| ||||||
|
|
KINH HOA NGHIÊM ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT Hán dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o--- TẬP 9 QUYỂN MƯỜI SÁU
PHẨM THĂNG LÊN ĐỈNH NÚI TU DI THỨ MƯỜI BA
Núi Tu Di nằm chính giữa bốn đại châu (Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu), dùng kim cang làm nền móng. Trong biển có tám vạn bốn ngàn do tuần. Phía ngoài núi Tu Di là biển Hương Thủy (biển nước thơm), bao bọc núi Tu Di. Có bảy tầng biển Hương thủy chảy chung quanh, có bảy tầng núi vàng bao bọc. Phía ngoài núi vàng của tầng thứ bảy thì có biển nước mặn. Phía ngoài của biển nước mặn thì có núi Thiết Vi. Diện tích tầng thứ hai là tám ngàn do tuần. Diện tích của tầng thứ ba là bốn ngàn do tuần. Diện tích của tầng thứ tư là hai ngàn do tuần. Lại có bốn thứ màu sắc, đó là: Màu vàng, màu bạc, màu kim cang, màu lưu ly. Trời Tứ Thiên Vương ở lưng chừng giữa núi Tu Di. Trời Ðao Lợi ở trên đỉnh núi Tu Di. Ðỉnh núi này đều là nơi người trời và bậc Thánh nhân ở. Vì chưa lìa khỏi đất, cho nên gọi là địa cư Thiên. Tu Di dịch là Diệu Cao. Từ hai chữ diệu cao mà nhìn, thì tòa núi này khả hữu khả vô (có thể có, có thể không). Lúc nhìn thấy thì chẳng thấy đỉnh của nó; lúc chẳng thấy thì núi vẫn sừng sững. Tại sao ? Vì là diệu cao ! Ðỉnh núi đó ngoài các vị tiên và Thánh nhân dùng thần thông mới đến được đỉnh, còn các phàm phu chẳng đến đỉnh được. Vì nó là cảnh giới diệu không thể tả, cho nên gọi là núi Diệu Cao.
Phật Thích Ca Mâu Ni, từ Điện Phổ Quang
Minh thăng lên đỉnh núi Tu Di, để vì chư
Thiên mà diễn nói diệu pháp của kinh
Bấy giờ, do oai thần lực của Như Lai, mười phương tất cả thế giới, mỗi mỗi tứ Thiên hạ trong cõi Diêm Phù Đề, đều thấy Như Lai ngồi dưới cội bồ đề, đều có Bồ Tát nương thần lực của Phật mà diễn nói pháp, hết thảy đều cho rằng mình luôn ở trước Phật.
Khi nói xong hội thứ hai thì Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni hiện ra đại oai thần lực. Trong mười phương vô lượng vô biên thế giới, trong cõi Nam Diêm Phù Ðề (Nam Thiệm Bộ Châu của một tứ thiên hạ (bốn đại châu), mười phương thế giới chúng sinh, đều thấy Phật ngồi dưới cội bồ đề thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Bên thân của mỗi vị Phật, đều có vô lượng vô biên Bồ Tát, nương đại oai thần lực của Phật, để diễn nói tất cả các pháp. Mỗi vị Bồ Tát và tất cả chúng sinh, đều nói như vầy: ‘’Phật luôn đối diện với mình mà nói pháp.’’ Ðây cũng giống như mặt trăng: Chúng sinh ở bốn hướng đông tây nam bắc, đều nói mặt trăng ở trước họ, chiếu sáng họ. Ví như thuyền chạy ở trong biển. Thuyền chạy về hướng đông, thì cảm thấy mặt trăng đi theo họ để chiếu sáng họ. Thuyền chạy về hướng tây, thì cảm thấy mặt trăng đi theo họ để chiếu sáng họ. Thuyền đậu tại chỗ, thì cảm thấy mặt trăng trụ ở trong hư không để chiếu sáng họ. Chúng sinh cõi Nam Diêm Phù Ðề, cảm thấy Phật đang ở trước họ để vì họ nói pháp. Chúng sinh cõi Nam Diêm Phù Ðề trong mười phương thế giới, cũng đều nghĩ như thế.
