tăng thêm nhiễm ô, tức là tăng thêm ngu si.
Có trí huệ thì dần dần thăng đi lên, ngu si thì
càng ngày càng đoạ lạc. Cổ Thánh nhân có nói :
"Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt", tức là ý
nghĩa nầy. Mục đích chúng ta tu hành là vì khai
mở trí huệ, diệt ngu si. Pháp thế gian không
thanh tịnh nhất, nhiễm ô nhất là nam tham hoan,
nữ tham ái, đều do đây mà ràng buộc không thể
vượt thoát được, nguyên nhân của nó là không thể
học Thánh nhân chuyển nhiễm ô thành thanh tịnh.
Phàm là lìa khỏi nhiễm ô, khôi phục lại thanh
tịnh, thì sẽ đắc được thông minh trí huệ chân
chánh, mới là Thánh nhân chân chánh thông minh
có trí huệ. Các vị đều là đệ tử của Phật, đều đã
lìa khỏi tất cả nhiễm ô, khôi phục lại sự thanh
tịnh vốn có, trở thành Thánh nhân thật có trí
huệ. Trí huệ của người thông minh có trí huệ và
sự tu hành của Bồ Tát, tức là pháp môn Thập địa
nầy.
Tự tánh vốn vắng lặng
Không hai cũng vô tận
Giải nói về các cõi
Trụ Niết Bàn bình đẳng.
Tự tánh của mỗi người chúng ta
vốn là thanh tịnh, vốn là gì cũng chẳng có. Vì
mình quay lưng giác ngộ hợp với trần lao, nhiễm
khổ làm vui, vì tăng thêm nhiều phiền não. Tuy
nhiên tự tánh không có một vật gì, không hình,
không tướng, không người, không ta, không chúng
sinh, không thọ mạng, nhưng cũng không thể nói
không có, giống như hư không, không thể nói
không có hư không. Trí huệ của Thập địa nầy hay
đắc được thanh tịnh giải thoát tự tại, thoát
khỏi bốn đường ác. Bốn đường ác là địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh, A tu la. Nếu bạn minh bạch pháp
môn Thập địa, thì sẽ minh bạch sinh tử, Niết Bàn
là bình đẳng. Do đó, sinh tử tức Niết Bàn, phiền
não tức bồ đề. Nếu không minh bạch pháp môn Thập
địa nầy, thì sinh tử vẫn là sinh tử, Niết Bàn
vẫn là Niết Bàn, cả hai chẳng có tơ hào quan hệ
để nói cả.
Chẳng đầu chẳng giữa cuối
Chẳng ngôn từ để nói
Vượt qua khỏi ba đời
Tướng đó như hư không.
Trí huệ của pháp môn Thập địa,
không thể phân làm giai đoạn ban đầu giữa cuối
để nói. Bồ Tát phát tâm, được bồ đề, vĩnh viễn
không thối chuyển, cũng không trước sau. Chẳng
có lời lẽ để nói, cho nên tôi (Bồ Tát Kim Cang
Tạng) không muốn giải nói. Vì pháp môn nầy, vượt
qua khỏi tất cả pháp ba đời, hình trạng thật của
nó giống như hư không.
Tịch diệt chỗ Phật hành
Lời nói không đến được
Hạnh Thập địa cũng vậy
Khó nói khó thọ được.
Pháp môn nầy là tướng tịch diệt,
nhìn mà chẳng thấy, thính mà chẳng nghe, ngửi mà
không mùi, đó là chỗ hành của Phật, vi diệu
nhất. Nếu như tôi dùng ngôn ngữ để giải thích,
thật không cách chi nói minh bạch được. Pháp môn
tu hành nói ở trong Thập địa, cũng giống như ví
dụ tôi đã nói ở trước, không dễ gì nói minh bạch
được. Do đó, "Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ
diệt", chúng sinh cũng không dễ gì tin nhận,
cũng không dễ gì tiếp thọ.
Trí khởi cảnh giới Phật
Chẳng niệm lìa tâm đạo
Chẳng uẩn môn giới xứ
Trí biết ý chẳng hay.
Do trong trí huệ sinh ra cảnh
giới, là cảnh giới của Phật chứng. Như ý nghĩa
"Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt" đã nói ở
trên. Nên tức niệm lìa niệm, niệm mà không niệm,
tức là chẳng niệm, lìa khỏi tất cả sự tưởng
tượng ở trong tâm. Pháp môn nầy cũng chẳng phải
từ tu năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức),
mười tám giới (sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý. Sáu trần : sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp. Sáu thức : nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức,
thiệt thức, thân thức, ý thức), mười hai xứ (sáu
căn, sáu trần) có thể đắc được. Phải dùng trí
huệ mới hiểu rõ được, dùng ý niệm và tư tưởng
không cách chi minh bạch được.
Như dấu chim trong không
Khó nói khó chỉ bày
Nghĩa Thập địa như vậy
Tâm ý không hiểu được.
Giống như chim bay ở trong hư
không, có dấu tích gì để nói ? Có vết tích gì để
biểu thị? Nghĩa lý bao hàm pháp Thập địa
cũng không thể dùng tâm và ý niệm của chúng sinh
có thể hiểu rõ được.
Từ bi và nguyện lực
Sinh ra tu hạnh địa
Thứ tự tâm viên mãn
Trí hành chẳng nghĩ cảnh.
Bồ Tát hay diễn nói pháp môn Thập
địa, đều nương vào từ bi và nguyện lực của chư
Phật, sinh ra tại thế gian để tu hành pháp môn
Thập địa nầy, nương tựa vào thứ tự của mỗi địa,
khiến cho tâm trí huệ viên mãn, khiến cho
đạo bồ đề giác ngộ thành tựu. Đây là do trí huệ
tu hành pháp môn, chẳng phải dùng tâm suy nghĩ
có thể minh bạch được cảnh giới.
Cảnh giới đó khó thấy
Biết được không thể nói
Nên Phật lực diễn nói
Các ông nên kính thọ.
Cảnh giới đó rất khó thấy được,
biết pháp môn đó còn dễ hơn, nếu muốn giải thích
diễn nói không dễ dàng chút nào. Phải nương vào
sức thập lực của chư Phật gia trì, mới có thể
diễn nói. Các vị Bồ Tát nghe được pháp môn nầy,
đều phải cung kính nghe thọ pháp nầy.
Như vậy trí tu hành
Ức kiếp nói không hết
Nay tôi chỉ lược nói
Nghĩa chân thật không thừa.
Pháp môn nầy dùng trí huệ để tu
hành, tức là dùng thời gian vô lượng kiếp cũng
nói không hết được. Hiện tại tôi (Bồ Tát Kim
Cang Tạng) chỉ nói sơ lược, nghĩa lý chân thật
vô cùng vô tận không thừa sót.
Một lòng cung kính chờ
Tôi nương Phật lực nói
Pháp âm thắng vi diệu
Chữ ví dụ tương ưng.
Các vị Bồ Tát, một lòng một dạ
cung kính đợi, tôi nương đại oai thần lực của
mười phương chư Phật, để diễn nói pháp âm vi
diệu thù thắng nầy, pháp Thập địa chẳng có gì có
thể tương ưng, chỉ dùng ý nghĩa chữ vẽ để làm ví
dụ.
Vô lượng Phật thần lực
Đều nhập vào thân tôi
Chỗ nầy khó tuyên bày
Nay tôi nói ít phần.
Vô lượng vô biên chư Phật, dùng
sức thần thông của các Ngài, cùng nhau gia trì
vào thân tôi. Vì pháp môn Thập địa rất vi diệu
thâm sâu, khó tuyên nói, cho nên hiện tại tôi
chỉ nói ít phần.
Phật tử ! Nếu có chúng sinh trồng
căn lành sâu dày, khéo tu các hạnh, khéo tập trợ
đạo, khéo cúng dường chư Phật, khéo tập pháp
trắng tịnh, được thiện tri thức khéo nhiếp, khéo
thanh tịnh thâm tâm, lập chí rộng lớn, sinh hiểu
biết rộng lớn, từ bi hiện tiền, vì cầu trí của
Phật, vì đắc được mười lực, vì được đại vô uý,
vì được pháp bình đẳng của Phật, vì cứu tất cả
thế gian, vì tịnh đại từ bi, vì được mười lực
trí không thừa, vì tịnh tất cả cõi Phật không
chướng ngại, vì một niệm biết tất cả ba đời, vì
chuyển đại pháp luân vô sở uý.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Nếu như có chúng
sinh đã gieo trồng căn lành thâm sâu, lại tu
hành pháp môn lục độ hạnh rộng lớn. Lại tu tập
pháp môn trợ giúp họ thành đạo. Lại cúng dường
tất cả chư Phật mười phương ba đời. Lại hiểu
biết tu tập hết thảy pháp môn tối thượng. Lại
nhiếp thọ chúng sinh, giáo hoá chúng sinh, làm
đại thiện tri thức của chúng sinh. Lại biết hàng
phục thân tâm, xa lìa trần cấu được thâm tâm
thanh tịnh. Và còn lập chí khí rộng lớn vô biên,
cứu độ chúng sinh không có tâm phân biệt. Phát
đại nguyện không sợ gian nan. Sinh hiểu biết
rộng lớn, đối với chánh pháp của Phật sinh ra
tâm tin rộng lớn vô lượng vô biên, và sức lý
giải vững chắc. Từ bi hiện tiền, người tu đạo
đối với bất cứ người nào cũng phải có lòng từ
bi. Vì cầu được trí huệ giống như Phật, vì tu
được mười lực của Phật, vì muốn có trí dũng vô
sở uý lớn nhất, vì muốn đắc được pháp môn bình
đẳng của Phật, vì cứu bạt hết thảy chúng sinh
của thế giới. Vì tịnh đại từ bi, nghĩa là muốn
đắc được tâm từ bi thanh tịnh lớn nhất, tức
chánh trí xuất thế gian. Vì được mười lực trí
không thừa, vì muốn đắc được hết đại trí huệ của
Phật, vì trang nghiêm thanh tịnh hết thảy cõi
nước chư Phật, chẳng có chút gì chướng ngại, vì
muốn được một động niệm thì biết được tất cả
nhân quả ba đời, vì luôn luôn chuyển đại pháp
luân vô thượng, mà chẳng có chút tâm sợ sệt nào,
vì đủ thứ duyên như vậy, nên phải nghe thọ pháp
môn Thập địa nầy.
Phật tử ! Bồ Tát khởi tâm như
vậy, dùng đại từ bi làm đầu, trí huệ tăng
thượng, phương tiện khéo léo nhiếp thọ, thâm tâm
tối thượng nhiếp trì, có vô lượng lực Như Lai,
khéo quán sát phân biệt, có sức dũng mãnh, trí
lực, trí vô ngại hiện tiền. Tuỳ thuận trí tự
nhiên, thọ trì tất cả Phật pháp, dùng trí huệ
giáo hoá. Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư
không, hết thuở vị lai.
Phật tử ! Bồ Tát ban đầu phát tâm
như vậy, liền vượt qua được địa vị phàm phu,
nhập vào bậc Bồ Tát, sinh vào nhà Như Lai, không
ai có thể nói chủng tộc của Ngài lỗi lầm, lìa
cõi thế gian, nhập vào đạo xuất thế, được pháp
Bồ Tát, trụ chỗ của Bồ Tát, vào ba đời bình
đẳng, ở trong giống tánh Như Lai quyết định sẽ
được vô thượng bồ đề. Bồ Tát trụ pháp như vậy,
tên là trụ Bồ Tát Hoan Hỉ Địa, vì dùng bất động
tương ưng.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Khi Bồ Tát sinh
khởi đủ thứ tâm niệm ở trên, thì dùng đại bi làm
đầu : Vì tâm đại bi hay cứu khổ chúng sinh,
khiến chúng sinh lìa khổ được vui, cho nên nói
dùng đại bi làm đầu. Trí huệ tăng thượng: Tu
pháp Bồ Tát thì đắc được trí huệ của Bồ Tát, tu
nhiều hạnh Bồ Tát, thì trí huệ sẽ tăng thượng.
Khi nói pháp, thì sẽ có trí huệ phương tiện khéo
léo, sức biện tài vô ngại. Sở nhiếp trì là thâm
tâm tối thượng vi diệu, sở trì là vô lượng sức
oai thần của Phật. Lại có vô lượng trí huệ khéo
quán sát tất cả và khả năng phân biệt tất cả
cảnh giới, rất dũng mãnh hướng về trước tinh tất
tu hành, bất luận cảnh giới gì hiện tiền, Ngài
cũng đều có trí huệ ứng phó không bị chướng
ngại. Thường có một thứ trí lực rất tự nhiên,
khiến Ngài lãnh thọ tất cả pháp môn của chư Phật
nói. Dùng trí huệ để giáo hoá tất cả chúng sinh,
cảnh giới đó rộng lớn như pháp giới, khắp cùng
tất cả mọi nơi. Rốt ráo triệt để như hư không
không chướng ngại, có thể hết thuở kiếp vị lai.
Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ
Tát hành Bồ Tát đạo, khi bắt đầu phát tâm đại
bi, thì lập tức vượt khỏi được địa vị phàm phu,
nhập vào địa vị Bồ Tát. Sinh vào trong gia tộc
của Như Lai, chẳng có ai có thể tìm ra lỗi lầm
của Bồ Tát và quyến thuộc của Phật. Lìa cõi thế
gian: Lìa khỏi bốn đường ác của thế gian: địa
ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A tu la. Chứng được
Thánh đạo vượt qua ba cõi, được tất cả pháp môn
của Bồ Tát tu trì, trụ nơi thanh tịnh của Bồ Tát
trụ, không xả bỏ thế gian, cũng có thể phương
tiện không nhiễm, càng đắc được trí huệ ba đời
bình đẳng. Ở trong giống tánh Như Lai: Trong
giống tánh thâm sâu của Phật, sẽ đắc được giác
quả bồ đề cao thượng. Bồ Tát trụ pháp như vậy,
tên gọi là trụ Bồ Tát Hoan Hỉ địa. Bồ Tát tu đến
pháp môn nầy, tức là sơ địa trong Thập địa, gọi
là Hoan Hỉ địa, vì Ngài đã chứng được sơ địa,
sinh ra tâm đại hoan hỉ. Sự hoan hỉ đó, do định
lực mà sinh ra, cho nên nói dùng tướng bất động
và định tương ưng.
Phật tử ! Bồ Tát trụ Hoan Hỉ địa,
thành tựu nhiều hoan hỉ, nhiều tịnh tín, nhiều
ái lạc, nhiều vui thích, nhiều vui vẻ, nhiều
mừng rỡ, nhiều dũng mãnh, nhiều không đấu tranh,
nhiều không phiền não, nhiều không sân hận.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát trụ Hoan Hỉ
địa, chứng được Hoan Hỉ địa rồi, thành tựu rất
nhiều thứ được pháp lợi sinh hoan hỉ. Như nhiều
tịnh tín, đối với Phật pháp tâm tin thanh tịnh,
cũng sâu dày. Đối với Phật pháp càng sinh khởi
vô lượng tâm ái lạc. Bất cứ lúc nào cũng đều cảm
thấy thân tâm khoái lạc, rất an tường. Đến đâu
cũng chẳng cảm thấy có sự chướng ngại, dù gặp
người khác chướng ngại, cũng chẳng sinh phiền
não, nói chung cảm thấy mãn túc như pháp. Nhiều
vui vẻ, luôn luôn vui vẻ mình nghe được Phật
pháp mà tu hành Bồ Tát đạo. Nhiều mừng rỡ, nhiều
dũng mãnh: Các ngài lúc nào cũng đều dũng mãnh
tinh tấn, tơ hào không giải đãi. Giao tiếp với
người cũng chưa từng phát sinh đấu tránh và
tranh luận. Không làm phiền hại tất cả chúng
sinh, khắp khuyên người khác phát tâm tu hành.
Bồ Tát sơ địa chứng nhập Hoan Hỉ địa, đối với
bất cứ ai, bất cứ việc gì, cũng không sinh khởi
tâm không vui hoặc tâm sân hận.
Phật tử ! Bồ Tát trụ Hoan hỉ địa
nầy, nghĩ nhớ đến chư Phật, nên sinh hoan hỉ.
