|
QUYỂN HAI MƯƠI BỐN
PHẨM THẬP HỒI HƯỚNG
THỨ HAI MƯƠI LĂM PHẦN HAI
Hồi
hướng bất hoại thứ hai.
Phật
tử ! Thế nào là hồi hướng bất
hoại của đại Bồ Tát ?
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát nầy, ở chỗ các
Như Lai quá khứ hiện tại vị lai,
được niềm tin bất hoại. Vì đều
có thể thừa sự tất cả chư Phật.
Nơi các Bồ Tát, cho đến ban đầu
phát một tâm niệm, cầu nhất
thiết trí, được niềm tin bất
hoại. Vì thệ nguyện tu tất cả
căn lành của Bồ Tát chẳng có
nhàm mỏi. Nơi tất cả Phật pháp,
được niềm tin bất hoại. Vì phát
chí nguyện thâm sâu. Nơi tất cả
Phật giáo, được niềm tin bất
hoại, vì thủ hộ trụ trì. Nơi tất
cả chúng sinh, được niềm tin bất
hoại, vì dùng mắt từ bi bình
đẳng, quán sát căn lành hồi
hướng lợi ích khắp tất cả chúng
sinh.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng giảng xong
hồi hướng thứ nhất rồi, tiếp tục
giảng hồi hướng thứ hai. Các vị
đệ tử của Phật ! "Thế nào là hồi
hướng bất hoại của đại Bồ Tát ?"
"Thế nào" là từ hỏi han đối với
đại chúng, dùng lời bình thường
để nói, tức là "Gì gọi là hạnh
môn hồi hướng không thể phá hoại
của đại Bồ Tát tu hành ?" Ở
trong Sớ Sao giải thích hai chữ
"Bất hoại", nói: "Quán tất cả
pháp, chỉ có danh có dụng, đây
là về sự. Niệm niệm chẳng trụ,
sát na vô thường, cho nên gọi là
bất hoại, đây là lý bất hoại.
Biết căn lành hồi hướng, đều có
thể thông sự sự vô ngại, mới là
thật bất hoại".
Bồ
Tát Kim Cang Tràng đề ra vần đề
nầy rồi, lại gọi một tiếng các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát nầy tu hạnh môn hồi hướng
bất hoại, Ngài ở chỗ Phật quá
khứ, chỗ Phật vị lai, chỗ Phật
hiện tại, chỗ đạo tràng của ba
đời chư Phật, nghe được các pháp
của chư Phật nói, như lý tu
hành, đắc được tâm tin kiên cố
như kim cang, vĩnh viễn không
thể bị bất cứ thiên ma ngoại đạo
nào có thể phá hoại được tâm tin
của Ngài. Khi Ngài ở chỗ đạo
tràng của chư Phật mười phương
ba đời, Ngài đối với mỗi vị Phật
đều tận tâm hết mình, cung kính
hầu hạ vui vẻ thừa sự cúng
dường, cho nên Ngài có được căn
lành sâu dày, đây cũng là tâm
tin kiến cố của Ngài chẳng bị
sức lực bên ngoài phá hoại được.
Hơn nữa, chẳng những Ngài đối
với chư Phật có thành tâm tin
thọ như thế, mà dù đối với hết
thảy Bồ Tát, thậm chí đối với
những người mới phát một tâm
niệm bồ đề, Ngài cũng đều sinh
tâm cung kính như nhau. Bồ Tát
bao quát Thanh, Văn Duyên Giác,
các bậc Thánh hàng nhị thừa,
cùng với tất cả chúng sinh, đã
phát tâm, đang phát tâm. Ðại Bồ
Tát tu hạnh hồi hướng bất hoại,
Ngài chỉ hy vọng đắc được nhất
thiết trí, đắc được tâm tin kiên
cố chẳng bị bất cứ cảnh giới nào
phá hoại. Cho nên Ngài phát thệ
nguyện lớn, nhất định phải phải
tu tập đủ thứ căn lành của tất
cả Bồ Tát tu, Ngài vĩnh viễn
chẳng mỏi mệt, chẳng nhàm chán,
ngày đêm chẳng giải đãi, tinh
tấn siêng tu căn lành, tích tập
đầy đủ công đức, đây cũng là
nguyên nhân Bồ Tát có thể đắc
được niềm tin không thể hoại.
Bồ
Tát đối với tất cả Phật pháp, sở
dĩ mà đắc được tâm tin kiên cố
không thể phá hoại, là vì Bồ Tát
phát tâm đại bồ đề, chí nguyện
cầu tất cả pháp lạc. Bồ Tát đối
với giáo lý của chư Phật, chân
thật thông đạt, cũng bảo hộ, trụ
trì chánh pháp của chư Phật, cho
nên đắc được tâm tin kiên cố
không thể hoại. Bồ Tát đối với
tất cả chúng sinh, Ngài cũng có
tâm tin không thể hoại, không
chán ghét, không xả bỏ, Ngài
thương xót chúng sinh không có
trí huệ, bị vô minh che đậy, cho
nên Ngài dùng tâm từ bi, bình
đẳng, quán sát căn lành của tất
cả chúng sinh, để vì chúng sinh
hồi hướng, vì muốn lợi ích khắp
hết thảy chúng sinh.
Nơi
tất cả pháp trắng tịnh, được
niềm tin bất hoại, vì khắp tu
tập vô biên các căn lành. Nơi
tất cả đạo hồi hướng của Bồ Tát,
được niềm tin bất hoại, vì đầy
đủ các dục giải thù thắng. Nơi
tất cả Bồ Tát pháp sư, được niềm
tin bất hoại, vì nơi các Bồ Tát
khởi tưởng Phật. Nơi tất cả tự
tại thần thông của Phật, được
niềm tin bất hoại, vì tin sâu
chư Phật khó nghĩ bàn. Nơi tất
cả hạnh phương tiện thiện xảo
của Bồ Tát, được niềm tin bất
hoại, vì nhiếp lấy đủ thứ vô
lượng vô biên hạnh cảnh giới.
Pháp
bạch tịnh: Tức là pháp thanh
tịnh. Bồ Tát đối với Phật pháp
thanh tịnh chẳng nhiễm ô, Ngài
đã đắc được tín căn không có lực
bên ngoài nào có thể phá hoại
được, là vì Ngài khắp tích tụ đủ
thứ vô biên vô số căn lành. Ngài
lại đối với đạo lý pháp môn hồi
hướng của Bồ Tát, đã tu thành
tựu, cũng đắc được niềm tin
không thể hoại, tin sâu không
nghi. Ðây là vì Ngài hiểu rõ
pháp môn hồi hướng thù thắng,
đầy đủ dục vọng mong cầu của
Ngài. Ngài đối với những Bồ Tát
pháp sư hành Bồ Tát đạo, thì
Ngài cũng rất tôn kính, tín
ngưỡng, đắc được tín căn bất
hoại. Vì đối với những Bồ Tát
pháp sư đó, trong tâm của Ngài
nghĩ họ đều là Phật quá khứ,
Phật hiện tại, và Phật vị lai.
Chư Phật đều có thần thông tự
tại không thể nghĩ bàn, phàm phu
bình thường căn lành cạn mỏng,
không tin mà sinh ra nhiều sự
hoài nghi. Song, vị Bồ Tát đó
được tín căn kiên cố bất hoại,
vì Ngài tin sâu chư Phật đều có
thần thông tự tại không thể nghĩ
bàn. Ngài tơ hào chẳng hoài
nghi, vì chẳng phải là người
bình phàm, có thể dùng tâm để
tưởng tượng, hoặc dùng lời lẽ để
diễn đạt. "Thần thông tự tại",
là nói chẳng những có thần
thông, mà còn nhậm vận tự tại,
chẳng bị hạn chế, vận dụng toại
tâm như ý, mới gọi là tự tại.
Thần thông là từ trong sự tu trì
thanh tịnh mà đắc được, nó là vì
lợi ích chúng sinh, lúc cần thì
mới phương tiện khéo léo để vận
dụng, chứ chẳng phải đem ra
huyễn hoặc người. Bồ Tát đối với
các vị Bồ Tát hành Bồ Tát đạo,
sở hành pháp môn phương tiện
thiện xảo của các Ngài, cùng với
đủ thứ sự thị hiện, Ngài cũng
tin sâu không thay đổi. Bồ Tát
vì rộng độ chúng sinh, có lúc
cũng thị hiện người ác, làm việc
xấu để cảm hoá người. Bồ Tát
biết rõ phương tiện khéo léo
nầy, cho nên Ngài chẳng bị bất
cứ cảnh giới nào mà thay đổi
niềm tin. Bồ Tát dùng tín căn
bất hoại của Ngài, nhiếp lấy đủ
thứ vô lượng vô số hạnh môn và
tất cả cảnh giới.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát an trụ vào niềm
tin bất hoại như vậy, thì nơi
chư Phật Bồ Tát, Thanh Văn, Độc
Giác, hoặc các Phật giáo, hoặc
các chúng sinh. Trong đủ thứ
cảnh giới như vậy, gieo trồng
các căn lành, vô lượng vô biên.
Khiến cho tâm bồ đề, lại càng
tăng trưởng. Từ bi rộng lớn,
bình đẳng quán sát. Tuỳ thuận tu
học chỗ làm của chư Phật. Nhiếp
lấy tất cả căn lành thanh tịnh,
vào nghĩa chân thật. Tu tập hạnh
phước đức, hành bố thí lớn. Tu
các công đức, bình đẳng quán sát
ba đời.
Các
vị đệ tử của Phật ! Khi đại Bồ
Tát an trụ ở trong tín căn bất
hoại, thì Ngài đối với mười
phương chư Phật, Bồ Tát, hàng
Thánh nhị thừa Thanh Văn, Duyên
Giác, cùng với các Phật giáo, và
đủ thứ chúng sinh, đều có cảnh
giới khác nhau, Bồ Tát ở trong
những cảnh giới khác nhau như đã
nói ở trên, hành Bồ Tát đạo,
gieo trồng vô lượng vô biên đủ
thứ căn lành. Là vì Ngài khiến
cho tâm bồ đề của mình càng tăng
trưởng, càng ngày càng hướng về
sự viên mãn, đồng thời cũng
khiến cho tâm bồ đề của tất cả
chúng sinh càng ngày càng tăng
trưởng. Tâm từ bi của Bồ Tát
rộng lớn như pháp giới, thường
dùng tâm bình đẳng để quán sát
chúng sinh trong pháp giới. Tuỳ
thuận căn tính của chúng sinh,
tu học tất cả pháp môn của chư
Phật tu, làm công đức của chư
Phật làm. Ngài cũng nhiếp lấy
hết thảy tất cả chúng sinh căn
lành thanh tịnh, vì phải có căn
lành thanh tịnh, thì mới vào
được trong nghĩa lý chân thật.
Tu tập hạnh môn phước đức, thì
phải hành bố thí rộng lớn khắp,
bình đẳng ban cho tất cả chúng
sinh. Bồ Tát tu tập đủ thứ công
đức như vậy, bình đẳng quán sát
ba đời chư Phật, và mười phương
ba đời các đại Bồ Tát cũng tu
tập căn lành công đức như vậy,
đầy đủ viên mãn, thành tựu Phật
quả.
Đại
Bồ Tát đem căn lành công đức như
vậy, hồi hướng nhất thiết trí.
Nguyện thường thấy chư Phật, gần
gũi bạn lành, cùng nhau ở chung
với các Bồ Tát.
Ðại
Bồ Tát đem căn lành gieo trồng
trong mỗi cảnh giới, và đử thứ
công đức tu tập được, thảy đều
hồi hướng về nhất thiết trí huệ
và thệ nguyện mà Ngài đã phát.
Hy vọng thường thấy được mười
phương chư Phật, hy vọng thường
gặp được đại thiện tri thức, hy
vọng thường cùng tu ở chung với
các đại Bồ Tát.
Nhớ
nhất thiết trí, tâm không tạm
rời. Thọ trì Phật giáo, siêng
năng thủ hộ. Giáo hoá thành thục
tất cả chúng sinh. Tâm thường
hồi hướng đạo xuất thế. Cúng
dường hầu hạ tất cả pháp sư.
Hiểu rõ các pháp, nhớ trì không
quên. Tu đại hạnh nguyện, đều
khiến cho đầy đủ.
Bồ
Tát tu pháp môn hồi hướng bất
hoại, tâm nguyện hy vọng đắc
được nhất thiết trí, bất cứ lúc
nào cũng không tạm xả bỏ quên
được. Ðạo lý của chư Phật nói,
Ngài đều lãnh ngộ nơi tâm, trì
nơi thân, thời thời khắc khắc
đều siêng năng dụng tâm thủ hộ.
Ngài ở trước Phật được thọ sự
giáo hoá, lãnh ngộ chân lý, lại
dùng để giáo hoá tất cả chúng
sinh, khiến cho tất cả chúng
sinh cũng đều lãnh thọ được,
thấu hiểu các pháp, đạt đến giai
đoạn thành thục. Tuy nhiên Bồ
Tát một mặt nhập thế giáo hoá
chúng sinh, nhưng Ngài chẳng bị
pháp thế gian ràng buộc, một mặt
trong tâm thường nhớ đến tu pháp
môn thanh tịnh xuất thế, đem căn
lành công đức tu tập được hồi
hướng về Phật đạo xuất thế. Bồ
Tát cung kính chư Phật, đồng
thời cũng cung kính những Bồ Tát
pháp sư thế Phật tuyên dương
Phật pháp. Ngài cũng gần gũi hầu
hạ những vị Bồ Tát pháp sư,
chẳng có chút tâm phân biệt và
tâm kiêu mạn nào. Bồ Tát đối với
các pháp đều thấu rõ thông đạt
vô ngại, chiếu rõ các pháp thật
tướng. Ðối với Kinh điển, cũng
đều ghi nhớ không quên, thọ trì
không giải đãi. Ngài tu hành đại
nguyện mà Ngài đã phát, hy vọng
đều viên mãn đầy đủ. Ðại nguyện
của Bồ Tát đã phát, tức là bốn
thệ nguyện lớn:
1. Chúng sinh vô biên thệ nguyện
độ.
2. Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn.
3. Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học.
4. Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành.
Bốn thệ nguyện lớn nầy, bao quát
tự lợi lợi tha, viên mãn Phật
quả. Bồ Tát phát tâm bồ đề, hành
Bồ Tát đạo, thì tôn chiếu theo
bốn thệ nguyện lớn nầy, chẳng
tính thời gian kiếp số, chẳng
lựa xứ sở, chẳng chọn đối tượng,
không hỏi thu hoạch, chỉ lo
trồng trọt. Tu tập căn lành công
đức không sợ gian nan khốn khổ
như vậy, cuối cùng sẽ thành tựu
bồ đề. Vị đại Bồ Tát nầy tu hồi
hướng bất hoại, cũng là thường
tu hành nguyện lớn, đều khiến
cho viên mãn.
Bồ
Tát tích tập căn lành như vậy,
thành tựu căn lành, suy gẫm căn
lành, hệ niệm căn lành, phân
biệt căn lành, ưa thích căn
lành, tu tập căn lành, an trụ
căn lành.
Phương
pháp giống như ở trên đã nói, Bồ
Tát tu tập Phật pháp, rộng trồng
căn lành, khắp làm công đức giáo
hoá độ sinh tế khổ, chẳng tính
việc lành lớn nhỏ, dùng tác pháp
tích ít thành nhiều, tự thô
thành tế, từ cạn đến sâu. Ngài
chưa từng xả bỏ việc thiện mà
không làm, giống như tích tụ
nhiều hạt bụi mà thành quả núi
cao, cho nên nói Bồ Tát là từ
tích tập căn lành mà làm nên. Ý
nghĩa tích tập là vốn chẳng có,
hiện tại từng chút từng chút
tích tập thành nhiều. Vì tích tụ
nhiều căn lành, cho nên thành
tựu căn lành lớn, do đó trước
hết phải "tích tập căn lành",
sau đó mới có thể "thành tựu căn
lành". Thành tựu được căn lành
lớn, thì sẽ tăng trưởng tất cả
căn lành. Vì căn lành dần dần
tăng trưởng, thì đương nhiên nó
càng ngày càng lớn lên. Tăng
trưởng căn lành và tích tập căn
lành, lại có nhiều lý khác nhau:
Tích tập là vốn chẳng có, về sau
do tu hạnh lành, từng chút từng
chút tích tập thành. Tăng trưởng
là đã có rồi mà còn rất lớn,
hiện tại vì siêng tu căn lành,
thì căn lành lại càng sâu dày.
Nghiệp lành tín căn vốn đã rất
nhiều rất lớn, lại càng tăng
thêm nhiều, cho nên hiển được
càng to lớn. Muốn tăng trưởng
căn lành, thì phải luôn luôn suy
gẫm các pháp. Suy gẫm tức là
công phu tu tập thiền định. Ðịnh
hay sinh huệ, hành giả tu hạnh
Bồ Tát, tu công đức lục độ, mỗi
độ không thể không có trí huệ để
chỉ dẫn. Cho nên Bồ Tát phát tâm
tu hành, thời thời đừng quên cầu
trí huệ vô thượng, tức là cần
trí huệ để hướng dẫn vạn hạnh.
Do Bồ Tát phải tu thiền định,
phải có căn lành suy gẫm. Suy
gẫm các pháp của chư Phật nói,
chân lý của các pháp, thật
tướng, suy gẫm hạnh môn của chư
Phật tu, suy gẫm công đức của
chư Phật. Suy gẫm và hệ niệm có
sự quan hệ mật thiết với nhau.
Hệ niệm tức là đừng quên, đem
tất cả chân lý chánh đạo có ý
nghĩa đều ấn sâu vào trong biển
não, tuỳ thời hệ niệm chẳng
quên, quên rồi cũng không thể
suy gẫm. Hệ niệm căn lành, phải
từ từ, giống như dùng sợi dây
thừng buộc nó lại. Tụ tập hết
thảy căn lành lại với nhau, vĩnh
viễn chẳng gián đoạn, suy gẫm hệ
niệm đủ thứ căn lành.
Phân
biệt căn lành: Sự phân biệt nầy,
chẳng phải có tâm thành kiến
phân biệt tốt xấu, mà là đắn đo
nghiệp lành nặng nhẹ hoãn cấp mà
nói. Bồ Tát dụng trí huệ của
Ngài để phán đoán, sự việc gì
nên làm trước, thì mau đi làm.
Việc nào ít quan trọng hơn, thì
từ từ đi làm, cho nên phải phân
biệt căn lành nặng nhẹ.
Ưa
thích căn lành: Sự ưa thích của
Bồ Tát, cũng chẳng phải tâm Ngài
ích kỷ ưa thích. Những gì Bồ Tát
làm, mục đích đều vì chúng sinh.
Bồ Tát ưa thích quán sát chúng
sinh, tuỳ thuận chúng sinh mà tu
tập căn lành, chúng sinh ưa
thích tu trước, sau đó phải từ
từ tu. Thành tựu căn lành công
đức như vậy, tức là "ưa thích
căn lành". Chúng sinh hoan hỉ,
tức là Bồ Tát hoan hỉ.
An
trụ căn lành: Bồ Tát tu tu tập
đủ thứ căn lành, tâm niệm của
Ngài thường thường quán chiếu
những căn lành đó, chẳng khiến
cho tán mất. Tư duy hệ niệm,
siêng tu chẳng giải đãi.
Đại
Bồ Tát tích tập căn lành như vậy
rồi. Nhờ căn lành đó, mà đắc
được y báo, tu hạnh Bồ Tát. Ở
trong niệm niệm thấy vô lượng
Phật, thừa sự cúng dường.
Ðại
Bồ Tát, giống như Kinh văn ở
trước đã nói, tu tập từng chút,
từng chút, hết thảy đủ thứ căn
lành rồi, do những căn lành công
đức đó, mà đắc được thắng báo
hồi hướng, sau đó nương thắng
báo mà tu hạnh Bồ Tát. Ở trong
mỗi niệm, niệm niệm đều có thể
thấy được tận hư không khắp pháp
giới vô lượng chư Phật trong
mười phương. Như chỗ Ngài nghĩ
muốn, phải thừa sự cúng dường
chư Phật, đều như nguyện gần gũi
cúng dường.
Dùng
A tăng kỳ châu báu. A tăng kỳ
hoa. A tăng kỳ tràng hoa. A
tăng kỳ y phục. A tăng kỳ lọng.
A tăng kỳ tràng. A tăng kỳ phan.
A tăng kỳ đồ trang nghiêm. A
tăng kỳ kẻ hầu hạ. A tăng kỳ đồ
thoa nghiêm sức. A tăng kỳ hương
thoa. A tăng kỳ hương bột. A
tăng kỳ hoà hương. A tăng kỳ
hương đốt. A tăng kỳ tin sâu. A
tăng kỳ ưa thích. A tăng kỳ tịnh
tâm. A tăng kỳ tôn trọng. A tăng
kỳ hoan hỉ. A tăng kỳ lễ kính. A
tăng kỳ toà báu. A tăng kỳ toà
hoa. A tăng kỳ toà hương. A tăng
kỳ toà tràng hoa. A tăng kỳ toà
chiên đàn. A tăng kỳ toà y phục.
A tăng kỳ toà kim cang. A tăng
kỳ toà ma ni. A tăng kỳ báu
thêu. A tăng kỳ toà báu sắc. A
tăng kỳ nơi kinh hành trải báu.
A tăng kỳ nơi kinh hành rải hoa.
A tăng kỳ nơi kinh hành rải
hương. A tăng kỳ nơi kinh hành
trải man. A tăng kỳ nơi kinh
hành rải y. A tăng kỳ nơi kinh
hành báu xen lẫn. A tăng kỳ nơi
kinh hành rải tất cả báu lụa. A
tăng kỳ nơi kinh hành tất cả cây
báu đa la. A tăng kỳ nơi kinh
hành tất cả lan can báu. A tăng
kỳ nơi kinh hành tất cả lưới
linh báu che phủ. A tăng kỳ tất
cả cung điện báu. A tăng kỳ tất
cả cung điện hoa. A tăng kỳ tất
cả cung điện hương. A tăng kỳ
tất cả cung điện tràng hoa. A
tăng kỳ tất cả cung điện chiên
đàn. A tăng kỳ tất cả cung điện
kiên cố diệu hương tạng. A tăng
kỳ tất cả cung điện kim cang. A
tăng kỳ tất cả cung điện ma ni.
Thảy đều thù thắng vi diệu, vượt
hơn chư Thiên.
"A
tăng kỳ" là danh từ số mục ở Ấn
Ðộ, là số lớn nhất, ý nghĩa là
vô lượng số. Vị Bồ Tát tu hồi
hướng bất hoại trong thập hồi
hướng, Ngài ở trong niệm niệm
thấy được vô lượng số chư Phật,
thừa sự chư Phật, cúng dường chư
Phật. Ngài đem vô lương số báu
vật cúng dường chư Phật. Ðem vô
lượng số hoa quý, cúng dường chư
Phật. Ðem vô lượng số tràng hoa,
cúng dường chư Phật. Ðem vô
lượng số y báu, cúng dường chư
Phật. Ðem vô lượng số lọng hoa
trân báu, cúng dường chư Phật.
Ðem vô lượng số tràng báu, cúng
dường chư Phật. Ðem vô lượng số
phan báu, cúng dường chư Phật.
Ðem vô lượng số đủ thứ đồ trang
nghiêm, cúng dường chư Phật. Ðem
vô lượng số người hầu hạ, cúng
dường chư Phật, để làm thị giả.
Lại đem vô lượng số đồ thoa
nghiêm sức tốt đẹp, cúng dường
chư Phật, dùng đồ thoa nghiêm
sức mặt đất đạo tràng, khiến cho
mặt đất phát ra ánh sáng, hương
thơm. Lại đem vô lượng số hương
thoa danh quý, cúng dường chư
Phật, thoa nơi chân tay của
Phật. Lại đem vô lượng số hương
bột, mỗi thứ hương trộn lại với
nhau, đốt lên trong lư hương,
cúng dường chư Phật. Bồ Tát đem
vật chất tốt nhất trên thế gian
cúng dường chư Phật, dùng số
lượng nhiều nhất, một chút cũng
chẳng keo kiệt, thành tâm cúng
dường, nhưng Ngài vẫn cảm thấy
dùng vật chất cúng dường, không
đủ viên mãn.
Lại
đem vô lượng vô biên tâm tin
thâm sâu, không thể tả ví dụ,
sung mãn sự ưa thích, tâm ý
thanh tịnh không nhiễm, sự thành
ý tôn trọng vô thượng, tâm hoan
hỉ thành phục, lễ kính năm vóc
sát đất, tuỳ thời đều thừa sự
chư Phật, cúng dường chư Phật.
Lại đem vô lượng số toà báu làm
bằng bảy báu, cúng dường chư
Phật. Như toà hoa, toà hương,
toà tràng hoa, toà chiên đàn,
toà y, toà kim cang, toà ma ni,
toà báu lụa, toà báu sắc .v.v...
Nơi kinh hành là chỗ người tu
hành dùng cơm xong đi bộ. Chạy
hương cũng gọi là kinh hành, đạo
tràng tu hành, cũng gọi là nơi
kinh hành. Lại thiết kế kiến
trúc đủ thức đủ dạng, chỗ đi
kinh hành trong nhà ngoài nhà.
Ðủ thứ nơi kinh hành đó, như
dùng mỗi thứ bảo thạch để trang
trí, hoa quý la liệt, đầy dẫy
hương thơm, man báu trang sức, y
phục bày la liệt, vô lượng mỗi
thứ đá báu xen lẫn, tất cả lụa
báu, đủ màu sắc chói sáng nghiêm
sức loà mắt, mỗi thứ cây báu đa
la che rợp, lan can bằng bảy
báu. Còn dùng các loại trân báu
thêu thành lưới linh, che phủ ở
trong không trung. Như vậy thiết
kế kiến tạo vô lượng nơi kinh
hành, để cúng dường chư Phật đi
kinh hành. Còn có vô lượng vô số
cung điện tốt đẹp, như cung điện
báu, cung điện hoa, cung điện
hương, cung điện tràng hoa, cung
điện chiên đàn, cung điện vừa
kiên cố, lại có hương tạng
thượng diệu ở trong, cung điện
kim cang, cung điện châu báu ma
ni .v.v... Ðủ thứ vật cúng dường
vô thượng thù thắng như thế,
cúng dường chư Phật, tất cả hết
thảy sự trang nghiêm đều vượt
hơn cung điện của chư Thiên.
A
tăng kỳ cây các tạp báu. A tăng
kỳ cây đủ thứ hương. A
tăng kỳ cây các y báu. A tăng kỳ
cây các âm nhạc. A tăng kỳ cây
đồ trang nghiêm báu. A tăng kỳ
cây diệu âm thanh. A tăng kỳ cây
tơ lụa báu. A tăng kỳ cây ngọc
báu. A tăng kỳ cây tất cả hoa,
hương, tràng, phan, lọng, nghiêm
sức. Các thứ cây như vậy che
mát, trang nghiêm cung điện.
Bồ
Tát lại dùng vô lượng số các thứ
cây tạp báu, đủ thứ cây hương,
cây y phục khác nhau, cây âm
nhạc, các thứ cây trân báu trang
nghiêm, còn có cây có thể vang
ra âm thanh vi diệu. Lại có vô
lượng số cây dùng châu báu đủ
các màu sắc để nghiêm sức, khiến
cho người thấy liền sinh tâm
hoan hỉ. Vô lượng số cây tơ lục
báu trang nghiêm. Còn có vô
lượng số cây dùng đá ngọc làm
vòng trang nghiêm trên cây, gió
thối lay động, vang ra âm thanh
vi diệu. Còn có vô lượng số cây
trên thân nghiêm sức hương hoa
vi diệu, tràng báu, phan báu,
lọng báu .v.v... những thứ đồ
trang nghiêm đẹp lạ. Vô lượng số
cây nghiêm sức rất nhiều các thứ
báu như vậy, mỗi cây đều toả ra
ánh sáng, chiếu soi lẫn nhau.
Cành lá cây sum sê che mát,
trang nghiêm cung điện, dùng để
cúng dường Phật.
Các
cung điện đó, lại có A tăng kỳ
mái hiên trang nghiêm. A tăng kỳ
cửa sổ trang nghiêm. A tăng kỳ
cửa chính trang nghiêm. A tăng
kỳ lầu các trang nghiêm. A tăng
kỳ hình bán nguyệt trang nghiêm.
A tăng kỳ trướng trang nghiêm. A
tăng kỳ lưới vàng che phủ ở
trên. A tăng kỳ hương thơm xông
khắp mọi nơi. A tăng kỳ y phục
bày khắp mặt đất.
Các
cung điện nguy nga hùng vĩ đó,
có vô lượng số mái hiên. Có vô
lượng số cửa sổ, cửa lớn thông
với nhau. Có vô số lầu các trang
nghiêm tốt đẹp. Lại có vô số cửa
nẻo, lan can, ao nước, vườn hoa
.v.v...hình bán nguyệt khắp các
nơi. Lại có vô lượng số các thứ
man trướng treo giăng tứ phía.
Lại có vô lượng số lưới vàng
giăng phủ ở trên không, để trang
nghiêm. Và dùng hương thơm quý
xông ở khắp mọi nơi, khiến cho
tâm thanh tịnh. Lại dùng vô
lượng số y phục cõi trời bày
khắp trên mặt đất, giống như
hiện tại trải thảm tốt đẹp ở
trong cung vua.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát dùng các thứ đồ
cúng dường như thế, trong vô
lượng vô số kiếp bất khả thuyết
bất khả thuyết, tâm thanh tịnh
tôn trọng, cung kính cúng dường
tất cả chư Phật, luôn luôn không
thối chuyển, chẳng có ngừng
nghỉ. Sau khi mỗi mỗi Như Lai
diệt độ rồi, hết thảy xá lợi,
cũng đều cung kính cúng dường
như thế.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát,
Ngài dùng đủ thứ vô lượng số các
châu báu trân kỳ, hương hoa
tràng phan man lọng, cung điện
lầu các như thế .v.v…để cúng
dường mười phương chư Phật.
Chẳng những Ngài cúng dường như
thế, mà còn ở trong bất khả
thuyết kiếp, Ngài vẫn luôn luôn
dùng tâm thanh tịnh chí thành
tôn trọng cung kính như vậy,
cúng dường mười phương chư Phật.
Niệm niệm liên tục luôn luôn
không thay đổi của Bồ Tát như
vậy, chẳng có thối chuyển. Tinh
tấn tu học, cũng chưa từng cảm
thấy mệt mỏi, mà thường tinh tấn
chẳng muốn nghỉ ngơi. Bồ Tát
kiền thành cúng dường chư Phật
như thế, khi mỗi mỗi vị Phật vào
Niết Bàn rồi, hết thảy xá lợi
của Phật, Bồ Tát cũng cung kính
cúng dường giống như chư Phật.
Vì
khiến cho tất cả chúng sinh,
sinh niềm tin thanh tịnh. Vì tất
cả chúng sinh nhiếp căn lành. Vì
tất cả chúng sinh lìa các khổ.
Vì tất cả chúng sinh hiểu biết
rộng lớn. Vì tất cả chúng sinh
dùng đại trang nghiêm mà trang
nghiêm. Vì vô lượng trang nghiêm
mà trang nghiêm. Vì chỗ làm các
cõi được rốt ráo. Vì biết chư
Phật ra đời, rất khó được gặp.
Vì đầy đủ vô lượng lực của Như
Lai. Vì trang nghiêm cúng dường
chùa tháp Phật. Vì trụ trì pháp
của tất cả chư Phật. Cúng dường
chư Phật hiện tại như vậy, và
hết thảy xá lợi sau khi chư Phật
diệt độ. Cúng dường như vậy
trong A tăng kỳ kiếp, nói không
thể hết được.
Khi
Bồ Tát tu pháp môn bất hoại hồi
hướng, ở trong vô lượng kiếp,
luôn luôn dùng vô lượng đồ cúng
dường thượng diệu cúng dường chư
Phật, đem căn lành tu tập, thảy
đều hồi hướng cho chúng sinh. Vì
hy vọng chúng sinh đắc được pháp
ích, sinh ra tâm tin thanh tịnh,
có thể nhiếp thọ căn lành. Chẳng
những hết thảy căn lành của mình
tu tập, cũng có thể nhiếp thọ
những chúng sinh ít căn lành, mà
với những chúng sinh giữa thiện
và ác, cũng khiến cho họ đều
tiếp thọ được sự giáo hoá,
chuyển biến thành chúng sinh
thuần thiện nghiệp. Tất cả chúng
sinh lãnh thọ được sự lợi ích
hồi hướng của Bồ Tát, chẳng quên
tu căn lành, ngày càng tăng
thêm, vĩnh viễn lìa các khổ, đắc
được pháp lạc chân thật. Lại có
thể khiến cho tất cả chúng sinh
đắc được trí huệ rộng lớn, thấu
hiểu được tất cả cá pháp, vĩnh
viễn nhớ được chánh đạo, siêng
tu căn lành. Lại hy vọng tất cả
chúng sinh phát tâm bồ đề rộng
lớn, tu tập căn lành, đem công
đức đó, để trang nghiêm đạo
tràng và chư Phật. Dùng căn lành
công đức tu tập, vô lượng trang
nghiêm, để trang nghiêm căn lành
của mình, cũng trang nghiêm Phật
đạo. Những gì tất cả chúng sinh
làm được, cũng hy vọng họ có thể
như lý như pháp, đắc được viên
mãn rốt ráo. Bồ Tát Ngài biết
chư Phật xuất hiện ra đời, rất
khó gặp được, cho nên Ngài phải
siêng tu căn lành, hy vọng sẽ
viên mãn đầy đủ thần lực giống
như Phật. Vì vậy, cho nên Bồ Tát
Ngài phải dùng căn lành công đức
tu tập, để trang nghiêm đạo
tràng của chư Phật, thừa sự chư
Phật, cúng dường chư Phật, và
chùa tháp của chư Phật, mà tu
hồi hướng bất hoại, chẳng phải
vì mình, mà là vì tất cả chúng
sinh và hộ trì Phật pháp. Bồ Tát
cúng dường mười phương chư Phật
hiện tại như thế, và hết thảy xá
lợi của chư Phật, sau khi chư
Phật diệt độ. Vị đại Bồ Tát đó
tu hồi hướng bất hoại, công đức
mà Ngài cúng dường chư Phật hết
kiếp thuở vị lai cũng nói không
hết được. Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng bất hoại, là đại Bồ Tát
mới có thể tu tập. Cũng phải có
công đức tương đương với vị Bồ
Tát nầy, mới có thể phát tâm như
vậy, mới có thể dùng vô lượng vô
biên sự cúng dường thù thắng như
thế, để cúng dường chư Phật.
Giống như bốn chúng đệ tử chúng
ta ban đầu phát tâm bồ đề, tuy
nhiên không thể có sự cúng dường
như thế, để cúng dường chư Phật,
chúng ta cũng phải phát tâm đại
bồ đề, tâm bồ đề rộng lớn, để
cúng dường mười phương chư Phật.
Tu
tập vô lượng công đức như vậy,
đều vì thành thục tất cả chúng
sinh, chẳng có thối chuyển,
chẳng có ngừng nghỉ, chẳng có
nhàm mỏi, chẳng có chấp trước,
lìa các tâm tưởng. Chẳng có y
chỉ, vĩnh viễn đoạn trừ chỗ
nương tựa. Xa lìa cái ta, và của
ta. Pháp ấn như thật, ấn các
nghiệp môn. Đắc được pháp vô
sinh, trụ chỗ Phật trụ. Quán sát
tánh vô sanh, ấn các cảnh giới.
Chư Phật hộ niệm, phát tâm hồi
hướng.
Bồ
Tát giống như ở trên đã nói, tu
tập tất cả căn lành công đức hồi
hướng bất hoại. Cứu kính tại sao
Bồ Tát tu hồi hướng bất hoại ?
Mục đích của Ngài là gì ? Vì Bồ
Tát muốn thành thục tất cả chúng
sinh, mục đích của Ngài là muốn
khiến cho tất cả chúng sinh đều
đắc được giải thoát. Do đó trong
sự tiến trình tu hành, Ngài phát
thệ nguyện lớn, dũng mãnh tinh
tấn, chẳng sợ gian khổ, chẳng
ngại gian nan, vĩnh viễn chẳng
sinh tâm thối chuyển, vĩnh viễn
chẳng giải đãi, vĩnh viễn chẳng
nghỉ ngơi, vĩnh viễn chẳng cảm
thấy mệt mỏi, vĩnh viễn chẳng
sinh tâm kiêu ngạo tự mãn. Bồ
Tát luôn luôn không nghỉ ngơi
như thế, đem công đức tu tập hồi
hướng cho chúng sinh, khiến cho
chúng sinh cũng sớm chóng thành
thục căn lành công đức. Khi Bồ
Tát hồi hướng thì Ngài dùng tâm
bình đẳng hồi hướng khắp, chẳng
chấp vào sự thương ghét, chẳng
phân biệt người thân kẻ sơ. Ngài
đã lìa tướng, lìa chấp trước,
lìa tâm tư ý niệm, hồi hướng về
cho hết thảy chúng sinh. Ngài
chẳng y chỉ, chẳng cần nương
tựa. Vì Bồ Tát đã thấu đạt cái
ta là không, cho nên Ngài vĩnh
viễn đoạn tuyệt ý niệm nương
tựa. Chẳng còn quan niệm về cái
ta, cũng chẳng còn tâm ích kỷ
thuộc về của ta. Nguyện thứ chín
trong mười nguyện lớn của Bồ Tát
Phổ Hiền có nói là: Hằng thuận
chúng sinh. Tại sao phải hằng
thuận chúng sinh ? Vì tu hạnh Bồ
Tát, đại Bồ Tát hành Bồ Tát đạo,
Ngài muốn viên mãn công đức của
Ngài, thành tựu bồ đề giác đạo
của Ngài, thì phải ở tại nơi
thân chúng sinh, sinh tâm đại
bi, dùng sự an vui của chúng
sinh, làm an vui của chính mình,
dùng sự thống khổ của chúng
sinh, làm sự thống khổ của mình,
phát nguyện muốn cứu bạt tất cả
chúng sinh thoát khỏi biển khổ,
được an vui rốt ráo. Bồ Tát vì
muốn độ chúng sinh, luôn luôn
chẳng tiếc thân vào trong biển
khổ, muốn chúng sinh nghe sự
giáo hoá của Ngài. Ví như có
chúng sinh điêu ngoa nói với
Ngài: "Ngươi muốn độ ta ư ! Vậy
thì trước hết ngươi phải theo ta
xuống địa ngục thọ khổ, sau đó
ta sẽ theo ngươi xuất gia". Bồ
Tát vì muốn độ chúng sinh điêu
ngoa đó, Ngài tơ hào chẳng do dự
tuỳ thuận họ xuống địa ngục,
thậm chí thọ khổ. Cuối cùng cảm
hoá được chúng sinh điêu ngoa
đó, dẫn kẻ đó ra khỏi địa ngục,
khiến cho họ phát tâm bồ đề,
xuất gia tu đạo. Ðây tức là Bồ
Tát chẳng có cái ta, tuỳ thuận
chúng sinh, xa lìa sự tác pháp
của mình. Chẳng riêng gì Ngài
chẳng có quan niệm về chủ tể cái
ta, mà cho đến sự chấp trước
cũng đã diệt trừ. Bồ Tát đã
thông đạt hiểu rõ đạo lý các
pháp chân thật. Ðạo lý chân thật
đó, tức là diệu pháp, chẳng
động, chẳng thay đổi. Giống như
cái ấn tỉ của hoàng đế, bất cứ ở
đâu, việc gì, cũng đều thông
hành chẳng có sự trở ngại. Ðó có
thể chứng minh là chánh pháp của
Phật, chư Phật cùng nhau ấn khả,
tâm tâm truyền với nhau, mới có
thể gọi là pháp ấn. Dùng pháp ấn
nầy, ấn chứng đủ thứ nghiệp sinh
khởi những nhân tố khác nhau,
nghiệp báo đắc được có biệt loại
khác nhau. Khi Bồ Tát đạt đến
cảnh giới nầy, thì Ngài liền
biết đạo lý của pháp vô sinh,
tức gọi là vô sinh pháp nhẫn.
Phẩm vị của Ngài, đã có thể trụ
chỗ Phật trụ. Nghĩa là Ngài có
thể bình đẳng với Phật, liệt vào
Phật số. Bồ Tát quán sát các
pháp, biết:
"Các pháp chẳng tự sinh
Cũng chẳng từ nó sinh.
Chẳng cùng chẳng không nhân
Thế nên biết không sinh".
Kết quả đắc được, tin sâu các
pháp là không sinh. Dùng kết
luận quán sát của Ngài, ấn chứng
tính chân thật của các pháp,
đồng thời dùng đạo lý vô sinh
của các pháp, ấn chứng đủ thứ
cảnh giới khác nhau. Bồ Tát thấu
rõ các pháp như huyễn như hoá,
thân tâm thái nhiên, lai vãng
trong ba cõi, chẳng có khổ tham
dục ràng buộc. Phương tiện khéo
léo, độ chúng sinh thoát khỏi
khổ ách. Giai đoạn tu hành nầy
của Bồ Tát, đều có thể đắc được
chư Phật hộ niệm, bảo hộ và Phật
lực gia trì. Bồ Tát càng thêm
phát tâm, dùng căn lành công đức
tu tập hồi hướng cho chúng sinh,
hồi hướng bồ đề, hồi hướng thật
tế.
Hồi
hướng tương ưng với các pháp
tánh. Phương tiện hồi hướng nhập
vào pháp không làm, thành tựu
chỗ làm. Phương tiện hồi hướng
xả lìa chấp trước tất cả các sự
tướng. Thiện xảo hồi hướng trụ
nơi vô lượng. Hồi hướng vĩnh
viễn thoát khỏi tất cả các cõi.
Thiện xảo hồi hướng tu hành các
hạnh, chẳng trụ nơi tướng. Hồi
hướng nhiếp khắp tất cả căn
lành. Hồi hướng thanh tịnh khắp
tất cả các hạnh rộng lớn của Bồ
Tát. Hồi hướng phát tâm vô
thượng bồ đề. Hồi hướng với tất
cả căn lành đồng trụ. Hồi hướng
đầy đủ tâm tin hiểu tối thượng.
Nội
dung phát tâm tu hồi hướng của
Bồ Tát, đại khái có thể phân ra
làm hai phương diện:
Thứ
nhất: Lìa tướng hồi hướng, giống
như:
1. Tương ưng với lý tính chân
thật của các pháp, tức là có thể
khế hợp với hồi hướng lý sự.
2. Có thể vào nơi không chỗ tác
pháp, mà có thể thành tựu sở tác
phương diện hồi hướng.
3. Ðối với tưởng hợp của tất cả
sự tình, đều lìa bỏ, dùng đủ thứ
phương tiện tuỳ duyên hồi hướng.
4. An trụ ở trong vô lượng thiện
xảo hồi hướng để hồi hướng, tức
là hồi hướng có định lực, có trí
huệ, không bị cảnh giới lay
chuyển, mà có thể rất căn trí
chuyển dịch cảnh giới.
5. Hồi hướng vĩnh viễn thoát
khỏi tất cả các cõi, tức là
khiến cho chúng sinh vĩnh viễn
thoát khỏi ba cõi.
6. Dùng thiện xảo phương tiện
hồi hướng, giáo hoá chúng sinh
tu hành các thứ pháp môn, và
khiến cho chúng sinh biết chân
lý không chấp trước vào tướng.
Thứ
hai: Tuỳ tướng hồi hướng, giống
như hồi hướng căn lành khắp
nhiếp thọ tất cả chúng sinh. Lại
hồi hướng phát tâm đại bồ đề tối
cao vô thượng. Nguyện cùng với
tất cả đồng tu tập căn lành,
vĩnh viễn chẳng thối chuyển, đem
căn lành nầy hồi hướng cho chúng
sinh. Hồi hướng hy vọng viên mãn
đầy đủ tâm tin kiên cố tối
thượng, tâm hiểu lý vào sâu tạng
Kinh. Bồ Tát đem căn lành công
đức tu học của hai phương diện
nầy, hồi hướng cho tất cả chúng
sinh, hồi hướng về vô thượng bồ
đề giác đạo, hồi hướng về thật
tế chân lý.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát đem các căn
lành, hồi hướng như vậy. Tuy tuỳ
sinh tử, mà chẳng thay đổi. Cầu
nhất thiết trí, chưa từng thối
chuyển. Ở nơi các cõi, tâm chẳng
động loạn, đều độ thoát tất cả
chúng sinh. Không nhiễm pháp hữu
vi, chẳng mất trí vô ngại. Bồ
Tát hạnh vị, nhân duyên vô tận,
các pháp thế gian không thể biến
động. Ðầy đủ thanh tịnh các Ba
La Mật, đều thành tựu nhất thiết
trí lực. Bồ Tát lìa các si tối
như vậy, thành tựu tâm bồ đề,
khai thị quang minh, tăng trưởng
pháp thanh tịnh, hồi hướng thắng
đạo, đầy đủ các hạnh.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng giảng quá
trình tu hành pháp môn hồi hướng
bất hoại, giảng đến đây thì,
Ngài vì đề cao sự chú ý của
thính chúng trong pháp hội, bèn
gọi một tiếng các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ Tát, Ngài đem đủ
thứ căn lành tu tập, hồi hướng
như ở trong Kinh đã nói ở trên,
tuy nhiên thân thể của Ngài tuỳ
thuận sinh tử mà sinh tử, lưu
chuyển ở trong sinh tử, lưu
chuyển tới lui, nhưng tâm tin
của Ngài kiên cố, có thể tuỳ
duyên mà không thay đổi, không
thay đổi mà tuỳ duyên. Thuỷ
chung không thay đổi chí nguyện
tâm bồ đề đã phát ra. Bồ Tát cứu
độ chúng sinh, thì thân phải
nhập vào trong chúng sinh, cho
nên Ngài phải tuỳ sinh tử của
chúng sinh mà sinh tử, bất quá
Bồ Tát Ngài trôi theo sự sinh
tử, nhưng khác với sự sinh tử
của chúng sinh. Chúng sinh thì
tuỳ nghiệp lực mà trôi nổi ở
trong sinh tử, Bồ Tát thì nương
nguyện lực mà vào dòng sinh tử
cứu độ chúng sinh. Cho nên tuy
Ngài ở trong sự khổ mà chẳng cho
rằng khổ; tuy lưu chuyển ở trong
sinh tử, mà không thay đổi lúc
ban đầu, vẫn ở trong sự tu hành
độ chúng sinh, cầu nhất thiết
trí không dứt. Tuy nhiên vì độ
chúng sinh mà thọ đủ thứ khốn
khổ hoạn nạn, thuỷ chung Ngài
chẳng khiếp sợ, quyết không sinh
tâm thối chuyển, lại trở lại
trong cảnh giới của tất cả các
cõi. Sức lực trác tuyệt đó, là
tâm niệm của Ngài thường vắng
lặng chẳng động, vì cảm mà toại
thông. Cho nên Ngài không bị
sinh tử năm dục làm lay động,
cũng chẳng bị sinh tử năm dục
làm nhiễu loạn. Tuy Bồ Tát lưu
chuyển ở trong sinh tử, vẫn cứu
vớt chúng sinh ở trong biển khổ
đến bờ bên kia, cũng chẳng nhiễm
pháp hữu vi của thế tục, cũng
chẳng mất đi trí huệ viên dung
vô ngại. Cho nên Bồ Tát có
nguyên nhân thành tựu nầy, là
Ngài đã đạt được pháp tánh, ngữ
mặc động tĩnh, không thể không
tương ưng với pháp tánh, cho nên
có thể tuỳ sinh tử mà không thay
đổi. Vì dùng nhập vào vô tác, mà
thành tựu sở tác. Cầu nhất thiết
trí huệ thì không thể thối
chuyển. Xả lìa được các tưởng,
tức không vì các cõi lay động.
Hay độ chúng sinh, nên biết vận
dụng nhiều phương tiện khéo léo.
Ðã vĩnh viễn lìa các cõi, cho
nên không nhiễm vào pháp hữu vi
thế tục. Tu hành chẳng trụ vào
tướng, thì không thể mất trí huệ
vô ngại. Quả vị tu hành của Bồ
Tát có thứ lớp nhất định, nhân
duyên của Ngài là vô tận, vì
Ngài nhiếp khắp tất cả căn lành.
Hết thảy đủ thứ việc đời năm dục
trên thế gian, đều không thể
biến đổi lay động được tâm ý của
Bồ Tát, vì Ngài đã thanh tịnh
khắp đại nguyện của Ngài. Bồ Tát
đã viên mãn đầy đủ tất cả pháp
thanh tịnh đến bờ kia, vì Ngài
đã từng phát tâm đại bồ đề,
siêng tu thập độ vạn hạnh. Bồ
Tát do nơi căn lành đồng trụ,
đầy đủ mười lực, cho nên Ngài
thành tựu nhất thiết trí huệ
lực. Bồ Tát Ngài giống như tu
tập căn lành công đức đó, nên có
thể lìa khỏi, tiêu trừ sạch tất
cả ngu si ám độn. Thành tựu tâm
bồ đề rồi, mở bày tất cả quang
minh trí huệ, tăng trưởng tất cả
pháp trắng thanh tịnh, hồi hướng
về thắng đạo. Thắng đạo tức là
Bồ Tát đạo, tức cũng là Phật
đạo, là chánh đạo thù thắng
nhất, cũng là Thánh đạo thù
thắng nhất của người tu hành.
Ðầy đủ các hạnh, tức là vạn
hạnh, nghĩa là vạn hạnh đều tu
được viên mãn, chẳng có chút nào
thiếu khuyết, như thế mới gọi là
"đầy đủ các hạnh".
Dùng
ý thanh tịnh, khéo phân biệt
được. Thấu rõ tất cả các pháp,
đều tuỳ tâm hiện. Biết nghiệp
như huyễn, nghiệp báo như tượng,
các hạnh như biến hoá. Nhân
duyên sinh ra pháp, thảy đều như
tiếng vang. Các hạnh Bồ Tát, tất
cả như hình bóng. Sinh ra pháp
nhãn thanh tịnh không chấp
trước, thấy nơi cảnh giới rộng
lớn vô tác. Chứng được tánh tịch
diệt, biết rõ pháp không hai.
Đắc được pháp thật tướng, đầy đủ
hạnh Bồ Tát. Nơi tất cả tướng,
đều chẳng chấp trước. Khéo tu
hành đồng sự các nghiệp. Nơi
pháp trắng tịnh, luôn chẳng xả
bỏ. Lìa tất cả sự chấp trước,
trụ hạnh vô trước.
Ý thanh tịnh: Tức là tâm ý của
bậc Thánh nhân, tư tưởng của bậc
Thánh nhân. Bồ Tát tức đồng với
bậc Thánh nhân. Bồ Tát Ngài dùng
tâm ý, tư tưởng của Thánh nhân,
đối với các pháp thấu rõ triệt
để, rõ ràng, khéo phân biệt các
pháp thật tướng. Minh bạch tất
cả các pháp, đều từ tâm sinh ra,
cho nên nói:
"Tâm sinh đủ thứ pháp sinh
Tâm diệt đủ thứ pháp diệt".
Tại sao Phật nói tất cả pháp, là
vì chúng sinh có tất cả tâm. Nếu
như chẳng có đủ thứ tâm như thế,
thì nói ra tất cả pháp để làm gì
? Do đó có thể biết pháp là tuỳ
tâm hiển hiện. Trong Kinh Hoa
Nghiêm Bồ Tát Giác Lâm có nói:
"Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Hãy quán tánh pháp giới
Hết thảy do tâm tạo".
Bồ
Tát biết tâm của con người, hay
sinh ra tất cả pháp, nếu chẳng
có tâm, thì làm đạo nhân không
tâm, tất cả pháp sẽ tịch diệt.
Cái tâm nầy, lúc nào nó đi ra,
bạn cũng chẳng biết, lúc nào trở
về, bạn cũng chẳng hay. Nó đến
đâu, bạn cũng chẳng biết. Cổ
nhân hình dung cái tâm nầy, có
nói ra mấy câu nầy rất là thấu
triệt:
"Ba chấm bày như sao
Uống cong tợ trăng non
Ðoạ lạc từ đây ra
Thành Phật cũng do nó".
Tại
sao con người luôn luôn hay sinh
phiền não ? Phiền não tức là
những thứ dục vọng và tư tưởng
không chánh đáng, chúng ta gọi
nó là "vô minh". Ma lực của nó
rất lớn, một khi phát tác, thì
tâm thanh tịnh, trí huệ quang
minh vốn có bị che lấp. Chẳng có
trí huệ quang minh, thì bị phiền
não đầy dẫy thân tâm, chẳng
biết, chẳng hay, bèn khởi hoặc,
tạo nghiệp, làm ra đủ thứ tội
nghiệp ngu si. Nếu bạn có thể
phát tâm bồ đề, thì sẽ phá tan
vô minh, phiền não liền chuyển
thành bồ đề. Lúc đó, tâm được
thanh tịnh. Ý thanh tịnh cũng là
tâm bồ đề. Chúng ta thường
thường nói: Trong tâm bạn đừng
chấp trước, vì chấp trước tức là
phiền não. Chẳng có chấp trước,
tức là bồ đề. Phải làm thế nào
mới không có sự chấp trước ?
Buông xả chẳng đặng, nhìn chẳng
xuyên thủng, đó đều là chấp
trước. Một khi buông xả đặng,
nhìn xuyên thủng, mà còn rất tự
tại, như thế mới không có sự
chấp trước, sẽ đắc được giải
thoát. Chúng ta hiện tại biết
tất cả pháp đều tuỳ tâm hiện,
chẳng riêng gì tất cả pháp từ
tâm hiện ra, mà tất cả sơn hà
đại địa, nhà cửa phòng xá, hết
thảy hữu tình thế gian, và khí
thế gian, chẳng có một vật nào
mà chẳng phải là do tâm hiện ra.
Bồ Tát tu pháp môn hồi hướng bất
hoại, Ngài giác ngộ được tất cả
nghiệp chướng như huyễn, nhưng
Ngài vẫn phát tâm sám hối. Ngài
nói:
"Thuở xưa tạo ra các nghiệp ác
Ðều do vô thuỷ tham sân si
Từ thân miệng ý mà sinh ra
Tất cả con nay xin sám hối".
Lại
nói:
"Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Nếu tâm mất thì tội cũng không".
Nếu
tâm chẳng chấp trước, thì tội gì
cũng chẳng có. Ðáng tiếc phàm
phu không thể nào làm cho tâm
vong mất, sẽ không thể nhìn
xuyên thủng buông xả đặng, cho
nên nghiệp chướng như bóng theo
hình, chạy theo con người. "Tâm
mất tội diệt hai đều không", tâm
và tội đều vong mất, thì còn có
tội nghiệp tạo ra chăng ! Cho
nên hai đều không, cả hai đều
chẳng có. "Ðó mới gọi là thật
sám hối". Ðây tức là "nghiệp như
huyễn". Nghiệp báo giống như chữ
"hình bóng", chẳng phải nói
người giống như "hình bóng", mà
là một thứ hình bóng mà thôi.
Tất cả sự việc khởi hoặc, tạo
nghiệp, thọ quả báo, giống như
một thứ hình bóng. Cảnh giới đó
là nói theo lập trường của Bồ
Tát, vì Bồ Tát đã ngộ các pháp
thật tướng, trí huệ của Ngài đã
đạt đến cảnh giới nầy. Nói theo
phàm phu chúng ta, thì chắt chắn
chẳng có tư tưởng nầy. Về hai
phương diện lý sự, chúng ta đều
chẳng đạt đến trình độ thấu hiểu
các pháp, đừng nói đến hết thảy
tất cả hành vi biểu hiện, thiện
ác thiện quả, cũng giống như ma
thuật, biến hoá ra, chẳng phải
chân thật, là nhân duyên sinh
ra. Ðức Phật nói:
"Pháp do nhân duyên sinh
Ta nói tức là không
Tên cũng là giả danh
Cũng gọi nghĩa trung đạo".
Nhân
duyên sinh ra pháp nầy, giống
như một thứ đồ vật phát ra tiếng
vang, tức chẳng có hình, lại
chẳng có tượng, chốc lát tan
mất. Các hạnh của Bồ Tát tu cũng
không thể xem nó quá chân thật,
đồng dạng tất cả như huyễn, như
bóng, như hoá, như vang, đừng
chấp trước có chỗ đắc. Trong tâm
cảnh tự tại chẳng chấp trước đó,
lâu dần thì sẽ sinh ra một thứ
pháp nhãn (mắt pháp) thanh tịnh,
chẳng chấp trước, gọi là pháp
nhãn thanh tịnh, tức là tên khác
của trí huệ thanh tịnh. Nó có
thể chiếu rõ thật tướng của tất
cả các pháp, nó có thể thấy được
hết thảy tất cả, đều không cần
phải giả tạo tác, vì tất cả hết
thảy, nó vốn là như thế, cảnh
giới tận cùng hư không khắp pháp
giới cũng như vậy. Bồ Tát biết
rõ pháp tánh thường vắng lặng.
Pháp tánh vốn là một, chẳng khác
biệt, chẳng hai, cho nên nói
pháp môn không hai. Bồ Tát thông
đạt đạo lý thật tướng, chứng
được lý thể. Lại đầy đủ tất cả
hạnh môn, lục độ vạn hạnh tu
hành của Bồ Tát. Công đức viên
mãn, đối với tất cả pháp hữu vi
trên thế gian, đều chẳng có sự
chấp trước.
Các vị thiện sĩ ! Bạn không ngại
hãy nghĩ xem, nếu bạn có thể đối
với tất cả tướng đều chẳng chấp
trước, thì còn có phiền não gì
chớ ! Không chấp tướng, buông xả
đặng, tức là không chấp trước,
việc gì cũng không thể dẫn khởi
bạn phiền não. Bạn thường ở
trong cảnh giới tự tại tự như,
tự mình mát mẻ an vui, thì kẻ
khác sẽ thấy được, cũng hoan hỉ
gần gũi bạn. Những người nhiều
phiền não, suốt ngày ở trong
thành sầu muộn, thì việc gì cũng
trách oán người, là vì họ nhìn
chẳng phá được tất cả tướng, tất
cả đều xem quá chân thật, chấp
trước thấy cái ta, nhận giặc làm
con, nhiễm khổ làm vui, chẳng
nhận thức được tất cả trên thế
gian đều là hư vọng. Bồ Tát Ngài
đã phá trừ được tất cả sự chấp
trước, cho nên khéo hay tu hành.
Nếu phàm phu có thể phá trừ được
chấp cái ta, thì sẽ đồng với Bồ
Tát, tu hành đủ thứ nghiệp
thiện. Bồ Tát tu hành, thì Ngài
tu pháp thanh tịnh, siêng tu
chẳng giải đãi, quyết chẳng lãng
phí thời gian, tu tu ngừng
ngừng, thì sẽ quên đi việc tu
hạnh lành. Ngài xả lìa tất cả sự
chấp trước, cho nên Ngài thường
trụ ở trong hạnh môn không chấp,
không nương tựa.
Bồ
Tát suy gẫm khéo léo như vậy,
chẳng có mê hoặc, chẳng trái với
các pháp, chẳng hoại nghiệp
nhân. Thấy rõ chân thật, khéo
léo hồi hướng, biết pháp tự
tánh. Dùng sức phương tiện,
thành tựu nghiệp báo, đến được
bờ kia. Trí huệ quán sát tất cả
các pháp, được thần thông trí
huệ. Các nghiệp căn lành không
làm mà làm, tuỳ tâm tự tại.
Bồ
Tát dùng trí huệ phương tiện
khéo léo của Ngài như vậy, để
suy gẫm pháp thâm sâu vô thượng
của chư Phật nói, thấu rõ các
pháp thật tướng, mọi việc đều
thông đạt vô ngại. Ngài đối với
mọi việc gì cũng chẳng có nghi
hoặc. Phàm là xử sự tiếp vật,
trong tâm của Ngài, giống như
một tấm gương, chiếu rõ tất cả
cảnh giới, do đó:
"Việc đến thì sáng,
Việc đi thì tịnh".
Tấm
gướng nó cũng:
"Vật đến thì ứng,
Vật đi thì không".
Bồ
Tát chẳng mê hoặc về sự lý, cũng
chẳng trái ngược với tất cả các
pháp thật tướng. Ngữ mặc động
tĩnh, cũng chẳng bị nhân của
nghiệp phá hoại. Nghiệp vẫn là
nghiệp, nhân vẫn là nhân, đó là
do Bồ Tát đã thấy rõ đạo lý chân
thật. Ðồng thời Ngài cũng biết
vận dụng trí huệ như thế nào,
khéo léo hồi hướng tất cả những
căn lành tu hành. Bồ Tát minh
bạch tự tánh của các pháp, là
thanh tịnh, vắng lặng, là cảm mà
toại thông. Tất cả nhân duyên
nghiệp báo, nương trí huệ sinh
ra sức phương tiện, khéo léo vận
dụng, mới thành tựu nghiệp báo,
mới có thể đạt đến giai đoạn
viên mãn rốt ráo, tức là đạt đến
Niết Bàn bờ kia. Suy gẫm quán
sát các pháp, chẳng phải dùng ý
thức của phàm phu, có thể thấu
rõ được thật tướng các pháp. Mà
là phải dùng sức trí huệ không
chấp, không nương, để quán sát
tất cả các pháp. Cho nên hoạch
được thần thông trí huệ. Căn
lành của tất cả nghiệp thiện,
đừng trước ý tạo tác; tóm lại,
tức là chẳng có mục đích, chẳng
có xí đồ mà làm, thì tự nhiên tu
hành pháp môn nầy. Bồ Tát Ngài
tuỳ tâm tự tại tu hành, đắc được
cảnh giới tự tại như ý.
Đại
Bồ Tát đem các căn lành hồi
hướng như vậy. Vì muốn độ thoát
tất cả chúng sinh, chẳng dứt
giống Phật, vĩnh viễn lìa khỏi
ma nghiệp. Thấy nhất thiết trí
chẳng có bờ mé, tin ưa không bỏ.
Lìa cảnh giới thế gian, dứt các
tạp nhiễm. Cũng nguyện chúng
sinh đắc được trí huệ thanh
tịnh, vào phương tiện sâu xa. Ra
khỏi pháp sinh tử, được căn lành
của Phật. Vĩnh viễn đoạn trừ tất
cả các sự nghiệp ma. Dùng ấn
bình đẳng, ấn khắp các nghiệp,
phát tâm hướng về nhất thiết
chủng trí, thành tựu tất cả pháp
xuất thế gian.
Ðại
Bồ Tát, Ngài đem đủ thứ căn lành
tu tập lục độ vạn hạnh, như Kinh
văn đã nói ở trước, dùng đủ thứ
pháp môn phương tiện, khéo léo
hồi hướng như vầy: Hồi hướng cho
chúng sinh, hồi hướng về bồ đề,
hồi hướng nơi thật tế. Tại sao
Bồ Tát phải hồi hướng như vậy ?
Là vì Ngài muốn độ thoát tất cả
chúng sinh, là hy vọng chúng
sinh phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát
đạo, chứ chẳng phải vì mình có
lợi ích gì. Hơn nữa cũng là vì
không dứt hạt giống Phật, hy
vọng mọi người có thể thành
Phật, vĩnh viễn lìa khỏi sự ràng
buộc ma nghiệp thiên ma ngoại
đạo. Thấy được bản thể trí huệ,
tức là chứng được trí huệ chân
thật, bản thể trí huệ thì rộng
lớn chẳng có bờ mé, bạn phải tin
sâu chẳng nghi có trí huệ thắng
diệu như vậy, thì có thể ưa
thích hưởng dùng thứ trí huệ đó,
đạt được cảnh giới sự sự vô
ngại, không thể khinh về phóng
bỏ lại xả lìa năm dục dụ hoặc
của thế gian và đoạn tuyệt cảnh
giới sáu căn sáu trần, chẳng có
đủ thứ thế pháp nhiễm ô, thành
tựu tất cả pháp trắng thanh
lương.
Bồ
Tát tự mình đắc được trí huệ
thanh tịnh như vậy, đây chẳng
phải là bổn hoài tu hành của
Ngài, Ngài lại nguyện ý tất cả
chúng sinh cũng đắc được trí huệ
thanh tịnh đó. Bồ Tát đi đứng
nằm ngồi, ở trong tự tâm của
Ngài, chưa từng có thời khắc nào
xả bỏ chúng sinh, tuỳ thời đều
cùng ở với tất cả chúng sinh,
cho nên nói "vào sâu phương
tiện". Bồ Tát vào phương tiện
sâu xa rộng lớn, nhậm vận tự
như. Dùng pháp phương tiện nầy,
tự mình đã thoát khỏi ba cõi,
cũng khiến cho chúng sinh thoát
khỏi ba cõi. Pháp ra khỏi sinh
tử, tức là vượt qua lưới ái tình
của chúng sinh, vượt qua lưới
ngu si của chúng sinh, vượt qua
lưới vô minh của chúng sinh,
vượt qua lưới lớn sinh tử của
chúng sinh. Ðó gọi là pháp ra
khỏi sinh tử. Phải thực hành như
thế nào, mới có thể ra khỏi sinh
tử, chứng được bồ đề ? Chỉ có
một phương pháp, đó là phải phá
trừ vô minh, phá trừ phiền não.
Vô minh phiền não là gốc rễ của
sinh tử, gốc rễ nầy tức là ái
dục. Ðoạn diệt được ái dục rồi,
thì thân tâm tự nhiên sẽ đắc
được thanh tịnh. Mọi sự đều
không thể động tâm, đối với thất
tình không thể động niệm, bất cứ
cảnh giới gì, cũng không thể lay
động bạn được. Ðến được cảnh
giới nầy, gọi là "Tám gió thổi
không lay". Lúc đó, sẽ vượt qua
khỏi cửa ải lớn của sinh tử, đắc
được căn lành của Phật, sẽ có
thể thành tựu quả vị Phật, vĩnh
viễn đoạn tuyệt tất cả sự nghiệp
của các ma, và không còn làm bạn
với ma nữa.
Các
vị ! Chúng ma sống ở trong thế
gian nầy, đa số mọi người đều
làm quyến thuộc của ma, những
hành động việc làm, đều là việc
ma. Ðủ thứ việc ma, tức là
nghiệp ma, bện vào với nhau
thành một tấm lưới lớn, trói
chặt chúng ta ở trong đó, trôi
nổi ở trong sáu nẻo, mà không tự
giác. Ma nghiệp đều do một niệm
vọng tưởng. Như bạn có một niệm
chân tâm, thì sẽ thành đạo quả
bồ đề. Như nay chúng ta đã quy y
Tam Bảo, đã xuất gia rồi, thì đã
vượt qua lưới ma nghiệp, vĩnh
viễn đoạn trừ tất cả sự nghiệp
của các ma. Giả như bạn không
thể vượt qua ba cõi, vẫn lưu
chuyển ở trong trời người, thì
đó vẫn chưa tránh khỏi làm quyến
thuộc của ma vương, tới lui với
nhau, dứt chẳng được sự nghiệp
ma. Nếu đã đoạn tuyệt các sự
nghiệp ma, thì sẽ đắc được đại
trí bình đẳng, thông đạt các
pháp bình đẳng không hai. Dùng
bảo ấn đại trí bình đẳng nầy, ấn
chứng tất cả nghiệp, khắp ấn
chứng đủ thứ nghiệp thiện đã tạo
ra.
Phát
tâm, tức là phát tâm đại bồ đề.
Hướng về, tức là muốn người tu
hành, y giáo phụng hành, cước
đạp thật địa mà thực hành, mới
hướng vào được nhất thiết chủng
trí. Nếu bạn biết mà chẳng thực
hành, thì không thể hướng vào
được nhất thiết chủng trí. Nhất
thiết chủng trí, hay chiếu rõ vô
minh, chiếu phá vô minh. Vô minh
đến thì hiện tượng gì ? Phàm là
người quan niệm nặng về cái ta
của mình, thấy cái ta thâm sâu,
có chuyện gì phật ý, thì trong
tâm chẳng vui vẻ, oán nộ người,
khắp thân máu nóng đằng đằng,
nổi nóng giận, tâm đầy phiền
não, đó tức là vô minh phát động
công hiệu ở trong thân tâm của
bạn, giống như là lửa dữ, thiêu
huỷ hết rừng công đức. Lúc đó
chỉ có dùng công phu tu hành,
dùng trí huệ kiếm báu, mới có
thể chém được quân vô minh, tiêu
diệt lửa dữ phiền não.
Các
vị có thể đã từng thấy trong tay
của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cầm
thanh kiếm báu, đó là kiếm trí
huệ, tượng trưng cho dùng kiếm
trí huệ chém quân vô minh. Chém
trừ quân vô minh rồi, thì hướng
về nhất thiết chủng trí, sau đó
mới có thể thành tựu tất cả pháp
xuất thế gian. Bằng không, thì
quân vô minh sẽ vĩnh viễn xâm
chiếm thân tâm của bạn, chẳng có
an vui, chỉ có phiền não, đừng
nói đến đắc được pháp thanh
lương xuất thế gian.
Ví
như tôi từng nói qua người đều
là quyến thuộc của ma vương, tôi
nghĩ có người nhất định phản đối
lối nói nầy của tôi. Mọi người
có thể suy gẫm kỹ càng thử xem,
nếu hiện tại bạn nghĩ đi lạy
Phật, hoặc ngừng một chút, trong
tâm bèn sinh ra một ý niệm khác:
"Hãy khoang đã ! Hiện tại không
đi lạy Phật. Hoặc nghĩ tụng
Kinh, trong tâm lại chuyển tâm
niệm, ý nghĩa không tốt, sợ
người nói giả dụng công. Lại
nghĩ ngồi thiền, tu tập chánh
định, hốt nhiên lại khởi một
niệm, tu hành cứu kính có gì tốt
? Bạn thấy những người xuất gia
ở Chùa Kim Sơn, ngày chỉ ăn một
bữa, tối ngủ ngồi, tinh tấn như
thế, cũng chẳng thấy có ai thành
Phật ?" Những hiện tượng như
thế, rất nhiều người đã từng
kinh nghiệm qua. Hiện tượng như
thế tức là ma. Ma thì thường
thường nói đạo lý với bạn, dùng
chủ nghĩa thuyết phục để chuyển
lùi tâm bạn, dùng những thủ đoạn
mềm cứng, dạy bạn đừng chịu
thiệt thòi, mà chuyên môn chiếm
tiện nghi của người khác. Kêu
bạn hưởng thụ cho nhiều, đừng
chịu khổ, đó đều là pháp ma dẫn
dụ người. Khi bạn thật chiếu
theo lời của nó nói đi làm, thì
đó gọi là làm việc ma, tạo
nghiệp ma, đoạ lạc thọ khổ, thì
nó vui mừng vỗ tay cười ha ha !
Ðó tức là kết quả làm quyến
thuộc của ma vương. Các bạn đã
từng thể nghiệm được, trong tâm
thường thường giống như có hai
người đang ở đó tranh luận ?
-
Một người nói: "Bạn xuất gia đi
! Tu hành biện đạo mới là con
đường chân chánh của đời người".
-
Một kẻ khác liền nói: "Có tiền
có thế lực, kết hôn sinh con,
mới là hạnh phúc của đời người,
tốt hơn so với xuất gia tu đạo".
Ðó
tức là một vị Phật, một con ma,
ở trong tâm niệm của bạn tranh
luận với nhau. Còn có, giống như
người giàu có, vốn muốn làm
nhiều một chút công đức bố thí,
nhưng có một ý niệm nói: "Ngươi
thật là ngu, đem tiền đi bố thí,
mình muốn ăn ngon một chút cũng
chẳng có tiền, muốn mặc đẹp một
chút tiền cũng chẳng đủ, tại sao
không để lại nhiều thêm chút
tiền, mua một căn nhà tốt, mua
một chiếc xe mới, cả nhà đều
được thoải mái, chẳng phải là
tốt hơn chăng ? không cần bố thí
làm gì". Ðó đều là ma đang tác
quái, chẳng để cho bạn tinh tấn
tu đạo, hy vọng bạn lười biếng
chẳng tinh tấn, thì vĩnh viễn
làm quyến thuộc của ma. Hiện
tượng nầy ẩn tàng thâm sâu ở
trong tâm, mà tâm lý của một số
người, lại hướng về vật dục ích
kỷ nhiều hơn, cho nên chẳng dễ
gì cảm giác được nó là điên đảo.
Cái tâm nầy, tức là một trường
chiến tranh lý dục. Lý, tức là
chân lý; dục, tức là ái dục. Khi
tư tưởng của bạn hướng tới chân
lý, thì ái dục giống như một đám
mây đen, lập tức che lấp ánh
sáng chân lý của bạn. Lý dục sẽ
giao chiến ở trong nội tâm của
con người, tạo thành mâu thuẫn,
làm cho tâm con người đứng ngồi
không yên, tinh thần hoảng hốt,
điên đảo phát cuồng, cho nên nói
tâm nầy tức là "chiến trường của
lý dục". Tâm nầy còn là một "nơi
giao hệ âm dương". Âm,
là đêm tối, tức là ma. Dương, là
ánh sáng, tức là Phật. Xuất gia
tu đạo vốn là con đường tốt
nhất, là việc vô thượng nhất,
nhưng bao nhiêu người đều bị
thân tình kiềm chế, không thể
nào thực hiện được, đến lúc thật
đã buông xả hết tất cả, thì
chẳng phải tuổi già đến, thì
cũng đã sắp chết !
Tuy
nhiên như thế, cũng chỉ là một
niệm khác nhau, một niệm thiện
tức là Phật, một niệm ác tức là
ma, nói người là quyến thuộc của
ma vương, sao lại không thể nói
người là quyến thuộc của Phật,
bạn lữ của Bồ Tát ? Chỉ cần
trong tâm của bạn thường niệm
thiện, tích tụ đủ thứ căn lành
công đức, thì thường ở một chỗ
với Phật Bồ Tát. Ðạo lý nầy rất
hiển rõ, nhưng nhiều người không
để ý đến. Chúng ta có thể thường
tự cảnh sách tỉ mỉ, gần gũi
nhiều với thiện tri thức và nghe
pháp, xử thế tiếp vật, chẳng
trái với chân lý chánh đạo,
trong niệm niệm không quên chúng
sinh, thì tự nhiên vĩnh viễn
đoạn trừ các ma nghiệp, thành
tựu tất cả pháp xuất thế gian.
Phật
tử ! Đó là hồi hướng bất hoại
thứ hai của đại Bồ Tát. Khi đại
Bồ Tát trụ ở hồi hướng nầy, thì
thấy được tất cả vô số chư Phật.
Thành tựu vô lượng diệu pháp
thanh tịnh. Khắp các chúng sinh
được tâm bình đẳng. Nơi tất cả
pháp chẳng có nghi hoặc. Được
thần lực tất cả chư Phật gia hộ,
hàng phục các ma, vĩnh viễn lìa
khỏi nghiệp ma. Thành tựu sinh
quý, mãn tâm bồ đề. Được trí vô
ngại, chẳng do người khác mà
hiểu được. Khéo hay khai xiển
nghĩa tất cả các pháp. Hay tuỳ
theo sức tưởng, vào tất cả cõi.
Chiếu khắp chúng sinh, đều khiến
cho thanh tịnh. Đại Bồ Tát dùng
sức hồi hướng bất hoại nầy,
nhiếp các căn lành, hồi hướng
như vậy.
Tại
sao tôi phải giảng về việc ma,
nghiệp ma và con người là quyến
thuộc của ma ? Vì hiện tại tôi
đang giảng về hồi hướng bất
hoại. Hồi hướng bất hoại là căn
lành bất hoại, song phải hoại
tất cả ma vương và quyến thuộc
của chúng. Bồ Tát Kim Cang Tràng
lại gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Những gì vừa nói ở
trên là hồi hướng bất hoại tín
tâm, bất hoại căn lành thứ hai
của đại Bồ Tát hành lục độ vạn
hạnh tu tập. Ðại Bồ Tát, khi
Ngài tu hành pháp môn hồi hướng
nầy, thì thân tâm của Ngài đều
an trụ vào hồi hướng. Ngài
chuyên tâm siêng tu căn lành,
tích tụ căn lành, cho nên thường
thấy được mười phương ba đời vô
số vô lượng các Ðức Phật.
Ðối
với vô lượng diệu pháp thanh
tịnh của chư Phật nói, đều thông
đạt được, đều tu hành viên mãn
thành tựu. Ðối với chúng sinh
dùng tâm từ bi, dùng sự đối đãi
bình đẳng, chẳng có tâm phân
biệt, chẳng có tâm thương ghét,
chẳng có thành kiến thân sơ, gọi
là đồng thể đại bi, vô duyên đại
từ. Thiện ác tốt xấu, nam nữ già
trẻ, đều xem như nhau. Ðối với
nhân duyên nghiệp quả, tất cả
pháp sắc, pháp tâm, pháp không
tương ưng, pháp hữu vi, pháp vô
vi .v.v…Ngài đã chẳng còn nghi
hoặc, vì Ngài đã đắc được tin
bất hoại, cho nên tin mà không
nghi. Do đó cho nên Ngài đắc
được sức thần thông của mười
phương chư Phật, luôn luôn gia
bị hộ trì. Ðối với các ma ngoại
đạo, Ngài vốn đã tự mình tu trì
định lực, hồi hướng công đức lợi
ích, và nương oai lực của chư
Phật, hàng phục được các ma
ngoại đạo, vĩnh viễn lìa khỏi
việc ma nghiệp ma, thành tựu
sinh quý trụ. Sinh vào nhà Pháp
Vương, viên mãn đầy đủ đạo
nghiệp bồ đề, đắc được đại trí
huệ viên dung vô ngại. Tất cả
hết thảy, đều tự mình minh bạch
thấu hiểu, không thầy mà tự
thông, vì Bồ Tát đã đắc được trí
huệ vô ngại. Nếu không thì làm
sao tự hiểu hết tất cả, không
cần ai dạy ? Có những người biết
một hiểu nửa, được sự hiểu biết
ngoài da ngoài lông, thì đã tự
mãn, kiêu ngạo cống cao, tự cho
rằng mình cái gì cũng hiểu,
không cần theo một vị thiện tri
thức nào, cũng chẳng gần gũi ai,
ta là tổ sư trời sinh, tự mình
thành tựu Phật Bồ Tát.
Trước
kia, có người Mỹ đến Chùa, tự
nói là đã khai ngộ, và giống như
Lục Tổ ở Trung Quốc. Do đó tôi
nói: "Vậy thì tốt ! Lục Tổ đã
viên tịch, người khác còn muốn
trộm cái đầu của Ngài để cúng
dường, hiện tại ông là tổ sư
sống, tôi mượn cái đầu của ông
để cúng dường chẳng phải là tốt
hơn chăng ?" Ông ta nghe nói
muốn mượn cái đầu của ông ta
cúng dường, bèn sợ hãi đứng dậy
bỏ chạy. Vọng tưởng của kẻ cuồng
như thế, trên thế giới nầy có
không biết là bao nhiêu, thật là
đáng thương xót !
Chẳng
do người khác dạy mà tự hiểu
được, là phải chứng được trí vô
ngại. Chẳng tu hành đến trình độ
nào đó, chẳng chứng được trí vô
ngại, mà cứ nói mình là ông
trời, chúa trời, đó lại có ích
gì ! Chỉ lạc vào danh hiệu điên
cuồng mà thôi. Hành giả đắc được
trí vô ngại, dù Ngài không biết
chữ, không xem quyển Kinh, cũng
giảng Kinh được. Có vấn đề quan
hệ đến Phật pháp, Ngài đều giải
đáp như nước chảy, khiến cho
người mãn nguyện. Dù chưa từng
học qua ngôn ngữ văn tự khác,
Ngài cũng nghe được nói được,
đây mới gọi là không do kẻ khác
dạy mà hiểu được.
Năm
trước có một người Gia Nã Ðại,
đến Chùa Kim Sơn. Ông ta muốn
tôi ấn chứng cho ông ta, ông ta
là Ban Thiền Lạt Ma. Lúc đó, ông
ta cũng chẳng biết Ban Thiền còn
sống hay đã chết, nhưng ông ta
chiêu hoán như thế, đi khắp nơi
nói với mọi người mình là Ban
Thiền Phật sống. Mà vẫn có người
tin ông ta, phụ hoà ông ta, lâu
dần thì cảm thấy chính ông ta
cũng có những sự mê hoặc, cho
nên đặc biệt chạy đến cầu tôi ấn
chứng.
-
Tôi nói: "Tốt ! Ban Thiền là
người Tây Tạng. Nếu ông không
học tiếng Tây Tạng, văn Tây
Tạng, mà có thể thông đạt được
tiếng Tây Tạng, văn Tây Tạng,
thì tôi sẽ vì ông ấn chứng".
Ông
ta nghe tôi nói như thế, thì
cũng không giám ở lại lâu, sau
đó bèn bỏ đi, về sau cũng chẳng
nghe thấy vị Phật sống đó ở đâu.
Ban Thiền Lạt Ma là người Tây
Tạng cử làm Phật sống, trong
giáo lý của họ có truyền thuyết
chuyển thế, thế hệ đều dùng quy
định nầy. Khi một đời Phật sống
viên tịch, thì họ lưu lại một
vật làm tin nhất định. Ðến lúc
sẽ đi tìm Phật sống tái sinh như
thế nào, ngoại giáo không thể
biết được bí mật. Ðó có chuyện
đơn giản như thế, tuỳ tiện có
thể tự xưng là Phật sống, mạo
xưng là Ban Thiền Lạt Ma, hà
huống phỏng tìm đức bé chẳng
phải thành người.
Trên
thế gian nầy, những người đặc
biệt lạ lùng, mở mắt đều thấy.
Tôi đến nước Mỹ rồi, đã gặp qua
rất nhiều lần. Giả thiết có thể
khai xiểng chánh nghĩa tất cả
các pháp, đối với Phật pháp
quyết đầy đủ mắt sáng, làm người
khí chất, nơi nơi hiển được khai
lãng khoát đạt, bình dị gần gũi
người, đối với mọi người bình
đẳng từ bi, không kể ngày tháng,
luôn thường như thế, có biểu
hiện như vậy, mới có thể cho
rằng người khai ngộ. Ngược lại,
tự cho là thế, mà tất cả sự biểu
hiện hành vi lại đều đi ngược
lại, như thế thì khai ngộ gì ?
Bồ
Tát lại có thể tuỳ sức nghĩ
tưởng, sức quán tưởng của mình,
muốn đến mười phương cõi nước, ở
đó hiện thân, hành Bồ Tát đạo,
giáo hoá chúng sinh. Khắp chiếu
cứ chúng sinh, khiến cho họ lìa
hoàn cảnh nhiễm ô, đắc được nhất
thiết trí huệ thanh tịnh. Ðại Bồ
Tát, dùng sức lực nầy tu pháp
môn hồi hướng bất hoại, nhiếp
thọ hết thảy căn lành của mình,
cũng nhiếp thọ căn lành của tất
cả chúng sinh, dùng những căn
lành nầy, hồi hướng như ở trên
đã nói, mà hồi hướng cho chúng
sinh, hồi hướng về bồ đề, hồi
hướng về thật tế.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tràng,
nương thần lực của đức Phật,
quán sát mười phương, liền nói
kệ rằng.
Lúc
đó, Bồ Tát Kim Cang Tràng, nương
đại oai thần lực của mười phương
chư Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni,
và Phật Tỳ Lô Giá Na, quán sát
khắp nhân duyên của tất cả chúng
sinh trong mười phương, và đại
chúng pháp hội, dùng phương thức
kệ tụng, tường thuật lại Kinh
trường hàng ở trên, khiến cho
tất cả chúng sinh dễ dàng minh
bạch.
Bồ Tát đã được ý bất hoại
Tu hành tất cả các nghiệp thiện
Cho nên hay khiến Phật hoan hỉ
Bậc trí dùng đây mà hồi hướng.
Bồ
Tát, là chỉ vị Bồ Tát đó tu hành
hồi hướng bất hoại. Vị Bồ Tát đó
"đã" được. Chữ "đã" của "đã"
được, trong chữ Trung Quốc có ba
chữ gần giống nhau. Như chữ "kỷ,
dĩ, tỵ", ba chữ nầy có rất ít sự
khác nhau, nhưng ý nghĩa khác
nhau rất lớn.
Thứ
nhất là chữ "kỷ", ý nghĩa chữ kỷ
là chính mình, và còn là vị thứ
sáu trong thiên can (giáp, ất,
bính, đinh, mậu, "kỷ", canh,
tân, nhâm, quý). Thiên cang là
trời xưa Trung Quốc dùng chữ để
tính thời, phối hợp với mười hai
địa chi (tý, sửu, dần, mẹo,
thìn, "tỵ", ngọ, mùi, thân, dậu,
tuất, hợi), dùng tính niên hiệu.
Thứ
hai là chữ "dĩ", tức là "đã" đắc
được, ý nghĩa đã quá khứ.
Thứ
ba là chữ "tỵ", ở trước giờ ngọ
từ chín giờ đến mười một giờ,
thì gọi là "giờ tỵ", là vị thứ
sáu của địa chi.
Câu
kệ nầy là nói Bồ Tát đã được,
nói Ngài đã đắc được trí huệ bất
hoại. Ý nghĩa bất hoại, một là
căn lành hồi hướng đều thông sự
sự vô ngại. Hai là không thể bị
thiên ma ngoại đạo phá hoại. Bồ
Tát đã đắc được trí huệ nầy. "Tu
hành tất cả các nghiệp thiện",
câu nầy là giải thích câu kệ thứ
nhất. Câu kệ thứ nhất là quả của
sự tu hồi hướng bất hoại, câu kệ
nầy là nhân. Do tu hành tất cả
các nghiệp thiện, cho nên đắc
được trí huệ bất hoại. Nếu chẳng
tu các nghiệp thiện, thì chẳng
đắc được trí huệ nầy. Bồ Tát
thành tựu "ý bất hoại", thật tại
là quan hệ tu các nghiệp thiện
công đức. Chữ "cho nên" của câu
"Cho nên hay khiến Phật hoan
hỉ", là nương câu kệ ở trước,
nói: Tức là do nguyên nhân đó,
cho nên Bồ Tát có thể khiến cho
mười phương ba đời chư Phật,
sinh tâm đại hoan hỉ, chư Phật
hoan hỉ, Bồ Tát hoan hỉ, đều đại
hoan hi. Nếu bạn, tôi, và họ ai
nấy đều phát tâm tu hồi hướng
bất hoại, làm các nghiệp thiện,
đắc được ý bất hoại, thì mười
phương chư Phật cũng đều hoan hỉ
như nhau. Bậc trí, tức là người
có trí huệ. Ngài dùng nghiệp
thiện căn lành bất hoại thành
tựu trí huệ bất hoại, để hồi
hướng cho chúng sinh, hồi hướng
về bồ đề, hồi hướng về thật tế.
Cúng dường vô lượng vô biên Phật
Bố thí trì giới phục các căn
Vì muốn lợi ích các chúng sinh
Khắp khiến tất cả đều thanh
tịnh.
Vị
Bồ Tát đó tu hồi hướng bất hoại,
nghiệp thiện của Ngài tu, là từ
sự cúng dường vô lượng vô biên
các Ðức Phật, trồng các căn lành
ở trước Tam Bảo. Ngài lại đối
với chúng sinh rộng hành bố thí,
gọi là nội tài: Ðầu, mắt, tuỷ,
não, da, thịt, gân, cốt, nếu có
chúng sinh hướng về Ngài cầu
xin, thì Ngài chẳng có gì mà
không bố thí được. Ngoại tài:
Ðất nước, vợ con, bảy báu, phàm
là vật ngoài thân, Ngài đều đem
bố thí. Còn có pháp thí: Pháp
thí tức là giáo hoá chúng sinh,
vì chúng sinh tuyên dương Phật
pháp, giảng giải nghĩa của pháp,
dẫn dắt chúng sinh quy y vào cửa
Phật, khiến cho họ hành bát
chánh đạo, khiến khắp chúng sinh
thân tâm an lạc, pháp hỷ sung
mãn. Vô uý thí: Như có chúng
sinh lo lắng hoạn nạn, gặp lúc
nguy hiểm khiếp sợ, thì Bồ Tát
chẳng tiếc hy sinh chính mình,
về mặt tinh thần, về hành vi
thật tế, đều ban cho chúng sinh
cảm giác an toàn, khiến cho họ
như được một người nương tựa bảo
hộ.
Bồ
Tát lại nghiêm trì giới thanh
tịnh, giới là ngừa ác phòng
quấy. Giới luật phân làm nhiều
thứ, người tại gia thì thọ năm
giới: Giết hại, trộm cắp, tà
dâm, nói dối, uống rượu. Thọ
giới rồi, thì có thần giới bảo
hộ, mỗi một giới có năm vị thần
giới, nếu bạn phạm một giới, thì
bớt đi năm vị thần giới. Nếu
trong nội tâm, và hành vi bên
ngoài đều giữ gìn giới thanh
tịnh, thì những vị thần giới đó
vĩnh viễn bảo hộ bạn, cho nên
chúng ta giữ giới phải thanh
tịnh như trăng rằm, giống như
trăng tròn ngày rằm, tròn đầy
không khuyết. Bố thí, trì giới
đều làm được, quan trọng nhất là
phải "phục các căn", mới có thể
thành tựu vô thượng đạo. Phục
các căn, căn là chỉ sáu căn của
chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý. Phải điều phục sáu căn,
khiến cho nó không tán loạn. Như
mắt hoan hỉ sắc đẹp, bạn phải
khiến cho nó đừng thọ sắc trần
lay chuyển, thì đó tức là điều
phục căn mắt. Tai thích nghe
tiếng hay, thì khiến cho nó đừng
thọ thanh trần lay chuyển, đó
tức là điều phục căn tai. Mũi
chẳng bị hương trần chuyển, lưỡi
chẳng bị vị trần chuyển, thân
chẳng bị xúc trần chuyển, ý
chẳng bị pháp trần chuyển, thì
đó là điều phục các căn. Bồ Tát
nhẫn nại khổ cực tu khổ hạnh,
Ngài chẳng phải vì mình, mà là
vì muốn lợi ích các chúng sinh,
hy vọng khiến cho chúng sinh đều
đắc được trí huệ thanh tịnh,
khôi phục nguồn gốc thanh tịnh,
tánh diệu chân như.
Tất cả các hương hoa thượng diệu
Vô lượng y phục tốt khác nhau
Lọng báu cùng với đồ trang
nghiêm
Cúng dường tất cả các Như Lai.
Bồ
Tát cúng dường phẩm vật đến mười
phương chư Phật, thức ăn, đồ
dùng, trang sức đạo tràng, chẳng
có một phẩm vật nào chẳng phải
là thượng hạng. Ví như cúng
dường hương hoa, thì nhất định
phải lựa hoa danh quý, ít có,
đẹp đẽ tươi tốt, hương thơm
thanh u. Y phục thì vô lượng vô
số loại, đều là phẩm chất thượng
hạng. Bồ Tát cúng dường ngoài
hương hoa y phục, còn cúng dường
lọng báu, lọng hoa, man lọng
.v.v... Cùng với các phẩm vật
nghiêm sức trân báu trang nghiêm
đạo tràng. Bồ Tát đem những phẩm
vật ở trên cúng dường mười
phương ba đời tất cả chư Phật.
Cúng dường các đức Phật như vậy
Vô lượng vô số kiếp khó nghĩ
Cung kính tôn trọng thường hoan
hỉ
Chưa từng một niệm sinh nhàm
mỏi.
Bồ
Tát cúng dường mười phương ba
đời chư Phật như ở trên đã nói,
chẳng phải vui mới cúng dường,
còn chẳng vui thì thôi. Bồ Tát
vốn ngày nào cũng như thế, năm
nào cũng cúng dường như vậy.
Trải qua vô lượng vô biên đại
kiếp, Ngài cũng chưa từng sinh
ra một tâm niệm mệt mỏi nhàm
chán.
Chuyên tâm tưởng niệm các đức
Phật
Đèn sáng lớn tất cả thế gian
Mười phương hết thảy các Như Lai
Đâu chẳng hiện trước như mắt
thấy.
Vị
Bồ Tát nầy tu pháp môn hồi hướng
bất hoại, luôn luôn chuyên tâm
suy gẫm ngoài các pháp, đó là
quán tưởng nghĩ niệm đến mười
phương chư Phật. Vì mười phương
chư Phật chiếu sáng tất cả thế
gian, khiến cho tất cả thế gian
đều sáng lạng, giống như ngọn
đèn lớn sáng. Bồ Tát tu hành đạt
đến cảnh giới nầy, không động
nơi thân, mười phương ba đời chư
Phật, tuỳ thời đều có thể hiện
ra ở trước Ngài, chẳng khác gì
thấy ở trước mắt.
Vô lượng kiếp không thể nghĩ bàn
Bố thí đủ thứ tâm chẳng nhàm
Ở
trong trăm ngàn vạn ức kiếp
Tu các pháp lành đều như vậy.
Bồ
Tát ở trong vô lượng đại kiếp
không thể nghĩ bàn, Ngài tu bố
thí đủ thứ chẳng có gián đoạn.
Bất cứ là nội tài, ngoại tài,
pháp thí, vô uý thí, Ngài chưa
từng sinh tâm bỏn sẻn và nhàm
chán. Ngài đều bố thí cho người,
tuyệt đối chẳng nghĩ đến người
khác bố thí cho Ngài, hoặc hy
vọng đắc được báo ân như thế
nào. Chúng ta người xuất gia
tiếp thọ người khác bố thí cho
mình, thì mình cũng nên bố thí
cho người ít nhiều. Người xuất
gia ngàn vạn đừng tham đồ lợi
dưỡng, phải học tinh thần bố thí
khó xả mà xả được của Bồ Tát, dù
bố thí nhiều, cũng đừng có tư
tưởng là đủ. Ðừng học lòng tham
của quỷ ma, muốn người khác bố
thí càng nhiều càng tốt. Bồ Tát
ở trong trăm ngàn ức kiếp thời
gian, Ngài tu đủ thứ pháp lành,
đều chẳng có nhàm đủ. Pháp lành
là bao quát làm các việc lành,
bố thí đương nhiên là một trong
các pháp lành.
Các Như Lai đó diệt độ rồi
Cúng dường xá lợi chẳng nhàm đủ
Đều dùng đủ thứ diệu trang
nghiêm
Kiến lập chùa tháp không nghĩ
bàn.
Bồ
Tát cúng dường chư Phật, công
đức viên mãn đầy đủ rồi, nhân
duyên hành hoá đã mãn liền diệt
độ, tức là vào Niết Bàn. Nhưng
thành ý của Bồ Tát cúng dường
chư Phật vẫn không thay đổi,
cúng dường xá lợi của chư Phật
cũng như Phật sống, chẳng có lúc
nào nhàm đủ, vẫn như xưa, dùng
đủ thứ phẩm vật tốt đẹp thượng
hạng nhất, tôn trọng cung kính
cúng dường và trang nghiêm tháp
xá lợi của chư Phật. "Khó nghĩ
bàn", là không thể tính được tài
lực khốn khó, cũng không thể
khảo lự sức lực của mình có đạt
được mục đích hay không, chẳng
màng tất cả, kiến lập chùa tháp
là trách nhiệm của mình, lấy
việc hoằng dường Phật pháp làm
nghĩa vụ của mình. Cho nên nói
kiến lập chùa tháp không nghĩ
bàn.
Tạo lập hình tối thắng vô đẳng
Tạng báu vàng tịnh làm trang
nghiêm
Cao lớn nguy nga như núi chúa
Số đó vô lượng trăm ngàn ức.
Bồ
Tát phát tâm kiến tạo chùa tháp,
số lượng đó nhiều hình dạng thù
thắng, chẳng có chùa tháp nào so
sánh được với Ngài. Ngài dùng đủ
thứ tạng báu, thuần vàng ròng có
giá trị nhất, trang nghiêm tô
điểm trong ngoài chùa tháp. Chùa
tháp cao rộng nguy nga giống như
núi chúa Tu Di. Chùa tháp như
thế chẳng phải chỉ có tạo một
hai ngôi, mà là tạo vô lượng số
trăm ngàn ức. Ngài thấy chỗ nào
chẳng có tháp, thì tạo một ngôi
tháp, chỗ nào chẳng có chùa, thì
lập một ngôi chùa.
Tịnh tâm tôn trọng cúng dường
rồi
Lại sinh tâm hoan hỉ lợi ích
Kiếp không nghĩ bàn nơi thế gian
Cứu hộ chúng sinh khiến giải
thoát.
Bồ
Tát dùng tâm chí thành thanh
tịnh, tôn trọng cúng dường chư
Phật rồi, sau đó lại sinh tâm
hoan hỉ, và tâm lợi ích chúng
sinh. Bồ Tát trên cung kính chư
Phật, dưới độ tất cả chúng sinh,
trừ hai thứ tâm nầy ra, chẳng có
bất cứ tâm niệm nào khác, cho
nên chiếm hết tâm tư của Ngài.
Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát, hành Bồ
Tát đạo, trong kiếp số không thể
nghĩ bàn, Ngài đều ở với chúng
sinh tại thế gian nầy. Chẳng
phải Ngài tham hưởng vui năm dục
của thế gian, mà là muốn cứu độ
tất cả chúng sinh thọ khổ nạn,
hy vọng những chúng sinh đó, đều
thoát khỏi sự ràng buộc của khổ
đau, mà đắc được an lạc chân
chánh tự do tự tại. Nhưng chúng
sinh đối với khổ tâm của Bồ Tát
đó, một chút cũng chẳng biết,
chẳng minh bạch, chẳng thấu
hiểu, chẳng biết lấy ân báo đức,
cho nên làm cho Bồ Tát khổ nhọc
bôn ba ở trong sáu nẻo. Nhìn lại
Bồ Tát chẳng có tri âm đồng đạo,
giống như chẳng hoà hợp, nhưng
tâm cứu hộ chúng sinh của Bồ Tát
vĩnh viễn chẳng nhàm mỏi, vĩnh
viễn chẳng thối chuyển. Có rất
nhiều người nhận rằng làm Bồ Tát
quá khổ cực, chẳng bằng quỷ còn
tốt hơn một chút. Các bạn có thể
suy nghĩ lại xem, cứu kính thì
làm gì tốt !
Biết rõ chúng sinh đều vọng
tưởng
Nơi đó tất cả không phân biệt
Mà khéo phân biệt căn chúng sinh
Khắp vì quần sinh làm lợi ích.
Nếu
bạn có tư tưởng làm quỷ tốt hơn
làm Bồ Tát, đó tức là vọng tưởng
ngu si của chúng sinh. Làm Bồ
Tát khiến cho chẳng có ai thấu
hiểu được, biết được về mình,
Ngài vẫn muốn làm Bồ Tát. Còn
làm quỷ, thì sẽ có rất nhiều
người nhận thức được họ, lại có
bao nhiêu quỷ biết mình đồng
bạn, họ vẫn là quỷ. Bồ Tát minh
bạch trên thế gian đủ thứ chúng
sinh đều là vọng tưởng sinh ra.
Ý thức của chúng sinh, tức là từ
các vọng mà thành. Chúng sinh từ
hư vọng mà sinh, lại từ hư vọng
mà chết. Bạn thấy có người, muốn
học bác sĩ, thành chuyên gia, nỗ
lực hết mình muốn thành công,
đột nhiên lại chết đi. Những sở
học lúc còn sống, tất cả những
gì hiểu biết, chết rồi thì chẳng
còn nữa. Nếu được chuyển lại làm
thân người, lại phải học lại từ
đầu. Giống như một thanh sắt, bỏ
vào trong lò lửa rèn luyện,
luyện tới luyện lui, đang lúc
luyện tốt thì lại chết đi. Ðó
tức là so sánh như chúng sinh ở
trong vọng tưởng lăn xăn, mà
vọng tưởng cuối cùng thì huyễn
diệt. Tuy nhiên như thế, Bồ Tát
đối với chúng sinh đều chẳng xả
bỏ, Ngài minh bạch những chúng
sinh đó, đều do vọng tưởng mà
thành, cho nên Ngài đối với
chúng sinh chẳng sinh tâm phân
biệt. Mà Ngài còn biết căn tánh
của chúng sinh rất rõ ràng, đối
với căn tánh của chúng sinh, mà
dùng đủ thứ phương pháp phương
tiện khéo léo, để giáo hoá, tiếp
dẫn họ. Người căn tánh đã thành
thục, thì độ họ trước. Người cơ
duyên chưa thành thục, thì đợi
sẽ độ sau. Bồ Tát đối với chúng
sinh chẳng sinh tâm phân biệt
thân sơ thương ghét, khắp vì
những chúng sinh đó làm việc có
ích cho họ.
Bồ Tát tu tập các công đức
Rộng lớn tối thắng chẳng ai bằng
Thấu đạt thể tánh đều chẳng có
Như vậy quyết định đều hồi
hướng.
Vị
Bồ Tát nầy tu hồi hướng bất
hoại, Ngài đối với nghiệp thiện,
chẳng màng lớn nhỏ đều làm hết.
Tích tụ công đức lớn nhỏ, lâu
dần sẽ vô lượng vô số, rộng lớn
thù thắng, chẳng có Bồ Tát nào
có thể so sánh với Ngài. Bồ Tát
thấu rõ thông đạt hết thảy tất
cả, đều là hư vọng, chẳng có thể
tánh, đều là không. Tuy nhiên
như vậy, Ngài vẫn quyết định đem
căn lành công đức tu tập, hồi
hướng hết cho pháp giới chúng
sinh, vô thượng bồ đề, và hồi
hướng về thật tế chân thật.
Dùng trí tối thắng quán các pháp
Trong đó chẳng có một pháp sinh
Như vậy phương tiện tu hồi hướng
Công đức vô lượng không cùng
tận.
Bồ
Tát tu pháp môn hồi hướng bất
hoại, Ngài dùng trí huệ kim cang
kiên cố nhất, thù thắng nhất, để
quán sát tất cả các pháp: Pháp
sắc, pháp tâm, pháp tâm sở, pháp
bất tương ưng, pháp hữu vi, pháp
vô vi. Bồ Tát quán sát tỏ ngộ đủ
thứ pháp, đều là không sinh, vì
"Các pháp tùng bổn lai, thường
tự tịch diệt tướng". Tức nhiên
là tướng tịch diệt (vắng lặng),
cho nên chẳng thấy có chút pháp
sinh, cũng chẳng thấy có chút
pháp diệt. Vậy tại sao còn phải
tu pháp hồi hướng ? Vì giáo hoá
chúng sinh, tiếp dẫn họ vào sâu
cửa Phật, tin sâu tất cả chánh
pháp của chư Phật nói, phát tâm
bồ đề, hướng về thánh đạo tối
thượng, mà dùng đủ thứ phương
pháp phương tiện, tu pháp môn
hồi hướng nầy. Tuy nhiên các
pháp là không sinh không diệt,
nhưng công đức tu hành vẫn không
tổn giảm. Nói tóm lại, công đức
chẳng lãng phí. Ðem công đức của
mình hồi hướng cho pháp giới
chúng sinh, khiến cho chúng sinh
đắc được lợi ích, thành tựu công
đức bồ đề, thì lợi ích đó không
thể cùng tận.
Dùng phương tiện nầy khiến tâm
tịnh
Đều đồng với tất cả Như Lai
Sức phương tiện nầy không cùng
tận
Cho nên phước báu rất vô tận.
Bồ
Tát tu hồi hướng, ở trên đã nói
qua, đây là pháp phương tiện, là
vì dẫn dắt chúng sinh tu học
Phật pháp, khiến cho chúng sinh
đều có thể xả lìa được tâm ô
nhiễm, đắc được tâm thanh tịnh,
có thể trở về nguồn cội, hiển
pháp tánh chân thật, thành tựu
trí huệ vô thượng. Nếu cảnh giới
tu hành có thể đạt đến trình độ
nầy, thì sự chứng đắc thần thông
trí huệ, đều có thể bình đẳng
với chư Phật, đồng với chư Phật
cùng ngồi một Phật toà. Sức lực
pháp môn phương tiện, chẳng cách
chi độ lượng được, chẳng có bờ
mé không thể cùng tận. Do đó,
đắc được phước báu, cũng chẳng
có khi nào cùng tận. Pháp phương
tiện là nhờ đủ thứ nhân duyên,
lợi dụng đủ thứ ngôn từ, cử ra
đủ thứ ví dụ để vì chúng sinh
diễn nói các pháp.
Phát khởi tâm bồ đề vô thượng
Tất cả thế gian chẳng chỗ nương
Đến khắp mười phương các thế
giới
Mà nơi tất cả chẳng chỗ ngại.
Bồ
Tát tu hồi hướng bất hoại, Ngài
phát đạo tâm bồ đề vô thượng,
chẳng có ai phát đạo tâm cao hơn
Ngài. Trong tất cả thế gian,
chúng sinh tìm chẳng được nơi
nào, hoặc người nào có thể nương
tựa được, chỉ có vị Bồ Tát nầy
phát tâm đại bồ đề, mới là chỗ
chân chánh nương tựa của chúng
sinh. Khi Bồ Tát hành Bồ Tát
đạo, thì Ngài chẳng giới hạn một
nơi nào. Ngài phát tâm bồ đề, là
muốn đến mười phương thế giới,
cứu độ khắp tất cả chúng sinh
thọ khổ. Bồ Tát đã đắc được trí
huệ viên dung. Lại có đủ thứ
pháp môn phương tiện, cho nên
Ngài có thể đến bất cứ thế giới
nào, cũng chẳng bị chút chướng
ngại nào, cũng chẳng bị bất cứ
cảnh giới nào lay chuyển, Bồ Tát
vẫn phải chuyển biến tất cả cảnh
giới.
Tất cả Như Lai hiện ra đời
Vì muốn khai đạo tâm chúng sinh
Như tâm tánh họ mà quán sát
Rốt ráo tìm cầu không thể được.
Nhân
duyên chư Phật xuất hiện thế
gian, ở trong Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni đã từng nói với đại chúng
trong pháp hội rất rõ ràng, Ngài
nói tại sao chư Phật phải xuất
hiện ra đời ?
1.
Vì muốn khai phát Phật tánh của
chúng sinh bị năm dục che đậy,
khiến cho chúng sinh đều đắc
được trí huệ thanh tịnh.
2.
Muốn chỉ bày cho chúng sinh,
khiến cho chúng sinh biết cũng
có tri kiến như Phật.
3.
Muốn giáo hoá chúng sinh, khiến
cho chúng sinh đều mình bạch tri
kiến của Phật, và giác ngộ tri
kiến của Phật. Minh bạch rồi,
thì sẽ sinh tâm tin, giác ngộ
rồi thì sẽ thực tiễn tu trì.
4.
Muốn khiến cho chúng sinh vào
sâu trong Phật giáo, y giáo
phụng hành, đắc đại trí huệ,
nhập vào đạo vô thượng, vĩnh
viễn chẳng thối chuyển.
Vì những nhân duyên đó, chư Phật
mới xuất hiện ra đời. Bốn điều
khai, thị, ngộ, nhập, là tổng
hợp mà nói, tức là vì khai phát
tâm trí của chúng sinh, khiến
cho thanh tịnh, mà phát tâm bồ
đề. Hướng dẫn hành vi của chúng
sinh, khiến cho chúng sinh xả
lìa năm dục, hành thập thiện,
cuối cùng thành tựu Phật quả. Ðó
là mục đích và hy vọng của chư
Phật xuất hiện ra đời. Bồ Tát
căn cứ vào tâm tánh của chúng
sinh, mà quán sát tâm tánh của
họ, Ngài biết rõ tâm của chúng
sinh không thể được. Tại sao ?
Vì tâm quá khứ, quá khứ đã diệt.
Tâm vị lai, vị lai chưa đến. Tâm
hiện tại, hiện tại không tịch.
Tam tế cầu tâm, rốt ráo không
thể cầu được.
Tất cả các pháp chẳng dư thừa
Đều vào nơi như không thể tánh
Dùng mắt tịnh nầy mà hồi hướng
Mở ngục sinh tử của thế gian.
Bồ
Tát tam tế cầu tâm, tâm chẳng
có. Tâm tức chẳng có, thì pháp
lại từ đâu mà sinh ? Cho nên
nói: "Tất cả các pháp chẳng dư
thừa", vốn chẳng có dư thừa. Tất
cả các pháp, đều quy về nơi
"như". Chữ "như" nầy, có thể
giải thích như vầy: Dùng "trí
như như, khởi lý như như. Một
như không hai như. Sự cũng như
lý cũng như. Pháp hữu vi cũng là
như. Pháp vô vi cũng là như. Bất
cứ pháp gì cũng đều nhập vào
như".
Ngoài
ra có chút giải thích nữa: "Như"
tức là vắng lặng. Vắng lặng thì
chẳng có thể tánh. Cho nên các
pháp chẳng có dư thừa, là vì nó
chẳng có thể tánh. Bồ Tát minh
bạch thâm sâu đạo lý nầy, dùng
tâm thanh tịnh, mắt thanh tịnh
của Ngài, chẳng chấp trước,
chẳng nương tựa tu pháp hồi
hướng nầy. Dùng sức lực tinh
thần vô hình nầy, phá tất cả lao
ngục sinh tử trên thế gian. Năm
dục hoạn nạn đều có thể coi là
lao ngục sinh tử. Bồ Tát tu đạo
thành tựu, xả lìa năm dục, cho
nên bản thân Ngài thoát khỏi lao
ngục sinh tử thế gian. Ngài đem
căn lành tu tập hồi hướng cho
chúng sinh, khiến cho chúng sinh
thoát khỏi lao ngục sinh tử thế
gian. Hồi hướng về bồ đề giác
đạo, hồi hướng về chân như thật
tế, là khai mở lao ngục sinh tử
của thế gian.
Tuy khiến các cõi đều thanh tịnh
Cũng chẳng phân biệt nơi các cõi
Biết tánh các cõi chẳng chỗ có
Mà khiến tâm hoan hỉ thanh tịnh.
Các
cõi, là chỉ tất cả sự nhiễm ô.
Tuy nhiên chư Phật đều đã chuyển
biến tất cả nhiễm ô thành thanh
tịnh, nhưng Bồ Tát đối với sự
nhiễm ô và thanh tịnh, Ngài cũng
chẳng sinh tâm phân biệt, cũng
chẳng có sự chấp trước và biên
kiến. Bồ Tát là tâm tịnh cõi
nước tịnh, Ngài cũng biết tất cả
các cõi đều là hư vọng. Do đó:
"Phàm hết thảy tướng,
Đều là hư vọng.
Nếu thấy các tướng chẳng phải
tướng,
Tức thấy Như Lai".
Ðây nghĩa là nói Ngài biết các
cõi, giống như chẳng chỗ có. Mục
đích của chư Phật khiến cho các
cõi đều thanh tịnh, là vì khiến
cho chúng sinh sinh tâm hoan hỉ,
đều đại hoan hỉ, đồng thời cũng
khiến cho tâm ý của chúng sinh
thường thường đắc được thanh
tịnh.
Nơi một cõi Phật chẳng chỗ nương
Tất cả cõi Phật đều như vậy
Cũng chẳng nhiễm trước pháp hữu
vi
Biết pháp tánh đó chẳng chỗ
nương.
Bồ
Tát chẳng chấp trước vào một cõi
Phật nào, cũng chẳng nương nhờ
vào một cõi Phật nào. Ngài đối
với tất cả cõi Phật đều quan
niệm như vậy, đối với tất cả cõi
Phật, cũng ôm ấp nguyên tắc nầy.
Bồ Tát nhận thức đối với các
pháp, tức chẳng nhiễm trước pháp
hữu vi thế gian, cũng chẳng chấp
trước pháp vô vi xuất thế gian.
Vì Bồ Tát đã biết các pháp là
không thể tánh, là không chẳng
chỗ nương.
Nhờ đó tu thành nhất thiết trí
Nhờ đó trang nghiêm trí vô
thượng
Nhờ đó chư Phật đều hoan hỉ
Đó là nghiệp Bồ Tát hồi hướng.
Bồ
Tát vốn chẳng chấp, chẳng nương
tựa, tu trì công phu hành sở vô
sự, tu được nhất thiết trí huệ.
Dùng trí huệ thù thắng vô thượng
đó, trang nghiêm cõi nước chư
Phật. Do đó chư Phật đều đại
hoan hỉ, vì Ngài ấn chứng. Ðó
tức là Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng bất hoại, tu tất cả thiện
nghiệp, đắc được phước báo.
Bồ Tát chuyên tâm niệm chư Phật
Trí huệ vô thượng phương tiện
khéo
Như Phật tất cả chẳng chỗ nương
Nguyện tôi tu thành công đức
nầy.
Chuyên
tâm, là chuyên tâm nhất chí,
chẳng có tư tưởng và vọng niệm
nào khác. Trong tâm của Bồ Tát
chỉ có hai thứ niệm: Một là trên
cầu Phật đạo, luôn nghĩ nhớ chư
Phật. Hai là dưới độ chúng sinh,
chẳng bỏ chúng sinh. Chúng sinh
cũng có chuyên tâm nhất chí của
chúng sinh, bất quá sự chuyên
nhất chẳng giống với Bồ Tát. Bồ
Tát chuyên tâm tưởng niệm chư
Phật, chúng sinh thì chuyên tâm
ở trong đường sinh tử. Lúc thiếu
niên là giai đoạn bắt đầu học,
nhưng phần đông chẳng biết việc
học thế nào, Tại sao mà học. Lớn
lên sự học chưa thành, lại bị
sắc dục cám dỗ, truy đuổi khác
tính, đi vào đủ thứ sự ràng buộc
vợ chồng con cái, trói buộc suốt
đời, chẳng biết thoát khỏi, đây
tức là luôn luôn chuyên tâm của
chúng sinh. Chỗ khác nhau giữa
Bồ Tát và chúng sinh là tại chỗ
nầy. Bồ Tát thì chuyên tâm nhất
chí nghĩ nhớ chư Phật, đắc được
trí huệ vô thượng, và trí vô
ngại phương tiện khéo léo, trí
vô ngại biện tài, cùng với thần
thông oai lực giống như hết thảy
tất cả chư Phật chẳng nương tựa
chẳng chấp trước, độc lập tự
chủ, tự tại diệu dụng chẳng thọ
bất cứ chướng ngại gì. Bồ Tát tu
hồi hướng bất hoại nói: Hy vọng
tôi cũng có thể tu thành công
đức phước báu giống như Phật.
Chuyên tâm cứu hộ hết tất cả
Khiến họ xa lìa các nghiệp ác
Như vậy lợi ích các quần sinh
Luôn nghĩ tư duy chưa từng bỏ.
Bồ
Tát siêng tu Phật đạo, tức là vì
cứu hộ tất cả chúng sinh, cho
nên Ngài chẳng có lúc nào mà
không trên cầu Phật đạo, dưới độ
chúng sinh. Cứu bạt chúng sinh,
khiến cho họ đều xa lìa các
nghiệp ác. Bồ Tát giống như đạo
lý Kinh văn ở trên nói, tu hành
Bồ Tát đạo, đem hết thảy công
đức đều hồi hướng cho chúng
sinh, làm đủ thứ sự việc có lợi
ích cho chúng sinh. Luôn nghĩ
nhớ chúng sinh và chư Phật, tư
duy các pháp, chẳng có ngừng
nghỉ. Bồ Tát xem đối đãi chúng
sinh như chư Phật, vì Phật là
Phật đã thành, chúng sinh là
Phật vị lai. Bồ Tát trên cầu
pháp của chư Phật, dưới xin thức
ăn nơi chúng sinh. Cho nên Bồ
Tát đối với chúng sinh luôn nghĩ
nhớ, chưa từng lúc nào xả bỏ.
Trụ nơi trí địa thủ hộ pháp
Chẳng dùng thừa khác thủ Niết
Bàn
Chỉ nguyện thành Phật đạo vô
thượng
Bồ Tát khéo hồi hướng như vậy.
Bồ
Tát thường thường trụ nơi mảnh
đất trí huệ, thủ hộ tất cả Phật
pháp. Bồ Tát tu thượng thừa Phật
đạo, tức là Phật pháp đại thừa.
Phật pháp đại thừa khác với Phật
pháp nhị thừa, dùng tâm đại bi
làm thể. Tâm đại bi là vì chúng
sinh mà sinh khởi. Vì có tâm bi,
nên phát tâm đại bồ đề cứu hộ
chúng sinh, hành Bồ Tát đạo,
công đức viên mãn đầy đủ rồi,
thì sẽ thành quả Phật Chánh Ðẳng
Chánh Giác. Hàng nhị thừa thì sợ
lưu chuyển sinh tử, xả bỏ cứu hộ
chúng sinh, chẳng dám hành Bồ
Tát đạo, chỉ cầu cho mình. Bồ
Tát đại thừa Ngài chẳng sợ sinh
tử, Ngài chẳng xả bỏ đại nguyện
cứu hộ chúng sinh, cho nên Ngài
quyết chẳng thay đổi tông chỉ,
thối lùi tu nhị thừa mà thủ Niết
Bàn. Ngài chỉ có một nguyện
vọng, là đắc được đạo vô thượng
của Phật tu, trí huệ giống như
Phật, sức oai thần giống như
Phật. Vị Bồ Tát nầy tu hồi hướng
bất hoại, tu hành Phật thừa như
thế, chẳng tu pháp nhị thừa của
Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi
Phật. Và còn khéo hồi hướng cho
tất cả chúng sinh, hồi hướng về
vô thượng bồ đề, hồi hướng về
thật tế.
Chẳng lấy lời nói của chúng sinh
Tất cả việc hữu vi hư vọng
Tuy lại chẳng nương đường lời
nói
Cũng lại chẳng chấp không lời
nói.
Bồ
Tát chẳng thủ lấy lời nói của
chúng sinh, tức là chẳng thủ lấy
tri kiến của chúng sinh, chẳng
tuỳ tiếng phù hợp, vọng thêm tán
đồng. Vì tư tưởng lời nói hành
động của chúng sinh, thảy đều
trái với chánh pháp, tà kiến
điên đảo, dùng cái ta của mình
làm trung tâm, cho nên Bồ Tát
chẳng thủ lấy lời nói của chúng
sinh. Nhưng Bồ Tát Ngài hay dùng
trí huệ để giáo hoá chúng sinh,
Ngài chẳng xả bỏ lời nói của
chúng sinh, cũng chẳng chấp
trước vào lời nói của chúng
sinh. Tất cả những gì có hình có
tướng đều thuộc về pháp hữu vi.
Pháp hữu vi đều là hư vọng.
Chúng sinh vì chấp trước vào
pháp hữu vi, cho nên tất cả
những gì làm được đều là việc hư
vọng. Bồ Tát thấu rõ tất cả việc
hữu vi hư vọng, Ngài cũng chẳng
chấp lấy những việc hư vọng đó.
Tuy nhiên Ngài chẳng nương tựa
vào phương pháp đường lời nói,
nhưng cũng chẳng chấp trước
tướng không lời nói. Bồ Tát
chẳng chấp vào có, chẳng rơi vào
không; có, không chẳng hai. Ngài
luôn giữ trung đạo, tu trung đạo
liễu nghĩa, tu hạnh môn của chư
Phật.
Mười phương hết thảy các Như Lai
Thông đạt các pháp chẳng sót
thừa
Tuy biết tất cả đều vắng lặng
Chẳng ở nơi không khởi tâm niệm.
Mười
phương chư Phật, trong bản thể
của Phật, thì Phật Phật tự như,
chẳng nói chẳng truyền. Chúng ta
nên quán niệm như thế, chư Phật
nơi các pháp thảy đều thông đạt
thấu rõ đạo lý một pháp chẳng
sinh, một pháp chẳng lập, cho
nên nói các pháp chẳng sót thừa.
Chẳng chứng được vô sinh pháp
nhẫn, thì làm sao viên mãn đầy
đủ được quả vị Phật. Chư Phật
đều đã biết bản thể của tất cả
các pháp vắng lặng, quyết chẳng
ở nơi không lại sinh khởi tâm
niệm. Vì chư Phật đã thấu đạt ba
không: Cái ta không, pháp không,
không không. Song, các Ngài cũng
chẳng chấp trước vào không,
không thể sinh diệu hữu. Trong
chân không hay sinh diệu hữu,
trong diệu hữu lại có chân
không. Diệu lý của có, không,
nầy chẳng hai, thân làm đệ tử
Phật, thì phải nên siêng năng
suy gẫm.
Dùng một trang nghiêm nghiêm tất
cả
Cũng chẳng nơi pháp sinh phân
biệt
Như vậy khai ngộ các quần sinh
Tất cả không tánh không chỗ
quán.
Bồ
Tát dùng một thứ trang nghiêm,
để trang nghiêm tất cả cõi Phật.
Tóm lại, cũng có thể nói dùng
tất cả sự trang nghiêm, để trang
nghiêm một cõi Phật. Một tức là
tất cả, tất cả cũng đồng với
một. Vì một là số cơ bản, số mục
thêm nhiều đều từ một mà ra. Cho
nên đối với dùng một thứ trang
nghiêm mà trang nghiêm tất cả,
không cần cảm thấy kỳ lạ. Bồ Tát
đối với các pháp, cũng chẳng ở
trong bản thể của pháp, trong
tánh không, sinh ra phân biệt
như thế nào. Mười phương chư
Phật dùng đạo lý "lìa tất cả
tướng, tức tất cả pháp", để giáo
hoá chúng sinh, khiến cho hết
thảy chúng sinh đều thấu hiểu
thật tướng của các pháp, thì có
thể sẽ được khai ngộ. Tức biết
tất cả pháp đều không tự tánh,
thì không cần phải quán sát nó.
Bồ Tát nói đạo lý cảnh giới nầy,
là đã đạt đến giai đoạn rốt ráo,
đừng nói là một số phàm phu mới
học, cũng có thể như vầy. Dù
phàm phu Tăng mới phát tâm, cũng
không thể làm như vầy được. Chưa
đạt đến sự rốt ráo, thì vẫn phải
dùng trí huệ quán sát, nghiên
cứu thật tướng của tất cả các
pháp, mới có thể minh bạch chân
đế của Phật pháp.
Hồi
hướng đẳng tất cả Phật thứ ba.
Phật
tử ! Thế nào là hồi hướng đẳng
tất cả Phật của đại Bồ Tát ?
Bồ
Tát Kim Cang Tràng nói xong bài
kệ ở trước rồi, lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật !
Thế nào là đại Bồ Tát tu đẳng
tất cả chư Phật tu pháp môn hồi
hướng ?
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy tuỳ thuận tu
học đạo hồi hướng của chư Phật
Thế Tôn quá khứ, vị lai và hiện
tại. Khi tu học đạo hồi hướng
như vậy, thì thấy tất cả sắc,
cho đến xúc pháp, hoặc tốt, hoặc
xấu, chẳng sinh thương ghét, tâm
được tự tại. Chẳng có các lỗi
lầm. Rộng lớn thanh tịnh. Hoan
hỉ vui thích, lìa các ưu phiền.
Tâm ý nhu nhuyến, các căn mát
mẻ.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng đưa ra câu
hỏi ở trên rồi, lập tức giải
thích như sau, Ngài nói: Các vị
đệ tử của Phật ! Các vị có thể
biết vị đại Bồ Tát nầy, vị đại
Bồ Tát tu pháp môn hồi hướng
đẳng tất cả Phật, Ngài tuỳ thuận
sự chỉ dạy của chư Phật, tu học
đạo hồi hướng của ba đời chư
Phật tu. Tức là đạo hồi hướng
quá khứ chư Phật đã tu, đạo hồi
hướng chư Phật hiện tại đang tu,
và đạo hồi hướng chư Phật vị lai
sẽ tu. Khi Ngài tu học quá trình
đạo hồi hướng nầy, thì Ngài đối
với tất cả sắc, cho đến xúc
pháp, bất luận là sắc tốt, hoặc
sắc xấu, tiếng hay, tiếng dở,
mùi thơm, mùi hôi, vị ngon, vị
dở, xúc tốt, xúc dở, pháp lành,
pháp ác, đều chẳng làm cho Ngài
sinh ra tâm thương ghét và thích
chán. Bồ Tát an trụ vào tu học
đạo hồi hướng, chẳng bị cảnh
giới sáu trần lay chuyển, đó tức
là ý nghĩa:
"Người chuyển được cảnh giới,
Cảnh giới không chuyển được
người".
Phải
làm thế nào để đến được trình độ
nầy ? Phải điều phục sáu căn,
khiến cho sáu căn chẳng chuyển
theo sáu trần, sáu căn sáu trần
không thể hợp tác với nhau, thì
sẽ chẳng sinh ra tác dụng. Như
thế thì thấy mà không thấy, nghe
mà không nghe, như như chẳng
động, thì làm sao mà lay động
được vị đại Bồ Tát đó tu đạo hồi
hướng đẳng tất cả Phật ! Cho nên
lúc đó Ngài "Hoặc tốt hoặc xấu,
chẳng sinh thương ghét, tâm được
tự tại". Nhưng nếu như chẳng
điều phục sáu căn, khiến cho sáu
căn sáu trần hợp tác với nhau,
liền sinh ra sáu thức. Lúc đó nó
sẽ làm chủ nhân ông trong tâm
của bạn, tất cả đều do nó theo
đuổi chi phối. Thấy sắc mê sắc,
nghe tiếng mê tiếng, như thế thì
cứ bôn ba vãng lai ở trong sáu
trần, tâm thương ghét không thể
tự giác, vô minh phiền não,
thường ở bên cạnh, suốt cả đời
bị cảnh giới chuyển. Có tâm
thương ghét rồi, thì làm sao mà
đắc được tự tại ?
Hiện
tại chúng ta biết được nguyên
nhân tại sao Bồ Tát tâm được tự
tại? Là vì Ngài chẳng động tâm.
Chẳng động tâm, thì chẳng sinh
thương ghét, thì tâm sẽ được tự
tại. "Tự tại", hai chữ nầy hàm ý
bao quát nhìn xuyên thủng, buông
xả đặng, chẳng chấp, chẳng động
tâm niệm, chẳng bị thất tình lay
chuyển, chẳng bị năm dục mê
hoặc. Nếu sáu căn an ổn, thì tâm
luôn thanh tịnh, ý thường hoan
hỉ, vui thích, thân thể nhu
nhuyển thái nhiên, cử chỉ an
tường hoà duyệt. Ðối người tiếp
vật, khiến cho người ưa gần gũi,
chẳng có tơ hào ưu sầu phiền
não.
Vị
đại Bồ Tát nầy tu hồi hướng đẳng
tất cả Phật, vì tâm được tự tại,
cho nên Ngài đã lìa các lỗi lầm,
chẳng có lỗi gì có thể nói. Tâm
ý của Ngài thanh tịnh rộng lớn
như hư không. Niềm hoan hỉ vui
thích tràn đầy thân tâm của
Ngài. Tất cả sự ưu sầu khổ não,
đều tiêu mất chẳng còn nữa. Vì
Ngài tâm ý nhu nhuyến, các căn
rất mát mẻ, chẳng có hiện tượng
nhiệt não sinh khởi. Bồ Tát luôn
luôn ở trong cảnh giới nầy, vĩnh
viễn chẳng biến đổi. Tất cả dục
niệm cũng vĩnh viễn chẳng sinh
ra nữa. Chẳng giống như một số
phàm phu, khi tình chẳng tự tại,
thì phát điên phát cuồng, thậm
chí có thể làm ra việc xấu. Bình
thường thấy chẳng được bộ mặt
thật, cùng nhau hiện ra, khiến
cho người sợ hãi mà bỏ chạy.
Bồ
Tát tu đạo, xa lìa lỗi lầm và ưu
phiền, luôn ở trong tam muội
thường, lạc, ngã, tịnh. Ngài
chẳng nhập vào cảnh giới sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp,
chẳng những chẳng bị cảnh giới
sáu trần lay chuyển, mà còn
chuyển được cảnh giới sáu trần,
đắc được sáu căn dụng tự tại với
nhau. Giống như căn mắt vốn chỉ
có thể nhìn sự vật, hiện tại lại
có thể thấy, nghe, ngửi, nếm,
giác, tri, căn mắt nầy tác dụng
được năm căn khác kia. Căn tai
cũng như thế, mũi, lưỡi, thân,
ý, các căn, cũng đều như vậy,
mỗi căn đầy đủ công năng của sáu
căn. Nguồn gốc sáu căn chỉ có
sáu tác dụng, hiện tại một căn
mà tác dụng với nhau hết sáu
căn, tăng lên đến ba mươi sáu
thứ công dụng, đây chẳng phải là
việc mà phàm phu tưởng tượng đến
được. Cảnh giới nầy, gọi là thu
nhiếp bình đẳng không hai, đối
với sáu trần chẳng sinh phân
biệt, chẳng có tốt xấu, thơm
thối, hay dở, đủ thứ phân biệt,
đây tức là chẳng nhập vào sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức
cũng là "Nhập vào dòng Thánh
nhân pháp tánh, ngược lại dòng
phàm phu sáu trần", đã đắc được
tự tại vô ngại của pháp tánh. Sự
diệu dụng không thể nghĩ bàn
nầy, đáng tiếc chúng ta phàm phu
chẳng có đắc được. Ở trong sự hồ
đồ, thấy được tâm ý sáu trần của
mình, lập tức sinh ra tâm thương
yêu, luyến ái chẳng xả bỏ. Thấy
được sáu trần chẳng hợp ý mình,
thì sinh chán ghét, phiền não,
hoàn toàn bị sáu trần lay
chuyển. Ví dụ giống như nhiều
người tụ lại ở đây với nhau, ăn
vật ăn cũng vậy, sở thích mùi vị
của mỗi người đều khác nhau.
Cùng nhìn một sự vật, mà chỗ ưa
thích của mỗi người đều khác
nhau. Cùng nghe một âm thanh, mà
cảm giác của mỗi người cũng khác
nhau. Xem hoa thưởng trăng, tâm
tình của mỗi người cũng khác
nhau. Ðủ thứ loại cảnh giới đều
có sự phản ứng chẳng giống nhau,
mà chỉ chấp vào một mặt. Ðó
chẳng phải là sáu trần có mỗi sự
biến hoá, mà là chủ quan tác
dụng của mỗi người, tức cũng là
do có tâm thương ghét, chẳng đắc
được tự tại, vì không thể đi
ngược lại dòng sáu trần.
Các
vị đại Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng đẳng tất cả Phật, các Ngài
chẳng bị cảnh giới sáu căn, sáu
trần, sáu thức, lay chuyển, vì
các Ngài chẳng sinh thương ghét,
nên tâm được tự tại. Nếu chúng
ta cũng muốn đắc được cảnh giới
tự tại nầy, thì phải thường tu
phạm hạnh, giữ giới thanh tịnh,
do giới sinh định, do định sinh
huệ, sau đó sẽ đạt đến cảnh
giới:
"Mắt thấy hình sắc bên trong
chẳng có.
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng
hay".
Do
đó: Thấy mà không thấy, nghe mà
không nghe, ngửi mà không ngửi,
nếm mà không nếm, xúc là không
xúc, pháp mà không pháp, tất cả
hết thảy, đều sống ở trong cảnh
giới không thể nghĩ bàn.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát đắc được an
lạc như thế, lại càng phát tâm
hồi hướng chư Phật. Nghĩ như
vầy: Nguyện đem căn lành nay tôi
gieo trồng được, khiến cho sự
vui của chư Phật càng thêm tăng
trưởng thù thắng. Đó là: Sự vui
của Phật trụ không thể nghĩ bàn.
Sự vui tam muội của Phật chẳng
có ai sánh bằng. Sự vui đại từ
bi không thể hạn lượng. Sự vui
giải thoát của tất cả chư Phật.
Sự vui đại thần thông chẳng có
bờ mé. Sự vui đại tự tại tối cực
tôn trọng. Sự vui vô lượng lực
rộng lớn rốt ráo. Sự vui lìa các
tri giác vắng lặng. Sự vui luôn
chánh định trụ nơi trụ vô ngại.
Sự vui hành không hai hạnh chẳng
biến đổi.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát,
tức là vị đại Bồ Tát tu pháp hồi
hướng đẳng tất cả chư Phật, khi
Ngài đắc được thanh tịnh tự tại
như đã nói ở trên, sự vui chân
thật chẳng có thương ghét, chẳng
có ưu phiền, Ngài cảm giác được
sự an vui của chư Phật ban cho.
Vì Ngài cung kính tôn trọng chư
Phật, cảm kích ân đức chư Phật,
cho nên nguyện ý đem căn lành
công đức của mình tu tập được,
hồi hướng cho mười phương chư
Phật, tăng thêm sự vui của Phật.
Kỳ thật, chư Phật chẳng có vị
nào mà chẳng đầy đủ phước đức,
công hạnh viên mãn, đây là biểu
thị tâm chí thành khẩn thiết
chân thật của Bồ Tát mà thôi.
Chư Phật vốn có đủ sự vui thù
thắng, như nay Bồ Tát đem căn
lành trồng được hồi hướng về chư
Phật, khiến cho sự vui của chư
Phật lại càng tăng thêm thù
thắng. Do đó, Ngài phát tâm hồi
hướng cho Phật mười thứ vui đắc
được dưới đây:
1.
Sự vui của Phật tu, chỗ Phật trụ
không thể nghĩ bàn.
2.
Sự vui tam muội vô thượng của
chư Phật chứng được chẳng có ai
có thể sánh bằng.
3.
Sự vui đại từ bi của Phật chẳng
có hạn lượng.
4.
Sự vui giải thoát tự do an
tường, vô câu vô thúc của mười
phương ba đời chư Phật tu chứng
được.
5.
Sự vui đại thần thông nhậm vận
tự tại, rộng lớn vô biên của chư
Phật do có trí huệ thanh tịnh.
6.
Sự vui đại tự tại của chư Phật
đã đạt đến tột đỉnh cùng cực, mà
lại thọ người tôn trọng kính
ngưỡng bậc nhất.
7.
Sự vui thập lực của chư Phật,
một thứ thần lực đại oai đức
rộng lớn rốt ráo.
8.
Sự vui của chư Phật vắng lặng
lìa khỏi các tri giác, vượt qua
thấy nghe giác tri, chẳng nhập
vào thanh, hương, vị, xúc, pháp.
9.
Sự vui thiền duyệt luôn ở trong
chánh định, trụ ở chỗ trụ chẳng
có chướng ngại.
10.
Sự vui của chư Phật tu hành công
đức viên mãn, dứt hẳn hai hạnh,
đó là hạnh thấy và hạnh ái, đắc
được kim cang bát nhã, trụ nơi
pháp môn không hai chẳng biến
đổi.
Ở
trên là mười thứ an vui của
Phật, Bồ Tát đều hồi hướng,
nguyện đem đủ thứ sự vui nầy,
đều làm cho tăng thêm thù thắng
vô lượng vô cùng.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát đem các căn lành
hồi hướng cho Phật rồi. Lại đem
căn lành nầy hồi hướng cho Bồ
Tát. Đó là: Nguyện người chưa
viên mãn, thì khiến cho viên
mãn. Người nào tâm chưa thanh
tịnh, thì khiến cho được thanh
tịnh. Người nào chưa đầy đủ các
Ba La Mật, thì khiến cho được
đầy đủ. Tâm an trụ vào kim cang
bồ đề. Nơi nhất thiết trí, được
không thối chuyển. Chẳng xả bỏ
đại tinh tấn. Thủ hộ môn bồ đề
tất cả căn lành. Hay khiến cho
chúng sinh xả lìa ngã mạn, phát
tâm bồ đề, sở nguyện thành tựu
viên mãn. An trụ vào chỗ trụ của
tất cả Bồ Tát. Đắc được căn lành
minh lợi của Bồ Tát, tu tập căn
lành, chứng nhất thiết trí.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật !
Ðại Bồ Tát đem căn lành của Ngài
tu hồi hướng cho chư Phật rồi,
sau đó lại đem căn lành của Ngài
tu, hồi hướng cho các Bồ Tát
khác. Nội dụng của Ngài hồi
hướng là bao quát tự lợi lợi
tha. Ví như đối tượng đầu tiên
Ngài hồi hướng, tức là những Bồ
Tát đã phát nguyện lớn, đến hiện
tại vẫn chưa viên mãn đầy đủ. Vị
Bồ Tát nầy tu pháp môn hồi hướng
đẳng tất cả Phật, nguyện đem căn
lành của mình tu, hồi hướng cho
Bồ Tát nguyện lớn chưa đầy đủ,
hy vọng các Ngài đắc được lợi
ích, sớm được toại tâm mãn
nguyện. Sau đó tức là những vị
Bồ Tát, tuy nhiên nỗ lực chẳng
giải đãi, nhưng tâm của Ngài
chưa đắc được cảnh giới thanh
tịnh thật sự. Vậy vị Bồ Tát nầy
tu hồi hướng đẳng tất cả Phật,
là đem căn lành công đức của
mình tu tập, hồi hướng cho vị
đó, hy vọng vị đó sớm đạt được
cảnh giới tâm thanh tịnh. Hơn
nữa có Bồ Tát tu mười Ba La Mật,
vẫn chưa rốt ráo viên mãn, Bồ
Tát tu hồi hướng đẳng tất cả
Phật, là đem căn lành của mình
tu tập hồi hướng về vị đó, khiến
cho vị đó sớm được viên mãn, lên
được bờ bồ đề bên kia. Và nữa,
Bồ Tát sơ phát tâm, do tâm chưa
được hoàn toàn kiên cố, Bồ Tát
tu hồi hướng đẳng tất cả Phật,
sẽ đem căn lành công đức của
mình tu tập hồi hướng cho vị đó,
trợ giúp Ngài an trụ nơi tâm,
giống như tâm bồ đề kim cang,
vĩnh viễn chẳng thối chuyển tâm
bồ đề giác đạo. Nơi nhất thiết
trí huệ, nhất thiết chủng trí,
cũng sẽ chẳng thối chuyển. Vì Bồ
Tát đắc được lợi ích hồi tự
hướng tha, không chỉ mình an trụ
tâm bồ đề kim cang, chứng được
bất thối chuyển. Ðại Bồ Tát tu
pháp hồi hướng đẳng tất cả Phật,
cảnh giới của Ngài tu hành đã
đạt đến bát địa vô công dụng
hạnh, còn gọi là đại tinh tấn.
Tinh thần diệu dụng, nhậm vận tự
như, thấu đạt tất cả các pháp,
gọi là thủ hộ bồ đề môn tất cả
căn lành. Bồ Tát hồi hướng như
vậy, hay khiến cho chúng sinh xả
lìa ngã mạn, phát tâm đại bồ đề,
viên mãn thành tựu nguyện lớn đã
phát. An trụ chỗ trụ của tất cả
Bồ Tát. Hoạch được hết thảy căn
lành minh lợi của Bồ Tát: Tín,
tấn, niệm, định, huệ. Tu tập đủ
thứ căn lành, khiến cho chúng
sinh đều chứng nhất thiết trí,
cuối cùng thành quả vị Phật.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát đem các căn lành
hồi hướng cho Bồ Tát như vậy
rồi. Lại đem hồi hướng cho tất
cả chúng sinh. Nguyện hết thảy
căn lành của tất cả chúng sinh,
cho đến rất nhỏ, chừng một khảy
móng tay, được thấy Phật nghe
pháp, cung kính Thánh Tăng. Các
căn lành đó, đều lìa chướng
ngại. Niệm Phật viên mãn. Niệm
Pháp phương tiện. Niệm Tăng tôn
trọng. Chẳng lìa thấy Phật, tâm
được thanh tịnh, đắc được các
Phật pháp. Tích tập vô lượng
đức, thanh tịnh các thần thông,
xả bỏ pháp nghi niệm, nương giáo
lý mà trụ.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát,
nội dung giống như Kinh văn đã
nói ở trên, hồi hướng cho tất cả
Bồ Tát rồi, sau đó lại đem căn
lành tu tập hồi hướng cho tất cả
chúng sinh. Ngài âm thầm cầu
nguyện nói: Tôi nguyện cho tất
cả chúng sinh, nhờ căn lành của
họ, và căn lành tôi hồi hướng
cho họ, dù rất cực nhỏ, cũng có
thể khiến cho họ đắc được lợi
ích. Thời gian khảy móng tay,
liền được thấy Phật, nghe được
Phật nói pháp, đồng thời cũng
thấy được nhiều đại đức hiền
Thánh Tăng, cung kính lễ bái Tam
Bảo. Những căn lành đó, đều
khiến cho chúng sinh lìa khỏi
tất cả sự chướng ngại, cho đến
chúng sinh có ít căn lành, cũng
lìa khỏi tất cả chướng ngại như
nhau, sinh khởi tâm niệm Phật.
Dùng thâm tâm niệm Phật, chẳng
có giờ phút nào không niệm Phật.
Niệm
Phật niệm đến cảnh giới: "Niệm
mà không niệm, không niệm mà
niệm, niệm đến viên mãn rốt ráo,
thì không niệm mà tự niệm", đó
gọi là niệm Phật tam muội, sẽ
đạt đến giai đoạn "niệm Phật
viên mãn". Phương tiện niệm
pháp: Bồ Tát tại phương diện
niệm Phật, đã được tam muội. Tại
phương diện niệm pháp, thì tự
nhiên cũng được vô lượng pháp
hỷ, vì nó đã vào sâu tạng Kinh,
trí huệ như biển, biết rõ tám
vạn bốn ngàn pháp môn, chẳng có
môn nào chẳng phải là pháp môn
phương tiện, chẳng có môn nào
chẳng phải là pháp môn không
hai. Ngài dùng đủ thứ tất cả
pháp phương tiện, chẳng có pháp
nào chẳng toại tâm mãn nguyện.
Niệm Tăng tôn trọng: Hiền Thánh
Tăng trong mười phương, ngưỡng
mộ nghĩ nhớ, cung kính tôn
trọng. Ngài đầy đủ ba niệm,
thành tựu công đức niệm Tam Bảo,
cho nên chẳng lìa thấy Phật.
Thường thường thấy được chư
Phật, do đó trong tâm chẳng sinh
tất cả vọng niệm. Chẳng có vọng
niệm, thì tâm sẽ đắc được thanh
tịnh. Do đó đắc được pháp nói,
pháp hành, pháp tu, của chư
Phật, đó đều là vì tâm được
thanh tịnh, mới đắc được các
Phật pháp. Nếu tâm chẳng thanh
tịnh, thì chẳng đắc được tất cả
pháp. Tích tập vô lượng đức,
tịnh các thần thông; đắc được
pháp vô thượng của chư Phật rồi,
thì nhất định phải tu, phải trì,
phải hành, mới đắc được lợi ích.
Y theo pháp mà hành, thì sẽ tích
tập vô lượng căn lành công đức.
Tu phạm hạnh thanh tịnh, sẽ đắc
được trí huệ vô thượng, cũng có
thể thành tựu vô lượng thần
thông. Trí huệ và thần thông,
đều do sự tu thanh tịnh và niệm
Phật tam muội mà chứng được.
Chúng sinh thọ được lợi ích lớn
của Bồ Tát hồi hướng, thì đối
với sự hoài nghi về Phật pháp
trong quá khứ chẳng minh bạch,
hiện tại đều quét sạch, an trụ
nơi lời dạy của chư Phật nói, y
pháp phụng hành, vĩnh viễn chẳng
thối chuyển.
Như
vì chúng sinh hồi hướng như vậy.
Vì Thanh Văn Bích Chi Phật hồi
hướng, cũng lại như thế.
Ðại
Bồ Tát tu hồi hướng đẳng tất cả
Phật, vì tất cả chúng sinh hồi
hướng, như Kinh văn đã nói ở
trên. Ðối với bậc Thánh hàng nhị
thừa: Thanh Văn Bích Chi Phật,
Ngài cũng vì các bậc ấy mà hồi
hướng như thế.
Lại
nguyện tất cả chúng sinh, vĩnh
viễn lìa khỏi địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, vua Diêm La, tất cả
nơi ác. Tăng trưởng tâm vô
thượng bồ đề. Chuyên tâm siêng
cầu nhất thiết chủng trí. Vĩnh
viễn chẳng huỷ báng chánh pháp
của chư Phật. Được an lạc của
Phật. Thân tâm thanh tịnh. Chứng
được nhất thiết trí.
Ðại
Bồ Tát tu hồi hướng đẳng tất cả
Phật, trước hết Ngài đem căn
lành hồi hướng về chư Phật, để
biểu thị báo ân Phật, sau đó hồi
hướng cho các Bồ Tát phát tâm
khác, lại hồi hướng cho tất cả
chúng sinh, lại hồi hướng cho
hàng nhị thừa. Hiện tại Ngài lại
đem căn lành tu hành, hồi hướng
cho chúng sinh thọ khổ trong ba
đường ác. Bồ Tát tâm bi tha
thiết, bình đẳng nghĩ đến chúng
sinh thiện ác. Ngài nói: Nguyện
đem căn lành của tôi tu, hồi
hướng cho chúng sinh trong ba
đường ác, hy vọng họ được lợi
ích nầy, vĩnh viễn xa lìa địa
ngục, ngạ quỷ, súc sinh và vua
Diêm Vương, tất cả nơi ác, nơi
thọ tội. Ðược sinh về chốn lành,
thấy Phật nghe pháp, tăng trưởng
đạo tâm vô thượng bồ đề. Chuyên
tâm nhất chí siêng năng tinh
tấn, cầu nhất thiết chủng trí,
nhất thiết đạo chủng trí. Vĩnh
viễn chẳng huỷ báng chánh pháp
của chư Phật, đắc được an lạc
giống như Phật. Thân tâm thanh
tịnh, chứng được nhất thiết trí
huệ.
Phật
tử ! Hết thảy căn lành của đại
Bồ Tát, đều nhờ nguyện lớn phát
khởi, chánh phát khởi. Tích tập,
chánh tích tập. Tăng trưởng,
chánh tăng trưởng. Đều khiến cho
rộng lớn, đầy đủ sung mãn.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát,
hết thảy căn lành của Ngài đều
do Ngài phát khởi nguyện lớn mà
sinh ra. Nếu vốn chẳng có căn
lành, sau lại phát khởi nguyện
lớn, mà trợ lực hạnh. Do lực
hạnh, căn lành chưa sinh sẽ
khiến sinh ra. Phát khởi tức là
lực hạnh. Chánh phát khởi, là
lìa khỏi tất cả lỗi lầm, lực
hạnh chánh đạo. Tích tập, do nơi
lực hạnh chánh đạo, sẽ tích tập
rất nhiều căn lành. Chánh tích
tập, là nói ở trong sự hành tất
cả chánh đạo, bao quát hết thảy
nghiệp thiện, thành tựu giúp
thành bồ đề đạo hạnh. Cũng có
thể nói do nguyện lực, nhiếp căn
lành nầy thành các thắng hạnh,
khiến cho nó chẳng tán mất, cho
nên nói tích tập, chánh tích
tập. Lại vì nguyện lực, nhiếp
hoá căn lành tích tập các thắng
hạnh, lại sinh các thắng hạnh,
thì gọi là tăng trưởng. Ở trong
mỗi mỗi các thắng hạnh, bèn sinh
ra tất cả các thắng hạnh, gọi là
chánh tăng trưởng. Bồ Tát khiến
cho những căn lành nầy đều rộng
lớn, đầy đủ, sung mãn.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát ở tại gia, cùng
với vợ con, chưa từng tạm xả bỏ
tâm bồ đề. Chánh niệm suy gẫm
cảnh nhất thiết trí. Tự độ độ
tha, khiến cho được rốt ráo.
Dùng phương tiện khéo léo, giáo
hoá quyến thuộc của mình. Khiến
cho nhập vào trí Bồ Tát. Khiến
cho thành thục giải thoát. Tuy
cùng ở chung với nhau, mà tâm
chẳng chấp trước. Dùng gốc đại
bi mà hiện ở nhà. Vì dùng tâm
từ, mà tuỳ thuận vợ con. Nơi đạo
thanh tịnh của Bồ Tát chẳng có
chướng ngại.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát,
Ngài ở tại gia sống chung với vợ
con, cũng chẳng quên đi tâm bồ
đề. Bồ Tát đại thừa thường
thường thị hiện người bình
thường, có thê thiếp con cái tôi
tớ .v.v... Như Bồ Tát Ðăng Ðịa,
hay thị hiện Vua Chuyển Luân
Thánh Vương và ông vua, trưởng
giả giàu có. Có Bồ Tát thị hiện
phàm phu, thậm chí thị hiện
người ác, mục đích đều là vì
giáo hoá chúng sinh, tuỳ duyên
thị hiện, tuỳ nguyện thị hiện.
Cho nên Bồ Tát có Bồ Tát tại gia
và Bồ Tát xuất gia. Có thể phân
biệt từ cách phục sức. Bồ Tát
tại gia đều là thân mặc đồ hoa,
đầu đội mũ, thân mang chuỗi. Bồ
Tát xuất gia thì đầu tròn mặc áo
Cà Sa. Cà Sa con gọi là y phước
điền, chúng sinh thấy người xuất
gia thì đảnh lễ, tức là thấy y
phước điền, mà hướng đến cầu
phước, cho nên người xuất gia
phải luôn luôn đắp y. Ðắp y là
hiện tướng Bồ Tát xuất gia.
Trước kia Quốc Sư Thanh Lương
từng nói hai câu rằng:
"Thể chẳng tổn Sa Môn chi biểu,
Tâm chẳng vi Như Lai chi chế".
Nghĩa là "Thân chẳng làm tổn đi
biểu hiện của bậc Sa Môn, và tâm
chẳng trái với giới điều Như Lai
chế ra. Vì thân mặc y Cà Sa, là
lúc Phật còn tại thế quy định
đối với người xuất gia. Khi tôi
đến nước Mỹ hoằng pháp thì phát
tâm nhất định muốn khôi phục lại
điều Như Lai chế ra, cho nên
người xuất ra ở Chùa Kim Sơn,
bất luận là trời nóng đến mức độ
nào, cũng nhất định là y không
lìa thân, trừ lúc vào phòng rửa
tay, hoặc đi tắm mới cởi y ra.
Bồ
Tát ở tại gia, là chỉ Bồ Tát tại
gia, tuy nhiên Ngài thị hiện một
vị Bồ Tát tại gia, có vợ con tôi
tớ vây quanh, nhưng Ngài chẳng
bị năm dục làm ô nhiễm, cũng
chưa từng tạm xả bỏ tâm bồ đề
giác đạo. Chánh niệm suy gẫm: Bồ
Tát có tâm đại từ bi, cho nên có
thể tuỳ nhiễm mà không nhiễm. Có
đại trí huệ, thì hay sống nơi
con đường thanh tịnh. Suy gẫm
các pháp, một lòng cầu cảnh giới
nhất thiết chủng trí. Lại tu tất
cả nghĩa lý, thảy đều thông đạt
thành tựu trí huệ vô thượng, mà
chư Phật rốt ráo viên mãn. Bồ
Tát tu học bồ đề giác đạo, cầu
quả Phật vô thượng, mục đích của
Ngài là mình chấm dứt sinh tử,
cũng độ cho kẻ khác đắc được
giải thoát, đạt được cảnh giới
rốt ráo. Dùng các pháp môn
phương tiện khác nhau, khéo léo
hoá độ lục thân quyến thuộc của
mình, khiến cho họ đắc được trí
huệ giống như Bồ Tát, thấu rõ lý
tánh chân thật của các pháp, tín
niệm thành thục, chân thật giải
thoát. Tuy Bồ Tát hằng ngày cùng
ở chung một nơi với vợ con lục
thân quyến thuộc, nhưng tâm của
Ngài chẳng chấp vào năm dục,
chẳng bị thân tình ràng buộc.
Ngài vẫn ôm ấp nguyện lớn đã
phát trong quá khứ, tâm bi cứu
độ chúng sinh, với gia tộc hoà
mục với nhau. Dùng tâm đại từ
tuỳ thuận vợ con, giữa đó đây
cung kính lẫn nhau. Bồ Tát dùng
tâm nhu nhuyến, và thái độ hài
hoà, cư gia xử thế, đối với đạo
nghiệp Bồ Tát thanh tịnh mà Ngài
tu, chẳng có chút gì chướng
ngại.
Đại
Bồ Tát tuy ở tại gia, làm các sự
nghiệp, chưa từng tạm xả tâm
nhất thiết trí. Đó là: Hoặc mặc
y phục. Hoặc ăn thực phẩm. Hoặc
uống thuốc thang, tắm rửa, quay
nhìn, đi đứng nằm ngồi, thân lời
ý nghiệp. Hoặc ngủ, hoặc thức
.v.v… Tất cả các việc làm như
vậy, tâm thường hồi hướng về đạo
nhất thiết chủng trí, chuyên
niệm suy gẫm, chẳng có lúc nào
xả lìa.
Ðại
Bồ Tát tuy sinh sống ở trong gia
tộc như những người bình thường,
tất cả biểu hiện làm việc hành
động, đâu chẳng phải là dùng trí
hoá tình, dùng trí Bát Nhã lãnh
đạo vạn hạnh. Ngài chưa từng xả
lìa tâm nhất thiết trí. Trên
biểu hiện nhìn lại, Bồ Tát là
một người phàm trên thế giới
nầy. Thân thể của Ngài ở nơi
phàm trần, nhưng tâm của Ngài
vượt khỏi phàm trần, đây giống
như trồng hoa trong giếng chẳng
nhiễm bụi trần, hoa sen vươn
khỏi bùn lầy mà chẳng nhiễm.
Sinh hoạt thường ngày của Bồ
Tát, giống như lúc mặc quần áo,
lúc ăn cơm, hoặc lúc uống thuốc
thang, tắm rửa, lúc vận động, ăn
cơm xong đi kinh hành, đi bộ
dưới trăng, lúc đi nhiễu Phật ở
Phật đường, cho đến quay đầu
nhìn ngó, bất luận là đi, đứng,
ngồi, hoặc nằm, chẳng có lúc nào
mà Ngài chẳng chú ý kiểm điểm ba
nghiệp thanh tịnh và oai nghi.
Và nữa lúc ngủ, hoặc lúc nghỉ,
mỗi ngày sinh hoạt giống như
vậy, ra vào lai vãng, nói năng
động tĩnh, hết thảy tất cả biểu
hiện hành vi, trong tâm của Ngài
đều quán chiếu Phật đạo, hồi
hướng về đạo nhất thiết chủng
trí. Ngài chuyên tâm hệ niệm suy
gẫm đạo lý chân thật của các
pháp, vĩnh viễn chẳng có lúc nào
xả lìa trí tâm.
Vì
muốn lợi ích tất cả chúng sinh,
an trụ bồ đề vô lượng đại
nguyện. Nhiếp lấy vô số căn lành
rộng lớn. Siêng tu các việc
lành, khắp cứu tất cả. Vĩnh viễn
lìa tất cả kiêu mạn phóng dật.
Quyết định hướng về nhất thiết
trí địa. Quyết không phát ý
hướng về đạo khác, thường quán
tất cả chư Phật bồ đề. Vĩnh viễn
xả bỏ tất cả các pháp tạp nhiễm,
tu hành tất cả sở học của Bồ
Tát. Nơi đạo nhất thiết trí,
chẳng có chướng ngại. Trụ nơi
trí địa, ưa thích tụng tập. Dùng
vô lượng trí, tập các căn lành.
Tâm chẳng luyến thích tất cả thế
gian, cũng chẳng nhiễm trước
hạnh mà mình thực hành, chuyên
tâm thọ trì giáo pháp của chư
Phật.
Bồ
Tát vì muốn lợi ích tất cả chúng
sinh, nên luôn luôn tinh tấn tu
học bồ đề giác đạo, để hoàn
thành nguyện lớn mà Ngài đã
phát. An trụ, tức là chẳng thối
chuyển hoặc giải đãi. Nguyện lớn
Bồ Tát phát ra lấy sự lợi ích
chúng sinh làm đầu, chưa từng
nghĩ đến mình. Bồ Tát muốn nhiếp
lấy vô số căn lành rộng lớn, cho
nên Ngài siêng tu các việc lành.
Các việc lành là bao quát việc
lành lớn nhỏ mà nói, chẳng lựa
chọn việc lành lớn nhỏ, chẳng để
ý đến đối tượng của việc lành,
là thân sơ chăng, mà khắp cứu
tất cả chúng sinh, ôm hoài bảo
tinh thần vô duyên đại từ, đồng
thể đại bi, bình đẳng cứu bạt
tất cả chúng sinh, khiến cho
chúng sinh vĩnh viễn lìa khỏi
tâm kiêu ngạo tự mãn, và thái độ
cống cao ngã mạn, cùng với tà
hạnh phóng dật. Phóng dật là gốc
rễ của các hoặc. Kiêu là nhiễm
pháp sở y. Mạn hay trầm luân lâu
dài sinh tử. Nếu lìa khỏi được
ba hoặc nầy, thì những nghiệp
hoặc khác đều có thể lìa khỏi.
Bồ Tát được tâm thanh tịnh,
quyết định hướng về con đường
nhất thiết trí. Không bao giờ
thay đổi tâm ý, đi trên tà đạo.
Ngài luôn luôn quán sát các pháp
thật tướng, chánh niệm suy gẫm
bồ đề giác đạo. Vĩnh viễn xả bỏ
tất cả pháp tạp nhiễm chẳng
thanh tịnh, pháp hữu lậu thế
gian. Chuyên tâm tu hành đạo của
tất cả Bồ Tát tu hành. Siêng cầu
nơi tất cả trợ đạo tăng trưởng
trí huệ, khai đại trí huệ, chứng
được trí huệ viên dung vô ngại.
Bồ Tát đã đoạn sạch tất cả phiền
não, xả bỏ lý sự hai chướng
ngại, mà trụ nơi trí huệ địa,
pháp môn Bát Nhã. Ngài thân tâm
an lạc, pháp hỷ sung mãn. Chuyên
tâm ưa thích đọc tụng Kinh điển
đại thừa, tu học Phật pháp
thượng thừa. Dùng vô lượng trí
huệ như thế, tích tập vô lượng
căn lành. Trong tâm chẳng tham
ái năm dục thế gian, cũng chẳng
tham trước khoái lạc hư vọng của
thế gian, càng không nhiễm ô
hạnh của phàm phu, cũng chẳng
chấp trước vào hạnh môn của mình
tu. Chuyên tâm nhất chí, vào sâu
tất cả giáo lý Phật pháp của chư
Phật, y pháp tu hành, y giáo
hành trì.
Bồ
Tát ở tại gia như vậy, khắp
nhiếp căn lành khiến cho tăng
trưởng, hồi hướng chư Phật vô
thượng bồ đề.
Tuy
nhiên Bồ Tát ở chúng với gia tộc
quyến thuộc, nhưng Ngài vẫn thủ
hộ căn lành của mình, chẳng
khiến cho tán mất. Khắp nhiếp
thọ tất cả căn lành, khiến cho
nó tăng trưởng, khiến cho nó dần
dần thành tựu. Bồ Tát đem vô
lượng căn lành tích tụ, hồi
hướng về mười phương ba đời chư
Phật vô thượng bồ đề giác quả.
Phật
tử ! Bấy giờ, Bồ Tát cho đến thí
cho súc sinh thức ăn một nắm,
một hột, đều nguyện rằng: Sẽ
khiến cho những súc sinh nầy, xả
bỏ đường súc sinh, được lợi ích
an lạc, rốt ráo giải thoát. Vĩnh
viễn vượt khỏi biển khổ. Vĩnh
viễn tiêu diệt thọ khổ. Vĩnh
viễn tiêu trừ khổ uẩn. Vĩnh viễn
dứt khổ giác, khổ tụ, khổ hành,
khổ nhân, khổ bổn và các khổ xứ.
Nguyện cho những chúng sinh đó,
đều được xả lìa. Bồ Tát chuyên
tâm hệ niệm tất cả chúng sinh
như thế, dùng các căn lành đó
làm thượng thủ, để vì họ hồi
hướng nhất thiết chủng trí.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị Bồ Tát đó
tu pháp môn hồi hướng đẳng tất
cả Phật, Ngài hành công đức bố
thí, chẳng hoàn toàn dùng người
làm đối tượng, khi Ngài bố thí
thức ăn cho súc sinh thì, dù ít
chừng một nắm, một hạt cơm, Ngài
đều phát nguyện lớn như nhau,
quyết chẳng vì thức ăn nhiều mà
nguyện vọng phát ra khác nhau.
Ngài cũng đều hy vọng súc sinh
đắc được chút thức ăn, do nguyện
lực của Ngài, mà xả bỏ đạo quả
súc sinh, mà cứ nơi hồi hướng
nguyện vọng của Ngài, đắc được
lợi ích an lạc, đắc được giải
thoát rốt ráo chân thật, sớm
thoát khỏi biển khổ sinh tử,
vĩnh viễn tiêu diệt tất cả khổ
thọ. Thọ, là khổ của tự tánh,
cho nên phải tiêu diệt, vĩnh
viễn trừ khỏi tất cả khổ uẩn.
Uẩn là khổ nương tựa, như năm ấm
xí thạnh khổ. Vĩnh viễn đoạn
tuyệt tất cả khổ giác. Giác là
khổ tướng, cũng nhiếp oán tắng
hội khổ, ái biệt ly khổ .v.v...
Cho đến tất cả các khổ tụ, như
sinh, già, bệnh, chết, ba thứ
khổ, tám thứ khổ. Khổ hành, là
các khổ do tội nghiệp làm ra.
Khổ nhân, là nhân khởi của tất
cả sự khổ, tức là do tâm khởi
các hoặc. Khổ bổn, là gốc rễ của
khổ, đều từ tham dục mà sinh.
Cùng với đủ thứ nơi thọ khổ.
Những nơi thọ khổ, đó là ba
đường ác: Súc sinh, ngạ quỷ, địa
ngục, cùng với nhiều sự biển đổi
sở y. Các khổ ở trên, Bồ Tát đều
hy vọng chúng sinh đắc được lợi
ích hồi hướng của Ngài, vĩnh
viễn xả lìa những thứ khổ nạn
đó. Bồ Tát tu pháp hồi hướng như
vậy, tại sao ? Bồ Tát chẳng phải
vì mình cầu an lạc, mà vì giải
thoát tất cả chúng sinh, lìa khổ
được vui, cho nên Ngài mới
chuyên tâm hệ niệm tất cả chúng
sinh, Bồ Tát vì lợi ích cho
chúng sinh, tu tập căn lành là
việc đầu tiên của Ngài. Vì khiến
cho tất cả chúng sinh, đều đắc
được nhất thiết chủng trí, đắc
được bồ đề giác quả, cho nên
Ngài đem căn lành của Ngài tu,
vì tất cả chúng sinh mà hồi
hướng, vì nhất thiết chủng trí
mà hồi hướng.
Bồ
Tát sơ phát tâm bồ đề, khắp
nhiếp chúng sinh. Tu các căn
lành, thảy đều hồi hướng. Muốn
khiến cho họ vĩnh viễn lìa khỏi
sinh tử khoáng dã. Đắc được
khoái lạc vô ngại của Như Lai.
Thoát khỏi biển phiền não. Tu
con đường Phật pháp, tâm từ đầy
khắp, sức bi rộng lớn. Khắp
khiến cho tất cả đắc được an lạc
thanh tịnh. Thủ hộ căn lành, gần
gũi Phật pháp, thoát khỏi cảnh
giới ma, nhập vào cảnh giới của
Phật. Đoạn hạt giống thế gian,
gieo trồng hạt giống Như Lai.
Trụ ở trong pháp ba đời bình
đẳng. Đại Bồ Tát đem hết thảy
căn lành đã tích tập, sẽ tích
tập, hiện đang tích tập, thảy
đều hồi hướng.
Vị
Bồ Tát đó tu pháp hồi hướng đẳng
tất cả Phật, khi Ngài lúc đương
sơ phát tâm bồ đề, thì Ngài khắp
nhiếp thọ hết thảy chúng sinh,
tu hành đủ thứ căn lành, đem căn
lành đó, thảy đều hồi hướng cho
pháp giới chúng sinh. Mục đích
Ngài hồi hướng là muốn khiến cho
tất cả chúng sinh, vĩnh viễn
thoát khỏi khoáng dã sinh tử.
Nghĩa là nói những chúng sinh
đó, khi sống thì chẳng chỗ
nương, chết rồi cũng chẳng có
quy túc, sinh tử hai con đường,
chẳng có biện pháp dứt sinh tử,
cho nên dùng hai chữ "khoáng dã"
để hình dung. Chúng sinh có thể
vĩnh viễn lìa khoáng dã sinh tử,
thì tự nhiên sẽ được lợi ích của
Bồ Tát giáo hoá, tin sâu chánh
pháp, biết tu hành biện đạo, sẽ
đắc được khoái lạc chẳng chướng
ngại của mười phương chư Phật,
chẳng thọ bất cứ sự vật nào
nhiễu loạn chân tâm khoái lạc.
Lúc
đó, phiền não vô tận của tất cả
chúng sinh, giống như biên cả,
vô hình sẽ đoạn diệt. Họ đều
thoát khỏi biển khổ phiền não.
Vì chúng sinh đều minh bạch phải
tu học đạo pháp của chư Phật.
Tâm từ ái của chư Phật đầy dẫy
khắp pháp giới, tâm bi tha thiết
của Ngài, và nguyện lực cũng đặc
biệt rộng lớn, sung mãn hư
không, khắp khiến cho tất cả
chúng sinh, đều đắc được khoái
lạc mát mẻ. Thủ hộ căn lành của
mình tu, cũng thủ hộ căn lành
của tất cả chúng sinh, khiến cho
tất cả chúng sinh đều biết gần
gũi Phật, gần gũi pháp. Mình
cũng gần gũi Phật, gần gũi pháp.
Thoát khỏi tất cả cảnh giới của
thiên ma ngoại đạo. Nhập vào
cảnh giới chánh tri chánh kiến
của Phật. Bồ Tát thường hành Bồ
Tát đạo, tức là không để cho
chúng sinh nhập vào cảnh giới
ma. Ðoạn trừ hạt giống thế gian,
hạt giống thế gian tức là tất cả
pháp ô nhiễm. Bồ Tát tự mình sớm
đã dứt sạch ô nhiễm, cho nên
Ngài giáo hoá chúng sinh, khiến
cho chúng sinh cũng dứt pháp ô
nhiễm của thế gian, còn phải dứt
trừ hạt giống pháp thế gian. Sau
đó phải gieo trồng hạt giống
Phật. Gì là hạt giống Phật ? Tức
là trí huệ thù thắng. Trí huệ
thì phải tu tập, cho nên phải tu
học Phật đạo, giống như tài bồi
hạt giống, cũng cần phải vun bồi
tưới nước. Trí huệ của Như Lai,
tức là hạt giống của Phật. Tu
học Phật đạo, tức là vun bồi hạt
giống trí huệ. Bồ Tát trụ ở
trong pháp ba đời bình đẳng của
chư Phật nói ra, nơi tất cả lý
sự, chẳng sinh biên kiến phân
biệt, ôm lòng bình đẳng đại từ.
Ba đời, tức là đời quá khứ, đời
hiện tại, và đời vị lai. Ðại Bồ
Tát đem căn lành Ngài đã tích
tập trong quá khứ, căn lành Ngài
sẽ tích tập đời vị lai, căn lành
Ngài đang tích tập hiện tại, tơ
hào chẳng lưu giữ, hoàn toàn hồi
hướng cho tất cả chúng sinh, hồi
hướng về vô thượng bồ đề, hồi
hướng về chân như thật tế.
Ngài
lại nghĩ như vầy: Như chỗ tu
hành của chư Phật Bồ Tát quá khứ
thực hành, cung kính cúng dường
tất cả chư Phật. Độ các chúng
sinh, khiến cho họ vĩnh viễn
thoát khỏi. Siêng năng tu tập
tất cả căn lành, thảy đều hồi
hướng mà chẳng chấp trước. Những
là chẳng nương nơi sắc, chẳng
chấp vào thọ, không tưởng điên
đảo, chẳng tác ý nơi hành, chẳng
thủ lấy thức. Xả lìa sáu xứ,
chẳng trụ thế pháp, ưa xuất thế
gian.
Bồ
Tát lại quán tưởng như vầy: Tôi
phải học hạnh môn tu hành của
chư Phật và Bồ Tát quá khứ, tôi
nguyện ý tu hành giống như các
Ngài. Giống như các Ngài cung
kính tất cả chư Phật, cúng dường
tất cả chư Phật, gần gũi tất cả
chư Phật, lễ lạy tất cả chư
Phật, khen ngợi tất cả chư Phật.
Ðộ tất cả chúng sinh, thường
xiển dương chánh pháp đối với
họ, tiếp dẫn họ lìa khổ được
vui, khiến cho họ vĩnh viễn
thoát khỏi ba cõi: Cõi dục, cõi
sắc, cõi vô sắc. Luôn luôn dũng
mãnh tinh tấn, siêng năng tu tập
tất cả căn lành. Tất cả căn lành
tức là "Không làm các điều ác,
chuyên làm các việc lành", để
tăng trưởng căn lành của mình.
Ðem căn lành của mình tu tập,
đều hồi hướng cho tất cả chúng
sinh, hồi hướng về vô thượng bồ
đề, hồi hướng về thật tế. Khi Bồ
Tát hồi hướng như thế thì, một
chút cũng chẳng chấp trước vào
việc của mình làm, cũng chẳng
chấp trước vào tôi đã giáo hoá
tất cả chúng sinh. Như chẳng
nương vào sắc, tức chẳng nương
vào tất cả vật chất có hình,
chẳng chấp vào nơi thọ uẩn,
chẳng chấp vào nơi tưởng uẩn.
Chẳng có tư tưởng điên đảo,
chẳng tác ý nơi hành uẩn, cũng
chẳng chấp vào nơi thức uẩn. Sắc
thọ tưởng hành thức năm uẩn đều
chẳng chấp vào. Xả lìa sắc thanh
hương vị xúc pháp cảnh giới sáu
trần. Vĩnh viễn lìa khỏi sự cám
dỗ của sáu xứ nầy. Tóm lại, Bồ
Tát quyết chẳng lưu luyến nơi
năm dục sáu trần. Tâm niệm của
Ngài xa lìa hồng trần, đắc được
pháp lạc thanh tịnh, cho nên
Ngài chẳng trụ pháp thế gian mà
hoan hỉ tu hành, ưa thích tu
Phật đạo xuất thế gian, ưa thích
xuất thế gian, vì Ngài biết tất
cả trên thế gian đều là hư vọng.
Bồ
Tát biết tất cả pháp như hư
không. Chẳng từ đâu đến. Không
sinh không diệt. Không có chân
thật. Không có nhiễm trước. Xa
lìa tất cả thấy phân biệt. Chẳng
động chẳng chuyển, chẳng mất
chẳng hoại. Trụ nơi thật tế.
Không tướng lìa tướng, chỉ là
một tướng. Vào sâu tất cả pháp
tánh như vậy. Thường ưa tu tập
phổ môn căn lành. Đều thấy tất
cả chúng hội của chư Phật.
Ðại
Bồ Tát tu hồi hướng đẳng tất cả
Phật, sở dĩ Ngài chẳng chấp vào
đủ thứ cảnh giới năm dục sáu
trần, là do Ngài đã biết tất cả
pháp đều giống như hư không,
chẳng có thật thể, như huyễn như
hoá, nó là tùng duyên không
tính, chẳng biết nó từ nơi nào
đến, cũng chẳng biết nó quy về
đâu. Nó chẳng sinh, cho nên mới
không diệt. Tất cả pháp đều là
hư vọng không thật, vậy có thể
chân thật chăng ? Ðương nhiên
chẳng có thể chân thật, lại có
gì có thể nhiễm trước ? Bồ Tát
thông đạt đạo lý pháp tánh vốn
không, xa lìa được tất cả tri
kiến phân biệt. Bất cứ cảnh giới
gì cũng chẳng giao động được
chánh kiến của Ngài, Ngài càng
chẳng thuận theo cảnh giới mà
lưu chuyển. Chẳng mất chẳng
hoại, Bồ Tát chẳng chấp trước,
tức là đắc không chỗ đắc, vậy
còn có quan niệm có mất, có hoại
chăng, cho nên Ngài chẳng mất,
chẳng hoại. Trụ nơi thật tế,
thấy thật thành quán, thấu rõ lý
thể chân thật của các pháp. Thật
tế tức là vô tướng, tâm cảnh
vắng lặng, chẳng có bất cứ tướng
gì. Lìa tướng tức là lìa tất cả
tướng hư vọng, hiển tướng chân
thật. Vô tướng là ở tại lý mà
nói, vì các pháp vốn tự không có
tướng. Lìa tướng là nương về trí
mà nói. Lìa lấy tướng tức chẳng
bị tướng làm chướng ngại, tức
cũng là không chấp, không nương,
mới sinh ra sức trí huệ. Chỉ là
một tướng, câu trên nói thấu rõ
không tướng lìa tướng, mười
tướng đều lìa, tiếp theo nói chỉ
là một tướng. Tại biểu diện của
câu văn mà nhìn, thì giống như
nói có một tướng, kỳ thật ý
nghĩa một tướng, tức cũng là
không tướng. Chữ "tướng", khái
quát có mười thứ, tức là tướng
sắc, thanh, hương, vị, xúc,
tướng sinh, trụ, hoại, diệt,
tướng nam, tướng nữ, cộng làm
mười thứ. Bồ Tát đối với đạo lý
ở trên vừa nói, đều y giáo phụng
hành, vào sâu tất cả pháp tánh,
khế hợp với pháp tánh tuỳ tướng
mà tu. Dùng một nhiếp tất cả,
tâm thường ưa phát nguyện lớn,
tu khắp tất cả pháp môn tận hư
không khắp pháp giới, tu tập căn
lành. Mười phương ba đời chư
Phật Ngài cũng thường thường
thấy được, mà còn thường thường
tham gia pháp hội của chư Phật,
nghe chư Phật giảng Kinh thuyết
pháp.
Như
hồi hướng căn lành của tất cả
Như Lai quá khứ. Tôi cũng hồi
hướng như vậy. Hiểu pháp như
vậy. Chứng pháp như vậy. Nương
pháp như vậy. Phát tâm tu tập,
chẳng trái với pháp tướng. Biết
chỗ tu hành, như huyễn như bóng,
như trăng trong nước, như hình
trong gương, do duyên hoà hợp mà
hiển hiện. Cho đến bậc Như Lai
rốt ráo.
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng đẳng
tất cả Phật, Ngài quyết tâm muốn
học hồi hướng căn lành của tất
cả chư Phật quá khứ tu hành.
"Tôi cũng muốn chiếu theo phương
pháp của các Ngài tu mà tu hồi
hướng", đem căn lành nầy vì
chúng sinh hồi hướng. Bồ Tát
Ngài tự suy gẫm: Tôi đã minh
bạch hết thảy tất cả các pháp.
Tôi cũng chứng được diệu pháp
không thể nghĩ bàn. Nghĩa là tôi
y chiếu theo diệu pháp không thể
nghĩ bàn nầy tu hành. Tôi đã
từng phát tâm đại bồ đề, tu tập
diệu pháp không thể nghĩ bàn của
chư Phật nói. Tuy tôi đã biết
các pháp không tướng, tu pháp
không tướng, nhưng tôi chẳng
trái với pháp tướng, đây là vì
giáo hoá chúng sinh, giả dùng
lời nói mà thôi. Tôi biết như lý
tu hành, song, tôi chưa từng
chấp trước vào năng tu và sở tu,
vì hết thảy tất cả đều là như
huyễn, như bóng, chẳng có chân
thật. Lại giống như mặt trăng
trong nước, như hình trong
gương, đều chẳng có vật thật, là
nhân duyên hoà hợp mà sinh ra.
Bổn thân của tấm gương là một
miếng trong sáng, vật đến thì
hiện, vật đi thì không, do nhân
duyên hoà hợp mới có sự hiển
hiện. Tôn chiếu theo đạo lý nầy
mà tu hành, thì cuối cùng sẽ đạt
đến rốt ráo viên mãn, thành tựu
quả vị Phật.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát lại nghĩ như
vầy: Như quá khứ, khi chư Phật
tu hạnh bồ đề, thì đem các căn
lành hồi hướng như vậy. Vị lai,
hiện tại, cũng đều như vậy. Nay
tôi cũng nên như các đức Phật
đó, phát tâm như vậy. Đem các
căn lành mà hồi hướng. Bậc nhất
hồi hướng. Thắng hồi hướng. Tối
thắng hồi hướng. Thượng hồi
hướng. Vô thượng hồi hướng. Vô
đẳng hồi hướng. Vô đẳng đẳng hồi
hướng. Vô tỉ hồi hướng. Vô đối
hồi hướng. Tôn hồi hướng. Diệu
hồi hướng. Bình đẳng hồi hướng.
Chánh trực hồi hướng. Đại công
đức hồi hướng. Rộng lớn hồi
hướng. Thiện hồi hướng. Thanh
tịnh hồi hướng. Lìa ác hồi
hướng. Chẳng tuỳ ác hồi hướng.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật !
Ðại Bồ Tát, tức là vị Bồ Tát tu
pháp hồi hướng đẳng tất cả Phật,
Ngài lại quán tưởng như vầy: Tôi
phải giống như chư Phật quá khứ
khi tu hạnh Bồ Tát, thì tu tập
đủ thứ căn lành, hồi hướng cho
tất cả chúng sinh, hồi hướng về
bồ đề, hồi hướng về thật tế. Chư
Phật vị lai và chư Phật hiện
tại, các Ngài cũng tu pháp hồi
hướng, cũng đều giống nhau. Hiện
tại tôi phải hướng về chư Phật
ba đời học tập, phát tâm giống
như các Ngài, đem căn lành của
tôi tu tập, hồi hướng cho pháp
giới chúng sinh, hồi hướng về vô
thượng bồ đề, hồi hướng về thật
tế. Bậc nhất hồi hướng: Bồ Tát
tu tập đủ thứ pháp môn, dùng hồi
hướng làm đầu, cho nên gọi là
bậc nhất hồi hướng. Thắng hồi
hướng: Bồ Tát đem căn lành của
mình tu tập hồi tự hướng tha
(quay lại mình hướng về người
khác), tâm từ bi của Ngài lượng
đồng hư không, vượt qua mục đích
của phàm phu và người tiểu thừa
tu hành, cầu cho chính mình, cho
nên nói là thắng hồi hướng, tức
là thắng hơn sự hồi hướng của
bậc Thánh nhị thừa. Tối thắng
hồi hướng: Pháp hồi hướng là tối
thù thắng, vượt qua nhân vị.
Thượng hồi hướng: Hồi hướng tối
thượng, cho nên gọi là thượng
hồi hướng. Vô thượng hồi hướng:
Chẳng có gì cao hơn so với pháp
hồi hướng. Vô đẳng hồi hướng:
Chẳng có pháp gì có thể sánh
bằng với pháp hồi hướng. Vô đẳng
đẳng hồi hướng: Công đức lành
hồi hướng, đã đạt đến cực điểm,
chẳng có gì có thể sánh bằng nó.
Vô tỉ hồi hướng: Chẳng có gì có
thể sánh bằng hồi hướng, tìm
chẳng được cái gì có thể luận
bằng nó được. Vô đối hồi hướng:
Hồi hướng tuyệt đối, vô địch.
Tôn hồi hướng: Hồi hướng tôn quý
nhất. Diệu hồi hướng: Tâm không
thể nghĩ, lời không thể luận
bàn, nên gọi là diệu hồi hướng.
Bình đẳng hồi hướng: Dùng tâm
bình đẳng nhìn chúng sinh, đem
đủ thứ căn lành bình đẳng hồi
hướng cho chúng sinh, lợi ích
khắp hết thảy. Chánh trực hồi
hướng: Dùng tâm ngay thẳng,
không nghĩ tới thù xưa, chẳng
ghét kẻ ác, bình đẳng chánh trực
hồi hướng cho tất cả chúng sinh.
Ðại công đức hồi hướng: Bồ Tát
đem đại công đức tu hành, khắp
hồi hướng cho tất cả chúng sinh.
Rộng lớn hồi hướng: Nguyện lớn
hồi hướng khắp cùng pháp giới.
Thiện hồi hướng: Làm đủ thứ
nghiệp thiện hồi hướng. Thanh
tịnh hồi hướng: Dùng tâm thanh
tịnh nhất để hồi hướng căn lành
tu được. Lìa ác hồi hướng: Lìa
khỏi tất cả nghiệp ác, hồi hướng
chẳng có một chút nhiễm ô. Chẳng
tuỳ ác hồi hướng: Hồi hướng
chẳng di chuyển theo cảnh giới
ác.
Bồ
Tát đem các căn lành chánh hồi
hướng như thế rồi, thành tựu
thanh tịnh thân lời ý nghiệp.
Trụ chỗ trụ của Bồ Tát, chẳng có
lỗi lầm. Tu tập nghiệp lành. Lìa
điều ác nơi thân và lời nói. Tâm
chẳng có vết ô uế. Tu nhất thiết
trí, trụ nơi tâm rộng lớn. Biết
tất cả pháp, chẳng có chỗ làm.
Trụ nơi pháp xuất thế. Chẳng
nhiễm pháp thế gian. Phân biệt
biết rõ vô lượng các nghiệp.
Thành tựu phương tiện hồi hướng
khéo léo, vĩnh viễn nhổ sạch tất
cả gốc rễ chấp trước.
