|
| |
KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Hán
dịch : Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng
giải
Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
---o0o---
Phẩm Thế Chủ Diệu
Nghiêm thứ nhất (tiếp theo)
Lại nữa, Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên
Vương, được môn giải thoát, thường thọ vui tịch tĩnh, mà hàng phục
và tiêu diệt khổ của thế gian.
Ðạo lý Kinh văn ở trước chưa nói hết, cho nên nói tiếp theo.
Vị Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương này, ở cõi Nhị Thiền trời Quang
Âm. Vị này ở trong định đắc được cảnh giới thiền duyệt vi thực, pháp
hỷ sung mãn, đắc được chân chánh khoái lạc, cho nên gọi thường hưởng
thọ vui tịch tĩnh. Vị này ở trong định hàng phục được, tất cả thiên
ma ngoại đạo, và còn hiện ra nhiều thứ thân, để tiêu diệt khổ của
thế gian, và dùng đủ loại thần thông biến hóa, để cứu chúng sinh lìa
khổ được vui. Ðó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.
Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, biển tâm
đại bi tương ưng tạng hoan hỉ an lạc của tất cả chúng sinh.
Vị Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương này, đắc được biển đại bi tâm
tương ưng. Tâm đại bi tức là độ khắp chúng sinh, bỏ mê về giác, đều
thành Phật đạo. Nếu có một chúng sinh chưa thành Phật, thì vị này
cũng không thành Phật. Bồ Tát đều phát nguyện lớn như vậy.
Vị này dùng tâm đại bi để nhiếp thọ chúng sinh có duyên. Biển tương
ưng tức là tâm lượng của tâm đại bi rộng lớn như biển cả, không phân
biệt kẻ thân người oán, do đó, vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Vị
Thiên Vương này, vì tu tâm đại bi, hành hạnh đại bi, cho nên khiến
tất cả chúng sinh hoan hỷ khoái lạc, sự khoái lạc này không thể so
sánh được, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Tự Tại Âm Thiên Vương được môn giải thoát, trong một niệm hiện
khắp tất cả sức phước đức của hết thảy chúng sinh trong vô biên
kiếp.
Vị Tự Tại Âm Thiên Vương này, ở trong một niệm hiện khắp vô biên
kiếp trong ba đời, khiến cho đời quá khứ thành đời hiện tại, biến
đời hiện tại thành đời vị lai, đời vị lai lại có thể làm đời quá
khứ. Ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, đồng thời hiển hiện ở trong
một niệm. Do đó :
‘’ Nhiếp vô lượng kiếp làm một niệm,
Phóng một niệm làm vô lượng kiếp.’’
Ở trong vô lượng kiếp, lại có vô lượng chúng sinh, tu phước tu huệ
tu thành Phật. Tu phước thì có phước, tu huệ thì có huệ. Tóm lại
phước huệ tu viên mãn thì sẽ thành Phật. Ðó là môn giải thoát của vị
Thiên Vương này đắc được.
Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương được môn giải thoát, khiến cho
kiếp thành trụ hoại không của tất cả thế gian, thảy đều thanh tịnh
như hư không.
Vị Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương này, đắc được cảnh giới, khiến cho
tất cả kiếp : Thành, trụ, hoại, không của tất cả thế gian, hoàn toàn
thanh tịnh như hư không.
Thế giới có : thành, trụ, hoại, không, bốn trung kiếp (một trung
kiếp có hai mươi tiểu kiếp, bốn trung kiếp là một đại kiếp). Kiếp là
đơn vị tính thời gian, lại dịch là "tai nạn". Cuối thời kỳ diệt kiếp
của mỗi tiểu kiếp ở trong trụ kiếp có ba tai tạn nhỏ :
1. Nạn đói.
2. Nạn dịch.
3. Nạn binh đao.
Thời kỳ bây giờ là diệt kiếp, trong tiểu kiếp thứ chín của trụ kiếp.
Lúc Phật Thích Ca ra đời thì tuổi thọ con người là một trăm tuổi. Từ
khi Ðức Phật vào Niết Bàn gần khoảng ba ngàn năm, cho nên bây giờ
tuổi thọ của con người khoảng bảy mươi tuổi. Nếu qua bốn ngàn năm
thì tuổi thọ con người giảm còn ba mươi tuổi thì sẽ bắt đầu phát
sinh ba tai nạn nhỏ.
1. Nạn đói : Thời xưa đại địa thanh
tịnh, nhân dân hòa lạc, sau đó từ từ phát sinh các điều ác như :
giết hại, trộm cắp, tà dâm và nói dối, đợi đến khi tuổi thọ con
người còn khoảng ba mươi tuổi, thì tâm con người chẳng như xưa, tà
kiến điên đảo làm đủ mười điều ác. Trời rồng nổi giận mà không mưa
xuống, chẳng có cây cỏ, ngũ cốc, thậm chí người ăn người. Trải qua
bảy năm bảy tháng bảy ngày nhân loại chết đói phân nửa, đó là nạn
đói.
2. Nạn ôn dịch : Tuổi thọ của con người,
vào khoảng hai mươi tuổi, thì tâm con người ác đến cực điểm, bèn
phát sinh bệnh ôn dịch, ai bị cũng chết, chẳng có thuốc trị được.
Bịnh ôn dịch này, truyền nhiễm nhanh chóng, xương khô phơi đầy đồng.
Trải qua bảy tháng bảy ngày mới hết, nhân loại chết gần hết, chỉ còn
lại một phần mười.
3. Nạn đao binh : Khi tuổi thọ con người
còn khoảng mười tuổi, thì thân cao chỉ được một thước (kiếp diệt thì
một tuổi giảm một tấc, kiếp tăng thì một tuổi tăng lên một tấc), con
người đều chẳng hiếu chẳng kính, giết hại lẫn nhau, không cha mẹ,
không vợ chồng, không con cái, không nhìn nhận lục thân quyến thuộc.
Vì nghiệp lực sở cảm, cỏ cây có thể dùng vũ khí mà giết chết người.
Ai ai cũng cho rằng : mình không giết chết họ thì họ giết mình, cho
nên thấy người thì giết, gặp người thì chém, chém giết vô số, trải
qua bảy ngày nhân loại chết hết khoảng chín mươi chín phần trăm. Còn
lại chẳng bao nhiêu người. Người còn lại không bị giết thì chạy vào
núi trốn, có thiện thần bảo hộ. Sau đó tai nạn qua rồi, họ từ trong
núi đi ra, gặp người thì ôm nhau khóc lóc, vui mừng an ủi với nhau,
kết làm bạn bè. Lúc bấy giờ, ai cũng sinh tâm hổ thẹn, cải ác làm
lành, có quan niệm luân lý, đạo đức, từ bi, nhân quả .v.v., từ từ
tăng trưởng hướng thượng, ai ai cũng hòa bình tương xứ, nói nhân
nghĩa, nói đạo đức, cảm tình dung hợp, chẳng có tư tưởng ích kỷ tư
lợi, chẳng có hành vi xấu ác. Lúc bấy giờ sinh sống an định, cơm no
áo ấm, ai ai cũng có tâm từ bi hỷ xả bốn vô lượng tâm, ai ai cũng
tin chân lý nhân quả báo ứng.
Khi kiếp hoại, ở trong mỗi đại kiếp phải
phát sinh một lần nạn lửa lớn. Trải qua bảy lần nạn lửa lớn (đại hoả
tai) rồi, bèn có một lần nạn nước lớn (đại thuỷ tai). Trải qua bảy
lần nạn nước lớn rồi, bèn có một lần nạn gió lớn (đại phong tai). Có
năm mươi sáu lần nạn lửa lớn, có bảy lần nạn nước lớn, có một lần
nạn gió lớn. Tóm lại, trong sáu mươi bốn đại kiếp, thì phát sinh ba
tai nạn lớn. Nạn lửa lớn thì thiêu hủy đến trời Sơ Thiền, nạn nước
lớn thì ngập đến trời Nhị Thiền, nạn gió lớn thì thổi đến trời Tam
Thiền. Trừ khi tu đến trời Tứ Thiền thì mới thoát khỏi sự uy hiếp
của ba nạn lớn này.
Pháp tính về kiếp số : Bắt đầu từ tuổi thọ con người, mỗi một trăm
năm thì tăng thêm một tuổi, tăng đến bốn vạn tám ngàn tuổi thì
ngừng. Rồi lại cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm đến mười
tuổi thì ngừng. Một tăng một giảm như vậy là một tiểu kiếp. Công
thức tính là : (84.000 - 10) x 100 x 2 = 16.798.000 năm (mười sáu
triệu, bảy trăm chín mươi tám ngàn năm) đó là số mục một tiểu kiếp.
Một trung kiếp thì gấp hai mươi lần tiểu kiếp (16.798.000 x 20 =
335.960.000 năm. Ba trăm ba mươi lăm triệu chín trăm sáu chục ngàn
năm). Một đại kiếp thì gấp bốn lần trung kiếp (335.960.000 x 4 =
1.343.840.000 năm). Một tỷ ba trăm bốn mươi ba triệu tám trăm bốn
chục ngàn năm).
Thế giới thành : Trong hai mươi tiểu kiếp không, thì thế giới chẳng
có gì. Ðến khi kiếp thành thì đầu tiên trời đổ mưa to, nước dâng đến
Ðại Phạm Thiên, từ từ hết mưa nước rút, gió thổi mà thành thế giới.
Thế giới thành thì có chúng sinh và thực vật sinh trưởng, dần dần có
bộ lạc, có văn hóa, có quốc gia, có chiến tranh. Từ trụ kiếp diễn
biến đến hoại kiếp ; hoại kiếp qua rồi thì kiếp không ; kiếp không
qua rồi thì đến kiếp thành. Cứ hết rồi lại bắt đầu, tuần hoàn không
ngừng.
Khả Ái Lạc Tịnh Diệu Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, ưa
thích tin thọ tất cả pháp của Thánh nhân.
Vị Khả Ái Lạc Tịnh Diệu Âm Thiên Vương này, đắc được cảnh giới,
khiến cho tất cả chúng sinh hoan hỷ khoái lạc, tự động đến nghe
pháp, và còn tin thọ tất cả pháp của Thánh nhân. Pháp Thánh nhân là
gì ? Tức là pháp bốn Thánh pháp giới :
1. Pháp giới của Phật : Một thừa pháp chân thật, pháp chân không
diệu hữu trung đạo đệ nhất nghĩa.
2. Pháp giới của Bồ Tát : Pháp lục độ vạn hạnh.
3. Pháp giới của Duyên Giác: Pháp mười hai nhân duyên.
4. Pháp giới của Thanh Văn : Pháp bốn Diệu Ðế. Ðó đều là pháp tu
hành của các bậc Thánh nhân, pháp giáo hóa chúng sinh. Ðó là môn
giải thoát của vị Vua Trời này đắc được.
Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương được môn giải thoát, trải qua kiếp
trụ, diễn nói tất cả nghĩa, của các bậc và phương tiện.
Vị Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương này, đắc được cảnh giới tĩnh lự âm, ở
trong âm thanh mà ngộ đạo được. Vị này ở trong định trải qua vô
lượng kiếp, ở trong định thuyết pháp, không rời tòa ngồi, mà đi đến
mười phương thế giới giáo hóa chúng sinh, diễn nói tất cả nghĩa của
các bậc, tức là bậc của Phật, bậc Bồ Tát, bậc Duyên Giác, bậc Thanh
Văn .v.v., và tất cả pháp môn phương tiện. Ðó là môn giải thoát vị
Thiên Vương này đắc được.
Diễn Trang Nghiêm Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, đại phương
tiện cúng dường tất cả Bồ Tát, từ cung trời Ðâu Suất muốn hạ sinh
xuống nhân gian.
Vị Diễn Trang Nghiêm Âm Thiên Vương này, âm thanh trang nghiêm phi
thường. Vị này đắc được cảnh giới tất cả Bồ Tát muốn thành Phật.
Những vị Bồ Tát này, hậu bổ Phật vị, ở tại nội viện cung trời Ðâu
Suất, đợi nhân duyên chín mùi, thì cỡi voi trắng sáu ngà, hàng sinh
xuống nhân gian, bắt đầu tám tướng thành đạo :
1. Hàng thế : Từ cung trời hàng xuống nhân gian.
2. Trụ thai : Lựa chọn cha mẹ có duyên.
3. Xuất thai : Sinh ra từ bên hông người mẹ.
4. Xuất gia : Từ bỏ nhà năm dục.
5. Hàng ma : Hàng phục thiên ma ngoại đạo nhiễu loạn.
6. Thành chánh giác : Chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác.
7. Chuyển pháp luân : Diễn nói bốn Diệu Ðế, mười hai Nhân Duyên, Lục
Ðộ .v.v.
8. Niết Bàn : Ðắc được cứu kính Niết Bàn.
Niết Bàn có ba :
A. Hữu Dư Niết Bàn : Là Niết Bàn của các bậc A La Hán đắc được.
B. Vô Dư Niết Bàn : Là Niết Bàn của Bồ Tát đắc được.
C. Cứu Kính Niết Bàn : Là Niết Bàn của chư Phật đắc được.
Báo thân phàm phu của chúng ta là : vô thường, khổ, không, vô ngã
bốn sự khổ. Pháp thân của chư Phật là : thường, lạc, ngã, tịnh bốn
sự vui. Mục đích chúng ta học Phật pháp là : lìa khỏi bốn sự khổ của
báo thân, mà đắc được bốn sự vui của pháp thân.
Cơ bản luân lý của Phật giáo tức là chân không và diệu hữu. Tiểu
thừa nói về có, đại thừa nói về không, rơi vào sự thấy hai bên có và
không. Cuối cùng Phật nói trung đạo chân không diệu hữu, không thiên
về có, cũng không thiên về không, đó là trung đạo, khiến cho chúng
sinh không chấp trước. Trong không có cái có, trong có có cái không.
Không, có chẳng hai. Trong Tâm Kinh có nói :
"Sắc chẳng khác không,
Không chẳng khác sắc.
Sắc tức là không,
Không tức là sắc".
Ðạo lý này nói rất rõ ràng.
Vị Thiên Vương này, dùng đủ thứ pháp phương tiện để giáo hóa chúng
sinh, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, quán sát
biển thần thông trí huệ vô tận.
Vị Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương này, dùng quang minh để thay thế
âm thanh mà thuyết pháp, dùng trí huệ để quán sát cảnh giới của
Phật. Thần thông của Phật vô tận, trí huệ vô tận, cho nên nói thần
thông biển trí huệ, giống như biển cả chẳng có bờ mé. Trong Kinh
Phật thường dùng chữ "biển" để hình dung nghĩa lý rộng lớn.
Thần thông có sáu thứ :
1. Thiên nhãn thông.
2. Thiên nhĩ thông.
3. Tha tâm thông.
4. Túc mạng thông.
5. Thần túc thông.
6. Lậu tận thông.
Trí huệ có hai thứ :
1. Căn bản trí tức là trí huệ tiên thiên.
2. Hậu đắc trí tức là trí huệ hậu thiên.
Một là từ trong thiền định mà đắc được (tiên thiên trí) ; một là từ
trong kinh nghiệm đắc được (hậu thiên trí). Vị Thiên Vương này đắc
được môn giải thoát này.
Quảng Ðại Danh Xưng Thiên Vương, được môn giải thoát, biển công
đức của tất cả chư Phật, đầy đủ sức phương tiện xuất hiện thế gian.
Vị Quảng Ðại Danh Xưng Thiên Vương này, đắc được cảnh giới tất cả
công đức tu hành của mười phương chư Phật, vì công đức của chư Phật
tu là vô lượng vô biên, chẳng có cách chi có thể tính đếm được có
bao nhiêu ? Cho nên gọi là biển công đức. ‘’ Tam kỳ tu phước huệ,
bách kiếp chủng tướng hảo.’’ Khi nào công đức viên mãn thì đạt được
giai đoạn Lưỡng Túc Tôn, bèn thành Phật, đến thế gian dùng đủ thứ
sức phương tiện, để giáo hóa chúng sinh, đó là môn giải thoát vị
Thiên Vương này đắc được.
Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, phát sinh
lòng tin sâu, ưa thích sức thệ nguyện của Như Lai.
Vị Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương, đắc được cảnh giới, sự phát
nguyện tại nhân địa của chư Phật trong quá khứ. Sức thệ nguyện này
khắp cùng pháp giới, chẳng có một chỗ nào mà chẳng phải chỗ tồn tại
nguyện lực của Phật. Tất cả các cõi nước thường chuyển bánh xe pháp.
Vị này hiểu được sức lực này rồi, bèn phát sinh vui mừng, tin sâu
cảnh giới của Phật, chẳng có hoài nghi, mà còn ưa thích, học theo
đại pháp tạng của Phật. Ðó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này
đắc được.
Bấy giờ, Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương, nương oai lực của đức
Phật, quán khắp tất cả Thiên chúng trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng
Quang, trời Cực Quang mà nói kệ rằng.
Lúc này vị Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương, cõi trời Nhị Thiền
thuộc về sắc giới, nương đại oai thần lực của chư Phật, quán sát
khắp tất cả Thiên chúng trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời
Cực Quang (trời Quang Âm). Vị này dùng kệ để diễn nói, khiến cho
chúng sinh thấu hiểu đạo lý này.
Trời Nhị Thiền gọi là Ðịnh Sinh Hỷ Lạc. Ở cõi trời này, thường ở
trong định thì tâm càng hỷ lạc. Gồm có ba cõi trời :
1. Trời Thiểu Quang : Thiên chúng cõi này, ở trong định phóng quang
từ thân, miệng, tâm chẳng có vọng tưởng, miệng chẳng nói năng, dùng
quang minh để thay thế lời nói.
2. Trời Vô Lượng Quang : Thiên chúng cõi này, không những thân và
miệng phóng quang, mà tâm cũng phóng quang để chiếu khắp chúng sinh.
3. Trời Quang Âm (trời Cực Quang) : Thiên chúng cõi này dùng trí huệ
quang phóng ra từ thân, miệng, tâm để làm đại Phật sự, giáo hóa
chúng sinh.
Tôi nhớ xưa kia Như Lai tu
Cúng dường vô lượng các đức Phật
Là gốc tâm tin nghiệp thanh tịnh
Nhờ thần lực Phật nay thấy được.
‘’ Tôi nhớ xưa kia Như Lai tu.’’ Vị Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên
Vương này nói : ‘’ Tôi nhớ trong quá khứ Như Lai tu các công đức
lành.’’ Công đức gì ?
‘’ Cúng dường vô lượng các Ðức Phật.’’ Trong quá khứ cúng dường vô
số Ðức Phật, và tu các công đức lành. Ðức Phật Thích Ca tại nhân địa
tu hành, gặp Ðức Phật Nhiên Ðăng ra đời, Ngài cúng dường năm cành
hoa sen và dùng tóc trải dưới bùn, thỉnh Ðức Phật bước qua, cho nên
được thọ ký vị lai sẽ thành Phật.
Cúng dường mới là y giáo phụng hành, y pháp tu hành mới có công đức.
Một số người cho rằng trang nghiêm đạo tràng, cúng dường pháp cụ,
hương đèn hoa quả thì có công đức. Tuy nhiên có công đức nhưng công
đức nhỏ.
- Vua Lương Võ Ðế hỏi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma :
‘’ Tôi tạo rất nhiều chùa, biên chép rất nhiều Kinh, Luận, độ rất
nhiều Tăng, Ni, có công đức gì chăng ? ‘’
- Tổ Ðạt Ma đáp : ‘’ Chẳng có công đức gì hết ! ‘’
- Vua Lương Võ Ðế lại hỏi : ‘’ Tại sao chẳng có công đức ? ‘’
- Tổ đáp : ‘’ Công đức này, bất quá là quả báo nhỏ ở cõi trời cõi
người, là nhân hữu lậu, là nhân thế tục, giống như bóng theo hình,
xem thì có nhưng thực tế là hư vọng.’’
- Vua lại hỏi : ‘’ Chân công đức là gì ? ‘’
- Tổ đáp : ‘’ Công đức chân chánh là trí huệ thuần tịnh, thần diệu
và viên dung, bổn tính của nó là không tịch. Công đức này chẳng phải
dùng phương pháp thế tục mà có được.’’
‘’ Là gốc tâm tin nghiệp thanh tịnh.’’ Cúng dường mười phương chư
Phật, là dùng gốc để sinh ra tâm tin, thì tu gì cũng đều là nghiệp
thanh tịnh, mà chẳng phải là nghiệp nhiễm ô, tức cũng là thân thanh
tịnh, miệng thanh tịnh, ý thanh tịnh, ba nghiệp thanh tịnh chẳng có
một chút nhiễm ô.
‘’ Nhờ thần lực Phật nay thấy được.’’ Hiện tại nhờ đại oai thần lực
của Phật, mới hiểu được cảnh giới này. Nhờ Phật gia bị cho nên thấu
hiểu được hạnh môn của Như Lai tu trong quá khứ.
Thân Phật vô tướng lìa cấu nhiễm
Thường trụ từ bi thương chúng sinh
Ưu hoạn thế gian thảy tiêu trừ
Giải thoát này Diệu Quang đắc được.
‘’ Thân Phật vô tướng lìa cấu nhiễm.’’ Pháp thân của Phật là khắp
pháp giới. Tuy nhiên đầy khắp pháp giới, nhưng chẳng có hình tướng.
Vì chẳng có hình tướng, mới đầy khắp pháp giới. Nếu có hình tướng
thì có giới hạn, có bờ mé. Vì vô hình tướng cho nên tất cả trần cấu
chẳng nhiễm ô. Nếu như có hình tướng thì sẽ có trần cấu. Vô tướng
thì tự nhiên chẳng dính bụi trần.
Trần cấu là gì ? Trần cấu này chẳng phải trần cấu có hình tướng, mà
là vô minh phiền não cấu, tức cũng là khởi vọng tưởng. Phàm là trong
tâm chẳng thanh tịnh, tư tưởng không chân chánh, đều là hiện tượng
của sự dơ bẩn.
Ðức Phật thì chẳng còn tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh,
tướng thọ mạng. Bốn tướng này đều không, muốn có trần cấu cũng chẳng
có được. Cho nên nói lìa cấu nhiễm, tức cũng là lìa tất cả pháp ô
nhiễm.
‘’ Thường trụ từ bi thương chúng sinh.’’ Thường trụ đại từ, đại từ
là thương xót chúng sinh. Tóm lại, Phật dùng đại từ đại bi luôn luôn
thương xót chúng sinh, luôn luôn phát nguyện cứu chúng sinh, khiến
cho chúng sinh thoát khỏi sự khổ trong tam giới, đắc được sự vui
sướng Niết Bàn.
‘’ Thế gian ưu hoạn thảy tiêu trừ.’’ Thế gian tức là thế giới, ưu
hoạn tức là ưu sầu hoạn nạn. Ưu hoạn thế giới này quá nhiều. Vì quá
nhiều cho nên chúng sinh ở trong biển ưu hoạn, chìm đắm không ngộ.
Song, Phật dùng tâm từ bi, tâm thương xót để giải thoát ưu hoạn,
khiến cho không tồn tại nữa.
‘’ Giải thoát này Diệu Quang đắc được.’’ Môn giải thoát tam muội này
vị Vua Trời Thanh Tịnh Diệu Quang đắc được.
Phật pháp rộng lớn không bờ mé
Tất cả các cõi hiện ở trong
Các tướng thành hoại đều chẳng giống
Tự Tại Âm Thiên ngộ môn này.
‘’ Phật pháp rộng lớn chẳng bờ mé.’’ Ở trên vị Thanh Tịnh Diệu Quang
Thiên Vương, thấy được cảnh giới của Phật là vô hình tướng, là lìa
cấu nhiễm. Bây giờ vị Tự Tại Âm Thiên Vương, thấy được cảnh giới của
Phật rộng lớn không bờ mé.
Phật pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn, đối trị tám vạn bốn ngàn
bịnh phiền não. Tóm lại, chúng sinh có bao nhiêu phiền não, thì chư
Phật có bấy nhiêu pháp môn để đối trị. Mỗi một pháp môn trị một thứ
phiền não, cho nên mới nói Phật pháp rộng lớn không bờ mé.
‘’ Tất cả cõi nước hiện ở trong.’’ Tất cả cõi nước đều hiện ra ở
trong Phật pháp, lại có thể nói tất cả Phật pháp hiện ra ở trong các
cõi nước.
‘’ Các tướng thành hoại đều chẳng giống.’’ Thế giới có thành, trụ,
hoại, không bốn tướng. Chúng sinh có sinh, già, bệnh, chết bốn
tướng. Tâm niệm có sinh, trụ, dị, diệt bốn tướng, tất cả đều là vô
thường.
Mỗi thế giới đều có thành, trụ, hoại,
không bốn giai đoạn. Mỗi giai đoạn đều có hai mươi tiểu kiếp ; tám
mươi tiểu kiếp làm một đại kiếp. Tóm lại, một thế giới từ thời kỳ
thành cho đến diệt vong, phải trải qua tám mươi tiểu kiếp. Trong mỗi
đại kiếp bao gồm thành, trụ, hoại, không. Thế giới này thành thì thế
giới kia hoại. Thế giới kia thành thì thế giới này hoại. Khi thành
thì địa cầu sinh tồn. Khi hoại thì địa cầu hủy diệt. Ðịa cầu này
diệt thì địa cầu khác lại sinh. Ở trong hư không có vô lượng thế
giới, vô lượng cõi nước. Thế giới này chẳng giống thế giới kia, cõi
nước này khác với cõi nước kia. Thế giới Ta Bà mà chúng ta đang ở,
chẳng giống thế giới Cực Lạc. Thế giới Ta Bà thì cực khổ còn thế
giới Cực Lạc thì cực lạc. Trong mỗi thế giới có rất nhiều quốc gia,
mà mỗi quốc gia lời nói, văn hóa, phong tục đều chẳng giống.