Nghĩ nhớ đến các Phật pháp, nên sinh hoan hỉ.
Nghĩ nhớ đến các Bồ Tát, nên sinh hoan hỉ. Nghĩ
nhớ đến các Bồ Tát hạnh, nên sinh hoan hỉ. Nghĩ
nhớ đến thanh tịnh các Ba la mật, nên sinh hoan
hỉ. Nghĩ nhớ đến các Bồ Tát địa thù thắng, nên
sinh hoan hỉ. Nghĩ nhớ đến Bồ Tát không thể
hoại, nên sinh hoan hỉ. Nghĩ nhớ đến Như Lai
giáo hoá chúng sinh, nên sinh hoan hỉ. Nghĩ nhớ
đến khiến cho chúng sinh được lợi ích, nên sinh
hoan hỉ. Nghĩ nhớ đến nhập vào nhất thiết trí,
phương tiện của Như Lai, nên sinh hoan hỉ.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát chứng đắc
quả vị hoan hỉ địa rồi, tại sao hoan hỉ như thế
? Vì các Ngài luôn luôn nghĩ nhớ đến tất cả các
đức Phật, cho nên sinh tâm hoan hỉ. Không giống
như phàm phu tục tử, mỗi ngày đều sống trong sự
đố kị chướng ngại, chẳng có đạo tâm. Bồ Tát
chuyên tâm nghĩ nhớ đến các đức Phật, nên không
sinh tâm đố kị chướng ngại. Lại nghĩ nhớ đến tất
cả Phật pháp của chư Phật nói, y pháp tu hành,
cho nên cũng sinh tâm hoan hỉ. Nghĩ nhớ đến các
Bồ Tát, chẳng những Ngài nghĩ nhớ đến chư Phật
các pháp, mà còn luôn luôn nghĩ nhớ đến mười
phương ba đời tất cả hiền Thánh Tăng và các đại
Bồ Tát, cho nên sinh tâm hoan hỉ. Phàm là người
tu đạo, đều phải thường sinh tâm nghĩ nhớ đến
Tam Bảo. Lại thường nghĩ nhớ đến tất cả pháp môn
thành Phật của Bồ Tát tu hành, vì hết thảy đại
Bồ Tát đều là chư Phật vị lai, các Ngài siêng tu
lục độ vạn hạnh, không quên độ chúng sinh, cho
nên sinh đại hoan hỉ. Lại nghĩ nhớ đến thanh
tịnh các Ba la mật tương lai đều có thể thành
tựu viên mãn trí huệ thanh tịnh và công đức
thành Phật, đó cũng là gốc rễ của sự hoan hỉ.
Lại nghĩ nhớ đến các địa vị của Bồ Tát, đặc biệt
thù thắng, mà sinh đại hoan hỉ. Lại nghĩ nhớ đến
Bồ Tát chứng được ba bất thối là: niệm bất thối,
vị bất thối, hạnh bất thối. Càng không có thiên
ma ngoại đạo nào có thể phá hoại được Ngài, nên
sinh hoan hỉ. Lại luôn luôn nghĩ nhớ đến Như Lai
giáo hoá chúng sinh, ôm lòng từ bi, khiến cho
chúng sinh lìa khổ được vui, mà sinh đại hoan
hỉ. Lại nghĩ nhớ đến chư Phật thường khiến cho
chúng sinh nghe pháp được độ, chấm dứt sinh tử,
đó là khiến cho các chúng sinh được đại lợi ích
pháp môn tốt nhất. Các Bồ Tát có những nhân
duyên thù thắng như vậy, có thể làm được rất
nhiều việc lớn, cho nên sinh tâm đại hoan hỉ.
Nghĩ nhớ đến nhập vào nhất thiết trí phương tiện
của Như Lai, Bồ Tát chứng được Hoan Hỉ địa, Ngài
cũng còn sự nghĩ nhớ, bất quá sự nghĩ nhớ của
các Ngài là thanh tịnh. Về phần nghĩ nhớ của
chúng sinh là nhiễm ô - tiền tài, sắc đẹp, danh
vọng, ăn ngon, ngủ nhiều - cảnh giới năm dục. Sự
nghĩ nhớ của Bồ Tát là : Phật, Pháp, Tăng và lục
độ vạn hạnh, đủ thứ cảnh giới thanh tịnh. Vì các
Ngài biết mình đã chứng nhập nhất thiết trí huệ
của Như Lai, đắc được đủ thứ phương tiện, cho
nên sinh tâm đại hoan hỉ.
Lại nghĩ như vầy : Tôi đã chuyển
biến tất cả cảnh giới thế gian, nên sinh hoan
hỉ. Gần gũi tất cả chư Phật, nên sinh hoan hỉ.
Xa lìa hạng phàm phu, nên sinh hoan hỉ. Gần bậc
trí huệ, nên sinh hoan hỉ. Vĩnh viễn dứt trừ tất
cả cõi ác, nên sinh hoan hỉ. Làm chỗ y chỉ cho
tất cả chúng sinh, nên sinh hoan hỉ. Thấy tất cả
Như Lai, nên sinh hoan hỉ. Sinh ở trong cảnh
giới Phật, nên sinh hoan hỉ. Vào trong tánh bình
đẳng của tất cả Bồ Tát, nên sinh hoan hỉ. Xa lìa
tất cả sợ hãi rùng mình, nên sinh hoan hỉ.
Tại sao ? Vì Bồ Tát được Hoan Hỉ
địa nầy rồi, hết thảy sự sợ hãi đều được xa lìa.
Như là : Sợ không sống, sợ tiếng xấu, sợ chết,
sợ đường ác, sợ oai đức của đại chúng, những sự
sợ hãi nhu vậy, vĩnh viễn lìa khỏi.
Bồ Tát đắc được quả vị Hoan Hỉ
địa, lại nghĩ như vầy: Tôi đã chuyển biến tất cả
cảnh giới thế gian, (chuyển biến tức là buông
bỏ). Chuyển phàm thành Thánh, chuyển mê thành
ngộ, chuyển ô nhiễm thành thanh tịnh, cho nên
sinh đại hoan hỉ. Ví như người nghe pháp ở trong
Chùa Kim Sơn, thanh tịnh nhiều hơn những người ở
ngoài xã hội, đây tức là ví dụ sự chuyển biến.
Bồ Tát chứng đắc quả vị sơ địa, thì thường thấy
được Phật, do gần gũi Phật cho nên sinh hoan hỉ.
Chỗ suy nghĩ, mong cầu của phàm phu, Bồ Tát đều
chẳng nghĩ, chẳng mong cầu. Cho nên Ngài xa lìa
địa vị phàm phu, chuyển phàm thành Thánh, nên
sinh hoan hỉ. Xa lìa địa vị phàm phu, tức là xa
lìa vô minh ngu si. Gần gũi thiện tri thức, tức
là gần bậc trí huệ, cho nên sinh hoan hỉ. Chứng
nhập Bồ Tát sơ địa, thì đã vĩnh viễn dứt trừ tất
cả đường ác, chẳng còn đoạ lạc vào trong bốn
đường ác nữa, trừ phi Ngài phát nguyện vào trong
bốn đường ác để giáo hoá chúng sinh, đó là vì độ
sinh, hành Bồ Tát đạo, chẳng phải làm hạnh ác mà
đọa lạc. Bồ Tát giáo hoá tất cả chúng sinh,
khiến cho họ lìa khổ được vui, ban cho chúng
sinh sự cảm thọ an ổn, vì chúng sinh đó mà Ngài
làm chỗ y chỉ cho họ, nên sinh hoan hỉ. Luôn
luôn thấy được Phật, lại thường sinh ở trong
cảnh giới của Phật, đồng tánh bình đẳng hành Bồ
Tát đạo với tất cả Bồ Tát. Lại hay xa lìa tất cả
tất cả những việc khiến cho người sợ hãi rùng
mình, cho nên sinh tâm đại hoan hỉ. Vì sao ? Bồ
Tát chứng được quả vị Hoan Hỉ địa rồi, đối với
tất cả đều nhìn thấu triệt, buông bỏ hết, chẳng
còn gì khiến cho Ngài sợ hãi, tất cả sự sợ hãi,
tự nhiên xa lìa. (Sợ hãi tức là nghiệp khổ phiền
não) sự sợ hãi của phàm phu như: Sợ không sống,
sợ không sống được nữa. Sợ tiếng xấu, sợ người
khác huỷ báng, mất tiếng tăm. Sợ chết, ai ai
cũng đều sợ chết, đều muốn cầu sống lâu. Sợ
đường ác, sợ đoạ vào trong bốn đường ác. Sợ oai
đức của đại chúng, ở trong chỗ đại chúng đông
người không dám nói, vì sợ khí thế uy hiếp của
đại chúng. Những sự sợ hãi như vậy, đều phát ra
từ trong tâm, nếu hay tu hành, có định lực thì
không sợ gì hết.
Tại sao ? Vì Bồ Tát nầy lìa tưởng
cái ta, thân mình còn không mến tiếc, huống gì
của cải, cho nên chẳng sợ về sự không sống. Ngài
chẳng mong cầu sự cúng dường, chỉ chuyên bố thí
cho tất cả chúng sinh, cho nên chẳng sợ về tiếng
xấu. Xa lìa thấy cái ta, chẳng còn nghĩ về cái
ta, cho nên không sợ chết. Tự mình biết chết
rồi, chắc chắn không lìa chư Phật Bồ Tát, cho
nên không sợ đường ác. Chí thích của ta, tất cả
thế gian không ai bằng được, hà huống là hơn,
cho nên không sợ oai đức của đại chúng. Bồ Tát
xa lìa những sự sợ hãi rùng mình như vậy.
Phật tử ! Bồ Tát nầy dùng đại bi
làm đầu, chí thích rộng lớn không ai cản trở phá
hoại được, càng siêng tu tất cả căn lành mà được
thành tựu.
Tại sao Bồ Tát chẳng có những sự
sợ hãi như vậy? Vì Ngài đã xa lìa tất cả những
sự sợ hãi rùng mình, do sức lực gì khiến cho
Ngài được xa lìa? Đó là do tu hành, chịu phát
tâm bồ đề, nguyện hành Bồ Tát đạo, do đó chứng
được Hoan Hỉ địa của Bồ Tát, đạt đến cảnh giới
lìa khỏi nghĩ tưởng về cái ta. Ngài chẳng còn
cái ta, chẳng những chẳng còn cái ta, mà cho đến
nghĩ tưởng về của ta cũng không còn nữa. Do đó,
Ngài sớm đã đem thân nầy bố thí cho chúng sinh,
vì chúng sinh mà làm việc, chẳng ích kỷ, chẳng
lợi mình. Chẳng còn mến tiếc thân mình nữa, hà
huống là của cải? Của cải – vàng bạc châu báu,
đất nước vợ con, đều là vật ngoài thân, Ngài
hoàn toàn nhìn thấu triệt, buông bỏ đặng, đắc
được tự tại chân chánh, cho nên chẳng sợ chết.
Do vậy, cho nên Bồ Tát chẳng sợ mình không còn
sống được nữa, cũng chẳng sợ không sống. Không
muốn lợi ích cho chính mình, căn bản Ngài chẳng
có sự mong cầu, vì rằng đạt đến vô cầu phẩm tự
cao, đương nhiên cũng không lo, tại sao chúng ta
sầu lo? Vì có sự tham cầu, có tham cầu thì có
sầu lo. Bồ Tát không tham cầu danh văn lợi
dưỡng, cũng không tham cầu năm dục – tài, sắc,
danh, ăn, ngủ. Bồ Tát đối với những thứ nầy đều
giải thoát, càng không tham sự cúng dường. Chỉ
chuyên bố thí cho tất cả chúng sinh, vì Ngài
chuyên nhất tu bố thí, bất luận cúng dường gì,
Ngài đều đem cho hết thảy chúng sinh. Cho đến
người khác nghị luận tốt xấu đối với Ngài, Ngài
cũng đều không cứ tới, không tham cầu hư danh,
cũng không sinh hoan hỉ và phiền não. Vì Bồ Tát
đã có trí huệ vượt qua cảnh giới tốt xấu, cho
nên Ngài chẳng sợ tiếng xấu. Bồ Tát chẳng còn
cái ta, thì tự nhiên cũng chẳng thấy có cái ta,
nghĩ về ta. Chẳng còn cái ta, vậy có nghĩ tưởng
đến ai chết, ai không chết chăng ? cho nên chẳng
sợ chết. Bồ Tát Ngài biết mình chết rồi, chẳng
bị đoạ vào trong bốn đường ác, vì Ngài thường
hành Bồ Tát đạo. Cũng chắc chắn không lìa khỏi
chư Phật, nhất định cùng ở chung với tất cả Bồ
Tát, cho nên chẳng sợ đường ác. Chí nguyện của
tôi và việc mà tôi thích làm, chúng sinh thế
gian thống khổ trầm luân, làm sao bằng tôi được,
hoặc tu chứng trước hơn tôi được, cho nên chẳng
sợ oai đức của đại chúng. Lối nghĩ nầy là tâm tư
của Bồ Tát trên cầu dưới độ, Bồ Tát chẳng có tư
tưởng cống cao ngã mạn, chỉ là Bồ Tát Kim Cang
Tạng nói rõ sau khi Bồ Tát chứng được quả vị
Hoan Hỉ địa, cảnh giới của Ngài là như vậy. Bồ
Tát xa lìa năm điều sợ hãi ở trên, thì không
phát sinh sự việc rùng mình dựng lông.
Các vị đệ tử của Phật ! Các vị Bồ
Tát đó làm việc đều dùng tâm đại bi làm điểm
xuất phát, vì bi hay cứu khổ, chí nguyện rộng
lớn, Bồ Tát có chí nguyện rộng lớn - cứu độ
chúng sinh, vô lượng khoái lạc. Không có bất cứ
thiên ma ngoại đạo nào có thế phá hoại và nhiễu
loạn được sự tu hành của Ngài, hoặc trở ngại
Ngài hành Bồ Tát đạo. Cho nên Ngài càng thêm
siêng tu, càng ngày càng tinh tấn, càng ngày
càng dụng công, cho nên tất cả căn lành, hạt
giống bồ đề, đều thành tựu viên mãn.
Đó là : Vì niềm tin tăng thêm,
nhiều lòng tin thanh tịnh, hiểu thanh tịnh, tin
quyết định, phát sinh thương xót, thành tựu đại
bi, tâm không mệt mỏi, hổ thẹn trang nghiêm,
thành tựu nhu hoà, kính thuận tôn trọng giáo
pháp chư Phật, ngày đêm tu tập căn lành không
nhàm đủ, gần gũi thiện tri thức, thường ưa thích
pháp, cầu đa văn không nhàm đủ, như chỗ nghe
pháp chánh quán sát, tâm không nương tựa, không
đam trước danh văn, lợi dưỡng, cung kính, không
cầu tất cả vật tư sanh, sinh tâm như thật không
nhàm đủ, cầu tất cả trí địa, cầu sức vô uý của
Như Lai, Phật pháp bất cộng.