Vị
đại Bồ Tát đó, tu pháp hồi hướng
đẳng tất cả Phật, dùng đủ thứ
căn lành công đức của Ngài tu
tập, tâm từ bi chánh tâm thành
ý, chánh trực vô tư, chánh niệm
không tà, tâm thanh tịnh, hồi
hướng cho pháp giới chúng sinh,
hồi hướng vô thượng bồ đề, hồi
hướng về thật tế rồi, thành tựu
thân, lời, ý, ba nghiệp thanh
tịnh. Trụ nơi quả vị của Bồ Tát
trụ, diệt trừ tất cả lỗi lầm,
đắc được chân chánh không nhiễm,
không cấu bẩn, tu tập tất cả
nghiệp thiện. Xa lìa nghiệp ác
về thân: Giết hại, trộm cắp, tà
dâm. Nghiệp ác về lời nói: Nói
dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi,
chưởi mắng. Tâm, tức là ý, trong
tâm cũng chẳng có chút tì vết và
ô nhiễm nào. Nghiệp ác về ý:
Tham, sân, si. Nếu ba nghiệp nầy
thanh tịnh, siêng tu các pháp,
thì tự nhiên sẽ sinh ra trí huệ,
vì trí huệ là từ trong sự thanh
tịnh mà sinh ra. Nếu tâm có sự ô
nhiễm, thì trí huệ tuyệt đối
không thể sinh ra. Tu hành, là
đồng như tu nhất thiết trí. Trụ
tâm rộng lớn: Tâm lượng rộng lớn
như hư không, bao hàm tất cả.
Người hay tu hành bố thí lớn,
thì tâm họ nhất định sẽ rộng
lớn. Người chịu tu bố thí, thì
tâm tham sân si sẽ bớt đi. Phàm
là người tâm tham, tâm sân, tâm
si nặng, thì tâm lượng của họ
nhất định sẽ hẹp hòi, có mình,
chẳng có người. Bồ Tát lại biết
tất cả pháp, chẳng có một tác
giả nào cả, cũng chẳng có kẻ
thọ. An trụ ở trong chánh niệm
của chánh pháp, tuyệt đối chẳng
bị pháp thế gian làm ô nhiễm.
Phân biệt biết rõ vô lượng các
nghiệp, Bồ Tát đều biết rất rõ
ràng đủ thứ sự khác nhau, nghiệp
nhân, nghiệp duyên, nghiệp quả,
chẳng có số lượng. Ðem căn lành
thành tựu của mình, hồi hướng
cho hết thảy chúng sinh, dùng
pháp môn phương tiện khéo léo,
giáo hoá chúng sinh, dẫn dắt
chúng sinh, cứu chúng sinh ra
khỏi từ trong sự chấp trước,
khiến cho họ vĩnh viễn nhổ sạch
gốc rễ chấp trước. Gốc rễ chấp
trước của chúng sinh tức là ba
độc tham sân si.
Phật
tử ! Đó là hồi hướng đẳng tất cả
Phật thứ ba của đại Bồ Tát.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðó tức là
hồi hướng thứ ba trong mười hồi
hướng, hồi hướng đẳng tất cả
Phật của đại Bồ Tát tu tập.
Đại
Bồ Tát trụ ở hồi hướng nầy, vào
sâu nghiệp của tất cả Như Lai.
Hướng về công đức thù thắng vi
diệu của Như Lai. Vào sâu cảnh
giới trí huệ thanh tịnh. Chẳng
lìa nghiệp của tất cả Bồ Tát.
Khéo phân biệt phương tiện khéo
léo, mà vào sâu pháp giới. Khéo
biết Bồ Tát tu hành thứ lớp. Vào
giống tánh của Phật. Dùng phương
tiện khéo, phân biệt biết rõ vô
lượng vô biên tất cả các pháp.
Tuy lại hiện thân sinh ra trong
thế gian, mà nơi pháp thế gian
tâm chẳng chấp trước.
Vị
đại Bồ Tát đó tu hồi hướng đẳng
tất cả Phật, Ngài an trụ ở trong
hồi hướng thứ ba, Ngài vào sâu
giác đạo nghiệp Phật của chư
Phật, mà tu tập nghiệp của chư
Phật. Lại siêng năng tinh tấn tu
học nghiệp Phật, hướng về quả
đức thù thắng vi diệu của Phật.
Lại vào được cảnh giới trí huệ
thanh tịnh thâm sâu mà hướng về
bồ đề. Luôn luôn tu học chẳng
giải đãi, chưa từng lìa khỏi đạo
nghiệp của các Bồ Tát tu hành.
Khéo phân biệt thật tướng của
các pháp, dùng pháp môn phương
tiện khéo léo giáo hoá chúng
sinh. Vào pháp giới thanh tịnh
thâm sâu, thường chuyển bánh xe
pháp. Lại biết rõ pháp môn tu
hành của Bồ Tát, phải từ lục độ
vạn hạnh mà hạ thủ. Tu hành biện
đạo, đều có thứ tự nhất định.
Nếu tu mù luyện đuôi, thì sẽ
lãng phí thời gian vô ích, cho
nên phải y theo lời chỉ dạy của
thiện tri thức, thuận theo thứ
tự, mà nhập vào đạo đưa đến sự
thành Phật. Vào giống tánh của
Phật: Phải khế hợp với giống
tánh với Phật, chánh niệm suy
gẫm, hợp với ý của Phật. Lại vận
dụng pháp môn phương tiện khéo
léo, phân biệt rõ ràng, minh
bạch vô lượng vô biên tất cả
diệu pháp, dùng những diệu pháp
nầy giáo hoá chúng sinh, độ
chúng sinh thoát khỏi biển khổ.
Tuy nhiên Bồ Tát một lần, lại
một lần đến thế giới nầy, nhưng
Ngài thừa nguyện lực mà đến độ
chúng sinh, chứ chẳng phải vì
tham luyến hưởng thụ năm dục thế
gian mà đến thọ sinh. Bồ Tát đối
với pháp thế gian chẳng chấp
trước, tâm càng không tham nhiễm
sắc thanh hương vị xúc, hoặc tài
sắc danh ăn ngủ năm dục.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tràng,
nương thần lực của đức Phật.
Quán sát mười phương, liền nói
kệ rằng:
Các Bồ Tát Ma Ha Tát đó
Tu pháp hồi hướng Phật quá khứ
Cũng học Phật vị lai hiện tại
Tu hành của tất cả Đạo Sư.
Khi
Bồ Tát Kim Cang Tràng giảng xong
hồi hướng thứ ba, thì Ngài liền
nương đại oai thần lực của mười
phương chư Phật và Phật Tỳ Lô
Giá Na cùng với Ðức Phật Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni, quán sát khắp
căn tánh và nhân duyên của tất
cả chúng sinh trong mười phương,
lại dùng phương pháp kệ tụng,
thuật lại Kinh văn trường hàng ở
trên. Khiến cho chúng sinh đương
thời, chúng sinh vị lai, dễ dàng
minh bạch, dễ dàng tu hành, dễ
dàng thành tựu.
Ngài
nói: Vị Bồ Tát nầy tu pháp hồi
hướng, là vị đại Bồ Tát trong
các Bồ Tát. Ðại Bồ Tát tu pháp
lớn, phát nguyện lớn, thành quả
lớn, rộng độ vô lượng chúng
sinh. Pháp môn tu hành của vị Bồ
Tát đó, là học tập thệ nguyện
lớn của chư Phật đời quá khứ,
pháp môn hồi hướng. Ngài cũng
học tập chư Phật vị lai, và chư
Phật hiện tại đang tu pháp hồi
hướng nầy, cùng với pháp môn của
mười phương chư Phật tu hành,
chứng quả vị mà Phật chứng, nói
đủ thứ diệu pháp mà Phật nói.
Ðạo sư, là một danh từ riêng gọi
Phật.
Nơi các cảnh giới được an lạc
Chỗ chư Phật Như Lai khen ngợi
Mắt thanh tịnh quang minh rộng
lớn
Đều đem hồi hướng đại trí huệ.
Tại
sao một số người có nhiều ưu sầu
phiền não ? Tại sao cảm giác
chẳng vui vẻ ? Là vì mỗi người
có sự chấp trước của mỗi người.
Vật gì cũng khiến cho sự chấp
trước phát sinh sức lực lớn, là
do ba độc tham sân si, và hơn
nữa là do nhân quả. Do tâm vọng
tham sân si nặng, bèn sinh ra
chấp trước, khởi hoặc, tạo
nghiệp. Vì chấp trước, phiền não
trùng trùng, nên tâm niệm trong
tâm đầy dẫy ưu sầu phiền não,
tham sân si càng sâu dày. Một
người như thế, thì hiện tại
không thể nào đắc được an lạc,
về sau đời đời kiếp kiếp lại như
thế nào ? Giống như người như
thế, phiền não nặng, suốt ngày
ưu sầu khổ não nặng, đều là do
đời hiện tại nhiễm trước. Ðây
cũng là do nhân duyên hạt giống
và tập khí trong đời quá khứ mà
ra. Tại sao Bồ Tát đối với tất
cả cảnh giới đều cảm giác tự tại
an lạc ? Vì Ngài chẳng có phiền
não chấp trước, trong tự tâm của
Ngài chẳng có ta, người, tâm từ
bi bình đẳng đối đãi với tất cả
chúng sinh, hộ niệm tất cả chúng
sinh. Ðời đời kiếp kiếp ở trong
mười phương thế giới cứu hộ
chúng sinh, giáo hoá chúng sinh,
dẫn dắt chúng sinh, từ nơi đen
tối dẫn ra ánh sáng, lìa khổ
được vui. Bồ Tát làm như vậy,
chính mình an lạc, cũng được
mười phương chư Phật cùng khen
ngợi. Phật có trí huệ rộng lớn,
Bồ Tát tu pháp hồi hướng, Ngài
cũng có trí huệ quang minh rộng
lớn, mắt trí huệ thanh tịnh. Bồ
Tát đem căn lành của Ngài tu
tập, hồi hướng đến người có trí
huệ tối thượng, mười phương chư
Phật.
Căn thân Bồ Tát đủ thứ vui
Mắt tai mũi lưỡi cũng như thế
Như vậy vô lượng vui thượng diệu
Đều đem hồi hướng bậc tối thắng.
Căn
thân của Bồ Tát, bao quát mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu
căn. Sáu căn thanh tịnh, thì tất
cả đều khoái lạc. Bồ Tát do nơi
ý căn đắc được thanh tịnh, thì
trong con mắt thấy toàn là cảnh
giới thanh tịnh, trong lỗ tai
nghe đều là pháp âm vô thượng vi
diệu, trong lỗ mũi ngửi hương
thơm, trong miệng nếm pháp vị vô
thượng, thân xúc giác thảnh
thơi. Như vậy sáu căn tứ chi,
chẳng có một nơi nào chẳng đầy
dẫy tự tại an lạc. Bồ Tát tự
thân an lạc, càng lấy sự vui của
chúng sinh làm vui, Ngài chẳng
tự vui, chẳng vui một mình, Ngài
muốn ban cho chúng sinh cùng
vui. Ngài với chúng sinh cùng
vui cùng khổ, cho nên Ngài tu
lục độ vạn hạnh, hộ niệm chúng
sinh, xem chúng sinh là một thể,
mà chẳng có phân biệt đó đây.
Giống như vô lượng vui thượng
diệu, Bồ Tát thảy đều hồi hướng
về bồ đề giác đạo tối thắng, tối
cao, hồi hướng về thật tế, hồi
hướng cho chúng sinh.
Tất cả các pháp lành thế gian
Với sự thành tựu của chư Phật
Nơi đó đều nhiếp chẳng dư thừa
Thảy đều tuỳ hỉ lợi chúng sinh.
Mười
phương thế giới hết thảy đủ thứ
pháp lành, tức là tất cả chánh
pháp của Phật nói, pháp hay lìa
khổ được vui, chấm dứt sinh tử,
thoát khỏi ba cõi, chứng giác
đạo. Cùng với diệu pháp của mười
phương chư Phật tu hành thành
tựu, viên mãn chứng được Phật
quả. Ðối với đủ thứ các pháp
thượng diệu đó, đại Bồ Tát tu
pháp thập hồi hướng, nơi mỗi
pháp môn Ngài đều tu tập, nhiếp
thọ mà siêng tu tập, chẳng bỏ
qua một pháp nào. Bồ Tát Ngài
tuỳ hỉ công đức, lại hồi hướng
cho chín pháp giới chúng sinh,
khiến cho họ đều đắc được lợi
ích. Bồ Tát chưa có lúc nào quên
chúng sinh, chỉ cần có sự lợi
ích cho chúng sinh, thì Bồ Tát
nhất định lợi ích cho chúng
sinh.
Thế gian tuỳ hỉ vô lượng thứ
Nay đây hồi hướng vì chúng sinh
Hết thảy vui của đấng Nhân Sư
Nguyện khiến quần sinh đều viên
mãn.
Việc
có thể thành tựu tuỳ hỉ công đức
trong thế gian, có nhiều loại
nói không hết được. Bồ Tát tu
lục độ đủ thứ căn lành, nếu hay
tuỳ hỉ, thì sẽ thành tựu vô
lượng công đức. Ý nghĩa tuỳ hỉ
là: "Tuỳ theo họ tu thiện, vui
việc họ thành tựu". Nếu thấy
người làm tất cả căn lành công
đức, như bố thí .v.v... mà mình
chẳng có khả năng làm đại bố
thí, không thể thường dùng tài
sức vật chất cúng dường Tam Bảo,
thì nếu người bố thí cúng dường,
cũng phải nên hoan hỉ khen ngợi.
Lại như Phật ở trong Kinh Pháp
Hoa, chuyên có một phẩm nói về
tuỳ hỉ công đức vô lượng. Lại
như đại nguyện thứ năm trong
mười đại nguyện vương của Bồ Tát
Phổ Hiền, cũng nói về tuỳ hỉ
công đức. Ngài nói: "Chư Phật tu
khổ hạnh khó hành đủ thứ căn
lành, khó xả mà xả được, tôi đều
hoan hỉ. Mười phương thế giới,
sáu nẻo bốn loài tất cả các
loại, hết thảy công đức, cho đến
một hạt bụi tôi đều tuỳ hỉ. Bậc
Thánh hàng nhị thừa tu tất cả
công đức, tôi đều tuỳ hỉ. Các Bồ
Tát tu khổ hạnh khó thực hành,
công đức rộng lớn vì cầu vô
thượng bồ đề, tôi đều tuỳ hỉ".
Căn lành công đức của Bồ Tát Phổ
Hiền, đã nhập vào nhà Như Lai,
đại Bồ Tát đồng với quả vị của
chư Phật, Ngài đều coi trọng
việc tu tuỳ hỉ công đức, cho đến
công đức của sáu nẻo bốn loài
chúng sinh, Ngài đều tuỳ hỉ, do
đó có thể thấy Bồ Tát Phổ Hiền
rất là từ bi, mà xem bình đẳng
tất cả chúng sinh. Phàm là người
biết tu tuỳ hỉ công đức, thì
người đó nhất định tâm lượng
rộng lớn, chẳng có tâm đố kị với
người khác. Nếu cảm thấy tâm
lượng của mình không đủ rộng
lớn, thì xin bạn nên tận sức học
tu tuỳ hỉ, dùng tâm khẩn thiết
tuỳ thời khen ngợi việc lành,
hạnh lành, của người khác. Tuỳ
hỉ công đức, có thể diệt tội đố
kị người khác tu việc lành.
Ðại
Bồ Tát tu pháp thập hồi hướng,
Ngài nói với chúng ta trên thế
gian có thể tu pháp tuỳ hỉ, có
thể do tuỳ hỉ mà thành tựu căn
lành công đức, có vô lượng vô
biên thứ loại. Bồ Tát nói: "Nay
tôi hồi hướng vì chúng sinh",
hiện tại tôi tu pháp hồi hướng,
là vì chúng sinh. Cho nên tôi
phải đem căn lành tu được, công
đức tích tập, cùng với pháp môn
thù thắng mà tâm đắc được, hoàn
toàn vì tất cả chúng sinh mà hồi
hướng, hy vọng họ đắc được lợi
ích hồi hướng của tôi, sớm thành
đạo nghiệp. Lại có thể đắc được
đấng Sư Tử trong loài người, tức
là Phật, hết thảy pháp vui
thượng diệu. Tôi nguyện khiến
cho quần sinh, tức là chúng sinh
có huyết, có hữu tình thức, đủ
thứ loại khác nhau, nguyện cho
họ đều đắc được viên mãn khoái
lạc như Phật.
Tất cả cõi nước các Như Lai
Phàm chỗ thấy biết đủ thứ vui
Nguyện khiến chúng sinh thảy đều
được
Mà làm đèn sáng chiếu thế gian.
Tất cả cõi nước, là nói cõi
nước của mười phương chư Phật,
và cõi nước chư Phật trụ thế
trong đó. Chỗ biết của chư Phật
là biết khắp, thấy là thấy bình
đẳng đúng đắng, cùng với vô
lượng trí huệ và đủ thứ an vui
của Phật. Ðại Bồ Tát tu pháp hồi
hướng nói: Tôi phát nguyện muốn
khiến cho hết thảy chúng sinh
đều đắc được hết thảy an lạc của
Phật, như hết thảy căn lành
củaPhật, như hết thảy trí huệ
quang minh của Phật, mà làm ngọn
đèn sáng lớn, đèn đại trí huệ,
một vị đại giác ngộ, chiếu sáng
mười phương thế giới. Hy vọng
mỗi chúng sinh đều thành Phật,
đều cùng thành Phật đạo. Ðó tức
là đại nguyện của đại Bồ Tát tu
thập hồi hướng phát ra, tức cũng
là mục đích của Bồ Tát tu hành.
Bồ Tát đắc được vui thắng diệu
Đều đem hồi hướng các quần sinh
Chỉ vì quần sinh nên hồi hướng
Mà nơi hồi hướng chẳng chấp
trước.
Bồ
Tát tu Phật đạo thượng thừa,
Ngài chưa từng xả bỏ chúng sinh,
chưa từng quên chúng sinh, vì
cứu bạt chúng sinh mà tu hành,
quyết chẳng vì mình mà tính toán
bất cứ chuyện gì. Tuy Bồ Tát
cũng có thân thể, nhưng Ngài lấy
thân chúng sinh làm thân thể của
Ngài. Bồ Tát đạo mà Bồ Tát tu
hành, là vô duyên đại từ, đồng
thể đại bi. Vô duyên là nói
người đó với Ngài chẳng có nhân
duyên, chẳng có quan hệ thân
thuộc gì, nhưng Bồ Tát dùng mắt
hiền từ nhìn đối với họ. Giống
như những người chẳng tu hành,
người phóng dật nhất, người
chẳng giữ giới luật nhất, người
thường phạm điều của Phật chế
ra, Bồ Tát đối với họ chẳng nhớ
điều ác xưa, cũng chẳng nhàm bỏ,
vẫn dùng tâm từ hộ niệm, giáo
hoá họ. Tại sao Bồ Tát phải làm
như thế ? Vì Bồ Tát lấy chúng
sinh làm thể, Ngài chẳng còn
quan niệm ta, người, mục đích
của Ngài là muốn khiến cho chúng
sinh hoan hỉ an lạc, cho nên
Ngài chẳng ngại gian khổ, vẫn
hướng về phương hướng đó mà làm.
Ðó tức là Bồ Tát, đó tức là Bồ
Tát được mọi người khen ngợi tán
thán, làm chỗ y chỉ. Bồ Tát Ngài
ái hộ tất cả những người chẳng
minh bạch đạo lý, Ngài cũng ái
hộ những người điên đảo ngu si,
Ngài cũng dùng tâm vô duyên đại
từ và đồng thể đại bi để giáo
hoá họ, hy vọng họ đều có thể
cải ác hướng thiện, sửa lỗi làm
mới.
Các
vị ! Các bạn hãy mở mắt nhìn
xem, trên thế giới nầy ai là
người thật tốt, ai là người
chẳng có tội lỗi, ai là người
hoàn toàn lương thiện ? Tôi e
rằng tìm hết khắp thế giới, cũng
tìm chẳng được một người. Dù họ
không có lỗi lớn, cũng có lỗi
nhỏ. Chẳng có lỗi nhỏ, và trong
tâm còn có lỗi chưa sinh ra.
Giống như vậy, người chẳng có
bệnh nặng, thì cũng tránh không
khỏi bệnh nhẹ. Chẳng có bệnh
nhẹ, thì cũng có những mao bệnh.
Vậy đi tìm người thập toàn thập
mỹ ở đâu ? Bồ Tát thương nhớ
chúng sinh, chẳng màng là chúng
sinh thiện hay ác, Ngài đều đối
đãi bình đẳng. Cho nên chúng ta
người tu đạo, giáo hoá chúng
sinh, ngàn vạn đừng có thành
kiến, không thể cứ lựa chọn
người tốt để giáo hoá, giống như
người đã rất tốt rồi, thì không
cần người đi giáo hoá. Phải nên
chú ý đến những người có khuyết
điểm, đi trên con đường ác, hoặc
người đang bồi hồi giữa thiện và
ác, thì cần phải giáo hoá. Ðừng
sợ phí tinh thần, người càng
không tốt, thì càng phải đi giáo
hoá, đừng bỏ qua, phải dùng tâm
thành khẩn nhất, tâm chân thành
nhất đối đãi gặp họ, khiến cho
họ thọ sự cảm hoá, biết quay đầu
sửa đổi lỗi lầm. Ðó tức là người
tu đạo học hành vi của Bồ Tát,
mới không cô phụ thân làm đệ tử
của Phật, mới có thể dưỡng lớn
tâm đại bi. Bồ Tát tu pháp hồi
hướng ôm hoài bảo vô duyên đại
từ, đồng thể đại bi hành Bồ Tát
đạo, khắp hộ niệm tất cả chúng
sinh, cho nên Ngài đắc được an
lạc, là vui thù thắng vi diệu.
Sự an vui đó không thể dùng tâm
suy nghĩ, không thể dùng lời để
ví dụ được. Sự an lạc đó giống
như "Như người uống nước, nóng
lạnh tự biết", Bồ Tát đem niềm
an vui đó, công đức đó, căn lành
đó, thảy đều hồi hướng cho hết
thảy chúng sinh, khiến cho những
chúng sinh đó, đều phát tâm bồ
đề, tu các pháp lành, hành Bồ
Tát đạo, mà đắc được an vui
thắng diệu giống như Bồ Tát. Tuy
nhiên Bồ Tát vì chúng sinh tu
pháp hồi hướng, lại đem căn lành
tu được hồi hướng cho chúng
sinh, nhưng Ngài đối với công
đức hồi hướng, chưa từng chấp
trước, cũng chẳng cảm thấy tôi
đem hết thảy công đức đều hồi
hướng cho chúng sinh, các bạn
xem tôi đối với chúng sinh có
nhiều từ bi, ban cho họ nhiều ân
huệ, chỉ có tôi mới đang hành Bồ
Tát đạo. Bồ Tát chẳng có nghĩ
như thế. Nếu có ý niệm đó, thì
có sự chấp trước, tức là chấp có
cái ta, có người, có chúng sinh,
có thọ mạng, bốn tướng, thì
không thể gọi là Bồ Tát. Vị đại
Bồ Tát nầy tu pháp hồi hướng
đẳng tất cả Phật, Ngài hành chỗ
vô sự, làm mà không làm, tuy hồi
hướng mà chẳng chấp vào sự hồi
hướng. Bồ Tát thấy tất cả pháp
đều không, thấu rõ các pháp thật
tướng, vào sâu cảnh giới người
và pháp đều không.
Bồ Tát tu hành hồi hướng nầy
Phát khởi vô lượng tâm đại bi
Như đức hồi hướng của Phật tu
Nguyện tôi tu hành đều thành
tựu.
Bồ
Tát là gọi tắc, nói đủ là Bồ Ðề
Tát Ðoả. Tiếng Tàu dịch là "giác
hữu tình", hoặc là "hữu tình
giác", hoặc là chúng sinh "tâm
đạo lớn". Tâm lượng của Bồ Tát
rộng lớn, giống như hư không,
bao quát hết thảy. Từ bi làm
đầu, chẳng xả bỏ chúng sinh. Bồ
Tát tu sáu độ vạn hạnh, pháp môn
hồi hướng là nguyện lớn của
Ngài, đem căn lành công đức tu
vạn hạnh, hồi hướng cho pháp
giới chúng sinh, hồi hướng về vô
thượng bồ đề, hồi hướng về thật
tế. Khi hồi hướng thì trong tâm
phát khởi vô lượng đại bi, vì Bồ
Tát thương xót chúng sinh, mê
muội không có trí huệ, ở trong
biển khổ, mà không biết tự cứu.
Bồ Tát thấy tình huống đó, tâm
bi tha thiết, phát nguyện muốn
cứu vớt những chúng sinh thọ khổ
đó, vì họ mà giải trừ vô lượng
khổ não, khiến cho họ đắc được
an ổn khoái lạc. Ðại Bồ Tát,
Ngài tu công đức hồi hướng, như
công đức hồi hướng của ba đời
chư Phật tu. Bồ Tát phát nguyện
nói: Nguyện công đức và đủ thứ
căn lành của tôi tu hành, đều
thành tựu, đắc được quả Phật
viên mãn.
Như bậc Tối Thắng đã thành tựu
Nhất thiết trí thừa vui vi diệu
Chỗ thực hành ở đời của tôi
Các hạnh Bồ Tát vô lượng vui.
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng tu căn
lành công đức, giống như mười
phương chư Phật, thành tựu viên
mãn quả giác bồ đề tối thượng.
Tối thắng, là chỉ cho Ðức Phật
mà nói. Nhất thiết trí thừa, tức
là Phật thừa. Chư Phật chứng
được trí huệ vô thượng, đắc được
vui của Phật là vi diệu không
thể nghĩ bàn. Bồ Tát cũng nguyện
đắc được an vui đó. Cùng với sự
tu tập đủ thứ căn lành của tôi
trong mười phương thế giới, đủ
thứ công đức hành Bồ Tát đạo,
cũng sẽ đắc được giống như các
vị Bồ Tát khác tu hành đắc được
vô lượng an vui.
Thị hiện vào các loài an vui
Luôn giữ các căn vui vắng lặng
Thảy đều hồi hướng cho quần sinh
Khắp khiến tu thành vô thượng
trí.
Bồ
Tát tu hạnh Bồ Tát, phổ độ chúng
sinh, nhìn chúng sinh nào đang ở
trong khổ nạn, thì Ngài thừa
nguyện thọ sinh vào đó. Có lúc
thị hiện vào bốn đường ác, Ngài
cũng đều cảm giác an ổn khoái
lạc như nhau. Hoặc khi thị hiện
vào trong loài người hoặc làm
trời, Ngài cũng chẳng bị phước
trời và vui năm dục ở nhân gian
làm mê hoặc, vì Bồ Tát luôn luôn
giữ gìn sáu căn của Ngài, lúc
nào cũng đều hồi quang phản
chiếu, đắc được an vui vắng
lặng. Chẳng giống như sáu căn
của phàm phu, suốt ngày chạy
rong bên ngoài, khắp nơi tác
quái. Bồ Tát tu đủ thứ căn lành,
tích tập vô lượng công đức, phát
tâm đại bồ đề, hoàn toàn hồi
hướng cho tất cả chúng sinh, hy
vọng những chúng sinh đó, thảy
đều tu hành đạo vô thượng, thành
tựu trí huệ vô thượng.
Chẳng thân lời ý tức là nghiệp
Cũng chẳng lìa đây mà riêng có
Chỉ dùng phương tiện diệt si tối
Như vậy tu thành vô thượng trí.
Ý
nghĩa chẳng thân lời ý, tức là
thân lời ý đều thanh tịnh. Tức
là chữ nghiệp chỉ cho nghiệp
lành. Nghiệp có nghiệp lành và
nghiệp ác. Nếu ba nghiệp thanh
tịnh, thì đều là ba nghiệp lành,
chứ chẳng phải chẳng có nghiệp,
chỉ là chẳng có nghiệp ác. Ví
như không giết hại, không trộm
cắp, không tà dâm, không tham,
không sân, không si, không nói
dối, không nói hai lưỡi, không
nói thêu dệt, không chưởi mắng,
thì biến thành mười nghiệp lành.
Chứ chẳng phải nói thân miệng ý
có nghiệp ác, cũng chẳng phải
nói lìa khỏi thân lời ý, riêng
ngoài còn có nghiệp lành. Và lại
nói băng tức là nước, nhưng nước
không thể nói là băng. Có thể
nói băng là nước đông lại thành,
nước là do băng tan ra mà có.
Lìa khỏi băng không thể có nước,
lìa khỏi nước cũng không thể có
băng. Cho nên nói cũng không thể
lìa thân lời ý, mà riêng biệt có
nghiệp. Chỉ cần dùng pháp môn
phương tiện để diệt trừ tham sân
si ba độc. Giống như mỗi ngày
mỗi ngày tinh tấn dũng mãnh, tu
học Phật đạo, thì cuối cùng nhất
định sẽ thành tựu trí huệ vô
thượng.
Bồ Tát tu hành các hạnh nghiệp
Tích tập vô lượng thắng công đức
Tuỳ thuận Như Lai sinh nhà Phật
Tịch nhiên chẳng loạn chánh hồi
hướng.
Sự
tu hành của Bồ Tát là sáu độ vạn
hạnh, sự hành trì của Bồ Tát là
Bồ Tát đạo. Bồ Tát tích tập vô
lượng nghiệp lành. Do đó, tích
tập vô lượng căn lành rồi, sẽ
thành tựu vô lượng công đức thù
thắng. Bồ Tát thường theo Phật
tu học, y giáo phụng hành. Tuỳ
thuận tâm bi của Như Lai, độ
khắp chúng sinh, công đức đầy
đủ, giác hạnh viên mãn rồi, sẽ
sinh vào nhà Phật, chẳng lâu sẽ
chứng được quả vị Phật. Bồ Tát
chẳng chấp trước, chẳng nương
tựa, tư tưởng hành vi luôn luôn
ở trong chánh định, an ổn vắng
lặng, chánh tâm thành ý tu pháp
hồi hướng, thành khẩn hồi hướng
cho chúng sinh.
Mười phương tất cả các thế giới
Hết thảy chúng sinh đều nhiếp
thọ
Đều đem căn lành hồi hướng cho
Nguyện khiến đầy đủ vui an ổn.
Thế
giới, chẳng chỉ riêng một thế
giới nầy của chúng ta đang sống.
Do đó: "Thế giới nầy, thế giới
kia, mười phương vô lượng các
thế giới. Cõi nước nầy, cõi nước
nọ, mười phương vô lượng các cõi
nước". Các cõi nước trong những
thế giới đó, cũng đều có vô
lượng đủ thứ chúng sinh. Bồ Tát
vào trong các cõi nước trong
mười phương thế giới hành Bồ Tát
đạo, Ngài nhìn chúng sinh đều
bình đẳng, giáo hoá khắp hết
thảy, tất cả các loài chúng
sinh, Ngài đều nhiếp thọ, hộ
niệm. Ngài đem căn lành công đức
của mình tu tập, hoàn toàn hồi
hướng cho chúng sinh được nhiếp
thọ, nguyện những chúng sinh đó
đều phát tâm bồ đề, siêng tu
Phật đạo, viên mãn đầy đủ bồ đề,
đắc được vui an ổn.
Chẳng vì thân mình cầu lợi ích
Muốn khiến tất cả đều an lạc
Chưa từng tạm khởi tâm hí luận
Chỉ quán các pháp không vô ngã.
Bồ
Tát phát tâm bồ đề, tu sáu độ
vạn hạnh, tích tập tất cả căn
lành công đức, Ngài chẳng phải
vì lợi ích của bản thân mình mà
làm, mà là muốn đem công đức tu
tập, hồi hướng cho chúng sinh,
lợi ích chúng sinh, khiến cho
mười phương các chúng sinh đều
đắc được an lạc. Suốt ngày trong
tâm của Bồ Tát luôn chánh niệm,
Ngài chưa từng có chút tư tưởng
hành vi hý luận, và lời nói vô
vị. Ngài luôn luôn giữ chánh
niệm, suy gẫm quán sát các pháp,
đều là vô thường, khổ, không, vô
ngã, không chấp trước.
Mười phương vô lượng các tối
thắng
Thấy được tất cả chân Phật tử
Đều đem căn lành hồi hướng cho
Nguyện khiến sớm thành vô thượng
giác.
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng, trong
vô lượng cõi nước chư Phật, thấy
được rất nhiều đệ tử của Phật,
chân tu thật học dưới toà mười
phương chư Phật. Bồ Tát đem căn
lành công đức của Ngài tu tập,
hoàn toàn hồi hướng cho họ, và
cầu chư Phật phóng quang gia bị
cho họ, khiến cho đệ tử Phật
chân tu thật học, đều phát tâm
đại bồ đề, tu Bồ Tát đạo, sớm
được thành tựu quả vị Phật. Vô
thượng giác tức là quả vị Phật.
Tất cả thế gian loại hàm thức
Bình đẳng nhiếp lấy không thừa
sót
Đem các nghiệp lành của tôi tu
Khiến chúng sinh kia sớm thành
Phật.
Tất
cả thế gian, bao quát thế gian
mười phương ba đời, có Chánh
Giác thế gian, khí thế gian, hữu
tình thế gian. Hàm thức, tức là
hữu tình, có thức, có khí huyết,
đều gọi là hàm thức. Con người
cũng gọi là hàm thức, đây là một
tên khác của chúng sinh. Loại
hàm thức là các loại động vật có
mạng sống khác nhau, đều bao
quát ở trong đó. Bồ Tát dùng tâm
từ bi bình đẳng, nhiếp lấy khắp,
chẳng xả bỏ, chẳng có thừa sót.
Bất cứ loại chúng sinh nào, Ngài
đều từ tâm giáo hoá, đều độ họ
chấm dứt sinh tử, vượt khỏi ba
cõi. Và đem đủ thứ căn lành tu
hành được, hồi hướng cho tất cả
chúng sinh, hy vọng họ sớm thành
Phật đạo.
Vô lượng vô biên các đại nguyện
Vô thượng Đạo Sư đã diễn nói
Nguyện các Phật tử đều thanh
tịnh
Tuỳ tâm họ thích đều thành mãn.
Vô
lượng vô biên nguyện lớn của chư
Phật Bồ Tát phát ra, đều y cứ
theo vô thượng Đạo Sư, chánh
pháp của Phật diễn nói mà phát
ra. Nguyện hết thảy chúng đệ tử
của chư Phật, đều đắc được pháp
thân thanh tịnh và trí huệ vô
thượng. Tuỳ thuận tâm nguyện của
chúng sinh, đều thành tựu viên
mãn.
Quán khắp mười phương các thế
giới
Đều đem công đức thí nơi đó
Nguyện cho đều đủ diệu trang
nghiêm
Bồ Tát học hồi hướng như vậy.
Bồ
Tát quán sát khắp mười phương
tất cả thế giới, đem hết thảy
công đức của Ngài, bình đẳng bố
thí cho chúng sinh mười phương
thế giới. Nguyện cho mười phương
thế giới đều đắc được thanh
tịnh, đầy đủ tất cả sự trang
nghiêm, mà trở thành thế giới
trang nghiêm thượng diệu. Bồ Tát
tu pháp hồi hướng giống như đủ
thứ đạo lý đã nói ở trên, tu học
tất cả pháp hồi hướng.
Tâm chẳng xưng lượng các hai
pháp
Chỉ luôn thấu đạt pháp không hai
Các pháp hoặc hai hoặc chẳng hai
Trong đó rốt ráo chẳng chấp
trước.
Bồ
Tát thấu rõ chân đế của các
pháp, tâm chẳng có nghi hoặc,
cho nên trong tâm của Ngài chưa
từng xưng lượng cũng chẳng tính
toán so sánh, chẳng nghĩ, cũng
chẳng nói, những pháp đó là đệ
nhất nghĩa đế, những pháp đó
chẳng phải là đệ nhất nghĩa đế.
Nếu có tư tưởng và lời nói như
thế, thì rơi vào sự có hình. Bồ
Tát đã thông đạt các pháp đều là
pháp môn không hai, chẳng có
phân biệt đệ nhất, đệ nhị. Nơi
các pháp không tướng, triệt để
rốt ráo thấu đạt, cho nên chẳng
có chút chấp trước nào.
Mười phương tất cả các thế gian
Đều là chúng sinh tưởng phân
biệt
Nơi tưởng phi tưởng chẳng chỗ
được
Như vậy thấu đạt nơi các tưởng.
Mười
phương hết thảy mỗi thế giới nói
pháp, đều căn cứ vào tư tưởng
phân biệt của mỗi loài chúng
sinh mà tạo thành, mới có thế
gian nầy, thế gian kia nói pháp.
Nếu bạn làm cho thứ tưởng nầy và
phi tưởng đều không, chẳng chỗ
được, tức là không chẳng chỗ
được. Nếu minh bạch đạo lý nầy,
thì biết tất cả tưởng đều là
vọng tưởng, hư huyễn không thật,
chẳng có thật thể.
Các Bồ Tát đó thân tịnh rồi
Tức ý thanh tịnh chẳng vết nhơ
Lời nghiệp đã tịnh không lỗi lầm
Nên biết ý tịnh chẳng chấp
trước.
Những
vị Bồ Tát đó thân nghiệp đều
thanh tịnh rồi, thì chẳng có tà
hạnh giết hại trộm cắp tà dâm. Ý
nghiệp của Ngài thanh tịnh rồi,
thì chẳng có tư tưởng tham sân
si, chẳng có chút vết nhơ và ô
nhiễm nào. Tham sân si tức là tỳ
vết ô nhiễm. Lời nghiệp thanh
tịnh rồi, thì chẳng sinh ra tất
cả lỗi lầm, và ưu sầu hoạn nạn,
vì đủ thứ ưu sầu hoạn nạn lỗi
lầm của con người, đều từ miệng
mà ra. Do đó:
"Bệnh từ miệng vào
Hoạ từ miệng ra".
Bạn
phải biết ý nghiệp thanh tịnh
rồi, thì hiển ra trí huệ quang
minh sáng suốt, đối với tất cả
đều chẳng chấp trước.
Một
lòng chánh niệm Phật quá khứ
Cũng
nghĩ vị lai các Đạo Sư
Cùng
với hiện tại Thiên Nhân Tôn
Đều
học pháp của các Ngài nói.
Bồ
Tát chuyên tâm chánh niệm chư
Phật đời quá khứ, cũng nghĩ tới
chư Phật đời vị lai. Ðạo Sư: Tức
là tên gọi riêng của Phật. Thiên
Nhân Sư: Tức là Phật, bậc thầy
sư biểu của trời người. Cùng với
Phật tôn kính của trời người
hiện tại. Ba đời chư Phật nói đủ
thứ diệu pháp, vị Bồ Tát nầy tu
pháp hồi hướng, Ngài đều một
lòng học tập.
Ba đời tất cả các Như Lai
Trí huệ thấu đạt tâm vô ngại
Vì muối lợi ích cho chúng sinh
Hồi hướng bồ đề tu các nghiệp.
Ba
đời: Quá khứ, hiện tại và vị
lai, chư Phật ở trong ba đời,
trí huệ của các Ngài đều thù
thắng, thấu đạt các pháp thật
tướng, tâm niệm chẳng có chút
chướng ngại, tất cả đều nhậm vận
tự tại. Vì muốn lợi ích cho
chúng sinh, mà đem căn lành công
đức tu tập, hồi hướng về pháp bồ
đề, tích tập tất cả các nghiệp
lành.
Huệ bậc nhất huệ rộng lớn kia
Huệ không hư vọng huệ không đảo
Huệ bình đẳng thật huệ thanh
tịnh
Bậc huệ tối thắng nói như vậy.
Trí
huệ của tất cả chư Phật kia, là
trí huệ bậc nhất, là trí huệ
rộng lớn khắp hư không, là trí
huệ chẳng hư vọng, là trí huệ
chẳng có điên đảo, là trí huệ
bình đẳng chân thật, là trí huệ
thanh tịnh quang minh không
nhiễm. Ðó là do bậc trí huệ tối
thù thắng, nói như vậy, nói với
chúng ta như vậy.
Bấy giờ, tất cả chư Thiên, và
các chúng Bồ Tát, thấy Ðức Như
Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, không
thể nghĩ bàn, đại anh hùng trong
loài người.
Lúc
đó, hết thảy tất cả chư Thiên,
hết thảy tất cả Bồ Tát, họ thấy
được cảnh giới của Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni, Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, biết là không
thể nghĩ bàn. Phật là bậc đại
anh hùng trong loài người, cho
nên các Chùa đều có ghi câu "đại
hùng bảo điện".
Thân
Phật vô lượng, không thể tính
đếm. Hiện đủ thứ thần biến không
thể nghĩ bàn. Khiến cho vô số
chúng sinh, tâm đại hoan hỉ.
Khắp cùng tất cả hư không giới
tất cả pháp giới. Dùng sự trang
nghiêm của Phật mà trang nghiêm
cho mình, khiến cho tất cả chúng
sinh an trụ nơi căn lành. Thị
hiện vô lượng thần lực của chư
Phật, vượt qua tất cả các đường
lời lẽ. Các đại Bồ Tát cùng khâm
phục kính ngưỡng. Tuỳ sự ứng
hoá, đều khiến cho họ hoan hỉ.
Trụ nơi thân rộng lớn của chư
Phật. Công đức căn lành đều đã
thanh tịnh, sắc tướng bậc nhất,
chẳng có ai hơn được.
Hoá
thân của Phật thị hiện vô lượng
vô biên, không thể nào tính đếm
được. Lại hiện ra đủ thứ thần
thông biến hoá không thể nghĩ
bàn, khiến cho tất cả chúng
sinh, thấy được cảnh giới của
Phật, đều đại hoan hỉ. Pháp thân
của Phật sung mãn khắp cùng tất
cả hư không giới, lại sung mãn
khắp tất cả pháp giới. Do đó:
"Tận hư không, khắp pháp giới".
Những vị đại Bồ Tát nầy, dùng sự
trang nghiêm của Phật, làm trang
nghiêm của mình. Khiến cho tất
cả chúng sinh đều an trụ vào căn
lành của họ đã gieo trồng, đắc
được sức tinh tấn không thối
chuyển. Thị hiện vô lượng sức
thần thông của chư Phật, vượt
qua tất cả sự hình dung của lời
nói. Vì tất cả các đại Bồ Tát
cùng nhau khâm phục và kính
ngưỡng. Tuỳ chúng sinh được giáo
hoá, đều khiến cho họ đắc được
đại hoan hỉ, trụ nơi thân rộng
lớn của chư Phật. Pháp thân của
Phật đầy khắp mọi nơi, công đức
của Phật rốt ráo thanh tịnh viên
mãn, căn lành của Phật hoàn toàn
thanh tịnh mà thành thục. Sắc
tướng của Phật đều bậc nhất, có
ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ
đẹp. Chẳng có ai có thể vượt hơn
cảnh giới của Phật.
Cảnh
giới trí huệ không thể cùng tận,
từ trong tam muội vô tỉ sinh ra.
Thân Phật chẳng có bờ mé, trụ
khắp ở trong tất cả thân chúng
sinh. Khiến cho vô lượng chúng
sinh đều đại hoan hỉ, khiến cho
tất cả chủng tánh trí huệ không
đoạn tuyệt.
Cảnh
giới trí huệ của Phật không thể
cùng tận, là từ trong tam muội
không thể so sánh sinh ra. Pháp
thân của Phật chẳng có bờ mé,
trụ khắp ở trong tất cả thân
chúng sinh, khiến cho vô lượng
chúng sinh đều đại hoan hỉ.
Khiến cho chủng tánh nhất thiết
trí huệ vĩnh viễn chẳng đoạn
tuyệt.
Chúng
ta chúng sinh với chư Phật, có
quan hệ không thể phân ly, chư
Phật đã thành Phật, chúng sinh
chưa thành Phật. Pháp thân của
Phật trụ khắp trong thân chúng
sinh chưa thành Phật. Do đó:
"Nay con đều hiểu các Như Lai,
Như Lai với con không khác biệt.
Như Lai thường ở trong thân con,
Như Lai tức là ngã chân như".
Chư
Phật chẳng lìa khỏi thân của
chúng ta, cho nên đừng đi khắp
nơi tìm Phật. Chỉ cần quay đầu
lại, thì có thể sẽ thấy được
Phật. Do đó:
"Biển khổ không bờ
Quay đầu là bến".
Nếu
bạn giác ngộ tất cả các pháp,
tức là trở về nguồn cội, cũng là
rõ tâm thấy tánh, nghĩa là chứng
được bản thể của Như Lai.
Chúng
ta chúng sinh đều đang sống ở
trong pháp thân Như Lai, nếu
chẳng phải ở trong pháp thân Như
Lai, thì chúng sinh cũng đều
chết. Giống như trong thân thể
của mỗi người chúng ta, đều có
vô lượng vi khuẩn. Những vi
khuẩn nầy, nương thân người mà
tồn tại. Con người chết đi, thì
vi khuẩn cũng chết. Pháp thân
Như Lai ví như thân thể con
người, chúng sinh ví như vi
khuẩn. Chúng ta tồn tại ở trong
pháp thân Như Lai, cũng giống
như vi khuẩn tồn tại ở trong
thân người, cùng một đạo lý.
Pháp thân của Như Lai không thể
nào chết, mà chúng ta ở trong
luân hồi chuyển lại chuyển đi,
sinh tồn ở trong luân hồi. Bản
tánh của chúng ta tức là Phật
tánh. Do đó:
"Tất cả chúng sinh,
Ðều sẽ thành Phật".
Ðáng
tiếc chúng ta không biết tu
hành, cho nên chưa có thể thành
Phật.
Bồ
Tát trụ nơi chỗ trụ rốt ráo của
chư Phật. Sinh vào nhà của ba
đời chư Phật. Khiến cho các
chúng sinh nhiều không thể tính
đếm, sinh niềm tin hiểu biết
thanh tịnh. Khiến cho trí huệ
của tất cả Bồ Tát đều thành tựu.
Các căn vui thích. Mây pháp che
khắp hư không pháp giới. Giáo
hoá điều phục chúng sinh không
sót thừa. Tuỳ tâm chúng sinh,
đều khiến cho họ được đầy đủ.
Khiến cho họ an trụ nơi trí huệ
không phân biệt, vượt qua trên
tất cả chúng sinh.
Bồ
Tát trụ nơi chỗ trụ rốt ráo của
chư Phật, tức là Thường Tịch
Quang Tịnh Ðộ, tức cũng là quả
vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác. Bồ Tát sinh vào trong nhà
của mười phương ba đời tất cả
chư Phật, tức cũng là trí huệ
rốt ráo thanh tịnh. Thường ở
chung với Phật, nghe pháp nghe
Kinh, sớm sẽ thành Phật. Phật là
cha lành của chúng ta, thương
xót chúng ta, giáo hoá chúng ta,
khiến cho chúng ta tu hành,
chứng đạo, khổ nhọc dạy dỗ,
khuyên chỉ dạy không biết chán.
Phật
có thể khiến cho chúng sinh
nhiều bất khả số, tin sâu pháp
thanh tịnh, tức là siêng tu giới
định huệ, để diệt trừ pháp nhiễm
ô, tức là tiêu diệt tham sân si.
Phật có thể khiến cho trí huệ
của tất cả Bồ Tát, đều có thể
thành tựu, đắc được đại viên
cảnh trí. Bồ Tát tự giác cũng
viên mãn, giác tha cũng viên
mãn. Trí huệ nầy sẽ thành tựu
đạo quả của chính mình. Sáu căn
vui thích: Tức là bên ngoài hiện
ra hiện tượng hoan hỉ, bên trong
cũng có tâm hoan hỉ. Mây pháp
giáo hoá chúng sinh, che phủ
khắp tất cả mọi nơi, tức cũng là
tận hư không biến pháp giới. Bồ
Tát giáo hoá chúng sinh, điều
phục chúng sinh. Tuy nhiên chúng
sinh ở trong thế giới Ta Bà, khó
điều khó phục, nhưng hết thảy
chúng sinh cang cường, đều bị
điều phục, chẳng có một chúng
sinh nào chẳng bị điều phục. Bồ
Tát tuỳ thuận tâm nguyện của
chúng sinh, khiến cho họ được
đầy đủ. Muốn cầu gì thì khiến
cho họ được cái đó; hy vọng việc
gì, thì khiến cho họ thành công
việc đó. Khiến cho tất cả chúng
sinh, an trụ nơi trí huệ không
có sự phân biệt, vượt qua trên
tất cả chúng sinh.
Đắc
được nhất thiết trí, phóng đại
quang minh. Căn lành đời trước
đều khiến cho hiển hiện. Khắp
khiến cho tất cả chúng sinh,
phát tâm đại nguyện. Khiến cho
họ an trụ nơi trí huệ Phổ Hiền
không thể hoại. Trụ khắp tất cả
cõi nước chúng sinh. Từ trong
chánh pháp bất thối mà sinh ra.
Trụ nơi tất cả pháp giới bình
đẳng. Biết rõ cơ nghi tâm của
chúng sinh. Hiện bất khả thuyết
bất khả thuyết đủ thứ thân Như
Lai khác nhau. Chẳng phải lời lẽ
thế gian có thể khen ngợi hết
được. Hay khiến cho tất cả chúng
sinh thường nhớ niệm Phật. Đầy
khắp pháp giới, rộng độ quần
sinh. Tuỳ người sơ pháp tâm muốn
được lợi ích, mà dùng pháp bố
thí, khiến cho họ được điều
phục. Tin hiểu thanh tịnh, thị
hiện sắc thân, không thể nghĩ
bàn.
Khiến
cho tất cả chúng sinh, đều đắc
được nhất thiết trí huệ, phóng
ra đại quang minh, chiếu khắp
mười phương thế giới. Khiến cho
tất cả chúng sinh, thuở xưa đã
tạo tất cả nghiệp thiện, gieo
trồng tất cả căn lành, đều khiến
cho hiển hiện ra. Khiến cho tất
cả chúng sinh, đều biết rõ căn
lành của mình trong đời trước
như thế nào. Khắp khiến cho tất
cả chúng sinh, phát tâm rộng
lớn.
Giống
như chúng ta lần nầy đả thất Ðại
Bi, Quả Ðình (Thầy Hằng Triều)
tự biết đời trước của mình (vua
Lương Võ Ðế tái sinh), cho nên
pháp danh là Quả Ðình, hiệu là
Hằng Triều. Nghĩa là triều đình.
Anh ta biết đời nầy và hiện tại
phải làm gì, nên quy y Tam Bảo,
biết rồi, anh ta phát tâm rộng
lớn, cũng ảnh hưởng đến rất
nhiều người phát tâm rộng lớn.
(Ghi chú: Tháng 5/1977, Thầy
Hằng Thật vì cầu cho thế giới
hoà bình, mà phát tâm "Tam bộ
nhất bái", từ Chùa Kim Luân ở
Los Angeles lạy đến Vạn Phật
Thánh Thành, dài khoảng hơn bảy
trăm dặm. Dùng hành động để cảm
hoá người đời, cải ác hướng
thiện. Thầy Hằng Triều thọ sự
cảm động, bèn phát tâm làm hộ
pháp cho Thầy Hằng Thật, chiếu
cố Thầy Hằng Thật.
Khiến
cho tất cả chúng sinh, an trụ
trong trí huệ Phổ Hiền Bồ Tát,
kiên cố xâu xa không thể hoại.
Bồ Tát khắp trụ ở trong cõi nước
của tất cả chúng sinh. Từ trong
chánh pháp bất thối chuyển sinh
ra. Thường trụ trong tất cả pháp
giới bình đẳng. Thấu suốt biết
rõ mọi sự mong muốn trong tâm
của tất cả chúng sinh. Hiện ra
bất khả thuyết bất khả thuyết đủ
thứ thân Như Lai khác nhau.
Chẳng phải lời lẽ và văn từ thế
gian có thể khen ngợi hết được.
Chư Phật Bồ Tát dùng sức thần
thông cảm ứng đạo giao, khiến
cho hết thảy tất cả chúng sinh,
thường nhớ niệm Phật, thường
nghĩ tưởng đến Phật, thì tương
lai nhất định sẽ gặp Phật. Thân
Như Lai hiện ra sung mãn pháp
giới, và tất cả cõi Phật, hay
rộng độ tất cả chúng sinh. Tuỳ
thuận những người ban đầu phát
tâm mong cầu, đều khiến cho họ
đắc được lợi ích. Tức cũng là,
ai muốn cầu thành Phật mà phát
tâm, thì khiến cho họ đều thành
Phật. Ai cầu thần thông mà phát
tâm, thì khiến cho họ đắc được
thần thông. Dùng Phật pháp để bố
thí cho chúng sinh, khiến cho
chúng sinh cang cường, đều được
điều phục, đắc được sự tin hiểu,
đắc được thanh tịnh. Thị hiện vô
lượng sắc thân, đây thật là cảnh
giới không thể nghĩ bàn.
Bình
đẳng quán sát chúng sinh, tâm
không chấp trước, trụ nơi vô
ngại. Đắc được mười lực của
Phật, không có chướng ngại. Tâm
thường ở trong định, chưa từng
tán loạn, trụ nhất thiết trí.
Bồ
Tát bình đẳng quán sát tất cả
chúng sinh, chẳng có tâm phân
biệt, chẳng có tâm chấp trước,
trụ nơi cảnh giới viên dung vô
ngại, đắc được mười thứ lực của
Phật. Chẳng có mọi sự chướng
ngại, nhậm vận vô ngại. Tâm chư
Phật Bồ Tát, thường ở trong
định, chưa từng tán loạn, trụ
nơi nhất thiết trí huệ.
Khéo
khai thị diễn nói đủ thứ câu văn
nghĩa lý chân thật. Vào được
biển trí huệ thâm sâu không bờ.
Sinh ra vô lượng công đức trí
huệ tạng.
Bồ
Tát khéo khai thị diễn nói đủ
thứ lời lẽ, đủ thứ câu văn, đủ
thứ diệu pháp, đều là nghĩa lý
chân thật, hoàn toàn vào sâu
được tạng Kinh, đắc được trí huệ
không bờ bến, như biển cả. Hay
sinh ra vô lượng công đức trí
huệ tạng.
Luôn
luôn dùng Phật nhựt, chiếu khắp
pháp giới. Tuỳ theo nguyện lực
thuở xưa, thường hiện không ẩn
mất. Luôn luôn trụ nơi pháp
giới, trụ chỗ Phật trụ, chẳng có
biến đổi. Nơi cái ta và của ta
đều chẳng chấp trước. Trụ nơi
pháp xuất thế gian, chẳng nhiễm
pháp thế gian.
Bồ
Tát luôn luôn dùng Phật nhựt,
chiếu sáng khắp thế giới. Tuỳ
theo nguyện lực thuở xưa đã
phát, thường xuất hiện ra đời,
mà chẳng vào Niết Bàn. Luôn luôn
trụ nơi pháp giới, trụ ở chỗ
Phật trụ, chẳng có lúc nào biến
đổi. Ðối với cái ta và của ta
đều chẳng chấp trước. Chúng ta
chúng sinh đối với cái ta và của
ta, hai sự việc nầy nhìn chẳng
thấu được, buông bỏ chẳng đặng,
có sự chấp trước, đây là thân
thể của ta, phải thương yêu nó,
phải bảo vệ nuôi dưỡng nó, phải
lo cho nó. Cho nên suốt ngày vì
nó mà phải bận rộn, tức nhiên có
cái ta, thì sinh ra tư tưởng sở
hữu của ta: Ðây là thuộc về ta,
kia là sở hữu của ta. Nói rộng
ra, đây là đất nước của ta, đây
là nhà của ta, đây là tài sản
của ta. Có cái ta rồi thì có sở
hữu của ta-đây tức là ích kỷ, tự
lợi. Nếu chẳng ích kỷ, thì chẳng
có cái ta. Nếu chẳng có tự lợi,
thì chẳng có sở hữu của ta. Vậy,
cái ta không có, của ta không
có, đây tức là pháp xuất thế
gian. Khi tu đến trình độ nầy
thì đắc được giải thoát, tất cả
đều tự tại. Tuy trụ tại pháp
xuất thế, nhưng đối với pháp thế
gian chẳng nhiễm trước. Tóm lại,
không bị pháp thế gian làm giao
động, không bị cảnh giới chuyển
biến, đây là yếu tố của pháp
xuất thế gian.
Nơi
tất cả thế gian, kiến lập tràng
trí huệ. Trí huệ đó rộng lớn,
vượt khỏi thế gian. Không nhiễm
trước, cứu các chúng sinh, khiến
cho họ thoát khỏi bùn lầy, để
nơi trí huệ tối thượng. Hết thảy
phước đức, lợi ích chúng sinh,
mà không hết được. Biết rõ trí
huệ của tất cả Bồ Tát, tin và xu
hướng quyết định, sẽ thành Chánh
Giác. Dùng đại từ bi, hiện bất
khả thuyết vô lượng thân Phật,
đủ thứ sự trang nghiêm. Dùng âm
thanh vi diệu, để diễn nói vô
lượng pháp. Tuỳ theo ý của chúng
sinh, đều khiến cho họ được đầy
đủ.
Ở
trong tất cả thế gian, kiến lập
tràng trí huệ. Tràng là hình
tướng vuông tròn, biểu thị dùng
trí huệ quang minh chiếu khắp
tất cả chúng sinh. Thứ trí huệ
nầy rộng lớn không thể sánh,
vượt qua pháp thế gian, chẳng có
nhiễm trước. Ðã lìa khỏi sự chấp
trước cái ta và của ta, thì còn
gì để chấp trước ? Có thể cứu độ
khổ não của tất cả chúng sinh,
khiến cho chúng sinh thoát khỏi
bùn lầy, để họ ở nơi trí huệ vô
thượng, tức cũng là đạt đến quả
vị Phật.
Chúng
ta chúng sinh ở trong bùn lầy
như huyễn, như hoá, mà chẳng tự
giác, vẫn đang nằm mộng, mê mê
hồ hồ, nhiễm khổ làm vui. Ðối
với thị phi thiện ác chẳng phân
rõ ràng, dùng phải làm trái,
dùng trái làm phải, dùng thiện
làm ác, dùng ác làm thiện. Ðiên
điên, đảo đảo, phải trái chẳng
phân rõ ràng, thiện ác chẳng rõ.
Nói chung, cong thẳng không
biết, trắng đen chẳng rõ, đây
cũng giống như ở trong bùn lầy.
Tại
sao chúng ta ở trong bùn lầy ?
Vì ngu si. Con người luôn luôn
quay lưng với giác ngộ mà hợp
với trần lao, mà chẳng quay lưng
với trần lao để hợp với giác
ngộ, đây tức là ở trong bùn. Lúc
chẳng minh bạch, lúc chẳng thoát
khỏi ba cõi, vì đó là bị bùn lầy
vô minh phiền não làm nhiễm
trước. Vậy làm thế nào mới thoát
khỏi được bùn lầy ? Tức là phải
học Phật pháp. Phật pháp là
phương hướng chỉ bày đường mê,
là hải đăng của biển cả, chiếu
sáng khắp nơi, khiến cho người
mê mất phương hướng, đi trên con
đường chân chánh.
Bồ
Tát dùng đủ thứ phước đức đã tu
trong quá khứ, để lợi ích chúng
sinh, khiến cho họ đắc được sự
lợi ích, thường thường làm như
vậy chẳng có khi nào hết được.
Các Ngài minh bạch trí huệ của
tất cả Bồ Tát, là thâm sâu vô
thượng, tâm tin nguyện và tâm
hồi tiểu hướng đại, quyết định
rồi, thì tương lai chắc chắn sẽ
thành Phật.
Dùng
tâm đại từ đại bi, hiện ra bất
khả thuyết bất khả thuyết vô
lượng thân Phật, tức cũng là hoá
thân. Dùng đủ thứ công đức và
trí huệ để trang nghiêm. Dùng đủ
thứ âm thanh vi diệu, để diễn
nói vô lượng pháp, tức cũng là
từ một pháp mà diễn nói vô lượng
pháp, vô lượng pháp quy về một
pháp. Do đó:
"Một làm vô lượng
Vô lượng làm một".
Ðây
là pháp viên dung vô ngại. Tuỳ
thuận tâm ý của chúng sinh,
khiến cho dục vọng của họ đều
được đầy đủ, tức cũng là nguyện
vọng thành Phật, làm tổ, chứ
chẳng phải tham luyến vui năm
dục.
Tại
quá khứ vị lai hiện tại, tâm
thường thanh tịnh, khiến cho các
chúng sinh, chẳng chấp trước
cảnh giới. Luôn thọ ký cho tất
cả các Bồ Tát, khiến cho các
Ngài đều vào trong chủng tánh
của Phật. Sinh tại nhà Phật,
được Phật quán đảnh.
Bồ
Tát trong quá khứ, vị lai, hiện
tại, ba đời, tâm luôn luôn thanh
tịnh, một niệm không sinh, một
bụi trần không nhiễm. Bồ Tát
chẳng những tự mình chẳng chấp
trước cái ta và của ta, mà cũng
khiến cho tất cả chúng sinh,
chẳng chấp trước vào cảnh giới
cái ta và của ta. Thường thường
vì chúng sinh thọ ký cho tất cả
các Bồ Tát, khiến cho tất cả
chúng sinh, đều vào trong chủng
tánh của Phật, sinh tại nhà của
Phật (tức cũng là cõi Thường
Tịch Quang Tịnh Ðộ), sẽ đắc được
mười phương chư Phật quán đảnh
thọ ký thành Phật.
Thường
du hành mười phương, chưa từng
ngừng nghỉ, mà nơi tất cả chẳng
vui thích chấp trước. Pháp giới
cõi Phật, thảy đều đi đến. Tâm
của các chúng sinh, thảy đều
biết rõ. Hết thảy phước đức xuất
thế thanh tịnh, chẳng trụ sinh
tử, mà nơi thế gian như hình ảnh
hiện khắp.
Bồ
Tát thường du hành mười phương
thế giới, đi giáo hoá tất cả
chúng sinh, chưa từng lúc nào
ngừng nghỉ. Chư Phật Bồ Tát giáo
hoá chúng sinh không ngừng nghỉ,
chúng ta học tập Phật pháp, thì
thường ngừng nghỉ. Tập khí của
chúng sinh và tập khí của chư
Phật Bồ Tát hoàn toàn khác nhau.
Chư Phật Bồ Tát đối với tất cả
cảnh giới năm dục sáu trần,
chẳng chấp trước, chẳng sinh tâm
tham. Song, chúng sinh thì ngược
lại, tham vui năm dục, ưa thích
cảnh sáu trần.
Bất
cứ pháp giới cõi Phật nào, Bồ
Tát đều có thể tuỳ ý đi đến, du
hành vô ngại, chẳng bị hạn chế.
Bồ Tát đối với tâm niệm của tất
cả chúng sinh, đều thấu suốt
biết rõ. Tôi cũng biết tâm chúng
sinh, đều có tham sân si, suốt
ngày đến tối bị ba độc mê hoặc,
chẳng có lúc nào tỉnh táo. Nếu
chẳng có tham sân si, thì sẽ
siêng tu giới định huệ.
Hết
thảy phước đức của Bồ Tát, đều
do xuất ly thế gian mà được
thanh tịnh, chẳng tham trước nơi
sinh tử, cũng chẳng trụ nơi Niết
Bàn. Tuy sinh mà không sinh, tuy
chết mà không chết. Do đó:
"Sinh tử tức Niết Bàn
Phiền não tức bồ đề".
Bồ
Tát tại thế gian, giống như hình
ảnh, hay hiện khắp trong tâm của
chúng sinh.
Dùng
trí huệ mặt trăng, chiếu khắp
pháp giới. Thông đạt tất cả,
thảy đều không có chỗ được. Luôn
dùng trí huệ, biết các thế gian
như huyễn, như hình ảnh, như
mộng, như biến hoá. Tất cả đều
lấy tâm làm tự tánh. Như vậy mà
trụ.
Bồ
Tát dùng ánh sáng trí huệ mặt
trăng, chiếu khắp pháp giới tâm
của tất cả chúng sinh, khiến cho
họ thấu rõ thông đạt tất cả hết
thảy thế gian, như huyễn, như
hoá, đều không thể đắc được. Tại
sao ? Vì đều hư vọng không thật
thể, cho nên chẳng chấp trước.
Bồ Tát dùng trí huệ chân thật,
biết tất cả pháp thế gian, đều
là huyễn hoá, giống như nằm
mộng, đều là biến hoá. Hư vọng
không thật, chẳng chấp trước.
Ðời người giống như diễn phim,
trên màng ảnh có đủ thứ cảnh
giới hiện ra, nhìn xem tựa như
thật, kỳ thật là giả. Song, vẫn
dẫn dụ chúng sinh làm cho điên
điên đảo đảo, chuyển theo cảnh
giới, mà không chuyển được cảnh
giới.
Bồ
Tát biết tất cả hết thảy, đều
dùng tâm làm tự tánh (tâm là có
sự phân biệt, là hữu vi; tánh là
không phân biệt, là vô vi). Cho
nên như vậy mà trụ. Tánh của
chúng sinh là Phật tánh, tâm của
chúng sinh là vọng tâm, cho nên
chẳng thành Phật. Người tu đạo
tức là tu tâm, biến vọng tâm
thành chân tâm. Chân tâm tức là
tánh Như Lai tạng, tức cũng là
đại quang minh tạng.
Tuỳ
theo các chúng sinh nghiệp báo
khác nhau. Tâm ưa thích khác
nhau. Các căn đều khác nhau, mà
thị hiện thân Phật. Như Lai luôn
dùng vô số chúng sinh, mà vì họ
sở duyên, để vì họ nói thế gian
đều do duyên khởi. Biết các pháp
tướng, thảy đều vô tướng, chỉ là
một tướng, gốc của trí huệ. Muốn
khiến cho chúng sinh lìa khỏi sự
chấp trước các tướng, nên thị
hiện tất cả tánh và tướng của
thế gian, mà hành nơi thế gian,
vì họ khai thị vô thượng bồ đề.
Tuỳ thuận nghiệp báo khác nhau
của chúng sinh, tâm ưa thích
khác nhau, các căn khác nhau, mà
thị hiện thân Phật. Phật thường
dùng vô số chúng sinh vì sở
duyên, cho nên thường muốn độ
chúng sinh, thoát khỏi biển khổ,
vì chúng sinh nói tất cả pháp
thế gian, đều từ đạo lý duyên
khởi, Do đó: "Duyên sinh vô
tánh". Phật biết tất cả pháp là
vô tướng, nhưng vì chúng sinh có
tâm phân biệt, cho nên có pháp
tướng, kỳ thật rốt ráo là vô
tướng, mà vô tướng nầy là gốc rễ
của trí huệ, vì tất cả pháp đều
từ trí huệ sinh ra. Trí huệ là
như thế nào ? Là vô tướng ! Cho
nên nói "Chỉ là một tướng, gốc
của trí huệ". Trong Ðại Trí Ðộ
Luận có nói:
"Pháp do nhân duyên sinh
Ta nói tức là không
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa trung đạo".
Ðây là nói rõ đạo lý duyên khởi.
Chư Phật Bồ Tát muốn khiến cho
tất cả chúng sinh, lìa khỏi sự
chấp trước tất cả các tướng, cho
nên thị hiện tánh và tướng của
tất cả thế gian, mà đến thế gian
giáo hoá chúng sinh, vì hết thảy
chúng sinh, mà khai thị giác đạo
vô thượng.
Vì
muốn cứu hộ tất cả chúng sinh,
nên xuất hiện nơi thế gian. Khai
thị Phật đạo, khiến cho họ được
thấy thân tướng của Như Lai.
Phan duyên nghĩ nhớ, siêng năng
tu tập, để diệt trừ tướng phiền
não của thế gian. Tu hạnh bồ đề,
tâm chẳng tán loạn lay động. Nơi
môn đại thừa, đều đắc được viên
mãn, thành tựu nghĩa lợi của tất
cả chư Phật.
Chư
Phật Bồ Tát, vì muốn cứu hộ tất
cả chúng sinh, cho nên xuất hiện
nơi thế gian, khai thị chánh đạo
của chư Phật tu hành, tức cũng
là khiến cho chúng sinh thành
tựu Phật đạo. Khiến cho chúng
sinh thấy được 32 tướng và 80 vẻ
đẹp của Phật, bèn sinh ra tâm
phan duyên, nghĩ nhớ thân tướng
tốt trang nghiêm của Như Lai, mà
siêng năng tu tập, để diệt trừ
tướng tất cả phiền não của thế
gian, chuyên tâm tu tập hạnh bồ
đề, tâm chẳng tán loạn giao
động, thời thời ở trong định.
Ðối với pháp môn đại thừa, thảy
đều tu tập viên mãn. Thành tựu
nghĩa lợi của mười phương ba đời
tất cả chư Phật, tức cũng là đắc
được quả bồ đề viên mãn.
Đều
có thể quán sát căn lành của
chúng sinh, mà không hoại diệt
nghiệp báo thanh tịnh. Trí huệ
thấu rõ, vào khắp ba đời.
Chư
Phật Bồ Tát có thể quán sát căn
lành của tất cả chúng sinh,
khiến cho nghiệp báo thanh tịnh
của tất cả chúng sinh, đều được
thành tựu. Chúng sinh có trí huệ
chân chánh, thấu rõ tất cả Phật
pháp, sẽ vào khắp ba đời.
Vĩnh
viễn lìa khỏi sự phân biệt của
tất cả thế gian, phóng lưới
quang minh, chiếu khắp mười
phương tất cả thế giới, chẳng có
nơi nào mà không chiếu đến. Sắc
thân tốt đẹp, ai thấy được cũng
đều không nhàm. Dùng đại công
đức trí huệ thần thông, sinh ra
đủ thứ các hạnh Bồ Tát. Các căn
cảnh giới, tự tại viên mãn, làm
các Phật sự, làm xong liền chẳng
còn nữa.
Phật
Bồ Tát vĩnh viễn lìa khỏi tâm
phân biệt tất cả thế gian, phóng
lưới đại trí huệ quang minh,
chiếu soi khắp mười phương tất
cả thế giới, chẳng có nơi nào mà
không sung mãn. Sắc thân của
Phật tốt đẹp trang nghiêm, tất
cả chúng sinh thấy được sắc thân
tốt đẹp nầy, mắt chiêm ngưỡng
đều không tạm rời, chẳng có lúc
nào nhàm chán. Dùng đại công
đức, đại trí huệ, đại thần
thông, sinh ra đủ thứ lục độ vạn
hạnh của Bồ Tát tu, cảnh giới
các căn đều tự tại viên mãn, cho
nên những việc làm, đều làm tất
cả mọi Phật sự. Làm xong Phật
sự, thì chẳng còn nữa. Bồ Tát
chẳng chấp trước vào làm Phật
sự. Do đó: "Làm mà không làm,
hành mà không hành". Cho nên mới
nói "Làm xong chẳng còn nữa".
Khéo
hay khai thị nhất thiết trí đạo
quá khứ hiện tại vị lai. Vì các
Bồ Tát, khắp mưa vô lượng pháp
vũ Đà la ni, khiến cho họ phát
khởi sự ưa muốn vui thích rộng
lớn, mà thọ trì tu tập.
Chư
Phật Bồ Tát khéo dùng thiện xảo
phương tiện để khai thị ngộ
nhập, khiến cho tất cả chúng
sinh đều minh bạch đạo nhất
thiết trí huệ quá khứ hiện tại
và vị lai. Vì hết thảy Bồ Tát
khắp mưa vô lượng pháp vũ Ðà la
ni, khiến cho họ phát khởi tâm
bồ đề rộng lớn, tu trì tâm bồ đề
rộng lớn, dùng tâm bồ đề làm sự
ưa thích, thọ trì pháp tổng trì
nầy, tu tập pháp tổng trì nầy.
Thành
tựu công đức của tất cả chư
Phật, viên mãn mạnh mẽ, vô biên
sắc đẹp trang nghiêm thân. Tất
cả thế gian chẳng có đâu mà
không thấy. Vĩnh viễn lìa khỏi
tất cả pháp chướng ngại. Nơi tất
cả pháp nghĩa chân thật, đã được
thanh tịnh. Nơi pháp công đức
đắc được tự tại.
Bồ
Tát thành tựu công đức của tất
cả chư Phật đã thành tựu, công
đức cũng viên mãn, trí huệ cũng
viên mãn, quang minh cũng viên
mãn. Chẳng những viên mãn, mà
còn mạnh mẽ, tức cũng là quang
minh chiếu khắp. Có vô biên diệu
sắc để trang nghiêm thân. Ở
trong mười phương tất cả cõi
nước chư Phật, chẳng có ai mà
không thấy thân tướng tốt trang
nghiêm đó. Và vĩnh viễn lìa khỏi
tất cả pháp chướng ngại.
Gì
là pháp chướng ngại ? Nói đơn
giản đó là tham, sân, si, mạn,
nghi, ác kiến, sáu thứ gốc rễ
phiền não. Sáu thứ phiền não nầy
hay nhiễu loạn tâm thanh tịnh
của mình và kẻ khác. Do đó:
"Phiền thân não tâm".
Chúng
ta tu đạo, tu đến trình độ chẳng
còn phiền não, thì sẽ thoát khỏi
ba cõi. Do đó:
"Ðừng sinh phiền não tâm chớ
nghi
Ðều phải lo mình bớt lo người
Nhẫn nhiều chẳng phải bớt tranh
lý
An nhiên thanh tịnh trí huệ
sinh".
Cũng chẳng có phiền não, cũng
chẳng có hoài nghi, thường lo
cho mình, đừng lo việc của người
ta. Do đó:
"Hay lo việc nhàn rỗi,
Tự chuốt lấy khổ não".
Thường nhận rằng mình không
phải, đừng tranh luận với người.
Lúc đó, rất an nhiên, rất thanh
tịnh, trí huệ sẽ hiện ra.
"Rõ tâm chẳng có việc ngại khó
Thấy tánh chẳng có tâm sầu lo
Phật quang chẳng phải chẳng
chiếu khắp
Lo nghĩ hận oán tâm loạn mê".
Người
thấy rõ tâm, thì chẳng có việc
chướng ngại khó khăn. Người thấy
tánh, chẳng có tâm lo nghĩ sầu
buồn. Quang minh của Phật chiếu
khắp tất cả, giống như ánh sáng
mặt trời, mà tại sao chúng ta
không thấy quang minh của Phật ?
Vì có sầu lo và oán hận, cho nên
tâm loạn mê, do đó, trí huệ
quang minh không thể hiện tiền.
Tôi
thường nói:
"Tâm thanh thuỷ hiện nguyệt,
Ý định thiên vô vân".
Nghĩa là:
Tâm tịnh nước hiện trăng
Ý lặng trời không mây.
"Tâm bình bách nạn tán,
Ý định vạn sự cát".
Nghĩa là:
Tâm bình trăm nạn tiêu tan
Ý định vạn sự cát tường.
"Tâm chỉ niệm tuyệt chân phú
quý,
Tư dục đoạn tận chân phước
điền".
Nghĩa là:
Tâm niệm ngừng bặt giàu sang
thật
Dục niệm dứt sạch ruộng phước
thật.
"Một thời thanh tịnh,
Một thời tại núi Linh Sơn.
Thời thời thanh tịnh
Thời thời tại núi Linh Sơn".
"Một niệm không sinh toàn thể
hiện,
Lục căn hốt động bị vân giá".
Nghĩa là:
Một niệm không sinh toàn thể
hiện ra
Sáu căn giao động bị mây che
lấp.
Những câu nầy đều là châm ngôn.
Ðối với tất cả đạo lý pháp chân
thật, đã đắc được thanh tịnh,
tức cũng là đã minh bạch bản thể
của pháp là vắng lặng thanh
tịnh, cho nên chẳng có sự chấp
trước. Bồ Tát thì tức tướng lìa
tướng, tức pháp phi pháp, chẳng
có sự chấp trước, cho nên thanh
tịnh. Nếu có những sự chấp
trước, thì chẳng đắc được thanh
tịnh. Ðối với pháp công đức lành
tu hành của mười phương ba đời
tất cả chư Phật, đều đắc được tự
tại viên mãn.
Làm
đại Pháp Vương, như mặt trời
chiếu khắp. Làm ruộng phước thế
gian, đủ đại oai đức. Nơi tất cả
thế gian, khắp hiện hoá thân,
phóng quang minh trí huệ, đều
khiến cho họ khai ngộ. Muốn
khiến cho chúng sinh, biết Phật
đầy đủ vô biên công đức. Dùng tơ
lụa vô ngại, vấng đảnh thọ ngôi.
Tuỳ thuận thế gian, phương tiện
khai đạo. Dùng tay trí huệ, an
ủi chúng sinh. Làm đại y vương,
khéo chữa các bệnh.
Ðức
Phật làm đại Pháp Vương, giống
như mặt trời chiếu khắp đại địa
vạn vật, làm ruộng phước của thế
gian, đầy đủ đại oai đức. Ðối
với tất cả chúng sinh phát tâm
từ bi, cho nên tại tất cả thế
gian, khắp hiện hoá thân, phóng
quang minh trí huệ, chiếu phá
đen tối. Khiến cho chúng sinh
được quang minh của Phật chiếu
đến, liền được khai ngộ. Muốn
khiến cho chúng sinh biết Phật
có đầy đủ vô biên công đức. Dùng
vải tơ lụa vô ngại, vấng trên
đảnh thọ ngôi Pháp Vương. Tuỳ
thuận pháp thế gian, phương tiện
để khai đạo chúng sinh. Dùng tay
trí huệ để xoa đảnh đầu chúng
sinh; dùng tiếng nói từ bi, để
an ủi tâm chúng sinh. Làm đại y
vương chữa trị tất cả bệnh tật
của chúng sinh. Vì chúng sinh có
tám vạn bốn ngàn bệnh phiền não,
cho nên Phật dùng tám vạn bốn
ngàn pháp môn để đối trị.
Tam
Bảo là ruộng phước của chúng
sinh, tại sao phải cúng dường
Tam Bảo ? Vì muốn gieo trồng
ruộng phước. Nhưng một số người
không nhận thức được chân tướng,
chẳng minh bạch chân lý, cho nên
chẳng muốn gieo trồng ruộng
phước trước Tam Bảo. Có người ở
trước Tam Bảo cầu xin phước báo,
hy vọng có điều gì linh cảm, hy
vọng có cảnh giới gì đó, những
tư tưởng nầy là sai lầm. Có
người ở trước Tam Bảo cầu xin
con cái, cầu phát tài, cầu mạnh
khoẻ, cầu cát tường, đây là
không đúng. Vậy tại sao phải
cúng dường Tam Bảo ? Vì muốn tu
phước, muốn tu huệ. Phước huệ
viên mãn, thì sẽ thoát khỏi ba
cõi, chấm dứt sinh tử, và sẽ
không còn ở trong thế giới Ta Bà
chịu đủ thứ khổ nữa, có thể đến
thế giới Cực Lạc hưởng thọ sự
sung sướng.
Gieo
trồng ruộng phước trước Tam Bảo,
đừng có tâm phân biệt. Rằng chỗ
nầy có Phật chăng ? Có Tăng
chăng ? Nếu có tâm phân biệt như
thế, thì chẳng có công đức, sẽ
chẳng đắc được ruộng phước. Phải
biết:
"Rồng bùn tuy không thể mưa
xuống,
Cầu mưa phải cầu rồng bùn.
Phàm Tăng tuy không thể ban
phước,
Trồng phước phải cầu nơi phàm
Tăng".
Cho nên nói "Thành Hiền phước
điền Tăng". Thành tâm cúng dường
Tam Bảo, phước tự nhiên trồng
xuống, thì chắc chắn sẽ đắc được
sự giàu sang mai sau, cúng dường
không chấp trước, thì mới là
thật cúng dường. Nếu có sự xí
đồ, thì là giả cúng dường. Do
đó: "Tam luân thể không", thì
công đức sẽ vô lượng.
Tất
cả thế gian vô lượng cõi nước,
thảy đều đi đến, chưa từng ngừng
nghỉ. Thanh tịnh huệ nhãn, lìa
khỏi các chướng lòa, sẽ được
thấy rõ. Chúng sinh làm nghiệp
ác không thiện, có đủ thứ sự
điều phục, khiến cho họ vào đạo.
Khéo nắm lấy thời cơ, không có
ngừng nghỉ.
Trong
hết thảy tất cả thế gian, có vô
lượng vô biên cõi nước, Bồ Tát
thảy đều đi đến tất cả cõi nước
để giáo hoá chúng sinh, chẳng có
lúc nào ngừng nghỉ. Bồ Tát thanh
tịnh huệ nhãn, đã lìa khỏi tất
cả chướng loà, thảy đều thấy rõ
tất cả tâm tánh của chúng sinh.
Trong Kinh Kim Cang có nói:
"Chúng sinh có bao nhiêu thứ
tâm,
Như Lai đều biết đều thấy".
Ðối
với chúng sinh làm nghiệp ác
chẳng thiện, dùng đủ thứ pháp
môn phương tiện, để điều phục
những chúng sinh cang cường đó,
khiến cho họ cải ác hướng thiện,
phát tâm bồ đề, tu đạo vô
thượng. Bồ Tát khéo léo nắm lấy
thời cơ, chẳng ngừng nghỉ để
giáo hoá.
Ðối
với chúng sinh nghiệp thiện, thì
khiến cho nghiệp thiện của họ
tăng trưởng. Ðối với chúng sinh
nghiệp bất thiện, thì khiến cho
họ tài bồi nghiệp thiện, chẳng
tạo nghiệp ác. Ðối với chúng
sinh chẳng thiện chẳng ác, thì
khiến cho họ biết gieo trồng căn
lành, làm công đức nghiệp thiện.
Vì chúng sinh nói pháp, lựa chọn
thời cơ, chẳng để bỏ lỡ cơ hội.
Tóm lại, khi chúng sinh nầy được
độ, đáng tiếp thọ pháp thì vì họ
nói pháp. Do đó: "Quán cơ đầu
giáo, vì người nói pháp". Người
nào cơ duyên thành thục thì vì
họ nói pháp, người nào cơ duyên
chưa thành thục thì đợi thời cơ,
sẽ vì họ nói pháp. Ðây gọi là
"khéo nắm lấy thời cơ". Thời cơ
tức là lúc nói pháp hợp thời. Do
đó:
"Thời nhiên hậu ngôn
Lạc nhiên hậu tiếu
Nghĩa nhiên hậu thủ".
Nghĩa là: Ðến lúc đáng nói mới
nói. Lúc vui vẻ, sau đó mới
cười. Việc hợp với nghĩa, mới có
thể lấy, nếu vật không hợp
nghĩa, thì tuyệt đói không lấy.
Nếu
các chúng sinh khởi tâm bình
đẳng, tức là hoá hiện nghiệp báo
bình đẳng. Tuỳ theo tâm ưa thích
của họ, tuỳ theo nghiệp quả của
họ, mà hiện thân Phật đủ thứ
thần thông biến hoá, để vì họ
nói pháp, khiến cho họ ngộ hiểu.
Đắc được pháp trí huệ, tâm đại
hoan hỉ, các căn hớn hở, thấy vô
lượng Phật. Khởi niềm tin thâm
sâu. Sinh ra các căn lành, vĩnh
viễn không thối chuyển.
Giả
sử tất cả chúng sinh, sinh khởi
tâm bình đẳng, chẳng có tâm phân
biệt, chẳng có tâm thương ghét,
chẳng có tâm thân sơ, chẳng có
tâm cao thấp, đều là tâm bình
đẳng, tức là hoá hiện nghiệp báo
bình đẳng.
Tuỳ
thuận việc chúng sinh ưa thích,
tuỳ thuận nghiệp của chúng sinh
tạo ra, tuỳ thuận báo của chúng
sinh thọ, mà thị hiện thân Phật.
Dùng đủ thứ thần thông biến hoá,
mà vì họ nói pháp, khiến cho họ
khai ngộ, đắc được Phật pháp,
trí huệ, giải thoát. Thấu rõ tất
cả rồi, thì tâm sinh đại hoan
hỉ, tứ chi hớn hở nhảy nhót, do
đó: "Tình chẳng tự chủ, tay múa
chân nhảy". Lại thấy được mười
phương ba đời tất cả vô lượng
chư Phật, sinh khởi tâm tin thâm
sâu, sinh trưởng tất cả căn
lành, vĩnh viễn chẳng thối
chuyển, dũng mãnh tinh tấn tiến
về trước.
Tất
cả chúng sinh, tuỳ theo nghiệp
ràng buộc, ngủ mãi trong sinh
tử. Như Lai ra đời, giác ngộ cho
họ, an ủi tâm của họ, khiến cho
họ không lo sợ. Nếu người thấy
được Như Lai, đều khiến cho họ
chứng nhập trí vô y nghĩa. Trí
huệ thiện xảo thông đạt cảnh
giới. Trang nghiêm tốt đẹp,
không gì chói sáng lấn được. Núi
trí huệ mầm pháp đều đã thanh
tịnh. Hoặc hiện thân Phật, hoặc
hiện thân Bồ Tát, khiến cho các
chúng sinh đến nơi không hoạn
nạn. Vô số công đức trang
nghiêm, nghiệp hạnh thành tựu,
hiện nơi thế gian. Tất cả chư
Phật trang nghiêm thanh tịnh,
thảy đều dùng tất cả trí nghiệp
để thành tựu.
Hết
thảy tất cả chúng sinh, đều khởi
hoặc, tạo nghiệp, thọ báo. Khởi
hoặc tức là một niệm vô minh. Vì
không minh bạch, cho nên mê
hoặc. Vì mê hoặc cho nên tạo ra
nghiệp điên đảo. Có nghiệp điên
đảo, thì phải thọ quả báo ở
trong luân hồi sinh tử. Do đó:
"Trồng thiện kết quả thiện
Trồng ác kết quả ác".
Nếu nhân không thiện không ác,
thì đương nhiên sẽ kết quả không
thiện không ác. Ðây là định luật
từ ngàn xưa không thay đổi. Cho
nên tất cả chúng sinh, do nghiệp
ràng buộc, bị nghiệp vây khốn.
Nghiệp do mình tạo, và chính
mình phải thọ quả báo, luân
chuyển ở trong luân hồi, giống
như ngủ ở trong luân hồi, thuỷ
chung mê mộng không tỉnh, không
thể chấm dứt sinh tử. Do đó:
"Danh lợi việc nhỏ người người
ham,
Sinh tử việc lớn chẳng ai màng".
Con
người đối với việc lớn sinh tử
chẳng thấu hiểu, cứu kính sinh
ra như thế nào ? Chết rồi sẽ đi
về đâu ? Chẳng ai nghiên cứu !
Cứu kính từ đâu đến ? Sẽ đi về
đâu ? Chẳng biết ! Con người đều
là hồ đồ sinh ra, hồ đồ chết đi.
Do đó: "Tuý sinh mộng tử". Nghĩa
là: "Sinh say chết mộng". Khi
sinh thì giống như say rượu, khi
chết thì giống như xuân mộng.
Suốt ngày hồ đồ điên đảo, vô
dụng giống như người chết sống
lại.
Phật
quán sát tất cả nhân duyên, mới
xuất hiện ra thế gian. Phật là
ứng duyên của chúng sinh, mà
xuất hiện ra đời, khiến cho
chúng sinh giác ngộ, phát tâm bồ
đề, bỏ mê về với giác ngộ, chấm
dứt sinh tử. Dùng lời tốt an ủi
chúng sinh, khiến cho họ không
sầu lo sợ hãi, xa lìa điên đảo
mộng tưởng. Nếu có chúng sinh
gặp được Phật, đều có thể chứng
nhập trí huệ vô y nghĩa, tức
cũng là bốn trí (Thành sở tác
trí, diệu quán sát trí, bình
đẳng tánh trí, đại viên cảnh
trí). Có trí huệ rồi, sẽ sử dụng
pháp môn phương tiện khéo léo,
để giáo hoá tất cả chúng sinh.
Do đó:
"Vào sâu tạng Kinh,
Trí huệ như biển".
Có trí huệ như biển, thì mới có
thể giáo hoá chúng sinh, khiến
cho họ được giải thoát, khiến
cho họ thấu hiểu cảnh giới. Nhận
thức cảnh giới rồi, thì sẽ chẳng
bị cảnh giới lay chuyển, chẳng
bị cảnh giới mê hoặc. Do đó:
"Người chuyển được cảnh giới
Cảnh giới không chuyển được
người".
Tất cả cảnh giới hiện tiền, nếu
như như chẳng động, rõ ràng sáng
suốt, thì sẽ chuyển được cảnh
giới.
Thân
Phật thanh tịnh trang nghiêm,
quang minh tốt đẹp, chẳng có gì
trang nghiêm tốt đẹp hơn được,
cho nên không có gì chói sáng
lấn được. Núi trí huệ, mầm diệu
pháp, đều đã thanh tịnh viên
mãn. Hoặc hiện thân Bồ Tát, vì
chúng sinh nói pháp. Hoặc hiện
thân Phật, vì chúng sinh nói
pháp. Khiến cho tất cả chúng
sinh, đều chẳng có chỗ hoạn nạn.
Tức cũng là phá tan vô minh,
hiển pháp tánh. Ðây tức là nơi
không hoạn nạn. Tóm lại, chấm
dứt sinh tử, tức là nơi không
hoạn nạn. Nơi chẳng có hoạn nạn,
tức là thế giới Cực Lạc.
Phật
dùng vô lượng công đức tu hành,
cùng nhau để trang nghiêm. Thế
giới nầy vì tu nghiệp hạnh thành
tựu, mới xuất hiện nơi thế gian.
Dùng sự trang nghiêm của tất cả
chư Phật, để tự trang nghiêm cho
chính mình; dùng sự thanh tịnh
của tất cả chư Phật, để thanh
tịnh cho chính mình. Sự trang
nghiêm thanh tịnh nầy, đều do
nhất thiết trí nghiệp tu hành
thuở xưa thành tựu.
Thường
giữ nguyện xưa, chẳng xả bỏ thế
gian. Làm bạn lành kiên cố của
các chúng sinh, thanh tịnh bậc
nhất. Lìa cấu quang minh, khiến
cho tất cả chúng sinh, đều được
hiện thấy.
Bồ
Tát thường giữ nguyện xưa, chẳng
xả bỏ tất cả chúng sinh thế
gian, nguyện làm bạn lành kiên
cố của tất cả chúng sinh, dùng
nguyện lực chí thành khẩn thiết,
để giáo hoá bạn bè (chúng sinh)
kiên cố. Khiến cho tất cả chúng
sinh, đều đắc được viên mãn diệu
quả bồ đề, có thể phá được một
phần sinh tướng vô minh cuối
cùng, đây tức là thanh tịnh bậc
nhất. Thanh tịnh bậc nhất là
chứng được quả vị Phật Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Như vậy
sẽ lìa khỏi kiến tư hoặc, trần
sa hoặc, vô minh hoặc, đây tức
là lìa cấu. Lìa khỏi trần cấu,
thì trí huệ quang minh tự nhiên
sẽ hiện tiền. Quang minh chiếu
khắp, khiến cho chúng sinh có
cảnh giới cảm ứng đạo giao, đều
đắc được hiện thấy.
Chúng
sinh trong sáu nẻo, vô lượng vô
biên. Phật dùng thần lực, thường
tuỳ theo không xả bỏ. Nếu có
người thuở xưa cùng gieo trồng
căn lành, thì đều khiến cho họ
thanh tịnh. mà nơi tất cả chúng
sinh trong sáu nẻo, không xả bỏ
nguyện xưa, chẳng khi dối, thảy
đều dùng pháp lành, phương tiện
nhiếp lấy, khiến cho họ tu tập
nghiệp thanh tịnh, phá tan sự
đấu tranh của tất cả các ma.
Chúng
sinh ở trong sáu nẻo, có nhiều
vô lượng vô biên. Chúng sinh
giống như hạt bụi, lúc trên
trời, lúc ở dưới đất, lúc làm
súc sinh, lúc làm ngạ quỷ, lúc
làm A tu la, lúc làm người.
Trong sáu nẻo luân hồi, cùng
nhau biến hoá, chẳng có lúc nào
ngừng nghỉ. Phật dùng sức thần
thông, luôn luôn tuỳ theo chúng
sinh trong sáu nẻo, mà chẳng xả
bỏ, thị hiện thân họ, để giáo
hoá chúng sinh.
Giả
xử thuở xưa, có người cùng nhau
phát tâm, cùng nhau gieo trồng
căn lành, đều khiến cho căn lành
tăng trưởng, chín mùi, giải
thoát, sau đó thanh tịnh. Mà đối
với tất cả chúng sinh trong sáu
nẻo, chẳng xả bỏ nguyện xưa, đối
với chúng sinh không khi dối.
Dùng lời chân thật để giáo hoá
chúng sinh, dùng đủ thứ pháp môn
phương tiện khéo léo để nhiếp
lấy. Khiến cho hết thảy chúng
sinh tu tập nghiệp thanh tịnh,
siêng tu giới định huệ, diệt trừ
tham sân si. Khiến cho nghiệp
thân miệng ý thanh tịnh: Thân
chẳng giết hại, trộm cắp, tà dâm
ba nghiệp ác. Miệng không nói
dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi,
chưởi mắng bốn nghiệp ác. Ý
không tham, sân, si, ba nghiệp
ác. Nếu dứt trừ mười điều ác,
tức là tu mười điều lành.
Giới
định huệ ba học vô lậu, khi tu
hành viên mãn, thì sẽ hàng phục
được sự đấu tranh của tất cả các
ma, phá hoại được sự đấu tranh
của tất cả các ma. Ma là gì ?
Phàm là đối với cảnh giới không
nhận thức được, đều gọi là ma.
Ma có nhiều thứ, một lối nói gồm
có: Thiên ma, địa ma, người mà,
quỷ ma, thần ma, phiền não ma,
chúng sinh ma, bệnh ma, tâm ma
.v.v... Ma
khó phá nhất, tức là phiền não
ma và tâm ma. Nếu
chẳng có trí huệ chân chánh, thì
không thể phá được những thứ ma
nầy.
Việc
ma hoan hỉ nhất là đấu tranh, do
đó: "Chỉ sợ thiên hạ chẳng
loạn". Thế giới càng tệ hại thì
càng loạn, ma sẽ rất vui mừng.
Tại sao ? Vì tâm lý đố kị chướng
ngại tác quái. Phàm là ai có tư
tưởng như thế, tức là ma, ma
chẳng có tâm từ bi, bất cứ ai
cũng đều muốn tranh luận, lấy sự
đấu tranh làm sự nghiệp.
Hiện
tại là thời đại mạc pháp, là
thời kỳ đấu tranh kiến cố. Ai ai
cũng thích đấu tranh, ma cũng
hoan hỉ đấu tranh. A
tu la trên trời, A tu la ở nhân
gian, A tu la trong loài súc
sinh, A tu la trong loài ngạ
quỷ, chúng suốt ngày tới tối đều
đấu tranh. Cho nên A tu la thuộc
về các loài ma. Nói đơn giản,
phàm là kẻ ưa thích đấu tranh
tức là A tu la.
A
tu la trên trời, vì có phước
trời, mà chẳng có đức trời, cho
nên thường đấu tranh với trời Ðế
Thích, để tranh giành ngôi Thiên
chủ. A tu la ở nhân gian thì
tranh danh đoạt lợi. A tu la
trong loài súc sinh thì uy hiếp
kẻ yếu. Do đó: "ngựa hại bầy",
biểu thị tác phong của loài A tu
la. A tu la trong loài ngạ quỷ,
thì ưa thích giành thức ăn, ích
kỷ lợi mình, chẳng có đạo nghĩa.
Tóm lại, chướng ngại sự tự do
của kẻ khác, đều là A tu la.
Sự
nóng giận của A tu la lớn nhất,
phiền não nhiều nhất. Vì vậy cho
nên tướng mạo của A tu la rất
xấu xí vô cùng (Nam A tu la rất
xấu xí, nhưng nữ A tu la rất
đẹp). Xấu xí đại biểu cho phiền
não, nóng giận.
Con
người bây giờ, tại sao vẫn còn
đấu tranh, vẫn thích đấu tranh ?
Vì A tu la đang làm sóng làm
gió, chỉ dẫn đấu tranh, chỉ huy
đấu tranh. Phàm là những người
tham gia đấu tranh, đều là hoá
thân của A tu la.
Từ
nơi vô ngại, sinh ra sức lực
rộng lớn, nhật tạng tối thắng,
chẳng có chướng ngại. Nơi tịnh
tâm giới, hiện ra hình bóng, tất
cả thế gian, thảy đều thấy được.
Dùng đủ thứ pháp, rộng bố thí
cho chúng sinh. Phật là tạng vô
biên quang minh. Các lực trí
huệ, thảy đều viên mãn. Luôn
dùng đại quang minh chiếu khắp
chúng sinh. Tuỳ theo nguyện của
họ, đều khiến cho họ được đầy
đủ. Lìa khỏi các oán địch.
Từ
nơi viên dung vô ngại, sinh ra
sức lực trí huệ rộng lớn, hàng
phục tất cả thiên ma ngoại đạo.
Thứ trí huệ nầy thù thắng nhất,
giống như ánh sáng mặt trời, phá
tan tất cả đen tối, chẳng có mọi
sự chướng ngại. Trong thanh tịnh
tâm giới, hiện ra tất cả hình
bóng. Do đó:
"Phật như thanh lương nguyệt
Thường du tất kính không
Chúng sinh tâm cấu tịnh
Bồ đề ảnh hiện trung".
Hết
thảy tất cả chúng sinh thế gian,
đều nhìn thấy được Phật. Phật
dùng đủ thứ pháp môn phương
tiện, rộng bố thí cho chúng
sinh. Do đó: "Trong các sự bố
thí, bố thí pháp là hơn hết".
Dùng pháp bố thí, công đức lớn
nhất. Chúng sinh y theo pháp tu
hành, tương lai sẽ thành tựu quả
Phật. Pháp tức là mẫu thể của
chư Phật. Tất cả chư Phật đều từ
trong pháp sinh ra.
Có
người khởi vọng tưởng: "Pháp là
Phật nói, Phật y Phật pháp để tu
hành. Vậy trước hết có Phật, hay
là trước hết có pháp ? Nếu nói
trước hết có Phật, chẳng có ai
nói pháp, làm sao Phật y pháp tu
hành ? Làm sao có thể thành Phật
? Nếu nói trước hết có pháp, vậy
pháp từ đâu đến ? Pháp là do
Phật nói, nếu chẳng có Phật nói,
làm thế nào có pháp ?" Nghiên
cứu như vậy thì có nhiều vấn đề
! Có thể hỏi một câu: "Trước có
gà, hay trước có trứng ? Nếu
chẳng có gà, gà là từ trong
trứng nở ra, chẳng có trứng làm
sao có gà ? Nếu nói trước hết có
trứng sau có gà, trứng là do gà
đẻ ra, chẳng có gà làm sao có
trứng ?" Ðạo lý như thế nói
không hết được !
Phật
là tạng quang minh vô lượng, có
trí huệ mười lực, đều tu hành
được thanh tịnh viên mãn, thường
dùng đại trí huệ quang minh,
chiếu soi khắp chúng sinh. Tuỳ
thuận nguyện lực của chúng sinh,
đều khiến cho họ được đầy đủ,
toại tâm như ý, lìa khỏi tất cả
oán địch.
Người
tu đạo, phải lấy đức báo oán,
hoá kẻ địch làm bạn, đừng có kẻ
oán hận. Có người đối với mình
không tốt, thì mình càng đối với
họ tốt. Dùng đạo để khuyến hoá
họ, dùng đức để cảm hoá họ,
không thể dùng thế lực để đàn áp
người, không thể dùng vũ lực để
uy hiếp người. Mạnh Tử có nói:
"Kẻ dùng lực đối đãi người
Tâm họ chẳng phục vậy
Lực chẳng cấp giúp vậy.
Kẻ dùng đức đối đãi người
Trong tâm vui mà thành phục
vậy".
Ðây
tức là lìa khỏi oán địch. Ðối
với bất cứ ai đừng có thù địch,
dùng đức để cảm hoá họ, đừng
dùng thế lực để đàn áp. Nếu dùng
lực để chinh phục người, đó là
khẩu phục mà tâm chẳng phục.
Giống như nước lớn dùng quân lực
để chinh phục nước nhỏ, tuy
nhiên nước nhỏ đầu hàng, nhưng
tâm chẳng đầu hàng, đó là tình
hình bất đắc dĩ, mới đầu hàng
xưng thần. Ðợi đến lúc có cơ hội
phản công, thì họ nhất định sẽ
phục thù. Song, nếu dùng đức để
đối đãi người, thì khiến cho đối
phương khẩu phục tâm phục. Khẩn
thiết sùng bái bạn, chân thành
bội phục bạn.
Là
phước điền tối thượng. Tất cả
chúng sinh cùng nhau nương nhờ.
Phàm là có sự bố thí, đều khiến
cho thanh tịnh. Tu chút hạnh
lành, thọ vô lượng phước, đều
khiến cho được vào vô tận trí
địa. Là chủ của tất cả chúng
sinh gieo trồng căn lành tâm
tịnh. Là ruộng tốt tối thượng
của tất cả chúng sinh phát sinh
phước đức. Trí huệ thâm sâu,
phương tiện khéo léo, hay cứu
tất cả khổ ba đường ác.
Bồ
Tát là ruộng phước tối thượng
của chúng sinh, khiến cho tất cả
chúng sinh có đại trí huệ, sinh
đại căn lành, phát tâm bồ đề,
thành vô thượng đạo. Hết thảy
chúng sinh ngưỡng vọng Bồ Tát
làm chỗ nương nhờ, tức cũng là
người bảo hộ. Tất cả chúng sinh,
phàm có sự bố thí, đều khiến cho
thanh tịnh. Dù bố thí nhỏ như
một sợi lông, cũng sẽ gieo trồng
vô lượng căn lành. Khi bố thí,
chẳng những là tài thí và pháp
thí, mà còn có tinh thần vô uý
thí. Khi người gặp lúc hoảng sợ
bối rối, phải dùng lời lẽ để an
ủi, để khai đạo, khiến cho họ
chẳng sợ hãi, thậm chí dùng hành
động để giải quyết sự khó khăn
của họ. Tóm lại, cứu họ lìa khổ
được vui, tình nguyện hy sinh
chính mình, dù có nhảy vào dầu
sôi lửa bỏng, cũng không từ nan,
đó mới là hành vi thực hành Bồ
Tát đạo.
Khi
Phật còn ở đời, có người lão già
88 tuổi, cảm thấy đời người vô
thường, muốn xuất gia tu hành.
Do đó, bèn đến Tịnh Xá Kỳ Viên,
xin Phật cho ông ta xuống tóc
xuất gia, thu làm đệ tử. Lúc ấy,
Phật chẳng có ở Tịnh Xá, đi ra
ngoài hoằng pháp. Tôn giả Xá Lợi
Phất (trí huệ bậc nhất) là
thượng toà, tiếp đãi ông lão già
đó. Hỏi rõ ý định đến, bèn ở
trong định quán sát nhân duyên
của vị lão già đó. Trong tám vạn
đại kiếp, tìm không ra tơ hào
căn lành của vị lão già nọ, ông
ta cũng chẳng có công đức bố
thí, cho nên chẳng có tư cách
làm Tỳ Kheo.
-
Tôn giả Xá Lợi Phất bèn nói với
ông lão: "Ông không thể xuất gia
! Vì thuở xưa ông chưa gieo
trồng căn lành nào, chưa từng bố
thí, xin ông hãy trở về !"
-
Ông già nghe Tôn giả Xá Lợi Phất
nói chẳng cho mình xuất gia, thì
rất là thất vọng đi ra khỏi Tịnh
Xá.
Cổ
đức đã từng nói:
"Mạc đạo xuất gia dung dịch đắc
Giai nhân luỹ thế chủng bồ đề".
Nghĩa là:
Xuất gia chẳng phải việc dễ dàng
Đều do nhiều đời gieo giống bồ
đề.
Do thuở xưa nhiều đời nhiều
kiếp, đã từng giao trồng căn
lành, mới có cơ hội xuất gia tu
đạo. Bằng không, dù có tâm xuất
gia, cũng chẳng tìm đến cửa
Chùa. Do đó: "Chẳng thấy Phật,
chẳng nghe pháp, chẳng gặp
Tăng". Hôm nay các vị có thể học
Phật pháp, là do thuở xưa đã
gieo trồng căn lành lớn, mới có
hoàn cảnh nầy, được nghe pháp
lớn Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương
Quảng Phật. Người chẳng có căn
lành, thì dù tên của bộ Kinh nầy
cũng chẳng được nghe, làm gì nói
đến nghiên cứu ! Hy vọng các vị
! Tụ tinh hội thần để nghe Kinh,
chuyên tâm để nghiên cứu, đây là
cơ hội khó gặp được. Không thể
vào núi báu mà tay không ra về,
cuối cùng chẳng được gì hết,
thật là đáng tiếc.
Vị
lão già đó cuối đầu buồn bã đi
ra khỏi Tịnh Xá, vừa đi vừa
nghĩ: "Mình là kẻ lão già nghèo
khổ, không có con cái, độc thân
một mình, đời sống khốn khổ, từ
nay về sau sinh sống như thế nào
? Cảm thấy tiền đồ thật là hoang
mang, chẳng có chỗ nương tựa tá
túc". Ông ta đã đi đến đường
cùng, bèn khởi lên ý niệm muốn
tự tử. Do đó đi đến bên vực
thẳm, quyết tâm nhảy xuống sông
tự tử. Lúc đang nhảy xuống sông,
thì cảm thấy có người vịn vai
lại, quay đầu lại nhìn, là vị Tỳ
Kheo già, bèn hỏi:
-
"Tại sao ông kéo tôi lại, cản
trở tôi quyên sinh ?"
-
Vị Tỳ Kheo già hỏi: "Tại sao ông
muốn nhảy xuống sông, có phải có
vấn đề không thể giải quyết được
chăng ?"
-
Lão già đáp: "Tôi muốn xuất gia
tu đạo, vừa mới đến chỗ đức
Phật, xin Phật từ bi, thu nhận
tôi làm đệ tử. Bất hạnh Phật
không có ở Tịnh Xá, có vị Tỳ
Kheo lớn chẳng thu nạp tôi, nói
tôi trong tám vạn đại kiếp chẳng
gieo trồng căn lành gì, cho nên
tôi cảm thấy sống chẳng còn ý
nghĩa gì nữa, chẳng bằng tự tử
cho xong".
-
Vị Tỳ Kheo già nói: "Ông muốn
xuất gia, thì hãy theo tôi đi
xuất gia".
-
Lão già nói: "Ngài là ai ?"
-
Lão Tỳ Kheo nói: "Ta là Phật
Thích Ca Mâu Ni". Lão
già nghe nói, rất là vui mừng,
hướng về đức Phật đảnh lễ. Theo
Phật về Tịnh Xá, Phật liền cử
hành lễ xuống tóc xuất gia,
trong miệng nói: "Thiện lai Tỳ
Kheo, đầu tóc tự rụng, mặc áo Cà
Sa". Nói xong rồi, lão già bèn
hiện ra tướng Tỳ Kheo. Phật vì
ông ta nói pháp, khai thị một
phen, lão già nghe pháp khai
ngộ, liền chứng được Sơ quả. Các
vị Tỳ Kheo lớn tại đạo tràng,
đều sinh ra hoài nghi, trong tâm
nghĩ: "Vị lão già nầy, vốn chẳng
có căn lành, tại sao Phật cho
ông ta xuất gia ? Còn vì ông ta
nói pháp, mà chứng được Sơ quả,
đây là nhân duyên gì ?"
-
Tôn giả Xá Lợi Phất bèn thỉnh
Phật khai thị: " Đức Thế Tôn !
Vị lão già này có căn lành gì mà
được xuất gia ? Lại chứng được
Sơ quả ? Con đối với nhân quả
nầy thật không rõ, xin đức Thế
Tôn từ bi, khai thị cho con được
rõ".
-
Phật bèn nói: "Xá Lợi Phất ! Con
chỉ quán sát được nhân duyên
trong tám vạn đại kiếp, mà không
thể quán được nhân duyên ngoài
tám vạn đại kiếp, cho nên con
không biết nhân duyên của vị lão
già nầy".
Phật
rất hoà mục tươi cười nói nhân
duyên xuất gia của vị lão già
nầy: "Cách đây khoảng chín vạn
đại kiếp, ông ta là một người
tiều phu đốn củi, ngày ngày lên
núi hái củi, gánh ra chợ bán đổi
gạo về ăn, để duy trì đời sống
của gia đình.
Một
ngày nọ, đang lúc đi hái củi thì
gặp một con cọp dữ, nhe nanh múa
vuốt chạy về phía ông ta, muốn
ăn thịt ông ta. Vị tiều phu đó
trong lúc nguy hiểm bèn trèo lên
trên cây, nhưng cọp chẳng chịu
buông tha, dùng nanh vuốt cắn
cào thân cây, khiến cho cây muốn
ngã, vị tiều phu ở trên cây rất
hoảng sợ, bèn thốt lên: "Nam Mô
Phật"! Cọp dữ nghe, giống như
tiếng sấm, bèn bỏ chạy đi xa, vị
tiều phu thoát hiểm, mạng sống
được an toàn. Thuở xưa chỉ niệm
một tiếng Phật, mà đời nầy có
căn lành được xuất gia". Tôn giả
Xá Lợi Phật và các vị Tỳ Kheo
nghe Phật khai thị, không nói gì
mà lui đi.
Tại
sao sao hôm nay (01/05/1976) tôi
nói câu chuyện nầy ? Vì đã mấy
ngày qua, tức là ngày mồng tám
tháng tư (ngày Phật Ðản). Tại
Chùa Kim Sơn Viện Dịch Kinh (San
Francisco), có vị lão cư sĩ họ
Ngô muốn xuất gia. Ðã lựa chọn
ngày này cho xuất gia. Vị lão cư
sĩ nầy trong tám vạn đại kiếp,
đã từng gieo trồng căn lành, đời
này nhân duyên chín mùi, nên
thành tựu nguyện vọng.
Chỉ
cần niệm một câu "Nam Mô Phật",
thì có vô lượng công đức, gieo
xuống nhân duyên xuất gia. Xuất
gia thì thanh tịnh, cho nên nói
thanh tịnh phước điền Tăng. Xuất
gia rồi, dù tu hạnh lành rất
nhỏ, nhưng có vô lượng phước
báu, sẽ đắc được vô lượng trí
địa.
Phật
Bồ Tát vì tất cả chúng sinh,
rộng gieo trồng căn lành, trở
thành chủ của tịnh tâm, tức cũng
là thành Phật. Phật Bồ Tát là
ruộng phước tốt tối thượng của
chúng sinh, cho nên khiến cho
chúng sinh chẳng có phước đức,
phát sinh phước đức, gieo trồng
phước đức, tăng trưởng phước
đức, đắc được ruộng phước tốt.
Phật Bồ Tát đều đắc được trí huệ
thâm sâu, hay xử dụng pháp môn
phương tiện khéo léo, để giáo
hoá chúng sinh, hay cứu tất cả
chúng sinh trong ba đường ác,
thoát khỏi biển khổ, đắc được
giải thoát.
Chúng
sinh trong ba đường ác, vì tham
sân si quá nặng, cho nên đoạ lạc
vào trong ba đường ác thọ khổ.
Dùng phương pháp gì cứu họ lìa
khổ, khiến cho họ được an vui ?
Chỉ có một phương pháp, đó là
khiến cho họ tin ngưỡng Phật
pháp, siêng tu pháp môn giới
định huệ. Chúng sinh có tâm
tham, thì không còn tham nữa,
chúng sinh có tâm sân, thì không
còn sân nữa, chúng sinh có tâm
si, thì không còn si nữa. Không
tham, không sân, không si, là
biện pháp tốt nhất để lìa khỏi
ba đường ác.
Ở
trong ba đường ác, mỗi đường ác
có vô lượng vô biên chúng sinh.
Mỗi chúng sinh đều có vô số vô
tận tội nghiệp. Phật Bồ Tát từ
bi, vì tất cả chúng sinh thọ khổ
mà nói pháp, một mặt cứu chúng
sinh thoát khỏi biển khổ, một
mặt tiêu diệt tội chướng của tất
cả chúng sinh, nghiệp chướng
tiêu diệt, thì khổ sẽ chấm dứt,
khổ ba đường ác tiêu sạch, thì
lìa khổ được vui. Tu đạo phải
siêng tu giới định huệ, tu đến
lúc viên mãn, thì tự nhiên sẽ
tiêu diệt tham sân si, tham sân
si không khởi tác dụng, thì tự
nhiên sẽ giải thoát. Giải thoát
tức là mục tiêu tiến tới của sự
tu đạo.
Tin
hiểu như vậy. Quán sát như vậy.
Vào trí huệ thâm sâu như vậy.
Ngao du nơi biển công đức như
vậy. Đến khắp nơi trí huệ hư
không như vậy. Biết phước điền
của chúng sinh như vậy. Chánh
niệm hiện tiền quán sát như vậy.
Quán các nghiệp tướng tốt của
Phật như vậy. Quán sự hiện khắp
thế gian của Phật như vậy. Quán
thần thông tự tại của Phật như
vậy.
Ðạo
lý ở trên vừa nói, là nên tin
như vậy, nên hiểu như vậy. Cảnh
giới ở trên vừa nói, là nên quán
sát như vậy, nên tin thọ như
vậy. Nếu như có thể y pháp tu
hành, thì sẽ chứng nhập được trí
huệ thâm sâu. Nếu có thể y chiếu
pháp Thập Tín, Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, để tu vạn
hạnh, thì sẽ có thể ngao du nơi
biển cả công đức. Hay tu hành
như vậy, thì chẳng có mọi sự
chấp trước, phá trừ tất cả sự
chấp trước, như có thể liễu ngộ
tự tánh, giống như hư không, thì
chứng được trí huệ hư không,
chẳng có tham sân si phiền não.
Quán
sát như vậy, thì sẽ biết được
làm thế nào khiến cho chúng sinh
gieo trồng phước điền, làm thế
nào khiến cho chúng sinh tăng
thêm phước điền. Quán sát như
vậy, phải có chánh tri chánh
kiến, không tồn tại tà tri tà
kiến. Lúc đó chánh niệm sẽ hiện
tiền, có thể quán sát tất cả đạo
lý. Do đó:
"Người chánh tu pháp tà,
Pháp tà cũng thành chánh.
Người tà tu pháp chánh,
Pháp chánh cũng thành tà".
Chánh pháp hiện tiền, thì tà
pháp tiêu diệt; tà pháp hiện
tiền, thì chánh pháp ẩn mất. Cho
nên chánh tà không đứng cả hai.
Thế nào là chánh ? Tức là chẳng
có tham. Thế nào là tà ? Tức là
có tham. Tóm lại, phàm là có sự
mong cầu, tức là bất chánh,
chẳng có tâm phan duyên, tức là
chánh.
Dùng
chánh niệm để quán sát tất cả
nhân quả, tất cả nghiệp báo, đều
có tuần hoàn báo ứng. Do đó:
"Nhân thế nào, thì quả thế ấy",
tơ hào không sai, thiên cổ không
thay đổi. Người học Phật, trước
hết phải tin sâu nhân quả, đừng
có bát không có nhân quả, càng
không thể bán tín bán nghi. Tư
tưởng như vậy thì không thể
được, cũng giống như đá cột chân
sự tu đạo. Không cẩn thận thì sẽ
bị trở ngại giữa chừng, không dễ
gì bò lên được (thối lùi tâm tu
đạo), tức là dậm chân tại chỗ,
cũng lãng phí mất rất nhiều thời
gian. Nếu có lối nghĩ như thế,
thì hãy mau phát tâm rộng lớn,
vượt qua đầu sào. Bằng không,
thì sẽ cách Phật đạo mười vạn
tám ngàn dặm.
Quán
sát tất cả nghiệp của chư Phật
như vậy, đều là thanh tịnh,
tướng tốt trang nghiêm. Quán sát
pháp thân của chư Phật như vậy,
là tận hư không khắp pháp giới,
tức cũng là đầy khắp tất cả mọi
nơi. Quán sát thần thông của chư
Phật như vậy, tự tại diệu dụng,
có cảnh giới không thể nghĩ bàn.
Minh bạch đạo lý nầy rồi, sẽ
siêng tu lục độ vạn hạnh, siêng
hành Bồ Tát đạo, tương lai công
đức viên mãn, thì chắc chắn sẽ
thành Phật.
Bấy
giờ, đại chúng đó thấy mỗi lỗ
chân lông của Như Lai, đều phóng
ra trăm ngàn ức Na do tha A tăng
kỳ quang minh. Mỗi quang minh,
có A tăng kỳ màu sắc, A tăng kỳ
sự thanh tịnh, A tăng kỳ sự
chiếu sáng, khiến cho A tăng kỳ
chúng sinh quán sát, A tăng kỳ
chúng sinh hoan hỉ, A tăng kỳ
chúng sinh tin sâu tăng trưởng,
A tăng kỳ chúng sinh ý chí ưa
thích thanh tịnh, A tăng kỳ
chúng sinh các căn mát mẻ, A
tăng kỳ chúng sinh cung kính tôn
trọng.
Lúc
đó, pháp hội Hoa Nghiêm tại Ðiện
Bảo Trang Nghiêm ở cung trời Ðâu
Suất, hết thảy đại chúng (Bồ
Tát, Thiên Vương, Thiên tử,
Thiên nữ, Thiên chúng), đều thấy
trong mỗi chân lông trên thân
của Ðức Phật Thích Ca, phóng ra
trăm ngàn ức Na do tha A tăng kỳ
(vô lượng số) quang minh. Trong
mỗi thứ quang minh lại có vô
lượng số màu sắc, vô lượng số sự
thanh tịnh, vô lượng số chiếu
sáng, đầy khắp pháp giới. Khiến
cho vô lượng số chúng sinh đều
quán sát quang minh đó. Khiến
cho vô lượng số chúng sinh đều
đại hoan hỉ, tin thọ phụng hành.
Khiến cho vô lượng số chúng sinh
đều đại khoái lạc, y pháp tu
hành. Khiến cho vô lượng số
chúng sinh tâm tin tăng trưởng,
từ không tin mà tin, từ tin mà
tin sâu. Khiến cho vô lượng số
chúng sinh, chí nguyện tu hành
hạnh thanh tịnh, thành tựu quả
thanh tịnh, đắc được trí huệ
thanh tịnh. Khiến cho vô lượng
số chúng sinh, sáu căn thanh
tịnh, đắc được tự tại mát mẻ.
Khiến cho vô lượng số chúng
sinh, sinh tâm cung kính Ðức
Phật, sinh tâm tôn trọng pháp.
Ba nghiệp thanh tịnh tức là cung
kính tôn trọng.
Bấy
giờ, đại chúng đều thấy thân
Phật, phóng ra trăm ngàn ức Na
do tha bất tư nghì đại quang
minh. Mỗi quang minh đều có
nhiều màu sắc không nghĩ bàn,
nhiều quang minh không nghĩ bàn,
chiếu đến vô biên pháp giới
không nghĩ bàn.
Lúc
đó, đại chúng trong pháp hội,
đều thấy được trên thân tướng
tốt trang nghiêm của Ðức Phật,
phóng ra trăm ngàn ức Na do tha
đại quang minh không nghĩ bàn.
Trong mỗi luồng quang minh, đều
có nhiều màu sắc không thể nghĩ
bàn, lại có nhiều quang minh
không thể nghĩ bàn. Quang minh
đó chiếu khắp vô biên pháp giới
không thể nghĩ bàn, tức cũng là
tận hư không biến pháp giới,
chiếu khắp mọi nơi.
Do
thần lực của Phật, vang ra âm
thanh lớn vi diệu. Âm thanh đó
diễn xướng trăm ngàn ức Na do
tha bài kệ không thể nghĩ bàn,
vượt hơn hết thảy lời lẽ của các
thế gian. Do tu căn lành xuất
thế gian mà thành tựu.
Nhờ
sức thần thông biến hoá của Ðức
Phật, ở trong quang minh có hoá
Phật, có Bồ Tát, lại vang ra âm
thanh lớn vi diệu, âm thanh vi
diệu đó, truyền đến khắp mười
phương, hết thảy chúng sinh thảy
đều nghe được, trong âm thanh vi
diệu đó, diễn xướng trăm ngàn ức
Na do tha bài kệ không thể nghĩ
bàn, đều là bài kệ tán thán khen
ngợi công đức của Phật. Những
bài kệ đó, vượt hơn hết thảy lời
lẽ của thế gian. Ðây là lúc Phật
tại nhân địa, tu hành pháp xuất
thế gian, pháp vượt qua ba cõi,
do căn lành đó mà thành tựu âm
thanh lớn vi diệu.
Lại
hiện ra trăm ngàn ức Na do tha
sự trang nghiêm vi diệu không
thể nghĩ bàn. Trong trăm ngàn ức
Na do tha kiếp không thể nghĩ
bàn, khen ngợi không thể hết
được. Đều từ vô tận tự tại của
Như Lai sinh ra.
Ở
trong quang minh, lại hiện ra
trăm ngàn ức Na do tha sự trang
nghiêm vi diệu không thể nghĩ
bàn. Trong trăm ngàn ức Na do
tha kiếp không thể nghĩ bàn, để
tán thán khen ngợi công đức của
Phật, cũng không thể hết được.
Do đó:
"Sát trần tâm niệm khả sổ tri
Ðại hải trung thuỷ khả ẩm tận
Hư không khả lượng phong khả khế
Vô năng tận thuyết Phật công
đức".
Nghĩa là:
Hạt bụi tâm niệm đếm biết được
Nước trong biển cả uống hết được
Hư không lường được, gió buộc
được
Không thể nói hết công đức Phật.
Ðây là trong quá khứ Phật tu đủ
thứ pháp môn vô tận, mới có sự
trang nghiêm vi diệu không thể
nghĩ bàn như thế, đây là từ cảnh
giới vô tận tự tại sinh ra.
Lại
hiện ra bất khả thuyết chư Phật
Như Lai xuất hiện ra đời, khiến
cho các chúng sinh vào môn trí
huệ, hiểu rõ nghĩa thâm sâu.
Ở
trong quang minh, lại hiện ra
bất khả thuyết chư Phật xuất
hiện ra đời, khiến cho tất cả
chúng sinh, vào xâu môn trí huệ,
thấu hiểu nghĩa thâm sâu, tức
cũng là minh bạch nghĩa chân
thật pháp môn Bát Nhã do chư
Phật nói.
Lại
hiện ra bất khả thuyết hết thảy
sự biến hoá của chư Phật Như
Lai. Tận pháp giới hư không
giới, khiến cho tất cả thế gian
bình đẳng thanh tịnh. Đó là do
từ chỗ trụ vô chướng ngại nhất
thiết trí của Như Lai sinh ra,
cũng từ sự tu hành đức hạnh thù
thắng không thể nghĩ bàn của Như
Lai sinh ra.
Ở
trong quang minh lại hiện ra bất
khả thuyết hết thảy thần thông
biến hoá của chư Phật, tận hư
không khắp pháp giới, đều có
biến hoá của chư Phật. Khiến cho
tất cả thế gian, đều bình đẳng
thanh tịnh. Cảnh giới đó, đều từ
chỗ trụ vô chướng ngại nhất
thiết trí của Phật sinh ra, cũng
từ sự tu hành đức hạnh thù thắng
không thể nghĩ bàn của Như Lai
sinh ra.
Lại hiện ra trăm ngàn ức Na do
tha quang minh báu sáng chói vi
diệu, từ căn lành đại nguyện xưa
phát sinh. Nhờ đã từng cúng
dường vô lượng Như Lai, tu hạnh
thanh tịnh, không phóng dật. Tâm
Tát bà nhạ chẳng
có chướng ngại, vì sinh ra căn
lành.
Ở
trong quang minh lại hiện ra
trăm ngàn ức Na do tha quang
minh báu sáng chói vi diệu không
thể nghĩ bàn. Quang minh đó, là
từ căn lành đại nguyện xưa phát
sinh ra. Chúng ta người tu đạo,
phải phát đại nguyện kiên cố như
kim cang. Biển có thể cạn, đá có
thể mòn, nhưng đại nguyện đó
không thể thay đổi. Chẳng những
phát nguyện, mà hằng ngày còn
phải nghĩ nhớ, giống như việc
tụng Kinh, hằng ngày phải y theo
lời nguyện đã phát mà thực hành.
Bằng không thì, giống như hoa
dại nở, chẳng có ích gì.
Những
vị Bồ Tát đó, đã từng cúng dường
mười phương tất cả chư Phật,
thời thời tu hành pháp môn thanh
tịnh giới định huệ, khiến cho
thân miệng ý ba nghiệp thanh
tịnh, chẳng còn tơ hào tạp niệm.
Do đó:
"Sai một li, đi ngàn dặm".
Tại
sao chúng ta tu hành chẳng thành
tựu ? Vì chẳng có tu hạnh thanh
tịnh.
Gì
là hạnh thanh tịnh ? Tức là
không tranh, không tham, không
cầu, không ích kỷ, không lợi
mình, không nói dối (sáu tông
chỉ của Vạn Phật Thành). Cũng có
thể nói không tham, không sân,
không si. Hạnh thanh tịnh, chẳng
phải là pháp môn đặc biệt vi
diệu, mà là dạy người trừ khử
tâm tham, sân, si, ba độc. Nếu
trừ khử sạch tâm ba độc, đó là
tu hạnh thanh tịnh. Tóm lại,
hạnh thanh tịnh tức là chẳng có
tư tưởng và hành vi ô nhiễm. Bạn
có tham dục, sân hận, ngu si,
thì chẳng thanh tịnh. Nếu bạn
chẳng có nóng giận, phiền não,
vô minh, tức là thanh tịnh.
Người tu hạnh thanh tịnh tuyệt
đối chẳng phóng dật.
Phóng
dật là gì ? Nói đơn giản đó là
chẳng giữ quy cụ. Giống như đệ
tử Phật, đã giữ năm giới, là
không giết hại, nhưng họ làm cho
kiến và côn trùng chết. Không
trộm cắp, nhưng lại lấy đồ người
khác chưa cho phép. Không tà
dâm, nhưng lại đi tìm người khác
giới, phát sinh quan hệ nhục
thể. Không nói dối, nhưng chuyên
nói lời không thật, hoặc nói thị
phi. Không uống rượu, nhưng lại
đi đến quán rượu mua rượu uống,
hoặc hút thuốt, hoặc hút độc.
Biết rõ là tập quán không tốt,
hoặc có hại cho thân tâm, nhưng
cố ý đi làm, đó tức là phóng
dật.
Trong
bài kệ cảnh chúng của Bồ Tát Phổ
Hiền rằng:
"Ngày đã qua rồi
Mạng sống cũng giảm dần.
Như cá thiếu nước
Nào có vui gì ?
Ðại chúng !
Hãy siêng tinh tấn
Như cứu đầu lửa cháy.
Chỉ nhớ vô thường
Ðừng có phóng dật"!
Nghĩa là: Một ngày đã trôi qua,
thì tánh mạng cũng theo thời
gian mà tiêu giảm một chút.
Giống như cá thiếu nước, càng
ngày càng giảm bớt nước, còn có
gì để vui ? Các vị phải biết !
Nên siêng năng mà tu hành, hãy
dũng mãnh tiến về trước. Sự tinh
tấn cũng giống như cứu lửa cấp
bách đang cháy trên đầu của
mình, một phút một giây không
thể đợi chờ, mà lúc nào cũng
nghĩ: Vô thường chẳng bao lâu sẽ
đến, thời gian không còn nhiều,
phải cố gắng tinh tấn, đừng có
phóng dật. Phải luôn luôn giữ
quy cụ, đi đứng nằm ngồi đừng
phạm giới luật, đó mới là bổn
phận của người tu đạo.
Vì
không phóng dật, cho nên tâm Tát
Bà Nhạ (nhất thiết trí) hiện
tiền, thì chẳng có tất cả chướng
ngại, sẽ sinh ra căn lành. Có
căn lành, thì tất cả sẽ được
giải thoát. Do đó: "Vô quái ngại
cố, vô hữu khủng bố, viễn ly
điên đảo mộng tưởng, cứu kính
Niết Bàn". Nghĩa là: Vì không
quái ngại, nên chẳng có sợ hãi,
xa lìa điên đảo mộng tưởng, rốt
ráo Niết Bàn. Ðây là nơi trở về
cuối cùng của người tu đạo.
Vì
hiển Như Lai lực rộng khắp, vì
dứt trừ nghi hoặc của tất cả
chúng sinh, vì khiến cho đều
được thấy Như Lai, vì khiến cho
vô lượng chúng sinh trụ nơi căn
lành. Vì hiển bày sức thần thông
của Như Lai, không ai chiếu sáng
lấn được. Vì muốn khiến cho
chúng sinh khắp được vào nơi
biển rốt ráo. Vì khiến cho đại
chúng Bồ Tát của tất cả cõi nước
chư Phật, đều đến tụ tập. Vì
muốn khai thị môn Phật pháp
không thể nghĩ bàn.
Vì
hiển bày thập lực của Phật, nên
rộng lớn khắp tất cả. Vì dứt trừ
nghi hoặc của tất cả chúng sinh.
Vì khiến cho vô lượng chúng sinh
được thấy Phật. Vì khiến cho vô
lượng chúng sinh tu hành pháp
lành, kiên cố trụ nơi căn lành.
Vì hiển bày sức thần thông của
Phật, nên thiên ma ngoại đạo
không thể chiếu sáng lấn được.
Vì muốn khiến cho tất cả chúng
sinh khắp vào biển trí huệ rốt
ráo. Vì khiến cho tất cả các Bồ
Tát trong tất cả cõi nước chư
Phật, đều vân tập đến cung trời
Ðâu Suất. Vì khai thị tất cả
chúng sinh, tu pháp môn của Phật
không thể nghĩ bàn, thành tựu
quả giác không thể nghĩ bàn. Cho
nên trước khi Ðức Phật Thích Ca
Mâu Ni thuyết pháp, phải phóng
ra đủ thứ quang minh, hiện ra đủ
thứ màu sắc, chiếu sáng vô lượng
thế giới, tại sao ? Vì đủ thứ
nguyên nhân ở trên mà phóng
quang minh. Lại có một thứ
nguyên nhân, dùng quang sắc nầy,
thỉnh các đại Bồ Tát đến tham
gia pháp hội, hoặc làm đương
chúng cơ, hoặc làm ảnh hưởng
chúng.
Bấy
giờ, Như Lai dùng tâm bi che
khắp, hiển bày nhất thiết trí,
trang nghiêm tất cả. Muốn khiến
cho chúng sinh trong thế giới
nhiều bất khả thuyết trăm ngàn
ức Na do tha A tăng kỳ, người
chưa tin thì tin, người tin rồi
thì tăng trưởng, người đã tăng
trưởng thì khiến cho thanh tịnh.
Người đã thanh tịnh thì khiến
cho thành thục. Người đã thành
thục thì khiến cho tâm được điều
phục.
Lúc
đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
dùng tâm đại bi, che phủ hộ khắp
tất cả chúng sinh, hiển rõ chỉ
bày nhất thiết trí huệ trang
nghiêm hết thảy, tức cũng là
biểu hiện trí huệ. Trí huệ của
Phật, chúng sinh vốn cũng đầy
đủ. Bất quá, chúng sinh không
thể dùng mà thôi, cho nên chẳng
có trang nghiêm. Nếu dùng được,
cũng sẽ có sự trang nghiêm.
Phật
muốn khiến cho hết thảy chúng
sinh trong thế giới nhiều bất
khả thuyết bất khả thuyết trăm
ngàn ức Na do tha A tăng kỳ,
người chẳng tin Phật, khiến cho
họ phát tâm bồ đề, sinh ra căn
tin. Người đã có căn tin, thì
khiến cho tăng trưởng. Người căn
lành và tâm tin đã tăng trưởng,
thì khiến cho được thanh tịnh
(chẳng có tham sân si, chỉ có
giới định huệ). Người đã tu hành
hạnh thanh tịnh, thì khiến cho
họ căn lành thành thục. Người
căn lành đã thành thục, thì
khiến cho họ tâm được điều phục,
chứng được quả vị Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Quán
sát pháp thâm sâu. Đầy đủ vô
lượng trí huệ quang minh. Phát
sinh tâm rộng lớn vô lượng. Tâm
Tát bà nhạ chẳng có thối chuyển,
chẳng trái với pháp tánh, chẳng
sợ thật tế. Chứng được lý chân
thật, đầy đủ tất cả hạnh Ba La
Mật. Sinh ra căn lành xuất thế,
thảy đều thanh tịnh. Như Bồ Tát
Phổ Hiền, đắc được tự tại của
Phật.
Quán
sát diệu pháp thâm sâu vô
thượng, sau đó mới đầy đủ vô
lượng trí huệ quang minh, phát
sinh tâm bồ đề rộng lớn vô
lượng, tâm Tát bà nhạ (nhất
thiết trí). Trong trí huệ nầy
lại hiện trí huệ, trí huệ nầy vô
cùng vô tận, chỉ có tăng trưởng,
chẳng có thối lùi. Nó chẳng trái
với pháp tánh chân thật. Pháp
tánh chân thật tức là không.
Phật phóng quang gia bị chúng
sinh, khiến cho họ không thể vì
pháp tánh chân thật và hư không
đồng thể, mà sinh ra lý thể chân
thật sợ hãi. Chúng sinh nghe nói
lý thể chân thật, trên thật tế
gì cũng chẳng có, càng sinh ra
sợ hãi mà thối lùi về sau. Nếu
chẳng sợ hãi thật tế, thì sẽ
chứng được lý thể chân thật. Nếu
sợ hãi thì không thể chứng được.
Tại sao ? Vì sắp chứng được, mà
bị tâm sợ hãi che lấp.
Ðầy
đủ tất cả hạnh Ba La Mật (mười
Ba La Mật), thì đắc được căn
lành xuất thế, thảy đều thanh
tịnh. Giống như Ðại Hạnh Phổ
Hiền Bồ Tát, tu hành Phổ Hiền
hạnh nguyện, mà đắc được sức
thần thông tự tại của Phật.
Mười
Ba La Mật tức là pháp môn thập
độ, pháp môn tu hành của Bồ Tát.
Nay giải thích sơ lược một phen.
Người đã nghe qua đừng ngại nghe
thêm lần nữa, Do đó: "Ôn cố mà
tri tân". Biết cái mới là do từ
biết cái cũ diễn biến mà ra.
Nghe thêm lần nữa, thì sẽ có lợi
ích. Ai chưa nghe qua, thì phải
chú ý nghe, nghiên cứu tỉ mỉ,
thì chắc chắn sẽ đắc được diệu
dụng không thể nghĩ bàn.
Những
gì là mười Ba La Mật ? Ba La Mật
dịch là "đáo bỉ ngạn" (đến bờ
kia). Bờ kia tức là Niết Bàn
không sinh không diệt. Hiện tại
chúng ta trụ ở trong thế giới Ta
Bà, tức là bờ bên này. Thế giới
Cực Lạc là bờ bên kia. Chúng ta
phải đi qua dòng sông phiền não,
thì sẽ đến bờ bên kia. Bờ này có
các thứ khổ, bờ kia có các thứ
vui. Làm thế nào để đến được bờ
bên kia ? Tức là phải học tập
Phật pháp, Phật pháp tức là "bảo
phiệt", có thể đưa chúng ta từ
bờ sinh tử bên này, đi qua biển
sinh tử, đạt đến bờ kia không
còn sinh tử. Mục đích chúng ta
học Phật pháp là phải chấm dứt
sinh tử. Ðức Phật Thích Ca vì
muốn cầu chấm dứt sinh tử, mà từ
bỏ ngôi vua, đến núi Tuyết
nghiên cứu đại pháp chấm dứt
sinh tử, ở dưới cội bồ đề chứng
được pháp chấm dứt sinh tử -
pháp mười hai nhân duyên. Phật
từ bi chúng sinh, đem pháp đã
chứng được, lưu truyền cho đời
sau không thiếu một chữ. Chúng
ta rất được may mắn, gặp được
kim chỉ nam của Phật pháp - Kinh
Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng
Phật. Kinh nầy là vua trong các
Kinh. Nghĩa lý nói về Kinh nầy,
là vì Bồ Tát mà diễn nói tu hành
Bồ Tát đạo như thế nào, cứu
chúng sinh lìa khổ được vui như
thế nào, hoàn toàn vì người
chẳng vì mình. Muốn khiến cho
pháp đại thừa tồn tại, thì phải
đọc tụng Hoa Nghiêm, lễ Hoa
Nghiêm, tu trì Hoa Nghiêm, ấn
tống lưu truyền Hoa Nghiêm. Như
vậy mới khiến cho chánh pháp trụ
thế lâu dài. Bằng không, tức là
thời đại mạt pháp. Nay giải
thích thập độ Ba La Mật như sau:
-
Thứ nhất là bố thí Ba La Mật: Bố
thí có tài thí, pháp thí, vô uý
thí. Ba sự bố thí nầy, tu đến
lúc viên mãn, thì đều đến được
bờ kia.
-
Thứ hai là trì giới Ba La Mật:
Trì giới chủ yếu là: "Ðừng làm
các điều ác, hãy làm các điều
lành", tu thân miệng ý ba nghiệp
thanh tịnh.
-
Thứ ba là nhẫn nhục Ba La Mật:
Nhẫn có sinh nhẫn, pháp nhẫn, vô
sinh pháp nhẫn ba thứ nhẫn, tức
cũng là không thể nhẫn cũng phải
nhẫn, nhẫn không được cũng phải
nhẫn. Tóm lại, nhẫn ! Nhẫn !
Nhẫn ! Nhẫn đến chỗ cùng cực, sẽ
chứng được cảnh giới vô sinh
pháp nhẫn. Chẳng thấy có chút
pháp sinh, cũng chẳng thấy có
chút pháp diệt, nhẫn thọ nơi
tâm. Nghĩ muốn nói cảnh giới
nầy, nhưng cũng nói không ra,
nghĩ muốn suy tư cảnh giới nầy
cũng không suy tư ra được.
-
Thứ tư là tinh tấn Ba La Mật:
Chẳng những ngày tinh tấn đêm
tinh tấn, còn phải thân tinh tấn
tâm tinh tấn. Tinh tấn phải có
kiên, thành, hằng, ba yếu tố,
tinh tấn tâm kiên cố, tâm chí
thành, tâm hằng thường.
-
Thứ năm là thiền định Ba La Mật:
Tiếng Phạn là thiền na, dịch là
"tư duy tu", chẳng những phải tư
duy, mà còn phải tu trì. Nếu chỉ
có tư duy, mà không thể tu trì,
thì cũng giống "khẩu đầu thiền"
(thiền ngoài miệng). Hay tu mà
không tư duy, thì cũng giống như
mù luyện đui, dễ bị tẩu hoả nhập
ma, cho nên phải có cả tư duy và
tu, mới có sự thành công. Thiền
na còn dịch là "tĩnh lự". Tĩnh
là thanh tịnh, lự là tư lự, tư
lự thanh tịnh tâm thức. Tĩnh đến
cực điểm sẽ hiện ra trí huệ. Do
đó:
"Tĩnh cực quang thông đạt".
-
Thứ sáu là Bát Nhã Ba La Mật:
Bát Nhã dịch là "trí huệ". Bát
Nhã có văn tự Bát Nhã, quán
chiếu Bát Nhã, và thật tướng Bát
Nhã. Do văn tự Bát Nhã mà khởi
quán chiếu Bát Nhã, do quán
chiếu Bát Nhã mà đạt được thật
tướng Bát Nhã.
-
Thứ bảy là phương tiện Ba La
Mật: Dùng đủ thứ phương tiện,
như đại từ phương tiện, đại bi
phương tiện, giác ngộ phương
tiện, pháp luân phương tiện
.v.v... cũng có thể đạt đến bờ
kia.
Thứ
tám là nguyện Ba La Mật: Phát
nguyện siêng tu giới định huệ,
phát nguyện tiêu diệt tham sân
si, phát nguyện tu trì các hạnh
của chư Phật, phát nguyện thành
tựu quả vị của chư Phật, phát
nguyện hành Bồ Tát đạo, phát
nguyện tu các pháp môn. Tu hành
không phát nguyện, cũng giống
như hoa nở không kết quả.
-
Thức chín là lực Ba La Mật: Phải
có sức lực để tu trì Phật pháp.
Lực gì ? Tư trạch lực, tu tập
lực, biến hoá lực .v.v…
-
Thứ mười là trí Ba La Mật: Trí
huệ nầy là trí huệ xuất thế,
chẳng phải trí huệ thế trí biện
thông. Bất cứ tu trì pháp môn
nào, nếu chẳng có trí huệ, thì
không thể có sự thành tựu. Mười
thứ Ba La Mật nầy, là pháp môn
Bồ Tát phải tu, tức cũng là giáo
nghĩa cơ bản của pháp đại thừa.
Lìa
khỏi cảnh giới ma, vào cảnh giới
của chư Phật. Biết rõ pháp thâm
sâu. Đắc được trí huệ khó nghĩ
bàn. Thệ nguyện đại thừa, vĩnh
viễn không thối chuyển. Thường
thấy chư Phật, chưa từng xả lìa.
Thành tựu chứng đắc trí huệ,
chứng được vô lượng pháp, đầy đủ
tạng lực vô biên phước đức. Phát
tâm hoan hỉ, vào bậc vô nghi
hoặc, lìa ác thanh tịnh, y chiếu
nhất thiết trí, thấy pháp chẳng
động. Được vào tất cả chúng hội
Bồ Tát. Thường sinh vào nhà các
Như Lai ba đời.
Ðã
lìa khỏi tất cả cảnh giới ma,
chứng vào cảnh giới của chư
Phật, thấu rõ biết được diệu
pháp thâm sâu, hoạch được trí
huệ không thể nghĩ bàn. Lại phát
thệ nguyện đại thừa:
"Chúng sinh vô biên thệ nguyện
độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành".
Vĩnh viễn tinh tấn, chẳng thối
chuyển. Nếu hay tu hành như thế,
thì sẽ thấy được mười phương chư
Phật đến gia trì, chẳng có lúc
nào xả lìa. Do đó mà thành tựu
nhất thiết trí, chứng được tất
cả pháp, đầy đủ tạng lực vô biên
phước đức. Phát tâm đại hoan hỉ,
đã vào bậc không nghi hoặc, tức
cũng là phá được vô minh, hiển
bày pháp tánh vốn có. Lìa khỏi
ba đường ác, đắc được thanh
tịnh, y chiếu nhất thiết trí huệ
để quán sát, đối với các pháp,
vắng lặng chẳng động. Ðược vào
trong tất cả chúng hội của Bồ
Tát, làm bạn lành với Bồ Tát.
Thường ở trong nhà của mười
phương ba đời chư Phật, làm con
của đấng Pháp Vương.
Đức
Thế Tôn hiện ra sự trang nghiêm
như vậy, đều do quá khứ tích tập
các căn lành mà thành tựu. Vì
muốn điều phục các chúng sinh.
Phật
thị hiện ra đủ thứ cảnh giới
trang nghiêm như vậy, đều do
thuở quá khứ, đời đời kiếp kiếp
tu đủ thứ căn lành, tích tập mà
thành tựu. Tại sao phải thị hiện
những cảnh giới như vậy ? Vì
chúng sinh ở thế giới Ta Bà, rất
là cang cường, khó điều khó
phục. Vì chẳng dễ gì điều phục,
cho nên Phật vẫn muốn điều phục.
Những chúng sinh đó, giống như
ngựa hoang, chẳng dễ gì điều
phục, nhưng Phật Bồ Tát dùng đủ
thứ pháp môn phương tiện khéo
léo, để điều phục họ, khiến cho
họ phát tâm bồ đề, tu đạo vô
thượng. Chúng sinh giống như các
em học sinh nhỏ bướng bỉnh,
chẳng nghe thầy cô dạy. Song,
thầy cô dùng hết khả năng, tìm
biện pháp để dạy dỗ, không thể
vì họ khó dạy mà không giáo dục.
Phật Bồ Tát đối với chúng sinh
cũng giống như thế, tuy chúng
sinh cang cường, không nghe lời
Phật Bồ Tát, không tin chân lý,
nhưng Phật Bồ Tát vẫn cố gắng
tìm cách khuyên nói, giáo hoá
không mệt mỏi, khiến cho chúng
sinh khó điều khó phục, y pháp
phụng hành.
Vì
khai thị đại oai đức của Như
Lai. Vì chiếu rõ tạng trí huệ vô
ngại. Vì thị hiện vô biên thắng
đức của Như Lai, rất dũng mãnh.
Vì hiển bày đại thần thông không
thể nghĩ bàn của Như Lai. Dùng
sức thần thông, nơi tất cả cõi,
hiện ra thân Phật. Vì thị hiện
thần thông biến hoá của Như Lai
không bờ mé. Vì chí nguyện xưa
thảy đều thành tựu viên mãn. Vì
hiển bày trí huệ dũng mãnh của
Như Lai, có thể đến khắp tất cả.
Vì nơi pháp tự tại, thành đấng
Pháp Vương. Vì sinh ra môn nhất
thiết trí huệ. Vì thị hiện thân
thanh tịnh của Như Lai. Vì lại
hiện thân tối thù thắng vi diệu.
Vì hiển bày chứng được pháp bình
đẳng của chư Phật ba đời. Vì
khai thị tạng căn lành thanh
tịnh. Vì hiển bày sắc đẹp thế
gian không gì sánh bằng. Vì hiển
bày tướng đầy đủ thập lực, khiến
cho người thấy được không nhàm
đủ. Vì làm mặt trời thế gian,
chiếu soi ba đời.
Vì
chúng sinh không biết đại oai
đức của Phật, cho nên Bồ Tát
muốn khai thị đại oai đức của
Phật, tức cũng là vô sở uý của
Phật. Phật có bốn đại vô sở uý:
1.
Nhất thiết trí vô sở uý.
2. Lậu tận vô sở uý.
3. Thuyết chướng đạo vô sở uý.
4. Thuyết tận khổ đạo vô sở uý.
Chẳng có người nào có oai đức
hơn Phật, Phật là bậc Thánh nhân
có oai đức nhất. Trí huệ quang
minh của Phật, chiếu sáng tạng
trí huệ vô ngại. Thị hiện vô
biên thắng đức của Phật, giống
như lúc lửa ngọn hừng hực. Hiển
bày đại thần thông và đại biến
hoá không thể nghĩ bàn, dùng sức
đại thần thông, ở trong sáu nẻo
thị hiện thân của tất cả chư
Phật. Lại thị hiện thần thông
biến hoá của Phật, chẳng có lúc
nào hết được.
Bồ
Tát trong quá khứ phát nguyện
lực, đều toại tâm mãn nguyện.
Tóm lại, phát nguyện thành Phật,
sẽ mãn nguyện thành Phật. Phát
nguyện thành Bồ Tát, sẽ thành Bồ
Tát. Phát nguyện thành chúng
sinh, sẽ thành chúng sinh. Hiển
bày trí huệ dũng mãnh của Phật,
tức cũng là thần thông diệu
dụng. Trí huệ nầy, có thể đi đến
khắp mười phương thế giới, để
giáo hoá tất cả chúng sinh. Thần
thông và trí huệ của Phật, đều
viên dung vô ngại, đối với tất
cả các pháp, rất là tự tại,
chứng được nhất thiết trí huệ,
chiếu rõ các pháp thật tướng,
cho nên trở thành đấng Pháp
Vương. Sinh ra môn nhất thiết
trí huệ. Phật đầy đủ nhất thiết
trí, chúng ta phải y theo tạng
Phật pháp, mới có thể vào được
môn trí huệ. Thị hiện pháp thân
thanh tịnh của Phật, thị hiện
diệu thân thù thắng của Phật.
Pháp thân là vô tướng, là tận hư
không khắp pháp giới, đầy khắp
mọi nơi. Diệu thân là có tướng,
tức là thân trang nghiêm ba mươi
hai tướng, tám mươi vẻ đẹp. Hiển
bày chỉ thị chúng sinh, chứng
được pháp bình đẳng của chư Phật
ba đời. Do đó: "Là pháp bình
đẳng, chẳng có cao thấp, gọi là
A nậu đa la tam miệu tam bồ đề".
Tức cũng là chứng được pháp Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Khai thị chúng sinh, đều có căn
lành thành Phật, đều có bản tánh
thanh tịnh tạng. Hiển bày sắc
thân tốt đẹp nhất, mà trong thế
gian không gì sánh bằng, sắc
thân đẹp của chư Phật không thể
nghĩ bàn. Hiển bày chúng sinh
biết Phật đầy đủ tướng mười lực,
khiến cho hết thảy chúng sinh,
thấy được tướng tốt trang nghiêm
của Phật, nhìn mãi không nhàm,
chẳng có lúc nào biết đủ nhàm
mỏi. Phật là mặt trời của thế
gian, chiếu sáng ba đời. Kỳ
thật, mặt trời chỉ có thể chiếu
một mặt, không thể chiếu mặt
sau. Nhưng quang minh của Phật
chẳng những chiếu sáng vạn vật,
còn có thể chiếu sáng tâm thức.
Tự
tại Pháp Vương tất cả công đức,
đều từ căn lành thuở xưa hiện
ra. Tất cả Bồ Tát nơi tất cả
kiếp, tán thán khen ngợi, không
thể hết được.
Tại
sao tự tại Pháp Vương thành Phật
? Vì có tất cả công đức. Những
công đức đó, đều từ lúc tại nhân
địa tu Bồ Tát đạo, tích tập căn
lành, thành tựu mà hiện ra. Tất
cả Bồ Tát, ở trong vô lượng kiếp
khen ngợi công đức của chư Phật,
chẳng khi nào hết được.
Bấy
giờ, Đâu Suất Đà Thiên Vương
dâng lên cúng dường Như Lai, các
thứ đồ trang nghiêm như vậy rồi,
cùng với trăm ngàn ức Na do tha
A tăng kỳ Thiên tử Đâu Suất,
hướng về đức Phật chắp tay, bạch
Phật rằng: Thiện lai Thế Tôn !
Thiện lai Thiện Thệ ! Thiện lai
Như Lai ! Ứng Chánh Đẳng Giác,
xin thương xót mà ngự nơi cung
điện nầy.
Lúc
đó, Ðâu Suất Thiên Vương, dâng
cúng Ðức Phật đủ thứ đồ cúng
dường, rất trang nghiêm. Ông ta
chuẩn bị hết thảy đồ trang
nghiêm rồi, bèn cùng với trăm
ngàn ức Na do tha A tăng kỳ
Thiên tử Ðâu Suất, hướng về Ðức
Phật cung kính chắp tay, biểu
thị thân nghiệp thanh tịnh. Ðối
với Phật mà nói, là biểu thị
khẩu nghiệp thanh tịnh, bèn nói:
"Thiện lai Ðức Thế Tôn ! Ngài
đến thật là đúng thời. Thiện lai
Ðấng Thiện Thệ ! Nơi Ngài đến
cũng là nơi tốt đẹp. Thiện lai
Ðức Như Lai ! (Thừa đạo như
thật, Lai thành chánh giác). Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn. Ðó là mười hiệu
của Phật. Chúng con chỉ cầu khẩn
Ðức Phật, thương xót chúng con !
Ai mẫn chúng con ! Từ bi chúng
con ! Mong Phật tiếp thọ sự cúng
dường của chúng con, vào ngự
trong cung điện của chúng con,
vì chúng con nói pháp".
Bấy
giờ, đức Thế Tôn dùng sự trang
nghiêm của Phật mà tự trang
nghiêm. Đầy đủ đại oai đức. Vì
khiến cho tất cả chúng sinh,
sinh đại hoan hỉ. Vì Tất cả Bồ
Tát phát sinh tâm ngộ hiểu thâm
sâu. Vì tất cả Thiên tử Đâu Suất
Đà tăng thêm lợi ích dục lạc. Vì
Thiên Vương Đâu Suất Đà cúng
dường thừa sự không nhàm đủ. Vì
vô lượng chúng sinh, duyên niệm
Phật mà phát tâm. Vì vô lượng
chúng sinh, gieo trồng căn lành
thấy Phật, phước đức vô tận. Vì
hay phát khởi niềm tin thanh
tịnh. Vì thấy Phật cúng dường
không mong cầu. Vì hết thảy chí
nguyện đều thanh tịnh. Vì siêng
tích tập căn lành, không giải
đãi. Vì phát đại thệ nguyện, cầu
nhất thiết trí. Nhận sự thỉnh
cầu của Thiên Vương, đức Phật
bèn vào Điện Tất Cả Báu Trang
Nghiêm. Như ở thế giới nầy, mười
phương hết thảy tất cả thế giới,
cũng đều như vậy.
Lúc
đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
dùng sự trang nghiêm của mười
phương chư Phật, làm sự trang
nghiêm của chính mình, đầy đủ
thần lực đại oai đức. Vì khiến
cho tất cả chúng sinh, sinh ra
đại hoan hỉ. Vì khiến cho tất cả
Bồ Tát, phát tâm tin ngộ hiểu
thâm sâu. Vì khiến cho tất cả
Thiên Tử Trời Ðâu Suất tăng thêm
khoái lạc. Vì khiến cho Thiên
Vương Ðâu Suất cúng dường Phật,
thừa sự Phật, chẳng nhàm đủ. Vì
khiến cho vô lượng chúng sinh
trong tâm niệm Phật, tuỳ thuận
sự giáo hoá của Phật, mà phát
tâm bồ đề. Vì khiến cho vô lượng
chúng sinh gieo trồng căn lành
gặp Phật, đắc được phước đức vô
lượng.
Phật
khiến cho tất cả chúng sinh,
gieo trồng căn lành, tức là cơ
sở thành Phật. Thường phát tâm
tin thanh tịnh, cầu đạo vô
thượng, thì tương lai sẽ thành
tựu quả giác bồ đề. Chúng sinh
tu đạo bồ đề, thường thường cúng
Phật, thường thường thấy Phật.
Tuy nhiên cúng dường Phật, nhưng
phải đừng mong cầu gì. Bồ Tát
phát nguyện lớn:
"Chúng sinh vô biên thệ nguyện
độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành".
Phát
chí nguyện kiên cố nầy, đều đắc
được thanh tịnh. Vì cầu vô
thượng bồ đề giác đạo, và chân
Phật nguồn gốc thanh tịnh của tự
tánh. Bồ Tát tu công đức, siêng
tích tập căn lành, không màng
việc thiện lớn nhỏ đều đi làm,
chẳng có lúc nào giải đãi. Do
đó:
"Ðừng cho rằng việc thiện nhỏ mà
không làm
Ðừng cho rằng việc ác nhỏ mà
làm".
Phải biết việc thiện nhiều, là
do việc thiện ít tích tập mà
thành, việc ác lớn là do việc ác
nhỏ tích tập mà thành.
Người
tu đạo, cần tích tập căn lành,
thấu triệt thuỷ chung, phải biết
căn lành do ít mà thành nhiều.
Do đó: "Thái sơn là do các hạt
bụi, nên thành lớn; biển cả là
do từng giọt nước, nên thành
rộng sâu". Bất cứ tu pháp môn
nào, nếu chân thật mà tu hành,
khi công phu đến nhà, tự nhiên
sẽ thành tựu. Tu hành tối kị
nhất là một nóng mười lạnh (tu
một ngày nghỉ mười ngày), hoặc
chẳng chuyên nhất. Ví như, hôm
nay tu hiển giáo, ngày mai tu
mật giáo, kết quả không thành
tựu gì cả. Nếu chuyên tu một
pháp môn, hoặc niệm danh hiệu
Phật, hoặc tụng trì Kinh điển,
hoặc tham thiền đả toạ, công đáo
tự nhiên thành. Phải phát đủ thứ
đại thệ nguyện. Tại sao ? Vì cầu
nhất thiết trí huệ.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni nhận lời
thành tâm thỉnh cầu của Thiên
Vương Ðâu Suất, đến cung điện
Tất Cả Báu Trang Nghiêm, vì các
Thiên chúng, diễn nói Kinh Hoa
Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật,
pháp vi diệu thâm sâu vô thượng.
Tình hình ở thế giới Ta Bà là
như vậy, trong mười phương hết
thảy tất cả thế giới cũng như
vậy. Cảnh giới đó thật là không
thể nghĩ bàn.
Bấy
giờ, điện Tất Cả Báu Trang
Nghiêm, tự nhiên có sự tốt đẹp
trang nghiêm vi diệu. Vượt hơn
sự trang nghiêm của chư Thiên.
Tất cả lưới báu giăng bày che
phủ chung quanh. Khắp mưa tất cả
mây báu thượng diệu. Khắp mưa
tất cả mây đồ trang nghiêm. Khắp
mưa tất cả mây y báu. Khắp mưa
tất cả mây hương chiên đàn. Khắp
mưa tất cả mây hương kiên cố.
Khắp mưa tất cả mây lọng báu
trang nghiêm. Khắp mưa mây hoa
tụ không thể nghĩ bàn. Khắp vang
ra âm thanh kĩ nhạc không thể
nghĩ bàn. Khen ngợi nhất thiết
chủng trí của Như Lai. Và diệu
pháp cùng tương ưng. Tất cả các
đồ cúng dường như vậy, đều vượt
hơn sự cúng dường của chư Thiên.
Lúc
đó, cung Trời Ðâu Suất dùng tất
cả báu trang nghiêm cung điện.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đến
rồi, thì bảo điện tự nhiên hiện
ra tất cả sự tốt đẹp trang
nghiêm vi diệu. Sự trang nghiêm
đó, vượt hơn sự trang nghiêm của
tất cả chư Thiên. Có tất cả lưới
báu giăng bày che phủ phía trên
cung điện. Khắp mưa tất cả mây
diệu báu tối thượng. Khắp mưa
tất cả mây đồ trang nghiêm. Khắp
mưa tất cả mây y báu. Khắp mưa
tất cả mây hương chiên đàn, thứ
hương nầy đốt lên, hương thơm
toả ra khoảng bốn mươi do tuần.
Khắp mưa tất cả mây hương kiên
cố, thứ hương nầy đốt lên thời
gian rất dài, hương thơm toả
khắp tận hư không biến pháp
giới. Lại khắp mưa tất cả mây
lọng báu trang nghiêm. Khắp mưa
hoa tụ không thể nghĩ bàn. Khắp
vang ra âm thanh kĩ nhạc không
thể nghĩ bàn, khen ngợi tán thán
nhất thiết chủng trí của Phật,
và diệu pháp hoàn toàn tương
ưng. Ðủ thứ cảnh giới ở trên,
đều do công đức trong quá khứ
Phật tích tụ mà thành tựu. Dùng
đủ thứ sự cúng dường nầy, để
trang nghiêm đạo tràng pháp hội,
vượt hơn đồ cúng dường trang
nghiêm của chư Thiên.
Bấy
giờ, trong cung điện Đâu Suất,
kỹ nhạc ca hát vang lên không
ngừng. Nhờ thần lực của Phật,
khiến cho Thiên Vương Đâu Suất
tâm chẳng động loạn, căn lành
thuở xưa đều được viên mãn. Vô
lượng pháp lành tăng thêm kiên
cố, tăng trưởng niềm tin thanh
tịnh, khởi đại tinh tấn, sinh
đại hoan hỉ. Chí thích thanh
tịnh thâm sâu, phát tâm bồ đề,
niệm pháp không dứt, tổng trì
không quên.
Lúc
đó, trong cung điện Trời Ðâu
Suất, có đủ thứ kĩ nhạc, âm
nhạc, ca hát diễn tấu, đủ thứ
tiết mục, trình diễn không ngừng
nghỉ. Nhờ sự gia trì của Ðức
Phật, khiến cho Thiên Vương Ðâu
Suất hân thưởng cảnh giới nầy,
tâm có định lực, chẳng có động
loạn. Tức cũng là chẳng bị cảnh
giới làm lay chuyển. Căn lành
quá khứ của Vua Trời Ðâu Suất tu
hành, đã viên mãn thành thục,
cho nên cảm ứng được Phật đến vì
họ nói pháp.
Các
vị ! Các vị đến Chùa Kim Sơn
nghe Kinh, nghe pháp, cũng là
nhờ quá khứ đã gieo trồng căn
lành, hiện tại đã thành thục,
cho nên đến được Chùa Kim Sơn.
Nếu căn lành chẳng thành thục,
thì muốn đến Chùa Kim Sơn cũng
đến không được. Tại sao ? Vì
chưa thành thục ! Căn lành chẳng
đầy đủ ! Giống như trước đây mấy
hôm, có vị Thầy đến, ông ta có
đệ tử bị bệnh ung thư. Muốn đến
Chùa Kim Sơn thọ giới Tỳ Kheo,
thỉnh đại chúng trợ giúp ông ta
hoàn thành tâm nguyện. Bất hạnh
thay tối hôm qua đã qua đời,
đáng tiếc chưa thọ được giới Cụ
Túc. Do đó có thế chứng minh,
người căn lành chưa thành thục,
thì chẳng vào được cửa Chùa Kim
Sơn.
Thiên
Vương Ðâu Suất đối với tám vạn
bốn ngàn pháp lành, đều sinh tâm
kiên cố, niềm tin thanh tịnh
tăng trưởng. Sinh tâm đại tinh
tấn, sinh tâm đại hoan hỉ, phát
chí nguyện thanh tịnh thâm sâu,
đắc được khoái lạc vô thượng.
Phát đại tâm bồ đề kiên cố, cầu
được giác đạo vô thượng. Tâm
niệm pháp, vĩnh viễn không gián
đoạn. Tâm tổng trì vĩnh viễn
không quên.
Chúng
ta người tu đạo, thời thời tinh
tấn, khắc khắc dụng công, một
thời một khắc cũng không giải
đãi, không thể "Một ngày nóng,
mười ngày lạnh". Nếu như tinh
tấn một ngày, nghỉ mười ngày,
thì không thể nào thành tựu.
Quan trọng nhất là phải nhẫn
chịu. Nhẫn chịu tức là nhẫn đói,
nhẫn khát, nhẫn lạnh, nhẫn nóng,
chịu gió, chịu mưa .v.v... Tóm
lại, phải nhẫn chịu những gì
người khác không nhẫn chịu được.
Không nhẫn chịu được thì không
thể qua cửa ải được, công phu
tham thiền đả toạ sẽ chẳng tương
ưng, trí huệ cũng chẳng hiện
tiền. Cho nên nhẫn là pháp môn
quan trọng nhất, chẳng có tâm
nhẫn thì không thể thành đạo.
Các
vị ! Nên nhớ điểm nầy, sự nóng
giận nổi lên thì phải nhẫn.
Phiền não nổi lên cũng phải
nhẫn. Nhẫn chịu được thì chẳng
có vô minh. Do đó, tất cả mọi
thời, tất cả mọi nơi, đều phải
nhẫn. Cổ nhân có nói:
"Nhỏ không nhẫn thì đại mưu
loạn".
Bao
nhiêu người không có công phu
hàm dưỡng (nhẫn), thì trở thành
thiên hạ đại loạn. Do đó:
"Nhẫn được một lúc
Tránh được một ngày buồn".
Ðây
là nói về sự kinh nghiệm, có thể
làm châm ngôn.
Bấy
giờ, Thiên Vương Đâu Suất Đà,
nương oai lực của đức Phật, liền
tự nhớ lại căn lành đã gieo
trồng trong quá khứ ở chỗ các
đức Phật, mà nói kệ rằng:
Lúc
đó, Thiên Vương Ðâu Suất, nương
đại oai thần lực gia trì của chư
Phật, lập tức nhớ lại trong quá
khứ, ở trong đạo tràng của chư
Phật, đã gieo trồng căn lành. Ðã
từng cúng dường vị Phật đó, thậm
chí cúng dường vị Phật ở thế
giới đó, thảy đều nghĩ nhớ lại
hết. Vị Phật nào đã từng đến
cung trời Ðâu Suất thuyết pháp,
đều nhớ lại hết. Lúc đó, Thiên
Vương Ðâu Suất dùng kệ, để nói
rõ danh hiệu của chư Phật đến
thuyết pháp.
Xưa có Như Lai Vô Ngại Nguyệt
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Trang Nghiêm
nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Trong
quá khứ có vị Phật, danh hiệu là
Phật Vô Ngại Nguyệt. Vị Phật đó,
trong những sự cát tường, thì
Phật cát tường thù thắng nhất.
Vị Phật đó, đã từng vào cung
điện Trang Nghiêm nầy, vì đại
chúng nói diệu pháp Hoa Nghiêm.
Do nguyên nhân đó, cho nên điện
Trang Nghiêm nầy, là đạo tràng
cát tường nhất trong những sự
cát tường.
Tôi
nhớ tại Hương Cảng núi Ðại Tự,
kiến lập Từ Hưng Thiền Tự, khi
khoá lễ lạc thành (ngày 16 tháng
03 âm lịch) khai quang tượng Bổn
Sư Thích Ca, lại lạy ba ngày Sám
Ðại Bi, chuẩn bị một trăm dãy
bàn (mỗi bàn mười hai vị) để
chiêu đãi thiện nam tín nữ,
nhưng thời tiết chẳng tốt, ngày
nào trời cũng mưa, đi đứng chẳng
phương tiện.
Buổi
tối ngày 15/03, có người nói với
tôi:
-
"Sư Phụ ! Trời mưa to, ngày mai
sẽ chẳng có đông người đến, Thầy
chuẩn bị bàn nhiều như thế, biết
làm sao ?"
-
Tôi nói với anh ta: "Ðừng lo, tự
có người đến tham gia, đừng lo
dư bàn". Vừa nói dứt lời, một
lát sau trời hết mưa, nhìn thấy
đất ngập nước chẳng bao lâu sẽ
khô.
Sáng
ngày sau (ngày 16/03), tượng
Phật khai quang, trời tuy âm u
nhưng không mưa. Tín đồ Hương
Cảng từ sáng sớm ngồi thuyền đến
núi Ðại Tự, tham gia pháp hội,
khi đúng giờ trưa, ước có hơn
một ngàn người đến, một trăm dãy
bàn đã chuẩn bị, đã ngồi hết
chín mươi sáu dãy bàn. Còn dư
lại bốn dãy bàn, ngày sau những
người ở trong Chùa đông đảo, đều
dùng hết sạch thức ăn, chẳng còn
gì thừa lại. Tại sao ? Vì tôi đã
tự tay làm việc nầy, không cho
thức ăn thừa lại. Cho nên có sự
cảm ứng như thế.
Tại
sao hôm nay tôi nói việc nầy ?
Vì hôm qua là ngày Phật Ðản, các
vị làm thức ăn quá nhiều, chẳng
ăn hết, vứt nó vào thùng rác, đó
là tổn phước. Nếu tôi làm việc
nầy, thì sẽ không thừa nhiều như
thế, có thể không nhiều không
ít, rất vừa đủ, thảy đều hoan
hỉ. Do đó, hôm nay nhớ đến việc
ở núi Ðại Tự, nói cho các vị
nghe.
Xưa có Như Lai hiệu Quảng Trí
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Sắc Vàng nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Quảng Trí. Vị Phật đó, ở
trong những sự cát tường, thì
Phật cát tường thù thắng nhất.
Vị Phật đó đã từng đến điện Sắc
Vàng nầy, vì đại chúng nói diệu
pháp Hoa Nghiêm. Bởi nhân duyên
đó, cho nên điện nầy là đạo
tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai hiệu Phổ Nhãn
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Liên Hoa nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Phổ Nhãn. Vị Phật đó, trong
những sự cát tường, thì Phật cát
tường thù thắng nhất. Vị Phật
đó, đã từng đến điện Liên Hoa
nầy, vì đại chúng diễn nói diệu
pháp Hoa Nghiêm. Bởi nhân duyên
đó, cho nên điện nầy là đạo
tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai hiệu San Hô
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Bảo Tạng nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật San Hô. Vị Phật đó, trong
những sự cát tường, thì Phật cát
tường thù thắng nhất. Vị Phật
đó, đã từng đến điện Bảo Tạng
nầy, vì đại chúng diễn nói diệu
pháp Hoa Nghiêm. Bởi nhân duyên
đó, cho nên điện nầy là đạo
tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai Luân Sư Tử
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Sơn Vương nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Luân Sư Tử. Vị Phật đó,
trong những sự cát tường, thì
Phật cát tường thù thắng nhất.
Vị Phật đó, đã từng đến điện Sơn
Vương nầy, vì đại chúng diễn nói
diệu pháp Hoa Nghiêm. Bởi nhân
duyên đó, cho nên điện nầy là
đạo tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai hiệu Nhựt Chiếu
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Chúng Hoa nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Nhựt Chiếu. Vị Phật đó,
trong những sự cát tường, thì
Phật cát tường thù thắng nhất.
Vị Phật đó, đã từng đến điện
Chúng Hoa nầy, vì đại chúng diễn
nói diệu pháp Hoa Nghiêm. Bởi
nhân duyên đó, cho nên điện nầy
là đạo tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai Vô Biên Quang
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Thụ Nghiêm
nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Vô Biên Quang. Vị Phật đó,
trong những sự cát tường, thì
Phật cát tường thù thắng nhất.
Vị Phật đó, đã từng đến điện Thụ
Nghiêm nầy, vì đại chúng diễn
nói diệu pháp Hoa Nghiêm. Bởi
nhân duyên đó, cho nên điện nầy
là đạo tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai hiệu Pháp Tràng
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Bảo Cung nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Pháp Tràng. Vị Phật đó,
trong những sự cát tường, thì
Phật cát tường thù thắng nhất.
Vị Phật đó, đã từng đến điện Bảo
Cung nầy, vì đại chúng diễn nói
diệu pháp Hoa Nghiêm. Bởi nhân
duyên đó, cho nên điện nầy là
đạo tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai hiệu Trí Đăng
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Hương Sơn nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Trí Ðăng. Vị Phật đó, trong
những sự cát tường, thì Phật cát
tường thù thắng nhất. Vị Phật
đó, đã từng đến điện Hương Sơn
nầy, vì đại chúng diễn nói diệu
pháp Hoa Nghiêm. Bởi nhân duyên
đó, cho nên điện nầy là đạo
tràng cát tường nhất.
Xưa có Như Lai Công Đức Quang
Trong những cát tường thù thắng
nhất
Phật từng vào điện Ma Ni nầy
Cho nên chốn nầy cát tường nhất.
Thuở
xưa có vị Phật, danh hiệu là
Phật Công Ðức Quang. Vị Phật đó,
trong những sự cát tường, thì
Phật cát tường thù thắng nhất.
Vị Phật đó, đã từng đến điện Ma
Ni nầy, vì đại chúng diễn nói
diệu pháp Hoa Nghiêm. Bởi nhân
duyên đó, cho nên điện nầy là
đạo tràng cát tường nhất.
Như
ở thế giới nầy, Thiên Vương Ðâu
Suất nương thần lực của đức
Phật, dùng kệ khen ngợi chư Phật
quá khứ. Các Thiên Vương Đâu
Suất trong mười phương tất cả
thế giới, cũng đều khen ngợi
công đức của Phật như vậy.
Giống
như ở thế giới Ta Bà, Thiên
Vương Ðâu Suất, nương đại oai
thần lực gia trì của đức Phật,
dùng kệ để tán thán khen ngợi
chư Phật quá khứ, ở tại điện Bảo
Trang Nghiêm nầy nói pháp. Ở
trong mười phương tất cả thế
giới, hết thảy Thiên Vương Ðâu
Suất, cũng đều cúng dường Phật,
thừa sự nơi Phật, khen ngợi công
đức của Phật.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn ở tại điện Tất
Cả Báu Trang Nghiêm, ngồi kiết
già trên toà sư tử Ma Ni Bảo
Tạng.
Lúc
đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ở
trong điện Tất Cả Báu Trang
Nghiêm, ngồi kiết già trên Toà
Sư Tử Ma Ni Bảo Tạng. Tướng ngồi
kiết già, hay hàng phục được ma,
rất dễ nhập định, sinh ra tất cả
sức tam muội. Khi chư Phật nói
pháp thì đều ngồi kiết già, còn
gọi là ngồi tư thế cát tường.
Pháp
thân thanh tịnh, diệu dụng tự
tại, đồng một cảnh giới với chư
Phật ba đời. Cùng vào một tánh
với tất cả chư Phật. Mắt Phật
thấu suốt, thấy tất cả pháp, đều
không chướng ngại. Có oai lực
rất lớn, du khắp pháp giới, chưa
từng ngừng nghỉ. Đầy đủ đại thần
thông, tuỳ theo nơi nào có chúng
sinh có thể hoá độ được, thảy
đều đi đến. Dùng sự trang nghiêm
vô ngại của tất cả chư Phật, mà
trang nghiêm thân mình, khéo
biết thời cơ, vì chúng sinh nói
pháp.
Pháp
thân của Phật, rất thanh tịnh
như hư không. Tất cả thần thông
diệu dụng nhậm vận tự tại, đồng
với ba đời chư Phật, đồng một
cảnh giới, trụ nơi bậc nhất
thiết trí huệ, để giáo hoá chúng
sinh. Cùng vào một Phật tánh với
tất cả chư Phật. Do đó:
"Ba đời mười phương Phật
Đều cùng một pháp thân".
Tất
cả chư Phật tức là một vị Phật,
một vị Phật tức là tất cả chư
Phật. Tại sao ? Vì Phật Phật
đồng thể, Phật Phật đạo đồng,
Phật Phật bình đẳng. Mắt Phật
như ngàn mặt trời, thấu rõ thật
tướng lý thể của tất cả các
pháp, cho nên thấy tất cả pháp
đều chẳng có chướng ngại.
Chúng
ta chúng sinh cũng đầy đủ ngũ
nhãn (Thiên nhãn, nhục nhãn,
pháp nhãn, huệ nhãn, Phật nhãn).
Nhưng vì bị vô minh phiền não
che đậy, cho nên chẳng hiện. Nếu
chân thật tu hành, mới có thể
chứng được cảnh giới ngũ nhãn.
Người khai mở ngũ nhãn cũng còn
phiền não: Trên thì thấy sự sung
sướng của chư Thiên, dưới thì
thấy sự khổ sở dưới địa ngục.
Nếu người không đủ định lực, thì
dễ bị cảnh giới làm tâm giao
động, mất đi thời gian tu đạo.
Có
bài kệ nói về ngũ nhãn như sau:
"Thiên nhãn thông phi ngại
Nhục nhãn ngại phi thông
Pháp nhãn duy quán tục
Huệ nhãn liễu chân không
Phật nhãn như Thiên nhật
Chiếu dị thể hoàn đồng
Viên minh pháp giới cảnh
Vô xứ bất hàm dung".
Cho
nên nói mắt Phật thấu rõ, giống
như ánh sáng ngàn mặt trời. Chỗ
chiếu đến tuy khác nhau, nhưng
bản thể là một. Khai mở mắt trí
huệ của Phật, sẽ thấy được tất
cả các pháp, đều chẳng có chướng
ngại. Người khai mở pháp nhãn,
sẽ quán sát được tất cả mọi nơi,
Tam Tạng mười hai bộ Kinh điển,
nhìn một cái sẽ biết rõ. Phật
tụng Kinh của Phật, Bồ Tát tụng
Kinh của Bồ Tát, Duyên Giác tụng
Kinh của Duyên Giác, Thanh Văn
tụng Kinh của Thanh Văn. Mỗi
người đều đều có sở tu, đều có
sở học. Chẳng phải nói đến được
quả vị Phật, thì không tu không
chứng. Phật vẫn thường tụng
Kinh, bất quá phương pháp tụng
Kinh của Phật với chúng ta khác
nhau. Phật dùng mắt Phật xem,
thì lập tức từ "Như thị ngã
văn", tụng đến "Tín thọ phụng
hành". Thời gian nháy mắt sẽ
tụng xong một bộ kinh điển.
Chư
Phật đầy đủ sức đại oai đức, hay
du khắp pháp giới, tại sao ? Vì
phải cứu chúng sinh trong biển
khổ. Phật có tâm thương xót, cho
nên chẳng có lúc nào ngừng nghỉ.
Phật Bồ Tát đều dùng sức thần
thông biến hoá, thảy đều đi đến
khắp mọi nơi, khiến cho chúng
sinh được độ lìa khổ được vui.
Bồ
Tát dùng sự trang nghiêm vô ngại
của chư Phật, để tự trang nghiêm
thân mình. Bồ Tát giáo hoá chúng
sinh, khéo quán sát thời cơ,
khéo biết thời cơ, khéo dùng
thời cơ, không bỏ lỡ cơ hội nói
pháp. Tức cũng là quán sát căn
cơ, vì người nói pháp. Thấy
người căn tánh đại thừa, thì nói
pháp đại thừa, lục độ vạn hạnh.
Thấy người căn tánh tiểu thừa,
thì vì họ nói pháp tiểu thừa,
pháp bốn Diệu Ðế, hoặc pháp Mười
Hai Nhân Duyên. Ba thứ pháp nầy
là tu đạo cơ bản, giống như kiền
ba chân, không thể thiếu một. Tu
đạo không thể dụng sự cảm tình,
càng không thể dụng sự ý khí.
Ðều là kim khẩu của Phật nói, hà
tất phân ra đại thừa tiểu thừa.
Tu đạo phải lựa chọn pháp hợp
với mình để tu, đừng phân biệt
đó đây, như thế sẽ mất đi chân
tinh thần của sự tu đạo, cầu trí
huệ của Phật, nối tiếp huệ mạng
của Phật.
Bất
khả thuyết các chúng Bồ Tát, đều
từ các phương khác, đủ thứ cõi
nước cùng nhau tụ tập. Chúng hội
thanh tịnh. Pháp thân không hai.
Không chỗ y chỉ, mà có thể tự
tại sinh khởi hạnh môn của Phật.
Có
bất khả thuyết bất khả thuyết
các chúng Bồ Tát, mỗi vị Bồ Tát,
đều từ phương khác đủ thứ cõi
nước khác nhau, mà đến thế giới
Ta Bà cung trời Ðâu Suất, tụ tập
với nhau tại pháp hội Hoa
Nghiêm, lắng nghe Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni diễn nói pháp lớn Hoa
Nghiêm. Ðại chúng pháp hội rất
thanh tịnh. Pháp thân không hai,
đồng một thể với Phật. Không chỗ
nương tựa, mà được tự tại, sinh
khởi tất cả hạnh môn của Phật
tu.
Đức
Phật ngự trên toà sư tử rồi, ở
trong cung điện tự nhiên có vô
lượng vô số sự thù thắng đặc
biệt tốt đẹp hiện ra, vượt hơn
đồ cúng dường của chư Thiên. Đó
là: Hoa, tràng hoa, y phục,
hương thoa, hương bột, lọng báu,
tràng phan, kỹ nhạc, ca tán.
Những việc như vậy, mỗi mỗi đều
nhiều không thể tính đếm được.
Dùng tâm rộng lớn, cung kính tôn
trọng, cúng dường đức Phật.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni, ngự trên
toà sư tử rồi, ở trong Ðiện Bảo
Trang Nghiêm, tự nhiên có vô
lượng vô số đồ cúng dường thù
thắng đặc biệt tốt đẹp. Những đồ
cúng dường đó hơn hẳn đồ cúng
dường của chư Thiên. Đó là: Hoa
báu, man báu, y phục báu, hương
thoa, hương bột, lọng báu, tràng
báu, phan báu, kỹ nhạc, ca tụng,
tán thán .v.v... Ðủ thứ những sự
như thế, đều rất nhiều nói không
hết được. Mỗi chúng sinh dùng
tâm rộng lớn, cung kính Ðức
Phật, tôn trọng Ðức Phật, cúng
dường Ðức Phật.
Tất
cả trời Đâu Suất trong mười
phương, cũng đều như thế.
Chẳng
những Ðiện Bảo Trang Nghiêm cõi
trời Ðâu Suất ở thế giới Ta Bà,
là như thế, mà tất cả Ðiện Bảo
Trang Nghiêm cõi trời Ðâu Suất
trong mười phương, cũng tình
hình như vậy, rất trang nghiêm,
rất thanh tịnh.
Hồi hướng đến tất cả mọi
nơi thứ tư.
Phật
tử ! Thế nào là hồi hướng đến
tất cả mọi nơi của đại Bồ Tát ?
Bồ
Tát Kim Cang Tràng nói xong bài
kệ ở trên rồi, Ngài lại tiếp tục
gọi một tiếng: Các vị đệ tử của
Phật ! Thế nào là pháp hồi hướng
đến tất cả mọi nơi của đại Bồ
Tát tu hành ? Các vị có minh
bạch chăng ? Chẳng màng các vị
có minh bạch hay không minh
bạch, hiện tại tôi sẽ vì các vị
nói về nội dung của pháp hồi
hướng nầy.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát nầy, tu tập
tất cả các căn lành, thì nghĩ
như vầy: Nguyện sức căn lành
công đức nầy, đến tất cả mọi
nơi. Ví như thật tế, chẳng có
nơi nào mà chẳng đến. Đến tất cả
mọi vật. Đến tất cả thế gian.
Đến tất cả chúng sinh. Đến tất
cả cõi nước. Đến tất cả các
pháp. Đến tất cả hư không. Đến
tất cả ba đời. Đến tất cả hữu vi
vô vi. Đến tất cả lời nói âm
thanh.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát nầy, trong quá khứ khi Ngài
phát nguyện tu tập pháp hồi
hướng, tích tập đủ thứ căn lành,
thì Ngài đã từng quán tưởng lập
tâm nguyện như vầy: Chỉ nguyện
nghiệp lành tu tập, sức công đức
thành tựu của tôi, khắp cõi hư
không pháp giới. Ví như tất cả
pháp chân thật tế, chẳng có chỗ
nào mà chẳng đến, chẳng có lúc
nào mà không có ở đó. Lại hy
vọng sức công đức nầy, có thể
đến khắp tất cả vật thể hữu
hình. Ðến trong tất cả thân tâm
chúng sinh. Ðến trong tất cả cõi
nước thế gian. Ðến tất cả các
pháp, khiến cho tất cả chánh
pháp thiện pháp, đắc được sức
công đức, phát dương rộng lớn.