Bấy giờ, đức Thế Tôn chẳng lìa khỏi dưới tất cả cội bồ đề, mà thăng lên đỉnh núi Tu Di, hướng về cung điện của trời Đế Thích.
Khi đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng
lìa khỏi dưới tất cả cội bồ đề, vẫn an
nhiên nhập định. Pháp thân của Phật dùng
pháp giới làm thể tướng, hay ở khắp mọi
nơi. Cho nên chẳng động bổn tòa, mà
thăng lên đỉnh núi Tu Di, hướng về cung
điện của trời
Bấy giờ, trời Đế Thích ở trước điện Diệu Thắng, xa trông thấy đức Phật đến, bèn dùng thần lực, trang nghiêm cung điện đó, trang trí tòa sư tử Phổ quang minh tạng. Tòa đó đều dùng diệu báu làm thành.
Lúc đó, trời Ðế Thích ở trước điện Diệu Thắng, xa trông thấy Phật Thích Ca Mâu Ni đến, bèn dùng sức thần thông để trang nghiêm điện Diệu Thắng. Trang trí tòa sư tử Phổ Quang Minh Tạng. Tòa đó dùng tất cả diệu báu làm thành.
Có mười ngàn tầng cấp, rất đẹp trang nghiêm. Mười ngàn lưới vàng, giăng che phía trên. Mười ngàn thứ màn, mười ngàn thứ lọng, bày trí chung quanh. Mười ngàn lụa thêu thòng rũ khắp nơi. Mười ngàn chuỗi châu báu xen kẽ khắp bốn phía. Mười ngàn y phục phô bày khắp trên tòa. Mười ngàn Thiên tử, mười ngàn Phạm Vương vây quanh trước sau. Mười ngàn quang minh chiếu sáng.
‘’Mười‘’ là bắt đầu vô lượng số, biểu
thị ý nghĩa trùng trùng vô tận. Cảnh
giới của kinh
Bấy giờ, trời Đế Thích vì Như Lai trang trí tòa xong rồi, cúi mình chắp tay cung kính, hướng về đức Phật mà bạch rằng: Thiện lai đức Thế Tôn ! Thiện lai đức Thiện Thệ ! Thiện lai đức Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác. Xin nguyện Ngài thương xót mà vào cung điện này.
Lúc đó, trời
Bấy giờ, đức Thế Tôn thọ nhận lời thỉnh cầu, đi vào điện Diệu Thắng. Trong mười phương tất cả thế giới, cũng đều như thế.
Lúc đó, đức Phật thấy trời Ðế Thích rất thành khẩn thỉnh cầu Ngài trụ ở Ðiện Diệu Thắng, bèn thọ nhận lời thỉnh cầu của trời Ðế Thích, vào điện Diệu Thắng, thăng lên tòa sư tử. Trong mười phương hết thảy thế giới trong mỗi cõi Diêm Phù Ðề, Ðức Phật Thích Ca dưới cội bồ đề đều cùng nhau thăng lên đỉnh núi Tu Di, nhận lời thỉnh cầu của trời Ðế Thích mà vào điện Diệu Thắng.
Bấy giờ, Đế Thích nương thần lực của đức Phật, trong các cung điện, hết thảy âm nhạc đều tự nhiên ngừng lại. Liền tự nghĩ nhớ ở chỗ chư Phật quá khứ, trồng các căn lành mà nói kệ rằng.