Sau khi Bồ Tát chứng được Hoan Hỉ
địa rồi, không lúc nào không ở trong đại hoan
hỉ. Vì Ngài siêng tu tất cả căn lành, nên sớm đã
thành tựu tâm tin, càng ngày càng tăng thêm
nhiều, không giảm bớt, đó là tin tăng thêm. Vì
tâm tin tăng thêm, nên tâm niệm thanh tịnh cũng
tăng thêm nhiều, chẳng giống như quá khứ chỉ có
tâm tin, còn có chút nhiễm ô. Hiện tại tâm tin
tăng thêm lại không có chút nhiễm ô nào, chỉ
thuần thanh tịnh, trở về nguồn cội. Tại sao hay
khiến cho tâm tin tăng thêm có cảnh giới thanh
tịnh như vậy ? Vì Bồ Tát Ngài biết như nay đã
không còn chút hoài nghi nào nữa, tâm tin kiên
cố quyết định. Tin mười phương Phật, tin pháp
của mười phương chư Phật nói, tin tất cả hiền
Thánh Tăng mười phương, đều là pháp hữu của
mình. Vì mình là một trong Tam Bảo, thì sẽ sinh
ra tâm thương xót chúng sinh, độ tất cả chúng
sinh, thành tựu tâm đại từ bi. Tâm bi, khiến cho
chúng sinh lìa khổ; tâm từ thương chúng sinh,
khiến cho chúng sinh được tất cả an lạc. Cầu
Phật pháp ngày ngày tinh tấn tu hành, dũng mãnh
hành đạo, cũng là càng ngày càng thù thắng hơn,
không giảm bớt giải đãi. Hổ thẹn trang nghiêm :
Thường sinh tâm hổ thẹn sám hối. Đem hết thảy
công đức của mình để trang nghiêm cõi nước mười
phương, thành tựu nhu hoà, tu nhẫn nhục Ba la
mật, thành tựu sức nhẫn nhục, vì đối với bất cứ
việc gì, đều có công phu nhẫn nại nghịch đến
thuận thọ, quyết định không có tâm thắng phụ và
thái độ cang cường với bất cứ ai. Cung kính chư
Phật, thuận thọ lời dạy của chư Phật, tôn trọng
phụng hành giáo pháp của chư Phật nói. Ngày đêm
tu tập căn lành không nhàm đủ, ngày đêm sáu thời
tinh tấn tu tập đủ thứ căn lành, không có tâm
mệt mỏi đầy đủ. Bồ Tát biết gần gũi thiện tri
thức, thì sẽ được nghe nhiều học rộng, đắc được
lợi ích lớn, pháp hỉ sung mãn, thường ở trong
niềm vui của pháp, siêng tu giới định huệ, diệt
trừ tham sân si, chưa bao giờ tự mãn. Chánh pháp
mà mình được nghe từ chỗ chư Phật, lúc nào cũng
tư duy quán sát thật tướng các pháp. Trong tâm
không có sự chấp trước nào, không chấp cái ta,
không chấp pháp, không có chút nương tựa nào. Vì
không đam trước lợi dưỡng, danh văn, cung kính,
Bồ Tát tuyệt đối không mong cầu sự cúng dường,
tham đồ danh văn, lợi dưỡng. Càng không mong cầu
hưởng thụ vật chất, và tất cả vật phong phú
ngoài thân thể. Sinh tâm như thật, Bồ Tát chỉ
một lòng cầu tâm bồ đề, tâm kim cang, nên chẳng
có lúc nào nhàm đủ. Cầu bậc nhất thiết trí, chỉ
hy vọng cầu được quả vị nhất thiết trí huệ và
đạt được địa vị trí huệ vô thượng. Cầu được bốn
điều không sợ hãi của Như Lai, và cầu được mười
tám Phật pháp bất cộng nơi nhị thừa, đủ thứ sự
lợi ích như vậy.
Vì cầu các Ba la mật, pháp trợ
đạo, lìa các sự dối trá, như lời nói tu hành,
thường hộ lời thật, không làm ô uế nhà Như Lai,
không xả bỏ giới Bồ Tát, sinh tâm nhất thiết trí
như núi chúa không động, không bỏ tất cả việc
thế gian, thành tựu con đường xuất thế gian,
tích tập pháp bồ đề phần không nhàm đủ, thường
cầu đạo vô thượng thù thắng.
Ở trước nói Bồ Tát tu hạnh Bồ
Tát, chứng được Hoan Hỉ địa rồi, đắc được sức
lực của Phật, bốn điều không sợ hãi, và mười tám
Phật pháp bất cộng, và tiếp tục truy cầu tu trì
các Ba la mật, dùng để trợ giúp đạo nghiệp cho
chính mình. Xả lìa tất cả ngôn hạnh không nên có
như : dua nịnh người giàu và nói dối. Theo lời
nói thực hành tôn phụng pháp của Phật nói, chân
thật tu hành. Lời nói việc làm phải đi đôi,
thường hộ lời thật, tức là mỗi lời nói, câu nói
của mình nói ra, đều là lời chân thật, không làm
ô uế nhà Như Lai, thân làm đệ tử của Phật, biết
Bồ Tát là thanh tịnh cao thượng nhất, tuyệt đối
không thể làm ra lời nói hành động ô uế gia
phong Phật pháp, tức cũng là không thể có việc ô
uế đạo tràng. Càng không thể có sự biểu hiện xả
bỏ giới luật Bồ Tát, phải giữ gìn thân, miệng,
ý, luật nghi thanh tịnh, thì tự nhiên sẽ sinh ra
nhất thiết trí huệ, giống như núi chúa Tu Di,
vĩnh viễn không bị sự vật bên ngoài làm lay
động. Đừng buông bỏ tất cả việc thế gian, cũng
có thể thành tựu đạo pháp xuất thế gian. Tu hành
tích tụ có thể trợ giúp mình thành tựu pháp môn
và công đức pháp bồ đề phần, quyết không sinh ra
tâm nhàm mỏi, và tâm kiêu ngạo công đức của mình
viên mãn. Vì Bồ Tát thường tu trì tất cả Phật
đạo tối vô thượng viên mãn, thù thắng nhất.
Phật tử ! Bồ Tát thành tựu pháp
thanh tịnh trị địa như vậy, tên là An trụ Bồ Tát
Hoan Hỉ địa.
Phật tử ! Bồ Tát trụ Hoan Hỉ địa
nầy, thành tựu đại thệ nguyện như vậy, đại dũng
mãnh như vậy, đại tác dụng như vậy. Đó là : Sinh
hiểu biết rộng lớn thanh tịnh quyết định, đem
tất cả đồ cúng dường cung kính cúng dường tất cả
chư Phật, khiến không thiếu sót. Rộng lớn như
pháp giới, rốt ráo như hư không, hết thuở vị
lai, tất cả kiếp số không có ngừng nghỉ.
Lại phát nguyện lớn : Nguyện thọ
tất cả Phật pháp, nguyện nhiếp tất cả Phật bồ
đề, nguyện hộ tất cả Phật giáo, nguyện trì tất
cả các Phật pháp. Rộng lớn như pháp giới, rốt
ráo như hư không, hết thuở vị lai, tất cả kiếp
số không có ngừng nghỉ.
Lại phát nguyện: Nguyện trong tất
cả thế giới, khi đức Phật ra đời, từ cung trời
Đâu Suất giáng trần, nhập thai, trụ thai, sơ
sinh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, thị hiện
Niết Bàn, thảy đều đi đến gần gũi cúng dường,
làm thượng thủ trong chúng, thọ hành chánh pháp,
đồng thời chuyển bánh xe pháp khắp tất cả mọi
nơi, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư
không, hết thuở vị lai, tất cả kiếp số không
ngừng nghỉ.
Các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát tu
Bồ Tát hạnh, thành tựu giống như ở trước đã nói,
chứng được pháp môn thanh tịnh tu trị, tức là Bồ
Tát tu chứng - quả vị Hoan Hỉ địa. Vì thành tựu
pháp tịnh trị địa, vĩnh viễn không thối chuyển
về hàng nhị thừa, cho nên nói từ đây an trụ tại
Hoan Hỉ địa, lại tiếp tục tu chứng thứ lớp các
pháp môn địa khác.
Các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát
chứng được Hoan Hỉ địa, thành tựu đại thệ
nguyện, đại dũng mãnh, tại nhân địa phát đại thệ
nguyện, mà người khác không thể làm, Ngài hay
dùng trí huệ dũng mãnh khéo léo để đạt đến mục
đích, khiến cho chúng sinh có lợi ích sinh đại
tác dụng. Đối với Phật pháp vi diệu, hay sinh ra
trí huệ rộng lớn, thanh tịnh, có tánh lý giải và
thấu hiểu quyết định không có tơ hào nghi hoặc.
Đem hết thảy tất cả đồ cúng dường tốt nhất của
Ngài có, cung kính cúng dường hết thảy chư Phật,
chẳng có vị Phật nào mà không cúng dường. Tâm
thành và pháp môn cúng dường rộng lớn đó, rộng
đến khắp cùng pháp giới, không có một nơi nào mà
không đến, rốt ráo giống như hư không. Bồ Tát
chẳng phải ngẫu nhiên như vậy, hết thuở vị lai
thời gian vô tận, vĩnh viễn đều không ngừng.
Bồ Tát lại phát nguyện lớn,
nguyện tiếp thọ tất cả đại pháp luân mà đức Phật
chuyển, tiếp tục thuyết pháp. Lại nguyện tiếp
thọ tất cả giác đạo của Phật, thường thường tu
tập. Lại nguyện đối với giáo pháp của chư Phật
nói, thảy đều hộ trì. Lại nguyện thọ trì pháp
môn của chư Phật nói. Bồ Tát phát nguyện lớn đó,
rộng lớn đầy khắp pháp giới, rốt ráo giống như
hư không. Về thời gian hết thuở vị lai vô cùng
vô tận số kiếp, Ngài đều không ngừng nghỉ.
Bồ Tát lại phát nguyện lớn, hy
vọng hết thảy thế giới, đều có Phật xuất hiện ra
đời, nơi nơi Phật pháp hưng long. Đức Phật từ
cùng trời Đầu Suất hàng sinh xuống nhân gian -
từ lúc nhập thai mẹ, trụ thai mẹ, sinh ra, xuất
gia tu hành, thành đạo rồi, thuyết pháp, vào
Niết Bàn, thị hiện quá trình tám tướng thành đạo
nầy. Ngài đều đi đến gần gũi, thừa sự cúng dường
làm thượng thủ chúng sinh trong pháp hội, thọ
hành chánh pháp, ở khắp mọi nơi đồng một thời
gian chuyển bánh xe pháp. Rộng lớn đến khắp cùng
pháp giới rốt ráo như hư không, tận cùng vô
lượng kiếp số đều không ngừng nghỉ.
Lại phát nguyện lớn : Nguyện tất
cả hạnh Bồ Tát, rộng lớn vô lượng, không hoại,
không tạp, nhiếp thọ các Ba la mật, tịnh trị các
địa, tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng, dị
tướng, thành tướng, hoại tướng, hết thảy hạnh Bồ
Tát, đều nói như thật, giáo hoá tất cả, khiến
cho họ tiếp thọ tu hành, tâm được tăng trưởng,
rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không,
hết thuở vị lai, tất cả kiếp số, không có ngừng
nghỉ.
Lại phát nguyện lớn : Nguyện tất
cả cõi chúng sinh : Có sắc, không sắc, có tưởng,
không tưởng, chẳng có tưởng, chẳng không tưởng,
sinh bằng trứng, sinh bằng thai, sinh ẩm thấp,
hoá sinh ra, thuộc về ba cõi, vào trong sáu nẻo,
tất cả chỗ sinh, nhiếp các danh sắc, các loài
như vậy, tôi đều giáo hoá, khiến cho họ vào
trong Phật pháp, khiến cho họ vĩnh viễn dứt tất
cả cõi thế gian, khiến cho họ an trụ trí đạo
nhất thiết trí, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo
như hư không, hết thuở vị lai, tất cả kiếp số,
không có ngừng nghỉ.
Bồ Tát lại phát nguyện lớn,
nguyện tất cả hạnh của Bồ Tát tu, đều rộng lớn
không thể nào lường được, bao quát tất cả, không
bị thiên ma ngoại đạo phá hoại, cũng chẳng có
nhân tố thiện ác xen tạp vào bên trong, đều
nhiếp trì các Ba la mật với nhau, đem những công
đức đó, trợ giúp tu hành pháp Thập địa thanh
tịnh. Tất cả sự vật thành nhân, như tổng tướng,
biệt tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng,
hoại tướng, đạo lý chân thật như vậy, với tất cả
hạnh của Bồ Tát tu, tôi đều giải nói cho chúng
sinh, giáo hoá hết thảy chúng sinh, khiến cho họ
tiếp thọ và lãnh ngộ được, tu hành chân thật,
khiến cho tâm bồ đề thanh tịnh nhờ đó mà tăng
trưởng. Tâm nguyện đó cũng rộng lớn đến khắp
cùng pháp giới, rốt ráo giống như hư không, hết
thuở vị lai kiếp số vô tận, tôi cũng không ngừng
nghỉ. Bồ Tát lại phát nguyện lớn : Nguyện tất cả
cõi chúng sinh, như chúng sinh có sắc, như chúng
sinh không có sắc, chúng sinh có tưởng, chúng
sinh không tưởng, chúng sinh chẳng có tưởng,
chúng sinh chẳng không tưởng, sinh bằng trứng,
bằng thai, ẩm thấp, hoá sinh, đủ các loài chúng
sinh khác nhau như vậy, phàm là thuộc về ba cõi,
trong sáu nẻo luân hồi, nơi sinh các loài, cùng
với sự nhiếp thọ danh sắc các loài chúng sinh
đó, tôi đều phải đi giáo hoá họ, khiến cho họ
thâm nhập Phật pháp, y giáo phụng hành, vĩnh
viễn vượt khỏi sáu nẻo luân hồi, khiến cho họ an
trụ trong thánh đạo trí huệ nhất thiết trí. Tâm
nguyện đó, cũng rộng lớn đến khắp cùng pháp
giới, rốt ráo giống như hư không, hết thuở vị
lai tất cả kiếp thời gian, tôi cũng không ngừng
nghỉ.
Lại phát nguyện lớn : Nguyện tất
cả thế giới rộng lớn vô lượng : Thô tế, loạn
trụ, đảo trụ, chánh trụ, hoặc vào, hoặc đi, hoặc
đến, khác nhau như lưới Đế Thích, mười phương vô
lượng đủ thứ khác nhau, trí đều thấu rõ, hiện
tiền thấy biết, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo
như hư không, hết thuở vị lai, tất cả kiếp số
không có ngừng nghỉ.
Bồ Tát lại phát nguyện lớn,
nguyện mỗi thế giới, bất luận là ngửa, úp, dài,
vuông, đều rộng lớn như vậy, bất luận có bao
nhiêu; trong đó có thô, có tế, có loạn trụ,
chẳng có thứ tự; lại có đảo trụ, điên đảo; có
chánh trụ, ngay thẳng rất có quy cụ; có người,
thường thường có hành động; có rất nhiều biến
hoá, thảy đều khác nhau, giống như lưới La tràng
trên cung điện của trời Đế Thích thảy đều khác
nhau. Hình trạng đủ thứ sự khác biệt trong mười
phương, nhưng trí huệ của Bồ Tát đều thấu rõ,
minh bạch giống như hiện ra ở trước mắt. Trí huệ
nguyện vọng đó, cũng rộng lớn khắp cùng pháp
giới, rốt ráo giống như hư không, hết thuở vị
lai tất cả kiếp số, vĩnh viễn không ngừng nghỉ.
Lại phát nguyện lớn: Nguyện thừa
không thối chuyển, thực hành hạnh Bồ Tát, nghiệp
thân miệng ý đều không tổn hại, nếu ai tạm thấy
thì nhất định hiểu Phật pháp. Tạm nghe đến âm
thanh thì được trí huệ chân thật. Nếu họ mới
sinh niềm tin thanh tịnh, thì vĩnh viễn dứt
phiền não, được thụ thân như đại Dược Vương,
được thân như báu như ý, tu hành tất cả hạnh Bồ
Tát, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư
không, hết thuở vị lai, tất cả kiếp số không
ngừng nghỉ.
Lại phát nguyện lớn : Nguyện
trong tất cả thế giới, thành Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, không lìa nơi đầu sợi lông. Nơi
tất cả đầu sợi lông, thảy đều thị hiện sơ sinh,
xuất gia, đến đạo tràng, thành Chánh Giác,
chuyển bánh xe pháp, vào Niết Bàn, được cảnh
giới sức đại trí huệ của Phật. Ở trong niệm
niệm, tuỳ theo tất cả tâm chúng sinh, thị hiện
thành Phật, khiến cho họ được tịch diệt, dùng
một thứ bồ đề, biết tất cả pháp giới tức tướng
Niết Bàn. Dùng một âm thuyết pháp, khiến cho tất
cả tâm chúng sinh đều hoan hỉ. Thị hiện vào đại
Niết Bàn, mà không dứt hạnh Bồ Tát. Thị hiện bậc
đại trí huệ an lập tất cả pháp. Dùng pháp trí
thông, thần túc thông, huyễn thông, tự tại biến
hoá, đầy khắp tất cả pháp giới. Rộng lớn như
pháp giới, rốt ráo như hư không. Hết thuở vị
lai, tất cả kiếp số không ngừng nghỉ.