Ðến khắp trong hư không, khiến
cho hư không đầy dẫy sức căn
lành công đức nầy. Ðến tất cả
pháp hữu vi của thế gian và pháp
vô vi xuất thế gian. Ðến tất cả
chỗ lời nói âm thanh. Bồ Tát hy
vọng sức căn lành công đức của
Ngài đến những nơi đã nói ở
trên, trong thời gian đó đều
phát huy tác dụng, khiến cho tất
cả chúng sinh đều đắc được lợi
ích.
Nguyện
căn lành nầy, cũng lại như thế,
đến khắp tất cả chỗ các Như Lai.
Cúng dường ba đời tất cả chư
Phật. Những lời nguyện của chư
Phật quá khứ đều viên viên mãn.
Chư Phật vị lai đầy đủ trang
nghiêm. Chư Phật hiện tại cùng
với cõi nước đạo tràng chúng hội
khác, khắp đầy tất cả hư không
pháp giới.
Bồ
Tát lại nói: Hy vọng sức căn
lành công đức của tôi tu tập,
giống như ở trên đã nói, cũng
đến khắp mười phương ba đời các
cõi nước chư Phật. Lại nguyện
những lời nguyện của chư Phật
quá khứ đều được viên mãn. Chư
Phật đời vị lai, tu nhân đã viên
mãn, chứng được đầy đủ trang
nghiêm, phước đầy đủ, huệ đầy
đủ, trăm phước trang nghiêm. Chư
Phật hiện tại, trong đạo tràng
pháp hội cõi nước của các Ngài
ở, do sức căn lành công đức của
tôi, đầy dẫy khắp tất cả hư
không pháp giới.
Nguyện
do sức tin hiểu oai lực lớn. Do
trí huệ không chướng ngại rộng
lớn. Do tất cả căn lành đều hồi
hướng. Đem cúng dường như chư
Thiên cúng dường mà vì cúng
dường, đầy khắp vô lượng vô biên
thế giới.
Bồ
Tát dùng nguyện lực căn lành
công đức của Ngài tu tập, đạt
đến mục đích cúng dường mười
phương ba đời tất cả chư Phật
của Ngài, đó hoàn toàn là nguyện
lực của Ngài, và tin hiểu thù
thắng, có thể tuỳ tâm chuyển
biến sức đại oai đức thần thông.
Sau đó là Bồ Tát đã chứng được
đại trí huệ, nên chỗ hành chỗ
đến, đều chẳng có chướng ngại.
Ðồng thời cũng là vì Bồ Tát tu
tập căn lành công đức, Ngài
chẳng vì lợi mình, mà là vì tất
cả chúng sinh, Ngài đem căn lành
công đức tu tập, tơ hào chẳng
xẻn tiếc, thảy đều hồi hướng cho
chúng sinh, cho nên Ngài có thể
xưng nguyện đã thành. Bồ Tát
cúng dường phẩm vật đến chư
Phật, đều là vật trân kỳ hiếm có
trên đời, có thể bằng với phẩm
vật của chư Thiên cúng dường chư
Phật, số lượng đầy khắp vô biên
thế giới, công đức cúng dường
cũng đầy khắp hư không.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát lại nghĩ như
vầy: Chư Phật Thế Tôn, khắp tất
cả hư không pháp giới. Đủ thứ
nghiệp sinh khởi. Mười phương
bất khả thuyết tất cả thế giới.
Bất khả thuyết cõi Phật. Cảnh
giới Phật. Đủ thứ thế giới. Vô
lượng thế giới. Không phân biệt
thế giới. Thế giới chuyển. Thế
giới nghiêng. Thế giới ngửa. Thế
giới úp. Như vậy trong tất cả
các thế giới, chư Phật hiện trụ
thế, thị hiện đủ thứ thần thông
biến hoá.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát nầy, tu pháp hồi hướng đến
tất cả mọi nơi, Ngài lại tư duy
quán tưởng như vầy: Chư Phật Thế
Tôn mười phương ba đời, pháp lực
đại oai đức của các Ngài, đạt
đến khắp tận hư không khắp pháp
giới, đó là do thuở xưa các Ngài
tu tập đủ thứ căn lành, vô lượng
vô biên nghiệp thiện sinh khởi.
Lại có mười phương bất khả
thuyết, chẳng có cách chi nói ra
rốt ráo nó có bao nhiêu thứ thế
giới khác nhau. Lại có bất khả
thuyết nhiều cõi nước chư Phật.
Cảnh giới của chư Phật không thể
nghĩ bàn. Ðủ thứ thế giới khác
nhau. Thế giới chẳng có số
lượng. Chẳng có phân biệt, chẳng
có giới hạn thế giới lớn, thế
giới nhỏ. Lại có thế giới luôn
luôn chuyển động. Thế giới
nghiêng chẳng thẳng đứng. Thế
giới ngửa. Thế giới úp xuống.
Các thế giới lớn nhỏ như vậy
khác nhau, hình trạng khác nhau,
trong đủ thứ thế giới, đều có
Phật đang ở trong đó, chuyển
bánh xe pháp, giáo hoá chúng
sinh. Chư Phật vì giáo hoá chúng
sinh, vận dụng phương pháp
phương tiện khéo léo, cho nên
Ngài thị hiện đủ thứ sức thần
thông biến hoá, nhiếp thọ chúng
sinh.
Trong
những thế giới đó, có Bồ Tát
dùng sức hiểu thù thắng, vì các
chúng sinh đáng kham thọ được sự
giáo hoá. Ở trong tất cả các thế
giới đó, hiện làm Như Lai, xuất
hiện ra đời, cho đến nơi nhất
thiết trí, khắp khai thị vô
lượng thần lực tự tại của Như
Lai.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng nói: Ở trong
những thế giới khác nhau như đã
nói ở trên, đều có Bồ Tát, những
Bồ Tát đó đều có đại trí huệ, có
sức lý giải đặc biệt thù thắng,
đối với diệu pháp thâm sâu vi
diệu của chư Phật nói, các Ngài
đều lãnh thọ được, thông đạt vận
dụng. Các Ngài quán sát chúng
sinh trong mười phương thế giới,
những người nào cơ duyên đã chín
mùi, những người nào kham thọ
được sự giáo hoá của Phật, thì
Bồ Tát liền vận dụng thần thông
biến hoá của các Ngài, thị hiện
thân Phật, xuất hiện ra đời tại
thế giới đó, để giáo hoá chúng
sinh, tiếp dẫn chúng sinh quy y
cửa Phật. Bồ Tát chẳng sợ khốn
khổ hoạn nạn, giáo hoá chúng
sinh khiến cho họ có thể đắc
được nhất thiết trí huệ, đến
cảnh giới trí huệ nhất thiết xứ,
và còn đối với khắp chúng sinh
giảng nói Phật có vô lượng sức
thần thông tự tại tuỳ tâm vận
dụng.
Pháp
thân đến khắp chẳng có sai biệt.
Bình đẳng vào khắp tất cả pháp
giới. Thân Như Lai tạng chẳng
sinh chẳng diệt, phương tiện
khéo léo, hiện khắp thế gian.
Chứng được pháp thật tánh, vì
vượt qua tất cả. Đắc được bất
thoái chuyển, vì sức vô ngại.
Sinh vào nhà Như Lai, tri kiến
không chướng ngại, vì ở trong
giống tánh oai đức rộng lớn của
Như Lai.
Pháp
thân đến khắp: Ðây là nói pháp
tánh thân của Phật, Ngài có thể
đi đến khắp cõi nước chư Phật,
nơi nơi đều giống nhau chẳng có
khác biệt. Bình đẳng vào khắp:
Tức là trí thân của Phật, Ngài
vào khắp tất cả pháp giới. Thân
Như Lai tạng: Là không sinh,
không diệt, không dơ, không
sạch, không tăng, không giảm.
Thân Như Lai tạng là dùng phương
tiện khéo léo, khắp xuất hiện
trong tất cả thế gian. Chứng
được tánh chân thật của các
pháp, vì thật tánh của các pháp
vượt qua tất cả có hình có
tướng. Bồ Tát đắc được niệm
không thối lùi, là Ngài có tâm
bồ đề, hành đạo Bồ Tát, tu sáu
độ vạn hạnh. Bồ Tát tu quả vị
đại thừa, Ngài quyết chẳng thối
lùi về quả vị nhị thừa. Ngài
luôn luôn tinh tấn, tu tập chánh
pháp, vì Ngài đã đắc được trí
lực viên dung vô ngại, vì chẳng
thọ tất cả sự chướng ngại. Bồ
Tát đã sinh vào nhà Như Lai, đắc
được thân Như Lai tạng, dứt hẳn
hai chướng. Ðắc được tri kiến
quyền thật vô ngại của Như Lai,
và diệu dụng oai đức rộng lớn
của Như Lai, vì Ngài đã sinh vào
trong giống tánh của Phật.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát đem tất cả căn
lành của Ngài đã gieo trồng,
nguyện ở chỗ các đức Như Lai như
vậy. Dùng các thứ hoa đẹp, và
các thứ hương thơm, màn lọng
tràng phan, y phục đèn đuốc,
cùng với tất cả đồ trang nghiêm
khác, dâng lên cúng dường. Hoặc
hình tượng Phật, hoặc tháp miếu
Phật, thảy đều như vậy. Đem căn
lành đó hồi hướng như vầy. Đó
là: Bất loạn hồi hướng. Nhất tâm
hồi hướng. Tự ý hồi hướng. Tôn
kính hồi hướng. Không động hồi
hướng. Không trụ hồi hướng.
Không nương tựa hồi hướng. Không
tâm chúng sinh hồi hướng. Không
tâm đua tranh hồi hướng. Tâm
vắng lặng hồi hướng.
Các vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ
Tát, tu pháp hồi hướng đến khắp
tất cả mọi nơi, Ngài đem tất cả
căn lành đã gieo trồng, nguyện ở
trong đạo tràng của mười phương
chư Phật, dùng nhiều thứ hoa quý
đẹp, nhiều thứ hương thơm lạ,
nhiều thứ màn đẹp, lọng hoa,
tràng cao, phan dài, y báu, đèn
báu, đuốc lớn, cùng với đủ thứ
phẩm vật hiếm có, dâng cúng chư
Phật, trang nghiêm đạo tràng,
cúng dường chư Phật còn hiện
tiền. Hoặc hình tượng Phật. Bồ
Tát chẳng những cúng dường chư
Phật hiện đời, mà dù hình tượng
Phật quá khứ đã vào Niết Bàn, và
tháp xá lợi của Phật người sau
nầy dựng lên, Chùa miếu tạo dựng
kỷ niệm chư Phật, Bồ Tát cũng
đều cúng dường như vậy, chẳng có
phân biệt. Ðồng thời đối với chư
Phật ba đời, cũng đều đem căn
lành của Ngài thành ý hồi hướng,
dùng sự hồi hướng mà làm cúng
dường. Khi Bồ Tát hồi hướng thì
nào là: Không loạn hồi hướng:
Không loạn tức là trong tâm
chẳng có tạp niệm, cũng chẳng
vọng tưởng lăn xăn, mà là chánh
tâm thành ý hồi hướng. Nhất tâm
hồi hướng: Trong tâm niệm,
chuyên tâm chú ý hồi hướng. Tự ý
hồi hướng: Tự mình khai ngộ,
chẳng phải nhờ nhân duyên người
khác khai ngộ. Ðem căn lành của
mình hồi hướng, khiến cho người
được lợi ích hồi hướng nầy, cũng
có thể tự mình khai ngộ. Tôn
kính hồi hướng: Vì cung kính Tam
Bảo, nên hồi hướng. Bất động hồi
hướng: Chẳng vì cảnh giới thiện
ác mà giao động, chẳng vì cảnh
giới thuận nghịch mà lay động,
dùng định lực bất động để hồi
hướng. Không trụ hồi hướng: Tức
là chẳng trước trụ, chẳng trước
trụ nơi người, chẳng trước trụ
nơi pháp, hồi hướng người và
pháp đều không. Không nương tựa
hồi hướng: Chẳng nương vào cảnh
giới hồi hướng. Không tâm chúng
sinh hồi hướng: Bồ Tát vì lợi
ích chúng sinh, đem căn lành của
mình tu tập hồi hướng cho tất cả
chúng sinh, nhưng chẳng chấp
trước vào chúng sinh, cũng chẳng
chấp trước vào công đức hồi
hướng, vì Bồ Tát chẳng có tướng
ta, tướng chúng sinh, biết cái
ta là không, cho nên hành sở vô
sự, chẳng chấp tướng hồi hướng.
Tâm không đua tranh hồi hướng:
Tâm chẳng có tranh đua, tâm bình
khí hoà xử sự tiếp vật. Nơi hành
vi bình dị gần người, mọi việc
đều khiêm hoà, chẳng tranh dài
ngắn với người. Nếu người có tâm
cường háo thắng, thì mỗi sự việc
đều không thể khiêm nhường, dễ
sinh ra cống cao ngã mạn. Người
tính tình như thế, thì không thể
tu đạo. Do đó:
"Tranh là tâm thắng phụ,
Trái ngược lại với đạo.
Tâm bèn sinh bốn tướng,
Sao đắc được tam muội"?
Tâm
vắng lặng hồi hướng: Vắng lặng
tức là Niết Bàn, chánh thuận
Niết Bàn để hồi hướng. Mười thứ
hồi hướng ở trên, là phân biệt
hiển hiện tướng tâm của Bồ Tát
tu hồi hướng. Bồ Tát dùng mười
thứ hồi hướng nầy, hồi hướng cho
pháp giới chúng sinh, hồi hướng
vô thượng bồ đề, hồi hướng về
thật tế.
Đại
Bồ Tát lại nghĩ như vầy: Tận
pháp giới hư không giới, trong
tất cả kiếp quá khứ, vị lai,
hiện tại, chư Phật Thế Tôn, đắc
được nhất thiết trí, thành tựu
đạo bồ đề. Vô lượng danh tự,
thảy đều khác biệt. Nơi mọi
thời, thị hiện thành Chánh Giác.
Thảy đều trụ thế, suốt thuở vị
lai. Mỗi vị Phật đều dùng pháp
giới trang nghiêm mà trang
nghiêm thân mình. Đạo tràng
chúng hội, khắp cùng pháp giới.
Tất cả cõi nước, tuỳ thời hiện
ra, mà làm Phật sự.
Bồ
Tát tu pháp hồi hướng đến tất cả
mọi nơi trong thập hồi hướng,
lại quán tưởng như vầy: Tận cùng
pháp giới khắp hư không giới,
kiếp quá khứ, kiếp vị lai, và
kiếp hiện tại, trong những kiếp
đó, mười phương chư Phật Thế Tôn
ba đời, đều chứng được hết thảy
trí huệ. Các Ngài tu hành viên
mãn, công đức đầy đủ, đã thành
tựu đạo bồ đề. Các Ngài theo
nguyện thị hiện đủ thứ thân, ở
trong vô lượng kiếp tuỳ nơi thị
hiện, cho nên có vô lượng danh
tự, mỗi danh tự đều khác nhau.
Trong mỗi thời kiếp khác nhau,
thị hiện thành Chánh Ðẳng Chánh
Giác, tức là thành Phật. Trong
những thế giới đó, thọ lâu ở
đời, giáo hoá chúng sinh. Tuổi
thọ của Phật ở đời sống lâu suốt
thuở vị lai cũng không vào Niết
Bàn. Có lúc vì ứng cơ duyên của
chúng sinh mà thị hiện vào Niết
Bàn, đó là một thứ phương tiện
khéo léo độ hoá mà thôi. Tâm bi
của Phật nặng, Ngài không thể xả
bỏ chúng sinh mà vào Niết Bàn,
kỳ thật Ngài đến một thế giới
khác để giáo hoá chúng sinh. Mỗi
một vị Phật đều dùng sự trang
nghiêm pháp giới mà trang nghiêm
thân mình. Vì thân Phật tức là
pháp giới, ví như chúng ta
thường tụng niệm: "Thanh Tịnh
Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật",
đây là pháp thân của Phật, cho
nên đầy khắp tất cả mọi nơi. Tức
cũng là dùng sự trang nghiêm của
pháp giới mà tự trang nghiêm
thân mình. Ðạo tràng của chư
Phật, trong đạo tràng cử hành
các thứ pháp hội, cũng là khắp
cùng pháp giới, đầy dẫy khắp
trong hết thảy cõi nước. Chư
Phật tại cõi nước mười phương,
tuỳ thời đều xuất hiện ra đời,
giáo hoá chúng sinh. Ở trong mỗi
cõi nước, đều bình đẳng rộng độ
chúng sinh, làm Phật sự lớn, làm
việc của Phật làm. Phật là vì
muốn giáo hoá chúng sinh, cho
nên Ngài mới tu chứng thành
Phật.
Hiện
tại chúng ta muốn thành Phật,
thì phải y theo giáo pháp của
Phật nói mà tu hành. Người học
Phật, một ngày chưa khai ngộ,
thì phải thường sinh tâm hổ
thẹn. Chúng ta phải biết từ vô
lượng kiếp đến nay, đều vì ỷ
lại, chẳng tu hành, cho nên mới
luân hồi trôi nổi sinh tử trong
sáu nẻo, thoát chẳng khỏi biển
khổ sinh tử. Ðời này chúng ta
gặp được Phật pháp, nếu chẳng
dũng mãnh tinh tấn, thì đợi
chừng nào mới chấm dứt được sinh
tử ! Cho nên chúng ta phải từng
giờ từng phút siêng tu giới định
huệ, diệt trừ tham sân si, đừng
giải đãi lười biếng, cho rằng đó
là việc tiện nghi. Kỳ thật, từ
vô thuỷ kiếp đến nay, chúng ta
vì phạm mao bệnh giải đãi lười
biếng, cho nên đến bây giờ vẫn
sinh rồi chết, chết rồi sinh,
luân hồi không ngừng. Nghĩ đến
đây, thật khiến cho người khóc
lóc rơi lệ, sinh đại hổ thẹn.
Tại sao tôi phải lười biếng ?
Tại sao tôi chẳng tinh tấn tu
hành ? Tại sao tôi chẳng dũng
mãnh dụng công ? Nếu luôn luôn
hồi quang phản chiếu như thế,
quay lại cầu nơi chính mình, tự
hỏi mình làm một Phật giáo đồ,
tôi đã có cống hiến gì cho Phật
giáo ? Nếu đã có cống hiến, thì
từ nay về sau tôi phải làm cho
tăng trưởng sự cống hiến của
tôi. Nếu chưa có cống hiến, thì
hãy mau nỗ lực, làm một đại hộ
pháp có sức lực nhất trong Phật
giáo đồ, để trợ giúp cho Phật
giáo phát triển, làm cho Phật
giáo truyền bá trên toàn thế
giới, khắp vũ trụ, cho đến khắp
hư không, trái đất, mặt trăng,
chẳng có chỗ nào mà chẳng thọ
đến ánh sáng của Phật giáo chiếu
khắp, chẳng có một nơi nào mà
chẳng nghe đến bánh xe pháp
thường lưu chuyển, đó mới là bổn
phận hộ pháp của Phật giáo đồ
chúng ta, đó mới tận một chút
trách nhiệm của chúng ta thân
làm Phật giáo đồ. Tại sao tôi
phải nói như vậy ? Vì tôi quán
sát đến sáu chúng đệ tử nầy tu
học Phật pháp, có không ít người
hy vọng khai ngộ, muốn được pháp
ích thù thắng vi diệu, khai mở
đại trí huệ. Ðây vốn chẳng phải
vọng tưởng tham cầu, đây là hy
vọng và mục đích của mỗi đệ tử
Phật phải có. Bất quá chúng ta
không thể dùng tâm tưởng, ôm ấp
hy vọng không nỗ lực, không hạ
thủ công phu, không tận bổn
phận. Ðó là đắc chẳng được, trên
thế gian chẳng có miệng không
nói lời không thì có thể đắc
được thành quả. Người muốn khai
ngộ, thì phải dũng mãnh tinh
tấn, đem chân tâm của bạn ra,
cước đạp thật địa tu hành dụng
công, vì Phật giáo mà tận trách
nhiệm, cống hiến thành tâm và
năng lực của mình, như thế thì
nhất định sẽ đạt được mục đích
của bạn, thực hiện hy vọng của
bạn. Bằng không, thì lãng phí
thời gian, chẳng có khi nào
thành tựu, bạn đừng trách Phật
Bồ Tát không tiếp dẫn bạn, vì
Phật Bồ Tát chẳng gạt người,
nhưng cũng chẳng thọ người gạt.
Hiện
tại trong xã hội có rất nhiều
đoàn thể tôn giáo khác nhau, tuy
nói tông chỉ và mục đích của
tông giáo khác nhau, nhưng cùng
đều tuyên dương thanh tịnh hoá
tâm con người, mưu cầu hoà bình
cho nhân loại, hy vọng có thể
đạt đến mục đích thế giới đại
đồng. Trong những tôn giáo nầy,
thì nghĩa lý của Phật giáo rốt
ráo nhất, sâu rộng nhất, chân
thật nhất, hơn hẳn các tôn giáo
khác. Phật giáo là tận cùng hư
không, khắp pháp giới, chẳng
những thương nhân loại, cứu nhân
loại, mà từ bi của Phật giáo phổ
cập đến tất cả sinh linh hữu
tình vô tình. Tôn giáo khác chỉ
là một bộ phận trong Phật giáo.
Nói về phương diện chiều dọc của
Phật giáo là lượng bao trần sa;
nói về phương diện chiều ngang
là ngang cùng tam tế. Lớn mà
không ngoài, nhỏ mà không ở
trong, hướng ra ngoài chạy, chạy
cũng không khỏi pháp giới, Phật
giáo ở đâu mà chẳng có. Tinh
thần của Phật giáo là tại chỗ
nầy. Phật giáo là toàn nhân
loại, chẳng phải riêng tư của
một quốc gia nào. Tuy nói Ðức
Phật Thích Ca xuất hiện tại Ấn
Ðộ, nhưng Phật giáo chẳng giới
hạn một nơi tại Ấn Ðộ, mà là
khắp pháp giới. Cho nên mỗi Phật
giáo đồ đều phải tin chắc lời
dạy của Phật, đạo lý chân thật
của Phật nói, mới là thật có thể
cứu người nơi biển khổ sinh tử,
cứu thế giới đạt đến như lý hoà
bình. Trách nhiệm nầy là quá to
tác, sâu rộng, chỉ nguyện thân
làm đệ tử của Phật, phải ôm lấy
lời dạy nghĩa lý, gánh vác trọng
trách, cùng nhau nỗ lực, cứu
mình cứu người, độ mình độ
người.
Như
vậy tôi đều đem căn lành hồi
hướng khắp, cho tất cả chư Phật
Như Lai. Nguyện đem vô số lọng
thơm. Vô số tràng thơm. Vô số
phan thơm. Vô số trướng thơm. Vô
số lưới thơm. Vô số tượng thơm.
Vô số ánh sáng thơm. Vô số lửa
ngọn thơm. Vô số mây thơm. Vô số
toà thơm. Vô số nơi kinh hành
thơm. Vô số chỗ ở thơm. Vô số
thế giới thơm. Vô số núi thơm.
Vô số biển thơm. Vô số sông
thơm. Vô số cây thơm. Vô số y
phục thơm. Vô số hoa sen thơm.
Vô số cung điện thơm.
Ðại
Bồ Tát tu hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, Ngài nói: Giống như
trong cõi nước của mười phương
ba đời chư Phật đã nói ở trước,
xuất hiện vô lượng chư Phật Như
Lai, tôi nguyện chánh tâm thành
ý đem đủ thứ căn lành của tôi tu
tập, hồi hướng đến khắp tất cả
chư Phật, cũng hồi hướng bồ đề
và tất cả chúng sinh. Tôi muốn
dùng vô số lọng báu thơm, vô số
tràng báu thơm, vô số phan báu
thơm, vô số trướng báu thơm, vô
số lưới báu thơm, vô số tượng
báu thơm, vô số ánh sáng báu
thơm, vô số lửa ngọn báu thơm,
vô số mây báu thơm, vô số toà
báu thơm, vô số nơi kinh hành
báu thơm, vô số nơi chỗ ở báu
thơm, vô số thế giới báu thơm,
vô số núi báu thơm, vô số biển
báu thơm, vô số sông báu thơm,
vô số cây báu thơm, vô số y phục
báu thơm, vô số hoa sen báu
thơm, vô số cung điện báu thơm.
Bồ Tát cúng dường phẩm vật đến
chư Phật, thảy đều là vật thượng
hạng, trân quý, vô lượng số, đây
là biểu thị tâm tôn trọng cung
kính, tâm chân thành đối với
mười phương chư Phật, và dùng đó
để trang nghiêm đạo tràng.
Vô
lượng lọng hoa, nói rộng ra cho
đến vô lượng cung điện hoa. Vô
biên lọng tràng hoa, nói rộng ra
cho đến vô biên cung điện tràng
hoa. Vô đẳng lọng hương thoa,
nói rộng ra cho đến vô đẳng cung
điện hương thoa. Bất khả số lọng
hương bột, nói rộng ra cho đến
bất khả số cung điện hương bột.
Bất khả xưng lọng y, nói rộng ra
cho đến bất khả xưng cung điện
y. Bất khả tư lọng báu, nói rộng
ra cho đến bất khả tư cung điện
báu. Bất khả lượng lọng đèn
sáng, nói rộng ra cho đến bất
khả lượng cung điện đèn sáng.
Bất khả thuyết lọng đồ trang
nghiêm, nói rộng ra cho đến bất
khả thuyết cung điện đồ trang
nghiêm. Bất khả thuyết bất khả
thuyết lọng ma ni báu, nói rộng
ra cho đến bất khả thuyết bất
khả thuyết cung điện ma ni báu.
Bồ
Tát lại dùng vô lượng hoa, làm
thành cái lọng cúng dường mười
phương ba đời chư Phật, nếu nói
tỉ mỉ, thì cho đến có vô lượng
cung điện hoa. Lại có vô biên
lọng tràng hoa, đều dùng châu
báu làm thành, nếu nói tỉ mỉ,
thì cho đến có vô biên cung điện
tràng hoa, dùng tràng hoa tạo
thành cung điện. Lại có vô đẳng
lọng hương thoa, nếu nói tỉ mỉ,
thì cho đến có vô đẳng hương
thoa tạo thành cung điện. Lại có
bất khả số lọng hương bột, nếu
nói tỉ mỉ, thì cho đến có bất
khả số vô lượng cung điện làm
bằng hương bột. Lại có bất khả
xưng lọng y, nếu nói tỉ mỉ, thì
cho đến có bất khả xưng cung
điện y. Lại có bất khả tư lọng
báu, nếu nói tỉ mỉ, thì cho đến
có bất khả tư cung điện báu. Lại
có bất khả lượng lọng đèn sáng,
nếu nói tỉ mỉ, thì cho đến cho
bất khả lượng cung điện đèn
sáng. Lại có bất khả thuyết lọng
đồ trang nghiêm, nếu nói tỉ mỉ,
thì cho đến có bất khả thuyết
cung điện đồ trang nghiêm. Lại
có bất khả thuyết bất khả thuyết
lọng ma ni báu, nếu nói tỉ mỉ,
thì cho đến có bất khả thuyết
bất khả thuyết cung điện ma ni
báu. Bồ Tát dùng vô lượng vô
biên phẩm vật trân quý, không
thể dùng tâm suy gẫm, không thể
dùng lời diễn đạt được, cúng
dường mười phương ba đời chư
Phật, và trang nghiêm đạo tràng
của Phật.
Như
vậy, phan báu ma ni. Trướng báu
ma ni. Lưới báu ma ni. Tượng báu
ma ni. Ánh sáng báu ma ni. Lửa
ngọn báu ma ni. Mây báu ma ni.
Toà báu ma ni. Nơi kinh hành báu
ma ni. Chỗ ở báu ma ni. Cõi báu
ma ni. Núi báu ma ni. Biển báu
ma ni. Sông báu ma ni. Cây báu
ma ni. Y phục báu ma ni. Hoa sen
báu ma ni. Cung điện báu ma ni,
thảy đều bất khả thuyết bất khả
thuyết.
Ma
ni: Là tổng danh của châu báu,
ánh sáng báu của nó đặc biệt
thanh tịnh sáng chói, chẳng thọ
tất cả sự cấu bẩn ô nhiễm nào.
Châu báu nầy ở tại chỗ nào, thì
nhất định sẽ tăng oai đức của
nó. Nếu bỏ vào trong nước đục,
thì nước liền trong. Còn gọi là
châu như ý, nó hay làm cho toại
tâm mong cầu, đều được mãn
nguyện. Báu vật nầy, chỉ có bậc
Thánh có đức hạnh mới hưởng thọ
được, phàm phu tâm tham chẳng
thấy được. Bất khả thuyết bất
khả thuyết là danh tự số mục của
Ấn Ðộ, là một trong những số mục
lớn.
Ở
trước có nói, bất khả thuyết bất
khả thuyết, nhiều châu báu ma ni
làm thành lọng báu. Và lại có
bất khả thuyết bất khả thuyết,
châu báu ma ni làm thành tràng
báu. Và dùng châu báu ma ni làm
phan báu. Châu báu ma ni làm
trướng báu. Châu báu ma ni làm
lưới báu. Châu báu ma ni làm
tượng Phật báu. Ánh sáng châu
báu ma ni chiếu xa mười phương
vô tận cõi nước. Ánh sáng châu
báu ma ni chiếu sáng giống như
lửa ngọn, chiếu thẳng đến Trời
Hữu Ðỉnh. Tia sáng của châu báu
ma ni như mây cát tường lơ lửng
trong hư không. Dùng châu báu ma
ni làm Phật toà. Dùng châu báu
ma ni nghiêm sức mặt đất đi kinh
hành. Dùng
châu báu ma ni nghiêm sức chỗ ở.
Cõi nước báu ma ni. Núi báu ma
ni. Biển báu ma ni. Sông báu ma
ni. Cây báu ma ni. Châu báu ma
ni làm thành y phục báu. Hoa sen
báu ma ni. Châu báu ma ni trang
nghiêm cung điện. Ðủ thứ ở trên,
dùng châu báu ma ni làm vật
nghiêm sức, chẳng có thứ nào mà
chẳng phải là vô lượng vô biên,
không thể dùng lời lẽ để hình
dung được.
Như
vậy trong mỗi mỗi các cảnh giới,
thảy đều có vô số lan can. Vô số
cung điện. Vô số lầu các. Vô số
cửa lớn. Vô số hình bán nguyệt.
Vô số cửa sổ. Vô số báu thanh
tịnh. Vô số đồ trang nghiêm.
Dùng các thứ vật cúng dường như
vậy, cung kính cúng dường chư
Phật Thế Tôn như ở trên đã nói.
Trong
mỗi cảnh giới như Kinh văn nói ở
trước, đều có vô số lan can bảy
báu, lan can hiển hiện. Vô số
cung điện báu hiển hiện. Vô số
lầu các hiển hiện. Vô số cửa lớn
hiển hiện. Vô số cửa sổ hình bán
nguyệt hiển hiện. Vô số cửa sổ
hiển hiện. Vô số bảy báu thanh
tịnh hiển hiện. Vô số đồ trang
nghiêm và đồ cúng đạo tràng hiển
hiện. Bồ Tát dùng những đồ vật
cúng dường bảy báu trân quý, làm
cung điện, chỗ ở .v.v…cung kính
cúng dường mười phương ba đời
chư Phật Thế Tôn như ở trên đã
nói.
Nguyện
khiến cho tất cả thế gian, đều
được thanh tịnh. Tất cả chúng
sinh, đều được thoát khỏi. Trụ
nơi bậc thập lực. Ở trong tất cả
pháp, đắc được pháp minh vô
ngại. Khiến cho tất cả chúng
sinh, đầy đủ căn lành, đều được
điều phục. Tâm họ vô lượng, đồng
cõi hư không. Đến tất cả các
cõi, mà chẳng chỗ đến. Vào tất
cả các cõi, bố thí các pháp
lành. Thường được thấy Phật,
trồng các căn lành. Thành tựu
đại thừa, chẳng chấp các pháp.
Đầy đủ các thiện nghiệp, lập vô
lượng hạnh. Vào khắp vô biên tất
cả pháp giới. Thành tựu sức thần
thông của chư Phật. Đắc được trí
huệ nhất thiết trí của Như Lai.
Vị
đại Bồ Tát tu pháp hồi hướng đến
tất cả mọi nơi, Ngài lại phát
nguyện, nói: Tôi nguyện nương
sức đại oai thần của mười phương
chư Phật, khiến cho tất cả thế
gian đều đắc được thanh tịnh.
Nguyện hết thảy chúng sinh, đều
vĩnh viễn lìa khỏi đường ác, và
khổ luân hồi trong sáu nẻo, mà
trụ nơi bậc thập lực, trụ nơi
Phật địa, vĩnh viễn chẳng thọ
thống khổ luân hồi. Lại hy vọng
tất cả chúng sinh có thể tu học
chánh pháp, thấu rõ thông đạt
chư Phật. Ðối với các pháp hiểu
biết như thật, đắc được trí huệ
quang minh viên dung vô ngại.
Chẳng riêng mình đắc được căn
lành lớn, mà cũng khiến cho tất
cả chúng sinh đầy đủ căn lành,
hết thảy tập khí không tốt,
phiền não vô minh, đều điều phục
nhu hoà, diệt trừ sạch hết,
khiến cho tâm họ như hư không,
thanh tịnh trong sáng. Tuy nhiên
Bồ Tát thường thường lai vãng
trong mười phương cõi nước,
nhưng chẳng động thân, chẳng có
dấu vết đến đi. Ðó tức là tâm
của Bồ Tát đồng hư không, tu
hành công hạnh vô lượng. Bồ Tát
thường vào các cõi nước khác,
chẳng phải Ngài đi quán sát du
hành, mà là ứng cơ phó duyên đi
đến đó độ chúng sinh, bố thí đủ
thứ pháp lành, giáo hoá chúng
sinh tu tập tất cả pháp lành. Bồ
Tát từ bi làm đầu, độ khắp chúng
sinh, cho nên Ngài luôn luôn
thấy Phật, cúng dường Tam Bảo,
gần gũi Tam Bảo, gieo trồng đủ
thứ căn lành trước Tam Bảo, tu
hành đạo Bồ Tát, thành tựu công
đức đại thừa, viên mãn tu tập
hạnh môn đại thừa. Bồ Tát thành
tựu thù thắng như vậy, nhưng
Ngài đối với các pháp, chẳng có
chút chấp trước nào. Bồ Tát đầy
đủ tất cả các nghiệp lành, kiến
lập được vô lượng công đức, vào
khắp vô biên hết thảy pháp giới,
thành tựu sức thần thông như chư
Phật, cũng đắc được đại trí huệ
nhất thiết trí giống như Phật.
Ví
như không có cái ta, nhiếp khắp
các pháp. Cũng lại như vậy, các
căn lành của tôi, nhiếp khắp tất
cả chư Phật Như Lai, vì thảy đều
cúng dường chẳng có thừa sót.
Nhiếp khắp tất cả vô lượng các
pháp, vì đều có thể ngộ nhập
không chướng ngại. Nhiếp khắp
tất cả các chúng Bồ Tát, vì rốt
ráo đều đồng với căn lành. Nhiếp
khắp tất cả các hạnh Bồ Tát, vì
nguyện lực xưa đều viên mãn.
Nhiếp khắp tất cả Bồ Tát pháp
minh, vì thấu rõ thông đạt các
pháp đều vô ngại. Nhiếp khắp sức
đại thần thông của chư Phật, vì
thành tựu vô lượng các căn lành.
Nhiếp khắp sức vô sở uý của chư
Phật, vì phát tâm vô lượng viên
mãn tất cả. Nhiếp khắp tam muội
biện tài môn Đà la ni của Bồ
Tát, vì khéo chiếu rõ pháp không
hai. Nhiếp khắp phương tiện khéo
léo của chư Phật, vì thị hiện
sức đại thần thông của Như Lai.
Nhiếp khắp sự hàng sinh, thành
đạo, chuyển bánh xe pháp, điều
phục chúng sinh, vào Niết Bàn,
của tất cả chư Phật ba đời, vì
cung kính cúng dường thảy đều
khắp cùng. Nhiếp khắp mười
phương tất cả thế giới, vì
nghiêm tịnh cõi Phật đều rốt
ráo. Nhiếp khắp tất cả các kiếp
rộng lớn, vì ở trong đó xuất
hiện tu hạnh Bồ Tát không đoạn
tuyệt.
Ðại
Bồ Tát tu thập hồi hướng đến tất
cả mọi nơi, Ngài thành tựu đại
thừa, chẳng chấp các pháp cùng
với đắc được trí nhất thiết trí
của Như Lai, là vì Ngài có thể
nhiếp khắp, nhiếp khắp hết thảy.
Ví như nói không có cái ta, pháp
không có ngã, và nhiếp thọ khắp
đủ thứ pháp. Căn lành tu tập,
cũng không cái ta nhiếp pháp
tướng, như đồng nhiếp thọ các
pháp vậy. Căn lành của tôi cũng
nhiếp khắp tướng căn lành của
chư Phật. Hạnh môn của chư Phật
tu, tôi cũng tu. Công đức của
Phật thực hành, tôi cũng thực
hành. Tôi nhiếp thọ khắp chư
Phật, đều cúng dường đến mỗi vị
Phật, chưa từng bỏ sót một vị
Phật nào không cúng dường, quyết
không sinh ra tình hình dư thừa
và không đủ. Tôi lại nhiếp trì
khắp đủ thứ vô lượng các pháp,
đối với các pháp nghĩa lý chân
thật, tôi cũng hoàn toàn ngộ
nhập, hoàn toàn minh bạch mà
thực hành, chẳng có chút chướng
ngại nào. Bồ Tát chẳng những
nhiếp thọ căn lành của chư Phật
và thật nghĩa của các pháp, mà
Ngài cũng nhiếp thọ khắp tất cả
Bồ Tát hành Bồ Tát đạo, Bồ Tát
tu hạnh Bồ Tát, những gì các
Ngài tu hành trong mười phương
thế giới, đều cùng rốt ráo, các
Ngài tích tập căn lành, cũng
giống nhau. Căn lành của các Bồ
Tát gieo trồng, Ngài cũng trồng
những căn lành đó. Căn lành của
các Bồ Tát tu, Ngài cũng tu
những căn lành đó. Tâm bồ đề mà
các Bồ Tát ban đầu phát tâm,
tăng trưởng đủ thứ căn lành,
Ngài ban đầu cũng phát tâm bồ
đề, để tăng trưởng các căn lành.
Ngài lại nhiếp thọ khắp hạnh môn
tu hành của các Bồ Tát trong
mười phương thế giới. Ðại Bồ Tát
tu pháp hồi hướng đến tất cả mọi
nơi, dùng sức lực nguyện lớn mà
trước kia Ngài đã phát, khiến
cho các Bồ Tát và nguyện của
chính Ngài đã phát, đều được
viên mãn, cũng viên mãn đắc được
như mười lực của Phật. Ngài lại
nhiếp thọ khắp diệu pháp của các
Bồ Tát tu trong mười phương thế
giới, và trí huệ quang minh
thanh tịnh của các Ngài chứng
được. Bồ Tát vì đắc được trí huệ
quang minh của tất cả các pháp,
cho nên Ngài thấu đạt được các
pháp, ngộ sâu thật tướng các
pháp, triệt để thông đạt vô
ngại, diệu dụng viên dung. Lại
nhiếp thọ khắp sức đại oai đức
đại thần thông của mười phương
chư Phật, cũng thành tựu được
sức đại oai đức thần thông đó.
Bồ Tát dùng phương tiện khéo
léo, giáo hoá tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh
thành tựu căn lành của các Ngài.
Lại nhiếp thọ khắp mười lực và
bốn vô sở uý của chư Phật, phát
bốn tâm vô lượng của Phật:
1.
Tâm từ vô lượng.
2.
Tâm bi vô lượng.
3.
Tâm hỉ vô lượng.
4.
Tâm xả vô lượng.
Làm
mãn nguyện tất cả chúng sinh.
Lại nhiếp khắp tam muội và bốn
trí vô ngại của các Bồ Tát trong
mười phương thế giới. Bốn biện
tài vô ngại là:
1.
Pháp vô ngại biện tài.
2.
Từ vô ngại biện tài.
3.
Nghĩa vô ngại biện tài.
4.
Nhạo thuyết vô ngại biện tài.
Bốn
biện tài vô ngại, tức là bốn trí
vô ngại. Ðà la ni là tiếng Phạn,
dịch là "tổng trì". Tổng tất cả
pháp, trì vô lượng nghĩa. Bồ Tát
tu hồi hướng đến tất cả mọi nơi,
Ngài nhiếp thọ khắp tam muội,
biện tài, Đà la ni của các Bồ
Tát, Ngài đều chiếu rõ, quán
chiếu được các pháp, thông đạt
các pháp, đều là pháp môn không
hai, đệ nhất nghĩa đế. Lại nhiếp
thọ khắp pháp phương tiện khéo
léo đầy đủ của chư Phật, giáo
hoá chúng sinh, mà còn có thể
thị hiện sức đại thần thông
giống như Phật. Lại nhiếp thọ
khắp mỗi vị Phật trong ba đời,
từ cung trời Ðâu Suất hàng sinh
xuống nhân gian, quá trình tám
tướng thành đạo. Như nhập thai,
trụ thai, xuất thai, thành đạo,
chuyển pháp luân, điều phục
chúng sinh, cho đến vào Niết
Bàn. Và còn cung kính cúng dường
mười phương ba đời chư Phật, mỗi
cõi nước, đều có một vị Phật,
Ngài thảy đều cúng dường khắp.
Lại nhiếp thọ khắp tất cả thế
giới trong mười phương, khiến
cho mỗi cõi nước, mỗi cõi Phật,
đều nhờ căn lành công đức của
Ngài mà trở thành cõi nước thanh
tịnh, cõi Phật trang nghiêm,
chẳng có một cảnh giới nào mà
chẳng đạt đến rốt ráo. Lại nhiếp
thọ khắp tất cả kiếp rộng lớn.
Vị đại Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng nầy, Ngài ở trong mỗi kiếp
đều xuất hiện ra đời, tu hạnh Bồ
Tát, hành Bồ Tát đạo, lợi ích
chúng sinh, cứu độ chúng sinh,
giáo hoá chúng sinh, những Phật
sự đó vĩnh viễn chẳng đoạn
tuyệt. Hai mươi câu nhiếp thọ
khắp ở trên, là phân biệt nói rõ
nguyện vọng của vị Bồ Tát nầy,
dùng nhiếp khắp căn lành hồi
hướng, về phương diện lý sự,
thảy đều chu toàn, thành tựu đức
hạnh tự lợi của Bồ Tát, về sau
lợi ích chúng sinh.
Nhiếp
khắp tất cả hết thảy mọi loài,
vì thị hiện thọ sinh trong đó.
Nhiếp khắp tất cả các cõi chúng
sinh, vì đầy đủ hạnh của Bồ Tát
Phổ Hiền. Nhiếp khắp tất cả các
hoặc tập khí, vì đều dùng phương
tiện khiến cho thanh tịnh. Nhiếp
khắp tất cả các căn chúng sinh,
vì vô lượng khác biệt đều biết
rõ. Nhiếp khắp tất cả sự hiểu
biết và mong muốn của chúng
sinh, vì khiến cho lìa tạp nhiễm
đắc được thanh tịnh. Nhiếp khắp
tất cả hạnh giáo hoá chúng sinh,
vì tuỳ theo sự độ được mà hiện
thân. Nhiếp khắp tất cả nẻo
chúng sinh, vì đều vào tất cả
cõi chúng sinh. Nhiếp khắp tất
cả trí tánh của Như Lai, vì hộ
trì giáo lý của tất cả chư Phật.
Ðoạn
Kinh văn ở trước, là nói đại Bồ
Tát tu pháp hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, Ngài nhiếp trì khắp căn
lành của mười phương chư Phật,
nhiếp khắp thật nghĩa các pháp
của chư Phật nói, nhiếp khắp
pháp môn của các vị Bồ Tát trong
các thế giới, mà đắc đại trí huệ
thanh tịnh quang minh, cùng với
đại oai đức, sức đại thần thông
của chư Phật. Hiện tại đặc biệt
biểu dương Bồ Tát là từ bi làm
đầu, tình thần vĩ đại bình đẳng
hộ niệm chúng sinh. Bồ Tát chẳng
những nhiếp khắp ưu điểm của chư
Phật và của các Bồ Tát, và thật
tướng của các pháp, Ngài cũng
đến khắp trong bốn nẻo ác của
chúng sinh, đến sáu nẻo luân hồi
thị hiện đủ thứ thân hình chúng
sinh, thọ sinh các loại chúng
sinh, nhiếp thọ các loại chúng
sinh, giáo hoá các loại chúng
sinh, khiến cho họ thoát khỏi
sáu nẻo. Lại nhiếp thọ khắp tất
cả chúng sinh, khiến cho những
chúng sinh đó đều đầy đủ hạnh Bồ
Tát như Bồ Tát Phổ Hiền tu, tu
Mười Đại Nguyện Vương của Bồ Tát
Phổ Hiền. Lại nhiếp trì khắp tất
cả các hoặc, như hoặc thô, hoặc
vi tế, hoặc trần sa, hoặc thấy
(kiến hoặc), hoặc nghĩ (tư
hoặc), hoặc vô minh .v.v...
Khiến cho các hoặc tập khí của
chúng sinh đều đắc được thanh
tịnh. Lại nhiếp trì các căn của
tất cả chúng sinh, căn tánh của
chúng sinh, thảy đều khác nhau,
Bồ Tát đều thấu hiểu được, có
ngàn sai vạn biệt, Bồ Tát còn
rất minh bạch các căn thú hướng
của chúng sinh. Lại nhiếp trì
khắp sự hiểu biết, sự mong cầu
của tất cả chúng sinh. Nếu sự
hiểu biết là tà tri tà kiến, sự
mong cầu là tạp nhiễm, ô trược,
thì giáo hoá họ lìa khỏi sự hiểu
biết và mong cầu chẳng chánh
đáng, mà đắc được bản thể thanh
tịnh. Lại nhiếp trì khắp tất cả
hạnh môn giáo hoá chúng sinh tu
hành, tuỳ theo sự tương ưng với
chúng sinh, mà vì họ hiện thân
nói pháp. Lại nhiếp khắp tất cả
sự tương ưng khế hợp với chúng
sinh. Chánh đạo của Phật nói,
dùng thần thông biến hoá phương
tiện khéo léo, vào sâu trong các
loại chúng sinh, đồng loại tương
nhiếp, phương tiện giáo hoá. Lại
nhiếp thọ trí tánh của chư Phật
mười phương ba đời, tức là trí
huệ thành tựu của chư Phật, Bồ
Tát dùng trí huệ nhiếp thọ, để
hộ trì giáo pháp của chư Phật
nói. Ðoạn Kinh nầy, là hiển rõ
pháp hồi hướng đến tất cả mọi
nơi của đại Bồ Tát tu, thành tựu
công hạnh lợi tha.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát đem các căn
lành hồi hướng như vậy, thì dùng
không chỗ đắc được, mà làm
phương tiện. Không ở trong
nghiệp phân biệt quả báo, chẳng
ở trong quả báo mà phân biệt
nghiệp.
Các
vị đệ tử của Phật ! Khi đại Bồ
Tát tu pháp hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, đem đủ thứ căn lành của
Ngài tu, như phương pháp hồi
hướng như Kinh văn ở trước có
nói, thì Ngài ôm hoài bảo chẳng
chỗ đắc được, tất cả công hạnh
đều không. Tuy quy về không chỗ
đắc được, mà hay viên mãn bồ đề;
Chẳng chấp nơi ý tự tại phương
tiện mà trái với nghĩa lý chân
thật. Bồ Tát Ngài chẳng coi
trọng về tạo nghiệp gì, thọ quả
báo gì; chẳng dùng tâm nghĩ về
mặt này, vì Ngài biết đạo lý:
"Tuỳ duyên tiêu nghiệp cũ
Thôi đừng tạo nghiệp mới".
Tuy
nhiên Ngài biết đạo lý nầy,
nhưng Ngài chẳng ở trong nghiệp,
mà phân biệt có quả báo gì, càng
chẳng chấp trước, ở trong quả
báo thọ, phân biệt Ngài tạo
nghiệp gì, thọ quả báo gì. Bồ
Tát đối với sự thọ khổ, Ngài
nhận rằng là hết khổ, thọ báo là
hết báo, cho nên Bồ Tát thì sợ
nhân chẳng sợ quả. Ngược lại,
chúng sinh thì sợ quả, mà chẳng
biết đạo lý sợ nhân. Khi Bồ Tát
tại nhân địa, thì lúc nào cũng
cẩn thận coi chừng, quyết không
tạo các nghiệp ác, nếu không coi
chừng thì tương lai thọ ác báo.
Cho nên chúng ta mỗi người, mỗi
sự việc phải cẩn thận ở lúc ban
đầu, thì nhất định sẽ không thọ
quả báo ác. Nếu đáng thọ quả báo
thiện, thì Bồ Tát cũng thọ tự
nhiên, vui an lạc.
Tuy
không phân biệt mà vào khắp pháp
giới. Tuy chẳng chỗ làm mà luôn
trụ nơi căn lành. Tuy chẳng chỗ
sinh khởi mà siêng tu pháp thù
thắng. Chẳng tin các pháp mà vào
sâu được. Chẳng có nơi pháp mà
đều thấy biết. Hoặc làm không
làm, đều không thể đắc được.
Biết các pháp tánh, luôn chẳng
tự tại.
Ðại
Bồ Tát tu hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, tuy nhiên Ngài đối với
nghiệp và báo chẳng chấp trước,
chẳng ở nơi đó phí tâm suy nghĩ,
nhưng hành vi của Ngài tự nhiên
tạo thành đủ thứ nghiệp thiện,
vì Bồ Tát đã lìa khỏi tất cả các
nghiệp ác. Bất tất phải lưu ý,
thuận theo tâm từ bi của Ngài,
vào khắp pháp giới, giáo hoá tất
cả chúng sinh thọ khổ. Tuy Bồ
Tát sớm đã biết các pháp đều
không, thực hành mà chưa từng
thực hành, làm mà không làm.
Không làm mà làm, làm mà chưa
từng làm, Ngài vẫn luôn luôn tu
đủ thứ nghiệp lành, chưa từng
quên tài bồi căn lành, tu tích
tập phước huệ, do đó:
"Tài bồi mảnh đất trong tâm,
Hàm dưỡng bầu trời bản tánh".
Ðó
tức là một biểu hiện luôn trụ
nơi căn lành. Bồ Tát thấu hiểu
pháp tánh vốn không, biết nghiệp
chẳng có thật thể. Nếu nghiệp có
thật thể, thì đừng nói nghiệp
của mọi người đầy dẫy hư không,
mà dù nghiệp thật thể của một
người, có thể tận cùng cõi hư
không, cũng không dung thọ hết
được. Nghiệp tánh vốn không,
không hình không tướng, hư không
vẫn là hư không, nghiệp chướng
của chúng sinh vẫn là nghiệp
chướng của mỗi người. Tuy chẳng
chỗ khởi: Bản thể của tất cả các
pháp, là tính vắng lặng, không
sinh không khởi. Trong Tâm Kinh
có nói: "Không sinh không diệt,
không dơ không sạch, không tăng
không giảm", đó tức là nói bản
thể của pháp. Tuy nói như vậy,
nhưng Bồ Tát chưa từng vì đó mà
phóng dật, Ngài vẫn siêng tu
Thánh pháp, tinh tấn dũng mãnh
tu học đủ thứ pháp thù thắng.
Tuy biết nghiệp tánh vốn không,
Ngài vẫn tuỳ thời chú ý tạo các
nghiệp thiện. Chẳng tin các
pháp: Ở đây chẳng phải nói, Bồ
Tát đã biết pháp tánh là không,
thì không tin tất cả các pháp,
mà là nói Bồ Tát biết các pháp
không, chẳng chấp trước nơi pháp
không, vẫn vào sâu được các pháp
thật tướng, đó là cảnh giới của
Bồ Tát. Chúng sinh thì trước hết
phải tin, do đó Phật pháp như
biển, phải tin mới độ được.
Chúng sinh thì phải tin, mới có
thể vào sâu tạng Kinh, trí huệ
như biển. Bồ Tát thì đã nhập vào
dòng Thánh, nên chẳng còn sự tin
câu thúc, cũng chẳng còn luận
đàm không tin bậy bạ. Cho nên
nói tuy Bồ Tát chẳng tin các
pháp, mà vẫn vào sâu tất cả các
pháp, trong tâm của Ngài cũng
chẳng còn tâm chấp pháp tướng,
nhưng Ngài quyết định biết thật
tướng lý thể của tất cả các
pháp, cũng thấy tướng vắng lặng
của tất cả các pháp. Chẳng có
nơi pháp, mà đều thấy biết. Vô
luận là có, hoặc chẳng có, đều
biết được thấy được. Hoặc làm
chẳng làm, đều không thể đắc
được: Chẳng màng bạn làm, hoặc
không làm, đều là không, chẳng
có chỗ được. Tại sao phải nói
như vậy ? Vì tất cả pháp tánh,
nó luôn luôn chẳng tồn tại, là
không. Bồ Tát biết pháp tánh của
pháp, luôn chẳng tự tại.
Tuy
đều thấy các pháp, mà chẳng chỗ
thấy. Biết khắp tất cả mà không
chỗ biết. Bồ Tát thấu rõ thông
đạt cảnh giới như vậy. Biết tất
cả pháp nhân duyên làm gốc.
Bồ
Tát vào sâu tạng Kinh, trí huệ
như biển, thấu đạt các pháp
không tướng, đối với đạo lý sinh
diệt của các pháp do chư Phật
xiển dương, đều biết đều thấy,
nhưng Bồ Tát chẳng chấp trước
vào chỗ Ngài biết, chỗ Ngài
thấy, mà là không chẳng chỗ
thấy. Bồ Tát Ngài biết khắp tất
cả các pháp, nhưng Ngài chẳng
chỗ biết. Ðó là biết mà chẳng
biết, thấy mà chẳng thấy, dùng
đại định bất động để chiếu rõ
tất cả, chỉ có Bồ Tát mới chẳng
có tơ hào chấp trước như thế, mà
còn thấu đạt tất cả cảnh giới.
Vì Bồ Tát biết tất cả pháp, đều
từ nhân duyên sinh ra. Nhân
duyên tức là gốc rễ sinh ra
pháp, là không hình không tướng.
"Nhân duyên sinh ra pháp
Ta nói tức là không
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa trung đạo".
Và nữa:
"Chưa từng có một pháp
Chẳng từ nhân duyên sinh
Thế nên tất cả pháp
Ðâu chẳng phải là không".
Và nữa:
"Các pháp từ duyên sinh,
Các pháp từ duyên diệt.
Phật ta đại Sa Môn,
Thường hay nói như vậy".
Ðó
tức là đại trí Xá Lợi Phất, đại
Mục Kiền Liên hai vị tôn giả tìm
cầu nhiều năm, cơ duyên đến, gặp
được Tỳ Kheo Mã Thắng nói với
các Ngài như vậy. Hai vị tôn giả
lập tức đi đến gặp Ðức Phật, và
quy y với Phật, sau đó chứng
được quả A La Hán. Hai bài kệ
đầu nói nhân duyên sinh khởi của
pháp rất rõ ràng, tức cũng là
đại biểu nghĩa lý trọng yếu của
Phật giáo, đặt điểm riêng của
các tôn giáo khác.
Thấy
pháp thân của tất cả chư Phật,
đến tất cả pháp lìa nhiễm thật
tế. Hiểu rõ thế gian, đều như
biến hoá. Thấu đạt chúng sinh,
chỉ là một pháp, chẳng có hai
tánh. Chẳng xả nghiệp cảnh,
phương tiện khéo léo. Nơi cõi
hữu vi, thị hiện pháp vô vi, mà
chẳng diệt hoại tướng hữu vi.
Nơi cõi vô vi, thị hiện pháp hữu
vi, mà chẳng phân biệt tướng vô
vi.
Vì Bồ Tát thấu rõ đạo lý các
pháp nhân duyên sinh ra, cho nên
Ngài thấy được pháp thân của
mười phương chư Phật. Ngài lìa
khỏi tất cả nhiễm ô, nên đạt đến
cảnh giới rốt ráo của pháp. Công
hạnh của Bồ Tát tu hành biết lìa
tất cả tướng, tức tất cả pháp.
Lìa khỏi tướng nghiễm ô của thế
gian, tức là pháp chân thật tế.
Bồ Tát thấu hiểu tất cả sự vật
trên thế gian, đều như huyễn như
hoá, phàm là những vật có hình,
có tướng, đều là vô thường; phàm
là có sự sinh diệt, đều là hư
vọng. Bồ Tát thấu rõ thông đạt,
lìa khỏi lý thì chẳng có sự để
nói, biết chúng sinh vốn cũng có
Phật tánh giống như Phật, chúng
sinh cũng đều do pháp vô vi sinh
ra. Pháp vô vi là không hình,
không tướng, vĩnh hằng, Phật
tánh cũng là vĩnh hằng, chẳng
biến đổi. Do đó chúng sinh chỉ
có một pháp, chẳng có hai tánh.
Cho nên không cần xả lìa cảnh
giới nghiệp và báo, mà đến giáo
hoá tất cả chúng sinh, dùng
phương pháp phương tiện khéo
léo, tuỳ thuận cơ duyên, thích
hợp với cảnh giới nghiệp báo của
chúng sinh, phân rõ nhân duyên
sự lý, mà đối diện với hiện thật
giáo hoá chúng sinh. Như đó, Bồ
Tát ở tại cảnh giới pháp hữu vi,
thị hiện diệu dụng của pháp vô
vi, mà chẳng vì diệu dụng của
pháp vô vi, mà tổn diệt phá hoại
tướng pháp hữu vi. Tướng pháp
hữu vi đó vẫn tồn tại, nơi cảnh
giới vô vi, trong pháp giới vô
sở vi mà vi, chẳng vi mà vi, thị
hiện pháp hữu vi. Ngài cũng
chẳng phân biệt chấp trước tướng
vô vi. Pháp hữu vi là pháp thế
gian có hình, có tướng, là vô
thường, trái với chân lý, đó là
thế tục đế. Pháp vô vi là pháp
xuất thế, thanh tịnh, chân thật,
không hình không tướng, vĩnh
hằng không biến đổi, tức là đệ
nhất nghĩa đế. Lìa khỏi pháp thế
gian, thì chẳng có Phật pháp,
thường nói Phật pháp chẳng lìa
pháp thế gian. Là vì pháp hữu vi
thế gian, mới hiển bày diệu dụng
của pháp xuất thế gian, chân đế.
Lìa khỏi pháp vô vi, Phật pháp,
thì thế giới chẳng có quang
minh, chẳng có chân lý, chúng
sinh giống như chìm trong vựt
sâu đáy biển.
Bồ
Tát quán tất cả pháp rốt ráo
vắng lặng như vậy. Thành tựu tất
cả căn lành thanh tịnh, mà khởi
tâm cứu hộ chúng sinh. Trí huệ
thấu rõ thông đạt tất cả biển
pháp. Thường thích tu hành lìa
pháp ngu si. Đã đầy đủ thành tựu
công đức xuất thế. Càng chẳng tu
học pháp thế gian. Đắc được mắt
trí huệ, lìa các màng ngu si.
Dùng phương tiện khéo léo, tu
đạo hồi hướng.
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng đến tất
cả mọi nơi, Ngài căn cứ vào Kinh
văn đã nói ở trước, cho nên Ngài
quán sát các pháp thật tướng,
biết tướng các pháp rốt ráo vắng
lặng, là không sinh không diệt,
vắng lặng chẳng động. Do đó, mới
thành tựu căn lành thanh tịnh
của Bồ Tát. Có căn lành thanh
tịnh rồi, thì trí huệ sẽ tăng
trưởng, phát tâm bồ đề, đại bi
làm đầu, phát nguyện cứu hộ tất
cả chúng sinh. Phật pháp rộng
lớn như biển cả, Bồ Tát có đại
trí huệ như biển cả, cho nên
Ngài thấu rõ thông đạt pháp lớn
như biển cả, vào sâu cảnh giới
rốt ráo của pháp. Bồ Tát vì cứu
hộ tất cả chúng sinh, luôn luôn
ưa thích tu hành, vì tu hành mới
có thể lìa khỏi ngu si ngã mạn,
đủ thứ chướng ngại, tăng trưởng
trí huệ thanh tịnh. Bồ Tát đã
viên mãn đầy đủ thành tựu căn
lành công đức xuất thế. Càng
chẳng tham trước tất cả pháp
điên đảo thế gian, pháp nhiễm ô
chẳng thanh tịnh. Ðắc được mắt
trí huệ thanh tịnh, lìa khỏi tất
cả ngu si, giống như quét trừ
màng mao bệnh trong con mắt.
Dùng phương pháp phương tiện
khéo léo, tu trì pháp môn hồi
hướng.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát đem các căn lành
hồi hướng như vậy. Làm vừa lòng
tất cả chư Phật. Nghiêm tịnh tất
cả cõi nước chư Phật. Giáo hoá
thành tựu tất cả chúng sinh. Thọ
trì đầy đủ tất cả Phật pháp. Làm
ruộng phước tối thượng của tất
cả chúng sinh. Làm Đạo Sư trí
huệ của tất cả thương nhân. Làm
mặt trời thanh tịnh của tất cả
thế gian. Mỗi mỗi căn lành đầy
khắp pháp giới. Thảy đều cứu hộ
tất cả chúng sinh, đều khiến cho
họ thanh tịnh đầy đủ công đức.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát tu pháp hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, đem đủ thứ căn lành của
Ngài tu tập, hồi hướng như vậy,
hồi hướng cho pháp giới chúng
sinh, hồi hướng vô thượng bồ đề,
hồi hướng chân như thật tế. Bồ
Tát hồi hướng như vậy, lời lẽ
đều phù hợp với tâm ý của chư
Phật. Bồ Tát lại nguyện đem căn
lành của Ngài hồi hướng đến chư
Phật, trang nghiêm mười phương
cõi nước chư Phật, thanh tịnh
mười phương cõi nước chư Phật.
Bồ Tát đem căn lành công đức của
Ngài lợi ích chúng sinh, giáo
hoá chúng sinh, và còn khiến cho
chúng sinh đều thành tựu đạo
nghiệp. Bồ Tát thọ trì pháp của
mười phương chư Phật nói, viên
mãn đầy đủ, chẳng có thừa sót.
Bồ Tát đã tu đến cảnh giới chẳng
chỗ đắc được, cho nên Ngài xứng
đáng được gọi là ruộng phước tốt
nhất của chúng sinh. Lại có thể
làm đại Đạo Sư có trí huệ của
các thương nhân tìm cầu bảy báu.
Lại có thể làm mặt trời trong
sáng của thế gian, giống như mặt
trời chiếu sáng hư không. Bồ Tát
mỗi một thứ căn lành, đều đầy
dẫy mười phương pháp giới. Mỗi
một thứ căn lành, đều có công
năng cứu hộ tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh đều
đắc được trí huệ thanh tịnh, đầy
đủ công đức, viên mãn thành tựu
Phật quả.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát hồi hướng
như vậy, thì hộ trì được tất cả
hạt giống Phật. Thành thục được
tất cả chúng sinh. Trang nghiêm
thanh tịnh được tất cả cõi nước.
Chẳng hoại tất cả các nghiệp.
Biết rõ được tất cả các pháp.
Bình đẳng quán sát được các pháp
không hai. Hay đến khắp mười
phương thế giới. Thấu đạt được
lìa dục thật tế. Thành tựu được
tin hiểu thanh tịnh. Các căn
lanh lợi đầy đủ.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát tu pháp hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, khi Ngài làm phương
pháp hồi hướng giống như Kinh
văn nói ở trước, thì sẽ có những
công dụng gì ? Có những lợi ích
gì ? Bồ Tát Kim Cang Tràng nói:
Hiện tại tôi có thể quy về để
nói, đại khái có mười thứ thành
tựu.
1.
Lợi ích của sự hồi hướng hộ trì
được tất cả hạt giống Phật. Hộ
trì nghĩa là bảo hộ giữ gìn, bảo
hộ hạt giống thành Phật, giữ gìn
huệ mạng của Phật, chẳng khiến
cho đoạn tuyệt. Gì là hạt giống
thành Phật ? Người tu hành đạo
thù thắng, mới có thế kế thừa
huệ mạng của Phật.
2.
Bồ Tát đem căn lành của mình tu
tập, hồi hướng cho pháp giới
chúng sinh, khiến cho họ đắc
được lợi ích của sự hồi hướng,
căn lành tăng trưởng, phát tâm
bồ đề, tu tập pháp lành, căn
lành công đức, sớm được thành
thục, viên mãn bồ đề quả Phật.
3.
Sức công đức của Bồ Tát hồi
hướng, có thể trang nghiêm cõi
nước chư Phật trong mười phương,
lại có thể khiến cho cõi nước
chư Phật trong mười phương càng
thanh tịnh.
4.
Lại chẳng hoại tất cả các
nghiệp, tức là chẳng hoại nghiệp
lành của tất cả chúng sinh, mà
còn khiến cho tăng trưởng. Tất
cả nghiệp ác, liền bị tiêu diệt,
không còn sót.
5.
Phật pháp sâu rộng như biển cả,
chẳng có bờ mé, nhưng Bồ Tát đã
tu chứng được trí huệ thù thắng,
cho nên ngộ được thật tướng chân
đế của các pháp. Tại sao phàm
phu chẳng dễ gì minh bạch các
pháp, tiếp thọ đạo lý các pháp ?
Vì tâm trí của người bình thường
bị năm dục che đậy, chẳng có trí
huệ thanh tịnh. Trí huệ là do sự
thanh tâm quả dục trong thiền
định sinh ra.
6.
Bồ Tát vì tu pháp môn hồi hướng,
ý cảnh thanh tịnh, tâm lượng
rộng lớn, cho nên thông đạt các
pháp, mà chẳng chấp vào các
pháp, hay bình đẳng quán sát các
pháp. Trong Kinh Kim Cang có
nói:
"Là pháp bình đẳng
Chẳng có cao thấp".
Hai
chữ bình đẳng, chẳng những nói
tất cả pháp bình đẳng không hai,
mà còn bao hàm có ý nghĩa nhân
từ trong đó. Bình đẳng là thể
của thật tánh, hay bình đẳng
quán sát các pháp, thì hay tu
pháp lành, phát huy diệu dụng
của các pháp. Bồ Tát tu pháp môn
hồi hướng, Ngài tâm bi tha
thiết, tâm từ bình đẳng, quan
tâm đến tất cả chúng sinh, đó
tức là nguyên nhân Ngài hay bình
đẳng quán sát các pháp không
hai.
7.
Bồ Tát lại có thể đến khắp mười
phương thế giới, mục đích Ngài
đến mười phương thế giới, là
giáo hoá chúng sinh. Ngài chẳng
thiên về thích thế giới tốt,
hoặc Ngài đặc biệt hoan hỉ chúng
sinh thế giới đó, mà là đến khắp
mười phương thế giới, tuỳ thuận
tuỳ duyên, phổ độ chúng sinh.
8.
Bồ Tát vì tu pháp môn hồi hướng,
đắc được lợi ích thù thắng, tỏ
ngộ minh bạch phương pháp thật
tế của các pháp, tức là phải lìa
khỏi dục niệm. Nếu như chẳng lìa
dục, tham ái chấp trước năm dục,
thì vĩnh viễn không thể minh
bạch đạo lý chân thật của các
pháp. Tại sao chúng sinh không
thể thành tựu đạo nghiệp, chứng
được Phật quả ? Vì bị dục niệm
trói buộc, điên điên đảo đảo,
khởi hoặc, tạo nghiệp, vĩnh viễn
ở trong luân hồi. Nếu đoạn dục
khử ái, nhất là phải đoạn tuyệt
ý niệm dâm dục, tu phạm hạnh
thanh tịnh, thì sẽ đạt đến cảnh
giới thật tế của các pháp. Lúc
nầy, càng phải chú ý: Dục đã
đoạn tuyệt, phải tiến lên một
bước nữa, quét trừ sự chấp trước
đoạn dục, đó mới là chân chánh
đã đoạn được dục. Còn nếu trong
tâm bạn còn tồn tại: "Tôi đã lìa
dục, tôi là A La Hán lìa dục,
tôi đã thấy được thật tế của
pháp, tôi đã khai ngộ", như thế,
chẳng những có thể chứng minh
người đó chưa có đoạn dục, sợ
rằng họ vẫn còn bị dục ràng buộc
! Người thật đã lìa dục, thì
chẳng chấp vào tư tưởng lìa dục.
Tâm cảnh của họ sáng không, đã
chẳng còn cái gọi là dục tồn tại
nữa. Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng nầy, thấu đạt được phương
pháp lìa dục, chẳng chấp, chẳng
nương tựa, thấy được cảnh giới
thật tế của các pháp.
Các
vị ! Tại sao phải lìa dục ? Vì,
sở dĩ mà Phật chứng được quả
Phật diệu giác, là vì Phật chẳng
còn dục nữa. Người nghĩ muốn
học, thì thứ nhất là phải học
cách lìa dục của Phật, lìa tất
cả tham dục của thế gian. Hết
thảy Tam Tạng Kinh điển mười hai
bộ, bất cứ nói bao nhiêu, đều
kêu người lìa dục. Chẳng màng bộ
Kinh nào, cũng đều nói như thế.
Cho nên lần nầy giảng Kinh, nhất
định phải nhấn mạnh về chữ dục,
vì chữ dục nầy, nó có thể diễn
biến ra vô lượng vô biên hậu quả
không thể tưởng tượng được, lớn
thì thành Phật quả, nhỏ thì được
thân tâm an lạc, đều từ chữ dục
nầy mà biến chuyển. Thành Phật
hay đoạ lạc, đều là nhân tố của
nó. Lìa khỏi chữ dục nầy, thì
không thể nói Kinh điển. Các vị
đừng xem thường mao bệnh nhỏ
nầy, bất cứ là người tại gia,
xuất gia, đệ tử Phật, chẳng phải
đệ tử Phật, đều chẳng dễ gì trừ
đi mao bệnh nhỏ nầy. Nếu có thể
trừ nó đi được, thì bất cứ người
nào cũng đều có thể chứng quả A
La Hán, chứng được Phật quả. A
la hán tức là đã lìa dục. Trong
pháp hội Kim Cang Ngài Tu Bồ Ðề
nói với Ðức Phật: "Ðức Thế Tôn !
Ngài nói con là A La Hán lìa dục
bậc nhất, nhưng con chẳng nghĩ
đến pháp nầy, con cũng chẳng tự
khen mình là A La Hán lìa dục,
là bậc nhất trong mọi người. Nếu
con nghĩ như thế, thì con còn
chấp vào tướng đó". Không thể
lìa khỏi tướng đó, mà còn tự cho
rằng, thì đó là sai lầm.
9.
Bồ Tát lại vì tu pháp môn hồi
hướng nầy, mà thành tựu tin hiểu
thanh tịnh. Ðem công đức của
Ngài hồi hướng, đắc được tâm tin
chân chánh, thanh tịnh, chỉ một
không tạp nhiễm, từ đó chẳng còn
sự tin hiểu không thanh tịnh
nữa, các ma ngoại đạo cũng không
thể giao động Ngài được nữa. Tin
hiểu thanh tịnh, trên thì khế
hợp với chư Phật.
10.
Bồ Tát tu pháp môn hồi hướng
nầy, hay khiến cho họ đắc được
các căn đầy đủ và lanh lợi. Các
căn là chỉ sáu căn của con
người: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý. Ðầy đủ sáu căn, tức là sáu
căn đều hoàn toàn, không thể
chẳng có mắt, hoặc chẳng nghe
tiếng. Có lỗ mũi mà chẳng ngửi
được mùi thơm, hôi. Có lưỡi mà
chẳng nếm được mùi vị. Có thân
thể mà chẳng sinh cảm giác. Có
căn ý mà không thể duyên pháp,
đó đều là sáu căn chẳng đầy đủ.
Các căn đầy đủ lanh lợi, tức là
sáu căn viên mãn không thiếu
khuyết, mà lại còn lanh lợi. Như
mắt thì nhìn thấy được rõ ràng.
Tai thì nghe tiếng rõ ràng, do
đó gọi là tai thính mắt sáng.
Mủi ngửi rõ được mùi. Lưỡi phân
biệt được năm vị rõ ràng. Cảm
giác của thân cũng nhạy bén. Ý
duyên pháp cũng duyên được rõ
ràng chánh quyết, đó tức là biểu
hiện của sự lanh lợi. Bồ Tát tu
pháp hồi hướng nầy, đắc được các
căn đầy đủ viên mãn, và có sự
lợi ích công năng lanh lợi của
nó. Ở trên là sự thành tựu pháp
hồi hướng của Bồ Tát tu.
Phật
tử ! Đó là hồi hướng thứ tư đến
tất cả mọi nơi của đại Bồ Tát.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ở trên vừa
nói là trình độ và cảnh giới hồi
hướng thứ tư đến tất cả mọi nơi
trong thập hồi hướng của đại Bồ
Tát.
Các
vị ! Chúng ta đã nghe qua đoạn
Kinh văn nầy, phải học vị Bồ Tát
nầy, cước đạp thật địa, dụng
công tu hành. Chẳng phải nghe
rồi thì đã qua, là hoàn tất việc
một lần nghe Kinh. Nghe rồi
nhưng chẳng thực hành, thì cũng
giống như chưa nghe. Nghe Kinh
nghe pháp, là cho chúng ta một
cái đèn sáng chỉ đường, nhờ ánh
sáng của đèn mà chiếu rõ đại đạo
chúng ta đi, thì phải chiếu theo
con đường hướng về trước mà tu
hành. Giả như bạn đã biết con
đường nầy mà chẳng đi, thì cuối
cùng không thể đạt đến mục đích
của bạn được. Giả sử bạn hy vọng
muốn đạt đến nơi bạn muốn đi,
thì phải ý giáo phụng hành, theo
pháp tu hành, chân thật dũng
mãnh tinh tấn tu hành.
Khi
đại Bồ Tát trụ nơi hồi hướng
nầy, thì đắc được thân nghiệp
đến tất cả mọi nơi, vì hay ứng
hiện khắp tất cả thế giới. Đắc
được lời nghiệp đến tất cả mọi
nơi, vì diễn nói pháp trong tất
cả thế giới. Đắc được ý nghiệp
đến tất cả mọi nơi, vì thọ trì
tất cả pháp của Phật nói. Đắc
được thần túc thông đến tất cả
mọi nơi, vì tuỳ tâm chúng sinh,
thảy đều ứng hiện đến. Đắc được
tuỳ chứng trí đến tất cả mọi
nơi, vì khắp thấu rõ thông đạt
tất cả các pháp. Đắc được tổng
trì biện tài đến tất cả mọi nơi,
vì tuỳ tâm chúng sinh khiến cho
họ hoan hỉ.
Vị
đại Bồ Tát tu pháp hồi hướng đến
tất cả mọi nơi, khi Ngài tu hành
pháp môn nầy, thì đây chẳng phải
nói Ngài trụ trong hồi hướng bất
động, đình chỉ. Cũng có thể nói
Ngài một lòng chuyên chú pháp
môn nầy, tâm chẳng sinh ý niệm
khác. Trong Kinh thường gọi là
"đại" Bồ Tát. "Ðại" ý nghĩa là
lớn, là chỉ cho đại Bồ Tát. Chữ
đại đây, là phân biệt vị đại Bồ
Tát nầy chẳng phải là Bồ Tát mới
(sơ) phát tâm, Ngài đã từng phát
tâm đại bồ đề, tu hành đã trải
qua bao nhiêu kiếp, có trí huệ
tối thượng, đại bi làm đầu, tâm
từ phổ độ chúng sinh, khó thực
hành mà hành được, khó xả bỏ mà
xả được, khó nhẫn mà nhẫn được,
khắp hành Bồ Tát đạo, Bồ Tát như
vậy được gọi là đại Bồ Tát. Nếu
phàm phu phát tâm lớn tu học
hạnh Bồ Tát, đối với mọi người
từ bi hay nhẫn, hay nhường, chịu
bố thí cúng dường, cung kính Tam
Bảo, tinh tấn học đạo, người như
vậy bất luận là người tại gia,
hay xuất gia, cũng được gọi là
Bồ Tát, đây gọi là Bồ Tát phàm
phu. Nếu đời đời kiếp kiếp phát
tâm tu hành, cũng sẽ trở thành
đại Bồ Tát, tiến đến viên mãn
đạt được quả Phật. Ðại Bồ Tát mà
ở đây nói, là vì Ngài tu pháp
hồi hướng nầy, là đắc được đại
dụng của ba nghiệp. Tuy nhiên
Ngài chưa chứng được quả Phật,
nhưng Ngài đã có hoá thân trăm
ngàn ức, giống như Bồ Tát Quán
Thế Âm:
"Ngàn chỗ sở cầu ngàn nơi ứng
Thường làm thuyền độ người qua
biển khổ".
Vị
Bồ Tát nầy Ngài cũng đắc được
thân nghiệp, tuỳ ứng thân đến
tất cả mọi nơi, bất luận thế
giới nào, đều tuỳ duyên ứng
hiện, giáo hoá chúng sinh. Ðây
tức là Bồ Tát tu pháp hồi hướng
đến tất cả mọi nơi, đắc được lợi
ích diệu dụng của thân nghiệp.
Ngài
lại đắc được lợi ích nghiệp lời
nói đến tất cả mọi nơi. Bồ Tát
hay ở trong tất cả thế giới diễn
nói Phật pháp, khắp ba ngàn đại
thiên thế giới, hết thảy tất cả
chúng sinh ở nơi nào, đều có thể
nghe được Bồ Tát nói Phật pháp.
Bất cứ xa bao nhiêu, hết thảy
chúng sinh có duyên, đều nghe
được rất rõ ràng, giống như
Phật.
"Phật dùng một âm diễn nói pháp,
Chúng sinh theo loài đều hiểu
được".
Vì
Bồ Tát Ngài tu đắc được lợi ích
nghiệp lời nói, cho nên chúng
sinh mỗi thế giới, đều nghe được
âm thanh của Ngài nói pháp, mỗi
loại chúng sinh đều nghe hiểu
pháp của Ngài nói, mà còn cảm
thấy Bồ Tát đang ở đó nói pháp
cho họ nghe ! Ðây tức là chỗ Bồ
Tát đắc được, thần thông diệu
dụng về phương diện nghiệp lời
nói, cho nên nói hay ở trong tất
cả thế giới diễn nói pháp vậy.
Bồ
Tát tại ý nghiệp, cũng đắc được
đến tất cả mọi nơi, thọ trì pháp
của chư Phật nói. Ngài có thể
đến trong tâm chúng sinh nói
pháp, vào khắp tất cả thân chúng
sinh, mà vì chúng sinh để hồi
hướng, khiến cho tất cả chúng
sinh từ từ cải ác hướng thiện,
phát tâm bồ đề. Giống như chúng
ta mỗi người phát tâm bồ đề,
ngày càng tăng trưởng, tinh tấn
thật tâm tu hành, đây tức là ý
nghiệp của Bồ Tát, đến ở trong ý
niệm của chúng ta. Tâm bồ đề của
chúng ta mới càng ngày càng lớn
dần, mới có thể thọ trì tất cả
Phật pháp, ấn sâu ở trong ruộng
tám thức, vĩnh viễn chẳng quên.
Ghi nhớ Kinh điển, thông đạt
nghĩa lý Phật pháp, thuộc lòng
Ðà la ni. Chúng ta có thể thân
thọ tâm trì, tức là được trợ
giúp của Bồ Tát ý nghiệp, đó tức
là diệu dụng của Bồ Tát đắc được
về phương diện ý nghiệp. Ðó cũng
là Bồ Tát tu pháp hồi hướng đến
tất cả mọi nơi, thành tựu về
phương diện ý nghiệp, cho nên
Ngài mới có thể thọ trì tất cả
pháp của Phật nói, tự lợi mà còn
lợi ích chúng sinh. Ở trên là
nói về Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng đến tất cả mọi nơi, đắc
được thể của ba nghiệp.
Bồ
Tát Ngài lại đắc được thần túc
thông đến tất cả mọi nơi, tận hư
không khắp pháp giới, không vào
mà chẳng tự được vậy. Ngài
nguyện đi đến đâu thì đi đến đó,
dù xa bao nhiêu Ngài cũng không
cần đi máy bay, chỉ một sát na
thì đến được. Ðây gọi là thần
túc thông, thần tốc rất nhanh,
chẳng bị bất cứ chướng ngại gì.
Tuỳ theo tâm niệm của chúng
sinh, quán sát chỗ đắc được,
liền đến đó hiện ra một ứng hoá
thân, giáo hoá chúng sinh, mãn
tâm nguyện của chúng sinh. Bồ
Tát do vì tu pháp hồi hướng nầy,
mà đắc được tuỳ chứng trí đến
tất cả mọi nơi. Trí huệ nầy hay
khiến cho người dù gặp khó khăn
gì, chẳng màng là việc phức tạp
như thế nào, liền lập tức minh
bạch giải quyết được khó khăn,
mà thuận lý thành công viên mãn.
Chẳng những minh bạch cảnh giới
phát sinh, mà còn minh bạch đạo
lý tất cả pháp là từ duyên sinh,
từ duyên diệt. Bồ Tát làm thế
nào mà minh bạch ? Là vì Ngài
đắc được tuỳ chứng trí. Trí huệ
nầy chẳng chướng ngại, cho nên
đối với bất cứ việc gì, cảnh
giới gì, đều giải quyết rất
nhanh chóng. Giống như dùng đao
bén chém cây, lập tức liền đứt.
Dùng đao bén là dụ cho tuỳ chứng
trí. Tuỳ chứng trí tức là trí
huệ thấy việc thì tỉnh việc. Cổ
Ðức thường nói:
"Thấy việc tỉnh việc vượt thế
gian,
Thấy việc mê việc đoạ trầm
luân".
Bậc
Thánh nhân được gọi là "Thấy
việc tỉnh việc vượt thế gian".
Người bình thường vì chẳng có
tuỳ chứng trí, cho nên thấy việc
thì hồ đồ, chẳng biết xử lý như
thế nào, y cứ theo chấp cái ta,
thấy lệch lạc, làm việc một cách
điên đảo, nên hậu quả không thể
tưởng tượng được. Người biện sự
thì nghênh nhận mà giải. Bồ Tát
đắc được tuỳ chứng trí, thấu
hiểu thật tướng của các pháp,
hành sự thông đạt vô ngại.
Bồ
Tát lại đắc được tổng trì biện
tài đến tất cả mọi nơi, hay tuỳ
thuận tâm nguyện của chúng sinh,
khiến cho chúng sinh đều hoan
hỉ. Tổng trì, tức tiếng Phạn là
Ðà la ni. Tổng tất cả pháp, trì
vô lượng nghĩa. Trì điều thiện
chẳng làm cho tán mất, trì điều
ác đừng làm cho phát sinh. Biện
tài, tức bốn vô ngại biện, còn
gọi là bốn trí vô ngại. Tức là:
Pháp vô ngại biện, nghĩa vô ngại
biện, từ vô ngại biện, nhạo
thuyết vô ngại biện. Bồ Tát vì
tu pháp hồi hướng đến tất cả mọi
nơi, đắc được vô ngại biện tài
về tổng trì. Do đó, Bồ Tát tuỳ
nơi giáo hoá chúng sinh, tuỳ
thuận căn tánh của chúng sinh.
Tuỳ tâm hoan hỉ của chúng sinh,
tiếp dẫn chúng sinh, khiến cho
chúng sinh đều toại tâm mãn
nguyện, cát tường như ý, đều đại
hoan hỉ. Tâm tánh của chúng sinh
thảy đều khác nhau, ví như ăn
thức ăn, đều có sở thích của mỗi
người. Ngài đều khiến cho chúng
sinh vừa ý, chẳng làm cho chúng
sinh thất vọng. Bồ Tát thật tâm
từ bi, vì làm vừa lòng chúng
sinh, thậm chí Ngài vào địa ngục
thay thế chúng sinh thọ khổ, đều
không có câu oán trách nào. Ngài
hy vọng thấy chúng sinh hoan hỉ,
chứ chẳng muốn thấy chúng sinh
sầu khổ. Người học Phật, phải
học tập theo Bồ Tát, luôn luôn
nhớ khiến cho người hoan hỉ,
đừng có vì mình tốt xấu mà nghĩ
đến. Học đạo Bồ Tát, tu hạnh Bồ
Tát, là lợi người, chẳng phải
lợi mình, phải lấy chúng sinh
làm tiền đề. Việc có lợi cho
chúng sinh, thì nên dũng mãnh mà
làm. Bồ Tát chưa từng suy nghĩ
có lợi, hay không có lợi đối với
mình. Bồ Tát thì ngu si như thế.
Ở trên là diệu dụng ba nghiệp
đắc được của Bồ Tát tu pháp hồi
hướng đến tất cả mọi nơi.
Đắc
được vào cảnh giới đến tất cả
mọi nơi, vì trong một lỗ lông
vào khắp tất cả thế giới. Đắc
được vào khắp thân đến tất cả
mọi nơi, vì nơi một thân chúng
sinh, vào khắp tất cả thân chúng
sinh. Đắc được thấy khắp các
kiếp đến tất cả mọi nơi, vì
trong mỗi mỗi kiếp thường thấy
tất cả các Như Lai. Đắc được
thấy khắp ý niệm đến tất cả mọi
nơi, vì trong mỗi một niệm tất
cả chư Phật đều hiện tiền.
Vì
Bồ Tát tu pháp hồi hướng đến tất
cả mọi nơi, lại đắc được công
dụng đến tất cả mọi nơi, vào sâu
mười pháp giới, có thể ở trong
một lỗ chân lông, vào khắp tất
cả thế giới. Pháp giới có thể
phân làm mười loại pháp giới:
Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh
Văn, đây gọi là bốn pháp giới
của bậc Thánh. Trời, người, A tu
la, đây gọi là pháp giới thiện.
Súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, đây
gọi là ba pháp giới ác. Có khi
cũng gọi là Phật đạo, Bồ Tát
đạo, Thanh Văn Duyên Giác đạo,
thiện đạo, ác đạo. A tu la nhiều
là do tâm sân quá nặng, kiêu
mạn, đa nghi, dẫn đến nguyên
nhân sinh vào đường nầy, chúng
rất thích đấu tranh, nam A tu la
thì xấu xí, còn nữ A tu la thì
xinh đẹp. Trong loài người, xúc
sinh và ngạ quỷ, phàm là những
người nào thích đấu tranh, nóng
giận, kiêu ngạo, đa nghi, đều có
thể liệt vào loài A tu la, chúng
có phước trời mà chẳng có đức
trời, cho nên vẫn cho là thiện
đạo. Do Bồ Tát tu pháp hồi hướng
đến tất cả mọi nơi, cho nên rất
tự do đến khắp mười pháp giới,
gặp Phật nghe pháp, phổ độ chúng
sinh. Thần diệu nhất là Ngài ở
trong một lỗ chân lông vào khắp
tất cả thế giới, đây chẳng phải
là huyễn thuật, mà là công phu
tu hành của Bồ Tát, mới có cảnh
giới như vậy. Ðó gọi là cảnh
giới: "Viên dung vô ngại", hay ở
trong nhỏ mà hiện lớn, trong lớn
hiện nhỏ, lớn nhỏ vô ngại, sự lý
vô ngại, tự tha vô ngại, tất cả
tất cả đều viên dung vô ngại.
Cho nên mới nói "Trong một lỗ
lông vào khắp tất cả thế giới".
Lỗ lông tuy nhỏ, mà mười phương
thế giới ở trong đó, cũng chẳng
cảm thấy chật hẹp. Mười phương
thế giới tuy lớn, mà dung nạp ở
trong đó, cũng chẳng cảm thấy
thế giới lớn thế nào. Lại đắc
được công dụng đến tất cả mọi
nơi, vào khắp tất cả thân chúng
sinh, mà còn có thể ở trong một
thân chúng sinh, vào khắp tất cả
thân chúng sinh. Bồ Tát một thân
vào tất cả thân chúng sinh, tất
cả thân chúng sinh cũng chẳng
lìa khỏi một thân Bồ Tát, đó là
cảnh giới tự tha vô ngại. Bồ Tát
lại đắc được đến tất cả mọi nơi,
thấy khắp tất cả kiếp ba đời, ở
trong mỗi kiếp, lại luôn luôn
thấy được mười phương ba đời chư
Phật xuất hiện ra đời, và Ðức
Phật chuyển bánh xe pháp, độ tất
cả chúng sinh, cuối cùng thị
hiện cảnh giới vào Niết Bàn, tám
tướng thành đạo, chẳng có một
cảnh giới nào mà chẳng nhìn
thấy, đó là trí vô ngại về thời
gian. Bồ Tát lại đắc được niệm
thấy khắp đến tất cả mọi nơi, ở
trong mỗi một niệm, tất cả chư
Phật đều hiển hiện ra ở trước
mặt Ngài. Vi tế nhất của con
người là một niệm, ở trong một
niệm nghĩ gì, thường thường mình
đều chẳng biết, nhưng Bồ Tát tu
pháp hồi hướng đến tất cả mọi
nơi, Ngài chẳng những biết niệm
của mình, mà còn biết khắp niệm
của tất cả chúng sinh. Ở trong
mỗi niệm, niệm trước, niệm sau,
niệm hiện tại, trong niệm niệm
mười phương ba đời chư Phật đều
hiện ở trước Ngài, cho nên Bồ
Tát luôn luôn thấy được chư
Phật. Ðoạn Kinh văn nầy, là nói
về đại Bồ Tát tu pháp hồi hướng
đến tất cả mọi nơi, Ngài ở trong
công dụng của ba nghiệp, đắc
được lợi ích nhậm vận tự tại,
cảnh giới tự lợi lợi tha viên
dung vô ngại.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát đắc được hồi
hướng đến tất cả mọi nơi, hay
đem căn lành hồi hướng như vậy.
Các
vị đệ tử của Phật ! Tu hồi hướng
thứ tư nầy, hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, hay đem đủ thứ căn lành
của Ngài tu tập, như trong Kinh
văn đã nói, hồi hướng đến mười
phương ba đời tất cả chư Phật,
hồi hướng đến khắp pháp giới
chúng sinh, hồi hướng vì bồ đề
giác đạo, hồi hướng vì chân như
thật tế.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tràng,
nương oai lực của đức Phật, quán
sát khắp mười phương, mà nói kệ
rằng:
Trong ngoài tất cả các thế giới
Bồ Tát thảy đều chẳng chấp trước
Chẳng bỏ nghiệp lợi ích chúng
sinh
Đại Sĩ tu hành trí như vậy.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng diễn nói xong
hồi hướng thứ tư, pháp hồi hướng
đến tất cả mọi nơi, thì lúc đó,
Ngài nương đại oai thần lực của
mười phương chư Phật, Tỳ Lô Giá
Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật,
và chư Phật Thế Tôn, quán sát
khắp nhân duyên của chúng sinh
trong mười phương thế giới, với
sự phản ứng của các vị Bồ Tát
trong pháp hội, sau đó lại dùng
kệ thuật lại nghĩa lý quan trọng
trường hàng ở trên, để tiện lợi
cho tất cả chúng sinh đời sau,
bao quát chúng ta hiện nay, dễ
dàng minh bạch.
Bồ
Tát tu pháp hồi hướng đến tất cả
mọi nơi nầy, thì có thể đến khắp
trong ngoài tất cả thế giới. Ở
trong là thân tâm, ở ngoài là
các thế giới. Tận cùng hư không
khắp pháp giới, Bồ Tát mặt đối
với cảnh giới rộng lớn như thế,
ở trong không thân tâm, ở ngoài
không thế giới. Vì Bồ Tát gì
cũng đều chẳng chấp trước, tức
chẳng chấp trước nơi thân tâm
của Ngài, càng chẳng chấp trước
nơi cảnh giới của tất cả thế
giới. Tuy chẳng chấp trước,
nhưng Ngài không lúc nào quên
chúng sinh. Vì lợi ích chúng
sinh, mà Ngài tinh tấn tu hành,
từ bi tu huệ, chẳng xả bỏ nghiệp
lành tu hành lợi ích chúng sinh.
Sự tu hành, sự truy cầu của Bồ
Tát, là làm thế nào khiến cho
chúng sinh đắc được lợi ích,
dùng trí huệ phương pháp gì
phương tiện khéo léo để giáo hoá
chúng sinh.
Mười phương hết thảy các cõi
nước
Tất cả chẳng nương chẳng chỗ trụ
Chẳng chấp mạng sống các pháp
thảy
Cũng chẳng vọng khởi các phân
biệt.
Trong
hết thảy vô lượng vô số các cõi
nước mười phương thế giới, Bồ
Tát đều chẳng nương tựa luyến
ái, cũng chẳng nhàm chán cõi
nước nào, cũng chẳng nhất định
trụ vĩnh viễn trong một cõi nước
nào. Ngài đi đến khắp mỗi cõi
Phật trong mười phương, nhưng
chẳng chấp trước nơi của mình
có, Bồ Tát chẳng tham danh văn
lợi dưỡng, càng chẳng tu năm
pháp tà mạng không chánh đáng,
dùng làm thủ đoạn mạng sống. Năm
pháp tà mạng là người xuất gia,
dùng một phương pháp chẳng chánh
đáng, khéo gạt tiền tài của
người khác để sinh sống.
Năm pháp tà mạng:
1. Trá hiện tướng lạ.
2. Tự nói công đức.
3. Chiêm tướng cát hung.
4. Lớn tiếng hiện oai.
5. Nói sự được lợi làm động tâm
người.
Bồ Tát cũng chẳng tuỳ tiện động
vọng niệm, hoặc đối với người
sinh tâm phân biệt, hoặc đối với
sự việc sinh biên kiến. Bồ Tát
tu pháp môn hồi hướng đến tất cả
mọi nơi, cho nên quyết chẳng
chấp trước chỗ nương tựa, thủ
lấy pháp tà mạng sống, và vọng
khởi tâm niệm phân biệt.
Nhiếp khắp trong mười phương thế
giới
Tất cả chúng sinh chẳng dư thừa
Quán thể tánh họ chẳng chỗ có
Khéo hồi hướng đến tất cả chỗ.
Bồ
Tát độ chúng sinh, chẳng có tâm
phân biệt thân sơ, thiện ác, tốt
xấu, chẳng có quan niệm thương
ghét, mà là nhiếp trí khắp tất
cả chúng sinh trong mười phương
thế giới, quan niệm bình đẳng.
Trong tâm của Ngài chẳng có tư
tưởng: "Chúng sinh nầy chẳng
phải thân hữu của ta, để đó sẽ
độ về sau; chúng sinh kia là kẻ
ác, hoặc đã từng đối với ta
chẳng thân thiện, từ từ sẽ độ
sau; hoặc chúng sinh nọ nhìn
chẳng thuận mắt, quá xấu xí,
chẳng độ; hoặc quá nghèo, chẳng
cúng dường cho ta, cũng không
độ". Bồ Tát chẳng có tâm tốt xấu
ích kỷ như thế, Ngài nhiếp trì
khắp tất cả chúng sinh, chẳng xả
bỏ một chúng sinh nào mà chẳng
độ. Tại sao Bồ Tát phải hành Bồ
Tát đạo ? Là vì muốn lợi ích tất
cả chúng sinh, muốn giáo hoá tất
cả chúng sinh, hy vọng mỗi chúng
sinh đều thành tựu Phật đạo, cho
nên nói chẳng dư thừa, một cũng
khiến cho chẳng xót thừa lại. Bồ
Tát quán sát mỗi chúng sinh đều
có Phật tánh, chẳng có một thể
tánh nào khác biệt. Bồ Tát khéo
tu pháp hồi hướng đến tất cả mọi
nơi, là muốn đem căn lành công
đức của Ngài tu tập hồi hướng
cho chúng sinh, khiến cho chúng
sinh sớm thành Phật đạo. Nhưng
Ngài chẳng vì vậy mà chấp trước
vào công đức Ngài hồi hướng cho
chúng sinh, Bồ Tát chẳng có sự
chấp trước như thế. Trong pháp
hội Kim Cang, Phật có nói với
Ngài Tu Bồ Ðề và đại chúng rằng:
"Ta diệt độ tất cả chúng sinh,
diệt độ tất cả chúng sinh rồi,
mà chẳng có một chúng sinh nào
thật diệt độ". Tức là nói chẳng
chấp tướng, rộng độ chúng sinh
mà chẳng chấp vào công đức của
mình.
Khắp nhiếp pháp hữu vi vô vi
Chẳng ở trong đó khởi vọng niệm
Như nơi pháp thế gian cũng thế
Đèn sáng soi đời giác như vậy.
Các
đại Bồ Tát phát tâm tu hạnh Bồ
Tát, các Ngài chẳng phải chỉ tu
một thứ pháp môn, chẳng giống
như một số phàm phu, nhất định
lựa chọn pháp môn hợp với mình
để tu tập. Bồ Tát Ngài đã thấu
hiểu đạo lý thật tướng của các
pháp, cho nên Ngài khắp nhiếp
thọ tất cả các pháp. Ngài chẳng
phân biệt pháp hữu vi, pháp thế
gian, hữu lậu, và pháp xuất thế
gian, pháp vô vi, vô lậu. Ngài
thông đạt các pháp, biết Phật
pháp chẳng lìa pháp thế gian.
Ngài chẳng ở trong pháp hữu vi
và pháp vô vi sinh ra những tâm
hoài nghi, vọng niệm phân biệt.
Ngài nhìn pháp thế gian, cũng
coi trọng tương đương. Nếu một
người đối với chánh pháp thế
gian, thập thiện, đều chẳng làm
được viên mãn, thì có thể tu
pháp vô vi xuất thế chăng ?
Thường nói:
"Chưa thành Phật đạo,
Trước thành nhân đạo".
Nhân
đạo tức là pháp hữu vi thế gian.
Bồ Tát đối với pháp hữu vi thế
gian cũng xem như nhau. Ngài xem
chánh pháp thập thiện, nhân đạo.
Ðèn sáng soi đời, là nói ánh
sáng đèn lớn giống như Phật,
chiếu khắp thế gian, phá tan đêm
tối của thế gian, trở thành thế
gian ánh sáng. Bồ Tát Kim Cang
Tràng nói: Phật cũng từ trong
đạo lý đó mà giác ngộ.
Các hạnh nghiệp của Bồ Tát tu
Phẩm thượng trung hạ đều khác
biệt
Đều đem căn lành mà hồi hướng
Mười phương tất cả các Như Lai.
Vị
Bồ Tát nầy tu pháp hồi hướng đến
tất cả mọi nơi, đủ thứ hạnh
nghiệp của Ngài tu, tức là tất
cả công đức lành. Công đức lành
đó là công đức thập thiện, có
thượng trung hạ ba phẩm khác
nhau. Nếu tu thập thiện lớn, thì
thành tựu thập thiện công đức
thượng phẩm. Tu trung phẩm thập
thiện, thì thành tựu thập thiện
công đức trung phẩm. Tu thập
thiện nhỏ, thì thành tựu thập
thiện công đức hạ phẩm. Do đó
mỗi người phải tuỳ thời cẩn thận
lời nói hành động, một khi không
cẩn thận, thì sẽ trồng xuống
nhân ác. Niệm niệm đều thiện,
thì trồng xuống nhân thiện. Ðừng
cho rằng việc thiện nhỏ mà không
làm, tích tập vô lượng việc
thiện nhỏ, cũng sẽ thành công
đức lớn. Bồ Tát đem căn lành
công đức của Ngài tu được, hoàn
toàn hồi hướng cho tất cả chúng
sinh, hồi hướng về mười phương
tất cả chúng sinh, và hồi hướng
về cho mười phương chư Phật Thế
Tôn. Trong tâm của Bồ Tát, chẳng
lúc nào quên làm lợi ích chúng
sinh, chẳng lúc nào quên tôn
kính chư Phật.
Bồ Tát hồi hướng đến bờ kia
Theo Như Lai học đều thành tựu
Luôn dùng diệu trí khéo tư duy
Đầy đủ pháp tối thắng trong
người.
Bồ
Tát tu pháp môn hồi hướng nầy,
là vì độ tất cả chúng sinh, hy
vọng pháp giới chúng sinh đắc
được lợi ích của Ngài, cùng được
giải thoát đến bờ bên kia. Ngài
thường theo chư Phật tu học Phật
pháp thượng diệu, đều đắc được
thành tựu, đem công hạnh thành
tựu giáo hoá chúng sinh, khiến
cho chúng sinh cũng biết học tập
Phật pháp, cũng đắc được sự
thành tựu. Bồ Tát luôn luôn khéo
dùng trí huệ thù diệu của Ngài
tu tập được, chánh niệm tư duy
các pháp thật tướng và sự tu
hành lục độ vạn hạnh, có phù hợp
với ý của chư Phật hay không. Bồ
Tát siêng tu các hạnh như vậy,
đầy đủ diệu pháp thù thắng trong
loài người, và công đức viên
mãn.
Thanh tịnh căn lành khắp hồi
hướng
Lợi ích quần mê luôn chẳng bỏ
Đều khiến tất cả các chúng sinh
Được thành đèn soi đời vô
thượng.
Gì
là thanh tịnh căn lành ? Tức là
tu pháp thế gian thành tựu căn
lành, thuần tịnh chẳng có chút
căn lành tạp nhiễp nào. Tất cả
pháp thế gian, tức khiến cho làm
đến chí thiện chí mỹ, đều chẳng
có chút nhiễm ô nào. Người tu
hành muốn được đến quả Phật,
phải trải qua thời gian ba đại A
tăng kỳ kiếp, vẫn phải đời đời
kiếp kiếp tu học chẳng gián
đoạn, mới có thể đoạn sạch được
sự nhiễm ô, tập khí, và vô minh,
mới có thể thành tựu viên mãn
Phật quả thanh tịnh. Bồ Tát tu
pháp hồi hướng, Ngài đã tu hành
trải qua không biết bao nhiêu
kiếp, cho nên Ngài đã thành tựu
căn lành thanh tịnh. Ngài đem
căn lành thanh tịnh mà Ngài đã
tu thành tựu, khắp vì tất cả
chúng sinh mà hồi hướng. Quần
mê, tức là danh từ khác của
chúng sinh, tất cả chúng sinh
đều mê mà chẳng giác, mê hoặc
điên điên đảo đảo, chẳng phân
biệt được trắng đen, thị phi
chẳng rõ. Chẳng phải số ít như
vậy, mà là vô lượng số, cho nên
nói là quần mê. Bồ Tát đại từ
đại bi, một lòng nghĩ đến chúng
sinh, thấy chúng sinh mê lầm
không giác, điên đảo trầm luân
như vậy, cho nên Ngài luôn luôn
chẳng xả bỏ những chúng sinh đó,
đem căn lành hồi hướng cho họ,
giáo hoá họ, khiến cho vô lượng
số những chúng sinh đó, đều biết
"bể khổ mênh mông, quay đầu là
bờ". Ðều có thể chấm dứt sinh
tử, xa lìa luân hồi, đến được bờ
Niết Bàn bên kia. Càng muốn
khiến cho chúng sinh thành tựu
đạo nghiệp vô thượng, tương lai
chứng quả Phật bồ đề, ánh sáng
trí huệ chiếu sáng khắp thế
gian, giống như đèn sáng soi
đời, phá tan đen tối của thế
gian.
Chưa từng phân biệt chấp chúng
sinh
Cũng chẳng vọng tưởng nghĩ các
pháp
Tuy tại thế gian chẳng nhiễm
trước
Cũng lại không bỏ các hàm thức.
Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp hồi
hướng, Ngài dùng mắt từ nhìn
chúng sinh, tâm bình đẳng giáo
hoá, chẳng có tâm phân biệt,
chẳng có lựa chọn. Chẳng phải
nói chúng sinh nầy, lạy tôi một
cái thì tôi hoan hỉ họ, giáo hoá
họ. Chúng sinh kia chẳng có lạy
tôi, thì chẳng lý tới họ, chẳng
giáo hoá họ. Phàm là chúng sinh
có duyên, Ngài đều hoan hỉ tiếp
dẫn, đều giáo hoá, chẳng có sinh
tâm phân biệt, cũng chẳng thủ
trước tướng chúng sinh. Bồ Tát
đối với các pháp, chưa từng hoài
nghi, Ngài dùng diệu trí của
mình để quán sát các pháp, chánh
niệm suy gẫm tất cả các pháp,
dùng chánh pháp giáo hoá tất cả
chúng sinh mê lầm. Tuy Bồ Tát
cùng với phàm phu cùng ở tại thế
gian, sinh sống với người thế
tục, nhưng Ngài chẳng nhiễm
trước nơi cảnh thế tục. Tuy Ngài
tuỳ thuận chúng sinh, mà Ngài
chẳng nhiễm trước tập khí của
chúng sinh. Tuy Ngài siêng tu
phạm hạnh, nhưng cũng chẳng vì
vậy mà xả bỏ chúng sinh, vào
trong núi sâu rừng thẳm, làm tự
liễu hán, độc thiện kỳ thân. Cho
nên nói Ngài cũng chẳng xả bỏ
các hàm thức. Hàm thức, cũng là
tên khác của chúng sinh. Bồ Tát
là người ở tại trần gian mà tâm
vượt khỏi trần gian, giống như
hoa mọc trong giếng chẳng nhiễm
trần.
Bồ Tát thường ưa pháp vắng lặng
Tuỳ thuận đến được cảnh Niết Bàn
Cũng chẳng xả bỏ các chúng sinh
Được trí vi diệu đẳng như vậy.
Chỗ
tu của Bồ Tát là pháp vắng lặng
vô vi, tâm niệm của Ngài thường
hiện cảnh giới vắng lặng tự
nhiên, do đó gọi là "tám gió
thổi không lay", quyết chẳng bị
cảnh bên ngoài lay động. Ngài ưa
thích tu pháp vắng lặng, càng ưa
thích an trụ nơi vắng lặng. Tuy
nhiên như vậy, song, Bồ Tát
chẳng bỏ chúng sinh, muốn độ
chúng sinh, mà căn tánh của
chúng sinh lại chẳng đồng đều,
phải dùng đủ thứ phương pháp,
phương tiện khéo léo để nhiếp
thọ chúng sinh, để tuỳ thuận với
căn tánh của chúng sinh, dùng
pháp phương tiện khế cơ, dần dần
dẫn dắt những chúng sinh mê hoặc
vào con đường chánh pháp, giáo
hoá họ sinh tâm tin, phát tâm bồ
đề, học tu hành Bồ Tát hạnh, cho
đến có thể khiến cho chúng sinh
minh bạch đạo lý không sinh
không diệt, đạt đến cảnh giới
Niết Bàn rốt ráo, và đủ bốn đức
Niết Bàn thường, lạc, ngã, tịnh.
Cũng chẳng xả bỏ chúng sinh,
chúng sinh bao quát sáu nẻo:
Trời, người, A tu la, ba đường
lành. Súc sinh, ngạ quỷ, địa
ngục ba đường ác. Bồ Tát Ngài
cũng chẳng phải chỉ độ chúng
sinh ba đường lành, Ngài cũng
chẳng xả bỏ chúng sinh ba đường
ác. Chúng sinh khởi hoặc tạo
nghiệp, đều luân chuyển ở trong
sáu nẻo, Bồ Tát vì muốn độ chúng
sinh, cũng theo chúng sinh trầm
luân trong sáu nẻo, khi độ được
chúng sinh nầy đến bờ giải thoát
bên kia, thì Ngài mới đi độ
chúng sinh khác. Thân của Ngài
chuyển theo trong luân hồi,
song, tâm nguyện của Ngài chẳng
bị nhiễm ô, vì Bồ Tát đã đắc
được đại trí huệ, đại trí huệ vi
diệu vô thượng.
Bồ Tát chưa từng phân biệt
nghiệp
Cũng chẳng thủ trước các quả báo
Tất cả thế gian từ duyên sinh
Không lìa nhân duyên thấy các
pháp.
Bồ
Tát tu hành chẳng từ hoạn nạn,
vì Ngài muốn tế độ chúng sinh,
Ngài chẳng chấp vào nghiệp và
báo nơi thân mình. Ngài ôm ấp
lòng từ bi, hành sở vô sự, quyết
chẳng có tâm mong được quả báo
tốt, mới thực hành Bồ Tát đạo.
Người tu hành có thể đạt đến quả
vị Bồ Tát, ba nghiệp của Ngài
sớm đã được thanh tịnh, làm tất
cả những sự việc, thảy đều là
nghiệp lành. Tất cả mọi sự mọi
vật trên thế gian, chẳng có sự
việc gì chẳng phải là từ nhân
duyên sinh ra. Ðức Phật Thích Ca
Mâu Ni vào lúc đó dạy các đại đệ
tử, giải thích về sự sinh diệt
của các pháp, nói rất rõ ràng
quyết thực, rất nhiều đệ tử nhờ
đó mà thấu hiểu đạo lý xiển minh
của Phật, chứng được quả vị A la
hán. Như:
"Các pháp từ duyên sinh,
Các pháp từ duyên diệt".
"Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng huyễn bọt bóng
Như sương cũng như điện
Hãy quán sát như thế".
Lại nói:
"Nhân duyên sinh ra pháp
Ta nói tức là không
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa trung đạo".
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng, Ngài
đã thông đạt thấu rõ đạo lý nầy,
cho nên Ngài mới phát tâm đại bồ
đề, tu pháp môn hồi hướng nầy.
Nếu mỗi người tu hành đều minh
bạch lìa khỏi nhân duyên, thì
chẳng thấy được đạo lý của chư
Phật, buông xả mọi sự chấp
trước, thì tự nhiên cũng sẽ
thành Bồ Tát.
Vào sâu các cảnh giới như vậy
Chẳng ở trong đó khởi phân biệt
Điều Ngự Sư của các chúng sinh
Nơi đây thấu rõ khéo hồi hướng.
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng, Ngài
đã vào sâu cảnh giới vắng lặng
như đã nói ở trước, thấu rõ các
pháp tướng đều không, chẳng ở
tại pháp hữu vi và pháp vô vi
sinh tâm phân biệt. Ðấng Ðiều
Ngự Sư của tất cả chúng sinh,
tức là nói vị Bồ Tát nầy tu pháp
hồi hướng, Ngài là Đạo Sư Điều
Ngự, và đại thiện tri thức giá
ngự lãnh đạo chúng sinh, bậc Đạo
Sư giáo đạo. Bồ Tát minh bạch đủ
thứ các pháp, đắc được trí huệ
thông đạt vô ngại, nhậm vận tự
tại, đem căn lành công đức nầy,
hồi hướng đến tất cả chúng sinh,
hồi hướng về vô thượng bồ đề,
hồi hướng về thật tế.
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
QUYỂN HAI MƯƠI LĂM
PHẨM THẬP HỒI HƯỚNG
THỨ HAI MƯƠI LĂM PHẦN BA
Hồi
hướng vô tận công đức thứ năm.
Phật
tử ! Thế nào là hồi hướng vô tận
công đức tạng của đại Bồ Tát ?
Bồ
Tát Kim Cang Tràng giảng xong
hồi hướng thứ tư trong thập hồi
hướng rồi, lại gọi một tiếng đệ
tử của Phật ! Sau đó đề ra pháp
hồi hướng thứ năm. Các vị ! Các
vị có biết gì gọi là hồi hướng
vô tận công đức tạng của đại Bồ
Tát tu chăng ? Sau đây tôi sẽ vì
các vị giải nói.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy dùng sám hối
để tiêu trừ tất cả các nghiệp
chướng nặng, mà sinh ra căn
lành. Lễ kính tất cả chư Phật ba
đời, mà sinh ra căn lành. Khuyến
thỉnh tất cả pháp của các đức
Phật nói, mà sinh ra căn lành.
Nghe Phật nói pháp, tinh cần tu
tập, ngộ không nghĩ bàn, cảnh
giới rộng lớn, mà sinh ra căn
lành. Nơi tất cả chư Phật quá
khứ vị lai và hiện tại, hết thảy
căn lành của tất cả chúng sinh,
đều sinh tâm tuỳ hỉ, mà sinh ra
căn lành. Căn lành vô tận của
tất cả chư Phật quá khứ vị lai
và hiện tại, các chúng Bồ Tát
đều tinh cần tu tập, mà đắc được
căn lành. Ba đời chư Phật thành
thành Đẳng Chánh Giác, chuyển
bánh xe chánh pháp, điều phục
chúng sinh, Bồ Tát đều biết,
phát tâm tuỳ hỉ, mà sinh ra căn
lành. Ba đời chư Phật từ lúc ban
đầu phát tâm, tu hạnh Bồ Tát,
thành tối Chánh Giác, cho đến
thị hiện vào Niết Bàn. Vào Niết
Bàn rồi, chánh pháp trụ thế, cho
đến diệt hết, đều sinh tâm tuỳ
hỉ như vậy, mà đắc được căn
lành.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử Phật trong
pháp hội, sau đó bắt đầu diễn
nói pháp hồi hướng vô tận công
đức tạng thứ năm. Ngài nói: Vị
đại Bồ Tát nầy, Ngài tu hành
pháp hồi hướng nầy như thế nào ?
Là dùng sám hối tiêu trừ tất cả
các nghiệp chướng nặng, mà sinh
ra căn lành, hồi hướng cho pháp
giới chúng sinh. Sám là giác ngộ
lỗi lầm đã phạm, ở trước Phật
bộc lộ. Hối là đã giác ngộ lỗi
lầm, về sau sửa đổi chẳng tái
phạm nữa, thanh tịnh tu hành.
Cho nên hai chữ sám hối thường
dùng với nhau. Ở trong Phật giáo
thường cử hành lễ sám hối, tức
là mọi người tụng Kinh sám hối
và lễ Phật, để mong tiêu trừ
nghiệp chướng và hối lỗi làm
mới. Các đệ tử của Phật bất cứ
là người xuất gia hay tại gia,
mỗi ngày phải ở trước Phật tự
sám hối, tự mình thanh tịnh tâm
tu hành của mình. Các nghiệp là
chỉ tất cả các nghiệp ác, nghiệp
ác hay chướng ngại rất là lợi
hại. Lấy việc nghe Pháp sư giảng
Kinh để nói: Thân tuy ở tại Phật
đường, nhưng bạn chẳng một lòng
chú ý nghe giảng, lúc thì nghĩ
lăn xăn, khởi vọng tưởng, hoặc
nhìn quyển sách khác, như thế
đều sẽ thành nghiệp chướng, cũng
là sai nhân quả. Chướng tức là
chướng khiến cho người ngu si,
chẳng sinh ra được trí huệ, càng
không thể sinh ra căn lành. Nếu
chẳng sám hối, thì chướng không
thể tiêu trừ. Còn nếu bạn muốn
sinh trí huệ, sinh căn lành, thì
phải ở trước Phật thành tâm sám
hối.
Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp hồi hướng
nầy, vì Ngài không quên sám hối
đủ thứ nghiệp chướng, khiến cho
sinh ra trí huệ, tăng trưởng căn
lành, hồi hướng cho chúng sinh,
làm thành tựu vô tận công đức
tạng. Công đức vô tận nầy giống
như tạng báu, cũng có thể nói
tàng ở trong khó báu, đều là
công đức vô tận. Bồ Tát do ở
trong khắp pháp giới, ở trong
cảnh giới vô tận, đem căn lành
tu tập của mình, do tuỳ thời tuỳ
lúc hồi hướng, cho nên thành tựu
vô tận công đức tạng. Ðại Bồ Tát
tu pháp hồi hướng nầy, Ngài đối
với mười phương ba đời chư Phật
rất lễ mạo, chẳng có lúc nào mà
không phát tâm cung kính. Dùng
thân tâm thành kính nhất, năm
vóc sát đất, vào sâu pháp tánh,
lễ lạy mười phương chư Phật Thế
Tôn ba đời, quá khứ, hiện tại và
vị lai, để trừ chướng ngã mạn,
mà còn khắp đại biểu chúng sinh
mười phương thế giới, lễ lạy chư
Phật Pháp Tăng Tam Bảo. Bồ Tát
tu hành như thế, mà sinh ra vô
tận công đức căn lành, và đem
hồi hướng. Bồ Tát lại thường
khuyến thỉnh các Ðức Phật,
thương xót chúng sinh, thường ở
lại đời, chuyển bánh xe pháp,
thuyết pháp giáo hoá chúng sinh,
khiến cho chúng sinh luôn được
nghe chánh pháp, lìa khổ được
vui. Do khuyến thỉnh chư Phật
thuyết pháp ở lại đời, mà đắc
được vô tận công đức tạng. Sau
khi Bồ Tát nghe Phật nói pháp
rồi, lại y theo pháp tu hành, mà
còn dũng mãnh tinh tấn, siêng
năng tu tập Phật pháp. Nếu chỉ
nghe mà không thực hành, thì sẽ
chẳng đắc được lợi ích. Bồ Tát
vì chuyên tâm nghe, và thiết
thực y theo pháp tu tập, cho nên
Ngài hay lãnh ngộ. Hay có sự
lãnh ngộ, thì cảnh giới không
thể nghĩ bàn, cảnh giới rộng
lớn, có thể sẽ hiện tiền. Cảnh
giới đó chẳng phải người bình
thường có thể dùng tâm ý để suy
nghĩ, dùng lời lẽ thế tục có thể
nói, hoặc diễn tả được, đó là do
công phu tu hành thiết thực
thành tựu tự nhiên. Khi công
hạnh tu hành đạt đến trình độ
nào đó, thì sẽ có cảnh giới
không thể nghĩ bàn, rộng lớn
chẳng có bờ mé, lúc đó sẽ minh
bạch cảnh giới đó. Do có công
hạnh như thế, thì ở trong đó sẽ
sinh ra vô lượng vô biên căn
lành. Bồ Tát nghe Phật nói pháp
tinh tấn tu tập như vậy, đắc
được vô tận công đức tạng, đem
hồi hướng.
Bồ
Tát lại đối với căn lành của chư
Phật quá khứ tu, căn lành của
hết thảy chúng sinh đời quá khứ
tu. Căn lành của chư Phật đời vị
lai tu, căn lành của hết thảy
chúng sinh đời vị lai tu. Căn
lành của chư Phật đời hiện tại
tu, căn lành của hết thảy chúng
sinh đời hiện tại tu, chẳng phân
biệt là Phật cũng tốt, là chúng
sinh cũng tốt, Bồ Tát đều đồng
quán tuỳ hỉ, mà còn hoan hỉ. Vì
hay tuỳ hỉ hoan hỉ, nên tâm
lượng của Ngài nhất định rộng
lớn, nhu hoà, sẽ chẳng sinh ra
tâm đố kị và tâm sân hận. Bồ Tát
tu công đức tuỳ hỉ nầy, căn lành
sinh ra, đắc được vô lượng công
đức tạng. Quá khứ, vị lai, hiện
tại, mười phương chư Phật đầy đủ
căn lành, là vô tận, chẳng biết
có bao nhiêu. Các vị Bồ Tát mười
phương ba đời đắc được vô tận
công đức tạng. Mỗi một vị Phật
trong mười phương ba đời, khi
các Ngài thành Đẳng Chánh Giác
rồi, nhất định sẽ chuyển bánh xe
pháp lớn, diễn nói chánh pháp,
khiến cho tất cả chúng sinh thân
tâm được điều phục. Khiến cho
chúng sinh cang cường, cũng đều
được điều phục, được hợp lý hợp
pháp. Bồ Tát đối với tất cả
nghiệp lành đó, phương tiện pháp
môn giáo hoá chúng sinh, Ngài
đều lãnh ngộ. Cũng phát tâm hoan
hỉ, tuỳ hỉ chư Phật chuyển bánh
xe pháp lớn, như vậy sinh ra đủ
thứ căn lành, đắc được vô tận
công đức tạng.
Ba
đời chư Phật từ khi ban đầu phát
tâm, thì phát tâm tu Bồ Tát
hạnh, tu lục độ vạn hạnh của Bồ
Tát tu hành, khổ hạnh khó hành
phổ độ chúng sinh. Trải qua bao
nhiêu kiếp, công hạnh viên mãn
đầy đủ, mới thành tối Chánh
Giác, mà chứng được quả vị Phật.
Thành Phật rồi, giáo hoá chúng
sinh, cho đến thị hiện vào Niết
Bàn, tức là nhân duyên Ngài giáo
hoá chúng sinh, ở phương nầy có
thể nói là đã mãn, bèn thị hiện
vào Niết Bàn, nhập diệt. Phật
thị hiện vào Niết Bàn, lìa khỏi
chúng sinh nhân gian rộng lớn
rồi, thì chánh pháp trụ thế một
thời kỳ, dần dần tiến vào thời
kỳ mạc pháp, cho đến lúc Phật
pháp diệt hết. Lịch trình trải
qua trong thời kỳ nầy, các thứ
cảnh giới khác nhau, về thời
gian không gian đều có sự biến
hoá hiển rõ. Bồ Tát tu pháp hồi
hướng nầy, Ngài thảy đều hoan
hỉ, cho nên sinh ra căn lành
hoan hỉ, thành tựu vô tận công
đức tạng. Bồ Tát tu hành, ngày
đêm sáu thời, chẳng bỏ sự sám
hối, lễ tán, tuỳ hỉ, hồi hướng,
cho nên thành tựu vô lượng công
đức.
Bồ
Tát niệm bất khả thuyết cảnh
giới của chư Phật như vậy, và
cảnh giới của mình, cho đến cảnh
bồ đề không chướng ngại. Tất cả
căn lành rộng lớn khác biệt như
vậy. Phàm là tích tập, tin hiểu,
tuỳ hỉ, viên mãn, thành tựu, tu
hành, đắc được, tri giác, nhiếp
trì, tăng trưởng, thảy đều hồi
hướng trang nghiêm tất cả cõi
nước chư Phật.
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng nầy,
niệm đến bất khả thuyết bất khả
thuyết, nhiều cảnh giới của chư
Phật như vậy. Sự nhớ niệm tồn
tại đó, chẳng những tâm niệm
miệng niệm, mà còn bao quát ý
nghĩa quán sát trong đó. Bồ Tát
chánh niệm tư duy, quán sát vô
lượng vô số căn lành công đức
của chư Phật, thành tựu cảnh
giới thắng diệu. Bồ Tát dùng trí
huệ thắng diệu của Ngài, vào sâu
nhớ niệm cảnh giới của chư Phật.
Bồ Tát cũng nhớ niệm quán sát
tất cả những gì mình làm trong
quá khứ và hiện tại, trong đó có
sự tướng như ý và bất như ý,
nhưng Ngài đã biết những cảnh
giới đó, đều là hiện tướng hư
vọng, chẳng thật, cho nên quyết
chẳng làm cho Ngài khởi tâm tham
ái, cũng không sinh ra chấp
trước sân hận. Cho đến do phát
tâm bồ đề, mà đắc được trí huệ
cảnh giới không chướng ngại, Bồ
Tát cũng chẳng sinh tâm được
mất. Ðủ thứ vô lượng cảnh giới
rộng lớn khác nhau như vậy,
thành tựu rộng lớn vô tận, đủ
thứ căn lành công đức tạng khác
nhau. Bồ Tát tu hành pháp môn
hồi hướng, phàm là đủ thứ căn
lành tích tập được, phàm là căn
lành tin sâu thấu hiểu các pháp.
Phàm là đủ thứ căn lành lớn nhỏ,
mà Ngài từng tuỳ hỉ mười phương
ba đời chư Phật Bồ Tát và pháp
giới chúng sinh tu tập. Phàm là
căn lành tu lục độ vạn hạnh,
công đức đầy đủ, viên mãn thành
tựu. Phàm là tất cả căn lành tu
tập pháp môn mà thành tựu. Phàm
là tất cả căn lành tu đủ thứ
hạnh môn có được. Phàm là căn
lành thắng diệu tu chứng đắc
được. Phàm là căn lành do hiểu
biết mà giác ngộ pháp tánh có
được. Phàm là căn lành nhiếp thọ
giáo nghĩa của chư Phật mà tâm
hành trì đắc được. Phàm là tất
cả căn lành tăng trưởng, Bồ Tát
thảy đều đem hồi hướng hết cho
pháp giới chúng sinh, hồi hướng
về bồ đề giác đạo, hồi hướng về
chân như thật tế, và dùng để
trang nghiêm cõi nước chư Phật
trong mười phương, và đạo tràng
của chư Phật.
Như
đời quá khứ vô biên tế kiếp tất
cả thế giới, nơi tu hành tất cả
Như Lai. Đó là: Vô lượng vô biên
loại thế giới của Phật. Chỗ trí
Phật biết được, chỗ Bồ Tát biết
được, chỗ đại tâm tiếp thọ,
trang nghiêm cõi Phật.
Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi hướng
nầy, chẳng những Ngài hồi hướng
cõi nước của chư Phật hiện tại,
mà cũng hồi hướng cho đời quá
khứ, vô lượng vô biên tế kiếp
hết thảy tất cả thế giới, cùng
với đạo tràng tu hành của chư
Phật trong mười phương thế giới,
và nơi chư Phật đã từng hàng
lâm. Đó là: Vô lượng vô số loại
thế giới của Phật, Bồ Tát thảy
đều thành khẩn hồi hướng, và hồi
hướng cho pháp giới chúng sinh,
hồi hướng về vô thượng bồ đề,
hồi hướng về chân như thật tế.
Phàm là chỗ trí huệ của Phật
biết được, chỗ trí huệ của Bồ
Tát biết được, chỗ tâm đại bồ
đề, tâm đại bi tiếp thọ dung nạp
được, Bồ Tát đều trang nghiêm
cõi Phật của chư Phật trong mười
phương.
Thanh
tịnh nghiệp hạnh, sở chảy sở
dẫn, ứng chúng sinh khởi, mà
thần lực Như Lai thị hiện ra.
Chư Phật ra đời, do tịnh nhiệp
thành tựu, và diệu hạnh của Bồ
Tát Phổ Hiền hưng khởi. Trong
đó, tất cả chư Phật thành đạo,
thị hiện đủ thứ thần lực tự tại.
Nghiệp
thanh tịnh, tức là nghiệp vô
lậu. Do tu lục độ vạn hạnh, mà
sinh ra nghiệp thanh tịnh. Do
nghiệp hạnh thanh tịnh mà đắc
được tự thọ dụng, tức cũng là tự
lợi. Nghiệp hạnh thanh tịnh đó,
tức là sở lưu, giống như suối
nước thanh tịnh chảy ra. Chư
Phật Bồ Tát dùng nghiệp hạnh
thanh tịnh tu được, để tự lợi và
lợi tha, dùng đó để giáo hoá
chúng sinh, cứu chúng sinh trong
biển khổ, tuỳ theo nghiệp duyên
của chúng sinh, lại trợ giúp
thành mà tăng trưởng nghiệp hạnh
thanh tịnh của chính mình. Ðó
giống như đào một cái hồ, dẫn
nguồn nước thanh tịnh vào trong
hồ. Cho nên nói nghiệp hạnh
thanh tịnh của chư Phật Bồ Tát,
đều là do tu hạnh thanh tịnh vô
lậu, và độ hoá chúng sinh mà
thành tựu. Trong nguyện thứ chín
của mười điều nguyện vương của
Bồ Tát Phổ Hiền, có câu Kinh văn
rằng: "Các Bồ Tát dùng nước đại
bi lợi ích chúng sinh, tức có
thể sẽ thành tựu Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác vậy. Cho nên bồ
đề, thuộc về nơi chúng sinh, nếu
chẳng có chúng sinh, thì tất cả
Bồ Tát, cuối cùng không thể
thành Vô Thượng Chánh Giác". Do
đó, có thể biết Bồ Tát hoá độ
chúng sinh, tức thành tựu duyên
tăng thượng. Nghiệp hạnh thanh
tịnh tức là sở chảy, duyên tăng
thượng là sở dẫn. Bồ Tát tu
nghiệp hạnh thanh tịnh, đó là
rộng độ chúng sinh mà sinh ra
pháp vô lậu, cũng là thần lực
của Phật thị hiện, cũng là tu
nghiệp xuất thế thanh tịnh mà
thành tựu, cũng là diệu hạnh của
Bồ Tát Phổ Hiền hưng khởi. Hết
thảy mười phương ba đời chư
Phật, đều ở trong nghiệp hạnh
thanh tịnh, mà thành tựu đạo quả
vô thượng, thành Phật, viên mãn
bồ đề giác đạo, và thị hiện đủ
thứ sức thần thông đại oai đức
tự tại.
Suốt
thuở vị lai hết thảy Như Lai ứng
Chánh Đẳng Giác, trụ khắp pháp
giới, sẽ thành Phật đạo. Sẽ đắc
được tất cả cõi Phật thanh tịnh
công đức trang nghiêm. Tận pháp
giới, hư không giới, không có bờ
mé, không đoạn tuyệt, không cùng
tận, đều từ trí huệ Như Lai sinh
ra.
Trong
kiếp số thuở vị lai không thể
cùng tận, hết thảy Như Lai,
không tính được số Như Lai, ở
những kiếp đó, công hạnh viên
mãn, ứng thành Chánh Đẳng Giác,
chứng được quả Phật, pháp thân
đầy dẫy hư không, trụ khắp pháp
giới. Giáo hoá chúng sinh, cũng
thành Phật đạo. Cõi nước của chư
Phật được thanh tịnh nhất, và
tất cả đồ thắng diệu trang
nghiêm, khiến cho cõi Phật thanh
tịnh trang nghiêm. Tận pháp
giới, hư không giới, chẳng có bờ
mé, chẳng có phân biệt dài ngắn,
khó dò được. Không thể đoạn
tuyệt, cũng không có ngày cùng
tận, vì cõi Phật đó, đều từ
trong trí huệ thù diệu của chư
Phật sinh ra cảnh giới thượng
diệu, trở thành cõi Phật thanh
tịnh trang nghiêm.
Vô
lượng báu vi diệu trang nghiêm.
Đó là : Tất cả hương trang
nghiêm. Tất cả hoa trang nghiêm.
Tất cả y phục trang nghiêm. Tất
cả công đức tạng trang nghiêm.
Tất cả các Phật lực trang
nghiêm. Tất cả cõi nước Phật
trang nghiêm. Đó là chỗ ở của
Như Lai, với các chúng thanh
tịnh đồng hành túc duyên không
thể nghĩ bàn đều ở trong đó.
Ở
trên nói các cõi Phật thanh tịnh
trang nghiêm, tận hư không khắp
pháp giới, nhiều không có bờ mé
không đoạn tuyệt không cùng tận
như vậy, đều từ trong trí huệ
của mười phương chư Phật sinh
ra. Có các báu kỳ diệu không thể
tính đếm, đủ thứ báu đẹp không
thể tưởng tượng được trang
nghiêm cõi nước. Giống như các
thứ hương báu, các thứ hoa quý,
y phục báu đẹp, dùng để trang
nghiêm đạo tràng của Phật. Lại
có tạng công đức của chư Phật,
và thần lực mười thứ đại oai đức
của chư Phật cùng trang nghiêm.
Cõi nước mười phương chư Phật,
đều thanh tịnh trang nghiêm như
vậy. Cõi nước thù thắng như đã
nói ở trên, có công đức viên
mãn, phước huệ của Phật đầy đủ
mới có thể trụ nhiếp thọ, chẳng
phải các chúng Bồ Tát khác có
thể trụ được, cho nên nói "chỗ ở
của Như Lai". Ngoài ra còn có
rất nhiều Bồ Tát, không thể tính
đếm được, và các chúng thanh
tịnh, đều là đệ tử của Phật
trong quá khứ đời đời kiếp kiếp
có duyên với Phật, các bậc đại
Thánh, theo Phật tu hạnh thanh
tịnh, cùng ở trong đạo tràng
thanh tịnh trang nghiêm thù
thắng với Phật.
Ðồng
hành túc duyên, tức là bậc đồng
đạo cùng ở với nhau một chỗ để
tu hành. Ví như ở Chùa Kim Sơn,
có không ít bốn chúng đệ tử, mọi
người cùng ở trong Chùa, sớm tối
cùng tu, đọc tụng Kinh điển, lễ
Phật trì Chú, tham thiền đả toạ,
mỗi người đều ngày đêm sáu thời
dũng mãnh tinh tấn, tơ hào chẳng
có tâm giải đãi lười biến, đó
chẳng phải là hội ngộ ngẫu
nhiên, mà là trong quá khứ không
biết bao nhiêu đời, đã từng cùng
nhau tu hành trải qua bao nhiêu
kiếp, cho đến đời tương lai, mọi
người cũng sẽ cùng nhau tu hành,
thẳng đến cùng chứng quả bồ đề
giác đạo, viên mãn quả Phật. Cho
nên mọi người phải tôn trọng sự
đồng hành túc duyên nầy, hoà hợp
giúp nhau. Ðó tức là ý nghĩa
"đồng hành túc duyên".
Người
tu học Phật đạo, tư tưởng hành
vi nhất định phải thời khắc chân
chánh, không thể tạp niệm hư
nguỵ xảo trá. Dù nhỏ như hạt bụi
cũng đừng có, bằng không thì tâm
tu đạo sẽ phân tán. Khi chúng ta
ban đầu phát tâm hướng đạo, biết
một chút thì làm một chút; làm
được bao nhiêu thì hay bấy
nhiêu, từ từ tiến tới, tu được
một chút thì hay một chút, phải
thật tế, đừng làm công phu phô
diễn, tham cầu hư danh. Tu học
Phật đạo, y giáo lý tu hành, đó
là việc của mình, chẳng phải để
cho người ngoài nhìn, cũng chẳng
phải đồ háo danh. Do đó nên có
bạn hữu đồng hành túc duyên ở
chung với nhau, cùng tu nghiệp
hạnh thanh tịnh, đừng dính vào
nghiệp nhiễm ô. Ai ai cũng thanh
bạch, tạo nghiệp thanh tịnh, thì
chẳng có tâm ích kỷ, chẳng có
tâm tự lợi, chẳng có niệm tham,
chẳng có tâm sân, chẳng có tâm
si, có những ưu điểm như thế,
cho nên mới được gọi là nghiệp
thanh tịnh.
Ðạo,
thì phải hành mới đắc được, phải
siêng tu nghiệp hạnh thanh tịnh,
mới có thể chứng được đạo hạnh
chân chánh. Chẳng phải chỉ dùng
miệng nói, mà là phải thiết thực
làm được. Miệng nói một trượng,
chẳng bằng làm được một thước.
Chúng thanh tịnh tu nghiệp hạnh
thanh tịnh, nương theo bậc thiện
tri thức, an trụ với nhau trong
một đạo tràng, sớm tối tụ với
nhau, cùng tu cùng tham, phải
tuỳ thời cùng nhau khuyên răn
sách tấn, để cầu đạo nghiệp vô
thượng.
Trong
đời vị lai sẽ thành Chánh Giác,
tất cả chư Phật thành tựu, chẳng
phải thế gian có thể thấy được.
Mắt tịnh của Bồ Tát, mới chiếu
thấy được. Các Bồ Tát đó, đủ oai
đức lớn, vì thuở xưa đã trồng
căn lành. Biết tất cả pháp như
huyễn, như hoá, thực hành khắp
các nghiệp thanh tịnh của Bồ
Tát. Vào tam muội tự tại không
nghĩ bàn, phương tiện khéo léo,
hay làm Phật sự. Phóng quang
minh của Phật, chiếu khắp thế
gian, chẳng có giới hạn bờ
mé.
Chúng
thanh tịnh tu học Phật đạo, nếu
chân chánh siêng tu nghiệp thiện
thanh tịnh, bao nhiêu kiếp về
sau, thì nhất định sẽ thành tựu
quả Phật Chánh Giác. Giả như
không siêng tu nghiệp hạnh thanh
tịnh, thì đời đời kiếp kiếp cạo
bỏ râu tóc, xuất gia làm Tăng
làm Ni, muốn thành Phật, cũng
rất là chậm chạp. Một người tu
đạo có thể thành Chánh Giác, tuy
nói phải tự mình dũng mãnh tinh
tấn, nhưng cũng phải nương sự
gia bị của chư Phật, mới có thể
thành tựu quả Phật bồ đề giác
đạo, cho nên nói sự thành tựu
của tất cả chư Phật. Cảnh giới
đó, chỉ có bậc Thánh nhân xuất
thế mới minh bạch được, chẳng
phải hàng phàm phu có thể thấy
được, nhận thức được. Cảnh giới
đó, chỉ có mắt tịnh của Bồ Tát
mới chiếu thấy được, vì Bồ Tát
tu Bồ Tát đạo, Ngài đã tu được
ngũ nhãn lục thông. Mắt tịnh tức
là mắt trí huệ thanh tịnh, phải
có mắt trí huệ thanh tịnh, mới
chiếu thấy được cảnh giới đó.
Ðại Bồ Tát biết được, thấu rõ
được cảnh giới đó, Ngài đã đầy
đủ đại oai đức và sức đại thần
thông. Thần thông oai đức đó,
chẳng phải ngẫu nhiên, dễ dàng
có thể đắc được. Ðó là do ở
trong đời quá khứ, đã làm rất
nhiều việc lành, vun bồi căn
lành lớn thâm sâu, mới được
thành tựu, cho nên nói "thuở xưa
đã trồng". Bồ Tát biết tất cả
pháp, đều giống như huyễn thuật,
hư nguỵ. Như hoá, nhân duyên kết
hợp, huyễn hoá mà sinh, nó chẳng
có thể tánh chân thật. Tuy Bồ
Tát Ngài đã thấu rõ các pháp
không tướng, nhưng Ngài vẫn khắp
tu hành đạo nghiệp thanh tịnh
của các Bồ Tát tu. Vị đại Bồ Tát
tu pháp hồi hướng nầy, Ngài có
thể vào trong định tự tại thắng
diệu không thể nghĩ bàn, không
thể dùng lời diễn tả được. Ngài
khéo vận dụng đại trí huệ của
Ngài, dùng phương tiện khéo léo,
tuỳ duyên giáo hoá chúng sinh.
Mỗi cử chỉ hành động lời nói, đi
đứng nằm ngồi, nơi nơi biểu hiện
của Bồ Tát, đều là nói pháp.
Rộng độ chúng sinh, làm Phật sự
lớn. Quang minh của Ngài phóng
ra giống như quang minh của
Phật, có thể chiếu khắp mười
phương hết thảy thế gian, chẳng
có giới hạn, cũng chẳng có bờ
mé.
Hiện
tại tất cả chư Phật Thế Tôn,
cũng đều trang nghiêm thế giới
như vậy. Vô lượng hình tướng, vô
lượng quang minh màu sắc, đều do
công đức mà thành tựu. Vô lượng
hương, vô lượng báu, vô lượng
cây, vô số trang nghiêm, vô số
cung điện, vô số âm thanh, tuỳ
thuận túc duyên các thiện tri
thức, thị hiện tất cả công đức
trang nghiêm, chẳng cùng tận.
Hiện
tại tất cả chư Phật trang nghiêm
thế giới nầy, là căn cứ vào quá
khứ chư Phật trang nghiêm hành
trì thế giới nầy, cho nên Ngài
cũng trang nghiêm thế giới như
thế. Vô lượng hình thể, vô lượng
tướng trạng, vô lượng hào quang,
vô lượng màu sắc, những hình
tướng quang minh màu sắc đó, vô
lượng vô số, đều là công đức
tích tụ tu hành của Bồ Tát mà
thành tựu. Lại có vô lượng đủ
thứ hương báu, vô lượng bảy báu,
vô lượng cây báu, vô lượng trang
nghiêm đầy đủ, vô số cung điện
báu, đủ thứ âm thanh vi diệu. Ðủ
thứ như thế, đều là vô lượng vô
số, đều là tuỳ thuận nhân duyên
đời trước, cùng với sự gần gũi
các vị thiện tri thức thuở xưa,
mà tích tụ công đức, dùng để
trang nghiêm thế giới. Như vậy
đủ thứ công đức trang nghiêm,
chẳng có cùng tận, suốt thuở vị
lại, cũng không hết được.
Đó
là: Tất cả hương trang nghiêm. Tất
cả man trang nghiêm. Tất
cả hương bột trang nghiêm. Tất
cả báu trang nghiêm. Tất cả phan
trang nghiêm. Tất cả lụa báu màu
trang nghiêm. Tất
cả lan can báu trang nghiêm. A
tăng kỳ lưới vàng trang nghiêm.
A tăng kỳ sông trang nghiêm. A
tăng kỳ mây mưa trang nghiêm. A
tăng kỳ âm nhạc, diễn tấu âm
thanh vi diệu.
Ở
trên là nói về vô lượng đồ trang
nghiêm, trong đó có phàm phu
chưa từng thấy qua, nói lại cũng
chẳng dễ dàng thấu hiểu, người
bình thường có thể biết, có thể
tưởng tượng, như hết thảy hương
quý trên đời: Hương trầm, hương
chiên đàn, hương ngưu đầu chiên
đàn .v.v... Lại
có đủ thứ man dài báu tinh chế.
Lại có đủ thứ hương bột danh
quý. Lại có các thứ báu trân kỳ.
Lại có phan báu dùng các châu
báu nghiêm sức. Lại có vô lượng
lụa màu bằng châu báu. Lại có vô
số lan can, cũng đều dùng đá bàu
làm thành. Còn có vô số lưới
vàng, vô số sông báu trong cõi
nước, vô số mây pháp báu vi diệu
mưa pháp vũ, đầy dẫy hư không
pháp giới. Và còn có không biết
bao nhiêu là âm nhạc trời vi
diệu, diễn tấu Phật khúc thần
thánh, có đủ thứ như vậy không
biết được hết, không nói ra hết
được các bảy báu đẹp hiếm có
trên đời, trang nghiêm đạo tràng
và cõi nước của chư Phật.
Vô
lượng vô số đồ trang nghiêm như
vậy, trang nghiêm tất cả tận
pháp giới hư không giới. Do vô
lượng đủ thứ nghiệp trong mười
phương sinh ra. Chỗ Phật biết
rõ, chỗ Phật tuyên nói. Tất cả
thế giới, hết thảy tất cả cõi
Phật trong đó.
Như
Kinh văn đã nói nhiều ở trên,
không thể dùng tâm suy nghĩ,
hoặc tính đếm để độ lượng các
thứ đồ trang nghiêm được. Dùng
để trang nghiêm tận hư không
khắp pháp giới cõi Phật và đạo
tràng. Những đồ trang nghiêm thù
diệu đó, là do trong mười phương
thế giới vô lượng vô biên đủ thứ
nghiệp thiện thanh tịnh sinh ra,
là căn lành công đức của chư
Phật Bồ Tát tu tập mà thành tựu,
chẳng phải phàm phu có thể thấy
được, hiểu biết được. Quả báo
của nghiệp thiện thanh tịnh đó
sinh ra, chỉ có Phật và Bồ Tát
mới biết được. Phật biết nhân
duyên của nghiệp báo thành tựu,
cũng chỉ có Phật mới có thể nói
được. Tất cả thế giới thành tựu
là do chân lý của nghiệp nhân
hiển hiện. Tận hư không, khắp
pháp giới tất cả cõi Phật, đều
là đạo lý đó mà thành tựu, đều
do vô lượng đủ thứ nghiệp sinh
ra.
Đó
là: Cõi Phật trang nghiêm. Cõi
Phật thanh tịnh. Cõi Phật bình
đẳng. Cõi Phật diệu hảo. Cõi
Phật oai đức. Cõi Phật rộng lớn.
Cõi Phật an lạc. Cõi Phật không
thể hoại. Cõi Phật vô tận. Cõi
Phật vô lượng. Cõi Phật không
động. Cõi Phật vô uý. Cõi Phật
quang minh. Cõi Phật không trái
nghịch. Cõi Phật đáng ưa thích.
Cõi Phật khắp chiếu sáng. Cõi
Phật nghiêm đẹp. Cõi Phật tinh
lệ. Cõi Phật khéo đẹp. Cõi Phật
bậc nhất. Cõi Phật thắng. Cõi
Phật thù thắng. Cõi Phật tối
thắng. Cõi Phật cực thắng. Cõi
Phật thượng. Cõi Phật vô thượng.
Cõi Phật vô đẳng. Cõi Phật vô
tỉ. Cõi Phật không ví dụ.
Ðoạn
Kinh văn ở trước nói trong vô
lượng vô biên thế giới, có tất
cả cõi Phật, hiện tại sơ lược
đưa ra hai mươi chín loại, tên
gọi tuỳ theo thể, đức, dụng,
khác biệc của mỗi vị Phật thành
tựu, mà có sự lập tên chẳng
giống nhau. Đó là:
Cõi
Phật Trang Nghiêm: Phật trụ thế
trong cõi Phật nầy, danh hiệu
của Ngài gọi là Phật Trang
Nghiêm. Vì Ngài tu tập vạn thiện
đầy đủ, dùng công đức vạn thiện
trang nghiêm cõi Phật và đạo
tràng của Ngài, cũng dùng vạn
thiện trang nghiêm làm danh hiệu
của mình, và tên của cõi Phật.
Cõi
Phật Thanh Tịnh: Phật trụ thế
trong cõi Phật nầy, từ lúc ban
đầu Ngài phát tâm tại nhân địa,
thì nghiêm trì giới thanh tịnh,
tu phạm hạnh thanh tịnh xuất
thế. Khi công hạnh của Ngài viên
mãn, chứng được quả vị Phật rồi,
danh hiệu Phật là Thanh Tịnh,
cõi Phật cũng do đó mà gọi là
cõi Phật Thanh Tịnh, biểu thị
cõi Phật của Ngài là thuần tịnh
không nhiễm, chẳng có chút nhiễm
ô nào.
Cõi
Phật Bình Ðẳng: Danh hiệu của vị
Phật nầy gọi là Bình Ðẳng, cõi
Phật cũng gọi là Bình Ðẳng. Vì
vị Phật nầy hiểu rõ "Là pháp
bình đẳng, chẳng có cao thấp".
Ngài hoá độ chúng sinh cũng là
bình đẳng, chẳng có tâm phân
biệt, cho nên bình đẳng là thắng
đức của Ngài, do đó gọi là cõi
Phật Bình Ðẳng.
Cõi
Phật Diệu Hảo: Vị Phật nầy thành
tựu quả đức, thù thắng vi diệu,
cho nên được tôn là Phật Diệu
Hảo, cõi nước ứng hoá cũng gọi
là cõi Phật Diệu Hảo.
Cõi
Phật Oai Ðức: Vị Phật nầy trụ
thế, Ngài có oai, có đức, khi
giáo hoá chúng sinh, thì oai đức
đều dùng, cho nên tôn hiệu của
Ngài là Phật Oai Ðức, cõi nước
gọi là cõi Phật Oai Ðức.
Cõi
Phật Rộng Lớn: Diện tích của cõi
Phật đây nhất định rất rộng lớn,
Phật trụ ở cõi đó mưa pháp vũ
thấm nhuần khắp, lấy từ bi làm
đầu đối với chúng sinh, chẳng
ghét kẻ ác, chẳng nhớ lỗi xưa,
tâm lượng rộng lớn đại lượng, có
thể bao thái hư, đức hạnh cũng
rộng lớn. Do đó mà gọi là Phật
Rộng Lớn, cõi nước cũng gọi là
cõi Phật Rộng Lớn.
Cõi
Phật An Lạc: Vị Phật trụ trì đó,
gọi là Phật An Lạc, cõi nước của
Ngài ở, rất an lạc, được sinh
vào cõi nước của Ngài, thì được
an ổn và vui sướng. Cho nên gọi
là cõi Phật An Lạc.
Cõi
Phật Không Thể Hoại: Vị Phật trụ
trì đó, gọi là Phật Không Thể
Hoại, căn lành công đức của
chúng sinh trong nước của Ngài,
chánh tín chánh niệm, vĩnh viễn
không bị ngoại đạo phá hoại,
nghiệp thiện vĩnh viễn chẳng bị
tổn thương phá hoại. Nhưng họ
dùng chánh nghiệp có thể phá ma
quân hoại nghiệp ác, cho nên gọi
là cõi Phật Không Thể Hoại.
Cõi
Phật Vô Tận: Vị Phật Vô Tận đó,
cõi nước của Ngài vĩnh viễn tồn
tại, Thời gian kiếp số Ngài trụ
thế chẳng cùng tận, tâm từ bi
giáo hoá chúng sinh vĩnh viễn
chẳng dừng lại, thuyết pháp độ
sinh vĩnh viễn chẳng nhàm mỏi,
quyến thuộc của Ngài cũng vô
cùng vô tận. Danh hiệu Phật gọi
là Phật Vô Tận, cõi nước cũng
gọi là Vô Tận.
Cõi
Phật Vô Lượng: Ðức hạnh của Phật
Vô Lượng vô lượng vô biên, cõi
nước Vô Lượng, đồ trang nghiêm
thù thắng vô lượng, quyến thuộc
vô lượng, pháp tài cũng vô
lượng.
Cõi
Phật Vô Ðộng: Danh hiệu Phật Vô
Ðộng, nghĩa là định lực của Ngài
thù đặc, kiên cố như núi kim
cang, chẳng có cảnh giới gì có
thể lay động được Ngài, cho nên
bậc Thánh có tâm lớn và có chúng
thanh tịnh căn lành phước đức,
đều ưa thích nương vào Ngài, tu
học Phật đạo, cho nên cõi nước
nối tiếp theo đức hạnh của Phật,
cũng gọi là cõi Phật Vô Ðộng.
Cõi
Phật Vô Uý: Bồ Tát Quán Thế Âm
hành đạo ở thế giới Ta Bà, khắp
cứu độ chúng sinh. Cho nên chúng
sinh ở thế giới Ta Bà gọi Ngài
là bậc vô uý thí, vì Ngài chẳng
sợ khốn khổ hoạn nạn, tà ma
ngoại đạo. Vị Phật nầy Ngài cũng
hàng phục được ma, chủ trì chánh
nghĩa, dùng tinh thần đại vô uý
trụ thế, Phật gọi là Vô Uý, cõi
nước cũng gọi là cõi Phật Vô Uý.
Cõi
Phật Quang Minh: Vị Phật đó có
đại trí huệ, quang minh trí huệ
của Ngài, chiếu khắp mười phương
thế giới. Trong cõi nước của
Ngài chẳng có chỗ nào tối tăm,
chẳng có ba đường ác, dùng lưu
ly làm đất. Chúng sinh trong cõi
nước Ngài, ai ai cũng vui vẻ
tươi cười, từ trong tâm sáng
ngời cho đến sắc mặt hoà mục, đó
đều là quang minh trí huệ của
Phật chiếu sáng, hiển hiện ra
cảnh giới quang minh sáng lạn.
Cho nên cõi nước của Ngài gọi là
cõi Phật Quang Minh.
Cõi
Phật Không Trái Nghịch: Vị Phật
đó từ bi giống như mẹ hiền, Ngài
thương chúng sinh giống như con
một. Ðối với chúng sinh, tâm từ
bi bình đẳng quán sát, dùng
phương pháp phương tiện khéo
léo, và sắc mặt hoà diệu lời nói
dịu dàng, tuỳ theo ý của chúng
sinh, khiến cho ai ai cũng đều
được như ý mãn nguyện, chưa từng
trái nghịch với ý kẻ khác. Do đó
trong cõi nước của Ngài tuyệt
đối chẳng có kẻ ác nghiệp ác
xuất hiện, mà toàn hiển hiện ra
sự hoà mục, đó tức là cõi Phật
Không Trái Nghịch của Phật Không
Trái Nghịch.
Cõi
Phật Ðáng Ưa Thích: Vị Phật đó
cũng từ ái giống như Phật Không
Trái Nghịch, chẳng có chút nóng
giận nào, bất cứ lúc nào, ở đâu,
thấy bất cứ người nào, Ngài cũng
đều thân thiết hoà mục, bình dị
gần người. Bạn có những khó khăn
gì, phiền não gì, thậm chí gặp
tai nạn, thì chỉ cần thấy được
vị Phật nầy, thì tất cả đều tiêu
tan hết, trong vô hình sẽ đắc
được tự tại an lạc. Vị Phật nầy
thật là khiến cho người kính ái,
chúng sinh nguyện sinh vào trong
cõi nước của Ngài, nhiều vô
lượng vô số, ai ai cũng đều gọi
Ngài là Phật Ðáng Ưa Thích, cõi
nước của Ngài cũng gọi là cõi
Phật Ðáng Ưa Thích.
Cõi
Phật Chiếu Sáng Khắp: Danh hiệu
của vị Phật nầy Chiếu Sáng Khắp,
cõi nước của Ngài giáo hoá cũng
gọi là Chiếu Sáng Khắp. Sự chiếu
sáng khắp nầy, chỉ có Phật có
phước đức lớn mới có quả báo
nầy.
Cõi
Phật Nghiêm Ðẹp: Nghiêm là trang
nghiêm thanh tịnh, đẹp là thù
thắng. Danh hiệu của vị Phật nầy
gọi là Phật Nghiêm Ðẹp, đức hạnh
của Ngài thanh tịnh nhất, cõi
nước của Ngài cũng thanh tịnh
nhất, cho nên gọi là cõi Phật
Nghiêm Ðẹp.
Cõi
Phật Tinh Lệ, cõi Phật Khéo Ðẹp,
cõi Phật Ðệ Nhất: Tên gọi của
các cõi Phật là y vào danh hiệu
của Phật. Danh hiệu của Phật tức
là danh từ đại biểu công đức thù
thắng mà Ngài tu chứng được. Cõi
Phật Tinh Lệ tức là do công đức
của Phật mà thành tựu cõi nước,
vì lúc Ngài ở tại nhân địa tu
hành, thì chẳng giải đãi, đều
dũng mãnh tinh tấn. Cho nên Ngài
mới thành tựu viên mãn cõi nước
tốt đẹp. Cõi Phật Khéo Ðẹp và
cõi Phật Ðệ Nhất, căn cứ vào tên
mà suy ra nghĩa thì biết, đều là
nương vào vô lượng công đức
thành tựu trang nghiêm.
Cõi
Phật Thắng, cõi Phật Thù Thắng,
cõi Phật Tối Thắng, cõi Phật Cực
Thắng: Bốn vị Phật nầy các Ngài
đều đã tu viên mãn đủ thứ pháp
môn trong khắp pháp giới, như ba
môn giải thoát tối thù thắng
.v.v...đã viên mãn không thiếu
khuyết, cho nên các Ngài được
gọi là Phật Thắng, Phật Thù
Thắng, Phật Tối Thắng, Phật Cực
Thắng. Cõi nước của các vị Phật
đó cũng nương vào danh hiệu của
các Ngài mà gọi là cõi Phật
Thắng, cõi Phật Thù Thắng, cõi
Phật Tối Thắng, cõi Phật Cực
Thắng.
Cõi
Phật Thượng, cõi Phật Vô Thượng:
Tên gọi của hai cõi Phật nầy,
điểm quan trọng là tại Phật
thừa, vì đại chỉ diệu quán là vô
thượng. Danh hiệu Phật Thượng và
Phật Vô Thượng, cõi nước tức là
cõi Phật Thượng, cõi Phật Vô
Thượng.
Cõi
Phật Vô Ðẳng: Cõi nước của Phật
Vô Ðẳng, chẳng có cõi Phật nào
có thể bằng cõi nước của Ngài,
cho nên thế giới ứng hoá của vị
Phật nầy được gọi là cõi Phật Vô
Ðẳng.
Cõi
Phật Vô Tỉ: Công đức vô lượng
của vị Phật nầy, chẳng có ai có
thể so sánh với Ngài được, cho
nên gọi là Phật Vô Tỉ, cõi nước
cũng gọi là cõi Phật Vô Tỉ. Kỳ
thật Phật với Phật đều đồng đều,
đều là công đức viên mãn, phước
huệ đầy đủ, nên các danh hiệu đó
được tôn kính, chứ chẳng có sự
khác biệc về cao thấp.
Cõi
Phật Không Ví Dụ: Ý nghĩa không
ví dụ là tán dương công đức của
vị Phật nầy, tìm chẳng được một
vật gì, một câu nói nào, hoặc
một văn tự nào, trên thế gian để
ví dụ, hoặc hình dung, vì đức
hạnh của Ngài chí cao vô thượng,
thù thắng đạt đến cực điểm. Cho
nên xưng là Phật Không Ví Dụ,
cõi nước của Ngài cũng gọi là
cõi Phật Không Ví Dụ.
Tất
cả cõi Phật quá khứ vị lai hiện
tại như vậy, hết thảy sự trang
nghiêm, đại Bồ Tát đem căn lành
của mình, phát tâm hồi hướng.
Nguyện dùng hết thảy cõi nước
trang nghiêm thanh tịnh, của tất
cả chư Phật quá khứ vị lai hiện
tại như vậy, thảy đều trang
nghiêm nơi tất cả thế giới. Như
hết thảy sự trang nghiêm cõi
nước của tất cả chư Phật, thảy
đều thành tựu, thảy đều thanh
tịnh, thảy đều tích tập, thảy
đều hiển hiện, thảy đều nghiêm
đẹp, thảy đều trụ trì.
Như
vậy mười phương ba đời, đời quá
khứ, đời vị lai, đời hiện tại,
hết thảy cõi nước chư Phật, hết
thảy đủ thứ sự trang nghiêm. Vị
đại Bồ Tát tu pháp môn hồi hướng
nầy, Ngài đem đủ thứ căn lành
công đức của mình tu tập được,
phát tâm đại bồ đề, hồi hướng
cho mười phương ba đời cõi nước
chư Phật. Bồ Tát phát nguyện,
Ngài nói: Tôi nguyện cõi nước
của chư Phật ba đời, đều trở
thành thanh tịnh nhất, cõi Phật
trang nghiêm nhất. Dùng sự trang
nghiêm vô thượng, trang nghiêm
tất cả thế giới, mà sự trang
nghiêm của thế giới đó, cũng
đồng như hết thảy sự trang
nghiêm của vô lượng cõi nước chư
Phật. Bồ Tát dùng sự trang
nghiêm cõi nước của chư Phật mà
tự trang nghiêm, đem căn lành
công đức của mình, mà trang
nghiêm cõi nước của chư Phật.
Những sự trang nghiêm đó đều
thành tựu. Căn lành của Bồ Tát
tu, cũng có thể thành tựu đủ thứ
sự trang nghiêm đó. Nhưng nguyện
cõi nước của mười phương ba đời
chư Phật đều được thanh tịnh.
Ðều có thể thành tựu cõi nước
tích tụ các thứ báu. Cảnh giới
thù thắng đó, đều hiển hiện rõ
nơi thế gian. Ðó đều là cõi nước
thanh tịnh nhất, trang nghiêm
thượng diệu nhất. Ðều thường trụ
trì ở tại thế gian, mỗi đạo
tràng đều có Tam Bảo thường trụ
trì giáo hoá chúng sinh. Bồ Tát
dùng căn lành của Ngài tu, thành
khẩn hồi hướng như thế.
Như
một thế giới, tận pháp giới hư
không giới như vậy. Tất cả thế
giới, cũng đều như vậy. Ba đời
tất cả cõi nước chư Phật, đủ thứ
sự trang nghiêm, thảy đều đầy
đủ.
Bồ
Tát hồi hướng, phát nguyện trang
nghiêm mười phương ba đời cõi
nước của chư Phật, trước hết
trang nghiêm một thế giới, sau
đó khắp trang nghiêm tất cả thế
giới tận hư không khắp pháp
giới. Cõi nước ba đời chư Phật
đều như vậy. Hết thảy tất cả sự
trang nghiêm, cũng đầy khắp cõi
Phật tận hư không khắp pháp
giới, đầy đủ sự trang nghiêm
thượng diệu như vậy, đồng nhau
chẳng có khác biệt. Một cõi Phật
đầy đủ vô tận trang nghiêm, tức
mười phương ba đời cõi Phật thảy
đều trang nghiêm. Một cõi Phật
trang nghiêm tức tất cả đều
trang nghiêm. Một nơi viên mãn
đầy đủ, thì tất cả mọi nơi đều
viên mãn đầy đủ. Trùng trùng vô
tận, vô tận trùng trùng, đó tức
là cảnh giới của biển thế giới
hoa tạng.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát lại đem căn lành
hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả
cõi Phật mà tôi tu, có các đại
Bồ Tát, thảy đều đầy khắp trong
đó. Các Bồ Tát đó, thể tánh chân
thật, trí huệ thông đạt. Khéo
phân biệt được tất cả thế giới
và chúng sinh giới. Vào sâu pháp
giới và hư không giới.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát nầy tu vô tận công đức tạng,
Ngài lại đem đủ thứ căn lành của
Ngài tu tập, hồi hướng như vầy:
Nguyện căn lành mà tôi tu hành,
thành tựu cõi nước chư Phật, ở
trong cõi nước chư Phật, có vô
số đại Bồ Tát đầy khắp trong đó.
Các đại Bồ Tát trong đó, công
hạnh của mỗi vị tu hành, đều đã
chứng được cảnh giới thể tánh
chân thật không hư. Trí huệ của
các Ngài cũng đặc biệt thù
thắng, cho nên thông đạt được
tất cả sự lý, viên dung vô ngại.
Các Ngài lại khéo phân biệt sự
khác nhau của mười phương thế
giới, và các loài chúng sinh
khác nhau trong mười phương thế
giới. Các Ngài đều vào sâu được
hết thảy pháp giới và hết thảy
hư không giới, hợp với pháp giới
và hư không giới mà làm một.
Lìa
khỏi ngu si, thành tựu niệm
Phật. Niệm Pháp chân thật, không
thể nghĩ bàn. Niệm Tăng vô
lượng, đều khắp cùng. Cũng niệm
xả, pháp mặt trời viên mãn, trí
quang chiếu khắp, thấy không
chướng ngại. Từ không được sinh,
sinh các Phật pháp. Làm chủ các
căn lành thù thắng vô thượng,
phát sinh tâm bồ đề vô thượng.
Trụ nơi lực của Như Lai. Hướng
về trí Ba La Mật. Phá các ma
nghiệp, thanh tịnh chúng sinh
giới.
"Lìa
khỏi ngu si", ngu si là đại khắc
tinh của chúng sinh, đầu mối của
tội ác, là gốc của sinh tử. Lìa
khỏi được ngu si, thì đã bước
đến con đường của bậc Thánh
nhân. Làm thế nào mới có thể lìa
khỏi được ngu si ? Chỉ có niệm
Phật: Niệm từ bi của Phật, niệm
công đức của Phật, niệm sự trang
nghiêm của Phật. Nếu tâm luôn
luôn niệm Phật, miệng niệm Phật,
thì trừ diệt sự ngu si. Nhưng sự
khắc tinh của ngu si nầy như
bóng theo hình, không dễ gì mà
lìa khỏi được nó, cho nên niệm
Phật cũng chẳng dễ gì đạt đến
trình độ, tâm niệm miệng niệm
nhất tâm bất loạn. Nếu lìa khỏi
được ngu si, thì niệm Phật nhất
định sẽ thành tựu. Không lìa
khỏi được ngu si, thì niệm Phật
rất khó mà thành tựu.
"Niệm
Pháp chân thật": Tức là chánh
niệm suy gẫm, lý chân thật của
các pháp không sinh không diệt.
Chân thật tức là pháp không thể
nghĩ bàn. Pháp có thể nghĩ bàn
thì chẳng phải là pháp chân
thật. Chúng sinh ở thế giới Cực
Lạc, đều đã lìa khỏi ngu si, cho
nên họ sống ở trong niềm vui của
pháp, niệm Phật, niệm Pháp. Ðại
Bồ Tát tu hồi hướng nầy, cũng
luôn luôn niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng, Ngài niệm pháp chân
thật, biết rõ pháp tánh không
thể nghĩ bàn.
"Niệm
Tăng vô lượng, đều khắp cùng":
Bồ Tát Ngài thường niệm Tam Bảo,
công đức vô lượng, công đức
thanh tịnh đó, sung mãn đến khắp
tận hư không biến pháp giới,
trang nghiêm cõi Phật và lợi ích
chúng sinh. Cũng niệm về "xả", ý
nghĩa chữ xả, chẳng những xả bỏ
tất cả ác, mà còn phải xả bỏ tất
cả tướng, và còn xả bỏ tất cả sự
chấp trước. Ðoạn tất cả điều ác,
chẳng chấp trước về ta đã đoạn
tất cả điều ác. Tu tất cả điều
lành, mà chẳng chấp trước về ta
tu tất cả điều lành. Bồ Tát niệm
về xả, mà niệm xả cũng xả bỏ
luôn. "Pháp mặt trời viên mãn":
Bồ Tát tu hành lục độ vạn hạnh,
công đức viên mãn, trí huệ quang
minh vô thượng, sáng chói giống
như mặt trời, chiếu khắp mười
phương pháp giới, tuy những nơi
thâm sơn cùng cốc, cũng thấy
được chẳng có gì chướng ngại.
Ðại niệm đại hạnh của Bồ Tát như
vậy, đều từ ở trong vô sở đắc
(không chỗ đắc) mà thành tựu.
Dùng vô sở đắc, sinh ra tất cả
Phật pháp. Làm đầu não căn lành
sâu dày tối thắng nhất trong
chúng sinh-người lãnh đạo. Phát
tâm đại bồ đề, tu học Phật đạo,
phổ độ chúng sinh. "Trụ nơi lực
của Như Lai": Nương theo mười
lực của Như Lai, hướng về trí
huệ Ba La Mật, tức là nhất thiết
trí, quả vị viên mãn rốt ráo của
chư Phật. Ðủ thứ phẩm loại trên
thế gian và xuất thế gian, tất
cả nghĩa lý, chẳng có điều gì mà
không hiểu biết, chẳng có điều
gì mà chẳng thông đạt thành tựu.
"Phá các ma nghiệp": Thành tựu
nhất thiết chủng trí rồi, thì có
thể nương vào trí huệ, phá trừ
tất cả ma sự ma nghiệp, thế lực
ác tổn thương lợi ích chúng
sinh. "Thanh tịnh chúng sinh
giới": Khiến cho chúng sinh mười
phương pháp giới, đều sống trong
cõi tịnh độ thanh tịnh. Ðại Bồ
Tát tu pháp hồi hướng nầy, hồi
hướng như vậy, phát nguyện lớn
như vậy.
Vào
sâu pháp tánh, vĩnh viễn lìa
điên đảo. Căn lành đại nguyện,
thảy đều chẳng không. Bồ Tát như
vậy đầy khắp trong cõi đó. Sinh
nơi như vậy, có đức như vậy.
Bồ
Tát có thể tu hành viên mãn công
đức đầy đủ, đều là đại Bồ Tát,
các Ngài đều đã tu chứng được
nhất thiết chủng trí, cho nên
vào sâu được trong tánh không
của Phật pháp, hợp với pháp mà
làm một. Vĩnh viễn xả lìa vô
minh tham ái, đủ thứ tư tưởng
hành vi điên đảo. Tu căn lành,
tu một phần thì có một phần công
đức. Phát nguyện lớn, phát một
lần thì có một lần thành tựu. Do
đó công chẳng tổn mất, quyết
chẳng lãng phí. Giống như những
vị đại Bồ Tát nầy, vô lượng vô
số, đầy dẫy trong cõi nước của
vị đại Bồ Tát tu pháp hồi hướng
nầy. Bồ Tát sinh vào được trong
cõi nước thanh tịnh trang nghiêm
nầy, cùng với chúng sinh phát
tâm đại bồ đề, các Ngài đều có
công đức, căn lành tối thắng,
giống như chư Phật tu hành.
Thường
làm Phật sự. Được Phật bồ đề.
Thanh tịnh quang minh, đủ trí
pháp giới. Hiện sức thần thông,
một thân đầy khắp tất cả pháp
giới. Đắc được đại trí huệ, vào
cảnh giới sở hành của nhất thiết
trí. Khéo phân biệt được vô
lượng vô biên pháp giới câu
nghĩa. Nơi tất cả cõi, đều chẳng
chấp trước, mà hiện khắp tất cả
cõi Phật. Tâm như hư không,
chẳng có chỗ nương, mà phân biệt
được tất cả pháp giới. Khéo nhập
xuất tam muội thâm sâu không thể
nghĩ bàn.
Các
đại Bồ Tát như Kinh văn ở trên
đã nói, các Ngài làm đều hợp với
Phật pháp, cho nên nói các Ngài
luôn luôn đều làm Phật sự. Các
Ngài cũng đều đã chứng được bồ
đề giác đạo. Trí huệ thanh tịnh
quang minh, đầy đủ nhất thiết
chủng trí khắp pháp giới. Vì có
trí huệ, thì có thể hiển hiện đủ
thứ sức thần thông, tuy nhiên
chỉ có một thân, Ngài dùng sức
thần thông có thể khiến cho một
thân đầy khắp pháp giới. Vì đã
đắc được trí huệ lớn nhất, do đó
thấy việc tỉnh việc. Tất cả sự
biểu hiện, vào sâu khế hợp với
cảnh giới trí huệ. Lại khéo phân
tích vô lượng vô biên văn lý và
câu nghĩa trong pháp giới. Văn
tự Bát Nhã của những vị đại Bồ
Tát đó, đã đắc được văn tự tam
muội thâm sâu. Các đại Bồ Tát
đối với hết thảy Kinh điển, ý
nghĩa của mỗi câu, đều phân biệt
được rất rõ ràng. Các Ngài vào
bất cứ cõi nước nào, cũng chẳng
lưu luyến, cũng chẳng chấp
trước, dùng một thân mà có thể
hiện thân khắp trong tất cả cõi
nước của chư Phật. Tâm lượng của
các đại Bồ Tát giống như hư
không, chẳng chấp chẳng nương
nhờ. Tuy nhiên như vậy, nhưng
đối với đủ thứ pháp giới, vẫn
phân biệt được rất rõ ràng. Bồ
Tát tu tam muội có rất nhiều thứ
loại, trong đó tam muội thâm sâu
nhất, Ngài cũng chẳng dụng trước
cấp, xuất định nhập định đều rất
tự do tự tại. Ðại Bồ Tát tu pháp
môn hồi hướng nầy, khéo xuất
nhập tam muội thâm sâu, cho nên
Ngài mới đắc được vô tận công
đức tạng.
Hướng
về nhất thiết trí, trụ các cõi
Phật. Đắc được thần lực của chư
Phật, khai thị diễn nói pháp
nhiều như số A tăng kỳ mà chẳng
sợ hãi. Tuỳ thuận căn lành của
chư Phật ba đời. Chiếu khắp pháp
giới của tất cả Như Lai, đều có
thể thọ trì tất cả Phật pháp.
Mục
tiêu của Bồ Tát tu hành, là
hướng về nhất thiết chủng trí
của chư Phật, cùng trụ ở trong
một cõi nước với chư Phật, gần
gũi chư Phật, đắc được sức thần
thông diệu dụng của chư Phật.
Tức đắc được thần lực gia bị của
chư Phật, sức biện tài vô ngại
rồi, lại giáo hoá chúng sinh,
khai đạo chỉ thị chúng sinh nên
tu học Bát Chánh Ðạo, diễn nói
vô lượng vô biên pháp môn tu
hành của chư Phật nói, chế phục
ngoại đạo dị luận tà thuyết, mà
chẳng sợ hãi. Tuỳ thuận theo căn
lành của chư Phật ba đời tu
hành, mà tự mình tu tập. Quán
chiếu khắp pháp giới của mười
phương chư Phật, pháp của chư
Phật nói. Bồ Tát một mặt y theo
giáo lý tu hành, đồng thời đối
với chúng sinh khai xiển Phật
pháp của chư Phật, khiến cho
chúng sinh cũng y giáo phụng
hành.
Biết
lời lẽ các pháp nhiều như số A
tăng kỳ, khéo diễn nói âm thanh
khác biệt không thể nghĩ bàn.
Vào nơi địa vị tự tại vô thượng
của Phật, du khắp mười phương
tất cả thế giới mà chẳng chướng
ngại. Thực hành pháp không
tranh, không chỗ nương, không
phân biệt, tu tập tâm bồ đề tăng
trưởng rộng lớn. Đắc được trí
thiện xảo, khéo biết câu nghĩa.
Hay tuỳ theo thứ lớp khai thị
diễn nói.
Ðại
Bồ Tát đắc được nhất thiết trí
rồi, Ngài lại biết vô lượng số
lời lẽ của các loài chúng sinh.
Lời lẽ của các chúng sinh trong
chín pháp giới, Ngài đều hiểu
được, cũng có thể diễn nói giống
âm thanh của họ, chẳng màng loài
chúng sinh nào sinh khởi, Ngài
đều có thể trực tiếp giao lưu
với họ, trao đổi ý kiến với
nhau, không cần phiên dịch. Bồ
Tát có thiên tài về lời lẽ nầy,
nên giáo hoá chúng sinh rất có
hiệu quả, bởi vì lời lẽ là chiếc
cầu tiếp nối giao lưu đó đây với
nhau. Bồ Tát chẳng những hoạt
động trong chín pháp giới, mà
Ngài cũng có thể vào sâu được
cảnh giới vô thượng tự tại của
Phật. Ngài đến khắp pháp giới
hết thảy thế giới trong mười
phương để du lãm, cũng chẳng có
chút chướng ngại nào. Giáo hoá
chúng sinh, xiển dương Phật
pháp, xử sự tiếp vật, chẳng có
gì mà chẳng viên dung vô ngại,
thông đạt thuận lợi.
Bồ
Tát thực hành "không tranh",
nghĩa là lời nói ngay thẳng,
chẳng tranh luận hơn thua, chẳng
tranh giành được mất. Tại sao
hay phát sinh tranh ? Vì nhân
loại do tâm ích kỷ, tâm háo
thắng tác quái, nhìn chẳng xuyên
thủng, buông xả chẳng đặng, thì
sinh ra hành vi tranh danh đoạt
lợi với người. Một khi có tranh,
thì sẽ có thị phi, có hơn thua,
có thiện ác, có tốt xấu, có khen
chê .v.v...Ðó là kết quả của
tranh. Nếu như nhìn thấu được
danh lợi, thiện ác, khen chê,
buông bỏ đặng, thì còn có gì để
tranh luận ? Tất cả chấp cái ta
đều chẳng còn nữa, trong tâm
chẳng có danh lợi, hơn thua,
thiện ác, tốt xấu, khen chê tồn
tại, thì cũng chẳng có sự nóng
giận tranh giành, trong tâm chỉ
có vui vẻ, nhường nhịn, gì cũng
đều tốt, chẳng có lúc nào mà
chẳng tự tại an vui, đó tức là
thực hành tam muội không tranh.
Tức đã không tranh, thì cũng
chẳng cần nương vào bất cứ pháp
nào, không cần nương tựa vào
người nào mới có thể tồn tại.
Người hay vào được nơi không
tranh, thì họ nhất định từ hoà
tự lập, quyết định được mọi
người ái kính, mong muốn được
gần gũi họ, nương vào họ, chẳng
biết là bao nhiêu. Bồ Tát dùng
trí huệ thông đạt tất cả sự lý,
trong tâm đối với danh lợi,
thiện ác, thị phi, khen chê,
những quan niệm đó, chưa từng
khởi phân biệt, chẳng ở tại
phương diện nầy dụng công phu.
Bồ Tát một lòng tu tập chánh
pháp, tăng trưởng niệm thiện,
tâm bồ đề rộng lớn. Tâm bồ đề
tăng trưởng rộng lớn rồi, thì
đắc được đại trí huệ phương tiện
khéo léo. Vì sức trí huệ, nên từ
câu và nghĩa lý văn tự của tất
cả Kinh điển, nhìn qua là hiểu
rõ, thông đạt vô ngại, cũng tuỳ
thuận nghĩa lý của Kinh điển,
nương vào thứ lớp mà khai xiển
đạo lý, diễn nói Phật pháp chân
thật. Ðối với chúng sinh từ từ
khai đạo, chỉ bày con đường
chánh quyết, khiến cho chúng
sinh đều y theo pháp tu hành, bỏ
mê về với chân thật.
Nguyện
khiến cho các đại Bồ Tát trang
nghiêm cõi nước như vậy, đầy dẫy
phân bố tuỳ thuận an trụ. Huân
tu, cực huân tu. Thuần tịnh, cực
thuần tịnh. Điềm nhiên yên ổn
vắng lặng. Nơi một cõi Phật, tuỳ
một phương sở, đều có vô số, vô
lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả
sổ, bất khả xưng, bất khả tư,
bất khả lượng, bất khả thuyết,
bất khả thuyết bất khả thuyết
các đại Bồ Tát như vậy, đầy dẫy
cùng khắp. Như một phương sở,
tất cả phương sở, cũng lại như
vậy. Như một cõi Phật, tận hư
không khắp pháp giới, cũng đều
như vậy.
Vị
đại Bồ Tát nầy tu hồi hướng vô
tận công đức tạng, Ngài lại hy
vọng những vị đại Bồ Tát như
trong Kinh văn đã nói ở trước,
đều đến trang nghiêm cõi nước
của Ngài, thậm chí đầy dẫy thế
giới, phân bố đến tất cả cõi
nước tuỳ thuận an trụ. Tuỳ thuận
phong tục tập quán của nước sở
tại, an trụ với chúng sinh. Ý
nghĩa huân tu, có thể đưa ra một
ví dụ: Giống như các chúng đệ tử
ở Chùa Kim Sơn, đại chúng cùng
nhau dụng công tu hành, hằng
ngày sinh hoạt ở trong Phật
pháp, đó giống như dùng hương
đốt để huân, huân làm cho nguồn
gốc nhan sắc đều thay đổi. Tu
tức là tu tập, y chiếu theo đạo
lý của Phật nói, để tu sửa tri
kiến bất chánh đáng và hành vi
lỗi lầm trong quá khứ của chúng
ta. Giống như huân tu thân tâm
vậy, chẳng có gián đoạn. Tu tập
đến cực điểm, thì gọi là cực
huân tu. Huân tu đến trình độ
nầy, thì đạt đến cảnh giới thuần
tịnh. Thuần tịnh đến tột đỉnh
rốt ráo, thì gọi là cực thuần
tịnh. Ý nghĩa về thuần là chẳng
tạp loạn. Tịnh tức là thannh
tịnh, chẳng có chút nhiễm ô nào
tồn tại. Hiện tượng nầy tức là
cực thuần tịnh mà biểu hiện thật
tế. Ðiềm nhiên yên ổn vắng lặng;
điềm là nhu hoà an tĩnh, rất nhu
hoà an nhiên tự tại. Yên ổn vắng
lặng cũng là an tĩnh, ở chỗ nầy
có tướng chiếu tịch. Ðiềm nhiên
yên ổn vắng lặng là căn cứ vào
cảnh giới cực thuần tịnh ở trên,
mà hình dung trạng thái của Bồ
Tát sinh hoạt an nhiên tự tại ở
trong cảnh giới đó. Nơi một cõi
Phật, thuần tịnh như vậy mà điềm
nhiên yên ổn vắng lặng. Tuỳ một
phương sở, phương là chỉ địa
phương nhỏ. Sở là xứ sở, chỉ địa
phương lớn mà nói. Tuỳ một
phương sở, là nói bất cứ một xứ
sở nhỏ, hoặc lớn, đều là nơi
thuần tịnh như vậy, cũng đều có
đại Bồ Tát thuần tịnh như vậy,
số lượng chẳng biết là bao
nhiêu, chẳng có cách chi tính
đếm được, chẳng có cách chi
lường được, chẳng có bờ mé,
chẳng có cách chi gọi được,
không thể nào dùng tâm nghĩ
được, không thể nào độ lượng
được, không thể nào dùng lời lẽ
để diễn đạt được, nhiều không
thể nói không thể nói được (bất
khả thuyết bất khả thuyết), đó
là một trong những số mục lớn
của Ấn Ðộ. Ðại Bồ Tát nhiều như
vậy, đầy dẫy khắp hết trong một
phương sở. Một phương sở là như
vậy, tất cả phương sở cũng đều
như vậy. Chẳng riêng như vậy, mà
trong một cõi Phật, thậm chí tận
hư không khắp pháp giới, trong
tất cả cõi Phật, thảy đều đầy
dẫy Bồ Tát cực huân tu, cực
thuần tịnh, điềm nhiên yên ổn
vắng lặng mà sinh hoạt ở trong
đó. Những Bồ Tát đó đức hạnh đều
viên mãn, phước huệ đầy đủ,
giống như Phổ Hiền Ðại Nguyện
Vương.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát đem các căn
lành, phương tiện hồi hướng tất
cả cõi Phật. Phương tiện hồi
hướng tất cả Bồ Tát. Phương tiện
hồi hướng tất cả Như Lai. Phương
tiện hồi hướng tất cả Phật bồ
đề. Phương tiện hồi hướng tất cả
nguyện rộng lớn. Phương tiện hồi
hướng tất cả đạo xuất yếu.
Phương tiện hồi hướng tịnh tất
cả chúng sinh giới. Phương tiện
hồi hướng nơi tất cả thế giới,
thường thấy chư Phật xuất hiện
ra đời. Phương tiện hồi hướng
thường thấy Như Lai thọ mạng vô
lượng. Phương tiện hồi hướng
thường thấy chư Phật khắp cùng
pháp giới, chuyển bánh xe pháp
bất thối không chướng ngại.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật !
Ngài nói: Ðại Bồ Tát đem tất cả
căn lành của Ngài tu, của Ngài
tích tập, dùng pháp môn phương
tiện khéo léo, hồi hướng cho tất
cả cõi nước chư Phật. Lại đem
tất cả căn lành của Ngài tu, của
Ngài tích tập, hồi hướng cho các
vị Bồ Tát trong mười phương thế
giới. Lại đem tất cả căn lành
của Ngài tu tập tích tụ, phương
tiện hồi hướng cho mười phương
chư Phật tận hư không khắp pháp
giới. Lại đem tất cả căn lành
của Ngài tu tập tích tụ, phương
tiện hồi hướng về bồ đề giác
đạo. Lại đem tất cả căn lành của
Ngài tu tập tích tụ, phương tiện
hồi hướng cho đại nguyện của chư
Phật và Bồ Tát đã phát, hy vọng
những lời nguyện các Ngài đều
viên mãn thành tựu. Lại đem tất
cả căn lành của Ngài tu tập tích
tụ, phương tiện hồi hướng cho
các đệ tử Phật chân tu thật học,
tinh tấn tu học yếu đạo xuất
thế. Yếu đạo xuất thế bao quát
cả đại thừa và tiểu thừa. Giống
như ba mươi bảy phẩm trợ đạo,
bốn pháp nhiếp, bốn tâm vô
lượng, thập độ, chỉ, quán, trí,
và bi.
Cho
nên trong Phẩm Thập Ðịa có nói:
"Bồ Tát dùng đại bi làm đầu, trí
huệ tăng thượng". Lại đem tất cả
căn lành của Ngài tu tập tích
tụ, phương tiện hồi hướng để
thanh tịnh tất cả chúng sinh
giới, khiến cho các chúng sinh
đều được an trụ nơi cõi nước
thanh tịnh. Lại đem tất cả căn
lành của Ngài tu tập tích tụ,
phương tiện hồi hướng đến tất cả
thế giới. Bồ Tát muốn chúng sinh
của tất cả thế giới, thời khắc
đều thấy được mười phương ba đời
tất cả chư Phật Như Lai, xuất
hiện ra thế giới của họ. Lại đem
tất cả căn lành của Ngài tu tập
tích tụ, phương tiện hồi hướng
đến chư Phật Như Lai, hy vọng
thọ mạng của chư Phật vô lượng
vô tận, vĩnh viễn thường trụ ở
đời. Lại đem tất cả căn lành của
Ngài tu tập tích tụ, phương tiện
hồi hướng đến chư Phật, hy vọng
luôn luôn thấy được chư Phật,
khắp cùng pháp giới, ở trong tận
hư không khắp pháp giới, chuyển
bánh xe pháp vĩnh viễn không
thối chuyển, chẳng có chướng
ngại.
Chuyển
pháp luân là vì Phật giáo mà
làm, là công việc hay khiến cho
Phật giáo thu được sự giáo hoá
có hiệu quả, đều có thể nói là
chuyển bánh xe pháp. Như in Kinh
điển, hoặc tượng Phật lưu truyền
trong đời, giảng Kinh thuyết
pháp trực tiếp khai đạo tiếp dẫn
chúng sinh, thậm chí chỉ vì một
người giải thích về đạo lý chút
ít Phật pháp, bất luận lớn nhỏ
nhiều ít, đều có thể gọi là đang
chuyển pháp luân. Tụng Kinh, lạy
Phật, trì chú, chỉ cần bạn lúc
nào cũng đều y theo lời dạy của
Phật là hành sự, tư tưởng hành
vi, xử sự tiếp vật, chẳng có tơ
hào nào trái ngược với sự biểu
hiện của Phật giáo, như thế đều
là đang chuyển bánh xe pháp.
Phật chuyển bánh xe pháp của
Phật, Bồ Tát chuyển bánh xe pháp
của Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên
Giác chuyển bánh xe pháp của
Thanh Văn, Duyên Giác. Chúng
sinh cũng có bánh xe pháp của
chúng sinh. Ai nấy đều đang
chuyển bánh xe pháp không ngừng.
Sở dĩ bánh xe pháp của Phật
không chướng ngại, là vì giáo lý
của Phật viên dung, chẳng có nơi
nào, chẳng có việc gì, mà chẳng
thông đạt. Bất thối chuyển là
niệm không thối chuyển, vị không
thối chuyển, hành không thối
chuyển.
-
Niệm không thối chuyển, là chỉ
có tư tưởng đại thừa, chứ chẳng
có tư tưởng tiểu thừa.
-
Vị chẳng thoái chuyển, là quả vị
bất thoái, thời thời đều an trụ
nơi quả vị Bồ Tát đại thừa,
chẳng có thoái lùi về quả vị
Thanh Văn, Duyên Giác nhị thừa.
-
Hành chẳng thoái chuyển, là tu
hành chẳng thối lùi, trước sau
đều tu lục độ vạn hạnh, quyết
chẳng làm tự liễu hán, hoặc làm
tiêu nha bại chủng ở trong Phật
giáo. Ðó gọi là chuyển bánh xe
pháp không thoái chuyển.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát đem các căn
lành hồi hướng như vậy, thì vào
khắp tất cả cõi Phật, nên tất cả
cõi Phật thảy đều thanh tịnh.
Đến khắp tất cả cõi chúng sinh,
nên tất cả Bồ Tát thảy đều thanh
tịnh. Nguyện khắp tất cả chư
Phật xuất hiện ra cõi Phật, nên
tất cả pháp giới, tất cả cõi
Phật, đều có các thân Như Lai
xuất hiện.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát tu pháp môn hồi hướng vô tận
công đức tạng, khi Ngài đem đủ
thứ căn lành công đức tu tập
tích tụ, như Kinh văn đã nói ở
trước, thì Ngài chẳng những vào
nơi một cõi Phật, mà cũng vào
khắp mười phương tất cả cõi nước
chư Phật. Ðó là vì công đức của
Ngài hồi hướng, cho nên hết thảy
mười phương cõi nước chư Phật
cũng nhờ đó mà thanh tịnh trang
nghiêm. Lại vào khắp trong hết
thảy cõi chúng sinh, cũng là vì
công đức của Ngài hồi hướng. Tất
cả Bồ Tát cũng đều đắc được
thanh tịnh trang nghiêm. Ngài
lại nguyện tất cả cõi nước của
chư Phật, đều có Phật xuất hiện
ra đời. Tất cả pháp giới, tất cả
cõi Phật, khi chư Phật xuất hiện
ra đời, thì đều rất an nhiên tự
tại, chẳng có chút trở ngại nào,
tuỳ thời tuỳ nơi, đều hiện thân
Phật.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát dùng vô tỉ hồi
hướng như vậy, hướng về nhất
thiết trí. Tâm của ngài rộng
lớn, như hư không, chẳng có hạn
lượng. Vào không thể nghĩ bàn,
biết tất cả nghiệp và quả báo,
thảy đều vắng lặng. Tâm thường
bình đẳng, chẳng có bờ mé, vào
khắp tất cả pháp giới.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng lại rất từ
hoà gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Dùng để phấn chấn
tinh thần của thính chúng trong
pháp hội, tăng thêm sức chú ý.
Ngài nói: Ðại Bồ Tát tu pháp hồi
hướng nầy, Ngài dùng pháp hồi
hướng thù thắng không thể ví dụ
được, chẳng có gì cao hơn được,
không thể nào tăng thêm được
nữa, đem căn lành công đức tu
tập, để hồi hướng về nhất thiết
trí, tức là trí huệ quả vị rốt
ráo viên mãn của chư Phật. Tâm
lượng cảnh giới của vị đại Bồ
Tát đó, rộng lớn như hư không,
do công phu tu hành của Ngài, đã
đạt đến trình độ lìa tướng hồi
hướng, cho nên tâm của Ngài rộng
lớn mà tịch chiếu không bờ mé,
cũng chẳng có hạn lượng, đã vào
cảnh giới tâm không thể suy tư,
không thể dùng lời luận bàn. Do
đó, Ngài biết được tất cả nghiệp
thiện và nghiệp ác, tương lai sẽ
được quả báo gì. Quả báo đó ở
trong ở trong tâm ý của Bồ Tát,
đều là vắng lặng. Cảnh giới đó,
có thể phân làm hai phương diện
mà nói: Tức cảnh giới của phàm
phu và cảnh giới của Bồ Tát. Do
đó biết tất cả nghiệp, là bao
quát nghiệp thiện ác và đủ thứ
nghiệp khác. Nghiệp thiện tức là
hạnh thanh tịnh, như tu phạm
hạnh, tâm từ bi đãi người tiếp
vật, sẽ đắc được quả báo thiện.
Nghiệp ác tức là làm những việc
ô nhiễm chẳng thanh tịnh, sẽ đắc
được quả báo ác. Bình thường
chúng ta thường nói trồng nhân
lành được quả lành, trồng nhân
ác được quả ác, tu hạnh thanh
tịnh thì đắc được quả trí huệ.
Ðó là nói về luật nhân quả, trở
thành nhân quả tuần hoàn của một
số phàm phu, đạo lý căn bản của
sự lưu chuyển sinh tử. Tại Bồ
Tát đã là ba nghiệp thanh tịnh,
biết rõ tất cả nghiệp đều từ tâm
mà hiện, cũng từ tâm mà diệt.
Trong tâm có thì tất cả đều có.
Trong tâm không thì tất cả đều
không. Cho nên nói:
"Thấu rõ tức nghiệp chướng vốn
không".
Nếu
minh bạch được đạo lý nầy, thì
tất cả nghiệp chướng đều là
không. Nếu chẳng minh bạch, thì
phải hoàn trả nợ cũ. Ở đây nói
thảy đều vắng lặng, nghĩa là nói
vốn chẳng có. Vì phàm phu chẳng
minh bạch đạo lý nầy, cho nên
chẳng cẩn thận về gieo trồng
nhân, đợi đến lúc quả báo chín
mùi, thì oán trời trách người,
cầu thần lạy Phật, đó lại có ích
gì ? Bồ Tát cẩn thận lúc trồng
nhân, đồng thời Ngài thấu rõ
được đạo lý tánh nghiệp vốn
không, thọ cũng tốt, không thọ
cũng tốt, Ngài coi đều là không
tịch. Bồ Tát dùng trí quán
chiếu, tất cả đều tức sự khế
chân, tâm niệm của Ngài tự nhiên
bình đẳng, chẳng có gì khác
biệt, vào khắp cảnh giới vô
ngại, cho nên nói vào trong pháp
giới mười phương ba đời, mà
chẳng có chướng ngại.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát hồi hướng
như vậy, thì chẳng phân biệt về
cái ta, và của ta. Chẳng phân
biệt Phật, và Phật pháp. Chẳng
phân biệt cõi và nghiêm tịnh.
Chẳng phân biệt chúng sinh và
điều phục. Chẳng phân biệt
nghiệp và nghiệp quả báo. Chẳng
phân biệt suy nghĩ và khởi suy
nghĩ. Chẳng hoại nhân, chẳng
hoại quả. Chẳng lấy sự, chẳng
lấy pháp. Chẳng cho rằng sinh tử
có phân biệt, chẳng cho rằng
Niết Bàn luôn vắng lặng. Chẳng
cho rằng Như Lai chứng cảnh giới
Phật, chẳng có chút pháp nào
cùng ở với pháp.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát
khi Ngài đem căn lành công đức
tu tập, thành tâm thành ý hồi
hướng về vô thượng bồ đề, chân
như thật tế, pháp giới chúng
sinh, thì trong tâm của Ngài
chẳng có tơ hào tạp niệm phân
biệt; Ngài chưa từng nghĩ đến
đây là ta hồi hướng, đó là sự
hồi hướng của ta. Ngài cũng
chẳng phân biệt đây là ta phải
cung kính Phật, kia là Phật pháp
mà ta hoan hỉ tu học. Cũng chẳng
phân biệt đây là cõi nước của
ai, hoặc là cõi nước của Phật.
Là cõi nước của Phật thì trang
nghiêm và còn thanh tịnh. Ngài
cũng chẳng phân biệt đây là
chúng sinh thiện, hay là chúng
sinh ác, ta hồi hướng cho chúng
sinh nầy, hoặc điều phục chúng
sinh kia, lợi ích họ, nhiếp thọ
họ. Ngài cũng chẳng nghĩ nghiệp
mà mình làm là thiện, là ác,
tương lai phải đắc được quả báo
gì. Vị đại Bồ Tát nầy tu hồi
hướng, Ngài chẳng chấp vào ý
nghĩ, cũng chẳng nghĩ những ý
niệm đó sinh khởi như thế nào,
vì Ngài biết duyên thành là vô
tính, tự nhiên sẽ lìa khỏi đủ
thứ vọng niệm. Ngài cũng chẳng
hoại nhân, nhân có hạt giống của
nhân, tuỳ theo tự nhiên của nó;
quả cũng có quả tự nhiên thành
quả báo của nó. Bồ Tát cũng
chẳng chấp vọng, chấp không,
dùng sự hiểu biết của Ngài "Biết
dùng tức chân", chẳng ngại tồn
tại, chẳng hoại giả danh. Thật
tướng vô tướng, chẳng hoại nhân
quả. Bồ Tát Ngài cũng chẳng thủ
lấy sự tướng, cũng chẳng thủ lấy
về pháp lý. Ngài cũng chẳng nói
sinh tử, sinh rồi chết, chết rồi
sinh, có nhiều phân biệt như
thế. Ngài cũng chẳng nói Niết
Bàn là vắng lặng, tất cả đều
không. Ngài cũng chẳng nói Phật
chứng được cảnh giới, tại sao ?
Vì chẳng có chút pháp nào đắc
được, cùng ở với pháp. Pháp cũng
là không, cho nên thân tâm của
Ngài như hư không, chẳng chấp
vào tất cả cảnh giới, chẳng thủ
lấy bất cứ tướng nào, cho nên
nói cùng ở với pháp. Phật tức
pháp giới, không nên dùng pháp
giới càng chứng pháp giới. Vì Bồ
Tát chẳng có chút pháp làm trí
chỗ vào, cũng chẳng có chút trí
mà vào nơi như.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát hồi hướng
như vậy, thì đem các căn lành bố
thí khắp cho chúng sinh. Quyết
định thành thục, bình đẳng giáo
hoá, không tướng, không ngại,
không xưng lượng, không hư vọng,
xa lìa tất cả phân biệt chấp
lấy.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị đại Bồ
Tát nầy, khi Ngài hồi hướng như
Kinh văn đã nói ở trước, Ngài
lại đem các căn lành mà Ngài tu
tập, bố thí hồi hướng khắp cho
tất cả chúng sinh, hy vọng tất
cả chúng sinh đắc được lợi ích
của Ngài hồi hướng, cũng sẽ tăng
trưởng căn lành của họ, có thể
đắc được tính nghiệp thiện quyết
định, thành thục quả báo thiện.
Bồ Tát giáo hoá những chúng sinh
đó, đều xem như nhau, chẳng có
tâm thủ lấy xả bỏ, cũng chẳng có
quan niệm oán thân. Ngài chẳng
thấy tướng chúng sinh, chẳng thủ
lấy sự giáo hoá, bất luận có
duyên hay vô duyên, Ngài đều
bình đẳng giáo hoá. Chẳng xưng
lượng căn tánh, chẳng phân biết
so sánh, chẳng màng tốt xấu,
thông minh ngu si, thiện ác,
Ngài đều giáo hoá như nhau,
chẳng nói chúng sinh nầy tôi
giáo hoá, chúng sinh kia quá
xấu, quá ngu si, tôi chẳng giáo
hoá. Ngài chẳng có những tâm
phân biệt hư vọng, chẳng có quan
niệm tư tưởng năng độ, sở độ,
tướng ta, tướng người, tướng
chúng sinh tác quái, Ngài đều
dùng tâm chân thật bình đẳng
giáo hoá. Bồ Tát xa lìa tất cả
tâm phân biệt, và tâm biên kiến
thủ lấy chấp trước.
Đại
Bồ Tát hồi hướng như vậy rồi,
đắc được vô tận căn lành. Đó là:
Niệm tất cả chư Phật ba đời, nên
đắc được vô tận căn lành. Niệm
tất cả Bồ Tát, nên đắc được căn
lành vô tận. Thanh tịnh các cõi
Phật, nên đắc được căn lành vô
tận. Thanh tịnh các chúng sinh
giới, nên đắc được căn lành vô
tận. Vào sâu pháp giới, nên đắc
được căn lành vô tận. Tu vô
lượng tâm đồng hư không giới,
nên đắc được căn lành vô tận.
Hiểu thâm sâu tất cả cảnh giới
của Phật, nên đắc được căn lành
vô tận. Nơi nghiệp Bồ Tát siêng
năng tu tập, nên đắc được căn
lành vô tận. Thấu rõ thông đạt
ba đời, nên đắc được căn lành vô
tận.
Ðại
Bồ Tát, chẳng có tâm hư vọng
phân biệt như Kinh văn ở trước
đã nói, chẳng chấp trước biên
kiến, chẳng có thủ lấy xả bỏ
chấp trước tướng ta, bình đẳng
hồi hướng cho tất cả chúng sinh
rồi, thì Ngài đắc được căn lành
vô cùng vô tận. Vì Ngài thường
niệm công đức của chư Phật mười
phương ba đời, nên đắc được căn
lành vô cùng vô tận. Và nữa,
chẳng những Ngài thường niệm chư
Phật, mà còn thường niệm tất cả
các hiền Thánh Tăng trong mười
phương, những vị hiền Thánh Tăng
đó đều là đại Bồ Tát trong mười
phương. Các Ngài thường niệm
chúng sinh, đại từ đại bi, cứu
khổ cứu nạn, hành Bồ Tát đạo,
cho nên vị đại Bồ Tát nầy, tu
pháp hồi hướng cũng thường niệm
từ bi của tất cả Bồ Tát đó, mà
đắc được căn lành vô cùng vô
tận. Lại nữa, như Ngài đem công
đức tu hạnh thanh tịnh, để trang
nghiêm cõi nước chư Phật, do đó
cũng đắc được căn lành vô cùng
vô tận. Chẳng những Ngài trang
nghiêm cõi Phật, khiến cho thanh
tịnh, mà Ngài cũng giáo hoá tất
cả chúng sinh, khiến cho tất cả
chúng sinh cũng đắc được thanh
tịnh, cho nên cũng đắc được căn
lành vô cùng vô tận.
Ngài
chẳng những trang nghiêm cõi
Phật và chúng sinh giới, Ngài
còn vào sâu pháp giới, khiến cho
pháp giới khắp thanh tịnh trang
nghiêm, cũng đắc được căn lành
vô cùng vô tận. Ngài lại tu bốn
tâm vô lượng: Tâm từ vô lượng,
tâm bi vô lượng, tâm hỉ vô
lượng, tâm xả vô lượng, khiến
cho tâm lượng chẳng có bờ mé
giống như hư không, cũng đắc
được căn lành vô cùng vô tận. Bồ
Tát lại hiểu rõ thâm sâu cảnh
giới của tất cả chư Phật, cho
nên cũng đắc được vô lượng căn
lành. Ðối với tất cả nghiệp
thiện của Bồ Tát phải tu tập, ví
như phải lập công lập đức, thì
phải luôn luôn siêng tu lục độ:
Bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí huệ.
Thiết thực tu hành lục độ, tức
là nghiệp thiện của Bồ Tát. Và
còn thêm phương tiện, nguyện,
lực, trí, hợp lại là thập độ, do
trong thập độ mà thực tiễn làm
trăm hạnh, nghìn hạnh, vạn hạnh,
cho nên thường nói Bồ Tát tu
thập độ vạn hạnh. Bồ Tát tu thập
độ nầy, còn gọi là thập Ba La
Mật, là vì lợi ích tất cả chúng
sinh.
Bồ
Tát tu tập đủ thứ nghiệp thiện,
không thể giải đãi, nhất định
phải luôn luôn tinh tấn hành
đạo, mới tài bồi thành tựu công
đức lành, càng phải ngừng tất cả
nghiệp ác lỗi lầm. Bồ Tát Ngài
dũng mãnh tinh tấn, tinh tấn
càng tinh tấn, cho nên Ngài đắc
được căn lành vô cùng vô tận. Bồ
Tát lại minh bạch tất cả sự vật
ba đời đã thành, đang thành và
sẽ thành, như minh bạch công đức
của chư Phật đời quá khứ đã
thành tựu, là Phật đã thành.
Minh bạch chư Phật đời hiện tại,
hiện tại đang thành Phật. Minh
bạch chư Phật đời vị lai, đang
tinh tấn hành đạo, tương lai sẽ
thành Phật. Ðối với cảnh giới
của tất cả chư Phật mười phương
ba đời, thảy đều minh bạch. Ðồng
thời cũng minh bạch chúng sinh
đời quá khứ, chúng sinh đời hiện
tại, chúng sinh đời vị lai,
chúng sinh ba đời đều có thể
thành Phật. Vì thông đạt được ba
đời, cho nên cũng đắc được căn
lành vô cùng vô tận.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát đem tất cả
căn lành hồi hướng như vậy, thì
thấu rõ tất cả cõi chúng sinh,
chẳng có chúng sinh. Hiểu tất cả
các pháp, chẳng có thọ mạng.
Biết tất cả các pháp, chẳng có
tác giả. Ngộ tất cả các pháp,
không có Bổ Già La. Thấu rõ tất
cả các pháp, chẳng có phẫn hận
tranh luận. Quán tất cả các
pháp, đều từ duyên khởi, chẳng
có trụ xứ. Biết tất cả sự vật,
đều chẳng có chỗ nương. Thấu rõ
tất cả các cõi đều chẳng chỗ
trụ. Quán tất cả Bồ Tát, cũng
chẳng có xứ sở. Thấy tất cả cảnh
giới, đều chẳng chỗ có.
Các
vị đệ tử của Phật ! Khi đại Bồ
Tát, đem đủ thứ căn lành của
Ngài tu tập, như phương pháp hồi
hướng ở trước đã nói, Ngài minh
bạch tất cả chúng sinh giới,
chẳng có chúng sinh để độ. Như
Phật nói ở trong Kinh Kim Cang
rằng:
"Phật diệt độ tất cả chúng sinh,
Mà chẳng có một chúng sinh được
diệt độ".
Tâm
cảnh nầy, tức là chẳng chấp
trước, tức là hành sở vô sự. Bồ
Tát thấu đạt đạo lý nầy, dù có
độ hết chúng sinh trong cõi
chúng sinh, Ngài cũng cảm thấy
chẳng có một chúng sinh nào được
độ. Bồ Tát lại thấu hiểu tất cả
đều chẳng có thọ mạng, vì chẳng
có chúng sinh, cho nên chẳng có
một tướng chúng sinh nào. Tất cả
pháp nầy, vốn là vô thường, vắng
lặng, chẳng có thọ mạng của một
pháp nào, và tướng thọ giả. Tức
cũng là không có tướng ta, không
có tướng người, không có tướng
chúng sinh, không có tướng thọ
giả. Bồ Tát cũng biết tất cả các
pháp chẳng có tác giả, cũng
chẳng có người chi phối thao
túng. Phật nói:
Chư pháp tùng bản lai
Thường trụ tịch diệt tướng
Bất khả dĩ ngôn thuyên.
Nghĩa là:
"Các pháp từ xưa nay,
Thường trụ tướng vắng lặng,
Không thể dùng lời nói".
Ðây
tức là nói: "Pháp chẳng có ai
làm nên". Ngộ tất cả pháp là
không có Bổ Già La, dịch là "Số
thủ thú". Tức là chỉ chẳng biết
tu nghiệp thiện, phàm phu chẳng
minh bạch nhân quả, đều ở trong
sáu nẻo luân hồi sinh tử, chết ở
đây, sinh về kia. Có lúc làm
người, có lúc làm súc sinh, ngạ
quỷ, địa ngục, ở trong luân hồi
sinh tử, tuần hoàn không ngừng.
Tại tri kiến của phàm phu nhìn
lại là thật có, đây là một thứ
tri kiến vào lúc mê muội. Song,
tại Bồ Tát dùng tri kiên giác
ngộ của Ngài mà nhìn, thì là hư
vọng, chẳng thật có. Ở đây có
thể đưa ra ví dụ: Giống như vỡ
kịch, bất quá là người trong ban
diễn kịch mà thôi. Vỡ kịch kết
thúc, thì tất cả đều quá khứ,
huyễn diệt mất. Bất quá khi diễn
kịch, làm người thật, phải diễn
càng thật càng tốt, như là có
thật, kỳ thật đều là hư vọng,
chẳng phải là chuyện có thật.
Ngộ tất cả pháp, tức là giác ngộ
tất cả các pháp, pháp nầy tức là
sinh tử luân hồi của con người,
chúng sinh mê vọng lấy pháp điên
đảo làm chân. Một khi giác ngộ,
thì sẽ không còn đi đầu thai vào
các cõi khác.
Lại
vì liễu ngộ tất cả các pháp, nên
chẳng có phẫn hận tranh luận,
trong tâm phẫn nộ lại sân hận,
đó đều là vì thấy cái ta, chấp
cái ta quá nặng, tự cho rằng là
biên kiến dẫn khởi. Tranh luận
là tranh luận thị phi, tranh
luận ta người, tranh luận mạnh
yếu, tranh luận hơn thua, tranh
luận được mất, tất cả những
tranh luận đó, đều do sự cố
chấp, biên kiến, cho rằng mình
là hơn hết, mà dẫn đến sự bất
bình, cho nên khắp nơi đều có
phẫn hận tranh luận, lớn thì
nước này với nước nọ tranh luận,
nhỏ thì người với người tranh
luận, chẳng có lúc nào ngừng
nghỉ.
Thật
tướng của tranh luận, có thể
dùng sóng trong biển làm ví dụ.
Khi chẳng có sóng, thì nước
trong như gương, nước với bầu
trời một màu. Một khi gió nổi
lên, thì làm cho nước nổi sóng,
gió nhẹ thì sóng nhỏ, gió lớn
thì sóng lớn. Sự tranh luận của
con người cũng như thế, càng
tranh càng khốc liệt. Sóng lớn
trong biển làm tàu thuyền lật,
làm người chết của mất. Tranh
luận ở nhân gian đến cực điểm,
thì dẫn đến chiến tranh, nước
mất nhà tan, tổn người mà cũng
chẳng lợi cho mình. Nói về thời
cận đại, đại chiến thế giới,
chiến tranh giữa Trung Quốc và
Nhật Bản, chiến tranh Hàn Quốc,
chiến tranh Việt Nam, ai ai cũng
đều biết, đó chẳng phải là do
phẫn hận tranh luận mà phát sinh
chăng ! Sự đau thảm đó, cuối
cùng có lợi về ai ? Vì phẫn hận
tranh luận, mà dẫn đến phiền não
vô hạn. Tất cả các pháp nói ở
đây, ở trước là chỉ về pháp sinh
tử của con người, hiện tại lại
nói là chỉ về pháp phiền não.
Phật nói với chúng ta rằng:
Chúng sinh có tám vạn bốn ngàn
thứ phiền não, muốn cầu được tự
tại giải thoát, thì trước hết
phải dứt trừ tất cả phiền não.
Mục đích tu hành là cầu giải
thoát, cho nên trước hết là
chúng ta phải phát nguyện:
"Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn".
Muốn
dứt trừ được phiền não, thì phải
từ sự và lý mà quyết định. Về sự
mà nhìn, thì phàm phu vì chẳng
thấu rõ tất cả các pháp, nên
trong ý niệm đầy dẫy tham sân
si. Do tâm ích kỷ tư lợi lăn xăn
không ngừng, cho nên sinh ra vô
tận phiền não, ràng buộc tâm của
phàm phu. Vì chẳng thấu rõ các
pháp, nên phàm phu cho đến chết
mà vẫn thoát ra không khỏi sự
ràng buộc của phiền não. Khi
phàm phu phát tâm tu hành, thì
phát hoằng thệ nguyện "Phiền não
vô tận thệ nguyện đoạn".
Ở
tại lý mà nói, thì Bồ Tát đã
liễu ngộ các pháp đều là hư
vọng, vì đã ngộ, cho nên phiền
não chẳng còn nữa. Vì phàm phu
chưa giác ngộ, nên có tất cả
phiền não hư vọng không thật.
Phiền não nó vốn là mặt trái của
bồ đề, là một tên khác. Một vật
hai mặt có hai tên mà thôi. Cổ
đức có nói:
"Chuyển phiền não thành bồ đề".
Chuyển
phiền não biến thành bồ đề, thì
phiền não chẳng còn nữa, hiển
hiện ra tức là tâm đại bồ đề,
cho nên nói phiền não chẳng phải
đoạn, mà là chuyển. Ở đây có thể
dùng một ví dụ. Như nước và
băng, bản thể của băng tức là
nước. Băng tức giống như phiền
não, nước tức là bồ đề. Thời
tiết ấm áp ôn hoà, thì nước luôn
luôn trong suốt phẳng lặng,
chẳng có sóng, không thể đóng
thành băng. Nếu phàm phu học Bồ
Tát tu hành, thì thường trụ ở
trong đạo nghiệp thanh tịnh vô
vi, tự nhiên sẽ chuyển phiền não
thành bồ đề, biến sinh tử thành
Niết Bàn, như vậy thì còn có
phẫn hận tranh luận, còn có
phiền não gì nữa ! Ðại Bồ Tát tu
pháp hồi hướng, vì Ngài đã thấu
đạt tất cả các pháp đều hư vọng
không thật, cho nên Ngài chẳng
có phẫn hận tranh luận.
Bồ
Tát lại quán sát nguyên nhân
sinh khởi của tất cả các pháp,
Ngài minh bạch các pháp đều từ
duyên sinh, và tuỳ duyên mà
diệt, nhân duyên sinh ra pháp đó
là không, là giả. Phật đã từng
nói với các vị đệ tử:
"Nhân duyên sinh ra pháp,
Ta nói tức là không.
Cũng gọi là giả danh,
Cũng gọi nghĩa trung đạo".
Kỳ
thật, không lại chẳng phải là
chân không, nhưng cũng phải vì
nó an trụ một tên giả, nếu minh
bạch được đạo lý nầy, thì biết
trong đó hàm chứa ý nghĩa trung
đạo. Nói về trung đạo, thì chẳng
không, chẳng có, chẳng rơi vào
không, cũng chẳng rơi vào có,
cho nên nói: "Nhân duyên sinh ra
pháp". Bồ Tát quán sát minh bạch
về chân đế nầy, Ngài biết pháp
chẳng có chỗ rơi vào cố định,
pháp chẳng có bản thể, chẳng có
tướng trạng, sao nó lại có trụ
xứ ? Ðây cũng kêu mọi người đừng
chấp trước. Một khi có sự chấp
pháp, thì sẽ sinh ra pháp chướng
ngại. Chấp trước về pháp, cũng
như không có phiền não mà tự tìm
phiền não. Bồ Tát lại biết tất
cả mọi sự vật, đều chẳng có nơi
nương tựa, đều là hư vọng,
không, giả hoà hợp, sao lại có
chỗ nương, cũng chẳng có chỗ
tựa, đó đây đều do nhân duyên
sinh ra. Nói có thể nương, đều
có quan hệ liên đới với nhau,
nói chẳng có chỗ nương, cũng
thật tại không thể y trì. Bồ Tát
lại minh bạch tất cả cõi nước,
cõi Phật, cũng đều chẳng có xứ
sở nhất định. Tại phàm phu mà
nhìn, thì núi là núi, nước là
nước, đại địa là đại địa, hư
không là hư không. Song, tại bậc
Thánh nhân mà nhìn, thì tất cả
đều là hư vọng không thật tại,
cho nên Ngài chẳng chấp trước,
giống như chẳng có quan niệm về
một cõi nước cố định. Khi Bồ Tát
hành Bồ Tát đạo, thì Ngài chưa
từng nghĩ đến Ngài đang làm công
đức, đang tích tập căn lành.
Ngài hành sở vô sự, vì Bồ Tát
quán tất cả hạnh Bồ Tát chẳng có
thật thể, tức chẳng có thật thể,
thì sao lại có xứ sở, lại hà tất
phải so sánh ? Bồ Tát thấy tất
cả cảnh giới, đều chẳng đủ dẫn
đến sự chú ý của Ngài, vì Ngài
đã chiếu thấy năm uẩn đều không.
Bồ Tát thấy cảnh giới gì, thì
Ngài minh bạch rõ ràng cảnh giới
đó. Ngài chẳng những chẳng bị
cảnh giới mê hoặc, mà Ngài còn
chuyển biến được cảnh giới, đây
tức là định lực của Bồ Tát, và
sức trí huệ không chấp, không
nương. Ngài minh bạch tất cả
cảnh giới như huyễn, như hoá,
chẳng có thể tánh chân thật, cho
nên nói thảy đều chẳng chỗ có.
Ðạo lý nầy là cảnh giới công
hạnh của đại Bồ Tát. Vị đại Bồ
Tát nầy tu vô tận tạng, Ngài mới
có cảnh giới nầy. Trong tâm mắt
của phàm phu chúng ta, không thể
nói như thế. Nếu nói như thế,
tức là đại vọng ngữ (đại nói
dối), lừa gạt người. Phàm phu
nhìn tất cả đều là có, thật tại,
tư tưởng của phàm phu và tư
tưởng của Bồ Tát hoàn toàn khác
nhau. Tâm nguyện của Bồ Tát là
lợi tha, nguyện vọng của phàm
phu là lợi mình. Cho nên phàm
phu thấy tất cả đều là có, Bồ
Tát thì thấu rõ là không, minh
bạch tất cả đều là hư vọng, nên
thấy tất cả đều không chấp.
Không chấp thì tất cả không chỗ
có; có sự chấp trước, thì cảm
thấy tất cả đều là có, đều là
chân thật.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát hồi hướng
như vậy, thì mắt của Ngài chẳng
thấy cõi Phật chẳng thanh tịnh.
Lại cũng chẳng thấy tướng chúng
sinh khác. Chẳng có chút pháp
nào là chỗ vào của trí, cũng
chẳng có chút trí nào mà vào nơi
pháp. Hiểu thân Như Lai chẳng
phải hư không, vì tất cả công
đức vô lượng diệu pháp viên mãn.
Vì khắp tất cả mọi nơi, khiến
cho các chúng sinh tích tập căn
lành thảy đều đầy đủ.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng sợ các chúng
sinh ba đời chẳng chú ý, cho nên
lại gọi một tiếng các vị đệ tử
của Phật ! Vị Bồ Tát nầy tu hồi
hướng vô tận công đức tạng, là
vị đại Bồ Tát, khi Ngài hồi
hướng như ở trên đã nói, thì
trong mắt của Ngài chẳng nhìn
thấy cõi Phật chẳng thanh tịnh,
vì Ngài đã thấu hiểu dơ tức
không, đồng thời tâm của Ngài
rất thanh tịnh, cho nên trong
mắt của Ngài tất cả cõi Phật đều
đã thanh tịnh, và chẳng có cõi
Phật bất tịnh. Ngài lại chẳng
thấy tướng khác của chúng sinh,
vì chúng sinh cũng giống như
không, hơn nữa chúng sinh cũng
đều có đức tướng trí huệ của Như
Lai, đồng với Phật không hai
không khác. Bồ Tát thấy cõi Phật
thanh tịnh, chúng sinh thanh
tịnh, pháp cũng thanh tịnh, do
đó, Ngài biết chẳng có chút pháp
nào dùng trí huệ để phát giác,
vì ngoài trí chẳng có vật gì có
thể làm chỗ vào của trí, pháp
tánh thì vắng lặng, cũng chẳng
có chút trí huệ nào mà có thể
vào trong pháp. Vì trí thì lặng
mà thường chiếu, chẳng có gì
khác biệt. Bồ Tát lại thấu hiểu
thân của Phật chẳng phải là hư
không, tuy nhiên thường nói thân
Phật như hư không, đó là hình
dung pháp thân của Phật rộng
lớn, tâm lượng của Ngài như hư
không, bao hàm hết tất cả. Hư
không thì rộng lớn, nhưng nó thì
trầm lặng, vô tri, không có linh
tánh, chẳng có công đức, chẳng
có diệu pháp. Thân Phật thì đầy
đủ tất cả công đức, vô lượng
diệu pháp viên mãn, mà thành tựu
pháp thân, báo thân, hoá thân.
Cho nên nói chẳng phải như hư
không. Bồ Tát Ngài lại có thể ở
tất cả mọi nơi, khiến cho tất cả
chúng sinh, đều tích tập vô
lượng đủ thứ căn lành, hết thảy
tất cả căn lành đều đầy đủ viên
mãn.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy, ở trong
niệm niệm, đắc được bất khả
thuyết bất khả thuyết thập lực,
đầy đủ tất cả phước đức, thành
tựu thanh tịnh căn lành, làm
ruộng phước của tất cả chúng
sinh. Đại Bồ Tát nầy thành tựu
tạng công đức ma ni như ý, vì
tuỳ theo sự cần dùng, tất cả đồ
ưa thích thảy đều có đủ. Tuỳ
phương hướng du hành đến, đều
nghiêm tịnh tất cả cõi nước. Tuỳ
chỗ tu hành, khiến cho bất khả
thuyết bất khả thuyết chúng
sinh, thảy đều thanh tịnh. Vì
nhiếp lấy phước đức, tu trị các
hạnh.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát
nầy tu hồi hướng vô tận công đức
tạng, Ngài ở trong niệm niệm,
đắc được thập lực của Phật nhiều
bất khả thuyết bất khả thuyết.
Ngài đầy đủ viên mãn hết thảy
phước đức của chư Phật, thành
tựu căn lành thanh tịnh mà Ngài
tu tập. Căn lành thanh tịnh tức
là pháp xuất thế. Buông bỏ tất
cả pháp nhiễm ô, mà tu hành pháp
thanh tịnh xuất thế, đem căn
lành tu tịnh pháp nầy thành tựu,
tức là căn lành thanh tịnh, mà
làm ruộng phước tốt cho tất cả
chúng sinh, khiến cho chúng sinh
ở trước Ngài cúng dường trồng
phước. Vị đại Bồ Tát nầy, do tu
pháp môn hồi hướng công đức vô
tận tạng nầy, mà thành tựu công
đức bảo tạng ma ni như ý. Công
năng của tạng báu nầy là làm cho
toại tâm như ý, biến hoá vô
cùng. Chẳng có gì mà không được
mãn nguyện. Nếu Ngài nghĩ muốn
đủ thứ nhạc khí âm nhạc, thì lập
tức sẽ đắc được. Bất cứ Ngài
nghĩ muốn đi đến đâu tham quan
du lãm, hoặc đến cõi Phật nào
đó, để lễ bái tham phương, thì
tuỳ thời đều sẽ đến được, mà còn
khiến cho cõi nước chư Phật mà
Ngài đến, đều thanh tịnh trang
nghiêm. Tuỳ ý Ngài muốn đến đâu,
thì đều khiến cho những nơi đó,
chúng sinh nhiều bất khả thuyết
bất khả thuyết, đều được thanh
tịnh. Tất cả cảnh giới thù thắng
đó, Bồ Tát đều nhiếp lấy vô
lượng vô biên phước đức, vì tu
trị đủ thứ hạnh của các Bồ Tát
tu hành.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát hồi hướng
như vậy, tu tất cả hạnh Bồ Tát,
phước đức thù thắng, sắc tướng
không thể so sánh được. Oai lực
quang minh, vượt hơn các thế
gian. Ma và dân ma chẳng dám
nhìn đối lập. Căn lành đầy đủ,
nguyện lớn thành tựu, tâm lượng
rộng lớn, đồng nhất thiết trí. Ở
trong một niệm, đều có thể đến
khắp vô lượng cõi Phật. Trí lực
vô lượng, thấu đạt tất cả cảnh
giới của chư Phật. Nơi tất cả
chư Phật, đắc được tin hiểu thâm
sâu. Trụ nơi vô biên trí. Tâm
lực bồ đề rộng lớn như pháp
giới, rốt ráo như hư không.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại Bồ Tát
tu hồi hướng vô tận công đức
tạng nầy, tu đủ thứ hạnh Bồ Tát,
khiến cho Ngài đắc được vô tận
phước trí, vượt hơn tất cả phước
trí. Vì phước đức thù thắng, nên
có ba mươi hai sắc tướng đoan
nghiêm, tám mươi vẻ đẹp, không
gì có thể so sánh được. Sức đại
oai đức của Ngài, và trí huệ
quang minh, vượt hơn tất cả
phước đức oai lực và quang minh
của thế gian, khiến cho ma
vương, dân chúng của chúng,
chẳng dám mở mắt nhìn Bồ Tát.
Khi Bồ Tát tu trị đến giai đoạn
nầy, thì Ngài đã đầy đủ hết thảy
tất cả công đức, thành tựu tất
cả nguyện lớn mà Ngài đã phát.
Phước đức thù thắng của Ngài,
tâm của Ngài rộng lớn có thể bao
thái hư, lượng của Ngài rộng
khắp sa giới, trí huệ của Ngài
đồng với nhất thiết trí của
Phật. Ở trong mỗi niệm, có thể
vào khắp cõi nước của chư Phật
trong mười phương. Sức trí huệ
của Ngài, không thể hạn lượng,
thông đạt được cảnh giới của
mười phương chư Phật. Ðối với
đạo lý của chư Phật chứng được,
tin hiểu sâu xa không có hoài
nghi, vì Ngài an trụ ở trong vô
lượng trí huệ. Bồ Tát Ngài phát
tâm bồ đề, rộng lớn như pháp
giới, rốt ráo như hư không,
chẳng có chỗ nào mà chẳng đạt
đến.
Phật
tử ! Đó là hồi hướng vô tận công
đức tạng thứ năm của đại Bồ Tát.
Các
vị đệ tử của Phật ! Kinh văn
trường hàng vừa nói ở trên, là
pháp môn hồi hướng vô tận công
đức tạng thứ năm của đại Bồ Tát
tu hành.
Đại
Bồ Tát trụ nơi hồi hướng nầy,
đắc được mười vô tận tạng. Những
gì là mười ? Đó là: Được thấy
Phật vô tận tạng, vì nơi một lỗ
chân lông, thấy được A tăng kỳ
các đức Phật xuất hiện ra đời.
Được
nhập vào pháp vô tận tạng, vì
dùng trí lực của Phật, quán tất
cả các pháp, đều vào một pháp.
Được
nhớ trì vô tận tạng, vì thọ trì
tất cả pháp của Phật nói, chẳng
có quên mất.
Được
quyết định huệ vô tận tạng, vì
khéo biết tất cả pháp bí mật
phương tiện của Phật nói.
Được
hiểu nghĩa lý thú hướng vô tận
tạng, vì khéo biết các pháp lý
thú phân đều.
Được
vô biên ngộ hiểu vô tận tạng, vì
dùng trí như hư không, thông đạt
tất cả các pháp ba đời.
Được
phước đức vô tận tạng, vì sung
mãn ý của tất cả chúng sinh
không cùng tận.
Được
dũng mãnh trí giác vô tận tạng,
vì đều trừ diệt được màng ngu si
của tất cả chúng sinh.
Được
quyết định biện tài vô tận tạng,
vì diễn nói tất cả pháp bình
đẳng của Phật, khiến cho các
chúng sinh đều hiểu rõ.
Được
thập lực vô uý vô tận tạng, vì
đầy đủ tất cả hạnh của Bồ Tát,
đến được nhất thiết trí không
chướng ngại. Đó là mười.
Khi
đại Bồ Tát, Ngài tu trị viên mãn
pháp hồi hướng vô tận công đức
tạng thứ năm rồi, liền đắc được
sự lợi ích vô cùng tận, như tạng
báu. Hiện tại quy nạp về mười vô
tận tạng. Những gì là mười ? Bồ
Tát Kim Cang Tràng thảy đều phân
biệt giải thích. Mỗi thứ trước
hết đều đưa ra tên mục tiêu, sau
đó thuyết minh:
1.
Ðược thấy Phật vô tận tạng: Bồ
Tát tu tập viên mãn hồi hướng
thứ năm, được thấy vô số lượng
các đức Phật, thậm chí ở trong
một lỗ lông, đều có thể thấy
được các vị Phật nhiều như số A
tăng kỳ, xuất hiện ra đời giáo
hoá chúng sinh. Ðó là biểu thị ý
nghĩa tâm tánh không lớn nhỏ,
một nhiều không ngại. Vì liễu
ngộ, minh bạch rồi thì chuyển
thức thành trí, trí tịnh ảnh rõ,
cho nên có được cảnh giới nầy,
chứ chẳng phải phàm phu dùng
huyễn giác của ý thức hiển hiện.
2.
Ðược nhập vào pháp vô tận tạng:
Ðược nhập vào nghĩa lý thâm sâu
của pháp. Dùng sức trí huệ như
Phật quán sát tất cả các pháp,
đồng như một pháp. Quán tất cả
các pháp cũng đồng như một pháp,
vì Bồ Tát đã chứng biết pháp lý
nghĩa thú. Hay dùng diệu huệ
biết mật nghĩa của pháp, phương
tiện khéo léo, quyền thật tự tại
vận dụng, cho nên Ngài quán tất
cả pháp đều vào một pháp.
3.
Ðược nhớ trì vô tận tạng: Nhớ là
ghi nhớ. Trì là thọ trì; thọ nơi
tâm, trì nơi thân. Nhớ trì tức
là nói sức trí nhớ của mỗi người
rất mạnh, lọt qua mắt không
quên. Bất cứ Kinh điển gì, chỉ
cần lọt qua mắt của Ngài, nhìn
qua một lần, thì vĩnh viễn nhớ
rõ. Phật pháp mà mười phương ba
đời chư Phật đã nói, nay nói, và
sẽ nói, Ngài chỉ cần nghe qua,
xem qua, thì vĩnh viễn chẳng
quên mất, Ngài nhất định tâm
thần lãnh hội, y giáo phụng
hành, cổ nhân có nói:
"Một khi lọt vào mắt
Vĩnh viễn là hạt giống đạo".
4.
Ðược quyết định huệ vô tận tạng:
Quyết định tức là có trí huệ
thấy biết như thật, chẳng có sự
nghi ngờ không quyết định. Bất
cứ chuyện gì đến, lập tức nhận
thức rõ ràng, dùng trí để quyết
đoán. Trí huệ của Bồ Tát thanh
tịnh, trí huệ xuất thế đệ nhất
nghĩa đế, chẳng có biên kiến,
ngã kiến. Trí huệ thế gian của
phàm phu chẳng thuần tịnh, là
một thứ ngã kiến, biên kiến, ngu
si biểu hiện. Bồ Tát chẳng những
có trí huệ quyết định vô cùng
tận, mà Ngài còn khéo minh bạch
pháp phương tiện bí mật của chư
Phật nói. Pháp phương tiện là
căn cứ vào cơ sở của chúng sinh,
đối với sức hiểu biết của chúng
sinh, mà nói ra pháp, khiến cho
chúng sinh rất dễ tiếp thọ. Ðó
là trí huệ diệu dụng giáo hoá
chúng sinh không thể thiếu
khuyết.
5.
Ðược hiểu nghĩa lý thú hướng vô
tận tạng: Nghĩa là chân chánh
đạo lý của pháp. Thú là thú
hướng của nghĩa lý. Hiểu nghĩa
thú: Là nói Bồ Tát đắc được thấu
rõ minh bạch nghĩa lý của pháp
sở tại. Chẳng riêng gì thấu rõ
nghĩa lý thú hướng của một pháp,
mà đủ thứ pháp, đủ thứ nghĩa lý,
đủ thứ thú hướng. Pháp lý có đạo
lý thâm áo, có đạo lý nông cạn
hiển hiện dễ thấy, cùng một sự
việc mà phát sinh thời gian, địa
phương, nhân vật khác nhau, khi
vận dụng pháp lý phân tích thì
có chỗ xuất nhập. Bồ Tát vì đắc
được vô tận trí huệ hiểu rõ
nghĩa lý thú hướng, nên Ngài có
thể biết phân tề các lý thú.
Phân tề tức là chỉ khinh trọng,
noãn cấp, lớn nhỏ, sâu cạn, mà
nói.
6.
Ðược vô biên ngộ hiểu vô tận
tạng: Ngộ là minh bạch, ngộ nói
ở đây chẳng phải nói hiểu được
một việc gì, mà là nói giác ngộ,
ngàn vạn sự việc thảy đều minh
bạch. Người tu hành phải luôn
luôn cầu được khai ngộ, vì khai
ngộ rồi, thì trí huệ thanh tịnh
sẽ hiện rõ, đối với vạn sự vạn
vật trên thế gian, đều thấu suốt
rõ ràng. Hiểu là thấu hiểu, đối
với tất cả sự việc khó khăn hoài
nghi đều nghênh nhận mà giải. Bồ
Tát đắc được vô biên trí ngộ
hiểu, minh bạch thấu rõ chẳng có
bờ mé, giống như hư không. Vì có
trí huệ vô thượng nầy, cho nên
Ngài thông đạt được pháp vi diệu
thâm sâu của chư Phật mười
phương ba đời nói, hết thảy đều
ngộ hiểu.
7.
Ðược phước đức vô tận tạng: Bồ
Tát tu pháp hồi hướng nầy, hoàn
toàn vì lợi ích chúng sinh. Vì
chúng sinh ràng buộc ở trong sự
mê hoặc, chẳng biết thoát khỏi,
Bồ Tát từ bi làm đầu, cho nên
đem căn lành công đức của mình
tu tập, hồi hướng cho chúng
sinh, một chút cũng không lưu
lại, do đó Ngài đắc được phước
đức vô cùng vô tận. Những phước
đức đó, chẳng phải riêng mình
Ngài hưởng thọ, trang nghiêm
thân mình, mà là khiến cho sung
mãn trong ý niệm của tất cả
chúng sinh, miên miên bất tận,
khiến cho chúng sinh cũng nhờ đó
mà đắc được phước đức vô tận.
8.
Ðược dũng mãnh trí giác vô tận
tạng: Bồ Tát đắc được trí huệ vô
thượng, thông đạt tất cả các
pháp, tự mình giác ngộ rồi, lại
có thể giác ngộ chúng sinh, trừ
khử ngu si của chúng sinh, vì
chúng sinh tiêu diệt các nghi
hoặc. Sự ngu si và nghi hoặc đó,
giống như trong con mắt sinh ra
một chứng bệnh màng che đậy
chướng ngại sự thấy, nhìn tướng
trạng của sự vật chẳng được rõ
ràng. Bồ Tát dùng trí huệ giác
ngộ của Ngài, vì chúng sinh trừ
diệt si hoặc, tỏ ngộ chân lý, đó
giống như trừ khử màng ngu si
trong con mắt của chúng sinh. Bồ
Tát dùng tinh thần dũng mãnh
không giải đãi, giáo hoá tất cả
chúng sinh, trí huệ Bát Nhã của
Ngài vô cùng vô tận.
9.
Ðược quyết định biện tài vô tận
tạng: Vị Bồ Tát nầy tu pháp hồi
hướng vô tận công đức tạng, do
Ngài tu pháp hồi hướng nầy, mà
đắc được tính quyết định biện
tài vô tận tạng. Tính quyết
định, tức là phải thông đạt thật
tướng các pháp, mới có chân lý
lập trường kiên cố, sau đó vận
dụng trí huệ viên dung vô ngại,
thao thao bất tuyệt, như nước
chảy, chiến thắng các quần ma,
hàng phục các tà luận của ngoại
đạo, như thế mới chân chánh đắc
được tam muội biện tài. Ðại Bồ
Tát tu hồi hướng công đức vô tận
tạng, nên Ngài đắc được quyết
định biện tài vô tận tạng nầy.
Ngài có thể diễn nói pháp bình
đẳng của mười phương chư Phật.
Pháp của chư Phật nói đều là
bình đẳng, hy vọng đời sau tu
học Phật pháp, đừng có nhìn lệch
lạc, mà khởi sự phân tranh. Khi
Bồ Tát diễn bày các pháp thì,
chúng sinh nghe rồi, tuỳ theo
căn tánh của mỗi người mà đều
đắc được lợi ích lớn. Mỗi người
nghe pháp, đều minh bạch được
nghĩa lý của Phật pháp.
10.
Ðược thập lực vô uý vô tận tạng:
Vị đại Bồ Tát nầy tu hồi hướng
công đức vô tận tạng, do Ngài tu
pháp môn nầy, mà đắc được vô tận
tạng mười thứ lực của Phật, bốn
điều không sợ hãi. Viên mãn đầy
đủ hạnh môn của tất cả Bồ Tát tu
hành. Bồ Tát chứng được trí huệ,
đã đạt đến cảnh giới tất cả
không chướng ngại. Trí huệ vốn
là do sự thanh tịnh không nhiễm
mà có được, có tâm sáng suốt
thanh tịnh không nhiễm, thì có
trí huệ, có trí huệ thì chẳng có
chướng ngại, mà thông đạt không
vướng mắc. Chẳng có trí huệ là
vì ngu si, thấy lệch lạc, chấp
trước, cho nên ở đâu cũng bị
chướng ngại.
Mười
thứ trí đức tạng báu vô tận tạng
vừa nói ở trên, là của vị đại Bồ
Tát nầy tu hồi hướng công đức vô
tận tạng đắc được. Sáu thứ ở
trước là nói về Bồ Tát được tạng
báu tự lợi. Thứ bảy, tám và chín
là nói về Bồ Tát được tạng lợi
tha. Tạng cuối cùng là nói về sự
thành quả của Bồ Tát tu hành.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát đem tất cả
căn lành hồi hướng, thì đắc được
mười thứ vô tận tạng đó.
Bồ
Tát Kim Cang Tràng lại gọi một
tiếng các vị đệ tử của Phật ! Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp hồi hướng
công đức vô tận tạng, cho nên
Ngài đắc được mười thứ vô tận
tạng, chẳng phải đắc được một
cách dễ dàng, là đem đủ thứ căn
lành công đức của Ngài tu tập,
chân tâm thành ý hồi hướng về vô
thượng bồ đề, về chân như thật
tế, mười phương ba đời tất cả
chúng sinh, tơ hào chẳng ích kỷ,
chẳng lưu lại một chút nào, cho
nên mới đắc được mười thứ tạng
vô tận.
Bấy
giờ, Bồ Tát Kim Cang Tràng nương
thần lực của đức Phật, quán sát
khắp mười phương, mà nói kệ
rằng:
Khi
Bồ Tát Kim Cang Tràng nói xong
Kinh văn trường hàng hồi hướng
công đức vô tận tạng thứ năm,
Ngài lại nương thần lực đại oai
đức của mười phương chư Phật,
Phật Tỳ Lô Giá Na, và Phật Thích
Ca Mâu Ni, quán sát khắp nhân
duyên của tất cả chúng sinh
trong mười phương ba đời, mà
dùng kệ thuật lại Kinh văn
trường hàng ở trên, khiến cho
tất cả chúng sinh trong ba đời
dễ dàng minh bạch, y pháp tu
hành.
Bồ Tát thành tựu sức tâm sâu
Khắp nơi các pháp được tự tại
Dùng sự khuyến thỉnh tuỳ hỷ
phước
Vô ngại phương tiện khéo hồi
hướng.
Sức
tâm sâu tức là sức Bát Nhã, sức
trí huệ. Vị Bồ Tát nầy tu hồi
hướng công đức vô tận tạng, Ngài
tu pháp môn nầy thành tựu, mà
đắc được tâm lực thâm sâu - sức
Bát Nhã, sức trí huệ, cho nên
mới có thể đối với các pháp
thông đạt triệt ngộ, vận dụng tự
như, thọ dụng tự tại. Các pháp
tức là tám vạn bốn ngàn pháp mà
Phật nói ra, đó cũng là vì đối
với căn tánh của chúng sinh, cho
nên dùng phương tiện khéo léo,
để tiện độ chúng sinh, giáo hoá
chúng sinh. Bồ Tát khéo vận
dụng, cho nên nói khắp nơi các
pháp được tự tại, đó là ý nghĩa
linh hoạt vận dụng. Vì vị đại Bồ
Tát nầy, thường khuyến thỉnh chư
Phật thường trụ ở đời, thường
thỉnh chư Phật chuyển bánh xe
pháp, lại tuỳ hỉ chư Phật tu tập
tất cả công đức, đồng thời còn
tuỳ hỉ các vị Bồ Tát lớn nhỏ tu
tập tất cả công đức. Do khuyến
thỉnh và tuỳ hỉ, cho nên Ngài
đắc được vô lượng phước báo. Bồ
Tát có trí huệ thù thắng, vô
lượng phước báo, lại liễu ngộ
các pháp khéo vận dụng, do đó
Ngài dùng pháp môn phương tiện
khéo léo viên dung vô ngại, đem
tất cả căn lành công đức, hồi
hướng về vô thượng bồ đề, về
chân như thật tế, cho pháp giới
tất cả chúng sinh.
Ba đời hết thảy các Như Lai
Nghiêm tịnh cõi Phật khắp thế
gian
Hết thảy công đức đều đầy đủ
Hồi hướng cõi tịnh cũng như vậy.
Ba
đời: Ðời quá khứ, đời hiện tại,
và đời vị lai. Ở trong ba đời
nầy, mười phương vô lượng chư
Phật, cõi nước của các Ngài ở,
đều thanh tịnh trang nghiêm. Cõi
Phật đó chẳng phải tại một nơi,
mà là đầy khắp mười phương thế
giới. Vị đại Bồ Tát nầy tu hồi
hướng công đức vô tận tạng, đủ
thứ công đức mà Ngài tu tập,
thảy đều viên mãn đầy đủ, chẳng
có sự thiếu khuyết nào, cũng như
vậy đầy dẫy khắp cõi Phật trong
mười phương ba đời, đem hết thảy
những công đức đó, hồi hướng cho
mười phương ba đời chư Phật,
trang nghiêm thanh tịnh cõi nước
của chư Phật.
Ba đời hết thảy các Phật pháp
Bồ Tát thảy đều suy gẫm kỹ
Dùng tâm nhiếp lấy không dư thừa
Như vậy trang nghiêm các cõi
Phật.
Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi hướng vô tận
công đức tạng, Ngài đối với pháp
của mười phương ba đời chư Phật
nói ra, đều thông đạt được chân
lý, y theo pháp tu trì, tĩnh
niệm suy gẫm ý nghĩa chân thật
của các pháp. Ngài dùng trí huệ
của Ngài nhiếp thọ hết thảy,
chẳng có thiếu sót dư thừa. Ngài
đối với các pháp chẳng có biên
kiến chấp trước, cũng chẳng phân
biệt pháp nầy cao, pháp kia
chẳng rốt ráo. Ngài chẳng nghĩ:
Ðây là pháp lớn, tu hành pháp
môn nầy thì có công đức, có thể
thấy Phật, có thể thành Phật.
Kia là pháp nhỏ, tu chẳng có lợi
ích gì. Bồ Tát chẳng chấp trước,
chẳng có tâm phân biệt. Phàm là
pháp của chư Phật nói ra, Ngài
đều một lòng chuyên chú nhiếp
lấy chẳng dư thừa. Ðem căn lành
công đức của Ngài tu tập, trang
nghiêm cõi nước của mỗi vị Phật.
Tận nơi ba đời hết thảy kiếp
Khen một cõi Phật các công đức
Ba đời các kiếp có thể hết
Cõi Phật công đức không cùng
tận.
Bồ
Tát dùng thời gian số kiếp ba
đời, để khen ngợi công đức của
một cõi Phật. Kiếp số ba đời,
tại phàm phu nhìn tuy nhiên là
rất lâu dài, nhưng nó vẫn có lúc
sẽ hết, còn công đức của Phật
chẳng cùng tận, suốt thuở kiếp
vị lai cũng khen ngợi không hết
được. Khen ngợi công đức của cõi
Phật có được, cũng vô cùng vô
tận.
Như vậy tất cả các cõi Phật
Bồ Tát đều thấy chẳng dư thừa
Đều dùng trang nghiêm một cõi
Phật
Tất cả cõi Phật đều như vậy.
Ở
trong hư không có các cõi Phật
nhiều như số các sông Hằng, vị
Bồ Tát nầy tu pháp hồi hướng
công đức vô tận tạng, dùng cảnh
giới vô ngại của Ngài tu trì đắc
được, chẳng có một cõi Phật nào
mà chẳng nhìn thấy được. Chẳng
phải Ngài trang nghiêm một cõi
Phật, thì cho rằng đã mãn
nguyện, mà là muốn trang nghiêm
hết thảy cõi Phật, khiến cho cõi
nước của mỗi vị Phật đều thanh
tịnh trang nghiêm như vậy.
Có các Phật tử tâm thanh tịnh
Đều từ pháp Như Lai hoá sinh
Tất cả công đức trang nghiêm tâm
Tất cả cõi Phật đều sung mãn.
Các
vị đệ tử của Phật, tâm của các
Ngài đều thanh tịnh quang minh,
vì các Ngài từ chỗ Phật nghe
pháp, y giáo tu hành, đắc được
tam muội văn tư tu, xả bỏ đi tất
cả ô nhiễm trong quá khứ, đắc
được thân tâm thanh tịnh, giống
như từ trong Phật pháp của Phật
hoá sinh ra. Tâm trí huệ thanh
tịnh quang minh của các Ngài, là
do căn lành công đức tu tập
trang nghiêm mà thành tựu. Trong
cõi Phật sung mãn Phật tử tâm
thanh tịnh, cũng như vậy trong
tất cả cõi Phật sung mãn vô
lượng công đức.
Các Bồ Tát đó đều đầy đủ
Vô lượng tướng tốt trang nghiêm
thân
Biện tài diễn nói khắp thế gian
Ví như biển cả không cùng tận.
Ở
trong cõi nước của tất cả chư
Phật, đều có vô lượng vô số các
đại Bồ Tát. Những Bồ Tát đó mỗi
vị đều có tướng tốt trang nghiêm
thân mình, chẳng những tướng tốt
trang nghiêm, mà còn đầy đủ biện
tài vô ngại, có thể diễn nói tất
cả Phật pháp, đến khắp mỗi thế
gian, giáo hoá tất cả chúng
sinh. Giống như biển cả có dung
lượng vô cùng vô tận, và cảnh
giới sâu không thể dò được.
Bồ Tát an trụ các tam muội
Tất cả chỗ làm đều đầy đủ
Tâm Ngài thanh tịnh chẳng ai
bằng
Quang minh chiếu khắp mười
phương cõi.
Tâm
của Bồ Tát thường an trụ ở trong
đủ thứ tam muội, chẳng thọ cảnh
giới bên ngoài làm nhiễu loạn.
Bồ Tát tu lục độ vạn hạnh, thảy
đều đầy đủ viên mãn, tự giác
giác tha, tự độ độ tha. Tâm của
Bồ Tát chẳng có chút tạp niệm
nào, cũng chẳng có chút nhiễm ô
nào, tâm của Ngài thanh tịnh
chẳng có gì có thể so sánh bằng.
Trí huệ quang minh của Ngài có
thể chiếu đến khắp mười phương
pháp giới.
Các cõi Phật như vậy không thừa
Các Bồ Tát đó đều đầy khắp
Chưa từng nghĩ nhớ Thanh Văn
thừa
Cũng lại chẳng cầu đạo Duyên
Giác.
Cõi
Phật thanh tịnh lại trang nghiêm
như ở trên vừa nói, đầy khắp tận
hư không biến pháp giới. Các Bồ
Tát đó đều đầy dẫy ở trong mỗi
cõi Phật. Các Ngài đều tu đại
thừa lục độ vạn hạnh, hành Bồ
Tát đạo, chưa từng nghĩ thối
chuyển để tu pháp môn Thanh Văn
thừa. Càng không vọng tưởng thay
đổi cầu đạo Duyên Giác thừa. Các
đại Bồ Tát từ đầu đến cuối phát
tâm đại bồ đề, chẳng sợ khổ nạn,
cũng chẳng khảo lự số kiếp xa
vời, cũng chẳng hấp tấp cầu
chứng quả vị Phật, để vào Niết
Bàn. Bồ Tát một lòng một dạ phổ
độ chúng sinh, chẳng nhớ đến lỗi
xưa của chúng sinh, cũng chẳng
xả bỏ chúng sinh khó độ, cho nên
nói tâm Bồ Tát như tâm của mẹ
hiền.
Bồ Tát tâm thanh tịnh như vậy
Căn lành hồi hướng các quần sinh
Khéo muốn khiến họ thành chánh
đạo
Biết rõ đầy đủ các Phật pháp.
Tâm
của Bồ Tát từ bi như thế, thanh
tịnh vô vi như thế, bình đẳng vô
tư như thế, rộng lớn như thế. Bồ
Tát đối với tâm ý của chúng
sinh, có lòng từ ái vĩ đại nói
không hết được. Ngài đem căn
lành công đức của mình tu tập,
thảy đều hồi hướng cho tất cả
chúng sinh, tơ hào chẳng lưu
lại. Dụng tâm của Ngài chẳng
phải giao hảo tốt với chúng
sinh, khiến cho họ cảm kích
Ngài, cúng dường Ngài, mà là mục
đích của Ngài hy vọng mỗi chúng
sinh đều đắc được lợi ích của
Ngài hồi hướng, để sớm thành
Phật đạo, và minh bạch tất cả
Phật pháp của chư Phật nói, biết
y giáo phụng hành, thiết thực y
chiếu đạo lý của chư Phật nói,
làm đệ tử Phật tâm địa thiện
lương, phẩm đức tốt đẹp, hành vi
đoan chánh.
Mười phương hết thảy các ma oán
Oai lực Bồ Tát đều phá tan
Dũng mãnh trí huệ không ai bằng
Quyết định tu hành pháp rốt ráo.
Chúng
sinh có bao nhiêu, thì ma có bấy
nhiêu. Phật có bao nhiêu, thì ma
cũng có bấy nhiêu. Cổ Ðức có
nói:
"Ðạo cao một thước,
Ma cao một trượng.
Ðạo cao một thượng,
Ma ở trên đầu".
Mỗi
người tu hành, phải trải qua mấy
phen tu luyện, mới có thể biết
vượt qua được sự khảo nghiệm hay
không, nếu không vượt qua được
sự thử nghiệm, thì không thể nào
thành Phật. Muốn thành Phật, thì
trước hết phải trải qua sự khảo
hạch của ma vương, nhận thức rõ
ràng sự khác biệt giữa Phật và
ma, thì tự nhiên sẽ chuyển biến
cảnh giới ma làm cảnh giới Phật.
Giả như muốn có phước báo tốt,
thì trước hết phải thọ đủ thứ
khốn khổ hoạn nạn. Mười phương
thế giới đều có Phật, mười
phương thế giới cũng đều có ma.
Kỳ thật, ma cũng trợ giúp người
thành đạo, bất quá phương hướng
dẫn đạo của chúng khác nhau,
chúng thì trợ giúp người mặt
trái. Chúng dùng phương pháp dẫn
dụ để mê hoặc bạn, khảo nghiệm
bạn, tại chỗ quan hệ nầy, nếu
nhận rõ nghiệp thiện ác, chẳng
bị dẫn dụ, chẳng bị mê hoặc, thì
sẽ chẳng làm con của ma, dân của
ma, sẽ thoát khỏi phạm vi các ma
oán. Ðại Bồ Tát tu pháp hồi
hướng công đức vô tận tạng, Ngài
thành tựu sức thần thông đại oai
đức, hàng phục được, tiêu diệt
được hết sạch tất cả ma oán. Bồ
Tát có sức oai thần dũng mãnh
kiên cường, chẳng có ai có thể
thắng hơn đại trí huệ của Ngài,
cho nên Ngài quyết định phải tu
hành chánh pháp. Ðại pháp chân
chánh viên dung vô ngại, tức là
Phật pháp rốt ráo.
Bồ Tát đem sức nguyện lớn nầy
Hồi hướng hết thảy chẳng chướng
ngại
Vào nơi vô tận công đức tạng
Khứ lai hiện tại thường vô tận.
Phàm
là tu hạnh Bồ Tát, thì nhất định
phải phát nguyện lực lớn. Nguyện
lực lớn là gì ? Tức là luôn
chẳng xả bỏ chúng sinh. Bồ Tát ở
trong số kiếp lâu dài, theo
chúng sinh lai vãng ở trong biển
sinh tử, bất quá Ngài cũng nương
theo nguyện lực để thực hành. Bồ
Tát đời quá khứ, Ngài đã phát ra
nguyện lớn. Bồ Tát đời hiện tại
đang phát nguyện lớn hành Bồ Tát
đạo. Bồ Tát đời vị lai cũng sẽ
phát nguyện lực lớn. Chẳng có
nguyện lớn nào mà chẳng chảy vào
Bồ Tát. Vị đại Bồ Tát nầy tu hồi
hướng công đức vô tận tạng, căn
cứ vào nguyện lớn của Ngài đã
phát mà tu pháp môn hồi hướng
nầy, đem căn lành công đức vô
tận của Ngài đã tu tập, thảy đều
hồi hướng cho tất cả chúng sinh,
chẳng lưu lại chút nào. Do công
đức hồi hướng nầy, mà vào nơi
công đức tạng báu vô tận. Ðây là
chẳng có thời gian hạn chế, quá
khứ, hiện tại, vị lai. Hồi hướng
của Ngài chẳng có hạn lượng,
công đức của Ngài vô cùng vô vô
tận.
Bồ Tát khéo quán các pháp hành
Thông đạt tánh đó chẳng tự tại
Tức biết các pháp tánh như vậy
Chẳng vọng lấy nghiệp và quả
báo.
Vị
đại Bồ Tát nầy tu hồi hướng vô
tận công đức tạng, Ngài khéo
quán sát đủ thứ pháp môn tu
hành, Ngài minh bạch thông đạt
hết thảy tất cả pháp đều là vô
thường, đều là pháp sinh diệt,
cho nên nói Ngài thông đạt được
tánh của nó là chẳng tự tại. Tức
nhiên đã biết pháp tánh của các
pháp là khổ, không, vô thường,
vô ngã, cho nên Bồ Tát chẳng
vọng sinh tâm phân biệt, để phân
biệt nghiệp thiện nghiệp ác,
cũng do đó chẳng có quả báo
nghiệp thiện ác.
Chẳng có pháp sắc pháp vô sắc
Cũng chẳng có tưởng không không
tưởng
Pháp có pháp không thảy đều
không
Biết rõ tất cả không chỗ được.
Chẳng
có pháp sắc, cũng chẳng có pháp
vô sắc. Pháp sắc tức là pháp năm
uẩn, bao quát sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Sắc thì có hình thể,
thọ, tưởng, hành, thức, thì
không có hình thể, đều là không,
là giả. Bồ Tát hiểu được đạo lý
nầy, ở trong mắt của Ngài, vốn
chẳng có pháp sắc năm uẩn và
quan niệm pháp không sắc. Chẳng
có tưởng uẩn, cũng chẳng có lối
nhìn về tưởng uẩn. Bất cứ là
pháp hữu vi, hoặc là pháp vô vi,
đều là không, là huyễn. Nếu như
minh bạch được tất cả pháp đều
là không, chẳng có tướng, thì
càng chẳng có điều gọi là
nguyện. Trí và đắc cũng là hư
không. Do đó "Vô trí diệc vô
đắc", trong Tâm Kinh nói rất là
thấu triệt.
Tất cả các pháp nhân duyên sinh
Thể tánh chẳng có cũng chẳng
không
Mà nơi nhân duyên và chỗ khởi
Trong đó rốt ráo chẳng chấp
trước.
Hết
thảy tất cả các pháp, bất luận
là pháp năm uẩn, mười hai nhân
duyên, và pháp bốn đế .v.v...đều
từ nhân duyên sinh ra. Pháp từ
nhân duyên sinh ra, thể tánh của
nó chẳng có, cũng chẳng không,
do đó, không thể nói nó có, cũng
không thể nói nó không có. Tóm
lại:
"Các pháp từ duyên sinh,
Các pháp từ duyên diệt".
Nó
chẳng phải là pháp hữu vi, cũng
chẳng phải là pháp vô vi, nó chỉ
là tuỳ nhân duyên mà sinh diệt.
Do đạo lý đó, nên ở trong các
thứ pháp đừng sinh ra tâm chấp
trước, tự mình vây khốn mình.
Tất cả chúng sinh nơi ngôn ngữ
Trong đó rốt ráo chẳng chỗ được
Biết rõ danh tướng đều phân biệt
Thấu hiểu các pháp đều vô ngã.
Ðủ
thứ chúng sinh, có đủ thứ ngôn
ngữ. Ngôn ngữ thì chẳng có
tướng, là không, như muốn truy
cứu chỗ thật tại của ngôn ngữ,
thì chẳng có chỗ đắc được. Nếu
bạn minh bạch được tất cả sự vật
có tên, có tướng, nó là do phân
biệt mà thành, thì tự nhiên sẽ
biết rõ tất cả pháp đều là vô
ngã.
Như tánh chúng sinh vốn vắng
lặng
Biết rõ tất cả pháp như vậy
Nhiếp lấy ba đời không thừa sót
Cõi và các nghiệp đều bình đẳng.
Tất
cả bản tánh của chúng sinh, vốn
đều là vắng lặng. Căn cứ vào đạo
lý nầy, thì sẽ minh bạch được
hết thảy tất cả đủ thứ pháp, đều
cùng một đạo lý như nhau. Nhìn
về thời gian ba đời, thì tựa như
khác nhau, nhưng nó nhiếp lấy
tất cả pháp đồng nhau không có
sót thừa. Bất luận là cõi Phật,
hoặc nghiệp thiện ác chúng sinh
tạo ra, đều là bình đẳng.
Dùng trí như vậy mà hồi hướng
Tuỳ theo ngộ hiểu phước nghiệp
sinh
Các phước tướng đó cũng như hiểu
Sao lại trong đó có chỗ được ?
Dùng
trí huệ vô thượng như đã nói ở
trên, để hồi hướng cho tất cả
chúng sinh, tuỳ theo sức ngộ
hiểu minh bạch tất cả các
nghiệp, tất cả quả báo của mình,
mà không chấp trước vào nơi
pháp, chẳng bị khốn ở trong các
nghiệp và quả báo, thì tâm ý tự
nhiên tự tại, phước nghiệp tuỳ
theo đó mà sinh ra. Ðối với điều
gọi là tướng tất cả phước đức,
cũng hiểu rõ nó là như huyễn,
như bọt bóng. Nghiệp chướng vốn
cũng là hư vọng không thật, ở
trong trí giải nầy thông đạt vô
ngại, lại có thể tìm ra cái gì ?
Lại có thể đắc được cái gì ?
Hồi hướng như vậy tâm không dơ
Vĩnh chẳng xưng lượng các pháp
tánh
Thông đạt tánh nó đều chẳng tánh
Chẳng trụ thế cũng chẳng xuất
thế.
Vị
đại Bồ Tát nầy, tu pháp hồi
hướng vô tận công đức tạng, khi
Ngài đem căn lành tu tập hồi
hướng cho tất cả chúng sinh, thì
dùng tâm thanh tịnh của Ngài để
hồi hướng. Ngài tu hạnh thanh
tịnh, diễn nói pháp thanh tịnh.
Dùng pháp thanh tịnh để giáo hoá
chúng sinh điên đảo trong đời ác
năm trược. Tuy Bồ Tát bao kiếp
giáo hoá những chúng sinh điên
đảo đó, nhưng bản tánh của Bồ
Tát trước sau vẫn thanh tịnh,
chẳng có chút nhiễm ô nào. Ngài
lìa khỏi tất cả lỗi ác, vĩnh
viễn chẳng làm điều ác, mà tu
tất cả các nghiệp lành, quyết
không bị cảnh giới chuyển biến.
Bồ Tát dùng trí huệ và định lực
thù thắng, tuỳ duyên không thay
đổi, không thay đổi mà tuỳ
duyên, cho nên nói khi Ngài tu
hồi hướng, thì tâm của Ngài
không dơ. Chữ dơ ở đây cũng có
thể nói là chấp trước. Nếu có sự
chấp trước, thì sẽ sinh ô nhiễm.
Nếu chẳng có sự chấp trước, thì
sẽ thanh tịnh. Vì Bồ Tát chẳng
chấp trước, nên chẳng thấy cái
ta, chẳng sinh tâm phân biệt,
chẳng nói: "Pháp nầy có rất
nhiều ưu điểm, pháp kia chẳng
rốt ráo, có nhiều khuyết điểm.
Pháp nầy giá trị cao, có phân
lượng của nó, pháp kia chẳng có
giá trị, chẳng đáng được học
tập". Bồ Tát chưa từng phê bình
như thế, chẳng suy lường những
việc vô vị như vậy, cũng chẳng
dùng lời lẽ để luận nghị độ
lượng bản tánh của các pháp. Vì
bản tánh của các pháp, vốn là
vắng lặng. Tức biết nó là vắng
lặng, sao lại xưng lường, độ
lượng nó. Tâm của Bồ Tát chẳng
có thành kiến điên đảo, thì
đương nhiên sẽ chẳng sinh ra
vọng niệm điên đảo. Bồ Tát sớm
đã minh bạch thông đạt các pháp,
đều chẳng có một thể tánh chân
thật, tên giả an lập, là một thứ
phương tiện khéo léo mà thôi.
Pháp nầy, có cũng chẳng phải
thường trụ tại thế gian, cũng
chẳng phải gọi là xuất thế. Phật
ta đại Sa Môn, sớm đã đối với
các đại đệ tử nói:
"Các pháp từ duyên sinh,
Thường trụ tướng vắng lặng,
Không thể dùng lời nói".
Dù
các đệ tử đã phá được ngã chấp,
lại mê nơi pháp chấp. Cho nên
người tu học Phật đạo, nhất định
phải xa lìa tất cả sự chấp
trước, phải lìa ngã chấp và pháp
chấp.
Chẳng
trụ thế cũng chẳng xuất thế, tức
là nói không nên có sự chấp
trước về pháp. Gì gọi là ngã
chấp ? Ví như một số người, đều
nói: "Ðây là ta, đó là của ta,
của tôi làm, tất cả của tôi đều
tốt, tôi là đệ nhất". Một khi có
tư tưởng là đệ nhất, thì không
thể nào thoát khỏi biển khổ sinh
tử được, vì có sự chấp trước.
Phiền não thống khổ đều do sự
chấp trước mà ra, khởi hoặc tạo
nghiệp, đều ảnh hướng đến sự
chấp trước, mà tạo ra việc ác,
trồng xuống nhân ác. Muốn cầu
được bình an tự tại, thì đừng
tranh giành hơn thua, tranh đệ
nhất, mà phải buông bỏ chấp
trước cái ta, chẳng có tư tưởng
gì về đệ nhất, đệ nhị, đệ tam.
Càng minh bạch về các pháp vô
thường, không có tự tánh, pháp
cũng không thể chấp trước. Ta và
pháp hai chấp đều không, chẳng
có tồn tại, đó là cảnh giới của
Bồ Tát.
Tất cả chỗ làm các nghiệp lành
Đều đem hồi hướng các quần sinh
Thảy đều thông đạt thật tánh kia
Hết thảy phân biệt đều trừ bỏ.
Tất
cả chỗ làm các nghiệp lành: Bao
quát đủ thứ nghiệp lành của Bồ
Tát tu tập về phương diện ba
nghiệp lành thân miệng ý, như
lập công, lập đức, lập ngôn, lập
hạnh. Công của Bồ Tát lập, là
Ngài làm được những gì đều hồi
hướng cho chúng sinh, khiến cho
chúng sinh đắc được lợi ích đó
mà tăng trưởng căn lành. Ðức
hạnh, đức tính và ân đức của Bồ
Tát lập, là Ngài chẳng tự cho
mình được, cũng hồi hướng cho
tất cả chúng sinh. Lời nói của
Bồ Tát chẳng hư vọng, chẳng dối
trá, chẳng điêu ngoa, nói ra câu
nào cũng đều sự thật, tốt lành,
chẳng có lời nói nào mà chẳng vì
lợi ích của chúng sinh mà nói.
Hành vi của Bồ Tát càng tử tế
cẩn thận, mỗi cử chỉ hành động,
lời nói việc làm, đều có ý
nghĩa, làm mô phạm tốt nhất cho
chúng sinh. Bồ Tát vì giáo hoá
chúng sinh, chẳng kể gì gian
nan, chẳng kể gì số kiếp. Trong
tâm mắt của Bồ Tát chỉ có thiện,
chẳng có ác. Do đó Ngài tự nhiên
làm các điều lành, bất cứ việc
ác gì Ngài cũng không làm. Bồ
Tát làm lành, chẳng kể gì lớn
nhỏ, chẳng tự khoe khoang mình,
chẳng cầu danh văn lợi dưỡng.
Cho đến Ngài thấy việc ác, dù
nhỏ Ngài cũng không làm; dù đối
với Ngài có lợi Ngài cũng không
làm, cho nên nói Bồ Tát là:
"Làm các điều lành,
Không làm các việc ác".
Cũng vì như vậy, mà Ngài đối với
ba nghiệp:
- Thân: Không giết hại, không
trộm cắp, không tà dâm.
- Miệng: Không nói dối, không
nói thêu dệt, không nói hai
lưỡi, không chưởi mắng.
- Ý: Không tham, không sân,
không si.
Ðó tức là mười nghiệp lành mà Bồ
Tát giáo hoá chúng sinh tu học.
Bồ Tát đem tất cả căn lành công
đức của Ngài tu tập, thảy đều
hồi hướng cho hết thảy chúng
sinh. Bồ Tát đối với tánh chân
thật của nghiệp thiện đó, chẳng
có chút nào mà Ngài không minh
bạch. Do đó điều thiện là vui
nhất, cho nên Ngài đem nghiệp
thiện hồi hướng cho chúng sinh.
Bồ Tát có tâm lượng như thế, là
vì Ngài chẳng còn tâm phân biệt
giữa ta và người nữa, Ngài xem
chúng sinh với mình đều là một
thể. Ngài ôm hoài bảo vô duyên
đại từ, chẳng màng có duyên hay
không có duyên, Ngài đều dùng
tâm đại từ đối đãi người. Tâm từ
hay ban niềm an vui cho người.
Ðồng thể đại bi, Ngài nhận thấy
rằng tất cả chúng sinh và mình
đều như nhau, đó đây chẳng có gì
khác biệt, trong tâm của Ngài
chưa từng có tư tưởng phân biệt
cho rằng mình là Bồ Tát, họ là
chúng sinh, ta với họ chẳng
giống nhau. Bồ Tát Ngài cảm thấy
mọi người trên toàn thế giới đều
là một thể. Chúng sinh trên toàn
thế giới cũng là một thể. Ðủ thứ
chúng sinh trong pháp giới, đều
là một thể, như thế mới là chân
chánh thông đạt thật tánh của
người, ta, và chúng sinh.
Hết thảy tất cả thấy hư vọng
Thảy đều xả bỏ chẳng sót thừa
Lìa các phiền não luôn mát mẻ
Trụ nơi giải thoát bậc vô ngại.
Trên
thế gian đầy dẫy đủ thứ việc hư
vọng không thật, mỗi người đều
có tri kiến của chính mình, do
đó mà xảy ra sự tranh giành, ai
nấy đều có lòng tư dục, tham sân
si, đầy dẫy khắp vũ trụ, khiến
cho con người chẳng thấy được
quang minh, chẳng được mát mẻ,
chỉ có Bồ Tát mới xả bỏ được
không sót thừa tất cả hư danh,
lợi giả, sinh tử, hư vọng, khiến
cho con người đoạ lạc, năm dục
tài, sắc, danh, ăn, và ngủ, ràng
buộc con người. Do đó, trí huệ
chân thật của Ngài mới hiển hiện
ra. Nếu tri kiến hư vọng đó
chẳng buông xả đặng, ràng buộc
chẳng được giải thoát, thì trí
huệ chân thật đó, tuyệt đối
không hiện ra. Cho nên tôi
thường nói với mọi người rằng:
"Bỏ chẳng được cái giả
Chẳng thành tựu được cái thật.
Bỏ chẳng được cái chết
Chẳng đổi được cái sống".
Ai
ai cũng đều sợ chịu khổ, chỉ
tham đồ hưởng thụ, tôi đối với
họ nói:
"Chịu khổ thì hết khổ,
Hưởng phước thì hết phước".
Nghĩ
muốn hưởng phước, nghĩ muốn chấm
dứt sinh tử, thì bạn phải buông
xả hư vọng. Còn nếu không thể
buông xả hư vọng, thì cái chân
thật đó vĩnh viễn chẳng thể nào
đắc được. Tại sao ? Vì bạn cứ
chạy đuổi theo cái hư vọng, thì
làm sao nhận thức được bộ mặt
chân thật ? Nghĩ muốn minh bạch
đạo lý chân thật, thì trước hết
hãy mau buông bỏ tri kiến hư
vọng, giải thoát khỏi sự ràng
buộc của năm dục. Lìa các phiền
não luôn mát mẻ, các phiền não,
tức là rất nhiều phiền não.
Phiền não có bao nhiêu ? Ðại
khái có tám vạn bốn ngàn thứ
phiền não. Tuy có nhiều phiền
não như vậy, nếu như bạn buông
bỏ được nó, thì sẽ mát mẻ. Lìa
khỏi được tất cả phiền não, thì
luôn luôn sống ở trong sự mát
mẻ. Giống như ban ngày trời nóng
như thiêu, khi ban đêm đến thì
trời trở lại mát mẻ.
Phiền
não của con người, tức là nhiệt
não, nhiệt não làm cho tâm ý khó
chịu, đứng ngồi không yên. Ai
kêu bạn sinh phiền não ? Kỳ
thật, đều do mình mà ra. Thấy
cái ta quá nặng, có chút gì
không được toại tâm như ý, thì
nóng giận, hung dữ giống như cọp
ra oai, làm cho người khác không
an, mình cũng chẳng có lợi gì.
Lìa, tức là lìa bỏ, cũng có thể
nói là biến đổi. Chuyển biến như
điều được gọi là "chuyển phiền
não thành bồ đề", chuyển biến
được phiền não, cũng sẽ luôn
luôn mát mẻ. Bồ Tát Ngài chẳng
còn phiền não nữa, cho nên Ngài
luôn trụ ở trong sự mát mẻ,
thường ở nơi giải thoát viên
dung vô ngại. Gì gọi là giải
thoát ? Giải thoát là nói thân
tâm của bạn bị một vật gì đó
trói buộc, hiện tại cởi mở ra
vật trói buộc bạn. Sự trói buộc
con người có một thứ hữu hình,
người khác có thể mở giải trừ
cho bạn. Có một thứ là vô hình,
như phiền não trói buộc nội tâm,
tinh thần, đây thì người khác
không cách chi giải trừ thế cho
bạn, cũng chẳng phải người khác
thêm vào cho bạn, đây phải tự
chính mình giải thoát.
Trước kia có một người tu hành,
hướng một vị lão tu hành thỉnh
cầu chỉ bày cho Ngài phương pháp
giải thoát, nói:
- "Xin hỏi thượng toạ, phải làm
như thế nào mới được giải thoát
?"
- Lão tu hành hỏi lại ông ta:
"Ai trói buộc ngươi ?"
Vị đó nghe, trong tâm nghĩ: "Ai
trói buộc ta, tại sao ta phải
giống như con tằm, tự mình trói
buộc mình ?" Do đó ông ta lập
tức khai ngộ, liền đắc được giải
thoát. Bạn có thể không quái,
không ngại, không người, không
chúng sinh, không thọ mạng, đó
tức là giải thoát, tức cũng là
chẳng chấp ta, chẳng chấp pháp,
chẳng chấp tất cả như ở trước đã
nói, tức là giải thoát. Tại sao
con người chẳng đắc được giải
thoát ? Là vì chấp ta quá nặng,
vật nầy của ta, thân thể của ta,
nhà cửa, tài sản, đều là của ta,
như vậy làm cho mình bị mê hoặc,
nên chẳng đắc được giải thoát.
Nếu biết được tất cả đó đều là
giả, đều là pháp hữu vi, đều như
mộng huyễn bọt bóng, như sương
cũng như điện, thì ai có thể
trói bạn được ? Bạn muốn lên
trời vào trong đất, đến phương
đông, phương tây, đến Âu Châu,
không cần mua vé, đến Á châu
không cần ngồi máy bay, muốn đi
đâu cũng được, thật là an nhiên
tự tại. Giống như vậy, thì đến
được bậc giải thoát vô ngại. Do
đó, còn có gì để cầu, còn có gì
để chấp trước ? Gì cũng đều
buông bỏ. Buông bỏ chân tâm Phật
tự thành, còn đi đến đâu để cầu
thành Phật đạo ? Buông bỏ được
tất cả, thì còn có cái ta sao ?
Cái ta đều chẳng còn, thì còn có
phiền não gì để lìa ? Tướng ta
chẳng không, nghĩ chẳng thấu,
nhìn chẳng thủng, buông bỏ chẳng
đặng tất cả, nên chẳng được tự
tại. Phải nhìn xuyên thủng tất
cả, buông bỏ được, thì lúc đó
pháp giới đều thuộc về bạn, còn
có gì để tham cầu ?
Bồ Tát chẳng hoại tất cả pháp
Cũng chẳng diệt hoại tánh các
pháp
Hiểu rõ các pháp như tiếng vang
Đối với tất cả chẳng chấp trước.
Vị
đại Bồ Tát nầy tu hồi hướng vô
tận công đức tạng, Ngài đối với
các pháp thảy đều thông đạt,
Ngài biết tất cả các pháp đều
không có hình tướng, chẳng có
bản thể. Tức nhiên chẳng có vật
trừu tượng của thể tướng, lại có
gì để phá hoại ? Lại làm thế nào
để khiến cho nó hoại ? Những
chúng sinh điên đảo mê hoặc, họ
biến pháp tốt thành pháp hoại,
biến pháp lành thành pháp chẳng
lành. Kỳ thật, bản tánh của pháp
chẳng bị biến mất, tốt vẫn là
tốt, thiện vẫn là thiện. Song,
vì tất cả trên thế gian đều là
biểu hiện của pháp, nếu bạn
thuận theo pháp lành mà làm, thì
biểu hiện là pháp lành. Nếu bạn
chẳng chiếu theo pháp lành mà
làm, thì đó là biểu hiện pháp
hoại pháp chẳng lành. Chúng sinh
tệ liệt nhiều, thường thường làm
việc điên đảo, chẳng y theo pháp
tắc, nhìn lại giống như biến
thành pháp hoại, đó chỉ là chúng
sinh khởi hoặc, tạo nghiệp, mà
bản thể của pháp chẳng vì chúng
sinh khởi hoặc, tạo nghiệp mà có
sự biến đổi. Tất cả hành động
của Bồ Tát, nói năng động tĩnh,
chẳng có chỗ nào chẳng phải là y
pháp tu hành, đó làm sao hoại
tất cả pháp ! Cho nên nói Bồ Tát
chẳng hoại tất cả pháp, chẳng
trái ngược với tất cả pháp. Tức
chẳng hoại, chẳng trái ngược,
tức cũng là không thể diệt hoại
bản tánh của các pháp. Bồ Tát
thì hộ trì tất cả pháp, xiển
minh hoằng dương tất cả pháp,
tinh tấn siêng tu tất cả pháp,
cho nên Ngài chẳng phá hoại tổn
diệt bản tánh của các pháp. Bồ
Tát minh bạch tất cả các pháp,
giống như bạn đánh một vật gì
phát ra tiếng vang. Nếu bạn
chẳng đánh, thì chẳng phát ra
tiếng vang, một khi đánh thì có
tiếng vang phát ra. Giống như
đại hồng chung, đánh thì kêu.
Lại như cây cối, vì bị gió thổi
mà phát ra tiếng kêu. Lại như
sóng biển, gặp gió lớn thì nước
bị gió kích động, nó cũng phát
ra tiếng ba đào. Nhân gian có
việc tàn thù phát sinh, kẻ bị
khinh khi, lăng nhục, yếu nhược,
thì sẽ dẫn đến công phẫn. Cây cỏ
chẳng có tiếng, gió thổi thì
kêu; nhân tình ngang trái, bất
bình thì kêu. Pháp tánh cũng như
vậy, không nói thì không thể
hiển hiện; không nói pháp thì
không biết có pháp. Khi nói pháp
thì có đủ thứ pháp. Bồ Tát Ngài
hiểu rõ tất cả đều giống như
tiếng vang. Pháp tánh thì vắng
lặng mà chẳng có thể tướng, phải
theo sự tuần hoàn quy tắc của nó
đi làm, đừng chấp trước vào
pháp. Giả như chấp trước, thì sẽ
trói mình lại. Bồ Tát thấu hiểu
pháp tánh của pháp, Ngài chẳng
trái ngược với pháp mà hành sự,
cũng chẳng diệt hoại bản tánh
của pháp, Ngài biết pháp là như
tiếng vang, cho nên Ngài chẳng
chấp trước vào tất cả các pháp.
Chẳng có chấp trước, tức là phá
trừ được chấp trước. Chẳng có
chấp pháp, thì sẽ minh bạch
tướng không của các pháp, tức
minh bạch tướng không của các
pháp, thì lại có gì để chấp
trước ?
Biết rõ các chúng sinh ba đời
Đều từ nhân duyên hoà hợp sinh
Cũng biết tâm thích và tập khí
Chưa từng diệt hoại tất cả pháp.
Bồ
Tát đầy đủ ba minh sáu thông,
cho nên Ngài minh bạch biết được
nhân duyên của chúng sinh ba
đời. Chúng sinh là những vật có
mạng sống, nói rộng ra thì bao
quát hữu tình vô tình. Hữu tình
chẳng những có mạng sống, mà còn
có tri giác linh tính. Có hữu
tình ưu tú, hữu tình trung đẳng
biết được tốt xấu, còn có hữu
tình hạ liệt vô tri. Con người
là một loại ưu tú trong hữu
tình. Vô tình vẫn có mạng sống,
bất quá chẳng có linh tính mà
thôi. Kinh Phật thường thường
nói chúng sinh, tức phần nhiều
là chỉ con người có mạng sống và
linh tính và những động vật
khác. Nguồn gốc của con người là
do hoà hợp nhiều nhân duyên mà
thành, cho nên gọi là chúng
sinh. Ðiều gọi là nhân duyên tức
là lưới nghiệp. Hoà hợp tức là
lưới nghiệp kết với nhau đời đời
kiếp kiếp, cấu thành rất phức
tạp, tuần hoàn luân hồi không
bao giờ dứt. Chúng sinh nhờ nhân
duyên mà sinh, nó cũng nương
nhân duyên mà diệt. Bồ Tát biết
rõ chúng sinh đời hiện tại, đời
quá khứ, đời vị lai, đều từ nhân
duyên hoà hợp mà sinh ra. Ngài
cũng thấy tâm tánh tập khí của
những chúng sinh đó rất rõ ràng,
và sự thương ghét của họ. Nhân
duyên sinh ra pháp, vốn đều là
không, bổn lai đều là không; tức
nhiên chúng sinh đều là nương
nhân duyên hoà hợp mà sinh, đó
đương nhiên chúng sinh cũng là
không, tuy chúng sinh là không,
nhưng chưa từng diệt hoại bản
tánh của tất cả các pháp.
Thấu đạt tánh nghiệp chẳng phải
nghiệp
Mà cũng chẳng trái tướng các
pháp
Lại cũng chẳng hoại nghiệp quả
báo
Nói các pháp tánh từ duyên khởi.
Bồ
Tát minh bạch thông đạt tánh
nghiệp cũng là không, bản thân
của nghiệp cũng chẳng có thể
thực tại, cũng chẳng có thể
tướng nhất định có thể được. Lối
nói pháp nầy, là tại lập trường
của Bồ Tát, vì Bồ Tát chẳng nói
vọng luận cao, Ngài do chân tu
thật học mà chứng được đại trí
huệ, dùng trí thấu đạt thật
tướng của các pháp, xả bỏ sự
chấp trước, vĩnh viễn dứt hẳn sự
ô nhiễm, niệm ác, điều gọi là
nghiệp và báo, trong sự quán
chiếu của Bồ Tát đều là không.
Phàm phu sinh tồn ở trong luân
hồi của lưới nghiệp giao kết,
nghiệp quả là có, pháp tướng oán
nhiên, quả báo tơ hào chẳng sai.
Trồng nhân lành, được quả lành.
Trồng nhân ác được quả ác. Bồ
Tát biết rõ tánh nghiệp là
không, nhưng Ngài chẳng hoại quả
báo của nghiệp. Ngài diễn nói
nguồn gốc của pháp và các pháp
tánh, tức nói rõ nó từ nhân
duyên mà sinh ra.
Biết rõ chúng sinh chẳng có sinh
Cũng không chúng sinh bị lưu
chuyển
Không thật chúng sinh để mà nói
Chỉ nương thế tục giả diễn bày.
Bồ
Tát cũng thấu rõ chúng sinh là
do chúng duyên hoà hợp mà sinh,
duyên diệt thì diệt, chúng sinh
cũng giống như chẳng có. Tức
nhiên chẳng có chúng sinh, thì
cũng chẳng có chúng sinh để lưu
chuyển sinh tử. Chúng sinh
không, thì nghiệp tướng không,
các pháp cũng không, cho nên
chẳng có chúng sinh thật tại để
nói, đó còn có gì để chấp trước
! Mà nay trong Kinh văn tuỳ thời
đề cập đến Bồ Tát chẳng bỏ chúng
sinh, Bồ Tát vì cứu bạt chúng
sinh mà tu lục độ vạn hạnh. Vì
giáo hoá chúng sinh, mà siêng tu
các Phật pháp, đây lại là ý
nghĩa gì ? Ðây là giả danh bất
hoại, y theo phương tiện tập
quán của thế tục, tức là pháp
thế gian, còn gọi là tục đế, cho
nên ban cho chúng sinh một tên
giả, gọi là "chúng sinh". Như là
phương tiện hướng thế gian tuyên
nói đạo lý chân chánh của chư
Phật giáo hoá con người.
(Hết tập 12)
TẬP 13
|
QUYỂN HAI MƯƠI LĂM
PHẨM THẬP HỒI HƯỚNG
THỨ HAI MƯƠI LĂM PHẦN BA
Hồi
hướng tuỳ thuận kiên cố
tất cả căn lành thứ sáu.
Phật
tử ! Thế nào là hồi
hướng tuỳ thuận kiên cố
tất cả căn lành của đại
Bồ Tát ?
Bồ
Tát Kim Cang Tràng nói
xong hồi hướng thứ năm,
Ngài lại tiếp tục đề ra
hồi hướng thứ sáu, hướng
về các vị đại Bồ Tát ở
trong pháp hội, Ngài
nói: Các vị đệ tử của
Phật ! Các Ngài có biết
thế nào gọi là hồi hướng
tuỳ thuận kiên cố tất cả
căn lành của đại Bồ Tát
chăng ?
Phật
tử ! Đại Bồ Tát nầy,
hoặc làm đế vương, ngự
trị nước lớn, có oai đức
rộng lớn, danh chấn
thiên hạ. Phàm là các
oán địch, thảy đều quy
thuận. Hiệu lịnh phát ra
đều y theo chánh pháp.
Cầm một cây lọng, che
khắp vạn phương. Đi khắp
cõi nước, không bị trở
ngại. Dùng lụa lìa cấu,
quấn trên đỉnh đầu. Nơi
pháp tự tại, người thấy
được đều điều phục.
Không có hình phạt, dùng
đức cảm hoá. Dùng bốn
pháp nhiếp, để nhiếp các
chúng sinh. Làm Chuyển
Luân Vương, chu cấp tất
cả.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp
môn hồi hướng, hoặc Ngài
thị hiện một vị hoàng
đế, thống trị thiên hạ.
Dùng thân phận hoàng đế
thống lãnh vạn phương,
quản trị nhân dân. Ý
nghĩa ngự trị bao quát
giáo hoá nhân dân, trị
lý quốc chánh. Nước lớn
tức là biểu thị nhân dân
đông, đất đai rộng lớn,
vật tài sản phong phú.
Bồ Tát thị hiện hoàng đế
là ông vua của nước lớn,
nước giàu dân mạnh,
chính trị thanh minh.
Oai đức rộng lớn, sở dĩ
ông vua nầy ngự trị nước
lớn, chẳng những ông ta
có võ công giỏi, mà còn
có đức hạnh hiền minh,
do đức mà lập oai, khiến
cho nhân dân xa gần và
nước lân cận đều cảm thọ
đức hạnh của Ngài, cho
nên danh chấn thiên hạ,
mọi người thấy đều quy
hàng. "Phàm là các oán
địch, thảy đều quy
thuận", phàm là trong
quá khứ đã từng kết oán
cừu với ông ta, cùng với
sự đối địch xưa kia, của
những nước lân cận xa
gần lớn nhỏ, hiện tại vì
cảm thọ được đức hạnh
của ông ta cảm hoá, mọi
người đều buông bỏ oán
cừa đối địch trong quá
khứ, tâm hoan hỉ thuần
phục đến quy thuận với
ông ta, thần phục ông
ta. Khi ông ta muốn
tuyên bố phương châm,
hoặc phát ra hiệu lệnh
cho nhân dân toàn quốc,
thì chẳng có một sự kiện
nào chẳng phải là y theo
chánh pháp mà hành sự,
tất cả đều hợp tình hợp
lý, ví như ông ta kêu
toàn thể nhân dân đều
thọ trì năm giới, thường
tu mười điều lành, đó
đều là biểu hiện dùng
chánh pháp để giáo hoá
nhân dân.
"Cầm
một cây lọng", "cây
lọng" giảng theo lối mật
tông, tức là chỉ cây
lọng trắng lớn trong Chú
Lăng Nghiêm. Trong Chú
Lăng Nghiêm có tâm Chú:
"Tất Ðát Ða, Bát Ðát La"
tức là sáu chữ nầy. Nếu
một lòng chuyên chú, tâm
chẳng có tạp niệm, thành
tâm tụng niệm, thì ở
trong hư không sẽ hiện
ra một cái lọng trắng
lớn, cái lọng đó có oai
thần lực "che khắp vạn
phương". Phàm là chỗ nào
được che mát, thì chẳng
có đao binh nổi dậy,
bệnh ôn dịch chẳng sinh
ra, chẳng xảy ra nạn
nước lửa, đạo tặc, chỉ
có cát tường như ý, mưa
thuận gió hoà, nhân dân
an lạc, chẳng có bất cứ
tai nạn gì. Nếu án chiếu
theo pháp mà nói, thì
chữ "lọng" nầy tức là
thật tướng diệu pháp.
Thật tướng vô tướng,
nhưng vô sở bất tướng.
Do thật tướng mà sinh ra
tất cả các pháp, dùng
tất cả các pháp để giáo
hoá chúng sinh trong
chín pháp giới. Ðó tức
là đạo lý một gốc tán
làm vạn thù, vạn thù lại
quy về một gốc. "Một"
nầy ở trong tâm mắt của
chúng ta tu đạo, là mục
đích của sự tu, do đó
được "Một" thì vạn sự
đều xong. Lão Tử có nói:
"Trời được một thì
thanh.
Ðất được một thì ninh.
Thần được một thì linh".
Trời
chẳng có "một" thì không
thể thanh. Ðất chẳng có
"một" thì không thể
ninh. Thần chẳng có
"một" thì không thể linh
nơi con người, không thể
trở thành chánh thần.
Chữ "một" nầy là bắt đầu
của số mục. Cuối cùng
thì số "một" nầy từ đâu
ra ? Từ số "0" mà ra.
Ðập vỡ số "0" thì biến
thành số "1". Nếu làm
cho nó hợp lại, thì sẽ
thành số "0". Số "0" nầy
tức là chân không. Chân
không chẳng không, nó có
thể sinh ra diệu hữu.
Diệu hữu chẳng hữu, cho
nên lại gọi là chân
không. Trên thật tế chân
không tức là diệu hữu,
diệu hữu tức cũng là
chân không. "Hữu" nầy,
nó do không mà sinh ra,
trong không hàm có diệu
hữu, vì chân không diệu
hữu, diệu hữu chân không
nầy, mới có trời, đất,
con người, và vạn vật.
Tất cả đều do số "0"
sinh ra, số "0" có thể
sinh ra trời, sinh ra
đất, sinh ra con người,
sinh ra vạn vật, sinh ra
Phật, sinh ra tiên, sinh
ra Thánh nhân. Tất cả
hết thảy đều từ số "0"
sinh ra. Vậy số "0" nầy
lại từ đâu sinh ra ? Nó
từ hư không sinh ra, cho
nên gọi là chân không
diệu hữu. Ðạo lý nầy vô
cùng vô tận, không thuỷ
chung, không trong
ngoài, không lớn nhỏ.
Cho nên nói nó lớn mà
không ở ngoài, nhỏ mà
không ở trong. Nói nó
lớn chăng ? Ðầy dẫy cả
hư không pháp giới. Nó
nhỏ chăng ? Còn nhỏ hơn
so với hạt bụi. Lớn mà
không ở ngoài, nhỏ mà
không ở trong, tức là
hình dung số "0" nầy.
Sao lại nói nó vô thuỷ
vô chung ? Bạn nhìn số
"0" nầy có sự bắt đầu và
kết thúc chăng ? Nếu nói
nó có sự bắt đầu và kết
thúc, thì tức là nó vỡ
mà làm "một". Cho nên
nói số "0" với số "một"
là bao hàm tất cả thật
tướng diệu pháp, đây tức
là cầm một cây lọng,
cũng có thể nói cầm một
pháp, pháp nói ở đây, đã
đến được số "0" tức lại
là một pháp bất lập, vạn
pháp đều không. Tuy
nhiên một pháp bất lập,
mà lại đầy đủ tất cả các
pháp. Tuy nhiên vạn pháp
đều không, mà tại vạn
pháp đều ở trong không
lại hay sinh ra tất cả
các pháp. Tại chỗ cuối
cùng nầy là sự khác biệt
giữa mê và ngộ của con
người. Người mê thì trôi
nổi ở trong sinh tử,
người ngộ thì thành tựu
quả vị Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, tức là
một pháp nầy, mà có thể
che khắp vạn phương.
"Ði
khắp cõi nước": Làm thủ
trưởng của nhân dân,
đừng nói đến quản lý
việc lớn nhỏ, mà còn
phải thường gần gũi dân
chúng, thường đi đến các
nơi quan sát, phải đi
sâu vào nhân gian, mới
hiểu được tình hình sinh
sống thật tế của dân
gian. Bất quá ngàn vạn
không thể quán sát thấy
hết dân tình, mà đi quấy
nhiễu dân, thì đó chẳng
phải là thủ trưởng
thương dân. Phàm là lãnh
thổ thuộc về một đất
nước, do một vị nguyên
thủ thống trị lãnh đạo,
nhân dân ở trong tất cả
những đất đai đó, đều
chịu sự giáo hoá của vị
nguyên thủ và phục tùng
lệnh của ông ta. "Không
bị trở ngại": Trong cõi
nước của vị nguyên thủ
thống trị, phát ra hiệu
lệnh, giáo hoá nhân dân,
tất cả đều phải nghe
theo, chẳng có một người
nào phản đối, chẳng bị
chút trở ngại nào. Dù
những nước lân cận, cũng
không đối nghịch với ông
ta. Vì ông vua nầy làm
cho nhân dân an cư lạc
nghiệp, cho nên mới
không có trở ngại nào.
"Dùng lụa lìa cấu mà
quấn trên đỉnh đầu":
Dùng tơ lụa sạch sẽ
thanh tịnh làm cái mũ để
vua đội trên đầu - câu
nầy có hàm ý tướng vô
kiến đỉnh của Phật. "Nơi
pháp tự tại": Phật là
đấng Pháp Vương, cho nên
nơi pháp tự tại. Bồ Tát
thị hiện làm ông vua,
nương theo chánh pháp
trị nước, dùng tâm từ bi
thương dân, cho nên Ngài
đối với pháp cũng nhậm
vận tự tại. "Người thấy
được đều điều phục": Vị
vua nầy nhân từ thương
dân, nhân đức lập oai,
mắt từ bi nhìn người,
cho nên phàm là người
thấy được Ngài, đều rất
cung kính đối với Ngài.
Vị vua nầy chuyên dạy
nhân dân tu năm giới,
làm mười điều lành,
không dùng hình phạt
giết hại người, cũng
không dùng phương pháp
nặng trừng trị người,
Ngài hoàn toàn dùng đức
để cảm hoá người, nhân
dân tự nhiên tâm vui
thành phục, cảm kính
Ngài, phục tùng Ngài. Bồ
Tát giáo hoá thần dân
của Ngài, dùng đủ thứ
pháp lành để cảm hoá họ,
trong đó dùng bốn pháp
nhiếp. Thứ nhất là bố
thí: Bố thí có bố thí
tài, bố thí pháp, bố thí
vô uý.
1.
Bố thí tài: Bao quát nội
tài và ngoại tài. Nội
tài là tứ chi, đầu mắt,
tuỷ não, máu thịt của
mình .v.v... Ngoại tài
là tất cả đồ vật ngoài
thân, như đất nước,
thành quách, ngôi vua,
sơn hà đại địa, nhà cửa
phòng xá, ruộng vườn
châu báu, vợ con tôi tớ
.v.v...
2.
Bố thí pháp: Tức là
giảng Kinh thuyết pháp,
làm tín đồ giải thích
nghĩa Kinh và nghi nan
trong Phật pháp, thậm
chí giảng giải một chữ,
một câu, một bài kệ, đều
là bố thí pháp.
3.
Bố thí vô uý: Tức là
dùng đạo lý Phật pháp
giải trừ ách nạn trong
thân tâm của họ, khiến
cho họ hết sự sợ hãi lo
âu.
Bố
thí là chi ra, chẳng
mong cầu người khác báo
đáp. Bố thí là điều khó
xả mà xả được cho người
cần, chẳng phải đem vật
mà mình không muốn bố
thí cho họ, đó chẳng gọi
là bố thí. Một người
chân tâm học Phật tu
đạo, nếu tu pháp môn bố
thí nầy thànnh tựu, thì
trở thành một vị đại Bồ
Tát. Phật nói học Bồ Tát
đạo, thì phải tu lục độ
vạn hạnh, đầu tiên trong
lục độ là bố thí. Người
thật tâm bố thí, thì
nhất định không tham
xẻn. Ðối với chúng sinh
nhất định có tâm từ bi,
hay nhẫn nhục nhường
nhịn được. Thân miệng ý
nhất định cố gắng làm
cho được thanh tịnh,
nhất định giữ gìn giới
thanh tịnh. Nhất định
tin sâu lời dạy của
Phật, y theo giáo pháp
tu hành. Hành giả chân
chánh hiểu rõ pháp môn
bố thí, thì họ sẽ nhất
định sẽ ít phiền não,
định tâm kiên thật và
trí huệ thanh tịnh. Hành
giả làm được những điều
kiện nầy, thì chẳng phải
là một vị Bồ Tát chăng ?
Nhiếp thọ chúng sinh thứ
nhất là dùng pháp bố
thí, là đối trị tâm lý
của chúng sinh, Phật
nói:
"Muốn khiến vào Phật
trí,
Trước dùng câu dục móc".
-
Pháp bố thí chiếm vị trí
thứ nhất của bốn pháp
nhiếp, sẽ có tác dụng
nầy.
-
Pháp nhiếp thứ hai là ái
ngữ: Con người cùng với
động vật có linh tánh,
đều thích nghe lời tốt,
thích nghe người khen,
chẳng muốn nhìn người
khác mặt mày xấu ác,
chẳng muốn nghe họ nói
lời ác, lời không hay,
cho nên Bồ Tát dùng ái
ngữ để đối đãi chúng
sinh, kiến lập quan hệ
hữu hảo, sau đó dùng
chánh pháp giáo hoá họ,
thì họ sẽ tiếp thọ thuần
phục Ngài mau hơn.
-
Thứ ba là lợi hành: Tức
là làm đủ thứ việc có
lợi cho chúng sinh,
chúng sinh thọ được lợi
ích thì thân tâm an lạc,
pháp hỉ sung mãn, đều
trở thành nhân dân thiện
lương.
-
Thứ tư là đồng sự: Nếu
bạn muốn độ chúng sinh
đó, tốt nhất là thân
phận cùng giống với họ,
thì dễ hiểu họ hơn, gần
gũi họ hơn, giáo hoá họ.
Phương pháp thứ tư nầy,
đều là pháp môn phương
tiện khéo léo độ chúng
sinh giáo hoá chúng
sinh. Khi Bồ Tát làm ông
vua thì dùng bốn phương
pháp nầy để nhiếp thọ
các chúng sinh, giáo hoá
chúng sinh. "Làm Vua
Chuyển Luân, chu cấp tất
cả": Vị Bồ Tát nầy tu
pháp môn hồi hướng, Ngài
thị hiện làm ông vua
nước lớn, chẳng phải là
ông vua bình thường, mà
là một vị vua Chuyển
Luân Thánh Vương, đầy đủ
oai đức, dũng mãnh, đầy
đủ bảy báu. Thuở xưa
Ngài tích tụ đủ thứ căn
lành công đức, cho nên
khi làm vua thì châu báu
tài sản đầy dẫy, vô cùng
vô tận. Nhưng Ngài chẳng
chiếm làm của riêng
mình, mà chu cấp khắp
cho tất cả nhân dân,
khắp khiến cho nhân dân
cơm no áo ấm, an cư lạc
nghiệp, về già có chỗ
nương, còn nhỏ có chỗ
nuôi dưỡng, chẳng có
thiên tai, cũng chẳng có
nhân hoạ, đây là cõi Cực
Lạc tại nhân gian, cũng
là cõi Tịnh Ðộ tại nhân
gian. Bồ Tát thị hiện
làm vua, đất nước mà
Ngài thống lãnh, toàn
quốc trên dưới đều phụng
hành năm giới và mười
điều lành, chánh pháp
che khắp, mới có cảnh
giới thái bình thịnh
vượng như thế.
Đại
Bồ Tát an trụ công đức
tự tại như vậy. Có quyến
thuộc lớn. Không ai có
thể trở ngại phá hoại
được. Đều lìa khỏi các
lỗi lầm. Người thấy
không nhàm chán. Phước
đức trang nghiêm, tướng
tốt viên mãn. Thân hình
tráng kiện, đồng đều đầy
đủ. Được thân Na La Diên
kiên cố, sức mạnh thành
tựu, không ai khuất phục
được. Đắc được nghiệp
thanh tịnh, lìa các
nghiệp chướng.
Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, Ngài an trụ trong
công đức vô ngại nầy, có
vô lượng vô số quyến
thuộc thần dân chung
quanh Ngài, ủng hộ Ngài.
Những quyến thuộc đó đều
là đệ tử Phật chánh tri
chánh kiến, chánh tín
chánh niệm, phụng hành
chánh pháp, cho nên gọi
là quyến thuộc lớn. Tự
thân của Bồ Tát và pháp
thống của Ngài, cùng với
hết thảy quyến thuộc của
Ngài, đều có thân kiên
cố, tâm niệm trác tuyệt,
cho nên tuyệt đối chẳng
thọ lời lẽ dụ hoặc của
ngoại đạo, thế lực nào
có thể phá hoại được. Ba
nghiệp của Bồ Tát sớm đã
được thanh tịnh, chuyên
làm các việc thiện,
không làm các việc ác,
chẳng có bất cứ lỗi lầm
gì, có thân tâm thanh
tịnh thuần khiết như
thế. Khí chất và phong
độ của Ngài đã đạt đến
cực điểm, do đó, phàm là
người nào thấy được
Ngài, đều mong muốn được
gần gũi Ngài, không sinh
tâm nhàm chán. Bồ Tát có
y, chánh, hai báo như
vậy, đều là do nhiều đời
nhiều kiếp tại nhân địa
hành Bồ Tát đạo, tích tụ
phước đức trí huệ, mới
có được tướng tốt viên
mãn, cõi nước trang
nghiêm như ngày hôm nay.
Phật trong ba A Tăng Kỳ
tu phước huệ, trăm kiếp
vun trồng tướng tốt.
Chuyển Luân Thánh Vương
cũng có ba mười hai
tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp, giống như Phật, bất
quá quang minh của Ngài
chẳng viên mãn như quang
minh của Phật, cũng
không thể chiếu khắp đại
thiên thế giới. Thân
hình của Ngài tráng
kiện, tứ chi tương xứng,
ngũ quan phối hợp đồng
đều. Từ đầu đến chân,
chẳng có một chỗ nào mà
chẳng đồng đều đầy đủ mà
viên mãn. Ðược thân Na
La Diên kiên cố: Na La
Diên là biệt danh của
Phạm Thiên Vương, nghĩa
là đoan chánh khoẻ mạnh
kiên cố, mượn đây để ví
dụ Bồ Tát thị hiện làm
ông vua nước lớn, có
thân Na La Diên kiên cố
tráng kiện như thế,
chẳng dễ gì bị sức lực
bên ngoài làm tổn thương
được. Vì Bồ Tát tu pháp
môn hồi hướng, nơi nơi
đều xả mình vì người,
mọi việc đều muốn thay
thế chúng sinh thọ khổ,
cho nên đắc được thân
kim cang kiên cố như
thế. Sức mạnh thành tựu,
không ai khuất phục
được: Thuở xưa Bồ Tát
phát nguyện lớn, Ngài
dùng thâm tâm kiên
cường, nguyện lớn lực
lớn của Ngài, mỗi mỗi
đều viên mãn thành tựu.
Trong quá trình Ngài tu
Bồ Tát đạo, đã từng gặp
những chướng ngại khốn
khổ hoạn nạn, Ngài cũng
đều khắc phục được hết.
Vì Ngài có ý chí kiên
định không thay đổi, cho
nên chẳng có ai và việc
gì khuất phục được, do
đó Ngài đắc được quả
nghiệp thanh tịnh, lìa
khỏi tất cả nghiệp
chướng ô nhiễm, sớm
thành tựu Phật đạo.
Tu
hành đầy đủ tất cả bố
thí, hoặc bố thí ẩm thực
và các thượng vị, hoặc
bố thí xe cộ, hoặc bố
thí y phục, hoặc bố thí
tràng hoa, tạp hương,
hương thoa, giường toà
phòng xá và chỗ ở. Đèn
đuốc thượng diệu, đồ đạc
châu báu xe báu. Thuốc
thang, voi tốt ngựa
giỏi, thảy đều nghiêm
sức, hoan hỉ bố thí.
Khi
Bồ Tát tu pháp môn bố
thí thì, Ngài chẳng tiếc
đồ trân quý, hết mình bố
thí tất cả vật chất tốt
đẹp, như đủ thứ ẩm thực
mỹ vị ngon nhất, hoặc bố
thí các thứ công cụ giao
thông như máy bay, tàu
thuyền, xe lửa, xe hơi,
cùng với các thứ xe cộ
lớn nhỏ. Hoặc bố thí các
thứ y phục tốt đẹp. Hoặc
bố thí tràng hoa dùng
các thứ hoa quý tươi tốt
kết thành. Hoặc bố thí
đủ thứ hương thơm, hương
đốt, hương thoa, hương
bột .v.v... Hoặc bố thí
giường toà. Toà, như là
trường kỷ, bàn ghế
.v.v... Hoặc xây nhiều
phòng xá, bố thí cho
những người không có nhà
ở, để che nắng che mưa.
Hoặc dùng châu báu làm
đèn, đuốc, để cúng dường
Phật. Hoặc đem thuốc men
bố thí cho người già, và
người bệnh nghèo khổ cô
độc. Hoặc đem đồ vật
trân quý, xe báu và voi
tốt ngựa giỏi, thảy đều
nghiêm sức đẹp đẽ mỹ lệ
đầy đủ. Bồ Tát đem những
thứ vật chất khó được
đó, hoan hỉ bố thí cho
tất cả mọi người.
Hoặc
có người đến xin toà của
vua ngồi, hoặc lọng,
hoặc dù, tràng phan báu
vật, các thứ đồ trang
nghiêm. Mão báu trên
đầu, hạt minh châu trong
búi tóc, cho đến ngôi
vua, đều không xẻn tiếc.
Hoặc
có người đến xin ông vua
cái toà ngồi của vua.
Hoặc có người đến xin
lọng báu, dù báu, tràng
báu, phan báu của vua
thường dùng và các thứ
báu vật khác, đủ thứ đồ
dùng quý trọng của vua.
Thậm chí có người đến
xin cái mũ làm bằng bảy
báu mà vua thường đội
trên đầu. Hạt minh châu
ban đêm phóng quang, vua
thường cài trong búi
tóc, cho đến ngôi vua
quý báu, bất cứ ai đến
xin, vua đều hoan hỉ bố
thí cho họ, tơ hào không
xẻn tiếc.
Nếu
vua thấy chúng sinh ở
trong lao ngục, thì xả
thí các tài sản châu
báu, vợ con quyến thuộc,
cho đến thân mạng, để
cứu họ thoát khỏi. Nếu
thấy tử tù sắp bị giết,
thì vua liền xả bỏ mạng
sống của mình, để thế
mạng cho họ.
Vị
đại Bồ Tát nầy thị hiện
ông vua nước lớn, nếu
thấy chúng sinh thọ khổ
ở trong lao ngục, thì
Ngài chẳng tiếc tất cả
tài sản châu báu, hoặc
đem vợ đẹp con xinh của
mình, hoặc đem quyến
thuộc, thậm chí đem thân
thể của mình, ra bố thí
để cứu chúng sinh thọ
khổ ở trong lao ngục,
khiến cho họ được thoát
khỏi tội lao ngục, được
tự do. Hoặc thấy tù nhân
ở trong ngục, đã phán
tội tử hình, tức là sắp
bị giết, thì Ngài lập
tức muốn xả bỏ mạng sống
của mình, để thay thế
cho tử tù đó, tiếp thọ
hình phạt chém giết.
Hoặc
thấy có người đến xin
đầu tóc liền da, Ngài
hoan hỉ thí cho, cũng
chẳng xẻn tiếc. Mắt tai
mũi lưỡi và răng, đỉnh
đầu chân tay, máu thịt
xương tuỷ, tim thận gan
phổi, ruột già ruột non,
da dày da mỏng, tay chân
các ngón .v.v... đều
hoan hỉ bố thí cho hết.
Bồ
Tát phát tâm hành bố
thí, Ngài ôm hoài bảo có
người không có ta, xả
mình lợi người, cứu độ
chúng sinh, giáo hoá
chúng sinh, Ngài đã diệt
trừ thấy cái ta, tướng
ta, chấp cái ta. Bố thí
bao quát tài thí - nội
tài, ngoại tài, pháp
thí, vô uý thí, chẳng có
môn nào mà chẳng tu hành
triệt để, đạt đến giai
đoạn viên mãn rốt ráo.
Ðoạn Kinh văn ở trước,
là nói Bồ Tát bố thí
ngoại tài - đất nước vợ
con. Ðoạn Kinh văn nầy
là biểu dương Bồ Tát bố
thí nội tài khó xả mà xả
được - đầu mắt tuỷ não,
nội tạng và máu thịt
.v.v...
Hoặc
có người đến hướng về
Ngài xin đầu tóc liền
da, Bồ Tát tơ hào chẳng
do dự, một chút cũng
không xẻn tiếc, hoan hỉ
bố thí cho người xin.
Chẳng những như thế, dù
có người đến xin con
mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái
lưỡi, và răng, cái đầu,
da thịt, tay chân, cũng
vậy. Máu, xương đầu, cốt
tuỷ, thậm chí Ngài bố
thí tim, thận, gan,
phổi, ruột già, ruột
non, da dày, da mỏng,
tay chân các ngón
.v.v..phàm là trong thân
thể con người, tứ chi,
ngũ quan, nội tạng, máu,
thịt, xương tuỷ, chỉ cần
chúng sinh cần, thì Ngài
chẳng có gì mà không
hoan hỉ bố thí, khiến
cho người xin đều được
mãn nguyện, hết thảy đều
bố thí cho họ.
Hoặc
là vì cầu thỉnh pháp
chưa từng có, mà gieo
mình vào hầm lửa sâu
lớn. Hoặc vì hộ trì
chánh pháp của Như Lai,
mà dùng thân nhẫn thọ
tất cả khổ nạn độc hại.
Hoặc vì cầu pháp, cho
đến một chữ, đều xả thí
tất cả hết thảy trong
bốn biển. Luôn dùng
chánh pháp giáo hoá quần
sinh, khiến cho họ tu
pháp lành, xả lìa các
điều ác.
Ðoạn
Kinh văn nầy nói tinh
thần vĩ đại của Bồ Tát
vì pháp mà quên mình,
thà xả bỏ hết thảy tất
cả trong bốn biển, mà
đổi lấy một chữ nửa bài
kệ. Bồ Tát hy sinh chính
mình như vậy, Ngài vì
giáo hoá chúng sinh,
khiến cho họ tu pháp
lành, xả bỏ các điều ác.
Bồ
Tát hoặc vì cầu thỉnh
chánh pháp chưa từng
nghe qua, dù có gieo
mình vào trong hầm lửa
sâu lớn, cũng chẳng tiếc
thân mạng. Hoặc vì hộ
trì chánh pháp, hộ trì
đạo tràng, Ngài có thể
thọ khổ mà người khác
không thọ được, nhẫn
điều mà người khác không
thể nhẫn được, nhường sự
tổn thất mà người khác
không nhường được, ăn
những thứ mà người khác
không ăn được. Tóm lại,
chỉ cần hộ trì chánh
pháp, Ngài có thể thọ
tất cả khổ nạn độc hại.
Hoặc vì cầu một chữ của
chánh pháp, Ngài có thể
xả bỏ tất cả hết thảy
trong bốn biển. Bồ Tát
như thế, Ngài là vì giáo
hoá chúng sinh, hy vọng
chúng sinh đều y theo
chánh pháp tu hành, tu
tập mười điều lành, xả
lìa tất cả nghiệp ác,
thành tựu các hạnh lành.
Trước
kia Ðức Phật Thích Ca
tại nhân địa tu hành,
thì một ngày nọ có một
con quỷ La Sát đến, ở
trước mặt Ngài tự nói
như vầy:
"Các hành vô thường,
Là pháp sinh diệt. . . .
. . ."
Nói
đến đây bèn ngừng lại,
chẳng nói phần dưới. Lão
tu hành đợi một lúc,
nhẫn chẳng được bèn hỏi:
- "Ông vừa đọc ra một
bài kệ của Phật, tại sao
ông không tiếp tục đọc
cho hết đi ?"
- Quỷ La Sát nói: "Ðúng
! Vì tôi đói quá, chẳng
còn sức để đọc nữa".
- Lão tu hành nói: "Ông
muốn ăn cái gì ? Ðọc
xong tôi sẽ cho ông ăn".
- Quỷ La Sát nói: "Tôi
muốn ăn thịt người
sống."
- Lão tu hành nói: "Ðược
! Ông đọc nửa bài kệ còn
lại cho tôi nghe đi, tôi
sẽ đem thân mạng của tôi
cúng dường cho ông".
- Quỷ La Sát nói: "Tốt !
Quân từ nhất ngôn, ông
đừng có thất hứa !" Do
đó, ông ta đọc:
"Sinh diệt diệt rồi,
Tịch diệt là vui".
Lão
tu hành nghe rồi, rất
vui mừng vô cùng, đó là
pháp vi diệu mà Ngài
chưa từng nghe qua. Ý
nghĩa của bài kệ nầy là
nói: Tất cả sự việc trên
thế gian, đều chẳng
thường tồn, sinh rồi lại
diệt, diệt rồi lại sinh,
chỉ có tịch diệt mới là
an vui chân thật. Vì
tịch diệt vô tướng, tất
cả đều chẳng chấp trước.
Lão tu hành vì muốn cho
lời pháp nầy lưu truyền
lại, cho nên khắc vào
trong đá, để truyền lại
cho chúng sinh đời sau y
theo pháp tu hành, dù hy
sinh chính mình, cũng có
giá trị. Lão tu hành
khắc bài kệ xong rồi,
thì thỉnh mời quỷ La Sát
đến ăn thịt Ngài, ai
biết Ngài nhắm mắt đợi
một hồi, cũng chẳng thấy
quỷ La Sát đến ăn thịt,
do đó Ngài mở mắt ra
nhìn, thì chẳng thấy dấu
vết của quỷ La Sát đâu
cả, bèn ngước lên nhìn
trên không trung, thì
chỉ thấy một vị trời
trang nghiêm, đừng ở
trên không nói với Ngài:
"Lành thay, lành thay !
Ngài thật là bậc chân tu
hành, có thể vì nửa bài
kệ mà vì chúng sinh đời
sau, mà xả bỏ thân
mạng." Ông vua Bồ Tát đó
cũng có mỹ đức như Phật,
vì pháp mà xả bỏ thân
mạng.
Nếu
thấy chúng sinh giết
hại, thì dùng tâm từ cứu
họ, khiến cho họ xả bỏ
tội nghiệp.
Ðoạn
Kinh văn nầy nói Bồ Tát
hành vô uý thí. Lại giáo
hoá chúng sinh xả bỏ tội
nghiệp tàn sát giết hại
người, cũng bao quát
pháp thí. Trong xã hội
có một nghề nghiệp, tức
là chuyên môn tổn hại
tha hình. Vào thời đại
chuyên chế ở trong cung
vua có dùng kẻ hầu người
nam, gọi là thái giám,
thì phải chặt bỏ nam
căn, mới có thể vào cung
phục vụ cho vua, hoàng
hậu, cung phi. Hiện tại,
việc vô nhân đạo nầy
chẳng còn nữa. Bồ Tát
nếu thấy được chúng sinh
làm việc tổn hại tha
hình nầy, thì Ngài phát
tâm từ bi, đi cứu kẻ bị
hại đó, khiến cho họ
thoát khỏi nguy hiểm về
mạng sống. Riêng một
phương diện khác Ngài
còn phải khuyên kẻ làm
tổn hại đó, xả bỏ hành
vi tạo tội nghiệp đó,
cải ác hướng thiện.
Chúng
ta nghe được Kinh văn
nói Bồ Tát có tâm từ bi
bình đẳng khắp như vậy,
thì phải học lòng nhân
từ của Bồ Tát, tài bồi
lòng từ bi của chính
mình, xả mình vì người,
một lòng tu nghiệp lành,
thay đổi tất cả tập khí
mao bệnh, tâm cống cao
ngã mạn không tốt của
mình, như thế mới không
cô phụ tâm nghe Phật
pháp, học Phật pháp.
Bằng không, chỉ nghe mà
không y pháp tu hành,
thì chỉ no lỗ tai phúc
mà thôi.
Nếu
thấy Như Lai, thành tối
Chánh Giác, thì tán thán
khen ngợi, khiến cho
khắp tất cả đều nghe
biết. Hoặc bố thí đất
đai, để tạo lập nhà
Tăng, phòng xá, chánh
điện, giảng đường, dùng
làm chỗ ở. Và bố thí tôi
tớ, để giúp việc cho đạo
tràng. Hoặc dùng thân
mình, bố thí cho người
đến xin. Hoặc bố thí cho
đức Phật, vì cầu pháp.
Hoan hỉ nhảy nhót, vì
chúng sinh. Thừa sự cúng
dường.
Hoặc
khi Bồ Tát thấy có đại
Bồ Tát công đức viên mãn
đầy đủ, thành tựu tối
Chánh Đẳng Chánh Giác,
thì Ngài trong thâm tâm
hoan hỉ khen ngợi, đi
khắp nơi tán thán công
đức viên mãn của Phật,
khiến cho chư Phật Bồ
Tát khắp mười phương thế
giới, tất cả chúng sinh
đều biết. Hoặc Bồ Tát sẽ
bố thí một miếng đất,
dùng để xây dựng một nhà
Tăng thật lớn - một ngôi
Chùa, để làm đạo tràng
cúng cho Phật tu đạo.
Ngoài ra còn kiến lập
nhiều phòng xá, cung cấp
cho người tu hành ở tu.
Và còn kiến lập một
giảng đường, để cho các
Thầy giảng Kinh thuyết
pháp độ sinh. Và còn xây
dựng một đại hùng bảo
điện, cúng dường tượng
Phật, để làm nơi cho
chúng sinh chiêm ngưỡng
lễ bái. Có lối kiến trúc
chu đáo như thế, khiến
cho tứ chúng đệ tử Phật
đều có chỗ ở an tâm tu
học. Còn bố thí nhiều
tôi tớ trung thành, để
giúp việc phục vụ cho
đạo tràng. Thậm chí Bồ
Tát cũng chẳng tiếc thân
mạng dùng thân của mình
bố thí cho người đến
xin. Hoặc xả thân ở
trước Phật làm đủ thứ sự
bố thí. Tóm lại, Bồ Tát
vì cầu Phật pháp vô
thượng, vì độ tất cả
chúng sinh, cho nên Ngài
hoan hỉ nhảy nhót, chân
tâm làm đủ thứ sự bố
thí, thành tâm thừa sự
cúng dường chư Phật.
Hoặc
xả bỏ ngôi vua, thành ấp
tụ lạc, cung điện vườn
rừng, vợ con quyến
thuộc. Tuỳ theo chỗ
người xin, đều làm cho
họ mãn nguyện. Hoặc xả
bỏ tất cả đồ vật tư
sanh. Thiết lập hội bố
thí lớn khắp nơi.
Bồ
Tát một lòng hành bố
thí, chẳng phân biệt,
khó xả mà xả được, tức
khiến cho có người đến
hướng về Ngài xin ngôi
vua tôn quý nhất, Ngài
cũng chẳng do dự bố thí
cho họ. Cho đến thành
ấp, thôn xóm tụ lạc,
cung điện vườn rừng của
mình ở, cùng với vợ đẹp
khó xả nhất, con cái và
quyến thuộc .v.v...bất
cứ họ đến xin thứ gì,
Ngài quyết định đều
khiến cho họ toại tâm
mãn nguyện. Hoặc bố thí
các đồ vật tư sinh như
tiền bạc và các thứ phẩm
vật khác. Ngoài ra còn
thiết lập hội bố thí lớn
ở khắp nơi, chất đầy đủ
thứ phẩm vật cần thiết
trong đời sống, khiến
cho hết thảy chúng sinh
đến lấy những đồ mình
cần, không có hạn chế,
để cho họ đều được đầy
đủ.
Trong
đó chúng sinh đủ thứ
phước điền. Hoặc từ xa
đến, hoặc từ gần lại,
hoặc hiền hoặc ngu, hoặc
tốt hoặc xấu, hoặc nam
hoặc nữ. Người chẳng
phải người. Tâm hành
khác nhau. Chỗ cầu đều
khác nhau. Thảy đều bố
thí cho, đều khiến cho
họ đầy đủ.
Những
chúng sinh đó đến cầu
xin bố thí, có kẻ đến
trồng phước điền, có kẻ
đến xin phước điền. Hoặc
họ đến từ nơi xa xôi,
hoặc đến từ nơi lân cận.
Trong đó hoặc có người
hiền có trí huệ, hoặc là
kẻ ngu si. Có người
tướng mạo xinh đẹp, hoặc
có kẻ tướng mạo xấu xí.
Nam nữ đều có, chẳng
những loài người, mà
chẳng phải người cũng có
- loại chúng sinh khác,
như vậy đủ thứ hình sắc
chúng sinh, trong tâm họ
mong cầu cũng đều khác
nhau, căn tánh hành vi
cũng khác nhau. Mục đích
cầu xin cũng hoàn toàn
khác nhau, tuy nhiên như
vậy, song, Bồ Tát vẫn
dùng tâm bình đẳng, tâm
hoan hỉ, chẳng lựa hiền
ngu, tốt xấu, khắp bố
thí cho chúng sinh cầu
xin, khiến cho họ thảy
đều đầy đủ mãn nguyện,
toại tâm như ý.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí như thế, thì phát
tâm khéo nhiếp thọ, đều
đem hồi hướng. Đó là:
Khéo nhiếp sắc, tuỳ
thuận kiên cố tất cả căn
lành. Khéo nhiếp thọ
tưởng hành thức, tuỳ
thuận kiến cố tất cả căn
lành. Khéo nhiếp ngôi
vua, tuỳ thuận kiên cố
tất cả căn lành. Khéo
nhiếp quyến thuộc, tuỳ
thuận kiến cố tất cả căn
lành. Khéo nhiếp đồ tư
sanh, tuỳ thuận kiến cố
tất cả căn lành. Khéo
nhiếp huệ thí, tuỳ thuận
kiến cố tất cả căn lành.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp
môn hồi hướng, khi Ngài
hành bố thí thì, Ngài
phát tâm nhất định phải
nhiếp thọ hết thảy tất
cả chúng sinh. Khi Ngài
hành công đức căn lành
bố thí, thì hoàn toàn
hồi hướng về bồ đề, hồi
hướng về thật tế, hồi
hướng cho tất cả chúng
sinh. Bồ Tát Ngài khéo
biết nhiếp pháp sắc uẩn,
một trong năm uẩn như
thế nào. Công phu tu
hành của Bồ Tát, thâm
nhập vào Bát Nhã thù
thắng, cho nên Ngài
chiếu thấy năm uẩn đều
không, nhiếp sắc pháp là
tuỳ thuận kiên cố tất cả
căn lành. Ngài lại khéo
nhiếp chân thật nghĩa lý
của thọ, tưởng, hành,
thức bốn uẩn đều không,
tuỳ thuận kiên cố tất cả
căn lành, và kiên cố căn
lành của mình. Khiến cho
căn lành của chúng sinh
tăng trưởng, đồng thời
khiến cho đạo bồ đề của
mình tu ngày càng rộng
lớn. Lại khéo nhiếp ngôi
vua, Bồ Tát biết sự
trọng yếu của ngôi vua,
nhưng Ngài chẳng xem
trọng ngôi vua ở trên
cao mà không xả bỏ, mà
Ngài hiểu rõ ngôi vua
quan hệ đến lợi ích của
toàn dân, Ngài tuỳ thời
có thể nhường cho người
hiền năng, Ngài tuyệt
đối chẳng chấp trước.
Lại khéo nhiếp thọ quyến
thuộc của Ngài, tuỳ
thuận chân lý, tuỳ thuận
tâm từ bình đẳng giáo
hoá, tuỳ thuận công đức,
kiên cố tự lợi lợi tha
tất cả căn lành. Lại
khéo nhiếp tất cả đồ vật
tư sanh, tuỳ thuận bố
thí, kiên cố tất cả căn
lành đã tu được. Lại
khéo nhiếp thọ huệ thí,
bố thí khắp cho tất cả
chúng sinh, tuỳ thuận
kiên cố tất cả căn lành
đã tu được.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát tuỳ thời
đồ vật bố thí, đều vô
lượng vô biên. Ðem căn
lành đó hồi hướng như
vậy. Đó là: Khi đem thức
ăn thượng hạng bố thí
cho chúng sinh, thì tâm
của Ngài thanh tịnh. Về
vật bố thí, Ngài chẳng
tham, chẳng chấp trước,
không có tâm xẻn tiếc.
Đầy đủ hạnh bố thí.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp
môn hồi hướng, Ngài tuỳ
thời tuỳ lúc bố thí đồ
vật, đều nhiều vô lượng
vô biên. Ðem căn lành bố
thí tích tụ, giống như
phương pháp ở trên vừa
nói, thảy đều hồi hướng
cho chúng sinh, hồi
hướng về bồ đề, về thật
tế. Bồ Tát bố thí thứ
nhất là thức ăn, vì thức
ăn nuôi dưỡng mạng sống.
Cho nên Bồ Tát đem thức
ăn thượng hạng bố thí
khắp cho chúng sinh. Khi
Ngài bố thí thức ăn, thì
tâm của Ngài rất hoan hỉ
và thanh tịnh, một chút
cũng chẳng nghĩ đến bố
thí như thế, sẽ đắc được
công đức gì, cũng chẳng
so sánh phẩm vật bố thí
nhiều ít, hoặc là sang
hèn, cũng chẳng màng đến
bố thí để tham đồ háo
danh, cũng chẳng bố thí
rồi lại sinh tâm hối
tiếc, cảm thấy rằng bố
thí cho người khác, thì
mình chẳng còn nữa. "Xẻn
tiếc": Tức là càng nghĩ
càng xả bỏ chẳng được,
có tâm tham xẻn. Bồ Tát
chẳng như thế, vì Ngài
hoàn toàn thấu đạt nghĩa
lý chân thật của sự bố
thí.
Chân
chánh bố thí, thì chẳng
thấy có người bố thí,
cũng chẳng thấy vật thí,
càng chẳng thấy có người
nhận, đó gọi là ba thứ
đều không (tam luân thể
không).
Ăn có chín thứ, trong
đó có bốn thứ là ăn theo
lối thế gian.
1.
Ðoạn thực: Tức là ăn
từng phần từng đoạn, ai
nấy đều có một phần, đây
là sự ăn của nhân gian.
2.
Xúc thực: Là quỷ thần
ăn, chỉ cần tiếp xúc vào
là đủ.
3.
Tư thực: Là người trời
ăn, trong tâm nghĩ gì,
thì có cái đó hiện tiền,
vừa đủ.
4.
Thức thực: Dùng thức để
phân biệt mùi vị thì no,
chúng sinh cõi trời Vô
Sắc dùng lối ăn nầy.
Nguyện
tất cả chúng sinh được
thức ăn trí huệ, tâm
chẳng chướng ngại. Biết
rõ tánh ăn, chẳng có
tham trước. Chỉ ưa thức
ăn pháp hỉ thoát khỏi ba
cõi. Trí huệ sung mãn.
Dùng pháp trụ vững chắc,
nhiếp lấy căn lành. Pháp
thân trí thân, thanh
tịnh du hành. Thương xót
chúng sinh, mà làm ruộng
phước, thị hiện thọ đoạn
thực. Đó là khi đại Bồ
Tát bố thí thức ăn đem
căn lành hồi hướng.
Khi
Bồ Tát bố thí thức ăn
thì hồi hướng, Ngài nói:
Tôi nguyện cho tất cả
chúng sinh, đều đắc được
thức ăn tăng trưởng trí
huệ, từ đó tâm chẳng có
chướng ngại, vĩnh viễn
chẳng ngu si. Bồ Tát
thấu đạt tánh ăn là
không, bất luận ăn gì,
mục đích là vì nuôi lớn
pháp thân khiến cho
thành tựu đạo nghiệp,
hơn nữa cũng là vì trị
tất cả bệnh tật, Ngài
tuyệt đối chẳng tham ăn
ngon. Bồ Tát hoan hỉ
nhất là "Thiền duyệt vi
thực, pháp hỉ sung mãn",
dùng pháp làm thức ăn.
Vì thức ăn pháp vị thì
thoát khỏi ba cõi, chấm
dứt sinh tử, tăng trưởng
trí huệ. Thiền duyệt vi
thực, tức thành tựu định
lực chẳng động, chẳng
tán loạn, dùng pháp vị
trụ vững chắc nơi pháp,
sinh ra công đức, diệt
trừ phiền não, nhiếp lấy
căn lành xuất thế. Pháp
thân của Phật khắp tất
cả mọi nơi, trí huệ thân
cũng khắp tất cả mọi
nơi, Bồ Tát cũng đắc
được pháp thân, trí thân
như Phật, thanh tịnh
không nhiễm du hành khắp
mười phương cõi nước.
Thương xót tất cả chúng
sinh trôi nổi trong biển
khổ, phát tâm cứu họ,
giáo hoá họ, làm ruộng
phước tốt của tất cả
chúng sinh, đến nhân
gian thị hiện làm ông
vua, thọ đoạn thực của
nhân gian. Ðó tức là đại
Bồ Tát khi bố thí thức
ăn đem căn lành hồi
hướng.
Ðoạn
Kinh văn ở trước đã nói
về Bồ Tát bố thí bốn thứ
ăn của thế gian. Ðoạn
Kinh văn nầy nói về Bồ
Tát bố thí năm thứ ăn
xuất thế gian, hy vọng
chúng sinh thọ được thức
ăn pháp vị (pháp thực)
xuất thế:
1.
Thiền duyệt thực: Người
tu hành đắc được vui
thiền định hay nuôi
dưỡng các căn.
2.
Pháp hỉ thực: Người tu
pháp nghe pháp sinh hoan
hỉ, nuôi dưỡng thân tâm
huệ mạng.
3.
Nguyện thực: Người tu
hành phát thệ nguyện mà
trì thân, tu vạn hạnh.
4.
Niệm thực: Người tu hành
thường nhớ niệm căn lành
xuất thế, mà chẳng quên
nuôi dưỡng lợi ích huệ
mạng.
5.
Giải thoát thực: Người
tu hành cuối cùng chứng
được vui Niết Bàn, mà
nuôi lớn thân tâm.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí thức uống, thì đem
căn lành nầy hồi hướng
như vầy: Nguyện tất cả
chúng sinh uống nước
pháp vị. Tinh tấn chuyên
cần tu tập. Đủ đạo Bồ
Tát. Dứt trừ khát ái thế
gian, thường cầu trí huệ
của Phật. Lìa cảnh giới
dục. Được pháp hỉ lạc.
Từ pháp thanh tịnh mà
sinh ra thân thanh tịnh.
Thường dùng tam muội, mà
điều nhiếp tâm. Vào biển
trí huệ, nổi mây pháp
lớn, xối mưa pháp lớn.
Đó là khi đại Bồ Tát bố
thí thức uống, đem căn
lành hồi hướng.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp
môn hồi hướng, ở trước
Ngài bố thí thức ăn rồi,
hiện tại lại tiếp tục bố
thí thức uống cho chúng
sinh. Con người có thể
nhịn ăn năm ba ngày,
nhưng không thể nhịn
uống nước được, uống
nước rất là quan trọng
hơn là thức ăn. Bồ Tát
bố thí thức uống, chẳng
phải như thức uống bình
thường, mà là thức uống
pháp vị. Khi Ngài bố thí
thức uống, thì Ngài đem
công đức căn lành bố thí
thành tựu, hồi hướng cho
tất cả chúng sinh như
sau, Ngài nói: "Nguyện
cho tất cả chúng sinh,
đều uống được nước pháp
vị sung mãn, sau đó dũng
mãnh tinh tấn tu tập tất
cả Phật pháp, đầy đủ
Phật đạo của Bồ Tát tu,
dứt trừ tất cả dục vọng
của thế gian - tình dục,
ái dục, tài sắc dục, mà
luôn luôn tồn tại tâm
nguyện trên cầu Phật
đạo, dưới độ chúng sinh.
Lìa khỏi cảnh giới năm
dục, đắc được vui pháp
hỉ chân thật. Ðắc được
niềm vui của pháp rồi,
thì sẽ từ trong niềm vui
thanh tịnh của pháp sinh
ra thân tâm thanh tịnh,
điều gọi là thoát thai
đổi cốt, biến hoá khí
chất, tức là nhờ sự công
hiệu ăn thức ăn của
pháp, uống nước pháp vị.
Và còn phải tuỳ thời
dùng định lực để điều
nhiếp tâm, khiến cho
thường trụ chánh niệm,
chẳng khởi chút vọng
tưởng nào. Như vậy vào
trong biển đại trí huệ,
nổi lên mây pháp rộng
lớn, khắp mưa xuống mưa
pháp lớn, khiến cho
chúng sinh cùng thấm
nhuần. Ðó tức là khi đại
Bồ Tát bố thí thức ăn
đem căn lành hồi hướng.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát bố thí
đủ thứ thượng vị thanh
tịnh. Đó là: Cay chua
mặn lạc, cùng với ngọt
đắng, đủ thứ các vị.
Đượm nhuần đầy đủ, hay
khiến cho tứ đại an ổn
điều hoà. Cơ thể đầy đủ,
khí lực cường tráng,
thân tâm thanh tịnh,
thường được hoan hỉ. Các
căn sáng suốt lanh lợi.
Nội tạng khoẻ tốt, chất
độc không xâm nhập được.
Bệnh không thương hại.
Không có hoạn nạn, vĩnh
viễn được an lạc.
Các
vị đệ tử của Phật ! Vị
đại Bồ Tát nầy tu pháp
môn hồi hướng, hiện tại
Ngài lại bố thí cho
chúng sinh đủ thứ pháp
vị thượng diệu thanh
tịnh, như vị cay, vị
chua, vị mặn, năm vị đều
là những vị lạc, và vị
ngọt, vị đắng. Những mùi
vị như thế đều giúp cho
thực vật đượm nhuần thân
thể, có công năng nuôi
lớn da thịt. Cũng khiến
cho tứ đại con người -
đất, nước, gió, lửa,
được an ổn và điều hoà,
chẳng phát sinh cảm giác
khó chịu. Cơ thể nhờ đó
mà được đầy đủ, khí lực
được cường tráng, tâm
thần phóng khoáng, thanh
tịnh quang minh, chưa
từng sinh vọng tưởng,
cho nên trong tâm thường
thường hoan hỉ, chẳng có
chút buồn rầu phiền não
nào. Các căn: Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, tứ chi,
đều rất sáng suốt lanh
lợi. Nội tạng: Tim, gan,
tì, phổi, thận, dạ dày,
mật, tam tiêu, ruột già,
ruột non, bàng quang,
những ngũ tạng lục phủ
đó, đều rất tráng kiện.
Nhờ ăn đủ thứ diệu vị,
mà tất cả vật độc không
thể xâm nhập vào trong
cơ thể, dù không cẩn
thận mà trúng độc, nó
cũng tự nhiên hoá giải.
Bệnh tật gì cũng không
sinh ra, chẳng có hoạn
nạn gì, thời khắc đều
hiển hiện ra sự bình an
tự tại.
Bồ
Tát đem căn lành đó hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được vị tối thượng, cam
lồ sung mãn. Nguyện cho
tất cả chúng sinh được
vị pháp trí, biết rõ tất
cả các nghiệp dụng.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được vô lượng pháp
vị, thấu đạt pháp giới,
an trụ ở trong thành
pháp lớn thật tế. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
làm mây pháp lớn, khắp
cùng pháp giới, khắp mưa
pháp vũ, giáo hoá điều
phục tất cả chúng sinh.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được vị thắng trí,
thân tâm sung mãn pháp
hỉ vô thượng. Nguyện cho
tất cả chúng sinh được
tất cả thượng vị không
tham trước, chẳng nhiễm
tất cả các vị thế gian,
thường siêng tu tập tất
cả Phật pháp.
Bồ
Tát bố thí thượng vị,
thì đem căn lành công
đức hồi hướng như vầy:
Ngài khắp nguyện cho mỗi
chúng sinh đều đắc được
pháp vị tối thượng vi
diệu, trong đó có cam lồ
sung mãn. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh đắc
được vị chánh pháp trí
huệ, nhờ đó mà biết được
công dụng của mỗi thứ
vị, ăn vào thì đắc được
lợi ích gì. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
đắc được pháp vị vô
lượng vô biên, có thể
biết rõ ràng thật tướng
của mười pháp giới,
khiến cho chúng sinh đều
trụ ở trong pháp thành
lớn an ổn, tức cũng là
an trụ nơi lý thể thật
tướng. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh có thể
làm mây pháp lớn, che
khắp bốn phương, khắp
cùng pháp giới. Ðồng
thời khắp mưa xuống mưa
pháp, đượm nhuần khắp
tất cả, giáo hoá điều
phục chúng sinh chín
pháp giới. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
đắc được vị trí huệ thù
thắng, khiến cho họ đều
pháp hỉ sung mãn, vừa tự
tại vừa hoan hỉ, thân
tâm thư thái. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
đắc được vị chẳng sinh
tâm tham, lại chẳng chấp
trước vào thượng vị của
pháp, mỗi thứ thượng vị
đều chẳng nhiễm tục vị,
trược vị, của thế gian,
đều là pháp vị thanh
tịnh, khiến cho mỗi
người sau khi nếm pháp
vị rồi, đều sinh tâm
dũng mãnh tinh tấn,
siêng tu Phật pháp,
chẳng giải đãi chẳng
thối chuyển. Tất cả Phật
pháp, bao quát pháp ba
đời của chư Phật nói,
mỗi người đều siêng năng
tu tập, cầu được viên
mãn thông đạt.
Cam
lồ còn gọi là rượu trời,
vị ngọt như mật. Là
thuốc bất tử của người
trời. Uống vào thì sống
lâu thân an, sức lực
khoẻ mạnh. Răng cùng của
Phật có suối cam lồ,
thức ăn vào miệng đều
biến thành cam lồ. Và
còn dùng ví dụ Phật pháp
vô biên, phổ độ khắp
chúng sinh, khiến cho họ
được an ổn. Và còn dùng
Niết Bàn làm cam lồ,
vĩnh viễn dứt sinh tử,
thuốc chân thật bất tử.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
đắc được một pháp vị,
thấu rõ các Phật pháp,
đều chẳng có khác biệt.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh đắc được vị tối
thắng, nơi nhất thiết
trí, trọn chẳng thối
chuyển. Nguyện cho tất
cả chúng sinh được vào
pháp vị không khác với
chư Phật, đều phân biệt
được tất cả các căn.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh pháp vị tăng trưởng
lợi ích, thường được
Phật pháp đầy đủ vô
ngại. Đó là hồi hướng
của đại Bồ Tát khi bố
thí vị. Đem căn lành hồi
hướng, vì khiến cho tất
cả chúng sinh, siêng tu
phước đức, thảy đều đầy
đủ vô ngại trí thân.
Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh nếu đắc được một
thứ pháp vị, thì đồng
thời minh bạch vô lượng
diệu pháp của chư Phật
nói, chẳng có gì khác
biệt. Biết một tức tất
cả, tất cả tức một. Diệu
lý một nhiều vô ngại,
một nhiều dung với nhau.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh đắc được pháp
vị tối thù thắng, nơi
nhất thiết trí, tức là
vì đắc được đủ thứ trí
huệ, cho nên vĩnh viễn
chẳng thối chuyển tín
tâm. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh vào sâu
được pháp của chư Phật
nói, thông đạt Phật Phật
đạo đồng, pháp của mỗi
vị Phật nói, đều cùng
một tông chỉ. Tại sao
chư Phật phải nói tám
vạn bốn ngàn pháp, là vì
chúng sinh có tám vạn
bốn ngàn tâm. Bồ Tát đối
với căn tánh của tất cả
chúng sinh, Ngài đều
biết rất rõ ràng, cho
nên Ngài vì người mà nói
pháp. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh pháp vị
ngày càng tăng trưởng,
luôn luôn đắc được lợi
ích của pháp, đắc được
Phật pháp viên mãn đầy
đủ chẳng có chướng ngại,
đầy đủ tín tâm cầu pháp
của họ. Ðó là hồi hướng
căn lành của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí thượng
vị thanh tịnh. Mục đích
Bồ Tát hồi hướng như
vậy, là vì hy vọng tất
cả chúng sinh, đều siêng
tu phước đức, tích tụ
căn lành, phước huệ đầy
đủ, thành tựu viên mãn
thân trí huệ, thanh tịnh
không nhiễm, chẳng có gì
chướng ngại được.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí xe cộ, thì đem các
căn lành hồi hướng như
vầy: Nguyện cho tất cả
chúng sinh đều được đầy
đủ xe nhất thiết trí.
Ngồi xe đại thừa. Xe bất
hoại. Xe tối thắng. Xe
tối thượng. Xe mau
chóng. Xe đại lực. Xe
phước đức đầy đủ. Xe
xuất thế gian. Xe sinh
ra vô lượng các Bồ Tát.
Đó là hồi hướng căn lành
của đại Bồ Tát khi bố
thí xe cộ.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, khi Ngài bố thí
các thứ xe ngựa và các
thứ xe khác, thì Ngài
đem căn lành bố thí
thành tựu, hồi hướng cho
tất cả chúng sinh, Ngài
nói: Tôi nguyện cho hết
thảy chúng sinh, đều đắc
được xe nhất thiết trí.
Nhất thiết trí nầy giống
như chiếc xe nhất thiết
trí, có thể chuyên chở
chúng sinh hành vô lượng
nghiệp lành, cho nên nói
là xe đầy đủ nhất thiết
trí. Phải có trí huệ
lớn, mới có thể chấm dứt
sinh tử, thoát khỏi luân
hồi. Xe nầy là xe trí
huệ lớn, từ bờ sinh tử
bên nầy, qua dòng sông
phiền não, đạt đến bờ
Niết Bàn bên kia.
Xe
cộ: Tức là công cụ giao
thông. Phân ra nói: Tức
là các thứ xe ngựa, xe
bò, xe voi, xe lôi, xe
kéo bằng sức người, hiện
tại có xe dùng bằng
điện, bằng xăng dầu, xe
hơi, xe bus, xe hàng
.v.v... Tóm lại, Phàm là
dùng công cụ để chuyên
chở, đều gọi là xe cộ.
Bồ Tát bố thí ngồi xe
đại thừa: Tức là một cỗ
xe lớn, chuyên chở tất
cả chúng sinh đến đất
Phật. Xe không thể hoại:
Chiếc xe nầy giống như
kim cang, rất là kiên
cố, thiên ma ngoại đạo
đều không thể phá hoại
được nó. Xe tối thắng:
Là một chiếc xe đặc
biệt, tốt nhất, vượt hơn
các xe khác. Xe tối
thượng: Là chiếc xe đầy
đủ viên mãn vô thượng
nhất. Xe mau chóng:
Chiếc xe mau chóng nầy
chạy rất nhanh, chạy như
bay. Xe đại lực: Xe có
pháp lực lớn. Xe phước
đức đầy đủ: Xe phước đức
trí huệ đều đầy đủ. Xe
xuất thế gian: Chiếc xe
nầy có thể thoát khỏi ba
cõi, sớm thành đạo
nghiệp. Xe sinh ra vô
lượng các Bồ Tát: Chiếc
xe nầy giống như Phật
pháp đại thừa, phàm là
ai ngồi xe nầy, thì
tương lai nhất định sẽ
thành tựu Bồ Tát đại
thừa, phổ độ chúng sinh.
Ðó là mười thứ xe cộ,
tuy nói sơ lược như thế,
nhưng đều bao hàm nhân
quả, thể tánh, lý trí
trong Phật pháp. Bồ Tát
đối với chúng sinh, tất
cả đều dẫn dụ chúng sinh
vào sâu trong trí huệ
của Phật, thấu đạt chân
lý và sự tướng thật tế
của các pháp. Ở trên là
hồi hướng căn lành của
đại Bồ Tát khi bố thí xe
cộ.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí y phục, thì đem các
căn lành hồi hướng như
vầy: Nguyện cho tất cả
chúng sinh được y phục
hổ thẹn, dùng để che
thân. Xả bỏ tà đạo lộ
hình pháp ác. Nhan sắc
đượm nhuần. Làn da mịn
màng nhu nhuyến. Thành
tựu an vui bậc nhất của
chư Phật. Đắc được nhất
thiết chủng trí thanh
tịnh. Đó là hồi hướng
căn lành của đại Bồ Tát
khi bố thí y phục.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi
hướng, hiện tại Ngài lại
bố thí y phục cho chúng
sinh. Thức ăn, y phục,
chỗ ở, bất cứ người nào
cũng không thể thiếu
được. Khi Ngài bố thí y
phục, thì Ngài đem đủ
thứ căn lành bố thí đắc
được, hồi hướng cho tất
cả chúng sinh. Ngài phát
nguyện hy vọng tất cả
chúng sinh, ai ai cũng
đều đắc được y phục sinh
tâm hổ thẹn. Biết hổ
thẹn là tâm thiện. Nếu
có lỗi lầm mà che giấu,
tức là không biết hổ
thẹn, tương lại sẽ được
quả ác. Nhất là người tu
hành, không thể không có
tâm hổ thẹn, sự việc làm
sai, thì nhất định phải
sinh tâm hổ thẹn, phát
tâm sám hối. Cổ nhân có
nói:
"Con người chẳng phải
Thánh hiền
Ai mà chẳng có lỗi.
Biết lỗi mà sửa đổi
Chẳng điều thiện nào lớn
bằng".
Ngàn
vạn đừng che đậy lỗi
lầm.
"Việc thiện mà muốn
người biết,
Chẳng phải là chân
thiện.
Việc ác mà sợ người
biết,
Đó là đại ác".
Đây
tức là không biết hổ
thẹn. Cho nên phải dùng
hổ thẹn là y phục, che
lên thân, để cảnh tỉnh
không đạp lên dấu vết cũ
nữa. Xả bỏ tà đạo lộ
hình pháp ác: Có một thứ
ngoại đạo loã thể, không
mặc y phục, ngủ trên
giường đinh, hoặc ngủ
trên tro, thứ người đó
gọi là lộ hình ngoại
đạo. Tà đạo tu chẳng hợp
lý, tức là pháp ác. Bồ
Tát bố thí y phục cho
chúng sinh, hy vọng họ
đừng có tin thứ ngoại
đạo đó, phải xả lìa thứ
ngoại đạo đó mà tu chánh
pháp. Tu tập chánh pháp
thì có thể có dung nhan
sáng suốt đượm nhuần,
làn da cũng tự nhiên mịn
màng nhu nhuyến, thành
tựu tự tại an tường,
chân chánh an vui vô
thượng bậc nhất giống
như chư Phật. Ðắc được
nhất thiết chủng trí
thanh tịnh nhất, thù
thắng nhất. Ðó tức là
hồi hướng căn lành của
đại Bồ Tát khi Ngài bố
thí y phục cho chúng
sinh.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát thường
đem đủ thứ hoa quý bố
thí. Đó là: Hoa thơm vi
diệu. Hoa đủ màu sắc. Vô
lượng hoa kỳ diệu. Hoa
thấy lành. Hoa đáng vui
thích. Hoa tất cả thời.
Hoa trời. Hoa nhân gian.
Hoa trên đời trân quý ưa
thích. Hoa rất thơm tho
vừa ý. Dùng vô lượng hoa
đẹp như vậy, cúng dường
tất cả chư Phật hiện
tại, và hết thảy tháp
miếu sau khi chư Phật
diệt độ. Hoặc đem cúng
dường người thuyết pháp.
Hoặc đem cúng dường Tỳ
Kheo Tăng Bảo. Tất cả Bồ
Tát. Các thiện tri thức.
Thanh Văn, Duyên Giác.
Cha mẹ tôn thân. Dưới
đến thân mình. Cùng với
tất cả kẻ bần cùng côi
cút.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi
hướng, Ngài lại thường
thường đem đủ thứ hoa
thơm quý giá bố thí, như
những hoa dưới đây: Hoa
thơm vi diệu không thể
nghĩ bàn. Hoa đủ thứ màu
sắc tươi tốt. Vô lượng
hoa thơm kỳ diệu không
tính đếm được. Hoa ai ai
thấy rồi thì sinh thấy
lành niệm lành. Phàm là
người thấy được thứ hoa
đáng vui thích nầy, đều
sinh tâm hoan hỉ khoái
lạc. Hoa đúng hợp với
tất cả mọi thời đều nở
rộ. Hoa Mạn Ðà La trên
trời. Đủ thứ hoa quý đẹp
nhất ở nhân gian. Hoa
làm cho người thế gian
trân quý và ưa thích,
hương thơm rất thơm tho,
màu sắc cũng tươi thắm
chói mắt, khiến cho ai
thấy được tâm ý đều vừa
ý. Bồ Tát đem vô lượng
những thứ hoa quý đẹp
đó, cúng dường mười
phương chư Phật hiện
tại, cũng cúng dường
tháp miếu thờ xá lợi
Phật sau khi Phật nhập
diệt, hoặc cúng dường
các pháp sư giảng Kinh
thuyết pháp, hoặc cúng
dường các Tỳ Kheo Tăng
Bảo xuất gia. Mục đích
cúng dường Tam Bảo, là
vì gieo trồng ruộng
phước trước Tam Bảo, cầu
tăng trưởng trí huệ,
hoặc cúng dường các Bồ
Tát và thiện tri thức
trong mười phương, hoặc
cúng dường các bậc Thánh
hàng nhị thừa Thanh Văn,
Duyên Giác, hoặc cúng
dường cha mẹ và tôn thân
quyến thuộc, hoặc cúng
dường tất cả kẻ bần cùng
cô nhi côi cút, cuối
cùng cũng cúng dường đến
thân mình.
Khi
bố thí, Bồ Tát đem các
căn lành hồi hướng như
vầy: Nguyện cho tất cả
chúng sinh đều được hoa
tam muội của chư Phật,
thảy đều nở rộ tất cả
các pháp. Nguyện cho tất
cả chúng sinh đều được
như Phật, người thấy
được đều hoan hỉ, tâm
chẳng nhàm đủ. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
chỗ thấy đều thuận hợp,
tâm không động loạn.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh đủ hạnh nghiệp
thanh tịnh rộng lớn.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh thường nghĩ nhớ bạn
lành, tâm không biến
đổi.
Khi
Bồ Tát bố thí đủ thứ hoa
quý, thì Ngài đem các
căn lành tích tụ được,
vì tất cả chúng sinh mà
hồi hướng như vầy: Tôi
nguyện cho tất cả chúng
sinh đều đắc được hoa
thiền định như chư Phật
tu, do trong thiền định
đó mà nở ra hoa trí huệ,
vì chúng sinh diễn nói
thật tướng của các pháp.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh đều được như
chư Phật, sớm thành Phật
đạo, khiến cho chúng
sinh thấy được đều sinh
tâm hoan hỉ, vĩnh viễn
chẳng có lúc nào nhàm
đủ. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh, phàm là
thấy được sự vật, thảy
đều thuận tâm vừa ý,
chẳng bị mê hoặc, mà
sinh tâm giao động khởi
phiền não. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh tu
hành Phật pháp rộng lớn
đầy đủ, đắc được nghiệp
quả thanh tịnh. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh, thường thường nghĩ
nhớ đến bạn lành đã từng
làm ảnh hưởng đến họ
sinh khởi căn lành, do
đó mà chẳng bị hoàn cảnh
làm biến đổi, sinh tâm
thay đổi.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
như thuốc A Già Đà, trừ
được tất cả phiền não
các độc. Nguyện cho tất
cả chúng sinh thành tựu
viên mãn nguyện lớn,
thảy đều đắc được trí
vương vô thượng. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
trí huệ như ánh sáng mặt
trời, phá trừ được tối
ngu si. Nguyện cho tất
cả chúng sinh bồ đề tịnh
nguyệt, tăng trưởng đầy
đủ. Nguyện cho tất cả
chúng sinh vào đại bảo
châu, thấy thiện tri
thức, thành tựu đầy đủ
tất cả căn lành. Đó là
hồi hướng căn lành của
đại Bồ Tát, khi bố thí
hoa. Vì khiến cho chúng
sinh đều được trí thanh
tịnh vô ngại.
Bồ
Tát lại nguyện cho tất
cả chúng sinh, giống như
thuốc A Già Ðà trường
sinh bất lão, giải trừ
được đủ thứ phiền não và
các chất độc khác -
tham, sân, si v.v... Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh, thảy đều thành tựu
viên mãn các nguyện lớn
đã phát ra, đồng thời
đều đắc được trí huệ vô
thượng, trở thành vua
của trí huệ. Lại nguyện
cho trí huệ của tất cả
chúng sinh, giống như
ánh sáng mặt trời, hay
phá trừ tất cả ngu si và
đen tối. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh đạo bồ
đề tu được, giống như
ánh sáng mặt trăng thanh
tịnh, ngày càng tăng
trưởng, viên mãn đầy đủ.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh đến được châu
báu lớn, thấy được các
thiện tri thức, học tập
tất cả Phật pháp, thành
tựu đầy đủ tất cả căn
lành. Ở trên là hồi
hướng căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài bố thí
hoa quý thượng diệu. Mục
đích Bồ Tát hồi hướng
như vậy, là vì muốn cho
mỗi chúng sinh đều đắc
được trí huệ thanh tịnh,
viên dung vô ngại.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí tràng hoa, thì Ngài
đem các căn lành hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được người thích thấy.
Người thấy được đều khâm
kính khen ngợi. Người
thấy được đều thân
thiện. Người thấy được
đều ưa thích. Người thấy
được đều khát ngưỡng.
Người thấy được đều hết
sầu lo. Người thấy được
đều sinh tâm hoan hỉ.
Người thấy được đều lìa
các điều ác. Người thấy
được thường được gần gũi
Phật. Người thấy được
đều được thanh tịnh, đắc
được nhất thiết trí. Đó
là hồi hướng căn lành
của đại Bồ Tát khi Ngài
bố thí tràng hoa.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, Ngài lại vì chúng
sinh bố thí tràng hoa.
Khi Ngài bố thí tràng
hoa, thì Ngài đem căn
lành thành tựu được, hồi
hướng như vầy: Ngài
nguyện cho tất cả chúng
sinh, đều được mọi người
hoan hỉ thấy họ. Lại
nguyện cho bất cứ người
nào thấy được họ, đều
sinh tâm khâm kính khen
ngợi. Lại nguyện cho
phàm là người thấy được
họ, đều phát sinh tình
cảm thân thiết. Lại
nguyện cho người thấy
được họ, thì trong tâm
có cảm giác ưa thích vui
vẻ. Lại nguyện cho người
thấy được họ, thì lập
tức sinh tâm ngưỡng mộ.
Lại nguyện cho người
thấy được họ, lập tức
tiêu trừ ưu sầu phiền
não. Lại nguyện cho
người thấy được họ, đều
sinh tâm hoan hỉ. Lại
nguyện cho người thấy
được họ, dù họ có tánh
ác, cũng lập tức cải ác
hướng thiện. Lại nguyện
cho phàm là người thấy
được họ, cũng được luôn
luôn gần gũi chư Phật.
Lại nguyện cho người
thấy được họ, thân tâm
thanh tịnh, nhờ đó mà
đắc được nhất thiết trí
huệ. Ðó tức là hồi hướng
căn lành của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí tràng
hoa.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí hương, thì Ngài đem
các căn lành hồi hướng
như vầy: Nguyện cho tất
cả chúng sinh đầy đủ
hương của giới. Đắc được
giới không thiếu khuyết.
Giới không tạp. Giới
không ô nhiễm. Giới
không hối hận. Giới lìa
ràng buộc. Giới không
nhiệt não. Giới không
huỷ phạm. Giới vô biên.
Giới xuất thế. Giới Bồ
Tát Ba La Mật. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
nhờ những giới đó, mà
đều được thành tựu giới
thân của chư Phật. Đó là
hồi hướng căn lành của
đại Bồ Tát khi Ngài bố
thí hương, vì khiến cho
chúng sinh đều đắc được
viên mãn giới uẩn vô
ngại.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp hồi
hướng, hiện tại Ngài lại
bố thí hương quý cho tất
cả chúng sinh. Khi Ngài
bố thí hương, thì Ngài
đem căn lành tích tụ
được, hồi hướng như vầy:
Tôi nguyện cho tất cả
chúng sinh đều được thọ
trì ba giới tụ thanh
tịnh, đắc được hương
giới đầy đủ.
Ba giới tụ thanh tịnh:
1. Giới nhiếp luật nghi.
2. Giới nhiếp thiện
pháp.
3. Giới nhiêu ích hữu
tình.
Giới: Người tu đạo luôn
giữ giới thanh tịnh, thì
sẽ thành tựu giới đức
khắp cùng bốn phương,
dùng hương dụ cho đức,
gọi là giới hương. Hơn
nữa có những người trên
thân toả ra mùi hôi, tức
là do trong đời quá khứ
chẳng giữ giới thanh
tịnh. Nếu người giữ giới
viên mãn, thì đời nầy
trên thân đều có một mùi
vị thơm, đây cũng là
hiện tượng của giới
hương.
Hành
giả giữ giới thanh tịnh,
thì nhất định đức cao
vọng trọng. Bồ Tát lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh đắc được giới không
thiếu khuyết: Giữ được
giới viên mãn, chẳng có
tơ hào huỷ phạm, thì
chẳng có thiếu khuyết.
Ðược giới không tạp:
Kiên cố giữ gìn chánh
giới, chẳng xen tạp với
giới bò, giới chó, của
ngoại đạo. Ðược giới
không ô nhiễm: Luôn giữ
giới thanh tịnh, chẳng
sinh chút tâm nhiễm ô
nào. Ðược giới không hối
hận: Suốt đời giữ giới
đại thừa thanh tịnh,
chẳng thọ mê hoặc của
ngoại đạo mà sinh hối
hận, cũng chẳng phạm
giới trọng, cũng chẳng
sinh tâm hậu hối. Ðược
giới lìa ràng buộc: Lìa
khỏi sự ràng buộc của ái
dục, giữ gìn giới thanh
tịnh, như chẳng cẩn thận
lỡ phạm, mà sinh tâm hổ
thẹn, thành khẩn sám
hối, thì sẽ không bị ái
dục ràng buộc. Ðược giới
không nhiệt não: Nhiệt
não tức là phiền não.
Hay giữ giới thì sẽ có
định, giới định liên
quan với nhau, thường ở
trong sự mát mẻ, phiền
não sẽ chẳng sinh ra,
thì tự nhiên sẽ chẳng có
nhiệt não. Ðược giới
không phạm: Thấu đạt
được đạo lý giới thể,
giới pháp, giới tướng,
thì vĩnh viễn sẽ chẳng
phát sinh việc huỷ phạm
giới luật. Ðược giới vô
biên: Hy vọng chúng sinh
đều có thể trước sau như
một, giữ gìn giới thanh
tịnh, tu đầy đủ giới
định huệ, thành tựu vô
lượng vô biên công đức
căn lành. Ðược giới xuất
thế: Hy vọng tất cả
chúng sinh đều tu giới
thanh tịnh xuất thế,
vĩnh viễn lìa sinh tử,
thoát khỏi ba cõi. Ðược
giới Bồ Tát Ba La Mật:
Nguyện tất cả chúng sinh
đều thành tựu được thập
độ vạn hạnh, xa lìa nhị
thừa, viên mãn luật nghi
của Bồ Tát, sớm lên bờ
kia. Nguyện chín pháp
giới chúng sinh, nhờ
nghiêm trì giới thanh
tịnh, thảy đều thành tựu
giới thân viên mãn giống
như chư Phật. Ðó là hồi
hướng căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài bố thí
hương. Vì muốn cho tất
cả chúng sinh, đều đắc
được viên mãn vô lượng
công đức giới uẩn vô
ngại.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí hương thoa, thì Ngài
đem các căn lành hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được hương thí xông
khắp, đều được huệ thí
tất cả hết thảy. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được hương giới xông
khắp, đều được giới
thanh tịnh rốt ráo của
Như Lai. Nguyện cho tất
cả chúng sinh được hương
nhẫn xông khắp, đều lìa
khỏi tất cả tâm hiểm
hại. Nguyện cho tất cả
chúng sinh được hương
tinh tấn xông khắp,
thường mặc áo giáp tinh
tấn đại thừa. Nguyện cho
tất cả chúng sinh được
hương định xông khắp, an
trụ nơi tam muội hiện
tiền của chư Phật.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, khi Ngài bố thí
hương thoa, thì Ngài đem
đủ thứ căn lành tích tụ,
hồi hướng như vầy:
Nguyện cho tất cả chúng
sinh thọ được hương thí
xông khắp, thì đều rất
phấn khởi, muốn đem hết
thảy tất cả bố thí cho
tất cả chúng sinh. Lại
nguyện cho hết thảy
chúng sinh trong chín
pháp giới, đều thọ được
hương giới xông khắp.
Giới, tức là ngừa ác
phòng quấy. Có giới luật
của đệ tử tại gia phải
giữ, có giới luật của
người xuất gia phải giữ.
Người tu đạo, tuyệt đối
phải nghiêm trì giới
luật, mới có thể cảm ứng
đạo giao, mới đắc được
hương thơm của giới. Ðắc
được hương thơm của giới
rồi, mới có thể xông
khắp tất cả chúng sinh,
cho đến đạt được cảnh
giới của Như Lai. Cảnh
giới của Như Lai, tức là
giới thể viên mãn thanh
tịnh. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh thọ được
hương nhẫn xông khắp,
đều thành tựu được nhẫn
Ba La Mật. Nhẫn, tức là
nhẫn nhục. Tu hạnh nhẫn
nhục, thì được hương
thơm toả ra, tu bố thí,
trì giới và các Ba La
Mật khác, thì đều toả ra
hương thơm. Vì lục độ
vạn hạnh, đều nuôi lớn
tâm bồ đề, mà còn có thể
diệt trừ tất cả sự
chướng ngại, cho nên đều
gọi là hương. Sức lực
của sự nhẫn nhục không
thể nghĩ bàn, tu hạnh
nhẫn nhục, thì sẽ toả ra
hương thơm, có thể khắp
kết nhân duyên, khiến
cho mọi người khi thấy
được bạn, thì sẽ có chút
cảm tình thân thiết, đó
là quả báo của sự tu
hạnh nhẫn nhục. Chúng
sinh thọ được hương nhẫn
xông khắp, thì sẽ diệt
trừ được nơi vô hình tâm
nguy hại hiểm trá trong
tập tánh. Cho nên nói
hương nhẫn lìa khỏi tất
cả tâm hiểm hại, tức
cũng là sức lực của
hương nhẫn không thể
nghĩ bàn. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh thọ
được hương tinh tấn xông
khắp, thì khiến cho mỗi
người tu đạo đều tinh
tấn không ngừng nghỉ.
Giống như dũng sĩ ở
ngoài chiến trường,
thường thường mặc áo
giáp tinh tấn đại thừa.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh thọ được
hương thiền định xông
khắp, an trụ ở trong
cảnh giới đại định hiện
tiền của chư Phật, chẳng
sinh chút tâm tán loạn
nào.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được hương huệ xông
khắp, một niệm được
thành tựu vua trí huệ vô
thượng. Nguyện cho tất
cả chúng sinh được hương
pháp xông khắp, thì nơi
pháp vô thượng được
không sợ hãi. Nguyện cho
tất cả chúng sinh được
hương đức xông khắp, thì
thành tựu nhất thiết trí
đại công đức. Nguyện cho
tất cả chúng sinh được
hương bồ đề xông khắp,
thì được mười lực của
Phật đến bờ bên kia.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được diệu hương
pháp trắng thanh tịnh
xông khắp, thì vĩnh viễn
diệt trừ tất cả pháp bất
thiện. Đó là hồi hướng
căn lành của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí hương
thoa.
Bồ
Tát lại nguyện cho tất
cả chúng sinh, thọ được
hương trí huệ xông khắp,
thì ở trong một niệm đắc
được vô lượng trí huệ
thù thắng, trở thành vua
trí huệ - chứng được quả
Phật, chẳng có ai bằng
được. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh thọ được
hương pháp xông khắp,
thì đắc được lý thể chân
thật của diệu pháp thâm
sâu vô thượng, đối với
tất cả các pháp chẳng có
sợ hãi, cũng chẳng có
nghi hoặc. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
thọ được hương đức xông
khắp, thì thành tựu trí
huệ thù thắng, viên mãn
tất cả đại công đức. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh thọ được hương bồ
đề xông khắp, thì thành
tựu bồ đề giác đạo, đắc
được mười thứ thần lực
không thể nghĩ bàn của
Phật, đến được bờ Niết
Bàn bên kia. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
thọ được diệu hương pháp
trắng thanh tịnh xông
khắp, thì sẽ vĩnh viễn
diệt trừ tất cả pháp thế
tục bất thiện. Ðó tức là
hồi hướng căn lành của
đại Bồ Tát, khi Ngài bố
thí hương thoa.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí giường toà, thì Ngài
đem các căn lành hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được các giường toà
trời, chứng được đại trí
huệ. Nguyện cho tất cả
chúng sinh được giường
toà hiền Thánh, xả bỏ ý
phàm phu, trụ tâm bồ đề.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được giường toà an
lạc, vĩnh viễn lìa tất
cả sinh tử khổ não.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được giường toà rốt
ráo, được thấy thần
thông tự tại của chư
Phật. Nguyện cho tất cả
chúng sinh được giường
toà bình đẳng, luôn huân
tu khắp tất cả pháp
lành.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, Ngài lại bố thí
giường toà cho tất cả
chúng sinh, khi Ngài bố
thí giường toà, thì Ngài
đem đủ thứ căn lành tu
tập được, hồi hướng như
vầy: Nguyện cho tất cả
chúng sinh, được giường
toà giống như chư thiên
dùng. Thứ giường toà đó
rất đẹp, mà còn có nhiều
công dụng kỳ diệu, nếu
nằm ngủ trên gường toà
đó, hoặc ngồi trên
giường toà đó, thì sẽ
chứng được trí huệ viên
mãn rộng lớn. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh,
đắc được giường toà như
bậc Thánh Hiền dùng, có
thể khiến cho phàm phu
xả bỏ đi tất cả tư tưởng
tập khí thế tục, chuyển
phàm phu nhập vào dòng
Thánh nhân, luôn luôn an
trụ ở trong bồ đề giác
đạo. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh đắc được
giường toà rất an ổn
thoải mái, vĩnh viễn
thoát khỏi khổ sinh tử.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh đắc được
giường toà rốt ráo nhất,
thấy được thần thông tự
tại của chư Phật, cũng
minh bạch được sức thần
thông diệu dụng của chư
Phật. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh, đắc được
giường toà bình đẳng,
luôn luôn thọ được sự
huân tu khắp tất cả
thiện pháp trắng thanh
tịnh.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được giường toà tối
thắng, đầy đủ nghiệp
thanh tịnh, thế gian
không bằng được. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được giường toà an ổn,
chứng được pháp chân
thật, đầy đủ rốt ráo.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được giường toà
thanh tịnh, tu tập cảnh
giới trí huệ thanh tịnh
của Như Lai. Nguyện cho
tất cả chúng sinh được
giường toà an trụ, được
thiện tri thức, luôn
theo che chở gia hộ.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được giường toà sư
tử, thường nằm bên hông
phải, giống như Như Lai.