‘’ Tự Tại Âm Thiên ngộ môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát này là vị
Tự Tại Âm Thiên Vương đắc được.
Thần thông của Phật không nghĩ bàn
Hiện khắp mười phương cõi rộng lớn
Thảy đều nghiêm tịnh thường hiện tiền
Thắng Niệm ngộ môn giải thoát này.
‘’ Thần thông của Phật không nghĩ bàn.’’ Phật là bậc Ðại Giác. Ai
chân chánh giác ngộ thì người đó là Phật. Nếu ai hồ đồ thì người đó
là chúng sinh. Do đó, biết chúng sinh và Phật khác biệt giữa mê và
giác. Mê là chúng sinh, giác là Phật. Lục Tổ Huệ Năng nói :
"Pháp vốn chẳng đốn tiệm,
Mê ngộ có sớm muộn".
Nghĩa là pháp bổn thể chẳng có đốn và tiệm (đốn pháp là do tiệm mà
thành đốn, tiệm pháp là do đốn mà thành tiệm). Chỉ là chúng sinh mê
và giác, có sớm có muộn, bất quá là thời gian sớm muộn mà thôi. Thần
thông lực của Phật là gì ? Tức là ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu
thông.
Ba thân là :
Pháp thân
Báo thân và
Ứng hóa thân.
Bốn trí là :
Thành sở tác trí
Diệu quán sát trí
Bình đẳng tánh trí
Ðại viên cảnh trí.
Năm nhãn là :
Nhục nhãn
Thiên nhãn
Pháp nhãn
Huệ nhãn
Phật nhãn.
Sáu thông là :
Thiên nhãn thông
Thiên nhĩ thông
Tha tâm thông
Túc mạng thông
Thần túc thông và
Tậu tận thông.
Cho nên nói thần thông lực của Phật không thể nghĩ bàn.
‘’ Hiện khắp mười phương cõi rộng lớn.’’ Phật ở trong một niệm, hiện
khắp cõi nước chư Phật trong mười phương, đi giáo hóa chúng sinh.
Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, tuy nhiên là ngồi dưới cội bồ đề, nhưng
pháp thân đến cõi nước chư Phật, đồng thời diễn nói giáo lý viên
đốn.
‘’ Thảy đều nghiêm tịnh thường hiện tiền.’’ Phật có thể làm cho tất
cả cõi nước chư Phật hoàn toàn trang nghiêm thanh tịnh, cảnh giới
này luôn luôn hiện tiền.
‘’ Thắng Niệm ngộ môn giải thoát này.’’ Vị Tối Thắng Niệm Thiên
Vương, đắc được phương tiện môn giải thoát này.
Hạt bụi số cõi trong mười phương
Thảy đều cúng dường các Như Lai
Nghe pháp lìa nhiễm không quên mất
Diệu Âm Thiên Vương thấy môn này.
‘‘ Hạt bụi số cõi trong mười phương ’’. Tất cả Như Lai, số nhiều như
hạt bụi trong biển cõi đều phải kính phụng, đều phải cúng dường, đều
phải lễ bái.
‘’ Thảy đều cúng dường các Như Lai.’’ Ðức Phật Thích Ca khi còn tại
nhân đîa, thì cung kính cúng dường các Như Lai, nhiều như số hạt bụi
biển cõi.
‘’ Nghe pháp lìa nhiễm không quên sót.’’ Khi Phật tại nhân địa tu
hành, thì nghe tất cả các pháp, xa lìa tất cả vô minh, tất cả nhiễm
ô, không bỏ qua tất cả các pháp, dù pháp rất vi tế, pháp không quan
trọng cũng không quên được, cũng đặc biệt chú ý không bỏ sót. Vì y
theo pháp tu hành, cho nên lìa nhiễm, không quên sót.
‘’ Diệu Âm Thiên Vương thấy môn này.‘’ Pháp môn đại dụng này, vị Khả
Ái Lạc Thanh Tịnh Diệu Âm Thiên Vương minh bạch được.
Phật trong vô lượng biển đại kiếp
Nói bậc phương tiện chẳng ai bằng
Sở nói vô biên vô cùng tận
Thiện Tư Âm Thiên biết nghĩa này.
‘’ Phật trong vô lượng biển đại kiếp.’’ Phật Thích Ca trong quá khứ,
khi còn tại nhân địa, trải qua vô lượng vô biên số đại kiếp, vì đại
kiếp quá nhiều, giống như biển, không cách chi tính được số chắc
chắn, cho nên gọi là biển đại kiếp.
‘’ Nói bậc phương tiện chẳng ai bằng.’’ Trong lúc đó, Ðức Phật khéo
nói tất cả nghĩa các bậc. Ðất dùng sinh trưởng làm nghĩa, vạn vật
đều từ đất sinh trưởng lớn lên. Bậc nghĩa là từ bậc phàm phu mà đạt
đến bậc Thánh nhân. Ở trong khoảng giữa này, phải trải qua thời gian
rất dài, mới có thể thành tựu địa vị Thánh nhân, cho nên bậc nghĩa
là : dùng đủ thứ phương tiện để giảng nói. Chẳng ai bằng tức là bất
cứ Thánh nhân nào cũng không thể sánh được.
‘’ Sở nói vô biên vô cùng tận.’’ Sở thuyết pháp phương tiện chẳng có
bờ mé, nói không hết được, nói ngang nói dọc, cũng nói chẳng hết
được.
‘’ Thiện Tư Âm Thiên biết nghĩa này.’’ Cảnh giới đạo lý này, vị
Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương minh bạch được.
Như Lai thần biến vô lượng môn
Một niệm hiện trong tất cả chỗ
Ðản sinh thành đạo đại phương tiện
Trang Nghiêm Âm được giải thoát này.
‘’ Như Lai thần biến vô lượng môn.’’ Thần thông biến hóa của Phật vô
lượng vô biên. Chẳng giống như thần thông của A La Hán, chỉ có mười
tám thứ biến hóa. Cũng chẳng giống như thần thông của Bồ Tát. Tuy
nhiên có trăm ngàn vạn ức biến hóa, nhưng vẫn còn có bờ mé. Còn thần
thông của Phật thì biến hóa vô cùng vô tận.
Thần biến là gì ? Thần là thần diệu không dò được. Phàm phu chúng ta
không thể dùng tâm để suy nghĩ, cũng không thể dùng lời nói để hình
dung. Biến là thiên biến vạn hóa, biến hóa vô cùng, từ một môn mà
sinh ra vô lượng môn, vô lượng môn quy về một môn.
‘’ Một niệm hiện trong tất cả chỗ.’’ Thần thông biến hóa, một tức là
nhiều, nhiều tức là một, một nhiều không hai, một nhiều vô lượng.
Như vậy thì mới có thể khoảng một niệm hiện tiền, hiện trong tất cả
chỗ. Phật không động đạo tràng mà biến khắp pháp giới, vẫn ngồi nhập
định ở đó. Song, ở trong hư không khắp pháp giới, chẳng có một chỗ
nào mà chẳng phải Phật hiện tiền. Cho nên nói : một niệm hiện trong
tất cả chỗ.
‘’ Ðản sinh thành đạo đại phương tiện.’’ Tất cả Bồ Tát muốn thành
Phật, trước hết đều phải ở cung trời Ðâu Suất, đợi cơ duyên chín
mùi, sẽ hàng sinh xuống nhân gian hậu bổ Phật vị, giáo hóa tất cả
chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui.
Bây giờ Bồ Tát Di Lặc, đang ở tại cung trời Ðâu Suất, đợi tương lai
sẽ đến thế giới này thành Phật, làm giáo chủ. Khi nào Bồ Tát Di Lặc
mới thành Phật ? Bây giờ là trụ kiếp, kiếp thứ chín của kiếp giảm.
Tuổi thọ của con người khoảng bảy mươi. Mỗi một trăm năm giảm xuống
một tuổi, giảm đến mười tuổi thì mới tăng thêm tuổi thọ, cũng một
trăm năm tăng lên một tuổi. Tăng đến tám vạn bốn ngàn tuổi thì mới
giảm, giảm xuống tuổi thọ con người còn tám vạn tuổi, thì Bồ Tát Di
Lặc bèn cưỡi voi trắng sáu ngà, từ cung trời Ðâu Suất hàng sinh nhân
gian, giáo hóa chúng sinh. Chỉ cần thời gian một ngày một đêm, những
chúng sinh đáng được độ thì độ xong. Vào thời Ðức Phật Thích Ca, còn
lại những chúng sinh không thể giáo hóa, họ có duyên với Bồ Tát Di
Lặc, tương lai sẽ được giáo hóa mà được giải thoát. Bây giờ Bồ Tát
Di Lặc ở Nội Viện cung trời Ðâu Suất, trong hội Long Hoa vì chúng
sinh mà thuyết pháp.
Ngài Vô Trước lúc còn ở Ấn Ðộ, mỗi ngày đi lên cung trời Ðâu Suất
nghe Kinh, về lại nhân gian ghi chép lại thành bộ Du Già Sư Ðịa
Luận. Nội dung là nói về pháp tướng vạn pháp duy thức, do Phật Thích
Ca nói, lược thành sáu trăm sáu mươi pháp. Sau đó, em của Ngài là
Thế Thân Bồ Tát đúc kết lại thành Bách Pháp Minh Môn Luận.
‘’ Trang Nghiêm Âm được giải thoát này.’’ Cảnh giới này vị Trang
Nghiêm Âm Thiên Vương minh bạch được.
Oai lực gia trì diễn nói được
Chư Phật thị hiện các thần thông
Tùy theo sở thích khiến thanh tịnh
Vua Trời Quang Âm chứng môn này.
‘’ Oai lực gia trì diễn nói được.’’ Ðại oai thần lực của Phật, là do
đức hạnh tích tập nhiều kiếp mà thành tựu. Bổn lai thế giới này sẽ
hư hoại, nhưng Ðức Phật dùng đại oai thần lực, bảo trì cho thế giới
được bình an, và còn diễn nói đủ thứ pháp lành, dùng phương tiện
khéo léo để giáo hóa chúng sinh, làm cho chúng sinh giác ngộ, biết :
‘’ Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn.’’ Nghĩa là : biển khổ mênh
mông, quay đầu là bờ.
‘’ Chư Phật thị hiện các thần thông.’’ Chư Phật hiện tất cả thần
thông diệu dụng, khiến cho căn tính chúng sinh và sở thích thanh
tịnh không ô nhiễm. Không những thân thanh tịnh mà tâm cũng thanh
tịnh.
‘’ Tùy theo sở thích khiến thanh tịnh.’’ Chúng sinh nào có căn lành,
là do trong kiếp trước đã trồng rất nhiều căn lành, rất nhiều công
đức trong ruộng phước, cho nên đời này có phước báu, có căn lành.
Có những chúng sinh trong đời này, không
làm lành mà làm ác, tại sao chẳng có quả báo ác ? Vấn đề này có một
số người không hiểu được. Ðó là vì kiếp trước họ đã trồng căn lành,
đời này tuy làm ác, nhưng quả lành kiếp trước chín mùi, còn quả ác
chưa chín mùi. Ðợi khi nào quả ác chín mùi thì họ sẽ thọ quả báo ác.
Có những chúng sinh đời này, làm lành không làm ác, nhưng lại chịu
quả báo ác, đó là vì kiếp trước trồng rất nhiều nhân ác, đời này tuy
làm việc lành, nhưng thọ quả báo ác. Ðợi đến khi quả lành chín mùi
thì sẽ được quả lành, hoặc đời này hoặc đời sau. Ðạo lý này rất đơn
giản, giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Tóm lại
trồng nhân gì ? Ðược quả đó.
Căn tính chúng sinh mỗi người đều khác nhau, do đó cảnh giới của mỗi
người cũng chẳng giống nhau. Sự tham muốn của mỗi chúng sinh cũng
khác biệt, có người muốn làm quan, có người muốn phát tài, có người
muốn ở nhà cao cửa rộng, có người muốn chạy xe mới. Ðủ thứ tham muốn
về vật chất này, làm cho khí chất bẩm tính của con người mai một, và
che lấp trí huệ quang minh của con người.
Tất cả chư Phật, tùy theo sở thích của chúng sinh để giáo hóa họ,
khiến cho họ trồng căn lành. Có căn lành rồi thì sở thích cũng thanh
tịnh, chẳng có tất cả dục niệm.
Tại sao chúng ta không giải thoát được ? Vì bị tài, sắc, danh, ăn,
ngủ năm dục trói buộc. Tu đạo tức là cởi mở sự trói buộc của năm
dục. Khi nào cởi mở được sự trói buộc thì lúc đó đắc được tự tại.
‘’ Vua Trời Quang Âm chứng môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát này,
vị Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương chứng được.
Trí huệ Như Lai không ngằn mé
Trong đời chẳng bằng chẳng chấp trước
Tâm từ hiện khắp trước chúng sinh
Quảng Ðại Danh Thiên ngộ môn này.
‘’ Trí huệ Như Lai không ngằn mé.’’ Phật là bậc đại giác đại trí
huệ. Phật là bậc Thánh nhân thông minh nhất, chẳng có gì mà không
biết, không có gì mà không giác, không có gì mà không thấu rõ, không
có gì mà không làm được. Vì trí huệ của Phật tận hư không khắp pháp
giới, chẳng có giới hạn, chẳng có phạm vi, cho nên nói trí huệ Như
Lai không ngằn mé.
‘’ Trong đời chẳng bằng chẳng chấp trước.’’ Trí huệ của Phật không
thể sánh, không những tại nhân gian không ai bằng được, mà trên cõi
trời cũng chẳng có ai bằng được. Trí huệ của Phật tuy chẳng ai bằng,
nhưng Phật cũng chẳng chấp trước.
‘’ Tâm từ hiện khắp trước chúng sinh.’’ Phật không những có đại trí
huệ mà còn có đại từ bi. Dùng đại trí huệ quang minh, tâm đại từ bi
để giáo hóa tất cả chúng sinh, độ khắp tất cả chúng sinh. Ai có
duyên thì người đó được cứu. Cho nên Phật hiện khắp tất cả chúng
sinh.
‘’ Quảng Ðại Danh Thiên ngộ môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát này,
vị Quảng Ðại Danh Xưng Thiên Vương minh bạch được.
Quá khứ Phật tu hạnh bồ đề
Cúng dường tất cả Phật mười phương
Mỗi chỗ đức Phật đều phát nguyện
Tối Thắng Quang Vương đại hoan hỷ.
‘’ Quá khứ Phật tu hạnh Bồ đề.’’ Phật Thích Ca khi còn ở tại nhân
địa, thì rộng tu hạnh Bồ đề, hành Bồ Tát đạo. Hạnh bồ đề là gì ? Tức
là hạnh nguyện giác đạo, đó là:
"Tự tính chúng sinh thệ nguyện độ,
Tự tính phiền não thệ nguyện đoạn,
Tự tính pháp môn thệ nguyện học,
Tự tính Phật đạo thệ nguyện thành".
Bồ Tát đạo là gì ? Tức là hành vi bỏ mình cứu người, ‘’ Ngoài thì,
thí đất nước vợ con, trong thì, thí đầu mắt tủy não.’’ Phải có tinh
thần bố thí như thế mới hành Bồ Tát đạo được. Khi đức Phật tại nhân
địa thì tu vạn hạnh, tập thiền định, do đó :
"Siêng tu giới định huệ,
Diệt trừ tham sân si".
Vun bồi công đức, khi phước huệ đầy đủ thì mới thành Phật.
‘’ Cúng dường tất cả Phật mười phương.’’ Vì Phật tu đạo bồ đề, trên
thì cầu thành Phật, dưới thì độ chúng sinh, không tiếc thân mạng,
cúng dường tất cả chư Phật trong mười phương, hà huống là vật ngoài
thân càng không tiếc. Mỗi hạt bụi trên thế giới này, đều là chỗ của
chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại và chư Phật vị lai xả bỏ thân
mạng.
‘’ Mỗi chỗ chư Phật đều phát nguyện.’’ Ðức Phật ở trước mỗi vị Phật,
đều phát thệ nguyện lớn, cúng dường tất cả chư Phật trong mười
phương. Trong quá khứ hạnh lực và nguyện lực của Phật, đều vĩ đại
cho nên mới thành tựu. Chúng ta là người học đạo phải phát đại
nguyện lực, tất cả đều vì chúng sinh, mà chẳng vì chính mình. Nếu
chỉ có tâm tu hành, mà chẳng có tâm phát nguyện, thì cũng giống như
hoa nở mà chẳng kết trái, chẳng thành tựu được.
‘’ Tối Thắng Quang Vương đại hoan hỷ.’’ Cảnh giới này, vị Tối Thắng
Tịnh Quang Thiên Vương minh bạch được, cho nên vị này sanh đại tâm
hoan hỷ.
Ở trên là mười bài kệ của Quang Âm Thiên Vương trời Nhị Thiền thuộc
về sắc giới nói ra, tán thán công đức của Phật. Dưới đây là kệ của
Ðại Phạm Thiên Vương, trời Sơ Thiền nói.
Lại nữa, Thi Khí Phạm Vương được môn giải thoát, thuyết pháp khắp
các đạo tràng trong mười phương, mà các sự tu hành thảy đều thanh
tịnh không nhiễm trước.
Ðạo lý ở trên chưa nói hết, bây giờ lại tiếp tục.
Vị Thi Khí Phạm Vương này là Ðại Phạm Thiên, trong cõi Sơ Thiền
thuộc về sắc giới. Vị này nói về pháp thanh tịnh của mình tu hành,
khắp hết tất cả đạo tràng trong mười phương. Pháp thanh tịnh là gì ?
Tức là không ích kỷ, không tự lợi, không đố kỵ, không chướng ngại,
không có ô nhiễm tham sân si ba thứ độc.
Tất cả các đức Phật ở đời hiện tại, đều kiến lập đạo tràng. Ðạo
tràng là gì ? Tức là chỗ tu đạo. Ðức Phật Thích Ca nói Kinh Hoa
Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật ở tại bảy đạo tràng :
1. Bồ Ðề Ðạo Tràng.
2. Ðiện Phổ Quang Minh.
3. Cung trời Ðao Lợi.
4. Cung trời Dạ Ma.
5. Cung trời Ðâu Suất.
6. Cung trời Tha Hóa.
7. Rừng Thệ Ða.
Phàm là chỗ nào có giảng Kinh thuyết pháp, đều gọi là đạo tràng.
Giảng Kinh gì thì gọi là pháp hội đó, ví như pháp hội Hoa Nghiêm,
pháp hội Pháp Hoa .v.v.
Vị Thiên Vương này, đắc được môn giải thoát không nhiễm không ngại.
Huệ Quang Phạm Vương được môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng
sinh nhập thiền định tam muội.
Vị Huệ Quang Phạm Vương này, có trí huệ quang minh, khiến cho tất cả
chúng sinh nhập thiền định tam muội. Thiền dịch là "tĩnh lự" ; tĩnh
tức là chỉ tức, lự tức là tư lự. Tóm lại, tức là ngưng bặc tất cả
mọi sự suy nghĩ vọng tưởng. Tam muội dịch là "định", cho nên danh từ
thiền định này nửa là tiếng Phạn, nửa tiếng Tàu.
Vọng tưởng là mây trôi, chân tâm là mặt trời. Mây che lấp mặt trời,
cho nên ánh sáng mặt trời không hiện được. Thiền định là gió, thổi
tan sạch mây trôi. Mây bay đi rồi thì ánh sáng hiện ra. Tu thiền
định tức là ngưng bặc vọng tưởng, không còn vọng tưởng thì trí huệ
hiện tiền, tức cũng là khai ngộ. Do đó :
‘’ Vọng niệm không sinh là thiền,
Ngồi thấy bản tánh là định.’’
Vị Thiên Vương này minh bạch được cảnh giới này, vị này ở trong tam
muội, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn, đắc được môn giải thoát
như thế.
Thiện Tư Huệ Quang Minh Phạm Vương, được môn giải thoát, vào khắp
tất cả các pháp không nghĩ bàn.
Vị Thiện Tư Huệ Quang Minh Phạm Vương này có văn huệ, tư huệ, tu huệ
ba thứ trí huệ. Văn là nghe pháp có thể đắc được trí huệ. Tư là tư
duy, cũng có thể đắc được trí huệ. Tu là tu hành, càng có thể đắc
được trí huệ. Ðây là ba yếu tố trí huệ. Ba huệ này là hậu đắc trí,
là do học mà biết. Thiền định là căn bản trí sinh mà có.
Ba thứ trí huệ này phóng ra một thứ quang minh, chiếu khắp tất cả
chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng đắc được lợi ích ba thứ trí
huệ. Vị này đắc được pháp môn giải thoát, nhập vào khắp tất cả các
pháp diệu không thể tả. Thứ diệu pháp này nói cũng không ra lời,
nghĩ cũng không ra, do đó :‘’ Như người uống nước, nóng lạnh tự
biết.’’ Cảnh giới này cần phải tu hành thì tự mình sẽ thể hội, liễu
ngộ, mới có thể sinh ra vô sinh pháp nhẫn.
Phổ Vân Âm Phạm Vương được môn giải thoát, vào tất cả biển âm
thanh của chư Phật.
Vị Phổ Vân Âm Phạm Vương này, nhập vào tất cả biển âm thanh của chư
Phật trong mười phương, tức vị này cũng nghe và hiểu được lời nói
của tất cả chư Phật. Phàm phu chúng ta bất cứ thông minh như thế
nào, cũng không thể học hết được tất cả ngôn ngữ trên toàn thế giới.
Nhưng Phật đầy đủ tất cả biển ngôn ngữ. Khi Phật thuyết pháp thì,
bất cứ loại chúng sinh nào cũng đều hiểu được, đều hiểu rõ ý nghĩa
của Phật muốn nói gì. Mỗi loài đều có sở đắc, đều có sở ngộ. Do đó :
‘’ Một âm thanh diễn nói pháp,
Tùy loài thảy đều hiểu được.’’
Mỗi loại chúng sinh sở ngộ đều khác, cảnh giới đắc được cũng khác
nhau. Các vị Phạm Vương mỗi vị đều đắc được cảnh giới giác ngộ đều
khác nhau. Vị Phạm Vương này đắc được môn giải thoát tam muội vô
ngại.
Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Phạm Vương, được môn giải thoát, nghĩ nhớ
phương tiện của Bồ Tát, giáo hóa tất cả chúng sinh.
Vị Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Phạm Vương này, quán sát tất cả ngôn ngữ
và âm thanh trên thế gian mà đắc được tự tại. Vì đắc được tam muội
ngôn ngữ và âm thanh, cho nên nghĩ nhớ được. Bất cứ pháp gì ? Chỉ
cần lọt qua căn tai của vị này, thì vĩnh viễn không bao giờ quên.
Tất cả Bồ Tát giáo hóa tất cả chúng sinh, đều dùng phương pháp
phương tiện khéo léo, chẳng phải là pháp hằng thường không đổi. Pháp
phương tiện này, lúc này có thể dùng, nhưng đến lúc khác thì không
nhất định có thể dùng. Ðó là pháp phương tiện quán căn cơ thí giáo,
vì người thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc.
Ví như Tì Sương, bổn thể của nó rất kịch độc, nếu biết xử dụng thì
thuốc hay, có thể trị được tất cả bệnh độc, đó là pháp phương tiện
"dùng độc trị độc". Tì Sương tuy nhiên trị được bệnh, nhưng không
thể dùng quá lượng. Pháp phương tiện cũng như thế, không thể lạm
dụng, cần đối trị thì mới dùng được.
Bây giờ tôi kể một câu chuyện về "tay không độ em bé". Lúc Ðức Phật
còn tại thế, một ngày nọ, đi ra ngoài khất thực, đi ngang qua một
cái giếng nước, ở xa trông thấy một em bé bò đến bên giếng (em bé
chưa biết đi), mắt trông thấy em bé muốn rơi xuống giếng. Lúc này
thật là sợi tóc treo ngàn cân, Ðức Phật muốn chạy đến bên giếng để
cứu sinh mạng em bé, nhưng thời gian đã không kịp nữa. Do đó, Ðức
Phật bèn lớn tiếng nói với em bé rằng : ‘’ Này em bé ! Em bé ! Trong
tay của ta có kẹo, mau bò đến đây.’’ Ðứa bé nghe có kẹo ăn bèn bò
qua chỗ đức Phật. Thật ra trong tay đức Phật chẳng có kẹo, đó là gạt
đứa bé, vì cứu sinh mạng của nó, cho nên chỉ dùng được pháp phương
tiện. Phật độ chúng sinh cũng như thế, xem chúng sinh thích gì ? Thì
cho chúng sinh cái đó ! Sau đó từ từ thuyết pháp cho họ nghe, đó là
pháp môn phương tiện khéo léo. Vị Phạm Vương này đắc được môn giải
thoát này.
Tịch Tĩnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương, được môn giải thoát, hiện
tất cả tướng nghiệp báo thế gian, thảy đều khác biệt.
Vị Tịch Tĩnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương, được tướng nghiệp báo tất
cả thế gian. Tướng nghiệp báo là gì ? Tức là trồng nhân gì thì được
quả đó. Tóm lại, trồng nhân lành thì được quả lành, trồng nhân ác
thì được quả ác. Quả lành có thể thành A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát,
và Phật. Ðó là quả báo lành của bốn pháp giới bậc Thánh. Lại có thể
sinh về cõi trời, có thể làm người, đó là quả báo trời, người. Quả
ác thì làm súc sinh, làm ngạ quỷ, đọa địa ngục, đó là quả báo ba
đường ác. Nhân quả nghiệp báo tơ hào cũng không sai. Do đó có câu :
‘’ Muốn biết nhân đời trước làm gì ?