Bồ Tát lại phát nguyện lớn, hy
vọng thừa pháp luân không thối chuyển, tu pháp
môn của Bồ Tát tu hành. Thân miệng ý ba nghiệp
đều thanh tịnh, không tạo nghiệp ác, chẳng có
tội lỗi. Giả như có người tạm thời thấy được Bồ
Tát, thì nhất định sẽ trồng xuống căn lành, minh
bạch Phật pháp. Tạm thời nghe được âm thanh của
Bồ Tát, thì sẽ đắc được trí huệ chân thật giống
như bảo bối. Nếu tâm tin thanh tịnh của họ vừa
mới phát sinh, thì có thể vĩnh viễn dứt trừ
phiền não, đắc được thụ thân giống như Đại Dược
Vương, hay trị bệnh chúng sinh, lại có thể đắc
được thân thể giống như báu như ý, tu tất cả
hạnh của Bồ Tát tu hành. Tâm nguyện đó cũng rộng
lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không, hết
kiếp thuở vị lai cũng không ngừng nghỉ.
Bồ Tát lại phát nguyện lớn : Hy
vọng chúng sinh toàn thế giới, đồng thời đều
chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Không lìa khỏi một đầu sợi lông, và tất cả nơi
đầu sợi lông, đều có thể thị hiện từ cung trời
Đâu Suất hàng sinh xuống nhân gian, xuất gia,
học đạo, đến các đạo tràng, ở dưới cội bồ đề
thành Đẳng Chánh Giác, chuyển bánh xe pháp,
thuyết pháp độ chúng sinh, cuối cùng vào Niết
Bàn. Khắp trong pháp giới, nơi mỗi đầu sợi lông
rất nhỏ, đều ở trong đó thị hiện tám tướng thành
đạo. Đắc được cảnh giới như đức Phật, như lực
đại trí huệ của Phật. Ở trong mỗi niệm, tuỳ theo
tâm niệm chúng sinh, thị hiện thành Phật, khiến
cho tất cả chúng sinh, cũng đắc được vui tịch
diệt. Dùng một thứ chánh giác, thì biết tất cả
pháp giới, giống như một tướng đại Niết Bàn.
Dùng một thứ âm thanh thuyết pháp, khiến cho hết
thảy chúng sinh đều sinh tâm hoan hỉ. Tuy thị
hiện vào đại Niết Bàn, nhưng vẫn không dứt hành
Bồ Tát đạo trên thế giới nầy. Thị hiện bậc đại
trí huệ, bậc đại trí huệ tức là Phật trí, vì hay
sinh vạn vật, hay lãnh vạn hạnh, cho nên hay an
lập tất cả. Khiến cho chúng sinh biết tất cả
nương vào đại trí huệ mà an lập. Dùng ý nghĩa
pháp trí thông, biết rõ tướng pháp không tánh mà
sinh trí huệ thần thông. Thần túc thông là nơi
thân mình hiển hiện kiếp sinh, trụ, diệt, dài
ngắn, tuỳ tâm tự tại. Huyễn thông là chuyển biến
việc bên ngoài, đâu chẳng tuỳ theo ý muốn của
tâm. Vận dụng tự tại, biến hoá vô cùng đầy khắp
hết thảy pháp giới. Tâm nguyện đó cũng rộng lớn
như pháp giới, rốt ráo như hư không, hết thuở vị
lai tất cả kiếp số cũng không ngừng nghỉ.
Phật tử ! Bồ Tát trụ Hoan Hỉ địa
phát thệ nguyện lớn như vậy, đại dũng mãnh như
vậy, đại tác dụng như vậy. Dùng mười nguyện môn
nầy làm đầu, đầy đủ trăm vạn A tăng kỳ đại
nguyện.
Phật tử ! Đại nguyện nầy dùng
mười câu tận mà được thành tựu. Những gì là mười
?
Đó là : Cõi chúng sinh tận, thế
giới tận, cõi hư không tận, pháp giới tận, cõi
Niết Bàn tận, cõi Phật xuất hiện tận, cõi Như
Lai trí tận, cõi tâm sở duyên tận, cõi Phật trí
vào cảnh giới tận. Thế gian chuyển, pháp chuyển,
cõi trí chuyển tận. Nếu cõi chúng sinh tận,
nguyện của tôi mới tận. Nếu thế giới cho đến thế
gian chuyển, pháp chuyển, cõi trí chuyển tận,
thì nguyện của tôi mới tận. Mà cõi chúng sinh
không thể tận, cho đến thế gian chuyển, cõi pháp
luân trí chuyển không thể tận, nên đại nguyện
căn lành nầy của tôi không cùng tận.
Bồ Tát Kim Cang Tạng e rằng các
vị Bồ Tát có lúc phóng dật, hoặc không chú ý
nghe Ngài nói pháp môn trong Kinh Hoa Nghiêm,
lại xưng một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Các
vị biết Bồ Tát tu chứng được Hoan Hỉ địa rồi,
Ngài đã tu được đủ thứ căn lành, thành tựu đủ
thứ công đức Ba la mật, đạt đến địa vị bờ bên
kia, cho nên Ngài lúc nào cũng đều sinh tâm đại
hoan hỉ, phát ra những đại nguyện như ở trước đã
phát ra. Ngài hay dùng tâm đại dũng mãnh đã phát
ra, pháp môn chúng sinh không dám tu hành, mà
Ngài dám tu hành. Việc chúng sinh không dám làm,
mà Ngài dám đi làm. Giống như đủ thứ đại tác đại
dụng ở trước có nói, Ngài đều dùng mười đại
nguyện làm hàng đầu, để đầy đủ, Ngài ở trong
trăm vạn A tăng kỳ kiếp phát ra tất cả đại
nguyện, tất cả đại nguyện cũng y vào mười đại
nguyện nầy mà hoàn thành.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Đại nguyện nầy là
Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo, dùng mười câu tận mà
được thành tựu (chữ tận ở đây nghĩa là không thể
đoạn tận, mười câu nầy là dùng mười hạng không
thể tận được làm ví dụ, mười đại nguyện không
cùng tận làm tỉ lượng). Những gì là mười thứ ?
Đó là cõi chúng sinh tận, thế giới cũng cùng
tận, cõi hư không cũng tận (Ba điều nầy nói về
thế gian). Pháp giới cũng tận, cõi Niết Bàn cũng
chẳng còn, cõi Phật xuất hiện tận. Cũng chẳng có
Phật xuất hiện ra đời (Ba điều nầy là nói về
pháp). Trí huệ Như Lai cũng chẳng có, trong tâm
cũng chẳng có sự tưởng tượng, chỗ nương tựa cũng
chẳng có, trí huệ của Phật chứng được, sự thấu
hiểu, minh bạch, cảnh giới đó cũng chẳng có (ba
điều nấy nói về Phật trí) thế gian chuyển (chữ
chuyển ở đây nghĩa cũng là ý nghĩa không thể
tận) pháp chuyển, cõi trí chuyển tận, những điều
nầy đều chuyển tận chẳng còn nữa. Cõi chúng sinh
ở trên đều tận, thì tâm nguyện của tôi mới xong
được. Nếu như thế giới cho đến thế gian chuyển,
pháp chuyển, cõi trí chuyển tận, thì nguyện của
tôi mới tận. Bởi chúng sinh và thế gian chuyển,
pháp chuyển, cõi trí chuyển .v.v... không thể
cùng tận, cho nên đại nguyện nầy của tôi cũng
không thể cùng tận, vĩnh viễn tồn tại. Căn lành
tu được, cũng không cùng tận.
Phật tử ! Bồ Tát phát nguyện lớn
như vậy rồi, liền được tâm lợi ích, tâm nhu
nhuyến, tâm tuỳ thuận, tâm tịch tĩnh, tâm điều
phục, tâm tịch diệt, tâm khiêm hạ, tâm nhuận
trạch, tâm không động, tâm không trược.
Trở thành người có niềm tin thanh
tịnh: Có niềm tin công dụng, tin bổn hạnh chỗ
vào của Như lai. Tin thành tựu các Ba la mật,
tin vào các bậc thù thắng, tin thành tựu lực,
tin đầy đủ không sợ hãi, tin sinh trưởng Phật
pháp bất cộng không thể hoại, tin Phật pháp
không nghĩ bàn, tin sinh ra cảnh giới Phật trung
đạo không rơi vào hai bên, tin tuỳ thuận vào vô
lượng cảnh giới của Như Lai, tin thành tựu quả.
Tóm lại, tin tất cả hạnh Bồ Tát, cho đến trí,
địa, thuyết, lực, của Như lai.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát phát ra
những nguyện lớn ở trên rồi, thì đắc được mười
tâm tin :
Tâm lợi ích, trước khi Bồ Tát
chưa phát nguyện lớn, muốn lợi ích chúng sinh,
không phát tâm, muốn làm cũng làm không được, vì
chẳng có sức lực. Sau khi phát những nguyện lớn
đó rồi, trong vô hình Ngài tăng thêm sức lực trợ
giúp chúng sinh.
Tâm nhu nhuyến, vì có sức lực tâm
nguyện, biến tâm cang cường quá khứ thành tâm
nhu nhuyến, đối với chúng sinh cũng nhẫn nại
được, cũng hoà khí, giáo hoá chúng sinh thì tự
nhiên thân tâm điều phục mà không sinh phiền
não.
Tâm tuỳ thuận, người chưa phát
tâm bồ đề, người không hành Bồ Tát đạo, đều ưa
thích sai khiến người khác, muốn người khác phải
nghe mình chỉ huy. Nhưng sau khi phát nguyện lớn
rồi, thì biết phải tuỳ thuận chúng sinh, sau đó
mới khiến cho chúng sinh tuỳ thuận. Không còn
thành kiến về cái ta, thì chẳng còn chấp cái ta
nữa.
Tâm tịch tĩnh, luôn luôn tâm bình
khí hoà, chẳng có phiền não, không màng chỗ ồn
ào, yên lặng, đều dụng công tu hành được, không
bị ảnh hưởng hoàn cảnh bên ngoài.
Tâm điều phục, tại thế giới Ta Bà
nầy, tất cả mọi người, mọi sự vật,đều khó điều
phục, ở trong hoàn cảnh nầy, đừng nói đến điều
phục chúng sinh, cho đến chính mình cũng khó
điều phục. Sau khi Bồ Tát phát nguyện lớn rồi,
thì tự nhiên điều phục được thân tâm, cũng khéo
léo điều phục chúng sinh.
Tâm tịch diệt, các pháp từ xưa
đến nay, thường vắng lặng. Nếu tâm mình không
biết vắng lặng, thì làm sao vật bên ngoài vắng
lặng được. Sau khi Bồ Tát phát nguyện lớn rồi,
biết rõ các pháp vắng lặng.
Tâm khiêm hạ, trước khi chưa phát
nguyện lớn, thì thường dễ phạm mao bệnh cống cao
ngã mạn, sinh ra nhiều phiền não vô vị. Phát
nguyện lớn đó rồi, thì những tập khí không tốt
đó tự nhiên tiêu trừ, từ cống cao ngã mạn biến
thành khiêm hoà.
Tâm nhuận trạch, vì có sức lực
tâm nguyện lớn rồi, trong tâm thường cảm thấy
thư thới như thấm nhuần cam lồ, chẳng còn cảm
giác phiền muôn khô khan.
Tâm bất động, niệm động trăm sự
có, niệm dừng vạn sự không. Không sinh tạp niệm
thì chẳng còn vọng tưởng phiền não, tâm niệm
thanh tịnh, thì trí huệ tự nhiên sinh ra trợ
giúp vạn hạnh.
Tâm không trược, vì có nguyện lớn
như vậy, tâm niệm thanh tịnh, thì còn có tâm
trược, tâm ô nhiễm chăng ? Có những tâm tin
nguyện lực ở trên, thì thành tựu một bậc đức
hạnh có tâm tin thanh tịnh. Công dụng tâm tin
đó, khiến cho nhập vào được hạnh bổn lai của
Phật tu hành, do tin mà thành tựu mười Ba la
mật, do tin vào được địa vi Thập địa thù thắng,
do tin mà thành tựu sức thần thông, do tâm tin
cũng đầy đủ tất cả sức không sợ hãi, trong Kinh
nói niềm tin là mẹ nguồn gốc của công đức, nuôi
lớn tất cả các pháp lành, tin hay sinh trưởng
Phật pháp mà ngoại đạo không thể phá hoại được.
Tin không thể dùng lời nói hình dung, không thể
tưởng tượng được chân lý của Phật nói. Tin cảnh
giới Phật nói ra, không rơi vào hai bên, vì cảnh
giới của Phật, mọi thời mọi lúc, nơi nào chốn
nào cũng không chấp vào không, không rơi vào
không; không chấp vào có, không rơi vào có.
Đức Phật đề xướng trung đạo, hay
tin thì tuỳ thuận nhập vào cảnh giới không hạn
lượng của Phật, tin hay thành tựu tất cả quả vị.
Tóm lại, đưa ra một điểm quan trọng là, tin tất
cả pháp môn và nhân quả của Bồ Tát tu hành, cho
đến đạt được bậc trí huệ của Như Lai, đó đều là
do sức tin sinh ra.
Phật tử ! Bồ Tát đó lại nghĩ như
vầy : Chánh pháp của chư Phật thâm sâu như vậy,
tịch tĩnh như vậy, tịch diệt như vậy, không như
vậy, vô tướng như vậy, vô nguyện như vậy, không
nhiễm như vậy, vô lượng như vậy, rộng lớn như
vậy, mà các phàm phu, sa vào tà kiến, vô minh
che lấp, dựng tràng cao kiêu mạn, vào trong lưới
khát ái, đi vào rừng rậm dua dối không tự ra
được. Tâm tương ưng với xan tham đố kị không xả
bỏ được, luôn tạo nhân duyên thọ sinh trong các
cõi.
Tham sân si gây thành các nghiệp,
ngày đêm tăng trưởng. Dùng gió phẫn hận thổi lửa
tâm thức, cháy mạnh không ngừng. Phàm tạo ra các
nghiệp, đều điên đảo tương ưng với dòng tham
dục, dòng hữu lậu, dòng vô minh, dòng tà kiến,
khởi hạt giống tâm ý thức liên tục, ở trong
ruộng ba cõi, lại sinh mầm khổ. Đó là : Danh sắc
cùng sinh không lìa. Do danh sắc mà tăng trưởng
sinh ra sáu xứ tụ lạc, ở trong sự tương đối sinh
ra xúc, vì xúc nên sinh ra thọ, do thọ nên sinh
ra ái, ái sinh trưởng nên sinh ra thủ, thủ tăng
trưởng nên sinh ra hữu, hữu sinh nên có sinh,
già, bệnh, chết, ưu bi khổ não.
Chúng sinh như vậy, sinh trưởng
khổ tụ tập. Trong đó đều không, lìa cái ta, của
ta, không biết, không giác, không làm, không
thọ, như cỏ cây, đá vách, cũng như hình bóng. Rõ
ràng các chúng sinh không giác, không biết.