Đó là hồi hướng căn lành
của đại Bồ Tát, khi Ngài
bố thí giường toà. Vì
khiến cho chúng sinh tu
tập chánh niệm, khéo hộ
trì các căn.
Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh được giường toà thù
thắng nhất, đầy đủ viên
mãn nghiệp trí huệ thanh
tịnh, trên thế gian
chẳng có ai so sánh
bằng. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh được
giường toà an ổn, chứng
được lý thể chân thật
của các pháp, đạt đến
cảnh giới thật tế rốt
ráo viên mãn. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
được giường toà thanh
tịnh không ô nhiễm, tu
tập pháp vi diệu thâm
sâu của chư Phật nói,
đắc được trí huệ thanh
tịnh và cảnh giới giống
như Phật. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh được
giường toà an ổn không
động, thường được gần
gũi các vị thiện tri
thức, cũng luôn luôn
được các vị thiện tri
thức đi theo che chở gia
hộ. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh được
giường toà sư tử, cũng
học tập được giống như
Phật thường nằm nghiêng
về hông bên phải, đó gọi
là tư thế nằm cát tường,
tập dần sẽ quen, tránh
được ác mộng. Ðó là hồi
hướng căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài bố thí
giường toà. Cũng hy vọng
chúng sinh, mọi người
đều tu tập chánh niệm
chánh tư duy về chánh
pháp, khéo biết hộ trì
các căn của mình, đừng
khiến cho nó phóng dật,
luôn luôn siêng tu Phật
đạo.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí phòng xá, thì Ngài
đem các căn lành hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
đều được an trụ cõi Phật
thanh tịnh, tinh tấn
siêng tu tập tất cả công
đức: An trụ vào cảnh
giới tam muội thâm sâu.
Xả lìa tất cả trụ xứ
chấp trước. Thấu rõ các
trụ xứ đều chẳng chỗ có.
Lìa các thế gian trụ nơi
nhất thiết trí. Nhiếp
lấy tất cả chỗ trụ của
chư Phật. Trụ nơi trụ xứ
đạo an lạc rốt ráo. Luôn
trụ nơi căn lành thanh
tịnh bậc nhất. Trọn
chẳng xả lìa trụ xứ vô
thượng của Phật. Đó là
hồi hướng căn lành của
đại Bồ Tát, khi Ngài bố
thí phòng xá. Vì muốn
lợi ích cho tất cả chúng
sinh. Tuỳ chỗ đáng được
độ, mà tư duy cứu hộ.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, khi Ngài bố thí
phòng xá cho tất cả
chúng sinh, thì Ngài đem
đủ thứ căn lành tu tập,
hồi hướng như vầy:
Nguyện cho tất cả chúng
sinh, đều an trụ ở trong
cõi Phật, dũng mãnh tinh
tấn siêng tu tất cả căn
lành công đức, an trụ ở
trong cảnh giới chánh
định chánh thọ thâm sâu.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh xả bỏ sự trụ
chấp trước, đừng trụ vào
sự dục vọng, thấu rõ trụ
xứ cũng là hư vọng như
huyễn như hoá. Vượt khỏi
các thứ vật chất hưởng
thụ của thế gian, mà trụ
vào nơi nhất thiết trí
huệ. Nhiếp lấy tất cả
trụ xứ của chư Phật trụ,
tu hành đạo quả rốt ráo,
đắc được chỗ trụ an ổn
rốt ráo chân thật. Luôn
luôn trụ nơi căn lành
thanh tịnh bậc nhất,
vĩnh viễn không xả lìa
trụ xứ vô thượng của chư
Phật trụ. Ðó là hồi
hướng căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài bố thí
phòng xá. Vì lợi ích cho
tất cả chúng sinh, cho
nên tuỳ theo cơ duyên
của chúng sinh, mà tư
duy làm thế nào để cứu
hộ họ.
Phật
tử ! Khi đại Bồ Tát bố
thí chỗ ở, thì Ngài đem
các căn lành hồi hướng
như vầy: Nguyện cho tất
cả chúng sinh thường
được lợi lành, tâm được
an lạc. Nguyện cho tất
cả chúng sinh nương Như
Lai mà trụ. Nương đại
trí huệ mà trụ. Nương
thiện tri thức mà trụ.
Nương tôn thắng mà trụ.
Nương thiện hạnh mà trụ.
Nương đại từ mà trụ.
Nương đại bi mà trụ.
Nương sáu Ba La Mật mà
trụ. Nương tâm đại bồ đề
mà trụ. Nương tất cả Bồ
Tát đạo mà trụ. Đó là
hồi hướng căn lành của
đại Bồ Tát, khi Ngài bố
thí chỗ ở.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, khi Ngài bố thí
chổ ở, thì Ngài đem đủ
thứ căn lành tu tập, hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thường được lợi lành, do
đó mà trong tâm sung mãn
an ổn khoái lạc, chẳng
có phiền não. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
đều nương tựa Phật mà
trụ, theo Phật xuất gia
tu đạo. Nương tựa đại
trí huệ mà trụ, chuyển
ngu si thành trí huệ.
Nương tựa thiện tri thức
mà trụ, sẽ tăng tấn đạo
nghiệp. Nương tựa thiện
hạnh mà trụ, tu đủ thứ
hạnh lành, thành công
đức lớn. Nương đại từ mà
trụ, thương xót chúng
sinh, ban cho họ an vui.
Nương đại bi mà trụ, cứu
vớt đủ thứ khổ nạn của
tất cả chúng sinh. Nương
sáu Ba La Mật mà trụ,
giáo hoá chúng sinh
siêng tu sáu độ đến bờ
bên kia. Nương tâm đại
bồ đề mà trụ, sớm chứng
được bồ đề giác đạo.
Nương tất cả Bồ Tát đạo
mà trụ, tu học Phật đạo
của Bồ Tát tu. Ðó là hồi
hướng căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài bố thí
chỗ ở.
Vì
khiến cho tất cả phước
đức thanh tịnh. Vì rốt
ráo thanh tịnh. Vì trí
thanh tịnh. Vì đạo thanh
tịnh. Vì pháp thanh
tịnh. Vì giới thanh
tịnh. Vì chí nguyện
thanh tịnh. Vì tin hiểu
thanh tịnh. Vì nguyện
thanh tịnh. Vì tất cả
thần thông công đức
thanh tịnh.
Mục
đích Bồ Tát hồi hướng đủ
thứ, là vì khiến cho
phước đức của tất cả
chúng sinh được thanh
tịnh. Vì rốt ráo viên
mãn thanh tịnh. Vì trí
huệ thù thắng cũng thanh
tịnh. Vì tu Phật đạo
được thanh tịnh. Vì tu
học pháp của chư Phật
nói cũng thanh tịnh. Vì
nghiêm trì giới luật
thanh tịnh. Vì chí
nguyện đã phát đều thanh
tịnh viên mãn. Vì tin
sâu các pháp, lý giải
chánh quyết thanh tịnh.
Vì nguyện lực cũng thanh
tịnh. Vì đủ thứ thần
thông công đức đều rất
thanh tịnh. Cho nên Bồ
Tát tuỳ thời thảy đều
hồi hướng cho tất cả
chúng sinh những căn
lành công đức tu tập
được, trợ giúp họ đắc
được quả báo thanh tịnh.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát bố thí
các đèn sáng. Đó là: Đèn
tô, đèn dầu, đèn báu,
đèn ma ni, đèn tất, đèn
lửa, đèn trầm thuỷ, đèn
chiên đàn, đèn tất cả
hương thơm, đèn vô lượng
màu sắc ánh sáng. Khi bố
thí vô lượng đèn như
thế, vì muốn lợi ích cho
tất cả chúng sinh. Vì
muốn nhiếp thọ tất cả
chúng sinh.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, Ngài lại bố thí
đủ thứ đèn, ánh sáng
chiếu khắp mười phương
thế giới. Ngài bố thí
những thứ đèn, nói một
cách đại khái là: Ðèn
tô, đèn dầu, đèn báu -
trên đèn có nạm rất
nhiều châu báu, dùng
châu ma ni làm đèn dạ
quang, đèn tất, đèn lửa,
đèn hương gỗ trầm thuỷ,
đèn hương gỗ chiên đàn,
đèn các thứ hương thơm,
đèn nhiều loại ánh sáng
màu sắc. Khi Bồ Tát bố
thí nhiều thứ đèn như
thế, Ngài phát nguyện
đem công đức bố thí đèn,
làm lợi ích cho tất cả
chúng sinh, cũng vì muốn
nhiếp thọ tất cả chúng
sinh.
Bồ
Tát đem căn lành đó hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được vô lượng quang
minh, chiếu khắp tất cả
chánh pháp của chư Phật.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được quang minh
thanh tịnh, chiếu thấy
màu sắc rất vi tế của
thế gian. Nguyện cho tất
cả chúng sinh được quang
minh lìa màng mắt, thấu
rõ cõi chúng sinh đều
không chẳng chỗ có.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được quang minh vô
biên, thân phóng ra diệu
quang chiếu khắp tất cả.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được quang minh
chiếu khắp, nơi các Phật
pháp tâm chẳng thối
chuyển. Nguyện cho tất
cả chúng sinh được quang
minh thanh tịnh của
Phật, ở trong tất cả cõi
thảy đều hiển hiện.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh được quang minh vô
ngại, một quang minh
chiếu khắp tất cả pháp
giới. Nguyện cho tất cả
chúng sinh được quang
minh không đoạn diệt,
chiếu các cõi Phật, mà
quang minh không đoạn
diệt. Nguyện cho tất cả
chúng sinh được quang
minh trí tràng, chiếu
khắp thế gian. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được quang minh vô lượng
màu sắc, chiếu tất cả
cõi, thị hiện thần lực.
Khi
Bồ Tát bố thí đủ thứ ánh
sáng cho tất cả chúng
sinh, thì Ngài đem căn
lành của Ngài tu tập,
hồi hướng như vầy:
Nguyện cho tất cả chúng
sinh đều đắc được vô
lượng quang minh, quang
minh đó có thể chiếu
khắp chánh pháp của chư
Phật, trụ tại thế gian
lâu dài. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh đắc
được quang minh thanh
tịnh, quang minh đó
chiếu thấy sắc trần vi
tế nhất của thế gian.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh đắc được
quang minh lìa màng mắt,
màng mắt là một thứ bệnh
mắt, trong con mắt sinh
ra một thứ màng che đậy
con mắt, nhìn sự vật
chẳng rõ ràng. Bồ Tát hy
vọng phàm là chúng sinh
có bệnh mắt sinh ra
màng, thọ được quang
minh thanh tịnh nầy
chiếu đến, thì màng
trong con mắt chẳng còn
nữa. Nếu muốn con mắt
sáng suốt chẳng sinh
bệnh mắt, thì phải
thường cúng dường đèn
sáng ở trước Phật, thì
đời đời kiếp kiếp con
mắt sáng suốt chẳng sinh
bệnh mắt. Chúng sinh lìa
khỏi bệnh màng mắt, thì
cũng minh bạch cõi chúng
sinh là không chẳng chỗ
có. Chúng sinh vốn là do
các duyên hợp lại mà
sinh, mới có thân thể
bốn đại hoà hợp. Một khi
bốn đại phân ly, thì đều
trả về cho bốn đại, thì
đó còn có chúng sinh
chăng? Cho nên nói không
chẳng chỗ có, đừng chấp
trước. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh đắc
được quang minh chẳng có
bờ mé, khiến cho trên
thân đồng thời phóng ra
một thứ quang minh kỳ
diệu, trong quang minh
đó nói pháp giáo hoá
chúng sinh, mà quang
minh kỳ diệu đó, đồng
thời cũng chiếu khắp tất
cả. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh đắc được
quang minh của Phật
chiếu khắp, đối với pháp
của chư Phật nói, có tâm
dũng mãnh tinh tấn tu
học, vĩnh viễn chẳng
sinh tâm giải đãi thối
chuyển. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh đắc
được quang minh thanh
tịnh của Phật, trong cõi
nước của mười phương chư
Phật, đều hiển hiện
quang minh thanh tịnh
của Phật. Lại nguyện cho
tất cả chúng sinh đắc
được quang minh không có
chướng ngại, dù chỉ một
quang minh, cũng có thể
chiếu khắp tất cả pháp
giới, khiến cho tất cả
pháp giới đều phóng đại
quang minh. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
đắc được quang minh vĩnh
viễn chẳng đoạn diệt,
quang minh đó chiếu đến
cõi nước chư Phật, cũng
vĩnh viễn chẳng đoạn
diệt. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh đắc được
quang minh trí huệ,
quang minh đó giống như
tràng báu, chiếu khắp
tất cả thế gian. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh đắc được quang minh
vô lượng màu sắc, quang
minh đó chiếu đến cõi
nước của chư Phật trong
mười phương, thấy được
thần lực vi diệu của chư
Phật thị hiện.
Khi
Bồ Tát bố thí đèn sáng
như vậy, vì muốn lợi ích
tất cả chúng sinh, an
lạc tất cả chúng sinh.
Đem căn lành đó theo
đuổi chúng sinh. Đem căn
lành đó nhiếp thọ chúng
sinh. Đem căn lành đó
phân bố cho chúng sinh.
Đem căn lành đó từ mẫn
chúng sinh. Đem căn lành
đó che chở nuôi dưỡng
chúng sinh. Đem căn lành
đó cứu hộ chúng sinh.
Đem căn lành đó sung mãn
chúng sinh. Đem căn lành
đó duyên niệm chúng
sinh. Đem căn lành đó
bình đẳng lợi ích chúng
sinh. Đem căn lành đó
quán sát chúng sinh. Đó
là hồi hướng căn lành
của đại Bồ Tát, khi Ngài
bố thí đèn sáng. Hồi
hướng như vậy chẳng có
chướng ngại. Khắp khiến
cho chúng sinh trụ trong
căn lành.
Mục
đích của Bồ Tát bố thí
các thứ đèn báu như vậy,
là vì muốn lợi ích tất
cả chúng sinh, cũng hy
vọng có thể an lạc tất
cả chúng sinh, cho nên
đem căn lành của Ngài bố
thí đèn sáng, theo đuổi
chúng sinh, vĩnh viễn
chẳng xả lìa tất cả
chúng sinh thọ khổ. Lại
đem căn lành bố thí đèn
sáng, để nhiếp thọ tất
cả chúng sinh có duyên.
Lại đem căn lành bố thí
đèn sáng, phân bố cho
hết thảy chúng sinh,
khiến cho những chúng
sinh đó đều thọ được lợi
ích của sự bố thí đèn
sáng. Lại đem căn lành
bố thí đèn sáng, từ mẫn
tất cả chúng sinh, tuỳ
thời ủng hộ họ. Lại đem
căn lành bố thí đèn
sáng, che chở tất cả
chúng sinh, nuôi dưỡng
tất cả chúng sinh. Lại
đem căn lành bố thí đèn
sáng, cứu hộ tất cả
chúng sinh. Nếu chúng
sinh có tai nạn khốn khổ
và thọ sự bức hại, thì
Bồ Tát dùng quang minh
chiếu sáng của Ngài, để
cứu hộ dẫn dắt chúng
sinh thọ nạn, thoát khỏi
tai nạn, được sự an
toàn. Lại đem căn lành
bố thí đèn sáng, khiến
cho tất cả chúng sinh
cũng được sung mãn căn
lành, và sung mãn trí
huệ quang minh. Lại đem
căn lành bố thí đèn
sáng, thường thường
duyên niệm tất cả chúng
sinh, tìm cách khiến cho
họ thoát khỏi biển khổ,
được sự an lạc. Lại đem
căn lành bố thí đèn
sáng, khắp bình đẳng lợi
ích chín pháp giới chúng
sinh. Lại đem căn lành
bố thí đèn sáng, để quán
sát nhân duyên của tất
cả chúng sinh, thấu đạt
sự thọ báo khác nhau của
họ. Ðó là đại Bồ Tát hồi
hướng căn lành khi Ngài
bố thí đèn sáng. Hồi
hướng như vậy rồi, thì
tất cả hết thảy chỗ làm
đều vô ngại. Khắp khiến
cho tất cả chúng sinh,
đều an trụ trong căn
lành công đức của sự bố
thí đèn sáng.
Phật tử ! Khi đại Bồ Tát
bố thí thuốc thang, Ngài
đem các căn lành hồi
hướng như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng sinh
nơi các triền cái,
rốt ráo được thoát khỏi.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh vĩnh viễn lìa thân
bệnh, đắc được thân của
Như Lai. Nguyện cho tất
cả chúng sinh làm thuốc
hay, diệt trừ tất cả
bệnh bất thiện. Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành thuốc A Già Đà, an
trụ nơi bậc Bồ Tát không
thối chuyển. Nguyện cho
tất cả chúng sinh thành
thuốc Như Lai, cứu bạt
tất cả tên độc phiền
não. Nguyện cho tất cả
chúng sinh gần gũi hiền
Thánh, diệt trừ phiền
não, tu hạnh thanh tịnh.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh làm vua thầy thuốc,
vĩnh viễn diệt trừ các
bệnh, chẳng khiến cho
tái phát. Nguyện cho tất
cả chúng sinh làm cây
thuốc bất hoại, đều chữa
lành cho tất cả chúng
sinh. Nguyện cho tất cả
chúng sinh được quang
minh nhất thiết trí, nhổ
trừ các mũi tên bệnh.
Nguyện cho tất cả chúng
sinh khéo hiểu phương
thuốc thế gian, hết thảy
tật bệnh của chúng sinh
đều chữa khỏi.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, lại bố thí thuốc
thang trị bệnh cho chúng
sinh. Khi Ngài bố thí
thuốc thang, thì đem đủ
thứ căn lành tu tập
được, hồi hướng như vầy:
Nguyện cho tất cả chúng
sinh đắc được lợi ích
thuốc thang của tôi bố
thí, thì đều chân chánh
thoát khỏi triền
cái-triền (trói), tức là
vọng hoặc, trói chúng
sinh không thoát khỏi
được sinh tử, chẳng
chứng được Niết Bàn.
Có mười thứ triền hoặc:
1. Không hổ.
2. Không thẹn.
3. Nghi.
4. Xẻn.
5. Hối (làm việc thiện
rồi ngược lại sinh tâm
truy hối).
6. Thuỳ miên.
7. Trạo cử.
8. Hôn trầm.
9. Sân phẫn.
10. Che giấu.
Cái, ý nghĩa là phú cái
(che đậy), che đậy tâm
tánh không thể sinh pháp
lành.
Có năm thứ cái:
1. Tham dục cái.
2. Sân khuể cái.
3. Thuỳ miên cái.
4. Trạo hối cái.
5. Nghi pháp cái.
Con người đều có mười
triền, năm cái, cho nên
tạo thành nhân hữu lậu,
sáu căn sáu trần vọng
làm vô biên tội lỗi. Do
đó, Bồ Tát hy vọng chúng
sinh thoát khỏi được
mười triền, năm cái. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh vĩnh viễn thoát
khỏi thân có tật bệnh,
được thân kim cang bất
hoại giống như Phật. Bồ
Tát phát nguyện như thế,
hy vọng chúng sinh vĩnh
viễn lìa thân bệnh,
nhưng phải làm thế nào
mới có thể vĩnh viễn lìa
thân bệnh ? Thì phải
nương vào chính mình mà
tu hành, chỉ có thiết
thực tu hành mới vĩnh
viễn lìa khỏi được thân
bệnh, chẳng tu hành,
chẳng tu nghiệp lành,
thì thân bệnh không thể
nào lìa khỏi được. Vì
chẳng tu hành, thì trong
tâm thường có vọng niệm
và phiền não, sẽ trở
thành thân hữu lậu,
không thể nào đắc được
thân Phật. Mục đích và
thành tựu của sự tu
hành, mới phá trừ được
vô minh, chuyển phiền
não thành bồ đề, thành
tựu làm người vô lậu,
thì tất cả tập khí tự
nhiên sẽ tiêu diệt trong
vô hình, như vậy mới đắc
được thân kim cang bất
hoại giống như Phật. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh, làm thuốc hay nhất
của tất cả chúng sinh
khác, tiêu trừ hết sạch
bệnh ô nhiễm không thanh
tịnh của tất cả chúng
sinh. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh thành
thuốc A Già Ðà-thuốc bất
tử, có thể giải trừ được
phiền não trong tâm và
tật bệnh trong thân, để
an trụ nơi địa vị Bồ Tát
không thoái chuyển. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh đều thành thuốc Như
Lai, thuốc Như Lai tức
là thuốc chấm dứt sinh
tử, nhờ đó mà đắc được
nhất thiết trí huệ, nhổ
trừ được tất cả tên độc
phiền não. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
thường thường gần gũi
thiện tri thức và Thánh
hiền Tăng, đắc được pháp
ích diệt trừ phiền não
thân tâm, một lòng tu
học phạm hạnh thanh
tịnh. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh, có thể
làm vua thầy thuốc, chữa
lành tất cả bệnh của thế
gian, vĩnh viễn chẳng
làm cho nó tái phát nữa.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh, làm cây
thuốc bất hoại, thứ cây
thuốc đó, hay chữa lành
các thứ bệnh tật của tất
cả chúng sinh, khiến cho
chúng sinh đều đắc được
khoẻ mạnh. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
đắc được quang minh nhất
thiết trí huệ, được
quang minh nầy chiếu
đến, thì nhổ hết sạch
mũi tên bệnh độc. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh, khéo thấu hiểu
phương pháp chữa bệnh và
tính năng đủ thứ cỏ
thuốc của thế gian, biết
bệnh gì, dùng thuốc gì.
Hiểu được bệnh tật của
chúng sinh, thì sẽ chữa
lành bệnh của chúng
sinh, thuốc đến liền hết
bệnh.
Khi
đại Bồ Tát bố thí thuốc
thang, vì khiến cho tất
cả chúng sinh vĩnh viễn
lìa khỏi các bệnh. Vì
rốt ráo được an ổn. Vì
rốt ráo được thanh tịnh.
Vì giống như Phật không
bệnh. Vì nhổ trừ tất cả
mũi tên bệnh. Vì được
thân vô tận kiên cố. Vì
được thân kim cang núi
Thiết Vi bất hoại. Vì
được sức lực kiên cố đầy
đủ. Vì được viên mãn an
vui của Phật không ai
đoạt lấy được. Vì được
thân kiên cố tự tại của
tất cả chư Phật. Bồ Tát
đem các căn lành hồi
hướng như vậy.
Khi
đại Bồ Tát bố thí thuốc
thang, mục đích của Ngài
phát nguyện hồi hướng,
là hy vọng khiến cho tất
cả chúng sinh, đắc được
lợi ích hồi hướng của
Ngài, vĩnh viễn lìa khỏi
các thứ bệnh tật. Chúng
ta thường nghe họ nói:
Hành thiện là gieo trồng
ruộng phước, ruộng phước
có rất nhiều thứ, khám
cho bệnh nhân là ruộng
phước bậc nhất. Trong
các sự cúng dường, cúng
dường pháp là trên hơn
hết. Các thứ bố thí, thì
công đức bố thí thuốc
thang là lớn nhất, vì
thuốc thang chữa lành
bệnh của con người, làm
cho họ sống lại. Dược
phẩm của Trung Quốc về
thực vật phần nhiều gồm
các loại: Rễ, cộng, lá,
hoa, quả, hạt .v.v... về
động vật thì có: Xương,
da, xác và khoáng vật
.v.v... Nhưng tính chất
của chúng đều có sự phân
biệt: Hàn, nhiệt, ôn,
bình. Hàn là tánh mát
của thuốc, hay trị bệnh
nhiệt. Nhiệt là tánh
nóng của thuốc, hay chữa
bệnh hàn. Ôn là tính
chất ôn hoà, tức chẳng
hàn cũng chẳng nhiệt.
Bình là tính rất bình
ổn, đều có tác dụng đối
trị. Công năng của
chúng, dùng quân, thần,
tá, sử, bốn chữ có thể
biểu thị. Quân thì tựa
giống như hoàng đế. Thần
tức giống như tể tướng
và quan sử, trong đó cam
thảo thì có thể gọi là
tể tướng, xuyên khung
(cỏ dùng làm thuốc) có
hiệu là tướng quân. Tá
là phụ tá, nghĩa là trợ
giúp. Sử là ngự sử, ra
lệnh cho nó đi làm tất
cả mọi việc. Ở trên là
nói đại khái về tính
năng phẩm dược của Trung
Quốc. Bồ Tát bố thí
thuốc thang cho chúng
sinh, hy vọng chúng sinh
đều đắc được rốt ráo,
triệt để, chân chánh
viên mãn đời sống an ổn
khoái lạc, chẳng có tâm
tư tán loạn sợ hãi. Rốt
ráo thanh tịnh, tại
người có bệnh mà nói,
thì không thể nào nói là
thanh tịnh được. Nếu
thân tâm trong ngoài
thoải mái, thì chẳng có
tạp niệm vọng tưởng, đó
mới là rốt ráo thanh
tịnh. Cũng vì hy vọng
chúng sinh giống như
Phật, không bệnh, không
đau, không phiền não.
Lại vì hy vọng chúng
sinh nhổ trừ được mũi
tên độc bệnh tật, để
tránh khỏi mất mạng. Lại
vì hy vọng tất cả chúng
sinh, được thân kiên cố
bất hoại vô cùng tận,
vĩnh viễn chẳng có bệnh
khổ. Lại đắc được thân
như kim cang núi Thiết
Vi không thể nào huỷ
hoại được. Lại đắc được
sức lực kiên cố viên mãn
đầy đủ thần thông. Lại
đắc được viên mãn sự an
vui giống như chư Phật,
không ai có thể đoạt lấy
được. Lại đắc được thân
kiên cố tự tại giống như
chư Phật. Có đủ thứ nhân
duyên như ở trên vừa
nói, cho nên Bồ Tát đem
đủ thứ căn lành của Ngài
tu tập, vì tất cả chúng
sinh mà hồi hướng.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát đều có
thể huệ thí tất cả đồ
vật. Đó là: Đồ đựng bằng
vàng ròng đầy các thứ
tạp báu. Đồ đựng bằng
bạc trắng đầy các báu
đẹp. Đồ đựng bằng lưu ly
đầy đủ các thứ báu. Đồ
đựng bằng pha lê đầy vô
lượng đồ báu trang
nghiêm. Đồ đựng bằng xa
cừ đầy xích chân châu.
Đồ đựng bằng mã não đầy
xan hô, ma ni châu báu.
Đồ đựng bằng ngọc trắng
đựng các thức ăn ngon.
Đồ đựng bằng chiên đàn
đựng các thứ y trời. Đồ
đựng bằng kim cang đựng
các hương thơm. Vô lượng
vô số đủ thứ các đồ bằng
châu báu, đựng vô lượng
vô số đủ thứ các châu
báu.
Các
vị đệ tử của Phật ! Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, sau khi Ngài bố
thí thuốc thang rồi,
Ngài lại tiếp tục bố thí
các thứ đồ đựng trân
quý, chẳng phải Ngài bố
thí cho một số ít người,
hoặc là quyến thuộc chí
thân ưa thích, Ngài thảy
đều huệ thí bình đẳng,
tất cả đồ vật chẳng có
tâm thương ghét. Bồ Tát
thấu đạt công đức của sự
bố thí, chân chánh làm
đến được ba thứ đều
không (không thấy mình
bố thí, không thấy kẻ
nhận, và không thấy vật
bố thí), hoàn toàn nhìn
thấu, buông bỏ đặng mà
đắc được tự tại, vận
dụng tự như, không cần
tác ý, không có suy
nghĩ. Hiện tại Ngài lại
bố thí đồ vật danh quý
cho tất cả chúng sinh,
như đã nói: Ðồ đựng bằng
vàng ròng, trong đó chứa
đựng đầy các thứ châu
báu, đá quý đủ màu. Lại
bố thí đồ đựng bằng bạc
trắng, trong đó đựng đầy
các thứ báu vật tốt đẹp
không thể nghĩ bàn. Lại
bố thí đồ đựng bằng pha
lê trong suốt, trong đó
cũng đựng đầy các thứ đá
quý. Lại bố thí đồ đựng
bằng lưu ly, trong đó
cũng đựng đầy các thứ đồ
cúng châu báu trang
nghiêm, nhiều không thể
tính đếm được.
Như
hôm nay khoa học tiến
bộ, lưu ly chẳng cho
rằng là danh quý, thời
xưa khoa học không phát
đạt, chẳng dễ gì tìm
được một miếng lưu ly,
cho nên lưu ly cũng cho
rằng đồ quý báu. Lại bố
thí đồ đựng bằng xa cừ,
trong đó cũng đựng đầy
trân châu màu đỏ. Lại bố
thí đồ đựng bằng mã não,
trong đó đựng đầy cây
san hô và châu báu ma ni
dạ quang. Mã não là một
thứ ngọc màu sắc rất
đẹp, bên trong có hoa
văn màu đỏ, giống như
máu tuỳ não của ngựa.
Còn bố thí chén, bát,
mâm, ly, bằng ngọc
trắng, đựng đầy thức ăn
ngon. Lại bố thí đồ đựng
bằng chiên đàn, trong đó
đựng đầy các thứ y phục
của người trời. Vì thứ
gỗ đó rất thơm, bên
trong đựng y phục để ướp
hương thơm. Lại bố thí
đồ đựng bằng đá kim
cương, trong đó đựng đầy
các thứ hương quý. Bồ
Tát bố thí đồ vật châu
báu trân quý nhiều không
cách chi tính đếm được.
Hoặc
bố thí cho chư Phật, vì
tin ruộng phước của Phật
không thể nghĩ bàn. Hoặc
bố thí cho Bồ Tát, vì
biết thiện tri thức khó
gặp được. Hoặc bố thí
cho Thánh Tăng, vì khiến
cho Phật pháp trụ lâu ở
đời. Hoặc bố thí cho
Thanh Văn và Bích Chi
Phật, vì nơi các bậc
Thánh nhân, sinh niềm
tin thanh tịnh. Hoặc bố
thí cho cha mẹ, vì tôn
trọng. Hoặc bố thí cho
sư trưởng, vì luôn dạy
bảo, khiến cho y theo
Thánh giáo mà tu công
đức. Hoặc bố thí cho kẻ
hạ liệt nghèo khổ cô
nhi, vì đại từ đại bi
thương xót bình đẳng
nhìn các chúng sinh. Vì
chuyên tâm đầy đủ bố thí
Ba La Mật của tất cả Bồ
Tát đời quá khứ vị lai
hiện tại. Đem tất cả đồ
vật, bố thí khắp tất cả,
vì trọn không nhàm xả bỏ
các chúng sinh.
Bồ
Tát bố thí vô lượng vô
số đồ vật, cùng với đựng
đầy các thứ báu lạ trân
quý cho chúng sinh, Ngài
cũng đem những đồ đạc
châu báu đó cúng dường
mười phương chư Phật, vì
tin tưởng chư Phật là
ruộng phước tốt nhất của
chúng sinh, mà công đức
đó cũng không thể nghĩ
bàn. Hoặc bố thí cho
mười phương Bồ Tát, vì
Ngài biết bậc thiện tri
thức chân chánh, trăm
ngàn vạn kiếp khó gặp
được một vị. Hoặc bố thí
cho mười phương các hiền
Thánh Tăng, tại sao phải
bố thí cho hiền Thánh
Tăng ? Vì pháp là nhờ
Tăng truyền. Nếu bạn
muốn học Phật, muốn
thành Phật đạo, thì nhất
định trước hết phải nghe
pháp, tu học Phật pháp.
Nghe pháp, học pháp, thì
phải gần gũi chư Tăng,
chư Tăng là những người
thay thế Phật hoằng
dương Phật pháp, cho nên
Phật Pháp Tăng Tam Bảo,
thì Tăng là một trong
Tam Bảo. Dụng ý của Bồ
Tát bố thí cho hiền
Thánh Tăng, là vì trợ
giúp Tăng Bảo hoằng pháp
lợi sinh, khiến cho Phật
pháp trụ lâu dài tại thế
gian.
Hoặc
bố thí cho các vị Thanh
Văn, Bích Chi Phật hàng
nhị thừa, Bồ Tát thì tu
đại thừa Phật đạo, nhưng
Ngài đối với các vị
Thánh tơ hào chẳng có
tâm cống cao ngã mạn,
vẫn giữ tâm thanh tịnh
khiêm hoà, cung kính các
bậc đó. Thanh Văn là bậc
nghe âm thanh của Phật
mà ngộ đạo, tu tập khổ
tập diệt đạo bốn diệu
đế, chứng được quả A la
hán. Bích Chi Phật còn
gọi là Bích Chi Ca La,
có hai nhân duyên khiến
cho khai ngộ chứng quả.
Một là, lúc Phật còn ở
đời, nghe Phật chỉ dạy
tu pháp mười hai nhân
duyên mà chứng quả, gọi
là Duyên Giác. Hai là,
lúc không có Phật ở đời,
tự mình ở trong thâm sơn
cùng cốc tu đạo, quán
sát sự biến hoá của bốn
mùa, hoa nở lá rụng mà
ngộ đạo, gọi là Ðộc
Giác. Tuy là hàng nhị
thừa, nhưng đều đã nhập
vào dòng Thánh nhân.
Hoặc bố thí cho cha mẹ
của mình, vì đó là biểu
thị tôn trọng cha mẹ,
báo đáp phần nào công ơn
dưỡng dục. Hoặc bố thí
cho bậc sư trưởng, sư là
vị thầy dạy dỗ chúng ta,
trưởng là trưởng bối.
Cha mẹ là bậc sinh ra
nuôi dưỡng chúng ta, sư
trưởng là bậc dạy dỗ
chúng ta, khiến cho
chúng ta biết:
"Lựa thiện mà theo,
Không thiện thì đổi.
Phải đạo thì tiến,
Trái đạo thì lùi".
Biết
y theo Thánh giáo mà tu
hành, tu tập đủ thứ căn
lành công đức. Ở trên là
Bồ Tát bố thí báo bốn ân
nặng chỉ cho Phật, Bồ
Tát, Thanh Văn, Duyên
Giác, cha mẹ, sư trưởng,
Ngài cũng không quên cứu
tế hết thảy những kẻ
đáng thương xót, như
những kẻ bần cùng hạ
liệt cô nhi quả phụ, Bồ
Tát dùng tâm đại từ đại
bi, dùng con mắt bình
đẳng nhìn, đối đãi với
họ, đồng thời bố thí cho
họ vô lượng đồ vật. Bồ
Tát chuyên tâm nhất chí
hành bố thí công đức, vì
muốn viên mãn đầy đủ
hạnh bố thí Ba La Mật,
mà các Bồ Tát trong ba
đời quá khứ, vị lai,
hiện tại phải tu, để đạt
đến bờ Niết Bàn bên kia.
Bồ Tát đem vô lượng vô
số đủ thứ báu vật trân
quý kỳ lạ hiếm có trên
đời, bố thí khắp cho tất
cả chúng sinh, chưa từng
tự mãn, chưa từng gián
đoạn, không bao giờ sinh
tư tưởng nhàm chán xả bỏ
chúng sinh. Vì Bồ Tát
xem chúng sinh như chính
mình, xem an nguy bi khổ
của chúng sinh cũng
giống như chính thân
mình thọ.
Khi
bồ thí các đồ vật như
vậy, cùng với người thọ
nhận, đều không chấp
trước.
Khi
Bồ Tát hành bố thí như
Kinh văn đã nói ở trước,
Ngài đối với đủ thứ đồ
vật và châu báu bố thí,
giá trị của nó là quý
hay tiện, cùng với bất
cứ những người thọ nhận
đồ vật và châu báu, Ngài
chẳng để tâm đến, cũng
chẳng tính toán, càng
chẳng chấp trước vào,
hoặc hy vọng đắc được sự
báo đáp như thế nào. Ðó
mới là chân chánh bố
thí, gọi là ba thứ đều
không (tam luân thể
không), cũng gọi là đắc
được công đức vô lậu.
Khi
đại Bồ Tát đem đủ thứ đồ
đạc châu báu như vậy,
đựng vô lượng châu báu
bố thí, thì Ngài đem căn
lành hồi hướng như vầy:
Nguyện
cho tất cả chúng sinh,
thành tựu tạng khí vô
biên đồng hư không, niệm
lực rộng lớn, đều có thể
thọ trì tất cả kinh thư
thế gian xuất thế gian,
chẳng có quên mất.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu thanh tịnh
khí, ngộ được chánh pháp
thâm sâu của chư Phật.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu bảo khí vô
thượng, đều thọ trì được
Phật pháp ba đời.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu pháp khí rộng
lớn của Như Lai, dùng
niềm tin bất hoại, nhiếp
thọ pháp bồ đề của chư
Phật ba đời.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu bảo trang
nghiêm khí tối thắng,
trụ tâm bồ đề đại oai
đức.
Ðại
Bồ Tát tu pháp môn hồi
hướng, như Kinh văn ở
trước nói, khi dùng vô
lượng đủ thứ đồ đạc châu
báu, đựng đầy vô lượng
báu vật hành bố thí, thì
đem đủ thứ căn lành công
đức của Ngài tu tập, hồi
hướng như Kinh văn nói
dưới đây: Ngài nguyện
cho tất cả chúng sinh,
đắc được sự lợi ích hồi
hướng, thành tựu tạng
khí báu chẳng có bờ mé
giống như hư không, tâm
lượng rộng lớn, sức nhớ
tăng trưởng, có thể thọ
trì đủ thứ kinh thư của
thế gian và xuất thế
gian, mà không có quên
mất. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh trở thành
pháp khí thanh tịnh, có
thể ngộ được chánh pháp
vi diệu thâm sâu của chư
Phật. Lại nguyện cho tất
cả chúng sinh trở thành
pháp bảo khí vô thượng,
tâm lãnh thọ được,
nghiêm trì tu học pháp
của chư Phật ba đời nói.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh thành tựu
pháp khí rộng lớn của
Như Lai, dùng căn tin
vĩnh viễn không thể phá
hoại được, nhiếp thọ
diệu pháp bồ đề của chư
Phật ba đời nói. Lại
nguyện cho tất cả chúng
sinh trở thành diệu bảo
trang nghiêm khí tối thù
thắng, trụ tâm bồ đề
giác đạo đại oai đức.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu khí cụ chỗ
nương tựa của công đức,
sinh tin hiểu thanh
tịnh, nơi vô lượng trí
huệ của các Như Lai.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu khí cụ hướng
về nhất thiết trí, rốt
ráo vô ngại giải thoát
của Như Lai.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
được khí cụ hạnh Bồ Tát
suốt thuở kiếp vị lai,
hay khiến cho chúng sinh
thảy đều an trụ nơi nhất
thiết trí lực.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu khí cụ giống
tánh công đức thù thắng
của chư Phật ba đời,
diệu âm của tất cả chư
Phật nói, đều thọ trì
được.
Nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu khí cụ dung
nạp tận pháp giới, hư
không giới, tất cả thế
giới, tất cả chúng hội
đạo tràng của Như Lai.
Làm đại trượng phu
thượng thủ khen ngợi
diễn nói, khuyến thỉnh
chư Phật chuyển bánh xe
chánh pháp.
Đó
là hồi hướng căn lành
của đại Bồ Tát, khi bố
thí khí cụ. Vì muốn
khiến cho khắp tất cả
chúng sinh, đều được
viên mãn khí cụ hạnh
nguyện Bồ Tát Phổ Hiền.
Bồ
Tát lại nguyện cho tất
cả chúng sinh thành tựu
khí cụ chỗ nương tựa của
công đức, sinh ra sự tin
hiểu thanh tịnh nhất,
đối với vô lượng trí huệ
của chư Phật Như Lai.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh thành tựu
pháp khí hướng về nhất
thiết trí huệ, chân thật
đắc được giải thoát tự
tại vô ngại của Như Lai.
Lại nguyện cho tất cả
chúng sinh đắc được khí
cụ suốt thuở kiếp vị
lai, tu Bồ Tát hạnh đủ
thứ hạnh môn, có thể
khiến cho khắp tất cả
chúng sinh, đều an trụ
nhất thiết trí huệ thần
thông lực. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tự khí cụ công đức
thù thắng giống tánh của
chư Phật ba đời, hết
thảy chánh pháp của mười
phương chư Phật nói ra,
đều lãnh thọ được mà y
giáo tu trì. Lại nguyện
cho tất cả chúng sinh
thành tựu khí cụ dung
nạp được tận cùng pháp
giới, tận hư không giới,
tất cả thế giới và đạo
tràng chúng hội của mười
phương Như Lai, làm thủ
toà trong đạo tràng, có
phẩm đức của bậc đại
trượng phu, oai nghi khí
chất, tán thán chư Phật,
luôn luôn làm đệ tử đại
biểu đương thời và đời
sau, khuyến thỉnh chư
Phật chuyển bánh xe
chánh pháp. Những gì vừa
nói ở trên là hồi hướng
căn lành của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí khí cụ.
Mục đích là vì khắp
khiến cho tất cả chúng
sinh, đều được viên mãn
khí cụ mười điều nguyện
vương của Bồ Tát Phổ
Hiền.
Triền
cái: Trói che
TẬP 13
|
QUYỂN HAI MƯƠI
SÁU
PHẨM THẬP HỒI
HƯỚNG
THỨ HAI MƯƠI LĂM
PHẦN BỐN
Phật
tử ! Đại Bồ Tát
đem đủ thứ xe,
nghiêm sức các
thứ báu, cúng
dường bố thí cho
chư Phật, và các
Bồ Tát, sư
trưởng bạn lành,
Thanh Văn Duyên
Giác. Vô lượng
đủ thứ phước
điền như vậy,
cho đến những
người bần cùng
côi cút.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, lại đem đủ
thứ xe cộ, đều
dùng các thứ đá
quý, vàng bạc
.v.v… nghiêm sức
đẹp đẽ tuyệt
vời. Bồ Tát đem
các thứ xe
nghiêm sức đó,
cúng dường đến
các Ðức Phật, và
mười phương Bồ
Tát, thầy tổ và
trưởng bối, bạn
lành đồng đạo tu
hành, cũng bố
thí cho các bậc
nhị thừa Thanh
Văn Duyên Giác.
Bồ Tát làm như
vậy là vì Ngài
minh bạch công
đức của sự bố
thí, gieo trồng
nhiều ruộng
phước như vậy.
Ngài cũng bố thí
cho những kẻ bần
cùng nghèo khổ,
những kẻ côi cút
không chỗ nương
tựa.
Kinh
văn ở trước đã
có nói qua bố
thí xe, nhưng
khác với sự bố
thí xe ở đây,
Kinh văn ở trước
là chỉ cho xe
voi xe ngựa làm
đại biểu, ở đây
là chuyên chỉ về
các thứ xe cộ.
Những
người đó: Hoặc
từ xa đến. Hoặc
từ gần lại. Hoặc
nghe danh của Bồ
Tát mà đến. Hoặc
là có nhân duyên
với Bồ Tát mà
đến. Hoặc nghe
Bồ Tát thuở xưa
phát nguyện bố
thí mà đến. Hoặc
là từ tâm nguyện
của Bồ Tát thỉnh
đến.
Những
người đó tiếp
thọ Bồ Tát bố
thí, đều có nhân
duyên khác nhau.
Có người từ nơi
rất xa đến. Có
người từ nơi gần
đến. Có người
nghe danh của Bồ
Tát mà đến. Có
người có nhân
duyên đặc thù
với Bồ Tát mà
đến. Có người đã
nghe thuở xưa Bồ
Tát phát tâm
nguyện đại bố
thí mà đến. Có
người từ tâm
nguyện của Bồ
Tát thỉnh đến.
Bấy
giờ, Bồ Tát hoặc
bố thí xe báu.
Hoặc bố thí xe
bằng vàng, đều
trang nghiêm tốt
đẹp, lưới linh
che phủ ở trên,
có châu báu rũ
xuống.
Hoặc
bố thí xe bằng
lưu ly thượng
diệu, có vô
lượng đồ trân
quý kỳ lạ nghiêm
sức.
Hoặc
lại bố thí xe
bằng vàng trắng,
có lưới bằng
vàng che phủ ở
trên, dùng tuấn
mã kéo xe.
Hoặc
lại bố thí xe
trang nghiêm vô
lượng các thứ
báu, có lưới báu
che phủ, dùng
voi kéo xe.
Hoặc
bố thí xe bằng
chiên đàn, dùng
báu đẹp làm bánh
xe, tạp báu làm
lọng, có toà sư
tử báu, chưng
bày nghiêm đẹp.
Có trăm ngàn thể
nữ ngồi la liệt
ở trên, dùng
mười vạn người
thanh niên kéo
đi.
Hoặc
lại bố thí xe
bằng pha lê,
nghiêm sức các
tạp báu đẹp, đầy
dẫy người nữ
xinh đẹp ngồi ở
trong đó. Có
trướng báu giăng
che phía trên,
tràng phan treo
hai bên.
Khi
những người đó
đến, thì Bồ Tát
bố thí xe cho
họ, hoặc bố thí
xe báu, hoặc bố
thí xe làm bằng
vàng, trên mỗi
chiếc xe đều
nghiêm sức rất
trang nghiêm, có
lưới linh bằng
vàng giăng che ở
phía trên xe,
bốn bên đều có
châu báu thòng
rũ xuống. Hoặc
bố thí xe làm
bằng lưu ly,
phía trên dùng
các thứ trân quý
kỳ lạ nghiêm
sức. Hoặc lại bố
thí xe làm bằng
bạc trắng, phía
trên dùng lưới
làm bằng vàng
giăng che, dùng
tuấn mã cao lớn
kéo xe. Hoặc lại
bố thí xe làm
bằng vô số các
tạp báu trang
nghiêm, phía
trên có lưới báu
giăng che, dùng
voi trắng lớn
kéo xe. Hoặc lại
bố thí xe làm
bằng gỗ chiên
đàn, bánh xe làm
bằng châu báu,
phía trên lọng
xe cũng có rất
nhiều châu báu
đủ màu, trong xe
có toà ngồi,
cũng dùng châu
báu nghiêm sức,
còn có trăm ngàn
thể nữ ngồi ở
trong xe, để làm
mọi việc. Dùng
mười vạn thanh
niên khoẻ mạnh
kéo xe mà đi.
Hoặc lại bố thí
xe làm bằng pha
lê, dùng châu
báu tạp sắc để
nghiêm sức, cũng
có rất nhiều
người nữ xinh
đẹp ngồi đầy ở
trong xe. Bốn
bên xe đều dùng
trướng báu giăng
che, tràng báu
phan báu treo ở
hai bên.
Hoặc
lại bố thí xe
tạng báu mã não,
dùng các thứ báu
nghiêm sức, xông
các thứ tạp
hương, đủ thứ
hoa đẹp bày bố
trang nghiêm. Có
trăm ngàn thể nữ
tay cầm chuỗi
báu, điều khiển
xe đi êm đềm,
được an ổn.
Hoặc
lại bố thí xe
hương kiên cố,
các thứ báu làm
bánh xe, có
trướng báu che
phủ ở phía trên,
lưới báu rũ
xuống, đủ thứ y
báu giăng bày ở
bên trong, thanh
tịnh tốt đẹp
thơm phức, toả
ra bên ngoài.
Hương thơm phức
đó làm vui đẹp
lòng người. Vô
lượng chư Thiên
hộ theo mà đi,
chở theo các
châu báu, tuỳ
thời mà bố thí.
Hoặc
lại bố thí xe
báu quang minh,
đủ thứ các báu,
màu sắc sáng
chói, các lưới
báu đẹp giăng
che phía trên,
các chuỗi tạp
báu tròng rũ
khắp bốn phía.
Dùng hương bột
rải, trong ngoài
đều thơm phức.
Bồ
Tát hoặc lại bố
thí xe tạng báu
làm bằng mã não,
phía trên nghiêm
sức các thứ báu,
xông các thứ
hương. Lại dùng
đủ thứ hoa tươi
danh quý rải ở
trên xe, để
trang nghiêm xe
báu. Ngàn thể nữ
tay cầm chuỗi
trân châu, điều
khiển chiếc xe,
khiến cho xe đi
không nhanh,
không chậm, êm
đềm bình yên,
nếu gặp chỗ nguy
hiểm thì cũng
không hề gì.
Hoặc lại bố thí
xe làm bằng gỗ
hương thơm kiên
cố, dùng rất
nhiều thứ báu
làm bánh xe,
trang nghiêm rất
đẹp. Phía trên
có trướng báu
giăng che, bốn
bên thòng rũ
những lưới báu,
lại dùng các thứ
y báu giăng bày
ở trong xe. Ðốt
lên hương thơm
thanh tịnh, mùi
thơm toả khắp,
theo không khí
mà toả ra ngoài.
Hương thơm phức
đó, chẳng giống
như những thứ
hương thơm thông
thường, khiến
cho người ngửi
được tâm ý vui
đẹp, khai mở trí
huệ, sinh tâm
hoan hỉ. Vô số
các vị trời đều
hộ theo xe mà
đi. Trên xe có
chở vô số châu
báu vật chất quý
giá, chuẩn bị
tuỳ thời bố thí
cho những người
cần dùng. Hoặc
lại bố thí xe
báu quang minh,
trên xe nghiêm
sức đủ thứ trân
báu, phóng ra đủ
thứ ánh sáng
chiếu soi đẹp
mắt, có lưới làm
bằng các thứ
báu, giăng che
phía trên xe,
dùng các thứ báu
đủ màu làm
chuỗi, treo
thòng rũ bốn
bên, lại toả ra
hương thơm thanh
khiết ở trong và
ngoài xe.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát đem các xe
báu tốt đẹp như
vậy, bố thí cúng
dường cho Phật,
thì Ngài đem căn
lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều hiểu về cúng
dường ruộng
phước vô thượng,
tin sâu bố thí
cho Phật được vô
lượng phước báu.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
một lòng hướng
về Phật, thường
gặp vô lượng
ruộng phước
thanh tịnh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
nơi các đức Như
Lai, không có
tâm sẻn tiếc,
thành tựu đầy đủ
tâm đại bố thí.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh ở
chỗ chư Phật, tu
hành hạnh bố
thí, lìa khỏi
nguyện của hàng
nhị thừa, sớm
đắc được trí huệ
nhất thiết trí
giải thoát vô
ngại của Như
Lai. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh ở chỗ chư
Phật, thực hành
bố thí vô tận,
vào trong vô
lượng công đức
trí huệ của
Phật.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp môn
hồi hướng, khi
Ngài đem đủ thứ
xe tốt đẹp như
Kinh văn đã nói
ở trên, cúng
dường các Ðức
Phật, thì Ngài
hồi hướng căn
lành công đức
cho tất cả chúng
sinh. Bồ Tát
Ngài kiền thành
phát nguyện như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều thấu
hiểu ruộng phước
cúng dường chư
Phật tối thượng,
phải tin sâu sự
cúng dường chư
Phật, sẽ đắc
được vô lượng
phước báo. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
chuyên tâm quy y
Phật, chẳng sinh
hai tâm, chẳng
bị ngoại đạo tà
giáo dẫn dụ,
được như vậy thì
thường gặp các
bậc thiện tri
thức thanh tịnh,
gieo trồng vô
lượng ruộng
phước thanh
tịnh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đối với sự
cúng dường ở
trước Phật, đừng
sinh tâm tham
sẻn, phàm là
muốn cúng dường
đồ vật đến Phật,
đều phải tốt đẹp
tận thiện tận
mỹ, như thế mới
viên mãn thành
tựu đầy đủ tư
tưởng đại xả.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, tại đạo
tràng của chư
Phật, tu hành
pháp môn bố thí,
lìa khỏi lời
nguyện của hàng
nhị thừa Thanh
Văn Duyên Giác,
đắc được trí huệ
nhất thiết trí
giải thoát vô
ngại của Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, ở tại đạo
tràng của chư
Phật, tận hết
khả năng bố thí
chẳng cùng tận,
vào sâu được
trong công đức
trí huệ của Phật
chẳng có hạn
lượng.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, vào trí
huệ thù thắng
của Phật, được
thành tựu vua
trí huệ vô
thượng thanh
tịnh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được thần
thông đến khắp
vô ngại của
Phật, tuỳ chỗ
muốn đến, đều
được tự tại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vào sâu đại
thừa, đắc được
vô lượng trí
huệ, an trụ
chẳng động.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều có thể sinh
ra pháp nhất
thiết trí. Làm
ruộng phước tối
thượng của các
trời người.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh, ở
chỗ chư Phật,
không có tâm
hiềm hận, siêng
trồng căn lành,
thích cầu trí
huệ của Phật.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vào sâu được
trong trí huệ
thù thắng của
Phật, thành tựu
được vua trí huệ
vô thượng thanh
tịnh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
thần thông đến
khắp tất cả mọi
nơi chẳng bị
chướng ngại, tuỳ
chỗ tâm muốn
đến, đều được
như ý. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều vào sâu được
Phật pháp đại
thừa, đắc được
trí huệ vô
lượng, siêng tu
tập pháp đại
thừa, hành Bồ
Tát đạo, chẳng
xả bỏ chúng
sinh, an trụ
trong cảnh giới
đại thừa, người
và pháp cả hai
đều không. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
chẳng có tâm ngu
si, có thể sinh
ra pháp nhất
thiết trí huệ,
làm ruộng phước
thanh tịnh vô
thượng của các
trời người. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh, ở
tại đạo tràng
của Phật, siêng
tu nghiệp thiện,
tích tụ căn
lành. Một lòng
tu đạo, thích
cầu trí huệ của
Phật, xả bỏ tất
cả tâm hiềm kỵ
và sân hận.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, nhậm vận
đến được tất cả
cõi Phật. Trong
một sát na đi
khắp pháp giới,
mà không mỏi
mệt. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, sớm được
tự tại thần
thông của Bồ
Tát, phân thân
đầy khắp đồng
cõi hư không.
Chỗ tất cả chư
Phật, đều gần
gũi cúng dường.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thân vô tỉ,
đến khắp mười
phương mà không
nhàm mỏi. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
rộng lớn, bay đi
mau chóng, tuỳ ý
chỗ đến, trọn
không giải đãi
thối lùi. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tự
tại oai lực rốt
ráo của Phật.
Trong một sát
na, đều hiện
thần thông biến
hoá của chư
Phật, tận cõi hư
không. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, tu hạnh an
lạc, tuỳ thuận
tất cả Bồ Tát
đạo.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được nhậm vận tự
tại chẳng thêm
tạo tác, mà đến
được cõi nước
của chư Phật
trong mười
phương, trong
một sát na có
thể đến khắp tất
cả pháp giới mà
thân tâm không
có mệt mỏi. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thần
thông tự tại của
Bồ Tát, phân
thân của Ngài
đầy khắp cõi hư
không, đến tất
cả đạo tràng của
chư Phật, để gần
gũi chư Phật,
cúng dường chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
thân không gì
sánh bằng,
thường đến đạo
tràng của chư
Phật trong mười
phương thế giới,
thân thể trọn
không nhàm mỏi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
thân rộng lớn,
bay đi rất
nhanh. Tuỳ theo
ý niệm, thân thể
có thể đến được,
chưa từng giải
đãi và thối
chuyển. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thần
lực tự tại rốt
ráo của Phật,
trong một sát
na, trong tận hư
không, đều hiển
hiện ra sức thần
thông biến hoá
của chư Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều tu
hạnh an lạc
trong Kinh Pháp
Hoa, thường tuỳ
thuận Bồ Tát đạo
của các Bồ Tát
thực hành.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
hạnh nhanh
chóng. Mười lực
trí huệ thần
thông rốt ráo.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vào khắp pháp
giới. Mười
phương cõi nước,
đều tận cùng bờ
mé, bình đẳng
chẳng có khác
biệt. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thực hành
hạnh Phổ Hiền,
chẳng có thối
chuyển, đến nơi
bờ kia, thành
tựu nhất thiết
trí. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thăng lên
thừa trí huệ
chẳng gì bằng,
tuỳ thuận pháp
tánh, thấy lý
như thật.
Đó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài
đem xe báu bố
thí cúng dường
cho tất cả chư
Phật hiện tại và
hết thảy tháp
miếu sau khi chư
Phật diệt độ. Vì
khiến cho chúng
sinh đắc được
thừa vô ngại
thoát khỏi rốt
ráo của Như Lai.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được pháp
môn tu hành sớm
thành Phật, cũng
đắc được mười
lực rốt ráo của
Phật, và thần
thông trí huệ
của Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đến khắp mười
phương cõi nước
trong pháp giới,
mà còn vào sâu
mỗi cõi nước
không có bờ mé.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều tu
hành hạnh môn
của Bồ Tát Phổ
Hiền, hành mười
điều nguyện
vương của Bồ Tát
Phổ Hiền, chẳng
sinh tâm thối
chuyển sợ khó,
thì sẽ đạt đến
bờ Niết Bàn bên
kia, thành tựu
nhất thiết trí
huệ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều có thể
thăng lên thừa
trí huệ không gì
bằng, tuỳ thuận
tự tánh của các
pháp, thấy rõ
chân lý như
thật. Ðó là hai
mươi đại nguyện
hồi hướng căn
lành cho tất cả
chúng sinh, khi
Ngài đem đủ thứ
xe báu bố thí
cúng dường cho
chư Phật hiện
tại, và hết thảy
tháp miếu thờ xá
lợi sau khi Phật
diệt độ, vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, đắc
được Phật thừa
viên dung vô
ngại, rốt ráo
thoát khỏi ba
cõi của chư
Phật.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát đem các xe
báu bố thí cho
các Bồ Tát thiện
tri thức, thì
Ngài đem các căn
lành hồi hướng
như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, tâm thường
nghi nhớ thọ trì
lời dạy của bậc
thiện tri thức.
Chuyên cần giữ
gìn, khiến cho
không quên mất.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đồng một nghĩa
lợi với thiện
tri thức, cùng
với căn lành,
nhiếp khắp tất
cả. Nhiếp khắp
tất cả, gần gũi
thiện tri thức,
tôn trọng cúng
dường, đều xả bỏ
hết thảy, thuận
theo tâm của
thiện tri thức.
Nhiếp khắp tất
cả, được thiện
chí mong muốn,
tuỳ theo bạn
lành, chưa từng
xả lìa. Nhiếp
khắp tất cả,
thường được gặp
các bậc thiện
tri thức, chuyên
tâm phụng sự,
chẳng trái lời
dạy.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp môn
hồi hướng, Kinh
văn ở trước đem
các xe báu bố
thí cúng dường
cho chư Phật,
hiện tại Ngài
lại đem các xe
báu bố thí cho
Bồ Tát, bố thí
cho Thánh Tăng,
A la hán và
thiện tri thức.
Khi Ngài bố thí,
thì đem căn lành
bố thí tích tụ,
đối với chúng
sinh hồi hướng
như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, trong tâm
thường không
quên lời dạy của
thiện tri thức,
thường siêng tu
pháp của thiện
tri thức truyền
thọ, chuyên tâm
nhất chí, tinh
tấn tu tập, giữ
gìn sáu căn đừng
để quên mất lời
dạy của thiện
tri thức. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đối với nghĩa lý
Phật pháp có
cùng một kiến
giải, hết thảy
lợi ích, cùng
nhau hưởng thọ.
Khắp nhiếp thọ
tất cả cùng đồng
căn lành, cùng
phân hưởng với
chúng sinh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thường
gần gũi, tôn
trọng, cung
kính, cúng dường
thiện tri thức,
đem hết thảy vật
chất danh quý
của mình bố thí
cho thiện tri
thức, mọi việc
đều thuận tâm ý
của thiện tri
thức. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được phát
chí nguyện lành,
sinh ra niềm hy
vọng cao thượng,
thường thường
gần gũi bạn
lành, chưa từng
xả bỏ thiện tri
thức. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thường
thường gặp nhiều
bậc thiện tri
thức, chuyên tâm
nhất chí phụng
sự hầu hạ các
Ngài, không trái
với lời dạy của
các Ngài.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ưa thích
thiện tri thức,
thường chẳng xả
lìa, chẳng gián
đoạn, chẳng phức
tạp, cũng chẳng
lầm lỗi. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, có thể đem
thân mình bố thí
cho thiện tri
thức, tuỳ theo
sự dạy bảo của
Ngài, chẳng có
trái nghịch.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thiện tri
thức nhiếp thọ,
tu tập đại từ,
xa lìa các điều
ác. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, theo thiện
tri thức, lắng
nghe chánh pháp
của chư Phật
nói. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đồng một
căn lành với
thiện tri thức,
nghiệp quả thanh
tịnh, đồng một
hạnh nguyện với
các Bồ Tát, rốt
ráo đắc được
mười lực.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
hoan hỉ thường
gần gũi thiện
tri thức, mỗi
thời mỗi khắc
đều không muốn
xa lìa, ngày
ngày đều như
thế, chưa từng
gián đoạn, không
chạy theo người
khác, đi khắp
nơi phan duyên,
tu học chẳng
chuyên nhất,
chính mình cũng
chẳng biết rốt
ráo như thế nào
là tốt, cho nên
mê lầm chân
chánh minh nhãn
thiện tri thức.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, có thể xả
thân phụng sự
thiện tri
thức-đại thiện
tri thức tức là
đại Bồ Tát, nếu
gặp được thiện
tri thức như
thế, tự mình đầy
đủ tâm kính
trọng thiện tri
thức, theo sự
dạy bảo tu đạo
của thiện tri
thức, một chút
cũng không trái
nghịch với lời
dạy của Ngài mà
tinh tấn chẳng
giải đãi, chẳng
làm cho Ngài
thất vọng, đó
cũng giống như
sinh vào nhà
Phật, đã vào trí
huệ của Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thường
được thiện tri
thức nhiếp thọ,
theo Ngài tu tập
Phật pháp đại
thừa, tài bồi
tâm đại từ bi,
đối với bất cứ
ai cũng đều xem
họ như mình,
chẳng sân, chẳng
đố kị, xa lìa
tất cả tội ác
lỗi lầm. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường đi theo
thiện tri thức,
nghe chánh pháp
của chư Phật
nói, nếu có chỗ
nào không minh
bạch, thì thiện
tri thức sẽ
giảng giải cho
bạn. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, có căn
lành giống như
thiện tri thức,
và đồng nghiệp
thiện quả báo
thanh tịnh, cũng
đồng hạnh môn
của các Bồ Tát
tu hành, đồng
phát nguyện lớn,
cũng đồng đắc
được mười lực
rốt ráo.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều thọ
trì được pháp
của thiện tri
thức. Chóng được
tất cả cảnh giới
tam muội, trí
huệ thần thông.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều thọ trì được
tất cả chánh
pháp, tu tập các
hạnh, đến nơi bờ
kia.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tu theo đại thừa
chẳng có chướng
ngại, rốt ráo
thành tựu đạo
nhất thiết trí.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều được ngồi
nơi nhất thiết
trí, đến chỗ an
ổn không thối
chuyển.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
biết hạnh như
thật, tuỳ theo
chỗ nghe tất cả
Phật pháp, đều
được rốt ráo
vĩnh viễn không
quên mất.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
khắp được chư
Phật nhiếp thọ,
đắc được trí vô
ngại rốt ráo
biết rõ các
pháp.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều thọ trì được
diệu pháp của
thiện tri thức
truyền thọ, mau
chóng đắc được
các thứ cảnh
giới định lực,
trí huệ thù
thắng và thần
thông diệu dụng.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thọ trì
được tất cả
chánh pháp, tu
tập lục độ vạn
hạnh, đạt đến bờ
Niết Bàn bên
kia. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được ngồi
cỗ xe rộng lớn
chẳng có bờ mé,
không có hạn độ,
chở đầy vạn hữu
trong tận cùng
hư không khắp
pháp giới, mà đi
không có chướng
ngại, đến được
nơi mục đích
cuối cùng, là
thành tựu đạo
nhất thiết
trí-quả Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều ngồi
nơi nhất thiết
trí huệ, đến
được chỗ an ổn.
Lúc chưa đến chỗ
mục đích, thì
quyết không thối
chuyển ở giữa
đường. Chỗ nào
là nơi an ổn ?
Tức là biết rõ
bản thể của chư
Phật, chứng nhập
vào nguồn gốc
của chư Phật, tỏ
ngộ tự tánh của
chư Phật, trở về
nguồn cội, gọi
là nơi an ổn.
Chuyển phiền não
thành bồ đề, thì
gọi là nơi an
ổn. Vì có tâm
đại bi, mà sinh
tâm bồ đề. Nhờ
tâm bồ đề mà
thành Chánh
Giác, cũng là
nơi an ổn. Tinh
tấn hành đạo, từ
bi tu huệ, nên
gọi là không
thối chuyển. Bồ
Tát vĩnh viễn
chẳng thối
chuyển chánh
niệm, tu hạnh
đại thừa không
thối chuyển, dù
gặp ngàn khó vạn
khổ, cũng không
thối lùi về hàng
nhị thừa. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
biết pháp môn tu
hành chân thật,
tuỳ thời tuỳ nơi
nghe được Phật
pháp, đều thấu
đạt lý thể chân
thật của các
pháp một cách
triệt để. Chứng
được lý thể chân
thật của các
pháp rồi, tuy
trải qua ngàn
vạn kiếp, cũng
chẳng quên mất.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều được
chư Phật nhiếp
thọ, đắc được
trí huệ chẳng
chướng ngại, rốt
ráo biết rõ thật
tướng của các
pháp.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thần
thông tự tại
không thối thất.
Tuỳ theo chỗ
muốn đến đi, một
niệm liền đến.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đến đi tự tại,
rộng thực hành
giáo hoá, khiến
cho họ trụ nơi
đại thừa.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
chỗ thực hành
đều không luống
qua, dùng xe trí
chuyên chở, đến
bậc rốt ráo.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thừa vô
ngại, dùng trí
vô ngại đến tất
cả mọi nơi.
Đó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí đủ thứ xe
cho thiện tri
thức, vì khiến
cho chúng sinh
đầy đủ công đức,
đồng với Phật Bồ
Tát không khác.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thần
thông tự tại
chẳng thối thất,
có thể nhậm vận
tự tại chẳng
thêm tạo tác, có
thể khiến cho
một làm vô
lượng, vô lượng
làm một. Thứ
thần thông đó
một nhiều chẳng
ngại nhau, tức
là thần thông tự
tại. "Thần gọi
là thiên tâm,
thông gọi là huệ
tánh", thần
thông là do tu
phước tu huệ, tu
đến khi viên mãn
đầy đủ, thì
thành tựu thần
thông tự tại. Có
người được "báo
đắc thông", hoặc
khai mở ngũ
nhãn, thấy tất
cả Phật Bồ Tát
và nhiều cảnh
giới kỳ lạ khác,
tuy nhiên đắc
được thần thông,
nhưng không thể
giữ được lâu.
Một khi không tu
hành mà phóng
dật, trong tâm
có tư tưởng
chẳng thanh
tịnh, thì thần
thông chẳng còn
thông nữa, sẽ
thối thất, đó
tức là thần
thông chẳng tự
tại. Bồ Tát hy
vọng chúng sinh
đắc được thần
thông tự tại
chẳng thối thất,
chúng sinh phải
nghiêm trì giới
thanh tịnh siêng
tu phước huệ,
thì mới có thể
giữ được thần
thông tự tại
chẳng thối thất,
nghĩ muốn đến
chỗ nào, chỉ một
niệm khởi lên,
thì sẽ đến được
nơi mục đích.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đến bất cứ
chỗ nào, đều đến
đi tự tại, chẳng
bị trở ngại,
chẳng có vật gì
làm phiền phức.
Chỗ đến, rộng
làm Phật sự giáo
hoá chúng sinh,
khiến cho họ đều
quy y nơi cửa
Phật, thường tu
pháp đại thừa.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, làm những
nghiệp thiện,
công chẳng luống
qua, ngồi xe trí
huệ, chuyên chở
đầy đủ các công
đức, đến bậc rốt
ráo viên mãn quả
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thừa
chẳng bị bất cứ
gì làm chướng
ngại, dùng trí
huệ viên dung vô
ngại, thành tựu
mười Ba La Mật,
đến được tất cả
mọi nơi an ổn.
Ðó là hồi hướng
đủ thứ căn lành
của đại Bồ Tát
tu tập, khi Ngài
bố thí xe báu
cho thiện tri
thức, vì muốn
khiến cho chúng
sinh đều đắc
được công đức
đầy đủ viên mãn,
đồng với công
đức trí huệ của
Phật Bồ Tát
không khác.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát đem các xe
báu bố thí cho
Tăng, thì khởi
tâm học tất cả
hạnh bố thí. Tâm
trí khéo biết
rõ. Tâm thanh
tịnh công đức.
Tâm tuỳ thuận xả
bỏ. Tâm Tăng Bảo
khó gặp. Tâm tin
sâu Tăng Bảo.
Tâm nhiếp trì
chánh giáo.
Thích trụ chí
nguyện thù
thắng, được chưa
từng có. Làm hội
đại bố thí, sinh
ra vô lượng công
đức rộng lớn.
Tin sâu Phật
giáo, không thể
trở ngại phá
hoại.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp môn
hồi hướng, hiện
tại Ngài lại đem
đủ thứ xe báu bố
thí cho Tăng
xuất gia. Tăng
có hai loại: Một
là hiền Thánh
Tăng, một là
phàm phu Tăng.
Hiền Thánh Tăng
là Bồ Tát chứng
quả, phàm phu
Tăng là phàm phu
đang tu hành
tinh tấn hướng
đến sự chứng
đạo. Tăng Bảo là
bao quát hai
loại Tăng nầy.
Công đức bố thí
cho Thánh Tăng
và phàm phu Tăng
đều đồng nhau,
đừng có sinh tâm
phân biệt. Khi
Bồ Tát bố thí
cho Tăng, thì
trong tâm của
Ngài sinh khởi
mười thứ tâm:
1.
Ngài muốn học
tập các thứ bố
thí-tài, pháp,
vô uý, ba thứ.
2.
Ngài muốn dùng
trí huệ hiểu rõ
đối tượng bố
thí, hoặc đáng
bố thí, hoặc
không đáng bố
thí. Cùng với sự
gieo trồng bố
thí đối tượng
thích nghi của
sự bố thí, những
điều đó đều phải
dùng trí huệ
hiểu rõ mà quyết
định.
3.
Là tâm thanh
tịnh công đức:
Tức là tâm phải
"ba thứ đều
không" (không
thấy người thí,
không thấy người
nhận, không thất
vật thí), thì
công đức mới
thanh tịnh.
4.
Tâm xả bỏ phải
tuỳ thuận bố thí
Ba La Mật.
5.
Tăng Bảo khó
gặp, Phật lại
càng khó gặp. Vì
có Phật mới có
Tăng, cho nên bố
thí cho Tăng,
đồng như bố thí
cho Phật, do đó,
sinh ra tâm khó
gặp Tăng Bảo.
6.
Vì y chỉ phước
điền Tăng, tu
học Phật pháp,
cho nên phải đối
với Tăng Bảo
sinh ra tâm cung
kính và tâm tín
ngưỡng.
7.
Pháp do Tăng
truyền. Bốn
chúng xuất gia
đều vào sâu tạng
Kinh, nhiếp thọ
chánh pháp của
chư Phật nói, y
giáo tu trì,
chúng sinh thì y
theo Tăng mà
được nghe chánh
giáo của chư
Phật.
8.
Tăng Bảo xả lìa
tất cả hư vọng
ân ái tham trước
thế gian, an trụ
nơi phạm hạnh
thanh tịnh, phát
hạnh nguyện lớn,
cảnh giới thường
lạc ngã tịnh đó,
chẳng dễ gì đắc
được, cho nên
phải sinh tâm
hâm mộ.
9.
Thường lập pháp
hội bố thí rộng
lớn cho ngàn vị
Tăng, sinh ra
đại công đức vô
lượng vô biên.
10.
Vì có Tăng Bảo,
nên giống Phật
mới không đoạn
diệt, Phật giáo
trụ ở đời cũng
vĩnh viễn không
suy bại, càng
không thể bị
thiên ma ngoại
đạo phá hoại.
Đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
khắp vào trong
Phật pháp, nhớ
thọ trì không
quên.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, lìa khỏi
pháp phàm phu
ngu si, vào nơi
hiền Thánh.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, chóng vào
bậc Thánh, dùng
Phật pháp dạy
bảo dẫn dắt có
thứ tự.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thế
gian tôn sùng
kính trọng, lời
nói được tin
dùng.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, khéo vào
tất cả pháp bình
đẳng, biết rõ
pháp giới, tự
tánh không hai.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, từ nơi trí
huệ cảnh giới
của Như Lai mà
sinh ra, những
người được điều
thuận, cùng nhau
vây quanh.
Khi
Bồ Tát đem xe
báu bố thí cho
các hiền Thánh
Tăng, thì Ngài
sinh khởi mười
thứ tâm thâm sâu
thiết thực. Do
đó đem đủ thứ
căn lành mà Ngài
tu tập, hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều vào sâu tạng
Kinh, vào sâu
trong biển Phật
pháp, phàm là
chỗ đã nghe
được, biết được
vĩnh viễn nhớ
không quên. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều lìa khỏi
pháp phàm phu
ngu si, nhập vào
nơi Thánh hiền,
chuyển phàm
thành Thánh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
mau chóng chứng
được quả vị
Thánh nhân, mà
còn biết dùng
Phật pháp khai
thị dẫn dắt
chúng sinh có
thứ tự, khiến
cho họ khai mở
tri kiến của
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được người
thế gian tôn
sùng, cung kính,
tin cậy, nói ra
lời nào cũng
được tin dùng.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, khéo vào
các pháp tánh,
biết rõ các pháp
bình đẳng, chẳng
có cao thấp.
Minh bạch tự
tánh của pháp
giới, đều là
không hai. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
từ trí huệ cảnh
giới của Phật mà
sinh ra, người
thường được Ngài
giáo hoá, và
những người vốn
cang cường mà
hiện tại đã điều
thuận gần gũi,
cùng nhau vây
quanh.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, trụ pháp
lìa nhiễm ô,
diệt trừ tất cả
bụi dơ phiền
não.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều được
thành tựu vô
thượng Tăng Bảo,
lìa khỏi phàm
phu, nhập vào
chúng Thánh
hiền.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, siêng tu
pháp lành, được
trí huệ vô ngại,
đầy đủ công đức
của Thánh hiền.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tâm
trí huệ, chẳng
chấp vào ba đời.
Ở trong các
chúng, tự tại
như vua.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi thừa
trí huệ, chuyển
bánh xe chánh
pháp.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đầy đủ
thần thông, một
niệm đến được
bất khả thuyết
bất khả thuyết
thế giới.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trụ ở trong pháp
thanh tịnh, vô
lậu, pháp xuất
thế, xa lìa pháp
nhiễm ô của thế
gian, diệt trừ
sạch hết tất cả
phiền não và bụi
dơ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, siêng tu
pháp lành, diệt
trừ pháp ác, đắc
được đại trí huệ
viên dung vô
ngại, đầy đủ
công đức của
Thánh hiền. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được tâm trí
huệ Bát Nhã,
chẳng chấp trước
quan niệm thời
gian không gian
của ba đời, hiển
hiện thần thông
tự tại như ông
vua. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi thừa
trí huệ, thường
ở trong mười
phương thế giới,
chuyển bánh xe
chánh pháp, giáo
hoá chúng sinh.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đầy đủ
thần thông diệu
dụng, có thể ở
trong một niệm
đến khắp bất khả
thuyết bất khả
thuyết vô lượng
thế giới, để lợi
ích hữu tình.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
hư không, nơi
các thế gian trí
huệ vô ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, vào khắp
chúng hội của
chư Phật, tất cả
hư không pháp
giới, thành tựu
hạnh Ba La Mật
bậc nhất.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
nhẹ nhàng, trí
huệ thù thắng,
vào khắp tất cả
cõi Phật.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
thần túc khéo
léo không bờ mé,
nơi tất cả cõi
khắp hiện thân
hình.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
nơi tất cả không
chỗ nương, dùng
sức thần thông
hiện khắp như
hình bóng.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thân như hư
không, rộng lớn
không tướng
không tánh, dùng
trí huệ hành nơi
thế gian mười
phương, chẳng có
chướng ngại. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vào khắp trong
tất cả hư không
pháp giới, đến
chúng hội đạo
tràng của chư
Phật, thành tựu
hạnh môn đến bờ
kia bậc nhất.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được thân
nhẹ nhàng, lại
có trí huệ thù
thắng, chỉ một
niệm, thì tuỳ
theo nguyện lực
mà đến, bay đi
tự tại. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thần
túc thông diệu
dụng khéo léo
chẳng có bờ mé,
trong tất cả cõi
nước, thảy đều
hiện thân khắp
vì chúng sinh
nói pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thân
nhậm vận tự tại,
tuỳ theo ý muốn,
chẳng nương tựa
vào các sức lực
khác, dùng thần
thông biến hoá
diệu dụng của
Ngài, tuỳ mọi
nơi đều có thể
hiện ra, giống
như hình bóng.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thần
lực tự tại không
nghĩ bàn, tuỳ
chúng sinh đáng
được hoá độ,
liền hiện ra ở
trước họ, giáo
hoá điều phục.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được
phương tiện vào
pháp giới vô
ngại, một niệm
du hành khắp
mười phương cõi
nước.
Đó
là đại Bồ Tát
hồi hướng căn
lành bố thí xe
báu cho Tăng, vì
khiến cho chúng
sinh, khắp ngồi
thừa trí huệ
thanh tịnh vô
thượng. Nơi tất
cả thế gian
chuyển bánh xe
pháp trí huệ vô
ngại.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thần thông
nhậm vận tự tại
không thể nghĩ
bàn, tuỳ thời
tuỳ lúc tuỳ
duyên, tuỳ cảm
ứng của chúng
sinh, liền hoá
hiện ở trước họ,
giáo hoá những
chúng sinh nhân
duyên chín mùi
đó, khiến cho
thân tâm của họ
được thấm nhuần
mưa pháp, điều
phục nhu nhuyến.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được sức
thần túc phương
tiện viên dung
vô ngại, vào
pháp giới thâm
sâu, ở trong một
niệm, có thể đến
khắp cõi nước
của chư Phật
trong mười
phương. Ðó là
hồi hướng căn
lành tu tập của
đại Bồ Tát, khi
Ngài bố thí xe
báu cho các hiền
Thánh Tăng. Vì
hy vọng tất cả
chúng sinh, đều
được nguồn gốc
tính diệu chân
như thanh tịnh.
Ðược ngồi thừa
trí huệ vô
thượng, đến mười
phương thế giới
chuyển bánh xe
chánh pháp,
chuyển bánh xe
trí huệ chánh
pháp viên dung
vô ngại, cho nên
Bồ Tát phát đủ
thứ nguyện lớn,
hồi hướng cho
tất cả chúng
sinh.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát đem các xe
báu bố thí cho
Thanh Văn Duyên
Giác, Ngài khởi
tâm như vầy. Đó
là: Tâm ruộng
phước. Tâm tôn
kính. Tâm biển
công đức. Tâm
hay sinh ra công
đức trí huệ. Tâm
từ công đức thế
lực của Như Lai
sinh ra. Tâm
trăm ngàn Na Do
Tha kiếp tu tập.
Tâm nơi bất khả
thuyết kiếp tu
hạnh Bồ Tát. Tâm
giải thoát tất
cả sự trói buộc
của ma. Tâm tiêu
diệt tất cả
chúng ma quân.
Tâm trí huệ
quang minh chiếu
rõ pháp vô
thượng.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp môn
hồi hướng, lại
đem đủ thứ xe
báu bố thí cho
hàng nhị thừa
Thanh Văn Duyên
Giác. Khi Ngài
bố thí, thì Ngài
sinh khởi những
tâm niệm như
vầy: Tâm ruộng
phước: Tự mình
tu công đức là
tự mình gieo
trồng ruộng
phước, nhưng
cũng phải làm
ruộng phước cho
chúng sinh, để
cho họ đến cầu
phước. Tâm tôn
kính: Tâm tôn
trọng Phật, tôn
trọng pháp, cung
kính Tam Bảo.
Tâm biển công
đức: Phải siêng
tu vô lượng công
đức. Có thể từ
siêng tu nghiệp
lành, tích tụ
căn lành, sinh
ra tâm đại trí
huệ. Tâm từ
trong công đức
thế lực của Phật
sinh ra. Tâm
trong trăm ngàn
ức Na do tha
kiếp, siêng tu
tập các Phật
pháp. Tâm ở
trong bất khả
thuyết kiếp tu
hạnh Bồ Tát. Tâm
tự tại nhìn thấu
suốt buông xả
được, giải thoát
khỏi sự trói
buộc của ma. Tâm
phá huỷ tiêu
diệt được tất cả
ma quân, thường
hộ trì Tam Bảo.
Tâm trí huệ
quang minh,
chiếu soi pháp
vô thượng cầu
thành đạo.
Đem
hết thảy căn
lành bố thí xe
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, làm ruộng
phước bậc nhất
cho thế gian
tin, đầy đủ bố
thí Ba La Mật vô
thượng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
lìa khỏi lời nói
vô ích, thường
thích ở một
mình, tâm không
có hai niệm.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành ruộng
phước thanh tịnh
bậc nhất, nhiếp
lấy các chúng
sinh, khiến cho
họ tu phước
nghiệp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành vực sâu
trí huệ, ban cho
chúng sinh vô
lượng vô số căn
lành quả báo.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trụ nơi hạnh vô
ngại, đầy đủ
ruộng phước
thanh tịnh bậc
nhất.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí xe báu cho
hàng bậc Thánh
nhân nhị thừa,
thì Ngài sinh
khởi mười thứ
tâm dưới đây,
tiếp tục đem hết
thảy căn lành bố
thí xe, hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được hết thảy
mọi người trên
thế gian cùng
tin tưởng, tin
Ngài là ruộng
phước tốt bậc
nhất trên thế
gian, vì Ngài
đầy đủ công đức
bố thí vô
thượng, tu hành
viên mãn pháp
môn bố thí đến
bờ kia. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
xả lìa mao bệnh
lời nói không có
ích, vì tập khí
hý luận đó, đối
với mình và
người đều chẳng
có lợi ích, chỉ
lãng phí thời
gian. Nếu khi
muốn nói, thì
nói lời có lợi
ích cho mọi
người, mà còn
phải chú ý không
thất thời. Một
người tu học
Phật đạo, phải
ưa thích ở một
mình, chuyên tâm
suy gẫm các
pháp, tâm niệm
không ô nhiễm,
tu phạm hạnh
thanh tịnh. Bồ
Tát phát nguyện
nầy, là hy vọng
chúng sinh luôn
tu bồ đề giác
đạo, sớm thành
Chánh Giác. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành ruộng
phước thanh tịnh
nhất của thế
gian, có thể
nhiếp thọ chúng
sinh khác, đến
đây gieo trồng
ruộng phước,
khiến cho tất cả
chúng sinh tu
phước báo, thành
tựu nghiệp lành.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thành vực
sâu trí huệ, có
thể rửa sạch hết
đủ thứ ngu si và
đen tối của
chúng sinh, từ
trong vực sâu
trí huệ, đắc
được vô lượng vô
số căn lành
phước báo. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường tu hành
hạnh môn vô
ngại, đầy đủ đạo
quả thanh tịnh
của Ngài, thành
ruộng phước tốt
thanh tịnh bậc
nhất của thế
gian.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, trụ nơi
pháp không
tranh, thấu rõ
tất cả các pháp,
đều không chỗ
làm, không tánh
làm tánh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường được gần
gũi ruộng phước
tối thượng, tu
thành đầy đủ vô
lượng phước đức.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
hiện được vô
lượng thần thông
tự tại, dùng
ruộng phước
thanh tịnh,
nhiếp lấy các
hàm thức.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đầy đủ ruộng
phước công đức
vô tận, hay ban
cho chúng sinh
mười lực quả
thừa bậc nhất
của Như Lai.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
làm ruộng phước
chứng được quả
chân thật, thành
nhất thiết trí
phước tụ vô tận.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trụ ở trong pháp
chẳng tuỳ tiện
tranh luận thị
phi với người,
minh bạch các
pháp chẳng có tự
thể, thì chẳng
có ai làm, cũng
chẳng có kẻ thọ,
là dùng vô tánh
làm tánh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
luôn luôn đều có
cơ hội gần gũi
ruộng phước tối
thượng-tức là
được gần gũi chư
Phật, luôn nghe
chánh pháp, tu
hành viên mãn
đầy đủ thành tựu
vô lượng phước
đức trí huệ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
hiển hiện được
vô lượng thần
thông, mà còn có
diệu dụng nhậm
vận tự tại, dùng
địa vị ruộng
phước Tăng thanh
tịnh, nhiếp thọ
tất cả chúng
sinh, khiến cho
họ đều an trụ ở
trong pháp an
vui. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đầy đủ
công đức ruộng
phước chẳng cùng
tận, có thể ban
cho mười thứ lực
của Phật, khiến
cho chúng sinh
đều đạt được quả
thừa bậc
nhất-thành Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, sớm được
thành tựu đạo
nghiệp, những gì
cần làm đã làm
xong, chẳng còn
thọ thân sau
nữa, chứng được
Niết Bàn chân
thật-Phật quả,
thành tựu nhất
thiết trí huệ,
phước đức vô tận
đều cùng tụ tập.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được pháp
diệt tội, đều có
thể thọ trì Phật
pháp câu nghĩa
chưa từng nghe.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường siêng
nghe lãnh thọ
tất cả Phật
pháp. Nghe đều
ngộ hiểu, chẳng
có luống qua.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
nghe được Phật
pháp, thông đạt
rốt ráo. Như chỗ
nghe được, tuỳ
thuận diễn nói.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
nơi giáo pháp
của Như Lai, tin
hiểu tu hành, xả
lìa tất cả chín
mươi sáu thứ
ngoại đạo tà
kiến.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thấy
Thánh hiền, tăng
trưởng tất cả
căn lành tối
thắng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tâm thường tin
ưa bậc trí hạnh,
đồng ở chung
cùng hoan hỉ với
các bậc Thánh
triết.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều đắc được
pháp môn tiêu
diệt tội nghiệp.
Gì là tội pháp ?
Tức là tư tưởng
tham sân si,
hình thành tội
nghiệp biểu hiện
hành vi. Nếu
muốn tiêu diệt
những tội nghiệp
đó, thì chỉ có
một pháp môn, đó
là siêng tu giới
định huệ. Bồ Tát
phát nguyện hy
vọng chúng sinh
thường được gần
gũi Tam Bảo, tức
là thương xót
chúng sinh trầm
luân trong biển
tội nghiệp sinh
tử, đời đời kiếp
kiếp lên rồi
xuống, vĩnh viễn
chẳng có khi nào
được giải thoát.
Còn nếu được gần
gũi Tam Bảo,
luôn nghe chánh
pháp, đối với
Phật pháp chưa
từng nghe qua,
nghĩa lý mỗi câu
đều minh bạch
biết rõ, thọ trì
siêng tu ba học
vô lậu, thì tất
cả tội nghiệp,
đều sẽ diệt trừ,
sẽ đắc được pháp
diệt tội. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
luôn nghe pháp
của chư Phật
nói, nghe rồi
minh bạch đạo lý
của Phật nói,
giác ngộ hôm nay
đúng mà hôm qua
sai, lãnh thọ
được mà còn đắc
được thân tâm
thọ dụng. Cho
nên Bồ Tát nói
với chúng ta
phải siêng nghe
Phật pháp, phải
có cơ hội nghe
pháp, đừng để
luống qua, vì
nghe pháp thì có
trăm ngàn vạn ức
lợi ích. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
hiểu triệt để
nghĩa lý Phật
pháp, vận dụng
tự như, thông
đạt vô ngại. Nếu
chỗ nghe được
Phật pháp, tuỳ
thuận nhân duyên
giảng giải cho
bạn bè quyến
thuộc khác nghe,
thì nhất định
giảng được nghĩa
lý rõ ràng,
khiến cho người
nghe hoan hỉ tin
thọ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ở trước
Phật được thọ sự
giáo hoá, thì sẽ
sinh niềm tin
thâm sâu. Do tin
mà hiểu, do hiểu
mà thiết thực tu
hành, thì sẽ xa
lìa nghị luận
của ngoại đạo,
chẳng bị nghị
luận của ngoại
đạo mê hoặc.
Tại
Ấn Ðộ, vào thời
Ðức Phật có chín
mươi sáu thứ
ngoại đạo. Vốn
là sáu thứ, tức
là sáu ông thầy,
mỗi ông thầy có
mười sáu đệ tử,
mỗi đệ tử học
được từ ông thầy
một thứ đạo, như
vậy diễn biến
thành chín mươi
sáu thứ ngoại
đạo. Vì tông chỉ
và kiến giải của
họ đều sai lệch,
chấp trước ít
phần, tà tri tà
kiến, cho nên
gọi là ngoại
đạo. Bồ Tát
nguyện cho chúng
sinh thọ được
chánh tri chánh
kiến của Phật
giáo hoá, tin
hiểu đạo lý chân
thật, mà xa lìa
ngoại đạo tà
kiến. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, luôn luôn
gần gũi các bậc
Thánh hiền có
đức hạnh, thọ
được sự đồng hoá
của các Ngài,
nhờ đó mà tăng
trưởng phẩm cách
thiện lương,
tích tụ căn
lành. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, trong tâm
thường thường
kính tin thiện
tri thức, ưa
thích tuỳ thuận
bậc trí hiền
triết, đồng ở
chung cùng hoan
hỉ.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, nghe được
danh hiệu Phật,
đều chẳng luống
qua. Tuỳ chỗ
được nghe, đều
được mắt thấy.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
khéo phân biệt
biết được chánh
giáo của chư
Phật, đều thủ hộ
thọ trì Phật
pháp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thích
nghe tất cả Phật
pháp, thọ trì
đọc tụng, khai
thị chiếu soi.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tin hiểu công
đức Phật giáo
như thật, đều xả
bỏ hết thảy,
cung kính cúng
dường.
Đó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí đủ thứ xe
cho Thanh Văn
Duyên Giác. Vì
khiến cho chúng
sinh đều được
thành tựu trí
huệ thần thông
thanh tịnh bậc
nhất. Tinh tấn
tu hành, chẳng
có giải đãi, đắc
được nhất thiết
trí lực không sợ
hãi.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
chỉ cần nghe
được danh hiệu
của Phật, thì
công đức đó đều
không luống qua.
Tuỳ theo chỗ họ
được nghe danh
hiệu Phật, thì
có thể sẽ thấy
được vị Phật đó.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, khéo phân
biệt hiểu được
chánh giáo của
chư Phật nói,
cũng thủ hộ
hoằng pháp lợi
sinh, làm hộ
pháp tốt nhất
của Phật giáo.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, luôn luôn
thích nghe tất
cả Phật pháp, mà
còn thọ nơi tâm,
trì nơi thân,
luôn chẳng nhàm
mỏi. Lại hay ưa
thích đọc tụng
Kinh điển đại
thừa, và giảng
giải cho chúng
sinh nghe, chỉ
dẫn tu tập như
thế nào, mới có
được lợi ích,
hiểu rõ diệu
dụng của trung
đạo. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, tin sâu
giáo nghĩa của
chư Phật, thấu
hiểu lý thể của
các pháp cùng
với công đức
chân thật của
chư Phật tu tập,
đem hết thảy
những gì mình
có, khó xả, đều
cung kính cúng
dường chư Phật.
Ở trên là hồi
hướng căn lành
tu tập của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí xe cho
hàng nhị thừa
Thanh Văn Duyên
Giác. Vì khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được thần thông
bậc nhất, trí
huệ bậc nhất,
thanh tịnh bậc
nhất. Luôn luôn
dũng mãnh tinh
tấn, tu hành
chẳng giải đãi,
đắc được nhất
thiết huệ và sức
không sợ hãi.
Các
vị thiện tín !
Mười nguyện ở
trong đoạn Kinh
văn nầy, Bồ Tát
đặc biệt nhấn
mạnh về lợi ích
của sự nghe
pháp. Muốn chúng
sinh thường nghe
Phật pháp, có
thể sẽ thấu hiểu
đạo lý chân thật
của chư Phật
nói, khai mở đại
trí huệ. Thường
gần gũi Tam Bảo,
cúng dường Tam
Bảo, khiến cho
thân tâm an lạc,
đắc được an ổn
không thể nghĩ
bàn, lại thường
được người đời
cung kính tin
cậy ngưỡng mộ.
Bồ Tát khổ nhọc
như thế, khuyên
chúng ta đi trên
con đường chân
chánh, khiến cho
chúng ta có
phước báo nghe
đại thừa diệu
pháp vô thượng
đệ nhất nghĩa
đế-Hoa Nghiêm
pháp lớn, đó là
nhân duyên lớn
khó gặp được. Ðó
cũng là căn lành
của các vị đã
tích tập nhiều
đời, mới có cơ
duyên khó gặp
nầy. Hy vọng các
vị ngàn vạn đừng
xem thường, đừng
cho rằng hằng
ngày nghe đều là
lời lặp đi lặp
lại, nói tới nói
lui đều là đạo
lý rất nông cạn,
trẻ con đều
biết, chúng ta
sớm cũng đều đã
hiểu. Phải đó,
các vị sớm đã
hiểu. Cổ nhân có
nói:
"Trẻ con ba tuổi
đều hiểu được
Già tám mươi
tuổi làm chưa
xong".
Bạn
đã hiểu đạo lý
trong Kinh,
nhưng bạn chẳng
có thực hành,
chẳng thiết thực
đi làm, thì cũng
giống như người
không hiểu không
biết. Tại sao
chư Phật Bồ Tát
không nhàm chán,
nói đi nói lại,
diễn nói giải
thích tỉ mỉ, đưa
ra ví dụ để
thuyết minh ? Là
vì sợ rằng chúng
sinh đời sau
khinh thường lơ
là, nghe qua rồi
thôi. Giống như
người có hai cái
chân, hằng ngày
muốn đi đây, đi
kia, nhưng họ
lại thật thà
ngồi một chỗ bất
động, thì bạn
trách cứ ai ?
Chân không nghe
lời chăng ?
Chúng ta đến
nghe Kinh, là vì
có tâm tin mới
đến, nghe hiểu
rõ đạo lý trong
Kinh điển, thì
chúng ta phải
thực hành từng
chút từng chút,
từ từ y theo lý
mà làm, học
"tinh thần hy
sinh" của Bồ Tát
xả mình vì
người, đó mới là
chân chánh minh
bạch Phật pháp,
hiểu rõ Phật
pháp, đó mới là
người chân chánh
cầu Phật đạo,
một Phật giáo đồ
thành thật muốn
học Phật pháp,
hy vọng các vị
đừng xem thường,
bỏ qua cơ duyên
trên.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát
đem các xe báu
bố thí các ruộng
phước, cho đến
khi bố thí cho
kẻ bần cùng cô
độc, tuỳ theo
chỗ họ mong cầu,
tất cả đều xả,
tâm sinh hoan
hỉ, chẳng có tâm
nhàm mỏi. Vẫn
hướng về người
đó, tự bảo họ
rằng: Đáng lẽ
tôi phải mang
đến cúng dường
cung cấp, không
nên lao nhọc các
vị từ xa đến mỏi
mệt. Nói rồi quỳ
xuống lạy, hỏi
thăm chỗ ở. Phàm
là hết thảy cần
những gì, tất cả
đều bố thí cho.
Hoặc có lúc bố
thí cho họ xe
báu ma ni, dùng
nữ báu bậc nhất
ở cõi Diêm Phù
Đề, chở đầy
trong xe. Hoặc
lại ban cho xe
trang nghiêm
bằng vàng, nữ
báu nhân gian
chở đầy trong
xe. Hoặc lại bố
thí xe lưu ly
đẹp, kĩ nữ trong
nội cung, đầy
dẫy trong xe.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp môn
hồi hướng, Ngài
lại đem các thứ
xe báu khác
nhau, bố thí cho
tất cả ruộng
phước-ruộng
phước Tăng thanh
tịnh, cùng với
những người bần
cùng, cô nhi,
độc thân. Chẳng
những Ngài bố
thí cho họ xe
báu, mà còn tuỳ
theo chỗ họ cần
dùng, thảy đều
bố thí cho họ,
tâm sinh hoan
hỉ, chẳng có
biểu hiện chút
buồn phiền không
vui nào. Ngài
đối với những
người đến cầu
xin tự trách
mình nói: "Ðáng
lẽ tôi phải mang
đồ vật đến tận
nhà cúng dàng
các vị, không
cần các vị phải
lao nhọc từ xa
mà đến, khiến
cho các vị mệt
mỏi, thật là xin
lỗi". Nói xong
bèn quỳ xuống
hướng về họ lễ
lạy, hỏi thăm
chỗ ở của họ.
Phàm là họ cần
tất cả những đồ
vật gì, thảy đều
bố thí cho họ
được toại tâm
mãn nguyện.
Các
vị ! Các vị nhìn
thấy hạnh Bồ Tát
bố thí, thật là
thành khẩn mà
còn bình đẳng,
thật là không
thể nghĩ bàn. Bồ
Tát hoặc có lúc
bố thí cho họ xe
báu ma ni, dùng
nữ báu xinh đẹp
bậc nhất trong
cõi Diêm Phù Ðề,
chở đầy trong
xe. Bồ Tát biết
trong tâm của
chúng sinh, hoan
hỉ nhất là thấy
được con gái
xinh đẹp. Vì làm
mãn tâm nguyện
chúng sinh, cho
nên trên xe chở
đầy mỹ nữ, khiến
cho chúng sinh
thấy được sinh
tâm hoan hỉ. Do
tâm hoan hỉ mà
phát tâm bồ đề,
siêng tu đạo
nghiệp, thành
tựu Phật quả.
Những mỹ nữ báu
đó, chẳng phải
là mỹ nữ thế
tục, mà đều là
Bồ Tát tu Bồ Tát
đạo, vì độ chúng
sinh mà thị hiện
làm mỹ nữ, chẳng
có dâm dục.
Khiến cho chúng
sinh thấy rồi sẽ
chẳng sinh tưởng
niệm tà, trong
tâm ngược lại
cảm thấy mát mẻ.
Có lúc hoặc bố
thí xe báu bằng
vàng thật, trên
xe cũng chở đầy
nữ báu của nhân
gian. Có lúc
hoặc bố thí xe
báu làm bằng lưu
ly, chở đầy mỹ
nữ ca hát nhảy
múa ở trong cung
vua.
Hoặc
bố thí đủ thứ xe
báu kỳ diệu, chở
đầy đồng nữ, như
Thiên thể nữ.
Hoặc bố thí xe
dùng vô số báu
trang nghiêm, nữ
báu đầy trong
xe, nhu hoà
thông minh biện
tài trí huệ.
Hoặc bố thí xe
bằng chiên đàn.
Hoặc lại bố thí
xe báu pha lê,
đều chở các nữ
báu, đầy dẫy
trong xe, dung
nhan xinh đẹp,
tướng mạo không
ai sánh bằng, y
phục trang
nghiêm, ai thấy
cũng đều vui
mừng. Hoặc lại
bố thí xe báu mã
não, trên xe chở
vương tử quán
đảnh. Hoặc có
lúc bố thí xe
hương kiên cố,
chở hết thảy nam
nữ trong đó.
Hoặc có lúc bố
thí xe trang
nghiêm tất cả
báu, chở quyến
thuộc thân thiện
khó xả.
Bồ
Tát có lúc lại
bố thí các thứ
xe rất kỳ diệu
không thể nghĩ
bàn, dùng các
thứ báu nghiêm
sức, trong xe
chở đầy đồng nữ,
mỗi đồng nữ đều
xinh đẹp giống
như thể nữ trên
trời. Hoặc lại
bố thí xe trang
nghiêm rất nhiều
thứ báu, chở đầy
nữ báu nhân
gian, mỗi nữ báu
đều rất nhu hoà
thông minh, có
biện tài lại có
trí huệ. Có lúc
lại bố thí xe
hương chiên đàn.
Hoặc có lúc bố
thí xe làm bằng
pha lê, trên xe
cũng chở đầy nữ
báu. Những nữ
báu đó tướng mạo
xinh đẹp, dung
nhan rất mỹ lệ,
sắc tướng đầy
đủ, chẳng phải
những con gái ở
nhân gian có thể
sánh bằng. Họ
đều mặc y phục
rất trang
nghiêm, những y
phục đó chẳng
phải đồ bình
thường, ai thấy
được cũng đều
sinh tâm hoan
hỉ, khởi tâm
cung kính. Hoặc
có lúc lại bố
thí xe báu làm
bằng mã não,
trên xe chở thái
tử đã làm lễ
quán đảnh, tức
là người sẽ kế
thừa ngôi vua.
Hoặc có lúc bố
thí xe hương rất
kiên cố, trong
xe chở đầy hết
thảy nam nữ.
Hoặc bố thí xe
dùng tất cả châu
báu trang
nghiêm, trong xe
chở đầy vợ đẹp
con xinh không
xả bỏ đặng,
quyến thuộc khó
xả bỏ, lục thân
thân thiết nhất,
bạn bè mật thiết
nhất.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát
đem vô lượng các
xe báu như vậy,
tuỳ theo chỗ họ
mong cầu, cung
kính bố thí cho,
đều khiến cho họ
toại nguyện,
hoan hỉ đầy đủ.
Đem căn lành đó
hồi hướng như
vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe rộng lớn
vô ngại không
thối chuyển,
thẳng đến dưới
cội bồ đề không
thể nghĩ bàn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe nhân
thanh tịnh pháp
trí lớn, suốt
thuở kiếp vị
lai, tu hạnh Bồ
Tát, vĩnh viễn
chẳng thối
chuyển.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe tất cả
pháp không chỗ
có, vĩnh viễn
lìa khỏi tất cả
phân biệt chấp
trước, thường tu
tập đạo nhất
thiết trí.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe chân
chánh không xiểm
nịnh dối trá,
đến cõi nước chư
Phật, tự tại vô
ngại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tuỳ thuận an trụ
nơi xe nhất
thiết trí, dùng
các Phật pháp,
cùng nhau vui
thích.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều ngồi xe Bồ
Tát hạnh thanh
tịnh, đầy đủ
mười đạo xuất ly
và ưa thích tam
muội của Bồ Tát.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát đem vô số xe
báu như vậy, tuỳ
thuận ý của
những người mong
cầu, hoà nhan
duyệt sắc rất lễ
phép, bố thí cho
họ, khiến cho họ
đắc được xe báu,
ai nấy đều toại
tâm mãn nguyện,
đầy dẫy tâm hoan
hỉ. Ngài đem
công đức căn
lành bố thí đó,
hồi hướng cho
tất cả chúng
sinh. Ngài nói:
Tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều có thể
ngồi xe bất thối
chuyển, xe chẳng
có bất cứ chướng
ngại gì, xe rộng
lớn, đến được
dưới cội bồ đề
không thể nghĩ
bàn, đi gần gũi
cúng dường chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
nhân thanh tịnh
chẳng có ô
nhiễm, xe trí
huệ pháp môn đại
thừa, suốt thuở
kiếp vị lai,
siêng tu hạnh Bồ
Tát, rộng độ
chúng sinh, vĩnh
viễn chẳng lùi
về nhị thừa. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe tất cả
chánh pháp, chỉ
có một thừa,
vĩnh viễn lìa
khỏi tâm phân
biệt và chấp
trước, thường tu
đạo nhất thiết
trí. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
chân chánh chẳng
có xiểm nịnh dối
trá, đến cõi
nước chư Phật
trong mười
phương, đều
chẳng có chướng
ngại. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, tuỳ thuận
an trụ nơi xe
nhất thiết trí
huệ, dùng pháp
của chư Phật
nói, làm niềm an
lạc cho thân
tâm. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều có thể
tu phạm hạnh
thanh tịnh của
Bồ Tát tu, đầy
đủ mười thứ Phật
đạo thoát khỏi
ba cõi, và chứng
được an vui tam
muội của Bồ Tát.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
bốn bánh. Đó là:
Ở cõi nước tốt,
y chỉ người
thiện, tu tập
phước đức thù
thắng, phát thệ
nguyện lớn. Dùng
bốn điều đó để
thành tựu viên
mãn tất cả phạm
hạnh thanh tịnh
của Bồ Tát.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được xe
pháp quang minh
chiếu khắp mười
phương, tu học
tất cả trí lực
của Như Lai.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
Phật pháp, đến
tất cả pháp rốt
ráo bờ bên kia.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
pháp chở các
phước thiện khó
nghĩ bàn, chỉ
bày chánh đạo an
ổn khắp mười
phương.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
đại bố thí, xả
bỏ lòng bỏn xẻn
dơ bẩn.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
giới thanh tịnh,
giữ tịnh giới
đồng với pháp
giới chẳng có bờ
mé.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
nhẫn nhục,
thường ở nơi
chúng sinh, lìa
tâm sân hận ô
trược.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
đại tinh tấn
chẳng thối
chuyển, kiên trì
tu thắng hạnh,
hướng về đạo bồ
đề.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
thiền định, sớm
đến đạo tràng,
chứng trí bồ đề.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe bốn
bánh. Bốn bánh
nầy, đại biểu
cho bốn hàm ý:
1. Ở cõi nước
tốt nhất.
2. Y chỉ người
thiện, làm thầy
làm bạn với
người lương
thiện có đức.
3. Tích tập
phước đức thù
thắng.
4. Phát thệ
nguyện lớn độ
khắp chúng sinh.
Y theo xe bốn
bánh đó, thì sẽ
thành tựu viên
mãn tất cả phạm
hạnh thanh tịnh
của Bồ Tát tu.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được chân
đế Phật pháp đại
thừa, được đại
trí huệ vô
thượng, quang
minh trí huệ
chiếu khắp mười
phương, để tu
tập trí huệ và
mười lực của
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều ngồi
xe Phật pháp đại
thừa, đắc được
chân lý rốt ráo
của tất cả Phật
pháp, mà lên bờ
Niết Bàn bên
kia. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
pháp chuyên chở
tất cả phước
đức, và xe tất
cả nghiệp thiện,
xe pháp thù
thắng không thể
dùng tư tưởng độ
lượng đó, chỉ
bày khắp tất cả
chúng sinh trong
mười phương, đều
đắc được chánh
đạo an ổn. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe bố thí
lớn, quét trừ
sạch hết tâm
tham lam bỏn sẻn
dơ bẩn bất tịnh.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, ngồi xe
giới hạnh thanh
tịnh, hay giữ
gìn tịnh giới
như đồng pháp
giới, chẳng có
bờ mé, thành tựu
giới đức kim
cang thượng
phẩm. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
nhẫn nhục,
thường đối với
chúng sinh thân
thiết từ ái, xa
lìa tâm sân hận
ô trược. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe đại tinh
tấn, bất cứ lúc
nào cũng đều
không sinh tâm
thối chuyển, chí
nguyện kiên cố
tu học tất cả
hạnh môn thù
thắng, dũng mãnh
hướng về bồ đề
giác đạo. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe thiền
định, mau chóng
đến được bồ đề
đạo tràng, chứng
được trí huệ bồ
đề giác đạo.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
trí huệ phương
tiện khéo léo,
hoá thân cảnh
giới của chư
Phật đầy dẫy tất
cả pháp giới.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
pháp vương,
thành tựu không
sợ hãi, luôn bố
thí khắp tất cả
trí pháp.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
trí huệ không
chấp trước, đều
vào được khắp
tất cả mười
phương. Nơi chân
pháp tánh mà
không lay động.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
tất cả pháp của
chư Phật, thị
hiện thọ sinh,
khắp mười phương
cõi nước, mà
chẳng mất huỷ
hoại đạo đại
thừa.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
báu nhất thiết
trí tối thượng,
đầy đủ hạnh
nguyện Bồ Tát
Phổ Hiền, mà
chẳng nhàm mỏi.
Đó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, đem các xe
báu bố thí các
ruộng phước, cho
đến những người
bần cùng cô độc.
Vì khiến cho
chúng sinh đầy
đủ vô lượng trí
huệ, hoan hỉ hớn
hở. Rốt ráo đều
được xe nhất
thiết trí.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe trí huệ,
xe đó phương
tiện khéo léo
thao túng tự
như, lại dùng
trăm ngàn ức hoá
thân, luôn luôn
đầy dẫy tận hư
không khắp pháp
giới, đắc được
cảnh giới của
chư Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe vua của
vạn pháp, thành
tựu trí huệ
không sợ hãi,
luôn luôn bố thí
khắp cho tất cả
chúng sinh pháp
nhất thiết trí.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, ngồi xe
không chấp
trước, mà lại có
xe trí huệ, nơi
mười phương thế
giới tuỳ tâm
theo ý muốn đều
vào được, đối
với pháp tánh lý
thể chân thật,
thông đạt vô
ngại, tin sâu
không hoài nghi,
chẳng bị nghị
luận bên ngoài
làm giao động,
cũng quyết không
làm việc điên
đảo. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi xe
pháp của chư
Phật, đến mười
phương pháp
giới, khắp thị
hiện sinh diệt,
mà chẳng thối
thất tâm bồ đề
đại thừa. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe báu nhất
thiết trí tối
cao vô thượng,
siêng tu mười
đại nguyện vương
của Bồ Tát Phổ
Hiền, viên mãn
đại nguyện vương
đó mà trọn không
có tâm nhàm mỏi.
Ðại Bồ Tát tu
pháp hồi hướng,
Ngài đem vô số
xe báu bố thí
khắp, làm ruộng
phước tốt cho
chúng sinh, cho
đến bình đẳng bố
thí cho những
người bần cùng
nhất, những
người cô độc
nhất, hết thảy
căn lành tu tập,
thảy đều hồi
hướng cho chúng
sinh. Mục đích
của Ngài là vì
khiến cho chúng
sinh được đầy đủ
vô lượng trí
huệ, thân tâm
hớn hở, đắc được
xe nhất thiết
trí huệ.
Phật
tử ! Đại Bồ Tát
bố thí voi báu,
tính tình của
voi điều thuận,
thất chi đầy đủ,
tuổi tác thạnh
vượng cường
tráng, sáu ngà
thanh tịnh.
Miệng màu hồng
đỏ, giống như
hoa sen. Hình
thể tươi trắng,
ví như núi
tuyết. Nghiêm
sức tràng bằng
vàng, lưới la
báu che phủ, đủ
thứ báu đẹp
trang nghiêm cái
vòi, ai thấy
được đều hân
hoan đùa giỡn,
chẳng có nhàm
đủ. Đi bộ vạn
dặm, chưa từng
mệt mỏi.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài lại
thị hiện bố thí
voi báu cho
chúng sinh. Con
voi đó tính tình
rất điều hoà nhu
thuận, là công
cụ giao thông
tốt nhất. Thất
chi của nó: Mắt,
tai, mũi, họng,
như vậy đều rất
toàn mỹ. Tuổi
tác của nó cũng
đang trong thời
kỳ thạnh vượng
cường tráng. Sáu
ngà của nó đồng
đều, mà còn rất
thanh tịnh trắng
muốt. Miệng của
nó màu hồng đỏ,
giống như đoá
hoa sen lớn nở.
Thân hình của nó
tráng kiện giống
như núi tuyết
nhỏ, lông tươi
trắng giống như
tuyết trắng. Ðầu
của nó trang sức
tràng bằng vàng,
trên lưng phủ
tấm lưới la châu
báu. Trên vòi
voi dùng đủ thứ
trân bảo nghiêm
sức rất trang
nghiêm mỹ lệ.
Khi đi trên
đường khiến cho
những người thấy
được nó, đều hân
hoan khen ngợi
hết lời, nhìn
không biết chán.
Tuy nhiên nó đi
hàng vạn dặm,
nhưng cũng không
biết mệt.
Hoặc
lại bố thí ngựa
báu tốt giỏi,
các tướng đầy
đủ, giống như
ngựa trời. Dùng
ánh sáng bánh xe
báu đẹp hình mặt
trăng nghiêm
sức. Lưới linh
bằng vàng thật
giăng che phía
trên. Đi đứng êm
đềm, người cỡi
được an ổn. Tuỳ
ý chỗ muốn đến,
đi nhanh như
gió. Du hành
khắp bốn châu,
tự tại vô ngại.
Bồ Tát đem voi
báu ngựa báu đó,
hoặc phụng dưỡng
cha mẹ và thiện
tri thức. Hoặc
bố thí cho chúng
sinh nghèo thiếu
khổ não. Tâm của
Bồ Tát vẫn
khoáng đạt tự
nhiên, chẳng
sinh tâm hối
tiếc tham sẻn,
nhưng lại tăng
thêm vui mừng.
Lợi ích tăng
thêm từ bi
thương xót. Tu
Bồ Tát đức, tịnh
bồ đề tâm.
Đem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trụ xe điều
thuận, tăng
trưởng tất cả
công đức của Bồ
Tát. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được xe
khéo léo, có thể
tuỳ ý sinh ra
tất cả Phật
pháp. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được xe
tin hiểu, chiếu
khắp trí lực vô
ngại của Như
Lai. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được xe
phát thú, khắp
phát hưng tất cả
nguyện lớn.
Bồ
Tát hoặc lại bố
thí cho tất cả
chúng sinh ngựa
báu đã được điều
phục huấn luyện
thành công. Ngựa
báu đó cũng đồng
như voi báu,
cũng đầy đủ các
tướng, giống như
ngựa trời. Dùng
ánh sáng bánh xe
báu đẹp hình mặt
trăng nghiêm
sức, dùng vàng
thật làm lưới la
che phủ ở phía
trên lưng, linh
báu làm bằng
vàng thật treo ở
trán của nó.
Ðiều gọi là ngựa
báu, chẳng phải
nó có sức chạy
nhanh, mà là nói
nó đức tánh
giống như người
thiện, cho nên
khi nó chạy đi,
nhanh chậm đều
êm đềm, khiến
cho người cỡi nó
có cảm giác được
an toàn thoải
mái, mà nó còn
khéo hiểu được ý
niệm của chủ
nhân, tuỳ tiện
chủ nhân muốn
đến đâu, nó liền
thể hội được,
chạy nhanh như
gió. Nếu muốn du
hành bốn châu
thiên hạ (Ðông
Thắng Thần Châu,
Nam Thiệm Bộ
Châu, Tây Ngưu
Hoá Châu, Bắc
Câu Lư Châu),
thì nó nhất định
khiến cho bạn
được an nhiên
tự, chẳng có tơ
hào trở ngại
nào. Ngựa tốt
nầy, đức tính
của nó cao siêu,
nó quyết không
đãi hai chủ, cổ
nhân có nói:
"Hảo mã bất phối
nhị an".
Nó
hay dũng mãnh
cứu chủ, trải
qua các thời đại
lịch sử đã nói
về việc trung
nghĩa của ngựa
giỏi. Bồ Tát có
voi báu, ngựa
hay, hiếm có
trên đời như
vậy, Ngài cũng
chẳng dùng hưởng
thụ riêng mình,
mà là đem phụng
dưỡng cha mẹ,
làm công cụ đi
lại cho cha mẹ,
để cho cha me đi
lại phương tiện
mà còn an toàn
tự tại. Hoặc
hiến dâng cho sư
trưởng, thiện
tri thức. Hoặc
bố thí cho những
người nghèo khổ
thiếu thốn bệnh
tật suy nhược
khổ não, khiến
cho họ đi lại
phương tiện, an
ổn tự tại. Tâm
của Bồ Tát từ bi
khoáng đạt, phàm
là vật chất bố
thí cho người,
Ngài chưa từng
sinh tâm hối
tiếc, tính toán,
tham sẻn, chỉ có
tăng trưởng thêm
tâm hoan hỉ, mà
còn vui mừng
mình có tài năng
bố thí, có cơ
hội bố thí.
Trong xã hội có
nhiều người có
tiền tài sức
lực, nhưng họ
chẳng bố thí
được, kêu họ đem
một xu để làm
lợi ích thiên
hạ, họ đều chẳng
làm được. Có
người muốn hành
bố thí, lại
chẳng biết bố
thí ở đâu, tìm
đối tượng tiếp
nhận bố thí tìm
chẳng được. Cho
nên Bồ Tát vui
mừng Ngài bố thí
ba thứ đều
không-tiền tài,
vật chất, người
nhận, chẳng chấp
về công đức. Bồ
Tát một mặt vui
mừng về có cơ
hội bố thí, đồng
thời Ngài đối
với chúng sinh,
sinh tâm từ bi
thương xót, quán
sát khổ nạn của
chúng sinh, thật
là trùng trùng
vô tận. Bồ Tát
tế độ chúng
sinh, giáo hoá
chúng sinh, đó
đều là đang tu
Bồ Tát đạo, tích
tụ công đức,
dùng đức tính
thanh tịnh tu
được, tài bồi
tâm Bồ Tát,
khiến cho thanh
tịnh không dơ
bẩn. Bồ Tát đem
căn lành công
đức bố thí voi
báu ngựa báu,
hồi hướng cho
tất cả chúng
sinh, Ngài phát
nguyện rằng: Tôi
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường trụ nơi
xe điều thuận,
ngày ngày tăng
trưởng công đức
như Bồ Tát tu.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được xe
pháp môn phương
tiện khéo léo,
có thể tuỳ ý
sinh ra pháp của
chư Phật nói.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
xe tin sâu Phật
pháp, lại có thể
minh bạch các
pháp thật tướng,
khắp chiếu soi
trí huệ vô ngại
của chư Phật và
mười lực của
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
xe thú phát, có
thể khắp phát
hưng tất cả
nguyện lớn. Tức
là nguyện lớn
lợi ích chúng
sinh, phát đến
sáu cõi bốn loài
sinh, đi độ
chúng sinh.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đầy đủ
bình đẳng xe Ba
La Mật, thành
tựu viên mãn tất
cả căn lành bình
đẳng.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thành tựu
xe báu, sinh ra
các Phật pháp vô
thượng trí bảo.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thành tựu
xe Bồ Tát hạnh
trang nghiêm, nở
các hoa tam muội
của Bồ Tát.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được xe
nhanh chóng vô
biên, nơi vô số
kiếp, tịnh bồ đề
tâm, tinh tấn
suy gẫm, thấu
đạt các pháp.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thành tựu
xe lớn tối thắng
điều thuận, dùng
phương tiện khéo
léo, đủ bậc Bồ
Tát.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thành tựu
xe lớn cao rộng
kiên cố nhất,
chuyên chở khắp
tất cả chúng
sinh, đều đến
được bậc nhất
thiết trí.
Đó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài bố
thí voi ngựa. Vì
khiến cho chúng
sinh đều được
ngồi xe trí vô
ngại. Viên mãn
rốt ráo đến Phật
thừa.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đầy đủ bình đẳng
mỗi xe Ba La
Mật-sáu Ba La
Mật, đến bờ bên
kia, thành tựu
viên mãn đầy đủ
tất cả căn lành
bình đẳng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu xe
báu, sinh ra các
Phật pháp bảo
nhất thiết trí
tối cao vô
thượng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu xe đại
thừa Bồ Tát hạnh
trang nghiêm, nở
ra đủ thứ hoa
chánh định của
Bồ Tát tu. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được xe
nhanh chóng vô
biên, ở trong vô
lượng kiếp thanh
tịnh tâm Bồ Tát.
Do đó có thể
chứng minh công
phu thanh tịnh
tâm ý, chẳng
phải là trong
thời gian ngắn
mà làm được, Bồ
Tát đều phải
trải qua vô
lượng kiếp mới
làm cho tâm
thanh tịnh. E
rằng chúng sinh
tu hành, chẳng
dễ gì làm cho
vọng tưởng ngưng
bặc. Tinh tấn
suy gẫm: Là phải
ở chỗ tinh vi
nhất, dùng tâm
suy tư, mới thấu
hiểu chân thật
lý thể của các
pháp. Giả sử
không thể tinh
tế suy gẫm, thì
không thể nào
minh bạch các
pháp được, cũng
không thể viên
mãn bồ đề, cho
nên Bồ Tát hy
vọng chúng sinh
đều tinh cần suy
gẫm, mới mong
cầu thấu đạt
được các pháp.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
xe lớn thù thắng
nhất, điều thuận
nhất, dùng
phương pháp
phương tiện khéo
léo, điều thuận
tất cả chúng
sinh, khiến cho
họ đều vào được
pháp môn đại
thừa, đầy đủ
công đức của bậc
Bồ Tát. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi xe lớn cao
nhất, rộng rãi
nhất, kiên cố
nhất, khắp
chuyên chở tất
cả chúng sinh,
khiến cho họ đều
đạt được đủ bậc
nhất thiết
trí-thành quả vị
Phật. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí
voi báu ngựa
báu. Mục đích là
vì khiến cho tất
cả chúng sinh,
đều được ngồi xe
trí huệ không
chướng ngại,
viên mãn sáu độ
vạn hạnh, rốt
ráo đến bờ Niết
Bàn quả vị Phật
thừa.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí toà.
Hoặc bố thí toà
sư tử, toà đó
cao rộng, tốt
đẹp thù thắng
đặc biệt. Dùng
lưu ly làm chân,
vàng sợi làm
thành. Y phục
mềm mại giăng
bày ở trên. Dựng
các tràng báu,
xông các hương
quý. Có vô lượng
đồ tạp báu trang
nghiêm, dùng làm
nghiêm sức. Lưới
vàng che phủ
phía trên.
Chuông báu gió
thổi vang ra âm
thanh vi diệu.
Dùng vạn cách
nghiêm sức khắp
chung quanh các
báu trân kỳ. Tất
cả thần dân cùng
nhau chiêm
ngưỡng. Lễ quán
đảnh đại vương,
chỉ mình vua
ngồi trên toà,
tuyên bố pháp
hoá, vạn bang
đều tôn phụng.
Vua đó lại dùng
báu đẹp trang
nghiêm thân
mình. Đó là: Báu
phổ quang minh.
Báu đế thanh.
Báu đại đế
thanh. Báu thắng
tạng ma ni, phát
ra ánh sáng
thanh tịnh như
mặt trời, mát mẻ
như mặt trăng,
bày bố khắp
chung quanh. Ví
như các vì sao,
thượng diệu
trang nghiêm,
bậc nhất không
ai bằng. Hải
châu diệu báu,
hải kiên cố
tràng báu, kỳ
văn dị biểu, đủ
thứ trang nghiêm
ở trong đại
chúng. Tôn quý
nhất, thù thắng
nhất. Lụa báu
vàng Diêm Phù Đề
lìa cấu, dùng
làm mão đội đầu.
An hưởng ngôi
quán đảnh rồi,
trở thành vua
cõi Diêm Phù Đề.
Đầy đủ vô lượng
sức oai đức lớn.
Lấy từ bi làm
chủ, hàng phục
các oán địch, ra
lệnh thi hành,
chẳng có ai mà
không thuận.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát bố thí
toà báu, thì
Ngài hoặc đem
toà báu sư tử
của mình ngồi,
bố thí cho chúng
sinh. Toà báu đó
rất cao lớn, rất
rộng rãi, rất
thù thắng, đặc
biệt tốt đẹp.
Dùng lưu ly làm
chân ghế, dùng
vàng sợi kết
thành, đệm toà
rất mềm mại, có
y phục bày trên
toà. Phía trên
toà báu, dựng
tràng báu, và
còn xông lên
hương thơm quý.
Lại dùng rất
nhiều các thứ
châu báu, làm
thành đủ thứ vật
nghiêm sức, dùng
để trang nghiêm
toà báu. Sợi
vàng thật kết
thành lưới giăng
che phía trên,
bốn phía treo
các chuông báu,
khi gió thổi
rung động vang
ra âm thanh vi
diệu. Có hàng
vạn trân báu kỳ
lạ, nghiêm sức
la liệt khắp bốn
phía trên dưới
toà. Tất cả thần
dân đều đến
chiêm ngưỡng toà
báu đó. Ông vua
sau khi thọ lễ
quán đảnh rồi,
ông ta một mình
ngồi trên toà
báu sư tử. Khi
ông vua ngồi
trên toà báu,
tuyên cáo tất cả
mệnh lệnh giáo
hoá chúng sinh,
ngoài nhân dân
cõi nước của
mình, hoan hô
phụng hành, hết
thảy cõi nước
lớn nhỏ, xa gần,
đều thuận theo
mạng lệnh của
ông vua. Vị vua
quán đảnh đó,
lại dùng đủ thứ
báu đẹp trân kỳ
để trang nghiêm
thân của ông ta,
làm tăng thêm
oai đức của ông
ta. Báu đẹp mà
ông ta dùng là:
Báu phổ quang
minh, báu đế
thanh, báu đại
đế thanh, báu
thắng tạng ma
ni. Những quang
minh của các thứ
báu đó, sáng
thanh tịnh như
ánh sáng của mặt
trời, phát ra
một thứ khí mát
mẻ, giống như
trăng rằm. Bốn
phía nghiêm sức
la liệt các châu
báu, ánh sáng
toả ra sáng lạn
giống như các vì
sao đêm khuya.
Sự trang nghiêm
tốt đẹp nhất,
tối thượng nhất
đó, trong nhân
gian, trên trời,
có thể gọi là
bậc nhất, chẳng
có gì có thể
sánh bằng. Trong
biển lại có báu
đẹp rất thù
thắng đặc biệt,
tràng báu hải
kiên cố, phía
trên ngọc đó,
thiên nhiên sinh
ra những tia
văn, bên ngoài
cũng rất đặc
biệt. Ðủ thứ sự
trang nghiêm khó
hình dung hết
được, ở trong
đại chúng, phải
gọi là tôn quý
nhất, thù thắng
nhất. Lại dùng
vàng Diêm Phù
Ðàn và lụa báu
thanh tịnh nhất,
chẳng có chút
nhiễm ô nào, tạo
thành cái mão để
vua đội. Ông vua
an hưởng địa vị
quán đảnh, làm
ông vua lớn cõi
Diêm Phù Ðề, ông
ta đầy đủ vô
lượng sức oai
đức lớn. Song,
chẳng phải ông
ta dùng oai võ
để chinh phục
người, mà là
dùng từ bi làm
chủ, giáo hoá
chúng sinh đều
phụng hành năm
giới mười điều
lành. Ông ta thi
hành nhân chánh
như thế, hàng
phục những oán
địch chưa từng
thọ mạng, khiến
cho họ thọ đức
hoá, tâm vui vẻ
thành phục làm
dân lành của ông
ta. Sự giáo hoá
và mạng lệnh của
ông ta đến đâu
mọi người thảy
đều thuận theo.
Bấy
giờ, vua Chuyển
Luân Vương, dùng
trăm ngàn vạn ức
vô lượng vô số
toà trang nghiêm
như vậy, bố thí
cho Như Lai
ruộng phước bậc
nhất, và các Bồ
Tát, chân thiện
tri thức, hiền
Thánh Tăng Bảo,
pháp sư thuyết
pháp, cha mẹ tôn
thân, Thanh Văn
Ðộc Giác, và
những người phát
tâm hướng về Bồ
Tát thừa, hoặc
tháp của Như
Lai, cho đến tất
cả những kẻ bần
cùng cô nhi, tuỳ
theo chỗ họ cần,
thảy đều bố thí
cho.
Lúc
bấy giờ, vua
Chuyển Luân
Thánh Vương -
Kinh văn ở trước
đã từng nói Bồ
Tát thị hiện ông
vua nước lớn,
che khắp mười
phương. Ông vua
nước lớn đó,
dùng nhân đức
thống trị bốn
phương, giáo hoá
chúng sinh, tức
là vua Chuyển
Luân Thánh
Vương. Bấy giờ
ông ta dùng trăm
ngàn vạn ức vô
lượng số toà báu
trang nghiêm, bố
thí cúng dường
cho Như Lai, để
cầu ruộng phước
bậc nhất. Cũng
bố thí cho các
vị Bồ Tát, cùng
với chân thật
minh nhãn thiện
tri thức hiền
Thánh Tăng Bảo,
các pháp sư
hoằng pháp lợi
sinh, diễn nói
Phật pháp, cha
mẹ của mình, tôn
thân trong dòng
dõi, các bậc
Thánh Thanh Văn
và Ðộc Giác,
cùng với tứ
chúng đệ tử phát
tâm bồ đề tu đạo
Bồ Tát đại thừa.
Hoặc bố thí cúng
dường tháp miếu
thờ xá lợi của
Phật, cho đến
những kẻ bần
cùng, cô nhi,
già trẻ, đáng
thương, bất luận
là sang hèn, Bồ
Tát thảy đều
bình đẳng bố
thí, tuỳ theo
chỗ họ cần,
khiến cho họ mãn
tâm nguyện, mà
sinh tâm đại
hoan hỉ.
Ðem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ngồi toà bồ đề,
đều được giác
ngộ chánh pháp
của chư Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
ngồi toà tự tại,
đắc được pháp tự
tại. Các núi kim
cang không thể
hoại được, đều
hàng phục được
tất cả ma quân.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà sư
tử tự tại của
Phật, chỗ chiêm
ngưỡng của tất
cả chúng sinh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà báu
trang nghiêm, có
bất khả thuyết
bất khả thuyết
đủ thứ thù thắng
vi diệu. Nơi
pháp tự tại,
giáo hoá dẫn dắt
chúng sinh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà ba
thứ thù thắng
nhất thế gian,
do căn lành rộng
lớn nghiêm sức.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà
khắp cùng bất
khả thuyết bất
khả thuyết thế
giới, trong A
tăng kỳ kiếp
khen ngợi cũng
không hết được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà
phước đức rộng
lớn thâm mật,
thân hình sung
mãn tất cả pháp
giới.
Bồ
Tát đem căn lành
bố thí toà báu,
đối với tất cả
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Ngài nói tôi
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều được ngồi
trên toà kim
cang dưới cội bồ
đề, giống như
Phật dùng một
thừa pháp khai
ngộ chúng sinh,
tỏ ngộ chánh
pháp của chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đến bồ
đề ngồi trên toà
báu, đắc được tự
tại thọ dụng của
các pháp, kiên
cố như núi kim
cang, tất cả đều
không thể lay
động được tín
niệm của họ, và
huỷ diệt hàng
phục được tất cả
dị luận ma quân
của thiên ma
ngoại đạo. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà báu
sư tử tự tại của
Phật, hết thảy
chúng sinh đều
vui mừng đến
nhìn toà báu đó.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
toà báu thù đặc
trang nghiêm,
chỗ tốt đẹp của
nó không thể nào
dùng văn tự lời
lẽ để hình dung
được, đối với
các pháp thông
đạt vô ngại,
dùng để giáo hoá
chúng sinh, dẫn
dắt chúng sinh,
tuỳ thời tuỳ lúc
đều nhậm vận tự
như, viên dung
tự tại. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà báu
ba thứ thù thắng
nhất trên thế
gian:
1. Chánh Giác
thế gian.
2. Hữu tình thế
gian.
3. Khí thế gian.
Thứ toà báu đó
dùng căn lành
rộng lớn để
trang nghiêm.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
toà báu lớn bất
khả thuyết, cho
nên dù có khen
ngợi những ưu
điểm của nó,
trải qua A tăng
kỳ kiếp, cũng
nói không hết
được. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
toà báu phước
đức vô lượng
rộng lớn như hư
không, thâm mật
như biển cả,
pháp thân sung
mãn tất cả pháp
giới.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà báu
đủ thứ không thể
nghĩ bàn, tuỳ
theo nguyện xưa
chỗ niệm của
chúng sinh, rộng
mở pháp thí.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà tốt
lành, hiện thần
thông của chư
Phật bất khả
thuyết. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
tất cả toà báu.
Tất cả toà
hương. Tất cả
toà hoa. Tất cả
toà y phục. Tất
cả toà man. Tất
cả toà ma ni.
Tất cả toà báu
đủ thứ lưu ly
thảy đều không
thể nghĩ bàn. Vô
lượng bất khả
thuyết toà thế
giới. Tất cả toà
thanh tịnh trang
nghiêm thế gian.
Tất cả toà kim
cang, thị hiện
oai đức tự tại
của Như Lai,
thành tối Chánh
Giác. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
toà báu, vì
khiến cho chúng
sinh đắc được
toà đại bồ đề
lìa thế gian, tự
nhiên giác ngộ
tất cả Phật
pháp.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được toà báu
đủ thứ không thể
nghĩ bàn, tuỳ
theo thuở xưa họ
đã phát tâm
nguyện, và họ
nhớ ý niệm của
chúng sinh, khắp
rộng mở pháp
hội, thuyết pháp
cho chúng sinh,
tác pháp bố thí.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
toà báu tốt đẹp,
khi ngồi trên
toà báu đó, thì
có thể thị hiện
đủ thứ đại thần
thông giống như
chư Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được tất cả
toà báu, đắc
được tất cả toà
hương, đắc được
tất cả toà hoa,
đắc được tất cả
toà y phục, đắc
được tất cả toà
man, đắc được
tất cả toà báu
ma ni, đắc được
tất cả toà báu
làm bằng lưu ly
tinh xảo không
thể nghĩ bàn,
toà báu vô lượng
số thế giới bất
khả thuyết, tất
cả toà báu thanh
tịnh nhất, trang
nghiêm nhất
trong thế gian,
tất cả toà báu
làm bằng kim
cang, cho nên
thị hiện đại oai
đức, đại tự tại,
đại thần thông
của Như Lai, có
thể thành tựu vô
thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Ðó là tu pháp
môn hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, đem căn
lành công đức
của Ngài tu bố
thí đủ thứ toà
báu hồi hướng
cho chúng sinh.
Là vì hy vọng
chúng sinh đắc
được lợi ích, có
thể đắc được toà
báu đại bồ đề
lìa khỏi thế
gian, tự nhiên
giác ngộ Phật
pháp của mười
phương chư Phật
nói, rốt ráo tỏ
ngộ chân đế của
tất cả Phật
pháp. Ðó gọi là
thành tựu huệ
thân, chẳng do
người khác mà
ngộ.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
bố thí các lọng
báu, lọng đó thù
đặc, tôn quý,
dùng đủ thứ báu
lớn để trang
nghiêm. Trong
lọng báu có trăm
ngàn ức Na do
tha thứ thượng
diệu tốt bậc
nhất. Các thứ
báu làm cáng,
lưới đẹp phủ
phía trên, chung
quanh giăng treo
dây báu và linh
bằng vàng, chuỗi
ma ni giăng bày
thứ lớp. Gió nhẹ
thổi lay động,
vang ra tiếng vi
diệu hài hoà với
nhau. Châu ngọc
tạng báu đủ thứ
đầy dẫy, vô
lượng đồ trân
quý, đều dùng
nghiêm sức.
Chiên đàn trầm
thuỷ, hương thơm
xông khắp nơi.
Vàng Diêm Phù
Đàn quang minh
thanh tịnh. Như
vậy vô lượng
trăm ngàn ức Na
do tha A tăng kỳ
các báu vật tốt
đẹp, đầy đủ
trang nghiêm.
Dùng tâm thanh
tịnh, dâng cúng
Ðức Phật, và hết
thảy chùa tháp
sau khi Phật
diệt độ. Hoặc vì
pháp mà bố thí
cho các Bồ Tát
và bậc thiện tri
thức, pháp sư
nổi tiếng. Hoặc
bố thí cho cha
mẹ. Hoặc bố thí
cho Tăng Bảo.
Hoặc lại bố thí
cho cho tất cả
Phật pháp. Hoặc
bố thí đủ thứ
ruộng phước
chúng sinh. Hoặc
bố thí cho sư
Tăng và các bậc
tôn túc. Hoặc bố
thí cho Bồ Tát
mới phát tâm,
cho đến tất cả
những kẻ bần
cùng, cô nhi,
tuỳ theo chỗ họ
mong cầu, thảy
đều bố thí cho.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài lại bố
thí đủ thứ lọng
báu. Lọng đó rất
đặc biệt thù
thắng, cũng rất
tôn quý, vì dùng
đủ thứ báu trang
nghiêm. Trong
trăm ngàn ức Na
do tha lọng báu,
thì những lọng
nầy cũng được
tôn là bậc nhất.
Cán lọng chẳng
phải làm bằng
gỗ, mà là dùng
các thứ báu hợp
thành. Phía trên
có lưới báu
giăng che, bốn
phía có dây báu
và linh bằng
vàng, ma ni làm
chuỗi giăng treo
có thứ lớp, khi
gió nhẹ thổi thì
vang ra tiếng vi
diệu, rất hài
hoà êm tai. Chân
châu ngọc ngà và
các thứ tạng báu
khác, đầy dẫy ở
phía trên lọng,
còn có vô lượng
các báu lạ trân
kỳ, dùng để
nghiêm sức lọng
báu. Lại dùng
hương chiên đàn
trầm thuỷ danh
quý nhất để xông
khắp lọng báu.
Vàng diêm phù đề
vừa phóng ra
quang minh vừa
thanh tịnh, bên
ngoài lọng báu
hiển lộ rất tôn
quý. Giống như
tụ tập vô lượng
trăm ngàn trăm
ngàn ức Na do
tha A tăng kỳ
báu vật, đầy đủ
các màu trang
sức nhất, ở trên
lọng báu đó. Bồ
Tát dùng tâm
thành thanh tịnh
nhất không có tơ
hào tạp niệm,
đem lọng báu đó,
dâng cúng lên
đức Phật, và
chùa tháp xá lợi
sau khi Phật vào
Niết Bàn. Hoặc
vì cầu pháp mà
bố thí lọng báu
đó cho các Bồ
Tát, minh nhãn
thiện tri thức,
cao Tăng có đức
hạnh đồn khắp,
làm thầy sư biểu
của trời người.
Hoặc đem lọng
báu đó bố thí
cho cha mẹ. Hoặc
bố thí cho Thánh
hiền Tăng. Hoặc
bố thí cho tất
cả Phật pháp.
Hoặc bố thí cho
tất cả chúng
sinh, gieo trồng
ruộng phước nơi
chúng sinh. Hoặc
bố thí cho thầy
thế độ của mình,
cao Tăng đại đức
trong Phật môn,
và những bậc tôn
túc tiền bối
trưởng lão. Hoặc
bố thí cho Bồ
Tát mới phát tâm
bồ đề, cho đến
tất cả những
người nghèo khổ
cô nhi. Tuỳ theo
từng loại người
đến cầu xin lọng
báu đó, Bồ Tát
tơ hào không xẻn
tiếc, tuỳ tâm
mãn nguyện bố
thí cho họ.
Ðem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
siêng tu căn
lành, dùng che
thân mình,
thường được chư
Phật che chở.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
dùng công đức
trí huệ làm lọng
che, vĩnh viễn
lìa khỏi tất cả
phiền não thế
gian. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, dùng pháp
lành che chở,
trừ diệt trần
cấu nhiệt não
thế gian. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
tạng trí huệ,
khiến cho chúng
sinh đều ưa
thấy, tâm chẳng
nhàm đủ. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, dùng pháp
trắng vắng lặng
mà tự che chở,
đều được Phật
pháp rốt ráo
không hoại.
Bồ
Tát đem căn lành
bố thí lọng báu,
vì chúng sinh mà
hồi hướng: Ngài
phát nguyện hy
vọng tất cả
chúng sinh,
thường siêng tu
tập nghiệp lành,
trồng căn lành,
dùng căn lành để
che chở thân
thể, nuôi lớn
tâm từ bi. Do
đó, có thể đắc
được chư Phật hộ
niệm, che chở,
bảo hộ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
dùng công đức
lành, trí huệ
che chở thân
tâm, cũng có thể
nói là nhờ công
đức trí huệ của
chư Phật che
chở. Do đó, vĩnh
viễn lìa khỏi
tất cả phiền não
của thế gian,
vĩnh viễn lìa
phiền não tức là
chuyển phiền não
thành bồ đề. Làm
thế nào để
chuyển phiền não
thành bồ đề ?
Phiền não và bồ
đề chẳng phải là
hai thứ, mà là
một vật hai mặt,
dựa theo tri
kiến chánh tà
của con người mà
thành hình.
Phiền não và bồ
đề đều chẳng lìa
khỏi thế gian,
cũng chẳng lìa
khỏi tâm ý của
chúng ta. Lục Tổ
Ðại Sư đã từng
nói:
"Phật pháp tại
thế gian
Chẳng lìa thế
gian giác
Lìa thế cầu bồ
đề
Ví như tìm sừng
thỏ".
Chỉ thị của mấy
câu kệ nầy là
nói, phiền não
của thế gian là
vì chúng ta
không khéo lợi
dụng nó, nếu
biết lợi dụng,
thì vốn tức là
bồ đề; vì chẳng
biết lợi dụng,
nên bồ đề trở
thành phiền não.
Nói về vĩnh viễn
lìa tất cả phiền
não, tức là kêu
chúng ta tự
chuyển tất cả
phiền não biến
thành bồ đề. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường dùng pháp
lành làm áo
giáp, tẩy trừ
pháp ô nhiễm của
thế gian, chuyển
thành thanh
tịnh, chuyển tất
cả nhiệt não
thành mát mẻ.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
bảo tạng đại trí
huệ, khiến cho
tất cả chúng
sinh đều ưa
thích gần gũi
Ngài, tâm chẳng
nhàm đủ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
dùng pháp trắng
vắng lặng - diệu
pháp thanh tịnh,
che chở chính
mình, đều đắc
được Phật pháp
rốt ráo không
hoại, thành quả
vị Phật.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, khéo che
thân mình, rốt
ráo được pháp
thân thanh tịnh
của Như Lai.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
làm lọng che
khắp, được mười
lực trí huệ, che
khắp thế gian.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được diệu trí
huệ, vượt qua ba
đời, không nhiễm
ô chấp trước.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được lọng ứng
cúng, thành
ruộng phước thù
thắng, thọ tất
cả sự cúng
dường. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được lọng
tối thượng, được
trí vô thượng,
tự nhiên giác
ngộ. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí
lọng.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
khéo che thân
huệ mạng của
chính mình,
siêng tu nghiệp
thiện, đắc được
pháp thân thanh
tịnh giống như
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, làm lọng
báu khắp cùng hư
không pháp giới,
đắc được mười
thứ sức thần
thông, và trí
huệ không thể
nghĩ bàn, trợ
giúp tất cả
chúng sinh thế
gian. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được lọng báu
trí huệ thù
thắng, vượt qua
ba đời, vĩnh
viễn không nhiễm
trước năm dục.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được lọng
báu kham thọ
trời người cúng,
trở thành ruộng
phước thù thắng
bậc nhất, thọ
tất cả trời
người cúng
dường. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được lọng báu
tối thượng, đắc
được trí huệ vô
thượng, thành
tựu huệ thân,
chẳng do người
khác mà giác
ngộ, tự nhiên
thấu đạt pháp vi
diệu thâm sâu
của Phật nói. Ðó
là đại Bồ Tát tu
pháp hồi hướng,
khi Ngài bố thí
lọng báu, tu tập
căn lành công
đức, đem công
đức đó hồi hướng
cho chúng sinh.
Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, được
lọng tự tại, vì
giữ được tất cả
các pháp lành.
Vì khiến cho tất
cả chúng sinh,
có thể dùng một
lọng che khắp
tất cả hư không
pháp giới, tất
cả cõi nước, thị
hiện thần thông
tự tại vô uý của
chư Phật. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, có
thể dùng một
lọng trang
nghiêm mười
phương tất cả
thế giới, cúng
dường Phật. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, dùng
tràng phan đẹp
và các lọng báu,
cúng dường tất
cả các Như Lai.
Vì khiến cho tất
cả chúng sinh,
được lọng trang
nghiêm khắp, che
khắp tất cả cõi
nước chư Phật
trọn không dừ
thừa. Vì khiến
cho tất cả chúng
sinh, được lọng
rộng lớn, che
khắp chúng sinh,
đều khiến cho ở
chỗ Phật sinh
tâm tin hiểu. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, dùng
bất khả thuyết
các lọng báu đẹp
cúng dường một
vị Phật. Ở chỗ
mỗi vị Phật
nhiều bất khả
thuyết cũng đều
như vậy. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, được
lọng Phật bồ đề
cao rộng, che
khắp tất cả các
Như Lai.
Mục
đích Bồ Tát đem
căn lành của
Ngài tu hành hồi
hướng cho tất cả
chúng sinh, vì
khiến cho tất cả
chúng sinh đắc
được lọng báu tự
tại, có thể thọ
trì tất cả diệu
pháp của chư
Phật nói. Lại vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, có
thể dùng một
lọng báu che
khắp tất cả hư
không pháp giới,
và cõi nước của
mười phương chư
Phật, thị hiện
thần thông tự
tại của chư
Phật, vĩnh viễn
không sinh tâm
thối chuyển. Lại
vì khiến cho tất
cả chúng sinh,
có thể dùng một
lọng báu, trang
nghiêm mười
phương tất cả
thế giới, cúng
dường mười
phương chư Phật.
Lại vì khiến cho
tất cả chúng
sinh, dùng tràng
phan tốt nhất,
và các thứ lọng
báu, cúng dường
mười phương chư
Phật. Lại vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, đắc
được lọng báu
trang nghiêm,
che khắp mười
phương cõi nước
chư Phật, chẳng
sót thừa. Lại vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, đắc
được lọng báu
rộng lớn nhất,
che khắp tất cả
chúng sinh,
khiến cho tất cả
chúng sinh đối
với Phật sinh
tâm tin hiểu.
Lại vì khiến cho
tất cả chúng
sinh, dùng không
biết bao nhiêu
lọng báu làm
bằng châu báu
thượng diệu,
cúng dường cho
mỗi vị Phật. Ðối
với mười phương
vô lượng chư
Phật cũng đều
cúng dường như
thế. Lại vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, đắc
được lọng báu bồ
đề giác đạo vừa
cao vừa rộng, có
thể cúng dường
che hộ mười
phương chư Phật.
Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh, được
tất cả lọng báu
ma ni trang
nghiêm. Tất cả
lọng chuỗi báu
trang nghiêm.
Tất cả lọng
hương kiên cố
trang nghiêm. Ðủ
thứ lọng báu
thanh tịnh trang
nghiêm. Vô lượng
lọng báu thanh
tịnh trang
nghiêm. Lọng báu
rộng lớn thanh
tịnh trang
nghiêm. Lưới báu
che phủ, linh
báu thòng rũ,
theo gió lay
động, vang ra âm
thanh vi diệu,
che khắp pháp
giới, hư không
giới, tất cả thế
giới thân chư
Phật. Vì khiến
cho tất cả chúng
sinh, được lọng
trí trang nghiêm
không chướng
không ngại, che
khắp tất cả các
Như Lai. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, được trí
huệ bậc nhất.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, được công
đức trang nghiêm
của Phật. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, nơi công
đức của Phật
sinh tâm nguyện
thanh tịnh. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, được vô
lượng vô biên
tâm báu tự tại.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đầy đủ các
pháp trí tự tại.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, dùng các
căn lành che
khắp tất cả.
Lại
vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
lọng báu trang
nghiêm làm bằng
ma ni báu. Lọng
báu chuỗi trang
nghiêm làm bằng
tất cả châu báu.
Lọng báu dùng
tất cả hương
kiên cố trang
nghiêm. Lọng báu
các thứ đá quý
báu rất thanh
tịnh. Lọng báu
vô lượng số đá
quý báu thanh
tịnh trang
nghiêm. Lọng báu
dùng báu trang
nghiêm thanh
tịnh rộng lớn
nhất. Còn có
lưới La làm bằng
châu báu. Lọng
báu che phủ
khắp. Linh báu
bằng vàng thật
thòng rũ bốn
phía, theo gió
lay động, vang
ra tiếng hay vi
diệu. Lọng báu
rộng lớn đó
không thể so
sánh được, có
thể che khắp tận
hư không giới,
khắp pháp giới,
tất cả thế giới,
cho đến pháp
thân của chư
Phật. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
lọng báu trang
nghiêm, trí huệ
chẳng có gì che
đậy, chẳng có gì
chướng ngại. Thứ
lọng báu đó, có
thể che hộ khắp
mười phương chư
Phật. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
trí huệ bậc
nhất. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
đại công đức
giống như Phật,
và trang nghiêm
giống như Phật.
Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đối
với công đức của
Phật sinh tâm
ngưỡng mộ thanh
tịnh khen ngợi,
tự mình cũng
phát tâm nguyện
thanh tịnh, cầu
công đức như
Phật. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
vô lượng vô biên
tâm báu tự tại,
tâm tự tại nhất
có thể nhậm vận
tự như, lại có
tâm trí huệ thù
thắng, nhận thức
được, thông đạt
được thật tướng
của các pháp,
thứ tâm đó mới
được gọi là tâm
báu. Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đắc
được trí huệ
nhậm vận tự tại,
minh bạch thể
tướng chân thật
của tất cả các
pháp, viên mãn
tu tập tất cả
các pháp. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, dùng đủ
thứ căn lành tu
tập, che hộ khắp
tất cả hữu tình,
vô tình, khiến
cho họ đều có
thể an trụ nơi
cõi Phật thanh
tịnh.
Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
lọng trí huệ tối
thắng. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh,
thành tựu lọng
mười lực khe
khắp. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, có
thể dùng một
lọng che khắp
pháp giới cõi
nước chư Phật.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, nơi pháp
tự tại làm bậc
Pháp Vương. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, được tâm
đại oai đức tự
tại. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, được
trí rộng lớn
luôn không đoạn
tuyệt. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, được
vô lượng công
đức, che khắp
tất cả đều rốt
ráo. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, dùng
các công đức che
tâm mình. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, dùng tâm
bình đẳng che
chúng sinh. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, được lọng
đại trí huệ bình
đẳng. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đủ
đại hồi hướng
phương tiện khéo
léo. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, được
tâm ưa thích
thanh tịnh thù
thắng. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, được
thiện ý ưa muốn
thanh tịnh. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, được đại
hồi hướng che
khắp tất cả các
chúng sinh.
Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
lọng báu trí huệ
tối thù thắng
nhất. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh,
thành tựu sức
mười lực của
Phật, có thể che
chở khắp tất cả.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, có thể
dùng một lọng
báu, che chở
khắp hết thảy
cõi nước chư
Phật trong pháp
giới. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đối
với các pháp đều
thông đạt vô
ngại, tự tại thọ
dụng, kham làm
bậc Pháp Vương,
như đức Phật.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
tâm tự tại đại
oai đức. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
trí huệ rộng
lớn, vĩnh viễn
chẳng tán mất.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
vô lượng công
đức, che hộ khắp
tất cả chúng
sinh, mà còn
thông đạt được
quả vị rốt ráo.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, dùng đủ
thứ công đức che
chở tâm trí của
họ. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, dùng
tâm bình đẳng
che chở chúng
sinh khác. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
đại trí huệ,
bình đẳng che
chở tất cả chúng
sinh. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đầy
đủ pháp môn
phương tiện khéo
léo đại hồi
hướng. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đều
đắc được ưa
thích thanh tịnh
thù thắng nhất,
trong tâm rất
thanh tịnh. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đều biết
lựa chọn sự ưa
thích chánh
đáng, ý cảnh
cũng luôn luôn
thanh tịnh,
khiến cho chúng
sinh đều lấy
pháp làm vui.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
lợi ích đại hồi
hướng, dùng lợi
ích đó để lợi
ích tất cả chúng
sinh, che hộ
khắp tất cả
chúng sinh.
Các
vị thiện tín !
Ðoạn Kinh văn ở
trên đây, là hồi
hướng thứ sáu
trong thập hồi
hướng. Bồ Tát ở
trong hồi hướng
nầy, Ngài tu sáu
mươi thứ đại bố
thí, bao quát
tài, pháp, vô
uý, đối tượng bố
thí trên hết là
chư Phật, dưới
cùng là vô lượng
chúng sinh, bần
cùng cô nhi.
Ðoạn Kinh văn
nầy nói về bố
thí lọng báu thứ
mười chín. Khi
Bồ Tát bố thí
lọng báu đem căn
lành hồi hướng,
vì chúng sinh mà
phát mười nguyện
lớn, trong tâm
lập mười mục
đích, hai mươi
hy vọng, nguyện
nguyện đều vì
chúng sinh, sự
sự đều không
quên chúng sinh.
Tóm lại là hy
vọng chúng sinh
nhân tròn quả
đầy. Mỗi chữ mỗi
câu đều chảy ra
tâm từ bi của Bồ
Tát. Chúng ta đã
tụng, đã nghe
qua, có cảm
tưởng gì ? Bồ
Tát vì cứu vớt
chúng sinh đời
sau, thật là
dụng tâm lương
khổ ! Chúng ta
đem cái gì báo
đáp cho Bồ Tát ?
Làm thế nào để
đối với Bồ Tát ?
Các vị ! Chúng
ta chỉ có phát
tâm tu hành, học
đại từ đại bi
của Bồ Tát, xả
mình vì chúng
sinh. Hy vọng
mọi người sớm
phát tâm đại từ
bi, vì tâm đại
từ bi mới sinh
ra tâm bồ đề;
nếu chẳng sinh
tâm từ bi, thì
tâm bồ đề chẳng
phát được.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
hoặc bố thí đủ
thứ tràng phan
tốt đẹp, cán làm
bằng các thứ
báu, lụa thêu
báu làm phan, đủ
thứ tơ lụa màu
dùng làm tràng.
Lưới báu giăng
che. Ánh sáng
màu sắc đầy
khắp. Chuông báu
lay động, vang
ra âm thanh hoà
nhã. Báu đẹp kỳ
lạ đặc biệt,
hình như bán
nguyệt. Vàng
diêm phù đàn,
ánh sáng rực rỡ,
đều an trí ở
trên tràng. Tuỳ
các thế giới
nghiệp giới sở
hiện. Ðủ thứ đồ
vật tốt đẹp,
dùng làm nghiêm
sức. Như vậy vô
số ngàn vạn ức
Na do tha các
tràng phan đẹp.
Theo hình bóng
mà chiếu sáng,
quang minh trang
nghiêm thanh
khiết, khắp cùng
đại địa, sung
mãn mười phương
hư không pháp
giới. Tất cả cõi
Phật, đại Bồ
Tát, tịnh tâm
tín giải. Dùng
vô lượng tràng
phan như vậy,
hoặc bố thí cho
tất cả chư Phật
hiện tại, và hết
thảy chùa tháp
sau khi Phật
diệt độ. Hoặc bố
thí cho Pháp
Bảo. Hoặc bố thí
cho Tăng Bảo.
Hoặc bố thí cho
Bồ Tát các thiện
tri thức. Hoặc
bố thí cho Thanh
Văn và Bích Chi
Phật. Hoặc bố
thí cho đại
chúng. Hoặc bố
thí cho người
khác. Những
người đến cầu
mong, thảy đều
bố thí cho.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, hoặc lại bố
thí đủ thứ tràng
và phan tốt đẹp
nhất, dùng các
thứ đá báu đủ
màu sắc làm cán,
dùng lụa thêu
tối thượng làm
phan, dùng các
thứ tơ lụa màu
tươi đẹp làm
tràng, lưới La
bằng châu báu
giăng che thòng
rũ bốn phía. Ánh
sáng bảy báu và
màu sắc tơ lụa
đầy khắp trên
tràng phan báu.
Chuông báu giăng
treo, khi gió
thổi lay động,
thì vang ra
tiếng hoà nhã,
và còn rất tiết
tấu, rất hoà
điệu, khiến cho
người nghe, tự
nhiên có cảm
giác thoát trần.
Còn có báu rất
đặc biệt hiếm
có, hình trạng
giống như mặt
trăng sáng, ánh
sáng của vàng
Diêm Phù Đề, còn
sáng hơn là ánh
sáng mặt trời.
Những đồ vật
nghiêm sức trân
kỳ đó, đều an
trí ở trên tràng
báu và phan báu,
tuỳ theo nghiệp
của chúng sinh
trên thế giới
tạo ra, và quả
báo thọ, mỗi mỗi
đều xuất hiện ở
trên tràng báu
và phan báu. Lại
có đủ thứ phẩm
vật trang sức kỳ
diệu, dùng để
trang nghiêm ở
trên đó. Do vậy
tràng phan rất
là đẹp đẽ vô
cùng, có vô
lượng ngàn vạn
ức Na do tha
tràng báu, phan
báu, cùng nhau
chiếu sáng,
giống như ánh
đèn, toả ra ánh
sáng rực rỡ
không dứt đoạn,
chiếu sáng khắp
cùng đại địa,
sung mãn mười
phương hư không
pháp giới, trang
nghiêm cõi nước
chư Phật, đạo
tràng của chư
Phật trong mười
phương.
Các
vị ! Tại sao
chúng ta chúng
sinh bần cùng
khốn khổ như vậy
? Là vì chúng ta
chẳng tu bố thí.
Tại sao chúng ta
chúng sinh tướng
mạo xấu xí ? Là
vì chúng ta
chúng sinh ở
trước Phật chẳng
cúng dường hoa
tươi. Tại sao
chúng ta chúng
sinh ngu si như
thế ? Vì chúng
ta ở trước Phật
chẳng đọc tụng
Kinh điển. Tại
sao chúng ta
chúng sinh ai
cũng có đủ thứ
phiền não ? Là
vì chẳng cúng
dường Tam Bảo,
chẳng cung kính
Tam Bảo. Có
những nhân tố
như vậy, cho nên
hết thảy tất cả
đều chẳng viên
mãn. Bồ Tát quán
sát chúng sinh,
nhân như vậy,
quả như vậy,
thương sót chúng
sinh, phát
nguyện đem căn
lành công đức
của mình bố thí,
hoàn toàn hồi
hướng cho chúng
sinh, giáo hoá
chúng sinh tu
nhiều bố thí, tự
mình lấy thân
làm khuông phép,
bố thí vô lượng
châu báu và nội
tài. Một phương
diện tăng thêm
căn lành phước
đức của mình,
mặt khác khiến
cho chúng sinh
cũng tăng thêm
ruộng phước,
tăng thêm sự
trang nghiêm của
thế giới, khiến
cho chúng sinh
đắc được các
phương diện đều
viên mãn.
Ðại
Bồ Tát dùng tâm
thanh tịnh của
Ngài, tin sâu
Phật pháp, thông
đạt pháp của chư
Phật nói, tu
pháp môn hồi
hướng, hạnh bố
thí lớn. Giống
như Kinh văn ở
trước nói vô
lượng tràng báu
phan báu, hoặc
Ngài đem bố thí
cho tất cả chư
Phật hiện tại,
và chùa tháp xá
lợi sau khi Phật
diệt độ. Hoặc bố
thí cho Pháp
Bảo, tức là Kinh
điển của chư
Phật nói. Hoặc
bố thí cho hiền
Thánh Tăng Bảo.
Hoặc bố thí cho
các vị Bồ Tát,
các vị đại thiện
tri thức. Hoặc
bố thí cho các
bậc Thanh Văn,
Bích Chi Phật.
Hoặc bố thí cho
tất cả chúng
sinh. Hoặc bố
thí cho những
người cô độc.
Phàm là những
người nào đến
cầu xin tràng
báu phan báu, Bồ
Tát đều có lòng
từ bi bình đẳng,
bố thí khắp cho
những người đến
xin.
Ðem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều kiến lập
được tất cả
tràng phan căn
lành phước đức,
không thể huỷ
hoại. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, kiến lập
tất cả tràng
phan pháp tự
tại, tôn trọng
ưa thích, siêng
năng giữ gìn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường dùng lụa
báu biên chép
chánh pháp, hộ
trì tạng pháp
của chư Phật Bồ
Tát. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, kiến lập
tràng cao hiển,
đèn trí huệ sáng
chói, chiếu khắp
thế gian. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, kiến lập
tràng kiên cố,
đều phá tan tất
cả ma nghiệp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
kiến lập tràng
trí lực, tất cả
các ma không thể
phá hoại được.
Bồ
Tát đem căn lành
công đức của
Ngài bố thí
tràng báu phan
báu, đối với
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều kiến lập
được các thứ
tràng phan căn
lành phước đức,
bất cứ thứ gì
cũng không thể
phá hoại được.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, kiến lập
tràng phan các
pháp tự tại, tôn
trọng ưa thích
pháp của chư
Phật nói, siêng
năng giữ gìn các
pháp. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thường
dùng các thứ lụa
quý để biên chép
Kinh điển, cũng
phải bảo hộ tạng
pháp của chư
Phật Bồ Tát lưu
truyền. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
kiến lập tràng
phan cao lớn
hiển bày - lập
chí lớn phát
nguyện lớn, tiêu
diệt hết tất cả
nghiệp ma. Tại
sao con người
hay có ma nghiệp
? Là vì thuở xưa
chẳng nghe lời
dạy của bậc
thiện tri thức,
tự mình cứ khởi
vọng tưởng, tạo
nghiệp ác, cho
nên đời nầy
thường thọ ma
nghiệp ràng
buộc, mọi việc
đều không toại
tâm mãn nguyện.
Nếu muốn tương
lai không thọ ma
nghiệp quấy
nhiễu, thì hiện
tại phải nghe sự
giáo hoá của bậc
thiện tri thức.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, kiến lập
tràng báu có sức
trí huệ, hết
thảy thiên ma
ngoại đạo đều
không thể xâm
phạm và phá hoại
tâm thành tu đạo
của họ được.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tràng
đại trí huệ Na
la diên, diệt
tan tất cả tràng
kiêu mạn thế
gian. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tràng
trí huệ đại
quang minh như
mặt trời, dùng
quang minh trí
huệ mặt trời
chiếu khắp pháp
giới. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đầy đủ vô
lượng tràng báu
trang nghiêm,
sung mãn mười
phương tất cả
thế giới, cúng
dường chư Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tràng Như
Lai, diệt tan
tất cả chín mươi
sáu thứ ngoại
đạo tà kiến.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài bố
thí tràng phan.
Vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh được tràng
Bồ Tát hạnh thâm
sâu cao rộng, và
tràng thần thông
hạnh đạo thanh
tịnh của các Bồ
Tát.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được trí huệ lớn
nhất, kiên cố
giống như tràng
Na la diên -
tràng báu kim
cang, có thể
diệt tan hết mao
bệnh cống cao
ngã mạn của mọi
người trên thế
gian. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được trí
huệ đại quang
minh, ánh sáng
phóng ra giống
như mặt trời
trên không giữa
trưa chẳng có
mây, dùng quang
minh trí huệ
chiếu sáng khắp
mười pháp giới.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đầy đủ
tràng báu trang
nghiêm chẳng có
số lượng, dùng
để cúng dường
chư Phật trong
mười phương thế
giới. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
tràng Phật,
tràng đó diệt
tan được tất cả
chín mươi sáu
thứ ngoại đạo tà
tri tà kiến.
Những điều nói ở
trên là đại Bồ
Tát tu pháp hồi
hướng, khi bố
thí tràng báu
phan báu, Ngài
hồi hướng căn
lành của mình
làm. Bồ Tát hy
vọng tất cả
chúng sinh đều
đắc được tràng
Bồ Tát hạnh, vừa
thâm sâu, vừa
cao rộng, kiến
lập pháp tràng,
cùng với tràng
thần thông hạnh
của các Bồ Tát,
và đạo thanh
tịnh - Bồ Tát
giác đạo thanh
tịnh của Bồ Tát
tu.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
khai mở các tạng
báu, dùng trăm
ngàn ức Na do
tha các trân báu
đẹp, bố thí cho
vô số tất cả
chúng sinh. Tuỳ
theo ý mà cho
họ, tâm chẳng
xẻn tiếc. Ðem
các căn lành đó
hồi hướng như
vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thấy được
Phật Bảo, xả lìa
ngu si, tu hành
chánh niệm.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều được đầy đủ
Pháp Bảo quang
minh, hộ trì tất
cả pháp tạng của
chư Phật. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều có thể
nhiếp thọ tất cả
Tăng Bảo, chu
cấp cúng dường,
luôn chẳng nhàm
đủ. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được nhất
thiết trí vô
thượng tâm bảo,
thanh tịnh tâm
bồ đề, chẳng có
thối chuyển.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được trí huệ
bảo, vào khắp
các pháp, tâm
chẳng nghi hoặc.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát khai mở kho
tàng đủ thứ châu
báu, đây là chỉ
mười sáu thứ trí
bảo, tức là tám
nhẫn tám trí.
Ðem trăm ngàn ức
Na do tha báu
đẹp kỳ lạ, bố
thí cho vô lượng
số chúng sinh,
tuỳ theo yêu cầu
của chúng sinh,
mà cung cấp cho
họ, trong tâm
chẳng có chút
xẻn tiếc nào.
Ðem đủ thứ căn
lành Ngài bố thí
tích tụ, đối với
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thường
được thấy Phật.
Nhờ đó mà xả lìa
được tư tưởng
hành vi ngu si,
mà tu hành chánh
pháp của chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được đầy đủ Pháp
Bảo quang minh,
vào sâu tạng
Kinh, trí huệ
như biển, viên
mãn thông đạt
đạo lý tất cả
các pháp, và còn
bảo hộ tạng pháp
của chư Phật, tu
trì pháp của chư
Phật nói. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường được Tăng
Bảo nhiếp thọ,
tiếp thọ Phật
Pháp Tăng Bảo
giáo hoá, biết
bố thí cho Tăng
Bảo, cúng dường
Tăng Bảo, thích
trợ giúp Tăng
Bảo, tất cả Phật
sự, tận tâm tận
sức luôn chẳng
gián đoạn. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được tâm bảo
vô thượng trí
huệ Bát Nhã, trí
huệ chẳng có gì
mà không thông
đạt, tất cả
nghĩa lý, đủ thứ
phẩm loại thế
xuất thế gian,
tâm tu giác đạo
bồ đề thanh
tịnh, chẳng có
lúc nào thối
chuyển. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được trí huệ
bảo quý báu
nhất, vào sâu đủ
thứ diệu pháp,
trong tâm đối
với các pháp
chẳng sinh tơ
hào tâm hoài
nghi.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đầy đủ các
công đức bảo của
Bồ Tát, khai thị
diễn nói vô
lượng trí huệ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được nơi vô
lượng diệu công
đức bảo, tu
thành Chánh
Giác, trí huệ
thập lực. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được diệu
tam muội, mười
sáu trí bảo, rốt
ráo thành tựu
viên mãn trí huệ
rộng lớn. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thành tựu
ruộng phước bảo
đệ nhất, ngộ
nhập trí huệ vô
thượng của Như
Lai. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
vô thượng bảo
vương đệ nhất,
dùng vô tận biện
tài khai diễn
các pháp.
Ðó là đại Bồ
Tát, hồi hướng
căn lành khi bố
thí các châu
báu, vì muốn
khiến cho chúng
sinh đều được
thành tựu viên
mãn trí bảo đệ
nhất, mắt bảo
thanh tịnh vô
ngại của Như
Lai.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đầy đủ Bồ Tát
đạo của Bồ Tát
tu, tích tụ đủ
thứ công đức bảo
tạng, khai thị
diễn nói vô
lượng vô biên
đại trí huệ của
Bồ Tát. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được vô
lượng vô số
thượng diệu công
đức bảo, tu hành
thành tựu Phật
quả Chánh Đẳng
Chánh Giác, và
đắc được mười
lực và trí huệ
của Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thiền
định bất khả tư
nghì và mười sáu
thứ trí huệ bảo,
đắc được vô
thượng trí huệ
của Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trở thành bảo
chủ tối cao vô
thượng đệ nhất -
Phật quả, dùng
biện tài chẳng
cùng tận, đối
với chúng sinh
khai diễn đủ thứ
pháp môn của chư
Phật nói. Những
lời nguyện đó,
đều từ trong tâm
từ bi của đại Bồ
Tát, tu pháp hồi
hướng chảy ra !
Bồ Tát đem căn
lành công đức bố
thí các châu
báu, hồi hướng
cho tất cả chúng
sinh, vì muốn
khiến cho mỗi
chúng sinh đều
đắc được thành
tựu viên mãn,
trí huệ bảo đệ
nhất, mắt bảo
thanh tịnh không
chướng ngại
giống như Phật.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
hoặc dùng đủ thứ
đồ trang nghiêm
tốt đẹp bố thí.
Ðó là: Tất cả đồ
trang nghiêm
thân, khiến cho
thân thanh tịnh
vi diệu. Ðại Bồ
Tát bình đẳng
quán sát tất cả
chúng sinh thế
gian như con
một. Muốn khiến
cho họ đều được
thân thanh tịnh
trang nghiêm.
Thành tựu an lạc
tối thượng của
thế gian. Ưa
thích trí huệ
của Phật. An trụ
nơi Phật pháp,
lợi ích chúng
sinh. Ðem trăm
ngàn ức Na do
tha đủ thứ đồ
báu đẹp trang
nghiêm thù thắng
như vậy, siêng
thực hành bố
thí. Khi bố thí,
đem các căn lành
hồi hướng như
vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu đồ
trang nghiêm tốt
đẹp vô thượng.
Dùng các công
đức trí huệ
thanh tịnh trang
nghiêm trời
người. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được đồ
trang nghiêm
thanh tịnh. Dùng
phước đức thanh
tịnh trang
nghiêm thân
mình. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tướng
trang nghiêm tốt
đẹp, dùng tướng
trăm phước trang
nghiêm thân
mình. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tướng
trang nghiêm
chẳng tạp loạn,
dùng tất cả
tướng trang
nghiêm thân
mình.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, hoặc Ngài
lại dùng các
phẩm vật trang
nghiêm tốt đẹp
nhất, hiếm có
trong đời để bố
thí. Đó là: Ðồ
trang sức trên
thân, làm cho
thân thể thanh
tịnh trang
nghiêm cao quý,
đồ trang sức hợp
với thân phận.
Ðại Bồ Tát Ngài
dùng mắt từ bi
bình đẳng quán
sát tất cả chúng
sinh pháp giới,
đều giống như
con một của
Ngài. Cho nên
Ngài muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, thân họ
vừa thanh tịnh,
vừa trang
nghiêm, đắc được
an vui khoái lạc
chân thật nhất
trên thế gian.
Lại đắc được hết
thảy trí huệ
pháp vui như
Phật, an trụ ở
trong Phật pháp
lợi ích tất cả
chúng sinh. Dùng
trăm ngàn ức Na
do tha đủ thứ
phẩm vật trang
nghiêm tốt đẹp
thù thắng như
vậy, luôn thực
hành bố thí. Khi
Bồ Tát tu hành
bố thí, thì Ngài
đem đủ thứ căn
lành mà Ngài đã
tu tập, hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thành tựu
đồ trang nghiêm
tốt đẹp thù
thắng tối
thượng, dùng
những công đức
và trí huệ thanh
tịnh đó, trang
nghiêm Thánh
hiền ở nhân gian
và người trời.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
thân tướng trang
nghiêm chẳng có
chút nhiễm ô
nào, dùng phước
đức thanh tịnh
tu tập, trang
nghiêm thân
tướng của mình.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tướng
mạo trang nghiêm
đoan chánh viên
mãn tốt đẹp tối
thượng không thể
nghĩ bàn, lại
dùng trăm phước
- đủ thứ nghiệp
thiện công đức
trang nghiêm
thân mình. Tại
sao chư Phật đều
có tướng tốt
trang nghiêm ?
Là vì các Ngài
từ lúc ban đầu
phát tâm, trải
qua bất khả
thuyết kiếp, đời
đời kiếp kiếp
đều làm các điều
lành, không làm
các điều ác,
chừa từng có
việc thiện nhỏ
nào mà không
làm, điều ác nhỏ
nào mà làm.
Nghiệp thiện
từng chút từng
giọt, tích tập
dù nhỏ như hạt
bụi, cho đến
công đức nhỏ như
sợi lông, mà
thành tựu trăm
phước, ngàn
phước, ức vạn
phước, nhiều
không thể nói
hết được, lâu
dần mới được
viên mãn ba mươi
hai tướng tốt
tám mươi vẻ đẹp.
Chúng ta mỗi
người, nếu sinh
ra được ngũ quan
đoan chánh, tứ
chi đều đặng
hoàn toàn, có
trí huệ trung
thượng đẳng, lại
được nghe chánh
pháp đại thừa,
xuất gia tu
hành, đó đều
chẳng phải là
ngẫu nhiên, đã
tu hành tích tụ
phước báu nhiều
đời, cho nên mọi
người đều nên
phát tâm hoan
hỉ, tinh tấn tu
hành. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
tướng chẳng tạp
loạn, ngũ quan
đoan chánh, đều
đặng phối hợp
với nhau, khiến
cho người thấy
được liền sinh
tâm cung kính
thân thiết, thì
tự nhiên lộ ra
biểu hiện cao
quý trang
nghiêm, khiến
cho người tôn
kính mà chẳng sợ
hãi. Thân tài tứ
chi nơi nơi đều
viên mãn, dùng
tất cả tướng tốt
đó, để trang
nghiêm thân thể
của mình.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tướng
lời nói thiện
tịnh trang
nghiêm, đầy đủ
đủ thứ biện tài
vô tận. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tướng
âm thanh tất cả
công đức trang
nghiêm. Âm thanh
đó thanh tịnh,
người nghe được
đều vui thích.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tướng lời
nói trang nghiêm
đáng ưa thích
của chư Phật,
khiến cho các
chúng sinh nghe
pháp hoan hỉ, tu
hạnh thanh tịnh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tướng tâm
trang nghiêm,
vào thiền định
sâu, thấy khắp
chư Phật. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tướng
tổng trì trang
nghiêm, chiếu
sáng tất cả
chánh pháp của
chư Phật. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tướng
trí huệ trang
nghiêm, dùng trí
huệ của Phật
trang nghiêm tâm
mình.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí tất cả đồ
trang nghiêm. Vì
muốn khiến cho
chúng sinh, đầy
đủ tất cả vô
lượng Phật pháp
công đức trí
huệ, viên mãn
trang nghiêm,
vĩnh viễn lìa
tất cả kiêu mạn
phóng dật.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được phương
tiện khéo léo
biện tài vô
ngại, vì chúng
sinh diễn nói
diệu pháp thanh
tịnh. Ðoạn văn ở
trước nói thân
nghiệp của Bồ
Tát thanh tịnh,
đoạn văn này nói
ngữ nghiệp của
Bồ Tát thanh
tịnh, Ngài cũng
nguyện ngữ
nghiệp của chúng
sinh thanh tịnh,
dùng thân tướng
trang nghiêm lời
nói khéo léo
thanh tịnh, đầy
đủ đủ thứ biện
tài vô tận, giáo
hoá những chúng
sinh có thành
kiến, có nghi
hoặc với Phật
pháp, khiến cho
họ tiêu mất tri
kiến chướng ngại
trên, tâm ý vui
mừng thành phục,
quy y với Phật
giáo. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được âm
thanh đủ thứ
công đức, dùng
âm thanh đó
trang nghiêm
thân tướng.
Âm
thanh của mỗi
người, đều có
quan hệ rất lớn
đối với cuộc đời
của họ. Có người
tướng mạo đường
đường, thân thể
to lớn, nhưng
một khi mở miệng
nói, thì âm
thanh giống như
cái loa bễ; có
người tiếng
chẳng rõ ràng,
nghe chẳng vui
lòng, có tiếng
trầm bổng cao
thấp. Âm thanh
của con người
chẳng phải tập
luyện mà được,
mà là do phước
báu nhiều đời
làm nghiệp thiện
mà có được. Tức
khiến cho bạn có
biện tài vô
ngại, miệng nói
như nước chảy,
nói đến nỗi hoa
trời rơi xuống.
Nhưng âm thanh
của bạn chẳng
tốt, cũng dẫn
đến làm cho
thính chúng
chẳng hứng thú;
nếu bạn có cổ
họng u nhã thanh
tịnh, người khác
chưa gặp được
bạn, chỉ nghe
tiếng của bạn
nói, thì họ rất
vui thích, bổn
lai người trong
mê mộng, lập tức
giống như nghe
được tiếng trống
tiếng chuông,
khiến cho họ
tỉnh ngộ, chẳng
màng bạn nói gì,
họ nghe được
tiếng mà ngộ
đạo. Phàm là
người có tiếng
thanh tịnh, thì
nhất định là
người có đạo
đức, có tu hành
phạm hạnh, cho
nên nói tiếng
thanh tịnh,
người nghe ưa
thích.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được đầy đủ trí
huệ biết việc và
biết người, lại
có kỹ thuật nói,
lời nói ra khiến
cho người nghe
hoan hỉ vui
thích, giống như
chư Phật, dùng
lời nói trang
nghiêm thân
tướng. Chúng
sinh nghe bạn
nói pháp, thật
là thân tâm an
lạc, pháp hỷ
sung mãn. Bổn
lai là người
không thể tu
đạo, vì nghe
tiếng của bạn
nói, liền giác
ngộ mà tu phạm
hạnh thanh tịnh.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được ý
nghiệp thanh
tịnh, dùng tâm ý
thanh tịnh mà
trang nghiêm
thân tướng. Tâm
là chủ của mắt,
tai, mũi, lưỡi,
thân, năm căn,
là có trí huệ
nhất. Tâm tốt
nhất là thường ở
trong sự vắng
lặng, tu tập
thiền định, vào
sâu thiền định.
Do đó, có thể
thấy khắp được
mười phương ba
đời chư Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, hay tu học
đủ thứ pháp,
minh bạch vận
dụng tất cả các
pháp, nghĩa lý
chân thật của
các pháp, đều có
thể y giáo y
pháp phụng hành
thật tiễn. Tổng
trì, tức là
"Tổng tất cả
pháp, trì vô
lượng nghĩa".
Dùng tâm nầy thể
hội tinh thần
lực hạnh, trang
nghiêm thân
tướng, quán
chiếu thấu rõ
chánh pháp của
mười phương chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
trí huệ thù
thắng, y theo sự
biểu đạt minh
triết của trí
huệ, xử thế tiếp
vật siêu nhiên
cao tiết, mà
trang nghiêm
thân tướng, dùng
trí huệ như Phật
mà trang nghiêm
tự tâm thanh
tịnh.
Nguyện
vọng ba nghiệp
thanh tịnh ở
trên, tức là khi
đại Bồ Tát bố
thí tất cả đồ
trang nghiêm,
đối với chúng
sinh mà hồi
hướng căn lành.
Bồ Tát vì muốn
hy vọng tất cả
chúng sinh, đều
đầy đủ vô lượng
đủ thứ công đức
của Phật pháp,
và đắc được trí
huệ thù thắng,
viên mãn tướng
trang nghiêm của
họ, vĩnh viễn
lìa khỏi những
mao bệnh cống
cao ngã mạn,
kiêu ngạo phóng
dật.
Các
vị thiện tín !
Bồ Tát tinh tấn
tu hành, ngày
đêm không giải
đãi, dùng công
đức ba nghiệp
thanh tịnh tu
tập, mà trang
nghiêm thân tâm
của Ngài, Ngài
cũng nguyện cho
chúng sinh đều
siêng tu ba
nghiệp, khiến
cho thân miệng ý
thanh tịnh, mới
có thể đắc được
căn lành công
đức thanh tịnh,
mới có thể viên
mãn thân tướng
trang nghiêm.
Chúng ta là
người tu hành
học đạo, giờ giờ
phút phút đều
không thể phóng
dật, nhất là
phải chú ý đến
ba nghiệp cầu
tinh tấn chẳng
giải đãi, nếu
hằng ngày tu
hành tích tập
công đức lành,
gieo trồng đại
căn lành. Không
kể thời kiếp
tinh tấn như
vậy, thì tự
nhiên sẽ thành
tựu đạo nghiệp,
cũng sẽ viên mãn
tướng trang
nghiêm của chúng
ta. Tướng, tuy
nhiên là tu,
nhưng giả như
bạn sinh ra hình
tướng xấu xí, ai
thấy cũng chẳng
sinh tâm hoan hỉ
mà xa lìa bạn,
thì không dễ gì
giáo hoá chúng
sinh.
Vào năm đó, Tổ
Sư Ðạt Ma đến
Trung Quốc,
người Trung Quốc
thấy Ngài mặt
đầy râu ria, mi
dày mắt lớn, xa
thấy mà sinh sợ.
Cho nên Tổ Sư
Ðạt Ma hơn mười
năm quay mặt vào
tường, chỉ giáo
hoá rất ít chúng
sinh, chỉ có vị
Nhị Tổ Thần
Quang, vì cầu
pháp mà quỳ chín
năm, còn chặt
đứt một cánh
tay, mới được
chân truyền dùng
tâm ấn tâm, mới
có thiền tông
ngày hôm nay.
Hiện tại tôi đến
tây phương hoằng
pháp, giáo hoá
các bạn tu học
Phật pháp, cũng
giáo hoá các bạn
nên tu căn lành
phước đức, để
trang nghiêm
thân tướng của
mình.
Tu
căn lành phước
đức như thế nào
? Tu ở đâu ? Tu
hành biện đạo
cũng cần phải có
chỗ an thân. Cơ
hội nầy bây giờ
nhân duyên đã
thành thục, tức
tại Vạn Phật
Thành. Vạn Phật
Thành cần có vạn
Phật để trang
nghiêm thành
nầy. Gọi vạn
Phật, chẳng phải
vạn Phật đã
thành, mà là vạn
Phật sẽ thành,
là đã phát tâm
bồ đề, hiện tại
đang phát tâm bồ
đề, sẽ phát tâm
bồ đề. Vạn Phật
Thành, Vạn Phật
Thành, Vạn Phật
đều sẽ thành.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
dùng mão ma ni
báu, thọ quán
đảnh ngôi vua tự
tại, và hạt châu
trong búi tóc,
bố thí khắp cho
chúng sinh, tâm
chẳng xẻn tiếc,
thường siêng tu
tập. Làm đại thí
chủ, tu học thí
huệ, tăng trưởng
xả căn, trí huệ
thiện xảo, tâm
Ngài rộng lớn,
bố thí cho tất
cả.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài đem mũ
của đế vương đã
từng thọ lễ quán
đảnh, tức là lễ
lên ngôi vua,
mão vua làm bằng
ma ni báu, và
hạt châu giấu ở
trong búi tóc -
hạt châu đó chỉ
có ông vua mới
có: Ai có được
hạt châu nầy
trong búi tóc,
thì người đó là
vua quán đảnh.