Lúc đó, trời Ðế Thích nương đại oai thần lực của Phật, ở trong hết thảy cung điện, tất cả tiếng âm nhạc đều tự nhiên im bặt. Lúc đó, trời Ðế Thích hồi tưởng lại nhân duyên trong quá khứ, đã từng ở chỗ đạo tràng của chư Phật, gieo trồng tất cả căn lành, bèn dùng kệ để nói rõ nhân duyên đời quá khứ.
Ca Diếp Như Lai đủ đại bi Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Câu Na Mâu Ni thấy vô ngại Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Câu Na Mâu Ni dịch là "kim tịch", kim có
quang minh, tịch là vô ngại. Chỗ thấy
của vị Phật đó, chẳng có chướng ngại.
Trong tất cả việc cát tường, là cát
tường vô thượng nhất. Vị Phật Câu Na Mâu
Ni đó, đã từng vào trong điện Diệu
Thắng, để vì chư Thiên diễn nói Kinh
Ca Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Ca La Cưu Đà dịch là "phiền não đã đoạn
sạch". Thân thể của vị Phật đó, như là
núi vàng, vàng thì thanh tịnh, núi thì
chẳng động. Trong tất cả việc cát tường
là cát tường vô thượng nhất. Vị Phật Ca
Phật Tỳ Xá Phù sạch ba cấu Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Tỳ Xá Phù dịch là "biến nhất thiết tự
tại". Vị Phật đó chẳng có ba cấu. Ba cấu
tức là nghiệp hiện tại, hạt giống quá
khứ, tập khí thuở xưa. Cũng có thể nói
thân miệng ý ba nghiệp thanh tịnh, chẳng
có một chút nhiễm bụi. Vị Phật Tỳ Xá Phù
trong quá khứ đã từng vào điện Diệu
Thắng, để vì chư Thiên diễn nói
Thi Khí Như Lai lìa phân biệt Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Thi Khí dịch là "trì kế". Vị Phật đó như
minh châu trong búi tóc, lìa khỏi tất cả
sự phân biệt, đầy đủ đại trí huệ, chiếu
thấu các pháp thật tướng. Ngài đến nơi
nào thì nơi đó cát tường. Như Lai Thi
Khí đó đã từng vào điện Diệu Thắng, để
vì chư Thiên diễn nói
Phật Tỳ Bà Thi như trăng rằm Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Tỳ Bà Thi có bốn ý nghĩa, đó là: Tịnh
quán, thắng quán, thắng kiến, biến kiến.
Giống như mặt trăng tròn trí đầy, đây là
biến kiến tức là thấy khắp. Phá sạch
hoặc hết, đây là tịnh quán. Vừa tròn và
tịnh, đây là thắng quán thắng kiến. Vị
Phật đó như đêm trăng rằm, chiếu khắp
tất cả. Ngài đến nơi nào thì nơi đó cát
tường. Vị Phật Tỳ Bà Thi đó, trong quá
khứ đã từng vào điện Diệu Thắng, để vì
chư Thiên diễn nói
Phất Sa thấu rõ đệ nhất nghĩa Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Phất Sa dịch là "Tăng thịnh", tức cũng là nghĩa lý thù thắng. Vị Phật đó minh bạch thông đạt đạo lý đệ nhất nghĩa. Ðệ nhất nghĩa, tức là trước một niệm chưa sinh. Nếu có một niệm thì chẳng phải đệ nhất nghĩa. Một ngày nọ, Bồ Tát Văn Thù hỏi Ngài Duy Ma Cật rằng: - ‘’Gì là đệ nhất nghĩa‘’?
- Do đó có câu:
‘’Bất nhị pháp môn hưu khai khẩu Đệ nhất nghĩa đế mạc vong đàm.’’