Bồ Tát thấy các chúng sinh tụ tập
khổ như vậy, không được thoát khỏi, cho nên bèn
sinh đại bi trí huệ. Lại nghĩ như vầy : Các
chúng sinh đó, tôi phải cứu họ, đặc để họ nơi an
lạc rốt ráo, do đó bèn sinh đại từ trí huệ quang
minh.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng đệ tử của Phật ! Bồ Tát chứng được Hoan Hỉ
địa, lại nghĩ như vầy : Chánh pháp nhãn tạng của
chư Phật là thâm sâu như vậy, sâu giống như biển
cả không thấy được đáy. Tịch tĩnh như vậy, bổn
thể của pháp là tịch tĩnh, chẳng bị bất cứ cảnh
giới bên ngoài nào lay động, mà còn vắng lặng,
chẳng có hình tướng có thể thấy. Cũng giống như
hư không, vô lượng vô biên, chẳng có tướng trạng
nhất định. Cũng chẳng có nguyện gì, tất cả đều
không. Cũng không có bất cứ ô nhiễm và chỗ chấp,
pháp thể không thể hạn lượng như vậy rộng lớn
không có bờ mé. Rõ ràng một số phàm phu sa vào
tư tưởng tà tri tà kiến, làm việc điên đảo,
không biết tu hành. Vô minh giống như mây đen
trong hư không, che lấp ánh sáng mặt trời. Tự
mình dựng lên tràng cao kiêu mạn, vào sâu trong
lưới khát ái, đi vào trong rừng rậm siểm nịnh
dua dối, không biết cách nào thoát ra được. Tâm
tánh ràng buộc với xan tham đố kị không buông bỏ
được, vĩnh viễn tự tạo nhân duyên thọ sinh ở
trong bốn đường ác. Vì vô minh, nên sinh ra tư
tưởng tham vọng, sân hận, ngu si, làm ra đủ thứ
nghiệp quả, ngày tháng tích luỹ tăng trưởng
không ngừng. Sinh khởi gió tà phẫn hận, thổi
động tâm thức lửa tà, thiêu đốt không ngừng.
Phàm làm gì cũng đều điên đảo không hợp pháp lý,
tuỳ thuận tham dục. Ở trong ba cõi thuận theo
dòng hữu lậu, theo vô minh, chạy theo kiến hoặc.
Những hạt giống đó ở trong tâm ý thức sinh khởi
liên tục không ngừng. Đất nghiệp ba cõi lại sinh
ra mầm thống khổ. Đó là mười hai nhân duyên mà
đức Phật đã nói, thứ nhất là vô minh. Do vô minh
điên đảo mà sinh ra hành, tức là hành vi ái dục.
Có hành vi rồi, thì sinh ra hạt giống ý thức. Do
hạt giống ý thức gieo xuống ruộng ba cõi, bèn
sinh ra mầm khổ. Mầm khổ đó tức là danh sắc
(danh sắc ví như nam, nữ), do danh sắc mà sinh
ra sáu nơi tụ lạc (sáu nơi tụ lạc là chỉ sáu căn
: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Còn gọi là lục
nhập, lục nhập vào trong sáu căn. Sáu căn, sáu
trần cùng tiếp xúc nhau sinh ra sáu thức, nên
còn gọi là lục xứ). Tụ lạc tức là lục nhập cùng
lớn lên trong thai mẹ. Do đó sinh ra xúc trần.
Do xúc trần lại sinh ra lãnh thọ. Do lãnh thọ mà
sinh ra ái dục. Do ái dục tăng trưởng, lại sinh
ra thủ. Do thủ sinh ra hữu. Do hữu sinh ra sinh.
Do sinh nên có sinh, già, bệnh, chết, ưu bi khổ
não theo đó mà ra. Chúng sinh giống như vậy,
sinh trưởng thành tụ lạc của khổ. Tuy nhiên
thuyết pháp như vậy, nếu minh bạch được đạo lý
nầy, thì tất cả đều không, cuối cùng trở về
huyễn diệt, mà lìa khỏi cái ta và của ta, thì vô
tri vô giác. Bổn thân của mười hai nhân duyên,
tức là vô tri vô giác. Không có kẻ làm, cũng
không có kẻ thọ, giống như cỏ cây đá vách, hiểu
được đạo lý nầy tất cả như hình bóng. Song,
chúng sinh ở giữa, họ cũng không giác không ngộ,
không biết vốn là không. Bồ Tát nhìn thấy chúng
sinh sinh diệt ở trong mười hai nhân duyên, do
ái dục ràng buộc, thọ khổ không thể thoát khỏi.
Do đó, mà sinh khởi tâm đại bi trí huệ, lại nghĩ
như vầy: tất cả chúng sinh, tôi phải cứu họ, đặt
để họ ở nơi an vui khoái lạc không có khổ, cho
nên sinh ra tâm đại từ mà phát ra trí huệ quang
minh.
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát tuỳ
thuận đại từ đại bi như vậy, dùng tâm sâu nặng
trụ Sơ địa, thì tất cả mọi vật không xẻn tiếc,
cầu đại trí huệ của Phật, tu hạnh đại xả.
Phàm là những gì mình có, tất cả
đều bố thí được. Như là : Tiền tài, lúa gạo, kho
tàng, vàng bạc, ma ni, châu báu, lưu ly, trang
sức, ngọc ngà, san hô, các thứ vật, trân báu,
chuỗi trang nghiêm thân, voi, ngựa, xe cộ, nô
tì, nhân dân, thành ấp, tụ lạc, vườn rừng, lầu
đài, thê thiếp, con cái, quyến thuộc trong
ngoài, cùng với những đồ chơi quý báu khác. Đầu
mắt, tay chân, máu thịt, xương tuỷ, tất cả bộ
phận thân thể, đều không tiếc, vì cầu trí huệ
rộng lớn của chư Phật.
Đó gọi là thành tựu hạnh đại xả
của Bồ Tát trụ nơi Sơ địa.
Bồ Tát Kim Cang Tạng vì biết Bồ
Tát thường trụ ở trong định, do đó lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Khi đại Bồ Tát tu
hành Bồ Tát đạo, tích tụ đủ thứ căn lành, Ngài
luôn luôn tuỳ thuận tâm đại từ đại bi hành đạo.
Vì đại bi cứu chúng sinh thoát khỏi biển khổ,
đại từ ban cho chúng sinh an vui chân chánh.
Dùng tâm thâm sâu không thể dò, tâm thận trọng
nghiêm cẩn trụ nơi Sơ địa – Hoan Hỉ địa, đối với
bất cứ vật chất quý trọng gì, cũng đều không có
tâm tham luyến và xẻn tiếc, đều có thể tuỳ duyên
bố thí cho người khác. Ngài chỉ nghĩ cầu được
đại trí huệ giống như đức Phật, cho nên Ngài tu
hành pháp môn bố thí, bố thí lớn. Phàm là những
gì Ngài có, thảy đều xả bỏ bố thí hết. Bất luận
tiền tài, lúa gạo, kho tàng, vàng bạc, châu ma
ni, châu báu, lưu ly, đồ trang sức, đá quý, san
hô, các thứ báu vật. Hoặc là vật trang sức chuỗi
ngọc trang nghiêm thân thể, khiến cho người hiển
bày sự cao quý. Cùng với những vật dùng hằng
ngày như : voi, ngựa, xe cộ quý giá, người hầu
thông minh lanh lẹ, và nhân dân, thành quách,
nông thôn, tụ lạc thuộc về của mình. Vườn rừng,
đình đài, lầu các chỗ ở, thậm chí vợ, thiếp, con
trai, con gái, quyến thuộc trong ngoài của mình,
cùng với hết thảy những đồ chơi quý giá khác,
đều bố thí hết. Tức khiến cho có người đến xin
nội tài của Ngài như : đầu, mắt, tay, chân, máu,
thịt, xương cốt, phàm là những gì thuộc về thân,
Ngài cũng đều không xẻn tiếc, tất cả đều xả bỏ
được. Bồ Tát tu đại bố thí như vậy, chỉ vì cầu
đại trí huệ rộng lớn của chư Phật, đó là thành
tựu căn lành công đức hạnh đại xả của Bồ Tát lúc
trụ nơi Sơ địa.
Phật tử ! Bồ Tát dùng tâm từ bi
đó đại bố thí, vì muốn cứu hộ tất cả chúng sinh,
cầu thêm các việc lợi ích thế gian và xuất thế
gian, không nhàm mỏi, liền được thành tựu tâm
không nhàm mỏi.
Được tâm không mỏi nhàm rồi, nơi
tất cả Kinh luận, tâm không khiếp nhược, vì
không khiếp nhược, nên liền được thành tựu nhất
thiết trí Kinh luận.
Được trí đó rồi, khéo hay so
lường việc nên làm, hay không nên làm. Nơi tất
cả chúng sinh thượng trung hạ, tuỳ theo sự độ
được, tuỳ sức lực, tuỳ theo tập quán của họ, mà
thực hành như vậy. Cho nên Bồ Tát được thành tựu
thế trí.
Thành tựu thế trí rồi, biết thời,
biết lượng, dùng sự hổ thẹn trang nghiêm, siêng
tu đạo tự lợi lợi tha, do đó thành tựu sự hổ
thẹn trang nghiêm. Ở trong hạnh đó, siêng tu
hạnh thoát khỏi ba cõi, không còn thối chuyển,
thành tựu sức kiên cố.
Được sức kiên cố rồi, siêng cúng
dường chư Phật, đối với pháp Phật dạy, theo lời
nói mà thực hành.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát hoan hỉ địa
phát đại tâm nguyện, đại từ, đại bi, đại bố thí,
là vì cứu độ tất cả chúng sinh, khiến cho được
lìa khổ, ái hộ tất cả chúng sinh, khiến cho
chúng sinh được an vui. Do đó, Ngài lại cầu thêm
một bước nữa, làm thế nào tại thế gian lợi ích
chúng sinh, lại làm thế nào lợi ích chúng sinh
xuất thế gian. Luôn luôn tu hạnh Bồ Tát nầy,
chưa từng sinh tâm nhàm mỏi, như vậy lâu dần sẽ
thành tựu tâm rất tự nhiên chẳng có sự nhàm mỏi.
Đắc được tâm không nhàm mỏi rồi, thì gieo xuống
sức tinh tấn không giải đãi, đối với tất cả Kinh
điển luận thuyết đại thừa, càng không có tâm sợ
hãi khiếp nhược làm chướng ngại, cũng chẳng sợ
Phật pháp như biển cả, không dám đi nhiếp thọ.
Phàm là Kinh điển của Phật nói, một khi thấy thì
mắt sẽ tỏ rõ, chiếu thấu thật tướng các pháp,
vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển, thành tựu
trí huệ nghiên cứu tất cả Kinh luận.
Bồ Tát đắc được trí huệ vào sâu
tạng Kinh, trí huệ như biển rồi, đối với tất cả
sự lý, kế hoạch đều rất tỉ mỉ, nghĩ việc gì đáng
làm, việc gì không đáng làm, đều phân biệt nhận
thức được rõ ràng. Gặp chúng sinh thượng căn
thượng trí, chúng sinh trung căn trung trí, hạ
căn ngu si, Ngài đều tuỳ theo sức của mình, hiểu
rõ ưa thích chán ghét tập tánh của chúng sinh,
nên dùng phương pháp và thân phận gì mới có thể
độ được họ, đều tuỳ thuận giáo hoá chúng sinh.
Vì Bồ Tát đã thành tựu trí huệ thế gian pháp. Bồ
Tát thành tựu trí huệ thế gian rồi, có lực quyết
định “biết thời biết lượng”, biết rõ cơ duyên
của tất cả chúng sinh đã thành thục chưa, những
chúng sinh đó đáng được độ trước, nên dùng pháp
gì, những chúng sinh cơ duyên chưa thành thục,
thì chưa nên độ. Tuỳ thời Ngài đều cảnh sách
chính mình, phát tâm hổ thẹn, dùng “sự hổ thẹn”
để “trang nghiêm” chính mình, tu phước tu huệ,
tích tụ phước đức. Tinh tấn siêng tu tất cả đạo
lý thánh giáo lợi mình và lợi người. Do đó mà
thành tựu hạnh tàm quý, tự trang nghiêm công
đức. Trong sự tu hành hạnh môn đó, tinh tấn tu
tập pháp môn thoát khỏi ba cõi, thì sẽ không
thối chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,
thành tựu sự tu hành kiên cố thắng tấn không
thối lùi. Đắc được “sức kiên cố” đó rồi, thì ân
cần cúng dường tất cả chư Phật, đối với tất cả
giáo pháp của Phật nói, Ngài đều theo lời nói mà
tu hành.
Phật tử ! Bồ Tát thành tựu mười
pháp tịnh các địa như vậy. Đó là : Tin bi từ xả
không có nhàm mỏi. Biết các Kinh luận, khéo hiểu
pháp thế gian. Sức hổ thẹn kiên cố, cúng dường
chư Phật, y giáo phụng hành.
Phật tử ! Bồ Tát trụ Hoan Hỉ địa
nầy rồi, nhờ đại nguyện lực thấy được nhiều đức
Phật. Đó là: Thấy nhiều trăm vị Phật, nhiều ngàn
vị Phật, nhiều trăm ngàn vị Phật, nhiều ức vị
Phật, nhiều trăm ức vị Phật, nhiều ngàn ức vị
Phật, nhiều trăm ngàn ức vị Phật, nhiều ức Na do
tha vị Phật, nhiều trăm ức Na do tha vị Phật,
nhiều ngàn ức Na do tha vị Phật, nhiều trăm ngàn
ức Na do tha vị Phật.
Đều dùng tâm lớn thâm sâu, cung
kính tôn trọng, thừa sự cúng dường. Y phục, thức
ăn uống, toạ cụ, thuốc men, tất cả vật tư sanh,
đều đem dâng cúng. Cũng đem cúng dường đến tất
cả chúng Tăng, đem căn lành nầy, thảy đều hồi
hướng vô thượng bồ đề.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Tất cả những điều
đã nói ở trên, Bồ Tát tu hành thành tựu mười
pháp “tịnh trị các địa”. Đó là : phải “tin” tất
cả đạo lý mà đức Phật đã nói, cứu độ chúng sinh
trong khổ nạn, ban cho niềm an vui chân chánh mà
thực hành đại bố thí, như đây tu hành, mà không
sinh “nhàm mỏi”. Vào sâu tạng Kinh, thấu hiểu
tam tạng mười hai bộ. Đối với pháp thế gian,
cũng rất thông đạt mà khéo vận dụng phương tiện.
Có sức “hổ thẹn kiên cố”, cúng dường tất cả chư
Phật, y theo lời Phật nói, thiết thật tu hành.
Các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát tu
chứng được Sơ địa – Hoan Hỉ địa, vì Ngài có đủ
thứ đại nguyện lực, cho nên Ngài có thể thấy
được rất nhiều vị Phật, nhiều đến không cách chi
tính đếm được, đó là “thấy nhiều trăm vị Phật,
nhiều ngàn vị Phật, nhiều trăm ngàn vị Phật,
nhiều ức vị Phật, nhiều trăm ức vị Phật, nhiều
ngàn ức vị Phật, nhiều trăm ngàn ức vị Phật,
nhiều ức Na do tha vị Phật, nhiều trăm ức Na do
tha vị Phật, nhiều ngàn ức Na do tha vị Phật,
nhiều trăm ngàn ức Na do tha vị Phật”. Tóm lại,
dù có tính toán cũng không biết được. Bồ Tát Sơ
địa đã có tuỳ tâm tự tại như vậy, tuỳ thời có
thể thấy được cảnh giới của Phật. Các Ngài tuỳ
thời đều dùng tâm nguyện lớn nhất, tâm tin thâm
sâu nhất, cung kính cẩn thận thừa sự ở trước các
đức Phật, cúng dường: Y phục, thức ăn uống, toạ
cụ, thuốc men, và tất cả vật tư sanh, cũng đều
đem bố thí, và cúng dường đến các vị hiền Thánh
Tăng. Đem căn lành công đức đó, hồi hướng diệu
giác Phật đạo vô thượng.
Phật tử ! Bồ Tát đó do cúng dường
chư Phật, mà được thành tựu pháp chúng sinh.
Dùng hai nhiếp trước bố thí và ái ngữ, để nhiếp
lấy chúng sinh. Hai pháp nhiếp sau, chỉ dùng sức
tin hiểu mà thực hành, chứ chưa thông đạt.