Song, vua quán
đảnh nầy, Ngài
chẳng coi trọng
ngôi vua của
Ngài, mà còn có
thể bố thí khắp
cho tất cả chúng
sinh, bất luận
ai đến cầu xin,
Ngài đều bố thí
cho họ, trong
tâm tuyệt đối
chẳng có ý niệm
xả bỏ chẳng
được. Bồ Tát
hành bố thí,
trước hết Ngài
dùng trí huệ
quán sát nhân
duyên, chứ chẳng
phải mù mắt bố
thí. Một mặt
Ngài rất tinh
tấn tu trì lục
độ, một mặt
không ngừng học
tập trí huệ và
phương pháp hành
bố thí của chư
Phật, tuỳ thời
làm chủ nhân đại
bố thí. Ngài tu
học trí huệ bố
thí, có thể tăng
trưởng căn lành
thí xả của Ngài.
Do đó, tâm lượng
của Ngài cũng
đặc biệt rộng
lớn, đối với vật
chất bố thí, tơ
hào không tính
toán, đối với
người nhận, một
luật bình đẳng,
chẳng có phân
biệt kẻ oán
người thân, bố
thí khắp cho tất
cả chúng sinh.
Ðem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thọ pháp
quán đảnh của
chư Phật, thành
tựu nhất thiết
trí. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đầy đủ
đảnh nhục kế,
được trí huệ đệ
nhất, đến được
bờ bên kia.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
dùng diệu trí
bảo, nhiếp khắp
chúng sinh, đều
khiến cho đến
được đảnh công
đức rốt ráo.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều được thành
tựu trí huệ bảo
tột đảnh, kham
thọ sự cung kính
lễ bái của thế
gian. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, dùng mão
trí huệ trang
nghiêm đầu mình,
làm vua tự tại
của tất cả các
pháp. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, trí huệ
minh châu thường
cột trên đảnh,
tất cả thế gian
không ai thấy
được.
Bồ
Tát đem căn lành
công đức bố thí
mão báu, đối với
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều thọ được chư
Phật dùng nước
pháp để quán
đảnh, do vậy cho
nên thành tựu
nhất thiết trí
huệ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đầy đủ
nhục kế tướng vô
kiến đảnh, đắc
được trí huệ bậc
nhất, đến được
Niết Bàn bờ bên
kia. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều có trí
huệ bảo thượng
diệu, dùng để
nhiếp khắp chúng
sinh khác, khiến
cho họ đều được
viên mãn công
đức, đến được
tột đảnh cao
nhất. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều thành
tựu được trí huệ
vô thượng thù
thắng, trí huệ
đó giống như vua
các thứ báu, đến
được cực đảnh,
chân chánh được
tiếp thọ tất cả
chúng sinh thế
gian cung kính
lễ bái. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
dùng trí huệ làm
mão báu, mà
trang nghiêm đầu
mình, có thể làm
vua tự tại trong
các pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trí huệ minh
châu thường cột
trên đảnh, phàm
Thánh mười
phương thế gian,
chẳng có ai mà
chẳng nhìn thấy
được. Nghĩa là
nói trí huệ
quang, chiếu
sáng mười
phương, ai ai
cũng đều nhìn
thấy được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thảy đều kham
thọ thế gian
đảnh lễ, thành
tựu huệ đảnh,
chiếu sáng Phật
pháp. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đầu đội
mão thập lực
trang nghiêm,
trí huệ bảo hải
thanh tịnh đầy
đủ. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đến được
đảnh đại địa,
được nhất thiết
trí, rốt ráo
thập lực, phá
tan đảnh dục
giới các quyến
thuộc của ma.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thành tựu
đảnh vua vô
thượng bậc nhất,
đắc được đảnh
nhất thiết trí
quang minh,
không gì làm lu
mờ được.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí mão báu,
vì khiến cho
chúng sinh được
trí huệ thanh
tịnh bậc nhất và
mão báu trí huệ
ma ni vi diệu.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, các đức
viên mãn, quyết
thật có thể tiếp
thọ người thế
gian lễ bái, lại
thành tựu trí
huệ Bát Nhã xuất
thế, thấu hiểu
tất cả Phật
pháp. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, trên đầu
đội mão, là dùng
mười thứ oai lực
như Phật làm đồ
trang nghiêm.
Trí huệ của Ngài
sâu rộng như
biển cả, và
thanh tịnh trong
suốt. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đến được
tột đảnh đại
địa, đắc được
nhất thiết trí
huệ, thành tựu
mười thứ oai
thần lực của
Phật, phá trừ
được dục niệm
nguy hại trong
dục giới, và
những tà kiến
thiên ma ngoại
đạo, cùng với
quyến thuộc của
ma. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thành tựu
được đảnh vua vô
thượng đệ nhất,
đắc được trí huệ
quang minh vô
thượng, trên thế
gian chẳng có gì
có thể che lấp
được, vượt qua
được. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
mão báu. Vì hy
vọng chúng sinh
đắc được trí huệ
đệ nhất, quả vị
thanh tịnh nhất,
và mão trí huệ
ma ni báu vi
diệu.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
thấy có chúng
sinh ở trong lao
ngục đen tối, bị
giam cầm cùm
xiềng, trói buộc
thân thể, đứng
ngồi không yên,
đủ các thứ khổ,
chẳng có thân
nhân bạn bè,
không nơi nương
tựa cứu vớt.
Không có y phục,
đói khát gầy ốm,
đủ các thống khổ
khó mà chịu
được. Bồ Tát
thấy rồi, xả bỏ
hết thảy tất cả
tiền tài, châu
báu, vợ con
quyến thuộc và
thân mình. Ở
trong lao ngục
cứu chúng sinh
đó. Như Bồ Tát
Ðại Bi, Bồ Tát
Diệu Nhãn Vương.
Ðược cứu độ rồi,
tuỳ theo sự cần
dùng, thảy đều
bố thí cho họ.
Trừ được khổ sở
hoạn nạn của họ,
khiến cho được
an ổn. Sau đó bố
thí Pháp Bảo vô
thượng, khiến
cho họ xả bỏ
phóng dật, an
trụ vào căn
lành, ở trong
Phật giáo tâm
chẳng thối
chuyển.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, nhìn thấy
có chúng sinh
nào ở trong lao
ngục tối tăm, bị
giam cầm, cùm
xiềng thân thể
họ, đứng lên
ngồi xuống đều
bất phương tiện,
cũng chẳng thoải
mái, hết thảy
thống khổ đều tụ
tập nơi thân,
lại chẳng có
thân nhân và bạn
bè, cũng chẳng
có chỗ nương tựa
và chẳng có ai
cứu vớt. Trên
thân chẳng có
quần áo che
thân, lại lạnh
và đói khát, gầy
ốm như khúc củi.
Ðủ thứ sự thống
khổ như vậy,
thật chẳng dễ gì
nhẫn chịu được.
Bồ Tát thấy
chúng sinh đáng
thương như thế,
lập tức đem hết
thảy tiền tài
châu báu, thậm
chí vợ con,
quyến thuộc, cho
đến thân thể của
Ngài, thảy đều
xả thí, đến lao
ngục cứu vớt
chúng sinh đó
ra. Hành động
như thế của
Ngài, giống như
tinh thần cứu độ
chúng sinh của
Bồ Tát Ðại Bi
Quán Thế Âm. Lại
giống như Bồ Tát
Diệu Nhãn Vương,
hay xả mình vì
người. Ngài cứu
những chúng sinh
khỗ nào đó thoát
ra rồi, tuỳ theo
sự cần của họ,
thảy đều bố thí
cho họ, để giải
trừ những thống
khổ hoạn nạn của
họ, khiến cho
thân tâm họ được
an ổn. Sau đó
khai thị Phật
pháp cho họ
nghe, giảng giải
Kinh điển, khiến
cho họ từ bỏ mao
bệnh phóng dật,
biết lợi ích an
phận giữ quy cụ,
thấu hiểu làm
người phải tu
hành các việc
thiện, vun bồi
căn lành phước
đức của chính
mình, tin sâu
Phật pháp. Ở
trong Phật giáo
vĩnh viễn chẳng
sinh tâm thối
chuyển.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát ở trong lao
ngục cứu chúng
sinh, thì đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
rốt ráo giải
thoát tham ái
ràng buộc.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
dứt dòng sinh
tử, thăng lên bờ
trí huệ. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, diệt trừ
ngu si, sinh
trưởng trí huệ,
giải thoát tất
cả phiền não
ràng buộc.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
diệt trừ ràng
buộc trong ba
cõi, được nhất
thiết trí, rốt
ráo thoát khỏi
ba cõi. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, vĩnh viễn
dứt tất cả phiền
não trói buộc,
đến được bờ bên
kia trí huệ
không có phiền
não, không có
chướng ngại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
lìa các phân
biệt động niệm
tư duy, vào nơi
trí địa bất động
bình đẳng.
Bồ Tát Kim Cang
Tràng vì đề cao
thính chúng
trong pháp hội
chú ý, và tăng
cường chúng sinh
đời sau xem
trọng, lại lớn
tiếng gọi một
tiếng các vị đệ
tử của Phật !
Ðại Bồ Tát, Ngài
đến lao ngục
thấy những chúng
sinh đó thọ khổ,
đời sống thống
khổ, giống như
chính thân mình
chịu khổ, do đó
Ngài nghĩ tìm
cách cứu họ như
thế nào. Nếu
không thể cứu
vớt họ thoát
khỏi khổ nạn,
thì Bồ Tát ăn
không ngon, ngủ
không yên.
Các
vị thiện tín !
Các bạn chắc
chắn sẽ hoài
nghi, Bồ Tát
chẳng phải có
thần thông chăng
? Sao lại giống
phàm phu ăn ngủ
không yên. Phải,
bạn cho rằng Bồ
Tát với phàm phu
hai dạng chăng ?
Căn bản là một,
bất quá tâm của
Bồ Tát lúc nào
cũng vì chúng
sinh, còn tâm
của phàm phu là
vì mình. Bồ Tát
thương người như
chính mình, Ngài
có tâm đại từ,
hay ban vui cho
mọi người; Ngài
có tâm đại bi,
hay cứu người
thoát khỏi biển
khổ. Vì đại từ
đại bi cứu khổ
cứu nạn, cho nên
gọi là Bồ Tát.
Bạn tôi và họ,
nếu có tâm từ
bi, thì cũng
được mọi người
gọi là Bồ Tát
giống nhau.
Nhìn
về biểu hiện,
thì tư tưởng của
Bồ Tát ngu si
hơn phàm phu,
ngày đêm tinh
tấn tu hành, vì
chúng sinh mà
lao nhọc bôn ba,
dụng hết khổ
tâm, tu tập căn
lành công đức,
đều hồi hướng
cho chúng sinh,
nhưng sự ngu si
đó là hướng
thượng, tiến đến
con đường Phật
đạo. Phàm phu tự
cho mình là
thông minh, tức
là đi về hạ lưu,
hướng về trong
vòng lục đạo.
Tinh thần ngu si
của Bồ Tát như
thế, là vượt
khỏi ba cõi, là
biểu hiện đại
trí ngu si. Nếu
người nào muốn
học Bồ Tát, thì
trước hết phải
học sự thiết
thòi, không
chiếm tiện nghi
của người khác.
Thiệt thòi là xả
mình vì người,
chiếm tiện nghi
là ích kỷ. Bồ
Tát thấy chúng
sinh đồng một
thể, cho nên
muốn đến lao
ngục để cứu
chúng sinh. Khi
Ngài đến cứu
chúng sinh thì,
Ngài đem căn
lành công đức bố
thí mà Ngài tu
tập tích tụ từng
chút từng chút,
hoàn toàn hồi
hướng cho tất cả
chúng sinh, và
còn phát tâm
nguyện lớn:
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều chân
thật giải thoát
khỏi tham ái
ràng buộc, đắc
được thân tâm tự
tại. Tham và ái
là hai xiềng
xích vô hình,
trói buộc người
đời không được
tự do, chỉ có
phiền não thống
khổ, nhưng ai ai
cũng trầm mê ở
trong phiền não
chẳng thể tự
giác được, còn
thấy là mạng
sống thứ hai.
Bổn lai chúng ta
sinh ra thì có
thể tánh thanh
tịnh - tánh vốn
thiện. Nhưng vì
thọ năm dục theo
năm tháng mà
chảy vào trong
chân tánh, bổn
tánh thanh tịnh
bèn bị nhiễm ô,
bèn sinh ra tham
ái, mê mất tự
tánh, bèn có vô
minh phiền não,
bị ràng buộc mà
chẳng được giải
thoát. Tham ái
tức là gông cùm,
thọ khổ chẳng tự
do tức là ở
trong lao ngục.
Hiện tại Bồ Tát
phát nguyện muốn
khuyên giúp
chúng ta giải
thoát khỏi ràng
buộc tham ái,
muốn chúng ta
thoát khỏi gông
cùm nầy - buông
xả tất cả hết
thảy tâm tham
tiền tài châu
báu, vật chất
hưởng thụ, phù
hoa hư vinh,
buông xả vợ đẹp
con xinh, và hết
thảy quyền vị,
như thế thì sẽ
đắc được chân
chánh giải
thoát. Nếu còn
một chút buông
xả chẳng được,
thì đó vĩnh viễn
vẫn ở trong lao
ngục thọ trói
buộc. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh dứt được
lưu chuyển trong
sinh tử. Gì gọi
là dòng sinh tử
? Tức là tâm
tham ái. Vì tham
ái mà tâm chẳng
nhàm lìa, làm ra
những nghiệp ác,
thì vĩnh viễn
theo dòng sinh
tử ở trong sáu
nẻo luân hồi.
Phải làm thế nào
để dứt được dòng
sinh tử ? Phải
tu hành biện
đạo, chứng được
sơ quả A la hán,
thì nhập vào
dòng Thánh nhân
pháp tính, ngược
lại dòng phàm
phu sáu trần.
Dứt được dòng
sinh tử, mới
thăng lên được
bờ trí huệ, mới
phá được vô minh
hiển pháp tính.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, tiêu diệt
được tư tưởng
hành vi ngu si.
Diệt trừ ngu si
tức là phá vô
minh, mới minh
bạch được sự lợi
hại của tham ái,
vì tham ái tức
là dòng sinh tử.
Diệt trừ được
ngu si, thì phá
được vô minh,
sau đó sẽ sinh
trưởng trí huệ.
Giống
như mặt trời mọc
lên tức là ban
ngày, ban ngày
giống như thông
minh. Mặt trời
lặng đi, tức là
đêm tối, đêm tối
tức là vô minh.
Ánh sáng mặt
trời giống như
quang minh của
Phật chiếu khắp,
một khi được
quang minh của
Phật chiếu đến
thân thể, thì
tất cả phiền não
ràng buộc đều
được giải thoát.
Con người đều
hoan hỉ nghe
những lời khen,
nếu như nghe
những lời họ
mắng bạn, thì
lập tức phiền
não sinh ra, kỳ
thật nếu xem lời
mắng như lời
khen, thì cũng
chẳng có chuyện
gì, tại sao chỉ
khác nhau giữa
mắng và khen,
thì vui và giận
lại khác nhau !
Ðó tức là bị
cảnh giới
chuyển. Mỗi
người tu đạo,
phải dưỡng thành
định lực khống
chế, phải có
công phu người
chuyển cảnh, thì
không bị cảnh
chuyển người.
Hai câu nầy tôi
thường khuyên
các bạn, hy vọng
các bạn khéo vận
dụng, trợ giúp
rất lớn đói với
sự tu hành. Ðó
cũng là biện
pháp tiêu diệt
ngu si, sinh
trưởng trí huệ,
giải thoát tất
cả phiền não
ràng buộc. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tiêu diệt được
sự trói buộc của
ba cõi-cõi dục,
cõi sắc, cõi vô
sắc, tức là khởi
hoặc, tạo
nghiệp, thọ báo.
Một niệm vô minh
sinh ra, thì
theo đó mà tạo
ra đủ thứ
nghiệp. Diệt
được sự trói
buộc ba cõi rồi,
thì sẽ vượt khỏi
ba cõi, đắc được
trí huệ chân
chánh xuất thế,
vĩnh viễn lìa
khỏi ràng buộc
của ba cõi. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vĩnh viễn đoạn
trừ tất cả phiền
não kết tập trói
buộc, bao quát
gồm có "tham,
sân, si, mạn,
nghi, ác, kiến;
thân, biên,
giới, kiến, tà",
dứt trừ được
những nguồn gốc
đó, thì vĩnh
viễn dứt trừ
phiền não kết
tập ràng buộc,
sau đó sẽ đắc
được thân tâm tự
tại, đến được
cảnh giới tất cả
không chướng
ngại, thăng lên
bờ bên kia trí
huệ. Từ ngu si
đến được bờ bên
kia trí huệ, nói
ra rất giản đơn.
Nhưng nếu bạn
không cung hành
thực tiễn, thành
thật tu hành,
chỉ học thiền
ngoài miệng,
hoặc giống như
người đầu đá,
chỉ nói mà không
tu hành, thì
vĩnh viễn chẳng
đến được bờ bên
kia trí huệ. Cho
nên hy vọng mỗi
người tu học
đạo, mọi người
đều nhiếp tâm
được quy về một,
dần dần từng
bước từng bước
đi hướng về bồ
đề.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
lìa khỏi tất cả
tạp niệm không
cần thiết,
thường chế tâm
tại một chỗ, suy
gẫm các pháp, an
trụ trong sự
vắng lặng không
động, thì sẽ cảm
mà toại thông.
Chẳng còn vọng
niệm, cũng chẳng
còn tư duy, đối
với tất cả cảnh
giới cũng chẳng
còn phân biệt,
như vậy thì sẽ
đạt đến cảnh
giới tu hành như
định. Do đó gọi
là tâm không
phân biệt, ý
không suy gẫm,
nhập vào trí huệ
bình đẳng bất
động. Ðịnh hay
sinh trí huệ, có
định thì sẽ phát
sinh trí huệ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thoát khỏi các
dục trói buộc,
vĩnh viễn lìa
tất cả tham dục
thế gian. Ở
trong ba cõi,
chẳng có nhiễm
trước. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được chí
nguyện thù thắng
khoái lạc,
thường được chư
Phật vì nói pháp
môn. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tâm
giải thoát không
chấp trước không
ràng buộc, rộng
lớn như pháp
giới, rốt ráo
như hư không.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thần thông
của Bồ Tát, điều
phục chúng sinh
tất cả thế giới,
khiến cho họ lìa
thế gian, trụ
nơi đại thừa.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài cứu
độ chúng sinh
trong lao ngục,
vì khiến cho
chúng sinh vào
khắp trí huệ của
Như Lai.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
giải thoát khỏi
tất cả tham dục
trói buộc, tức
là bao quát vọng
tưởng, ý niệm
dâm dục. Những
tư tưởng không
chánh đáng đó,
trói buộc thân
tâm con người
không động được,
muốn giải trừ
những trói buộc
tham dục, thì
phải vĩnh viễn
lìa khỏi những
tham dục, mà
người thế gian
ưa thích, mới có
thể ở trong tam
giới đắc được
thanh tịnh. Nếu
không nhiễm
trước dục niệm
ba cõi, thì có
thể thoát khỏi
ba cõi, đắc được
vui vắng lặng
thanh tịnh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được chí
nguyện thù thắng
khoái lạc, mà
còn được mười
phương chư Phật
hộ niệm, vì nói
tất cả pháp môn
tu hành, khiến
cho chúng sinh y
giáo tu hành.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
tâm giải thoát
chẳng chấp
trước, cũng
chẳng bị ràng
buộc, tự tại an
ổn, toại tâm như
ý, tâm ý khoát
đạt khắp pháp
giới, thanh tịnh
không nhiễm như
hư không. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thần
thông giống như
Bồ Tát, đến mười
phương thế giới
giáo hoá chúng
sinh, điều phục
những chúng sinh
cang cường,
khiến cho họ đều
phát tâm bồ đề,
lìa khỏi tất cả
những ưu sầu khổ
não trên thế
gian, an trụ ở
trong Phật pháp
đại thừa bình
đẳng. Ðó tức là
hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài cứu
vớt chúng sinh
thọ khổ trói
buộc tham ái dục
lạc ở trong lao
ngục. Mục đích
là vì khiến cho
tất cả chúng
sinh đạt được
trí huệ của
Phật.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
thấy có tù nhân,
cổ mang gông,
tay chân bị
trói, thọ các
khổ độc, sắp bị
xử tử. Xả bỏ tất
cả đồ vui cõi
Diêm Phù Ðề,
thân nhân bạn
bè. Hoặc dùng
dao lóc thịt,
hoặc dùng giáo
đâm, hoặc dùng
lửa thiêu. Các
thứ khổ như vậy,
đủ thứ sự bức
bách. Bồ Tát
thấy rồi, tự xả
bỏ thân mình, mà
thay thế họ thọ
khổ. Như Bồ Tát
A Dật Ða, Bồ Tát
Thù Thắng Hạnh
Vương, cùng với
vô lượng các Bồ
Tát khác. Vì
chúng sinh mà tự
bỏ thân mạng,
thọ các khổ độc.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài nhìn
thấy chúng sinh
bị nhốt ở trong
lao ngục, cổ bị
mang gông, hai
tay bị trói lại,
hai chân bị cùm,
không thể cử
động được, thống
khổ vạn phần.
Lại còn thêm
những ngục tốt
cai quản tội
phạm thường xin
họ tài vật, nếu
không được toại
nguyện, thì bị
họ hành hạ đủ
thứ hình phạt
độc ác, muốn xử
tử họ, đoạt lấy
mạng sống của
họ. Những ngục
tù thọ khổ đáng
thương đó, xả bỏ
hết những đồ vật
tài sản trong
cõi Diêm Phù Ðề,
và những dụng cụ
vui chơi hằng
ngày mà họ ưa
thích. Quyến
thuộc, thân
nhân, bạn bè
cũng đều vĩnh
viễn từ biệt.
Dẫn họ lên chỗ
rất cao, dùng
dao lóc thịt ra
từng miếng, hoặc
dùng giáo đâm,
xuyên thủng thân
thể họ, hoặc đổ
dầu lên quần áo
của họ rồi dùng
lửa thiêu đốt.
Những thảm cảnh
độc ác đó, trừng
phạt những tù
nhân, Bồ Tát
thấy rồi, sao mà
không khiến Ngài
đau lòng cho
được ? Cho nên
Ngài quyết xả bỏ
thân mình, tìm
đến chỗ tù nhân
thay thế họ, để
thọ hình pháp
thống khổ tàn
khốc. Giống như
Bồ Tát A Dật Ða,
Bồ Tát Thù Thắng
Hạnh, khi các
Ngài hành Bồ Tát
đạo cứu độ chúng
sinh, thì thường
xả bỏ mạng sống
cứu vớt chúng
sinh. Chẳng
những hai vị Bồ
Tát đó như vậy,
mà còn có vô
lượng vô biên
các Bồ Tát khác,
vì cứu chúng
sinh, cũng
thường thường xả
bỏ thân mình,
nguyện thay thế
chúng sinh thọ
tất cả khổ độc.
Bấy
giờ, Bồ Tát nói
với người chủ
quản lý rằng:
Tôi nguyện xả
thân để thay thế
mạng sống cho
người kia. Thọ
các thứ khổ như
người kia, có
thể trị tôi như
người kia, tuỳ ý
các ông làm. Dù
thọ khổ trải qua
gấp bội A tăng
kỳ, tôi cũng cam
chịu. Khiến cho
người kia được
giải thoát, nếu
tôi thấy người
kia bị giết hại,
không xả thân
mạng cứu chuộc
họ, thì không
gọi là trụ tâm
Bồ Tát. Tại sao
? Tôi vì cứu hộ
tất cả chúng
sinh, mà phát
tâm bồ đề nhất
thiết trí.
Lúc
đó, Bồ Tát nói
với người quản
lý giám ngục
rằng: Tôi nguyện
ý bố thí thân
thể của tôi, để
thay thế mạng
sống của người
thọ khổ hình.
Những gì người
kia thọ khổ, tôi
xin chịu hết,
trừng phạt tôi
giống như người
kia, tuỳ ý ông
muốn trừng phạt
thế nào cũng
được. Dù ông
muốn tôi thọ khổ
trải qua gấp bội
vô lượng vô biên
người kia, tôi
cũng cam chịu
tiếp thọ. Chỉ
muốn ông khiến
cho người kia
thọ khổ được
giải thoát, được
tự do. Bồ Tát
nói: Nếu như tôi
thấy chúng sinh
thọ những khổ
hình đó, khi sắp
phải bị giết
hại, mà tôi
không xả bỏ thân
mạng để cứu họ,
hoặc dùng tiền
vàng đi chuộc
thân mạng họ,
thì tôi không
được gọi là
người đã phát
tâm Bồ Tát, hành
Bồ Tát đạo, trụ
nơi quả vị của
Bồ Tát. Vì sao ?
Vì tôi cứu hộ
mạng sống tất cả
chúng sinh,
giống như cứu hộ
mạng sống của
chính mình. Tôi
thấy chúng sinh
thọ khổ, giống
như mình thọ
khổ. Cho nên tôi
phát nguyện cứu
hộ tất cả chúng
sinh, tôi phát
tâm bồ đề giác
đạo nhất thiết
trí huệ, tức là
vì cứu chúng
sinh.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát tự xả thân
mạng cứu chúng
sinh, thì đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thân mạng
rốt ráo không
đoạn tận, vĩnh
viễn lìa khỏi
tất cả tai nạn
bức não. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, nương chư
Phật mà trụ,
được thọ ký nhất
thiết trí, đầy
đủ mười lực bồ
đề. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, cứu khắp
hàm thức, khiến
cho không sợ
hãi, vĩnh viễn
thoát khỏi đường
ác. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tất
cả mạng, vào nơi
cảnh giới trí
huệ bất tử.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vĩnh viễn lìa
oán địch, không
có các ách nạn,
thường được chư
Phật bạn lành
nhiếp thọ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
xả lìa tất cả
đao kiếm binh
trượng, các dụng
cụ khổ ác, tu
hành đủ thứ
nghiệp thiện
thanh tịnh.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát Ngài tự
nguyện xả thân
mạng cứu chúng
sinh, vẫn đem
căn lành tích
luỹ mà Ngài tu
bố thí, đối với
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều đắc được
thân mạng chân
thật vĩnh viễn
không đoạn
diệt-pháp thân,
cũng vĩnh viễn
lìa khỏi ba tai
tám nạn, và
những khổ não
bách hại khác.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, có thể y
chiếu pháp của
chư Phật nói,
lão thật tu
hành, gần gũi
chư Phật, y chỉ
chư Phật mà trụ,
đắc được nhất
thiết Phật trí,
đầy đủ mười thứ
oai thần lực.
Còn được thọ ký
thành Phật-mỗi
vị Phật trước
khi thành Phật,
đều được mười
phương chư Phật
thọ ký, tức là
nói trước đời vị
lai sẽ được
thành Phật, hiệu
Phật là gì, cõi
nước tên gì, đại
kiếp thời gian
trụ thế bao lâu
.v.v... Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
có thể cứu hộ
khắp tất cả
những kẻ có mạng
sống, khiến cho
họ chẳng thọ sự
sợ hãi, mà vĩnh
viễn xa lìa khỏi
ba đường ác. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được mạng sống
lâu dài, đến
được cảnh giới
bất tử, chẳng
còn vô minh, chỉ
có trí huệ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vĩnh viễn lìa
khỏi những kẻ có
tâm oán hại,
những người có ý
không thiện,
cũng chẳng gặp
nguy hiểm và tai
nạn, thường
thường được chư
Phật và bạn hữu
nhiếp trì. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều chẳng có tâm
tàn sát chiến
tranh, do đó:
"Cất đao vào
kho, thả ngựa
vào núi", qua
những ngày thái
bình thịnh
vượng. Người với
người, người với
động vật, cùng
nhau hoà ái,
chẳng có những
hung khí đao
kiến binh
trượng, cũng
chẳng có công cụ
gông cùm xiềng
xích thống khổ.
Hết thảy hàm
thức chúng sinh,
đều biết tu đủ
thứ nghiệp thiện
thanh tịnh, xa
lìa tất cả
nghiệp ác chẳng
thanh tịnh.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, lìa các sợ
hãi. Ở dưới cội
bồ đề, hàng phục
ma quân. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, lìa sợ hãi
nơi đại chúng,
nơi pháp vô
thượng tâm thanh
tịnh không sợ
sệt, hay làm đại
sư tử hống tối
thượng. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được trí
huệ sư tử không
chướng ngại, nơi
các thế gian tu
hành chánh
nghiệp. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đến nơi
không sợ hãi,
thường nhớ cứu
hộ chúng sinh
khổ.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
tự xả bỏ thân
mạng cứu các
ngục tù lúc lâm
hình. Vì khiến
cho chúng sinh
lìa khổ sinh tử,
được vui thượng
diệu của Như
Lai.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
xa lìa tất cả sợ
hãi, ngồi dưới
cội bồ đề thành
Phật, hàng phục
ma quân thiên ma
ngoại đạo. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
chẳng sợ oai đức
của đại chúng, ở
trong pháp hội
rộng lớn, có thể
đối với chúng
sinh diễn nói
đại pháp vô
thượng, tâm
chẳng khiếp
nhược. Vì trong
tâm ý thanh tịnh
không nhiễm, cho
nên làm sư tử
hống, giáo hoá
chúng sinh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được trí huệ
sư tử chẳng bị
bất cứ gì làm
chướng ngại,
trong mười
phương thế gian
đều tu hành đạo
nghiệp chân
chánh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều đến được cõi
Cực Lạc Tịnh Ðộ
chẳng có sợ hãi,
luôn luôn nghĩ
nhớ còn chúng
sinh trầm luân
trong biển khổ,
phải phát nguyện
trở lại sinh tử,
khắp cứu chúng
sinh, đồng sinh
về cõi nước Cực
Lạc.
Ðó
là hồi hướng căn
lành công đức
tích tụ của đại
Bồ Tát khi Ngài
tự xả thân mạng
cứu những ngục
tù sắp bị xử tử.
Vì hy vọng khiến
cho tất cả chúng
sinh, vĩnh viễn
thoát khỏi khổ
sinh tử trói
buộc, đắc được
vui vắng lặng
tối cao vô
thượng như chư
Phật, cho nên Bồ
Tát mới phát
nguyện lớn nầy. |
TẬP 13
|
QUYỂN HAI MƯƠI
BẢY
PHẨM THẬP HỒI
HƯỚNG THỨ HAI
MƯƠI LĂM PHẦN
NĂM
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
bố thí cả búi
tóc liền da đầu
cho người đến
cầu xin, như Bồ
Tát Bảo Kế
Vương, Bồ Tát
Thắng Diệu Thân,
và vô lượng các
Bồ Tát khác.
Lúc
đó, Bồ Tát thấy
người đến xin,
tâm sinh hoan
hỉ, mà nói rằng:
Nay nếu ông muốn
búi tóc liền da
đầu, thì có thể
lấy, búi tóc của
tôi là tối đệ
nhất trong cõi
Diêm Phù Ðề. Khi
nói như vậy tâm
không động loạn,
chẳng niệm
nghiệp dư, xả
lìa thế gian,
chí cầu tịch
tĩnh, rốt ráo
thanh tịnh, tinh
cần chất trực,
hướng về nhất
thiết trí. Liền
cầm đao bén, cắt
búi tóc liền da
đầu, gối phải
quỳ xuống, chắp
hai tay lại, một
lòng bố thí cho.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Trong
Kinh văn ở
trước, đại Bồ
Tát bố thí cho
tất cả chúng
sinh là ngoại
tài, hiện tại
Ngài bố thí cho
tất cả chúng
sinh là nội
tài-thân tâm
tính mạng, đầu
mắt tuỷ não. Như
nay bố thí là
búi tóc liền da
đầu. Chúng ta ở
trong chánh điện
nhìn thấy trên
đầu của Phật có
viên tròn đen,
cao nhô lên
giống như núi
thịt nhỏ, đó tức
là tướng nhục kế
trên đỉnh đầu,
là một trong 32
tướng của Phật.
Bồ Tát cũng có
tướng đảnh nhục
kế, là do công
đức tu hành mà
thành tựu, Bồ
Tát nếu gặp có
người đến xin
Ngài nhục kế,
thì Ngài cũng
chẳng xẻn tiếc.
Giống như thuở
xưa có vị Bồ Tát
Bảo Kế Vương, Bồ
Tát Thắng Diệu
Thân, cùng với
vô lượng Bồ Tát
khác, các Ngài
đều đem nhục kế
của mình bố thí
cho người đến
cầu xin.
Khi
đại Bồ Tát, Ngài
muốn bố thí búi
tóc liền với da
đầu, thấy có
người đến xin
búi tóc, thì
Ngài bèn sinh
tâm đại hoan hỉ,
mà nói với người
xin: Hiện tại
nếu ông muốn búi
tóc liền với da
đầu, thì có thể
lấy trên đầu của
tôi. Búi tóc của
tôi tốt đẹp nhất
ở trong cõi Diêm
Phù Ðề, được gọi
là đệ nhất. Khi
trong miệng Ngài
nói như thế, thì
trong tâm cũng
chẳng có chút
hoảng sợ tán
loạn nào. Ngài
chẳng nghĩ gì
cả, tất cả đều
buông xả đặng,
tất cả trên thế
gian, Ngài đều
xả được hết. Một
lòng lập chí vui
thiền định vắng
lặng, hy vọng
đắc được sự
thanh tịnh chân
chánh. Tinh tấn
siêng tu học
Phật đạo, ba
nghiệp thanh
tịnh, lìa khỏi
hai chướng-Phiền
não chướng, sở
tri chướng, phẩm
chất đoan chánh,
tâm ngay thẳng,
chỉ cầu hướng về
nhất thiết trí
huệ. Do đó, tay
bèn cầm đao sắc
bén tự cắt búi
tóc liền da trên
đầu của mình
xuống, đem đến
trước mặt người
xin, gối phải
quỳ sát đất,
chắp tay lại,
cung kính dâng
bố thí búi tóc
liền da đầu cho
người đến xin.
Chánh
niệm chỗ thực
hành của ba đời
tất cả chư Phật
Bồ Tát, phát tâm
đại hoan hỉ tăng
thêm ý chí vui
thích. Ở trong
các pháp, ý khéo
khai mở thấu
hiểu, chẳng thủ
lấy khổ, biết rõ
khổ thọ. Vô
tướng vô sinh,
các thọ khởi với
nhau, chẳng có
thường trụ. Cho
nên tôi phải
đồng với tất cả
các Bồ Tát quá
khứ hiện tại và
vị lai. Tu hành
đại xả, phát
lòng tin ưa
thích thâm sâu,
cầu nhất thiết
trí. Chẳng có
thối chuyển,
chẳng do người
khác chỉ dạy,
sức lực thiện
tri thức. Khi
đại Bồ Tát bố
thí như thế, đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được vô kiến
đảnh, thành tựu
búi tóc Bồ Tát
như tháp. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tóc
xanh biếc, tóc
kim cang, tóc
mịn màng mềm
mại, diệt được
tất cả phiền não
của chúng sinh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tóc thấm
nhuần, tóc kín
dày, tóc không
lấn phủ vành
trán.
Bồ
Tát lúc đó, một
lòng không hai,
chánh niệm hạnh
môn của ba đời
chư Phật và Bồ
Tát tu, sinh tâm
đại hoan hỉ,
đồng thời tăng
trưởng chí
nguyện của mình
được vui thành
tựu. Ðối với
pháp lý của chư
Phật nói, quá
khứ có chỗ chẳng
minh bạch, hiện
tại hốt nhiên
trong tâm ý đều
minh bạch. Tuy
nhiên cắt búi
tóc trên đầu
xuống để bố thí,
nhưng chẳng cho
rằng thọ khổ. Vì
Bồ Tát thấu
hiểu:
"Thọ khổ thì hết
khổ
Hưởng phước thì
hết phước".
Khổ
vốn chẳng có tự
thể, cũng chẳng
có "tướng" và
"sinh", nó vốn
tức là không.
Sắc thọ tưởng
hành thức năm
uẩn, tuy thường
thường cùng nhau
sinh khởi, nhưng
chẳng phải lúc
nào cũng tồn tại
có tác dụng. Do
đó, tôi-Bồ Tát
phải tuỳ đồng
hết thảy tất cả
Bồ Tát quá khứ
hiện tại và vị
lai, cùng tu
hành pháp môn
đại bố thí, cử
hành đại hội bố
thí, phát vô
lượng tâm đại hỉ
đại xả, tin sâu
chỉ có phụng
hành giáo lý của
chư Phật, mới là
pháp vui chân
chánh. Một lòng
trên cầu Phật
trí, chẳng sợ
thọ bất cứ khổ
nạn nào, cũng
chẳng thối thất
tâm nguyện của
mình. Tôi quyết
tâm như thế,
chẳng phải nhờ
thiện tri thức
chỉ dạy, hoặc
nhờ sức lực
thiện tri thức
tăng cường mới
làm được, mà là
tôi tự phát tâm,
ý chí ưa thích
hành đại bố thí
nầy.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí búi tóc, đem
công đức căn
lành của Ngài tu
tập, đối với
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Tôi nguyện tất
cả chúng sinh
được vô kiến
đảnh-không thể
thấy được đỉnh
đầu của họ, chỉ
có Phật mới có
tướng vô kiến
đảnh trang
nghiêm nầy. Hy
vọng chúng sinh
tu hành công
đức, có thể
thành tựu búi
tóc Bồ Tát giống
như bảo tháp.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được đầu
tóc xanh biếc,
hoặc là đầu tóc
giống như kim
cang, hoặc là
đầu tóc mịn màng
mềm mại, hay
diệt được tám
vạn bốn ngàn thứ
phiền não của
chúng sinh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được đầu tóc
thấm nhuần bóng
mượt, vừa kín
vừa lại dày,
cũng không thể
lấn phủ vành
trán, rất có thứ
lớp, nhìn trông
thật rất đẹp.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tóc
mềm mại. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tóc
như chữ vạn, tóc
xoắn khu ốc về
phía phải.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tướng tóc
của Phật, vĩnh
viễn lìa tất cả
phiền não kết
tập. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tóc
quang minh,
quang minh đó
chiếu mười
phương thế giới.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tóc không
rối loạn, giống
như tóc của Như
Lai, sạch đẹp
không không tạp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tóc đảnh
tháp như bậc ứng
cúng, khiến cho
người thấy, như
thấy được tóc
của Phật. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tóc
không nhiễm
trước của Như
Lai, vĩnh viễn
lìa tất cả màng
tối trần cấu.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí búi tóc
liền da đầu, vì
muốn khiến cho
tâm chúng sinh
được vắng lặng,
đều được viên
mãn các Ðà la
ni, rốt ráo nhất
thiết chủng trí
của Như Lai,
mười thứ lực của
Phật.
Bồ
Tát lại nguyện
cho hết thảy
chúng sinh, được
đầu tóc mềm mại.
Tại sao ? Vì đầu
tóc mềm cứng, có
thể hiển ra cá
tính của con
người, là hoà
thiện hay là cố
chấp. Cá tính
của người cố
chấp chẳng dễ gì
hợp tác với
người, vì có tỳ
khí cang cường.
Người đầu tóc
mềm mại, thì
tính tình hoà
thiện. Chúng ta
người tu học
đạo, phải thường
thường chú ý
khống chế tỳ khí
của mình, giảm
bớt đi phiền não
và sân hận. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được đầu tóc
hình chữ vạn,
tóc xoắn hình ốc
về phía phải.
Ðầu tóc của chư
Phật tức là tóc
xoắn hình ốc về
phía phải. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được đầu tóc
giống như Phật,
vĩnh viễn xa lìa
tám vạn bốn ngàn
phiền não kết
tập-kết tập tức
là tiểu mao bệnh
của một số
người. Người
không có đại
bệnh thì có tiểu
bệnh; chẳng có
tiểu bệnh, thì
có mao bệnh, đó
tức là kết tập.
Ví như trong đời
sống của mọi
người, đều có
chỗ ưa thích
khác nhau, như
mùi vị ăn uống.
Tóm lại, tham
sân si mạn nghi
là kết tập của
chúng sinh, có
thể vĩnh viễn xa
lìa những tập
khí xấu nầy, thì
sẽ vĩnh viễn lìa
tất cả phiền não
kết tập. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được đầu tóc
quang minh, thứ
quang minh đó có
thể chiếu khắp
mười phương thế
giới. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được đầu
tóc không tạp
loạn, thẳng mượt
không rối loạn,
thanh tịnh tốt
đẽp, màu sắc
thuần nhất không
tạp, giống như
đầu tóc của
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh thành tựu
đầu tóc đỉnh
tháp của bậc
xứng đáng trời
người cúng
dường, khiến cho
bất cứ người nào
thấy được như
thấy được đầu
tóc của Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được đầu
tóc thanh tịnh
như Phật chẳng
có sự ô nhiễm,
vĩnh viễn lìa
khỏi tất cả màng
đen tối trần
cấu. Những lời
nguyện ở trên,
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí búi tóc liền
với da đầu. Vì
muốn khiến cho
tâm của tất cả
chúng sinh,
thường ở trong
định thanh tịnh
vắng lặng, chẳng
sinh vọng niệm
nào khác, đều
đắc được đủ thứ
Ðà la ni viên
mãn. Chú lực
tổng trì, và
nhất thiết chủng
trí chân thật
của Phật, cùng
với mười đại oai
thần lực của
Phật.
Các
vị thiện tín !
Bồ Tát phát
nguyện, lần nầy
rồi lần khác,
nguyện nguyện vô
cùng, nguyện
nguyện vô tận,
vì cứu độ chúng
sinh, nguyện
nguyện chu
tường, vĩnh viễn
không ngừng
nghỉ. Cho nên
gọi là nguyện
hải, nguyện lực
thâm sâu không
đáy, rộng lớn
không bờ mé,
Ngài nhìn thấy
chúng sinh từ
trong bất tịnh
sinh ra, từ
trong bất tịnh
chết đi, vĩnh
viễn lưu chuyển
trong sự bất
tịnh. Do đó Ngài
phát nguyện cứu
chúng sinh thoát
ra khỏi sự bất
tịnh, khiến cho
chúng sinh đều
đắc được thân
tâm thanh tịnh.
Bồ Tát thương
xót chúng ta ngu
si, chẳng có trí
huệ, cứ làm
những việc điên
đảo. Ngài lại
phát nguyện giáo
hoá chúng sinh,
khiến cho chúng
ta khai mở trí
huệ, khai mở mắt
tâm, ở trong
quang minh của
Phật chiếu đến,
hưởng thọ pháp
hỉ vô thượng. Bồ
Tát lại thấy
chúng ta mắt loà
vô tri, chẳng
phân biệt được
khổ vui, cho nên
khai thị chúng
ta phải nhận
thức cảnh giới,
đối với thọ khổ,
thọ vui, chẳng
khổ chẳng thọ
vui, đều có thể
thái nhiên. Khi
gặp cảnh nghịch,
phải nhẫn nại
phá tan cửa ải
khổ; khi gặp
cảnh thuận cũng
đừng lưu luyến,
minh bạch tất cả
vô thường. Gặp
bất cứ cảnh giới
gì, đều có định
lực như như
chẳng động, rõ
ràng sáng suốt.
Có nghị lực và
quyết tâm chuyển
biến cảnh giới,
mới diệt trừ
được phiền não
thống khổ. Nhất
là người tu
hành, càng phải
chú ý. Bồ Tát
lại sợ chúng ta
tướng sinh chẳng
đủ trang nghiêm,
trên từ đầu
xuống dưới chân,
chẳng có chút
nào mà Bồ Tát
chẳng nghĩ đến
chúng ta, thảy
đều vì chúng ta
hồi hướng,
nguyện nguyện vì
chúng ta mà mong
cầu, đều hy vọng
cho tất cả mỗi
chúng sinh đều
viên mãn thành
tựu đầy đủ. Các
bạn hãy nghĩ xem
! Thiên hạ còn
có ai có tâm từ
bi hơn Bồ Tát
chăng ! Khi Ngài
hồi hướng, bất
luận là thiện ác
tốt xấu, giàu
nghèo sang hèn,
nam nữ già trẻ
oán thân, một
luật đều bao
quát hết trong
đó, nguyện cho
khắp tất cả đều
được lợi ích của
Ngài hồi hướng,
tâm của Ngài
thật là bình
đẳng ! Mọi người
phải sớm phát
tâm đại bi, do
tâm đại bi mới
sinh ra tâm bồ
đề, mới báo đáp
được thâm ân của
Bồ Tát.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
đem con mắt bố
thí cho người
đến xin. Như Bồ
Tát Hoan Hỉ
Hạnh, Bồ Tát
Nguyệt Quang
Vương, và vô
lượng các Bồ Tát
khác. Khi đại Bồ
Tát bố thí mắt,
thì khởi tâm thí
nhãn thanh tịnh.
Khởi tâm trí
nhãn thanh tịnh.
Khởi tâm y chỉ
pháp quang minh.
Khởi tâm hiện
quán vô thượng
Phật đạo. Phát
tâm hồi hướng
trí huệ rộng
lớn. Phát tâm xả
thí bình đẳng
với Bồ Tát ba
đời. Phát tâm
nơi vô ngại nhãn
khởi niềm tin
thanh tịnh bất
hoại. Ðối với
người xin, khởi
tâm hoan hỉ
nhiếp thọ.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, hiện tại
Ngài lại đem con
mắt của mình, bố
thí cho người
đến xin mắt. Như
Bồ Tát Hoan Hỉ
Hạnh, Bồ Tát
Nguyệt Quang
Vương, cùng với
vô lượng các Bồ
Tát khác, đều đã
từng bố thí con
mắt của các
Ngài. Vị đại Bồ
Tát nầy, khi
Ngài bố thí con
mắt, tâm của
Ngài rất thanh
tịnh, chẳng có
chút tâm tạp
nhiễm nào, chân
tâm thành ý đem
con mắt của Ngài
bố thí cho người
đến xin. Có
người có con mắt
phóng quang, có
thể nhìn sự vật
rất xa, đó là
nguyên nhân thuở
xưa đã từng bố
thí con mắt. Có
người tuy nhiên
có con mắt,
nhưng chẳng nhìn
thấy sự vật, đó
là trong quá khứ
không có công
đức bố thí con
mắt. Nói như
vậy, tôi nghĩ
rằng sẽ dẫn khởi
nghi vấn của các
bạn, cho rằng
chẳng bố thí con
mắt cho người
khác, thì đương
nhiên phải có
con mắt tốt, còn
đem con mắt bố
thí cho người,
thì mới chẳng
còn con mắt. Lối
nói nầy là sự
thấy nông cạn
của thế tục,
nhưng đi ngược
lại trong luật
nhân quả. Bố thí
là xả bỏ, bạn
càng xả bỏ cho
người khác, thì
bạn càng có, xả
bỏ càng nhiều
thì quả báo
phước đức càng
lớn. Trong Kinh
Ðịa Tạng có nói:
"Xả một được vạn
báo".
Trong
xã hội có rất
nhiều người có
tiền, mà họ
chẳng xả bỏ được
cho những kẻ
nghèo, thà lãng
phí vật chất, để
cá nhân hưởng
thụ năm dục. Các
bạn hãy nhìn xem
những người bần
cùng khốn khổ cô
nhi, quần áo
chẳng có mặt ấm
thân, cơm chẳng
no bụng, họ là
những người kém
phước đức. Cho
nên chúng ta
đừng sợ bố thí
cho họ, thì mình
chẳng còn nữa.
Khi Bồ Tát bố
thí con mắt, thì
Ngài sinh khởi
tâm trí huệ
thanh tịnh, hy
vọng con mắt
Ngài bố thí, trở
thành mắt trí
thanh tịnh của
người xin. Ngài
lại nghĩ đến
công đức bố thí
con mắt, hồi
hướng cho pháp
giới chúng sinh,
hy vọng họ đều
phát tâm trí huệ
rộng lớn. Lại
phát tâm bình
đẳng đồng với
các Bồ Tát ba
đời mà bố thí.
Lại phát tâm con
mắt chẳng thọ
tất cả sự chướng
ngại, mắt từ bi
bình đẳng quán
sát tất cả chúng
sinh, đều như
quyến thuộc chí
thân. Tâm tin
thanh tịnh kiên
cố, đối với chân
lý Phật pháp
thông đạt vô
ngại, chẳng có
tơ hào nghi
hoặc, chẳng bị
dị luận phá
hoại. Ðối với
người xin con
mắt của Ngài,
thì sinh tâm đại
hoan hỉ, và còn
nhiếp thọ chúng
sinh có pháp
duyên, giáo hoá
họ, phát tâm bồ
đề viên mãn.
Vì
rốt ráo tất cả
thần thông. Vì
sinh Phật nhãn.
Vì tăng trưởng
tâm đại bồ đề.
Vì tu tập đại từ
bi. Vì chế phục
sáu căn. Do các
pháp như vậy mà
sinh tâm như
thế.
Tại
sao Bồ Tát muốn
làm công đức bố
thí con mắt ? Vì
hy vọng đắc được
tất cả thần
thông chân
chánh, mà hành
công đức bố thí
đặc biệt khó xả
mà xả được. Kỳ
thật sức thần
thông chỉ cần
nhận chân tu
hạnh thanh tịnh,
công phu tu đến
trình độ viên
mãn, thì tự
nhiên sẽ cảm mà
toại thông. Lại
vì muốn thành
Phật đạo, sẽ
khai mở Phật
nhãn. Quang minh
của Phật nhãn,
giống như ánh
sáng của một
ngàn mặt trời,
nó có thể chiếu
khắp pháp giới.
Cổ nhân có bài
kệ rằng:
"Thiên nhãn
thông phi ngại,
Nhục nhãn ngại
phi thông,
Pháp nhãn duy
quán tục,
Huệ nhãn liễu
chân không,
Phật nhãn như
thiên nhật,
Chiếu dị thể
hoàn đồng".
"Thiên
nhãn thông phi
ngại": Người có
thiên nhãn
thông, thì họ có
thể thấy mọi sự
sinh hoạt ở trên
trời, năm quang
mười sắc, tất cả
đều ở trong con
mắt; dưới thì
thấy đủ thứ sinh
hoạt của tất cả
chúng sinh, nhỏ
bé đều nhìn thấy
hết; dưới lòng
đất khoảng mười
thướt, tất cả
bảo tàng cũng
đều nhìn thấy rõ
ràng; nhưng
không thể khởi
tâm tham tuỳ ý
lấy làm của
mình, một khi
khởi tâm tham
thì thiên nhãn
vĩnh viễn chẳng
sáng trở lại
nữa.
"Nhục nhãn ngại
phi thông". Nhục
nhãn của phàm
phu, chỉ nhìn
thấy sự vật ở
trước, cách
tường chẳng nhìn
thấy, càng không
nhìn thấy sự vật
có vật chướng
ngại ngăn che.
Song, nhục nhãn
ở đây, có thể
thấy được sự vật
có vật chướng
ngại ngăn che,
có thể nhìn thấy
người, thấy quỷ,
thấy thần, thấy
Phật.
"Pháp nhãn duy
quán tục". Pháp
nhãn thì nhìn
thấy thật tướng
của tất cả các
pháp, nhưng
chẳng phải thuộc
về tục đế; bất
quá pháp nhãn
cũng có thể nhìn
thấy sự vật mà
phàm phu nhìn
chẳng thấy,
giống như chúng
ta tụng Kinh,
mắt phải nhìn
vào quyển Kinh,
từng chữ từng
câu từng hàng mà
đọc từ từ. Nếu
như tu hành được
pháp nhãn thanh
tịnh, thì tận hư
không khắp pháp
giới đều là Kinh
điển, tuỳ ý bạn
hoan hỉ, thích
Kinh gì đều có
cả, mà còn nhìn
nhanh gấp hơn
trăm lần phàm
phu, đối với ý
nghĩa Kinh điển,
cũng đều thấu rõ
minh bạch.
"Huệ nhãn liễu
chân không". Huệ
nhãn thấu rõ
được đạo lý chân
không, chân đế
về chân không
chẳng không,
diệu hữu phi
hữu. "Phật nhãn
như thiên nhựt".
Ánh sáng của
Phật nhãn giống
như ngàn mặt
trời chiếu soi,
chiếu khắp mười
phương pháp
giới, hết thảy
tất cả đều thấy
rõ như trong
lòng bàn tay.
Phàm
phu bề ngoài
nhìn chỉ thấy có
hai con mắt
thịt, kỳ thật
mỗi người đều có
năm thứ con mắt
(ngũ nhãn),
nhưng vì không
tu hành, tham
trước năm dục,
đời sống thân
tâm đều chẳng
thanh tịnh, cho
đến mắt thịt
càng ngày càng
yếu đi, thì làm
gì nói đến
chuyện khai mở
ngũ nhãn. Dù bậc
Thánh nhân đã
khai mở thiên
nhãn, nhục nhãn,
pháp nhãn, huệ
nhãn, Ngài cũng
chẳng xử dụng
thường xuyên, mà
là khéo quán cơ
duyên, khi nào
cần dùng thì mới
dùng, càng không
thể sinh tâm
cống cao tự mãn,
như thế thì sẽ
mất đi tác dụng.
Bất quá bậc
Thánh nhân chân
chánh chứng quả,
Ngài cũng tuyệt
đối chẳng phạm
mao bệnh ấu trĩ
đó. Khi công đức
tu hành và công
phu đạt đến tứ
quả A La Hán,
thì họ sẽ thành
tựu tam minh và
ngũ thông, sẽ
chẳng thối thất.
Tam minh bao
quát thiên nhãn
minh.
Bồ
Tát vì tăng
trưởng tâm bồ đề
rộng lớn của
Ngài, cho nên
phải tu công đức
bố thí mắt. Có
rất nhiều người
tại sao khi tu
hành thì thối
tâm giữa đường ?
Là vì đạo tâm
của họ chẳng
vững chắc, tâm
bồ đề chẳng tăng
trưởng, không
thể rộng lớn,
khi thọ cảnh
nghịch thì thối
tâm; nhất là
người xuất gia
thường thường bị
cảnh giới năm
dục dẫn dụ,
chẳng qua được
cửa ải ma dục.
Hy vọng bốn
chúng đệ tử tu
học Phật đạo,
mọi người tuỳ
thời phải tăng
trưởng tâm bồ đề
của mình.
Bồ
Tát lại vì tu
tập tâm đại từ
đại bi, cho nên
hành công đức bố
thí mắt. Các vị
thiện tín ! Nếu
mỗi người đều có
tâm từ bi, còn
có nhìn sự việc
không đúng của
chúng sinh chăng
? Còn có thể cảm
thấy người khác
không thuận mắt
chăng ? Hoan hỉ
ai, chán ghét
ai, ai thiện ai
ác, sinh những
tâm phân biệt
nầy chăng ? Sự
việc trên thế
gian, lập trường
của mỗi người
đều khác nhau,
tư tưởng đều
khác nhau, do đó
ý kiến mỗi cá
nhân, hình thành
thị phi đối lập
tranh chấp, đối
nghịch, phỉ
báng, tiến thêm
nữa diễn ra cảnh
chảy máu chém
giết, đó đều là
do chẳng có tâm
từ bi, chẳng có
lòng dung thứ,
vì ngã kiến quá
sâu, tâm sân quá
nặng. Nếu như ai
ai cũng đều có
tâm lượng rộng
lớn như hư không
khắp pháp giới,
thì còn có lỗi
lầm tranh chấp
tôi đúng bạn sai
chăng ? Tôi
thường thường
nói với các bạn:
Nhà xí là nơi dơ
bẩn nhất, nhưng
trên thế giới có
phải không cần
nhà xí chăng ?
Tôi muốn mọi
người đều biết
là không thể nào
được. Bất luận
là người giàu
nghèo sang hèn,
đều muốn ăn thức
ăn ngon, nhưng
ăn vào trong
bụng rồi, trải
qua sự tiêu hoá,
thải ra chẳng
muốn nhìn, vật
rất là thối. Lúc
đó, nếu bạn
chẳng dùng nhà
xí để chuyển
vận, thì còn
dùng phương pháp
gì để giải quyết
? Rắn độc thú dữ
thì hại người,
nhưng ông trời
có đức háo sinh,
bạn có thể trừ
diệt sạch hết
chúng chăng ?
Cho nên chúng ta
đừng có nhìn
người khác không
đúng, đừng có
nhìn nhất cử
nhất động chỗ
không tốt của
người khác, phải
dưỡng thành tâm
dung thứ người
khác, nhất là
người xuất gia
tu đạo, càng
phải có tâm từ
bi, tha thứ cho
người, người tốt
kẻ xấu đều đối
đãi như nhau,
dùng tâm từ bi
để cảm hoá kẻ
ác, kẻ ác mới là
đối tượng giáo
hoá của chúng
ta, tu tập căn
lành công đức,
thì tại người ác
thấy có công
hiệu nhất. Nhất
là không thể
thấy người có
lỗi lầm thì bỏ
họ, kẻ khác
chẳng bằng tâm ý
của ta thì bài
bác họ, như thế
là dưỡng lớn tâm
sân hận, tự giam
bớt mầm bồ đề.
Tôi
có mấy câu rất
thiển cạn, cũng
có thể nói là
châm ngôn xử sự
làm người của
tôi, nói ra cho
các vị nghe. Nếu
các bạn cảm thấy
đúng, thì đừng
ngại thực hành
theo; nếu các
bạn cho rằng
không hợp ý, thì
bạn cũng có thể
lập ra tiêu
chuẩn càng tốt.
"Sự
sự đô hảo khứ".
Nghĩa là mọi
việc đều trôi
qua tốt đẹp:
Việc gì cũng đều
chẳng có.
"Phiền não nan
đoạn liễu".
Nghĩa là phiền
não khó dứt hết,
chỉ có phiền não
khó đoạn dứt
sạch nhất.
"Chân năng bất
sinh khí". Nghĩa
là thật không
sinh nóng giận,
nếu bạn thật
không nóng giận
với kẻ khác.
"Tựu đắc vô giá
bảo". Nghĩa là
sẽ được báu vô
giá, Không nóng
giận là báu vô
giá. Không màng
cảnh giới gì,
thiện ác tốt
xấu, thậm chí
gặp người đánh
chưởi, đều không
nóng giận, cảnh
nghịch đến thuận
mà thọ nhận, tu
công phu nhẫn
nhục, như thế
chẳng đợi đắc
được báu vô giá,
bèn trở thành
đại phú ông giàu
có nhất trong
nước.
"Tái yếu bất oán
nhân". Nghĩa là
lại chẳng thù
oán người, tiến
thêm một bước
nữa chẳng oán
trời trách
người.
"Vạn sự đô năng
hảo". Nghĩa là
mọi việc thảy
đều tốt, lúc đó
tâm cảnh của bạn
rộng lớn thái
nhiên, mọi việc
đều cảm thấy
thuận tâm như ý.
"Phiền não vĩnh
bất sinh". Nghĩa
là phiền não
vĩnh viễn không
sinh, Mọi việc
đều như ý, thì
làm gì còn có
phiền não sinh
ra ?
"Sân hận tiêu
trừ liễu". Nghĩa
là sân hận đã
tiêu trừ, vì tâm
lượng rộng lớn,
hay dung thứ
người, nhường
cho người, thì
tâm sân hận vốn
chẳng có chỗ nào
sinh ra, như vậy
thì tự nhiên sẽ
tiêu trừ sạch
hết không còn.
"Oan nghiệp tùng
na trảo". Nghĩa
là oan nghiệp
tìm chỗ nào? Bạn
không sân hận kẻ
khác, lại không
đố kị người
khác, khắp nơi
đều hoà khí, đi
đến đâu thì nơi
đó đều mát mẻ
yên bình, ai ai
cũng đều mến
bạn, gần gũi
bạn, thì còn có
oan gia đối đầu
chăng ?
"Thường sầu nhân
bất đối". Nghĩa
là còn lo người
không đúng, bạn
cảm thấy người
nầy cũng không
đúng, người kia
cũng không thuận
mắt, chuyên môn
vạch lông tìm
vết, tâm đầy oán
khí, cái nầy
không đúng cái
kia không đúng.
"Na thị khổ một
liễu". Nghĩa là,
như vậy khổ chưa
hết, trái cũng
không đúng, phải
cũng không đúng,
lúc nào cũng
phiền não,
chuyện gì cũng
nổi giận, đó
chẳng phải tự
mình tìm chuốt
lấy cái khổ
chăng, ai có thể
thay thế được !
Bồ
Tát đại từ đại
bi, Ngài đói với
chúng sinh chưa
từng mong cầu
gì. Chúng sinh
tốt, Ngài phát
tâm hoan hỉ;
chúng sinh có
lỗi lầm, Ngài
phát tâm thương
sót, lấy lỗi lầm
của chúng sinh
làm lỗi lầm của
mình, cho nên
nói chư Phật Bồ
Tát chẳng thấy
lỗi chúng sinh.
Bồ Tát lại lại
vì hàng phục sáu
căn-mắt tai mũi
lưỡi thân ý sáu
căn, chẳng để
cho sáu căn bị
năm dục làm
nhiễm ô, thâm
tâm kiên cố
chẳng bị sáu căn
sáu trần làm
giao động, chẳng
bị sáu trần mê
hoặc. Khiến cho
sáu căn lìa khỏi
dòng sáu trần
của phàm phu,
nhập vào dòng
pháp tính của
Thánh nhân. Thực
hành công đùc bố
thí mắt tức là
vì hàng phục sáu
căn. Căn cứ vào
các pháp nói ở
trên, mà sinh
tâm học pháp tu
đạo.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí mắt,
thì đối với
người xin đó,
tâm sinh vui
thích, thiết bày
hội bố thí, tăng
trưởng sức lực
của pháp, xả lìa
sự ưa thấy phóng
dật của thế
gian, dứt trừ sự
ràng buộc của
dục vọng, tu tập
bồ đề. Tuỳ theo
chỗ họ mong cầu,
tâm an chẳng
động, chẳng trái
với ý của họ,
đều khiến cho họ
được mãn nguyện
đầy đủ, mà
thường tuỳ thuận
hạnh xả không
hai. Ðem căn
lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được mắt tối
thắng, chỉ bày
tất cả. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được mắt vô
ngại, khai diễn
trí tạng. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được nhục
nhãn thanh tịnh,
quang minh soi
thấu, chẳng có
gì chướng ngại
được. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thiên
nhãn thanh tịnh,
đều thấy nghiệp
quả sinh tử của
chúng sinh.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí mắt thì đói
với người xin
con mắt, trong
tâm sinh khởi sự
vui thích vô
hạn, mà còn vì
người đó mà
thiết lập pháp
hội bố thí lớn,
vì chúng sinh mà
làm tăng trưởng
sức tự tin của
họ thâm sâu đối
với Phật pháp.
Khiến cho chúng
sinh thấu hiểu
xả lìa tham ái ô
nhiễm của thế
gian, và tất cả
tà tri tà kiến
trên thế gian,
và đoạn tuyệt
trừ sạch những
hành vi phóng
đãng bất chánh
đáng đó, cùng
với những sự
ràng buộc tham
dục, để tu học
căn lành bồ đề
giác đạo. Bồ Tát
ở trong hội bố
thí, đề ra những
yêu cầu của họ,
trong tâm của
Ngài chẳng có sự
xẻn tiếc, cũng
chẳng tính toán
do dự, tâm bình
khí hoà an nhiên
chẳng động, hoan
hỉ vui mừng,
chẳng trái với
tâm nguyện của
chúng sinh,
khiến cho ai nấy
đều mãn nguyện.
Bồ Tát bố thí
chẳng phải ngẫu
nhiên mà làm,
Ngài thường tuỳ
thuận chúng
sinh, dùng hành
trì thí xả làm
pháp môn không
hai tu hành của
Ngài. Bồ Tát đem
căn lành bố thí
tích tụ, đối với
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Ngài nói tôi
nguyện cho tất
cả chúng
sinh-bao quát
thai sinh, noãn
sinh, thấp sinh,
hoá sinh, có
tưởng, không
tưởng, có sắc,
không sắc, chẳng
có tưởng, chẳng
không tưởng,
chẳng có sắc,
chẳng không sắc
.v.v... Tất cả
chúng sinh, hy
vọng họ đều đắc
được mắt thù
thắng quang minh
chiếu soi, có
thể chỉ bày,
hướng dẫn chúng
sinh chánh quyết
rõ ràng, đi trên
con đường chân
chánh quang
minh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được mắt
không bị bất cứ
vật gì chướng
ngại, có thể
khai diễn bảo
tạng trí huệ
rộng lớn. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được nhục nhãn
thanh tịnh, tuy
nói là nhục
nhãn, nhưng rất
là thanh tịnh
nhìn thấy tất
cả, bất luận gần
xa to nhỏ, đều
thấy rõ ràng,
con mắt quang
minh, chẳng bị
bất cứ vật gì
bên ngoài ngăn
che được. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thiên nhãn
thanh tịnh, có
thể quán thấy ở
trên trời, quán
thấy tiền nhân
hậu quả luân
chuyển sinh tử
của tất cả chúng
sinh trên thế
gian, cùng với
sự tích tạo
nghiệp thọ báo
của tất cả chúng
sinh trong vô
lượng kiếp, đều
nhìn thấy rất rõ
ràng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được pháp nhãn
thanh tịnh, có
thể tuỳ thuận
nhập vào cảnh
giới của Như
Lai. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được mắt
trí huệ, xả lìa
tất cả phân biệt
thủ lấy chấp
trước. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đầy đủ Phật
nhãn, thảy đều
giác ngộ tất cả
các pháp. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thành tựu
phổ nhãn, khắp
hết các cảnh
giới chẳng có
chướng ngại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thành tựu mắt
thanh tịnh lìa
màng ngu si,
thấu rõ cõi
chúng sinh, vốn
là không, chẳng
chỗ có. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đầy đủ mắt
thanh tịnh không
chướng ngại, đều
được rốt ráo
mười lực của Như
Lai.
Ðó
là hồi hướng căn
lành bố thí mắt
của đại Bồ Tát.
Vì khiến cho
chúng sinh được
mắt thanh tịnh
nhất thiết trí.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được pháp
nhãn thanh tịnh,
có thể chiếu rõ
thật tướng của
tất cả các pháp,
thông đạt chân
lý thật tướng
của các pháp,
hay tuỳ thuận
chân lý tu hành
nhập vào cảnh
giới của Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được mắt
đại trí huệ, đối
với tất cả sự lý
trên thế gian,
đều biết rất rõ
ràng, chẳng khởi
tư tưởng phân
biệt, cũng chẳng
thủ lấy chấp
trước sinh vọng
tưởng. Sở dĩ
người đời thủ
lấy chấp trước,
là vì họ chẳng
có huệ nhãn, chỉ
có ngu si chấp
cái ta. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được đầy đủ Phật
nhãn, đều có thể
giác ngộ thể
tính của các
pháp như huyễn
như hoá. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
thể thành tựu
phổ nhãn, xa lìa
ngu si, như cắt
trừ màng bệnh
trong con mắt,
từ đó quang minh
vô ngại. Ðắc
được mắt sáng có
đại trí huệ,
thấu đạt cõi
chúng sinh vốn
là không, chẳng
chỗ có. Vì chúng
sinh chấp trước,
mà có cõi chúng
sinh, hiện tại
phá trừ rồi sự
chấp trước nầy,
thì như lìa khỏi
màng ngu si. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh tu
hạnh thanh tịnh,
thì có thể đắc
được mắt đầy đủ
chẳng có chướng
ngại, đều có thể
đắc được mười
thứ lực chân
thật không thể
nghĩ bàn của Như
Lai. Ðó là hồi
hướng căn lành
bố thí mắt của
đại Bồ Tát, kỳ
thật là vì khiến
cho chúng sinh,
đều đắc được mắt
nhất thiết trí
huệ thanh tịnh.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
hay đem tai mũi
bố thí cho những
người xin. Như
Bồ Tát Thắng
Hạnh Vương. Bồ
Tát Vô Oán
Thắng, và vô
lượng các Bồ Tát
khác. Khi bố
thí, tự mình đưa
cho người xin.
Chuyên tâm tu
tập các hạnh của
Bồ Tát. Đủ giống
tánh Phật. Sinh
vào nhà Như Lai.
Nhớ nghĩ hạnh bố
thí của các Bồ
Tát. Thường
siêng phát khởi
bồ đề của chư
Phật. Thanh tịnh
các căn công đức
trí huệ. Quán
sát ba cõi,
chẳng có cõi nào
bền vững. Nguyện
thường thấy được
chư Phật Bồ Tát.
Tuỳ thuận nghĩ
nhớ tất cả Phật
pháp, biết thân
là hư vọng, vốn
không chẳng chỗ
có, chẳng có
tham tiếc.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài đem
tai mũi của mình
bố thí cho những
người đến cầu
xin. Ðây là việc
người khó làm,
mà Bồ Tát làm
được. Dùng tâm
bi và nguyện lực
của Ngài, tinh
thần xả bỏ đại
ngã của mình vì
chúng sinh, cho
nên trong tâm
vắng lặng của
Ngài là như như
chẳng động,
chẳng sinh tâm
thống khổ thương
tiếc. Từ vô thuỷ
đến nay, người
tu hạnh bồ đề,
tu Bồ Tát hạnh,
hành Bồ Tát đạo,
rất là tự nhiên
sinh tâm như
vậy, làm bố thí
như vậy. Như có
Bồ Tát Thắng
Hạnh Vương tu
hành công đức
thù thắng. Bồ
Tát Vô Oán Thắng
đối với bất cứ
người nào cũng
đều chẳng sinh
tâm oán hận, và
vô lượng vô số
các đại Bồ Tát
khác, các Ngài
đều chẳng tiếc
thân thể của
mình, bố thí cho
những người đến
cầu xin đáng
thương. Khi bố
thí, tâm an lý
đắc hoà nhan
duyệt sắc, thân
tự đem vật bố
thí dâng lên cho
người xin. Hành
vi như vậy của
Bồ Tát chẳng
phải mong cầu
tiếng tăm lợi
dưỡng, Ngài chỉ
chuyên tâm tu
tập hạnh môn mà
tất cả Bồ Tát
phải tu. Ðầy đủ
giống tánh của
Phật, mà sinh
vào nhà của
Phật, đạt được
quả vị Phật.
Nghĩ nhớ hạnh
môn tu bố thí
của các Bồ Tát.
Thường siêng
tinh tấn, phát
tâm đại từ bì
như chư Phật đã
phát, vì tâm từ
bi mà sinh ra
tâm đại bồ đề.
Luôn giữ giới
thanh tịnh, ba
nghiệp thanh
tịnh, khiến cho
các căn thanh
tịnh, tích tập
công đức thanh
tịnh, sinh đại
trí huệ. Quán
sát ba cõi-cõi
dục, cõi sắc,
cõi vô sắc,
chẳng có gì chân
thật, chẳng có
sự vật gì vĩnh
viễn tồn tại.
Người tu học
Phật đạo, có cái
nhìn đối với ba
cõi, phải thường
biết cảnh giác,
có tư tưởng xuất
thế: "Ba cõi
không an, giống
như nhà lửa". Hy
vọng thường thấy
được chư Phật Bồ
Tát, thì phải
luôn luôn tuỳ
thuận pháp của
chư Phật nói,
biết rõ các pháp
không tướng,
thấy pháp như
thấy Phật. Người
tu học Phật đạo,
tuyệt đối không
thể chấp trước
cái nhục thân
nầy, phải biết
thân thể nầy vốn
là do bốn đại
giả hoà hợp mà
thành, hư vọng
chẳng có chủ.
Một khi đến thời
kỳ, thì bốn đại
đều trở về bản
thể của nó, tất
cả đều huyễn
diệt chẳng chỗ
có, lại có gì có
thể tham luyến
thương tiếc ?
Khi
Bồ Tát bố thí
tai mũi như vậy,
tâm thường vắng
lặng, điều phục
các căn, cứu
giúp chúng sinh,
thoát khỏi hiểm
ác các hoạn nạn,
sinh trưởng nhất
thiết trí huệ
công đức. Nhập
vào biển đại bố
thí, thấu đạt
nghĩa của pháp,
tu đủ các đạo.
Nương trí huệ
hành, được pháp
tự tại, dùng
thân không kiên
cố, tu thành
thân kiên cố.
Khi
Bồ Tát bố thí
tai mũi, thì tâm
của Ngài rất
vắng lặng an
nhiên, sáu căn
của Ngài cũng
rất điều thuận,
chẳng có chút
nào chẳng tự
tại, Bồ Tát thấy
được chúng sinh
gặp nguy hiểm và
hoạn nạn, Ngài
chẳng từ mạo
hiểm để cứu tế
chúng sinh thoát
khỏi khổ nạn. Do
đó, mà sinh
trưởng nhất
thiết trí huệ,
phương tiện khéo
léo giáo hoá
chúng sinh, tích
tụ vô lượng căn
lành công đức.
Thực hành hạnh
đại bố thí khó
làm mà làm được
như thế, như
nhập vào trong
biển đại bố thí,
thấu rõ thông
đạt đạo lý thật
tướng của tất cả
các pháp. Hết
thảy nghĩa lý
pháp môn, Ngài
thảy đều tu tập
viên mãn đầy đủ.
Nương theo pháp
môn Bát Nhã tu
chứng, hành Bồ
Tát đạo cứu độ
giáo hoá chúng
sinh trầm mê,
nhậm vận tự tại,
vì Ngài đã minh
bạch tất cả các
pháp, thấu hiểu
tất cả các pháp,
lại hay vận dụng
phương tiện khéo
léo tất cả các
pháp, đắc được
công dụng tự tại
của pháp. Tuy
Ngài bố thí tai
mũi của mình cho
người, nhưng
Ngài đắc được
thiên nhãn thiên
nhĩ thiên tĩ, đó
là dùng nhục
thân chẳng kiên
cố, tu thành
thân kim cang
kiên cố bất
hoại.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
tai, đem các căn
lành hồi hướng
như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tai vô
ngại, nghe khắp
tất cả tiếng nói
pháp. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tai
không chướng,
thảy đều hiểu rõ
tất cả âm thanh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tai Như
Lai, thông đạt
tất cả không bị
trì trệ. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tai
thanh tịnh,
chẳng vì lỗ tai
mà sinh tâm phân
biệt. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tai
không điếc lãng,
khiến cho rốt
ráo không có sự
nghe sai mờ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tai khắp
pháp giới, đều
biết pháp âm của
tất cả chư Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tai vô
ngại, khai ngộ
tất cả pháp
không chướng
ngại. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tai
không hoại, khéo
biết các luận
không ai huỷ
hoại được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tai nghe
khắp, rộng lớn
thanh tịnh làm
vua các tai.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đầy đủ thiên
nhĩ, cùng với
tai Phật.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí tai, vì
khiến cho chúng
sinh đều đắc
được tai thanh
tịnh.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí tai, đem các
căn lành của
Ngài tu tập, hồi
hướng như vầy:
Tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều được
tai không có
chướng ngại,
nghe khắp âm
thanh của mười
phương chư Phật
thuyết pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tai không
chướng, đối với
tất cả âm thanh
không gian, đều
phân biệt thấu
hiểu được. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tai của Như
Lai, bất cứ sự
lý gì, khi nghe
được liền minh
bạch, lỗ tai đặc
biệt thông minh,
chẳng có hiện
tượng gì trì trệ
được. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tai
rất thanh tịnh,
chẳng vì thọ
thanh trần mà
sinh tâm ô nhiễm
và phân biệt.
Tâm Bồ Tát
thường thanh
tịnh vắng lặng,
Ngài tuyệt đối
chẳng bị lời lẽ
tà kiến dụ hoặc,
cho nên Ngài bố
thí tai cho
chúng sinh, cũng
hy vọng chúng
sinh đều đắc
được tai thanh
tịnh, sinh tâm
thanh tịnh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tai không
điếc lãng, sinh
ra tai chẳng bị
điếc, sau này
cũng chẳng bị
nạn lãng tai.
Nghe sai mờ-tâm
ý hồ đồ, thấy
việc chẳng rõ
ràng, giống như
nghe mà chẳng
nghe, có mắt mà
chẳng thấy. Hy
vọng chúng sinh
vĩnh viễn đều
chẳng sinh tâm
thức mù mờ chẳng
rõ ràng như thế.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được căn
tai đặc biệc
thông minh, nghe
được pháp âm của
chư Phật thuyết
pháp trong khắp
pháp giới, một
khi pháp âm lọt
vào lỗ tai, thì
đều thấu hiểu.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được căn
tai chẳng bị
chướng ngại,
nghe được pháp
của chư Phật
nói, lập tức
khai ngộ, thông
đạt vô ngại. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tai không
hoại, khéo nghe
được đủ thứ nghị
luận, dù có nghe
được dị luận
ngoại đạo, cũng
chẳng tổn hoại
căn tai thanh
tịnh của Ngài.
Trong
Kinh Pháp Hoa
Phật đã từng
nói: "... Trong
ba ngàn đại
thiên thế giới,
hết thảy tất cả
các thứ tiếng,
tuy chưa được
thiên nhĩ, dùng
tai thường thanh
tịnh của cha mẹ
sinh ra, thảy
đều nghe biết.
Như vậy phân
biệt đủ thứ âm
thanh, mà chẳng
hoại căn tai".
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tai
nghe khắp tiếng
trong ba ngàn
đại thiên thế
giới, rộng lớn
thanh tịnh, làm
vua tai trong
tất cả chúng
sinh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được đầy
đủ căn lành, đắc
được thiên nhĩ,
bất cứ xa bao
nhiêu, trên đến
cõi trời Hữu
Ðỉnh, dưới đến
địa ngục Vô
Gián, tất cả âm
thanh thảy đều
nghe được hết.
Ðắc được tai
giống như Phật,
tai của Phật là
viên dung vô
ngại, tận hư
không khắp pháp
giới, chẳng có
một thứ âm thanh
nào mà chẳng
nghe được.
Những
lời nguyện ở
trên, là của đại
Bồ Tát hồi hướng
căn lành khi
Ngài bố thí tai.
Vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được tai thanh
tịnh, nghe khắp
pháp âm vô
thượng của chư
Phật nói.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí mũi,
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được mũi
cao thẳng. Được
mũi tốt đẹp.
Được tướng mũi
thiện. Được mũi
đáng ưa thích.
Được mũi tịnh
diệu. Được mũi
tuỳ thuận. Được
mũi cao hiển.
Được mũi phục
oán. Được mũi
khéo thấy. Được
mũi Như Lai.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát bố thí mắt
tai rồi, tiếp
theo lại bố thí
mũi. Khi bố thí
mũi, Ngài hồi
hướng như vầy:
Ngài nói: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được mũi cao
thẳng. Ðắc được
mũi tốt đẹp: Mũi
và các khí quan
khác, phối hợp
rất tương xứng,
không lớn, không
nhỏ, không cao,
không thấp. Ðược
tướng mũi thiện:
Vì lỗ mũi sinh
ra rất đẹp,
khiến cho tướng
mặt đều hiển lộ
ra rất thiện
lương, khiến cho
người nhìn thấy
vẻ bên ngoài
thuận mắt, sinh
tâm hoan hỉ.
Ðược mũi đáng ưa
thích: Lỗ mũi
sinh ra rất đoan
chánh đồng đều,
khiến cho người
thấy được vừa
hoan hỉ lại tôn
kính, sự ưa
thích đó là
thanh tịnh, tâm
lý rất cung
kính. Ðược mũi
tịnh diệu: Hình
sắc bên ngoài lỗ
mũi nhuần nhã,
hình dáng lỗ mũi
cũng rất tốt
đẹp, thần kinh
khứu giác của lỗ
mũi cũng đặc
biệc linh mẫn.
Ðược mũi tuỳ
thuận: Trong vô
hình lỗ mũi có
một sức lực hấp
dẫn, người tu
đạo sinh ra được
mũi tuỳ thuận,
đối với việc
hoằng pháp lợi
sinh có sự trợ
giúp rất lớn.
Tất cả chúng
sinh thấy được
vị pháp sư nầy,
thị họ sẽ rất
muốn theo vị
thầy đó tu học
Phật pháp, và
còn rất nghe lời
chỉ dạy. Ðược
mũi cao hiển:
Hình lỗ mũi nầy
tục ngữ có nói
là mũi huyền
đảm, mũi cao và
thẳng, mũi tướng
thiện, tổng hợp
ưu điểm của mũi
khéo thấy, trở
thành như mũi
của Phật. Lỗ mũi
là một bộ phận
quan trọng ở
trên mặt của con
người, là chủ
của ngũ quan.
Con người ở
trong thai mẹ,
lỗ mũi cũng thọ
hình trước.
Tướng mũi sinh
ra có thể tượng
trưng cho tính
cách của một con
người-trung,
gian, thành,
trá, cũng có thể
hiển bày ra vận
mệnh giàu nghèo
sang hèn. Người
xuất gia tuy
không coi trọng
về tướng mạng,
nhưng tướng tốt
trang nghiêm,
phẩm đức học
thức ưu lương,
vẫn rất quan
trọng. Tướng tốt
là đời trước tu
tập phước báu,
là bên ngoài, vô
thường, cho nên
cần phải dụng
công trên phẩm
đức. Phẩm đức là
bên trong, ngày
ngày tăng
trưởng, càng lâu
càng bền vững.
Nhục
thân chúng ta
phải có tướng
tốt trang
nghiêm, phẩm đức
trang nghiêm
pháp thân vô
hình. Người xuất
gia tuỳ thời chú
ý vun bồi pháp
thân, ngàn vạn
đừng lầm lẫn
dùng hết tướng
tốt đời trước tu
được, cũng đừng
cô phụ lợi ích
của Bồ Tát hồi
hướng cho chúng
ta. Ðược mũi
phục oán: Thứ lỗ
mũi nầy trong vô
hình nó có một
khí chất oai
nghiêm, không nộ
mà oai, khiến
cho người một
khi thấy được tự
nhiên sinh tâm
kính sợ. Ðầy dẫy
oán cừu, thấy
mặt thì trong vô
hình tiêu tan
mất. Người có
đức hạnh, chẳng
phải tại địa vị
tuổi tác, họ nói
năng im lặng
hành động, tự
nhiên chảy ra
phẩm cách khiến
cho người kính
sợ, sự kính sợ
nầy chẳng phải
là sợ hãi, sợ
hãi thì khiến
cho người xa lìa
họ; mà là khiến
cho người cung
kính. Người xuất
gia phải có sự
tu dưỡng, vun
bồi khí chất
không nộ mà oai.
Ðược mũi khéo
thấy: Vì lỗ mũi
sinh ra rất đoan
chánh, ngũ quan
tương xứng, hiển
lộ từ tường đầy
sắc mặt, khiến
cho người thấy
được sinh tâm
hoan hỉ, cũng
sinh thiện niệm
chánh kiến. Ðược
mũi Như Lai: Ngũ
quan của Phật
viên mãn như
vậy, ưu điểm lỗ
mũi của Ngài là
trên đời chẳng
có thể ví dụ
được. Bồ Tát hy
vọng chúng sinh
cũng sinh ra có
lỗ mũi như thế.
Tóm lại, Bồ Tát
tâm bi tha
thiết, mong muốn
mỗi chúng sinh
đều viên mãn,
thậm chí còn
vượt hơn chính
Ngài nữa, lúc đó
Ngài mới yên tâm
chứng quả Phật
vào Niết Bàn,
bằng không Ngài
sẽ vĩnh viễn
theo chúng sinh
thọ khổ !
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được khuôn
mặt lìa nét giận
hờn. Ðược khuôn
mặt tất cả pháp.
Ðược khuôn mặt
không chướng
ngại. Ðược khuôn
mặt thiện kiến.
Ðược khuôn mặt
tuỳ thuận. Ðược
khuôn mặt thanh
tịnh. Ðược khuôn
mặt lìa lỗi lầm.
Ðược khuôn mặt
viên mãn của Như
Lai. Ðược khuôn
mặt khắp tất cả
mọi nơi. Ðược
khuôn mặt vô
lượng tốt đẹp.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí mũi.
Bồ
Tát bố thí mắt
tai mũi rồi, lại
đem căn lành tu
tập hồi hướng
cho chúng sinh:
Hiện tại Ngài
lại cứ nghĩ đến
ngũ quan tốt
đẹp, nếu chẳng
có một khuôn mặt
đẹp, thì đó
chẳng phải là
thiếu sót một
cái gì lớn lao
trong cái đẹp
chăng ? Cho nên
Bồ Tát lại phát
nguyện, nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lìa
khuôn mặt giận
hờn; giận hờn là
khí phẫn uất
trong tâm, biểu
hiện ở trên mặt,
khiến cho người
thấy phát sợ. Bồ
Tát nguyện cho
chúng sinh đừng
có khuôn mặt
hung ác, mà đắc
được khuôn mặt
từ bi. Khuôn mặt
tất cả pháp: Tức
giống như khuôn
mặt của Bồ Tát,
nhìn được khuôn
mặt nầy, thì tự
nhiên sẽ minh
bạch tất cả các
pháp, sùng kính
tất cả các pháp.
Khuôn mặt không
chướng ngại:
Khiến cho người
một khi thấy
được bèn sinh
tâm thuận lợi,
tâm hoan hỉ.
Khuôn mặt khéo
thấy: Khuôn mặt
thiện lượng
chánh trực.
Khuôn mặt tuỳ
thuận: Người tâm
tính khiêm hoà,
thì khuôn mặt
của họ biểu hiện
rất tuỳ hoà,
chẳng cố chấp, ở
đâu cũng khiến
cho mọi người
vừa ý, cho nên
người khác cũng
nghe họ chỉ dạy.
Khuôn mặt thanh
tịnh: Khuôn mặt
thanh tịnh có
hai điểm đặc
trưng: Một là
biểu hiện bên
ngoài thanh
tịnh, sắc da bên
ngoài nhoẵn bóng
sạch sẽ, chẳng
có bệnh hoạn gì
hết, mặt mày
sáng sủa như
trăng rằm,
thường hiện ra
dáng vui vẻ tươi
cười; riêng về
phương diện
khác, phàm là
người có tướng
mặt hoà mục nầy,
thì nhất định là
vị quân tử có
tâm thanh tịnh,
phẩm đức thanh
cao. Nếu là
người xuất gia
tu đạo, nhìn thì
biết vị đó là
cao Tăng đắc
đạo, công phu
thiền định đã
đến lư hoả trừng
thanh, phương
diện ba nghiệp
tuyệt đối xa lìa
tạp nhiễm, vì
tướng theo tâm
chuyển. Khuôn
mặt lìa lỗi lầm:
Người ba nghiệp
thanh tịnh, thì
xa lìa tất cả
lỗi lầm, tâm của
họ bình dị, cho
nên sắc mặt của
họ tự nhiên,
thường hiện ra
biểu hiện hân
hoan vui vẻ, như
thường gần gũi
người tốt nầy,
thì sẽ được đồng
hoá họ, cũng sẽ
lìa khỏi lỗi
lầm, làm người
thiện lương
thanh bạch. Ðược
khuôn mặt viên
mãn của Như Lai:
Khuôn mặt của
Như Lai, chẳng
phải văn tự có
thể hình dung
được, các vị có
thể đến chùa vào
chánh điện, bất
cứ góc độ nào,
bạn từ từ chiêm
ngưỡng tướng vị
Phật lớn chính
giữa, dùng tâm
thanh tịnh, tâm
tôn trọng, tâm
cung kính nhìn
tướng của Phật,
tâm thần lãnh
hội, thì bạn sẽ
thể hội được
tướng mạo của
Phật viên mãn
như thế nào. Khi
bạn tiếp xúc đến
thần quang của
diện mạo Phật,
thì thân tâm
thanh tịnh hân
hoan vui vẻ,
quên hết tất cả
phiền não và tội
nghiệp của thế
gian. Sức cảm
chiêu nầy, là
Phật đã viên mãn
lục độ vạn hạnh
trong quá khứ,
tích tụ căn lành
công đức thành
tựu trong trăm
kiếp. Bồ Tát
phát nguyện hy
vọng chúng sinh
đắc được tướng
mạo viên mãn của
Như Lai, nhưng
chúng minh mê mờ
chẳng chịu tu
hành, chẳng nghe
chỉ dạy, đó là
cô phụ khổ tâm
của Bồ Tát.
Lại
nguyện cho chúng
sinh được khuôn
mặt khắp tất cả
mọi nơi: Ở đây
chẳng phải nói
khuôn mặt đắc
được, lớn có thể
khắp tất cả ở
mọi nơi, mà là
nói bạn có đức
hạnh, có nhân
duyên, bất cứ
đến đâu cũng đều
được mọi người
cung kính hoan
nghinh. Lại được
khuôn mặt vô
lượng tướng tốt:
Cũng có thể nói
là khuôn mặt
sinh ra được
viên mãn đầy đủ,
chẳng có chút
thiếu khuyết
nào. Ở trên là
hồi hướng căn
lành tu tập của
đại Bồ Tát khi
Ngài bố thí mũi,
hy vọng chúng
sinh đắc được sự
hồi hướng có một
khuôn mặt tốt.
Vì
khiến cho chúng
sinh rốt ráo
được nhập vào
các Phật pháp.
Vì khiến cho
chúng sinh rốt
ráo nhiếp thọ
các Phật pháp.
Vì khiến cho
chúng sinh rốt
ráo thấu rõ các
Phật pháp. Vì
khiến cho chúng
sinh rốt ráo trụ
trì các Phật
pháp. Vì khiến
cho chúng sinh
rốt ráo thường
thấy các Như
Lai. Vì khiến
cho chúng sinh
thảy đều chứng
được pháp môn
của Phật. Vì
khiến cho chúng
sinh rốt ráo
thành tựu tâm
không thể hoại.
Vì khiến cho
chúng sinh đều
chiếu rõ chánh
pháp của chư
Phật. Vì khiến
cho chúng sinh
khắp nghiêm tịnh
cõi nước chư
Phật. Vì khiến
cho chúng sinh
đều được thân
đại oai lực của
Như Lai.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài bố
thí tai mũi.
Bồ
Tát bố thí tai
mũi, cùng với sự
hồi hướng căn
lành của Ngài,
mục đích của
Ngài chẳng phải
tham cầu công
đức, mà là hy
vọng chúng sinh
khai mở đại trí
huệ, chân chánh
vào sâu tạng
Kinh, trí huệ
như biển. Lại hy
vọng chúng sinh
quyết thực tiếp
thọ pháp của chư
Phật nói, mà còn
có thể y giáo
phụng hành,
nhiếp trì không
giải đãi. Lại
muốn khiến cho
chúng sinh đều
minh bạch pháp
của chư Phật
nói, không có
nghi hoặc. Lại
muốn khiến cho
hết thảy chúng
sinh an trụ vào
pháp của chư
Phật nói, vĩnh
viễn không thối
chuyển. Lại muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh
thường thấy chư
Phật, gần gũi
chư Phật. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đều tu
chứng được pháp
môn của chư Phật
nói, viên mãn
quả vị Phật. Lại
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
tâm tin kiên cố
như kim cang,
chẳng có gì có
thể chướng ngại
phá hoại được.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều minh
bạch pháp của
chư Phật nói,
đắc được chánh
pháp nhãn tạng.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, thảy đều
dùng công đức
thanh tịnh trang
nghiêm cõi nước
của chư Phật.
Lại muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được đại oai đức
thân kim cang
bất hoại giống
như Phật. Ðó là
những sự hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
tai mũi.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
an trụ vững chắc
ở trong cảnh
giới tự tại, có
thể dùng răng bố
thí cho các
chúng sinh. Như
thuở xưa Bồ Tát
Hoa Xỉ Vương. Bồ
Tát Lục Nha
Tượng Vương, và
vô lượng các Bồ
Tát khác.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tâm tin của
Ngài thâm sâu,
nguyện lực kiên
cố, buông xả tất
cả không chấp
không nương tựa,
chuyên tâm tu
hành pháp môn bố
thí. Ở trong
cảnh giới nhậm
vận tự tại, có
thể đem răng bố
thí cho chúng
sinh. Thưở xưa
có vị Bồ Tát Hoa
Xỉ Vương, vì khó
xả mà xả được,
nhẫn nại sự đau
răng bố thí cho
chúng sinh, cho
nên đời đời kiếp
kiếp Ngài đắc
được răng tốt
đẹp nhất. Do
công đức đó,
được gọi là Bồ
Tát Hoa Xỉ
Vương.
Lại
như Bồ Tát Lục
Nha Tượng
Vương-có một câu
chuyện như vầy:
Lúc Ðức Phật còn
tại thế, có một
đời đã từng thọ
sinh làm đại
tượng vương (voi
chúa), Ngài sinh
ra có sáu cái
ngà dài rất
trắng muốt. Một
lần nọ, bị ông
vua Ca Xa biết
được, bèn sai
năm người chiên
đà la đi lấy,
nếu lấy không
được thì sẽ bị
mất mạng. Họ vì
bảo vệ mạng
sống, nên thân
thể quấn y cà sa
nguỵ làm Sa Môn,
tay cầm mũi tên
độc, vào trong
núi Tuyết, chỗ
con voi chúa đại
tượng vương ở để
giết hại.
Lúc
đó, voi mẹ ở xa
thấy có người
dương cung bắn,
lập tức báo cáo
cho tượng vương
biết, tượng
vương nghe rồi
nhìn xem, thì
thấy đệ tử của
Phật cạo râu
tóc, mặc áo cà
sa, ngược lại
còn nói với voi
mẹ rằng: Họ đều
đã lìa ác tâm,
chẳng còn hại
chúng sinh nữa,
mẹ đừng có sợ.
Lúc
đó những người
chiên đà la thấy
voi chúa không
chạy trốn, bèn
lấy mũi tên độc
bắn trúng tim
con voi chúa.
Voi mẹ thấy tình
hình như vậy,
kêu rống to lên,
đàn voi nghe
tiếng tụ tập
lại, oán nộ muốn
dùng chân đạp
chết bọn chiên
đà la. Voi chúa
không oán giận,
dùng thân bảo vệ
họ, và hỏi họ
tại sao bắn Ngài
? Bọn chiên đà
la bèn nói sự
thật. Voi chúa
hoan hỉ, bèn
dùng vòi lôi hết
sáu cái ngà dâng
cho bọn chiên đà
la lấy đem về
phục mạng. Và
còn nói với đàn
voi rằng: Ta thà
bỏ thân mạng,
cũng chẳng khởi
tâm giết hại
chúng sinh, lại
đối với chiên đà
la nói: "Nay tôi
đem ngà trắng bố
thí cho các ông,
mà không phẫn,
không hận, không
sẻn tiếc. Nguyện
đem công đức bố
thí sẽ được
thành Phật, diệt
trừ bệnh phiền
não của chúng
sinh".
Các
vị ! Voi chúa
tuy thọ bàng
sinh thân thú,
nhưng vì cầu quả
Phật Chánh Ðẳng
Chánh Giác, mà
xả bỏ thân mạng
không sẻn tiếc,
còn biết cung
kính người xuất
gia, đối với ác
hạnh của họ cũng
không báo thù.
Chúng ta nghe
qua câu chuyện
nầy, có sự phản
ứng gì ? Bồ Tát
hành Bồ Tát đạo,
bố thí xả bỏ nội
tài, ngoại tài,
giống như vậy,
có vô lượng vô
số các Bồ Tát
khác, ở đây bất
quá cử ra hai vị
Bồ Tát mà thôi.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí răng, tâm
của Ngài thanh
tịnh, ít có khó
được, như hoa Ưu
Ðàm. Đó là: Tâm
bố thí vô tận.
Tâm bố thí niềm
tin lớn. Tâm bố
thí từng bước
thành tựu vô
lượng. Tâm bố
thí điều phục
các căn. Tâm bố
thí tất cả đều
xả bỏ. Tâm bố
thí tất cả trí
nguyện. Tâm bố
thí an lạc chúng
sinh. Bố thí
lớn. Bố thí tột
cùng. Bố thí thù
thắng. Bố thí
tối thắng. Tâm
bố thí chẳng có
lòng hiềm ghét
thù hận.
Ðại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí răng, thì
tâm của Ngài rất
thanh tịnh bình
tĩnh, chẳng có
chút vọng niệm
nào, cũng chưa
từng cảm thấy
đau đớn, trình
độ an tĩnh như
thế, thật là ít
có, giống như
hoa Ưu Ðàm, thời
gian rất lâu mới
nở một lần, thời
gian nở lại rất
ngắn. Người thấy
được thứ hoa
nầy, cũng rất
ít. Lúc đó, tâm
của Bồ Tát sung
mãn tâm bố thí
vô tận, hy vọng
mình có thể vĩnh
viễn hành bố thí
lớn. Lại sinh
khởi ý niệm tâm
tin lớn, dùng
tâm tin nguyện
lớn nhất bố thí
răng của mình.
Lại hy vọng có
thể từng bước
từng bước, thành
tựu vô lượng tâm
bố thí lớn,
chẳng những chỉ
có thể bố thí
răng, mà thân
tâm tính mạng
của mình đều có
thể xả bỏ được.
Lại có thể điều
phục thân tâm
năm căn của
mình, đều được
an nhiên tự tại,
chẳng cảm thấy
chút đau khổ
nào. Lại đối với
tất cả nội tài,
ngoại tài, đều
bố thí được hết,
chẳng có chấp
trước, cũng
chẳng sẻn tiếc.
Bồ Tát hành sự
là dùng trí huệ
để thực hành, vì
nguyện lực tức
là căn lành, cho
nên Ngài hành bố
thí chẳng phải
là mù mắt. Ngài
phải quán sát
nhân duyên, rồi
sau đó mới làm,
tất cả đều căn
cứ vào trí huệ
và tâm nguyện mà
bố thí. Mục đích
Ngài bố thí,
chẳng phải là vì
viên mãn công
đức của mình, mà
là vì khiến cho
chúng sinh đắc
được an lạc, có
tâm xả mình vì
người, thì tự
nhiên Ngài sẽ
viên mãn bố thí
Ba La Măt. Bồ
Tát thiết lập
hội bố thí lớn,
người khác xả
không được, mà
Ngài đều xả
được; người khác
không làm được
mà Ngài làm
được. Cho nên
pháp hội bố thí
của Ngài là hội
bố thí lớn nhất
vô giá, phong
phú nhất, hội bố
thí toàn thiện
tột cùng nhất,
hội bố thí thù
thắng hơn người
khác, hội bố thí
thù thắng nhất.
Nếu có người cần
thân mạng của
Ngài, thì Bồ Tát
cũng chẳng có tơ
hào do dự bố thí
cho họ, mà còn
chẳng sinh chút
tâm hiềm hận
nào, thảy đều xả
thí cho người
xin. Bồ Tát dùng
đủ thứ tâm ít có
khó được như
vậy, để bố thí
răng của Ngài.
Lúc
đó, Bồ Tát đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được răng trắng
bén nhọn, thành
tháp tối thắng,
thọ trời người
cúng dường.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được răng bằng
phẳng đồng đều,
như tướng tốt
của Phật, chẳng
có hở thiếu.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tâm điều
phục, khéo hướng
về hạnh Ba La
Mật của Bồ Tát.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được miệng lành
thanh tịnh, răng
bóng trắng, hiển
hiện phân minh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được răng trang
nghiêm có thể
nghĩ nhớ, miệng
được thanh tịnh,
không có tướng
xấu. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thành tựu
đầy đủ bốn mươi
cái răng, thường
toả ra đủ thứ
hương thơm ít
có.
Bồ
Tát phát tâm ít
có như ở trên đã
nói rồi, lại đem
căn lành của
Ngài bố thí
răng, hồi hướng
như vầy: Tôi
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được răng trắng
sạch bén nhọn,
có hình dáng
giống như tháp,
tiếp thọ trời
người cúng dường
thức ăn uống
thượng hạng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được răng rất
bằng phẳng đồng
đều, ngay hàng,
giống như Phật
có tướng tốt về
răng, không hở
cũng không thiếu
khuyết. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân tâm an
nhiên, năm căn
điều thuận,
chẳng cấp tốc
thô tháo, cũng
chẳng nổi giận,
nhu hoà khiêm
nhường, khéo tu
tập các hạnh
môn, hướng về
lục độ vạn hạnh
của Bồ Tát tu.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được nghiệp
miệng thanh
tịnh, thường nói
lời chân chánh.
Răng trắng
khiết, răng rất
bóng sáng, hiển
hiện phân minh
rõ ràng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được răng đoan
chánh toàn mỹ,
miệng cũng đặc
biệt thanh tịnh.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh thành tựu
đầy đủ bốn mươi
cái răng. Tại
sao phải nguyện
cho chúng sinh
đầy đủ bốn mười
cái răng ? Vì
bốn mươi cái
răng rất khó có
được, là bậc đế
vương đại phú
quý mới sinh ra
có đủ bốn mươi
cái răng. Phật
là đấng Pháp
Vương, bậc đại
giác phước huệ
đầy đủ, cho nên
Ngài có bốn mươi
cái răng. Ngài
Thanh Lương Quốc
Sư tả Kinh Hoa
Nghiêm Sớ Sao,
là Bồ Tát thị
hiện, cũng có đủ
bốn mươi cái
răng. Vị đại Bồ
Tát tu pháp hồi
hướng nầy, Ngài
cũng hy vọng
chúng sinh thành
tựu đầy đủ bốn
mươi cái răng.
Các
vị ! Mọi người
hãy mau phát tâm
tu hạnh Bồ Tát,
bằng không,
khiến cho Bồ Tát
thất vọng thương
tâm ! Ở trong
răng thường
thường toả ra đủ
thứ hương thơm
ít có, thứ hương
thơm đó rất tự
nhiên từ trong
răng, theo sự hô
hấp nhẹ nhàng
toả ra trong
không khí, tuyệt
đối chẳng phải
là nước dầu
thơm.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh ý
khéo điều phục,
răng trắng bóng,
như hoa sen
trắng, có vân
quay về bên
phải, thành tựu
chữ vạn. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh miệng môi
thanh tịnh, răng
trắng sạch,
phóng ra vô
lượng quang
minh, chiếu sáng
khắp cùng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
răng cứng sắc
bén, ăn nhai kỹ,
không tham trước
mùi vị, làm
ruộng phước vô
thượng. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh nơi giữa
răng thường
phóng quang
minh, thọ ký cho
các Bồ Tát đệ
nhất.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài bố
thí răng. Vì
khiến cho chúng
sinh đủ nhất
thiết trí, trí
huệ thanh tịnh ở
trong các pháp.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, khéo điều
phục ý căn của
mình, ở trong ý
niệm chẳng khởi
tà niệm tham sân
si, cho nên phải
khéo tự điều
phục, thường tu
giới định huệ ba
học vô lậu, sinh
khởi chánh niệm.
Răng sinh ra
trắng khiết sạch
sẽ, giống như
hoa sen trắng,
trên răng có
vân, quay về
phía bên phải,
thành tựu hình
chữ vạn. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
miệng môi thanh
tịnh. Răng trắng
khiết phóng ra
vô lượng quang
minh, chiếu sáng
khắp cõi nước
chư Phật trong
mười phương thế
giới. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh răng sinh
ra rất chắt và
bén nhọn, bất cứ
ăn gì, đều nhai
kỹ càng, chẳng
có nuốt trựng.
Tuy nhiên có
răng tốt, nhưng
không tham trước
ăn uống, mà làm
ruộng phước bậc
nhất của chúng
sinh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh răng thường
có quang minh
phóng ra, có thể
thọ việc các Như
Lai thọ ký đệ
nhất. Nói Bồ Tát
khi nào sẽ thành
Phật, cõi nước
tên gì, trụ kiếp
như thế nào, trụ
thế bao lâu?
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài bố
thí răng. Bồ Tát
vì khiến cho tất
cả chúng sinh
đều đầy đủ nhất
thiết trí huệ, ở
trong các Phật
pháp sinh đại
trí huệ, dùng
đại trí huệ
thanh tịnh nầy,
để giáo hoá tất
cả chúng sinh.
Phật
tử ! Nếu có ai
đến chỗ đại Bồ
Tát xin cái
lưỡi, thì Ngài
đối với người
xin, dùng tâm từ
bi, nói lời nhẹ
nhàng khả ái.
Như thuở xưa Bồ
Tát Ðoan Chánh
Diện Vương, Bồ
Tát Bất Thoái
Chuyển, và vô
lượng các Bồ Tát
khác.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Nếu có
người nào đến
chỗ đại Bồ Tát
xin cái lưỡi của
Ngài, thì lúc đó
Bồ Tát dùng tâm
đại từ đại bi,
và dùng lời nói
rất hoà mục khải
ái đối với người
xin. Như thuở
xưa có vị Bồ Tát
Ðoan Chánh Diện
Vương, Bồ Tát
Bất Thoái
Chuyển, và vô
lượng vô số các
Bồ Tát khác, bố
thí cái lưỡi. Vì
Bồ Tát muốn viên
mãn bố thí Ba La
Măt, thì phải xả
bỏ nội tài,
nhưng người xin
nội tài thật là
ít có, cho nên
Bồ Tát thấy có
người đến xin
nội tài của
Ngài, thì phát
tâm hoan hỉ, tâm
cung kính, vui
vẻ nói năng dịu
dàng mà bố thí.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát ở trong các
cõi thọ sinh,
thì có vô lượng
trăm ngàn ức Na
do tha chúng
sinh đến xin cái
lưỡi. Khi đó Bồ
Tát đặc người đó
trên toà sư tử.
Dùng tâm không
sân. Tâm không
hại. Tâm không
hận. Tâm đại oai
đức. Tâm sinh ra
từ giống tánh
của Phật. Tâm
trụ chỗ Bồ Tát
trụ. Tâm thường
chẳng trược
loạn. Tâm trụ
nơi thế lực lớn.
Tâm không chấp
nơi thân. Tâm
không chấp nơi
lời nói. Hai gối
quỳ xuống đất,
mở miệng thè
lưỡi ra, tâm từ
bi lời nói nhẹ
nhàng, nói với
người xin rằng:
Nay thân nầy của
tôi, đều thuộc
về ông, ông có
thể lấy lưỡi của
tôi, tuỳ ý mà sử
dụng, khiến cho
nguyện vọng của
ông đều được đầy
đủ.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát khi Ngài tu
Bồ Tát hạnh,
thường thọ sinh
ở trong sáu nẻo.
Ở trong những
thế giới đó,
thường có vô
lượng số trăm
ngàn ức Na do
tha chúng sinh,
đến xin cái lưỡi
của Ngài. Khi
ấy, Bồ Tát đặc
người xin lên
trên toà sư tử.
Tâm của Ngài an
tĩnh, chẳng có
tơ hào phẫn uất,
cũng chẳng có
tâm giết hại
chúng sinh, cũng
chẳng có tâm oán
hận ai; chỉ dùng
tâm thành tựu
đại oai đức, tâm
từ bi từ trong
giống tánh của
Phật chảy ra,
tâm vô ngã rộng
lớn trụ chỗ trụ
của Bồ Tát, tâm
thanh tịnh chẳng
điên đảo cũng
chẳng ngu si,
tâm trụ nơi địa
vị thế lực lớn,
tâm chẳng chấp
trước đối với
thân, tâm cũng
chẳng chấp trước
đối với lời nói.
Bồ Tát dùng mười
thứ tâm thanh
tịnh thù thắng
đó, hai gối quỳ
xuống đất, mở
miệng ra, thè
lưỡi ra cho
người xin xem,
tâm từ bi nói
lời nhẹ nhàng
với người xin
rằng: Hiện tại
thân thể đây của
tôi, hoàn toàn
thuộc về ông,
tuỳ ông muốn làm
gì thì làm. Ông
muốn cái lưỡi
của tôi, thì có
thể cắt lấy đi,
khiến cho nguyện
vọng của ông
được tuỳ tâm mãn
nguyện.
Lúc
đó Bồ Tát, đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được lưỡi cùng
khắp, đều có thể
tuyên nói diễn
bày các pháp lời
nói. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
che trùm cả mặt,
lời nói ra không
hai, thảy đều
chân thật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được lưỡi che
trùm khắp tất cả
cõi Phật, thị
hiện thần thông
tự tại của chư
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
mềm mỏng, luôn
thọ được hương
vị thanh tịnh
thơm ngon thượng
hạng. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
biện tài, dứt
trừ được tất cả
lưới nghi của
thế gian. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lưỡi
quang minh, có
thể phóng ra vô
số vạn ức quang
minh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
quyết định, biện
nói các pháp
chẳng cùng tận.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được lưỡi điều
phục khắp, khéo
khai thị tất cả
bí yếu, những
lời nói ra đều
khiến cho họ tin
thọ. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
thông đạt khắp,
khéo nhập vào
tất cả biển ngôn
ngữ. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
khéo nói tất cả
các pháp môn,
nơi lời nói trí
đều đến bờ kia.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí lưỡi. Vì
khiến cho chúng
sinh đều đắc
được trí viên
mãn vô ngại.
Lúc
đó Bồ Tát, Ngài
đem đủ thứ căn
lành tu tập, hồi
hướng như vầy:
Ngài nói: Tôi
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều đắc được
lưỡi dùng khắp
pháp giới, đều
nói được lời nói
của mỗi cõi
nước. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lưỡi
che trùm cả mặt;
khi thè lưỡi ra
thì có thể che
trùm khắp cả
khuôn mặt, lưỡi
của Phật là như
thế. Tại sao
lưỡi của chúng
ta ngắn và nhỏ ?
Vì chúng ta ưa
nói dối, lâu dần
thì thụt vào
ngắn và nhỏ như
vậy; nếu như học
theo Phật không
nói dối, giữ
giới thanh tịnh,
thì mỗi người
đều có thể được
lưỡi che trùm cả
mặt. Lời nói
không hai, thảy
đều chân thật,
tức là không nói
dối, thành thật
không dối trá,
lời nói có uy
tín. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lưỡi
che khắp tất cả
cõi Phật, có
tướng lưỡi rộng
dài, che khắp ba
ngàn đại thiên
thế giới và tất
cả cõi nước chư
Phật. Lại có thể
thị hiện sức
thần thông nhậm
vận tự tại của
chư Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được lưỡi mềm
mỏng, luôn luôn
thọ được hương
vị ăn uống thanh
tịnh thơm ngon
thượng hạng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được lưỡi biện
tài vô ngại, dứt
trừ được lưới
nghi của người
đời. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lưỡi
quang minh, cái
lưỡi có thể
phóng ra vô số
vạn ức quang
minh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lưỡi
quyết định, tất
cả sự lý, cái
lưỡi đều đắc
được sự quyết
định chánh
quyết, biện luận
diễn nói thật
tướng của các
pháp, chẳng khi
nào cùng tận.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
điều phục, đối
với chúng sinh
cang cường khó
điều, khó phục,
nghe được Ngài
khai thị, thì
lập tức hồi tâm
thuần phục, nghe
sự giáo hoá. Nếu
giảng giải pháp
môn bí yếu của
chư Phật, thì
một khi xiển
minh, chúng đều
liễu ngộ tin thọ
phụng hành.
Ðại
đệ tử của Phật,
Ngài Phú Lâu Na
thuyết pháp đệ
nhất, Ngài đắc
được lưỡi điều
phục khắp nầy.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lưỡi
thông đạt khắp
cùng, đối với
hết thảy ngôn
ngữ, một khi lọt
qua tai thì liền
hiểu và nói
được, có thiên
tài ngôn ngữ,
đắc được tam
muội ngôn ngữ,
cho nên nói khéo
nhập vào biển
ngôn ngữ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được lưỡi phương
tiện khéo léo
hay hoằng dương
các thứ pháp
môn. Lời nói trí
huệ của Ngài đã
đến được rốt ráo
thành thục tột
đỉnh-bờ bên kia.
Ðó là hồi hướng
căn lành tu tập
của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí
lưỡi, vì khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được trí huệ
viên mãn chẳng
có chướng ngại.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
đem cái đầu bố
thí cho người
đến xin. Như Bồ
Tát Tối Thắng
Trí. Đại trượng
phu quốc vương
Ca Thi, và các
đại Bồ Tát khác.
Vì muốn thành
tựu đầu trí huệ
tối thắng, nhập
vào tất cả các
pháp. Vì muốn
thành tựu chứng
được đầu đại bồ
đề cứu chúng
sinh. Vì muốn
đầy đủ đầu tối
đệ nhất thấy tất
cả các pháp. Vì
được đầu trí huệ
chánh kiến thanh
tịnh. Vì muốn
thành tựu đầu
không chướng
ngại. Vì muốn
chứng được đầu
bậc đệ nhất. Vì
cầu đầu trí huệ
tối thắng thế
gian. Vì muốn
thành tựu đầu
trí huệ thanh
tịnh ba cõi
không thấy được
đảnh. Vì được
đầu trí huệ
vương thị hiện
đến khắp mười
phương. Vì muốn
được đầu tự tại
đầy đủ tất cả
các pháp không
thể phá hoại
được.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài lại
đem cái đầu của
mình bố thí cho
người đến xin.
Giống như thuở
xưa Bồ Tát Tối
Thắng Trí, đại
trượng phu quốc
vương Ca Thi,
cùng với vô
lượng vô số các
đại Bồ Tát khác,
đều đã từng thực
hành qua tinh
thần bố thí đại
vô uý. Mục đích
các Ngài thực
hành bố thí nầy,
là vì muốn thành
tựu đầu trí huệ
thù thắng có thể
thâm nhập vào
chân lý của các
pháp. Lại vì hy
vọng chứng được
đầu đại bồ đề
giác đạo, cứu hộ
chúng sinh, cứu
bạt chúng sinh
thoát khỏi biển
khổ sinh tử. Lại
vì muốn đắc được
đầu tối đệ nhất
đầy đủ thắng
trí, thấy rõ
chân lý của sự
lý ở trong tất
cả các pháp. Lại
vì muốn đắc được
đầu có trí huệ
thanh tịnh chánh
tri chánh kiến.
Chánh tri chánh
kiến là trợ giúp
người, cứu hộ
người, dẫn dắt
người đi trên
con đường tin
phụng Phật pháp,
làm ảnh hưởng
người phát tâm
bồ đề. Nếu có
người muốn xuất
gia tu đạo, thì
khiến cho họ
được thành tựu,
khen ngợi họ.
Tài bồi tưới
nước khiến cho
hạt giống bồ đề
dần dần lớn lên,
làm như thế tức
là biểu hiện của
sự chánh tri
chánh kiến; bằng
không thì tức là
tà tri tà kiến
của kẻ ác. Lại
vì muốn thành
tựu đầu không bị
bất cứ gì chướng
ngại, tất cả đều
thuận tâm như ý,
sự lý đều viên
dung vô ngại.
Lại vì muốn
chứng được đầu
của bậc đệ nhất
thế gian, khiến
cho chúng sinh
đều có chỗ nương
tựa. Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
đắc được đầu tối
thù thắng trên
thế gian, có trí
huệ vô thượng vi
diệu, vĩnh viễn
chẳng sinh tà
kiến, chẳng dính
vào lưới ngu si.
Lại vì muốn
thành tựu đầu có
trí huệ thanh
tịnh, trong ba
cõi không thể
thấy được đảnh.
Lại vì muốn đắc
được đầu vua trí
huệ, có thể thị
hiện trong mười
phương thế
giới-cũng giống
như đầu của
Phật. Lại vì
muốn được đầu
đầy đủ chân lý
của tất cả các
pháp, thông đạt
vô ngại, thiên
ma ngoại đạo
không thể phá
hoại được, đầu
tất cả tự tại.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát,
an trụ pháp nầy,
tinh cần tu tập,
vì đã nhập vào
giống tánh của
chư Phật, học
Phật tu hành bố
thí. Ở chỗ chư
Phật, sinh niềm
tin thanh tịnh,
tăng trưởng căn
lành, khiến cho
những người xin
đều được thoả
mãn, tâm được
thanh tịnh, vui
mừng vô lượng,
tâm thanh tịnh
tin hiểu, chiếu
rõ Phật pháp,
phát tâm bồ đề,
an trụ tâm xả,
các căn thơ
thới, công đức
tăng trưởng,
sinh ưa muốn
lành, thường
thích tu hành
hạnh bố thí rộng
lớn.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài rất an
nhiên tự tại,
dũng mãnh tinh
tấn chuyên tu
hạnh khó làm mà
làm được, bố thí
đầu. Ðó là biểu
thị Ngài đã thâm
nhập vào giống
tánh của chư
Phật. Học hành
vi của Phật và
bố thí nội tài
và ngoại tài, ở
tại đạo tràng
của Phật, lắng
nghe pháp của
chư Phật nói,
sinh tâm tin
thanh tịnh, tăng
trưởng căn lành
tối thắng. Khiến
cho những người
đến xin đầu, đều
được mãn nguyện,
tâm của họ thanh
tịnh vô lượng,
hoan hỉ vui mừng
vô lượng. Vì tâm
thanh tịnh tin
hiểu của Bồ Tát
đối với tất cả
Phật pháp, đều
thấu rõ liễu
ngộ, phát tâm
đại bồ đề, an
trụ nơi tâm bố
thí xả bỏ, vĩnh
viễn chẳng thối
chuyển. Ở trong
cảnh giới thanh
tịnh vô vi đó,
các căn-sáu căn
tự nhiên điều
thuận thơ thới,
căn lành công
đức, ngày càng
tăng trưởng,
trong tâm sinh
ra ý niệm ưa
thích làm lành,
thường hoan hỉ
tu hành phạm
hạnh, lập pháp
hội bố thí rộng
lớn.
Bấy
giờ, Bồ Tát đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được đầu Như
Lai, được đảnh
đầu không ai
thấy. Tất cả mọi
nơi không bị che
khuất. Là thượng
thủ nhất ở trong
cõi nước của chư
Phật. Tóc xoắn
về bên phải.
Quang minh thanh
tịnh nhuần bóng.
Có chữ vạn
nghiêm sức, ít
có trong đời.
Ðầy đủ đầu Phật.
Thành tựu đầu
trí huệ. Đầu tối
đệ nhất ở trong
tất cả thế gian.
Là đầu đầy đủ,
là đầu thanh
tịnh, là đầu
ngồi đạo tràng
viên mãn trí
huệ. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí
đầu, vì khiến
cho chúng sinh
được pháp tối
thắng, thành tựu
đại trí huệ vô
thượng.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí đầu, thì đem
đủ thứ căn lành
công đức tu tập
bố thí, đối với
chúng sinh hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều được đầu
giống như Phật,
tức là tướng
đảnh Phật không
ai thấy được, ở
bất cứ chỗ nào,
cũng không thể
nào che khuất
quang minh đầu
của Ngài. Ở
trong cõi nước
của chư Phật, là
tối thượng thủ
bậc nhất. Ðầu
tóc của Ngài đều
tự nhiên xoắn về
bên phải, màu
tóc thuần tịnh,
quang minh sáng
bóng, tóc xoắn
về bên phải hiển
hiện ra giống
hình chữ vạn,
chẳng phải do sự
nghiêm sức làm
nên, mà tự nhiên
thành tựu sự
trang nghiêm ít
có trong đời.
Ðầy đủ hết thảy
tướng tốt đầu
của Phật, hiếm
có trong đời,
thành tựu đầu có
trí huệ. Cũng là
đầu đệ nhất ở
trong hết thảy
chúng sinh thế
gian, là đầu
viên mãn đầy đủ
tất cả ưu điểm,
thanh tịnh nhất,
ngồi đạo tràng
thuyết pháp lợi
sinh, viên mãn
nhất thiết chủng
trí. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
đầu, vì khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được quang minh
pháp tạng thù
thắng nhất,
thành tựu đại
trí huệ vô
thượng.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
dùng tay chân
của mình bố thí
cho chúng sinh.
Như Bồ Tát
Thường Tinh Tấn,
Bồ Tát Vô Ưu
Vương, và vô
lượng các Bồ Tát
khác. Ở trong
các cõi, đủ thứ
nơi sinh, bố thí
tay chân. Dùng
niềm tin làm
tay, sinh khởi
hạnh nhiêu ích.
Qua lại xoay
vòng, siêng tu
chánh pháp.
Nguyện được tay
báu, dùng tay
làm vật bố thí.
Chỗ thực hành
chẳng không, đầy
đủ đạo Bồ Tát.
Thường dang rộng
hai tay sẵn sàng
bố thí, bước đi
dũng mãnh không
khiếp sợ. Dùng
sức tin thanh
tịnh, đầy đủ
hạnh tinh tấn,
trừ diệt đường
ác, thành tựu bồ
đề.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, lại dùng
tay và chân của
Ngài bố thí cho
những chúng sinh
chẳng có tay
chân. Giống như
thuở xưa Bồ Tát
Thường Tinh Tấn,
Bồ Tát Vô Ưu
Vương, và rất
nhiều các vị đại
Bồ Tát khác, khi
các Ngài tại
nhân địa hành Bồ
Tát đạo, thì
thương xót những
chúng sinh cụt
tay, cụt chân,
liền đem tay
chân của mình bố
thí cho họ, thà
mình thọ khổ. Bồ
Tát đại từ đại
bi, đối với
chúng sinh, khó
xả mà xả bỏ
được, khó nhẫn
mà nhẫn được,
khó nhường mà
nhường được.
Chúng ta người
tu đạo, nên thời
khắc phản tỉnh,
nhìn lỗi lầm của
chính mình, đừng
cứ đi giặt đồ dơ
thay thế cho
người khác, nói
người ta dài
ngắn. Người khác
là một mặt gương
sáng của mình,
người ta có hạnh
lành thì mình
khen ngợi học
tập; người ta có
ác hạnh thì mình
thương xót họ mà
tự biết cảnh
tỉnh, đừng tuỳ
tiện phỉ bán họ,
sân hận với họ,
chán ghét họ.
Nếu có thể
khuyên họ được,
thì giúp họ sửa
lỗi hướng thiện,
tức là lợi ích
người, là công
đức lành. Người
tu đạo quan
trọng nhất là
giữ giới, đối
cảnh giới không
động vọng niệm,
không sinh tâm
tham dục, ngày
ngày sám hối,
phát nguyện phát
tâm bồ đề. Như
thế mới có thể
tăng tấn định
lực, mới gọi là
công phu nên
làm. Hy vọng mọi
người cố gắng,
học hạnh Bồ Tát,
trừ khử sạch tập
khí mao bệnh của
mình.
Ðại
Bồ Tát tu hạnh
bố thí, chẳng
phải chỉ hành bố
thí trong loài
người, mà Ngài
vào trong khắp
chín pháp giới,
sáu loài tứ sinh
để thọ sinh.
Ngài chẳng tiếc
mạng sống, chẳng
sợ gian nan khốn
khổ, vào sâu
trong đủ loại
chúng sinh, giáo
hoá, điều phục,
tế độ, lợi ích
họ, khiến cho họ
đều biết bỏ tà
theo chánh, cải
ác hướng thiện,
và còn bố thí
nội tài tay chân
của Ngài
.v.v...Tại sao
dùng niềm tin
làm tay ? Vì tin
mới có thể đi
thực hành. Tin
là nhân bố thí
tay, có tài báu
vật chất từ
trong tay bố thí
ra, đó là quả
của niềm tin nhờ
tay. Cho nên Bồ
Tát dùng niềm
tin làm tay, thì
sinh khởi tất cả
hạnh lành lợi
ích chúng sinh.
Bồ Tát chẳng
tính thời gian
kiếp số, như vậy
đi đi lại lại
trong chín pháp
giới và ban đủ
thứ cho chúng
sinh-đời đời
kiếp kiếp sinh
sống với họ, một
mặt tự lợi,
siêng tu tất cả
chánh pháp cầu
đạo vô thượng,
một mặt lợi tha,
giáo hoá vô
lượng chúng
sinh, tiếp dẫn
họ vào Phật đạo.
Lại nguyện cho
đắc được tay
báu, vô lượng
các châu báu đều
từ trong tay
chảy ra, dùng
tay báu đó bố
thí khắp cho tất
cả chúng sinh.
Chỗ thực hành
chẳng không: Ðến
bất cứ nơi nào,
Ngài đều thực
hành bố thí
khắp, tuyệt đối
chẳng khiến cho
người có tâm
luống qua mà
thất vọng. Việc
làm đều đầy đủ
đạo Bồ Tát, bình
đẳng bố thí
khắp. Ngài
thường dũi tay
báu của Ngài ra,
tuỳ thời muốn
đem tài phước
của mình, rộng
bố thí cho
người, Ngài đến
khắp nơi quán
sát bệnh khổ của
chúng sinh, mãn
nguyện tâm đại
từ bi, nương
theo đại nguyện
lực cứu khắp
chúng sinh, qua
lại ở trong sáu
loài bốn sinh,
dũng mãnh không
khiếp sợ. Dùng
tâm tin nguyện
lực thanh tịnh,
đầy đủ tinh thần
tinh tấn hành
đạo, một lòng
diệt trừ đường
ác, dẫn dắt
chúng sinh tiến
đến thành tựu bồ
đề giác đạo.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí như
vậy, dùng vô
lượng vô biên
tâm rộng lớn,
khai mở pháp môn
thanh tịnh, nhập
vào biển chư
Phật, thành tựu
bố thí tay, chu
cấp khắp mười
phương. Nguyện
lực nhậm trì đạo
nhất thiết trí.
Trụ nơi tâm rốc
ráo lìa cấu.
Pháp thân trí
thân, không dứt
không hoại. Tất
cả ma nghiệp
không thể khuynh
động được. Nương
thiện tri thức,
tâm ý bền vững,
đồng với các Bồ
Tát, tu hành bố
thí.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí tay chân,
Ngài dùng tâm từ
bi rộng lớn vô
lượng vô biên,
đối với chúng
sinh khai thị
diễn nói pháp
môn thanh tịnh
của chư Phật
nói. Do đó, Ngài
có thể vào sâu
biển pháp của
chư Phật. Cũng
nhờ công đức đó
mà thành tựu tay
báu bố thí, chu
cấp khắp cho
mười phương
chúng sinh thọ
khổ. Bồ Tát phát
nguyện lực lớn,
dùng sự hoằng
dương Phật pháp
làm trách nhiệm
của mình, khiến
cho Phật pháp
trụ trì lâu dài
tại thế gian,
dùng nguyện lực
vô thượng, trụ
nơi trí đạo: An
trụ nơi tâm chân
chánh chẳng có
trần cấu, thanh
tịnh không
nhiễm. Vì lìa
khỏi tâm cấu
bẩn, cho nên
pháp thân thậm
nhiên. Vì trụ
trí địa, liền
thành tựu trí
thân. Pháp thân
thậm nhiên,
không thể bị huỷ
hoại. Ngọn đèn
trí vĩnh viễn
liên tục, chẳng
có đoạn diệt.
Lúc đó, tất cả
vọng niệm ác
hạnh không thanh
tịnh, đều chẳng
có biện pháp nào
để giao động chí
nguyện kiên cố
của Ngài được. Y
chỉ thiện tri
thức, nghe sự
giáo hoá của
Ngài, tài bồi
tâm tin kiên cố.
Ðồng như các vị
đại Bồ Tát tu
hành bố thí Ba
La Mật.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát, vì các
chúng sinh mà
cầu nhất thiết
trí bố thí tay
chân. Ngài đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đầy đủ sức thần
thông, đều đắc
được tay báu.
Ðược tay báu
rồi, đều tôn
kính nhau, sinh
nghĩ tưởng làm
ruộng phước.
Dùng đủ thứ báu,
càng phải cúng
dường lẫn nhau.
Lại dùng các thứ
báu cúng dường
chư Phật. Nổi
mây báu đẹp khắp
cõi nước của chư
Phật. Khiến cho
các chúng sinh
cùng khởi tâm từ
bi, không não
hại lẫn nhau. Du
hành đến các cõi
nước chư Phật.
An trụ nơi không
sợ hãi, tự nhiên
đầy đủ, rốt ráo
thần thông.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát vì cứu tất
cả chúng sinh,
nên phải có đại
trí huệ, cho nên
Ngài bố thí tay
chân. Khi Ngài
bố thí tay chân,
lại đem đủ thứ
căn lành của
Ngài tu tập, đối
với chúng sinh
hồi hướng như
vầy: Ngài nói
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều đầy đủ
sức thần thông,
đắc được tay báu
tự nhiên hiện ra
bảy báu. Khi họ
đắc được bảy báu
rồi, đừng sinh
tâm tham, phải
có tâm tôn kính
lẫn nhau, phải
sinh ra tư tưởng
tôi có thể làm
ruộng phước cho
những chúng sinh
khác. Càng phải
đem châu báu đẹp
sinh ra từ tay
báu, cúng dường
cho mọi người.
Lại biết đem
những châu báu
đó, cúng dường
mười phương chư
Phật, và nổi mây
báu đẹp khắp cõi
nước của chư
Phật. Khiến cho
hết thảy chúng
sinh đều sinh
tâm từ bi, trợ
giúp lẫn nhau,
không sinh ác
tâm phiền não và
xâm hại kẻ khác.
Thường đến cõi
nước của chư
Phật, chiêm
ngưỡng gần gũi
lễ lạy chư Phật,
an trụ trong tâm
bình tĩnh không
sợ hãi, tự nhiên
đầy đủ sức thần
thông chân thật.
Lại
khiến cho chúng
sinh đều đắc
được tay báu:
Tay hoa, tay
hương, tay y
phục, tay lọng,
tay tràng hoa,
tay hương bột,
tay đồ trang
nghiêm, tay vô
biên, tay vô
lượng, tay khắp
cùng. Ðắc được
những tay đó
rồi, dùng sức
thần thông
thường siêng đi
đến tất cả cõi
Phật, có thể
dùng một tay rờ
khắp tất cả thế
giới của chư
Phật. Dùng tay
tự tại giữ gìn
các chúng sinh.
Ðược tướng tay
tốt, phóng ra vô
lượng quang
minh. Có thể
dùng một tay che
khắp chúng sinh.
Thành tựu tay
Như Lai ngón tay
có màn lưới,
móng như đồng
đỏ.
Bồ
Tát vì tất cả
chúng sinh, bố
thí tay chân để
cầu nhất thiết
trí. Lại đem
công đức tu tập
hồi hướng cho
chúng sinh, hy
vọng chúng sinh
đắc được đủ thứ
tay hiếm có trên
đời, khiến cho
mỗi chúng sinh
đều được tay
báu, hay sinh ra
tất cả báu đẹp.
Tay hoa: Hay
sinh ra đủ thứ
hoa quý. Tay
hương: Hay sinh
ra các thứ hương
báu. Tay y phục:
Hay hiện ra y
trời. Tay lọng:
Hay sinh ra lọng
hoa có các châu
báu. Tay tràng
hoa: Hay sinh ra
tất cả tràng
hoa. Tay hương
bột: Hay sinh ra
hương bột tốt
nhất. Tay đồ
trang nghiêm: Có
thể sinh ra các
thứ đồ trang
nghiêm hiếm có
trên đời. Tay vô
biên: Thứ tay
nầy diệu dụng vô
biên. Tay vô
lượng: Thứ tay
nầy có thể sinh
ra vô lượng bảy
báu. Tay khắp
cùng: Hay bình
đẳng hộ khắp tất
cả chúng sinh.
Bồ Tát hy vọng
chúng sinh đều
có thể sinh ra
đủ thứ tay báu
hiếm có trên
đời, dụng tâm
của Ngài là
thương sót chúng
sinh, có tay báu
như vậy rồi, thì
tất cả đều sẽ
toại tâm mãn
nguyện, không
khởi tâm tham
sân si, chẳng
tạo nghiệp ác.
Ðắc được tay báu
đó rồi, thì phải
biết cảm ân báo
đức, dùng sức
thần thông luôn
luôn đi đến cõi
nước của chư
Phật, lễ lạy chư
Phật, cúng dường
chư Phật, lắng
nghe lời dạy của
chư Phật, siêng
tu Phật đạo. Ðắc
được tay báu đó
rồi, lại có thể
dùng một tay, có
thể rờ khắp đảnh
chúng sinh trong
thế giới của chư
Phật. Lại có thể
dùng tay báu tự
tại hộ trì tất
cả chúng sinh.
Ðắc được tay báu
tướng tốt, có
thể phóng ra vô
lượng vô biên
quang minh. Lại
có thể dùng tay
báu đó che mát
khắp tất cả
chúng sinh.
Thành tựu tay
giống như đức
Như Lai, ngón
tay có màn lưới,
móng như đồng đỏ
tốt đẹp giống
như Phật.
Bấy
giờ, Bồ Tát dùng
tay đại nguyện,
che khắp chúng
sinh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh chí thường
ưa cầu vô thượng
bồ đề. Sinh ra
biển tất cả công
đức. Thấy người
đến xin, hoan hỉ
không nhàm chán,
nhập vào biển
Phật pháp, đồng
căn lành với
Phật. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí
tay chân.
Khi
Bồ Tát nói lời
nguyện, đồng
thời Ngài dũi ra
tay phát đại
nguyện, che mát
khắp tất cả
chúng sinh, từ
từ Ngài nói ra
lời nguyện trong
tâm của Ngài:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được lợi
ích sự hồi hướng
của tôi, phải
lập chí thường
ưa cầu vô thượng
bồ đề giác đạo,
luôn luôn trụ
chánh niệm, tập
thực hành các
điều lành, tích
tụ đủ thứ công
đức, vô lượng vô
biên như biển
cả. Thấy người
đến xin tay chân
của bạn, thì
sinh tâm đại
hoan hỉ, chẳng
có biểu hiện
không vui. Nhập
vào trong biển
trí huệ của
Phật, có căn
lành công đức
giống như đức
Phật. Ðó là đại
Bồ Tát hồi hướng
đủ thứ căn lành
của Ngài tu tập
cho chúng sinh,
khi Ngài bố thí
tay chân.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
huỷ hoại thân
mình chảy máu,
để bố thí cho
chúng sinh. Như
Bồ Tát Pháp
Nghiệp. Bồ Tát
Thiện Ý Vương,
và vô lượng các
Bồ Tát khác. Ở
trong các cõi,
khi bố thí thân
thể máu huyết,
thì khởi tâm
thành tựu nhất
thiết trí. Khởi
tâm hoan hỉ
ngưỡng mộ đại bồ
đề. Khởi tâm ưa
thích tu hạnh Bồ
Tát. Khởi tâm
chẳng lấy khổ
thọ. Khởi tâm ưa
thấy người xin.
Khởi tâm chẳng
hiềm người đến
xin. Khởi tâm
hướng về tất cả
Bồ Tát đạo. Khởi
tâm thủ hộ hạnh
xả của tất cả Bồ
Tát. Khởi tâm
tăng thêm rộng
lớn hạnh bố thí
lành của Bồ Tát.
Khởi tâm chẳng
thối chuyển, tâm
chẳng nghỉ ngơi,
tâm chẳng luyến
tiếc nơi chính
mình.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát Ngài huỷ
hoại thân thể
của mình, lấy
máu bố thí cho
chúng sinh cần
máu. Hiện nay
các nơi đều có
những chỗ cho
máu, để cung cấp
máu cho những
người thiếu máu,
giống như hoại
thân lấy máu bố
thí cho chúng
sinh. Bất quá
thuở xưa công cụ
y liệu không
tiến bộ, hoại
thân lấy máu là
người phải có
tinh thần hy
sinh không sợ
hãi-Bồ Tát mới
làm được. Như Bồ
Tát Pháp Nghiệp,
Bồ Tát Thiện Ý
Vương, còn có
nhiều Bồ Tát
khác đều đã thực
hành qua sự bố
thí nầy. Vị Bồ
Tát nầy khi Ngài
ở trong sáu nẻo
hoại thân bố thí
máu, thì Ngài
phát khởi thắng
tâm vô lượng,
làm công đức bố
thí nầy, hy vọng
thành tựu nhất
thiết trí huệ.
Dùng tâm hoan
hỉ, ngưỡng mộ bồ
đề giác đạo,
chân thành ưa
thích tu học
hạnh Bồ Tát.
Ngài tự nguyện
thực hành sự bố
thí nầy, tuyệt
đối không cho
rằng là thọ khổ.
Sinh khởi tâm
hoan hỉ thấy có
người đến xin
máu của Ngài,
tuyệt đối chẳng
sinh tâm hiềm
chán đối với
người xin. Sinh
khởi tâm hướng
về cầu Bồ Tát
đạo. Lại sinh
khởi tâm thủ hộ
hạnh bố thí đại
hỉ đại xả của
các vị Bồ Tát.
Lại sinh khởi
tăng thêm rộng
lớn tâm bố thí
của Bồ Tát,
khiến cho càng
ngày càng tăng
trưởng, rộng lớn
đến tận cùng hư
không khắp pháp
giới. Ðủ thứ tâm
thù thắng như
vậy, tuyệt đối
chẳng thối
chuyển, tuyệt
đối chẳng nghỉ
ngơi, tuyệt đối
cũng chẳng luyến
tiếc lợi ích của
chính mình, mà
sinh tâm ích kỷ.
Ðem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều được thành
tựu pháp thân
trí thân. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
không mệt mỏi,
giống như kim
cang. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
không thể hoại,
không thể làm
thương hại được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân như
biến hoá, hiện
khắp thế gian,
chẳng cùng tận.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân đáng
ưa thích, thanh
tịnh kiên cố vi
diệu. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được sinh
thân pháp giới,
đồng với Như
Lai, không chỗ
nương tựa.
Bồ
Tát đem đủ thứ
căn lành, hồi
hướng cho chúng
sinh như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều được viên
mãn bồ đề, chu
khắp pháp giới,
thành tựu thanh
tịnh pháp thân.
Trí chứng các
pháp thật tướng,
thông đạt vô
ngại, thành tựu
thân trí huệ vô
thượng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân thể
vĩnh viễn không
mỏi mệt, kiên cố
giống như Na la
diên. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đắc được
thân kim cang
bất hoại, đao
thương kiếm mác
đều không thể
làm thương hại
đến nhục thân
của họ được. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thể trăm ngàn ức
biến hoá, thị
hiện khắp thế
gian, chẳng cùng
tận. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đắc được
thân thể thanh
tịnh tốt đẹp,
viên mãn kiên
cường, khiến cho
chúng sinh gần
gũi, khiến cho
chúng sinh sinh
tâm hoan hỉ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được sinh thân
tận hư không
biến pháp giới,
đồng như pháp
thân của Phật,
không cần nương
tựa bất cứ chỗ
nào.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
quang minh như
báu đẹp, tất cả
người đời không
thể chói sáng
hơn được. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
trí tạng hải,
nơi cõi bất tử
mà được tự tại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân bảo
hải, ai thấy
cũng đều được
lợi ích, không
luống qua.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân hư
không, thế gian
não hoạn, không
thể nhiễm trước.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, Ngài dùng
tâm đại thừa,
tâm rộng lớn,
tâm vui mừng,
tâm hân hạnh,
tâm hoan hỉ, tâm
tăng thượng, tâm
an lạc, tâm
không ô trược,
để hoại thân lấy
máu bố thí.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thể như dạ minh
châu, quang minh
chiếu sáng mười
phương, trên thế
gian chẳng có ai
sáng hơn quang
minh đó được.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đắc được
thân trí huệ bảo
tạng, thâm sâu
như biển cả, nơi
cõi bất tử-Bồ
Tát ngộ nhập vào
các pháp thật
tướng, chứng
được cảnh giới
Niết Bàn, tất cả
giải thoát được
tự tại, cho nên
Ngài cũng nguyện
cho tất cả chúng
sinh đắc được
thân tự tại như
vậy. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đắc được
thân như bảo
hải, tuỳ tâm sở
dục có thể ở
trong thân của
Ngài xuất hiện
nhiều thứ báu,
khiến cho người
thấy được Ngài,
đều đắc được lợi
ích, không luống
qua. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đắc được
thân như hư
không, hết thảy
phiền não và
hoạn nạn trên
thế gian tuyệt
đối không nhiễm
trên thân của
Ngài. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài hoại
thân lấy máu bố
thí cho chúng
sinh, Ngài dùng
tâm đại thừa Bồ
Tát, tâm thanh
tịnh không
nhiễm, tâm rộng
lớn vô biên, tâm
hân hoan khoái
lạc, tâm hân
hạnh minh bạch
pháp môn bố thí,
tâm hoan hỉ, tâm
tăng trưởng trí
huệ hướng
thượng, tâm an
ổn khoái lạc,
tâm không ô
trược. Dùng đủ
thứ tâm thắng
diệu như vậy để
bố thí.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
thấy có người
đến cầu xin thân
tuỷ thịt của
mình, liền hoan
hỉ nói lời dịu
dàng với người
xin rằng: Thân
tuỷ thịt của
tôi, tuỳ ý lấy
dùng. Như Bồ Tát
Nhiêu Ích. Bồ
Tát Nhất Thiết
Thí Vương, và vô
lượng các Bồ Tát
khác.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát nếu thấy có
người đến cầu
xin Ngài tuỷ và
thân thịt thì,
Ngài rất hoan
hỉ, lập tức hoà
nhan duyệt sắc
với người đến
cầu xin, hiện ra
dáng vẻ rất vui
mừng, dùng lời
nói dịu dàng nói
với họ rằng:
"Thịt và tuỷ
trên thân của
tôi đây, tuỳ ý
ông, hoan hỉ
dùng bao nhiêu
thì lấy bấy
nhiêu". Giống
như thuở xưa Bồ
Tát Nhiêu Ích,
Bồ Tát Nhất
Thiết Thí Vương,
và còn có vô
lượng các đại Bồ
Tát khác, các
Ngài đều đã từng
thực hành đại bố
thí thân thịt
cốt tuỷ nầy để
cứu chúng sinh.
Trước kia có vị
thái tử Nguyệt
Quang, có xe một
mình tự đi du
hành, ở giữa
đường gặp một
người nghèo khổ
mình đầy ghẻ lở,
ông ta ngăn cản
xe của thái tử,
và nói với thái
tử rằng:
-
"Mình tôi sinh
ra chứng bệnh
nầy, rất là đau
khổ và phiền
não. Thái tử !
Ngài thật là
hạnh phúc, một
mình tự cỡi xe
đi du hành. Ngài
có thể phát tâm
đại từ, thương
xót tôi, trị cho
bệnh của tôi
được lành chăng
?"
Thái
tử nghe rồi, bèn
đi hỏi rất nhiều
danh y.
-
Bác sĩ nói:
"Chứng bệnh đó
là do tâm sân
hận nặng mà sinh
ra, phải lấy cốt
tuỷ của người
nào mà từ nhỏ
đến lớn chưa
từng sinh ra một
chút tâm sân
hận, thoa lên
thân bệnh ghẻ
của người đó, và
còn uống máu và
tuỷ của người đó
thì mới khỏi
được".
Thái
tử nghe xong
trong tâm suy
nghĩ, đến đâu để
tìm người như
thế đây, ai có
thể không tiếc
thân thể của
mình ! Ngoại trừ
chính ta đây, do
đó lập tức sai
chiên đà la lóc
thịt đập xương,
lấy tuỷ thoa lên
cho bệnh nhân,
và lấy máu cho
uống.
Bồ
Tát ở trong các
cõi, đủ thứ các
nơi sinh ra, khi
dùng tuỷ thịt
của mình bố thí
cho người xin,
thì tâm hoan hỉ
rộng lớn. Tâm bố
thí tăng trưởng.
Ðồng với các Bồ
Tát tu tập căn
lành, lìa trần
cấu của thế
gian, đắc được ý
chí vui thích
thâm sâu. Dùng
thân bố thí
khắp, tâm chẳng
cùng tận. Ðầy đủ
vô lượng căn
lành rộng lớn,
nhiếp thọ tất cả
diệu công đức
bảo. Như pháp
của Bồ Tát, thọ
hành không nhàm
mỏi. Tâm thường
ưa thích bố thí
công đức. Một
lòng chu cấp,
tâm chẳng hối
tiếc. Quán sát
các pháp đều từ
duyên không có
thể. Không tham
nghiệp bố thí và
quả báo bố thí.
Tuỳ chỗ được
gặp, bình đẳng
bố thí cho.
Bồ
Tát ở trong sáu
nẻo thọ sinh
trong các loài,
chỉ cần có chúng
sinh cầu xin
Ngài tuỷ thịt,
thì Ngài lập tức
bố thí cho. Khi
Ngài bố thí cho
người, thì tâm
tràn đầy sự hoan
hỉ, tâm cảnh
rộng lớn, tâm bố
thí cũng càng
ngày càng tăng
trưởng. Ðồng với
các vị đại Bồ
Tát trong quá
khứ tu tập pháp
môn bố thí, căn
lành tích tụ
cũng đồng đều.
Do đó Ngài xa
lìa tất cả trần
cấu của thế
gian, đắc được
trí huệ thâm
sâu, lập định
tín nguyện của
mình, cảm được
pháp lạc chân
thật. Ðem thân
thể của mình và
ngũ tạng lục
phủ, bố thí khắp
cho chúng sinh
cần, tâm thương
nhớ chúng sinh
hành bố thí nội
tài ngoại tài,
vĩnh viễn chẳng
ngừng nghỉ. Dùng
công đức bố thí
đó, đầy đủ vô
lượng căn lành
rộng lớn, có thể
nhiếp thọ tất cả
thắng diệu công
đức bảo. Pháp
môn tu hành đều
hợp với pháp môn
của Bồ Tát tu,
tâm thọ thân
trì, cung hành
thực tiễn, chưa
từng sinh tâm
mỏi mệt, trong
tâm đều hoan hỉ
làm công đức bố
thí. Tâm của
Ngài chẳng có ý
niệm nào khác,
chỉ chuyên tâm
nhất ý chu cấp
cho chúng sinh,
chúng sinh cần
gì, thì Ngài chu
cấp cái đó. Nội
tài, ngoại tài,
người khác khó
xả mà Ngài đều
xả được, chưa
từng sinh tâm
hối tiếc. Bồ Tát
thường suy gẫm
quán sát các
pháp, thấu đạt
các pháp thật
tướng, minh bạch
tất cả các pháp
đều từ duyên mà
sinh, chẳng có
bản thể của nó.
Tuy nhiên bố thí
có đức, nhưng Bồ
Tát không tham,
cũng không chấp
trước công đức
bố thí đó, càng
không tính toán
tương lai thu
hoạch được quả
báo gì. Hoài bảo
của Ngài là thái
độ hành sở vô
sự, rất là tự
tại. Ngài tuỳ
thời tuỳ lúc,
khi gặp cơ hội
bố thí, thì Ngài
không lựa chọn
đối tượng bố
thí, chẳng phân
biệt kẻ gần
người xa, chẳng
nhớ ác xưa, cũng
chẳng ghét kẻ
ác, một luật bố
thí bình đẳng.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí như
vậy thì, tất cả
chư Phật thảy
đều hiện tiền.
Ngài nghĩ chư
Phật như cha, vì
được hộ niệm.
Tất cả chúng
sinh thảy đều
hiện tiền, vì
khắp khiến cho
được an trụ nơi
pháp thanh tịnh.
Tất cả thế giới
thảy đều hiện
tiền, vì nghiêm
tịnh tất cả cõi
nước chư Phật.
Tất cả chúng
sinh thảy đều
hiện tiền, vì
dùng tâm đại bi
cứu hộ khắp. Tất
cả Phật đạo thảy
đều hiện tiền,
vì ưa quán mười
thứ lực của Như
Lai. Quá khứ vị
lai hiện tại tất
cả Bồ Tát, thảy
đều hiện tiền,
vì đều cùng viên
mãn các căn
lành. Tất cả
không sợ hãi
thảy đều hiện
tiền, vì làm
được sư tử hống
tối thượng. Tất
cả ba đời thảy
đều hiện tiền,
vì được trí bình
đẳng quán sát
khắp. Tất cả thế
gian thảy đều
hiện tiền, vì
phát nguyện rộng
lớn, suốt kiếp
vị lai tu bồ đề.
Tất cả hạnh Bồ
Tát không mệt
mỏi thảy đều
hiện tiền, vì
phát tâm rộng
lớn vô số lượng.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát hành bố
thí thân thịt
cốt tuỷ, thì
mười phương chư
Phật cùng lúc
đều hiện ra ở
trước Ngài, khen
ngợi Ngài rằng:
"Thiện nam tử !
Ðó mới là bố thí
vô thượng !" Lúc
đó Bồ Tát thấy
được chư Phật,
tâm nghĩ mình
giống như người
con đi du hành
đã lâu nay gặp
lại cha. Ðó tức
là tâm đại từ bi
của Bồ Tát, xả
thân cứu chúng
sinh, vì đắc
được cảm ứng chư
Phật hộ niệm.
Tất cả chúng
sinh cũng đều
hiện tiền, vì Bồ
Tát khiến cho
khắp tất cả
chúng sinh, đều
an trụ ở trong
Phật pháp thanh
tịnh. Tất cả thế
giới đều hiện
tiền, vì Bồ Tát
đã từng trang
nghiêm tất cả
cõi Phật. Lại
nữa tất cả chúng
sinh đều hiện
tiền, vì Bồ Tát
chưa từng tiếc
thân mạng, khắp
cứu hộ họ. Tất
cả Phật đạo đều
hiện tiền, vì Bồ
Tát đã từng dũng
mãnh tinh tấn,
chí ưa quán sát
mười thần lực
không thể nghĩ
bàn của Phật.
Tất cả Bồ Tát
trong ba đời
cùng lúc đều
hiện ra ở trước,
vì trong quá khứ
các Ngài đã từng
tu hạnh Bồ Tát
với nhau, đồng
thời viên mãn đủ
thứ căn lành.
Tất cả sử sự
không sợ hãi
thảy đều hiện ra
ở trước, vì Bồ
Tát đã từng ở
trong các cõi,
rộng làm sư tử
hống. Sư tử hống
là đánh trống
pháp lớn, thổi
loa pháp lớn,
hoằng dương
chánh pháp, giáo
hoá chúng sinh.
Tất cả ba đời
thảy đều hiện ra
ở trước-là nói
tất cả chư Phật,
các Bồ Tát, tất
cả đủ loại chúng
sinh trong ba
đời, đồng thời
hiển hiện ra ở
trước, là vì Bồ
Tát đã đạt được
cảnh giới chuyển
thức thành trí,
đắc được diệu
quán sát trí
bình đẳng. Ðủ
loại chúng sinh
trên thế gian
thảy đều hiển
hiện ra, là vì
Bồ Tát đối với
những chúng sinh
đó, khiến cho họ
sinh tâm đại bi,
phát tâm nguyện
rộng lớn. Ngài
nói: Chúng sinh
vô biên thệ
nguyện độ, suốt
tất cả kiếp vị
lai, tôi phải
siêng tu bồ đề
giác đạo, cứu
bạt tất cả chúng
sinh. Mười
phương ba đời
các Bồ Tát, khi
các Ngài tu hạnh
Bồ Tát, chưa
từng có vị nào
sinh tâm mỏi mệt
nhàm chán, cũng
đều hiển hiện ra
ở trước, vì đó
đây đều đã từng
phát tâm bồ đề
rộng lớn vô số
lượng.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí tuỷ
và thịt, thì đem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân kim
cang, không thể
huỷ hoại. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
kiên mật, luôn
không khuyết
giảm. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được ý sinh
thân, giống như
thân Phật, trang
nghiêm thanh
tịnh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
tướng trăm
phước, ba mươi
hai tướng tự
trang nghiêm.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân diệu
trang nghiêm,
tám mươi vẻ đẹp,
đầy đủ mười lực
không thể phá
hoại được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân Như
Lai, rốt ráo
thanh tịnh,
không thể hạn
lượng. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
kiên cố, tất cả
ma oán không thể
phá hoại được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được nhất tướng,
đồng một thân
tướng với chư
Phật ba đời.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân vô
ngại, dùng tịnh
pháp thân khắp
cõi hư không.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được bồ đề tạng
thân, có thể
dung nạp khắp
tất cả thế gian.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát cầu nhất
thiết trí, khi
Ngài bố thí tuỷ
và thịt. Vì
khiến cho chúng
sinh đều được
thân Như Lai rốt
ráo thanh tịnh
vô lượng.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát Ngài bố
thí cốt tuỷ và
thân thịt, thì
đem căn lành của
Ngài tu bố thí,
đối với chúng
sinh hồi hướng
như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều được
thân kim cang
bất hoại, không
thể nào bị vật
bên ngoài phá
hoại được. Thân
kim cang tức là
thân vô lậu,
chẳng có tất cả
tập khí mao
bệnh, không thể
lậu vào ba đường
ác. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
thân kiên mật,
sáu căn thông
minh lanh lợi,
thân tâm khoẻ
mạnh, chẳng có
chút thiếu
khuyết nào, tứ
chi ngũ quan lục
căn, đều viên
mãn đầy đủ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được ý sinh
thân không thể
nghĩ bàn, tuỳ
theo ý niệm mà
đến khắp ba ngàn
thế giới, chẳng
bị tất cả sự trở
ngại. Ba ngàn
thế giới cũng
không ngoài một
niệm. Giống như
pháp thân của
Phật, đầy khắp
hư không, tuỳ
nơi hiện ra thân
thanh tịnh trang
nghiêm. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được thân tướng
tốt trăm phước,
có ba mươi hai
tướng giống như
thân Phật, tự
trang nghiêm
thân. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
tám mươi vẻ đẹp,
trang nghiêm vi
diệu không thể
tưởng tượng
được. Ðồng thời
đầy đủ mười lực,
không thể phá
hoại được. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thân
giống như Phật,
thanh tịnh không
có văn tự nào có
thể so sánh
được. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
thân kiên cố
nhất, tất cả ma
vương và oán
địch không cách
chi phá hoại
được. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
nhất tướng, nhất
tướng tức là tất
cả tướng, thân
tướng có thể
huyễn hoá trăm
ngàn ức đồng với
chư Phật ba đời.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được thân
không bị tất cả
hình thể sắc
tướng trở ngại
được, có thể hợp
nhất với khí
vật, dùng pháp
thân thanh tịnh,
khắp cùng hư
không pháp giới.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
thân giống như
bồ đề giác đạo,
có thể dung nạp
khắp mười phương
thế giới, cũng
có thể hiển hiện
tất cả chúng
sinh, thành
Chánh Giác ở
trong thân của
Ngài. Ðó là hồi
hướng căn lành,
vì cầu nhất
thiết trí huệ
của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
cốt tuỷ và thân
thịt cho chúng
sinh. Hy vọng
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
đắc được thân
chân thật thanh
tịnh vô lượng
giống như chư
Phật.
Thân
Phật là một
nhiều vô ngại,
vì tiếp dẫn
chúng sinh, tuỳ
loại mà hoá
thân, cho nên
nói Phật có trăm
ngàn ức hoá
thân, hoặc nói
thân vô tận. Ở
trong Kinh điển
ghi có mười thân
viên mãn:
1. Dưới cội bồ
đề, hàng ma
thành đạo là bồ
đề thân.
2. Bổn nguyện độ
sinh, thù nhân
hàng tích làm
nguyện thân.
3. Phổ ứng quần
cơ, tuỳ loại
hiện hoá làm hoá
thân.
4. Thần lực nhậm
trì, toàn thân
bất hoại làm làm
lực trì thân.
5. Vi trần tướng
hải, trang
nghiêm thật báo
làm trang nghiêm
thân.
6. Oai đức quảng
đại, ma ngoại
quy phục làm oai
thế thân.
7. Ý có chỗ đến,
thì thân liền
đến, làm ý sinh
thân.
8. Phước đức đầy
đủ như biển,
tròn khắp làm
phước đức thân.
9. Pháp tính
thanh tịnh, chu
khắp pháp giới
làm pháp thân.
10. Diệu trí
viên minh, thông
đạt vô ngại làm
trí thân.
Ðiều gọi là hai
thân, ba thân,
mười thân, trăm
ngàn ức thân,
thật tức là một
pháp giới thân,
cùng làm duyên
khởi, tướng tức
tướng nhập,
triển chuyển vô
ngại, tổng làm
một nhiều vô
ngại pháp giới
thân.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
đem tim mình bố
thí cho những
người đến xin.
Như Bồ Tát Vô
Hối Yểm. Bồ Tát
Vô Ngại Vương,
và vô lượng các
đại Bồ Tát khác.
Khi đem tim mình
bố thí cho người
xin, thì Ngài
học tâm bố thí
tự tại. Tu tâm
bố thí tất cả.
Tâm tập hành đàn
Ba La Mật. Tâm
thành tựu đàn Ba
La Mật. Tâm học
tất cả Bồ Tát bố
thí. Tâm vô tận
tất cả đều xả.
Tâm tập quán tất
cả đều bố thí.
Tâm gánh vác
hạnh bố thí của
tất cả Bồ Tát.
Tâm chánh niệm
tất cả chư Phật
hiện tiền. Tâm
cúng dường cho
tất cả những
người đến xin
không đoạn
tuyệt.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài đem
tim của mình bố
thí cho người
đến xin. Như
thuở xưa có vị
Bồ Tát Vô Hối
Yểm, Bồ Tát Vô
Ngại Vương, và
vô lượng các vị
đại Bồ Tát khác,
các Ngài đều đã
từng thực hành
đại bố thí khó
làm mà làm được.
Khi Bồ Tát đem
tim mình bố thí
cho người xin,
thì Ngài buông
xả vạn duyên,
tâm của Ngài rất
tự tại. Ngài tu
tâm bố thí tất
cả, học tập đàn
Ba La Mật-tâm bố
thí đến bờ kia.
Tâm thành tựu bố
thí độ. Tâm học
tập các Bồ Tát
quá khứ tu bố
thí. Tâm bố thí
vô tận, tất cả
trong ngoài đều
thí xả được. Tâm
tập quán dưỡng
thành hoan hỉ bố
thí. Tâm gánh
vác trách nhiệm
hạnh bố thí của
tất cả Bồ Tát.
Tâm chánh niệm
chư Phật thường
hiện tiền. Tâm
bố thí đối với
tất cả những
người đến cầu
xin, thảy đều
khiến cho họ
được toại tâm
mãn nguyện, vĩnh
viễn không đoạn
tuyệt. Bồ Tát ôm
ấp mười tâm
nguyện nầy, hành
nghiệp lành bố
thí.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí như vậy thì,
tâm của Ngài
thanh tịnh. Vì
độ tất cả các
chúng sinh. Vì
được mười lực bồ
đề. Vì nương vào
đại nguyện mà tu
hành. Vì muốn an
trụ Bồ Tát đạo.
Vì muốn thành
tựu nhất thiết
trí. Vì không bỏ
lìa thệ nguyện
xưa.
Ðem
các căn lành đó
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tâm
kim cang tạng,
tất cả núi Kim
Cang và núi
Thiết Vi đều
không thể phá
hoại được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tâm kim
cang giới tướng
chữ vạn trang
nghiêm. Ðược tâm
không thể lay
động. Ðược tâm
không sợ hãi.
Ðược tâm lợi ích
thế gian thường
vô tận. Ðược tâm
đại dũng mãnh
tràng trí huệ
tạng.
Ðại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí tim của
mình cho người
đến xin thì, tâm
của Ngài rất
thanh tịnh tự
tại, tơ hào
không tạp niệm,
vì Ngài muốn độ
tất cả chúng
sinh. Lại vì
muốn chứng được
bồ đề giác đạo,
nhập vào quả vị
của Phật. Lại vì
nương vào đại
thệ nguyện thuở
xưa Ngài đã
phát, mà tu đại
bố thí nầy. Lại
vì an trụ vào
quả vị bồ đề
giác đạo, không
có tâm thối
chuyển. Lại vì
hy vọng diệu trí
viên mãn, thành
tựu trí huệ thù
thắng, cũng
không muốn xả bỏ
lìa đại thệ
nguyện của mình
đã phát, vì cứu
chúng sinh,
chẳng tiếc tất
cả, nhất định
muốn hoàn thành
thệ nguyện của
mình, mà bố thí
tim của mình cho
chúng sinh. Bồ
Tát đem đủ thứ
căn lành của
Ngài tu tập, đối
với chúng sinh
hồi hướng như
vầy: Ngài nói
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều đắc
được tâm kiên cố
như kim cang, dù
có dùng thế lực
của tất cả núi
Kim Cang và núi
Thiết Vi, cũng
không thể nào
phá hoại được
chánh niệm của
Ngài. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tâm
kim cang giới
tướng chữ vạn
trang nghiêm,
biểu thị vạn đức
cát tường, mà
nhập vào trí huệ
lại khế hợp với
pháp tính chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tâm
tín nguyện kiên
định, chẳng bị
dị luận của
thiên ma ngoại
đạo mà lay động.
Lại đắc được tâm
không sợ hãi đối
với bất cứ cảnh
giới gì. Lại đắc
được tâm hằng
thường chỉ biết
lợi ích cho thế
gian. Lại đắc
được tâm đại
dũng mãnh tràng
đại trí huệ
tạng.
Ðược
tâm kiên cố
tràng như Na la
diên. Ðược tâm
không thể cùng
tận như biển
chúng sinh. Ðược
tâm Na la diên
tạng không thể
phá hoại được.
Ðược tâm diệt
trừ các chúng ma
nghiệp ma quân.
Ðược tâm không
sợ hãi. Ðược tâm
đại oai đức.
Ðược tâm thường
tinh tấn. Ðược
tâm đại dũng
mãnh. Ðược tâm
không kinh hãi.
Ðược tâm áo giáp
kim cang. Ðược
tâm các Bồ Tát
tối thượng. Ðược
tâm thành tựu
Phật pháp bồ đề
quang minh. Ðược
tâm thành nhất
thiết trí, ngồi
dưới cội bồ đề,
an trụ tất cả
chánh pháp của
chư Phật, lìa
các mê hoặc.
Ðược tâm thành
tựu mười lực.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài bố
thí tim. Vì
khiến cho chúng
sinh chẳng nhiễm
thế gian, đầy đủ
tâm mười lực của
Như Lai.
Bồ
Tát lại hy vọng
chúng sinh đắc
được tâm kiên cố
giống như tràng
Na la diên. Lại
đắc được tâm đại
từ bi vô cùng vô
tận, nhiều giống
như chúng sinh,
thâm sâu vô
lượng không đáy
như biển cả,
hạnh bố thí
chẳng cùng tận.
Lại đắc được tâm
pháp tính Na la
diên, không vật
gì có thể phá
hoại được. Lại
đắc được tâm đại
dũng mãnh, có
thể tiêu diệt
được tất cả
nghiệp ma, có
thể phá trừ hết
thảy ma quân.
Lại đắc được tâm
chân lý không sợ
hãi. Lại đắc
được tâm bình
đẳng từ ái có
oai đức, khiến
cho người cung
kính mà lại
thích phục tùng.
Lại đắc được tâm
luôn luôn biết
tinh tấn tu trì
chánh pháp. Lại
đắc được tâm
dũng mãnh cứu hộ
tất cả chúng
sinh, chẳng tiếc
hy sinh thân
mình. Lại đắc
được tâm định
không kinh sợ,
cũng chẳng động
thanh sắc. Lại
đắc được tâm tin
áo giáp kiên cố
như kim cang.
Lại đắc được tâm
từ bi thanh tịnh
giống như các Bồ
Tát. Lại đắc
được tâm trí huệ
thành tựu pháp
của Phật nói và
viên mãn giác
đạo. Lại đắc
được thành tựu
tâm đại trí huệ
ngồi ở dưới cội
bồ đề, an trụ
trong chánh pháp
của chư Phật,
lìa khỏi hết
thảy nhiễm ô
điên đảo và tất
cả dụ hoặc không
chánh đáng. Lại
đắc được thành
tựu tâm mười thứ
lực đại oai
thần.
Mười
hai thứ tâm tối
thắng ít có đó,
là khi đại Bồ
Tát bố thí tim,
đem đủ thứ căn
lành của Ngài tu
tập, hồi hướng
cho chúng sinh.
Vì hy vọng chúng
sinh đều không ô
nhiễm những mao
bệnh không thanh
tịnh của thế
gian, có thể
viên mãn đầy đủ
mười thứ tâm oai
thần lực, cho
nên Bồ Tát ưa
thích thực hành
đại bố thí nầy.
Phật
tử ! Nếu có
người đến xin
ruột thận gan
phổi, thì đại Bồ
Tát đều bố thí
cho. Như Bồ Tát
Thiện Thí. Bồ
Tát Hàng Ma Tự
Tại Vương, và vô
lượng các đại Bồ
Tát khác. Khi
thực hành bố thí
đó, thấy người
đến xin, tâm của
Ngài hoan hỉ,
dùng mắt từ ái
quát sát, vì cầu
bồ đề. Tuỳ theo
chỗ họ cần, thảy
đều bố thí cho.
Trong tâm chẳng
hối tiếc, quán
sát thân nầy,
chẳng có bền
vững. Tôi phải
bố thí cho họ,
để đổi lấy thân
kiên cố. Lại
nghĩ thân nầy
cũng sẽ hư hoại,
người thấy sẽ
sinh nhàm chán,
là thức ăn của
chồn sói chó.
Thân nầy vô
thường, rồi sẽ
phải bỏ, làm
thức ăn cho loài
khác, không có
giác tri.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Nếu như
có người đến cầu
xin ruột già,
ruột non, thận,
gan, phổi, thì
đại Bồ Tát liền
lập tức bố thí
cho họ. Như thuở
xưa Bồ Tát Thiện
Thí, Bồ Tát Hàng
Ma Tự Tại Vương,
và vô lượng các
vị đại Bồ Tát
khác. Các Ngài
đã từng thực
hành đại bố thí
nầy, khó xả mà
xả được, khó làm
mà làm được. Khi
vị đại Bồ Tát
nầy hành bố thí,
Ngài thấy người
đến xin, thì tâm
của Ngài tràn
đầy tâm hoan hỉ,
dùng mắt từ ái,
nhìn vào nội
tạng của người
đến xin. Bồ Tát
vì cầu đạo quả
vô thượng bồ đề,
cho nên Ngài đều
tuỳ thuận chúng
sinh, bất cứ họ
cầu xin gì, Ngài
đều làm cho họ
được toại tâm
mãn nguyện,
tuyệt đối trong
tâm chẳng hối
tiếc. Tại sao ?
Vì Bồ Tát quán
sát thân nầy
chẳng bền vững:
Hiện tại có
người cần tôi
phải mau bố thí
cho họ, để được
thân kim cang
kiên cố bất
hoại. Lại nghĩ
đến thân thể
nầy, chuyển nháy
mắt thời gian
trôi qua mấy
mươi năm, sẽ hư
hoại rữa mục,
đến lúc đó ai
thấy cũng đều
sinh tâm nhàm
chán. Nếu chẳng
may chết sớm,
bất quá làm thức
ăn cho chồn,
sói, và chó.
Thân thể nầy là
vô thường, đến
phút cuối rồi
cũng phải xả bỏ.
Làm thức ăn cho
dã thú, chẳng có
tri giác, chẳng
bằng sớm bố thí
cho người.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát quán sát như
thế, biết thân
vô thường, rất ô
uế. Nơi pháp
thấu hiểu tỏ
ngộ, sinh tâm
đại hoan hỉ.
Cung kính xem
người đến xin
đó, như bậc
thiện tri thức.
Tuỳ chỗ họ cầu
xin, thảy đều bố
thí cho. Dùng
thân không bền
nầy, đổi lấy
thân bền vững.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi vị
đại Bồ Tát đó
quán tưởng như
vậy, Ngài biết
thân thể nầy là
vô thường, là
bốn đại giả hợp
mà thành, bên
ngoài thì mồ
hôi, bên trong
thì tiết ra
những chất ô uế,
hôi thối đến cực
điểm. Bồ Tát có
tư tưởng như thế
rồi, lập tức
khoát nhiên hiểu
ngộ chân không
diệu hữu của
Phật pháp. Chân
chánh công đức
lợi ích của sự
bố thí cũng đều
minh bạch triệt
để, do đó sinh
ra tâm đại hoan
hỉ. Ngài rất
cung kính thành
khẩn chú ý nhìn
người đến xin
ngũ tạng lục
phủ. Trong tâm
lại nghĩ như
vầy: Vị nầy đến
giáo hoá ta, dẫn
dắt ta phát tâm
bồ đề, thiện tri
thức bảo hộ ta
tu hạnh Bồ Tát !
Chỗ họ cần, ta
đều thí tặng cho
họ. Ðem thân ô
uế, không bền
vững, vô thường,
bốn đại giả hợp
hư vọng nầy, đổi
lấy pháp thân
kim cang bất
hoại, quang minh
trí huệ biến hoá
vô cùng vô tận.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí như
vậy, Ngài đem
hết thảy căn
lành hồi hướng
như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
trí tạng, trong
ngoài đều thanh
tịnh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
phước tạng, có
thể nhậm trì
khắp tất cả trí
nguyện. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
thượng diệu, bên
trong chứa hương
thơm, bên ngoài
phát ra quang
minh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
không lộ bụng,
trên dưới ngay
thẳng, chi đốt
tương xứng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân trí
huệ, dùng vị
Phật pháp thư
thái dưỡng lớn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân vô
tận, tu tập an
trụ pháp tính
thâm sâu.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát bố thí
như Kinh văn đã
nói ở trước,
Ngài đem tất cả
căn lành tu tập,
hồi hướng cho
tất cả chúng
sinh: Ngài nói
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều được
thân trí huệ bảo
tạng, bên trong
viên minh tịnh
trí, chẳng có
chút tư tưởng
nhiễm ô nào, bên
ngoài thân đoan
chánh hiển lộ,
tướng tốt trang
nghiêm, có khí
chất thanh cao,
được trí thân
trong ngoài
thanh tịnh như
thế. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
phước báo bảo
tạng, có thể làm
công đức đại bố
thí nhậm vận tự
tại khắp, toại
tâm mãn nguyện,
không có sự khổ
về cầu không
được. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
tốt đẹp tối
thượng, bên
trong chứa hương
thơm, bên ngoài
phát ra quang
minh trí huệ,
khiến cho ai
thấy được cũng
đều sinh tâm
cung kính tôn
trọng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân trên
dưới ngay thẳng,
tứ chi các đốt
đều viên mãn
tương xứng, đừng
có bụng mập mạp
khó coi. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân trí
huệ, pháp hỉ
sung mãn, dùng
vị Phật pháp để
thư thới dưỡng
lớn trí huệ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân công
đức vô cùng tận,
tu tập vô lượng
pháp môn, an trụ
ở trong pháp
tính thâm sâu,
vĩnh viễn không
mỏi nhàm, vĩnh
viễn không thối
chuyển.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
Ðà la ni thanh
tịnh tạng, dùng
diệu biện tài,
hiển bày các
pháp. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
thanh tịnh, thân
tâm trong ngoài
đều tịnh. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
trí quán hạnh
thâm sâu của Như
Lai, trí huệ
sung mãn, mưa
đại pháp vũ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân ở
trong vắng lặng,
ở ngoài vì chúng
sinh làm trí
tràng vương,
phóng đại quang
minh, chiếu khắp
tất cả.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí ruột thận
gan phổi. Vì
khiến cho chúng
sinh trong ngoài
thanh tịnh, đều
được an trụ nơi
trí huệ vô ngại.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
thân Ðà la ni
thanh tịnh
tạng-Ðà là ni là
tiếng Phạn, dịch
là tổng trì, tức
là có thể tổng
nghĩa nhậm trì
vô lượng Phật
pháp, khiến cho
không quên mất.
Giữ thiện không
thôi nghỉ, giữ
ác đừng cho sinh
khởi, lấy niệm
định huệ làm
thể, khái quát
là bốn thứ:
Pháp, nghĩa,
Chú, nhẫn, đà la
ni. Hy vọng
chúng sinh được
thân Ðà la ni
thanh tịnh tạng,
dùng bốn vô ngại
biện tài, để
hiển bày ra thật
tướng lý thể
không thể nghĩ
bàn của các
pháp. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
thanh tịnh, thân
tâm chẳng nhơ
bẩn, trong ngoài
sạch sẽ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân trí
quán hạnh thâm
sâu giống như
Phật, tức dùng
Bát Nhã thâm sâu
quán chiếu các
hạnh vô thường,
chứng được vô
lượng diệu trí
huệ, xiển minh
các pháp thật
tướng khắp đối
với chúng sinh,
giống như khắp
mưa cam lồ pháp
vũ, thấm nhuần
pháp giới hữu
tình vô tình.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
bên trong vắng
lặng-tức là bên
trong tâm vắng
lặng, định lực
thâm hậu, chẳng
sinh vọng niệm,
chẳng bị cảnh
giới làm lay
động. Ðối với
bên ngoài làm
trí huệ tràng
vương của chúng
sinh, dùng trí
huệ lãnh đạo tất
cả chúng sinh
thoát khỏi biển
sinh tử, hướng
về Phật đạo.
Phóng đại quang
minh, chiếu khắp
các pháp giới,
phá trừ đen tối.
Ðó tức là hồi
hướng đủ thứ căn
lành công đức
của đại Bồ Tát,
khi Ngài tu pháp
môn bố thí ngũ
tạng lục phủ. Vì
hy vọng chúng
sinh đều đắc
được thân tâm
trong ngoài
thanh tịnh, đều
được an ổn trụ
trong cảnh giới
trí huệ chẳng có
chướng ngại.
Phật tử ! Ðại
Bồ Tát bố thí
những lóng xương
của mình cho
người xin. Như
Bồ Tát Pháp
Tạng. Bồ Tát
Quang Minh
Vương, và vô
lượng các đại Bồ
Tát khác. Khi bố
thí lóng xương
phần thân của
mình, thấy người
đến xin, Ngài
sinh tâm ưa
thích. Tâm hoan
hỉ. Tâm tịnh
tín. Tâm an lạc.
Tâm dũng mãnh.
Tâm từ. Tâm vô
ngại. Tâm thanh
tịnh. Tuỳ chỗ
người xin, đều
bố thí cho họ.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát bố thí lóng
xương trên thân
của mình, cho
người đến xin,
như thuở xưa Bồ
Tát Pháp Tạng,
Bồ Tát Quang
Minh Vương, và
vô lượng các vị
đại Bồ Tát khác.
Khi vị đại Bồ
Tát đó bố thí
lóng xương trên
thân Ngài, nhìn
thấy có người
đến xin, bèn
sinh tâm ưa
thích vô hạn,
cao hứng có thể
viên mãn tâm bố
thí độ. Tâm của
Ngài thanh tịnh,
tin sâu có thể
đạt được mục
đích bố thí của
Ngài. Do đó,
trong tâm đặc
biệt bình an
khoái lạc. Có
tâm dũng mãnh,
chẳng cảm thấy
thống khổ. Khởi
tâm đại từ,
nguyện cho người
xin được lóng
xương đó, giải
trừ bệnh khổ của
họ. Hành bố thí
đó chẳng sinh
tâm chướng ngại,
trong tâm rất
thanh tịnh,
chẳng có tạp
niệm. Tuỳ thuận
người đến cầu
xin, đều hoan hỉ
cho họ, chẳng có
tâm bỏn xẻn
không thể xả
không được.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí lóng xương,
thì đem căn lành
đó hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được hoá
thân, đừng thọ
thân máu thịt
xương nữa.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân kim
cang, không thể
phá hoại được,
không có ai
thắng qua được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được pháp thân
viên mãn nhất
thiết trí, nơi
cõi sinh chẳng
ràng buộc, chẳng
chấp trước.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được trí lực,
các căn viên
mãn, chẳng đoạn,
chẳng hoại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân pháp
lực, trí lực tự
tại, đến nơi bờ
kia. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
kiên cố, thân đó
chân thật,
thường không tán
hoại.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí lóng xương,
Ngài đem đủ thứ
căn lành tu tập,
đối với chúng
sinh hồi hướng
như vầy: Ngài
nói tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được hoá thân
hoa sen, đừng có
thân máu, thịt,
xương, bốn đại
giả hợp này nữa.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đắc được
thân kim cang,
chẳng có vật gì
phá hoại được,
trên thế gian
chẳng có ai
thắng qua thân
kim cang bất
hoại nầy. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được pháp
thân thanh tịnh
viên mãn nhất
thiết trí, sinh
ra trong cảnh
giới tự tại
chẳng có ràng
buộc, chẳng có
chấp trước. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thân
trí lực, sáu căn
viên mãn đầy đủ,
vĩnh viễn chẳng
đoạn, chẳng
hoại, chẳng
thiếu khuyết.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đắc được
thân pháp lực,
thân đó thanh
tịnh quang minh,
trí huệ sung
mãn, tự tại vô
ngại, đến được
Niết Bàn bờ bên
kia. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đắc được
thân kiên cố,
thân đó mạnh
khoẻ, vĩnh viễn
chẳng có bệnh
não, trong ngoài
chân thật, vĩnh
viễn không thể
tán hoại.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
tuỳ ứng, giáo
hoá điều phục
tất cả chúng
sinh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
trí huân, có đầy
đủ sức mạnh Na
la diên. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
kiên cố tương
tục không đoạn
tuyệt, vĩnh viễn
lìa khỏi tất cả
bệnh tật mệt
mỏi. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
đại lực an trụ,
đều đầy đủ sức
đại tinh tấn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được pháp thân
bình đẳng khắp
thế gian, trụ
nơi trí huệ tối
thượng vô lượng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân phước
đức lực, ai thấy
đều được lợi
ích, xa lìa các
điều ác. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
không nơi nương
tựa, đều được
đầy đủ trí huệ
không nương tựa.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân Phật
nhiếp thọ,
thường được tất
cả chư Phật gia
hộ.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
thân tuỳ tiếng
ứng hoá, ngàn
chỗ cầu ngàn chỗ
ứng, vào trong
đủ loài chúng
sinh, tuỳ theo
loài mà ứng
hiện, giáo hoá
điều phục, khiến
cho họ đều được
an trụ nơi Phật
đạo. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thường
thường gần gũi
bậc thiện tri
thức, thọ được
thân trí huệ
huân tập, trở
thành bậc trí,
và còn có sức
mạnh kim cang
đại lực sĩ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thể kiên cố,
tinh thần sung
mãn, có sức mạnh
hơn người, tương
tục không dứt,
vĩnh viễn không
cảm thấy mệt
mỏi, cũng chẳng
bị mệt mỏi quá
độ mà sinh bệnh,
cũng chẳng vì
vậy mà ngừng tất
cả sự hoạt động,
cho nên chẳng có
những hiện tượng
xấu đó. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thể có sức mạnh,
lại có thể an
trụ nơi vắng
lặng, lại hay
dũng mãnh tinh
tấn, chẳng kể
ngày đêm, dụng
công tu hành.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
pháp thân thanh
tịnh tận hư
không khắp pháp
giới, bình đẳng
hộ khắp pháp
giới chúng sinh,
an trụ nơi trí
huệ tối thượng
vô lượng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
phước đức lực.
Người có phước
huệ đức tánh đều
đầy đủ, thì tự
nhiên có sức
nhiếp hoá, khiến
cho người thiện
thấy được, liền
tăng trưởng
thiện niệm của
họ; còn người ác
thấy được, thì
lập tức biết cải
ác hướng thiện,
xa lìa mọi tập
ác ngày xưa. Cổ
ngữ có nói:
"Thân giáo trọng
hơn ngôn giáo".
Lại
nói:
"Cầu kinh sư thì
dễ
Cầu nhân sư thì
khó".
Những
lời lẽ đó đều
biểu thị lực
phước đức của
thân, hay khiến
cho người thấy
được lợi ích xa
lìa các điều ác.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đắc được
pháp thân đầy
khắp hư không,
chẳng cần nơi
nương tựa, đầy
đủ trí huệ không
chấp, không
nương tựa. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thanh tịnh được
chư Phật nhiếp
thọ, thường
thường được Phật
lực của chư Phật
gia bị và hộ
niệm.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
lợi ích khắp các
chúng sinh, thảy
đều vào khắp tất
cả mọi loài.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân hiện
khắp, chiếu hiện
khắp tất cả Phật
pháp. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
đầy đủ tinh tấn,
chuyên nhớ siêng
tu đại thừa trí
hạnh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thân
thanh tịnh lìa
cống cao ngã
mạn, trí thường
an trụ, không
động loạn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân hạnh
kiên cố, thành
tựu tất cả trí
nghiệp đại thừa.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân sinh
vào nhà Phật,
vĩnh viễn lìa
tất cả sinh tử
thế gian.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí lóng xương.
Vì khiến cho
chúng sinh đắc
được nhất thiết
trí, vĩnh viễn
được thanh tịnh.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
lợi ích khắp tất
cả chúng sinh,
bình đẳng vào
trong sáu nẻo để
giáo hoá tất cả
chúng sinh, cứu
độ họ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thị hiện khắp,
có thể chiếu
hiện khắp tất cả
Phật pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
tinh tấn tu học
tất cả pháp môn,
viên mãn đầy đủ
thông đạt vô
ngại, một lòng
một ý chuyên môn
siêng tu Phật
pháp đại thừa,
cầu trí huệ vô
thượng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thanh tịnh lìa
khỏi tập khí
cống cao ngã
mạn, dùng trí
lãnh đạo tất cả
mọi hành vi,
thường an trụ
nơi cảnh giới
trí huệ, chẳng
bị hoàn cảnh lay
động, chẳng bị
tham sân si mê
loạn.
Người
tu học Phật đạo,
quan trọng nhất
là phải diệt trừ
tập khí mao bệnh
chấp ta, ngã
mạn, cống cao.