Hãy xem quả đời này mình có ;
Muốn biết quả đời sau thế nào ?
Xem mình làm gì trong đời này.’’
Muốn biết đã trồng nhân gì trong đời trước ? Thì đời này mình đang
gặp những gì, hưởng thụ những gì, đó là nhân đã trồng trong đời quá
khứ. Nếu trồng nhân lành thì đời này sẽ gặt quả lành, tất cả đều
thuận cảnh. Nếu trồng nhân ác thì đời này gặt quả ác, tất cả đều
nghịch cảnh. Muốn biết về tương lai như thế nào ? Thì hãy xem đời
này đang làm gì ? Nếu làm công đức lành thì đời sau được phước báu ;
nếu làm nghiệp ác quá nhiều thì đời sau nhất định làm bò làm ngựa,
đố kỵ thì làm mãng xà, gạt người thì làm gà. Tóm lại, tạo nghiệp gì
thì thọ cái đó.
Mỗi chúng sinh đều có tướng nghiệp báo của mỗi người, chẳng ai giống
ai. Người thì có tướng nghiệp báo của người, bò có tướng nghiệp báo
của bò, heo thì có tướng nghiệp báo của heo. Bò ở Ấn Ðộ không bị
giết, heo ở xứ Hồi giáo không bị giết, đó cũng là tướng nghiệp báo
của chúng sinh khác nhau. Có người rất giàu có mà không có con cái,
đó là có sự giàu có mà không con. Có người rất nghèo mà đông con
cái, đó là đông con cái nhưng không giàu có. Mỗi người đều có hoàn
cảnh riêng, đều khác nhau. Việc trong trời đất tuyệt đối không thập
toàn thập mỹ. Dù thập toàn thập mỹ nhưng người vẫn cảm thấy không
đầy đủ. Tại sao ? Vì lòng tham muốn không đáy.
Vị Phạm Vương này minh bạch được tướng nghiệp báo thế gian đều khác
biệt, vị này đắc được môn giải thoát này.
Phổ Quang Minh Phạm Vương được môn giải thoát, tùy theo tất cả
phẩm loại chúng sinh khác biệt, đều hiện ra thân tướng để điều phục.
Vị Phổ Quang Minh Phạm Vương này, đắc được tùy theo chúng sinh khác
nhau, mà hiện thân tướng cảnh giới khác nhau. Ví như thấy cọp thì
hiện thân cọp để điều phục cọp. Gặp rồng thì hiện thân rồng để điều
phục rồng, gặp chúng sinh phi cầm, thì hiện thân phi cầm để điều
phục chúng. Gặp chúng sinh thủy tộc, thì hiện thân thủy tộc để điều
phục chúng. Cho nên gọi là hiện ra để điều phục, khiến cho tất cả
chúng sinh đều phát tâm bồ đề, tu vô thượng đạo. Vị Phạm Vương này
đắc được môn giải thoát này.
Biến Hóa Âm Phạm Vương được môn giải thoát, trụ tất cả cảnh giới
pháp tướng hạnh thanh tịnh tịch tĩnh.
Vị Biến Hóa Âm Phạm Vương này, có âm thanh biến hóa được, có trăm
ngàn vạn thứ âm thanh. Vì vị này biến hóa âm thanh được, cho nên trụ
ở trong tất cả các pháp, đắc được pháp tướng thanh tịnh quang minh.
Hạnh tịch tĩnh tức là cảnh giới vô vi mà vô bất vi, vị này đắc được
môn giải thoát cảnh giới hạnh tịch tĩnh.
Quang Diệu Nhãn Phạm Vương được môn giải thoát, thường siêng xuất
hiện trong tất cả các cõi, mà không chấp trước, không bờ mé, không
chỗ nương tựa.
Vị Quang Diệu Nhãn Phạm Vương này, có trí huệ quang minh chiếu soi
chúng sinh, khiến cho họ đều đắc được mắt biết chọn pháp, biết được
pháp này là đúng hay sai. Vị này biết được pháp thân của Phật như hư
không. Trong tất cả các cõi chẳng có chấp trước, tức là không chấp
không, cũng chẳng chấp có. Không chấp vào có không hai bên.
Vì pháp thân của Phật như hư không, chẳng có bờ mé, cho nên chẳng có
chỗ nương tựa. Pháp thân của Phật tuy nhiên như hư không, nhưng Phật
luôn luôn xuất hiện ra đời. Tại sao ? Vì vấn đề sinh tử của chúng
sinh chưa chấm dứt, cho nên Phật thường thị hiện ra đời để giáo hóa
chúng sinh, khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác, hết khổ được vui
sướng. Vị Phạm Vương này đắc được tam muội pháp môn giác ngộ giải
thoát này.
Duyệt Ý Hải Âm Phạm Vương, được môn giải thoát, thường tư duy
quán sát các pháp vô tận.
Vị Duyệt Ý Hải Âm Phạm Vương này, có âm thanh êm tai vi diệu phi
thường, chúng sinh nghe được đều sinh tâm hoan hỷ. Âm thanh thuyết
pháp của vị này giống như âm vang của biển cả. Vị này cũng đắc được
công phu tu thiền. Thiền dịch là "tư duy tu". Vị này quán sát được,
khắp tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, vô cùng vô tận không
thể nghĩ bàn. Vị này ở trong thiền định khai mở đại trí huệ, minh
bạch tất cả diệu lý thật tướng, vô tận pháp tạng không thể nghĩ bàn
của tất cả các pháp. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Bấy giờ, Thi Khí Ðại Phạm Vương, nương oai lực của Ðức Phật, quán
sát khắp tất cả chúng Phạm Thiên, Phạm Phụ Thiên, Ðại Phạm Thiên mà
nói kệ rằng.
Lúc đó, khi Duyệt Ý Hải Âm Phạm Vương nói xong môn giải thoát của
mình đắc được rồi, thì vị Thi Khí Ðại Phạm Vương trời Sơ Thiền thuộc
Sắc giới, thừa đại oai thần của chư Phật quán sát khắp tất cả Phạm
Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Ðại Phạm Thiên, thiên chúng ba cõi trời
này nói ra bài kệ để tán thán công đức của Phật, để hiểu rõ nghĩa
chân thật của Phật pháp.
Trời Sơ Thiền gọi là ly sinh hỷ lạc, chúng sinh ở trong cõi trời này
bỏ sạch tất cả khổ não mà sinh tâm hoan hỷ sung sướng. Hết thảy có
ba cõi trời :
1. Phạm Chúng Thiên : Phạm dịch là thanh tịnh, chúng sinh cõi trời
này trong tâm thanh tịnh, không có dục niệm, có người nam mà chẳng
có người nữ, đều là hóa sinh.
2. Phạm Phụ Thiên : Chúng sinh cõi này chẳng có sự thống khổ phiền
muộn, chỉ có khoái lạc an vui.
3. Ðại Phạm Thiên : Chúng sinh cõi này tự nhiên thanh tịnh, siêng tu
giới định huệ, tức diệt tham sân si.
Thân Phật thanh tịnh thường tịch diệt
Quang minh chiếu sáng khắp thế gian
Không tướng không hạnh không hình bóng
Như mây lơ lững trong không trung.
"Thân Phật thanh tịnh thường tịch diệt.’’ Thi Khí Ðại Phạm Vương nói
: ‘’Thân thể của Phật thanh tịnh, tịch diệt". Tuy nhiên là thanh
tịnh tịch diệt, nhưng có quang minh.
"Quang minh chiếu sáng khắp thế gian". Quang minh của Phật chiếu
sáng khắp tất cả thế gian, chẳng có chỗ nào mà chẳng chiếu, chẳng có
chỗ nào mà chẳng sáng. Tất cả chúng sinh ở trong quang minh từ bi
chiếu sáng, biết được sự hồi quang phản chiếu là pháp môn giác ngộ.
"Không tướng không hạnh không hình bóng". Chẳng có hình tướng, chẳng
có hành vi, chẳng có hình, chẳng có bóng, giống như mây trong hư
không.
"Như mây lơ lững trong không trung". Chúng sinh tuy thấy mây trong
không trung, nhưng mây trong không trung chẳng chấp trước, chỉ tồn
tại trong thời gian ngắn rồi sẽ tiêu mất.
Thân Phật ở trong cảnh giới định
Tất cả chúng sinh không thể dò
Mở bày phương tiện khó nghĩ bàn
Môn này Huệ Quang Vương ngộ được.
"Thân Phật ở trong cảnh giới định". Phật thường ở trong định, trong
định thì như thế. Không ở trong định thì không như thế. Cảnh giới ở
trong định, chẳng có bất định thì luôn luôn đều là định. Phật ở
trong định diễn nói bộ Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật này.
"Tất cả chúng sinh không thể dò". Cảnh giới của Phật ở trong định,
tất cả chúng không thể hiểu biết được, không thể dò được.
"Mở bày phương tiện khó nghĩ bàn". Cảnh giới này, Ðức Phật mở bày
cho tất cả chúng sinh phát tâm đại bồ đề, sớm thành chánh giác, đây
là phương tiện pháp môn không thể nghĩ bàn.
‘’ Môn này Huệ Quang Vương ngộ được.’’ Cảnh giới này vị Huệ Quang
Vương minh bạch được.
Cõi Phật hạt bụi biển pháp môn
Một lời diễn nói hết không thừa
Như vậy biển kiếp nói không hết
Thiện Tư Huệ Quang thấy môn này.
"Cõi Phật hạt bụi biển pháp môn". Cõi nước chư Phật trong mười
phương có bao nhiêu ? Nhiều giống như hạt bụi. Biển pháp môn gọi là
gì ? Trong một hạt bụi làm một biển cả, trong một biển cả đầy đủ vô
lượng pháp môn, đó là hình dung nhiều pháp môn giống như biển cả,
cho nên gọi là biển pháp môn.
"Một lời diễn nói hết không thừa". Một lời tức là thật tướng, thật
tướng tức là vô tướng, vô tướng tức là vô sở bất tướng. Chỉ cần nói
ra thật tướng thì tất cả các pháp đều bao quát trong đó. Cũng có thể
nói là chân như, lại có thể nói là Phật tánh. Vì tất cả pháp môn đều
từ Phật tánh chảy ra, chỉ cần nói ra một lời thì tất cả pháp môn đều
bao quát không thừa.
"Như vậy biển kiếp nói không hết". Biển pháp môn nhiều giống như số
hạt bụi, tận hư không khắp pháp giới. Muốn diễn nói pháp môn này hết
thuở vị lai, suốt kiếp vị lai cũng diễn nói không hết, nói không hết
biển pháp môn, đó là vì phương tiện mà nói.
Lúc này có người đề ra vấn đề : "Vậy câu
trước nói một lời thì nói hết, câu sau lại nói dù nói thế nào cũng
nói không hết, đó chẳng phải là trước sau mâu thuẫn chăng" ? Trên
thực tế thì trước sau chẳng mâu thuẫn. Câu trước thì dùng thật tướng
để nói, cho nên nói một lời diễn nói hết không thừa. Câu sau dùng
quyền xảo phương tiện để nói, nói đến khi nào cũng nói không hết.
Câu trước là tổng, câu sau là biệt. Tổng lại để nói, một câu có thể
nói hết : phân biệt để nói thì hết kiếp vị lai cũng nói không hết.
Theo hiển giáo mà nói thì, những gì người biết thì, một câu có thể
nói hết. Theo mật giáo mà nói thì có vô lượng nghĩa, nói không hết.
‘’ Thiện Tư Huệ Quang thấy môn này.’’ Môn giải thoát này vị Thiện
Huệ Quang Phạm Vương minh bạch được.
Viên âm chư Phật đồng thế gian
Tùy loại chúng sinh đều hiểu rõ
Mà nơi âm thanh không phân biệt
Phổ Âm Phạm Thiên ngộ như thế.
"Viên âm chư Phật đồng thế gian". Âm thanh của chư Phật là âm viên
mãn. Âm viên mãn âm là gì ? Tức là bất cứ loài chúng sinh nào, nghe
được âm thanh của chư Phật thì sẽ khai ngộ, chứng thành đạo quả,
liễu thoát sinh tử, đắc được Niết Bàn. Loài người, loài A Tu La,
loài ngạ quỷ, loài địa ngục cũng đều như thế mà ngộ hiểu.
"Mà nơi âm thanh không phân biệt". Tất cả chúng sinh trong chín pháp
giới, nghe được âm thanh thuyết pháp của Phật tùy theo loài mà hiểu
rõ, tăng trưởng căn lành, bỏ mê về giác. Mỗi loài chúng sinh nghe
được âm viên mãn của Phật, bèn cảm thấy Phật đối với họ mà thuyết
pháp, tự nhiên chuyên nhất tin thọ, không sinh tâm phân biệt hoài
nghi.
"Phổ Âm Phạm Thiên ngộ môn này". Ðây là đạo lý ngộ hiểu của Phổ Vân
Âm Phạm Thiên.
Ba đời tất cả các Như Lai
Hướng nhập bồ đề hành phương tiện
Tất cả đều hiện nơi thân Phật
Tự Tại Âm Thiên thấy môn này.
"Ba đời tất cả các Như Lai". Ðời quá khứ có vô lượng vô biên Phật,
đời hiện tại cũng có vô lượng vô biên Phật, đời vị lai cũng có vô
lượng vô biên Phật.
"Hướng nhập bồ đề hành phương tiện". Tất cả chư Phật ba đời, lúc ban
đầu các Ngài tu giác đạo, đều trải qua đủ thứ phương tiện pháp môn
để tu hành, sau đó mới thành Phật được.
"Tất cả đều hiện nơi thân Phật". Các Ngài trải qua thời gian tu hành
lâu dài, cuối cùng chứng được viên mãn giác ngộ cứu kính mà thành
Phật đạo, cho nên nói tất cả đều hiện nơi thân Phật.
"Tự Tại Âm Thiên thấy môn này". Môn giải thoát này vị Quán Sát Ngôn
Âm Tự Tại Phạm Thiên đắc được.
Tất cả nghiệp chúng sinh khác biệt
Tùy theo nhân chiêu cảm quả báo
Thế gian như vậy Phật đều hiện
Tịch Tĩnh Quang Thiên ngộ nhập được.
"Tất cả nghiệp chúng sinh khác biệt". Tất cả chúng sinh mỗi người
đều khác nhau về nghiệp báo. Làm lành thì quả lành, làm ác thì quả
ác. Lành là gì ? Phàm là việc có ích lợi cho chúng sinh tức là lành,
ví như sửa đường làm cầu, xây trường học, mở nhà thương (lấy từ
thiện làm mục đích, chẳng phải vì kiếm tiền làm mục đích). Ác là gì
? Phàm là việc lợi mình mà hại người tức là ác. Ví như mở lò sát
sinh (lò thịt), mua bán vũ khí, lò chế bom đạn, lợi mình mà hại
chúng sinh.
"Tùy theo nhân chiêu cảm quả báo". Tùy theo nhân của chúng sinh
trồng mà cảm thọ quả báo. Tóm lại trồng nhân gì thì được quả đó. Ví
như giết cha của người thì người giết cha của mình ; giết con của họ
thì họ giết con của mình. Người không giữ giới sát thì tương lai
nhất định sẽ bị người giết, đây là quả báo thế gian.
"Thế gian như vậy Phật đều hiện". Nhân như vậy, quả như vậy, nghiệp
như vậy, báo như vậy, đó là đạo lý tự nhiên, cho nên Phật tại thế
gian hiện ra đủ thứ cảnh giới để nói rõ đạo lý này, để đối trị
nghiệp báo của chúng sinh, khiến cho chúng sinh thấy được cảnh giới
này mà sinh ra tâm giác ngộ, cầu vô thượng đạo.
"Tịch Tĩnh Quang Thiên ngộ nhập được". Ðạo lý này Tịch Tĩnh Quang
Minh Nhãn Phạm Vương minh bạch được.
Vô lượng pháp môn đều tự tại
Ðiều phục chúng sinh khắp mười phương
Cũng chẳng ở trong khởi phân biệt
Ðây là cảnh giới Phổ Quang Thiên.
"Vô lượng pháp môn đều tự tại". Vị Phổ Quang Minh Phạm Vương này,
đắc được tất cả pháp môn, tùy ý tự tại thuyết pháp, nói ngang nói
dọc đều là viên dung vô ngại.
"Ðiều phục chúng sinh khắp mười phương.’’ Dùng triết, nhiếp hai môn
để điều phục chúng sinh, triết là triết phục, khiến cho chúng sinh
thấy oai đức mà triết phục, đó là môn triết phục. Nhiếp là nhiếp
thọ, dùng tâm từ bi để cảm hóa, dùng đạo đức để nhiếp thọ, đây là
môn nhiếp thọ. Vị này dùng hai pháp môn này đến khắp mười phương để
giáo hóa chúng sinh.
"Cũng không ở trong khởi phân biệt". Ở trong phần chúng sinh, chẳng
khởi tất cả tâm phân biệt. Không thể nói chúng sinh này là thiện,
tôi đi độ họ ; chúng sinh kia là ác tôi không đi độ họ. Cũng không
thể nói chúng sinh này có duyên với tôi, tôi phải độ họ ; chúng sinh
kia không có duyên với tôi, tôi không cần độ họ. Chẳng có tâm phân
biệt như thế mà dùng từ bi bình đẳng đối với tất cả chúng sinh,
tuyệt đối chẳng có tâm phân biệt, một luật bình đẳng.
"Ðây là cảnh giới Phổ Quang Thiên". Cảnh giới này vị Phổ Quang Biến
Thập Phương Phạm Vương đắc được.
Thân Phật vô tận như hư không
Không tướng không ngại khắp mười phương
Tất cả ứng hiện đều như huyễn
Biến Hóa Âm Vương ngộ môn này.
"Thân Phật vô tận như hư không". Thân thể của Phật giống như hư
không, tuy nhiên như hư không nhưng không thể cùng tận.
"Không tướng không ngại khắp mười phương". Thân thể của Phật chẳng
có hình, cũng chẳng có tướng, nhưng khiến cho chúng sinh nhìn thấy
được. Vì chẳng có hình tướng cho nên mới không ngại. Nếu có hình
tướng thì có chướng ngại. Tuy nhiên chẳng có tướng, nhưng thường
hiện khắp mười phương.
"Tất cả ứng hiện đều như huyễn". Tất cả chư Phật ứng hiện đều như
huyễn như hóa, giống như ánh trăng dưới ngàn con sông, chỉ có một
mặt trăng mà mặt trăng ứng hiện dưới ngàn con sông.
‘’ Biến Hóa Âm Vương ngộ môn này.’’ Ðạo lý này vị Biến Hóa Âm Phạm
Vương minh bạch được.
Tướng thân Như Lai không ngằn mé
Trí huệ âm thanh cũng như thế
Hiện ra trong đời chẳng chấp trước
Quang Diệu Thiên Vương vào môn này.
"Tướng thân Như Lai không ngằn mé". Tướng thân của Phật là tận hư
không khắp pháp giới, cho nên nói tướng thân của Như Lai không ngằn
mé, cũng chẳng có chỗ nương tựa, không chấp trước vào tất cả các cõi
(có), cũng không chấp trước nơi tất cả không, từ bỏ có, không, hiển
hiện trung đạo. Cho nên nói thân tướng không ngằn mé.
"Trí huệ âm thanh cũng như thế". Không những trí huệ của Như Lai
chẳng có bờ mé mà âm thanh của Như Lai cũng chẳng có bờ mé.
Một ngày nọ, Tôn giả Mục Kiền Liên dùng sức thần thông đi về hướng
tây, đi qua vô số cõi Phật, muốn thử âm thanh của Phật đến đâu, kết
quả không biết được, bất cứ đi xa bao nhiêu, thì âm thanh của Phật
cũng giống như ở trước mắt. Do đó, có thể chứng minh âm thanh Như
Lai chẳng có bờ mé.
"Hiện ra trong đời chẳng chấp trước". Phật hiện ra đời thuyết pháp
độ chúng sinh, nhưng chẳng chấp trước, phá tất cả các chấp. Vì rời
tất cả chấp trước cho nên mới thành Phật, nếu không thì chẳng thể
thành Phật.
"Quang Diệu Thiên Vương nhập môn này". Môn giải thoát này vị Quang
Diệu Phạm Thiên Vương nhập được.
Pháp Vương an trụ Diệu pháp đường
Pháp thân quang minh chiếu hết thảy
Pháp tánh không tướng chẳng gì bằng
Giải thoát này của Hải Âm Vương.
"Pháp Vương an trụ diệu pháp đường". Pháp Vương tức là Phật, vì Phật
ở trong các pháp đắc được tự tại thù thắng, cho nên gọi là Pháp
Vương. Ðịa vị tột đỉnh của phàm phu là Chuyển luân thánh vương. Ðịa
vị tột đỉnh của Thánh nhân là Pháp Vương. Chuyển luân thánh vương
cũng có ba mươi hai tướng, Pháp Vương cũng có ba mươi hai tướng. Vị
Hải Âm Phạm Thiên Vương này, luôn luôn tư duy quán sát, pháp môn
giải thoát vô tận, tư duy Phật là bậc Pháp Vương, tự tại nơi các
pháp, lại tư duy Pháp Vương an trụ ở trong Diệu pháp đường.
"Pháp thân quang minh chiếu hết thảy". Pháp thân quang minh của
Phật, chiếu khắp tất cả cõi nước chư Phật, chẳng có chỗ nào mà không
chiếu đến.
"Pháp tánh không tướng chẳng gì bằng". Pháp tánh không thể so sánh.
Pháp tánh tuy nhiên có tên, nhưng chẳng có hình tướng. Pháp tính đầy
khắp pháp giới, chẳng có bất cứ cảnh giới nào có thể so sánh được.
"Giải thoát này của Hải Âm Vương". Môn giải thoát này vị Hải Âm Phạm
Thiên Vương minh bạch được.
Hiện tại đã giảng xong sở đắc được môn giải thoát và kệ của năm
chúng năm mươi vị Thiên Vương thuộc về Sắc giới. Dưới đây tiếp tục
giảng về sở đắc môn giải thoát và kệ của bảy chúng bảy mươi vị Thiên
Vương thuộc về dục giới.
Lại nữa, Tự Tại Thiên Vương được môn giải thoát, tự tại tạng hiện
tiền thành thục vô lượng chúng sinh.
Vị Tự Tại Thiên Vương này là trời Tha Hóa Tự Tại, từng trời thứ sáu
thuộc về dục giới. Vị này chẳng sầu, chẳng lo, chẳng phiền não,
chẳng đấu tranh với ai, đều hòa bình tương xứ với mọi người. Vị này
đến đâu cũng đều khiến cho chúng sinh, sinh thành thục tự tại tạng.
Vì vị này đắc được tự tại, khiến cho tất cả chúng sinh nghe pháp
khai ngộ, đắc được môn giải thoát tự tại tạng. Vị này có tâm từ bi
vô lượng, tâm hỷ xả vô lượng, thật là một vị đại hộ pháp Bồ Tát.
Thiện Mục Chủ Thiên Vương, được môn giải thoát, quán sát tất cả
sự vui sướng của chúng sinh, khiến cho họ nhập vào cảnh giới vui
sướng của bậc Thánh.
Vị Thiện Mục Chủ Thiên Vương này cặp mắt rất hiền từ. Vị này dùng
mắt từ bi để nhìn chúng sinh, quán sát sự vui sướng của chúng sinh,
không quán sát sự khổ của chúng sinh. Tại sao ? Vì vị này chẳng có
khổ, cho nên chẳng biết chúng sinh có sự khổ, chỉ quán sát sự vui
sướng của chúng sinh. Sự khoái lạc của chúng sinh tức là thành tựu
danh và thành tựu lợi, tức cũng là muốn gì được nấy. Cầu con trai
được con trai, cầu con gái được con gái, cầu giàu sang được giàu
sang, cầu công danh được công danh, đó là sư khoái lạc của thế gian.
Vị Thiên Vương này đều làm cho sở cầu của chúng sinh được mãn
nguyện. Muốn dạy cho chúng sinh hiểu Phật pháp, thì trước hết làm
cho chúng sinh được đầy đủ sự ham muốn.
Tóm lại, phàm là những gì chúng sinh ưa
thích, vị Thiên Vương này đều làm cho họ mãn nguyện về sở cầu, khiến
cho họ hoan hỷ, sau đó khiến cho họ nhập vào cảnh giới khoái lạc của
Thánh nhân. Cảnh giới khoái lạc của Thánh nhân là gì ? Tức là Niết
Bàn bốn đức : Thường, lạc, ngã, tịnh. Sự khoái lạc này là cứu kính.
Sự khoái lạc thế gian là trong khổ làm vui sướng. Tại sao nói khoái
lạc thế gian là trong khổ làm vui ? Vì sự khoái lạc nhất của thế
gian là phát tài, nhưng có tiền rồi thì một đồng một xu cũng tính
đếm rõ ràng, thậm chí tối ngủ cũng không yên, lăn qua trở lại không
ngủ được, thử nghĩ đây là khổ hay là sướng ?
Sự vui sướng thế gian ngoài việc phát tài, kế tiếp là làm quan. Do
đó, sự vui sướng nhất chẳng gì bằng làm quan có quyền có thế. Người
làm ông quan tốt, thì lo cho dân cơm no áo ấm, vì hạnh phúc của nhân
dân. Còn ông quan ác, thì chuyên bóc lột giấu làm của riêng, tức
cũng là quan tham ô hối lộ. Thứ tham quan ô sử này, tuy nhiên sung
sướng đến cực điểm, cậy quyền cậy thế lường gạt người, nhân dân phẫn
nộ mà không dám nói, nhưng trong biển hoạn nạn trôi nổi hốt lên hốt
xuống, có lúc sẽ gặp họa bị giết, nghĩ xem đó là khổ hay vui ?