Một khi nói ra tức là đệ nhị. Ðệ nhất
nghĩa đế là một câu cũng chẳng có. Trong
những cát tường là vô thượng cát tường
nhất. Vị Phật Phất Sa đó, trong quá khứ
đã từng vào điện Diệu Thắng, để vì chư
Thiên diễn nói diệu pháp Kinh
Đề Xá Như Lai biện vô ngại Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Ðề Xá dịch là "độ thuyết". Muốn độ thoát
tất cả chúng sinh, thì phải thuyết pháp
nói giáo. Vị Phật đó khéo về nói pháp,
cho nên biện tài vô ngại. Trong tất cả
những việc cát tường, là cát tường vô
thượng nhất. Vị Như Lai Ðề Xá trong quá
khứ, đã từng vào điện Diệu Thắng, để vì
chư Thiên diễn nói diệu pháp của Kinh
Phật Ba Đầu Ma tịnh vô cấu Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Ba Ðầu Ma dịch là "hoa sen đỏ", thân tâm
của vị Phật đó, thanh tịnh giống như hoa
sen, chẳng có nhiễm bụi bặm. Trong những
việc cát tường, là cát tường vô thượng
nhất. Vị Phật Ba Ðầu Ma đó, trong quá
khứ đã từng vào điện Diệu Thắng, để vì
chư Thiên diễn nói diệu pháp kinh
Nhiên Đăng Như Lai đại quang minh Trong những cát tường vô thượng nhất Phật đó từng vào cung điện này Thế nên nơi này cát tường nhất.
Nhiên Ðăng Như Lai lúc ban đầu phát tâm,
thì thân phóng quang minh giống như đèn
sáng. Về sau, đời đời kiếp kiếp, tu
phước tu huệ. Khi tu hạnh Bồ Tát thì,
siêng tu sáu độ, rộng hành vạn hạnh.
Trong mỗi một đời, thân đều phóng đại
quang minh, cho nên gọi là Nhiên Ðăng
Như Lai. Vị Phật đó, chẳng những có đại
quang minh, mà còn đầy đủ trí huệ. Ngài
là vị Phật thứ ba trong kiếp Hiền, Ngài
đã từng thọ ký cho Phật Thích Ca Mâu Ni.
Trong những việc cát tường là cát tường
vô thượng nhất. Vị Phật Nhiên Ðăng đó,
đã từng vào điện Diệu Thắng, để vì chư
Thiên diễn nói diệu pháp Kinh Ða số các vị Phật đều dùng đức lập tên. Giống như Phật Thích Ca, dịch là "Năng nhân tịch mặc". Năng nhân tức là động, tịch mặc tức là tĩnh. Năng nhân, khắp giáo hóa tất cả chúng sinh, có từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng. Tịch mặc tức là thường lạc ngã tịnh bốn đức Niết Bàn. Như trong thế giới này, vua trời Đao Lợi do nhờ nương thần lực của Như Lai, dùng kệ khen ngợi hết thảy công đức của mười vị Phật. mười phương thế giới, các vua trời Đế Thích cũng đều như thế, khen ngợi công đức của Phật. Trong thế giới Ta Bà, vua trời Ðao Lợi tức cũng là trời Ðế Thích, nương đại oai thần lực của Phật, dùng kệ để tán thán khen ngợi công đức của mười vị Phật. Hết thảy vua trời Ðao Lợi trong mười phương thế giới cũng đều giống như trời Ðế Thích ở cõi Ta Bà, dùng kệ để khen ngợi công đức của mười vị Phật.
Bấy giờ, đức Thế Tôn vào điện Diệu Thắng ngồi kiết già, thì điện đó bỗng nhiên rộng lớn vô cùng, như chỗ ở của các chư Thiên. Mười phương thế giới cũng đều như thế.
Lúc đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni tiến
vào điện Diệu Thắng, ngồi kiết già phu
trên tòa sư tử làm bằng các báu phổ
quang minh tạng. Lúc đó, điện Diệu Thắng
bỗng nhiên rộng lớn vô cùng, có thể dung
nạp hết thảy các Thiên chúng đến lắng
nghe Phật Thích Ca Mâu Ni diễn nói diệu
pháp của kinh |
|
| ||||||