Hằng ngày chúng
ta tu, tức cũng
là diệt trừ tập
khí. Diệt trừ
được một phần
tập khí mao
bệnh, thì đắc
được một phần
pháp thân thanh
tịnh; nếu chẳng
hạ thủ công phu
về phương diện
nầy, thì thân
thanh tịnh chẳng
dễ gì đắc được;
nếu chẳng đắc
được thân thanh
tịnh, thì trí
huệ không thể
hiện tiền. Ngã
mạn, ngã chấp,
cống cao, những
thứ đó đều là
tập khí nhiễm ô,
cũng là mao bệnh
rất khó dứt trừ,
ai ai cũng đều
cho rằng là tâm
lý, thì đều cảm
thấy ở đâu cũng
cao hơn người
một bậc, việc gì
cũng muốn tranh
đệ nhất, có thái
độ trong con mắt
chẳng xem ai ra
gì. Ðó đều là
mao bệnh xấu
cống cao ngã
mạn, hy vọng mọi
người tuỳ thời
chú ý tu sửa
những mao bệnh
nầy, nhất là
người xuất gia
càng phải đặc
biệt tự chế. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được thân
thể kết thật tín
niệm trác tuyệt,
tu hành biện đạo
vĩnh viễn chẳng
thối chuyển, từ
lúc ban đầu phát
tâm bồ đề cho
đến thành Phật,
chẳng bao giờ
thay đổi tư
tưởng tu hành,
cũng chẳng hiện
ra ý niệm giải
đãi, thành tựu
nghiệp quả nhất
thiết trí huệ,
viên mãn hạnh Bồ
Tát đại thừa.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đắc được
thân sinh vào
nhà Phật, làm
con của đấng
Pháp Vương, vĩnh
viễn lìa khỏi
sinh tử của thế
gian. Ðó là hồi
hướng đủ thứ căn
lành tu tập của
đại Bồ Tát, khi
Ngài bố thí lóng
xương. Vì khiến
cho chúng sinh
đắc được trí
huệ, thân tâm
cũng vĩnh viễn
xa lìa cấu bẩn,
trong ngoài đều
được thanh tịnh.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
thấy có người
tay cầm dao bén
đến cầu xin da
của mình, Ngài
sinh tâm hoan
hỉ, các căn thư
thái, ví như có
ân nặng với
mình, bèn nghinh
tiếp rước, mời
ngồi trên toà,
cuối mình cung
kính, mà nghĩ
như vầy: Người
nầy đến xin,
thật là khó gặp,
họ muốn làm cho
ta mãn tâm
nguyện được nhất
thiết trí, cho
nên đến cầu xin,
lợi ích cho ta.
Bồ Tát hoan hỉ
vui vẻ mà nói
rằng: Thân nầy
của tôi, tất cả
đều xả bỏ, ai
muốn cần da thì
tuỳ ý mà lấy.
Như thuở xưa Bồ
Tát Thanh Tịnh
Tạng, Bồ Tát Kim
Hiếp Lộc Vương,
và vô lượng các
đại Bồ Tát khác,
chẳng có gì khác
biệc.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát nhìn thấy có
người cầm dao
bén đến xin da
của Ngài. Ngài
thấy rồi bèn lập
tức sinh tâm đại
hoan hỉ vui vẻ,
toàn thân sung
mãn sự cao hứng,
giống như có
người ban tặng
ân huệ cho Ngài.
Ngài lập tức
nghinh đón,
thỉnh mời vào
trong nhà và mời
vị đó ngồi trên
toà, hỏi thăm
cung kính đến
cực điểm. Trong
tâm nghĩ rằng:
Vị nầy đến xin
da, thật là bậc
thiện tri thức
của ta, có nhân
duyên lớn với
ta. Khắp thế
gian rất nhiều
người, nhưng chỉ
có mình vị nầy
đến xin da của
ta, đây chẳng
phải là rất khó
gặp chăng ? Họ
đến muốn làm cho
ta được nguyện
vọng đầy đủ nhất
thiết trí ! Cho
nên đến xin da
của ta, đây là
làm lợi ích cho
ta ! Nghĩ như
thế, trong tâm
càng thêm hoan
hỉ, vui vẻ tươi
cười mà nói với
vị đó rằng:
"Thân thể tôi
bây giờ, toàn
thân trong ngoài
đều bố thí, ông
muốn dùng da của
tôi, thì tuỳ ý
ông, muốn chỗ
nào thì cứ lấy
!" Thuở xưa có
vị Bồ Tát Thanh
Tịnh Tạng, Bồ
Tát Kim Hiếp Lộc
Vương, ngoài ra
còn có vô lượng
các đại Bồ Tát
khác, đều đã
từng bố thí da,
giống như Ngài
chẳng có gì khác
biệt.
Bấy
giờ, Bồ Tát đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da mịn
màng, giống như
đức Như Lai, sắc
tướng thanh
tịnh, người thấy
chẳng nhàm.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da bất
hoại, giống như
kim cang, không
có gì hoại được.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da sắc
vàng, giống như
vàng thật tốt
đẹp ở cõi Diêm
Phù Ðề, thanh
tịnh sáng sạch.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da vô lượng
màu sắc, tuỳ tâm
ưa thích của họ,
hiện ra màu sắc
thanh tịnh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da thanh
tịnh sắc đẹp,
đầy đủ sắc tướng
thanh tịnh của
Như Lai. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được da màu
sắc đệ nhất, tự
tánh thanh tịnh,
sắc tướng không
gì so sánh được.
Khi
Bồ Tát quán
tưởng như vậy,
liền đem đủ thứ
công đức của
Ngài tu bố thí,
vì chúng sinh mà
hồi hướng như
vầy: Tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều được
da mịn màng,
giống như màu da
của Phật-sắc
vàng, nhẵn bóng
thanh tịnh, ai
thấy cũng đều
hoan hỉ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da bất
hoại, giống như
kim cang, chẳng
có vật gì có thể
hại được. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da sắc
vàng, giống như
vàng thật tốt
đẹp ở cõi Diêm
Phù Ðề, thanh
tịnh mà còn sáng
sủa. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được da vô
lượng màu sắc,
tuỳ tâm của mỗi
người thấy được
đều hoan hỉ,
muốn màu gì thì
hiện ra màu đó.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được da
thanh tịnh tốt
đẹp nhất, đầy đủ
sự trang nghiêm
của người xuất
gia, cũng có thể
biểu hiện từ bi
thiện căn của đệ
tử Phật, giống
như sắc tướng
thanh tịnh của
Phật-ba mươi hai
tướng, tám mươi
vẻ đẹp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được da màu sắc
tốt đẹp bậc nhất
trên thế gian,
vì tự tánh thanh
tịnh không
nhiễm, phẩm đức
cao siêu, cho
nên màu da tướng
bên ngoài thân
thể, chẳng có
chỗ nào mà không
đoan chánh viên
mãn. Sắc tướng
thanh tịnh,
chẳng có ai có
thể so sánh
được.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thành tựu
màu da thanh
tịnh của Như
Lai, dùng các
tướng tốt tự
trang nghiêm.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được màu da đẹp,
phóng đại quang
minh, chiếu khắp
tất cả. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được da
lưới sáng, như
tràng cao của
thế gian, phóng
ra bất khả
thuyết quang
minh viên mãn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được màu da nhẵn
bóng, tất cả sắc
tướng thảy đều
thanh tịnh. Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài bố
thí da. Vì khiến
cho chúng sinh
đều được tất cả
cõi Phật trang
nghiêm thanh
tịnh, đầy đủ đại
công đức của Như
Lai.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, có thể tu
hành các điều
lành, không làm
các điều ác,
siêng tu Phật
pháp của chư
Phật nói, y giáo
phụng hành,
thành tựu màu da
thanh tịnh giống
như Phật, dùng
tướng tốt viên
mãn mà tu hành
đắc được đầy đủ,
tự trang nghiêm
thân mình. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được màu da tốt
đẹp nhất, phóng
đại quang minh,
có thể chiếu
khắp đến tất cả
hữu tình vô tình
trong mười
phương thế giới.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được da rất
quang minh mà
hiển hiện tấm
lưới, giống như
tràng cao dựng
thẳng của thế
gian, phóng ra
vô lượng quang
minh, chiếu soi
mười phương. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được màu da nhẵn
bóng mềm mại
sáng sủa, ngũ
quan tứ chi,
khắp thân trên
dưới đều hiển
hiện tướng tốt
thanh tịnh. Ðó
tức là hồi hướng
căn lành công
đức tu tập của
đại Bồ Tát. Vì
khiến cho chúng
sinh đều đắc
được cõi Phật
trang nghiêm
thanh tịnh, cũng
hy vọng mỗi
chúng sinh đều
có thể tu tập
đại công đức
giống như Phật.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
dùng ngón tay
ngón chân bố thí
cho những người
xin. Như Bồ Tát
Kiên Tinh Tấn.
Bồ Tát Diêm Phù
Ðề Tự Tại Vương,
và vô lượng các
đại Bồ Tát khác.
Bấy giờ, Bồ Tát
hoan hỉ vui vẻ,
tâm Ngài an
lành, chẳng có
điên đảo. Nương
theo đại thừa,
chẳng cầu báo
đáp, chẳng màng
tiếng tăm, chỉ
phát tâm Bồ Tát
rộng lớn, xa lìa
tất cả sự nhiễm
ô tham sẻn đố
kị, chuyên hướng
về diệu pháp vô
thượng của Như
Lai.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, hiện tại
Ngài lại đem
ngón tay ngón
chân bố thí cho
những người đến
xin. Như thuở
xưa Bồ Tát Kiên
Tinh Tấn, Bồ Tát
Diêm Phù Ðề Tự
Tại Vương, cùng
với vô lượng các
đại Bồ Tát khác,
khi các Ngài
hành Bồ Tát đạo,
đều đã thực hành
đại bố thí nầy,
khó làm mà làm
được. Vị Bồ Tát
nầy bố thí ngón
tay, ngón chân,
trên mặt của
Ngài hiện ra
dáng vẻ từ bi
hoan hỉ, trong
tâm của Ngài rất
an ổn từ bi,
chẳng có chút
điên đảo tạp
loạn nào. Hoàn
toàn ôm hoài bảo
tu theo Phật
pháp đại thừa,
tâm nguyện làm
lợi ích cho
chúng sinh. Ngài
chẳng cầu báo
đáp tốt đẹp,
cũng chẳng hy
vọng có tiếng
tăm là đại thiện
nhân, để cho ai
ai cũng biết đến
cúng dường lễ
bái Ngài. Ngài
chỉ thương xót
dân chúng, đại
bi làm đầu, phát
tâm nguyện bồ đề
rộng lớn. Khi Bồ
Tát ban đầu phát
tâm, thì xả lìa
tâm nhiễm ô tham
sẻn đố kị, và đủ
thứ tập khí mao
bệnh nhơ bẩn.
Ngài chỉ chuyên
tâm một lòng
hướng về diệu
pháp cầu chứng
quả Phật.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát bố thí như
vậy, Ngài đem
các căn lành
thảy đều hồi
hướng: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được ngón
tay chân thon
dài, giống như
Phật không khác.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được ngón tay
chân tròn trịa,
trên dưới xứng
với nhau. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được móng
tay chân đồng
đỏ, nổi cao
thanh tịnh chói
sáng. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được ngón
tay chân của bậc
nhất thiết trí
thắng trượng
phu, đều có thể
nhiếp trì tất cả
các pháp. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được ngón
tay chân tốt
đẹp, đầy đủ mười
lực. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được ngón
tay chân như bậc
đại nhân thon
dài mập mạp đều
đặng.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, khi bố thí
ngón tay ngón
chân như ở trên
đã nói, Ngài đem
căn lành công
đức của Ngài tu
hành, tơ hào
cũng chẳng lưu
lại, đều hồi
hướng cho chúng
sinh. Ngài
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
ngón tay thon
nhỏ mà dài,
giống như ngón
tay của Phật,
chẳng có gì khác
biệt. Tại sao Bồ
Tát hy vọng ngón
tay của chúng
sinh thon dài ?
Một là vì ngón
tay của Phật
thon dài, nên
Ngài cũng muốn
chúng sinh có
ngón tay giống
như ngón tay của
Phật. Hai là
ngón tay dài hơn
bàn tay là tướng
đại quý, mà còn
thông minh hơn
người.
Thời
xưa khi hình
dung tướng đế
vương, thì nhất
định nói hai tay
của họ dài quá
gối, hai tai
thòng xuống gần
vai, mắt phượng
đỏ, đi như rồng,
như hổ, cho nên
Bồ Tát nguyện
chúng sinh có
ngón tay thon.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được ngón
tay mập tròn,
đầu ngón tay
tròn trịa có
thịt, cũng chẳng
lộ gân cốt, no
đầy vừa phải,
không thô, không
tế, trên dưới
bằng đều tương
xứng, khiến cho
người thấy được
sinh tâm hoan
hỉ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được móng
tay màu đồng đỏ,
nhô lên cao, bề
mặt móng tay rất
thanh tịnh lại
có quang minh
chiếu sáng, nói
đơn giản là có
thể dùng làm
gương chiếu soi
người và vật, là
quý tướng thiên
nhiên. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
ngón tay của bậc
nhất thiết trí
huệ thù thắng
đại trượng phu.
Bậc đại trượng
phu thì: «Phú
quý không dâm,
bần tiện không
không thay đổi,
oai võ không
khuất phục",
phải có chí lớn
tiết lượng, mới
có thể được gọi
là đại trượng
phu. Nói về Bồ
Tát đại trượng
phu, thì Ngài
học tập tất cả
các pháp, thông
đạt tất cả các
pháp, mà còn có
thể sinh được
ngón tay tướng
tốt, giống như
Phật có tám mươi
vẻ đẹp, ngón tay
tốt là một trong
tám mươi vẻ đẹp.
Bồ Tát hy vọng
chúng sinh cũng
có vẻ đẹp như
thế, và còn đầy
đủ mười thứ oai
thần lực. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được ngón tay
của bậc đại
nhân. Bậc đại
nhân là chỉ Ðức
Phật đầy đủ
phước huệ, tâm
nguyện của Bồ
Tát là hy vọng
chúng sinh cũng
đắc được ngón
tay giống như
Phật, thon nhỏ
mà dài, mập tròn
no đầy, dài ngắn
đồng đều, ngay
thẳng xứng nhau,
chẳng có hiện
tượng không bằng
nhau.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được ngón
tay có luân
tướng, đốt ngón
tay tròn đầy,
chỉ tay đều xoay
vòng về bên
phải. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được ngón
tay như hoa sen
có chỉ hình chữ
vạn, mười lực
nghiệp báo,
tướng tốt trang
nghiêm. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được ngón
tay quang tạng,
phóng đại quang
minh, chiếu bất
khả thuyết thế
giới của chư
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được ngón
tay thiện an bố,
thiện xảo phân
bố, lưới màng
đầy đủ. Ðó là
hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí ngón tay. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
được tâm thanh
tịnh.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đắc được
ngón tay ngón
chân có luân
tướng, đốt của
mỗi ngón đều rất
viên mãn, chỉ
tay đều xoay
vòng về bên
phải. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều đắc
được ngón tay
như hoa sen, có
chỉ tay cát
tường hình chữ
vạn. Có nghiệp
báo mười thứ oai
thần lực, thành
tựu thứ tướng
tốt đó trang
nghiêm thân. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
quang tạng sáng
lạn, phóng đại
quang minh, như
giữa ban ngày,
có thể chiếu đến
nhiều thế giới
của Phật không
thể nào tính đếm
được. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều đắc
được ngón tay
thiện an bố,
khéo léo phân bố
như lưới, như
màng, mọi việc
đều viên mãn đầy
đủ. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí
ngón tay ngón
chân cho chúng
sinh. Vì khiến
cho chúng sinh
đều đắc được
thân tâm thanh
tịnh.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát thỉnh cầu
pháp, nếu có
người nói: Ông
có thể bố thí
móng liền thịt
cho tôi, thì tôi
sẽ ban bố pháp
cho ông. Bồ Tát
liền đáp: Hãy
ban bố pháp cho
tôi, còn móng
liền thịt thì
tuỳ ý mà lấy.
Như Bồ Tát Cầu
Pháp Tự Tại
Vương. Bồ Tát Vô
Tận, và vô lượng
các đại Bồ Tát
khác. Vì cầu
pháp, muốn đem
chánh pháp khai
thị diễn nói,
lợi ích chúng
sinh. Tất cả đều
khiến cho được
đầy đủ, nên xả
bỏ móng liền
thịt cho những
người xin.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát tu pháp
môn hồi hướng,
tu hồi hướng thứ
sáu-Tuỳ thuận
kiên cố hồi
hướng tất cả căn
lành, thì Ngài
coi trọng về bố
thí Ba La Mật,
còn năm độ kia
chẳng phải không
tu, chỉ bất quả
tuỳ sức tuỳ phần
mà thôi. Trong
quá trình hồi
hướng thứ sáu
nầy, Ngài đã
từng bố thí nội
tài và ngoại
tài-đất nước vợ
con bảy báu đồ
tư sanh, đầu mắt
tuỷ não, thân
thịt, ngũ quan,
tứ chi, ngũ
tạng, lục phủ
.v.v... Hiện tại
Ngài lại làm
công đức bố thí.
Bồ Tát vì pháp
mà xả thân, vĩnh
viễn kiên lập ở
trong tâm mắt
của chư Phật Bồ
Tát và trời
người. Chúng ta
thân làm đệ tử
Phật, đương
nhiên không thể
trong thời gian
ngắn mà đạt được
sự hành trì như
Bồ Tát, nhưng
chúng ta ít nhứt
cũng phải đi
trên con đường
thành Phật đạo,
tiêu diệt bớt
tham sân si, làm
các điều lành,
không làm các
điều ác. Ðối với
tập khí mao
bệnh, phải cố
gắng sửa đổi, Bồ
Tát xả bỏ được
thân thịt của
Ngài, chẳng lẽ
chúng ta một
chút mao bệnh
cũng bố thí xả
bỏ không được
chăng ? Tôi có
một cái túi
miệng lớn,
chuyên thu những
tập khí mao bệnh
xấu, xin các vị
phát tâm đại từ
bi, hãy đem bố
thí hết cho tôi
! Hơn nữa chúng
ta phải phản
tỉnh, thường sám
hối lỗi lầm của
mình. Bồ Tát
nguyện nguyện
đều hy vọng
chúng ta đắc
được thân tâm
thanh tịnh, khai
mở đại trí huệ
sớm thành Phật
đạo, mà chúng ta
chẳng nghe lời
Ngài, chẳng tiếp
thọ lợi ích của
Ngài hồi hướng,
suốt ngày khởi
vọng tưởng, lúc
nào cũng khởi
lòng tham dục, ở
đâu cũng trách
người không
phải, sinh tâm
sân si. Thân tâm
như vậy làm sao
mà được thanh
tịnh ! làm sao
có thể khai đại
ngộ, đắc được
trí huệ ! Tu đến
tám vạn đại kiếp
cũng thoát không
khỏi cửa tự lầm
lẫn, còn nói chi
đến minh tâm
kiến tánh !
Không sửa đổi
tâm ý và hành vi
của mình, thì
làm sao đối với
sự cúng dường
của chư Phật Bồ
Tát, phụ mẫu, sư
trưởng và mười
phương ? Tức
nhiên chúng ta
đã làm đệ tử của
Phật, cắt ái từ
thân, cạo bỏ râu
tóc, thân mặc y
của Như Lai, thì
chúng ta phải
chân tâm thành
ý, y giáo phụng
hành, cước đạp
thật địa, trong
ngoài nhất chí,
xứng đáng làm đệ
tử Phật, Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni
!
Bồ
Tát Kim Cang
Tràng giảng xong
phần Kinh văn ở
trước rồi, Ngài
rất cảm động lại
gọi một tiếng
các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài muốn
cầu nghe Phật
pháp chưa từng
được nghe, lúc
đó nếu như có
người nói với
Ngài rằng: Nếu
Ngài có thể bố
thí ngón tay và
móng tay liền
thịt, thì tôi
nhất định sẽ nói
Phật pháp "liễu
sinh thoát tử"
cho Ngài nghe.
Bồ Tát nghe được
pháp vi diệu như
thế, rất vui
mừng lập tức đáp
rằng: Chỉ cần
ông nói cho tôi
Phật pháp "liễu
sinh thoát tử",
thì móng tay
liền thịt và da
thịt trên thân
của tôi, tuỳ ý
ông có thể lấy
dùng. Giống như
thuở xưa Bồ Tát
Cầu Pháp Tự Tại
Vương, Bồ Tát Vô
Tận và vô lượng
các vị đại Bồ
Tát khác, các
Ngài vì cầu
pháp, muốn đem
chánh pháp giảng
nói cho tất cả
chúng sinh,
hướng dẫn chúng
sinh tu học Phật
pháp, giáo hoá
chúng sinh sinh
chánh tín chánh
niệm, khiến cho
chúng sinh đắc
được lợi ích
chân thật, mà
còn hy vọng chỗ
mong cầu của
chúng sinh đều
được viên mãn,
cho nên Bồ Tát
thà bố thí móng
tay liền thịt
của mình cho
người đến xin.
Lúc
đó, Bồ Tát đem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
tướng móng đồng
đỏ như chư Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
móng nhẵn bóng,
tướng tốt trang
nghiêm. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều đắc
được móng quang
minh thanh tịnh,
chiếu soi bậc
nhất. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều đắc
được móng nhất
thiết trí, đủ
tướng của bậc
đại nhân. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều đắc
được móng không
gì sánh bằng,
nơi các thế
gian, không chỗ
nhiễm trước.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
móng trang
nghiêm đẹp,
quang minh chiếu
khắp tất cả thế
gian. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều đắc
được móng không
hoại, thanh tịnh
không thiếu
khuyết.
Khi
Bồ Tát quyết
định đem móng
liền thịt bố thí
cho chúng sinh,
thì đem căn lành
của Ngài bố thí
tịch tập, đối
với chúng sinh
hồi hướng như
vầy: Ngài nói,
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều đắc
được móng màu
đồng đỏ giống
như chư Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều đắc
được móng quang
minh thanh tịnh,
giống như gương
sáng có thể
chiếu thấy tất
cả sự vật, cũng
có thể chiếu
thấy nghiệp quả
tuần hoàn của
chúng sinh, là
móng bậc nhất
trong thế gian.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều đắc
được móng có thể
sinh ra nhất
thiết trí huệ,
đầy đủ tướng của
bậc đại
nhân-tướng móng
của chư Phật Bồ
Tát. Cổ ngữ
Trung Quốc có
cầu rằng: "Phước
nhuận ốc, đức
nhuận thân".
Nghĩa là nói
những người giàu
có, nhà cửa của
họ chưng bày đồ
đạc tốt đẹp,
hiển bày có tiền
có khí mạch, cầu
biểu hiện trên
vật chất. Người
có đức tính thì
không giống như
thế, tức là họ
cao quý nhã
khiết về khí
chất, toả ra một
thứ khí chất
khiến cho họ
kính ngưỡng. Mặt
mày của họ cùng
với tóc da đều
đặc biệt nhẵn
bóng có một thứ
ánh sáng thanh
tịnh, tay dũi ra
mười ngón tròn
mập, móng tay
quang minh chiếu
sáng, từ móng
ngón tay có thể
nhìn được sự
thông minh trí
huệ của họ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng đều
sinh đắc được
móng tốt đẹp
nhất, chẳng có
ai có thể so
sánh được. Ðối
với năm dục của
thế gian, họ
chẳng nhiễm,
cũng chẳng chấp
trước, nhìn thấu
tất cả buông xả
tất cả. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
móng đặc biệt
tốt đẹp lại rất
trang nghiêm,
trên móng phóng
ra quang minh,
có thể chiếu
khắp ba ngàn đại
thiên thế giới.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều đắc
được móng không
hoại, thanh tịnh
lại không thiếu
khuyết, mỹ mãn
đầy đủ. Ngũ quan
tứ chi của con
người tại sao có
sự đẹp xấu khác
biệt ? Đó đều là
do đời đời kiếp
kiếp tu căn lành
mà thành. Phật
có ba mươi hai
tướng tốt, tám
mươi vẻ đẹp, là
do Ngài đời đời
kiếp kiếp tu
hành lục độ vạn
hạnh mới thành
tựu. Nếu chúng
ta muốn có tướng
tốt đầy đủ, thì
phải theo như lý
mà tu hành, xả
mình vì chúng
sinh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
tướng móng
phương tiện nhập
vào tất cả Phật
pháp, trí huệ
rộng lớn, thảy
đều thanh tịnh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
móng thiện sinh,
nghiệp quả Bồ
Tát thảy đều
thanh tịnh vi
diệu. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều đắc
được móng như
bậc đại Đạo Sư
nhất thiết trí,
phóng vô lượng
tạng quang minh
sắc đẹp.
Ðó
là đại Bồ Tát vì
cầu pháp, khi bố
thí móng liền
thịt, đem căn
lành hồi hướng.
Vì khiến cho
chúng sinh đầy
đủ móng sức lực
vô ngại nhất
thiết trí của
chư Phật.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, có thể vào
sâu các pháp,
thông đạt vô
ngại, lại có thể
vận dụng phương
tiện mà không
nhiễm nơi cảnh
giới, đắc được
trí huệ thanh
tịnh rộng lớn.
Có móng tướng
tốt như thế, thì
đối với sự việc
chẳng nhiễm bụi
trần, đối với
pháp chẳng chấp
chẳng nương tựa.
Lại nguyện cho
tất cả chúng đều
sinh đắc được
móng có thể sinh
ra đủ thứ nghiệp
thiện, diệt trừ
tất cả nghiệp
ác, nghiệp quả
đắc được đồng
với nghiệp thiện
quả báo của Bồ
Tát, thảy đều
thanh tịnh vi
diệu. Lại nguyện
cho tất cả chúng
đều sinh đắc
được trí móng
nhất thiết trí
huệ, có thể làm
đại Đạo Sư của
chúng sinh,
giống như móng
tay của Phật, có
thể phóng ra vô
lượng tạng quang
minh vô lượng
màu sắc vi diệu.
Ở trên là nói về
móng tốt đẹp,
đều tướng tốt và
vẻ đẹp của Phật
có đủ. Ðại Bồ
Tát vì cầu pháp,
bồ thí móng liền
thịt của Ngài,
lại đem căn lành
bố thí hồi hướng
cho chúng sinh,
Ngài cũng hy
vọng chúng sinh
có tướng tốt vẻ
đẹp như vậy, và
còn hy vọng
chúng sinh được
móng đầy đủ nhất
thiết trí huệ,
thành tựu tất cả
trí lực thông
đạt vô ngại
giống như chư
Phật. Ðó là mục
đích bố thí móng
của đại Bồ Tát.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
cầu tạng Phật
pháp, cung kính
tôn trọng, sinh
ý nghĩ khó được.
Nếu có người đến
nói rằng: Ngài
có thể nhảy vào
hầm lửa sâu, thì
tôi sẽ bố thí
pháp cho Ngài.
Bồ Tát nghe rồi
hoan hỉ vui
mừng, suy gẫm
như vầy: Tôi vì
pháp, còn phải ở
lâu trong ngục A
tỳ, tất cả các
đường ác, thọ vô
lượng khổ, hà
huống nhảy vào
hầm lửa sâu,
liền được nghe
pháp. Kỳ thay
chánh pháp, rất
dễ đắc được.
Chẳng thọ vô
lượng thống khổ
địa ngục, chỉ
nhảy vào hầm
lửa, lập tức
liền được nghe.
Hãy vì tôi nói,
tôi sẽ nhảy vào
hầm lửa. Như Bồ
Tát Cầu Thiện
Pháp Vương, Bồ
Tát Kim Cang Tư
Duy. Vì cầu pháp
mà vào trong hầm
lửa.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài vì
muốn cầu đắc
được bảo tạng
Phật pháp thành
Phật, trên đối
với chư Phật,
dưới đến tất cả
chúng sinh, Ngài
đều cung kính
tôn trọng,
thường sinh khởi
ý nghĩa khó
được:
"Pháp vi diệu
thâm sâu vô
thượng,
Trăm ngàn vạn
kiếp khó gặp
được".
Lại nghĩ:
"Thân người khó
được
Phật pháp khó
nghe
Nước Phật khó
sanh
Thiện tri thức
khó gặp".
Lúc đó có người
có thể giảng
Kinh thuyết pháp
được, đến ở
trước Bồ Tát nói
với Ngài rằng:
- "Nếu như Ngài
có thể nhảy vào
hầm lửa sâu, như
có tinh thần
dũng cảm hy sinh
nguyện xả bỏ
mạng sống để cầu
pháp, thì tôi sẽ
vì Ngài giảng
nói diệu pháp
khó gặp được".
Bồ Tát nghe rồi,
hoan hỉ vui
mừng, trong tâm
nghĩ:
- «Ta vì cầu
chánh pháp khó
được, dù vào
trong địa ngục A
tỳ và vào trong
ba đường ác thọ
khổ lâu dài cũng
chẳng tiếc. Hiện
tại chỉ cần ta
nhảy vào hầm lửa
ở nhân gian, mà
có thể được nghe
pháp. Kỳ thay,
quá dễ dàng được
nghe chánh pháp,
không cần phải
thọ vô lượng
thống khổ trong
địa ngục A tỳ,
chỉ cần nhảy vào
hầm lửa thì có
thể được nghe.
Xin ông hãy vì
tôi nói chánh
pháp nhãn tạng !
Tôi nghe rồi
nhất định sẽ
nhảy vào hầm
lửa". Bồ Tát
biểu hiện như
vậy, giống như
thuở xưa Bồ Tát
Cầu Thiện Pháp
Vương, Bồ Tát Tư
Duy, các Ngài
cũng đã từng vì
cầu pháp mà nhảy
vào trong hầm
lửa sâu.
Tư
tưởng của Bồ Tát
ngược lại với tư
tưởng của phàm
phu, Bồ Tát rất
cẩn thận khi
trồng nhân, cho
nên nói Bồ Tát
sợ nhân không sợ
quả, đối với xử
sự tiếp vật,
tuyệt đối chẳng
sai lầm nhân
quả, chẳng làm
việc điên đảo,
không khởi vọng
niệm. Khi quả
đến cũng chẳng
màng gặp bất cứ
cảnh giới gì,
Ngài đều tự
nhiên, khổ vui
đều chẳng động
tâm. Phàm phu
thì không tự
nhiên, trong
bụng cứ tính
toán với người,
chỉ một lòng
nghĩ đến lợi ích
của mình, vốn
chẳng có quan
niệm thọ báo.
Một khi quả báo
đến, thì oán
trời trách
người, còn không
biết sám hối, ở
trong sự đau khổ
phiền não, chẳng
biết tìm lối
thoát. Bồ Tát
thương xót chúng
sinh, nghĩa là
thương xót chúng
sinh vô tri hồ
đồ. Bồ Tát xả
thân cầu pháp,
nhảy vào hầm
lửa, phát thệ
nguyện lớn, cho
nên tu căn lành
công đức hồi
hướng cho chúng
sinh, đủ thứ sự
bố thí khó làm
mà làm được,
Ngài đều vì cứu
chúng sinh.
Chúng ta người
tu học Phật đạo,
nếu có tinh thần
Bồ Tát như thế,
thì chúng ta
cũng là Bồ Tát.
Nếu chẳng có
tinh thần như
thế, thì hãy mau
phát tâm đại bi,
học tập theo Bồ
Tát. Bồ Tát
chẳng sợ gian
khổ, chẳng sợ
gian nan, một
lòng trợ giúp
chúng sinh.
Những
chuyện cầu pháp
xả thân mạng,
trong Kinh điển
cũng có ghi lại
rất nhiều, hiện
tại tôi kể một
câu chuyện: Vua
Phạm Thiên có
một vị thái tử,
tên là Ðàm Ma
Kiềm, từ khi
sinh ra thì
thích tu chánh
pháp, cầu quả vị
Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Cho nên đi cầu
pháp khắp bốn
phương, nhưng
cuối cùng chẳng
đắc được gì cả,
trong tâm rất
buồn rầu.
Lúc đó, trời Ðế
Thích biến thành
Bà La Môn đến
gặp Ðàm Ma Kiềm,
nói:
- "Tôi có chánh
pháp ‘liễu sinh
thoát tử’, nếu
Ngài muốn cầu
pháp nầy, thì
phải có cái giá
lớn tương đương
với nó, vì hồi
đó tôi cầu pháp
nầy, cũng chẳng
dễ gì đắc được".
- Ðàm Ma Kiềm
hỏi: "Ông muốn
tôi cho ông cái
giá gì ?"
- Vị Bà La Môn
nói: "Nếu Ngài
có tinh thần
dũng mãnh không
sợ chết nhảy vào
hầm lửa sâu mười
trượng, có tâm
thành cầu pháp,
có tinh thần hy
sinh, thì tôi
mới nói pháp cho
Ngài nghe".
Ðàm Ma Kiềm nghe
rồi, cho rằng
như thế rất là
dễ, Ngài nghĩ:
"Ta vì cầu chánh
pháp, đều muốn
vào trong ba
đường ác thọ khổ
không ngừng, hà
huống là chỉ
nhảy vào hầm lửa
nhỏ có một chút
thì có xá gì "!
Do đó, thái tử
Ðàm Ma Kiềm bẩm
với phụ vương,
song, ông vua
không nhẫn tâm
xả bỏ thái tử,
bèn thỉnh mời
các vua nước nhỏ
lân cận đến
khuyên can. Thái
tử Ðàm Ma Kiềm
đối với phụ
vương và các
quốc vương nói:
"Thân thể của
tôi đây sớm muộn
gì cũng phải
chết, tôi có thể
vì nghe chánh
pháp mà chết,
còn hơn không
nghe pháp mà
sống", có nghĩa
là "sớm nghe
đạo, tối chết là
đáng vậy".
Các vị quốc
vương khuyên
giải, thấy thái
tử quyết tâm vì
pháp xả thân khó
có thể vãn hồi,
chỉ lấy mắt nhìn
Ngài nhảy vào
hầm lửa. Do đó,
Bà La Môn liền
nói pháp cho
thái tử Ðàm Ma
Kiềm nghe.
Bà
La Môn nói:
"Thường hành nơi
tâm từ
Trừ khử tưởng
sân hại
Ðại bi thương
chúng sinh
Tu hành tâm đại
hỉ.
Ðồng chỗ mình
đắc pháp
Cứu hộ làm đạo
nghĩa
Mới đúng Bồ Tát
hạnh".
Thái
tử Ðàm Ma Kiềm
nghe bài kệ đó
rồi, rất hoan hỉ
bèn nhảy vào
trong hầm lửa.
Lúc đó, Bà La
Môn với Phạm
Thiên Vương đồng
thời lôi kéo tay
thái tử Ðàm Ma
Kiềm, nói:
- "Hết thảy
chúng sinh, đều
đợi Ngài đi cứu
họ, sao Ngài lại
có thể nhảy vào
hầm lửa ?"
- Thái tử nói:
"Ðời người trăm
năm cuối cùng
cũng sẽ chết,
nay tôi đã nghe
được chánh pháp
mà chết, đã mãn
tâm nguyện của
tôi, còn hơn là
không nghe pháp
mà sống. Ý của
tôi đã quyết,
không thể nào
thay đổi được".
Nói xong, Bà La
Môn và Phạm
Thiên Vương thấy
Ngài kiên quyết
như thế, cũng
không ngăn cản
nữa, chỉ thấy
thái tử cười vọt
thân mà nhảy vào
hầm lửa. Nói thì
cũng lạ thật,
mọi người đều
thấy hầm lửa
chảy hừng hực,
khi thái tử nhảy
vào thì đột
nhiên biến thành
hồ sen. Nước
trong lăn tăn,
hoa sen to như
bánh xe xoè nở
nghinh tiếp,
thái tử ngồi
thẳng trang
nghiêm trên hoa
sen. Nguyên lai
là do lòng chí
thành cầu pháp
của thái tử, mà
cảm động đến
thiên long bát
bộ đều đến ủng
hộ. Vị Bà La Môn
cũng vọt thân
lên hư không,
hướng về thái tử
cuối đầu nói:
- "Lành thay !
Lành thay ! Ngài
thật là một vị
đại Bồ Tát cầu
pháp quên mình".
Lúc đó, trời mưa
hoa báu rực rỡ
rơi xuống, thái
tử Ðàm Ma Kiềm,
phụ vương và các
vị quốc vương,
thảy đều hoan hỉ
khen ngợi. Thái
tử lúc đó chính
là tiền thân của
Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni, phụ
vương tức là vua
Tịnh Phạn. Người
tu hành chỉ cần
chân thành cầu
pháp, thì tự
nhiên sẽ có cảm
ứng. Nếu như bạn
vì cảm ứng mà
cầu pháp, nghĩ
muốn được thần
thông mà cầu
pháp, đó là tồn
tại tâm vọng
niệm, e rằng bạn
sẽ chẳng đắc
được gì cả.
Bấy
giờ, Bồ Tát đem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trụ nơi pháp
nhất thiết trí
chỗ của Phật
trụ, vĩnh viễn
chẳng thối
chuyển vô thượng
bồ đề. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh lìa các
hiểm nạn, thọ sự
an lạc của Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tâm không
sợ hãi, lìa
những khiếp sợ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường ưa thích
cầu pháp, đầy đủ
an vui, các pháp
trang nghiêm.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
lìa các đường
ác, diệt trừ tất
cả ba độc lửa
cháy mạnh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được an lạc, đầy
đủ việc thắng
diệu lạc của Như
Lai.
Sau
khi Bồ Tát vì
cầu pháp mà xả
thân mạng rồi,
lập tức đem căn
lành của Ngài tu
tập, vì chúng
sinh mà hồi
hướng như vầy:
Ngài nguyện cho
tất cả chúng
sinh được trụ
nơi quả vị của
Phật trụ-cõi
Thường Tịch
Quang, pháp thân
huệ mạng sung
mãn hư không,
vĩnh viễn chẳng
thối chuyển vô
thượng bồ đề,
cũng không thể
thối chuyển vào
hàng nhị thừa
hoặc địa vị của
phàm phu. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều biết lìa
khỏi tất cả tai
nạn nguy hiểm,
thường làm mười
điều lành, đời
đời kiếp kiếp có
thể xa lìa ba
đường ác, sinh
trong trời người
hưởng thọ phước
báo an lạc của
Phật pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đắc được tâm
không sợ hãi,
lìa khỏi tất cả
mọi việc khiếp
sợ. Nếu chúng ta
muốn xa lìa các
sự sợ hãi, thì
chỉ có đừng
tham, đừng truy
cầu, không
tranh, không
sân, đối với mọi
người và sự việc
có tâm từ bi,
nhẫn nhịn nhường
làm đầu, hỉ xả
giúp người. Làm
người tâm bình
khí hoà như vậy,
đến đâu cũng lợi
ích cho mọi
người, cũng
chẳng có kẻ oán,
như vậy thì còn
khiến cho bạn
sinh tâm khiếp
sợ nữa chăng !
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh biết thường
sinh tâm ưa
thích cầu pháp,
minh bạch tất cả
sự vui thế gian
đều là hư huyễn,
chỉ có dùng pháp
tự làm vui,
khiến cho pháp
hỉ sung mãn
trong tâm, đầy
đủ tư tưởng an
vui với các
pháp, đắc được
lợi ích của các
pháp, trang
nghiêm Phật tính
của chính mình.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh có thể lìa
khỏi các đường
ác-bốn đường ác:
Địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh, A
tu la. Muốn vĩnh
viễn lìa bốn
đường ác nầy,
thì đừng làm các
điều ác, cho đến
một chút ý niệm
ác cũng không
sinh. Nếu như
bạn có một tâm
niệm sân, tức là
hướng về đường A
tu la. Cổ đức có
nói:
"Một niệm sân
khởi lên
Tám vạn cửa
chướng ngại đều
đến".
Lại nói:
"Ngàn ngày nhặt
củi,
Một chút lửa sẽ
thiêu sạch".
Sân tức là lửa
vô minh, tuy nói
chỉ là một chút
lửa nhỏ, nhưng
nó có thể thiêu
hết sạch rừng
công đức ngàn
dặm. Chúng ta
người tu hành,
phải cẩn thận
đừng sân hận,
nhất định phải
biết tuỳ thời
diệt trừ tâm
tham sân si. Nếu
có một niệm sinh
khởi, thì sẽ có
quan hệ với các
đường ác. Ba độc
lửa cháy mạnh
bao quát: Tâm
tham, sân, si,
mạn, nghi, và
tập khí, hành
vi, mao bệnh,
các hình thức
biểu hiện. Lửa
cháy mạnh tức là
lửa hừng hực
cháy, thiêu đốt
tư tưởng của con
người trở thành
hồ đồ, thiêu đốt
hành vi thành
điên đảo, chính
mình phiền não
thống khổ không
yên, càng ảnh
hưởng đến những
người chung
quanh thọ khổ.
Bồ Tát thấu hiểu
được mao bệnh
của chúng sinh,
cho nên Ngài hy
vọng chúng sinh
diệt trừ tất cả
ba độc lửa cháy
mạnh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh luôn luôn
được sống trong
hoàn cảnh bình
an khoái lạc,
đầy đủ hết thảy
việc vui thù
thắng vi diệu
của Phật. Việc
vui của Phật là
gì ? Tâm của
Phật bao trùm hư
không, lượng
khắp pháp giới,
chẳng tham năm
dục, chẳng lưu
luyến vui thế
gian. Thiền
duyệt vi thực
pháp hỉ sung
mãn. Thương xót
chúng sinh cứu
khổ ban vui,
thành tựu vô
lượng vô biên
công đức thanh
tịnh, trang
nghiêm cõi Cực
Lạc rộng lớn,
Ngài và các Bồ
Tát chẳng có các
khổ, chỉ thọ các
sự vui.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tâm Bồ
Tát, vĩnh viễn
lìa tất cả lửa
tham sân si.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được niềm vui
các tam muội của
Bồ Tát, thấy
khắp chư Phật,
tâm đại hoan hỉ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được khéo nói
chánh pháp, nơi
pháp rốt ráo,
thường chẳng
quên mất. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đầy đủ niềm
vui thần thông
của Bồ Tát, rốt
ráo an trụ nhất
thiết chủng trí.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài vì
cầu chánh pháp
mà nhảy vào hầm
lửa. Vì khiến
cho chúng sinh
lìa nghiệp
chướng ngại, đều
được đầy đủ lửa
trí huệ.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được tâm từ bi
giống như Bồ
Tát. Tâm của Bồ
Tát là xem người
thân sơ đều bình
đẳng, chẳng nhớ
lỗi xưa, cũng
chẳng ghét kẻ
ác, chẳng hỏi
chúng sinh đối
với Ngài như thế
nào, niệm niệm
Ngài đều không
quên chúng sinh,
nguyện nguyện
chẳng quên chúng
sinh, tất cả
công đức căn
lành đều hồi
hướng cho chúng
sinh, hy vọng
chúng sinh mọi
việc đều viên
mãn đầy đủ, luôn
luôn sống trong
sự an lạc. Do đó
Ngài nguyện cho
chúng sinh vĩnh
viễn lìa tất cả
lửa ba độc,
chẳng thọ sự độc
hại của tham sân
si. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được niềm vui
chánh thọ chánh
định của Bồ Tát
tu. Ở trong
thiền định
thường thường
thấy được chư
Phật, trong tâm
tự nhiên sinh
khởi tâm đại
hoan hỉ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều khéo diễn
nói chánh pháp,
đối với vô lượng
pháp môn của
Phật nói, đều
thông đạt triệt
để, thấu hiểu
chân chánh, mà
chẳng quên mất.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, cũng hoàn
toàn đắc được
thần thông diệu
dụng và tự tại
an lạc giống như
Bồ Tát, có trí
huệ thông đạt
được đủ thứ pháp
tánh pháp tướng,
thì an trụ ở
trong nhất thiết
chủng trí. Ðó là
hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, vì cầu
chánh pháp mà xả
thân nhảy vào
hầm lửa. Vì
khiến cho chúng
sinh vĩnh viễn
xa lìa nghiệp
nhiễm ô chướng
ngại, mà đắc
được lửa trí huệ
viên mãn thanh
tịnh.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
vì cầu chánh
pháp, phân biệt
diễn nói, khai
mở Bồ Tát đạo,
chỉ bày con
đường bồ đề,
hướng về trí huệ
vô thượng. Siêng
tu mười lực, tâm
nhất thiết trí
rộng lớn, được
trí pháp không
chướng ngại,
khiến cho chúng
sinh thanh tịnh,
trụ nơi cảnh
giới của Bồ Tát.
Siêng tu đại trí
huệ, khi hộ Phật
bồ đề, thì dùng
thân thọ đủ vô
lượng khổ não.
Như Bồ Tát Cầu
Thiện Pháp. Bồ
Tát Dũng Mãnh
Vương, và vô
lượng các đại Bồ
Tát khác. Vì cầu
pháp mà thọ vô
lượng khổ, cho
đến nhiếp lấy sự
phỉ báng chánh
pháp, ác nghiệp
che đậy, ma
nghiệp chi trì,
người cực đại
ác, họ đáng thọ
tất cả khổ não,
nhưng Bồ Tát vì
cầu pháp, Ngài
đều thọ lấy.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài vì cầu
đắc được chánh
pháp nhãn tạng,
cho đến tất cả
mọi nơi vì chúng
sinh diễn nói
chánh pháp, phân
môn biệt loại
thảy đều xiển
minh, khiến cho
chúng sinh đạt
được đạo lý chân
thật, thật tướng
của các pháp, mở
bày tu hạnh Bồ
Tát như thế nào,
hành Bồ Tát đạo
như thế nào? Vì
chúng sinh lập
ra đường lối tu
hành, chỉ bày
cho chúng sinh
hướng về con
đường giác ngộ.
Phát nguyện cầu
trí huệ vô
thượng, tinh tấn
siêng tu mười
lực của Phật,
khiến cho tâm
rộng lớn, tâm
khai mở trí huệ,
biết tất cả các
pháp một tướng,
thấu rõ các pháp
không tướng, đắc
được trí huệ
pháp môn vô
ngại, không, vô
tướng, vô
nguyện. Khiến
cho tất cả chúng
sinh đều trở về
nguồn cội, khôi
phục thanh tịnh,
trụ nơi cảnh
giới của Bồ Tát.
Bồ Tát dũng mãnh
tinh tấn tu học
như vậy, cuối
cùng đắc được
trí huệ thù
thắng. Bồ Tát vì
bảo hộ chánh
pháp và bồ đề
giác đạo của chư
Phật, trải qua
hết sự gian nan,
thân tiếp thọ vô
lượng thống khổ.
Giống như thuở
xưa Bồ Tát Cầu
Thiện Pháp, Bồ
Tát Dũng Mãnh
Vương, cùng với
vô lượng đại Bồ
Tát, các Ngài
cũng vì cầu được
chánh pháp, mà
thọ hết đủ thứ
vô lượng gian
khổ hiểm nạn,
còn phải nhiếp
lấy những lời
phỉ báng chánh
pháp, chẳng tin
chánh pháp của
những kẻ tà giáo
tạo nghiệp ác,
đáng thọ tội
nghiệp địa ngục
vô gián, những
kẻ ác đó, họ
đáng thọ tội
khổ, Bồ Tát đều
nguyện thay thế
họ thọ khổ. Bồ
Tát thương xót
những kẻ ác đó
vô tri, bị ác
nghiệp che đậy,
thọ ma nghiệp
chi trì, tạo ra
đại ác, trở
thành kẻ ác lớn
nhất, họ đáng
tiếp thọ đủ thứ
khổ độc nhiệt
não, nhưng Bồ
Tát vì cầu lấy
chánh pháp, nên
Ngài hoàn toàn
thân tự tiếp thọ
hết tất cả khổ
não đó.
Ðem
những căn lành
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh vĩnh viễn
lìa khỏi tất cả
khổ não bức
bách, thành tựu
thần thông tự
tại an lạc.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
vĩnh viễn lìa
khỏi các khổ,
được tất cả niềm
vui. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh vĩnh viễn
diệt trừ khổ
uẩn, được thân
chiếu hiện, luôn
thọ an lạc.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
vượt khỏi ngục
khổ, thành tựu
trí hạnh. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thấy đạo an
ổn, lìa khỏi các
đường ác. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được niềm
vui hoan hỉ của
pháp, vĩnh viễn
dứt các khổ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
vĩnh viễn nhổ
sạch các khổ, từ
bi thương nhau,
chẳng có tâm tổn
hại.
Bồ
Tát tự nguyện
thay thế chúng
sinh thọ khổ, và
đem căn lành
tích tập vì
chúng sinh mà
hồi hướng như
vầy: Ngài nói,
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh, vĩnh viễn
lìa khỏi các sự
thống khổ phiền
não, và tất cả
khổ ách bức
bách, thành tựu
bình an khoái
lạc, đắc được
thần thông diệu
dụng tự do tự
tại. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, vĩnh viễn
lìa khỏi các sự
thống khổ, đắc
được tất cả
khoái lạc. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vĩnh viễn tiêu
diệt khổ uẩn-khổ
kết, tiêu diệt
hết khổ kết thì
sẽ đắc được
quang minh chiếu
khắp, hiện thân
biến hoá, vĩnh
viễn thọ được an
lạc. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, vượt thoát
khỏi thống khổ
địa ngục, thành
tựu hạnh môn trí
huệ-tu học Phật
pháp, phát thệ
nguyện lớn, phổ
độ chúng sinh,
cầu đạo vô
thượng bồ đề, đó
tức là hạnh trí
huệ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thường
hành Phật đạo
bình an, xa lìa
tất cả đường ác.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, vĩnh viễn
nhổ sạch tất cả
gốc khổ, trợ
giúp thương
nhau, có lòng từ
bi, đừng có tâm
tổn hại người.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được niềm
vui của chư
Phật, lìa khổ
sinh tử. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thành tựu
an lạc thanh
tịnh không gì
bằng, tất cả khổ
não không thể
tổn hại. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tất cả
vui thù thắng,
rốt ráo đầy đủ
niềm vui vô ngại
của Phật.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài thọ
các khổ, để cầu
pháp. Vì muốn
cứu hộ tất cả
chúng sinh khiến
cho họ lìa hiểm
nạn, trụ nơi
giải thoát nhất
thiết trí không
có sự chướng
ngại.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
niềm vui vắng
lặng giống như
chư Phật, thoát
khỏi biển khổ
sinh tử. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu an lạc
thanh tịnh tự
tại vô thượng,
bất cứ khổ não
nào cũng không
thể tổn hại được
họ, giao động
họ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
các sự khoái lạc
thù thắng nhất,
phàm là hết thảy
niềm vui tự tại
không có sự
chướng ngại của
chư Phật, hy
vọng chúng sinh
đều hoàn toàn
đắc được, viên
mãn đầy đủ.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát khi Ngài thọ
các thứ khổ nạn,
để cầu được
chánh pháp. Mục
đích của Ngài là
muốn cứu hộ tất
cả chúng sinh,
khiến cho họ đều
lìa khỏi ba
đường ác, an trụ
nơi cảnh giới
nhất thiết
trí-hoàn toàn
thanh tịnh,
chẳng có ác
nghiệp chướng
ngại, giải thoát
tự tại, cho nên
Bồ Tát thà thọ
tất cả sự khổ.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát ở ngôi vua
cầu chánh pháp,
thì cho đến chỉ
vì một hàng, một
chữ, một câu,
một nghĩa, đều
sinh ý nghĩ khó
được. Ðều có thể
xả hết tất cả
trong nước: Cõi
nước thành ấp,
hoặc gần hoặc
xa, nhân dân kho
tàng, vườn hồ
nhà cửa, cây
rừng hoa quả,
cho đến tất cả
vật trân quý đẹp
lạ, cung điện
lầu các, vợ con
quyến thuộc, và
ngôi vua đều xả
bỏ được hết.
Ở
trong pháp không
kiên cố, cầu
pháp kiên cố. Vì
muốn lợi ích tất
cả chúng sinh,
siêng cầu giải
thoát vô ngại
của chư Phật,
rốt ráo thanh
tịnh đạo nhất
thiết trí. Như
Bồ Tát Ðại Thế
Ðức, Bồ Tát
Thắng Ðức Vương,
và vô lượng các
đại Bồ Tát khác.
Siêng cầu chánh
pháp, cho đến
rất ít, dù chỉ
một chữ. Năm thể
sát đất, chánh
niệm tất cả Phật
pháp ba đời. Ưa
thích tu tập,
vĩnh viễn không
tham trước danh
văn lợi dưỡng,
xả bỏ ngôi vua
tự tại của thế
gian, cầu ngôi
Pháp Vương tự
tại của Phật.
Niềm vui thế
gian, tâm chẳng
chấp trước, dùng
pháp xuất thế,
dưỡng lớn tâm
mình. Vĩnh viễn
lìa khỏi tất cả
hí luận thế
gian, trụ nơi
pháp không hí
luận của chư
Phật.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, khi ở ngôi
vua tôn quý nhất
thế gian, song,
Ngài không coi
trọng phú quý
trước mắt, mà
một lòng tìm cầu
chánh pháp, cho
đến dù chỉ đắc
được một câu
Kinh kệ, một câu
Phật pháp, một
câu chánh ngôn,
thậm chí một
chữ, Ngài đều
coi là trân bảo
quý giá, sinh
tâm hoan hỉ,
sinh tư tưởng
khó gặp, khó
được. Bồ Tát
cũng có thể xả
bỏ được hết tất
cả tài vật trong
nước như: Cõi
nước gần, hoặc
xa, thành thị
thôn ấp, nhân
dân, kho tàng
châu báu, vườn
tược, ao hồ, nhà
cửa, phòng ốc,
rừng cây, hoa
quả, nông thôn,
đồng ruộng, cho
đến các thứ bảo
bối trân quý đẹp
lạ, và cung điện
của Ngài ở, lầu
các, bảy báu
.v.v...khó xả
nhất là vợ con,
cho đến quyến
thuộc nô bộc,
tôn quý nhất là
ngôi vua
.v.v...Bồ Tát vì
cầu lấy chánh
pháp, nên Ngài
xả bỏ được hết,
bố thí cho người
khác, hoặc đầu
mắt tuỷ thịt tứ
chi lục phủ,
Ngài vì cầu
chánh pháp, đều
không lưu luyến
xẻn tiếc.
Mục
đích của Bồ Tát
là ở trong pháp
hữu vi không rốt
ráo, cầu được
pháp vô vi rốt
ráo chân thật,
vĩnh viễn tồn
tại, kiếp lửa
cũng không thể
thiêu huỷ được.
Ðồng thời Ngài
cũng muốn đem
chánh pháp chân
thật nầy, lợi
ích cho hết thảy
chúng sinh. Do
đó, Ngài siêng
cầu chánh pháp
của chư Phật,
chẳng có mọi sự
chướng ngại,
chân chánh đắc
được đạo trí huệ
giải thoát, viên
dung thanh tịnh,
thông đạt tất cả
lý tánh sự tướng
mười pháp giới.
Bồ Tát làm như
thế, như thuở
xưa Bồ Tát Ðại
Thế Ðức, Bồ Tát
Thắng Ðức Vương,
và vô lượng các
đại Bồ Tát khác,
các Ngài đều vì
cầu chánh pháp,
cho đến rất ít
dù chỉ một chữ,
các Ngài cũng
đều thà xả bỏ
đầu mắt tuỷ não
bên trong, bên
ngoài xả bỏ đất
nước vợ con. Nếu
Bồ Tát thấy có
vị thiện tri
thức có thể vì
Ngài nói chánh
pháp, thì Ngài
nhất định cung
kính lễ bái, năm
thế sát đất-đầu,
hai tay, hai
chân, trong tâm
chánh niệm chánh
pháp của ba đời
chư Phật nói,
pháp hỉ sung
mãn, một lòng
chuyên chú, ưa
thích tu tập.
Ngài siêng năng
tu tập như thế,
tuyệt đối chẳng
nguỵ trang biểu
hiện, cầu lấy
tiếng tăm lợi
ích phong phú
của người thế
gian. Bồ Tát
chẳng tham đồ hư
danh và lợi
dưỡng của thế
tục, Ngài xả bỏ
hết ngôi vua,
giàu có nhất,
tôn quý nhất thế
gian, sao lại từ
bỏ những danh
văn lợi dưỡng
của thế tục ?
Ngài vì cầu ngôi
Pháp Vương tự
tại của Phật,
mới làm như thế.
Ðối với tất cả
dục lạc thế
gian, Ngài đã
chẳng còn chút
dục niệm nào.
Ngài đem chỗ cầu
đắc được, thế
pháp tu chứng
được, dưỡng lớn
thân Ngài, thấm
nhuần tâm bồ đề
giác đạo của
Ngài. Vĩnh viễn
lìa khỏi tất cả
lời lẽ hành vi
hư vọng của thế
gian, an trụ nơi
cảnh giới chánh
pháp không có hí
luận, chân thật
thanh tịnh vô vi
của chư Phật.
Bấy
giờ, Bồ Tát đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường ưa thích
huệ thí, tất cả
đều xả bỏ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh xả
bỏ được hết
thảy, trong tâm
chẳng hối tiếc.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường cầu chánh
pháp, không tiếc
thân mạng, đồ tư
sanh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều được
lợi ích của
pháp, dứt được
nghi hoặc của
tất cả chúng
sinh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được lòng
muốn pháp lành,
tâm thường vui
thích chánh pháp
của chư Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh vì
cầu Phật pháp,
xả bỏ được thân
mạng cùng với
ngôi vua, tâm
lớn tu tập vô
thượng bồ đề.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
tôn trọng chánh
pháp, thường ưa
thích thâm sâu,
chẳng tiếc thân
mạng. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh hộ trì pháp
rất khó đắc được
của chư Phật,
thường siêng tu
tập. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều được bồ
đề quang minh
của chư Phật,
thành tựu hạnh
bồ đề, chẳng do
người khác mà
ngộ. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thường quán
sát được tất cả
Phật pháp, nhổ
trừ mũi tên nghi
hoặc, tâm được
an ổn.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài xả
bỏ quốc thành để
cầu chánh pháp.
Vì muốn khiến
cho chúng sinh
thấy biết viên
mãn, thường được
trụ nơi đạo an
ổn.
Vị
đại Bồ Tát đó
cầu chánh pháp,
Ngài phát tâm
đại bồ đề, học
tinh thần ít có
của các đại Bồ
Tát thuở quá khứ
vì pháp quên
mình, xả bỏ nội
ngoại tài, do đó
Ngài đem căn
lành tu tập hồi
hướng cho chúng
sinh như vầy:
Ngài nói, tôi
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường hoan hỉ
làm công đức bố
thí, đem tất cả
khả năng của
mình để bố thí.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh có thể huệ
thí hết thảy nội
ngoại tài, trong
tâm tuyệt đối
chẳng hối tiếc.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh biết phải
thường cầu chánh
pháp, vì cầu
chánh pháp mà
không tiếc thân
mạng, và có thể
thí xả tất cả
vật chất duy trì
mạng sống. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được lợi
ích của chánh
pháp, giải trừ
hết lòng nghi
hoặc của chúng
sinh đối với
Phật pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
tâm cầu pháp
lành, luôn luôn
hoan hỉ nghe
chánh pháp của
chư Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
thể vì cầu chánh
pháp mà xả bỏ
được thân mạng
và ngôi vua cao
quý, phát tâm
nguyện lớn tu
tập vô thượng bồ
đề giác đạo, như
các đại Bồ Tát
thuở xưa. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
biết sự tôn
trọng chánh
pháp, thường vào
sâu được chánh
pháp, hoan hỉ ưa
thích chánh
pháp, chẳng tiếc
sinh mạng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường hộ trì
chánh pháp,
hoằng dương
chánh pháp,
thường siêng tu
tập pháp vi diệu
rất khó gặp của
chư Phật nói.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều có thể
đắc được quang
minh bồ đề giác
đạo của chư
Phật, thành tựu
quả đức bồ đề
giác đạo, chẳng
nhờ người khác
mà minh bạch, tự
mình tự tu tự
ngộ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đối với tất
cả Phật pháp
thường quán hành
tương ưng, thấu
đạt thật tướng
các pháp, nhổ
trừ hết thảy mũi
tên hoài nghi
trong tâm, từ đó
tin mà không
nghi, an ổn tự
tại. Ðó là đại
Bồ Tát hồi hướng
căn lành tu tập
cho chúng sinh,
khi Ngài cầu
chánh pháp, xả
bỏ thân mạng
quốc thành vợ
con. Vì hy vọng
chúng sinh ở chỗ
thấy hiểu, tức
cũng là phương
diện tin hiểu,
đều được viên
mãn thông đạt,
sinh khởi chánh
tri chánh kiến,
an ổn hoan hỉ tu
hành Phật đạo.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
làm ông vua lớn,
nơi pháp tự tại,
khắp ban hành
sắc lệnh, khiến
dứt trừ nghiệp
giết hại. Trong
cõi Diêm Phù Ðề,
thành ấp tụ lạc,
tất cả sự giết
hại thảy đều cấm
dứt trừ. Loài
không chân, hai
chân, bốn chân,
nhiều chân, đủ
thứ loài. Bố thí
khắp không sợ
hãi, không có
tâm lường gạt.
Rộng tu tất cả
hạnh của Bồ Tát,
nhân từ thương
xót loài vật,
không làm hại
phiền não đến kẻ
khác. Phát tâm
diệu bảo, an ổn
chúng sinh. Ở
chỗ chư Phật lập
chí ưa thích trí
huệ thâm sâu,
thường tự an trụ
nơi ba thứ giới
thanh tịnh, cũng
khiến cho chúng
sinh an trụ như
thế. Ðại Bồ Tát
khiến các chúng
sinh trụ nơi năm
giới, vĩnh viễn
dứt trừ nghiệp
giết hại.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài thị
hiện làm ông vua
một nước
lớn-Chuyển Luân
Thánh Vương,
Ngài đều căn cứ
theo đạo lý Phật
pháp trị quốc
dạy dân. Ngài
dùng phương pháp
phương tiện khéo
léo, nơi pháp
nhậm vận tự tại,
khắp giáo hoá
thần dân phát
tâm đại từ bi,
thí hành nhân
chính, sắc lệnh
toàn quốc trừ bỏ
nghiệp giết hại.
Trong cõi Diêm
Phù Ðề thành ấp
tụ lạc nông
thôn, tất cả
việc giết hại,
thảy đều cấm chỉ
hết, dứt tuyệt
sự giết hại.
Chẳng những
không thương hại
đối với con
người, mà cho
đến hết thảy
động vật cũng
không được giết
hại, như loài bò
sát không chân,
con người và phi
cầm hai chân,
loài súc sinh
bốn chân, loài
trùng nhiều
chân, phàm là
động vật có mạng
sống, thảy đều
thí cho họ chẳng
có tâm kinh hãi
sợ sệt, được sự
bảo hộ an toàn,
chẳng có sự nguy
hiểm bị giết
hại. Giáo hoá
nhân dân thương
yêu lẫn nhau,
không có tâm
lường gạt chiếm
đoạt, rộng tu
tất cả hạnh mà
các Bồ Tát tu.
Dùng tâm nhân từ
ái hộ tất cả
chúng sinh hữu
tình, không xâm
phạm đến họ,
cũng không làm
cho họ sinh khổ
não. Phát tâm từ
bi chân thật,
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
được sống an ổn
không sầu lo.
Tại đạo tràng
của Phật, luôn
nghe chánh pháp,
y giáo phụng
hành, lập chí
nguyện lớn, ưa
thích làm tất cả
Phật sự. Thường
thường an trụ ở
trong ba loại
giới thanh tịnh:
1. Giới nhiếp
pháp lành.
2. Giới nhiếp
luật nghi.
3. Giới lợi ích
tất cả chúng
sinh.
Cũng chỉ dạy
chúng sinh làm
mười điều lành,
tâm chẳng thối
lùi, chẳng thọ
sự dụ dỗ của
ngoại đạo, an ổn
tự tại, sinh
hoạt nơi cảnh
giới thanh tịnh.
Ông vua đại Bồ
Tát nầy, cũng
khiến cho nhân
dân toàn quốc
đều thọ năm
giới-không giết
hại, không trộm
cắp, không tà
dâm, không nói
dối, không uống
rượu, mỗi người
đều tin sâu Phật
pháp, an phận
giữ mình, xã hội
an ninh, vĩnh
viễn dứt trừ
nghiệp giết, hơn
nữa cũng chẳng
có việc đao binh
hung ác phát
sinh, đó gọi là
nhân gian tịnh
độ, tức là hoà
vui thái bình
như thế.
Bồ
Tát đem căn lành
đó hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh phát tâm bồ
đề, đầy đủ trí
huệ, vĩnh viễn
bảo vệ thọ mạng,
chẳng có cùng
tận. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh trụ vô
lượng kiếp, cúng
dường tất cả chư
Phật, cung kính
siêng tu, càng
tăng thêm thọ
mạng. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đầy đủ tu
hành, lìa pháp
già chết, tất cả
tai hại không
tổn hại đến mạng
của họ. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đầy đủ
thành tựu thân
không bệnh não,
thọ mạng tự tại,
tuỳ ý mà trụ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được mạng sống
vô tận, hết thuở
vị lai, trụ hạnh
Bồ Tát, giáo hoá
điều phục tất cả
chúng sinh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
làm cửa thọ
mạng, mười lực
căn lành, tăng
trưởng ở trong
đó.
Bồ
Tát đem căn lành
giáo hoá chúng
sinh dứt tuyệt
nghiệp giết, hồi
hướng cho chúng
sinh như vầy:
Ngài nói tôi
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều phát tâm đại
từ đại bi, hỉ xả
rộng lớn xả mình
vì người như
vậy. Mỗi người
học Phật đạo,
nhất định phải
phát tâm Bồ Tát,
nghĩa là phải có
tâm và độ lượng
của Bồ Tát.
Chúng
ta đừng nói đến
sự cao thâm, hãy
nói việc bình
thường ở trước
mắt, ví như đạo
tràng sạch sẽ,
tuỳ tay thu lượm
tất cả vật nhơ
bẩn, đó là việc
nhẹ mà dễ dàng,
mỗi lần pháp hội
kết thúc rồi,
đều có nhiều nơi
cần phải quét
dọn, lúc đó phải
tự động đi làm,
trong tâm đừng
có ý niệm đó
không phải việc
của tôi, sư phụ
chẳng kêu tôi
làm. Trong đạo
tràng tất cả đều
phải tự động tự
phát, đừng nghĩ
rằng đó là việc
của ai, phải tự
động đi làm, làm
càng nhiều càng
tốt. Tu hành
chẳng phải chỉ
giới hạn tham
thiền tụng Kinh,
mà là tuỳ thời
tuỳ lúc tu hành,
đừng có tâm phân
biệt nhiều như
thế, càng đừng
có tranh quyền
đoạt lợi, tranh
làm lãnh tụ chi
phối người khác,
ở trước mặt sư
phụ cầu biểu
hiện. Việc làm
hư vọng không
thật đó, không
thể gọi là người
tu hành.
Trước
kia khi tôi làm
Sa Di, mỗi lần
tôi đến đạo
tràng, đều làm
việc mà người
khác không làm.
Việc đại chúng
cùng làm, thì
tôi cũng chẳng ở
sau người, những
công việc biểu
hiện có danh, có
lợi, tôi chưa
từng tranh với
ai. Chúng ta tu
hành biện đạo,
quan trọng nhất
là chân đạp thật
trên đất, tất cả
hướng về chân
thật mà làm. Ðạo
tràng đúng đắn
sạch sẽ, tức là
trang nghiêm đạo
tràng, tín chúng
đi đến thấy hoàn
cảnh sạch sẽ,
thọ được không
khí sạch sẽ,
cũng khiến cho
họ phát tâm bồ
đề lập tâm hướng
đạo. Tâm Bồ Tát
là mình lợi
người, từ bi làm
mục đích, chúng
ta học Phật thì
phải học tâm
hạnh của Bồ Tát.
Hy vọng mọi
người hãy mau
phát tâm bồ đề,
sớm thành đạo
quả bồ đề. Xa
lìa ngu si, từ
bỏ chút thông
minh tự cho mình
là cao minh,
thật tâm tu học
Phật pháp, mới
có thể đầy đủ
trí huệ. Dứt
tuyệt tất cả ý
niệm giết,
nghiệp giết, mới
có thể vĩnh viễn
bảo toàn thọ
mạng, chẳng có
khi nào cùng
tận. Thọ mạng
đó, chẳng phải
nói nhục thân
thọ mạng và tuổi
thọ trường sinh
bất tử của thế
gian, mà là nói
pháp thân huệ
mạng vĩnh viễn
chẳng cùng tận.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
thọ mạng dài vô
lượng kiếp, ở
trong vô lượng
kiếp đều cúng
dường mười
phương chư Phật.
Vì cung kính
cúng dường chư
Phật, lại siêng
tu tất cả Phật
pháp, cho nên
càng tăng thêm
thọ mạng, đắc
được vô lượng
thọ và vô lượng
quang. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh tu
tập viên mãn tám
vạn bốn ngàn
pháp môn và lục
độ vạn hạnh, dứt
hẳn tham dục ái
trước và vô
minh, chứng được
vô sinh pháp
nhẫn, lên được
bậc Bồ Tát, thì
xa lìa pháp khổ
sinh già bệnh
chết, tất cả tai
nạn độc hại cũng
không thể xâm
phạm vào mạng
sống của họ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
siêng tu các
pháp, thấu đạt
các pháp, thâm
nhập các pháp,
tu đầy đủ tất cả
Phật pháp, đạt
đến cảnh giới
viên dung vô
ngại, tự nhiên
trở thành thân
tâm kim cang
kiên cố. Thân
chẳng thọ bệnh
ma ràng buộc,
tâm cũng chẳng
thọ mê hoặc của
tất cả dị luận.
Thọ mạng đắc
được tự tại rồi,
thì sinh tử do
mình khống chế,
đến đi tự như.
Tuỳ theo nguyện
lực của mình mà
thọ sinh, đã
vượt ra khỏi ba
cõi, vua Diêm
Vương chẳng quản
lý được nữa !
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thọ
mạng lâu dài vô
cùng vô tận, hết
thuở vị lai
trong tất cả
kiếp, đều tu
hạnh Bồ Tát,
hành Bồ Tát đạo,
an trụ nơi trí
huệ của Bồ Tát,
vĩnh viễn chẳng
giải đãi, giáo
hoá tất cả chúng
sinh, điều phục
tất cả chúng
sinh cang cường,
nhiếp vào Phật
đạo. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh trở thành
cửa thọ mạng,
vào trong cửa
nầy rồi, thì
vĩnh viễn không
chết. Mười thứ
căn lành lực
dụng, ở trong
cửa thọ mạng tuỳ
theo thời kiếp
càng ngày càng
tăng trưởng thêm
nhiều.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh căn lành
đầy đủ, được
mạng vô tận,
thành tựu viên
mãn nguyện lớn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều thấy chư
Phật, cúng dường
thừa sự, trụ
mạng vô tận, tu
tập căn lành.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh ở
chỗ Như Lai,
khéo học chỗ
đáng học, được
niềm vui của
Thánh pháp, thọ
mạng vô tận.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
mạng căn thường
trụ không già
không bệnh, dũng
mãnh tinh tấn,
vào trí huệ của
Phật.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát trụ nơi ba
tụ tịnh giới,
vĩnh viễn dứt
trừ nghiệp giết.
Vì khiến cho
chúng sinh được
trí huệ viên mãn
mười lực của
Phật.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, làm các
điều lành không
làm điều ác, đầy
đủ hết thảy căn
lành, đắc được
thọ mạng chẳng
cùng tận, viên
mãn tất cả
nguyện lớn đã
phát. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều được
thấy chư Phật,
cúng dường chư
Phật, thừa sự
hết thảy Phật
sự, được thọ
mạng vô cùng
tận, tu tập pháp
lành, làm các
nghiệp lành,
rộng tích tập
căn lành. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh, ở
trong đạo tràng
của Phật, khéo
học tập tất cả
Thánh pháp đáng
học-pháp thành
Phật, được niềm
vui vô lượng,
thọ mạng vô tận.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được mạng
căn không già,
không sinh bệnh,
vĩnh viễn không
hoại, mà còn
dũng mãnh tinh
tấn, vào sâu
biển trí huệ của
Phật.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, an trụ
trong ba tụ tịnh
giới, vĩnh viễn
dứt trừ nghiệp
giết. Ngài hy
vọng mỗi chúng
sinh đắc được
lợi ích hồi
hướng của Ngài,
có thể được diệu
dụng mười lực
của Phật, cũng
có thể viên mãn
trí huệ của
Phật.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
thấy có chúng
sinh, ôm lòng
tàn nhẫn, làm
tổn hại người và
súc sinh, hết
thảy thân nam,
khiến cho thân
thiếu khuyết,
thọ các khổ độc.
Bồ Tát thấy việc
đó rồi, phát tâm
đại từ bi thương
xót cứu vớt,
khiến cho tất cả
nhân dân trong
cõi Diêm Phù Ðề,
đều xả bỏ nghiệp
đó.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài nhìn
thấy lòng của
một hạng người,
rất tàn nhẫn, từ
việc tổn hại
người và súc
sinh thân nam,
khiến cho thân
thể người và súc
sinh bị tàn phế
và đau khổ. Bồ
Tát thấy tình
hình đó rồi,
trong tâm chẳng
nhẫn, sinh khởi
tâm đại từ bi
thương xót họ,
quyết tâm cứu độ
họ, do đó khiến
cho nhân dân cõi
Diêm Phù Ðề, từ
đó về sau từ bỏ
nghiệp ác tàn
hại người và súc
sinh thân nam.
Bấy
giờ, Bồ Tát nói
với họ rằng: Sao
ông lại làm
nghiệp ác đó?
Tôi có kho tàng,
trăm ngàn vạn
ức, tất cả đồ
vui, thảy đều
đầy dẫy, tuỳ ý
ông cần, tôi đều
cho ông hết.
Việc của ông
làm, do các tội
sinh ra, nay tôi
khuyên ông, đừng
làm việc đó nữa.
Nghiệp của ông
làm chẳng hợp
đạo lý. Lợi ích
việc làm của ông
đắc được, không
thể dùng được.
Tổn người lợi
mình, chẳng có
ích gì. Việc ác
như thế chẳng
phải pháp lành,
tất cả Như Lai
đều chẳng khen
ngợi.
Lúc
đó, Bồ Tát nói
với người tàn
hại người và súc
sinh hình nam
rằng: Tại sao
ông lại làm
những nghiệp ác
đó ? Nếu như ông
vì vàng bạc, thì
tôi có rất nhiều
kho tàng, trong
đó chứa đầy vàng
bạc châu báu,
nếu ông cần phẩm
vật đồ tư sanh,
hoặc cần đồ
chơi, thì trong
kho của tôi đều
có, tuỳ sở thích
của ông mà lấy,
tôi đều cho ông.
Hiện tại ông làm
những việc giết
hại người và súc
sinh, bao nhiêu
tội nghiệp đều
do đó mà phát
sinh, tương lai
ông sẽ thọ ác
báo lớn, cho nên
hiện tại tôi
khuyên ông, đừng
làm những việc
ác tán thiên hại
lý đó nữa. Như
hiện tại những
việc ác đó chẳng
hợp với đạo lý,
dù ông có được
nhiều lợi ích,
đó lại có công
dụng gì ? Những
việc tổn hại kẻ
khác để lợi
mình, bất cứ nói
như thế nào,
cũng không đúng.
Giống như hành
vi tội ác như
thế, đồng với
tất cả hạnh ác
bất thiện khác,
tương lai khi
tội ác đầy dẫy,
thì nhất định
quả báo sẽ lợi
hại nhất, chư
Phật cũng chẳng
khen ngợi ông,
cũng không thể
cứu độ ông.
Bồ
Tát nói như thế
rồi, bèn đem hết
thảy tất cả đồ
vui, bố thí cho
hết. Lại đem lời
lành vì họ nói
diệu pháp, khiến
cho họ vui mừng.
Đó là khai thị
pháp tịch tĩnh,
khiến cho họ tin
thọ, diệt trừ
bất thiện. Tu
hành tịnh
nghiệp, cùng
khởi tâm từ,
chẳng tổn hại
nhau. Người đó
nghe rồi, vĩnh
viễn bỏ việc tội
ác.
Bồ
Tát nói pháp cho
người tàn hại
người và súc
sinh thân hình
nam rồi, lập tức
đem hết thảy tất
cả vật tư sanh
và các thứ đồ
vui chơi, bố thí
hết cho người
đó, để làm thoả
mãn nguyện vọng
của họ. Sau đó
lại dùng lời hoà
dịu, phương pháp
khéo léo xiển
dương từ bi hỉ
xả Phật pháp vi
diệu, khiến cho
họ nghe rồi,
trong tâm rất
hoan hỉ. Lại đối
với họ khai thị
lợi ích của pháp
tịch tĩnh, hướng
dẫn họ tu học
Phật pháp, làm
cho họ sinh tâm
tin sâu, thọ trì
không giải đãi.
Giáo hoá họ từ
đây diệt trừ tất
cả ác tính ác
hạnh và nghiệp
giết bất thiện
trong quá khứ,
tu hành phạm
hạnh thanh tịnh.
Ðối với người và
tất cả súc sinh,
sinh khởi tâm từ
bi thương lẫn
nhau, đó đây
cũng chẳng tàn
sát lẫn nhau
nữa. Người đó
nghe rồi, thống
thiết hối cải,
vĩnh viễn xả bỏ
tất cả tâm niệm
và hành vi tội
ác, phát nguyện
làm lại con
người mới, xả bỏ
nghiệp ác tàn
hại người và súc
sinh thân hình
nam.
Bấy
giờ, Bồ Tát đem
căn lành đó hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh đủ
thân hình phương
trượng, thành
tựu tướng mã âm
tàng của Như
Lai. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đủ thân
người nam, phát
tâm dũng mãnh,
tu các phạm
hạnh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đủ sức dũng
mãnh, luôn làm
chủ đạo, trụ trí
vô ngại, vĩnh
viễn không thối
chuyển. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều được
đầy đủ thân đại
trượng phu, vĩnh
viễn lìa tâm
dục, chẳng có
nhiễm trước.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều được thành
tựu pháp người
nam lành, trí
huệ tăng trưởng,
được Phật khen
ngợi. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh khắp được
đầy đủ sức lực
của bậc đại
nhân, thường tu
tập mười lực căn
lành. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh vĩnh viễn
chẳng hư hoại
mất thân người
nam, thường tu
pháp phước trí
chưa từng có.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh ở
trong năm dục,
không ràng buộc,
tâm được giải
thoát, nhàm lìa
ba cõi, trụ hạnh
Bồ Tát. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thành tựu
bậc phương
trượng trí huệ
bậc nhất, tất cả
đều tin sùng,
phục tùng sự
giáo hoá của họ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đầy đủ trí huệ
Bồ Tát trượng
phu, chẳng lâu
sẽ thành vô
thượng đại hùng.
Bồ
Tát bố thí vô
lượng tài vật
châu báu và bố
thí pháp vi diệu
cho người đó
rồi, lại đem căn
lành công đức
của Ngài bố thí
hồi hướng cho
chúng sinh như
vầy: Ngài nói,
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều được
viên mãn đầy đủ
thân hình người
nam, thành tựu
tướng mã âm tàng
giống như Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, có đủ thân
hình người nam
hoàn mãn không
thiếu khuyết,
biết phát tâm
dũng mãnh tinh
tấn tu hành tất
cả hạnh thanh
tịnh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, có đủ
nguyện lực dũng
mãnh vô uý, luôn
luôn làm người
lãnh đạo của
chúng sinh,
nương tựa thông
đạt đại trí huệ
vô ngại, vĩnh
viễn chẳng thối
chuyển về hàng
nhị thừa hoặc
phàm phu. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều được thân
đại trượng phu
viên mãn đầy đủ,
vĩnh viễn lìa
tâm niệm tham
dục, chẳng có
hành vi ô nhiễm
không chánh
đáng, cũng chẳng
chấp trước tà
tri tà kiến dị
luận ngoại đạo.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều trở
thành người nam
lành phẩm đức
tốt đẹp, tướng
mạo đoan chánh,
trí huệ càng
ngày càng tăng
trưởng, được chư
Phật khen ngợi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều có đủ
sức lực của bậc
đại nhân. Người
có đại giác đại
trí đại nguyện,
thì gọi là bậc
đại nhân, cũng
có thể nói là Bồ
Tát. Bồ Tát hy
vọng chúng sinh
đều có trí huệ
và nguyện lực
của bậc đại
giác, thường tu
tập mười lực căn
lành của Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, vĩnh viễn
chẳng thối mất
tâm nguyện lực
kiên quyết của
người nam, vĩnh
viễn chẳng hư
hoại hình thể
bên ngoài của
nam tính. Người
nữ như có ý chí
kiên cường của
nam tính, cạo
đầu xuất gia thọ
giới cụ túc,
hoằng pháp lợi
sinh làm Phật
sự, cũng có thể
được tôn làm
người nam lành
giống nhau, đại
trượng phu.
Ngược lại, người
nam mà chẳng có
hùng tâm chí
lớn, nhu nhược
bất tài, tuy
thân hình là
người nam, nhưng
nhu nhược như
người nữ không
khác. Bồ Tát hy
vọng chúng sinh
không hư hoại
mất hình thể
người nam, mà
trong tâm thường
biết tu pháp
chưa từng có,
cầu phước huệ
đầy đủ. Pháp
chưa từng có tức
là thân tâm
thanh tịnh,
chẳng có tư
tưởng hành vi
tham ái dâm dục,
thậm chí một
niệm cũng không
sinh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đối với
năm dục trong
cõi hồng
trần-tài, sắc,
danh, ăn, ngủ,
hoặc sắc, thanh,
hương, vị, xúc,
sự hưởng thụ
chẳng thanh tịnh
nầy, chẳng tham
ái trầm mê,
chẳng chấp
trước, tâm chẳng
bị năm dục ràng
buộc, như thế sẽ
được giải thoát.
Minh bạch thọ
tức là khổ, đối
với ba cõi, sinh
tâm nhàm lìa,
lúc nào cũng
nghĩ đến muốn xa
lìa nhà lửa nầy,
chỉ có tu học
hạnh Bồ Tát, an
tâm trụ nơi trí
huệ của Bồ Tát.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, trở thành
bậc đại trượng
phu trí huệ bậc
nhất, thông đạt
chân lý chẳng
làm việc hồ đồ,
minh biện thị
phi, chẳng sinh
tư tưởng điên
đảo. Tâm tính
bình hoà chẳng
có vô minh phiền
não, bình đẳng
từ bi hỉ xả
chẳng có oán
địch, có đức
hạnh toàn mỹ như
vậy, thì những
người gần gũi
bạn, nam nữ già
trẻ nghe danh mà
đến nương theo
bạn, người thiện
ác tốt xấu, đều
đến tiếp thọ sự
giáo hoá của
bạn, tin theo
lời dạy của bạn.
Tức khiến cho
người tôn giáo
khác can cường
khó điều phục,
làm mười điều
ác, họ đều đến
chỗ bạn bởi cảm
chiêu đức giáo
hoá của bạn, mà
quy y nơi chân
lý bát chánh
đạo. Ðó tức là
bậc trượng phu
trí huệ đệ nhất,
tất cả tín
ngưỡng họ, phục
tùng sự giáo hoá
của họ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đầy đủ trí huệ
và tâm từ bi của
Bồ Tát, lại có
khí khái dũng
mãnh của bậc đại
trượng phu,
quang minh lỗi
lạc. Tương lai
không lâu có thể
sẽ trở thành một
vị đại anh hùng
tối cao vô
thượng nhất,
giống như Ðức
Phật, trên trời
dưới nhân gian
Ngài là tôn quý
nhất.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài
cấm tuyệt tất cả
huỷ hoại thân
hình nam. Vì
khiến cho chúng
sinh đủ thân
hình đại trượng
phu. Ðều thủ hộ
các điều lành
của đại trượng
phu. Sinh vào
nhà hiền Thánh,
trí huệ đầy đủ,
thường siêng tu
tập hạnh thù
thắng của đại
trượng phu. Có
dụng của đại
trượng phu, khéo
hiển bày bảy đạo
của đại trượng
phu. Ðầy đủ
giống lành
trượng phu của
chư Phật, chánh
giáo của đại
trượng phu, dũng
mãnh của đại
trượng phu, tinh
tấn của đại
trượng phu, trí
huệ của đại
trượng phu,
thanh tịnh của
đại trượng phu,
khắp khiến cho
chúng sinh rốt
ráo đều được.
Ở
trên vừa nói là
hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát làm pháp
thí, Ngài cấm
tuyệt tất cả
nghiệp ác huỷ
hoại thân hình
nam, khuyên
những người làm
ác đó cải ác
hướng thiện. Bồ
Tát vì khiến cho
chúng sinh có đủ
thân hình và đức
hạnh của đại
trượng phu, do
đó:
"Ðại trượng phu
hai tay khai mở
đường sinh tử,
Đấng nam nhi hai
mi phá tan ải
danh lợi".
Càng
có thể dùng tinh
thần không sợ
hãi bảo vệ các
điều lành của
đại trượng phu.
Phàm là người
nam có phẩm đức
như thế, đều có
thể sinh vào nhà
hiền Thánh, bậc
đồng với Thánh
hiền, đầy đủ tất
cả các loại trí.
Thường hay
khuyên tấn tu
tập hạnh thù
thắng của đại
trượng phu. Như
trong Kinh nói:
"Tướng đầy
đủ-thân hình
trượng phu; huệ
đầy đủ-trí huệ
đầy đủ; hạnh đầy
đủ-thắng hạnh
trượng phu".
Lại
có đại dụng của
đại trượng phu.
1. Gần gũi thiện
tri thức, phát
tâm đại bồ đề.
Một người có căn
lành có trí huệ,
thì biết gần gũi
thiện tri thức,
xa lìa ác tri
thức, được vô
lượng pháp ích,
thành tựu lực
lớn dụng lớn.
2. Lắng nghe
chánh pháp: Nếu
muốn hoàn thành
đại dụng của đại
trượng phu, thì
phải thường nghe
chánh pháp, mới
có thể tăng
trưởng văn huệ,
cho nên phàm là
khi có thiện tri
thức thuyết
pháp, nhất định
phải đi nghe,
lắng nghe chánh
pháp.
3. Suy gẫm nghĩa
lý: Nghe chánh
pháp rồi, nhất
định phải suy
gẫm nghĩa lý,
nghiên cứu thâm
sâu, đó là thành
tựu công phu tư
huệ.
4. Như lời nói
mà tu hành: Công
phu nghe và suy
gẫm đều làm được
rồi, tiếp theo
là phải như lý
tu hành. Cổ nhân
có nói:
"Ngồi mà nói,
chẳng bằng đi mà
hành".
Nếu chỉ biểu
hiện cầu ngoài
da, hành vi lại
trái với đạo,
thì đó chẳng
phải là đại
trượng phu, cũng
chẳng thể xưng
là đệ tử Phật.
Nếu chúng ta
muốn làm đệ tử
Phật chân chánh,
muốn phát đại
dụng của đại
trượng phu, thì
chúng ta phải
như lý tu hành,
đạp vững trên
đất tu hành, đó
là thành tựu
công phu tu huệ.
Ðại trượng phu
dùng bốn điểm
chánh yếu, thứ
nhất là phải gần
gũi thiện tri
thức, vì gần gũi
thiện tri thức
mới thành tựu
văn tư tu (nghe,
suy gẫm, tu
hành) ba huệ
Phật học, mới
hiển ra đại dụng
của đại trượng
phu, do đó có
thể thấy người
tu học Phật đạo,
quan trọng là
phải gần gũi
thiện tri thức.
Ðại trượng phu
còn có lối giải
thích khác:
1. Tự chánh: Hay
chánh tín không
thay đổi.
2. Chánh tha:
Hay tuỳ cơ thọ
pháp.
3. Hay tuỳ đáp
vấn: Tấn tốc trả
lời vấn nạn.
4. Khéo giải
nhân duyên: Minh
bạch tất cả nhân
duyên của chúng
sinh. Khéo hiển
bày bảy đạo của
đại trượng phu:
Bồ Tát hy vọng
chúng sinh biết
dùng phương pháp
phương tiện khéo
léo, hiển bày ra
một bậc trượng
phu có đủ bảy
thứ đặc điểm,
hoặc nói là bảy
điều kiện phải
có đủ. Hiện tại
chiếu theo pháp
thế gian, cử ra
bảy điểm:
1. Tuổi thọ sống
lâu: Thọ mạng
lâu dài, sống
lâu ở đời.
2. Sắc đẹp đoan
nghiêm: Tướng
đầy đủ, sắc đầy
đủ, xuất gia
trang nghiêm.
3. Không bệnh ít
phiền não: Thân
thể khoẻ mạnh,
an lạc tự tại,
chẳng có phiền
não.
4. Chẳng phải nô
bộc, chẳng phải
người nữ: Chẳng
phải người nô
bộc, cũng chẳng
phải thân người
nữ.
5. Trí huệ mãnh
lợi: Có đại trí
huệ siêu quần.
6. Lời nói uy
nghi: Nói lời
nói có trọng
lượng, không nói
thì thôi, nói ra
thì kình người.
Trong khí chất
tự nhiên chảy ra
khí thế không nộ
mà uy, khiến cho
người kính sợ.
7. Có đại tông
diệp: Tức là
xuất thân từ
danh môn quý
tộc.
Ngoài ra còn có
một lối nói
pháp, tức là bảy
thứ đạo bảy
hiền.
1. Hay tuỳ tín
hành: Tuỳ theo
tâm tin tu hành.
2. Tuỳ pháp
hành: Nương vào
chánh pháp tu
hành.
3. Tin hiểu: Tin
hiểu tất cả chân
lý Phật pháp.
4. Kiến chí: Có
chánh kiến vào
sâu các pháp
thật tướng.
5. Thân chứng:
Thân chứng ngộ
diệu ý của các
pháp.
6. Huệ giải
thoát: Là nương
theo trí Bát Nhã
thấu đạt sự lý
của pháp giới,
đắc được tự tại
chân chánh.
7. Ðều giải
thoát: Tất cả
hết thảy đều
nhìn xuyên thủng
buông xả tự tại,
đạt được cảnh
giới giải thoát
không chấp không
nương tựa.
Có bảy thứ đạo
nầy, mới đáng
gọi là đại
trượng phu. Có
những điều kiện
ưu tú vừa nói ở
trên, thì đầy đủ
nhân duyên hạt
giống sinh vào
nhà chư Phật, có
thể làm đệ tử
tốt nhất của chư
Phật, có thể
thừa gia nghiệp
của chư Phật,
tương lai nhất
định sẽ viên mãn
quả vị Phật. Bồ
Tát đã từng thọ
qua chánh giáo
nhân cách của
đại trượng phu,
Ngài lại đem
chánh giáo đại
trượng phu giáo
hoá tất cả chúng
sinh, càng hy
vọng chúng sinh
đều có thể đắc
được đại trượng
phu chánh giáo,
lại có khí tiết
dũng mãnh của
đại trượng phu,
lại có chánh
tinh tấn của đại
trượng phu, lại
có trí huệ thù
thắng của đại
trượng phu, tất
cả hành vi đều
nương theo trí
mà hành, tuyệt
đối chẳng phải
hạng người hữu
dũng vô mưu, lại
có phẩm đức cao
thượng của đại
trượng phu, thân
tâm không dơ
trong ngoài
thanh tịnh. Bồ
Tát có đức tốt
như vậy, cho nên
Ngài cũng hy
vọng chúng sinh
đều có đủ những
đức tốt đó, trở
thành giống lành
đại trượng phu
của chư Phật,
người nam lành
toàn mỹ bậc nhất
trên thế gian !
Tâm Bồ Tát như
thế, chúng ta
làm thế nào để
không phụ lòng
hy vọng của Ngài
! làm thế nào để
báo đáp ân đức
của Ngài trong
muôn một.
|
TẬP 13
|
QUYỂN HAI MƯƠI
TÁM
PHẨM THẬP HỒI
HƯỚNG
THỨ HAI MƯƠI LĂM
PHẦN SÁU
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát, nếu thấy
Như Lai xuất
hiện ra đời,
diễn nói chánh
pháp, thì dùng
âm thanh lớn,
khắp cáo tất cả:
Như Lai hiện ra
đời! Như Lai
hiện ra đời!
Khiến cho các
chúng sinh được
nghe danh Phật,
xả lìa tất cả
ngã mạn hí luận.
Lại càng siêng
chỉ dẫn, khiến
cho họ sớm được
thấy Phật, khiến
cho họ nghĩ nhớ
Phật, khiến cho
họ hướng về
Phật, khiến cho
họ phan duyên
với Phật, khiến
cho họ quán sát
Phật, khiến cho
họ khen ngợi
Phật.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, nếu như
Ngài biết có
Phật hiện ra
đời, lại ở trước
Phật lắng nghe
Phật khai diễn
chánh pháp nhãn
tạng. Lúc đó,
Ngài nhất định
hô lớn tiếng,
hướng về khắp
mười phương pháp
giới nói: Như
Lai đã hiện ra
đời ! Như Lai đã
hiện ra đời !
Tại sao Bồ Tát
làm như thế ?
Một là tâm đại
từ bi của Bồ
Tát, vì Phật
xuất hiện ra
đời, là việc
trăm ngàn vạn
kiếp khó gặp
được, trước khi
Phật xuất hiện
ra đời, chúng
sinh như ở trong
chỗ u ám, trời
người giảm bớt,
ác đạo ngày càng
tăng, cho đến
danh Phật đều
không nghe được,
chúng sinh đều
khổ đến cực
điểm. Hiện tại
có Phật ra đời,
ngày chúng sinh
được cứu đã đến,
Bồ Tát sao lại
nhẫn tâm thấy
chúng sinh ở
trong nước sâu
lửa nóng thọ khổ
nạn lớn ! Cho
nên Bồ Tát vui
mừng hô lớn
tiếng, khắp cáo
mười phương thế
giới, khiến cho
chúng sinh lập
tức nghe được
danh Phật, thấy
diện Phật, khiến
cho những chúng
sinh vô tri có
thể xả bỏ đủ thứ
tập khí xấu và
ngã mạn hí luận
hư vọng không
thật. Hơn nữa,
khi chư Phật
xuất hiện ra
đời, đều có đại
sự và nhân duyên
của Ngài. Trong
Kinh Pháp Hoa
Phẩm Phương Tiện
Thứ Hai, trong
đó có một đoạn
Kinh văn nói rất
rõ ràng là: "Chư
Phật Thế Tôn,
muốn khiến cho
chúng sinh khai
mở tri kiến
Phật, khiến được
thanh tịnh, nên
xuất hiện ra
đời. Muốn mở bày
cho chúng sinh
tri kiến Phật,
nên xuất hiện ra
đời. Muốn khiến
cho chúng sinh
ngộ tri kiến
Phật, nên xuất
hiện ra đời.
Muốn khiến cho
chúng sinh vào
tri kiến Phật,
nên xuất hiện ra
đời".
Phật thị hiện ra
đời, khai diễn
chánh pháp tức
là mở bày cho
chúng sinh,
chánh tri chánh
kiến giống như
Phật, hiện tại
bị năm dục che
lấp, Phật đến
trợ giúp chúng
sinh, làm cho
khôi phục lại
thanh tịnh. Chỉ
bày cho chúng
sinh cũng có tri
kiến của Phật,
mười pháp giới
tất cả đều bình
đẳng, chẳng có
khác biệt. Khiến
cho chúng sinh
giác ngộ tri
kiến vốn có, như
pháp tu hành.
Khiến cho chúng
sinh vào sâu tri
kiến của Phật,
vĩnh viễn chẳng
thối chuyển,
chứng trí huệ
của Bồ Tát, viên
mãn bồ đề. Có
lợi ích thù
thắng như thế,
Bồ Tát làm sao
không thể khắp
nói cho chúng
sinh biết, để họ
sớm đi đến gặp
Phật nghe pháp,
và còn phải luôn
luôn nghĩ nhớ từ
bi đức tướng của
Phật, suy gẫm
chánh pháp của
Phật nói, không
làm cho quên
mất. Phải dùng
chân tâm thành ý
hướng về Phật,
nương theo lời
dạy tu tâm niệm
và hành vi, phải
y chỉ Ðức Phật,
thọ được quang
minh của Phật
gia hộ. Tuỳ thời
quán sát tướng
tốt trang nghiêm
của Phật, học
tâm từ bình đẳng
của Phật khắp hộ
chúng sinh, dạy
chúng sinh biết
ân báo ân, tán
dương tinh thần
vĩ đại của Phật
cứu độ chúng
sinh, khen ngợi
công đức vô
lượng vô biên
của Phật.
Bồ
Tát lại vị họ
rộng nói: Phật
khó gặp được,
ngàn vạn ức kiếp
đến thời mới
xuất hiện một
lần. Do đó chúng
sinh được thấy
Phật, sinh niềm
tin thanh tịnh,
nhảy nhót vui
mừng, tôn trọng
cúng dường. Lại
ở chỗ Ðức Phật,
nghe danh hiệu
chư Phật, nhờ
vậy sẽ gặp vô số
các Ðức Phật,
trồng các gốc
lành, tu tập
tăng trưởng.
Bồ
Tát lại đối với
tất cả chúng
sinh nói: Phật
xuất hiện ra thế
gian, rất khó
gặp được, phải
trải qua ngàn
kiếp, vạn kiếp,
ngàn ức kiếp,
mới có một vị
Phật xuất hiện
ra đời. Chúng
sinh phải có căn
lành lớn, phước
đức lớn, mới có
thể sinh ra thời
nầy gặp được
Phật. Nhân duyên
cơ hội tốt nầy,
đừng để mất đi.
Khi các bạn thấy
được Phật, thì
tự nhiên sẽ sinh
tâm tin thanh
tịnh, sẽ vui
mừng nhảy nhót
không tự chủ
được. Nên dùng
tâm tôn trọng
Phật thanh tịnh
nhất, dùng tâm
lễ bái Phật cung
kính nhất, dùng
thân tâm nầy
cúng dường Phật,
suốt thuở vị lai
thừa sự phụng
trì. Lại có thể
ở tại đạo tràng
của Phật, nghe
danh hiệu của
các đức Phật
khác; nhờ vậy,
sẽ gặp được vô
số đức Phật. Ở
trước mỗi vị
Phật, đều gieo
trồng gốc nghiệp
lành tốt nhất,
tu tập tất cả
pháp môn, tăng
trưởng căn lành
và đức hạnh, khi
phước huệ đầy đủ
công đức viên
mãn, thì sẽ
thành tựu quả vị
Phật.
Bấy giờ, vô số
trăm ngàn vạn ức
Na do tha chúng
sinh, vì thấy
được Phật, nên
đều được thanh
tịnh, rốt ráo
được điều phục.
Các chúng sinh
đó, ở chỗ Bồ Tát
đều sinh ý niệm
thiện tri thức
tối thượng. Nhờ
Bồ Tát nên thành
tựu Phật pháp.
Dùng căn lành đã
gieo trồng vô số
kiếp, khắp nơi
thế gian bố thí
làm Phật sự.
Bồ
Tát đối với
những chúng sinh
đó, khẩn thiết
nói khai thị như
ở trên rồi, lúc
đó, có vô số
trăm ngàn vạn ức
chúng sinh, nhờ
tiếp thọ được sự
khuyên dạy của
Bồ Tát, mà thấy
được Phật, nên
thân tâm thọ
được lợi ích
lớn, cảm giác
được thân tâm
thanh tịnh, các
căn điều phục.
Cổ đức có nói:
"Nhiều đời nghe
lời thiện
Nghiệp nặng nghe
lời ác".
Một
chút cũng không
sai, nghe được
người khác nói
lời thiện, đó
đều là nhờ phước
đức nhiều đời.
Lại có cơ hội
nghe Kinh nghe
pháp, đó là do
nhân duyên tu
tập nhiều đời.
Không tin thì
hãy xem ngoài xã
hội, tại sao
người đến Chùa
nghe Kinh lễ
Phật thì ít ? Ðó
là vì chúng sinh
căn lành không
đủ. Phàm là
người nhiều đời
đã gần gũi Tam
Bảo, căn lành
sâu dày, thì họ
hoan hỉ gặp Phật
nghe pháp, họ có
thể dùng niềm
vui thiền định
làm thức ăn,
niềm vui của
pháp tràn đầy.
Hà huống hiện
tại Bồ Tát
khuyên bảo họ đi
đến gặp Phật
thiệt xuất hiện
ra đời ? Cho nên
những chúng sinh
đó, đối với Bồ
Tát nói không ra
được cảm kích,
đại khái mọi
người có ý niệm
giống nhau:
Chúng ta thật
may mắn, gặp
được thiện tri
thức tốt nhất.
Nhờ vị Bồ Tát
nầy tiếp dẫn, mà
khiến cho chúng
ta minh bạch
chân lý, xa lìa
tà ác. Nay chúng
ta thân tâm
thanh tịnh điều
phục, tiêu diệt
ba độc năm dục,
nhờ đó mà có cơ
hội tiếp thọ
được Phật pháp,
hy vọng thành
tựu đạo nghiệp.
Dùng căn lành vô
số kiếp đã gieo
trồng, khắp ở
tại thế gian làm
các Phật sự.
Phạm vi Phật sự
bao quát rất
rộng, làm các
điều lành, việc
lớn việc nhỏ hợp
với chánh tri
chánh kiến, đều
có thể gọi là
Phật sự. Người
xuất gia giảng
Kinh thuyết
pháp, lãnh đạo
thiện tín cư sĩ
tu trì, đối với
người khuyên làm
lành bỏ làm ác,
tịnh hoá xã hội
.v.v...đều là
Phật sự, cũng có
thể nói làm tất
cả việc mà Phật
khen ngợi.
Phật
tử ! Khi đại Bồ
Tát khai thị
chúng sinh khiến
cho gặp được
Phật, đem các
căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
chẳng cần chờ
khuyên bảo, tự
đi đến gặp Phật,
thừa sự cúng
dường, đều khiến
cho hoan hỉ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường ưa thích
gặp Phật, tâm
chẳng xả bỏ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường siêng tu
tập trí huệ rộng
lớn, thọ trì tất
cả pháp tạng của
chư Phật. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, tuỳ chỗ
nghe được đều
ngộ Phật pháp,
trong vô lượng
kiếp tu hạnh Bồ
Tát. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, an trụ
chánh niệm, luôn
dùng mắt trí huệ
gặp Phật ra đời.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
chẳng nghĩ nhớ
nghiệp khác,
thường nghĩ thấy
Phật, siêng tu
mười lực.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài khẩn
thiết đối với
chúng sinh khai
thị sự lợi ích
gặp Phật nghe
pháp rồi, bèn
đem đủ thứ căn
lành của Ngài tu
tập hồi hướng
cho chúng sinh
như vầy: Ngài
nói tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh minh bạch
cơ duyên thấy
Phật rất khó
được, gặp Phật
là phước báu vô
thượng, gặp Phật
nghe pháp sẽ đắc
được lợi ích thù
thắng vi diệu,
mọi người đều sẽ
tự động nhảy
nhót đi gặp
Phật, đừng đợi
người khác đến
khuyên mời, hoặc
nhờ người khác
dẫn dắt mới đi.
Tự động tự phát
do nơi chân
thành, bị người
khác dẫn dắt,
hoặc khuyên mời
là miễn cưỡng.
Miễn cưỡng thì
chẳng có tâm
tin, sẽ chẳng
đắc được lợi
ích. Chúng ta ở
trước phải ân
cần thừa sự
Phật, phải dùng
tâm chí thành
cúng dường Phật,
tất cả hành vi
đều phải biểu
hiện nhất chí,
mọi việc đều
phát tâm hoan
hỉ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, luôn ưa
thích thấy Phật,
tâm thành đó
vĩnh viễn không
dứt mất, hoặc xả
bỏ mà thay đổi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thường
thường tinh tấn
siêng tu tất cả
chánh pháp nhãn
tạng của chư
Phật, vì có thể
rộng lớn suối
nguồn trí huệ.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, tuỳ tiện
nghe được âm
thanh gì, thấy
được cảnh giới
gì, đều có thể
khai ngộ, minh
bạch hết thảy
tất cả trên thế
gian đâu chẳng
phải là Phật
pháp. Hưng suy
khen chê của đời
người, tiếng
chim hương hoa
của thiên nhiên,
khí hậu bốn mùa
thay đổi
.v.v...đủ thứ
hiện tượng đâu
chẳng phải là
Phật pháp, đều
có thể khiến cho
người giác ngộ
sự vô thường.
Bồ
Tát Phổ Hiền nói
với chúng ta
rằng: "Sát na
cuối cùng lúc
lâm chung, tất
cả các căn thảy
đều tan hoại,
tất cả thân
thuộc thảy đều
xả lìa, tất cả
oai thế thảy đều
thối lùi mất,
phụ tướng đại
thần, cung thành
trong ngoài, vạn
mã xe cỡi, ngọc
ngà châu báu,
tất cả như vậy,
đều chẳng mang
theo được". Phàm
phu vì danh, vì
lợi, suốt đời
bôn ba lao nhọc,
cuối cùng thì
mang theo được
cái gì ? Chỉ có
mang theo được
nghiệp thiện và
nghiệp ác đã tạo
ra ! Cho nên Bồ
Tát Phổ Hiền lại
nói với chúng
ta: "Chỉ có
chúng ta hành
phát nguyện lớn,
nó sẽ không bỏ
lìa chúng ta.
Khi chúng ta lâm
chung, thì nó
dẫn dắt chúng ta
vãng sinh về thế
giới Cực Lạc,
gặp Ðức Phật A
Di Ðà và Bồ Tát
Văn Thù, Bồ Tát
Quán Âm, cùng
các đại Bồ Tát
khác". Do đó,
đại Bồ Tát tu
pháp môn hồi
hướng, Ngài hy
vọng chúng sinh
có thể tuỳ theo
nghe được âm
thanh mà tỏ ngộ
chân lý Phật
pháp, ở trong vô
lượng kiếp, đời
đời kiếp kiếp, ở
khắp các nơi,
đều tu học hạnh
Bồ Tát, học thực
hành Bồ Tát đạo,
vĩnh viễn chẳng
giải đãi thối
lùi. Cổ Ðức cũng
cảnh tỉnh chúng
ta nói:
"Ðời người sống
đến bảy mươi xưa
nay hiếm
Trước trừ niên
thiếu sau trừ
già.
Thời gian khoảng
giữa chẳng là
bao
Lại có một nửa
là ngủ nghỉ".
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tuỳ thời đều an
trụ ở trong đời
sống chánh tri
chánh niệm, mọi
việc đừng sinh
vọng tưởng.
Thường dùng mắt
tâm trí huệ,
nghinh tiếp Phật
đến nhân gian để
hộ trì khắp
chúng sinh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đừng thọ ảnh
hưởng của ngoại
đạo dị luận,
sinh tưởng niệm
không chánh
đáng, tạo ra
nghiệp ác, phải
thường nghĩ nhớ
Phật, hy vọng
thường gặp Phật
nghe pháp, siêng
tu mười lực của
Phật.
Mười
lực của Phật:
1.
Trí lực tri giác
xứ phi xứ: Xứ
nghĩa là đạo lý.
Biết đạo lý của
sự vật là đúng
hay không đúng.
2.
Trí lực biết
nghiệp báo ba
đời: Biết nhân
quả nghiệp báo
của tất cả chúng
sinh ba đời.
3.
Trí lực biết tam
muội của các
thiền giải
thoát: Biết tam
muội của tứ
thiền bát định
và tám giải
thoát, ba thứ
tam muội.
4.
Trí lực biết các
căn thắng liệt:
Biết chúng sinh
các căn ưu tú
hay hạ liệt.
5.
Trí lực biết đủ
thứ sự thấu
hiểu: Biết trình
độ thấu hiểu của
chúng sinh đối
với sự lý.
6.
Trí lực biết đủ
thứ cảnh giới:
Biết cảnh giới
khác biệt của
tất cả chúng
sinh.
7.
Trí lực biết tất
cả chí xứ đạo:
Biết nghiệp quả
thực hành năm
giới, mười điều
lành, bát chánh
đạo .v.v...tại
nhân gian và
trên trời.
8.
Trí lực biết
thiên nhãn vô
ngại: Dùng thiên
nhãn thấy tất cả
nghiệp của chúng
sinh.
9.
Trí lực biết túc
mạng vô lậu:
Biết túc mạng
của chúng sinh,
và vô lậu Niết
Bàn.
10.
Trí lực biết
vĩnh viễn đoạn
trừ tập khí:
Biết vĩnh viễn
đoạn trừ tất cả
vọng hoặc dư tập
khí mà chẳng
khiến cho sinh
nữa.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, nơi tất cả
chỗ thường thấy
chư Phật, thấu
đạt Như Lai khắp
cõi hư không.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều được đầy đủ
thân tự tại của
Phật, khắp ở
trong mười
phương, thành
đạo thuyết pháp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
gặp thiện tri
thức, thường
nghe Phật pháp,
nơi các Ðức Như
Lai được niềm
tin bất hoại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều khen ngợi
chư Phật xuất
hiện ra đời,
khiến cho người
thấy khắp được
thanh tịnh.
Ðó
là hồi hướng căn
lành khen Phật
ra đời của đại
Bồ Tát, vì khiến
cho chúng sinh
thấy tất cả chư
Phật, cúng dường
thừa sự, nơi
pháp vô thượng,
rốt ráo thanh
tịnh.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, bất cứ ở
đâu cũng đều có
thể thấy được
Phật, minh bạch
pháp thân của
Phật, là tận
cùng hư không
khắp pháp giới.
Ứng hoá thân của
Ngài là tuỳ
duyên ứng cơ
chúng sinh mà
hiển hiện. Chỉ
cần tâm thành ý
tịnh, thì sẽ cảm
ứng hiện. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều đắc được
thân tự tại đầy
đủ phước huệ
giống như Phật,
tuỳ nguyện lực
và nhân duyên,
nhậm vận tự như
đến khắp cùng
mười phương thế
giới thành đạo
thuyết pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thường
gặp được đại
thiện tri thức,
nghe được chánh
pháp của Phật
giáo, đối với bi
nguyện xuất hiện
ra đời của Phật,
cùng với tất cả
chánh pháp của
Phật nói, thảy
đều tin sâu
không nghi hoặc,
mà còn thiết
thực phụng hành,
không thọ ảnh
hưởng dị luận
của ngoại đạo.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều khen
ngợi tán thán bi
nguyện chư Phật
xuất hiện ra
đời. Phàm là
người gặp được
Phật ra đời, đều
đắc được thân
tâm thanh tịnh,
trồng căn lành
lớn, khai mở đại
trí huệ. Ðó là
hồi hướng căn
lành tích tập
của đại Bồ Tát,
tán thán khen
ngợi chư Phật
xuất hiện ra
đời. Vì khiến
cho chúng sinh
thấy được chư
Phật rồi, sẽ
minh bạch cúng
dường chư Phật,
đi thừa sự phụng
trì chư Phật.
Ðối với diệu
pháp vô thượng,
có thể đắc được
trí huệ thanh
tịnh, trí huệ
viên mãn.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
xả bỏ đất đai,
hoặc bố thí cho
chư Phật, tạo
lập tinh xá.
Hoặc bố thí cho
Bồ Tát và thiện
tri thức, tuỳ ý
sử dụng. Hoặc bố
thí cho chúng
Tăng, dùng làm
nơi ở. Hoặc bố
thí cho cha mẹ.
Hoặc bố thí cho
người khác,
Thanh Văn Ðộc
Giác, đủ thứ
ruộng phước, cho
đến tất cả những
kẻ bần cùng cô
nhi, và bốn
chúng. Tuỳ ý
thảy đều bố thí
cho, không thiếu
thốn thứ gì.
Hoặc bố thí kiến
lập tháp miếu
của Như Lai. Ở
trong các nơi
như vậy, thảy
đều đầy đủ đồ tư
sanh, khiến tuỳ
ý sử dụng, không
có sự sợ hãi.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài bố thí
đất đai cho chư
Phật tạo lập
tinh xá, làm nơi
diễn nói chánh
pháp. Hoặc bố
thí cho các đại
Bồ Tát, hoặc đại
thiện tri
thức-người có
đại trí huệ,
minh bạch sự lý,
có thể hướng dẫn
người tu hành,
bố thí cho các
vị đó tuỳ ý sử
dụng. Hoặc bố
thí cho chúng
Tăng những người
xuất gia, làm
nơi tu hành.
Hoặc bố thí cho
cha mẹ, hoặc bố
thí cho những
người khác, cũng
không hỏi họ có
phải là người
giàu có chăng.
Hoặc bố thí cho
hàng nhị thừa
bậc Thánh Thanh
Văn Ðộc Giác,
như vậy đủ thứ
ruộng phước,
Phật là ruộng
phước lớn nhất.
Cho đến tất cả
những người
nghèo khổ, cô
nhi, đây là
ruộng phước nhỏ
nhất, Bồ Tát một
luật bình đẳng
bố thí, cùng với
bốn chúng đệ
tử-Tỳ kheo, Tỳ
kheo ni, ưu bà
tắc, ưu bà di,
cũng bố thí như
nhau; tuỳ ý họ
cần dùng không
tính số lượng,
đều khiến cho họ
mãn nguyện,
tuyệt đối không
thiếu thốn. Ðó
là cảnh giới của
Bồ Tát, chẳng
phải một số
người có thể làm
được; hoặc bố
thí cho người
xuất gia làm
chùa, tu viện.
Nghe nói những
nơi nầy, Bồ Tát
chẳng những bố
thí đất đai, mà
còn làm chùa, tu
viện chỗ ở
.v.v... tại mỗi
nơi, thiết bày
chu toàn, tất cả
đồ tư sanh, đáng
có thì có, khiến
cho bất cứ ai ở
trong đó đều
không có cảm
giác thiếu thốn
đồ cần dùng,
hoặc không
phương tiện,
không tự tại,
không an toàn.
Khiến cho đời
sống của họ tuỳ
ý lấy dùng,
chẳng có sự sợ
hãi và thiếu
thốn.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí đất đai, đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đầy đủ đất thanh
tịnh nhất thiết
trí, đạt đến các
hạnh Phổ Hiền bờ
bên kia. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được đất
tổng trì, chánh
niệm thọ trì tất
cả Phật pháp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được sức lực trụ
trì, thường thủ
hộ tất cả Phật
giáo. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tâm
như đất, nơi các
chúng sinh ý
thường thanh
tịnh, chẳng có
niệm ác. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh giữ các
giống Phật,
thành tựu các
bậc thứ lớp của
các Bồ Tát,
chẳng có đoạn
tuyệt. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh khắp vì tất
cả làm nơi an
ổn, đều khiến
điều phục, trụ
đạo thanh tịnh.
Khi
đại Bồ Tát bố
thí đất đai, đều
đem căn lành của
Ngài tu tập, đối
với chúng sinh
hồi hướng, Ngài
nói: Tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều được
đầy đủ các thứ
trí huệ thanh
tịnh, đều tu vô
tận vạn hạnh của
Bồ Tát Phổ Hiền,
đạt thành viên
mãn, lên được
hạnh nguyện Phổ
Hiền bờ bên kia.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được đất
tâm tổng tất cả
pháp, trì vô
lượng nghĩa,
thân thể lực
hạnh chánh niệm
suy gẫm tu trì
tất cả Phật
pháp. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
sức lực trụ trì
Phật pháp,
thường thủ hộ
Phật giáo, khiến
cho Phật pháp
phát triển rộng
lớn. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
tâm tin kiên cố
giống như đất,
đối với những
chúng sinh khác
có tâm đại từ bi
ái hộ, ý thường
thanh tịnh,
chẳng có tâm ác
niệm xâm hại.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, hành trì
được không làm
các điều ác,
chuyên làm các
điều lành, làm
hạt giống chư
Phật, tương lai
có thể trở thành
đại Bồ Tát, sẽ
tu hành đến pháp
môn thập địa, có
thể y theo thứ
tự từng bậc từng
bậc tiến tới,
chẳng thối tâm
bồ đề, cũng
chẳng bỏ tâm
nguyện tu hành.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, làm nơi
nương tựa bình
đẳng cho khắp
tất cả chúng
sinh, khiến cho
những chúng sinh
cang cường khó
điều phục, nhờ
gần gũi nương
tựa mà được cảm
hoá, tự nhiên
cũng sẽ trụ
trong Phật đạo
thanh tịnh.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đồng các
Như Lai lợi ích
thế gian, khắp
khiến họ siêng
tu, an trụ nơi
Phật lực. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh khắp vì chỗ
ưa thích thế
gian, đều khiến
cho an trụ trong
niềm vui vô
thượng của Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được phương tiện
khéo léo, trụ ở
trong pháp vô uý
các lực của
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được trí
huệ như đại địa,
tự tại tu hành
tất cả Phật
pháp. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát
khi Ngài bố thí
đất đai. Vì
khiến cho chúng
sinh đều được
rốt ráo tất cả
bậc thanh tịnh
của Như Lai.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều giống như
Phật lợi ích thế
gian, khắp khiến
cho những đệ tử
Phật siêng tu
Phật đạo, đều
được an ổn tự
tại trụ nơi Phật
lực. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, khắp thọ
được vui ưa
thích thế gian,
đều được bình an
trụ ở trong niềm
vui vô thượng
của Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được đủ thứ
phương tiện khéo
léo, an trụ nơi
mười lực của
Phật và ở trong
chánh pháp không
sợ hãi. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được trí huệ
giống như đất.
Ðất bình đẳng
nhất, từ bi
nhất, chẳng có
tâm thương ghét.
Ðất hay sinh vạn
vật, nuôi lớn
vạn vật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
có trí huệ như
đất, an nhiên tự
tại tu tập tất
cả Phật pháp. Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí đất đai, vì
khiến cho chúng
sinh đều có thể
đắc được quả địa
chân chánh thanh
tịnh của chư
Phật.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
bố thí đồng bộc,
cúng dường cho
tất cả chư Phật
Bồ Tát, chân
thiện tri thức.
Hoặc bố thí cho
Tăng bảo. Hoặc
phụng hiến cho
cha mẹ, những
ruộng phước thù
thắng. Hoặc lại
bố thí cho chúng
sinh bệnh khổ,
khiến cho chẳng
thiếu thốn. Hoặc
lại bố thí cho
kẻ bần cùng cô
nhi, cùng với
tất cả những kẻ
không ai giúp đỡ
săn sóc. Hoặc để
giữ gìn tháp
miếu của Như
Lai. Hoặc để
biên chép giữ
gìn chánh pháp
của chư Phật.
Ðem trăm ngàn ức
Na do tha đồng
bộc, tuỳ thời bố
thí cho. Các
đồng bộc đó, đều
thông minh khéo
léo, tính tự
điều thuận,
thường siêng
tinh tấn, chẳng
có giải đãi. Ðầy
đủ tâm chất
trực, tâm an
lạc, tâm lợi
ích, tâm nhân
từ, tâm cung
kính, chẳng có
tâm oán hận,
chẳng có tâm thù
địch. Có thể tuỳ
theo phương tục,
làm các điều lợi
ích. Lại do tịnh
nghiệp của Bồ
Tát sở cảm, mới
có tài năng,
khéo léo tính
toán, chẳng có
gì mà không
thông đạt, khéo
hay cung phụng
hầu hạ, làm vừa
lòng chủ nhân.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Hiện tại
đại Bồ Tát lại
bố thí nhiều
đồng bộc, cúng
dường cho chư
Phật, các đại Bồ
Tát, các đại
thiện tri thức
chân chánh, hoặc
bố thí cho Tăng
Bảo, hoặc phụng
hiến cho cha mẹ,
đó là những
ruộng phước tối
thắng vô thượng
nhất, hoặc cũng
bố thí cho những
chúng sinh nghèo
khổ bệnh tật,
khiến cho có
người chiếu cố
chăm sóc họ,
hiện tại có
người đến trợ
giúp họ, do đó
mà khỏi cái
chết, bảo tồn
được tánh mạng.
Hoặc bố thí cho
những người
nghèo khổ, và
côi cút không có
chỗ ở, cùng với
những người già
trẻ đáng thương
không có ai chăm
sóc. Hoặc bố thí
cho tùng lâm đạo
tràng, để họ trợ
giúp giữ gìn
chùa tháp Phật,
hoặc trợ giúp
biên chép Kinh
văn. Những người
đồng bộc đó,
cũng biết thọ
trì chánh pháp,
tu hành biện
đạo. Bồ Tát dùng
trăm ngàn ức Na
do tha đồng bộc,
tuỳ thời tuỳ lúc
bố thí khắp.
Những đồng bộc
mà Ngài bố thí,
đều rất thông
minh lanh lợi,
khéo biết ý của
chủ nhân, tính
tình của họ đều
rất thuần lương,
sáu căn thanh
tịnh tự nhiên
điều thuận. Làm
việc không để
cho chủ nhân
tháo tâm và chỉ
huy, hằng ngày
tự động tinh tấn
làm việc như
thế, không có sự
giải đãi. Tâm
của họ cũng rất
lương thiện,
thành khẩn thật
thà, không dối
trá xảo quyệt.
Tâm tình thoải
mái cũng rất an
lạc nơi công
việc của họ.
Thường ôm hoài
bảo làm lợi ích
cho mọi người,
có tâm nhân từ
xử sự cách vật,
có tâm cung kính
tôn trọng cẩn
thận, chưa từng
oán hận ai, đối
với bất cứ ai
cũng đều không
có tâm cừu địch.
Những đồng bộc
đó đều có phẩm
hạnh tốt đẹp như
vậy, mà còn tuỳ
theo tất cả
phong tục tập
quán của chủ
nhân, sinh hoạt
rất là dung hợp.
Ðại Thánh Khổng
Tử và Á Thánh
Mạnh Tử của
Trung Quốc đối
với học trò nói
rằng:
"Nhập quốc vấn
sở
Nhập hương vấn
tục".
Bên
trong việc nhà
có quan hệ đối
với chủ nhân,
bên ngoài có
quan hệ lợi ích
đối với địa
phương, đều tận
tâm tận sức làm
tất cả những
việc có ích cho
mọi người. Lại
đều thọ được sự
lợi ích nghiệp
thanh tịnh của
Bồ Tát chiêu
cảm, mà phát huy
trí lực tài năng
vốn có, học tập
kỹ thuật và đủ
thứ nghề nghiệp
.v.v...tinh tấn
như vậy, và đều
có biểu hiện hơn
người. Lại khéo
hiểu ý chủ nhân,
bất cứ việc lớn
nhỏ, không làm
cho chủ nhân
phiền hà, tất cả
đều cung phụng
hầu hạ chu toàn,
khiến cho trong
tâm của chủ nhân
rất hoan hỉ mà
còn phóng tâm.
Bấy
giờ, Bồ Tát đem
các căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tâm điều
thuận, ở chỗ tất
cả chư Phật, tu
tập căn lành.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
tuỳ thuận cúng
dường tất cả chư
Phật, nơi chỗ
Phật nói, đều
nghe và thọ trì.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được Phật nhiếp
thọ, thường quán
Như Lai, càng
không có niệm
nào khác. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh không hư
hoại giống Phật,
siêng tu tất cả
thuận theo căn
lành của Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường siêng
cúng dường tất
cả chư Phật,
không có lúc nào
trôi qua lãng
phí. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh nhiếp trì
tất cả diệu
nghĩa của chư
Phật, lời lẽ
biện luận thanh
tịnh, du hành
không sợ hãi.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường ưa thích
thấy Phật, tâm
không nhàm đủ, ở
chỗ chư Phật
không tiếc thân
mạng.
Khi
Bồ Tát bố thí
đồng bộc, đồng
thời đem đủ thứ
căn lành của
Ngài tu tập, đối
với chúng sinh
hồi hướng như
vầy: Ngài nói
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều thân
tâm bình an, sáu
căn điều thuận,
chẳng có phiền
não tạp niệm
vọng tưởng, dùng
tâm tự tại thanh
tịnh nhất, ở tại
đạo tràng của
chư Phật, tu học
Phật pháp, làm
đủ thứ công
việc, tích tụ
căn lành công
đức. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, chân tâm
thành ý, tuỳ
sức, tuỳ phần,
tuỳ thời, cúng
dường chư Phật,
đối với chánh
pháp của chư
Phật nói, Tam
Tạng Mười Hai Bộ
Kinh điển, đều y
giáo phụng hành,
xử sự cách vật,
trong ngoài nhất
chí, thọ nơi
tâm, trì nơi
thân. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được quang
minh của chư
Phật nhiếp thọ,
luôn luôn quán
tưởng tướng tốt
trang nghiêm,
phước đức viên
mãn, tinh thần
từ bi cứu đời
của chư Phật,
ngoại trừ tư
tưởng nầy ra,
không có tư
tưởng nào khác,
chỉ một lòng nhớ
nghĩ đến chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đừng sinh
tâm ác, làm các
điều lành, phát
tâm bồ đề, không
hư hoại giống
tánh Phật. Siêng
tu tất cả chánh
pháp của chư
Phật nói, thuận
theo tâm ý tích
tập căn lành của
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thường
siêng cúng dường
chư Phật, Pháp
và Tăng, đừng có
lúc cúng lúc
không, phải có
tâm hằng thường,
cúng dường Tam
Bảo công đức
không tổn hại.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, có chánh
niệm suy gẫm
chánh pháp diệu
nghĩa của chư
Phật nói, nhiếp
thọ tu trì tất
cả chánh pháp,
lời lẽ thanh
tịnh, hoằng
dương chánh pháp
của chư Phật, du
hành mười phương
đều không sợ
hãi. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, lúc nào
cũng hoan hỉ
thấy được từ bi
tướng tốt trang
nghiêm của Phật,
vĩnh viễn không
bao giờ có tâm
biết đủ, càng
không sinh tâm
nhàm lìa. Ở tại
đạo tràng của
Phật, tất cả sự
việc trong ngoài
lớn nhỏ, đều
thấy có trách
nhiệm của mình
trong đó, tuyệt
đối không sợ
gian nan khó
khăn. Như gặp sự
việc nguy hiểm
của Phật giáo
phát sinh, vì
bảo vệ Phật
giáo, không tiếc
thân mạng, quyết
tâm đấu tranh
bảo vệ đến cùng.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thấy
chư Phật, tâm
chẳng nhiễm
trước, lìa sự
nương tựa của
thế gian. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, chỉ quy y
với Phật, vĩnh
viễn lìa khỏi sự
quy y của tất cả
tà giáo. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, tuỳ thuận
Phật đạo, tâm
thường ưa thích
quán sát Phật
pháp vô thượng.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí đồng bộc. Vì
khiến cho chúng
sinh xa lìa bụi
trần dơ bẩn,
tịnh trị cõi
Phật, được thấy
thân tự tại của
Như Lai.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, có đủ
phước báo, có
căn lành thấy
được các Ðức
Phật, trong tâm
rốt ráo thanh
tịnh, chẳng có
tơ hào nhiễm ô,
lìa khỏi hết
thảy tất cả mao
bệnh chấp trước
của thế gian.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, có trí huệ
biện rõ chánh
tà, biết Phật
mới là nơi quy y
chân chánh, cho
nên chỉ quy y
với Phật, vĩnh
viễn lìa khỏi
tất cả tà ma dị
luận. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thấu đạt
nghĩa lý của các
pháp, tuỳ thuận
đạo lý của Phật
nói, thường ưa
thích quán sát
các pháp, chẳng
có ngừng nghỉ,
thấu hiểu các
pháp không
tướng, thành tựu
đạo quả Phật
pháp vô thượng.
Ðó là hồi hướng
đủ thứ căn lành
của đại Bồ Tát
tu tập, khi Ngài
bố thí đồng bộc
cho các Ðức
Phật, Bồ Tát,
hàng Thánh nhị
thừa, đại thiện
tri thức, cha
mẹ, cùng với các
chúng sinh nghèo
khổ côi cút
.v.v...Vì khiến
cho chúng sinh
xa lìa tất cả sự
nhiễm ô bụi
trần, thanh tịnh
trị học pháp môn
thành Phật, đạt
đến quả vị Phật,
có thể hiển hiện
thân thanh tịnh
tự tại như Phật,
giáo hoá chúng
sinh.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
dùng thân bố thí
cho những người
đến xin, khi bố
thí sinh tâm
khiêm tốn. Sinh
tâm như đất.
Sinh tâm nhẫn
thọ các sự khổ
chẳng biến động.
Sinh tâm cung
cấp hầu hạ chúng
sinh không nhàm
mỏi. Sinh tâm
đối với chúng
sinh như mẹ
hiền, hết thảy
các điều lành,
đều hồi hướng
cho. Sinh tâm
nơi các chúng
sinh ngu si,
gian hiểm, cực
ác, đủ thứ sự
xâm lăng, đều
khoang dung, an
trụ nơi căn
lành, tinh tấn
chuyên cần phục
vụ cho chúng
sinh.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát lại dùng
thân của mình bố
thí cho những
người đến cầu
xin. Khi Ngài bố
thí thân mình,
đối với người
xin, trong tâm
Ngài sinh ra tâm
khiêm cung hoà
nhã, chẳng có
khí chất ngạo
mạn. Lại sinh
tâm giống như
đất, dung được
vạn vật, chẳng
màng dơ sạch.
Hay sinh ra vạn
vật, chẳng lựa
sang hèn, hay
chở vạn vật,
chẳng phân biệt
thương ghét. Tâm
bình đẳng từ ái
giống như đất là
như vậy. Lại
sinh tâm nhẫn
thọ các sự thống
khổ, tuyệt đối
không biến động
thối chuyển. Lại
sinh tâm vì
chúng sinh mà
phục vụ, cung
cấp hầu hạ chúng
sinh, tuyệt đối
không sinh tâm
mệt nhọc lười
mỏi. Lại sinh
tâm đối với tất
cả chúng sinh,
như mẹ hiền
thương yêu con
cái, đem đủ thứ
căn lành của
mình tích tập,
hoàn toàn hồi
hướng cho họ.
Lại sinh tâm đối
với những chúng
sinh ngu si,
gian hiểm, cực
ác, họ đối với
người làm ác,
xâm lăng, lừa
dối, áp bức, đủ
thứ hành vi hung
ác, Bồ Tát đều
tha thứ cho họ,
chẳng trách họ.
Bồ Tát vẫn an
trụ nơi căn
lành, tinh tấn
phục vụ cho
chúng sinh.
Bấy
giờ, Bồ Tát đều
đem căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
tuỳ theo vật họ
cần, thường
không thiếu
thốn. Tu hạnh Bồ
Tát, luôn không
gián đoạn, chẳng
xả bỏ tất cả
nghĩa lợi của Bồ
Tát. Khéo trụ
nơi đạo của Bồ
Tát hành. Thấu
đạt pháp tính
bình đẳng của Bồ
Tát. Ðược ở
trong số chủng
tộc của Như Lai.
Trụ nơi lời lẽ
chân thật, giữ
hạnh Bồ Tát,
khiến cho các
thế gian được
Phật pháp thanh
tịnh. Tâm tin
hiểu thâm sâu,
chứng được pháp
rốt ráo, khiến
cho các chúng
sinh, sinh ra
tăng trưởng căn
lành thanh tịnh,
trụ nơi công đức
lớn, đầy đủ nhất
thiết trí.
Khi
Bồ Tát phát
nguyện dùng thân
mình bố thí cho
chúng sinh, Ngài
lại đem đủ thứ
căn lành tu tập
vì chúng sinh
hồi hướng: Ngài
nói, tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, tuỳ theo
tất cả vật tư
sinh mà họ cần
dùng, trong đời
sống hằng ngày,
đều không thiếu
thốn. Ðời đời
kiếp kiếp, nơi
nơi chốn chốn,
một sát na đều
không gián đoạn
tu hạnh môn của
Bồ Tát, làm công
việc của Bồ Tát
làm từ bi giáo
hoá tế độ chúng
sinh, vĩnh viễn
không dừng lại
giữa đường, cũng
không xả bỏ tất
cả nghĩa vụ của
Bồ Tát, lợi ích
chúng sinh, càng
không trái với
tâm ý và tông
chỉ thân làm Bồ
Tát. Khéo an trụ
nơi phạm vi đạo
lý của Bồ Tát
làm, mọi việc
đều hợp với tâm
lý của chúng
sinh, hợp với sự
lợi ích. Lại
thông đạt pháp
Bồ Tát là oán
thân bình đẳng,
từ bi chúng
sinh, chẳng sinh
tâm phân biệt,
phải có sự pháp
tánh bình đẳng
về lối nhìn. Có
những ưu điểm
vừa nói ở trên,
thì có thể được
sinh ở trong
chủng tộc của
Phật. Phải
thường trụ trong
sự chân thành,
có tâm chân thật
trung hậu, nói
lời thành thật,
khiến cho nghiệp
ý, nghiệp lời,
đều thanh tịnh.
Tu pháp môn của
Bồ Tát tu, hành
trì chánh nghiệp
của Bồ Tát hành,
thì thân cũng
thanh tịnh. Bồ
Tát hy vọng mỗi
chúng sinh đều
có biểu hiện như
vậy, thì sẽ cảm
chiêu được người
khác, do đó
khiến cho tất cả
thế gian đều trở
thành cõi nước
thanh tịnh, đắc
được Phật pháp
thanh tịnh, đều
minh bạch được
nghĩa lý của
chánh pháp. Tất
cả chúng sinh
cũng đều đối với
Phật pháp có sự
tin hiểu thâm
sâu thân thiết,
cuối cùng đều
chứng ngộ đạo lý
chân thật của
chánh pháp.
Khiến cho tất cả
chúng sinh đều
sinh tâm thanh
tịnh, khai mở
đại trí huệ,
tăng trưởng căn
lành vô thượng.
Trụ ở trong biển
công đức lớn,
đầy đủ viên mãn
nhất thiết chủng
trí.
Lại
đem căn lành
nầy, khiến cho
tất cả chúng
sinh thường cúng
dường các Ðức
Phật, hiểu tất
cả các pháp, thọ
trì đọc tụng,
không quên không
mất, không hoại
không tán. Tâm
khéo điều phục,
không điều khiến
cho điều. Dùng
pháp vắng lặng
mà điều tập.
Khiến cho chúng
sinh đó ở chỗ
các Ðức Phật,
trụ nơi việc như
vậy. Lại đem căn
lành nầy, khiến
cho tất cả chúng
sinh làm tháp
bậc nhất, đáng
thọ đủ thứ sự
cúng dường của
thế gian. Khiến
cho tất cả chúng
sinh trở thành
ruộng phước tối
thượng, đắc được
trí huệ của Phật
khai ngộ tất cả.
Khiến cho tất cả
chúng sinh làm
kẻ thọ tối
thượng, khắp lợi
ích tất cả chúng
sinh. Khiến cho
tất cả chúng
sinh trở thành
phước lợi tối
thượng, hay
khiến cho đầy đủ
tất cả căn lành.
Bồ
Tát lại đem đủ
thứ căn lành của
Ngài tu tập, hồi
hướng cho tất cả
chúng sinh,
khiến cho chúng
sinh luôn luôn
cúng dường mười
phương các Ðức
Phật. Hiểu rõ
tất cả chánh
pháp, lãnh thọ
chánh pháp, tu
trì chánh pháp,
đọc tụng Tam
Tạng mười hai bộ
Kinh điển đại
thừa. Vĩnh viễn
chẳng quên, vĩnh
viễn không thất
lạc, vĩnh viễn
không bị người
phá hoại niềm
tin, tâm mình
cũng vĩnh viễn
không tán loạn.
Tâm ý thường rất
vắng lặng, chẳng
có tư tưởng tạp
loạn. Nếu sáu
căn chạy bên
ngoài không điều
thuận, thì khiến
cho nó điều
phục, dùng sự
vắng lặng tu
thiền định để
điều tập nó.
Khiến cho những
chúng sinh cang
cường khó điều
phục, ở trong
đạo tràng Phật
giáo cũng học
tập pháp vắng
lặng nầy-ngồi
thiền tu định.
Bồ Tát lại dùng
căn lành thân
mình làm đồng
bộc, hồi hướng
cho chúng sinh,
khiến cho họ làm
bảo tháp bậc
nhất trên thế
gian, đáng tiếp
thọ đủ thứ sự
cúng dường của
tất cả chúng
sinh trên thế
gian. Lại khiến
cho tất cả chúng
sinh trở thành
ruộng phước tốt
nhất-thành Phật
rồi là ruộng
phước tối thượng
của thế gian,
đắc được trí huệ
như Phật, khai
đại ngộ minh
bạch tất cả sự
và lý trên thế
gian, cũng minh
bạch pháp xuất
thế mới là pháp
chân lý chân
chánh. Lại khiến
cho tất cả chúng
sinh làm kẻ thọ
tối cao vô
thượng-như Ðức
Phật tiếp thọ
tất cả lễ tán
cúng dường, cũng
khắp lợi ích tất
cả chúng sinh.
Lại khiến cho
tất cả chúng
sinh trở thành
phước đức bậc
nhất tối cao vô
thượng, lại hay
lợi ích tất cả
chúng sinh-giống
như Ðức Phật,
hay khiến cho
tất cả chúng
sinh đều viên
mãn đầy đủ tất
cả căn lành.
Khiến
cho tất cả chúng
sinh trở thành
nơi bố thí tốt
bậc nhất, hay
khiến cho đắc
được vô lượng
phước báo. Khiến
cho tất cả chúng
sinh ở trong ba
cõi, đều được
thoát khỏi.
Khiến cho tất cả
chúng sinh làm
đạo sư bậc nhất,
vì thế gian mà
mở bày đạo như
thật. Khiến cho
tất cả chúng
sinh được diệu
tổng trì, trì
đầy đủ tất cả
chánh pháp của
chư Phật. Khiến
cho tất cả chúng
sinh chứng được
vô lượng pháp
giới bậc nhất,
đầy đủ chánh đạo
hư không vô
ngại.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát bố thí thân
mình, vì khiến
cho chúng sinh
đều được ứng
cúng vô lượng
trí thân.
Bồ
Tát lại nguyện
khiến cho chúng
sinh trở thành
kẻ ưa thích bố
thí bậc nhất thế
gian, vì thường
hành bố thí, cho
nên sẽ đắc được
vô lượng vô biên
phước báo. Lại
nguyện khiến cho
tất cả chúng
sinh, biết ba
cõi như nhà lửa,
biết quy y Phật
đạo, tuỳ theo sự
lãnh đạo của Bồ
Tát, để thoát
khỏi ba cõi. Lại
khiến cho chúng
sinh, làm đạo sư
bậc nhất trong
ba cõi-giống như
Ðức Phật vì tất
cả chúng sinh
thế gian, tuyên
nói chỉ bày đạo
lý chân như thật
tướng. Lại khiến
cho chúng sinh,
đắc được pháp
môn tổng trì
thâm sâu vi
diệu, biết rõ lý
chân không diệu
hữu của tất cả
các pháp, trì vô
lượng nghĩa,
chẳng bỏ chánh
pháp, tu trì đầy
đủ tất cả chánh
pháp của mười
phương chư Phật.
Lại khiến cho
chúng sinh,
chứng được vô
lượng pháp giới
huyền môn bậc
nhất, viên mãn
đầy đủ chánh
pháp chánh đạo
không chướng
ngại như hư
không. Ở trên là
hồi hướng đủ thứ
căn lành của đại
Bồ Tát tu tập.
Vì hy vọng chúng
sinh đều chứng
được Phật quả,
thọ trời người
cúng dường,
thành tựu thân
trí huệ vô
lượng.
Các
vị thiện tín !
Các vị hãy nghĩ
xem, làm Bồ Tát
là dễ, hay là
không dễ ? Tinh
thần cảnh giới
của Bồ Tát, xả
bỏ thân thịt
xương cốt
.v.v...bố thí
nội tài, và đất
nước vợ con bảy
báu .v.v...bố
thí ngoại tài,
không dễ làm
được. Vì con
người xem xả bỏ
tiền như lóc
thịt; nhưng lóc
xương đầu còn
khó hơn so với
xả thân làm nô
bộc. Nếu chúng
ta có thể ở bất
cứ nơi nào cũng
không chiếm tiện
nghi, cử chỉ
hành động đều
phát tâm từ bi,
chẳng có ý niệm
tham sân si,
hoàn toàn nghĩ
về người khác,
đó tức là Bồ Tát
sống, đó chẳng
phải rất dễ làm
chăng ? Song,
một số người
việc dễ mà không
làm, việc khó
càng không làm
được. Các vị nói
Bồ Tát có đáng
thương hay
không? Phát trăm
ngàn vạn nguyện
lớn, xả bỏ đầu
mắt tuỷ não,
công đức hoàn
toàn hồi hướng
cho chúng sinh,
Ngài ngày ngày
hy vọng, thời
thời hy vọng
chúng ta thọ
được lợi ích của
Ngài hồi hướng
căn lành, thành
Phật thành
Thánh. Vậy mà
chúng ta vẫn ưa
thích ở trong
nhà lửa ba cõi,
lưu chuyển ở
trong biển khổ
thế gian, các vị
nói Bồ Tát có
thương tâm hay
chăng ? Song,
Ngài tuyệt đối
chẳng thối tâm,
vẫn cứu độ chúng
sinh, giáo hoá
chúng sinh, đem
sinh mạng tài
sản bố thí cho
chúng sinh, đem
căn lành công
đức hồi hướng
cho chúng sinh,
hy vọng chúng
sinh thành Phật,
thành Thánh,
thành tổ sư.
Các
vị ! Nếu có phụ
nữ đã từng làm
mẹ, thì bạn có
thể thể nghiệm
tâm của Bồ Tát,
giống như tâm
của các vị đối
với con cái. Mỗi
người phụ nữ làm
mẹ, đều lo cho
con cái, tất cả
đều làm hết lòng
hết sức vì con
cái, chỉ vì muốn
cho con cái được
lợi ích. Khi con
cái còn ở trong
bụng mẹ, thì
người mẹ đã bắt
đầu lập kế
hoặch, đặc niềm
hy vọng trong
tương lai, tất
cả đều mỹ mãn
đầy đủ, thông
minh tài trí hơn
người, vinh hiển
dòng dõi. Và lúc
con cái ra đời,
làm mẹ nghe
tiếng con khóc
oa oa cất tiếng
chào đời, lại
nhìn thấy mặt
mày con cái,
trong sát na
thống khổ đó,
mười tháng mang
thai gian nan
khổ sở, đủ thứ
cực nhọc không
thể hình dung
được, khi người
mẹ nghe đến
tiếng con khóc
chào đời thì đều
quên hết. Từ đó
nuôi nấng con
cái, cầu thần
lạy Phật, đốt
hương khấn
nguyện, hy vọng
con cái mạnh
khoẻ không bệnh
tật, mau chóng
lớn thành người.
Có người lớn lên
không cô phụ sự
hy vọng của cha
mẹ, cả nhà hạnh
phúc vui vẻ. Có
những người ngỗ
nghịch bất hiếu,
đánh cha mắng
mẹ, làm những
điều không tốt
liên luỵ đến cha
mẹ. Nhưng người
mẹ vẫn thương
yêu con cái,
không thất vọng,
cảm thấy con cái
của mình tốt hơn
bất cứ con cái
nhà nào. Các vị,
đó tức là tâm từ
của mẹ hiền !
Tâm
Bồ Tát đối với
chúng sinh cũng
giống như tâm
người mẹ đối với
con cái. Ðức
Phật nói ân của
cha mẹ khó báo
đền, ân của Bồ
Tát đối với
chúng ta, làm
thế nào có thể
báo đáp một
trong vạn phần !
Mỗi người tu học
Phật đạo, phải
luôn luôn đừng
quên ân đức sâu
nặng ! Bất luận
là đệ tử Phật
tại gia hay xuất
gia, lấy từ bi
làm đầu, khoang
dung nhân hậu
đối đãi với mọi
người. Nếu chỗ
cơ sở học Phật
nầy làm không
tốt, thì e rằng
trên con đường
bồ đề không dễ
gì ấn vết chân
của bạn xuống
được !
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát nghe pháp
hoan hỉ vui
mừng, sinh niềm
tin thanh tịnh.
Có thể dùng thân
của Ngài cúng
dường chư Phật.
Vui mừng tin
hiểu Pháp Bảo vô
thượng. Ở chỗ
chư Phật sinh tư
tưởng như cha
mẹ, đọc tụng thọ
trì đạo pháp vô
ngại, vào khắp
vô số Na do tha
pháp. Ðại trí
huệ bảo, các môn
căn lành, tâm
thường nhớ niệm
vô lượng chư
Phật. Vào cảnh
giới của Phật,
thông đạt nghĩa
lý thâm sâu. Hay
dùng phạm âm vi
mật của Như Lai,
nổi mây Phật
pháp, mưa Phật
pháp vũ, dũng
mãnh tự tại, có
thể phân biệt
nói bậc đệ nhất
nhất thiết trí.
Ðầy đủ thành tựu
thừa Tát Bà Nhạ.
Dùng vô lượng
trăm ngàn ức Na
do tha đại pháp,
để thành tựu
viên mãn các
căn.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát nghe nói
về Phật pháp vi
diệu, thì thật
là pháp hỉ tràn
đầy, lập tức
sinh khởi niềm
tin thanh tịnh.
Bồ Tát có thể
dùng thân của
mình cúng dường
chư Phật, thừa
sự tất cả Phật
sự. Ngài dùng
tâm hoan hỉ tin
sâu ngộ hiểu
Pháp Bảo vô
thượng đã nói
ra. Ngài đến chỗ
của mỗi vị Phật,
thấy được Phật,
thì trong tâm
cảm giác giống
như được thấy
cha mẹ của mình.
Do đó đủ biết Bồ
Tát coi trọng
việc thấy Phật
nghe pháp, mà
chúng ta thân
làm phàm phu tục
tử, như nay được
thấy Phật nghe
pháp, mà chẳng
sinh tư tưởng
được chưa từng
có ! Bồ Tát cũng
ưa thích đọc
tụng các Kinh
điển đại thừa
của Phật nói,
càng thành khẩn
thực tiễn tâm
thọ thân trì, y
giáo phụng hành
pháp đạo vô ngại
trong các Kinh
điển. Khắp
nghiên cứu thâm
nhập vô lượng vô
số các pháp. Ðắc
được đại trí
huệ, vào các
pháp bảo tạng,
thành tựu các
môn căn lành.
Trong tâm của
Ngài luôn luôn
nghĩ nhớ mười
phương chư Phật,
vào nơi cảnh
giới của Phật,
thông đạt nghĩa
lý chân thật của
tất cả các pháp.
Có thể dùng phạm
âm thanh tịnh
giống như Phật,
nơi mười phương
thế giới nổi mây
pháp lớn, mưa
pháp vũ lớn,
đánh trống pháp
lớn, chuyển bánh
xe pháp, vì
chúng sinh diễn
nói diệu pháp.
Bồ Tát dũng mãnh
không sợ hãi
nhậm vận tự như,
làm sư tử hống,
phân biệt môn
loại, đối với
chúng sinh diễn
nói bậc trí
trong mười
phương ba
đời-chư Phật,
các đại Bồ Tát,
các đại thiện
tri thức
.v.v...cho nên
các Ngài trở
thành bậc nhất
trong thế gian,
đến được quả vị
cao nhất, phải
có đủ những nhân
tố. Các Ngài đều
đã từng trải qua
ba A tăng kỳ tu
phước huệ, trăm
kiếp trồng tướng
tốt, viên mãn
sáu độ vạn hạnh,
mới đầy đủ thành
tựu thừa Tát bà
nhạ-tức là rốt
ráo viên mãn trí
huệ quả vị Phật,
đủ thứ phẩm loại
thế xuất thế
gian, trí huệ
chẳng có gì mà
không hiểu đại
Thánh Phật đạo.
Trí huệ đó từ
trong vô lượng
trăm ngàn ức Na
do tha pháp lớn,
mới có thể tu
đến viên mãn đầy
đủ các căn lành.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
ở chỗ các Ðức
Phật, nghe pháp
như vậy, hoan hỉ
vô lượng, an trụ
trong chánh
pháp, tự đoạn
trừ nghi hoặc,
cũng khiến cho
người khác đoạn
trừ, tâm luôn
luôn vui vẻ thư
thái, công đức
thành tựu viên
mãn, căn lành
đầy đủ. Ý luôn
luôn tương tục,
lợi ích chúng
sinh. Tâm thường
không thiếu
thốn, đắc được
trí huệ tối
thắng, thành kim
cang tạng, gần
gũi các Ðức
Phật, thanh tịnh
cõi nước chư
Phật, thường
siêng cúng dường
tất cả Như Lai.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát ở tại đạo
tràng của các
Ðức Phật mười
phương ba đời,
lắng nghe diệu
pháp thâm sâu vô
thượng, tâm sinh
vô lượng hoan
hỉ, an nhiên trụ
ở trong chánh
pháp, vĩnh viễn
không sinh tâm
thối chuyển.
Những nghĩa lý
Kinh điển trong
quá khứ không
minh bạch và có
chỗ hoài nghi,
một khi nghe đến
các Ðức Phật
khai thị, bèn
khoát nhiên
thông đạt, dứt
trừ hết thảy
nghi hoặc rồi,
đồng thời cũng
khiến cho tâm
người khác còn
chỗ nghi ngờ,
cũng được thông
đạt vô ngại. Do
đó, trong tâm
thường thường
vui vẻ thư thái,
tất cả công đức
cũng rất thuận
lợi thành tựu
viên mãn, căn
lành tu được
cũng đầy đủ. Tâm
ưa thích nghe
thấy pháp đó vẫn
liên tục không
dứt, chẳng có
tâm tự mãn, cũng
chẳng sinh ra
tâm cống cao ngã
mạn, cảm thấy
tôi đã thấu hiểu
không hoài nghi,
chẳng cần nghe
nữa. Bồ Tát nghe
pháp lợi mình
tâm không thôi
nghỉ, mà tâm lợi
ích chúng sinh
thường cũng
không thiếu
khuyết. Bồ Tát
tự tu và lợi
tha, và thường
lấy mục đích vì
chúng sinh mà tu
hành làm đầu,
cho nên Ngài hay
đắc được trí huệ
thù thắng, thành
tựu thân thể kim
cang tạng kiên
cố. Lại thường
hay gần gũi chư
Phật, trang
nghiêm cõi nước
của các Ðức
Phật, thường
siêng cúng dường
mười phương các
Ðức Phật.
Bấy giờ, Bồ Tát
đem các căn lành
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều được
thân viên mãn
tối thắng, được
tất cả các Ðức
Phật nhiếp thọ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường gần gũi
các Ðức Phật,
nương các Ðức
Phật mà ở, luôn
được hầu cận
ngưỡng mộ, chưa
từng xa lìa.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều được thân
thanh tịnh không
hoại, đầy đủ tất
cả công đức trí
huệ. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thường
siêng cúng dường
tất cả các Ðức
Phật, thực hành
phạm hạnh được
chỗ rốt ráo.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân không
còn cái ta, lìa
cái ta và của
ta. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh có thể phân
thân khắp mười
phương cõi nước,
giống như hình
ảnh hiện mà
không đến đi.
Lúc đó Bồ Tát
đem đủ thứ căn
lành của Ngài
tu, hồi hướng
cho chúng sinh
như vầy: Ngài
nói tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được thân viên
mãn thù thắng,
được các Ðức
Phật mười phương
nhiếp thọ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thường
được gần gũi các
Ðức Phật, nương
vào các Ðức Phật
mà ở, được các
Ðức Phật che chở
bảo hộ. Luôn
được hầu cận các
Ðức Phật, chiêm
ngưỡng biển
phước đức trí
huệ của các Ðức
Phật, không muốn
xa lìa. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều đắc được
thân thanh tịnh
không hoại, đầy
đủ các thứ trí
huệ và vô lượng
công đức. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
luôn luôn ân cần
cúng dường các
Ðức Phật, không
bao giờ gián
đoạn, cũng không
chấp trước vào
tướng cúng
dường, hoặc có
sự cầu xin. Thực
hành chỗ vô sự,
hoàn toàn xuất
phát từ tâm chân
thành thanh
tịnh. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được thân
không có cái ta,
chẳng chấp trước
thân ta và tướng
cái ta, xả lìa
chấp trước cái
ta và của ta.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được thần
thông có thể
phân thân khắp
mười phương cõi
nước tuỳ ý mà
đến, tự tại ảnh
hiện mà chẳng có
đến đi. Giống
như:
"Phi điểu hành
không bất kiến
ngân,
Trừu đao đoạn
thuỷ thuỷ nãi
lưu".
Nghĩa là:
Chim bay trên
trời chẳng thấy
dấu
Rút đao chém
nước nước vẫn
chảy.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân tự
tại, đến khắp
mười phương,
không có cái ta
và không có thọ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh từ
thân Phật sinh,
ở tại thân nhà
vô thượng của
Như Lai. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thân
pháp lực, sức
nhẫn nhục lớn
không thể hoại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân không
gì sánh bằng,
thành tựu pháp
thân thanh tịnh
của Như Lai.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thành tựu thân
công đức xuất
thế, sinh vào
thế giới thanh
tịnh không chỗ
đắc được. Ðó là
hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát dùng thân
cúng Phật. Vì
khiến cho chúng
sinh vĩnh viễn
trụ ở trong nhà
của các Ðức Phật
ba đời.
Bồ Tát lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được ý sinh thân
nhậm vận tự tại,
đến khắp mười
phương thế giới
giáo hoá chúng
sinh, chẳng có
tư tưởng chấp
cái ta và cái ta
thọ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, giống như
từ trong thân
Phật sinh ra.
Trong Kinh Pháp
Hoa Phẩm Ví Dụ
Thứ Ba có mấy
câu Kinh văn là:
Xá Lợi Phất nghe
Phật nói pháp
chưa từng có
rồi, Ngài dứt
trừ tất cả nghi
hối, thân tâm
thái nhiên nói:
"Ngày hôm nay
mới biết thật là
Phật tử, từ
miệng Phật sinh
ra, từ pháp hoá
sinh, được phần
Phật pháp". Vì
Phật tử siêng tu
các pháp môn,
viên mãn lục độ,
đầy đủ tất cả
căn lành công
đức, tự nhiên
đều thường cùng
ở với Phật,
tương lai nhất
định sẽ thành
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tại
nhân địa tu hành
công hạnh viên
mãn, chứng được
pháp thân đồng
với hư không.
Sức nhẫn nhục
sinh ra trong vô
hình, bất cứ vật
gì cũng phá hoại
không được tâm
của Ngài. Dù huỷ
hoại được thân
hình của Ngài,
nhưng tinh thần
của Ngài vẫn tồn
tại. Tục ngữ có
nói, người nào
đó tinh thần bất
tử, tức là nói
hạnh lành mỹ đức
của họ vĩnh viễn
lưu lại trong
tâm của họ. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được thân
tốt đẹp nhất,
trên thế gian
không có thân
người nào so
sánh được, mà
còn thành tựu
pháp thân thanh
tịnh giống như
Phật, có thể
khắp mọi nơi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, tu hành
viên mãn lục độ
vạn hạnh, thành
tựu công đức
xuất thế, chứng
được ba thân
mười thân,
thường trụ nơi
pháp giới thanh
tịnh của chư
Phật không chỗ
đắc được-cõi
Tịnh độ Thường
Tịch Quang. Ðó
là hồi hướng cho
chúng sinh các
thứ căn lành
tích tụ của đại
Bồ Tát, Ngài
dùng thân cúng
dường các Ðức
Phật, vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh vĩnh
viễn an trụ ở
trong nhà của
các Ðức Phật
mười phương ba
đời.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát dùng thân bố
thí cho tất cả
chúng sinh, vì
muốn khiến cho
khắp tất cả đều
thành tựu căn
lành, nghĩ nhớ
căn lành. Ðại Bồ
Tát tự nguyện
thân của mình
làm đèn sáng
lớn, chiếu sáng
khắp tất cả
chúng sinh. Làm
các nhạc cụ,
nhiếp thọ khắp
tất cả chúng
sinh. Làm tạng
diệu pháp, nhậm
trì khắp tất cả
chúng sinh. Làm
quang minh thanh
tịnh, khai sáng
khắp tất cả
chúng sinh. Làm
quang ảnh thế
gian, khắp khiến
cho chúng sinh
thường được
thấy. Làm nhân
duyên căn lành,
khắp khiến cho
chúng sinh
thường được gặp.
Làm chân thiện
tri thức, khiến
cho tất cả chúng
sinh đều được
dạy dỗ. Làm con
đường bằng
phẳng, khiến cho
tất cả chúng
sinh đều được đi
trên con đường
đó. Làm người
đầy đủ an lạc
bậc nhất, khiến
cho tất cả chúng
sinh được lìa
khổ thanh tịnh.
Làm mặt trời
trong sáng, khắp
làm lợi ích bình
đẳng thế gian.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát dùng thân
của Ngài bố thí
cho tất cả chúng
sinh, mục đích
của Ngài là muốn
khiến khắp cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
căn lành tu hành
của họ, và
thường nghĩ nhớ
căn lành tích tụ
thuở xưa. Ðại Bồ
Tát, Ngài cũng
nguyện Ngài trở
thành cái đèn
lớn chiếu sáng,
chiếu khắp chúng
sinh mười phương
thế giới, vì họ
phá trừ đen tối,
tiếp nhận ánh
sáng. Lại nguyện
trở thành nhạc
cụ mà chúng sinh
vui thích, dùng
tiếng nhạc hay,
nhiếp khắp tất
cả chúng sinh,
khiến cho họ đều
cảm nhận được
pháp nhạc vô
thượng. Lại hy
vọng trở thành
bảo tạng chánh
pháp vi diệu,
lãnh đạo khắp
tất cả chúng
sinh, vào sâu
diệu pháp tạng
Kinh. Lại hy
vọng mình trở
thành quang minh
trí huệ thanh
tịnh, khắp vì
chúng sinh diễn
nói diệu pháp,
khai thị nghĩa
lý chân thật của
diệu pháp. Lại
hy vọng trở
thành quang và
ảnh của thế
gian, khắp khiến
cho tất cả chúng
sinh thường
thường thấy được
quang ảnh, vĩnh
viễn chẳng bị
hiểm ách đen
tối. Lại hy vọng
có thể làm nhân
duyên căn lành
của chúng sinh,
khắp khiến cho
chúng sinh
thường thấy được
nhân duyên căn
lành nầy, mà
tích tụ các thứ
căn lành. Lại hy
vọng mình có thể
làm bậc thiện
tri thức chân
chánh có đại trí
huệ, dạy dỗ
chúng sinh, lãnh
đạo chúng sinh,
khiến cho chúng
sinh đều thọ
được lợi ích.
Lại hy vọng mình
giống như con
đường lớn bằng
phẳng, khiến cho
tất cả chúng
sinh đều đi trên
con đường đó
bình an. Lại hy
vọng mình trở
thành người an
lạc bậc nhất
trên thế gian,
đầy đủ nhất
thiết trí huệ,
có thể tiếp dẫn
chúng sinh lìa
khổ được vui,
minh bạch tất cả
thế gian là khổ,
không, vô
thường, đạt đến
cảnh giới thanh
tịnh vô vi. Lại
hy vọng mình
giống như ánh
sáng trong sáng
của mặt trời,
lợi ích khắp tất
cả thế gian,
bình đẳng bố thí
cho tất cả chúng
sinh thế gian.
Bấy giờ, Bồ Tát
đem các căn lành
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thường gần
gũi Phật, vào
bậc trí huệ của
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được trí
huệ tuỳ thuận,
trụ vô thượng
giác. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thường ở
nơi pháp hội của
Phật, ý khéo
điều phục.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
làm gì đều có
pháp tắc, đủ oai
nghi của Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều được Niết
Bàn, hiểu sâu
nghĩa của pháp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh đủ
hạnh tri túc,
sinh vào nhà Như
Lai. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh xả bỏ tham
dục vô minh, trụ
nơi chí lạc của
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, sinh căn
lành thù thắng,
ngồi dưới cội bồ
đề. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh giết tặc
phiền não, lìa
tâm oán hại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đầy đủ hộ trì
tất cả Phật
pháp.
Vị đại Bồ Tát đó
dùng thân bố thí
cho tất cả chúng
sinh, khi Ngài
phát những điều
nguyện ở trên
rồi, tiếp theo
Ngài đem vô
lượng căn lành
của Ngài tu tập
đối với chúng
sinh hồi hướng
như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh luôn luôn
gần gũi các Ðức
Phật, nhờ đó mà
có thể đắc được
trí huệ của
Phật, vào sâu
trong biển trí
huệ của Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh được trí
tuỳ thuận, có
thể tuỳ thuận
căn cơ của tất
cả chúng sinh,
nhiếp thọ chúng
sinh hướng về
Phật đạo, đạt
đến cảnh giới vô
thượng, vĩnh
viễn chẳng thối
chuyển. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
luôn luôn ở
trong pháp hội
của Phật, nghe
chánh pháp,
khiến cho tâm ý
thọ được sự huân
tập chánh quyết,
chẳng sinh phiền
não, chẳng bị
cảnh giới lay
chuyển, thường
trụ chánh niệm,
ý thức khéo an
nhiên điều phục.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh tâm có pháp
tắc, làm có quy
tắc, học oai
nghi của Phật,
đầy đủ ba ngàn
oai nghi, tám
vạn tế hạnh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều chứng được
Niết Bàn, hưởng
thọ được vui
vắng lặng thường
lạc ngã tịnh, vì
thấu rõ nghĩa lý
chân thật của
các pháp. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
thể lãnh thọ tri
túc đạo lý
thường lạc,
rằng:
"Tri túc thường
lạc
Năng nhẫn tự
an".
Nghĩa là:
Biết đủ thường
an vui
Nhẫn được thì
bình an.
Thông đạt và
giác ngộ đạo lý
như thế, thì
tương lai nhất
định sẽ thành
Phật, bằng không
thì không thể
nào sinh vào
trong dòng tộc
của Như Lai. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
thể xả bỏ tất cả
tham dục vô
minh. Người tin
hiểu Phật giáo
nhiều như cát
bụi, sao đến hôm
nay người thành
Phật chứng quả
có được bao
nhiêu ? Ðó là vì
chẳng có ai xả
bỏ hết tham dục
vô minh. Vô minh
thì như màng con
mắt, che lấp mất
chân tính, khiến
cho con người ở
trong đen tối
thọ tông chỉ
tham dục điên
đảo, cứ sinh
điên đảo tạo
nghiệp ác, trôi
nổi ở trong sáu
nẻo ba đường ác,
đó là vô minh
tham dục ban cho
chúng sinh cái
quả. Nếu chúng
ta chẳng nguyện
trôi nổi ở trong
sinh tử, làm nhà
trong ba đường
ác, thì phải xả
bỏ tham dục vô
minh, siêng tu
Phật đạo, chí
cầu pháp vui,
trụ lâu dài
trong an vui,
nương tựa Tam
Bảo. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh có thể sinh
ra căn lành thù
thắng, làm thế
nào mới có thể
xả bỏ vô minh
tham dục ? Ðơn
giản nhất chỉ có
mười chữ là:
"Không làm các
điều ác
Mà làm các điều
lành.
Căn cứ hai câu
nầy trên thân
miệng ý lúc nào
cũng hạ thủ công
phu, thì sẽ sinh
ra căn lành thù
thắng, tham dục
vô minh sẽ tiêu
trừ trong vô
hình, khi bạn
đầy đủ viên mãn
tất cả công đức,
thì sẽ có người
trời sẽ vì bạn
trải có cát
tường ở dưới cội
bồ đề, khi bạn
ngồi xuống cội
bồ đề sẽ thành
Đẳng Chánh Giác.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
thể giết ác tặc
phiền não, gì là
tặc phiền não ?
Làm thế nào để
giết tặc phiền
não ? Các vị: Ai
ai cũng đều có
ba tặc phiền
não, chúng tên
là tham sân si.
Chúng ta không
cần giết chúng,
chỉ chuyển biến
qua thì thành
hạt going bồ đề.
Chúng ta đối với
bất cứ sự vật gì
cũng đừng khởi
tâm tham, mà còn
làm cho sạch
hết, bố thí sạch
hết tất cả, hoàn
thành căn lành
bố thí tối
thượng. Chúng ta
đối với bất cứ
ai cũng đừng
sinh tâm sân
hận, tâm đố kị,
chuyển tâm sân
thành tâm từ bi,
tâm bình đẳng,
giúp đỡ người
hết khả năng của
mình, hoàn thành
vô lượng căn
lành cứu giúp
chúng sinh.
Chúng ta một
lòng chuyên chú
tu học chánh
đạo, chẳng sinh
tà niệm vọng
tưởng, chuyển
tâm ngu si thành
chánh tri chánh
kiến, hoàn thành
căn lành bố thí
pháp lợi người
lợi mình. Nếu tu
học được như
thế, thì tặc
phiền não sẽ
thành bồ đề, như
vậy còn có tâm
oán hận nữa
chăng ? Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được tất
cả chánh pháp,
đều có thể tu
trì tất cả chánh
pháp, cũng hộ
trì tất cả chánh
pháp và đạo
tràng của Phật.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, Ngài
dùng thân bố thí
cho tất cả chúng
sinh. Vì muốn
lợi ích cho tất
cả chúng sinh,
khiến cho họ
được nơi an ổn
vô thượng.
Ở trên là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài dung
thân bố thí cho
tất cả chúng
sinh. Mục đích
của Bồ Tát là
muốn lợi ích cho
tất cả chúng
sinh, khiến cho
họ đều đắc được
nơi lập thân lập
mạng tốt.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát tự dùng thân
của mình hầu hạ
các Ðức Phật. Ở
chỗ các Ðức
Phật, nhớ báo ân
nặng, như nghĩ
cha mẹ. Nơi các
Như Lai, khởi
niềm tin vui
sâu. Dùng tâm
thanh tịnh, hộ
Phật bồ đề, trụ
nơi pháp của các
Ðức Phật, lìa
nghĩ tưởng thế
gian, sinh vào
nhà Như Lai. Tuỳ
thuận các Ðức
Phật, lìa cảnh
giới ma. Thấu
đạt chỗ thực
hành của các Ðức
Phật, thành tựu
pháp khí của tất
cả chư Phật.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát Ngài tự
nguyện xả thân
hầu hạ các Ðức
Phật, làm tất cả
các việc. Khi
phục vụ ở trong
đạo tràng của
các Ðức Phật,
trong tâm của
Ngài nghĩ: Vì
các Ðức Phật mà
phụng sự chút
công sức, nhờ đó
mà báo đáp ân
sâu của các Ðức
Phật, giống như
báo đáp ân dưỡng
dục của cha mẹ.
Lại nghĩ đối với
các đức Như Lai,
nên sinh khởi
tâm tin chân
thành, thọ được
vui tin hiểu.
Dùng tâm thanh
tịnh nhất không
nhiễm, bảo hộ bồ
đề giác đạo của
Phật, một lòng
không hai, an
trụ ở trong tất
cả Phật pháp,
lìa khỏi tất cả
vô minh, tham
dục, tình ái, đủ
thứ si tưởng
vọng niệm không
thanh tịnh trên
thế gian. Sinh
vào trong dòng
tộc của Phật,
theo các Ðức
Phật tu tập phạm
hạnh. Xa lìa
cảnh giới tà ma
ngoại đạo. Minh
bạch tất cả hạnh
môn của các Ðức
Phật tu, thông
đạt diệu nghĩa
các pháp của các
Ðức Phật nói,
thành tựu pháp
khí của chư Phật
khen ngợi.
Bấy giờ, Bồ Tát
đem căn lành đó
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tâm
thanh tịnh, tự
trang nghiêm
nhất thiết trí
bảo. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh trụ khéo
điều phục, xa
lìa tất cả các
nghiệp bất
thiện. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được quyến
thuộc vững bền
không thể hoại,
khắp nhiếp thọ
chánh pháp của
các Ðức Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
làm đệ tử Phật,
đến bậc quán
đảnh của Bồ Tát.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường được các
Ðức Phật nhiếp
thọ, vĩnh viễn
lìa tất cả các
pháp bất thiện.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
tuỳ thuận các
Ðức Phật, tu
hành pháp tối
thắng của Bồ
Tát. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh vào cảnh
giới của Phật,
thảy đều được
thọ ký nhất
thiết trí.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thảy đều bình
đẳng với các Như
Lai, đều tự tại
đối với tất cả
Phật pháp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều được các Ðức
Phật nhiếp thọ,
thường tu tập
nghiệp không thủ
lấy chấp trước.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường làm người
hầu cận bậc nhất
của các Ðức
Phật, tu tất cả
hạnh trí huệ của
Phật.
Khi trong tâm Bồ
Tát sinh khởi
các thứ tư tưởng
như ở trên thì,
lập tức đem các
căn lành tu tập,
đối với chúng
sinh hồi hướng
như vầy: Ngài
nguyện chín pháp
giới chúng sinh,
đều đắc được tâm
thanh tịnh,
chẳng có nhiễm
ô, cũng chẳng
ngu si, dùng
nhiết thiết trí
huệ như báu để
trang nghiêm
pháp thân của
mình. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh an trụ nơi
bậc trí của Bồ
Tát, khéo nương
theo pháp để
điều phục các
căn của mình, xa
lìa tất cả
nghiệp ác không
thiện, thành tựu
đủ thứ nghiệp
thiện. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
đều đắc được
quyến thuộc thù
thắng, trong
ngoài hoà thuận,
bình an tự tại
chẳng có phiền
não. Mỗi thân
tộc đều có thể
nhiếp thọ chánh
pháp của các Ðức
Phật, cũng có
thể lưu truyền
tuyên dương
chánh pháp của
các Ðức Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều có thể
làm đệ tử Phật,
quy y Tam Bảo,
phát tâm bồ đề,
tu học hạnh Bồ
Tát, đạt đến bậc
thứ lớp cao nhất
của Bồ Tát, thọ
các Ðức Phật
quán đảnh, vào
hậu bổ Phật vị.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, luôn luôn
được các Ðức
Phật nhiếp thọ,
làm các điều
lành, không làm
điều ác, nghiêm
trì giới thanh
tịnh, phát tâm
đại bồ đề, vĩnh
viễn lìa khỏi
những hoàn cảnh
ác liệt. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
có thể theo các
Ðức Phật, thuận
lời Phật nói,
học tập tu hành
Phật pháp đại
thừa vi diệu
thâm sâu vô
thượng mà các
đại Bồ Tát tu.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, tu hành
viên mãn lục độ
vạn hạnh, đầy đủ
các căn lành và
nhất thiết đạo
chủng trí, vào
trong cảnh giới
của Phật, được
mười phương các
Ðức Phật thọ ký
nhất thiết trí
huệ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, có thể đạt
đến chỗ bình
đẳng với Phật,
hết thảy tám vạn
bốn ngàn pháp
môn của các Ðức
Phật nói, tam
tạng mười hai bộ
Kinh điển, đều
thông đạt vô
ngại, vận dụng
tự như, vào sâu
biển trí huệ.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều được
các Ðức Phật
nhiếp thọ,
thường tu hành
không thủ
lấy-không tham,
không chấp trước
năm dục, không
khởi hoặc
nghiệp, một lòng
tu trì nghiệp
thanh tịnh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường làm người
hầu cận của các
Ðức Phật, tại
đạo tràng của
các Ðức Phật, tu
tập hạnh môn đại
trí huệ.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
dùng thân của
mình hầu hạ các
Ðức Phật. Vì
muốn chứng được
bồ đề của các
Ðức Phật. Vì
muốn cứu hộ tất
cả chúng sinh.
Vì muốn thoát
khỏi tất cả ba
cõi. Vì muốn
thành tựu tâm
không tổn não.
Vì được vô lượng
bồ đề rộng lớn.
Vì muốn thành
tựu trí huệ Phật
pháp. Vì muốn
thường được các
Ðức Phật nhiếp
thọ. Vì được các
Ðức Phật hộ trì.
Vì muốn tin hiểu
tất cả Phật
pháp. Vì muốn
thành tựu bình
đẳng căn lành
với các Ðức Phật
ba đời. Vì muốn
viên mãn tâm
không hối hận.
Chứng được pháp
tất cả pháp của
các Ðức Phật.
Ở trên vừa nói
là đại Bồ Tát,
dùng thân của
mình dâng lên
các Ðức Phật,
làm người hầu hạ
các Ðức Phật,
đem các căn lành
đắc được hồi
hướng cho chúng
sinh. Mục đích
Bồ Tát hồi hướng
cho chúng sinh,
là vì muốn chứng
được giác đạo và
giác quả của các
Ðức Phật, sớm
thành đạo
nghiệp. Là vì
cứu hộ tất cả
chúng sinh, lợi
mình cũng không
quên lợi chúng
sinh. Hy vọng
mình hoàn thành
quả Phật, mới có
thể cứu bạt tất
cả chúng sinh
thoát khỏi ba
cõi. Tất cả ba
cõi là bao quát
tất cả chư
Thiên, vì chư
Thiên vẫn chưa
thoát khỏi ba
cõi, vẫn chưa
thoát khỏi khổ
luân hồi, cho
nên người tu
hành không tu
phước báo của
trời người, phải
tu pháp rốt ráo
thoát khỏi ba
cõi-lục độ vạn
hạnh, mới vĩnh
viễn lìa khỏi ba
cõi. Là vì muốn
thành tựu tâm
không tổn não
người khác, xâm
hại chúng sinh.
Là vì muốn đắc
được vô lượng bồ
đề giác quả rộng
lớn-thành quả
Phật Chánh Giác.
Là vì muốn thành
tựu đại trí huệ
của Phật pháp,
thông đạt diệu
lý duyên khởi
tánh không của
các Ðức Phật. Là
vì muốn thường
được các Ðức
Phật nhiếp thọ
bảo hộ. Là vì
muốn nương theo
các Ðức Phật,
được các Ðức
Phật ái hộ. Là
vì tin sâu các
pháp, thấu hiểu
tất cả các pháp
của Phật nói. Là
vì muốn thành
tựu căn lành
đồng với các Ðức
Phật ba đời,
chứng được quả
Phật bình đẳng.
Là vì viên mãn
lục độ vạn hạnh
đầy đủ phước
huệ, chẳng có
thiếu khuyết tâm
hối hận, rốt ráo
chứng được các
thứ pháp môn của
các Ðức Phật
nói. Do những
nhân duyên vừa
nói ở trên, cho
nên Bồ Tát phát
nguyện xả bỏ
thân mình để hầu
hạ các Ðức Phật,
ưa thích làm tất
cả mọi việc.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát bố thí cõi
nước tất cả mọi
vật, cho đến
ngôi vua, thảy
đều xả bỏ được.
Nơi các việc
đời, tâm được tự
tại, không ràng
buộc, không
luyến tiếc, xa
lìa nghiệp ác,
lợi ích chúng
sinh, chẳng chấp
nghiệp quả,
chẳng ưa pháp
thế gian, lại
chẳng tham nhiễm
các cõi nơi sinh
ra. Tuy ở tại
thế gian, chẳng
phải nơi nầy
sinh ra. Tâm
không chấp trước
uẩn giới xứ
pháp. Nơi pháp
trong ngoài, tâm
không nương trụ,
thường không
quên mất các
hạnh Bồ Tát,
chưa từng xa lìa
các thiện tri
thức. Hành trì
hạnh nguyện rộng
lớn của các Bồ
Tát, thường ưa
thích thừa sự
tất cả bạn lành.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát bố thí cõi
nước của Ngài và
tất cả tài sản
vật chất, thậm
chí ngôi vua cao
quý nhất, Ngài
cũng bố thí cho
người khác. Ðối
với tất cả vinh
hoa phú quý trên
thế gian, danh
lợi địa vị, Ngài
đều xem như mây
trôi, nhìn xuyên
thủng buông xả
mà còn rất tự
tại, chẳng có
chút vướng mắc
nào, chẳng có sự
ràng buộc, chẳng
có tham ác và
chấp trước. Xa
lìa tất cả
nghiệp ác, một
lòng một dạ làm
mọi việc lợi ích
chúng sinh.
Chẳng có tư
tưởng thọ báo,
cũng chẳng ưa
thích những việc
thế tục, thọ
hưởng năm dục.
Càng không tham
đồ giàu có và
địa vị bất
chánh, cũng
chẳng đến những
nơi tạo tội
nghiệp, tất cả
nghiệp ác ô
nhiễm như giết
hại, trộm cắp,
tà dâm, nói dối,
uống rượu, tuyệt
đối chẳng nhiễm.
Tuy thân cùng
với chúng sinh ở
tại thế gian,
nhưng tâm của
Ngài giống như
"chẳng phải từ
đây sinh ra". Vì
tâm của Bồ Tát
chẳng giống như
phàm phu chấp
trước năm
uẩn-sắc, thọ,
tưởng, hành,
thức. Chẳng chấp
trước mười tám
giới: sáu căn,
sáu trần, sáu
thức. Chẳng chấp
trước nơi mười
hai xứ-sáu căn,
sáu trần. Uẩn
giới xứ ba cái
nầy đều là pháp
ô nhiễm mê chấp
của phàm phu,
tâm Bồ Tát chẳng
chấp trước vào
những pháp nầy.
Về pháp vô lậu
của nội pháp và
pháp hữu lậu của
ngoại pháp, đều
chẳng sinh tâm
nương trụ, cho
nên Ngài có thể
bên trong thì bố
thí đầu mắt tuỷ
não, bên ngoài
thì bố thí đất
nước vợ con. Bồ
Tát mọi thời mọi
nơi đều chẳng
quên mất lục độ
vạn hạnh của
Ngài tu, là phải
xả mình vì
người, đại công
vô tư, muốn lợi
ích tất cả chúng
sinh. Ngài cũng
chưa từng xa rời
các vị đại thiện
tri thức, gần
gũi cúng dường,
thừa sự tất cả
mọi việc hầu hạ
cung cấp. Hành
trì hạnh nguyện
rộng lớn của các
đại Bồ Tát, và
thường ưa thích
trợ giúp tất cả
những người bạn
lành cùng tu.
Bấy giờ, Bồ Tát
đem căn lành nầy
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh làm đại
Pháp Vương, nơi
pháp tự tại, đến
được bờ kia.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thành vua Phật
pháp, diệt trừ
tất cả phiền não
oán tặc. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh trụ ngôi
vua Phật, được
trí Như Lai,
khai diễn Phật
pháp. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh trụ cảnh
giới của Phật,
chuyển được bánh
xe pháp tự tại
vô thượng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
sinh vào nhà Như
Lai, nơi pháp tự
tại, hộ trì
giống Phật, vĩnh
viễn khiến không
đoạn tuyệt.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
khai thị vô
lượng chánh pháp
của bậc Pháp
Vương, thành tựu
vô biên các đại
Bồ Tát.
Ðại Bồ Tát tu
pháp hồi hướng,
Ngài đem cõi
nước ngôi vua và
tất cả mọi vật
bố thí cho chúng
sinh, lại phát
tâm bồ đề tu vô
thượng đạo cứu
độ tất cả chúng
sinh, lúc đó
Ngài lại đem căn
lành bố thí hồi
hướng cho chúng
sinh: Ngài nói
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều được
làm đại Pháp
Vương-thành
Phật, đối với
pháp như thật
không nghĩa thật
tướng, đều thông
đạt vô ngại, vận
dụng tự như,
chẳng thêm tạo
tác, rất tự tại
đạt đến Niết Bàn
bờ kia. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
thành Pháp Vương
trong Phật giáo,
đắc được pháp
chánh tri chánh
kiến, thường vui
thích pháp. Do
đó, tất cả phiền
não oán tặc,
thảy đều phá tan
tiêu diệt hết.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh có thể trụ
nơi bậc Pháp
Vương của Phật,
đắc được nhất
thiết chủng trí
như Phật, lại có
thể khai thị
diễn nói pháp
của các Ðức Phật
nói. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đạt đến
cảnh giới của
các Ðức Phật, có
thể chuyển bánh
xe chánh pháp vô
thượng, nhậm vận
tự tại chẳng bị
mọi sự trở ngại.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều được
sinh vào dòng
dõi của Phật,
đối với tất cả
các pháp đều
thấu hiểu, vận
dụng tự như,
toàn tâm toàn
sức bảo hộ chúng
sinh phát tâm bồ
đề, khiến cho họ
thừa gia nghiệp
của Phật, tiếp
nối huệ mạng của
Phật, khiến cho
hạt giống Phật
vĩnh viễn không
đoạn tuyệt. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh có
thể khai diễn
chỉ bày chánh
pháp nghĩa lý
của các Ðức Phật
nói, do đó mà có
thể thành tựu vô
lượng đại Bồ
Tát.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
trụ pháp giới
thanh tịnh, làm
đại Pháp Vương,
hiện thân Phật
ra đời liên tục
chẳng dứt.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
nơi các thế giới
làm vua trí huệ,
hoá đạo chúng
sinh, chẳng lúc
nào tạm xả bỏ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
khắp vì tất cả
chúng sinh làm
chủ bố thí pháp,
trong các thế
giới pháp giới
hư không giới,
khiến cho họ đều
được trụ nơi đại
thừa. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được thành
vua đầy đủ các
điều thiện, đồng
với căn lành của
các Ðức Phật ba
đời.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí ngôi vua.
Vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh rốt ráo trụ
nơi an ổn.