Vị Thiên Vương này hiểu rõ lý này, cho nên khiến cho chúng sinh bỏ
sự khổ thế gian, đắc được môn giải thoát cứu kính tự tại.
Sự vui sướng xuất thế gian mới là vui
sướng chân thật, tức cũng là thường, lạc, ngã, tịnh Niết Bàn bốn
đức. Tóm lại, tức là chứng được thanh tịnh pháp thân, ở cõi Thường
Tịch Quang Tịnh Ðộ, hoặc ở cõi Cực Lạc Thế Giới, hoa sen hóa sinh,
chẳng có khổ về sinh tử, đó mới là vui sướng chân thật.
Diệu Bảo Tràng Quan Thiên Vương, được môn giải thoát, tùy theo sự
mong muốn của chúng sinh, khiến cho họ tu hành.
Vị Diệu Bảo Tràng Quan Thiên Vương này, đội mũ báu do các thứ báu
đẹp trang nghiêm, giống như tràng báu phóng quang minh. Vị này
thường tùy thuận tất cả dục vọng của chúng sinh, vì chúng sinh nói
diệu pháp họ thích nghe, khiến cho họ y pháp tu hành, y giáo phụng
hành, sớm thành Phật quả. Vị này đắc được môn giải thoát này.
Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, diễn nói nghĩa
chân thật, nhiếp khắp tất cả chúng sinh.
Vị Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương này, có đại trí huệ dũng mãnh không ai
sánh bằng, có thể nhiếp trì khắp tất cả chúng sinh, giống như nam
châm hút sắt, nhiếp thu tất cả chúng sinh, lợi căn và độn căn vào
trong Phật pháp, và diễn nói với họ nghĩa chân thật của Như Lai. Ðối
với chúng sinh lợi căn, thì giảng thật nghĩa, tức cũng là nghĩa
trung đạo chân không diệu hữu. Ðối với chúng sinh độn căn, thì giảng
quyền giáo, trước thì giảng đạo lý có, sau thì giảng đạo lý không,
từ từ dẫn vào trong thật giáo nhất thừa.
Diệu Âm Cú Thiên Vương được môn giải thoát, tăng tấn sự tu hành,
nghĩ nhớ lòng từ bi rộng lớn của Như Lai.
Vị Diệu Âm Cú Thiên Vương này, có âm thanh vi diệu không thể nghĩ
bàn, khéo về thuyết pháp, nói lời lẽ vi diệu không thể nghĩ bàn, cho
nên gọi là Diệu Âm Cú Thiên Vương.
Vị này đắc được cảnh giới, nghĩ nhớ lòng từ rộng lớn của Như Lai.
Nghĩ nhớ tức là vĩnh viễn không quên, luôn luôn nghĩ nhớ niệm Phật ở
trong bộ não, từ bi của Ðức Phật giống như hư không, rộng lớn vô
lượng vô biên. Sự từ bi này chẳng có Thánh nhân nào có thể so sánh
được.
Tăng thêm sự tinh tấn hạnh môn tu hành, thì sẽ có sự thành tựu. Vị
Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.
Diệu Quang Tràng Thiên Vương được môn giải thoát, thị hiện môn
đại bi, phá sạch tất cả tâm kiêu mạn.
Vị Diệu Quang Tràng Thiên Vương, đắc được môn đại bi lìa khổ được
vui, bỏ mê về giác, phá sạch tất cả tâm cống cao ngã mạn, đầy đủ vô
duyên đại từ, đồng thể đại bi. Thấy chúng sinh chẳng có cơm ăn, thì
giống như chính mình chẳng có cơm ăn, thấy chúng sinh chẳng có quần
áo để mặc, thì giống như chính mình chẳng có quần áo để mặc. Tóm
lại, thấy chúng sinh có tất cả thống khổ, thì cũng giống như chính
mình thọ tất cả thống khổ, đó là biểu hiện lòng từ bi.
Vị Thiên Vương này chẳng có tâm kiêu mạn, không khinh khi chúng
sinh, không coi nhẹ chúng sinh chẳng có căn lành hoặc người cùng
khổ, hoặc người ngu si mà rời bỏ họ. Vị này chẳng có tư tưởng phân
biệt cao thấp quý tiện, xem tất cả chúng sinh đồng đều và bình đẳng,
đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Tịch Tĩnh Cảnh Thiên Vương, được môn giải thoát, điều phục tất cả
tâm sân hại, của chúng sinh thế gian.
Vị Tịch Tĩnh Cảnh Thiên Vương thường ở trong cảnh giới định, điều
phục được tất cả tâm sân hại của chúng sinh thế gian, khiến cho họ
biến thành tâm từ bi, biến thành tâm hỷ xả.
Người có tâm sân hận thì thuộc về đường A Tu La. A Tu La thích đấu
tranh, luôn luôn tranh thắng, tranh đệ nhất. Trên trời có A Tu La, ở
nhân gian cũng có A Tu La. A Tu La trên trời thường tác chiến với
chư Thiên. A Tu La nhân gian thường phát sinh đại chiến, dẫn đến
nước này đánh với nước kia, chủng tộc này đánh với chủng tộc kia,
tôn giáo này đánh với tôn giáo kia, tương lai địa cầu và tinh cầu
cũng sẽ chiến tranh với nhau. Những chiến tranh xảy ra đều do A Tu
La tác quái.
A tu La có hai loại âm và dương. A Tu La thuộc dương tức là quân đội
trên thế gian ; A Tu La thuộc âm là những kẻ trộm cướp bất lương.
Phàm là kẻ làm ác giết người đều là A Tu La, hoặc chúng sinh nào
thích đấu tranh cũng đều gọi là A Tu La.
Trong loài súc sinh và ngạ quỷ cũng có A Tu La. Tâm sân hận của
chúng rất lớn, chúng hổ tương xâm phạm, hổ tương nhiễu loạn, chẳng
được yên ổn. Vị Thiên Vương này điều phục được tâm sân hận chuyển
thành tâm từ bi. Nếu ai ai cũng có tâm từ bi thì sẽ không có sát
sinh, không chiến tranh. Ðó là cảnh giới môn giải thoát vị Thiên
Vương này đắc được.
Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, vô
lượng vô biên chư Phật tùy sự nghĩ nhớ mà đến.
Vị Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, đắc được thân Phật
trong mười phương không cách chi tính đếm được, chư Phật tùy sự nghĩ
nhớ mà phóng quang, đều đến đạo tràng. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói :
‘’ Hiện tiền nhớ Phật niệm Phật,
Tương lai nhất định thấy Phật.’’
Bạn nhớ nghĩ mười phương chư Phật thì mười phương chư Phật cũng nghĩ
nhớ bạn. Nếu bạn không nghĩ nhớ chư Phật thì chư Phật cũng không
nghĩ nhớ bạn, bất quá đó là một phương diện, cần phải hai phương
diện thì mới cảm ứng đạo giao được. Sở cầu của chúng sinh là cảm,
Phật và Bồ Tát ban cho là ứng.
Phật thì luôn luôn nghĩ nhớ tất cả chúng sinh, cho nên phát nguyện
độ chúng sinh. Nếu Phật không nghĩ nhớ chúng sinh thì không thể phát
nguyện độ chúng sinh. Chúng sinh nghĩ nhớ Phật thì nên cúng dường
Phật, gần gũi Phật, cung kính Phật, lễ bái Phật, hổ tương nghĩ nhớ
thì sẽ có cảm ứng, sẽ tiếp được quang minh của Phật. Ai nghĩ nhớ
Phật thì Phật hiện ra trong tâm người đó. Vị Thiên Vương này đắc
được môn giải thoát này.
Hoa Quang Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, tùy tâm niệm chúng
sinh, hiện khắp thành chánh giác.
Vị Hoa Quang Huệ Thiên Vương này, đắc được tùy tâm niệm của chúng
sinh mà hiện ra khắp chư Phật, để giáo hóa chúng sinh tu hành tất cả
hạnh môn. Tất cả chúng sinh có những tâm niệm gì, Phật đều biết đều
thấy, cho nên dùng đủ loại pháp môn để giáo hóa chúng sinh khiến cho
thành chánh giác. Chánh giác tức là Vô thượng chánh đẳng chánh giác,
tiếng Phạn là A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề. Ðó là môn giải thoát
của vị này đắc được.
Nhân Ðà La Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, pháp tự
tại đại oai lực, vào khắp tất cả thế gian.
Nhân Ðà La dịch là "thiên chủ, làm Thiên chủ trên cung trời Ðao Lợi.
Trong Kinh A Di Ðà xưng là Thích Ðề Hoàn Nhân, trong Kinh Lăng
Nghiêm xưng là Nhân Ðà La Gia. Vị Nhân Ðà La Diệu Quang Thiên Vương
này, là Thiên Vương Tha Hóa Tự Tại, vị này đắc được đại oai đức thần
thông lực, thâm nhập khắp tất cả thế gian, vì chúng sinh thuyết
pháp, và có một thứ pháp tự tại tức là, lúc Phật thuyết pháp thì
chẳng có đến đi, pháp được nói ra là vô lượng vô biên. Ðó là môn
giải thoát pháp tự tại của vị này đắc được.
Bấy giờ, vị Tự Tại Thiên Vương, nương oai lực của Ðức Phật, quán
sát khắp tất cả chúng Tự Tại Thiên mà nói ra bài kệ.
Ðương lúc đó, vị Tự Tại Thiên Vương này, nương sức thần thông đại
oai đức của Ðức Phật, mà quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Tha
Hóa Tự Tại, dùng kệ để diễn nói lại những gì đã nói ở trên, khiến
cho các Thiên chúng càng hiểu thêm đạo lý Phật pháp.
Thân Phật đến khắp cùng pháp giới
Ứng khắp chúng sinh đều hiện tiền
Ðủ loại giáo môn hóa quần sinh
Tự Tại Thiên Vương ngộ môn này.
"Thân Phật đến khắp cùng pháp giới". Pháp giới lớn bao nhiêu ? Thì
thân Phật lớn bấy nhiêu. Pháp giới nhỏ bao nhiêu thì thân Phật nhỏ
bấy nhiêu. Thân Phật và pháp giới đồng nhau. Pháp giới tuy lớn nhưng
không hơn thân Phật.
"Ứng khắp chúng sinh đều hiện tiền". Mỗi chúng sinh đều đắc được
quang minh của Phật chiếu đến, đều đắc được Phật thị hiện ở trước
họ. Tâm của Phật và tâm chúng sinh có sự cảm ứng. Pháp thân của Phật
giống như tấm gương trong sáng, tất cả chúng sinh đều hiển hiện ở
trong gương.
"Ðủ loại giáo môn hóa quần sinh". Phật nói đủ thứ giáo môn, bao quát
tất cả Phật giáo và chẳng phải Phật giáo. Tất cả tôn giáo đều bao
quát ở trong Phật giáo, chẳng có một tôn giáo nào thoát ra khỏi
ngoài phạm vi Phật giáo. Phật luôn luôn giáo hóa chúng sinh, khiến
cho chúng sinh phát tâm bồ đề, cầu vô thượng đạo, đắc vô thượng
giác.
"Tự Tại Thiên Vương ngộ môn này". Khiến tất cả chúng sinh ở trong
các pháp đắc được tự tại, đắc được giải thoát, đắc được khai ngộ,
đắc được trí huệ. Vị Thiên Vương này, đắc được môn giải thoát tự tại
khai ngộ, khai ngộ tự tại.
Tất cả dục lạc trong thế gian
Vui Thánh tịch diệt là tối thắng
Trụ ở trong pháp tánh rộng lớn
Diệu Nhãn Thiên Vương quán thấy được.
"Tất cả dục lạc trong thế gian". Sự khoái lạc trong thế gian là gì ?
Người thích uống rượu thì cho rằng uống rượu là sự hưởng thụ khoái
lạc nhất của con người. Khi uống rượu thì cảm thấy tự tại, uống say
thì cảm thấy không tự tại. Người thích đánh bạc thì cho rằng đánh
bạc là thú vui nhất của con người. Khi ăn thì cảm thấy tự tại, còn
thua thì cảm thấy không tự tại. Ðó là khổ hay là sướng ? Người thích
thi đấu thì cho rằng thắng lợi là sung sướng nhất, nhưng khi thất
bại thì không đau khổ chăng ? Tóm lại việc khoái lạc nhất trên thế
gian tức là nhân đau khổ nhất.
"Thánh tịch diệt lạc là tối thắng". Vậy sự khoái lạc nhất là gì ?
Tức là khoái lạc xuất thế gian mới là chân chánh khoái lạc, mới là
khoái lạc thù thắng, Niết Bàn bốn đức là vui tối thắng nhất.
"Trụ ở trong pháp tính rộng lớn". Có niềm vui tịch diệt của bậc
Thánh này rồi, thì mới trụ ở trong pháp tính rộng lớn chẳng có ngằn
mé.
"Diệu Nhãn Thiên Vương quán thấy được". Vị Diệu Nhãn Thiên Vương
quán sát cảnh giới này và đắc được môn giải thoát này.
Như Lai xuất hiện khắp mười phương
Theo tâm chúng sinh mà thuyết pháp
Tất cả nghi hoặc đều dứt trừ
Môn giải thoát này Diệu Tràng chứng.
‘’ Như Lai xuất hiện khắp mười phương.’’ Phật xuất hiện ra đời là
đến khắp mười phương pháp giới, do đó : ‘’vô tại vô bất tại, vô sở
bất tại.’’ Lại có thể nói tận hư không khắp pháp giới.
‘’ Theo tâm chúng sinhh mà thuyết pháp.’’ Phổ biến ứng khắp căn cơ
của chúng sinh, vì họ mà thuyết pháp. Người đáng dùng quyền giáo độ
được thì, Phật vì họ mà nói pháp quyền giáo ; người nên dùng thật
giáo độ được thì, Phật vì họ mà nói pháp thật giáo. Người căn tính
đại thừa thì, Phật vì họ mà nói pháp đại thừa, người căn tính tiểu
thừa thì, Phật vì họ mà nói pháp tiểu thừa. Người không gieo căn
lành thì, Phật vì họ nói pháp gieo căn lành. Người đã trồng căn lành
thì, Phật vì họ nói pháp thành thục căn lành. Người đã thành thục
căn lành thì, Phật vì họ mà nói pháp giải thoát. Phật thì quán sát
căn tính của chúng sinh để vì họ thuyết pháp.
‘’ Tất cả nghi hoặc đều dứt trừ.’’ Nếu chúng sinh có tâm nghi hoặc,
thì Phật vì họ nói pháp, khiến cho họ dứt trừ tất cả nghi hoặc, mà
sinh ra tâm chánh tín.
‘’ Môn giải thoát này Diệu Tràng chứng.’’ Diệu Tràng Quan Thiên
Vương đắc được môn giải thoát này.
Chư Phật khắp nơi diễn diệu âm
Trong vô lượng kiếp nói diệu pháp
Chỉ dùng một lời diễn nói hết
Dũng Mãnh Huệ Thiên thấy môn này.
‘’ Chư Phật khắp nơi diễn diệu âm.’’ Mười phương chư Phật ở trong
khắp mười phương thế giới. Bất cứ trong thế giới nào, cũng đều có
chư Phật ở trong đó, diễn nói diệu âm. Diệu âm của chư Phật diễn nói
khắp tận cùng hư không khắp pháp giới. Bất cứ có âm thanh hoặc không
âm thanh, có hình hoặc không hình, diễn nói hoặc không diễn nói, tất
cả hết thảy đều là sự diễn diệu âm của chư Phật. Vào đời Tống, Tô
Ðông Pha viếng thăm núi Lư Sơn có làm bài thơ, trong đó có hai câu
rằng :
‘’Khê thanh tận thị quảng
trường thiệt
Sơn sắc vô phi thanh tịnh thân.’’
Tức là nói âm thanh nước chảy, là Phật đang nói pháp, hình thái màu
sắc núi non đâu chẳng phải là thanh tịnh pháp thân của Phật.
Không những "khê thanh" là "quảng trường thiệt" mà tất cả âm thanh
trên thế giới đều là tướng lưỡi rộng dài của Phật (âm thanh thuyết
pháp), do đó : ‘’ nước chảy, gió thổi ‘’ đều là diễn nói pháp âm,
tất cả hình sắc trên thế giới đều là pháp thân của Phật. Lời vi diệu
của Phật là vô thuyết vô bất thuyết. Pháp thân của Phật là vô tại vô
bất tại. Diệu âm và diệu sắc này, khi chúng sinh thấy được rồi, thì
hiểu rõ tức là giác ngộ, nếu không minh bạch thì bị cảnh giới làm mê
hoặc, mà không thể giác ngộ. Cho nên nói giác và không giác chỉ ở
tại một niệm.
‘’ Trong vô lượng kiếp diễn diệu pháp.’’ Từ vô lượng kiếp đến nay,
Phật luôn nói diệu pháp, phổ độ chúng sinh. Ngày ngày nói pháp, thời
thời nói pháp chẳng gián đoạn. Ban đầu Phật nói Kinh Hoa Nghiêm
trong hai mươi mốt ngày, kế tiếp nói Kinh A Hàm khoảng hai mươi năm.
Rồi nói Kinh Phương Ðẳng tám năm, và nói Kinh Bát Nhã hai mươi hai
năm. Sau nói Kinh Pháp Hoa tám năm, cuối cùng khi nhập Niết bàn nói
Kinh Ðại Bát Niết Bàn. Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng hơn
ba trăm hội, không bao giờ nghỉ ngơi, tinh thần truyền đạo thật là
vĩ đại ! Có thể nói trước sau chẳng có ai so sánh được.
‘’ Chỉ dùng một lời diễn nói hết.’’ Tuy nhiên Phật trong vô lượng
kiếp thuyết pháp, nhưng pháp này chỉ dùng một lời nói, thì có thể
nói hết. Phật trong vô lượng kiếp nói pháp, đó là quyền xảo phương
tiện, khiến cho chúng sinh hiểu rõ Phật pháp. Nếu dùng một lời nói
mà nói hết các pháp thì, hầu hết chúng sinh sẽ không hiểu. Phật muốn
dùng thật giáo để thuyết pháp, nhưng thật giáo là vô pháp khả thuyết
(không có cách chi nói được). Nếu vô pháp khả thuyết thì chúng sinh
vô pháp khả văn (không cách chi nghe được).
‘’ Dũng mãnh Huệ Thiên thấy môn này.’’ Vị Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương
đắc được môn giải thoát này.
Tất cả quảng đại từ thế gian
Chẳng bằng một phần của Như Lai
Lòng từ của Phật như hư không
Diệu Âm Thiên Vương ngộ môn này.
‘’Tất cả quảng đại từ thế gian.’’ Tâm từ lớn nhất trong thế gian như
cha mẹ đối với con cái, nhưng tâm từ rộng lớn này, không bằng tơ hào
tâm từ của Ðức Phật.
‘’Chẳng bằng một phần của Như Lai.’’ Một phần tâm từ của Phật ái hộ
chúng sinh, lớn hơn nhiều so với tâm từ của cha mẹ thương con cái.
Tâm đại từ của Phật là cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ, dù có thể hy
sinh tánh mạng của mình. Giống như Bồ tát Ðịa Tạng Vương, Ngài cứu
chúng sinh ở trong địa ngục, Ngài phát đại nguyện rằng :
‘’ Ðịa ngục không trống không,
Thề không thành Phật
Chúng sinh độ hết
Mới chứng Bồ đề.’’
Hạnh của Ngài là Bồ Tát đạo, nguyện của Ngài phát ra là cứu chúng
sinh. Mười phương chư Phật trong quá khứ vô lượng kiếp đều phát đại
nguyện này. Tâm từ của cha mẹ làm sao so sánh với tâm từ của Ðức
Phật ? Cha mẹ thương con cái chỉ một đời, còn Phật thì thương chúng
sinh nhiều đời. Phật đối với chúng sinh đều có tâm từ bi rộng lớn,
vì giáo hóa chúng sinh, mà xả bỏ thân thể của mình, bất cứ nguy hiểm
thế nào cũng không từ, nhất định phải cứu chúng sinh, khiến cho họ
đắc được an lạc.
‘’ Lòng từ của Phật như hư không.’’ Tâm từ của Phật rộng lớn cỡ nào
? Lớn giống như hư không vô cùng tận, chẳng khi nào hết được.
‘’ Diệu Âm Thiên Vương ngộ môn này.’’ Vị Diệu Âm Cú Thiên Vương hiểu
được cảnh giới lòng đại từ của Phật đối với chúng sinh, đó là môn
giải thoát của vị này đắc được.
Chúng sinh ngã mạn cao như núi
Thập lực phá tan không còn sót
Ðó là bi dụng của Như Lai
Diệu Quang Tràng Vương hành đạo này.
‘’ Chúng sinh ngã mạn cao như núi.’’ Tại sao chúng sinh vẫn là chúng
sinh ? Vì có tâm ngã mạn, tức cũng là cống cao ngã mạn. Tâm ngã mạn
cao hơn núi Tu Di. Tu hành tức là tiêu diệt tâm ngã mạn, cho nên
trong Lục độ có nhẫn nhục Ba La Mật. Bạn nhẫn nhục được thì chẳng có
tâm tự kiêu.
‘’ Thập lực phá tan không còn sót.’’ Phải dùng pháp môn thập lực
thì, sẽ phá tan tâm ngã mạn của chúng sinh. Thập lực là mười trí huệ
lực :
1. Xứ phi xứ trí lực.
2. Tam thế nghiệp báo trí lực.
3. Thiền định giải thoát tam muội trí lực.
4. Các căn thắng liệt trí lực.
5. Chủng chủng giải trí lực.
6. Chủng chủng giới trí lực.
7. Nhất thiết chí xứ đạo trí lực.
8. Thiên nhãn vô ngại trí lực.
9. Túc mạng vô lậu trí lực.
10. Vĩnh đoạn tập khí trí lực.
‘’ Ðây là bi dụng của Như Lai.’’ Ðây là tác dụng đại từ đại bi của
Phật, đủ tiêu trừ chướng ngại sự tu đạo của chúng sinh. Chúng ta
phải có ý chí kiên nhẫn, phá tan núi ngã mạn.
‘’ Diệu Quang Tràng Vương hành đạo này.’’ Vị Diệu Quang Trang Thiên
Vương tu hành pháp môn này mới đắc được môn giải thoát này.
Huệ quang thanh tịnh đầy thế gian
Nếu ai thấy được trừ si tối
Khiến họ thoát khỏi các đường ác
Tịch Tĩnh Thiên Vương ngộ pháp này.
‘’ Huệ quang thanh tịnh đầy thế gian.’’ Trí huệ quang của Phật, là
tận hư không khắp pháp giới, do đó : ‘’Phật quang phổ chiếu.’’ Quang
minh của Phật không những thanh tịnh mà còn trang nghiêm. Nếu chúng
sinh nào bị quang minh của Phật chiếu đến, thì nhất định sẽ khai mở
đại trí huệ. Muốn được quang minh của Phật chiếu, thì phải tinh tấn
tu hành.
‘’ Nếu ai thấy được trừ si ám.’’ Nếu như người có căn lành lớn, thấy
được quang minh của Phật, thì nhất định sẽ tiêu trừ sự đen tối ngu
si của họ. Tại sao chúng sinh phải ngu si ? Vì tâm cảnh không chánh
đại quang minh, luôn luôn ích kỷ tư lợi, chỉ nghĩ lợi ích cho cá
nhân mình, cho nên vô minh càng ngày càng đen tối, càng đen tối thì
càng ngu si, càng ngu si thì càng đen tối. Trong sách Luận Ngữ có
câu :
"Những gì mình không muốn,
Ðừng bố thí cho người khác".
Nghĩa là việc gì mình không muốn, thì đừng gây tổn hại đến người
khác, khiến cho họ sinh phiền não, do đó :‘’Suy bụng ta ra bụng
người ’’, đó là đạo lý nhà Nho, cũng là nhân sinh quan tiêu cực.
Phật giáo đề xướng từ bi, tức cũng là nhân sinh quan tích cực. Ðáng
tiếc một số Phật tử hiểu lầm ngã Phật chân thật nghĩa, chuyên vì
chính mình mà không đếm xỉa gì đến kẻ khác, cách xa tư tưởng Bồ Tát
mười vạn tám ngàn dặm, nếu không hồi đầu thì càng đi càng xa.
‘’ Khiến họ thoát khỏi các đường ác.’’ Phật khiến tất cả chúng sinh
đều thoát khỏi đường A tu la, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục. Tóm lại
thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, liễu sinh thoát tử, lìa khổ được vui,
đạt đến Niết bàn.
Tịch Tĩnh Thiên Vương ngộ pháp này.’’ Vị Tịch Tĩnh Thiên Vương minh
bạch pháp môn này.
Lỗ lông phóng quang diễn diệu pháp
Số chúng sinh đồng danh hiệu Phật
Tùy theo sở thích đều được nghe
Diệu Luân Tràng Vương được môn này.
‘’ Lỗ lông phóng quang diễn diệu pháp.’’ Lỗ chân lông trên thân của
Phật, đều phóng đại quang minh, không những phóng quang minh, mà mỗi
chân lông đều diễn nói tất cả diệu pháp.
‘’ Số chúng sinh đồng danh hiệu Phật.’’ Chúng sinh có bao nhiêu thì
danh hiệu Phật có bấy nhiêu. Vì chúng sinh đều có Phật tính đều sẽ
thành Phật. Thành Phật thì có danh hiệu Phật.