Bồ Tát nầy ở trong mười Ba la
mật, thì Đàn Ba la mật được tăng thượng, còn các
Ba la mật khác, cũng tu hành nhưng tuỳ sức tuỳ
phần. Bồ Tát nầy tuỳ theo sự siêng tu, cúng
dường các đức Phật, giáo hoá chúng sinh, đều tu
hành pháp thanh tịnh địa. Hết thảy căn lành, đềm
đem hồi hướng về bậc nhất thiết trí, dần dần
sáng tịnh, điều nhu thành tựu, tuỳ ý kham dùng.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Vị Bồ Tát nầy
chứng được Hoan Hỉ địa, vì rộng tu cúng dường
chư Phật, nên đắc được công đức, thành tựu bốn
pháp nhiếp rộng độ chúng sinh. Hai phương pháp ở
trước nhiếp lấy chúng sinh, tức là “bố thí, ái
ngữ”. Bồ Tát rộng tu bố thí, bố thí tất cả nội
tài ngoại bảo. Ái ngữ, tức là dùng tâm từ bi ái
hộ chúng sinh, đối với họ nói những lời họ thích
nghe. Chẳng có tâm thích ghét, khéo dùng phương
pháp khéo léo, phát tâm bồ đề bình đẳng rộng độ
chúng sinh. Còn hai phương pháp kia, tức là “lợi
hành, đồng sự”, “lợi hành” là dùng thiện hạnh có
lợi cho chúng sinh, như thân, miệng, ý, biểu
hiện phương diện hành vi có lợi cho chúng sinh,
khiến cho chúng sinh nhờ đó mà sinh tâm gần gũi,
mà thọ sự giáo hoá. “Đồng sự” tức là Bồ Tát dùng
pháp nhãn quán sát căn tánh chúng sinh, tuỳ theo
sự cần thiết mà thị hiện thân hình, khiến cho
chúng sinh thọ được đồng hoá mà độ thoát. Bồ Tát
dùng sức tin hiểu của Ngài mà hành, còn có chỗ
tu hành chưa hoàn toàn thông đạt. Trong mười
pháp môn Ba la mật, Bồ Tát Sơ địa tu bố thí Ba
la mật tăng thượng nhất (mười Ba la mật : bố
thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
trí huệ, phương tiện, nguyện, lực, trí), còn
chín Ba la mật kia, cũng tu hành, nhưng chỉ tuỳ
sức của mình và nhân duyên mà hành. “Bồ Tát nầy”
là chỉ vị Bồ Tát Sơ địa, Ngài một phương diện tu
hành, đồng thời cũng ân cần cúng dường chư Phật,
và giáo hoá chúng sinh, Ngài đều y cứ theo sự tu
pháp môn thanh tịnh Thập địa. Căn lành công đức
tích tụ, hoàn toàn hồi hướng về quả vị nhất
thiết trí huệ. Dần dần sáng tịnh ngày càng tu
hành tiến bộ từng bước từng bước. Thân tâm tự
tại, trong ngoài điều nhu, tuỳ tâm ý của mình mà
vận dụng Phật pháp, giáo hoá chúng sinh.
Phật tử ! Ví như thợ vàng, khéo
léo luyện vàng, từ từ cho vào lửa, dần dần sáng
tịnh, điều nhu thành tựu, tuỳ ý xử dụng.
Bồ Tát cũng lại như vậy. Cúng
dường chư Phật, giáo hoá chúng sinh, đều vì tu
hành pháp thanh tịnh địa. Hết thảy căn lành đều
hồi hướng về bậc nhất thiết trí. Dần dần sáng
tịnh, điều nhu thành tựu, tuỳ ý kham dùng.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ nơi Sơ
địa, phải từ ở chỗ chư Phật Bồ Tát thiện tri
thức, tìm cầu thưa hỏi ở tướng và đắc quả trong
địa nầy, không có nhàm mỏi.
Vì muốn thành tựu pháp địa nầy,
nên cũng phải từ ở chỗ chư Phật Bồ Tát thiện tri
thức, tìm cầu thưa hỏi tướng và đắc quả trong
địa thứ hai, không có nhàm mỏi.
Vì muốn thành tựu pháp địa nầy,
nên cũng phải tìm cầu thưa hỏi tướng và đắc quả
trong địa thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ
bảy, thứ tám, thứ chín, thứ mười, như vậy, không
có nhàm mỏi.
Vì muốn thành tựu pháp địa nầy,
nên Bồ Tát nầy khéo biết các địa chướng đối trị,
khéo biết địa thành hoại, khéo biết địa tướng
quả, khéo biết địa được tu, khéo biết địa pháp
thanh tịnh, khéo biết địa địa chuyển hành, khéo
biết địa địa xứ phi xứ, khéo biết địa địa thù
thắng trí, khéo biết địa địa không thối chuyển,
khéo biết tịnh trị tất cả Bồ Tát địa, cho đến
chuyển nhập Như Lai địa.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bây giờ tôi đưa ra
một ví dụ : giống như người thợ làm vàng, họ
dùng đủ thứ phương pháp, cứ lần lượt đưa vàng
vào trong lò lửa, mỗi lần thiêu đốt thì vàng
càng sáng hơn một chút, càng đốt thì càng sáng,
khử đi hết sạch những thứ tạp vật, thì mềm mại,
không thể nào đứt gãy. Lúc đó, thì “tuỳ ý xử
dụng”, tuỳ theo ý của mình muốn làm gì cũng
được, trang nghiêm Phật sự và trang sức tất cả
mọi thứ. Bồ Tát cũng giống như vậy, Ngài tu trị
tất cả pháp môn các địa, trước hết tu hạnh cúng
dường chư Phật, và dùng từ bi, hỉ xả, nhẫn nhục,
tinh tấn .v.v... các Ba la mật để giáo hoá chúng
sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều có thể tu
hành pháp môn Thập địa thanh tịnh nầy. Tất cả
căn lành tu hành, thảy đều đem hồi hướng về quả
địa nhất thiết trí huệ. Công phu tu hành pháp
môn Thập địa, càng ngày càng tiến bộ, càng ngày
càng sáng tịnh. Lúc đó, Bồ Tát chẳng còn chút
phiền não nào cả, lúc nào cũng từ bi hỉ xả, cũng
nhẫn nhục được, thành tựu pháp môn điều nhu nhẫn
nhục, tuỳ ý của mình, muốn dùng pháp môn nào
cũng được.
Các vị đệ tử của Phật ! Tu Bồ Tát
hạnh, đại Bồ Tát tích tụ đủ thứ căn lành, trong
thời kỳ chứng được Hoan Hỉ địa, thì phải nương
theo chư Phật, Bồ Tát và thiện tri thức, không
ngừng nghiên cứu, tư duy, Sơ địa mà Ngài hiện
tại đang tu tập, có những tướng trạng gì, và
tương lai sẽ đắc được quả vị gì! Có sự liên quan
đến việc tu hành pháp môn địa nầy, như có sự
nghi nan, tuỳ thời thưa hỏi chư Phật, đại Bồ
Tát, và thiện tri thức. Ngày ngày như vậy, tinh
cần không giải đãi, cũng chẳng có tâm nhàm mỏi
và tự mãn. Vì muốn thành tựu pháp môn địa thứ
hai, cũng phải nương theo chư Phật, đại Bồ Tát,
và thiện tri thức, nghiên cứu tìm cầu tướng
trạng trong pháp môn địa thứ hai mà tu hành phải
đi qua, và tương lai sẽ đắc được quả vị gì, vì
cầu được giải đáp những nghi nan nầy, chưa từng
sinh tâm nhàm mỏi tự mãn. Vì muốn thành tựu pháp
môn Thập địa, càng phải thâm nhập nghiên cứu,
hướng về chư Phật, đại Bồ Tát, và thiện tri thức
thưa hỏi tướng trạng và sự tu hành phải đi qua,
và quả vị các địa tu đắc được như thế nào về địa
thứ ba, địa thứ tư, địa thứ năm, địa thứ sáu,
địa thứ bảy, địa thứ tám, địa thứ chín, và địa
thứ mười. Như vậy luôn luôn tinh cần tìm cầu,
chưa từng nhàm mỏi và tự mãn, đó đều là vì muốn
thành tựu pháp môn Thập địa. Vị Bồ Tát nầy, Ngài
khéo hiểu biết sự tu hành pháp môn Sơ địa, có
những chướng ngại gì, dùng phương pháp gì để đối
trị; biết làm thế nào tu hành thành tựu pháp
Thập địa, và nguyên nhân tại sao không thể tu
chứng thành công; cũng minh bạch tất cả tướng
trạng tu hành pháp môn Thập địa phải đi qua, và
tương lai có thể chứng được quả vị; cũng biết
phải tu hành như thế nào, mới có thể tiến vào
địa thứ hai. Cũng biết pháp môn Thập địa là vô
thượng thanh tịnh; cũng thể hội được nương vào
thứ tự từng địa, từng địa, tuần tự dần dần tu
hành, từ sơ địa tiến vào pháp môn Thập địa. Cũng
nhận thức được phương pháp tu hành của mỗi địa,
làm thế nào mới là chánh quyết và dùng phương
pháp gì có thể tránh được sự sai lầm. Cũng biết
được trí huệ và hạnh môn đặc biệt của mỗi địa;
cũng chú ý đến mỗi địa đều có bí quyết phòng
tránh để người tu hành không sinh tâm thối
chuyển, cũng khéo biết dùng trí huệ để đối trị
các chướng ngại phát sinh trong lúc tu, để đắc
được sự thanh tịnh, cho đến lần lược đi qua,
chuyển vào Như Lai địa mà thành tựu quả vị Phật.
Phật tử ! Bồ Tát khéo biết tướng
địa như vậy, ban đầu nơi Sơ địa, khởi tu hành
không ngừng, như vậy cho đến vào Địa thứ mười,
không có đoạn tuyệt. Nhờ đó các địa trí huệ
quang minh, nên thành tựu trí huệ quang minh của
Như Lai.
Phật tử ! Ví như chủ buôn, khéo
biết phương tiện, muốn đem các người đi buôn, đi
đến thành lớn, trước khi khởi hành, thì trước
hết hỏi lỗi lầm công đức giữa đường, và chỗ trụ
xứ có an nguy không, sau đó chuẩn bị đầy đủ tư
lương, làm việc đáng làm.
Phật tử ! Đại chủ buôn đó, tuy
chưa khởi hành, mà biết được hết thảy tất cả
việc an nguy giữa đường. Khéo dùng trí huệ suy
lường quán sát, chuẩn bị chu đáo, khiến cho
không thiếu thốn, đem các thương gia đến thành
lớn kia một cách an ổn, mình và mọi người đều
không sầu lo hoạn nạn.
Phật tử ! Bồ Tát chủ buôn cũng
lại như vậy, trụ nơi Sơ địa, khéo biết chướng
các địa để đối trị, cho đến khéo biết tất cả địa
thanh tịnh của Bồ Tát, chuyển vào Như Lai địa.
Sau đó mới đủ phước trí tư lương, đem tất cả
chúng sinh, đi qua nơi sinh tử hoang dã nguy
hiểm, đến thành Tát Bà Nhạ an ổn, mình và chúng
sinh không bị hoạn nạn. Cho nên Bồ Tát thường
không giải đãi, siêng tu tịnh nghiệp thù thắng
của các địa, cho đến nhập vào trí địa của Như
Lai.
Bồ Tát Kim Cang Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát tu hành như
vậy, Ngài biết được mỗi địa có cảnh giới và
tướng trạng khác nhau. Bắt đầu từ Sơ địa, phát
tâm siêng tu pháp môn Thập địa, chưa từng gián
đoạn. Như vậy liên tục tu hành không ngừng,
thẳng đến tiến vào địa thứ mười, chưa từng ngừng
nghỉ. Do đó, các địa đều tu chứng được trí huệ
quang minh, nhờ đó mà thành tựu trí huệ quang
minh giống như đức Phật không khác.
Các vị đệ tử của Phật ! Bây giờ
tôi đưa ra một ví dụ để nói : Có một vị đại chủ
buôn rất thông minh, cũng rất khéo léo vận dụng
phương pháp phương tiện, ông ta mang theo rất
nhiều người buôn, đi đến một thành lớn để buôn
bán. Trước khi khởi hành, ông ta tìm hiểu biết
được rõ ràng lộ trình sẽ đi qua, nơi nào bình
an, và chỗ nào nguy hiểm, chỗ nào nên nghỉ ngơi,
chỗ nào không nên ở lại. Ông ta thấu suốt tình
hình an nguy như vậy rồi, mới kêu mọi người
chuẩn bị tiền tài vật chất và dự bị tất cả những
gì cần dự bị.
Các vị đệ tử của Phật ! Như vậy
vị đại chủ buôn tuy nhiên chưa từng đi qua lộ
trình đó, nhưng ông ta biết rõ hết những sự việc
an nguy trên con đường đó, cho nên ông ta vận
dụng trí huệ quan sát các phương, chuẩn bị chu
toàn, để tránh xảy ra trở ngại thiếu sót phát
sinh ở giữa đường, mới thuận lợi đưa những người
buôn đó đến thành lớn. Như vậy, chính mình và
mọi người đều tránh khỏi sự lo lắng và hoạn nạn.
Các vị đệ tử của Phật ! Bồ Tát
cũng giống như người đại chủ buôn, khi trụ nơi
Sơ địa, thì Ngài biết mỗi địa phải đầy đủ tin
hiểu như vậy, nên dùng phương pháp gì để tu trị,
tiến vào mà biết tất cả các địa của Bồ Tát, tu
hành hạnh thanh tịnh như thế nào, mới có thể
chuyển nhập vào quả vị của Phật. Sau đó, Ngài
rộng tu các Ba la mật, tích tụ tư lương phước
đức trí huệ, giáo hoá chúng sinh, độ chúng sinh
thoát khỏi khoáng dã sinh tử luân hồi, lìa khỏi
nơi nguy hiểm thống khổ, đạt đến thành bằng
phẳng trí huệ an ổn. Chính bản thân mình và
chúng sinh mọi người đều chẳng có sự khổ nạn.
Cho nên Bồ Tát luôn luôn không giải đãi, tinh
tấn siêng tu pháp môn thanh tịnh thù thắng của
mỗi địa, và siêng tích tập các thứ đạo nghiệp,
thẳng đến tiến vào quả vị trí huệ của Phật.
Phật tử ! Đó là lược nói về đại
Bồ Tát, vào môn Bồ Tát Sơ địa, nói rộng thì có
vô lượng vô biên trăm ngàn A tăng kỳ sự việc
khác biệt.
Các vị đệ tử của Phật ! Đó là sơ
lược nói về đại Bồ Tát, chứng nhập tất cả thật
tại tình cảnh trong pháp môn Bồ Tát Sơ địa, nếu
như muốn nói tỉ mỉ, thì vô lượng vô biên sự
tướng khác nhau, không cách chi nói hết được.
Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ Sơ địa
nầy, phần nhiều làm vua cõi Diêm Phù Đề, hào quý
tự tại, thường hộ trì chánh pháp. Hay dùng đại
bố thí nhiếp lấy chúng sinh, khéo trừ san tham
cấu bẩn của chúng sinh. Thường thực hành đại bố
thí không cùng tận. Bố thí, ái ngữ, lợi hành,
đồng sự.
Như vậy tất cả các nghiệp làm ra,
đều không lìa niệm Phật, không lìa niệm Pháp,
không lìa niệm Tăng, không lìa niệm Bồ Tát đồng
hạnh, không lìa niệm Bồ Tát hạnh, không lìa niệm
các Ba la mật, không lìa niệm các địa, không lìa
niệm lực, không lìa niệm vô uý, không lìa niệm
Phật pháp bất cộng, cho đến không lìa niệm đầy
đủ tất cả loại trí huệ nhất thiết chủng trí.
Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ
Tát chứng được quả vị sơ địa, khi trụ tại sơ
địa, thì đa số hay làm vua cõi Diêm Phù Đề (tức
là Chuyển Luân Vương). Hoặc là người đại phú
quý, đời sống rất như ý tự tại, thường luôn luôn
hộ trì chánh pháp. "Hay dùng đại bố thí", thường
thực hành pháp môn đại bố thí, để nhiếp lấy
chúng sinh, cũng biết dùng phương pháp giáo hoá
chúng sinh, trừ khử đi mao bệnh keo kiết và tham
vọng của chúng sinh. Ngài thường rộng tu đại bố
thí không cùng tận. "Bố thí, ái ngữ, lợi hành,
đồng sự", bố thí tài vật, ái ngữ giáo hoá chúng
sinh, trợ giúp chúng sinh, thân tự gần gũi chúng
sinh (dùng bốn pháp nhiếp khiến cho họ thọ đồng
hoá), làm tất cả nghiệp thiện lợi kẻ khác giống
như vậy, đều chưa từng xả bỏ tâm niệm Phật,
Pháp, Tăng Tam Bảo. Cũng chưa từng lìa niệm Bồ
Tát cùng tu hành, cũng chưa từng lìa niệm tu Bồ
Tát hạnh. Cũng chưa từng lìa niệm mười Ba la
mật, cũng chưa từng lìa niệm pháp môn và tướng
trạng mỗi địa trong Thập địa. Cũng chưa từng lìa
niệm tất cả nguyện lực. Cũng chưa từng lìa niệm
bốn vô sở uý của Phật. Cũng chưa từng lìa niệm
mười tám pháp bất cộng của Phật. Cho đến chưa
từng lìa niệm tất cả loại, đại trí huệ nhất
thiết chủng trí của Phật.