Bồ Tát lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
trụ nơi cảnh
giới thanh tịnh,
làm vua thuyết
pháp lớn nhất,
thị hiện thân
Phật, xuất hiện
ra đời, mỗi vị
Phật, mỗi vị
Phật tiếp nối
xuất hiện ra thế
gian, liên tục
không ngừng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
tại tất cả thế
giới, đều làm
bậc lãnh đạo có
trí huệ nhất,
giáo hoá chúng
sinh, làm Phật
sự tịnh hoá xã
hội, chẳng ngừng
nghỉ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, khắp vì
chúng sinh trong
mười phương ba
đời tất cả thế
giới tận hư
không khắp pháp
giới, diễn nói
chánh pháp, bố
thí mưa pháp,
làm chủ bố thí
pháp, khiến cho
tất cả chúng
sinh đều tin thọ
Phật pháp đại
thừa, an trụ nơi
cảnh giới đại
thừa pháp ích.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều làm các
điều lành, đầy
đủ các căn lành,
làm vua của các
điều lành, đồng
với căn lành của
các Ðức Phật ba
đời. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài tu bố
thí ngôi vua, vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, chân chánh
an trụ nơi an
ổn, tức cũng là
an trụ trong đạo
tràng của các
Ðức Phật.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát thấy có
người đến xin
đại thành tốt
đẹp kinh đô của
vua, và những
chỗ thâu thuế,
đều bố thí cho
họ, tâm chẳng
xẻn tiếc, chuyên
hướng về bồ đề,
phát thệ nguyện
lớn, trụ nơi đại
từ, hành nơi đại
bi, lợi ích
chúng sinh. Dùng
trí rộng lớn
thấu hiểu pháp
thâm sâu, an trụ
nơi pháp tánh
bình đẳng của
các Ðức Phật, vì
phát tâm cầu
nhất thiết trí.
Vì nơi pháp tự
tại khởi tâm ưa
thích thâm sâu.
Vì cầu chứng
được trí tự tại.
Vì tịnh tu tất
cả các công đức.
Vì trụ nơi đại
trí huệ kiên cố.
Vì rộng tích tập
tất cả các căn
lành. Vì tu hành
tất cả nguyện
Phật pháp. Vì tự
nhiên giác ngộ
pháp đại trí. Vì
an trụ tâm bồ đề
không thối
chuyển. Vì tu
tập tất cả hạnh
nguyện Bồ Tát.
Vì nhất thiết
chủng trí trọn
rốt ráo, mà thực
hành bố thí.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát Ngài thấy có
người đến cầu
xin kinh thành
của vua ở-thủ đô
trang nghiêm đẹp
nhất, và cùng
với những vùng
biên giới, cửa
khẩu xuất nhập
nơi thu thuế,
những nơi quan
trọng như thế,
Ngài đều chẳng
có tơ hào xẻn
tiếc, thảy đều
bố thí cho người
xin. Tại sao Bồ
Tát hăng hái như
thế ? Vì Ngài
một lòng cầu bồ
đề giác đạo,
phát thệ nguyện
rộng lớn, khắp
độ tất cả chúng
sinh thoát khỏi
biển sinh tử.
Ðãi người tiếp
vật, mọi sự đều
ôm lòng từ bi,
lúc nào cũng lấy
tông chỉ cứu khổ
ban vui đối với
chúng sinh. Tất
cả hành sự, đều
lợi ích chúng
sinh, dùng mục
tiêu nầy vì
người khác mà
làm. Cho nên nói
Bồ Tát trụ nơi
đại từ, hành nơi
đại bi. Chí
nguyện và tâm ý
của Ngài sung
mãn sự vui vẻ
hay làm lợi ích
cho chúng sinh.
Dùng trí huệ
rộng lớn của
Ngài, thông đạt
thấu hiểu pháp
nghĩa thâm sâu
vi diệu. Do đó,
Bồ Tát có trí
huệ không thối
chuyển, và pháp
tánh bình đẳng
của các Ðức
Phật. Mục đích
của Bồ Tát phát
tâm bồ đề là vì
cầu được minh
bạch nhất thiết
trí huệ. Ðối với
sự giải thoát
thân tâm, đắc
được diệu pháp
nhậm vận tự tại,
sinh ra tâm tin
ưa thích thâm
sâu. Ðối với
thần thông diệu
dụng, trí huệ
nhậm vận tự như,
cũng hy vọng
chứng đắc được.
Siêng tu tất cả
công đức thanh
tịnh, an trụ
trong trí huệ
kiên cố rộng lớn
vô biên, khắp tu
tập các căn lành
bình đẳng rộng
lớn. Tu hành
pháp môn và
nguyện lớn của
các Ðức Phật
nói, thì tự
nhiên sẽ đạt
được công hạnh
viên mãn, sẽ
khai đại ngộ,
chiếu rõ thật
tướng của các
pháp, đắc được
đại trí huệ,
thấu rõ không
chỗ đắc: An trụ
nơi tâm bồ đề,
dũng mãnh tinh
tấn, vĩnh viễn
không sinh tâm
thối chuyển. Tu
tập hạnh môn và
nguyện lớn của
các đại Bồ Tát
tu, hy vọng đắc
được nhất thiết
chủng trí giống
như Ðức Phật,
đều chân thật
đắc được. Bồ Tát
vì hoàn thành
những nguyện
vọng ở trên, cho
nên Ngài phải tu
hành bố thí lớn
ít có khó làm
được.
Bồ Tát đem căn
lành hồi hướng
như vầy: Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều có thể
nghiêm tịnh vô
lượng cõi nước,
dâng cúng cho
các Ðức Phật làm
chỗ ở. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thường ưa ở
nơi A Lan Nhã,
vắng lặng không
động. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh vĩnh viễn
không nương ở
nơi kinh đô tụ
lạc, tâm ưa
thích vắng lặng,
vĩnh viễn được
rốt ráo. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh vĩnh viễn
không ưa chấp
tất cả thế gian,
nơi lời lẽ thế
gian, thường ưa
xa lìa. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lìa
tâm tham, bố thí
hết thảy, trong
tâm chẳng hối
tiếc. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được tâm
xuất ly, xả bỏ
các gia nghiệp.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tâm không
bỏn xẻn, thường
hành bố thí.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tâm không
chấp, lìa pháp
tại gia. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được lìa
các khổ, trừ
diệt tất cả tai
nạn sợ hãi.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
nghiêm tịnh mười
phương tất cả
thế giới, bố thí
cho các Ðức
Phật.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí kinh đô.
Vì khiến cho
chúng sinh đều
được nghiêm tịnh
các cõi nước
Phật.
Bồ Tát đem căn
lành tu tập bố
thí kinh đô
thành lớn, hồi
hướng cho chúng
sinh như sau:
Như lời Ngài
nói, tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều có thể
dùng công đức
của Ngài tu,
trang nghiêm vô
lượng vô biên
cõi nước nhiều
như số hạt bụi,
đem những cõi
nước thanh tịnh
đó, dâng cúng
cho các Ðức
Phật, để làm đạo
tràng hoằng pháp
lợi sinh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ưa xa lìa thành
thị, ở nơi rừng
núi thanh tĩnh,
vắng lặng tu tập
phạm hạnh, chẳng
tuỳ tiện đi du
hành khắp nơi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đừng ở nơi
đô thành của vua
và trong khu
trung tâm thành
phố, hoặc là trị
trấn lớn đông
đúc dân cư. Vì
những nơi phồn
hoa đó, là nơi ô
uế tạo nghiệp,
dễ khiến cho
người đoạ lạc,
cho nên Bồ Tát
không muốn cho
chúng sinh dính
nhiễm nghiệp ác,
mà muốn chúng
sinh hiểu được
tâm ưa thích sự
vắng lặng, có
thể đắc được trí
huệ thanh tịnh
rốt ráo. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vĩnh viễn không
chấp trước vào
tất cả hư huyễn
danh văn lợi
dưỡng, vinh hoa
phú quý, vợ con
tiền tài, hưởng
thụ vô thường
của thế gian.
Ðối với những
lời lẽ a dua
xiểm nịnh của
thế gian, phải
xa lìa đừng
nghe, đừng thấy,
vì những lời lẽ
ngon ngọt dễ
nghe đó, đều dẫn
dụ con người đi
hướng về con
đường ác. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tâm biết đủ
thường an vui,
chẳng có tham
dục. Không tham
cầu, thì càng ưa
thích bố thí,
đem hết thảy bố
thí cho người,
mà chẳng sinh
tâm hối tiếc.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tâm
thoát khỏi nhà
thế tục, có thể
xả bỏ vợ con tài
sản danh lợi,
phá tan gông cùm
chướng ngại vô
hình. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tâm
không tham xẻn,
thường bố thí
cho chúng sinh.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tâm
không chấp
trước, đối với
câu: "Bất hiếu
hữu tam, vô hậu
vi đại" của thế
gian hay nói,
không coi là quá
nghiêm trọng, vì
nó làm chướng
ngại chí nguyện
xuất gia vô
thượng. Và còn
có thể dùng thân
tâm thanh tịnh,
hướng đạo dũng
cảm lìa khỏi
truyền thống nối
dõi tông đường
của pháp thế tục
gia đình. Tục
ngữ có nói:
"Nhất tử thành
Phật, cửu tộc
thăng thiên",
thậm chí gà chó
ở trong nhà cũng
đều theo sinh về
trời, đó chẳng
hơn là hiếu đạo
nối dõi tông
đường chăng ?
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thoát khỏi
tất cả thống
khổ, trừ diệt
hết mọi tai nạn
hoạ hoạn sợ hãi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, có thể
cúng dường đồ
trang nghiêm tốt
đẹp, nghiêm tịnh
tất cả thế giới
trong mười
phương, dâng
cúng cho các Ðức
Phật trong mười
phương. Ðó là
hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí kinh đô. Vì
muốn khiến cho
chúng sinh đều
hoàn thành trang
nghiêm thanh
tịnh cõi nước
của các Ðức
Phật.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát đem hết thảy
tất cả quyến
thuộc trong
cung, các thiếu
nữ hầu hạ đều
xinh đẹp đoan
chánh, tài năng
đầy đủ, cười nói
ca múa, thảy đều
khéo léo. Các
thứ y phục, các
thứ hương hoa,
dùng để nghiêm
thân, ai thấy
cũng đều hoan
hỉ, tình không
nhàm đủ, nữ báu
như vậy trăm
ngàn vạn ức Na
do tha số, đều
do nghiệp thiện
của Bồ Tát sinh
ra, tuỳ ý tự
tại, kính thuận
không lỗi lầm,
thảy đều đem bố
thí hết cho
những người đến
xin, mà tâm
không lưu luyến,
tâm không đam
mê, tâm không
ràng buộc, tâm
không chấp lấy,
tâm không tham
nhiễm, tâm không
phân biệt, tâm
không đuổi theo,
tâm không thủ
tướng, tâm không
dục lạc.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát bố thí kinh
đô ngôi vua rồi,
hiện tại Ngài
lại bố thí hết
thảy quyến thuộc
ở trong cung gồm
hoàng hậu, phi
tần, thái tử,
công chúa và
những tì nữ ca
múa kỹ nhạc.
Những người nữ
đó, dung mạo đều
xinh đẹp đoan
chánh hơn người,
tài năng đều đầy
đủ, nói cười
phong nhã, ca
múa tuyệt luân.
Quần áo y phục
rất đẹp, hoa quý
hương thơm dùng
trang nghiêm
thân, khiến cho
ai thấy được
cũng đều sinh
tâm hoan hỉ,
không khi nào
nhìn chán.
Nữ
báu như vậy có
nhiều hàng trăm
ngàn vạn ức Na
do tha, đều do
phước báu nghiệp
thiện của Bồ
Tát, tích luỹ
nhiều đời nhiều
kiếp sinh ra. Họ
cũng rất an
tường tự tại,
sống rất tự do,
đối với người
lớn họ rất kính
trọng thuận
theo, chưa từng
phạm chút lỗi
lầm nào. Bồ Tát
đem hết những
người nữ đó, bố
thí cho những
người đến xin.
Khi Bồ Tát quyết
tâm bố thí cho
người, thì tâm
không lưu luyến
mà xả bỏ không
được, tâm không
đam mê, tâm
không bị ràng
buộc, tâm không
chấp trước buông
xả không đặng,
tâm không tham
dục nhiễm ô, tâm
chẳng phân biệt
thương ghét, tâm
chẳng đuổi theo,
tâm chẳng chấp
lấy tướng, tâm
không dục lạc.
Bấy giờ, Bồ Tát
quán các căn
lành. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đều
được thoát khỏi
mà hồi hướng.
Được vui trong
Phật pháp mà hồi
hướng. Nơi không
kiên cố được
kiên cố mà hồi
hướng. Được trí
kim cang tâm
không thể hoại
mà hồi hướng.
Vào đạo tràng
Phật mà hồi
hướng. Đến được
bờ bên kia mà
hồi hướng. Được
tâm vô thượng bồ
đề mà hồi hướng.
Hay dùng trí huệ
thấu đạt các
pháp mà hồi
hướng. Sinh ra
tất cả căn lành
mà hồi hướng.
Vào nhà các Ðức
Phật ba đời mà
hồi hướng.
Ðại Bồ Tát tu bố
thí, lúc đó Ngài
tư duy kỹ càng,
quán sát tất cả
căn lành, khảo
lự vì chúng sinh
mà hồi hướng, do
đó trong tâm
Ngài lập ra mười
mục tiêu vì
chúng sinh hồi
hướng:
1.
Hy vọng tất cả
chúng sinh đều
được thoát khỏi
ba cõi, chấm dứt
sinh tử.
2.
Hy vọng tất cả
chúng sinh đều
được niềm vui
tràn đầy trong
Phật pháp.
3.
Hy vọng tất cả
chúng sinh minh
bạch đạo lý việc
đời vô thường hư
huyễn không có
chủ. Trong quá
trình sinh tử vô
thường không
kiên cố, tu học
Phật pháp, được
pháp tánh thân
kiên cố vĩnh
hằng.
4.
Hy vọng tất cả
chúng sinh được
trí huệ kim cang
Bát Nhã thù
thắng, và tâm
không thể bị phá
hoại.
5.
Hy vọng tất cả
chúng sinh đều
được nghe pháp ở
trong đạo tràng
của Phật.
6.
Hy vọng tất cả
chúng sinh đều
được lên bờ Niết
Bàn bên kia.
7.
Hy vọng tất cả
chúng sinh được
tâm vô thượng bồ
đề giác đạo.
8.
Hy vọng tất cả
chúng sinh dùng
trí huệ kim
cang, thấu đạt
thật tướng lý
thể của các
pháp.
9.
Hy vọng tất cả
chúng sinh siêng
tu các pháp môn
Bồ Tát đạo, nhờ
đó mà sinh ra
tất cả căn lành.
10.
Hy vọng tất cả
chúng sinh tu
hành viên mãn,
đầy đủ các công
đức, được sinh
vào dòng dõi của
các Ðức Phật ba
đời. Vào giống
tánh Phật, được
thành quả Phật.
Bồ Tát căn cứ
mười điều nầy,
mà vì chúng sinh
hồi hướng.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát trụ nơi pháp
như vậy, được
sinh vào nhà Như
Lai. Tăng trưởng
nhân thù thắng
thanh tịnh của
các Ðức Phật.
Sinh ra nhất
thiết trí đạo
tối thắng. Vào
sâu trí nghiệp
rộng lớn của Bồ
Tát. Diệt trừ
tất cả phiền não
trần cấu của thế
gian. Thường
cúng dường bố
thí công đức
ruộng phước. Vì
các chúng sinh
tuyên nói diệu
pháp, khéo léo
an lập, khiến
cho họ tu tập
các hạnh thanh
tịnh, thường
siêng nhiếp lấy
tất cả căn lành.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, thân tâm
của Ngài luôn
luôn đều huân
đúc ở trong Phật
pháp đại thừa vô
thượng, cho nên
Ngài thành tựu
giống Phật, sinh
vào trong dòng
dõi của Phật.
Mắt thấy phước
đước thù thắng
vi diệu của
Phật, tăng
trưởng nhân tố
tối thắng nghiệp
thiện thanh tịnh
của Bồ Tát, mà
sinh ra đạo
chủng chủng trí
huệ tối thù
thắng, vào sâu
trí huệ rộng lớn
của Bồ Tát,
nương trí hành
tất cả nghiệp
thiện. Diệt trừ
vô lượng trần
cấu và phiền não
của thế gian.
Biết phải thường
thường cúng
dường Tam Bảo,
khắp hành bố
thí, cứu tế
chúng sinh cô
nhi nghèo khổ,
tu công đức
lành, trở thành
ruộng phước cho
chúng sinh gieo
trồng. Lại vì
chúng sinh diễn
nói diệu pháp
của các Ðức Phật
nói, dung pháp
môn phương tiện
khéo léo an ủi
tất cả chúng
sinh, khiến cho
họ đều có thể
học tập tu trì
hạnh môn thanh
tịnh. Thường hộ
niệm chúng sinh,
giáo hoá chúng
sinh, siêng tu
nghiệp thiện,
nhiếp lấy tất cả
căn lành.
Bấy giờ, Bồ Tát
đem các căn lành
hồi hướng như
vầy: Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thường được
vô lượng tam
muội quyến
thuộc. Bồ Tát
thắng định tương
tục không dứt.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thường ưa thấy
Phật, đều vào
trang nghiêm tam
muội của chư
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thành tựu
định lực không
nghĩ bàn của Bồ
Tát, tự tại du
hí vô lượng thần
thông. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh vào định
như thật, được
tâm không hoại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tam muội
thâm sâu của Bồ
Tát, nơi các
thiền định mà
được tự tại.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được tâm giải
thoát, thành tựu
tất cả tam muội
quyến thuộc.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh ở
trong các thứ
tam muội, đều
được khéo léo,
đều có thể nhiếp
lấy các tướng
tam muội. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được thắng
trí tam muội,
khắp học tập các
môn tam muội.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được vô ngại tam
muội, vào sâu
thiền định, trọn
không thối
chuyển mất.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được vô trước
tam muội, tâm
luôn chánh thọ
chẳng thủ lấy
hai pháp.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát khi Ngài
bố thí tất cả
quyến thuộc
trong nội cung.
Lúc đó, Bồ Tát
đem căn lành của
Ngài tu tập bố
thí quyến thuộc
trong cung, hồi
hướng cho chúng
sinh như sau:
Ngài nói tôi
nguyện cho tất
cả chúng sinh
luôn luôn được
rất nhiều quyến
thuộc chánh định
chánh thọ, tam
muội thiền định
tối thắng của Bồ
Tát tu tập, vĩnh
viễn không đoạn
tuyệt. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
luôn luôn hoan
hỉ thấy Phật,
đồng thời cũng
vào trong tam
muội trang
nghiêm của các
Ðức Phật-trong
chánh định. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu đại
định vi diệu
không thể nghĩ
bàn của Bồ Tát,
nhậm vận tự tại
du hí mười
phương cõi nước
chư Phật, hiện
vô lượng thần
thông. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vào trong định
chân như thật
tướng, được tâm
kim cang không
thể hoại. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
hoàn toàn đắc
được chánh định
thâm sâu của Bồ
Tát, ở trong tứ
thiền bát định
mà được niềm vui
thiền định tự
tại, xuất định
nhật định không
cần tác ý. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được tâm
giải thoát,
không chấp
trước, thành tựu
các thứ tam
muội, dùng tam
muội-chánh định
làm quyến thuộc.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, ở trong vô
lượng tam muội
đều đắc được tam
muội phương tiện
khéo léo nhậm
vận tự như, có
thể dùng một tam
muội diễn biến
thành vô lượng
tam muội, tất cả
tam muội đều
nhiếp lấy với
nhau. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được tam
muội trí huệ thù
thắng, học tập
khắp tất cả tam
muội, đều đạt
được môn viên
dung vô ngại.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
chánh định viên
dung vô ngại,
vào trong thiền
định thâm sâu,
trọn không thối
thất công năng
thiền định đó.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
chẳng chấp về
tam muội không,
chẳng chấp về
tam muội có, tâm
thường ở trong
chánh định chánh
thọ, chẳng thủ
trước pháp môn
khác. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
quến thuộc trong
nội cung.
Bồ Tát vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
được quyến thuộc
thanh tịnh không
hoại. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
được quyến thuộc
Bồ Tát. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
được đầy đủ Phật
pháp. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh đầy
đủ nhất thiết
trí lực. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh chứng
được trí huệ vô
thượng. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh được
quyến thuộc tuỳ
thuận. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh được
người tu hành
cùng chí hướng ở
chung với nhau.
Vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh đầy đủ tất
cả phước trí. Vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh thành tựu
căn lành thanh
tịnh. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh được
quyến thuộc
lương thiện. Vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh thành tựu
pháp thân thanh
tịnh của Như
Lai. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh thành
tựu biện tài thứ
lớp như lý, khéo
nói vô tận pháp
tạng của chư
Phật. Vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh vĩnh
viễn xả bỏ tất
cả căn lành thế
tục, đồng tu căn
lành thanh tịnh
xuất thế. Vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh tịnh nghiệp
viên mãn, thành
tựu tất cả pháp
thanh tịnh. Vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh tất cả Phật
pháp thảy đều
hiện tiền, dùng
pháp quang minh
khắp nghiêm
tịnh.
Tại sao Bồ Tát
đem công đức căn
lành của Ngài bố
thí quyến thuộc
trong nội cung,
hồi hướng cho
chúng sinh ? Thứ
nhất là Ngài
chẳng vì tham đồ
hư danh của thế
gian. Thứ hai là
chẳng tham đồ
người khác cúng
dường. Ngài một
lòng hy vọng tất
cả chúng sinh,
đều có thể đắc
được bạn lành và
quyến thuộc
thanh tịnh kim
cang bất hoại.
Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đều
đắc được quyến
thuộc của họ làm
Bồ Tát bất
thoái. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đều minh
bạch pháp của
chư Phật nói,
đầy đủ sự cầu
pháp của họ. Lại
vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, thiết thực
tu hành pháp môn
của chư Phật
nói, mà thành
tựu đủ thứ trí
huệ thần thông
lực. Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh,
chứng được trí
huệ vô thượng
thù thắng, trên
thế gian chẳng
có gì hơn được
thứ trí huệ Ba
La Mật nầy. Lại
vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều được
quyến thuộc rất
hoà mục, cung
kính thương yêu
nhau, giúp đỡ
lẫn nhau, đó đây
đều tuỳ thuận
khiêm nhường.
Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, tuỳ
nơi đều có thể
gặp được bạn đạo
chí đồng đạo
hợp, cùng tu với
nhau, quyết
không gặp cảnh
khổ ghét mà gặp
nhau. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, đầy đủ tất
cả phước đức và
trí huệ, thành
tựu bậc Thánh
nhân đầy đủ
phước huệ. Lại
vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều thành
tựu đủ thứ căn
lành thanh tịnh.
Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, đều
được quyến thuộc
thiện lương. Lại
vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, thành tựu
pháp thân thanh
tịnh giống như
Phật, sung mãn
hư không pháp
giới, đồng thể
với Phật. Lại vì
muốn khiến cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
biện tài chân
thật, được trí
huệ bốn biện tài
vô ngại. Khéo
diễn nói đại bảo
pháp tạng vô
cùng vô tận của
chư Phật mười
phương ba đời
nói, có thứ lớp
ví dụ giải nói,
hùng biện hợp
lý, khiến cho
người nghe được
pháp hỉ thâm
sâu. Lại vì muốn
khiến cho tất cả
chúng sinh, minh
bạch chẳng trồng
căn lành nhân
duyên thế tục,
vì căn lành thế
tục là hữu lậu,
chẳng rốt ráo,
cho nên phải
vĩnh viễn xả bỏ,
phải tu căn lành
vô lậu xuất thế,
căn lành thanh
tịnh hợp với
chánh pháp. Lại
vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đắc được
tám vạn bốn ngàn
pháp môn của chư
Phật nói hiện ra
trước mắt-viên
mãn thành tựu,
dùng trí huệ
quang minh của
pháp khắp trang
nghiêm mười
phương cõi nước,
khiến cho mười
phương cõi nước
đều trở thành
cõi thanh tịnh
yên vui. Vì các
nhân duyên như
thế, mà Bồ Tát
đem căn lành của
Ngài bố thí
quyến thuộc
trong cung, hồi
hướng cho tất cả
chúng sinh, hy
vọng chúng sinh
thọ được sự lợi
ích hồi hướng
của Ngài, đầy đủ
nguyện vọng của
Ngài.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát có thể đem
vợ con thương
yêu của mình để
bố thí. Như thuở
xưa thái tử Tu
Ðạt Noa. Bồ Tát
Hiện Trang
Nghiêm Vương, và
vô lượng các Bồ
Tát khác.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài có thể
bố thí vợ con
thương yêu của
mình, khó xả bỏ
mà xả bỏ được,
mục đích chỉ vì
cầu pháp, cho
nên nói Bồ Tát
vì pháp mà xả bỏ
được, vì pháp
quên mình. Bồ
Tát có thể xả bỏ
vợ con thương
yêu của mình,
như thuở xưa
thái tử Tu Ðạt
Noa, hiện tại
như Bồ Tát Hiện
Trang Nghiêm
Vương, và còn có
vô lượng các Bồ
Tát khác, các
Ngài chẳng phải
chẳng thương yêu
vợ con của các
Ngài, mà bố thí
cho người khác.
Các Ngài đem
những gì quý
báu, thích nhất
của mình bố thí
cho người, đó
mới gọi là khó
xả bỏ mà xả bỏ
được, khó làm mà
làm được, cho
nên mới được gọi
là Bồ Tát.
Giảng
về đoạn nầy có
câu chuyện quan
hệ về thái tử Tu
Ðạt Noa xả bỏ vợ
con để cầu pháp:
Thái tử đã là
vương tử quán
đảnh, tức sẽ là
người kế vị ngôi
vua, nhưng Ngài
rất mến mộ Phật
pháp, lại ưa
thích bố thí
lớn. Người hướng
về Ngài cầu xin
bố thí chẳng
biết là bao
nhiêu, chẳng
những Ngài đem
tất cả vật chất
và ngôi vua
tương lai của
Ngài ra bố thí
cho người rồi,
cuối cùng chỗ ở
cũng bố thí
luôn. Phụ vương
của Ngài thấy
tình hình như
vậy, bèn cho
Ngài chiếc xe bò
cũ kỹ, kêu Ngài
mang vợ con vào
trong rừng sâu
núi thẳm không
người để ở. Lúc
đó, trời Ðế
Thích vì thấy
Ngài tất cả đều
xả bỏ được, dẫn
vợ và con cạnh
bên mình, bèn
nghĩ cách thử
tâm xả bỏ triệt
để của Ngài như
thế nào ? Do đó,
bèn hoá làm một
người Bà La Môn
tướng mạo rất
xấu xí, đến chỗ
thái tử nói
rằng:
- "Tôi từng nói
rất nhiều diệu
pháp, bất quá
bây giờ tôi đói
quá, nếu Ngài xả
bỏ cúng vợ con
của Ngài cho tôi
ăn, thì tôi sẽ
nói pháp cho
Ngài nghe".
Thái tử lập tức
hứu khả, nhưng
vợ của Ngài
không nhẫn tâm
đưa con mình cho
người ăn, bèn
khóc lóc.
- Thái tử nói:
"Lúc nàng muốn
lấy tôi, tôi đã
nói e rằng nàng
sẽ cản trở tâm
cầu pháp của
tôi, cho nên tôi
không muốn cưới
nàng. Về sau
nàng đã phát
nguyện không cản
trở tôi, và còn
nguyện trợ giúp
cho tôi tu đạo.
Lúc đó nàng đã
từng nói bài kệ,
chẳng lẽ nàng đã
quên rồi sao ?
Chẳng phải nàng
đã nói:
"Vô lượng kiếp
đầu đội
Núi kim cang
rộng lớn
Nếu thương mà
nạp nhận
Tôi cam chịu khổ
nầy.
Vô lượng biển
sinh tử
Ðem thịt thân
tôi thí
Ngài được nơi
Pháp Vương
Nguyện tôi cũng
được thế.
Nếu thương nạp
nhận tôi
Làm chủ thân của
tôi
Ðời đời hành bố
thí
Nguyện thường
đem tôi thí".
Thái
tử nói xong cũng
sinh tâm hoan
hỉ, bèn dẫn con
đưa cho Bà La
Môn ăn. Sau đó
Bà La Môn nói
với thái tử
rằng:
"Tất cả hành vô
thường
Sinh ra đều có
khổ
Năm ấm không vô
tướng
Chẳng có ta của
ta".
Thái
tử nghe rồi, rất
hoan hỉ vô cùng,
chẳng có gì hối
tiếc, bèn biên
chép bài kệ nầy
lưu truyền cho
đời sau nầy.
Lúc
đó, trời Ðế
Thích biết tâm
cầu pháp của
thái tử kiên cố
như thế, rất
thán phục, bèn
vọt thân lên hư
không, hiện ra
thân phận của
mình, rất cung
kính nói với
thái tử rằng:
- "Ngài chân
thật là bậc tu
hành, tương lai
nhất định sẽ
thành quả Phật".
Nói xong ẩn thân
chẳng còn thấy
nữa. Lúc đó,
thái tử phát
hiện vợ con vẫn
đang ở bên cạnh
Ngài. Một người
tu hành thường
phải thọ sự khảo
nghiệm của chư
Thiên, Bồ Tát,
hoặc Phật. Nhất
là trong lúc
nghịch cảnh, xem
bạn có chân tâm
thành ý tu hành
chăng? Do đó,
người tu hành
nhất định phải
có ý chí kiên
cường, bằng
không thì chẳng
vượt qua đặng sự
khảo nghiệm, thì
sẽ đoạ lạc, hoặc
sinh tâm thối
chuyển.
Bấy giờ, Bồ Tát
nương tâm cầu
nhất thiết trí,
tu tất cả sự bố
thí. Tịnh tu bố
thí của Bồ Tát
đạo, tâm Ngài
thanh tịnh,
chẳng có sự hối
tiếc, xả bỏ hết
thảy sự trân quý
của mình, để cầu
nhất thiết trí,
khiến cho các
chúng sinh chí
nguyện thanh
tịnh thâm sâu,
thành tựu hạnh
bồ đề, quán Bồ
Tát đạo, niệm
Phật bồ đề, trụ
nơi giống tánh
Phật.
Lúc đó toàn tâm
toàn ý của Bồ
Tát ôm hoài bão
chứng được nhất
thiết trí huệ,
tu hành các sự
bố thí, chuyên
tâm nhất chí tu
hành pháp thanh
tịnh của Bồ Tát
tu, tâm của Ngài
thanh tịnh, chưa
từng sinh tâm
hối tiếc, mà
ngừng nghiệp
thiện bố thí. Bồ
Tát bố thí,
chẳng phải Ngài
đem vật chất dư
thừa bố thí cho
người, cũng
chẳng phải đem
những gì mình
không thích bố
thí cho người,
càng chẳng phải
đem những vật hư
hoại bố thí cho
người, mà là đem
hết tất cả những
vật trân quý
nhất để bố thí
cho người. Vì
Ngài cầu đắc
được nhất thiết
trí. Tư tưởng
của Ngài khác
với tư tưởng của
phàm phu là tại
chỗ nầy. Sự truy
cầu của phàm phu
là vật chất có
hình tướng vô
thường không
thật, sự cầu của
Bồ Tát là chí
cao vô thượng,
trí huệ vĩnh
hằng, và Phật
pháp thâm sâu vi
diệu. Bồ Tát cầu
nhất thiết trí,
chẳng chỉ vì lợi
mình, Ngài hi
vọng chúng sinh
đắc được sự lợi
ích hồi hướng
của Ngài, đồng
thời cũng sinh
tâm thanh tịnh,
tin sâu tất cả
chánh pháp của
chư Phật nói,
lập chí lớn phát
nguyện lớn, lấy
pháp làm niềm
vui, hoan hỉ
hành bố thí.
Siêng tu lục độ,
thành tựu hạnh
môn bồ đề giác
đạo. Quán sát Bồ
Tát tu Phật đạo
đại thừa, thường
thường nghĩ nhớ
bồ đề giác đạo
Chánh Đẳng Chánh
Giác của chư
Phật tu chứng.
An trụ trong
giống tánh của
Phật, vĩnh viễn
không thối thất,
được Phật gia
bị.
Ðại Bồ Tát thành
tựu tâm bố thí
như vậy rồi,
quyết định chí
cầu thân của Như
Lai. Tự quán
thân mình hệ
thuộc tất cả,
chẳng được tự
tại. Lại dùng
thân của Ngài
nhiếp khắp chúng
sinh, giống như
cõi châu báu, bố
thí tất cả, ai
chưa đầy đủ thì
khiến cho họ
được đầy đủ. Bồ
Tát hộ niệm
chúng sinh như
thế, muốn khiến
cho thân mình
làm tháp bậc
nhất, khắp khiến
cho tất cả chúng
sinh hoan hỉ.
Muốn nơi thế
gian sinh tâm
bình đẳng. Muốn
vì chúng sinh
làm hồ mát mẻ.
Muốn ban cho
chúng sinh tất
cả sự an lạc.
Muốn vì chúng
sinh làm đại thí
chủ. Trí huệ tự
tại, biết rõ
hạnh của Bồ Tát
tu hành, mà có
thể đại thệ
trang nghiêm như
thế. Hướng về
nhất thiết trí,
nguyện thành tựu
ruộng phước trí
huệ vô thượng.
Khắp nhớ nghĩ
chúng sinh,
thường theo bảo
hộ, mà có thể
thành tựu thân
mình lợi ích trí
huệ quang minh,
chiếu khắp thế
gian. Thường
siêng nghĩ nhớ
tâm bố thí của
Bồ Tát, luôn ưa
thích quán sát
cảnh giới của
Như Lai.
Ðại Bồ Tát thành
tựu tâm bố thí
như đã nói ở
trên rồi. Ngài
quyết định lập
chí trên cầu
Phật đạo, muốn
được pháp thân
giống như Phật.
Ngài lại quán
sát thân thể của
mình, trong vô
hình bị rất
nhiều trần lao
ràng buộc, không
thể đắc được tự
tại. Ví như nóng
lạnh đói khát,
đều không thể tự
chủ được, vì
thích ứng sinh
tồn nên phải
thay đổi thân
thể. Tuy nhiên
cảm thấy sắc
thân nầy hệ luỵ,
nhưng không nhờ
sắc thân nầy để
tu chân, thì
không thể nào
thành tựu đạo
nghiệp, cho nên
phải nhiếp hoá
khắp chúng sinh,
vẫn còn phải
dùng thân thể
nầy. Ví dụ: Thân
thể nầy giống
như cõi châu
báu, có các châu
báu ẩn tàng thâm
sâu, có thể sinh
sản ra các thứ
báu vật, đem
những báu vật đó
làm bố thí lớn,
khiến cho những
chúng sinh nghèo
khổ, đều được
đầy đủ nhu cầu
của họ, khiến
cho họ đều có
đời sống an ổn
vui vẻ. Bồ Tát
thường hộ niệm
chúng sinh như
vậy, chẳng xả bỏ
chúng sinh, do
đó Ngài hi vọng
mình trở thành
tháp báu bậc
nhất trong thế
gian, khắp khiến
cho tất cả chúng
sinh, thấy được
Ngài đều sinh
tâm đại hoan hỉ.
Lại cảm thấy
mình đối với tất
cả chúng sinh
trong thế gian,
phải đối đãi
bình đẳng, không
có tâm phân biệt
thương ghét. Lại
cảm thấy mình
phải làm hồ mát
mẻ cho tất cả
chúng sinh, có
thể tắm rửa tẩy
trừ hết những
bụi bặm và phiền
não của họ. Lại
hi vọng có thể
ban cho chúng
sinh tất cả sự
an lạc. Lại nghĩ
đến phải làm đại
thí chủ của
chúng sinh, khắp
bố thí cho họ
những đồ vật họ
cần dùng, họ
thích nhất, và
pháp ích vô
thượng.
Hết
thảy trí huệ của
Bồ Tát nhậm vận
tự như, vì Ngài
đã thấu triệt
quán thông tất
cả hạnh môn của
Bồ Tát tu, đều
đã viên dung vô
ngại, mà còn
phát thệ nguyện
lớn, độ tất cả
chúng sinh thoát
khỏi biển khổ,
dùng nguyện lớn
đó trang nghiêm
cõi Phật, trang
nghiêm pháp thân
của mình. Mục
tiêu của Ngài là
hướng về nhất
thiết trí huệ
thành Phật, muốn
mình trở thành
ruộng phước trí
huệ vô thượng
của chúng sinh.
Khắp thương xót
nghĩ đến tất cả
chúng sinh, tuỳ
thời tuỳ lúc hộ
trì họ, chẳng
khiến cho họ thọ
tai nạn sợ hãi.
Tuy nhiên Bồ Tát
không lúc nào
chẳng lợi ích
chúng sinh mà
khổ nhọc, nhưng
Ngài chẳng bỏ sự
tu trì của mình.
Ngài làm việc
lợi người lợi
mình rồi, đại
trí huệ quang
minh của Ngài
chiếu khắp mười
phương thế giới.
Ngài thường nghĩ
nhớ không quên,
là làm một vị
đại Bồ Tát phải
có tâm bố thí.
Vì bố thí là
đứng đầu trong
lục độ Ba La
Mật, Bồ Tát có
thể viên mãn rốt
ráo bố thí độ,
thì năm độ kia
nhất định cũng
sẽ viên mãn đầy
đủ. Khi nào Bồ
Tát làm việc,
đều lấy trí huệ
làm đầu, chẳng
giống như phàm
phu chúng ta
dùng ý làm việc.
Dùng ý làm việc
tức là tư tưởng
ngu si, hành vi
điên đảo. Do đó,
Bồ Tát thường
siêng nghĩ nhớ
tâm bố thí, để
đừng mất đi căn
lành bố thí. Bồ
Tát cũng thường
hoan hỉ tĩnh toạ
ngồi suy gẫm
cảnh giới của
chư Phật, quán
tưởng cõi Thường
Tịch Quang Tịnh
Ðộ của chư Phật
đang ở.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát dùng tâm
không ràng buộc
không chấp trước
bố thí vợ con.
Căn lành tu tập
được hồi hướng
như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
trụ nơi Phật bồ
đề, khởi thân
biến hoá, khắp
cùng pháp giới,
chuyển bánh xe
pháp bất thoái.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân vô
trước, nguyện
lực đi khắp tất
cả cõi Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh xả
bỏ tâm thương
ghét, dứt sạch
kết tập tham
sân. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh làm đệ tử
Phật, theo Phật
tu hành. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh ở chỗ chư
Phật, sinh tâm
như chính nhà
mình, không thể
trở hoại. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thường làm
con Phật, từ
pháp hoá sinh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được nơi rốt
ráo, thành tựu
trí huệ tự tại
của Như Lai.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
chứng Phật bồ
đề, vĩnh viễn
lìa phiền não.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
diễn nói đầy đủ
đạo Phật bồ đề,
thường thích tu
hành pháp thí vô
thượng. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tâm
chánh định,
chẳng bị tất cả
các duyên phá
hoại. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh ngồi cội bồ
đề, thành tối
Chánh Giác, khai
thị vô lượng các
thiện nam nữ từ
pháp hoá sinh.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí vợ con.
Vì muốn khiến
cho chúng sinh
đều chứng được
trí huệ vô trước
giải thoát vô
ngại.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài dùng
tâm chẳng ràng
buộc, chẳng chấp
trước, tâm giải
thoát chân chánh
buông xả tự tại,
bố thí vợ và con
của Ngài cho
người xin, căn
lành tu tập được
vì chúng sinh mà
hồi hướng như
vầy: Ngài nói,
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh an trụ nơi
bồ đề giác đạo
của Phật, đắc
được ý sinh thân
ngàn biến vạn
hoá, du hành
khắp mười phương
thế giới, chuyển
bánh xe pháp bất
thoái, hoằng
dương chánh
pháp, giáo hoá
chúng sinh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
được thân trí
huệ vô trước, ôm
hoài bảo đại
nguyện lực đã
phát ra, đến
mười phương cõi
nước chư Phật
gần gũi chư
Phật, cúng dường
lễ bái chư Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh xả bỏ tâm
tình ái và
thương ghét quá
khứ, vì ái dục
là chủ nhân
khiến cho chúng
sinh trầm luân
trong dòng sinh
tử vô lượng
kiếp, thương
ghét che lấp tâm
trí vốn có, ràng
buộc con người
đi vào đường ác,
điên đảo thị phi
tạo nghiệp ác.
Nếu như xả bỏ
được hai thứ tâm
nầy, thì có thể
dứt trừ được kết
tập tham luyến,
thoát khỏi biển
khổ, nhập vào
dòng pháp tánh.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều quy y
Phật, làm đệ tử
của Phật, theo
chư Phật tu
hành, học phương
pháp của Phật tu
hành, học hạnh
của Phật, học từ
bi của Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh ở
tại đạo tràng
của Phật, giống
như ở nhà mình,
giống như nương
ở nhà của cha mẹ
mình, trong tâm
chẳng có trở
ngại, cũng chẳng
bị dị luận ngoại
đạo làm giao
cảm. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, thường làm
trưởng tử của
chư Phật, như
tùng Phật khẩu
sinh, tùng pháp
hoá sinh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được nơi quy
y chân thật,
thành tựu trí
huệ tự tại giống
như Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tu bồ đề giác
đạo Phật quả,
giống như chư
Phật đã chứng
được, vĩnh viễn
xa lìa vô minh
phiền não. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đầy đủ bốn biện
tài vô ngại,
diễn nói bồ đề
giác đạo của
Phật nói, thường
thường ưa thích
tu hành pháp môn
bố thí vô
thượng.
Trong
pháp môn bố thí,
thì bố thí pháp
là trên hết, bố
thí tài là giúp
đỡ người cải
thiện đời sống,
bố thí pháp là
tiếp nối huệ
mạng, cho nên bố
thí pháp là trên
hết. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh được tâm
chánh định, đối
với bất cứ việc
gì, cũng đều có
sự nhận thức
chánh quyết, có
tông chỉ nhất
định không thay
đổi. Bồ Tát hy
vọng chúng sinh
có tâm chánh
định, thì sẽ
không bị những
duyên bên ngoài
phá hoại sự
thành tựu chánh
đáng. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ngồi dưới
cội bồ đề thành
Chánh Ðẳng Chánh
Giác, chứng được
quả vị Phật, sau
đó chuyển bánh
xe pháp, khai
thị vô lượng
chánh pháp, giáo
hoá chúng sinh,
khiến cho tất cả
chúng sinh thọ
được sự lợi ích
của chánh pháp,
đều trở thành
người hoàn mỹ
nhất, tài đức
kiêm toàn. Ðó là
hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài bố
thí vợ con. Vì
muốn khiến cho
mỗi chúng sinh,
đều có thể chứng
được đại trí huệ
chẳng có chướng
ngại, chân chánh
giải thoát.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát trang nghiêm
nhà cửa phòng xá
và các đồ tư
sanh. Tuỳ theo
người cầu xin,
tất cả đều bố
thí cho hết.
Thực hành bố thí
pháp, chẳng chấp
trước về nhà
cửa, xa lìa tất
cả quan niệm nhà
ở, nhàm chán gia
nghiệp, đồ tư
sanh, chẳng
tham, không
thích, không bị
tâm ràng buộc.
Biết nhà dễ hư
hoại, tâm luôn
nhàm lìa, đều
chẳng có sự ưa
thích. Song,
muốn xuất gia tu
hạnh Bồ Tát,
dùng các Phật
pháp mà tự trang
nghiêm chính
mình, tất cả đều
xả bỏ, trong tâm
chẳng hối tiếc.
Thường được chư
Phật khen ngợi.
Nhà cửa tài vật,
tùy theo chỗ có,
đều bố thí cho
hết, thấy người
đến xin, sinh
tâm vui mừng.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, Ngài sửa
sang nhà cửa cho
thật đẹp, cùng
với đủ thứ vật
cần dùng. Nếu có
người đến cầu
xin, thì Bồ Tát
chẳng do dự lập
tức đem bố thí
tặng cho họ. Bồ
Tát tu pháp môn
bố thí, đối với
tất cả gia đình,
Ngài chẳng có
tâm chấp trước,
trong tâm của
Ngài sớm đã lìa
quan niệm gia
tộc. Ngài minh
bạch nhà vốn là
không, do nhân
duyên hoà hợp mà
thành, duyên hết
thì sẽ phân tán,
có gì mà chấp
trước ! Ngài vốn
nhàm chán hết
thảy động sản và
bất động sản
trong nhà, cùng
với những đồ vật
tư sanh. Trong
đời sống hằng
ngày, Ngài chẳng
tham hưởng thụ
quần áo đẹp thức
ăn ngon năm dục,
cho nên tâm của
Ngài chẳng bị
những vật chất
đó ràng buộc.
Ngài biết nhà
cuối cùng cũng
sẽ tan hoại,
chẳng tồn tại
vĩnh viễn, cho
nên tâm của Ngài
đối với quan
niệm gia đình
rất là đạm bạc,
luôn luôn đều
muốn xả bỏ nhà
thế tục, xuất
gia tu đạo, cầu
thoát khỏi nhà
ba cõi. Bồ Tát
nhìn xuyên thủng
tất cả, buông xả
tất cả, vì không
bị gia đình bức
bách, cho nên Bồ
Tát chỉ cầu
thoát khỏi nhà
thế tục, tu học
theo hạnh Bồ
Tát. Dùng tám
vạn bốn ngàn
pháp môn của chư
Phật nói tu tập,
mà chứng được
đạo quả bồ đề,
để trang nghiêm
thân mình. Xả bỏ
hết vật chất bên
ngoài thân,
chẳng sinh tâm
hối tiếc. Tác
phong như thế
của Bồ Tát, luôn
luôn được mười
phương chư Phật
tán thán khen
ngợi: Lành thay
! Lành thay !
Thiện nam tử !
Ông thật tinh
tấn, phát tâm
đại bồ đề như
thế, làm việc mà
người khác không
làm được, xả bỏ
nhà cửa vật chất
mà người khác
không thể xả bỏ
được, tất cả hết
thảy, đều bố thí
cho người khác,
mà chẳng hối
tiếc, chẳng lưu
luyến, chẳng
chấp trước, thật
là đáng quý. Bồ
Tát thấy thấy có
người đến cầu
xin, trong tâm
rất hoan hỉ vô
cùng, vui mừng
có cơ hội thực
hành đại bố thí.
Bấy giờ, Bồ Tát
đem căn lành hồi
hướng như vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh xả
lìa vợ con,
thành tựu niềm
vui xuất gia bậc
nhất. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh giải thoát
khỏi nhà ràng
buộc, vào nhà
giải thoát, ở
trong các Phật
pháp tu hành
phạm hạnh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh xả
lìa bỏn xẻn, ưa
thích bố thí tất
cả, tâm chẳng
thối chuyển.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
vĩnh viễn lìa
nghiệp nhà, ít
dục biết đủ,
không cất giấu
của cải. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh thoát khỏi
nhà thế tục, trụ
nhà Như Lai.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
được pháp vô
ngại, diệt trừ
tất cả sự chướng
ngại. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh lìa sự
luyến ái quyến
thuộc gia đình,
tuy hiện ở nhà
mà tâm chẳng
chấp trước.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
khéo hoá dụ,
không lìa nghiệp
nhà, mà nói trí
huệ của Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thân hiện tại
gia, tâm thường
tuỳ thuận Phật
trí mà trụ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh ở
tại gia, mà trụ
nơi nhà Phật,
khắp khiến cho
vô lượng vô viên
chúng sinh phát
tâm hoan hỉ.
Ðó là hối hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí nhà cửa.
Vì muốn khiến
cho chúng sinh
thành tựu đủ thứ
hạnh nguyện thần
thông trí huệ
của Bồ Tát.
Ðại Bồ Tát tu
hạnh bố thí, lúc
đó lại đem căn
lành tu tập bố
thí nhà cửa, vì
chúng sinh mà
hồi hướng như
vầy: Ngài nói
tôi nguyện cho
tất cả chúng
sinh quyết tâm
xả lìa tự cầu
giải thoát, đi
tu học phạm hạnh
Bồ Tát đạo,
thành tựu tự tại
an lạc của sự
xuất gia. Xuất
gia là việc
không dễ dàng,
chẳng phải cạo
đầu xong, mặc y
cà sa vào, nói
mấy câu đạo lý
nghe hay lỗ tai,
ngồi đó nhắm mắt
tham thiền. Ðó
chỉ là người
xuất gia mặc y
Phật, ăn cơm
Phật, biểu diễn
mà thôi. Nếu có
thể lời nói hành
động hợp nhất,
từ bi bình đẳng
đãi người tiếp
vật, trước người
sau người chẳng
trái với chánh
đạo, thì đó mới
là bổn phận của
một người xuất.
Người xuất gia
có ba loại:
1. Thân xuất gia
tâm không xuất
gia.
2. Tâm xuất gia
thân chưa xuất
gia.
3. Thân tâm đều
đã xuất gia.
Nhà xuất gia có
ba trình độ khác
nhau, xem người
công phu tu trì
mà định.
1.
Xuất thế tục gia
(ra khỏi nhà thế
tục): Ðây tứ là
bốn chúng đệ
tử-Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, Sa Di,
Da Di Ni.
2.
Xuất phiền não
gia (ra khỏi nhà
phiền não): Xuất
gia rồi mỗi
người tự tu trì
tiến tới, chỉ có
mình biết, bất
quá nói năng
hành động của
người này, người
khác cũng có thể
nhìn thấy được.
Tập khí mao bệnh
của một người
xuất gia, ngày
càng giảm bớt,
thì biểu hiện
tham sân si,
ngày càng tiêu
diệt, cổ đức có
nói:
"Vô minh phần
phần phá
Pháp thân phần
phần chứng".
Nghĩa
là phá từng phần
từng phần vô
minh, chứng từng
phần từng phần
pháp thân. Vị
xuất gia đó,
đang nỗ lực
thoát khỏi nhà
vô minh phiền
não, hướng đi
tới đại đạo bồ
đề.
3.
Xuất tam giới
gia (ra khỏi nhà
ba cõi): Ðây tức
là người đã xuất
gia mà vẫn còn
chìm đắm trong
tại gia, khai
thị tổ hợp gia
tộc, đều do nhân
duyên thành tựu,
không cần quá
chấp trước. Họ
dẫn dụng nhân
sinh đạo lý đại
trí huệ của Phật
nói, chỉ dẫn
những kẻ mê lầm,
khiến cho họ
không lìa nhà
thế tục, mà cũng
tín ngưỡng Phật
pháp, tu học
Phật pháp, minh
bạch Phật pháp,
không bị nhà thế
tục trói buộc.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tuy nhiên hiện
thân ở trong nhà
thế tục, mà tâm
tuỳ thuận trí
huệ của chư
Phật, tu hành
biện đạo an trụ
chẳng động. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
tuy nhiên hiện
tại chẳng có
xuất gia, vẫn là
cư sĩ tại gia,
nhưng tâm nguyện
của họ đã trụ
nơi địa vị của
Phật, có thế
khắp khiến cho
vô lượng vô biên
chúng sinh, phát
sinh tâm hoan
hỉ. Ðó là hồi
hướng căn lành
của đại Bồ Tát,
khi Ngài bố thí
nhà cửa. Vì muốn
khiến cho chúng
sinh thành tựu
đủ thứ đại
nguyện và pháp
môn tu hành như
Bồ Tát, và thần
thông trí huệ
nhậm vận tự tại.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát bố thí đủ
thứ vườn rừng
đình đài, nơi
trang nghiêm du
hí khoái lạc,
bèn nghĩ như
vầy: Tôi sẽ vì
tất cả chúng
sinh làm vườn
rừng tốt. Tôi sẽ
vì tất cả chúng
sinh thị hiện
pháp vui. Tôi sẽ
bố thí cho tất
cả chúng sinh ý
hoan hỉ. Tôi sẽ
bày cho tất cả
chúng sinh vô
biên sự vui
mừng. Tôi sẽ bố
thí cho tất cả
chúng sinh pháp
môn khai tịnh.
Tôi sẽ khiến cho
tất cả chúng
sinh phát tâm
hoan hỉ. Tôi sẽ
khiến cho tất cả
chúng sinh được
Phật bồ đề. Tôi
sẽ khiến cho tất
cả chúng sinh
thành tựu viên
mãn nguyện lớn.
Tôi sẽ ở nơi
chúng sinh giống
như cha mẹ. Tôi
sẽ khiến cho tất
cả chúng sinh
được trí huệ
quán sát. Tôi sẽ
bố thí cho tất
cả chúng sinh đồ
vật tư sanh. Tôi
sẽ ở nơi tất cả
chúng sinh giống
như cha lành,
sinh trưởng tất
cả căn lành
nguyện lớn.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát, lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, giải thoát
khỏi sự ràng
buộc gia đình,
nhập vào gia
đình của chư
Phật, tu học
pháp môn của chư
Phật nói, siêng
tu phạm hạnh
thanh tịnh. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh
trừ khử sạch tâm
tham sân si,
chuyển biến
thành tâm hỉ xả
hoan hỉ bố thí,
ưa thí xả hết
thảy vật chất,
vĩnh viễn chẳng
sinh tâm thối
chuyển. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
vĩnh viễn lìa
khỏi quan niệm
gia đình thế
tục, thăng quan
phát tài, dương
danh hiển thân,
truyền tông tiếp
đại .v.v...càng
không muốn tham
đồ bất nghĩa,
cất giấu châu
báu, những việc
đó đều là gốc
mầm tạo nghiệp
mang hoạ. Cổ
nhân có nói:
"Ða tàng tất hậu
vong".
Lại nói:
"Thân biên vô ái
vật
Tự vô phiền não
sinh".
Nghĩa là mình
chẳng có vật
thương tiếc, thì
chẳng có phiền
não gì sinh ra.
Cổ nhân nói
không sai chút
nào, chung quanh
mình thương tiếc
vật gì nhiều,
thì phiền não
ràng buộc không
ngừng, đó cũng
là thương tiếc
vật gì, thì cũng
xả bỏ không
được, chết đi
chẳng nhắm mắt
đặng, cuối cùng
vẫn là hai bàn
tay trắng ra đi.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
sớm thoát khỏi
phiền não ràng
buộc của nhà thế
tục, để học Phật
pháp, tu học
hạnh thanh tịnh,
tương lai trụ ở
trong nhà của
Phật, ở với
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được pháp
rốt ráo viên
dung vô ngại,
diệt trừ sạch
tất cả pháp ô
nhiễm chướng
ngại người khác,
thanh tịnh tự
tại. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, lìa khỏi
tình ái trong
gia đình, tuy
nhiên hiện là
thân phận tại
gia, nhưng trong
tâm chẳng chấp
trước luyến ái
về gia đình. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
khéo làm vườn
hoa lớn nhỏ,
rừng cây danh
quý, thiết kế
lầu các tinh xảo
mỹ lệ, đình đài,
nhà ca hát, nhảy
múa, nơi nơi đều
trang trí rất là
đẹp đẽ, trần
thiết cũng trang
nghiêm, thật là
tận thiện tận
mỹ, khiến cho
mọi người vui
chơi mà quên về.
Bồ Tát bố thí
những nơi cao
cấp như vậy cho
chúng sinh, Ngài
vẫn cảm thấy
chưa đủ, do đó,
trong tâm Ngài
nghĩ: Bản thân
tôi phải làm một
vườn rừng đẹp
cho chúng sinh,
để cho chúng
sinh học từ hành
vi của tôi mà
được hoàn thành
nhân cách kiện
toàn. Tôi phải
vì chúng sinh
dùng thân làm
khuông phép, thị
hiện đời người
chánh quyết bát
chánh đạo, khiến
cho chúng sinh
biết lấy pháp
làm vui, mới là
chân chánh an
lạc. Tôi phải
tuỳ thời bố thí
cho tất cả chúng
sinh tâm ý hoan
hỉ. Tôi phải chỉ
dẫn chúng sinh,
như thế nào để
truy cầu vô biên
vô tận hoan hỉ
an lạc. Tôi phải
đối với tất cả
chúng sinh khai
thị diễn nói đủ
thứ pháp môn
thanh tịnh. Tôi
phải khiến cho
tất cả chúng
sinh, tuỳ thời
đều tự tại phát
sinh tâm hoan
hỉ. Tôi phải
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
đắc được quả bồ
đề giác đạo của
Phật. Tôi phải
khiến cho tất cả
chúng sinh, đều
có thể viên mãn
thành tựu nguyện
lớn của họ đã
phát. Tôi phải
đối với tất cả
chúng sinh như
là người cha từ
ái của họ. Tôi
phải giáo hoá
tất cả chúng
sinh, khiến cho
họ đều khai mở
đại trí huệ,
dùng mắt trí huệ
để quán sát tất
cả nhân duyên
thiện ác thị
phi, tuần hoàn
nghiệp báo trên
thế gian. Tôi
phải bố thí cho
tất cả chúng
sinh vật chất
nuôi dưỡng sinh
mạng, dưỡng lớn
Phật pháp huệ
mạng. Tôi phải
đối với tất cả
chúng sinh,
giống như mẹ
hiền của họ, bồi
dưỡng họ sinh
trưởng các thứ
căn lành, hướng
dẫn họ phát tâm
nguyện lớn, gieo
trồng hạt giống
bồ đề.
Phật tử ! Khi
đại Bồ Tát tu
hành các căn
lành như vậy,
nơi chúng sinh
ác, chẳng sinh
tâm mỏi nhàm,
cũng chẳng lầm
khởi tâm xả bỏ.
Giả sử thế gian
đầy tất cả chúng
sinh không biết
ơn, Bồ Tát ở chỗ
họ ban đầu chẳng
sinh tâm hiềm
hận, chẳng sinh
một tâm niệm cầu
báo đáp, chỉ
muốn diệt vô
lượng khổ não
của họ. Nơi các
thế gian tâm như
hư không, chẳng
có sự nhiễm
trước, khắp quán
tướng chân thật
của các pháp.
Phát thệ nguyện
lớn, diệt trừ
khổ của chúng
sinh. Vĩnh viễn
chẳng nhàm bỏ
chí nguyện đại
thừa, diệt trừ
tất cả những cái
thấy, tu các
hạnh nguyện bình
đẳng của Bồ Tát.
Các vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát, giống
như Kinh văn ở
trước đã nói, tu
hành đủ thứ căn
lành, đối với
những chúng sinh
ác bất thiện,
Ngài chẳng sinh
tâm nhàm chán,
cũng không thể
gặp mà khởi tâm
bỏ họ. Giả sử
trên thế gian
đầy dẫy tất cả
những chúng sinh
không biết ơn
báo đức, đối với
thiện tri thức
vong ơn bội
nghĩa, Bồ Tát
đối với loại
người nầy, từ
đầu đến cuối
cũng chẳng hiềm
khích họ, chẳng
sân sận họ,
tuyệt đối chẳng
sinh một tâm
niệm đáp lại,
nhận rằng mình
bố thí cho các
bạn rất nhiều đồ
vật, đối đãi các
bạn có ơn, thì
các bạn sẽ báo
đáp tôi, làm nô
lệ cho tôi. Bồ
Tát chẳng có
những tư tưởng
như thế, chỉ
nguyện có thể
thay thế chúng
sinh diệt trừ vô
lượng đau khổ
phiền não. Ðối
với tất cả vinh
hoa phú quý trên
thế gian, hưởng
thụ năm dục,
Ngài đều thấy
như là mây trôi.
Tâm của Ngài
giống như hư
không, có thể
dung chứa vạn
vật, chẳng sinh
chẳng diệt,
không tăng không
giảm, không dơ
không sạch,
chẳng nhiễm một
chút nào, chẳng
chấp trước bất
cứ những gì, tự
tại vô hạn. Khắp
quán sát thật
tướng của các
pháp, minh bạch
tướng chân thật
tức là vô tướng,
vô tướng mới là
thật tướng. Có
tướng thì có
sinh diệt, vô
tướng thì chẳng
có sinh diệt.
Cho nên Bồ Tát
đã giác ngộ đạo
lý nầy, bèn phát
thệ nguyện lớn
cứu chúng sinh
thoát khỏi cảnh
mê có tướng,
diệt trừ đau khổ
truy cầu, chấp
trước, có tướng
của chúng sinh.
Ngài vĩnh viễn
chẳng xả bỏ tất
cả chúng sinh,
vĩnh viễn cũng
chẳng xả lìa chí
nguyện Bồ Tát
đại thừa cứu
chúng sinh. Ngài
đã diệt trừ kiến
hoặc tà tri tà
kiến, tư hoặc,
vô minh hoặc.
Ðầy đủ chánh tri
chánh kiến, tu
hành hạnh lớn
nguyện lớn bình
đẳng vô tư của
các vị đại Bồ
Tát, giáo hoá
tất cả chúng
sinh.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát quán sát như
vậy rồi, nhiếp
các căn lành đều
đem hồi hướng:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
niệm niệm sinh
ra vô lượng pháp
lành, thành tựu
tâm vườn rừng vô
thượng. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, được pháp
chẳng động, thấy
tất cả chư Phật
đều hoan hỉ.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
ưa thích pháp
vườn tược, được
niềm vui vườn
tược của chư
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được tâm
tịnh diệu,
thường thấy vườn
rừng thần thông
của Như Lai.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được niềm vui du
hí của Phật,
thường khéo du
hí cảnh giới trí
huệ. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, được niềm
vui du hí, đến
khắp đạo tràng
chúng hội cõi
nước của chư
Phật.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp môn
hồi hướng, giống
như ở trước đã
nói, quán sát
căn tánh ưu liệt
của chúng sinh
thế gian rồi, Bồ
Tát thương xót
chúng sinh ngu
si, nghĩ muốn
cứu chúng sinh
thoát khỏi biển
khổ, do đó, Ngài
nhiếp lấy các
thứ căn lành của
mình tu tập, đều
hồi hướng cho
chúng sinh. Ngài
nói tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, ở trong
niệm niệm, đều
từ từ sinh ra vô
lượng pháp lành,
thành tựu tâm
tốt đẹp giống
như vườn rừng.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
pháp tam muội
chánh định chẳng
động, ở trong
định thấy được
các đức Phật,
mỗi vị Phật đối
với Bồ Tát đều
sinh tâm hoan
hỉ. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, hoan hỉ
như pháp vườn
hoa và vườn động
thực chim thú
quây quần, người
với chim thú
sống hoà bình
với nhau, đầy sự
vui vẻ thương
yêu. Chỉ có vườn
tược trong cõi
nước chư Phật,
mới đắc được sự
vui vẻ không thể
nghĩ bàn như
thế. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều đắc
được tâm pháp
thanh tịnh
thượng diệu,
luôn luôn có thể
thấy được thần
túc vườn rừng
của Phật. Thứ
vườn rừng đó nhà
tự nhiên ngàn
biến vạn hoá, có
thần lực kỳ diệu
không thể nghĩ
bàn, có thể ví
dụ nó có thần
túc thông. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đắc được niềm
vui du hí của
Phật, sự du hí
đó là chư Phật
vì giáo hoá
chúng sinh, biến
đổi phương thức
dẫn dắt chúng
sinh nhập vào
biển trí huệ của
Phật, chứ chẳng
phải du hí của
thế gian chẳng
có ý nghĩa gì,
mà là có thể
khiến cho chúng
sinh thường du
hí trong cảnh
giới trí huệ.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đắc được
niềm vui du hí
thần thông, ở
trong mỗi niệm
có thể đến khắp
cõi nước chư
Phật trong mười
phương, tham gia
đại pháp hội
thuyết pháp,
nghe chánh pháp,
trong đạo tràng
của chư Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu du hí
giải thoát của
Bồ Tát, suốt
kiếp thuở vị lai
thực hành hạnh
Bồ Tát, tâm
không mệt mỏi.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thấy tất cả chư
Phật đầy khắp
pháp giới, phát
tâm rộng lớn,
trụ nơi vườn
rừng của Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều có thể đến
khắp tất cả cõi
Phật. Trong mỗi
mỗi cõi, đều
cúng dường các
đức Phật.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
được tâm muốn
thiện lành,
trang nghiêm
thanh tịnh tất
cả cõi Phật.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí vườn rừng
đình đài. Vì
muốn khiến cho
chúng sinh thấy
được tất cả chư
Phật. Du hí tất
cả vườn rừng của
Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
giải thoát vô
ngại giống như
các đại Bồ Tát,
nhậm vận tự tại
du hí trong các
cõi, suốt thuở
vô lượng kiếp vị
lai, đều tu hành
hạnh Bồ Tát,
hành Bồ Tát đạo,
mà tâm vĩnh viễn
không mệt mỏi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thấy được
chư Phật đầy dẫy
trong hư không
pháp giới, mỗi
chúng sinh đều
phát tâm bồ đề
rộng lớn, mọi
người đều trụ
nơi vườn rừng
của chư Phật.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, đều có thể
đến khắp cõi
nước chư Phật
trong mười
phương, đến đạo
tràng của mỗi vị
Phật để cúng
dường chư Phật,
lễ lạy chư Phật,
gần gũi chư
Phật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều được
tâm vui thiện
lành, thanh tịnh
ba nghiệp thành
tựu căn lành,
trang nghiêm cõi
nước chư Phật.
Ðó là hồi hướng
căn lành của đại
Bồ Tát, khi Ngài
bố thí vườn rừng
đình đài. Ngài
vì muốn khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều có thể
thấy được mười
phương chư Phật,
tự tại du hí nơi
vườn rừng của
chư Phật.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát lập trăm
ngàn ức Na do
tha, vô lượng vô
số hội bố thí
rộng lớn, tất cả
đều thanh tịnh,
được chư Phật ấn
khả, trọn không
tổn não một
chúng sinh nào.
Khắp khiến cho
chúng sinh xa
lìa các điều ác,
thanh tịnh ba
nghiệp, thành
tựu trí huệ, mở
bày vô lượng
trăm ngàn ức Na
do tha A tăng kỳ
cảnh giới thanh
tịnh. Tích tập
vô lượng trăm
ngàn ức Na do
tha A tăng kỳ
vật tư sanh.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp bố
thí, Ngài đã
từng lập trăm
ngàn ức Na do
tha A tăng kỳ vô
lượng vô số lần
pháp hội bố thí
rộng lớn. Những
lần pháp hội đó,
đều làm được
viên mãn thanh
tịnh, lại được
mười phương chư
Phật khen ngợi
ấn khả. Từ đầu
đến cuối chẳng
có tổn hại não
loạn một chúng
sinh nào. Khắp
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
xa lìa các thứ
nghiệp ác, đắc
được đạo quả ba
nghiệp thanh
tịnh, thành tựu
tâm trí huệ. Mở
bày vô lượng
trăm ngàn ức Na
do tha A tăng kỳ
cảnh giới thanh
tịnh. Tích tập
vô lượng trăm
ngàn ức Na do
tha A tăng kỳ
vật tư sanh tốt
đẹp.
Bồ Tát phát tâm
bồ đề rất khó
được, hành bố
thí vô hạn,
khiến cho các
chúng sinh trụ
đạo thanh tịnh.
Ban đầu, giữa,
sau, đều thiện.
Sinh niềm tin
hiểu biết thanh
tịnh. Tuỳ thuận
sự ưa thích trăm
ngàn ức vô lượng
tâm chúng sinh,
đều khiến cho họ
hoan hỉ. Dùng
đại từ bi cứu hộ
tất cả, thừa sự
cúng dường chư
Phật ba đời. Vì
muốn thành tựu
tất cả giống
Phật. Tu hành bố
thí, trong tâm
chẳng hối tiếc,
tăng trưởng niềm
tin, thành tựu
viên mãn hạnh
thù thắng, niệm
niệm tăng tấn bố
thí Ba La Mật.
Bồ Tát phát tâm
bồ đề vô thượng
rất khó được,
thực hành đại bố
thí khó xả mà xả
bỏ được-trong
thì xả đầu mắt
tuỷ não ngũ tạng
lục phủ và thân
nầy. Ngoài thì
xả đất nước vợ
con và tất cả
kho tàng bảy
báu. Bố thí
pháp, bố thí
không sợ hãi,
chẳng có giới
hạn. Khiến cho
tất cả chúng
sinh đều an trụ
nơi Phật đạo
thanh tịnh. Ban
đầu lành, giữa
lành, sau lành,
ngày đêm sáu
thời, chẳng có
thời nào chẳng
sinh tâm tin
thanh tịnh, và
đối với Phật đạo
các thứ pháp môn
tâm trí giác ngộ
thông đạt thấu
hiểu. Tuỳ thuận
trăm ngàn ức vô
lượng chúng sinh
đều hoan hỉ. Bồ
Tát đều khiến
cho mỗi người
đều đầy đủ tâm
hoan hỉ của họ.
Dùng tâm đại từ
bi để cứu bạt
tất cả chúng
sinh, khiến cho
họ thoát khỏi
biển khổ, dùng
nguyện lực cứu
khổ cứu nạn, để
bảo hộ tất cả
chúng sinh,
khiến cho họ đều
đắc được an ổn
vui vẻ. Thừa sự
mười phương chư
Phật, dùng đồ
vật thượng hạng
cúng dường mười
phương chư Phật.
Mục đích Bồ Tát
tu hành thành
khẩn như thế, là
vì hy vọng thành
tựu đức hạnh
giống Phật, tu
hành bố thí lớn
khó làm mà làm
được. Hy sinh
bất cứ cái gì,
đều hành vô sở
đắc, trong tâm
chưa từng so
sánh, cũng chẳng
sinh tâm hối
tiếc. Căn lành
tăng trưởng,
niềm tin ngày
càng kiên cố,
viên mãn thành
công đủ thứ hạnh
môn thù thắng.
Bấy giờ, Bồ Tát
đem các căn lành
hồi hướng như
vầy:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
phát tâm đại
thừa, đều được
thành tựu bố thí
đại thừa. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều có thể
thực hành hội bố
thí lớn. Bố thí
tất cả. Bố thí
lành. Bố thí tối
thắng. Bố thí vô
thượng. Bố thí
vô thượng nhất.
Bố thí không gì
bằng. Bố thí
vượt hơn các thế
gian. Bố thí
được tất cả chư
Phật khen ngợi.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
làm thí chủ bậc
nhất. Nơi các
đường ác cứu
giúp chúng sinh,
đều khiến cho họ
được vào con
đường trí huệ vô
ngại. Tu đại
nguyện bình đẳng
căn lành như
thật, tự chứng
được trí huệ
cảnh giới không
khác biệt.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
an trụ các thiền
định trí huệ
vắng lặng, vào
con đường bất
tử, rốt ráo tất
cả thần thông
trí huệ. Dũng
mãnh tinh tấn,
đầy đủ các bậc,
trang nghiêm
Phật pháp, đến
nơi bờ kia, vĩnh
viễn không thối
chuyển.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
lập hội bố thí
lớn, trọn không
nhàm mỏi, cứu tế
chúng sinh,
chẳng ngừng
nghỉ, rốt ráo
nhất thiết chủng
trí vô thượng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
luôn siêng gieo
trồng tất cả căn
lành, đến được
bờ kia vô lượng
công đức.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường được chư
Phật khen ngợi,
khắp vì thế gian
làm đại thí chủ,
công đức đầy đủ,
sung mãn pháp
giới, chiếu khắp
mười phương, bố
thí niềm vui vô
thượng.
Khi Bồ Tát thành
tựu hạnh thù
thắng, hướng về
bố thí Ba La Mật
rồi, Ngài bèn
đem hết thảy các
căn lành tu tập,
hồi hướng cho
chúng sinh: Ngài
nói tôi nguyện
cho tất cả chúng
sinh, đều phát
tâm Bồ Tát đại
thừa-đại thừa là
thừa viên mãn,
tức cũng là Phật
thừa, Bồ Tát
thừa. Bồ Tát hi
vọng thành Phật,
cho nên phải
phát tâm đại
thừa, phát tâm
đại thừa độ khắp
chúng sinh thoát
khỏi biển sinh
tử. Ðều có thể
thành tựu bố thí
đại thừa. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
đều thực hành
pháp hội bố thí
lớn, đem hết tất
cả ra bố thí,
dùng tâm lành
tận thiện tận mỹ
để bố thí, bố
thí thù thắng
nhất, bố thí tốt
đẹp nhất, bố thí
vô thượng nhất,
bố thí chẳng có
gì bằng được, bố
thí vượt hơn tất
cả thế gian,
được mười phương
chư Phật tán
thán khen ngợi.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, làm đại
thí chủ bậc nhất
trên thế gian,
đến bốn đường ác
bố thí bình
đẳng, và còn
khuyên họ cải ác
hướng thiện, cứu
tế họ thoát khỏi
các đường ác, hy
vọng họ tương
lai đều đắc được
trí huệ viên
dung vô ngại,
vào Phật đạo, tu
hành nguyện lớn
bình đẳng, thành
tựu trí huệ căn
lành bình đẳng
chân thật, chẳng
có tâm phân
biệt, tự chứng
được cảnh giới
trí huệ thật tu.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, an trụ
trong bốn thiền
tám định vắng
lặng, dùng trí
diệt khổ sinh
tử, vào con
đường Niết Bàn
chấm dứt sinh
tử. Ðắc được
thần thông và
trí huệ chân
thật, dũng mãnh
tinh tấn tu hành
Phật đạo, viên
mãn đầy đủ công
đức các bậc thập
địa, thành tựu
quả vị thập địa
Bồ Tát. Dùng căn
lành tu tập để
trang nghiêm
Phật pháp, đến
được Niết Bàn bờ
kia, vĩnh viễn
không thối
chuyển tâm bồ
đề, cũng chẳng
thối lùi về địa
vị phàm phu, trừ
phi theo nguyện
lực trở lại, vẫn
còn sinh tử độ
khắp chúng sinh.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, cũng
thường lập pháp
hội bố thí lớn,
chẳng nhàm mỏi,
luôn luôn cứu tế
tất cả chúng
sinh, tâm nguyện
bố thí luôn luôn
không ngừng nghỉ
giữa chừng. Như
thế niệm niệm
không ngừng hành
bố thí công đức,
cuối cùng sẽ đắc
được nhất thiết
chủng trí vô
thượng chân
thật. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, luôn luôn
siêng năng gieo
trồng tất cả căn
lành, thời thời
tài bồi căn
lành, khiến cho
căn lành tăng
trưởng, đạt đến
công đức bờ kia
chẳng có hạn
lượng. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thường
được chư Phật
tán thán khen
ngợi, đến khắp
mười phương thế
giới, làm đại
thí chủ của
chúng sinh, đủ
thứ công đức đầy
đủ viên mãn, đầy
dẫy khắp hư
không pháp giới,
ân huệ bố thí
khắp và mười
phương cõi nước,
ban cho chúng
sinh niềm vui vô
thượng.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
lập hội bố thí
lớn, rộng tích
tập căn lành,
bình đẳng nhiếp
chúng sinh đến
bờ kia.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu bố thí
thù thắng nhất,
khắp khiến cho
chúng sinh trụ
thừa đệ nhất.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
bố thí theo
thời, vĩnh viễn
lìa phi thời, bố
thí lớn rốt ráo.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu bố thí
lành, đến được
bố thí bờ kên
kia của Phật đại
trượng phu.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
rốt ráo thường
hành bố thí đại
trang nghiêm,
tôn hết tất cả
chư Phật làm
thầy, thảy đều
gần gũi, cúng
dường lớn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
trụ nơi bố thí
thanh tịnh, tích
tập vô lượng
phước đức đồng
pháp giới, đến
bờ bên kia.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
nơi các thế gian
làm đại thí chủ,
thệ độ mọi loài,
trụ bậc Như Lai.
Ðó là hồi hướng
căn lành lập hội
bố thí lớn của
đại Bồ Tát. Vì
muốn khiến cho
chúng sinh hành
bố thí vô
thượng, bố thí
rốt ráo của
Phật, thành tựu
bố thí lành, bố
thí không thể
hoại, bố thí
cúng dường chư
Phật, bố thí
không sân hận,
bố thí cứu chúng
sinh, bố thí
thành nhất thiết
trí, bố thí
thường thấy chư
Phật, bố thí
khéo tinh tấn,
bố thí rộng lớn
thành tựu tất cả
công đức trí huệ
của Bồ Tát chư
Phật.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
mở pháp hội bố
thí lớn nhất,
vật chất chất
đống như núi,
phàm là hết thảy
đồ vật ở nhân
gian hoặc trên
trời đều có hết,
tuỳ ý chúng sinh
hoan hỉ, đều có
thể làm mãn
nguyện yêu cầu
của họ, bình
đẳng nhiếp thọ
tất cả chúng
sinh đến Niết
Bàn bờ bên kia.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, thành tựu
sự bố thí thù
thắng đặc biệt
nhất, giảng Kinh
thuyết pháp,
khai thị các
pháp môn thâm
áo, chỉ dẫn
chúng sinh tu
Phật đạo vô
thượng, khắp
khiến cho chúng
sinh đều trụ nơi
Phật thừa bậc
nhất. Lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh, bố thí
đúng thời-như
đói thì bố thí
cơm, khát thì bố
thí nước. Ðương
lúc cần gấp, thì
lập tức đầy đủ
nguyện vọng của
họ, đó là bố thí
đúng thời. Giả
sử người khác
không cần nữa,
mà bạn vẫn bố
thí, thì ngược
lại làm cho họ
phiền phức, cho
rằng bạn là kẻ
nguỵ thiện, đó
là bố thì không
đúng thời. Bồ
Tát hy vọng
chúng sinh không
bố thí trái
thời, đầu óc cần
phải sáng suốt,
biết lúc nào
thích nghi sự bố
thí, thì mới kết
duyên hoan hỉ
với chúng sinh.
Pháp hội bố thí
lớn, phải làm
cho thực tế,
phẩm vật bố thí
phải tốt nhất,
người chủ trì
pháp hội bố thí
phải khiêm cung
thành khẩn, khi
bố thí vật cho
người thì thái
độ phải cung
kính. Nếu được
như thế thì,
người bố thí
chẳng có tâm
kiêu mạn, kẻ thọ
nhận chẳng mặc
cảm tự ti, đều
hoan hỉ, thì sẽ
rốt ráo viên mãn
pháp hội bố thí
lớn.
Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thành tựu sự bố
thí thiện, đạt
đến bố thí lớn
của bậc đại
trượng phu như
Phật làm, công
đức đầy đủ viên
mãn, thành tựu
bố thí Ba La
Mật. Sự bố thí
đó chỉ có Phật
Bồ Tát mới làm
được, vì phải xả
bỏ nội ngoại
tài, phàm phu
chẳng đạt đến
cảnh giới nầy.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, luôn luôn
chân chánh bố
thí lớn trang
nghiêm, mười
phương chư Phật
đều đến làm đạo
sư pháp bố thí
của họ, tất cả
chúng sinh cũng
đều biết gần gũi
chư Phật, đều
phát khởi cúng
dường lớn đến
chư Phật. Lại
nguyện cho tất
cả chúng sinh,
có thể dùng ba
nghiệp thanh
tịnh, thường
thường bố thí,
tích tụ vô lượng
phước đức đồng
với pháp giới,
đến được công
đức bờ bên kia.
Lại nguyện cho
tất cả chúng
sinh, làm chủ bố
thí trong mười
phương thế giới,
phát thệ nguyện
lớn, nhất định
muốn cứu độ khắp
tất cả chúng
sinh, đều đi đến
cõi nước của chư
Phật.
Ðó
là hồi hướng căn
lành của đại Bồ
Tát, khi Ngài mở
pháp hội bố thí
lớn, đem hết
thảy công đức
căn lành hồi
hướng cho chúng
sinh. Vì muốn
khiến cho chúng
sinh thực hành
bố thí vô
thượng, giống
như sự bố thí
chân chánh tốt
đẹp của chư Phật
đã làm, thành
tựu nghiệp thiện
bố thí, bố thí
không thể bị
ngoại đạo phá
hoại, bố thí
cúng dường mười
phương ba đời
chư Phật, bố thí
chẳng có tâm sân
hận oán giận,
bình đẳng bố thí
cứu giúp tất cả
chúng sinh, bố
thí thành tựu
nhất thiết trí
huệ, nhờ công
đức bố thí mà có
thể thường được
thấy chư Phật,
dũng mãnh tinh
tiến bố thí
siêng tu nghiệp
thiện, thành tựu
công đức của tất
cả Bồ Tát, và
trí huệ của chư
Phật, bố thí
rộng lớn. Vì
những nguyên
nhân ở trên, cho
nên Bồ Tát phải
tu pháp bố thí,
thực hành đạo bố
thí.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
bố thí tất cả
vật tư sanh, tâm
chẳng có tham
tiếc, chẳng cầu
quả báo, chẳng
hy vọng phước
lạc của thế
gian. Lìa tâm
vọng tưởng, khéo
tư duy các pháp.
Vì muốn lợi ích
tất cả chúng
sinh, mà quán
sát thật tướng
của tất cả các
pháp. Tuỳ theo
đủ thứ chúng
sinh khác nhau,
sự dùng và chỗ
mong cầu thảy
đều khác nhau,
mà sắm sửa vô
lượng đồ vật tư
sanh, tất cả đều
nghiêm sức, thảy
đều tốt đẹp,
thực hành bố thí
vô biên, bố thí
tất cả, bố thí
hết trong ngoài.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp môn
bố thí, Ngài bố
thí các thứ đồ
vật cần dùng
trong cuộc
sống-tiền tài,
châu báu, ăn
uống, thuốc men,
Ngài đều không
sinh tâm tham
sẻn, cũng không
cầu người khác
báo đáp cho
Ngài. Ðối với
danh văn lợi
dưỡng phú quý
trên thế gian,
Ngài chẳng có
chút mong cầu gì
cả. Ngài sớm đã
lìa tâm vọng
tưởng, lúc nào
cũng tư duy các
pháp. Vì Ngài
muốn lợi ích tất
cả chúng sinh,
cho nên Ngài
quán sát thật
tánh, thật
tướng, chân
tánh, của tất cả
các pháp rất kỹ
càng. Tuỳ theo
căn tánh khác
nhau của tất cả
chúng sinh, chỗ
dùng, chỗ mong
cầu của họ thảy
đều khác nhau.
Bồ Tát sắm sửa
vô lượng phẩm
vật tư sanh, đầy
đủ hết các thứ,
tất cả phẩm vật
đều trang
nghiêm, tốt đẹp
nhất hiếm có
trên thế gian.
Bồ Tát thực hành
bố thí vô biên,
bố thí tất cả,
nội tài ngoại
tài đều bố thí
xả hết.
Khi
Bồ Tát bố thí,
tăng thêm sức
chí nguyện, đắc
được công đức
lớn, thành tựu
tâm báu, thường
bảo hộ tất cả
chúng sinh, đều
khiến cho họ
phát sinh chí
nguyện thù
thắng. Bồ Tát
chưa từng có tâm
cầu đền đáp. Hết
thảy căn lành
đồng với chư
Phật ba đời, đều
viên mãn nhất
thiết chủng trí.
Khi
Bồ Tát bố thí
như thế, thì
Ngài rất hoan
hỉ, tinh thần
sung mãn, nguyện
lực tăng trưởng
trong vô hình,
đắc được công
đức lớn, đó là
cảm ứng của sự
không mong cầu.
Chẳng những đắc
được công đức vô
cùng vô tận, mà
còn thành tựu
tâm báu trí huệ
thù thắng nhất.
Luôn luôn bảo hộ
tất cả chúng
sinh, khiến cho
họ cũng lập chí
lớn, phát nguyện
lớn. Bồ Tát từ
lúc phát nguyện
bố thí khắp tất
cả, chưa từng có
tâm hy vọng
chúng sinh báo
đáp. Ngài tu tập
đủ thứ căn lành,
đã đồng với chư
Phật ba đời.
Pháp môn đã tu
và căn lành tích
tập đều đã viên
mãn, các thứ trí
huệ cũng đã đầy
đủ.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
đem hết thảy căn
lành bố thí đó,
hồi hướng cho
chúng sinh:
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
thanh tịnh điều
phục. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh diệt trừ
phiền não,
nghiêm tịnh tất
cả cõi nước chư
Phật. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh dùng tâm
thanh tịnh, nơi
một niệm đi khắp
pháp giới.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
trí huệ sung mãn
hư không pháp
giới. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh được nhất
thiết trí, vào
khắp ba đời điều
phục chúng sinh,
tất cả mọi thời
thường chuyển
bánh xe pháp
thanh tịnh bất
thối. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đủ nhất
thiết trí, khéo
thị hiện thần
thông phương
tiện, lợi ích
chúng sinh.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát đem vô lượng
công đức căn
lành của Ngài bố
thí tích tập,
hồi hướng cho
tất cả chúng
sinh. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh thân tâm
điều thuận, sáu
căn thanh tịnh.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
diệt trừ đủ thứ
phiền não, dùng
công đức thanh
tịnh trang
nghiêm cõi nước
của mười phương
chư Phật. Nguyện
cho tất cả chúng
sinh dùng tâm
thanh tịnh, ở
trong một niệm
du hành khắp
mười phương pháp
giới. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh trí huệ
sung mãn tận hư
không khắp pháp
giới. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh đều đắc
được nhất thiết
trí huệ, vào
khắp ba đời,
giáo hoá điều
phục chúng sinh.
Mọi thời gian
đều có thể
chuyển bánh xe
pháp thanh tịnh,
hoằng dương
chánh pháp, vĩnh
viễn không mệt
mỏi, vĩnh viễn
không gián đoạn,
vĩnh viễn không
thối chuyển.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
đầy đủ các thứ
trí huệ, khéo
vận dụng thần
thông, quán căn
cơ chúng sinh,
tuỳ thuận phương
tiện nhiếp thọ
chúng sinh, lợi
ích vô lượng vô
biên chúng sinh.
Nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều ngộ
nhập vào bồ đề
của chư Phật,
suốt thuở kiếp
vị lai trong
mười phương thế
giới, thường nói
chánh pháp, chưa
từng nghỉ ngơi,
khiến cho các
chúng sinh khắp
được nghe biết.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
nơi vô lượng
kiếp tu hạnh Bồ
Tát, đều được
viên mãn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh
trong tất cả thế
giới, hoặc
nhiễm, hoặc
tịnh, hoặc lớn,
hoặc nhỏ, hoặc
thô, hoặc tế,
hoặc ngửa, hoặc
úp, hoặc một
trang nghiêm,
hoặc đủ thứ
trang nghiêm,
các thế giới có
thể nói ra, các
thế giới trong
vô số thế giới,
thảy đều tu hạnh
Bồ Tát.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh ở
trong mỗi niệm,
trong ba đời
thường làm tất
cả Phật sự, giáo
hoá chúng sinh,
hướng về nhất
thiết trí.
Bồ
Tát lại nguyện
cho tất cả chúng
sinh đều khai mở
trí huệ, ngộ
nhập bồ đề giác
đạo của chư
Phật, suốt kiếp
vị lai thường
đến mười phương
thế giới, giảng
giải chánh pháp,
vĩnh viễn không
mệt mỏi, khắp
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
nghe được chánh
pháp, cũng nhập
vào bồ đề giác
đạo. Nguyện cho
tất cả chúng
sinh, ở trong vô
lượng kiếp, đời
đời kiếp kiếp
đều tu hạnh Bồ
Tát-lục độ vạn
hạnh, đều tu
hành viên mãn.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh, ở
trong đủ thứ thế
giới: hoặc thế
giới thanh tịnh,
hoặc thế giới
nhiễm ô, hoặc
thế giới lớn,
hoặc thế giới
nhỏ, hoặc thế
giới thô, hoặc
thế giới vi tế,
hoặc thế giới
úp, hoặc thế
giới ngửa, hoặc
thế giới một thứ
trang nghiêm,
hoặc thế giới
nhiều thứ trang
nghiêm, hoặc tên
thế giới mắt có
thể thấy, ở
trong đủ thứ thế
giới trong vô
lượng thế giới,
đều ở tại đó tu
hạnh Bồ Tát,
hành Bồ Tát đạo,
chẳng có nơi nào
bỏ qua, nơi nơi
đều có chúng
sinh phát tâm bồ
đề như thế.
Nguyện cho tất
cả chúng sinh,
thường thường ở
trong mỗi niệm,
trong thế giới
mười phương ba
đời, đều làm các
Phật sự-hoằng
dương Phật pháp,
phổ độ chúng
sinh, giáo hoá
chúng sinh,
hướng về con
đường trí huệ
thanh tịnh chân
chánh tiến tới.
Phật
tử ! Ðại Bồ Tát
tuỳ thuận tất cả
chỗ mong cầu của
các chúng sinh,
đem A tăng kỳ đồ
vật như vậy bố
thí. Vì khiến
cho Phật pháp
tương tục không
dứt. Ðại bi cứu
khắp tất cả
chúng sinh, an
trụ nơi đại từ,
tu hạnh Bồ Tát.
Ðối với lời dạy
trong Phật giáo,
trọn không huỷ
phạm. Dùng
phương tiện khéo
léo tu hành các
điều lành. Không
dứt mất tất cả
giống tánh của
chư Phật. Tuỳ
theo chỗ mong
cầu đều ban cho,
mà không nhàm
mỏi, tất cả đều
xả bỏ, chưa từng
hối tiếc. Thường
siêng tu hồi
hướng về đạo
nhất thiết trí.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu pháp bố
thí, tuỳ thuận
chỗ cần dùng của
chúng sinh, dùng
tâm đại hỉ đại
xả, đem vô lượng
đồ vật bố thí
cho tất cả chúng
sinh, mãn nguyện
tâm mong cầu của
họ. Tại sao Bồ
Tát phải làm như
thế ? Vì khiến
cho tất cả Phật
pháp, vĩnh viễn
trường tồn không
dứt: An trụ tâm
đại bi, cứu độ
khắp tất cả
chúng sinh,
khiến cho họ đều
được an ổn, tự
nhiên, phát tâm
đại từ, siêng tu
Bồ Tát thừa lục
độ vạn hạnh. Ðối
với lời chỉ dạy
khai thị của chư
Phật, thành tâm
y giáo phụng
hành, thực hành
đúng đắn, chưa
từng huỷ phạm.
Nương vào pháp
môn phương tiện
khéo léo, tu
hành các nghiệp
lành, tức là
không làm các
điều ác, làm
toàn các điều
lành. Xa lìa ác
tri thức và
nghiệp ác, thành
tựu căn lành
giống tánh Phật,
khiến cho giống
tánh chư Phật
không dứt. Tuỳ
theo sự mong cầu
của người xin,
đều khiến cho họ
được mãn nguyện,
tuyệt đối không
buồn phiền, cũng
không cảm thấy
họ cầu xin nhiều
mà sinh tâm mệt
mỏi, tất cả đều
xả bỏ, cũng chưa
từng hối tiếc.
Luôn luôn đem
căn lành của
mình tích tập,
hồi hướng cho
tất cả chúng
sinh, hy vọng họ
đều hướng về cầu
nhất thiết trí
huệ, sớm thành
đạo quả.
Bấy
giờ, mười phương
cõi nước đủ thứ
hình loại, đủ
thứ cõi sinh, đủ
thứ ruộng phước,
đều tụ hội lại,
đến chỗ Bồ Tát,
cầu xin đủ thứ,
Bồ Tát thấy rồi,
nhiếp thọ khắp
hết, tâm sinh
hoan hỉ, như
thấy bạn lành.
Ðại bi thương
xót, nghĩ tìm
cách làm cho họ
mãn nguyện. Tâm
xả tăng trưởng,
chẳng có ngừng
nghỉ, cũng chẳng
mệt mỏi. Tuỳ
theo chỗ mong
cầu, đều khiến
cho họ được đầy
đủ, lìa khổ bần
cùng.
Lúc
đó, các cõi nước
trong mười
phương đủ thứ
hình trạng khác
nhau, trong đó
có đủ thứ giống
loài khác nhau,
chúng sinh trong
sáu đường, và đủ
thứ ruộng
phước-Phật và Bồ
Tát, bậc Thánh
nhị thừa, các
đại thiện tri
thức trong mười
phương, thật là
hải hội vân tập,
đều đến chỗ hội
bố thí lớn của
Bồ Tát, tuỳ theo
tâm mong cầu,
hướng về Bồ Tát
hoá duyên. Bồ
Tát thấy pháp
hội náo nhiệt
rồi, đều nhiếp
thọ khắp hết
những chúng sinh
đó. Trong tâm
Ngài hoan hỉ
giống như gặp
được bạn lành xa
cách đã lâu năm.
Dùng tâm đại bi
thương xót những
chúng sinh đó,
nghĩ tưởng dùng
phương cách tốt
nhất, để làm mãn
nguyện tâm
nguyện của họ.
Tâm đại xả tự
nhiên tăng
trưởng, chẳng có
ngừng nghỉ, cũng
chẳng cảm thấy
mệt mỏi. Tuỳ
theo chỗ họ cần
dùng, đều khiến
cho họ được đầy
đủ, lìa khỏi
hoàn cảnh khổ
bần cùng.
Bấy
giờ, những người
đến xin, tâm rất
vui mừng, truyền
tụng khen ngợi
đức hạnh của Bồ
Tát. Tiếng tốt
toả khắp, mọi
người đều đến
chỗ Bồ Tát. Bồ
Tát thấy rồi,
hoan hỉ vô
lượng.
Lúc
đó, tất cả chúng
sinh hướng về Bồ
Tát cầu xin,
sinh tâm rất vui
mừng, mà truyền
tụng tán thán
khen ngợi đức
hạnh của Bồ Tát.
Bồ Tát vì cứu
khổ của chúng
sinh, thà nguyện
mình chịu khổ.
Ðem hết thảy đồ
vật ra bố thí
cho chúng sinh,
rồi đem công đức
đắc được hồi
hướng pháp giới
chúng sinh, đó
là tinh thần của
Bồ Tát.
Do
đó có thể thấy,
Bồ Tát cũng hoan
hỉ người khen
ngợi. Song, sự
hoan hỉ đó chẳng
phải Bồ Tát cầu
lại, là chẳng
cầu mà được.
Tiếng tăm tốt
đó, bất luận
người xa gần đều
biết, cho nên
đều đến sùng bái
Ngài, đều đến
quy y với Ngài.
Bồ Tát thấy cảnh
giới như vậy
rồi, tâm sinh
hoan hỉ vô cùng
vô tận.
Giả
sử, trăm ngàn
vạn ức Na do tha
kiếp thọ sự an
vui của trời Ðế
Thích. Vô số
kiếp thọ sự an
vui của trời Dạ
Ma. Vô lượng
kiếp thọ sự an
vui của trời Ðâu
Suất. Vô biên
kiếp thọ sự an
vui của trời
Thiện Biến Hoá.
Vô đẳng kiếp thọ
sự an vui của
trời Tha Hoá Tự
Tại. Bất khả số
kiếp thọ sự an
vui của trời
Phạm Vương. Bất
khả xưng kiếp
thọ sự an vui
của vua Chuyển
Luân Vương. Bất
khả tư kiếp thọ
sự an vui của
trời Biến Tịnh.
Bất khả thuyết
kiếp thọ sự an
vui của trời
Tịnh Cư, đều
không bằng được.
Giả
sử trải qua trăm
ngàn ức Na do
tha số kiếp,
hưởng thọ sự an
vui của trời Ðế
Thích. Trời Ðế
Thích còn gọi là
Thích Ðề Hoàn
Nhơn, dịch là
"năng thiên
chủ". Tức là
Thiên Chúa,
Thượng Đế, Ngọc
Hoàng Đại Đế
.v.v...của ngoại
đạo. Trời Ðế
Thích ở cung
trời Ðao Lợi, ở
đó làm thiên
chúa, quản lý ba
mươi hai cõi
trời khác.
Trải
qua vô số kiếp
hưởng thọ sự an
vui của trời Dạ
Ma. Trời Dạ Ma
dịch là "thiện
thời phần". Trời
nầy tuy nhiên
chẳng có ánh
sáng ngày đêm,
song, ngày đêm
có ánh sáng tự
nhiên. Vì ngày
đêm chẳng phân
biệt, cho nên
dùng hoa sen nở
khép làm tiêu
chuẩn. Hoa nở
làm ngày, hoa
khép làm đêm, do
đó gọi là thiện
thời phần.
Sự
an vui của trời
Dạ Ma, không thể
nào tả hết được,
chẳng cách chi
hình dung được.
Tóm lại, nghĩ ăn
thì có ăn, nghĩ
quần áo thì có
quần áo, thích
hợp vừa vặn.
Thức ăn không
nhiều không ít,
quần áo không
lớn không nhỏ.
Chỗ của người
trời ở, hào hoa
tốt đẹp hơn cung
điện ở nhân
gian, cảnh giới
vi diệu nầy
không thể nào tả
được. Các vị !
Ai muốn đến cõi
trời nầy hưởng
thụ sự an vui,
thì trước hết
phải buông bỏ
tình ái, bằng
không thì không
thể hy vọng.
Nay
kể một câu
chuyện về người
em cùng cha khác
mẹ với Ðức Phật,
đó là Tôn Ðà La
Nan Ðà, dịch là
“diễm hỉ”. Ngài
cưới một người
vợ đẹp vô cùng,
gọi là Tôn Ðà
La. Hai người
tình cảm như keo
với sơn, đi đứng
nằm ngồi, không
rời nửa bước.
Một ngày nọ, Ðức
Phật muốn độ em
của Ngài xuất
gia tu đạo, giải
thoát sinh tử.
Cố ý đến trước
của nhà người em
khất thực. Ngài
Nan Ðà nhìn thấy
anh của mình đến
khất thực, nhất
định muốn cúng
dường thức ăn.
Bèn nói với vợ
rằng:
- "Anh muốn cúng
dường đức Phật,
lập tức sẽ trở
lại ngay".
Tôn Ðà La nghe,
bèn nhổ xuống
đất một bãi nước
bọt, nói với Nan
Ðà rằng:
- "Phải trở lại
trước khi nước
bọt này khô,
bằng không thì
không cho anh
vào phòng của
em".
Ngài Nan Ðà lập
tức đáp ứng điều
kiện của nàng,
do đó, mang cơm
ra cúng dường
đức Phật.
Ðức
Phật dùng thần
lực, khiến cho
hai người cách
xa khoảng hơn
một thước, Ngài
Nan Ðà nghĩ đem
cơm bỏ vào trong
bình bát của Ðức
Phật, song, cũng
làm không được.
Phật lùi về sau,
Ngài Nan Ðà tiến
về trước, theo
đuổi cho đến khi
đến Tinh Xá Kỳ
Hoàn. Phật bèn
cạo tóc cho Ngài
Nan Ðà xuất gia
làm đệ tử. Song,
Ngài Nan Ðà
chẳng có tâm tu
hành, lúc nào
cũng nghĩ đến
người vợ đẹp ở
nhà. Thân ở tại
Tinh Xá, mà tâm
ở tại vương
cung. Ðều tìm cơ
hội để về nhà
đoàn viên vợ
chồng, hưởng thọ
sự khoái lạc của
nhân gian.
Một
ngày nọ, đức
Phật và tất cả
chư Tăng đi khất
thực, chỉ còn
mình Ngài Nan Ðà
ở lại Tinh Xá,
kêu Ngài quét
dọn cho sạch sẽ.
Ngài Nan Ðà nghĩ
đây là cơ hội đi
về hoàng cung,
không nên bỏ lỡ.
Do đó, chẳng có
tâm trí nào làm
việc, tâm nghĩ:
- "Ðức Phật trở
về sẽ đi con
đường lớn bằng
phẳng, tuyệt đối
không đi con
đường nhỏ hẹp.
Mình đi con
đường nhỏ, chắc
sẽ không gặp đức
Phật".
Bèn quyết định
đi con đường
nhỏ, đi đến nửa
đường thì từ xa
thấy đức Phật,
từ con đường nhỏ
đi trở về. Ngài
Nan Ðà lập tức
chạy vào lùm cây
bên đường trốn,
để cho đức Phật
đừng thấy. Song,
đức Phật đi đến
trước lùm cây
bên đường nói:
- "Nan Ðà ! Con
ở đây làm gì thế
?"
Nan Ðà nói dối:
"Con đến nghinh
tiếp đức Thế
Tôn".
Ðức Phật nói:
"Theo ta trở về
!"
Ngài Nan Ðà
không còn cách
nào khác, cúi
đầu trở về Tinh
Xá Kỳ Hoàn, ngày
ngày buồn rầu
không vui.
Một
ngày nọ, đức
Phật nói với
Ngài Nan Ðà
rằng:
- "Nan Ðà ! Hằng
ngày con buồn
rầu, không biết
tu hành, hôm nay
ta dẫn con đi
dạo".
Do đó, hai người
đi vào trong
núi, nhìn thấy
bầy khỉ chạy
nhảy đùa giỡn,
đông đảo khoảng
năm trăm con.
Ðức Phật hỏi
Ngài Nan Ðà:
- "Nan Ðà ! Con
thấy con khỉ đẹp
hay là Tôn Ðà La
đẹp ?"
- Ngài Nan Ðà
nói: "Ðương
nhiên vợ của con
đẹp hơn, cô ta
là người nữ đẹp
nhất".
Ðức
Phật lại dẫn
Ngài Nan Ðà lên
trời du ngoạn.
Ngài Nan Ðà nhìn
thấy trong cung
trời có năm trăm
tiên nữ xinh đẹp
đoan trang, đang
quét nhà, bèn
hỏi các cô tiên
nữ rằng:
- "Các cô đang
làm gì thế ?"
- Các cô tiên nữ
cung kính đáp:
"Chúng tôi đang
quét dọn cung
điện cho sạch
sẽ, chuẩn bị đón
Ngài Nan Ðà em
của đức Phật
đến. Hiện giờ
ông ta đang xuất
gia tu hành với
đức Phật. Tương
lai kiếp sau ông
ta sẽ sinh về
đây, chúng tôi
năm trăm người
tiên nữ sẽ hầu
hạ ông ta".
Ngài Nan Ðà nghe
nói tâm rất hớn
hở vui
mừng-tương lai
có thể hưởng thụ
những tiên nữ
đẹp nầy, quyết
định tu hành,
không muốn trở
về hoàng cung
nữa. Ðức Phật
biết ý của Ngài,
bèn hỏi:
- "Nan Ðà ! Hiện
tại con cảm thấy
những tiên nữ
nầy đẹp, hay là
Tôn Ðà La đẹp ?"
- Ngài Nan Ðà
đáp: "Ðương
nhiên các tiên
nữ đẹp, vợ của
con xấu xí cũng
giống như con
khỉ". Lại nói:
"Ðức Thế Tôn !
Con quyết định
theo Ngài tu
hành".
Ðức Phật có tha
tâm thông, biết
vọng tưởng trong
tâm Ngài Nan Ðà,
vì muốn đến
thiên cung hưởng
thụ dục lạc với
các tiên nữ mà
tu hành.
Ðức
Phật lại dẫn
Ngài Nan Ðà đi
xuống địa ngục
dạo, khi đi đến
địa ngục dầu
sôi, thì thấy
hai con quỷ đang
ngủ bên cạnh
chảo dầu sôi,
lửa đã tắt. Ngài
Nan Ðà thấy vậy,
cảm thấy kỳ lạ,
sao hai con quỷ
nầy không chịu
làm việc ? bèn
hỏi quỷ rằng:
- "Sao các ông
không chịu nấu
chảo dầu nầy cho
sôi mà lại ngủ
?"
- Hai con quỷ mở
mắt nhìn nói:
"Vì tôn giả Nan
Ðà em của đức
Phật, hiện tại
đang theo Phật
tu hành, ông ta
muốn lên trời
làm thiên chủ,
có năm trăm cô
tiên nữ vui chơi
hầu hạ, chỉ
hưởng phước trời
khoảng năm trăm
năm. Khi phước
trời hưởng hết,
thì sẽ đoạ lạc
vào địa ngục,
thọ khổ trong
chảo dầu sôi.
Bởi cách hiện
tại thời gian
năm trăm năm,
cho nên chúng
tôi không cần
gấp nấu chảo dầu
nầy cho sôi".
- Ngài Nan Ðà
nghe nói hốt
hoảng run sợ,
bèn hỏi quỷ:
"Xin hỏi quỷ có
cách gì không bị
đoạ lạc vào đây
chăng ?"
- Quỷ đáp: "Trừ
phi tu hành
thoát khỏi ba
cõi, thì vượt ra
khỏi sự cai quản
của chúng tôi"!
Ngài
Nan Ðà nghĩ,
không cần sinh
về cõi trời
hưởng phước, thì
tương lai cũng
sẽ không bị đoạ
lạc vào địa ngục
chảo dầu sôi thọ
khổ. Phải chuyên
tâm nhất chí tu
hành pháp xuất
thế gian, đó là
pháp môn gốc rễ
giải quyết vấn
đề sinh tử. Do
đó, dũng mãnh
tinh tấn tu
hành, chẳng bao
lâu chứng được
quả A la hán, là
nghi dung bậc
nhất.
Chúng
ta nghe câu
chuyện nầy, phải
giác ngộ pháp
thế gian tất cả
đều vô thường,
tình cảm vợ
chồng cũng vô
thường, dùng sắc
đẹp để duy trì
tình cảm thì
không trường
cửu, ngày sau
nếu gặp trai,
hoặc gái đẹp
hơn, thì dễ bị
sa ngã luyến ái.
Tại sao ? Vì tâm
ích kỷ tác quái.
Giống như Ngài
Nan Ðà, ái tình
của Ngài chẳng
chuyên nhất, tư
tưởng thay đổi
luôn luôn. Vợ
của Ngài xinh
đẹp như thế, mà
Ngài lại yêu
thích tiên nữ,
mà quên ân ái
của vợ. Khi Ngài
nhìn thấy sự lợi
hại của chảo dầu
sôi, thì sinh
tâm run sợ,
không còn nghĩ
đến lên trời làm
thiên chủ, mà
quên đi tiên nữ
xinh đẹp. Lần
nầy trải qua,
Ngài bừng tỉnh
mãnh liệt, quyết
tâm tu đạo,
thoát khỏi ba
cõi, vĩnh viễn
không thọ khổ
chảo dầu sôi.
Mục
đích của chúng
ta tu đạo, là
chấm dứt sinh
tử, đạt đến bờ
Niết Bàn rốt ráo
bên kia. Tu hành
như thế nào ?
Trước hết phải
đoạn dục khử ái,
phải nhận rõ ái
dục là gốc sinh
tử. Ðoạn được ái
dục rồi, thì mới
vĩnh viễn thoát
khỏi khổ luân
hồi. Tóm lại,
đừng ích kỷ,
đừng chuyên nghĩ
về chính mình,
phải đem những
gì mình có bố
thí cho toàn thế
giới, phải phát
tâm rộng lớn,
dùng hư không
làm lượng, dùng
pháp giới làm
thể. Nếu được
như thế thì sớm
sẽ thành Phật.
Kinh
văn ở trên nói,
trải qua vô
lượng kiếp,
hưởng thụ sự an
vui của trời Ðâu
Suất. Trời Ðâu
Suất dịch là
"trời Tri Túc".
Thiên chúng cõi
trời nầy, lúc
nào cũng biết
đủ, chẳng có tâm
tham cầu không
biết chán, do
đó:
"Người biết đủ
thường an vui
Người hay nhẫn
thường an lạc".
Tại sao chúng ta
không được an
vui luôn luôn ?
Vì chẳng biết
đủ, cho nên tự
tìm phiền não.
Nội
viện của trời
Ðâu Suất là chỗ
ở của Bồ Tát sẽ
thành Phật sau
này, khi Bồ Tát
muốn thành Phật,
đều đến cung
trời nầy ở, đợi
khi nhân duyên
chín mùi, thì
hàng sinh xuống
nhân gian thành
Phật, cõi trời
nầy còn gọi là
trời Bổ Xứ. Hiện
tại Bồ Tát Di
Lặc đang ở nội
viện, đợi khi
Phật Thích Ca
thối vị, thì
Ngài sẽ thành
Phật, danh hiệu
là Ðương Lai Hạ
Sinh Di Lặc Tôn
Phật. Ngài
chuyên tu nhẫn
nhục Ba La Mật,
ai không nhẫn
được, Ngài nhẫn
được, ai thấy sự
việc nầy sinh
phiền não, Ngài
chẳng sinh phiền
não; chẳng những
không sinh phiền
não, mà còn
thường sinh tâm
hoan hỉ. Do đó:
"Bụng to hay
chứa,
Chứa việc thiên
hạ khó chứa.
Mở miệng liền
cười,
Cười người thế
gian đáng cười".
Bồ
Tát Di Lặc vẫn
đang đợi ở nội
viện để thành
Phật, đến lúc
nào mới thành
Phật ?
Tuổi
thọ của con
người có tám vạn
bốn ngàn tuổi.
Từ kiếp giảm
mười tuổi bắt
đầu, mỗi một
trăm năm tăng
lên một tuổi,
thân cao thêm
một tất (tuổi
thọ mười tuổi,
thân cao một
thướt). Tăng đến
tám vạn bốn ngàn
tuổi thì ngừng,
sau đó lại giảm.
Cũng cứ mỗi một
trăm năm giảm
một tuổi, thân
giảm một tất,
giảm đến mười
tuổi thì ngừng.
Lúc nầy con
người, một khi
sinh ra thì có
tư tưởng dâm
dục, người với
người tàn sát
lẫn nhau, dùng
cỏ lá làm vũ khí
giết người. Vì
tâm con người
quá bại hoại,
bèn có tai nạn
lớn xuất hiện,
hoặc là nạn
nước, hoặc là
nạn lửa, hoặc là
nạn gió, tiêu
diệt loài người
gần hết, chỉ còn
lại ít người có
căn lành không
chết. Những
người đó bèn
sinh tâm hổ
thẹn, cùng nhau
thảo luận nghiên
cứu, tại sao
phải chịu tai
nạn như thế ? Do
đó, sớm cải ác
hướng thiện. Do
một niệm thiện,
mà tuổi thọ lại
bắt đầu tăng
lên.
Hiện
tại là kiếp giảm
hơn sáu mươi
tuổi, giảm đến
mười tuổi thì
ngừng. Sau đó
lại bắt đầu tăng
lên, tăng đến
tám vạn bốn ngàn
tuổi thì ngừng.
Lại bắt đầu
giảm, khi giảm
xuống bốn ngàn
tuổi, thì thời
kỳ Bồ Tát Di Lặc
hàng sinh xuống
nhân gian thành
Phật.
Như
vậy một tăng một
giảm là một
kiếp, một ngàn
kiếp làm một
tiểu kiếp, hai
mươi tiểu kiếp
làm một trung
kiếp, bốn trung
kiếp làm một đại
kiếp. Ðức Phật
Thích Ca tu ba
đại A tăng kỳ
kiếp mới thành
Phật. Nếu chúng
ta y theo lời
dạy của đức Phật
tu hành, thì
không cần trải
qua thời gian
dài ba A tăng kỳ
kiếp. Nếu nhận
chân tu hành thì
có thể sẽ khai
ngộ, lập tức
thành Phật. Tại
sao dễ thành
Phật như thế ?
Vì đức Phật đã
thế chúng ta
khai thông con
đường thành
Phật, thành một
con đường lớn
quang minh bằng
phẳng, chỉ cần
chúng ta dung
mãnh tiến về
trước, y giáo
phụng hành, thì
sớm sẽ thành
Phật, thẳng đến
Niết Bàn rốt ráo
bờ bên kia.
Tuổi
thọ của trái đất
là một đại kiếp,
chia làm bốn
kiếp thành, trụ,
hoại, không.
Kiếp thành trải
qua hai mươi
tiểu kiếp. Kiếp
trụ trải qua hai
mươi tiểu kiếp.
Kiếp hoại trải
qua hai mươi
tiểu kiếp. Kiếp
không trải qua
hai mươi tiểu
kiếp, do đó,
cộng thành tám
mươi tiểu kiếp.
Trái
đất có bốn kiếp:
thành, trụ,
hoại, không; con
người có sinh,
trụ, dị, diệt
bốn giai đoạn.
Lúc lớn lên trải
qua hai mươi
năm, thời kỳ sự
nghiệp trải qua
hai mươi năm,
thời kỳ biến dị
trải qua hai
mươi năm, thời
kỳ tiêu diệt
trải qua hai
mươi năm. Tức
cũng là sinh,
già, bệnh, chết,
bốn khổ lớn.
Chúng ta ở tại
thế gian, nếu
muốn thoát khỏi
sức lực của tạo
hoá, thì phải tu
hành. Tu hành
mới đắc được an
lạc rốt ráo,
không bị thành,
trụ, hoại,
không, biến đổi,
không bị sinh,
trụ, dị, diệt,
giao động.
Trải
qua vô biên
kiếp, hưởng thụ
sự an vui của
trời Thiện Biến
Hoá. Thiên chúng
ở cõi trời nầy,
do phước báo tu
hành của mình,
đắc được sức
thần thông tự
tại, có thể biến
hoá sự vui năm
dục tự mình thọ
dụng. Tức cũng
là tâm nghĩ âm
thanh gì, hoặc
nhạc khúc gì,
thì tự động biến
hiện ra, khiến
cho họ thưởng
thức được an vui
vô cùng vô tận.
Trải
qua nhiều kiếp,
hưởng thụ sự an
vui của trời Tha
Hoá Tự Tại. Tâm
nghĩ âm nhạc gì
? Không cần tự
mình biến hoá,
mà cõi trời khác
đem đến. Cõi
trời nầy tuy an
vui, nhưng là
nơi ở của ma
vương Ba Tuần.
Ma Ba Tuần
thường đến nhân
gian nhiễu loan
thân tâm của
người tu hành,
khiến cho họ
thối lùi tâm bồ
đề. Nếu người tu
đạo định lực
không đủ, nhận
thức cảnh giới
không rõ ràng,
lấy giả làm
thật, thì dễ
nhập vào ma.
Lại
trải qua bất khả
số kiếp, hưởng
thụ sự an vui
của trời Ðại
Phạm Thiên
Vương. Thiên
vương cõi trời
nầy tu hạnh
thanh tịnh, tên
gọi là Thi Khí.
Ông ta rất tin
sâu chánh pháp,
thuở xưa đã từng
phát nguyện,
phàm là có Phật
hiện ra đời, ông
ta là người
thỉnh Phật
thuyết pháp
trước tiên. Khi
ông ta đi đứng
nằm ngồi, đều có
oai đáng sợ, có
nghi đáng kính.
Vì không thiếu
oai nghi, nên
giới định huệ ba
học vô lậu viên
dung vô ngại,
cho nên thống
trị các thiên
chúng Phạm Chúng
Thiên và Phạm
Phụ Thiên.
Trải
qua bất khả xưng
kiếp, hưởng thụ
sự an vui của
vua Chuyển Luân
Thánh Vương cai
trị ba ngàn đại
thiên thế giới.
Chuyển luân
Thánh vương có
bốn hang:
1. Kim luân
vương: quản lý
bốn thiên hạ.
2. Ngân luân
vương: quản lý
ba thiên hạ.
3. Ðồng luân
vương: quản lý
hai thiên hạ.
4. Thiết luân
vương: quản lý
một thiên hạ.
Những vị đó đều
hưởng thụ sự an
vui bảy báu. Bảy
báu là gì ? Tức
là: 1. Bánh xe
báu. 2. Châu
báu. 3. Voi báu.
4. Ngựa báu. 5.
Binh báu. 6.
Thần báu. 7. Nữ
báu. Khi vua
luân vương sắp
mất, đem bảy báu
giao cho thái
tử, những người
khác không thể
nào kế thừa bảy
báu được. Nếu
không có thái
tử, nội trong
bảy ngày sẽ tự
động biến mất.
Trải
qua bất khả tư
kiếp, hưởng thụ
sự an vui của
trời Biến Tịnh.
Cõi trời nầy
càng vui hơn,
tiêu diệt tất cả
tâm hoan hỉ, mà
đắc được niềm
vui thật thanh
tịnh hoàn toàn.
Cõi trời nầy tuy
là an vui, nhưng
hay khiến cho
người tu thiền
đoạ lạc, cho nên
người tu thiền,
không muốn ở cõi
trời này vĩnh
viễn, mà mau đến
cõi trời Tứ
Thiền ở.
Trải
qua bất khả
thuyết kiếp,
hưởng thụ sự an
vui của trời
Tịnh Cư. Cõi
trời này gọi là
trời Ngũ Bất
Hoàn. Vì người
sinh về cõi trời
này, chẳng bị
tái sinh trở lại
cõi dục giới,
cho nên gọi là
trời Ngũ Bất
Hoàn. Thiên
chúng cõi này,
đã đoạn sạch tư
hoặc của dục
giới, chưa đoạn
sạch tư hoặc của
sắc giới và vô
sắc giới.
Tất
cả chư thiên tuy
có sự an vui như
thế, song, vẫn
có lúc hết, do
đó, chẳng bằng
sự an vui của Bồ
Tát. Do đó có
câu:
"Lục dục chư
Thiên cụ ngũ
suy,
Tam thiền thiên
thượng hữu phong
tai,
Nhậm quân tu đáo
Phi Phi Tưởng,
Bất như Tây
Phương quy khứ
lai".
Ý
nói là:
Sáu cõi trời dục
giới có năm
tướng suy,
Trời Tam Thiên
có nạn gió,
Dù bạn tu đến
cõi trời Phi Phi
Tưởng,
Chẳng bằng đi
đến cõi Tây
Phương.
Sáu
cõi trời dục
giới tức là:
Trời Tứ Thiên
Vương, trời Ðao
Lợi, trời Dạ Ma,
trời Ðâu Suất,
trời Thiện Biến
Hoá, trời Tha
Hoá Tự Tại. Chư
thiên của sáu
cõi trời này,
khi hưởng hết
phước báo, thì
sẽ phát sinh năm
tướng suy, chứng
minh cái chết
sắp đến. Hiện
tượng năm tướng
suy hiện ra rồi,
nếu nghiệp thiện
chín mùi thì
xuống nhân gian
làm vua, hoặc
làm đại thần,
người tôn quý
.v.v...nếu
nghiệp ác chín
mùi, thì đoạ vào
ba đường ác thọ
khổ.
Năm
tướng suy là gì
?
1. Hoa trên đầu
héo: Mũ của
người trời đội
làm bằng hoa
tươi đẹp, không
khi nào khô héo.
Khi năm tướng
suy hiện, thì
hoa trên đầu tự
nhiên héo.
2. Quần áo dơ
bẩn: Quần áo của
người trời mặc,
rất sạch sẽ,
chẳng có dính
bụi. Khi năm
tướng suy hiện,
thì quần áo dơ
bẩn.
3. Thân toả ra
mùi hôi: Người
trời giữ gìn năm
giới, làm mười
điều lành, cho
nên thân thể toả
ra mùi thơm. Khi
năm tướng suy
hiện, thì thân
toả ra mùi hôi.
4. Hai nách ra
mồ hôi: Thân thể
người trời rất
sạch sẽ, không
bao giờ ra mồ
hôi. Song, khi
năm tướng suy
hiện, thì hai
nách chảy mồ
hôi.
5. Ngồi không
yên: Người trời
thường ngồi
thiền, nhưng khi
năm tướng suy
hiện, thì họ
đứng ngồi không
yên, chẳng bao
lâu họ sẽ đoạ
vào trong sáu
nẻo luân hồi,
tuỳ theo nghiệp
báo mà đi đầu
thai. Hoặc
trong ba đường
lành, hoặc trong
ba đường ác.
Ðại Bồ Tát thấy
người đến xin,
hoan hỉ ưa
thích, vui mừng
nhảy nhót. Tâm
tin tăng trưởng,
chí nguyện thanh
tịnh, các căn
điều thuận, tin
hiểu thành tựu
viên mãn, cho
đến tăng tấn bồ
đề của chư Phật.
Ðại Bồ Tát thấy
có người đến chỗ
Ngài hoá duyên,
sinh tâm đại
hoan hỉ và ưa
thích, vui mừng
chẳng tự chủ
được mà nhảy
nhót. Tâm tin
của Bồ Tát tăng
trưởng, chí
nguyện ưa thích
đều rất thanh
tịnh. Sáu căn
lương thiện điều
thuận, tâm tin
và trí huệ hiểu
biết đã thành
tựu viên mãn.
Cho đến tăng tấn
bồ đề giác đạo
của tất cả chư
Phật mười phương
ba đời.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát đem căn lành
đó, vì lợi ích
tất cả chúng
sinh mà hồi
hướng. Vì muốn
an lạc tất cả
chúng sinh mà
hồi hướng. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh được
nghĩa lợi lớn mà
hồi hướng. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh được
thanh tịnh mà
hồi hướng. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
cầu bồ đề mà hồi
hướng.
Bồ Tát Kim Cang
Tạng lại gọi một
tiếng các vị đệ
tử của Phật !
Ðại Bồ Tát tu
hành Bồ Tát đạo,
đem đủ thứ căn
lành bố thí như
đã nói ở trên,
vì nghĩ muốn lợi
ích tất cả chúng
sinh, cho nên
mới vì chúng
sinh hồi hướng.
Muốn an lạc tất
cả chúng sinh,
cho nên mới vì
chúng sinh hồi
hướng. Vì khiến
cho tất cả chúng
sinh đắc được
lợi ích lớn, cho
nên mới vì chúng
sinh hồi hướng.
Vì khiến cho tất
cả chúng sinh
đắc được nguồn
gốc thanh tịnh,
cho nên mới vì
chúng sinh hồi
hướng. Vì khiến
cho tất cả chúng
sinh phát tâm
cầu bồ đề, cho
nên mới vì chúng
sinh mà hồi
hướng.
Vì khiến cho tất
cả chúng sinh
đều được bình
đẳng mà hồi
hướng. Vì khiến
cho tất cả chúng
sinh đều được
tâm hiền thiện
mà hồi hướng. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
vào đại thừa mà
hồi hướng. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
được trí huệ
hiền thiện mà
hồi hướng. Vì
khiến cho tất cả
chúng sinh đều
đủ hạnh nguyện
của Bồ Tát Phổ
Hiền, viên mãn
mười lực, hiện
thành Chánh Giác
mà hồi hướng.
Bồ Tát vì khiến
cho tất cả chúng
sinh, hoàn toàn
đắc được pháp
tánh bình đẳng
thành Phật, cho
nên mới vì chúng
sinh hồi hướng.
Vì khiến cho tất
cả chúng sinh,
hoàn toàn đắc
được tâm hiền
thiện, cho nên
mới vì chúng
sinh hồi hướng.
Vì khiến cho tất
cả chúng sinh,
hoàn toàn vào
pháp môn đại
thừa, cho nên
mới vì chúng
sinh hồi hướng.
Vì khiến cho tất
cả chúng sinh,
đều đắc được trí
huệ hiền thiện,
cho nên mới vì
chúng sinh hồi
hướng. Vì khiến
cho tất cả chúng
sinh, đều đầy đủ
hạnh nguyện của
Bồ Tát Phổ Hiền,
viên mãn mười
lực của Phật,
pháp đại thừa
này sẽ thành Vô
Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác,
tức cũng là
thành Phật, cho
nên mới vì chúng
sinh hồi hướng.
Phật tử ! Khi
đại Bồ Tát đem
các căn lành hồi
hướng như vậy,
thì nghiệp thân
miệng ý thảy đều
giải thoát,
chẳng chấp
trước, chẳng
ràng buộc.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu Bồ Tát
đạo, khi đem tất
cả căn lành tích
tập, vì chúng
sinh trong pháp
giới hồi hướng
như vậy, thì
nghiệp thân,
miệng, ý của Bồ
Tát đều đã thanh
tịnh, thảy đều
giải thoát, cũng
chẳng chấp
trước, cũng
chẳng ràng buộc.
Không có tưởng
chúng sinh.
Không có tưởng
thọ mạng. Không
có tưởng Bổ Già
La.
Không có tưởng
người. Không có
tưởng đồng tử.
Không có tưởng
kẻ sinh. Không
có tưởng người
làm. Không có
tưởng kẻ thọ.
Không có tưởng
có. Không có
tưởng không.
Không có tưởng
đời này đời sau.
Không có tưởng
chết đây sinh
kia. Không có
tưởng về thường.
Không có tưởng
về vô thường.
Không có tưởng
về ba cõi. Không
có tưởng về
không có ba cõi.
Chẳng tưởng,
chẳng không
tưởng.
Bồ Tát làm gì
cũng đều chẳng
có nghĩ tưởng.
Chẳng có nghĩ
tưởng gì hết,
tức là khử vọng,
khử vọng tức là
thật, lý thể
chân thật. Cho
nên chẳng có
tưởng chúng
sinh, chẳng có
tưởng thọ mạng,
chẳng có tưởng
Bổ Già La (tưởng
số thủ thú),
chẳng có tưởng
người, chẳng có
tưởng đồng tử,
chẳng có tưởng
kẻ sinh, chẳng
có tưởng kẻ làm,
chẳng có tưởng
kẻ thọ, chẳng có
tưởng về cái có,
chẳng có tưởng
về cái không,
chẳng có tưởng
về đời này, cũng
chẳng có tưởng
về đời sau. Bồ
Tát chẳng có
tưởng chết ở
đây, lại sinh về
chỗ kia. Bồ Tát
chẳng có tưởng
về thường, cũng
chẳng có tưởng
về vô thường.
Cũng chẳng có
thường kiến,
cũng chẳng có
đoạn kiến, đoạn
thường hai lối
thấy này đều
chẳng có. Chẳng
có tưởng về cõi
dục, cõi sắc,
cõi vô sắc. Tức
cũng là chẳng có
cõi nào, cũng
chẳng có cõi nào
không. Tại sao
nói như thế ? Vì
muốn trừ khử
chấp trước của
chúng sinh. Cũng
chẳng có phi
tưởng, cũng
chẳng có phi phi
tưởng.
Như vậy, hồi
hướng chẳng ràng
buộc. Hồi hướng
giải thoát chẳng
ràng buộc. Hồi
hướng chẳng phải
nghiệp. Hồi
hướng chẳng phải
nghiệp báo. Hồi
hướng chẳng phân
biệt. Hồi hướng
chẳng không phân
biệt. Hồi hướng
chẳng suy tư.
Hồi hướng chẳng
phải đã suy tư.
Hồi hướng chẳng
có tâm. Hồi
hướng chẳng
không tâm.
Lìa
mọi sự chấp
trước như vậy,
thì chẳng có sự
ràng buộc, cho
nên hồi hướng
cho chúng sinh,
hồi hướng về bồ
đề, hồi hướng về
thật tế. Cũng
chẳng phải nói
không có sự ràng
buộc thì được
giải thoát, cũng
chẳng phải như
vậy. Chẳng có
tất cả cảnh giới
tâm, đường lời
lẽ đã dứt bặc,
nơi tâm hành đã
diệt, mà hồi
hướng cho chúng
sinh. Cũng chẳng
có nghiệp để hồi
hướng, cũng
chẳng có nghiệp
báo để hồi
hướng. Tại sao ?
Vì "Phàm hết
thảy tướng, đều
là hư vọng, nếu
thấy các tướng
chẳng phải
tướng, tức thấy
Như Lai". Do đó,
quét hết tất cả
các pháp, lìa
hết thảy các
tướng. Cũng
chẳng phải có sự
phân biệt để hồi
hướng. Cũng
chẳng phải chẳng
có sự phân biệt
để hồi hướng.
Cũng chẳng phải
suy gẫm để hồi
hướng. Cũng
chẳng có một tâm
để hồi hướng,
cũng chẳng có
cái không tâm để
hồi hướng. Phải
ở tại chẳng có,
chẳng không,
chẳng đoạn,
chẳng thường,
như vậy để tu
hành.
Phật tử ! Khi
đại Bồ Tát hồi
hướng như vậy,
thì chẳng chấp
trong, chẳng
chấp ngoài,
chẳng chấp năng
duyên, chẳng
chấp sở duyên.
Chẳng chấp nhân,
chẳng chấp quả,
chẳng chấp pháp,
chẳng chấp phi
pháp. Chẳng chấp
tưởng, chẳng
chấp phi tưởng,
chẳng chấp sắc.
Chẳng chấp sắc
sinh, chẳng chấp
sắc diệt, chẳng
chấp thọ tưởng
hành thức, chẳng
chấp thọ tưởng
hành thức sinh,
chẳng chấp thọ
tưởng hành thức
diệt.
Các vị đệ tử của
Phật: Khi đại Bồ
Tát tu hành Bồ
Tát đạo, vì
chúng sinh hồi
hướng thì, cũng
chẳng chấp trước
bên trong, trong
chẳng có thân
tâm; cũng chẳng
chấp trước bên
ngoài, ngoài
chẳng có thế
giới. Chẳng chấp
nơi tướng ta
năng duyên,
chẳng chấp nơi
cảnh giới sở
duyên. Chẳng
chấp vào nhân,
cũng chẳng chấp
vào quả. Chẳng
chấp trước vào
pháp có thể nói,
cũng chẳng chấp
trước vào phi
pháp có thể nói.
Chẳng chấp trước
sự suy gẫm, cũng
chẳng chấp trước
vào chẳng suy
gẫm. Chẳng chấp
trước vào sắc
uẩn, cũng chẳng
chấp trước vào
sắc uẩn sinh,
cũng chẳng chấp
trước vào sắc
uẩn diệt. Chẳng
chấp trước vào
thọ tưởng hành
thức bốn uẩn,
cũng chẳng chấp
trước vào thọ
tưởng hành thức
bốn uẩn sinh,
cũng chẳng chấp
trước vào sắc
thọ tưởng hành
thức bốn uẩn
diệt.
Phật tử ! Nếu
đại Bồ Tát nơi
các pháp nầy
không chấp, thì
chẳng ràng buộc
nơi sắc, chẳng
ràng buộc nơi
sắc sinh, chẳng
ràng buộc nơi
sắc diệt. Chẳng
ràng buộc nơi
thọ tưởng hành
thức, chẳng ràng
buộc nơi thọ
tưởng hành thức
sinh, chẳng ràng
buộc nơi thọ
tưởng hành thức
diệt. Nếu nơi
các pháp nầy
chẳng ràng buộc,
thì cũng ở nơi
các pháp nầy
không hiểu.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu Bồ Tát
đạo, nếu đối với
tất cả các pháp
chẳng chấp
trước, thì chẳng
ràng buộc nơi
sắc uẩn, cũng
chẳng ràng buộc
vào sắc uẩn
sinh, cũng chẳng
ràng buộc vào
sắc uẩn diệt.
Cũng chẳng ràng
buộc vào thọ
tưởng hành thức,
cũng chẳng ràng
buộc vào thọ
tưởng hành thức
sinh, cũng chẳng
ràng buộc vào
sắc thọ tưởng
hành thức diệt.
Nếu nơi tất cả
các pháp chẳng
chấp trước, thì
chẳng có sự ràng
buộc. Tức nhiên
chẳng có sự ràng
buộc, vậy đối
với các pháp lại
có gì có thể
hiểu !
Tại sao ? Vì
chẳng có chút
pháp nào. Hoặc
hiện sinh, hoặc
đã sinh, hoặc sẽ
sinh. Không có
pháp nào có thể
lấy. Không có
pháp nào có thể
chấp. Tất cả các
pháp, tự tướng
đều như vậy.
Không có tự
tánh, tự tánh
tướng đều lìa.
Tại vì sao ? Vì
chẳng có chút
pháp nào. Hoặc
hiện tại sinh,
hoặc quá khứ
sinh, hoặc tương
lai sinh. Chẳng
có pháp gì để
thủ lấy, chẳng
có pháp gì để
chấp trước.
Tướng của tất cả
các pháp là
không; tức nhiên
là không, vậy
lại có gì để
chấp trước !
Chẳng có tự
tánh, tự tánh
tướng cũng chẳng
có.
Chẳng một, chẳng
hai, chẳng
nhiều, chẳng vô
lượng. Chẳng
nhỏ, chẳng lớn,
chẳng hẹp, chẳng
rộng. Chẳng sâu,
chẳng cạn, chẳng
vắng lặng, chẳng
hí luận. Chẳng
nơi chốn, chẳng
không nơi chốn.
Chẳng phải pháp,
chẳng phải không
pháp. Chẳng có
thể, chẳng phải
không có thể.
Chẳng có, chẳng
phải không có.
Chẳng phải một,
chẳng phải hai.
Chẳng phải
nhiều, chẳng
phải vô lượng.
Chẳng phải nhỏ,
chẳng phải lớn.
Chẳng phải chật
hẹp, chẳng phải
rộng lớn. Chẳng
phải sâu, chẳng
phải cạn. Ðó là
quét hết tất cả
các pháp, lìa
hết thảy các
tướng. Cũng
chẳng phải vắng
lặng, cũng chẳng
phải hí luận.
Cũng chẳng phải
có xứ sở, cũng
chẳng phải không
xứ sở. Cũng
chẳng phải có
pháp, cũng chẳng
phải không có
pháp. Tại sao ?
Vì lìa tất cả
các tướng, tức
tất cả các pháp.
Cũng chẳng phải
có thể, cũng
chẳng phải không
có thể. Cũng
chẳng phải có,
cũng chẳng phải
không có.
Bồ Tát quán sát
các pháp như
vậy, tức là phi
pháp. Ở trong
ngôn ngữ, tuỳ
theo thế gian mà
kiến lập, phi
pháp làm pháp.
Chẳng dứt các
nghiệp đạo,
chẳng xả hạnh Bồ
Tát, cầu nhất
thiết trí, trọn
không thối
chuyển. Biết rõ
tất cả nghiệp
duyên như mộng,
âm thanh như
vang, chúng sinh
như bóng, các
pháp như huyễn,
mà cũng chẳng
hoại nhân duyên
nghiệp lực. Biết
rõ các nghiệp,
tác dụng rộng
lớn. Hiểu tất cả
pháp, đều không
chỗ làm. Hành
đạo vô tác, chưa
từng tạm bỏ.
Bồ Tát nghiên
cứu rốt ráo
triệt để, quán
sát tất cả thật
tướng các pháp,
là chẳng không,
chẳng có, cũng
có, cũng không,
chẳng đoạn,
chẳng thường.
Tất cả các pháp
đều chẳng có tự
thể, vốn là
không. Do đó:
"Tướng các pháp
vắng lặng,
Không thể dùng
lời nói".
Phàm là nói ra
thì chẳng phải
pháp. Ở trong
ngôn ngữ, là tuỳ
thuận tri kiến
của thế gian mà
kiến lập tất cả
các pháp. Song,
tất cả các pháp
đó, phi pháp làm
pháp. Vốn chẳng
có, mà chúng
sinh chấp trước
có. Tất cả
nghiệp đạo cũng
chẳng đoạn, vẫn
không xả lìa
hạnh Bồ Tát. Tại
pháp thế gian mà
tu pháp xuất
thế, chẳng phải
lìa khỏi pháp
thế gian, mà có
pháp xuất thế,
tức cũng là ở
trong thế gian
mà tu Bồ Tát
đạo. Chẳng phải
lìa khỏi thế
gian, mà có Bồ
Tát đạo.
Bồ Tát ở trong
pháp thế gian,
mà cầu nhất
thiết trí huệ,
chẳng màng cầu
được, hoặc cầu
không được,
tuyệt đối chẳng
thối chuyển. Bồ
Tát thấu rõ nhân
duyên của tất cả
nghiệp lực giống
như mộng. Tất cả
âm thanh giống
như vang. Tất cả
chúng sinh giống
như hình bóng.
Tất cả các pháp
giống như huyễn
hoá. Biết tất cả
nghiệp tác dụng
rộng lớn. Ngài
thấu hiểu tất cả
các pháp, đều
không chỗ làm.
Tức là tu hành
đạo vô tác,
chẳng thêm tạo
tác, thì tự
nhiên sẽ tác
dụng. Thời khắc
cũng chẳng tạm
xả bỏ vô công
dụng đạo.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát nầy trụ nhất
thiết trí. Hoặc
xứ phi xứ, đều
hồi hướng khắp
nhất thiết trí
tánh. Tất cả mọi
nơi thảy đều hồi
hướng, chẳng có
thối chuyển.
Các vị đệ tử của
Phật ! Vị đại Bồ
Tát nầy, thường
trụ cảnh giới
nhất thiết trí.
Hoặc có xứ sở,
hoặc chẳng có xứ
sở. Tuỳ thời tuỳ
lúc đều hồi
hướng khắp nhất
thiết trí tánh
chân thật. Bất
cứ ở đâu, đều
hồi hướng như
vậy, chỉ có tinh
tấn tiến về
trước, chẳng khi
nào thối lùi về
sau.
Do nghĩa gì mà
nói là hồi hướng
? Vĩnh viễn độ
thế gian, đến bờ
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
Vĩnh viễn thoát
khỏi các uẩn,
đến bờ bên kia,
nên gọi là hồi
hướng. Ðộ đường
ngôn ngữ, đến bờ
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
Lìa đủ thứ
tưởng, đến bờ
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
Vĩnh viễn đoạn
trừ thân kiến,
đến bờ bên kia,
nên gọi là hồi
hướng.
Dùng nghĩa lý gì
để nói rõ gì gọi
là hồi hướng ?
Ðưa ra mười ý
nghĩa để nói rõ:
1. Vĩnh viễn độ
sinh tử thế
gian, đến bờ
Niết Bàn bên
kia, nên gọi là
hồi hướng.
2. Vĩnh viễn
thoát khỏi sắc
thọ tưởng hành
thức năm uẩn,
đến bờ Niết Bàn
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
3. Thoát khỏi
tất cả lời lẽ,
tức là lời lẽ
dứt bặc, nghĩa
là lìa lời mà
nói tướng, đạt
đến bờ Niết Bàn
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
4. Lìa khỏi đủ
thứ tưởng, tức
là nơi tâm hành
đã diệt, chẳng
có tất cả tưởng,
đạt đến bờ Niết
Bàn bên kia, nên
gọi là hồi
hướng.
5. Vĩnh viễn
đoạn tuyệt thân
kiến, tức cũng
là ngã kiến, đạt
đến bờ Niết Bàn
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
Vĩnh viễn lìa
nơi nương tựa,
đến bờ bên kia,
nên gọi là hồi
hướng. Vĩnh viễn
đoạn tuyệt chỗ
làm, đến bờ bên
kia, nên gọi là
hồi hướng. Vĩnh
viễn thoát khỏi
các cõi, đến bờ
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
Vĩnh viễn xả bỏ
thủ lấy, đến bờ
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
Vĩnh viễn thoát
khỏi pháp thế
gian, đến bờ bên
kia, nên gọi là
hồi hướng.
6. Vĩnh viễn lìa
khỏi tất cả nơi
nương tựa, đạt
đến bờ bên kia,
nên gọi là hồi
hướng.
7. Vĩnh viễn
đoạn tuyệt tất
cả ác, đạt đến
bờ bên kia, nên
gọi là hồi
hướng.
8. Vĩnh viễn
thoát khỏi tam
giới hai mươi
lăm cõi, đạt đến
bờ bên kia, nên
gọi là hồi
hướng.
9. Vĩnh viễn xả
bỏ tất cả thủ
lấy, đạt đến bờ
bên kia, nên gọi
là hồi hướng.
10. Vĩnh viễn
thoát khỏi pháp
thế gian, đạt
đến bờ bên kia,
nên gọi là hồi
hướng.
Phật tử ! Khi
đại Bồ Tát hồi
hướng như vậy,
tức là tuỳ thuận
Phật trụ. Tuỳ
thuận pháp trụ.
Tuỳ thuận trí
trụ. Tuỳ thuận
bồ đề trụ. Tuỳ
thuận nghĩa trụ.
Tuỳ thuận hồi
hướng trụ. Tuỳ
thuận cảnh giới
trụ. Tuỳ thuận
hành trụ. Tuỳ
thuận chân thật
trụ. Tuỳ thuận
thanh tịnh trụ.
Các vị đệ tử của
Phật ! Khi đại
Bồ Tát tu hành
Bồ Tát đạo, hồi
hướng như vậy,
tức là tuỳ thuận
Phật mà trụ, tuỳ
thuận pháp mà
trụ, tuỳ thuận
trí mà trụ, tuỳ
thuận bồ đề mà
trụ, tuỳ thuận
nghĩa lý mà trụ,
tuỳ thuận hồi
hướng mà trụ,
tuỳ thuận cảnh
giới mà trụ, tuỳ
thuận đức hạnh
mà trụ, tuỳ
thuận chân thật
lý thể mà trụ,
tuỳ thuận nguồn
gốc thanh tịnh
mà trụ.
Phật tử ! Ðại Bồ
Tát hồi hướng
như vậy, tức là
thấu đạt tất cả
các pháp, tức là
thừa sự tất cả
chư Phật. Chẳng
có một vị Phật
nào mà không
thừa sự. Chẳng
có một pháp nào
mà không cúng
dường. Chẳng có
một pháp nào có
thể diệt hoại.
Chẳng có một
pháp nào có thể
trái ngược.
Chẳng có một vật
nào có thể tham
trước. Chẳng có
một pháp nào có
thể nhàm lìa.
Chẳng thấy trong
ngoài tất cả các
pháp có chút
diệt hoại. Trái
với nhân duyên
đạo, pháp lực
đầy đủ, chẳng có
ngừng nghỉ.
Các
vị đệ tử của
Phật ! Ðại Bồ
Tát tu Bồ Tát
đạo, hồi hướng
như vậy, tức là
thấu rõ thông
đạt tất cả các
pháp thật tướng.
Tức là thừa sự
tất cả chư Phật
mười phương ba
đời, chẳng có
một vị nào mà
không thừa sự,
chẳng có một
pháp nào không
cúng dường. Vì
Bồ Tát đã chứng
được cảnh giới
vô sinh pháp
nhẫn, cho nên
chẳng có một
pháp nào có thể
diệt hoại, chẳng
có một pháp nào
có thể sinh
khởi. Chẳng có
một pháp nào
cùng nhau trái
ngược, đều tuỳ
thuận với nhau.
Bồ Tát tu hồi
hướng như vậy,
chẳng có sự tham
cầu vật quý báu
nào mà không xả
bỏ bố thí được.
Chẳng có một
pháp nào mà nhàm
não, muốn lìa
khỏi nó. Tại sao
? Vì bên trong
quán tâm, tâm
chẳng có tâm;
nên ngoài quán
hình, hình chẳng
có hình; ở xa
quán vật, vật
chẳng có vật,
tất cả đều
không. Chẳng có
pháp nào có thể
diệt hoại, cũng
chẳng có chút
pháp nào trái
ngược với nhân
duyên đạo. Tức
cũng chẳng có sự
không tương hợp
với nhân duyên
đạo lý. Pháp lực
của tám vạn bốn
ngàn pháp môn,
đều đầy đủ viên
mãn, chẳng có
khi nào ngừng
nghỉ.
Phật tử ! Ðó là
hồi hướng tất cả
căn lành tuỳ
thuận kiên cố
thứ sáu.
Các vị đệ tử của
Phật ! Ðủ thứ
đạo lý ở trên
vừa nói là, đại
Bồ Tát tu hành
Bồ Tát đạo, hồi
hướng tất cả căn
lành tuỳ thuận
kiên cố thứ sáu.
Khi đại Bồ Tát
trụ nơi hồi
hướng nầy,
thường được chư
Phật hộ niệm,
kiên cố chẳng
thối chuyển, vào
pháp tánh thâm
sâu. Tu nhất
thiết trí, tuỳ
thuận nghĩa của
pháp, tuỳ thuận
pháp tánh, tuỳ
thuận tất cả căn
lành kiên cố.
Tuỳ thuận tất cả
nguyện lớn viên
mãn. Ðầy đủ pháp
tuỳ thuận kiên
cố. Tất cả kim
cang không phá
hoại được, ở
trong các pháp
được tự tại.
Khi đại Bồ Tát
tu hạnh Bồ Tát,
trụ nơi hồi
hướng tất cả căn
lành tuỳ thuận
kiên cố, thường
được tất cả chư
Phật mười phương
ba đời bảo hộ và
nghĩ nhớ. Luôn
luôn gia trì,
kiên cố chẳng
thối tâm bồ đề.
Vào trong pháp
tánh thâm sâu,
tu hành nhất
thiết trí huệ.
Tuỳ thuận nghĩa
lý của tất cả
các pháp, tuỳ
thuận pháp tánh
của tất cả các
pháp, tuỳ thuận
tất cả căn lành
kiên cố, tuỳ
thuận tất cả
nguyện lớn viên
mãn, đầy đủ tuỳ
thuận tất cả
pháp kiên cố,
tất cả kim cang
không thể phá
hoại được pháp
nầy. Ở trong tất
cả các pháp, đắc
được nhậm vận tự
tại, chẳng có
mọi sự chấp
trước.
Bấy giờ, Bồ Tát
Kim Cang Tràng
quán sát mười
phương, quán sát
chúng hội, quán
sát pháp giới
rồi, vào nơi
nghĩa của chữ
câu thâm sâu, tu
tập tâm vô lượng
rộng lớn. Dùng
tâm đại bi che
khắp thế gian.
Sinh trưởng
giống tâm tánh
Phật quá khứ,
hiện tại, vị
lai, vào nơi
công đức của tất
cả chư Phật,
thành tựu lực
thân tự tại của
chư Phật. Quán
sát tâm ưa thích
của các chúng
sinh. Tuỳ thuận
căn lành thành
thục của họ,
nương pháp tánh
thân, vì họ hiện
sắc thân. Nương
thần lực của
Phật, mà nói kệ
rằng.
Lúc đó, Bồ Tát
Kim Cang Tràng
quán sát khắp
nhân duyên của
tất cả chúng
sinh trong mười
phương thế giới.
Lại quán sát
nhân duyên đại
chúng của tất cả
hải hội chư Phật
trong mười
phương ba đời.
Lại quán sát
nhân duyên của
pháp giới. Quán
sát rồi, vào
trong tam muội
chữ câu nghĩa lý
thâm sâu. Tu
hành học tập tâm
rộng lớn vô
lượng vô biên
tận hư không
khắp pháp giới,
dùng tâm đại bi
lợi vật, giải
trừ khổ não của
chúng sinh, che
hộ khắp tất cả
chúng sinh trong
thế giới, sinh
trưởng tâm giống
tánh của chư
Phật quá khứ,
tâm giống tánh
của chư Phật
hiện tại, tâm
giống tánh của
chư Phật vị lai.
Vào công đức của
tất cả chư Phật,
tức cũng là công
đức của chính Bồ
Tát, công đức
của mình tức là
công đức của chư
Phật, chư Phật
và Bồ Tát là hai
mà không hai.
Thành tựu lực
thân tự tại của
chư Phật có đủ
sự nhậm vận tự
tại. Quán sát sự
ưa thích trong
tâm của mỗi
chúng sinh là gì
? hy vọng những
gì ? tuỳ thuận
căn lành của
chúng sinh, nhìn
xem căn lành nào
thành thục thì
dùng phương pháp
đó để giáo hoá.
Căn cứ pháp tánh
thân vì họ mà
thị hiện sắc
thân để nói pháp
cho họ nghe.
Nương theo đại
oai thần lực của
mười phương chư
Phật, vì chúng
sinh mà nói bốn
mươi mốt bài kệ,
để giáo hoá
chúng sinh có
duyên.
Bồ
Tát hiện thân
làm ông vua
Là
bậc trên hết ở
trong đời
Phước
đức oai quang
hơn tất cả
Khắp
vì quần sinh ban
lợi ích.
Bồ Tát quán sát
nhân duyên của
chúng sinh, đáng
dùng thân Phật
độ được họ, thì
hiện thân Phật
mà vì họ nói
pháp. Ðáng dùng
thân Bích Chi
Phật độ được họ,
thì hiện thân
Bích Chi Phật mà
vì họ nói pháp.
Ðáng dùng thân
ông vua độ được
họ, thì hiện
thân ông vua mà
vì họ nói pháp.
Ðáng dùng thân
trưởng giả độ
được họ, thì
hiện thân trưởng
giả mà vì họ nói
pháp. Tóm lại,
đáng dùng thân
gì độ được họ,
thì hiện thân đó
để vì họ nói
pháp. Do đó có
thể thấy, chỗ
của Bồ Tát làm
chẳng phải vì
mình, mà vì lợi
ích tất cả chúng
sinh. Bồ Tát vì
giáo hoá chúng
sinh, khiến cho
họ lìa khổ được
vui, cam tâm
tình nguyện theo
chúng sinh vào
đường địa ngục,
hoặc đi vào
đường ngạ quỷ,
hoặc đi vào
đường súc sinh.
Ðó là tinh thần
của Bồ Tát.
Bồ Tát thị hiện
sắc thân, làm
ông vua nước
lớn, ở tại địa
vị nhân gian mà
nói là tôn quý
bậc nhất. Tướng
mạo cũng viên
mãn, phước đức
cũng viên mãn.
Oai nghi quang
hơn hết tất cả,
khắp vì chúng
sinh mà ban cho
lợi ích. Do đó
"Thương dân như
con", vì nhân
dân mà làm việc
công đức.
Tâm
Ngài thanh tịnh
không nhiễm
trước
Nơi
đời tự tại đều
tôn kính
Hoằng
dương chánh pháp
dạy bảo người
Khắp
khiến chúng sinh
được an ổn.
Tuy Bồ Tát thị
hiện làm thân
ông vua, song,
tâm của Ngài rất
thanh tịnh,
chẳng có mọi sự
ô nhiễm chấp
trước, chẳng ích
kỷ lợi mình, tất
cả hết thảy đều
vì lợi ích chúng
sinh. Chỉ cần
chúng sinh có
lợi ích, có thể
khiến cho chúng
sinh sinh hoan
hỉ, thì dù có
tan xương nát
thịt cũng nguyện
ý đi làm, chẳng
còn tồn tại
tướng ta. Tại
thế gian nhậm
vận tự tại, cho
nên được chúng
sinh tôn kính.
Ngài hoằng dương
chánh pháp,
khiến cho chánh
pháp ở lâu nơi
thế gian, dùng
chánh pháp dạy
bảo người đời.
Bồ Tát khiến cho
khắp hết thảy
chúng sinh đều
đắc được an ổn.
Hiện
sinh quý tộc lên
ngôi vua
Thường
nương chánh giáo
chuyển pháp luân
Bẩm
tính nhân từ
không bạo ngược
Mười
phương kính
ngưỡng đều tuân
theo.
Bồ Tát thị hiện
sắc thân, sinh
vào trong dòng
quý tộc, tương
lai có thể lên
làm vua. Luôn
luôn căn cứ vào
chánh pháp nhãn
tạng để chuyển
đại pháp luân,
giáo hoá chúng
sinh, khiến cho
chúng sinh nghe
pháp khai ngộ.
Bẩm tính của Bồ
Tát rất nhân từ,
tâm không sân
độc và tư tưởng
không ngược đãi
với chúng sinh,
cho nên chúng
sinh trong mười
phương thế giới,
đều cung kính
ngưỡng vọng y
theo sự giáo hoá
của Ngài.
Trí
huệ phân biệt
thường sáng suốt
Sắc
tướng tài năng
đều đầy đủ
Lâm
ngự truyền lệnh
đều nghe theo
Ðiều
phục ma quân
không còn sót.
Tuy Bồ Tát thị
hiện làm ông
vua, hoặc đại
thần, song, trí
huệ của Ngài
thường sáng
suốt, chẳng hồ
đồ. Khéo phân
biệt tất cả đạo
lý các pháp thật
tướng. Bồ Tát
thị hiện sắc
tướng rất viên
mãn, tài năng
rất cao siêu,
thảy đều đầy đủ.
Khi làm ông vua,
lâm triều chấp
chánh, trị lý
quốc gia, giá
ngự tuần hành.
Phàm là chỗ của
vua thống trị,
bất cứ sông hồ
biển cả, Ngài
đều đích thân đi
quan sát. Hết
thảy chúng sinh,
đều nghe theo sự
giáo hoá của
Ngài. Ngài phá
tan hàng phục
được mười đại ma
quân, tiêu diệt
chúng hết không
còn.
Giữ
gìn tịnh giới
không huỷ phạm
Quyết
chí nhẫn nhục
không lay động
Luôn
nguyện diệt trừ
tâm sân hận
Thường
thích tu hành
các Phật pháp.
Bồ Tát giữ gìn
giới luật thanh
tịnh, tuyệt đối
không huỷ phạm.
Lập chí nguyện
quyết định, kham
nhẫn tất cả điều
người khác không
thể nhẫn, gặp
tất cả cảnh giới
tâm không lay
động. Vĩnh viễn
phát nguyện diệt
trừ tất cả tâm
sân hận. Thường
thường nguyện ý
tu hành pháp của
chư Phật nói.
Thức ăn uống
hương man y phục
Xe kiệu giường
nệm toà với đèn
Bồ Tát đều đem
cho giúp người
Cùng với vật
khác vô lượng
thứ.
Hết
thảy tất cả thức
ăn uống, tất cả
hương man, tất
cả y phục, tất
cả xe kiệu, tất
cả giường báu,
tất cả nệm, tất
cả toà báu, tất
cả đèn báu, Bồ
Tát thảy đều bố
thí cho những
người đến xin,
dùng đủ thứ phẩm
vật để cứu giúp
chúng sinh, cùng
với vô lượng
những đồ vật
châu báu khác,
đều đem ra bố
thí, tuyệt đối
không sẻn tiếc.
Chúng ta cũng
phải học tâm từ
bi của Bồ Tát,
bố thí cứu giúp
kẻ bần cùng.
Vì
lợi ích mà hành
bố thí
Khiến
họ khai mở tâm
rộng lớn
Ở
nơi tôn thắng và
chỗ khác
Tâm
đều thanh tịnh
sinh hoan hỉ.
Bồ
Tát vì lợi ích
chúng sinh, mà
tu hạnh môn bố
thí, vì khiến
cho chúng sinh
khai mở tâm rộng
lớn. Trụ nơi
cung điện tôn
quý thù thắng
nhất, hoặc ở
những chỗ khác,
trong tâm ý lúc
nào cũng thanh
tịnh, lúc nào
cũng hoan hỉ.
Bồ
Tát đều chu cấp
tất cả
Trong
ngoài hết thảy
đều xả được
Ðều
khiến tâm họ
luôn thanh tịnh
Chẳng
khiến tạm thời
sinh hẹp hòi.
Bồ
Tát đem tất cả
phẩm vật, đều
chu cấp cho
chúng sinh. Nội
tài là đầu mắt
tuỷ não, ngoại
tài là đất nước
vợ con, nội tài
ngoại tài hết
thảy đều bố thí
hết. Trong tâm
của Bồ Tát vĩnh
viễn thanh tịnh,
không lúc nào mà
không xả bỏ được
dù chỉ tạm thời,
khiến cho chúng
sinh không sinh
tâm hẹp hòi, dù
bất cứ thời khắc
nào.
Hoặc
bố thí đầu hoặc
thí mắt
Hoặc
bố thí tay hoặc
thí chân
Da
thịt cốt tuỷ và
vật khác
Tất
cả đều xả tâm
không tiếc.
Bồ
Tát bố thí đầu
của mình, hoặc
bố thí mắt của
mình, hoặc bố
thí tay của
mình, chân của
mình, hoặc bố
thí da, thịt,
cốt, tuỷ của
mình, cùng với
những phẩm vật
khác, tất cả hết
thảy đều bố thí
hết, mà trong
tâm không có tư
tưởng sẻn tiếc.
Bồ
Tát thân làm ông
vua lớn
Chủng
tộc tôn quý
trong loài người
Mở
miệng cắt lưỡi
thí quần sinh
Tâm
Ngài hoan hỉ
không ưu luyến.
Bồ
Tát thị hiện đủ
thứ thân hình để
giáo hoá chúng
sinh, có lúc thị
hiện thân ông
vua tôn quý
nhất, có lúc thị
hiện thân kẻ ăn
mày nghèo khổ
nhất. Tuỳ thuận
căn cơ của chúng
sinh mà hiện
thân. Bồ Tát thị
hiện thân ông
vua, là dòng dõi
quý tộc, được
mọi người cung
kính. Ngài mở
miệng cắt lưỡi
bố thí cho chúng
sinh, trong tâm
rất hoan hỉ,
chẳng có tư
tưởng buồn rầu
luyến tiếc.
Ðem
công đức thí
lưỡi đó
Hồi
hướng tất cả các
chúng sinh
Nguyện
họ nhờ đây được
thắng duyên
Ðược
lưỡi rộng dài
của Như Lai.
Bồ
Tát đem công đức
bố thí lưỡi, hồi
hướng cho hết
thảy pháp giới
chúng sinh.
Nguyện khắp tất
cả chúng sinh,
đều nhờ nhân
duyên thù thắng
nầy, mà được
tướng lưỡi rộng
dài của Phật, có
thể che khắp ba
ngàn đại thiên
thế giới, vì
những chúng sinh
khác rộng nói
diệu pháp Kinh
Hoa Nghiêm Ðại
Phương Quảng
Phật.
Hoặc
thí vợ con và
ngôi vua
Hoặc
thí thân mình
làm tôi tớ
Tâm
ý thanh tịnh
thường hoan hỉ
Như
vậy tất cả chẳng
buồn tiếc.
Bồ
Tát hoặc đem vợ
con của mình,
hoặc ngôi vua bố
thí cho người,
hoặc đem chính
bản thân mình bố
thí cho người
khác, để làm tôi
tớ cho họ. Bất
cứ là nội tài,
hay ngoại tài,
bố thí rồi,
chẳng có tâm cầu
báo đáp, cho nên
tâm thường thanh
tịnh, luôn hoan
hỉ. Bố thí tất
cả như vậy cũng
chẳng buồn rầu,
cũng chẳng hối
tiếc.
Tuỳ
chỗ cầu xin đều
thí cho
Ðúng
thời giúp cho
không nhàm mỏi
Tất
cả hết thảy đều
xả bỏ
Những
người đến xin
đều đầy đủ.
Bồ
Tát tuỳ thuận đồ
vật mà chúng
sinh ưa thích
đều bố thí,
khiến cho tâm
chúng sinh được
mãn nguyện. Tóm
lại, chúng sinh
cần gì thì Bồ
Tát bố thí cái
đó. Ðúng lúc
chúng sinh cần
thì Ngài bố thí,
song, tâm của
Ngài chẳng có tư
tưởng nhàm mỏi
phiền muộn. Hết
thảy tất cả phẩm
vật, đều xả bỏ
bố thí cho chúng
sinh. Phàm là
chúng sinh đến
cầu xin, chẳng
làm cho họ thất
vọng, đều được
đồ vật mà họ
mong muốn, đều
đại hoan hỉ.
Vì
nghe pháp nên
thí thân mình
Tu
các khổ hạnh cầu
bồ đề
Lại
vì chúng sinh xả
tất cả
Cầu
trí vô thượng
không thối
chuyển.
Bồ
Tát vì nghe Phật
pháp, cho nên bố
thí thân của
mình, tu đủ thứ
khổ hạnh. Tại
sao phải tu khổ
hạnh ? Vì cầu
đạo bồ đề, sớm
thành quả Phật.
Bồ Tát lại vì
chúng sinh làm
lợi ích, cho đến
làm tất cả công
đức bố thí cho
chúng sinh. Vì
cầu trí huệ vô
thượng, cho nên
vĩnh viễn không
thối chuyển tâm
bồ đề.
Từ
chỗ đức Phật
nghe chánh pháp
Tự
xả thân mình làm
tôi tớ
Vì
muốn cứu khắp
các quần sinh
Phát
sinh vô lượng
tâm hoan hỉ.
Bồ
Tát vì ở chỗ đức
Phật lắng nghe
chánh pháp, cho
nên đem thân thể
của mình bố thí
cho Phật, làm
người hầu cận
cho Phật. Vì
muốn cứu độ khắp
tất cả chúng
sinh thoát khỏi
biển khổ, mới
phát sinh tâm từ
bi hỉ xả vô
lượng, cùng với
vô lượng tâm
hoan hỉ.
Bồ
Tát thấy Thế Tôn
Ðạo Sư
Hay
dùng tâm từ rộng
lợi ích
Bấy
giờ nhảy nhót
sinh hoan hỉ
Nghe
thọ vị pháp của
Như Lai.
Bồ
Tát thấy được
Phật, hay dùng
tâm từ bi rộng
lợi ích tất cả
chúng sinh. Lúc
đó, Bồ Tát thấy
Phật lợi ích
chúng sinh, hoan
hỉ vui mừng,
không tự chủ
được bèn nhảy
nhót lên, lắng
nghe lãnh thọ vị
pháp thâm sâu
của Phật.
Bồ
Tát có tất cả
căn lành
Ðều
đem hồi hướng
cho chúng sinh
Khắp
đều cứu hộ không
thừa sót
Luôn
khiến giải thoát
thường an lạc.
Bồ
Tát có tất cả
căn lành, hoàn
toàn hồi hướng
cho tất cả công
đức, khắp cứu độ
bảo hộ cho tất
cả chúng sinh,
chẳng thừa sót
chúng sinh nào,
mà không được
lợi ích. Vĩnh
viễn khiến cho
tất cả chúng
sinh đắc được
giải thoát, đắc
được an ổn khoái
lạc.
Bồ
Tát có tất cả
quyến thuộc
Sắc
tướng đoan
nghiêm hay biện
huệ
Hoa
kế y phục và
hương thoa
Các
thứ trang nghiêm
đều đầy đủ.
Bồ
Tát có tất cả
quyến thuộc, sắc
tướng rất đoan
chánh trang
nghiêm, lại có
trí huệ biện tài
vô ngại. Có đủ
thứ hoa kế, đủ
thứ y phục, đủ
thứ hương thoa,
đủ thứ hương
bột, đủ thứ đồ
trang nghiêm,
thảy đều đầy đủ.
Các
quyến thuộc đó
đều hi hữu
Tất
cả Bồ Tát đều
thí được
Chuyên cầu Chánh
Giác độ quần
sinh
Tâm
ý như vậy không
tạm xả.
Tất
cả quyến thuộc
đó rất ít có,
song, Bồ Tát đem
quyến thuộc của
mình đều bố thí
được. Tại sao ?
Vì chuyên cầu
Chánh Giác
(Phật), để giáo
hoá cứu độ chúng
sinh. Tâm đại bồ
đề đó, không có
lúc nào tạm xả
bỏ.
Bồ
Tát suy nghĩ kỹ
như vậy
Thực
hành các thứ
nghiệp rộng lớn
Ðều
đem hồi hướng
các chúng sinh
Mà
chẳng sinh ra
tâm chấp lấy.
Bồ
Tát khéo suy gẫm
như thế, khắp tu
hành đủ thứ
nghiệp thiện
công đức rộng
lớn. Ðem công
đức lành đó, hồi
hướng cho tất cả
chúng sinh, mà
chẳng có tơ hào
tâm chấp trước
thủ lấy tướng.
Bồ Tát chẳng có
tư tưởng như
vầy: "Hiện tại
tôi bố thí, có
nhiều công đức
lành như vậy,
công đức của tôi
quá lớn". Chẳng
giống như vua
Lương Võ Ðế thấy
được Tổ Sư Bồ Ðề
Ðạt Ma, bèn hỏi:
- "Tôi kiến tạo
rất nhiều chùa
to Phật lớn, độ
được rất nhiều
Tăng ni, như vậy
có bao nhiêu
công đức ?"
Tổ Sư Bồ Ðề Ðạt
Ma đáp:
- "Chẳng có công
đức gì hết".
Tại sao lại nói
như thế ? Vì tâm
chấp trước của
vua Lương Võ Ðế
quá nặng, do đó,
cho ông ta một
gáo nước lạnh,
khiến cho ông ta
bừng tỉnh, đừng
vì có công đức
mà bố thí. Do
đó, "Tam luân
thể không" mới
là thật bố thí.
Bồ
Tát xả bỏ ngôi
vua lớn
Cùng
với cõi nước các
thành ấp
Cung
điện lầu các và
vườn rừng
Tôi
tớ thị vệ đều
không tiếc.
Khi
Bồ Tát thị hiện
làm ông vua, thì
hoặc đem ngôi
vua xả bỏ, hoặc
đem cõi nước xả
bỏ, hoặc đem
thành ấp xả bỏ,
hoặc đem cung
điện xả bỏ, hoặc
đem lầu các xả
bỏ, thậm chí
vườn rừng, tôi
tớ, thị vệ, thảy
đều xả bỏ, mà
không sẻn tiếc.
Ở
trong vô lượng
trăm ngàn kiếp
Ði
khắp các nơi bố
thí cho
Nhờ
đó giáo hoá các
chúng sinh
Ðều
khiến vượt lên
bờ vô thượng.
Bồ
Tát ở trong vô
lượng trăm ngàn
kiếp về trước,
Ngài du hành đến
khắp tất cả cõi
nước chư Phật
mười phương ba
đời, để bố thí
tất cả căn lành
mà Ngài tích tụ.
Vì có nhiều công
đức lành, cho
nên giáo hoá tất
cả chúng sinh,
khiến cho họ đều
vượt lên bờ Niết
Bàn vô thượng
bên kia.
Vô
lượng phẩm loại
đều khác biệt
Mười
phương thế giới
hội họp đến
Bồ
Tát thấy rồi tâm
vui mừng
Theo
chỗ họ xin khiến
đầy đủ.
Có
vô lượng vô biên
chúng sinh, phẩm
loại đều khác
nhau. Mười
phương thế giới
chúng sinh phẩm
loại khác nhau,
đều hội họp đến
chỗ Bồ Tát hành
bố thí. Bồ Tát
thấy vô lượng
chúng sinh hướng
về Ngài hoá
duyên như vậy,
trong tâm rất
vui mừng, bèn
tuỳ theo sự cầu
xin của chúng
sinh mà bố thí,
khiến cho họ đều
được đầy đủ.
Như
hồi hướng của
Phật ba đời
Bồ
Tát cũng tu
nghiệp như vậy
Chỗ
tu hành của đấng
Ðiều Ngự
Thảy
đều theo học đến
bờ kia.
Giống
như sự hồi hướng
trong quá khứ
của tất cả chư
Phật mười phương
ba đời tu, Bồ
Tát cũng tu
nghiệp hồi hướng
như vậy. Chư
Phật tu hành
những pháp môn
nào, Bồ Tát đều
theo Phật tu học
pháp đến bờ kia.
Bờ kia tức là
cảnh giới không
sinh không diệt,
không dơ không
sạch, không tăng
không giảm, tức
cũng là thường
lạc ngã tịnh bốn
đức Niết Bàn.
Bồ
Tát quán sát tất
cả pháp
Ai
là người vào
được pháp nầy
Vào
như thế nào, vào
chỗ nào
Như
vậy bố thí tâm
không trụ.
Bồ
Tát quán sát tất
cả Phật pháp,
suy gẫm tất cả
Phật pháp: Ai
vào được pháp
nầy ? Làm thế
nào vào được
trong pháp vắng
lặng ? Tất cả
các pháp đều
không, lại có gì
để vào ! Tức là
bố thí pháp cũng
là không, có gì
có thể trụ ?
Bồ
Tát hồi hướng
trí thiện xảo
Bồ
Tát hồi hướng
pháp phương tiện
Bồ
Tát hồi hướng
nghĩa chân thật
Ở
trong pháp đó
không chấp
trước.
Bồ
Tát hồi hướng sự
tu của Ngài về
trí huệ thiện
xảo, khiến cho
chúng sinh cũng
đều có trí huệ
thiện xảo. Bồ
Tát hồi hướng
cho chúng sinh,
đó là pháp
phương tiện. Bồ
Tát tu hành Bồ
Tát đạo, hồi
hướng về lý thể
chân thật, hồi
hướng về thật
tế, bất cứ tu
pháp gì, cũng
đều không chấp
trước.
Tâm
không phân biệt
tất cả nghiệp
Cũng
không nhiễm
trước nơi nghiệp
quả
Biết
tánh bồ đề từ
duyên khởi
Vào
sâu pháp giới
không trái
nghịch.
Tâm
của Bồ Tát chẳng
chấp trước tất
cả nghiệp thiện
và nghiệp ác.
Cũng chẳng có tư
tưởng nhân quả
báo ứng, khởi
hoặc, tạo
nghiệp, thọ báo.
Biết pháp tánh
bồ đề là từ nhân
duyên sinh ra,
cho nên vào pháp
giới thâm sâu,
cũng chẳng trái
nghịch với pháp
thật tế lý thể.
Chẳng
ở trong thân mà
có nghiệp
Cũng
chẳng nương trụ
ở nơi tâm
Trí huệ biết rõ
không tánh
nghiệp
Do
nhân duyên nên
nghiệp không
mất.
Bồ
Tát chẳng nói ở
trong thân mình
tạo ra nghiệp gì
? cho nên chẳng
chấp có nghiệp.
Cũng chẳng nương
trụ ở nơi tâm.
Do đó, "Ưng vô
sở trụ, nhi sinh
kỳ tâm". Tức là
chẳng chấp trước
vào tâm. Có trí
huệ rồi thì sẽ
thấu rõ tất cả
nghiệp tánh là
không, chẳng có
tồn tại tánh
nghiệp. Vì có
các thứ nhân
duyên như vậy,
cho nên nghiệp
lực cũng chẳng
mất đi.
Tâm
chẳng vọng lấy
pháp quá khứ
Cũng
chẳng tham cầu
việc vị lai
Ở
nơi hiện tại
chẳng chỗ trụ
Thấu
đạt ba đời đều
vắng lặng.
Tâm
của Bồ Tát chẳng
vọng lấy pháp
quá khứ, cũng
chẳng tham cầu
việc vị lai,
hiện tại bây giờ
cũng chẳng chỗ
trụ. Tướng ta,
tướng người,
tướng chúng
sinh, tướng thọ
mạng đều không,
tất cả đều không
chấp trước. Tại
sao không chỗ
trụ ? Vì thấu rõ
thông đạt ba đời
đều là vắng
lặng.
Bồ
Tát đã đến sắc
bên kia
Thọ
tưởng hành thức
cũng như vậy
Vượt
khỏi dòng sinh
tử thế gian
Tâm
Ngài khiêm hạ
thường thanh
tịnh.
Bồ
Tát tu hành Bồ
Tát đạo, hết
thảy tất cả đều
xả bỏ được, nhìn
thấy tất cả đều
không. Do đó,
đối với sắc thọ
tưởng hành thức
năm uẩn biết là
vắng lặng. Vì là
vắng lặng, cho
nên đến được bờ
bên kia sắc thọ
tưởng hành thức.
Tri kiến của Bồ
Tát và của phàm
phu hoàn toàn
khác nhau, Bồ
Tát vượt qua
được biển khổ
sinh tử của thế
gian, tâm của Bồ
Tát khiêm hạ
thường thanh
tịnh.
Quán
kỹ năm uẩn mười
tám giới
Mười
hai xứ cùng với
thân mình
Mỗi
mỗi nơi đây cầu
bồ đề
Thể
tánh rốt ráo
không thể được.
Bồ
Tát quán sát kỹ
sắc thọ tưởng
hành thức năm
uẩn là không.
Lại quán sát mắt
tai mũi lưỡi
thân ý sáu căn
và sắc thanh
hương vị xúc
pháp sáu trần,
cùng với nhãn
thức, nhĩ thức,
tĩ thức, thiệt
thức, thân thức,
ý thức, hợp
thành mười tám
giới, cũng là
không. Lại quán
sát mười hai xứ
(sáu căn và sáu
trần) và thân
mình cũng là
không. Nơi năm
uẩn, mười tám
giới, mười hai
xứ nầy cầu bồ đề
giác đạo, đều
không thể đắc
được. Tại sao ?
vì thể tính của
nó đều là không.
Chẳng
lấy tướng các
pháp thường trụ
Nơi
tướng đoạn diệt
cũng chẳng chấp
Pháp
tánh chẳng có
cũng chẳng không
Nghiệp
lý thứ lớp trọn
vô tận.
Bồ Tát tu hành
trung đạo liễu
nghĩa, cũng
chẳng thiên về
không, cũng
chẳng lệch về
có. Lệch về có
tức là chấp
tướng thường-đoạ
lạc thường kiến.
Thiên về không
tức là chấp
tướng đoạn, đoạ
lạc về đoạn
kiến. Phật pháp
chẳng phải
thường, cũng
chẳng phải đoạn,
chẳng đoạn chẳng
thường là trung
đạo liễu nghĩa,
cho nên nói
chẳng thủ lấy
tướng của các
pháp thường trụ.
Bồ Tát chẳng
chấp trước tất
cả pháp có tướng
thường trụ. Vậy,
chẳng có thường,
có đoạn chẳng ?
Tướng đoạn cũng
chẳng chấp vào,
cho nên chẳng
chấp đoạn, chẳng
chấp thường, đó
mới là trung đạo
liễu nghĩa. Bản
tánh của pháp,
cũng chẳng phải
có, cũng chẳng
phải không; có,
không cũng là tà
kiến. Tuy nhiên
chẳng đoạn,
chẳng thường,
chẳng có, chẳng
không, song, lý
thể của nghiệp
rất có thứ lớp,
vô tận chẳng hết
được.
Nơi
các pháp chẳng
có chỗ trụ
Chẳng
thấy chúng sinh
và bồ đề
Trong
mười phương cõi
nước ba đời
Rốt
ráo mà cầu không
thể được.
Bồ Tát tu hành
các pháp, chẳng
trụ vào các
pháp. Tức pháp
chẳng phải pháp,
chẳng chấp trước
vào tướng của
tất cả các pháp.
Chẳng những tất
cả pháp là
không, mà chúng
sinh và bồ đề
cũng là không,
vốn không nên
chấp trước. Cõi
nước chư Phật
mười phương và
chỗ trụ của chư
Phật ba đời, rốt
ráo mà nói thì
cầu không thể
được. Tại sao ?
vì nó vốn là
không.
Nếu
quán các pháp
được như vậy
Thì
thấu hiểu giống
như chư Phật
Tuy
cầu tánh đó
không thể được
Chỗ
Bồ Tát hành cũng
không hư.
Nếu biết các
pháp vốn không,
thì còn có gì để
chấp trước ! Do
đó:
"Các pháp từ xưa
nay,
Thường là tướng
vắng lặng,
Không thể dùng
lời nói".
Nếu quán được
thật tướng của
tất cả các pháp,
thì sẽ thấu hiểu
giống như chư
Phật. Tuy nhiên
cầu bản tánh của
pháp không thể
đắc được, song,
công đức của Bồ
Tát tu hành Bồ
Tát đạo, không
thể không có.
Tại sao nói
không hư ? Vì
"Phước không tổn
hại", tu hành
thì nhất định sẽ
có phước, không
tu hành thì chắc
chắn sẽ không có
phước đức.
Bồ
Tát biết pháp từ
duyên có
Không
trái tất cả chỗ
hành đạo
Mở
bày giải nói các
vết nghiệp
Muốn
khiến chúng sinh
đều thanh tịnh.
Bồ Tát thấu rõ
tất cả các pháp
là từ nhân duyên
sinh ra mà có.
Do đó,
"Các pháp từ
duyên sinh,
Các pháp từ
duyên diệt".
Lại nói:
"Nhân duyên sinh
ra pháp
Ta nói tức là
không
Cũng gọi là tên
giả
Cũng gọi nghĩa
trung đạo".
Vì
nó là tên giả,
cho nên nói
không cũng là
giả. Chẳng trái
với tất cả chỗ
hành đạo, tức là
trung đạo. Phàm
là có sự tu
hành, thì nhất
định sẽ có sự
thành tựu. Bồ
Tát mở bày pháp
môn phương tiện,
thị hiện tướng
chân thật, giải
thích nghĩa thâm
sâu, diễn nói
pháp vi diệu. Mở
bày giải nói đạo
lý quả báo của
tất cả nghiệp.
Tại sao Bồ Tát
không việc đi
tìm việc làm ? Ở
trong lời nói mà
lập lời nói, đó
là khiến cho
chúng sinh khôi
phục lại bộ mặt
thật vốn có (bản
lai diện mục),
đắc được nguồn
gốc thanh tịnh,
tánh diệu chân
như.
Ðó
là chỗ bậc trí
hành đạo
Pháp
của tất cả Như
Lai nói
Tuỳ
thuận suy gẫm
vào chánh nghĩa
Tự
nhiên giác ngộ
thành bồ đề.
Ðó
tức là con đường
tu hành của
người có trí
huệ, pháp của
tất cả chư Phật
mười phương ba
đời nói ra. Nếu
có thể tuỳ thuận
đạo lý nầy để
suy gẫm thì, sẽ
nhập vào nghĩa
chánh pháp, tự
nhiên sẽ giác
ngộ, thành tựu
bồ đề giác đạo.
Các
pháp không sinh
cũng không diệt
Cũng
lại không đến
cũng không đi
Chẳng
nơi nầy chết mà
sinh kia
Là
người ngộ hiểu
các Phật pháp.
Các pháp là vắng
lặng, cho nên nó
không sinh cũng
không diệt. Pháp
thì không đến,
không đi. Ở nơi
nầy chết rồi,
lại sinh đến nơi
khác, những tư
tưởng nầy đều
chẳng có. Nếu
người nầy hiểu
ngộ được, thì đó
là chánh pháp
của chư Phật.
Vậy, đừng chấp
trước vào tất cả
tướng.
Thấu
đạt các pháp
tánh chân thật
Mà
nơi pháp tánh
không phân biệt
Biết
pháp không tánh
không phân biệt
Người
nầy khéo vào trí
chư Phật.
Thấu rõ thông
đạt lý thể của
tất cả các pháp
chân thật, đối
với bản tánh của
pháp chẳng có
tâm phân biệt.
Biết pháp tánh
là không, tại
nơi không chẳng
sinh ra sự phân
biệt. Người đó
khéo khế hợp với
trí huệ của chư
Phật.
Pháp
tánh khắp tất cả
mọi nơi
Tất
cả chúng sinh và
cõi nước
Ba
đời tồn tại
không thừa sót
Cũng
không hình tướng
mà đắc được.
Pháp tánh đầy
khắp tất cả mọi
nơi, do đó "Tận
hư không, khắp
pháp giới", đều
có pháp tánh.
Hết thảy chúng
sinh và hết thảy
cõi nước, pháp
tánh đều tồn
tại. Ba đời đều
có pháp tánh tồn
tại, chẳng có
nơi nào mà không
có pháp tánh.
Tuy là tự nhiên
có pháp tánh tồn
tại, nhưng pháp
tánh không hình
tướng mà là vắng
lặng, không thể
đắc được. Tuy
pháp tánh không
hình tướng,
nhưng nếu thật
tu hành thì,
cũng đắc được
trí huệ chân
chánh.
Chỗ
tất cả chư Phật
giác ngộ
Thảy
đều nhiếp lấy
không thừa sót
Tuy
nói tất cả pháp
ba đời
Các
pháp như vậy đều
chẳng có.
Tất cả chư Phật
mười phương ba
đời giác ngộ
pháp tánh khắp
tất cả mọi nơi.
Pháp tánh tuy
nhiên không hình
tướng, mà khắp
cùng tất cả mọi
nơi. Ðây là đạo
lý gì ? Vì nó có
sức lực đó. Phật
giác ngộ bản
tánh của pháp,
nhiếp lấy pháp
tánh không thừa
sót. Tuy nhiên
Phật diễn nói
tất cả các pháp
ba đời, nhưng
không chấp trước
pháp tướng. Tuy
nhiên pháp tánh
là có, nhưng
pháp tướng là
không. Tất cả
các pháp của
Phật nói đều là
không.
Như
các pháp tánh
khắp tất cả
Bồ
Tát hồi hướng
cũng như thế
Như
vậy hồi hướng
các chúng sinh
Thường
nơi thế gian
không thối
chuyển.
Giống như tất cả
pháp tánh khắp
cùng tất cả mọi
nơi, nhưng nhìn
mà không thấy,
lắng mà không
nghe, ngửi mà
không mùi. Bồ
Tát tu công đức
hồi hướng cũng
giống như thế,
tuy nhiên không
có hình tướng,
nhưng công đức
không thể nghĩ
bàn. Vì vậy, cho
nên Phật tu tập
tất cả công đức
hồi hướng cho
tất cả chúng
sinh. Chẳng
những Ngài tu
hạnh Bồ Tát một
ngày, mà là ngày
ngày đều tu hạnh
Bồ Tát, tháng
tháng đều tu,
năm năm đều tu,
đời đời kiếp
kiếp đều tu hạnh
Bồ Tát. Ðem công
đức hồi hướng
cho pháp giới
chúng sinh,
thường ở tại
nhân gian không
thối chuyển tâm
bồ đề.
Phật nói pháp
chẳng có pháp
nhất định, có
Kinh thì nói đạo
lý có, có Kinh
thì nói đạo lý
không. Tại sao
nói có, nói
không ? Vì chúng
sinh chẳng chấp
trước có, thì
chấp trước
không; chẳng
chấp không thì
chấp có. Kỳ
thật, pháp thì
chẳng không,
chẳng có, chẳng
đoạn, chẳng
thường, cho nên
Phật vì phá chấp
trước của chúng
sinh, mà dùng đủ
thứ ví dụ để vì
chúng sinh nói
pháp. Song, bản
tánh của chúng
sinh ngu si hồ
đồ, chẳng cầm
cái nầy lên, thì
cầm cái kia lên,
cuối cùng không
thể buông xả
đặng. Buông xả
cái nầy xuống,
thì cầm cái kia
lên, buông xả
cái kia xuống,
thì cầm cái nọ
lên. Giống như
vọng tưởng, vọng
tưởng nầy ngừng
thì vọng tưởng
kia lên, vọng
tưởng kia ngừng
thì vọng tưởng
nọ lên. Lại
giống như sóng
trong biển,
chẳng có lúc nào
ngừng. Cho nên
Phật nói pháp là
đối trí vọng
tưởng của chúng
sinh, nếu không
sinh vọng tưởng
tức là nguồn gốc
của các pháp, lý
thể chân thật.
Song, chúng ta
chúng sinh không
thể dừng vọng
tưởng lại được,
cho nên chư Phật
mới nói tất cả
các pháp, để đối
trị tất cả vọng
tưởng của chúng
sinh. Nếu vọng
tưởng không còn
nữa, thì tất cả
các pháp không
còn dùng nữa.
Tát
Bà Nhạ: Rốt
ráo viên mãn trí
huệ quả vị Phật.
Hết tập 13 |
|
|