‘’ Tùy theo sở thích đều được nghe.’’ Tùy theo căn tính chúng sinh
đều nghe được diệu pháp của Phật nói.
‘’ Diệu Luân Tràng Vương được môn này.’’ Ðây là môn giải thoát của
vị Diệu Luân Tràng Thiên Vương đắc được.
Như Lai tự tại không thể lường
Hư không pháp giới đều đầy khắp
Tất cả chúng hội đều thấy rõ
Môn giải thoát này Hoa Huệ chứng.
‘’ Như Lai tự tại không thể lường.’’ Sức đại thần thông của Phật
diệu không thể nói, tức là không thể suy nghĩ, không thể luận bàn,
không cách chi trắc lượng, chẳng có bờ mé.
‘’ Hư không pháp giới đều đầy khắp.’’ Sức đại thần thông của Phật
sung mãn pháp giới, sung mãn hư không, cho nên nói không thể lường.
‘’ Tất cả chúng hội đều thấy rõ.’’ Sức đại thần thông của Phật ở
trong mười phương thế giới, phàm là chỗ nào có pháp hội thì, tất cả
chúng sinh nhìn thấy thần lực của Phật rõ ràng, trong suốt không có
gì chướng ngại. Khi Phật thuyết pháp thì, phóng quang hoặc là địa
chấn. Phóng quang là từ : giữa lông mày, miệng, đầu gối, chân
.v.v... Ðịa chấn thì có : chấn, hống, kích, động, dũng, khởi sáu
thứ, đó là thần thông lực.
‘’ Môn giải thoát này Hoa Huệ chứng.’’ Cảnh giới môn giải thoát này
vị Hoa Quang Huệ Thiên Vương đắc được.
Vô lượng vô biên biển đại kiếp
Hiện khắp mười phương mà thuyết pháp
Chưa từng thấy Phật có đến đi
Diệu Quang Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Vô lượng vô biên biển đại kiếp.’’ Phật ở trong vô lượng vô biên
biển đại kiếp, thuyết pháp không ngừng nghỉ, đến khắp nơi phổ độ
giáo hóa chúng sinh.
‘’ Hiện khắp mười phương mà thuyết pháp.’’ Phật hiện khắp trong mười
phương thế giới, mà vì chúng sinh thuyết pháp. Có khi ‘’đảo giá từ
thuyền ‘’ trở lại cõi chúng sinh mà vì chúng sinh thuyết pháp.
‘’ Chưa từng thấy Phật có đến đi.’’ Phật tuy nhiên hiện khắp trong
mười phương mà thuyết pháp, nhưng chẳng nhìn thấy Phật đi đến mười
phương, cũng chẳng thấy Phật từ mười phương đến. Nghĩa như thế nào ?
Cũng giống như mặt trăng hiện ở trong tất cả nước, mặt trăng trong
tất cả nước, đều do mặt trăng trong hư không hiện ra. Mặt trăng vốn
có tuy nhiên chiếu sáng ở trong nước, nhưng mặt trăng vốn có chẳng
động. Mặt trăng trong nước là phản ảnh ánh sáng mặt trăng vốn có mà
thành, cho nên gốc chẳng động mà không đến đi.
Ðức Phật giống như mặt trăng sáng, chiếu khắp mười phương mà không
đến đi, trong tâm của chúng ta nếu thanh tịnh, thì quang minh của
Phật xuất hiện, nếu dơ đục thì quang minh của Phật sẽ không hiện. Tu
đạo tức là tu tâm, làm cho thanh tịnh, một bụi trần không nhiễm, một
niệm không sinh, lúc này thì quang minh của Phật sẽ hiện tiền.
‘’ Diệu Quang Thiên Vương ngộ môn này.’’ Môn giải thoát này vị Diệu
Quang Thiên Vương đắc được.
Lại nữa, Thiện Hóa Thiên Vương được môn giải thoát, khai thị tất
cả nghiệp lực biến hóa.
Ở trên đã giải thích xong những bài kệ và môn giải thoát của mười vị
Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương. Bây giờ giải thích kệ tụng tán thán công
đức của Phật và các môn giải thoát đắc được của mười vị Hóa Lạc
Thiên Vương.
Vị Thiện Hóa Thiên Vương này là Thiên Vương từng trời thứ năm thuộc
về dục giới. Vị này khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác, lìa khổ được
vui, phá vô minh, hiển pháp tính. Vì chúng sinh vô minh cho nên sinh
ra mê hoặc. Do đó : ‘’Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo.’’ Hiểu rõ thì
tạo nghiệp lành, mê hoặc thì tạo nghiệp ác. Tạo nghiệp lành thì thọ
quả báo lành, tạo nghiệp ác thì thọ quả báo ác.
Nghiệp phân ra làm ba thứ :
1. Nghiệp thiện : Bạn tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định và trí huệ, đó là lục độ vạn hạnh, lợi ích chúng sinh đó
là nghiệp thiện.
2. Nghiệp ác : Bạn không tu lục độ vạn hạnh, không lợi ích chúng
sinh, chuyên làm việc tổn hại người lợi mình, đó là nghiệp ác.
3. Nghiệp thiện ác hỗn tạp : Tạo nghiệp thiện thì có thể sinh về cõi
trời, tạo nghiệp ác thì có thể đọa vào địa ngục. Nếu tạo nửa nghiệp
thiện nửa nghiệp ác thì có thể làm người, cũng có thể làm súc sinh.
Thiện nhiều ác ít thì gặp thuận cảnh, nếu ác nhiều thiện ít thì gặp
nghịch cảnh, cho nên nếu chúng ta :‘’đừng làm các điều ác, mà làm
các điều thiện‘’, thì sẽ dứt sạch nghiệp ác, tăng trưởng nghiệp
thiện, như thế thì sẽ đắc được giải thoát.
Vị Thiên Vương này dùng đủ thứ ngôn ngữ văn tự, để nói rõ về lý
thiện ác, khiến cho chúng sinh biết nghiệp thiện và nghiệp ác, đều
hổ tương biến hóa. Nếu trong thiện có ác, thì quả báo đắc được cũng
có tốt có sấu. Nếu trong ác có thiện thì quả báo đắc được cũng có
khổ có vui. Ðó là sức lực hổ tương biến hóa. Tóm lại, trồng nhân gì
thì kết quả đó. Trồng nhân thiện thì kết quả tốt, trồng nhân ác thì
kết quả xấu, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.
Tịch Tĩnh Âm Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, lìa bỏ
tất cả sự phan duyên.
Vị Tịch Tĩnh Âm Quang Minh Thiên Vương đắc được môn giải thoát, xả
lìa tất cả phan duyên. Một số chúng sinh thường có đủ thứ tâm phan
duyên. Phan duyên là gì ? Tức là muốn được lợi ích, dùng đủ thứ thủ
đoạn để phan duyên, đó là vì danh mà phan duyên. Nếu khiến được sáu
căn không phan duyên với sáu trần, thì tâm sẽ thanh tịnh. Trên thế
giới này có hai loại người, một là vì danh mà phan duyên, một là vì
lợi mà phan duyên. Cầu danh thì chết về danh, chết ở trong lửa, cầu
lợi thì chết về lợi, chết ở trong nước. Danh thuộc về lửa, lợi thuộc
về nước. Kẻ vì danh lợi mà phan duyên, thì không bị lửa thiêu chết
thì cũng bị chết vì nước. Vị Thiên Vương này buông xả hết tâm phan
duyên, đắc được môn giải thoát tự tại.
Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương được môn giải thoát, diệt trừ
tâm si tối của tất cả chúng sinh, khiến cho họ được trí huệ viên
mãn.
Vị Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương này, khiến cho tất cả chúng
sinh tiêu diệt tâm ngu si đen tối, khiến cho trí huệ của tất cả
chúng sinh đều viên mãn. Tại sao có tâm si ám ? Vì không có trí huệ.
Vị Thiên Vương này, khiến cho chúng sinh tu tập Bát Nhã. Bát Nhã
càng ngày càng tăng trưởng thì, đen tối càng ngày càng tiêu diệt.
Như vậy thì trí huệ sẽ viên mãn, viên mãn tức là giác ngộ, giác ngộ
tức là giải thoát. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương được môn giải thoát, thị hiện vô
biên âm thanh vừa ý.
Vị Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương này do thanh trần mà ngộ đạo. Âm
thanh của vị này phát ra, khiến cho chúng sinh nghe được đều sinh
vui mừng, không những khiến cho chúng sinh vui mừng mà cũng khiến
cho chúng sinh được giải thoát, đó là môn giải thoát thị hiện vô
biên âm thanh vừa ý của vị này đắc được.
Niệm Quang Thiên Vương được môn giải thoát, biết rõ vô tận tướng
phước đức của tất cả chư Phật.
Vị Niệm Quang Thiên Vương minh bạch vô tận phước đức tướng, của tất
cả chư Phật trong mười phương ba đời. Ba mươi hai tướng và tám mươi
vẻ đẹp của Phật, đều là do lúc ở tại nhân địa thì, Phật tu từng chút
từng chút mà thành, tích lũy từng chút từng chút, cho nên tu thành
vô tận phước và vô tận đức, mới đắc được tướng tốt như vậy để trang
nghiêm thân, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Tối Thượng Vân Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, biết hết tất
cả kiếp, thứ tự thành hoại trong quá khứ.
Vị Vân Âm Thiên Vương này đắc được cảnh giới không gì mà chẳng biết.
Trong quá khứ vô lượng vô biên kiếp thứ tự thành trụ hoại không.
Kiếp nào thành, kiếp nào trụ, kiếp nào hoại, kiếp nào không, vị này
đều biết. Biết rõ kiếp nào trước kiếp nào sau. Thời đại chúng ta bây
giờ gọi là kiếp Hiền, quá khứ gọi là kiếp Trang Nghiêm, vị lai gọi
là kiếp Tinh Tú. Kiếp hiện tại sẽ có một ngàn vị Thánh hiền nhân
xuất hiện ra đời. Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Thánh hiền nhân thứ tư.
Tương lai vị Thánh hiền nhân thứ năm là Bồ tát Di Lặc. Ðó là môn
giải thoát của vị này đắc được.
Thắng Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, khai ngộ trí huệ
của tất cả chúng sinh.
Vị Thắng Quang Thiên Vương này, thắng hơn tất cả quang minh của
Thiên Vương, vị này đắc được khai ngộ tất cả trí huệ tất cả chúng
sinh. Trong sự khai ngộ bao quát : khai Phật tri kiến, thị Phật tri
kiến, ngộ Phật tri kiến và nhập Phật tri kiến bốn thứ. Khai ngộ tất
cả chúng sinh trí, tức là khai ngộ tất cả chúng sinh, khiến cho họ
đắc được bốn thứ tri kiến, cho nên gọi là nhất thiết trí. Nhất thiết
trí tức là Phật trí, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này.
Diệu Kế Thiên Vương, được môn giải thoát, phóng quang chiếu đầy
khắp cõi hư không trong mười phương.
Vị Diệu Kế Thiên Vương này, đắc được một môn giải thoát đó là, phóng
quang chiếu sáng mười phương, tận hư không khắp pháp giới, không chỗ
nào mà không chiếu, không chỗ nào mà không có. Cho nên quang minh
của vị này phóng ra sung mãn tất cả cõi hư không, đó là môn giải
thoát của vị Thiên Vương này đắc được.
Hỷ Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, sức tinh tấn tất cả việc
làm không ai phá hoại được.
Vị Hỷ Huệ Thiên Vương hoan hỷ có đại trí huệ. Vị này đắc được tất cả
việc thiện, chẳng có ai phá hoại được. Tất cả công đức của vị này
làm, cũng chẳng có ai phá hoại được. Ðạo nghiệp của vị này tu, cũng
chẳng có ai phá hoại được. Vị này lại có sức tinh tấn, càng tu càng
tinh tấn, càng tinh tấn càng phát tâm, càng làm việc thiện càng
thích làm, càng tu công đức càng thích tu, luôn luôn tu hành, luôn
luôn tinh tấn, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Hoa Quang Kế Thiên Vương, được môn giải thoát, biết nghiệp thọ
báo của tất cả chúng sinh.
Vị Hoa Quang Kế Thiên Vương đắc được cảnh giới, biết sự tạo nghiệp,
sự thọ báo của tất cả chúng sinh tơ hào cũng không sai. Tạo nghiệp
sát sinh thì thọ quả báo sát sinh, tạo nghiệp trộm cắp thì thọ quả
báo trộm cắp, tạo nghiệp dâm thì thọ quả báo dâm, tạo nghiệp vọng
ngữ thì thọ quả báo vọng ngữ, đó là môn giải thoát của vị Thiên
Vương này đắc được.
Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương, được môn giải thoát, thị hiện
thân hình đủ loại chúng sinh, khác biệt không nghĩ bàn.
Vị Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương, đắc được cảnh giới, thị hiện đủ
loại hình chúng sinh. Mỗi loài chúng sinh, đều có hình khác nhau của
mỗi loài, chẳng giống nhau, đó là môn giải thoát của vị này đắc
được.
Bấy giờ, Thiện Hóa Thiên Vương, nương oai lực của đức Phật, quán
khắp tất cả chúng Thiện Hóa Thiên, mà nói ra bài kệ.
Vừa lúc Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương nói xong, thì lúc bấy giờ
vị Thiện Hóa Thiên Vương nương thần lực của Phật, quán sát khắp tất
cả Thiên chúng Thiện Hóa Thiên (Hoá Lạc Thiên) mà nói bài kệ này,
khiến cho Thiên chúng minh bạch nghĩa lý Phật pháp.
Tánh nghiệp thế gian không nghĩ bàn
Phật vì quần mê mà khai thị
Khéo nói nhân duyên lý chân thật
Tất cả chúng sinh nghiệp khác nhau.
‘’ Tánh nghiệp thế gian không nghĩ bàn.’’ Tánh nghiệp thế gian vi
diệu vô cùng không thể nghĩ bàn.
‘’ Phật vì quần mê mà khai thị.’’ Phật vì tất cả quần mê chúng sinh
trên thế gian, mà khai thị nhân duyên không thể nghĩ bàn.
‘’ Khéo nói nhân duyên lý chân thật.’’ Phật khéo dùng thiện xảo
phương tiện, diễn nói nghĩa lý chân thật nhân duyên sinh diệt với
nhau.
‘’ Tất cả chúng sinh nghiệp khác nhau.’’ Chúng sinh khởi hoặc, tạo
nghiệp, thọ báo, mỗi người đều khác nhau.
Các môn quán Phật không chỗ có
Tìm khắp mười phương không thể được
Pháp thân thị hiện không chân thật
Tịch Tĩnh Âm Thiên thấy môn này.
‘’ Các môn quán Phật không chỗ có.’’ Chúng sinh muốn quán pháp thân
của Phật, dùng hết đủ loại phương pháp cũng không nhìn thấy Phật.
Vậy nhìn không thấy Phật, phải chăng không có Phật ? Không phải.
Giống như chúng ta nhìn hư không, nhìn thấy hư không chăng ? Không
thấy. Vì hư không chẳng có hình tướng, nhìn không thấy hư không, mà
dùng đủ thứ phương pháp để xem hư không ra sao ? Kết quả vẫn nhìn
chẳng thấy, nếu nhìn thấy thì chẳng phải là hư không.
Pháp thân Phật cũng thế. Bạn nhìn không thấy hư không, nhưng không
thể nói là chẳng có hư không. Bạn nhìn không thấy Phật, nhưng không
thể nói là chẳng có Phật, đó là đạo lý tương đồng.
‘’ Tìm khắp mười phương không thể được.’’ Muốn đến mười phương để
tìm Phật, chẳng thể được vì pháp thân Phật là vô tại vô bất tại.
‘’ Pháp thân thị hiện không chân thật.’’ Pháp thân của Phật như hư
không. Chỗ nào có hư không thì chỗ đó có pháp thân Phật tồn tại, cho
nên nói pháp thân không có tánh chân thật.
‘’ Tịch Tĩnh Âm Thiên thấy môn này.’’ Vị Tịch Tĩnh Âm Quang Minh
Thiên Vương thấy được, hiểu được môn giải thoát này.
Phật trong biển kiếp tu các hạnh
Vì diệt si tối hoặc thế gian
Trí huệ thanh tịnh chiếu sáng nhất
Lực Quang Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Phật trong biển kiếp tu các hạnh.’’ Mỗi vị Phật đều ở trong vô
lượng biển kiếp mà tu thành, cho nên tất cả chư Phật đều siêu việt
hơn người. Vì tâm nhẫn nại của Phật lớn nhất, bất cứ gặp việc gì
cũng đều nhẫn nhục được, nhẫn được những gì người khác không thể
nhẫn. Bất cứ gặp việc gì cũng đều khiêm nhường, nhường những gì
người khác không thể nhường. Bất cứ gặp việc gì cũng đều chịu được,
chịu những gì người khác không thể chịu được. Phật tu đủ thứ hạnh
môn như vậy, đều tu hành viên mãn.
Phật có đại nhẫn nhục, đại khiêm nhường, đại chịu đựng, đều do tu
tập các hạnh mà được. Phật đại bố thí, đại trì giới, đại nhẫn nhục,
đại tinh tấn, đại thiền định, đại Bát nhã cũng do tu các hạnh mà
được.
‘’ Vì diệt si tối hoặc thế gian.’’ Tại sao Phật phải tu các hạnh ?
Vì muốn diệt trừ tất cả : vô minh, ngu si, đen tối của chúng sinh
thế gian. Vô minh sinh ra tức là ngu si. Ngu si tức là đen tối. Phải
diệt sạch si, ám, hoặc thì sẽ đắc được đại quang minh tạng.
‘’ Trí huệ thanh tịnh chiếu sáng nhất.’’ Trí huệ của Phật thanh tịnh
nhất, chiếu khắp tất cả quang minh, khiến tất cả chúng sinh dứt sạch
si ám hoặc, cũng đắc được trí huệ quang minh.
‘’ Lực Quang Thiên Vương ngộ môn này.’’ Cảnh giới này vị Biến Hóa
Lực Quang Minh Thiên Vương ngộ được.
Tất cả diệu âm thanh thế gian
Không thể sánh được tiếng Như Lai
Phật dùng một âm khắp mười phương
Trang Nghiêm Thiên Vương chứng môn này.
‘’ Tất cả diệu âm thanh thế gian.’’ Trong thế gian có nhiều âm thanh
hay, ai ai cũng đều thích nghe, nghe rồi thì sinh tâm mê hoặc. Do đó
Lão Tử có nói : ‘’
Ngũ sắc khiến cho người mờ mắt,
Ngũ âm khiến cho người tai điếc,
Ngũ vị khiến người miệng lầm lỡ.’’
Ngũ sắc : Tức là xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Ngũ sắc này hổ tương
tạp loạn, khiến cho con mắt phân biệt không rõ ràng cứu kính là màu
gì ? Giống như người mắt mờ, cho nên nói năm màu làm cho người mờ
mắt.
Ngũ âm : Tức là cung, thương, giác, chủy, vũ. Năm âm thanh này êm
tai vô cùng, làm cho người nghe rồi sinh mê hoặc, bị ngũ âm mê hoặc
rồi thì chẳng có trí huệ. Người chẳng có trí huệ thì sẽ làm việc
điên đảo, cho nên nói ngũ âm khiến cho người tai điếc.
Ngũ vị : Tức là ngọt, mặn, đắng, chua, cay. Năm vị này điều hòa hợp
khẩu vị, khiến cho người thích ăn, càng thích ăn thì càng ăn, khiến
cho chân chánh trí huệ của con người bị mê hoặc, cho nên nói ngũ vị
khiến cho người miệng lầm lỡ.
‘’ Không thể sánh được tiếng Như Lai.’’ Bất cứ âm thanh gì trên thế
gian, đều không thể sánh với âm thanh của Ðức Phật. Âm thanh của
Phật là hay nhất, biến hóa vô cùng, bất cứ một loài chúng sinh nào
nghe cũng đều hiểu được.
‘’ Phật dùng một âm khắp mười phương.’’ Phật dùng một thứ âm thanh
thuyết pháp, mà mười phương thế giới đều nghe được diệu âm này,
không những nghe được mà còn hiểu được nghĩa lý pháp của Phật nói.
‘’ Trang Nghiêm Thiên Vương chứng môn này.’’ Vị Trang Nghiêm Chủ
Thiên Vương được cảnh giới môn giải thoát này.
Tất cả phước báu của thế gian
Không bằng một tướng của Như Lai
Phước đức Như Lai đồng hư không
Niệm Quang Thiên Vương quán sát thấy.
‘’ Tất cả phước báu của thế gian.’’ Tại sao chúng ta thọ khổ ? Vì
chúng ta chẳng tu phước. Tại sao Phật không khổ ? Vì Phật tu phước
tu huệ trong ba đại A tăng kỳ kiếp. Do đó :
‘’ Chịu khổ thì hết khổ,
Hưởng phước thì hết phước.’’
Phước là do tích lũy từng chút từng chút mà thành. Chúng ta luôn
luôn làm lợi ích cho người là tu phước, luôn luôn giúp đỡ người là
tu phước, luôn luôn không ích kỷ là tu phước, luôn luôn không tư lợi
là tu phước. Tóm lại luôn luôn phải vun bồi tu phước.
‘’ Chẳng bằng một tướng của Như Lai.’’ Tất cả phước báu của thế
gian, không thể so sánh bất cứ một tướng nào, trong ba mươi hai
tướng của Phật. Do đó :
‘’ Ba Tăng kỳ tu phước huệ,
Trăm kiếp trồng tướng tốt.’’
Khi Ðức Phật tại nhân địa thì, dù phước rất nhỏ cũng phải tu, không
bỏ qua, thời gian trải qua ba đại A tăng kỳ tu hành, mới đắc được ba
mươi hai tướng tốt.
‘’ Phước đức Như Lai đồng hư không.’’ Phước đức của Phật vô lượng vô
biên giống như hư không.
‘’ Niệm Quang Thiên Vương quán sát thấy.’’ Cảnh giới này vị Niệm
Quang Thiên Vương quán sát thấy được, và hiểu được đạo lý này.
Tất cả vô lượng kiếp ba đời
Như thành trụ hoại không các tướng
Một lỗ lông Phật đều hiện được
Tối Thượng Vân Âm biết rõ hết.
‘’ Tất cả vô lượng kiếp ba đời.’’ Trong đời quá khứ có vô lượng
kiếp, trong đời hiện tại có vô lượng kiếp, trong đời vị lai có vô
lượng kiếp. Ba đời có vô lượng số đại kiếp.
‘’ Như thành trụ hoại không các tướng.’’ Như kiếp : thành, trụ,
hoại, không. Tướng kiếp thành là gì ? Tướng kiếp trụ, tướng kiếp
hoại, tướng kiếp không là gì ?
Một lỗ lông Phật đều hiện được.’’ Tướng bốn kiếp này, trong một lỗ
lông của Phật, đều hiện ra được, có thể lấy quá khứ đem về hiện tại,
lại có thể lấy vị lai đem về hiện tại, lại có thể lấy hiện tại đem
về quá khứ hoặc vị lai, lấy quá khứ đem về vị lai, lấy vị lai đem về
quá khứ, hổ tương biến hóa vô cùng.
‘’ Tối Thượng Vân Âm biết rõ hết.’’ Trong lỗ lông của Phật hiện ra
đủ loại cảnh giới, đó là cảnh giới giải thoát vị Tối Thượng Vân Âm
Thiên Vương thấy và hiểu tường tận.
Mười phương hư không có thể lường
Nhưng không thể lường lỗ lông Phật
Như vậy vô ngại không nghĩ bàn
Diệu Kế Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Mười phương hư không có thể lường.’’ Hư không là vô tận vô biên,
bổn lai không thể biết lượng rộng lớn của nó. Bây giờ thì cho rằng
có thể biết lượng của hư không.
‘’ Nhưng không thể lường lỗ lông Phật.’’ Tuy nhiên biết được lượng
của mười phương hư không, nhưng lượng lỗ lông của Phật không biết
được, cũng không thể hiểu được.
‘’ Như vậy vô ngại không nghĩ bàn.’’ Lượng hư không có thể biết,
nhưng lượng lỗ lông của Phật không cách chi biết được. Tại sao ? Vì
lỗ lông của Phật dung nạp được vô lượng hư không. Mười phương hư
không đều bao quát ở trong một lỗ chân lông của Phật, đó là cảnh
giới viên dung vô ngại không thể nghĩ bàn.
‘’ Diệu Kế Thiên Vương ngộ môn này.’’ Ðây là cảnh giới giải thoát
của vị Diệu Kế Thiên Vương minh bạch được.
Phật trong vô lượng kiếp xa xưa
Tu đủ các pháp Ba la mật
Siêng hành tinh tấn không biếng lười
Hỷ Huệ biết được pháp môn này.
‘’ Phật trong vô lượng kiếp xa xưa.’’ Phật ở trong vô kiếp quá khứ
xa xưa, tu các pháp môn Ba la mật.
‘’ Tu đủ các pháp Ba la mật.’’ Phật rộng tu đầy đủ viên mãn các pháp
Ba la mật. Ba la mật dịch là "đáo bỉ ngạn" (đến bờ kia). Pháp Ba la
mật rộng lớn này, từ Ba la mật nhỏ mà hạ thủ công phu, tích lũy từng
chút từng chút mà thành. Ba la mật nhỏ tu nhiều rồi thì thành Ba la
mật rộng lớn.