Lại nghĩ như vầy : Tôi sẽ ở trong
tất cả chúng sinh, làm thượng thủ, làm thắng,
làm thù thắng, làm diệu, làm vi diệu, làm
thượng, làm vô thượng, làm đạo sư, làm tướng,
làm soái, cho đến làm người y chỉ nhất thiết
trí. Nếu Bồ Tát nầy muốn bỏ nhà, ở trong Phật
pháp, siêng tu hành tinh tấn, thì liền bỏ nhà vợ
con năm dục, nương vào lời dạy của Như Lai, xuất
gia học đạo.
Trụ tại Thập địa -- Bồ Tát hoan
hỉ địa, lại quán tưởng như vầy : "Thượng thủ",
tôi phải ở trong chúng sinh làm người lãnh đạo
họ. "Làm thắng", tôi phải có trí huệ hơn người.
"Làm thù thắng" có tài năng đặc biệt hơn người.
"Làm diệu", có biện tài vô ngại. "Làm vi diệu"
phải khéo dùng lời lẽ vi diệu, khiến cho chúng
sinh lìa tất cả thống khổ mà được tự tại. "Làm
thượng" phải tu tập phước đức toàn mỹ. "Làm vô
thượng" chẳng có ai toàn mỹ hơn tôi. "Làm đạo
sư" tôi phải vì chúng sinh phân biệt pháp nghĩa.
"Làm tướng" khiến cho chúng sinh đắc được chứng
nghĩa, diệt trừ tất cả phiền não. "Làm soái"
khiến cho chúng sinh tiến vào chánh tri chánh
kiến trong trung đạo, làm cho hết thảy chúng
sinh dùng tôi làm người y chỉ trí huệ cho họ.
Khi vị Bồ Tát nầy nghĩ muốn xuất gia, trong thời
kỳ học tập Phật pháp, đặc biệt dũng mãnh tinh
tấn, xả bỏ gia nghiệp thế tục : Vợ, con, và tài,
sắc, danh, ăn, ngủ năm dục. Nương vào lời dạy
của Phật, xuất gia học đạo là thoát khỏi nhà
phiền não, nhà ba cõi (cõi dục, cõi sắc, cõi vô
sắc) phải thoát khỏi nhà ba cõi nầy, mới gọi là
chân chánh xuất gia, mới có thể tu đạo.
Khi xuất gia rồi, siêng tu hành
tinh tấn. Trong khoảng một niệm, đắc được trăm
tam muội, thấy được trăm vị Phật, biết được thần
lực của trăm vị Phật. Chấn động được trăm thế
giới của Phật, có thể qua đến trăm thế giới của
Phật, chiếu đến được trăm thế giới của Phật,
giáo hoá được trăm thế giới chúng sinh, có thể
sống lâu đến trăm kiếp, biết được sự việc trước
sau trăm kiếp, vào được trăm pháp môn, thị hiện
được trăm thân.
Mỗi mỗi thân, thị hiện được trăm
vị Bồ Tát dùng làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện
lực thù thắng của Bồ Tát, tự tại thị hiện, thì
vượt qua số nầy. Trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn
kiếp, cho đến trăm ngàn ức Na do tha kiếp, không
thể tính đếm biết được.
Bấy giờ, Bồ Tát Kim Cang Tạng
muốn thuật lại nghĩa trên, mà nói bài kệ rằng.
Bồ Tát phát tâm bồ đề, xả bỏ nhà
sinh tử phiền não thế tục mà xuất gia, đó là vì
cầu vô thượng chánh đạo, lúc đó Ngài siêng cần
không giải đãi, dũng mãnh tinh tấn tu hành. Ở
trong khoảng một niệm, thì có thể đắc được trăm
ngàn tam muội, tức là trăm ngàn thứ trí huệ
chánh định chánh thọ. Đắc được nhiều tam muội
như vậy, cũng thấy được trăm ngàn vị Phật trong
mười phương thế giới. Thấy được Phật rồi, cũng
biết được sức thần thông của những vị Phật đó,
có thể dùng thần thông khiến cho thế giới của
Phật trong mười phương sáu thứ chấn động. Sức
thần thông của Ngài có thể vượt qua trăm thế
giới của Phật trong mười phương, quang minh của
Ngài cũng chiếu sáng trăm thế giới của Phật.
Cũng ở trong một niệm, giáo hoá nhiều chúng sinh
trong trăm thế giới của Phật. Thọ mạng của Ngài
có thể sống lâu đến một trăm kiếp, biết được tất
cả sự việc trước sau hàng trăm kiếp. Vào sâu
được hết thảy trăm pháp môn. Thị hiện được rất
nhiều hoá thân, mà mỗi hoá thân, lại có thể hiện
hoá ra trăm Bồ Tát, để làm quyến thuộc cho Ngài.
Nếu như dùng công đức và nguyện lực đặc biệt của
Bồ Tát, thì Ngài càng thị hiện biến hoá tự tại,
vượt qua trăm kiếp, thậm chí ngàn kiếp, trăm
ngàn kiếp, trăm ngàn ức Na do tha kiếp, không
thể dùng sự tính toán mà biết được.
Lúc đó, Bồ Tát Kim Cang Tạng muốn
thuật lại nghĩa lý ở trên vừa nói, bèn dùng kệ
để nói.
Nếu người tu các thiện
Đầy đủ pháp trắng tịnh
Cúng dường đấng Trời Người
Tuỳ thuận đạo từ bi.
Bồ Tát tu tập hạnh môn, và tích
tập đủ thứ căn lành. Vì căn lành công đức đầy đủ
rồi, thì trừ khử sạch tất cả mọi nhiễm ô, tức là
pháp thanh tịnh không có sự nhiễm ô. Ngài cúng
dường vô lượng số các vị Phật, lại thường dùng
từ bi hỉ xả bốn tâm vô lượng để giáo hoá chúng
sinh.
Tin hiểu rất rộng lớn
Chí thích cũng thanh tịnh
Vì cầu trí huệ Phật
Phát tâm vô thượng nầy.
Tâm tin và năng lực hiểu biết của
Ngài, đều rộng lớn phi thường, chí nguyện và sự
ưa thích làm, cũng đều thanh tịnh. Vì cầu được
trí huệ giống như Phật, mà phát đủ thứ đạo tâm
bồ đề vô thượng.
Tịnh sức nhất thiết trí
Cùng với vô sở uý
Thành tựu các Phật pháp
Cầu nhiếp chúng quần sinh.
Thanh tịnh hết thảy sức trí huệ,
và dùng tinh thần đại vô sở uý, thành tựu đủ thứ
pháp môn của chư Phật nói, cứu độ nhiếp thọ
những chúng sinh khổ nạn.
Vì được đại từ bi
Và chuyển bánh xe pháp
Nghiêm tịnh cõi nước Phật
Phát tâm tối thắng nầy.
Vì đắc được tâm đại từ bi, và
chuyển tất cả bánh xe pháp thù thắng (tức là
rộng diễn nói đại thừa chánh pháp đối với chúng
sinh) dùng tâm đại từ bi cứu nhiếp chúng sinh,
và diễn nói công đức Phật pháp đại thừa, để
trang nghiêm thanh tịnh cõi nước của Phật. Vì
mục đích nầy mà Bồ Tát phát tâm bồ đề tối thù
thắng.
Một niệm biết ba đời
Mà không có phân biệt
Đủ thứ thời khác nhau
Thị hiện nơi thế gian.
Một niệm biết được quá khứ, vị
lai, hiện tại ba đời, mà không có sự phân biệt,
đây là dùng trí huệ để biết, chẳng phải dùng
thức để phân biệt. Vì thời gian ba đời khác
nhau, cho nên thị hiện nơi thế gian.
Lược nói cầu chư Phật
Tất cả thắng công đức
Phát sinh tâm rộng lớn
Lượng đồng cõi hư không.
Sơ lược nói chút ít về Thánh đạo
vô thượng và công đức thù thắng của chư Phật, Bồ
Tát phát tâm nguyện rộng lớn như vậy đồng với hư
không.
Bi trước huệ làm chủ
Phương tiện cùng tương ưng
Tin hiểu tâm thanh tịnh
Như Lai vô lượng lực.
Dùng tâm đại từ bi làm hàng đầu,
dùng trí huệ làm chủ thể. Hành tất cả phương
pháp phương tiện thiện xảo, để tương ưng với
Phật pháp. Dùng tâm tin hiểu thanh tịnh, đắc
được vô lượng thần thông lực của Như Lai.
Trí vô ngại hiện tiền
Tự ngộ không do người
Đầy đủ đồng Như Lai
Phát tâm tối thắng nầy.
Đắc được trí huệ vô ngại rồi, lại
đắc được trăm ngàn vạn tam muội, đây chẳng phải
do người khác ban cho, mà là do mình tu trì
chứng ngộ. Đủ thứ trí huệ và thần lực thù thắng
đó, đều giống như đức Phật, Bồ Tát phát tâm bồ
đề thù thắng như vậy.
Phật tử sơ phát tâm
Tâm diệu báu như vậy
Liền vượt bậc phàm phu
Vào chỗ hành của Phật.
Phật tử vừa mới phát tâm bồ đề,
tâm báu kiên cố giống như kim cang, thì khác với
phàm phu. Vượt khỏi địa vị phàm phu, tiến vào
con đường thực hành của Phật.
Sinh vào nhà Như Lai
Chủng tộc không tì vết
Đều bình đẳng với Phật
Quyết thành vô thượng giác.
Bồ Tát chứng được Hoan Hỉ địa,
tức là đã sinh vào gia tộc của Phật, là chủng
tộc cao quý, chẳng phải bần cùng hạ tiện. Chủng
tộc nầy có thể nói chẳng có chút nhiễm ô cấu bẩn
nào. Tất cả đều giống như đức Phật, tương lai
nhất định sẽ thành Phật.
Vừa sinh tâm như vậy
Liền được vào Sơ địa
Chí thích không thể động
Ví như núi chúa lớn.
Bồ Tát mới vừa phát khởi tâm bồ
đề và tâm từ bi, lập tức chứng nhập được Hoan Hỉ
địa. Chí nguyện và sự thích làm của Ngài đều là
hành Bồ Tát đạo, ai cũng không thể cản trở hoặc
phá hoại Ngài được, giống như núi Tu Di chúa,
nguy nga hùng vĩ không bị lay động.
Nhiều vui nhiều ưa thích
Và cũng nhiều tịnh tín
Tâm dũng mãnh rất lớn
Cùng với tâm mừng rỡ.
Bồ Tát chứng được Hoan Hỉ địa
rồi, luôn luôn đều hoan hỉ, Ngài ái hộ chúng
sinh, ưa thích gần gũi chúng sinh. Đồng thời
cũng không giải đãi sự tu tập hạnh môn thanh
tịnh, mà có tâm tin hiểu kiên cố đối với Phật
pháp. Phát tâm tinh tấn dũng mãnh phi thường,
lại sinh khởi tâm hoan hỉ mừng rỡ.
Xa lìa sự đấu tranh
Não hại và sân hận
Kính thẹn mà chất trực
Khéo giữ gìn các căn.
Bồ Tát chứng được quả vị Hoan Hỉ
địa rồi, thì tự nhiên chẳng còn tâm kiêu ngạo
thích đấu tranh, mọi việc cũng chẳng tranh luận
với ai, cũng chẳng não hại, và sân hận với người
khác. Chỉ có tâm Bồ Tát thành khẩn hổ thẹn mà
cung kính, chất phát, ngay thẳng. Ngài khéo giữ
gìn sáu căn của mình, không để cho phóng dật.
Cứu đời không ai bằng
Hết thảy các trí huệ
Nơi đây tôi sẽ được
Nghĩ nhớ sinh hoan hỉ.
Bồ Tát đạo cứu độ khắp chúng
sinh, ngoài trừ đức Phật ra, chẳng có ai bằng
Ngài được. Hết thảy trí huệ của Phật, tôi đều
phải chứng đắc được. Bồ Tát thường nghĩ nhớ đến
Tam Bảo, và tất cả chúng sinh, nên sinh ra tâm
đại hoan hỉ.
Khi được vào Sơ địa
Vượt khỏi năm điều sợ
Không sống, chết, tiếng xấu
Đường ác, oai đức chúng.
Khi Bồ Tát chứng nhập Hoan Hỉ
địa, thì xa lìa khỏi năm điều sọ hãi:
1. Sợ không sống được nữa.
2. Sợ chết.
3. Sợ người khác phỉ báng.
4. Sợ đầu thai vào ba đường ác.
5. Sợ oai đức của đại chúng.
Dùng không tham chấp ta
Cùng với những của ta
Cho nên các Phật tử
Xa lìa các sợ hãi.
Những điều sợ hãi sinh ra, đều do
tham chấp vào cái ta, nếu phá được cái ta, thì
còn có gì để sợ ? Và còn có những gì của ta, tức
là tâm tham ái, thấy những gì cũng đều là của
ta. Buông bỏ được cái ta và của ta, thì sẽ minh
bạch tất cả đều là không. Đệ tử Phật học Phật
pháp, thì nên xả bỏ cái ta và của ta, thì tự
nhiên sẽ xa lìa những điều sợ hãi nầy.
Thường hành đại thương xót
Luôn có tin cung kính
Hổ thẹn công đức đủ
Ngày đêm tăng pháp lành.
Thường thường hành đại từ đại bi,
thương xót chúng sinh. Luôn luôn có tâm tin
thanh tịnh thành khẩn, cung kính Tam Bảo. Lúc
nào cũng có tâm hổ thẹn tất cả, thì công đức sẽ
đầy đủ, như vậy thì ngày đêm sẽ tăng trưởng pháp
lành.
Pháp vui lợi chân thật
Không ưa thọ các dục
Suy gẫm pháp nghe được
Xa lìa hạnh chấp lấy.
Hoan hỉ Phật pháp là lợi ích chân
thật, thì không hoan hỉ năm dục. Luôn luôn suy
gẫm quán tưởng ý nghĩa chân thật của Phật pháp
đã nghe được, thì sẽ xa lìa tất cả hành vi ái và
chấp lấy.
Không tham lam lợi dưỡng
Chỉ thích Phật bồ đề
Một lòng cầu trí Phật
Chuyên cần không nghĩ khác.
Không tham đồ danh văn lợi dưỡng,
chỉ hoan hỉ học tập Phật pháp, chứng được đại
đại bồ đề vô thượng. Chỉ một lòng mong cầu được
trí huệ giống như Phật, tinh cần chuyên nhất,
không sinh hai lòng, không khởi niệm khác.
Tu hành Ba la mật
Xa lìa nịnh hư dối
Như nói mà tu hành
An trụ trong lời thật.
Mong cầu được trí huệ giống như
Phật, thì phải tu tập mười Ba la mật. Càng phải
xa lìa tâm nịnh bợ, tâm hư vọng, và tâm dối trá.
Nhất định phải thiết thực y chiếu theo phương
pháp của Phật nói mà tu hành, thì an nhiên trụ ở
trong lời thật không nói dối.
Không nhơ nhà chư Phật
Không bỏ giới bồ đề
Không thích việc thế gian
Thường lợi ích thế gian.
Người học Phật pháp, phải thường
như lý mà tu hành, hộ trì Tam Bảo, không làm
việc ô uế nơi cửa Phật, không làm bại hoại gia
phong của Như Lai, khiến cho chúng sinh một khi
thấy được thì sinh tâm cung kính Tam Bảo, quy y
cửa Phật. Lúc nào cũng phải giữ gìn giới Bồ Tát
đã chế ra, mười giới trọng bốn mươi tám giới
khinh. Không ưa thích việc ác năm dục của thế
gian, phải thường làm việc lành có lợi thế gian,
có ích cho chúng sinh.