‘’ Siêng hành tinh tấn không biếng lười.’’ Phật tu pháp Ba la mật
thì, không màng lớn nhỏ hoặc cao thấp đều tu hết, tức là pháp vi tế
nhất cũng tu, tuyệt đối không bỏ qua. Phật tu lục độ Ba la mật thì,
rất cẩn thận mà nhận chân, ‘’ không chê việc thiện nhỏ mà không làm,
còn việc ác dù nhỏ cũng không làm.’’ Như thế trải qua thời gian dài
lâu, mới tu đầy đủ các pháp Ba la mật, tức cũng là pháp đến bờ bên
kia. Phật tu hành thì luôn luôn không giải đãi lười biếng, luôn luôn
tinh tấn.
‘’ Hỷ Huệ biết được pháp môn này.’’ Hỷ Huệ Thiên Vương biết rõ ràng
Ðức Phật tu pháp môn này.
Nhân duyên tánh nghiệp không nghĩ bàn
Phật vì thế gian mà diễn nói
Pháp tánh vốn sạch không dơ bẩn
Môn này Hoa Quang thấu triệt được.
‘’ Nhân duyên tánh nghiệp không nghĩ bàn.’’ Tánh của ghiệp vốn chẳng
có, vì chúng sinh vô minh cho nên sinh ra hoặc, hoặc sinh ra rồi thì
tạo nghiệp. Khi hiểu biết thì tạo nghiệp thiện ; khi hồ đồ thì tạo
nghiệp ác. Tạo nghiệp thiện thì có nhân duyên thiện ; tạo nghiệp ác
thì có nhân duyên ác. Như vậy chẳng có pháp nhất định, không thể nói
nhất định là như vầy, cũng không thể suy lường, chẳng phải một số
người minh bạch được.
‘’ Phật vì thế gian mà diễn nói.’’ Phật vì tất cả chúng sinh thế
gian, cho nên thường nói pháp nhân duyên tánh của nghiệp. Khiến cho
chúng sinh minh bạch nguồn gốc tánh của nghiệp, nhân duyên gì thì
sinh tánh nghiệp đó.
‘’ Pháp tánh vốn sạch không dơ bẩn.’’ Bất cứ pháp gì, bản tính của
nó đều thanh tịnh, chẳng có dơ bẩn.
‘’ Môn này Hoa Quang thấu triệt được.’’ Hoa Quang Kế Thiên Vương, do
cảnh giới này mà ngộ nhập đắc được môn giải thoát này.
Hãy quán một lỗ lông của Phật
Tất cả chúng sinh đều ở trong
Ðó đây không đến cũng không đi
Phổ Kiến Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Hãy quán một lỗ lông của Phật.’’ Bạn hãy quán sát kỹ càng trong
mỗi lỗ chân lông của Phật có những gì ?
‘’ Tất cả chúng sinh đều ở trong.’’ Chỉ cần quán sát kỹ thì, sẽ thấy
tất cả chúng sinh, đều ở trong lỗ lông của Phật, đó là đạo lý gì ?
‘’ Ðó đây không đến cũng không đi.’’ Chúng sinh cũng không đến trong
lỗ chân lông Phật, Phật cũng chẳng đi bên cạnh chúng sinh. Nhưng
chúng sinh đều xuất hiện ở trong lỗ lông của Phật, đó là cảnh giới
không thể nghĩ bàn.
Phật cũng chẳng đến, chúng sinh cũng chẳng đến ; Phật cũng chẳng đi,
chúng sinh cũng chẳng đi, nhưng cảnh giới này xuất hiện, cho nên nói
đó đây chẳng đến cũng chẳng đi.
‘’ Phổ Kiến Thiên Vương ngộ môn này.’’ Cảnh giới này Phổ Kiến Thiên
Vương thấy rõ mà đắc được môn giải thoát không thể nghĩ bàn này.
Lại nữa, Tri Túc Thiên Vương, được
môn giải thoát, tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, đều chuyển bánh xe
pháp giáo lý viên mãn.
Vị Tri Túc Thiên Vương này thuộc về từng trời thứ tư (trời Ðâu Xuất)
của dục giới, vị này biết tri túc cho nên thường an lạc. Không tri
túc thì luôn luôn khổ. Như Bồ Tát Di Lặc, Ngài thường tri túc cho
nên Ngài luôn luôn hoan hỷ, mở miệng liền cười chẳng có sầu lo. Do
đó :‘’ tâm rộng thể mập‘’, tôn dung của Ngài đầu to tai lớn, mặt đầy
sự hoan hỷ vui cười, bụng to lớn, chịu đựng được những việc thiên hạ
không thể chịu đựng được. Bất cứ ai biết tri túc thì dù nghèo cũng
an vui. Nay có bài thơ tả về sự không biết đủ :
‘’ Suốt ngày bận rộn chỉ vì đói
Vừa mới ăn no nghĩ áo quần
Cơm áo hai thứ đều đầy đủ
Lại mơ dung nhan người vợ đẹp
Hỏi được vợ đẹp sinh con cái
Hận không ruộng vườn ít đất đai
Tậu được nhiều ruộng lắm đất đai
Ra vào không kiệu chẳng ngựa cưỡi
Mua được một số lừa và ngựa
Lại than chẳng được làm quan bị người khinh
Ðược làm quan huyện hiềm còn nhỏ
Lại muốn làm vua trong thiên hạ.’’
Ðó là hình dung của người tham lam không biết chán. Không bao giờ
biết đủ.
Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát : tất cả chư Phật trong
mười phương ba đời, xuất hiện ra đời chuyển pháp luân giáo lý viên
mãn.
Giáo lý viên mãn là gì ? Căn cứ theo Hiền Thủ Giáo thì phân làm :
Tiểu giáo, thủy giáo, chung giáo, đốn giáo, viên giáo. Tiểu, thủy,
chung ba giáo này là bán tự giáo. Ðốn, viên hai giáo này là viên mãn
giáo. Căn cứ theo Thiên Thai Giáo thì phân làm tạng giáo, thông
giáo, biệt giáo, viên giáo. Tạng, thông hai giáo này là bán tự giáo,
biệt giáo là đối với bán tự giáo nói rõ mãn tự giáo, viên giáo là
mãn tự giáo. Thiên Thai Giáo còn có đốn, tiệm, bí mật, bất định bốn
giáo, đây là thuộc về bất viên giáo.
Những gì nói bây giờ là giáo lý viên mãn tức là viên giáo. Chuyển
bánh xe pháp giáo lý viên mãn, tức là pháp đại thừa. Kinh điển đại
thừa là gì ? Như : Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Niết Bàn,
Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Già, Kinh Kim Cang, Kinh Di Ðà .v.v.,
đều là pháp đại thừa. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát
chuyển bánh xe pháp giáo lý viên mãn.
Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương, được môn giải thoát, thân thanh tịnh
quang minh tận cõi hư không.
Vị Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương này hoan hỷ và khoái lạc phi thường. Vị
này đắc được cảnh giới, trí huệ thân thanh tịnh quang minh, tận cõi
hư không, và còn hiểu được pháp thân của Phật, tận hư không khắp
pháp giới, quang minh chiếu sáng khắp tất cả.
Tối Thắng Công Ðức Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, biển
nguyện thanh tịnh, tiêu diệt khổ của thế gian.
Vị Tối Thắng Công Ðức Tràng Thiên Vương này đầy đủ công đức thù
thắng nhất, giống như tràng báu cho nên được tên này.
Khổ thế gian có ba sự khổ, tám sự khổ, vô lượng sự khổ, những sự khổ
này không dễ gì tiêu diệt được. Nhưng vị Thiên Vương này tiêu diệt
được những sự khổ này, còn phát nguyện thanh tịnh nhiều như nước
trong biển, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Nay giải thích ba sự khổ, tám sự khổ và vô lượng sự khổ. Ba sự khổ
tức là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
1. Khổ khổ : Là khổ của người nghèo. Tuy nhiên ăn không được no, mặc
không đủ ấm, nhưng vẫn có nhà để ở, một ngày nọ chẳng may bị cháy,
không nhà để ở, đó là sự khổ trong sự khổ.
2. Hoại khổ : Là khổ của người giàu. Buôn bán chẳng may bị thua lỗ,
hoặc nhà cửa bị cháy, tài sản bị cháy sạch, hoặc bị trộm cướp, tất
cả đều mất hết, đó là khổ về sự hủy hoại.
3. Hành khổ : Chẳng phải khổ khổ của người nghèo, cũng chẳng phải
hoại khổ của kẻ giàu, mà là khổ về sinh già bệnh chết của con người.
Là con người đến lúc thì sinh già bệnh chết đều đến để tìm phiền
não, chính mình chẳng làm chủ được, đó là hành khổ.
Tám sự khổ là sinh, già, bệnh, chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu
bất đắc, ngũ ấm xí thạnh.
1. Khổ về sinh : Sinh khổ như thế nào ? Khi sinh ra thì giống như
rùa bị lột mu, sự khổ không thể nói được.
2. Khổ về già : Về già thì tai điếc, mắt mù, tay chân yếu ớt, bạn
nói khổ chăng ?
3. Khổ về bệnh : Bệnh thì toàn thân đau khổ, không tự tại, cũng rất
khổ.
4. Khổ về chết : Chết thì giống như bò bị lột da, khó mà tả được.
Lúc này dù muốn niệm Phật, cũng niệm không ra. Cho nên lúc bình
thường phải niệm Phật cho nhiều, huấn luyện thành tự nhiên, thành
tập quán, đến khi lâm chung thì tâm miệng nhớ niệm Phật, không bị
hoảng hốt.
5. Khổ về ái biệt ly : Khi người thân sinh ly tử biệt là việc đau
khổ nhất của con người.
6. Khổ về ghét mà gặp nhau : Người mà bạn không thích, ghét mà
thường gặp, đó cũng là một nỗi khổ.
7. Khổ về cầu không được : Cầu tài không được tài, cầu danh không
được danh, cầu con cái không được cũng khổ.
8. Khổ về năm ấm xí thạnh : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức năm ấm này
giống như lửa lớn thiêu đốt, khiến cho bạn không được tự tại mát mẻ
cũng là khổ.
Vô lượng khổ tức là khổ không nói hết được. Thế giới Ta Bà này đầy
dẫy sự thống khổ, nhưng chúng sinh thế giới này lấy khổ làm vui, còn
không muốn ra khỏi tam giới, thật đáng thương xót !
Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, khắp hiện thân
để thuyết pháp.
Vị Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương này ở trong định phóng ra trí huệ
quang minh, thấy Phật hiện thân khắp các nơi, vì chúng sinh mà
thuyết pháp, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Thiện Mục Thiên Vương, được môn giải thoát, tịnh khắp tất cả cõi
chúng sinh.
Vị Thiện Mục Thiên Vương này, dùng mắt từ bi xem chúng sinh, rất có
thiện duyên với chúng sinh. Vị này minh bạch đức Phật, khiến cho
chúng sinh từ nhiễm ô chuyển thành thanh tịnh, từ ngu si chuyển
thành trí huệ, từ kiêu ngạo chuyển thành khiêm nhường, từ tham sân
chuyển thành từ bi, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Bảo Phong Nguyệt Thiên Vương, được môn giải thoát, vô tận tạng
thường hiện tiền giáo hóa khắp thế gian.
Vị Bảo Phong Nguyệt Thiên Vương hiểu đức Phật giáo hóa khắp tất cả
chúng sinh thế gian, thường hiện ở trước mặt chúng sinh, dùng pháp
môn vô tận tạng để giáo hóa chúng sinh vô tận, đó là môn giải thoát
của vị này đắc được.
Dũng Kiện Lực Thiên Vương, được môn giải thoát, khai thị tất cả
cảnh giới thành Chánh Giác của chư Phật.
Vị Dũng Kiện Lực Thiên Vương này rất dũng mãnh và cường kiện, sức
lực của vị này hàng phục được tất cả thiên ma ngoại đạo, đắc được
môn giải thoát cảnh giới tất cả Phật thành chánh giác.
Phật tu thành chánh giác như thế nào ? Khi vị Phật này thành chánh
giác, có cảnh giới gì ? Vị Phật kia thành chánh giác, có cảnh giới
gì ? Vị Thiên Vương này đều hiểu rõ.
Kim Cang Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, khiến tâm
bồ đề của tất cả chúng sinh, kiên cố không thể hoại.
Vị Kim Cang Diệu Quang Thiên Vương phát bồ đề tâm kiên cố như kim
cang, vĩnh viễn không thối bồ đề tâm. Và có diệu quang kim cang trí
huệ, vị này đắc được chư Phật kiên cố tất cả bồ đề tâm chúng sinh,
khiến cho không thối chuyển, bồ đề tâm này kiên cố như kim cang,
chẳng có cách chi có thể phá hoại, đó là môn giải thoát của vị này
đắc được.
Tinh Tú Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, tất cả chư Phật
xuất hiện ra đời, đều gần gũi quán sát phương tiện điều phục chúng
sinh.
Vị Tinh Tú Tràng Thiên Vương này, đắc được cảnh giới tất cả chư Phật
xuất hiện ra đời, thì đều gần gũi chư Phật, để nghe pháp và quán sát
pháp của chư Phật tu hành. Chúng sinh khó điều khó phục, nhưng tất
cả chư Phật điều phục được tất cả chúng sinh cang cường, dùng đủ thứ
phương tiện pháp môn để điều phục, khiến cho chúng sinh cải ác hướng
thiện, chí công vô tư, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này
đắc được.
Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương, được môn giải thoát, tùy cơ ứng
hiện, một niệm biết được tâm chúng sinh.
Vị Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương vừa trang nghiêm vừa vi diệu, vị
này minh bạch được chư Phật trong khoảng một niệm, biết được tâm
chúng sinh, tùy sở thích của chúng sinh mà hiện thân, vì chúng sinh
thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh, toại tâm mãn
nguyện, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Bấy giờ, Tri Túc Thiên Vương nương oai lực của Ðức Phật, quán sát
khắp tất cả Thiên chúng trời Tri Túc mà nói kệ rằng.
Lúc đó, vị Tri Túc Thiên Vương, nương đại oai đức thần thông lực của
chư Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Tri Túc (trời Ðâu
Xuất) mà nói kệ rằng :
Như Lai rộng lớn khắp pháp giới
Nơi các chúng sinh đều bình đẳng
Ứng khắp quần sinh xiển diệu môn
Khiến vào pháp thanh tịnh khó lường.
‘’ Như Lai rộng lớn khắp pháp giới.’’ Pháp thân của Phật rộng lớn
cho nên đến khắp pháp giới.
‘’ Nơi các chúng sinh đều bình đẳng.’’ Tuy nhiên pháp thân của Phật
đến khắp pháp giới, nhưng đều bình đẳng với tất cả chúng sinh, do đó
:‘’ Tâm, Phật, chúng sinh, cả ba không khác biệt.’’
‘’ Ứng khắp quần sinh xiển diệu môn.’’ Ứng khắp căn cơ của chúng
sinh, để nói rõ tất cả pháp môn vi diệu không thể nghĩ bàn.
‘’ Khiến vào pháp thanh tịnh khó lường.’’ Khiến cho tất cả chúng
sinh, nhập vào trong pháp môn thanh tịnh không thể nghĩ bàn, đắc
được khoái lạc vô thượng, đắc được đại giác viên mãn, đó là bản hoài
của tất cả chư Phật.
Thân Phật hiện khắp trong mười phương
Vô trước vô ngại không thể lấy
Ðủ thứ sắc tướng thảy đều thấy
Hỷ Kế Thiên Vương được môn này.
‘’ Thân Phật hiện khắp trong mười phương.’’ Pháp thân của Phật, hiện
khắp cõi nước chư Phật trong mười phương, để giáo hóa tất cả chúng
sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, phát vô thượng bồ đề tâm, thành
vô thượng bồ đề quả.
Ðức Phật chẳng phải cố ý biểu hiện thần thông, mà là vì giáo hóa tất
cả chúng sinh, khiến cho họ sớm thành Phật đạo, cho nên mới thị hiện
đủ loại thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn.
‘’ Vô trước vô ngại không thể lấy.’’ Tuy nhiên Phật thị hiện thần
thông diệu dụng, nhưng chẳng chấp trước về thần thông diệu dụng,
cũng chẳng chấp trước về chân không và cũng không ngại diệu hữu, do
đó :
‘’ Vô trước nơi chân không, cho nên có diệu dụng ;
Vô ngại nơi diệu dụng, cho nên có chân không.’’
Chân không diệu hữu là không thể lấy không thể bỏ, tức là giữ lấy
chẳng đặng mà xả cũng chẳng đặng, đó là cảnh giới chân không diệu
hữu.
‘’ Ðủ thứ sắc tướng thảy đều thấy.’’ Vì quan hệ diệu hữu, cho nên
Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, chúng sinh thế gian
đều có thể nhìn thấy được.
‘’ Hỷ Kế Thiên Vương được môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát này,
vị Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương đắc được.
Quá khứ Như Lai tu các hạnh
Thanh tịnh đại nguyện sâu như biển
Tất cả Phật pháp đều đầy đủ
Thắng Ðức Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Quá khứ Như Lai tu các hạnh.’’ Phật tại nhân địa tu lục độ vạn
hạnh, tu tất cả các pháp môn. Vì hành Bồ tát đạo, đã từng bố thí
sinh mạng của mình, chỉ cần tất cả chúng sinh, cần tất cả mọi sự thì
Phật đều bố thí, tuyệt đối không xan tham.
‘’ Thanh tịnh đại nguyện sâu như biển.’’ Phật tại nhân địa tu đủ thứ
hạnh môn, để lợi ích chúng sinh và còn phát đại nguyện thanh tịnh để
hóa độ chúng sinh. Ðại nguyện thanh tịnh tức là, chẳng còn một chút
tâm dục niệm, tức cũng là đoạn dục khử ái. Nguyện đời đời kiếp kiếp
xuất gia tu hành, tu giới tu định tu huệ, xa rời tất cả pháp nhiễm
ô. Nguyện lực của Phật sâu rộng như biển, cao như núi Tu Di.
‘’ Tất cả Phật pháp đều đầy đủ.’’ Vì đại nguyện sâu hơn biển cả, cao
hơn núi, cho nên tất cả Phật pháp, đều đầy khắp thế gian, để giáo
hóa tất cả chúng sinh. Phật đắc được Phật pháp viên mãn, cũng dạy
chúng sinh đắc được Phật pháp viên mãn, đó là biểu hiện đại từ đại
bi của Phật.
‘’ Thắng Ðức Thiên Vương ngộ môn này.’’ Vị Tối Thắng Công Ðức Tràng
Thiên Vương biết được pháp môn phương tiện này, đó là cảnh giới
không thể nghĩ bàn.
Pháp thân Như Lai không nghĩ bàn
Như bóng phân hình đồng pháp giới
Nơi nơi xiển minh tất cả pháp
Tịch Tĩnh Quang Thiên chứng môn này.
‘’ Pháp thân Như Lai không nghĩ bàn.’’ Pháp thân của Phật không thể
suy nghĩ, không thể luận bàn. Tại sao ? Vì pháp thân khắp tất cả mọi
nơi.
‘’ Như bóng phân hình đồng pháp giới.’’ Giống như bóng với hình, đầy
khắp pháp giới, khắp nơi đều có pháp thân của Phật. Do đó, pháp thân
của Phật vô tại vô bất tại. Cảnh giới này, phàm phu chúng ta không
thể hiểu biết được.
‘’ Nơi nơi xiển minh tất cả pháp.’’ Pháp thân của Phật đến khắp mọi
nơi, để xiển minh tất cả các pháp, khiến cho chúng sinh minh bạch
tất cả các pháp.
‘’ Tịch Tĩnh Quang Thiên chứng môn này.’’ Môn giải thoát này vị Tịch
Tĩnh Quang Thiên Vương đắc được.
Chúng sinh bị nghiệp hoặc ràng buộc
Kiêu mạn phóng dật tâm buông lung
Như Lai vì nói pháp tịch tĩnh
Thiện Mục thấu rõ pháp môn này.
‘’ Chúng sinh bị nghiệp hoặc ràng buộc.’’ Chúng sinh : khởi hoặc,
tạo nghiệp, cho nên phải chịu quả báo. Giống như bị dây thừng trói
buộc, không thể động đậy và giống như ở trong lu, bị đậy nắp lại
không thể động đậy được.
‘’ Kiêu mạn phóng dật tâm buông lung.’’ Kiêu là kiêu mạn, mạn là ngã
mạn. Kiêu ngạo là khinh khi người, chẳng coi ai ra gì, ngã mạn là
chẳng có lễ phép. Phóng dật là không giữ quy cụ. Ba hành vi không
chánh đáng này, khiến cho tâm thần lêu lổng. Phật dạy chúng sinh
phải thu tâm lại, tâm đừng chạy bên ngoài, đừng lêu lổng, phải xa
rời ba tư tưởng không chánh đáng này.
‘’ Như Lai vì nói pháp tịch tĩnh.’’ Làm thế nào để từ bỏ tư tưởng
kiêu ngạo, ngã mạn và phóng dật ? Phật vì chúng sinh nói pháp tịch
tĩnh, đó là thuốc rất hiệu nghiệm, tiêu diệt ba thứ tư tưởng không
tốt này.
‘’ Thiện Mục thấu rõ pháp môn này.’’ Ðó là cảnh giới môn giải thoát
vị này đắc được.
Tất cả chân đạo sư thế gian
Vì cứu chúng sinh mà xuất hiện
Khiến khắp chúng sinh được an lạc
Phong Nguyệt thâm nhập pháp môn này.
‘’ Tất cả chân đạo sư thế gian.’’ Thế gian chẳng phải là một, mà là
có vô lượng vô biên thế gian, cho nên nói tất cả thế gian. Trong
tất cả thế gian phân làm ba thế gian :
1. Chánh giác thế gian : Tức là lúc Phật còn tại thế.
2. Khí thế gian : Tức là sơn hà đại địa, tức cũng là y báo.
3. Chúng sinh thế gian : Tức là thế giới chúng sinh ở, tức là chánh
báo.
Còn có lối nói khác, phân ra thế gian này, thế gian kia và vô lượng
các thế gian. Thế giới này, thế giới kia và vô lượng thế giới. Quốc
độ này, quốc độ kia và vô lượng các quốc độ, đó cũng gọi là tất cả
thế gian.
Chân đạo sư tức là đạo sư chỉ dẫn chân chánh, cũng là đạo sư chân
chánh hiểu biết tất cả chân lý, chẳng có tâm ích kỷ tự lợi, là đại
công vô tư, đại từ bình đẳng, giáo hóa hết thảy tất cả chúng sinh,
bất cứ là thiện hay ác đều chẳng có tâm phân biệt, đều giáo hóa bình
đẳng. Chúng sinh thiện thì khiến cho họ thiện căn tăng trưởng, chúng
sinh ác thì khiến cho họ cải ác hướng thiện. Ðức Phật chẳng bỏ một
chúng sinh nào, cho nên mới là đạo sư chân chánh.
Phật là Ðạo sư xuất thế gian, hướng dẫn bạn từ con đường đen tối chỉ
dẫn đến con đường ánh sáng, khiến cho vô minh phiền não của bạn
thành bồ đề trí huệ, khiến cho bạn bỏ mê về giác, bỏ tà theo chánh,
cho nên là chân chánh đại đạo sư.
‘’ Vì cứu chúng sinh mà xuất hiện.’’ Phật xuất hiện ra đời, là vì
cứu độ tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, liễu sinh thoát tử, khiến
cho tất cả chúng sinh, đắc được chánh giác, đạt được Niết Bàn.
Trong Kinh Pháp Hoa có nói : ‘’ Phật vì một đại sự nhân duyên mà
xuất hiện ra đời.’’ Ðại sự nhân duyên đó là : sinh tử của chúng
sinh. Phật vì sinh tử của chúng sinh mà đến thế giới này.
‘’ Khiến khắp chúng sinh được an lạc.’’ Phật độ tất cả chúng sinh,
không riêng gì chúng sinh thiện mới độ, mà chúng sinh ác cũng đều độ
họ, khiến cho tất cả đều bỏ mê về giác, bỏ tà về chánh. An lạc tức
là chẳng có tham sân si tất cả phiền não. Khi đắc được an lạc chân
chánh thì sinh ra giới tâm, định tâm và huệ tâm.
‘’ Phong Nguyệt thâm nhập pháp môn này.’’ Bảo Phong Nguyệt Thiên
Vương minh bạch môn giải thoát này.
Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn
Ðều bao khắp tất cả pháp giới
Vào nơi các pháp đến bờ kia
Dũng Huệ chứng ngộ sinh vui mừng.
‘’ Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn.’’ Cảnh giới của mười phương
chư Phật diệu không thể tả, chẳng phải phàm phu hiểu biết được. Cảnh
giới này tuy nhiên không thể nghĩ bàn, nhưng không ra ngoài một niệm
tâm hiện tiền.
‘’ Ðều bao khắp tất cả pháp giới.’’ Pháp giới rộng lớn phi thường,
lớn mà không ở ngoài. Pháp giới cực nhỏ phi thường, nhỏ mà không ở
trong. Tất cả pháp giới tức là tất cả chúng sinh, tất cả chúng sinh
tức là tất cả pháp giới. Quang minh của Phật chiếu khắp tất cả pháp
giới, mỗi chúng sinh đều tiếp thọ được quang minh của Phật chiếu
sáng, khiến cho chúng sinh hiểu được nghĩa lý các pháp, y theo pháp
mà tu hành.
‘’ Vào nơi các pháp đến bờ kia.’’ Nếu y theo pháp tu hành, thì sẽ
đạt đến bờ bên kia không sinh không diệt. Từ tâm tham biến thành bố
thí, bèn đạt đến bờ bên kia bố thí. Từ không giữ giới mà giữ giới
được, bèn đạt đến bờ bên kia giới luật. Nguồn gốc tâm nóng giận quá
lớn, vì tâm sân hận quá nặng, khi hiểu Phật pháp rồi thì tu pháp môn
nhẫn nhục ; nhẫn nhục thì đối trị tâm sân hận. Tâm sân hận chẳng
còn, thì đạt được bờ bên kia nhẫn nhục. Nguồn gốc rất lười biếng,
việc gì cũng chẳng muốn làm, khi hiểu Phật pháp rồi, thì tinh tấn
không giải đãi, tức là đạt được bờ bên kia tinh tấn. Nguồn gốc chẳng
muốn ngồi thiền vì lưng ê chân đau phát chán nản, khi hiểu Phật pháp
rồi thì tự động muốn tu thiền định, tức là đạt được bờ bên kia thiền
định. Nguồn gốc rất ngu si, không rõ lý sự, khi hiểu Phật pháp rồi
thì siêng tụng Kinh điển, nghiên cứu tạng luận, đắc được trí huệ, đó
là bờ bên kia trí huệ.
‘’ Dũng Huệ chứng ngộ sinh vui mừng.’’ Vị Dũng Huệ Kiến Thiên Vương
minh bạch được cảnh giới này, cho nên trong tâm sinh ra đại hoan hỷ.
Nếu có chúng sinh đáng được độ
Nghe công đức Phật phát bồ đề
Trụ ở biển phước thường thanh tịnh
Diệu Quang quán thấy pháp môn này.
‘’ Nếu có chúng sinh đáng được độ.’’ Nếu như có chúng sinh, đáng
được sự giáo hóa của Phật, thì khiến cho họ, tiếp thọ được sự giáo
hóa của Phật. Những chúng sinh không đáng được độ, tức là chúng sinh
phạm ngũ nghịch mười điều ác. Ngũ nghịch tức là : Giết cha, giết mẹ,
giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng. Mười điều
ác tức là : Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, thêu dệt, hai lưỡi,
chưởi mắng, tham dục, sân hận, ngu si. Những loại chúng sinh này
không kham thọ được sự giáo hóa.
‘’ Nghe công đức Phật phát bồ đề.’’ Những chúng sinh kham thọ sự
giáo hóa, khi nghe công đức của Phật, thì đều phát tâm bồ đề, trên
cầu Phật đạo, dưới độ muôn loài. Phật khiến cho những chúng sinh
phát bồ đề tâm, vĩnh viễn không sinh tâm thối chuyển.
‘’ Trụ ở biển phước thường thanh tịnh.’’ Phật khiến cho họ trụ ở
trong biển phước, luôn luôn đắc được thanh tịnh, chẳng có tư tưởng
nhiễm ô.
‘’ Diệu Quang quán thấy pháp môn này.’’ Vị Kim Cang Diệu Quang Thiên
Vương quán sát và minh bạch được cảnh giới môn giải thoát này.
Mười phương cõi nước số hạt bụi
Hết thảy đều tụ nơi chư Phật
Cung kính cúng dường nghe Phật pháp
Trang Nghiêm Tràng thấy rõ môn này.
‘’ Mười phương cõi nước số hạt bụi.’’ Mười phương tức là : Ðông,
tây, nam, bắc, tứ duy, thượng, hạ. Mười phương cõi nước chư Phật
nhiều như số hạt bụi, cho nên gọi là cõi nước số hạt bụi.
Thế giới mà chúng ta đang ở, chỉ là một hạt bụi trong thế giới mà
thôi. Ngoài ra các thế giới khác, số lượng không cách chi mà tính
đếm được. Trong một số Kinh điển đều dùng Hằng hà sa số (số cát sông
Hằng) để đại biểu, bổn Kinh này dùng số hạt bụi để đại biểu. Tên gọi
tuy chẳng giống, nhưng ý nghĩa đều giống nhau.
‘’ Tất cả đều tụ nơi chư Phật.’’ Những bậc Bồ Tát đều tụ tập nơi chỗ
Ðức Phật.
‘’ Cung kính cúng dường nghe Phật pháp.’’ Mười phương chư Phật trong
mười phương thế giới, nói pháp không điên đảo, tất cả chúng sinh
nghe Phật nói pháp không điên đảo rồi, liền minh bạch pháp không
điên đảo. Pháp không điên đảo là gì ? Tức là pháp phá vô minh. Nếu
phá được vô minh thì dứt được tập khí phiền não, chẳng còn điên đảo
nữa.
Vì có vô minh mà sinh hoặc, sinh hoặc thì đi tạo đủ thứ nghiệp, sau
đó thì thọ đủ thứ quả báo, đó là khởi hoặc tạo nghiệp thọ quả báo.
‘’ Trang Nghiêm Tràng thấy rõ môn này.’’ Tất cả chúng sinh đến chỗ
chư Phật để nghe pháp, cung kính Phật, cúng dường Phật, cảnh giới
này vị Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương thấy rõ.
Biển tâm chúng sinh không nghĩ bàn
Không trụ không động không chỗ nương
Phật trong một niệm đều thấy rõ
Diệu Trang Nghiêm Thiên ngộ môn này.
‘’ Biển tâm chúng sinh không nghĩ bàn.’’ Chúng sinh tức là chúng
duyên giả hợp mà sinh. Có rất nhiều giống loài, mỗi loài có nhân
duyên của mỗi loài mà sinh. Thông thường có bốn thứ sinh :
1. Sinh bằng thai, như loài thú đi bằng bốn chân.
2. Sinh bằng trứng, như phi cầm hai chân.
3. Sinh bằng ẩm thấp như loại côn trùng.
4. Sinh bằng biến hóa như bươm bướm.
Con người thì sinh bằng
thai. Người trời thì hóa sinh, chúng sinh cõi Cực Lạc Thế Giới là
hóa sinh trên hoa sen, chúng sinh địa ngục là nghiệp cảm hóa sinh.
Nói rộng hơn, chúng sinh có chín loài :
1. Thai sinh.
2. Noãn sinh.
3. Thấp sinh.
4. Hóa sinh.
5. Có sắc.
6. Không sắc.
7. Có tưởng.
8. Không tưởng.
9. Chẳng có tưởng chẳng không tưởng.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, tám loài đồng như ở trên, riêng còn vài loài
nữa là : Chẳng có sắc, chẳng không sắc, chẳng có tưởng, chẳng không
tưởng, cộng thành mười hai loài. Thật ra đại đồng tiểu dị, nội dung
chẳng khác mấy.
Tâm chúng sinh như biển cả, không thể nghĩ bàn. Pháp giới tuy lớn
nhưng không ra ngoài tâm của chúng sinh. Tâm chúng sinh tuy nhỏ,
nhưng bao khắp pháp giới. Vì quan hệ như vậy cho nên nói : Tâm pháp,
Phật pháp, chúng sinh pháp chẳng có sự khác nhau. Pháp giới lớn, tâm
lượng chúng sinh cũng lớn, Phật tánh cũng lớn, cho nên biển tâm của
chúng sinh, chẳng có cách chi dùng ngôn ngữ để diễn đạt. Vì nó không
thể suy nghĩ, không thể luận bàn.
‘’ Không trụ không động không chỗ nương.’’ Tâm chúng sinh chẳng chấp
trước trụ vào chỗ nào. Trong Kinh Kim Cang nói : ‘’ Ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm,’’ tâm là như như bất động, liễu liễu thường minh.
Bát nhã trí huệ vốn hiện tiền, tâm chẳng có một xứ sở nào. Vì tâm là
vô trụ vô bất trụ.
‘’ Trong một niệm Phật đều thấy rõ.’’ Phật ở trong một niệm đều biết
và thấy rõ tất cả mọi tâm niệm, mọi tư tưởng của chúng sinh.
‘’ Diệu Trang Nghiêm Thiên ngộ môn này.’’ Cảnh giới này vị Diệu
Trang Nghiêm Thiên Vương minh bạch được.
Lại nữa, Thời Phần Thiên Vương, được môn giải thoát, phát khởi
căn lành của tất cả chúng sinh, khiến cho họ vĩnh viễn lìa khỏi ưu
bi khổ não.
Nay giảng tiếp theo. Vị Thời Phần Thiên Vương thuộc về dục giới,
từng trời thứ ba (trời Dạ Ma). Vị này khiến cho chúng sinh, sinh
khởi căn lành, và làm cho chúng sinh thoát khỏi ưu sầu phiền não,
cải tà quy chánh, bỏ ác hướng thiện, bỏ mê về giác, thì vĩnh viễn
lìa khỏi ưu bi khổ não, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này
đắc được.
Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, vào khắp tất cả cảnh
giới.
Vị Diệu Quang Thiên Vương đắc được tất cả phương tiện pháp môn, vào
khắp tất cả cảnh giới trong mười phương cõi nước. Vị này không những
thấy rõ cảnh giới của chư Phật và cảnh giới của chúng sinh, mà còn
nhập vào cảnh giới này, nhưng không bị cảnh giới chuyển, cũng chẳng
tùy thuận cảnh giới, có định lực mà chẳng động tâm, đó là môn giải
thoát của vị này đắc được.
Vô Tận Huệ Công Ðức Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, đại
bi luân diệt trừ tất cả hoạn nạn.
Vị Vô Tận Huệ Công Ðức Tràng Thiên Vương này, trí huệ không cùng tận
và công đức như tràng báu. Vị này diệt trừ tất cả hoạn nạn như bệnh
hoạn, tai hoạn, họa hoạn, hỏa hoạn, thủy hoạn, phong hoạn .v.v.
Và còn có một thứ hoạn nữa đó là tâm hoạn, tức là hoạn được hoạn
mất. Nếu không được vật mong muốn thì, nghĩ hết biện pháp để chiếm
cho được đó là hoạn được. Ðã được rồi thì lại sợ mất đó là hoạn mất.
Vị Thiên Vương này dùng đại bi luân, đến khắp tất cả chỗ hoạn nạn.
Nơi nào mà có hoạn nạn thì, có vị này dùng đại bi luân đi diệt trừ.
Ðại bi luân tức là tâm đại bi. Vị này dùng tâm đại bi đi cứu tất cả
khổ hoạn nạn của chúng sinh, đó là môn giải thoát của vị này đắc
được.
Thiện Hóa Ðoan Nghiêm Thiên Vương được môn giải thoát, biết rõ
tất cả tâm của chúng sinh trong ba đời.
Vị Thiện Hóa Ðoan Nghiêm Thiên Vương, khéo về sự giáo hóa và rất
đoan chánh trang nghiêm, mắt chẳng nhìn xiên, tai chẳng nghe lệch,
khi ngồi thì ngay ngắn, đi thì uy nghiêm. Dùng phương pháp quyền xảo
phương tiện, để giáo hóa tất cả chúng sinh, và còn biết rõ tất cả
tâm chúng sinh trong ba đời nào là thiện, là ác, tham, sân, si, bất
cứ tâm gì, vị này đều biết rõ, không những biết một đời mà còn biết
ba đời, đó là môn giải thoát mà vị này đắc được.
Tổng Trì Ðại Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, Ðà la
ni quang minh, ghi nhớ tất cả các pháp không quên mất.
Vị Tổng Trì Ðại Quang Minh Thiên Vương, có đại trí huệ, đại quang
minh, tổng tất cả các pháp, trì vô lượng nghĩa. Bất cứ việc gì,
không cần ép phải nhớ, chỉ cần qua tai mắt, thì vĩnh viễn không bao
giờ quên. Vị này đắc được cảnh giới môn Ðà la ni quang minh.
Ghi nhớ giống như dùng tay cầm vật gì, nhớ rất rõ ràng, không quên.
Ghi nhớ tất cả các pháp, tức là sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, bất
tương ưng pháp, vô vi pháp. Những pháp này đều nhớ hết không quên.
Làm thế nào để không quên mất ? Tức là xem Kinh điển cho nhiều,
nghiên cứu Kinh điển, lâu dần thì tự nhiên sẽ khai mở đại trí huệ,
đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Bất Tư Nghì Huệ Thiên Vương, được môn giải thoát, phương tiện
không nghĩ bàn, khéo vào tự tánh của tất cả nghiệp.
Vị Bất Tư Nghì Huệ Thiên Vương, có trí huệ không thể nghĩ bàn, giáo
hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, cũng đắc được
trí huệ không thể nghĩ bàn. Vị này đắc được một thứ tam muội, dùng
đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến
cho họ phát bồ đề tâm, tu hạnh Bồ Tát. Ðều từ trong tự tánh sinh ra.
Phương tiện pháp môn này khéo nhập vào tất cả nghiệp, để giáo hóa
chúng sinh.
Luân Tề Thiên Vương, được môn giải thoát, phương tiện chuyển bánh
xe pháp, để thành thục chúng sinh.
Vị Luân Tề Thiên Vương hiểu biết cảnh giới của đức Phật, chuyển bánh
xe pháp giáo hóa chúng sinh. Chuyển bánh xe pháp, tức là giảng Kinh
thuyết pháp, khiến cho chúng sinh thành quả vị Phật, đắc được vô
thượng chánh đẳng chánh giác. Vị này muốn khiến cho chúng sinh đắc
được quả vị Phật vô thượng chánh đẳng chánh giác, cho nên trước dùng
phương tiện pháp môn, quyền xảo phương tiện từ bi cứu độ, để giáo
hóa chúng sinh.
Quang Diệm Thiên Vương được môn giải thoát, mắt rộng lớn quán sát
khắp chúng sinh, mà đến điều phục.
Vị Quang Diệm Thiên Vương có quang minh màu lửa ngọn, do trí huệ mà
thành tựu. Vị này đắc được mắt trí huệ rộng lớn. Mắt trí huệ này
sinh ra ở chỗ nào ? Ở tại mỗi lỗ chân lông, cho nên vị này quán sát
được khắp hết thảy chúng sinh, thấy chúng sinh nào cơ duyên thành
thục thì, đến giáo hóa chúng sinh đó, khiến cho họ phát bồ đề tâm,
chứng vô thượng đạo. Vị này quán sát mỗi chúng sinh khi nào độ được,
thì lúc đó sẽ đến độ. Chúng sinh nào nên dùng thân gì để độ được,
thì hiện thân đó để thuyết pháp.
Ví như, nên dùng thân Phật để độ được, thì hiện thân Phật để thuyết
pháp cho họ nghe. Nên dùng thân Bồ Tát độ được, thì hiện thân Bồ Tát
để thuyết pháp. Nên dùng thân A La Hán để độ được, thì hiện thân A
La Hán để thuyết pháp. Nên dùng thân Ðế thích, tể tướng, trưởng giả,
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ .v.v., độ được thì hiện các
thứ thân để thuyết pháp. Cho nên vị này quán cơ đầu giáo, vì người
thuyết pháp, dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để điều phục chúng
sinh, khiến cho chúng sinh bỏ tà về chánh, đó là môn giải thoát của
vị này đắc được.
Quang Chiếu Thiên Vương, được môn giải thoát, vượt khỏi tất cả
nghiệp chướng, không thuận theo chỗ làm của ma.
Vị Quang Chiếu Thiên Vương này, phóng đại quang minh, chiếu sáng ba
ngàn đại thiên thế giới, cho nên không tùy thuận theo chỗ của ma. Ma
thuộc về đen tối, nhưng đại quang minh phá trừ đen tối. Vị này đắc
được môn giải thoát vượt khỏi tất cả nghiệp chướng.
Tất cả nghiệp chướng có báo
chướng và phiền não chướng. Nghiệp chướng tức là tạo tất cả nghiệp
ác làm chướng ngại tâm tu đạo. Báo chướng tức là nghiệp đã tạo ra
phải thọ quả báo, quả báo này cũng chướng ngại sự tu đạo. Làm súc
sinh thì không dễ gì nghe Kinh nghe pháp, làm ngạ quỷ thì càng không
dễ gì nghe được Phật pháp, những loại chúng sinh này không dễ gì tu
đạo. Phiền não chướng tức là người tu đạo phiền não quá nhiều, cũng
sẽ chướng ngại sự tu đạo. Tất cả chướng này đều gần với ma, nếu
không cẩn thận thì sẽ lạc vào đường ma.
Vị Thiên Vương này dùng trí huệ để chiếu soi, chiến thắng ma quân,
không tùy thuận chỗ làm của ma. Ma vương dạy đừng bố thí, nhưng vị
này nhất quyết bố thí. Ma vương dạy đừng trì giới, nhưng vị này nhất
định phải trì giới. Ma vương dạy đừng tinh tấn, vị này nhất định
phải tinh tấn. Ma vương dạy nóng giận, nhưng vị này nhất định phải
nhẫn nhục. Ma vương dạy đừng chuyển bánh xe pháp, vị này nhất định
phải chuyển bánh xe pháp. Ma vương dạy đừng tham thiền, vị này nhất
định tham thiền. Tóm lại, vị này không chuyển theo ma cảnh, đó là
môn giải thoát của vị này đắc được.
Phổ Quán Sát Ðại Danh Xưng Thiên Vương, được môn giải thoát, khéo
dạy bảo tất cả các Thiên chúng, khiến cho họ tâm được thanh tịnh.
Vị Phổ Quán Sát Ðại Danh Xưng Thiên Vương quán sát khắp hết thảy tất
cả các Thiên chúng. Vì tất cả các Thiên chúng quá sung sướng, dễ
quên tu hành, cho nên vị Thiên Vương này dùng đủ thứ phương tiện
pháp môn để dẫn dụ tất cả Thiên chúng, khiến cho họ hiểu Phật pháp,
dạy bảo các Thiên chúng tiếp thọ Phật pháp, nhận chân tu hành, sinh
tâm thanh tịnh, khử trừ vọng niệm hỗn tạp, đó là môn giải thoát vị
này đắc được.
Bấy giờ, Thời Phần Thiên Vương nương oai lực của đức Phật, quán
sát khắp tất cả Thiên chúng Thời Phần mà nói ra bài kệ.
Lúc đó vị Thời Phần Thiên Vương, nương sức đại oai đức thần thông
của đức Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng Thời Phần (trời Dạ
Ma) mà nói kệ tán thán công đức của Phật.
Phật trong vô lượng kiếp xa xưa
Ðã sạch biển ưu não thế gian
Chẳng còn nhiễm trần thanh tịnh đạo
Ðèn trí huệ luôn chiếu chúng sinh.
‘’ Phật trong vô lượng kiếp xa xưa.’’ Phật trong vô lượng vô biên
kiếp về trước chẳng có ưu não.
‘’ Ðã sạch biển ưu não thế gian.’’ Phật trong vô lượng kiếp về
trước, đã cạn sạch biển ưu não thế gian, chẳng còn chút ưu não nào
tồn tại.
‘’ Chẳng còn nhiễm trần thanh tịnh đạo.’’ Phật dứt hết tất cả nhiễm
ô thì đại đạo sẽ thanh tịnh.
‘’ Ðèn trí huệ luôn chiếu chúng sinh.’’ Ðạo thanh tịnh này vĩnh viễn
chiếu soi tâm chúng sinh, trở thành đèn trí huệ tâm. Ðèn tâm này
thường sáng không tắt, khiến cho chúng sinh hiểu được thế gian này
là khổ nhiều vui ít, mà sớm thoát khỏi tam giới, đắc được khoái lạc
vĩnh cửu.
Pháp thân Như Lai thật rộng lớn
Mười phương bờ mé không thể được
Tất cả phương tiện không hạn lượng
Diệu Quang Minh Thiên vào môn này.
‘’ Pháp thân Như Lai thật rộng lớn.’’ Pháp thân của Phật vô tại vô
bất tại, đặc biệt rộng lớn, không bờ không mé, cũng có thể nói là
tận hư không khắp pháp giới.
‘’ Mười phương bờ mé không thể được.’’ Nếu đi đến bờ mé mười phương,
tìm pháp thân của Phật, thì tìm cũng chẳng được. Tại sao ? Vì pháp
thân của Phật vượt qua mười phương.
‘’ Tất cả phương tiện không hạn lượng.’’ Tất cả phương tiện pháp môn
của Phật, cũng không bờ không bến, chẳng có giới hạn nhất định.
‘’ Diệu Quang Minh Thiên nhập môn này.’’ Vị Diệu Quang Minh Thiên
Vương có trí huệ vào được môn giải thoát này.
Sinh già bệnh chết ưu bi khổ
Thế gian bức bách không ngừng nghỉ
Ðại sư thương sót thệ tiêu trừ
Vô Tận Huệ Quang giác ngộ được.
‘’ Sinh già bệnh chết ưu bi khổ.’’ Phật vì muốn chấm dứt : sinh già
bệnh chết bốn sự khổ lớn, mới xuất gia tu hành. Phật tầm đạo tu khổ
hạnh sáu năm, nhưng không được phương pháp giải thoát, cuối cùng
tĩnh tọa dưới cội bồ, đề hốt nhiên đại ngộ, biết được nguồn gốc vòng
sinh tử, là từ vô minh khởi, tiêu diệt được vô minh thì tiêu diệt
được bốn thứ khổ này.
Một số người trên thế giới này, không những không giác ngộ khổ về :
sinh già bệnh chết, mà còn nhiễm khổ cho là vui, mà không biết giác
ngộ. Khi sinh thì hồ đồ đến thế giới này, khi chết thì hồ đồ rời
khỏi thế giới này. Khi đến thì không rõ vì sao mà đến ? Khi đi thì
cũng chẳng biết vì sao mà đi ? Tóm lại, sinh từ đâu đến ? Chết đi về
đâu ? Vấn đề này chẳng ai muốn biết, cũng chẳng có ai muốn giác ngộ,
cho nên hồ đồ mà đến, hồ đồ mà đi.
Ðức Phật trong vô lượng kiếp tu đủ thứ hạnh môn, đều vì chấm dứt
sinh tử. Cho nên đời người từ nhỏ lớn dần, trưởng thành rồi già đi,
già sinh ra đủ thứ bệnh, do bệnh mà chết, đó là bốn sự khổ lớn của
đời người.
‘’ Thế gian bức bách không ngừng nghỉ.’’ Ưu sầu bi ai đều là khổ,
những sự khổ này, bức bách tất cả chúng sinh thế gian, chẳng có thời
gian dừng nghỉ.
‘’ Ðại sư thương sót thệ tiêu trừ.’’ Ðại sư tức là Phật, Phật thương
sót tất cả chúng sinh, cho nên phát nguyện diệt trừ tất cả khổ của
chúng sinh.
‘’ Vô Tận Huệ Quang giác ngộ được.’’ Cảnh giới này vị Vô Tận Huệ
Quang Thiên Vương giác ngộ, hiểu biết được.
Trí Phật như huyễn không gì ngại
Thấu rõ các pháp trong ba đời
Vào khắp trong tâm hạnh chúng sinh
Thiện Hóa Thiên Vương chứng môn này.
‘’ Trí Phật như huyễn không gì ngại.’’ Trí huệ của Phật như huyễn,
giống như chẳng chân thật, nhưng thật ra là chân thật. Trí huệ này
chẳng gì chướng ngại được, thấy rõ thật tướng của tất cả các pháp,
thấy rõ nghiệp tướng, đạo tướng, phiền não tướng của tất cả chúng
sinh. Tóm lại, thấu triệt được tư tưởng của tất cả chúng sinh.
‘’ Thấu rõ các pháp trong ba đời.’’ Thứ trí huệ như huyễn này, liễu
đạt được các pháp quá khứ, các pháp hiện tại, các pháp vị lai. Cho
nên nói pháp của Phật nói trong ba đời, đều thấy rõ thâm sâu, thông
đạt vô ngại.
‘’ Vào khắp trong tâm hạnh chúng sinh.’’ Trí huệ của Phật như huyễn
tam muội, thứ trí huệ hư huyễn này, biết được trong tâm tất cả chúng
sinh nghĩ tưởng gì ? Làm những gì ? Và còn nhập vào được trong tâm
hạnh của tất cả chúng sinh, khiến cho họ phát bồ đề tâm, sớm thành
Phật đạo.
‘’ Thiện Hóa Thiên Vương chứng môn này.’’ Cảnh giới này vị Thiện Hóa
Ðoan Nghiêm Thiên Vương minh bạch được.
Bờ mé tổng trì không thể được
Biện tài như biển cũng vô tận
Chuyển được bánh xe pháp thanh tịnh
Giải thoát này của Ðại Quang Thiên.
‘’ Bờ mé tổng trì không thể được.’’ Tổng trì tức là : tổng thân khẩu
ý ba nghiệp thanh tịnh, trì giới định huệ ba học viên minh. Tổng là
tổng tất cả các pháp, trì là hành tất cả các pháp. Tổng tất cả pháp,
trì vô lượng nghĩa. Ý nghĩa tổng trì có vô lượng vô biên sự giải
thích, cho nên nói bờ mé không thể được.
‘’ Biện tài như biển cũng vô tận.’’ Bốn biện tài vô ngại của Phật,
giống như biển cả, chẳng cùng tận.
Bốn vô ngại tức là bốn thứ trí biện thuyết pháp của Phật Bồ Tát, nơi
ý nghiệp giải là trí, nơi khẩu nghiệp giải là biện. Bốn vô ngại biện
tài là :
1. Pháp vô ngại biện tài.
2. Nghĩa vô ngại biện tài.
3. Từ vô ngại biện tài.
4. Lạc thuyết vô ngại biện tài.
Tóm lại tức là biện tài vô ngại, nói ngang nói dọc, nói thô nói tế,
bất cứ nói thế nào cũng đều có lý.
‘’ Chuyển được bánh xe pháp thanh tịnh.’’ Thường chuyển bánh xe pháp
thanh tịnh không thể nghĩ bàn, phá trừ tâm ô nhiễm của chúng sinh,
mà đắc được tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh thì pháp
tự nhiên thanh tịnh.
‘’ Giải thoát này của Ðại Quang Thiên.’’ Cảnh giới này vị Tổng Trì
Ðại Quang Minh Thiên Vương minh bạch được.
Tánh nghiệp rộng lớn không cùng tận
Trí huệ giác ngộ khéo khai thị
Tất cả phương tiện không nghĩ bàn
Huệ Thiên Vương ngộ vào môn này.