Tu thiện không nhàm đủ
Siêng cầu đạo tăng thắng
Ưa pháp tốt như vậy
Nghĩa công đức tương ưng.
Tu hành
pháp lành không lúc nào ngừng, chẳng có sự nhàm
chán đầy đủ. Như vậy ngày càng dũng mãnh tinh
tấn, siêng tu thiện đạo thù thắng vô thượng.Ưa
thích Phật pháp tốt như vậy, thì công đức nhất
định sẽ tương ưng với Phật pháp.
Luôn
khởi tâm nguyện lớn
Nguyện
thấy các đức Phật
Hộ trì
pháp chư Phật
Nhiếp
lấy đạo Đại Tiên.
Thời
thường sinh khởi tâm chí nguyện lớn, hy vọng
thường thường thấy được chư Phật mười phương ba
đời. Lại phải phát nguyện hộ trì pháp của chư
Phật nói, nhiếp lấy Phật đạo của chư Phật (đạo
Đại Tiên tức là đạo Phật).
Thường
sinh nguyện như vậy
Tu hành
hạnh tối thắng
Thành
thục các quần sinh
Nghiêm
tịnh cõi nước Phật.
Thời
thường phát tâm nguyện như vậy, tu hành hạnh thù
thắng nhất, khiến cho tất cả chúng sinh đều
thành thục căn lành, tu hành đắc được sự thành
tựu. Tương lai nhất định đều sẽ thành Phật,
trang nghiêm hết thảy cõi nước chư Phật trong
mười phương ba đời.
Tất
cả cõi chư Phật
Phật tử
đều đầy dẫy
Bình
đẳng cùng một lòng
Chỗ làm
không luống qua.
Hết thảy
thế giới và vô lượng vô biên cõi Phật, đệ tử của
Phật đều đầy dẫy trong đó (Phật tử là chỉ Bồ
Tát). Những Bồ Tát đó đều một lòng một dạ cứu độ
chúng sinh, những gì họ tu hành đều không luống
uổng, nhất định sẽ thành tựu và được công đức
như nguyện.
Tất
cả đầu sợi lông
Một thời
thành Chánh Giác
Các
nguyện lớn như vậy
Vô lượng
không bờ mé.
Cảnh giới của Bồ Tát viên dung không chướng
ngại, phát nguyện tu hành nơi tất cả đầu sợi
lông, độ sinh, làm đại Phật sự, mọi người có thể
cùng một thời thành Phật quả, chuyển bánh xe
pháp. Cảnh giới nguyện lớn không thể nghĩ bàn
như vậy, vô lượng vô biên không thể độ lượng
được.
Hư
không và chúng sinh
Pháp
giới với Niết Bàn
Thế gian
Phật ra đời
Tâm trí
Phật cảnh giới.
Hư không
và chúng sinh đều không thể cùng tận, pháp giới
và Niết Bàn cũng không thể cùng tận như nhau,
trên thế giới có Phật ra đời cũng không thể dự
biết được, cảnh giới trí huệ và tâm của Phật là
không thể nghĩ bàn.
Chỗ
trí Như Lai vào
Cùng với
ba chuyển tận
Nếu cả
ba đó tận
Nguyện
của tôi mới tận.
Trí huệ
của Phật đắc được và cõi hư không tận, cõi chúng
sinh tận, cõi phiền não tận, nếu những điều nầy
đều cùng tận, thì nguyện của tôi mới cùng tận.
Như
đó không cùng tận
Tôi
nguyện cũng như thế
Phát
nguyện lớn như vậy
Tâm nhu
nhuyến điều thuận.
Giống
như ở trước nói : cõi hư không, cõi phiền não,
pháp giới đều không cùng tận, cho nên tâm nguyện
của tôi cũng không có lúc nào cùng tận. Phát
nguyện lớn không thể nghĩ bàn nầy rồi, rộng lớn
vô biên, nguyện lớn không thể hạn lượng, thì tâm
tự nhiên nhu hoà, tự tại, an tường.
Hay
tin công đức Phật
Quán sát
nơi chúng sinh
Biết do
nhân duyên sinh
Liền
khởi tâm từ bi.
Chúng ta người học Phật, trước hết phải nhận
thức rõ ràng tông chỉ học Phật, phản tỉnh một
phen rằng có thật chân chánh tin Phật hay không,
có tin Phật có vô lượng công đức chăng? Đức Phật
chắc chắn có vô lượng công đức, vì đức Phật
trong đời quá khứ rộng tu đại bố thí -- Nội tài
: Đầu, mắt, tuỷ, não, xương máu; ngoại tài : Đất
nước vợ con, tất cả khó xả mà xả bỏ được. Chúng
ta tin Phật có vô lượng công đức, thì phải
thường theo Phật học, cũng phải làm đủ thứ đại
bố thí, cho nên phải quán sát tất cả chúng sinh.
Chúng sinh là nhân duyên hoà hợp mà sinh, trong
vô lượng kiếp quá khứ, có quan hệ thân thuộc với
chúng ta, hoặc đã từng làm cha con, mẹ con, anh
em, chị em, vợ chồng, bạn bèn .v.v... đó đây có
lưới nghiệp giao thức, luân chuyển trong luân
hồi. Minh bạch sự quan hệ nầy rồi, thì nên sinh
khởi tâm từ bi, cứu hộ họ, khiến cho chúng sinh
đều lìa khổ được vui.
Chúng
sinh khổ như vậy
Nay tôi
phải cứu thoát
Vì các
chúng sinh đó
Mà hành
các bố thí.
Chúng
sinh thống khổ như vậy, vĩnh viễn luân hồi trong
sáu nẻo, sống rồi chết không thể thoát ra khỏi.
Hiện tại Bồ Tát đã minh bạch đạo lý nầy, nên
phải cứu độ chúng sinh ra khỏi biển khổ. Vì cứu
những chúng sinh thọ khổ nầy, mà rộng tu đủ thứ
sự bố thí.
Ngôi
vua và châu báu
Cho đến
xe voi ngựa
Đầu mắt
và chân tay
Cho đến
thân máu thịt.
Ngôi vua
và bảy báu của tôi, đủ thứ châu báu quý giá,
cùng với voi trắng lớn tốt đẹp, ngựa đi ngàn
dặm, xe báu, các thứ ngoài thân. Hoặc cái đầu
tôn quý, mắt, tay, chân, máu, trong thân thể,
thịt ở bề ngoài, đủ thứ nội tài khó xả bỏ, chẳng
có chút gì mà không bố thí được.
Tất
cả đều xả được
Tâm
không buồn hối tiếc
Cầu đủ
thứ kinh thư
Tâm Ngài
không nhàm mỏi.
Tất cả
nội tài và ngoại tài, tôi cũng đều bố thí được.
Bố thí rồi, trong tâm không có chút hối tiếc nào
mà xả bỏ không được. Các vị học Phật ! Chúng ta
là người học Phật, phải học tất cả hạnh của
Phật. Tin Phật, thì phải tin pháp của Phật nói –
lý, y giáo phụng hành. Học tinh thần của Phật
khó xả bỏ mà xả bỏ được, rộng tu bố thí. Bồ Tát
tụng niệm đủ thứ Kinh điển, trì Chú, tu hành,
tâm không thấy khác, nghĩ lệch lạc, hoặc nhàm
chán mỏi mệt. Còn ý nghĩa tụng Kinh, trì Chú là
khử vọng tồn chân, khiến cho sáu căn quy về
thanh tịnh chuyên nhất, tâm lành sinh khởi.
Khéo
hiểu nghĩa thú đó
Hay
thuận theo thế gian
Hổ thẹn
tự trang nghiêm
Tu hành
càng kiên cố.
Tụng
Kinh trì Chú là vì minh bạch tất cả đạo lý, khi
tụng Kinh, có thể thu nhiếp tâm ý lại, tài bồi
định lực. Kế tiếp dụng đến pháp thế gian lợi ích
chúng sinh. Thường thường phải phản tỉnh hành vi
lỗi lầm của mình, mà sinh tâm hổ thẹn. Dùng sự
giác ngộ thanh tịnh, và tâm thành thật để cảnh
sách vị lai, làm các điều lành, tích tụ công
đức, trang nghiêm chính mình. Hay sinh tâm đại
hổ thẹn, phát tâm đại bồ đề, tu hành đạo bồ đề
vô thượng, tâm tin càng ngày càng tăng trưởng,
càng kiên cố.
Cúng
dường vô lượng Phật
Cung
kính mà tôn trọng
Thường
tu tập như vậy
Ngày đêm
không giải đãi.
Tâm tin
của Bồ Tát ngày càng kiên cố, rộng tu cúng dường
mười phương chư Phật. Không những cúng dường, mà
còn cung kính và tôn trọng chư Phật. Tu tập như
vậy đời đời kiếp kiếp không gián đoạn, ngày đêm
sáu thời cũng không giải đãi nhàm mỏi.
Căn
lành càng sáng tịnh
Như lửa
luyện vàng thật
Bồ Tát
trụ nơi đây
Tịnh tu
nơi Thập địa.
Bồ Tát
tu hành không giải đãi như vậy, thì căn lành
càng ngày càng sáng xủa thanh tịnh. Giống như
thợ vàng chuyên dùng lửa để luyện vàng, cứ luyện
lần nầy rồi lần nữa, cho đến lúc không còn chút
tạp chất nào tồn tại nữa, thì cuối cùng biến
thành thuần vàng. Khi Bồ Tát trụ tại Sơ địa, thì
công phu tu hành cũng không ngừng nghỉ, tu tập
pháp môn Thập địa thanh tịnh vô vi. Biết rõ cảnh
giới Thập địa rồi, thì cuối cùng mới đắc được
quả vị Thập địa.
Chỗ
làm không chướng ngại
Đầy đủ
không đoạn tuyệt
Ví như
đại chủ buôn
Vì lợi
các nhà buôn.
Hỏi biết
đường hiểm dễ
An ổn
đến thành lớn.
Bồ Tát
hành Bồ Tát đạo, tu tất cả việc lành, diệt tất
cả điều ác, cho nên xử sự tiếp vật chẳng có gì
chướng ngại. Đã đầy đủ trí huệ quang minh, thì
hạt giống Phật vĩnh viễn không đoạn tuyệt. Ví
như người đại chủ buôn, vì lợi ích nhiều người
đi buôn, cùng đi với mọi người đến chỗ xa làm ăn
buôn bán, ông ta phải biết rõ tình hình an nguy
trên đường đi, để chuẩn bị chu toàn, thì mọi
người mới an ổn đến được chỗ muốn đến.
Bồ
Tát trụ Sơ địa
Nên biết
cũng như vậy.
Dũng
mãnh không chướng ngại
Đến nơi
Địa thứ mười
Trụ
trong Sơ địa nầy
Làm chủ
đại công đức.
Khi Bồ
Tát trụ tại Sơ địa tu hành, cũng như vậy, phải
hiểu rõ cảnh giới của các địa, và sự chứng đắc
quả vị, mới có thế đạt đến được quả vị Phật.
Trong tất cả quá trình thời gian nầy, phải dũng
mãnh tinh tấn siêng tu học, chẳng có chút chướng
ngại gì, thẳng đến địa thứ mười Pháp Vân địa,
đều không có chướng ngại phát sinh. Trụ tại Hoan
Hỉ địa -- Bồ Tát Sơ địa, làm chủ đại công đức,
lãnh đạo hết thảy Bồ Tát hướng về trước tu hành.
Dùng
pháp dạy chúng sinh
Tâm từ
không tổn hại
Thống
lãnh cõi Diêm Phù
Đều giáo
hoá hết thảy.
Khiến
trụ nơi đại xả
Thành
tựu Phật trí huệ
Muốn cầu
đạo tối thắng
Bỏ ngôi
vua của mình.
Bồ Tát
làm chủ công đức, ở cõi Diêm Phù Đề thường làm
Luân Vương, dùng Phật pháp giáo hoá tất cả chúng
sinh. Hoá độ chúng sinh trước hết phải có tâm từ
bi, tuyệt đối không có tâm làm tổn hại chúng
sinh. Lại thường hành bố thí, cứu tế chúng sinh.
Bồ Tát làm vua cõi Nam Diêm Phù Đề, lãnh đạo
chúng sinh, biến tất cả phong tục xấu trên thế
giới thành phong khí tốt. Giáo hoá chúng sinh tu
trì năm giới, Bát quan trai giới, tu học chánh
pháp thập thiện. Lại giáo hoá chúng sinh tu tập
pháp môn bố thí, diệt trừ tham xẻn chướng ngại,
thường trụ ở trong đại hỉ xả, khiến cho hết thảy
chúng sinh cũng đắc được trí huệ như Phật. Bồ
Tát tự cầu Phật đạo tối thù thắng, cũng dạy
chúng sinh cầu Thánh đạo vô thượng. Vì cầu Phật
đạo thanh tịnh thù thắng, mà Ngài xả bỏ địa vị
ngôi vua, để xuất gia tu đạo.
Hay
ở trong Phật giáo
Dũng
mãnh siêng tu tập
Liền
được trăm tam muội
Và thấy
trăm vị Phật.
Chấn
động trăm thế giới
Quang
chiếu cũng trăm cõi
Hoá trăm
cõi chúng sinh
Vào
trong trăm pháp môn.
Biết
được việc trăm kiếp
Thị hiện
làm trăm thân
Và hiện
trăm Bồ Tát
Dùng để
làm quyến thuộc.
Bồ Tát
tu Bồ Tát hạnh, cầu Bồ Tát đạo, xả bỏ ngôi vua,
xuất gia tu phạm hạnh, ở trong sự giáo hoá của
Phật, đặc biệt Ngài hiển được sự dũng mãnh tinh
tấn, chuyên cần tu tập các thứ pháp môn của Phật
nói, có thể ở trong một niệm đắc được trăm chánh
định (tam muội), cũng ở trong một niệm, thấy
được trăm thế giới của chư Phật. Cảnh giới tu
chứng đó, chấn động trăm thế giới, và có sáu thứ
chấn động. Quang minh cũng chiếu sáng đến trăm
thế giới, và cũng chiếu soi tất cả chúng sinh ở
trong đó. Giáo hoá chúng sinh trong trăm thế
giới, khiến cho họ đều tiến vào trăm thứ pháp
môn. Lúc đó, Bồ Tát biết được tất cả sự việc
trong trăm kiếp ba đời – quá khứ, vị lai, và
hiện tại. Lại có thể thị hiện biến hoá ra trăm
thứ thân hình, mỗi thân hình lại có thể biến hoá
ra trăm hình tướng Bồ Tát, để làm quyến thuộc,
để trợ giúp Ngài hoằng pháp lợi sinh.
Nếu
nguyện lực tự tại
Quá số
đó vô lượng
Tôi ở
trong địa nghĩa
Lượt
thuật chút ít phần.
Nếu muốn
phân biệt rộng
Ức kiếp
nói không hết
Bồ Tát
đạo tối thắng
Lợi ích
các quần sinh.
Pháp Sơ
địa như vậy
Nay tôi
đã nói xong.
Nếu như
những nguyện lực của các đại Bồ Tát đã đạt đến
viên dung vô ngại, thì công đức và cảnh giới của
các Ngài, đương nhiên vượt trội hơn công đức và
cảnh giới của Bồ Tát Sơ địa vừa nói ở trên,
không cách chi nói hết được. Khi tôi giảng về
nghĩa lý Sơ địa, thì chỉ nói sơ lược chút ít,
nếu muốn nói nghĩa lý, tướng trạng, cảnh giới,
một cách tỉ mỉ, thì e rằng trải qua trăm ngàn ức
kiếp cũng không cách chi nói hết được. Bồ Tát tu
hành Bồ Tát đạo thù thắng nhất, tông chỉ chủ yếu
nhất của Bồ Tát là lợi ích chúng sinh, tự lợi
lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác tha. Tôi -
Bồ Tát Kim Cang Tạng, hiện tại đã giảng sơ lược
xong về pháp môn Sơ địa.
|