‘’ Tánh nghiệp rộng lớn không cùng tận.’’ Nghiệp của chúng sinh rộng
lớn vô biên, không cùng tận. Vì nghiệp chẳng có hình tướng, nếu có
hình tướng thì sớm đã đầy khắp hư không, không chỗ dung chứa.
Nghiệp là gì ? Phàm dấy khởi tâm niệm, bất cứ là thiện hoặc là ác
đều là nghiệp. Khởi niệm thiện thì tạo ra nghiệp thiện. Khởi niệm ác
thì tạo ra nghiệp ác. Mọi sự việc nếu chấp tướng là tạo nghiệp,
không chấp tướng là giải thoát. Phàm phu chỉ hiểu được tạo nghiệp,
Bồ Tát thì hiểu được giải thoát. Vì phàm phu khởi tâm vọng đi làm,
cho nên là tạo nghiệp. Bồ Tát dùng một phiến tâm thanh tịnh đi làm,
cho nên là giải thoát. Giải thoát là trừ sạch phiền não ba độc ở
trong tâm, thì đắc được tự tại. Tạo nghiệp là thấy cảnh khởi tâm
tham mà tạo thành ba nghiệp (thân, khẩu, ý) nhiễm ô và mê hoặc.
‘’ Trí huệ giác ngộ khéo khai thị.’’ Phật là người có trí huệ lớn,
minh bạch tất cả đạo lý, cho nên khéo khai thị tất cả chúng sinh,
khiến cho chúng sinh minh bạch sự vui thế gian là tạm thời, sự vui
xuất thế gian là vĩnh viễn.
‘’ Tất cả phương tiện không nghĩ bàn.’’ Phật dùng tất cả phương tiện
để giáo hóa chúng sinh, pháp phương tiện này không thể nghĩ bàn, bất
cứ loài chúng sinh nào cũng đều minh bạch tiếp thọ, y pháp phụng
hành.
‘’ Huệ Thiên Vương ngộ vào môn này.’’ Môn giải thoát pháp phương
tiện này, vị Bất Khả Tư Nghì Huệ Thiên Vương đắc được.
Chuyển bánh xe pháp không nghĩ bàn
Hiển bày tu tập đạo bồ đề
Vĩnh diệt tất cả khổ chúng sinh
Luân Tề Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Chuyển bánh xe pháp không nghĩ bàn.’’ Phật thường chuyển bánh xe
pháp giáo hóa chúng sinh, chuyển động bánh xe pháp vi diệu không thể
nghĩ bàn. Diệu là không thể tả, bánh xe pháp là chuyển động hằng
thường, như bánh xe tiến về phía trước mà không thối lùi.
‘’ Hiển thị tu tập đạo bồ đề.’’ Phật chỉ thị chúng sinh rất rành
mạch rõ ràng, tu hành như thế nào ? Dụng công như thế nào ? Ðắc được
giác đạo như thế nào ? Nếu không dụng công tu hành, thì không thể
đắc được giác đạo. Do đó : ‘’ Có làm thì có thu hoạch, làm nhiều thì
thu hoạch nhiều ‘’ chẳng có chuyện không làm mà có thu hoạch. Người
tu đạo dụng công một phần thì có một phần lợi ích, gần giác đạo một
bước. Làm những việc khác thường, lãng phí công phu, mà không được
kết quả. Chỉ có tu hành pháp môn này, làm một chút thì có hiệu quả
một chút.
‘’ Vĩnh diệt tất cả khổ chúng sinh.’’ Phải thật tâm tu hành, thì mới
đắc được đạo lý giác ngộ, mới vĩnh diệt được thống khổ của chúng
sinh. Tại sao chúng sinh khổ ? Vì không giác ngộ, vì có vô minh cho
nên tạo đủ thứ nghiệp, do đó thọ đủ thứ quả báo. Nếu phá trừ vô
minh, thì sẽ giác ngộ, thì khổ của chúng sinh vĩnh viễn tiêu diệt.
‘’ Luân Tề Thiên Vương ngộ môn này.’’ Cảnh giới phương tiện pháp môn
này vị Luân Tề Thiên Vương đắc được.
Thân thật Như Lai vốn không hai
Vật ứng theo hình khắp thế gian
Chúng sinh đều thấy ở trước họ
Cảnh giới này của Quang Diệm Thiên.
‘’ Thân thật Như Lai vốn không hai.’’ Thân thật tức là pháp thân.
Thân thật của Phật không những không hai mà một cũng chẳng có. Tại
sao ? Vì thân thật của Phật vô tướng vô bất tướng, vô tại vô bất
tại.
‘’ Vật ứng theo hình khắp thế gian.’’ Thân thật của Phật, ứng cơ của
chúng sinh, theo căn tính của chúng sinh, để vì chúng sinh mà thuyết
pháp. Do đó :‘’ Quán cơ đầu giáo ‘’ (theo bệnh cho thuốc), tức cũng
là vì chúng sinh thuyết pháp. Ðối với người căn tính tiểu thừa thì
nói pháp tiểu thừa, người căn tính đại thừa, thì nói pháp đại thừa.
Tức là theo bệnh bốc thuốc. Ðối với bệnh nhiệt thì dùng thuốc giải
nhiệt để đối trị, bệnh hàn thì dùng thuốc nhiệt để đối trị, như thế
thì mới hết bệnh. Cho nên thân của Phật sung mãn thế gian, đi cứu
chúng sinh ra khỏi biển khổ.
‘’ Chúng sinh đều thấy ở trước họ.’’ Tất cả chúng sinh đều cảm thấy
Phật đang ở trước mặt mình, đối diện thuyết pháp cho mình.
‘’ Cảnh giới này của Quang Diệm Thiên.’’ Cảnh giới môn giải thoát
này, vị Quang Diệm Thiên Vương đắc được.
Nếu có chúng sinh thấy được Phật
Tất sẽ dứt sạch các nghiệp chướng
Lìa các ma nghiệp hẳn không còn
Quang Chiếu Thiên Vương được môn này.
‘’ Nếu có chúng sinh thấy được Phật.’’ Giả sử chúng sinh nào, thấy
được báo thân của Phật, thì nghiệp chướng sẽ tiêu diệt. Phật có ba
thân :
1. Pháp thân : Chẳng có hình tướng, là chân như thật tướng. Phật
không trụ thế, cũng chẳng phải không trụ thế. Về thời gian thì dọc
cùng tam tế, về không gian thì ngang khắp mười phương, đó cũng là
tánh linh của Phật, hiệu là Tỳ Lô Giá Na, dịch là "biến nhất thiết
xứ" (khắp cùng mọi nơi).
2. Báo thân : Là thân tướng trang nghiêm quang minh thanh tịnh, là
thân thường trụ bất diệt. Phật trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, tu vô
lượng phước đức và trí huệ mới đắc được báo thân, hiệu là Lô Xá Na,
dịch là "tịnh mãn". Báo thân này thanh tịnh, như ánh sáng mặt trời,
chiếu đầy khắp toàn thế gian.
3. Ứng thân : Là tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà hiện tướng,
chuyên vì giáo hóa chúng sinh, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca
dịch là "năng nhân", biểu thị đại bi. Mâu Ni dịch là "tịch mặc",
biểu thị đại trí. Lại là hóa thân, ứng theo sở cầu của chúng sinh,
mà biến hóa trăm ngàn ức thân. Không những Phật có hóa thân mà Bồ
Tát Quán Thế Âm cũng có vô lượng hóa thân. Bồ Tát dùng tâm để quán
sát chúng sinh thế gian thọ khổ, bất cứ có bao nhiêu chúng sinh cầu
cứu, thì Bồ Tát đều đồng thời cứu ra khỏi biển khổ. Vì Bồ Tát có
thần thông lực hóa thân.
‘’ Tất khiến dứt sạch các nghiệp chướng.’’ Ai thấy được báo thân của
Phật thì nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng, tất cả chướng
của người đó đều sẽ dứt sạch. Tất cả nghiệp chướng đều sẽ biến thành
thanh tịnh.
‘’ Khỏi các ma nghiệp tất không còn.’’ Nghiệp chướng trừ sạch rồi,
thì sẽ có ma đến nhiễu loạn dẫn dụ, khiến cho người tu hành mất đi
định lực, mất đi đạo tâm. Làm thế nào vượt khỏi các ma ? Tức là
siêng tinh tấn không giải đãi, bất cứ cảnh giới gì trước mắt, tâm
không động, ý không loạn thì thiên ma, không có cách chi phá được,
tự nhiên sẽ thối lui. Do đó, sẽ vượt khỏi tất cả ma nghiệp, vĩnh
viễn không bị các ma nhiễu hại.
‘’ Quang Chiếu Thiên Vương được môn này.’’ Cảnh giới này vị Quang
Chiếu Thiên Vương minh bạch được.
Tất cả chúng hội lớn như biển
Phật ở trong đó oai sáng nhất
Khắp mưa pháp vũ nhuận chúng sinh
Danh Xưng Thiên Vương vào môn này.
‘’ Tất cả hội chúng lớn như biển.’’ Phật ở trong mỗi thế giới đều có
pháp hội thuyết pháp. Trong mỗi pháp hội có vô lượng chư Phật, vô
lượng Bồ Tát, vô lượng A La Hán, vô lượng chúng sinh. Trong chúng
hội rất rộng lớn, giống như biển cả, rộng không thể lường, sâu không
thể dò.
‘’ Phật ở trong đó oai sáng nhất.’’ Phật ở trong mỗi pháp hội, có
oai đức nhất, có quang sáng nhất. Do đó, đại oai đức thần thông lực,
quang minh của Phật chiếu khắp mười phương.
‘’ Khắp mưa pháp vũ nhuận chúng sinh.’’ Phật thuyết pháp khắp hết
thảy, giống như trời mưa, cây lớn thì hút lượng nước nhiều, cây nhỏ
thì hút lượng nước ít, thảy đều được lợi ích pháp vũ, tùy theo mỗi
loại, tùy theo căn tính, mà thấm nhuần tất cả chúng sinh.
‘’ Danh Xưng Thiên Vương nhập môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát
này vị Phổ Quán Ðại Danh Xưng Thiên Vương minh bạch được.
Lại nữa, Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương, được môn giải thoát,
đại hoan hỷ ghi nhớ ba đời chư Phật xuất hiện ra đời, cho đến thấy
rõ cõi thành hoại.
Tiếp theo Kinh văn ở trên. Vị Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương, là
từng trời thứ hai (trời Ðao Lợi) thuộc về dục giới. Thích Ca dịch là
"năng". Nhân Ðà La dịch là "thiên chủ", nghĩa là làm chủ trên trời.
Vị này đắc được một môn giải thoát là : trong khoảng một niệm có thể
nghĩ biết, trong quá khứ chư Phật xuất hiện ra đời như thế nào ? Cho
đến cõi Phật thành như thế nào ? Hoại như thế nào ? Vị này nhớ được
cảnh giới này rất rõ ràng, và còn hiểu biết đạo lý này. Không những
là đời quá khứ, mà đời hiện tại và đời vị lai cũng thấy rõ. Vì minh
bạch được nhiều cảnh giới, cho nên sinh đại hoan hỷ, đại khoái lạc.
Nhân Ðà La còn gọi là Thích Ðề Hoàn Nhân. Trong vô lượng kiếp về
trước, vị này là người nữ độc thân.
Một ngày nọ, vị này thấy
một ngôi chùa cổ hư hoại, chẳng có ai phát tâm trùng tu lại. Vị này
thấy như vậy thì trong tâm nghĩ : nếu không sửa lại thì tượng Phật
bị mưa dột, gió thổi, nắng rọi, thật không đành làm ngơ. Do đó, vị
này phát tâm trùng tu ngôi chùa cổ ngày, nhưng sức lực của một người
có hạn, không thể hoàn thành tâm nguyện. Do đó, bèn đi tìm bạn bè và
thân hữu, mọi người đều phát tâm trùng tu. Người có chí thì việc sẽ
thành, tìm được ba mươi hai người phụ nữ. Ai có tiền thì cúng tiền,
có sức thì dùng sức, cùng nhau nỗ lực, chẳng bao lâu thì sửa xong
ngôi chùa cổ hư hoại, biến thành ngôi chùa trang nghiêm.
Nhờ công đức trùng tu sửa chùa, ba mươi ba người nữ này, sau khi
chết sinh về trời Ðao Lợi mà làm Thiên chủ. Bốn hướng của cõi trời
này mỗi hướng có tám vị trời, đông tây nam bắc cộng có ba mươi hai
vị trời. Chính giữa có một vị trời là chỗ của Ðế Thích ở. Ba mươi ba
vị trời này là ba mươi ba người phụ nữ làm thiên chủ, đó là nguồn
gốc Thiên chủ.
Người không biết nhân duyên
của Thiên chủ thì nói bậy bạ, nói Thiên chủ là độc hữu, là vạn năng.
Thật ra chẳng phải là độc hữu, cũng chẳng phải là vạn năng. Vì vị
này chỉ biết sự việc mấy vạn năm, mà không biết sự việc mấy vạn đại
kiếp.
Vì không biết nhân duyên vô lượng kiếp, mới bịa ra khái niệm một vị
chân thần, tạo ra một vị thần cứu kính, hoặc là thần viên mãn, hoặc
thần vạn năng. Ðó là tùy ý tạo ra, muốn tạo bao nhiêu thì tạo bấy
nhiêu, chẳng có ai để khống cáo. Chân thần cũng xong, thần vạn năng
cũng xong, đều chẳng đúng, cho nên lấy sai lầm truyền sai lầm,
truyền cho đến hiện tại. Bây giờ là thời đại khoa học, bất cứ việc
gì đều phải trải qua sự khảo nghiệm. Tôn giáo cũng như thế, nếu
không hợp với sự khảo nghiệm của khoa học thì sẽ bị đào thải, những
người tín ngưỡng tôn giáo phải phân tích kỹ càng, đừng nên ai sao
mình cũng vậy, chẳng có sự phán đoán mà dưỡng thành mê tín, như vậy
thì sẽ biến thành cuồng tín.
Trời Ðao Lợi ở trên đỉnh núi Tu Di, thành tên là thành Thiện Kiến.
Trong thành có lầu báu trọng các, thiên cung rất hoa lệ là chỗ ở của
Thích Ðề Hoàn Nhân, tức cũng là Ngọc Hoàng Ðại Ðế của Ðạo Giáo, chỗ
ở của thượng đế Gia Tô Giáo. Tuy nhiên tên chẳng giống nhau, thật ra
tức là chủ của cõi trời Tam Thập Tam, cũng chỉ một người mà thôi.
Vị Thích Ðề Hoàn Nhân này
còn có tên là trời Ðế Thích, là chúa cõi trời Tam Thập Tam, cõi trời
này rất sung sướng, cho nên chư Thiên không thích tu thiền định, rất
dễ đọa lạc trong sáu nẻo luân hồi, ngay cả Thích Ðề Hoàn Nhân cũng
không ngoài lệ ấy. Chư Thiên khi gần chềt thì phát sinh năm hiện
tượng suy. Vị Thích Ðề Hoàn Nhân này hưởng hết phước báo thì phải đi
đầu thai, vị này biết mình sắp chết, bèn đi đến chỗ Ðức Phật cầu
cứu, thỉnh giáo làm thế nào liễu sinh thoát tử ? Phật nói : ‘’Chiếu
theo nhân quả mà nói thì ông phải đầu thai làm lừa, chẳng có cách
chi cứu vãn.’’ Vị này nghe rồi sợ hãi vô cùng, bèn ba lần khẩn cầu
Ðức Phật cứu. Phật bèn cho thọ tam quy và ngũ giới làm đệ tử Phật.
Chẳng bao lâu quả nhiên
chuyển nhập vào thai lừa, con lừa cái này không duyên cớ gì bèn chạy
vào trong nhà chủ tiệm làm bễ đồ bằng sứ, chủ nhân nổi giận, dùng
gậy đánh con lừa cái, làm cho con lừa cái xẩy thai. Do đó Trời Ðế
Thích bèn trở về lại thiên cung, kiền thành tín ngưỡng Phật pháp.
Phàm là chỗ nào trong thế gian có cao Tăng giảng Kinh thuyết pháp,
thì vị Trời Ðế Thích này, dù bận rộn trăm việc, cũng nhất định tranh
thủ thời giờ đến nghe pháp, do đó mà dẫn đến sự hiểu lầm của vợ ông
ta mà phát sinh một cuộc chiến giữa chư Thiên và A Tu La.
Con gái của vua A Tu La đẹp
tuyệt trần, trời Ðế Thích tham sắc đẹp mà cưới làm vợ, do đó có thể
chứng minh chư thiên sáu cõi trời dục giới, không những còn tham dục
mà còn có dục tính nam nữ.
Phàm là chúng sinh ở thế gian tu mười điều lành giữ năm giới cấm,
thì sẽ được tái sanh về cõi trời này. Nhưng ở đây chẳng phải là nơi
cứu kính. Do đó :
‘’ Sáu cõi trời dục giới có năm tướng suy,
Trời Tam Thiền có nạn gió lớn,
Dù sinh về cõi trời Phi Phi Tưởng,
Chẳng bằng về cõi Tây Phương Cực Lạc.’’
Thế giới Cực Lạc mới là nơi cứu kính, cõi đó hoa sen hóa sinh, sung
sướng vô ngần chẳng có phiền não.
Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, khiến cho sắc
thân của Phật, thanh tịnh rộng lớn nhất, thế gian không gì so sánh
được.
Vị Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương được môn giải thoát biết sắc thân của
Phật thanh tịnh nhất, rộng lớn nhất, bất cứ Thánh nhân thế gian
không thể so sánh được.
Ở trước có nói về thân thật
của Phật tức là pháp thân. Bây giờ nói về sắc thân của Phật tức là
báo thân. Hóa thân của Phật tức là ứng thân. Cho nên Phật có pháp
thân, báo thân, hóa thân ba thân. Sắc thân của Phật là thanh tịnh
nhất, chẳng có nhiễm ô, chẳng giống như thân phàm phu của chúng ta,
không sạch sẽ mà dơ bẩn. Sắc thân của Phật đầy đủ ba mươi hai tướng
và tám mươi vẻ đẹp. Mỗi một tướng, mỗi một vẻ đều thanh tịnh rộng
lớn. Báo thân của Phật cũng hiện trong vô lượng thế giới giáo hóa
chúng sinh. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật này do Phật
nói, Phật hiện thân Lô Xá Na ngàn trượng mà nói diệu pháp. Chuyển
Luân Thánh Vương là người có phước đức tướng của thế gian, tuy nhiên
cũng có ba mươi hai tướng tốt, nhưng không thể so sánh với Phật. Vị
Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.
Từ Mục Bảo Kế Thiên Vương được môn giải thoát, mây từ bi che
khắp.
Vị Từ Mục Bảo Kế Thiên Vương, vì mắt của vị này phóng ra mây quang
minh từ bi, chiếu soi chúng sinh khiến cho họ sinh tín tâm. Bảo kế
của vị này thường tuôn ra các châu báu mà bố thí cho chúng sinh, cho
nên được tên này.
Vị này đắc được môn giải thoát, mây từ bi của Phật che chở bảo hộ
tất cả chúng sinh. Mây từ bi của Phật khiến tất cả chúng sinh, đều
có tâm từ bi mà không giết hại, có tâm bố thí mà không trộm cắp, có
tâm nhẫn nhục mà không nóng giận, có tâm tinh tấn mà chẳng lười
biếng, có tâm thiền định mà không tán loạn, có tâm trí huệ mà không
ngu si. Mây từ này còn khiến cho tất cả chúng sinh từ bờ sinh tử bên
này qua được giòng phiền não, đạt đến bờ Niết Bàn bên kia.
Bảo Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương, được môn giải thoát, luôn
luôn thấy Phật, hiện đủ thứ thân hình, tướng oai đức ở trước mặt
vua.
Vị Bảo Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương thường thấy Phật, ở trước
mặt vua thế gian, hiện ra đủ thứ hình tướng, thân có đại oai đức
tướng, có uy đáng sợ, có đức đáng kính, khiến cho người thấy tự
nhiên cung kính đảnh lễ chiêm ngưỡng. Ví
như Vua Tần Bà Sa La quy y Phật làm đệ tử, con là vua A Xà Thế cũng
quy y Phật. Vua Ba Tư Nặc quy y Phật làm đệ tử, con là Kỳ Ðà cũng
quy y Phật. Lúc đó có rất nhiều vị vua quy y Phật. Vị Thiên Vương
này đắc được cảnh giới môn giải thoát này.
Phát Sinh Hoan Hỷ Kế Thiên Vương được môn giải thoát, biết thành
ấp cung điện của tất cả chúng sinh, do phước nghiệp gì mà có.
Vị Phát Sinh Hoan Hỷ Kế Thiên Vương biết được thành ấp cung điện chỗ
ở của tất cả chúng sinh do phước nghiệp gì mà sinh ra. Vì chúng sinh
tu pháp môn giới định huệ, diệt trừ phiền não tham sân si. Cho nên
có quả báo phước nghiệp thành ấp cung điện, nếu chỉ tạo tội nghiệp
mà không tu công đức lành thì chẳng có phước báo như thế. Phước
nghiệp là do làm việc thiện mà có, đó là môn giải thoát của vị này
đác được.
Ðoan Chánh Niệm Thiên Vương, được môn giải thoát, chư Phật khai
thị thành thục chúng sinh.
Vị Ðoan Chánh Niệm Thiên Vương được môn giải thoát, mười phương chư
Phật khai thị thành thục chúng sinh. Người chưa gieo trồng căn lành
thì trồng căn lành, đã trồng căn lành thì khiến cho tăng trưởng, đã
tăng trưởng thì khiến cho thành thục, đã thành thục thì khiến cho
được giải thoát, đó là việc chư Phật thành thục chúng sinh.
Cao Thắng Âm Thiên Vương được môn giải thoát, biết tướng chuyển
biến kiếp thành hoại của tất cả thế gian.
Vị Cao Thắng Âm Thiên Vương minh bạch được tất cả thế gian làm thế
nào hình thành ? Làm thế nào trụ ? Thế nào hoại ? Thế nào không ?
Thành, trụ, hoại, không cần bao nhiêu kiếp ? Và làm thế nào từ kiếp
thành chuyển đến kiếp trụ ? Từ kiếp trụ chuyển đến kiếp hoại ? Từ
kiếp hoại chuyển đến kiếp không ? Từ kiếp không lại chuyển đến kiếp
thành ? Những tướng như vậy làm thế nào chuyển biến ? Chuyển biến
thì phải trải qua thời gian dài bao lâu ? Vị này đều biết, đó là môn
giải thoát của vị này đắc được.
Chúng sinh cang cường khó điều khó phục. Hiển giáo là :‘’ văn độ
chúng sinh.’’ Bồ Tát dùng bốn tâm vô lượng để giáo hóa, khiến cho
chúng sinh có duyên đều chứng Phật đạo. Mật giáo là :‘’ Võ độ chúng
sinh.’’ Kim cang là tướng phẫn nộ, dùng thủ đoạn cưỡng bách để giáo
hóa, khiến cho chúng sinh vô duyên đều được giải thoát. Phương pháp
tuy nhiên chẳng giống, nhưng mục đích giống nhau, đều khiến cho
chúng sinh minh tâm kiến tánh thành Phật.
Tịnh Hoa Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, biết rõ nguyên
nhân vì sao tất cả chư Thiên khoái lạc.
Vị Tịnh Hoa Quang Thiên Vương hiểu biết tất cả chư thiên rất khoái
lạc, chẳng ưu sầu. Tại sao họ được quả báo khoái lạc ? Vì quá khứ họ
đã trồng xuống nhân khoái lạc, tức là tu giữ năm giới, làm mười điều
lành, họ đều tu công đức bậc thượng. Nếu tu công đức bậc trung thì
sinh về cõi người. Nếu tu công đức bậc hạ thì sinh về cõi A Tu La.
Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Trí Nhật Nhãn Thiên Vương, được môn giải thoát, khai thị tất cả
các Thiên tử thọ sinh căn lành, khiến cho họ không còn si hoặc.
Vị Trí Nhật Nhãn Thiên Vương được môn giải thoát, khai thị tất cả
các Thiên tử thọ sinh căn lành, khiến cho họ đều trừ khử ngu si nghi
hoặc.
Tự Tại Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, khai ngộ tất
cả các Thiên chúng, khiến cho họ vĩnh viễn dứt sạch tâm nghi hoặc.
Vị Tự Tại Quang Minh Thiên Vương được môn giải thoát, khai ngộ tất
cả các Thiên chúng, khiến cho họ ngộ nhập vào cảnh giới của Phật,
khiến cho tất cả các Thiên chúng, vĩnh viễn đoạn trừ tâm nghi hoặc,
mà sinh tâm chánh tín.
Bấy giờ, Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương, nương oai lực của đức
Phật, quán khắp tất cả Thiên chúng, trời Tam Thập Tam mà nói kệ
rằng.
Ðương lúc đó, vị Thiên chủ nương đại oai thần lực của đức Phật, quán
sát khắp tất cả Thiên chúng trời Tam Thập Tam (trời Ðao Lợi) mà nói
kệ để tán thán chư Phật.
Tôi nhớ chư Phật trong ba đời
Tất cả cảnh giới đều bình đẳng
Như các cõi nước hoại và thành
Dùng Phật oai thần đều thấy được.
‘’ Tôi nhớ chư Phật trong ba đời.’’ Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương
nói : tôi suy nghĩ chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, chư Phật vị
lai, mười phương ba đời tất cả chư Phật, đều bình đẳng chẳng khác
gì.
‘’ Tất cả cảnh giới đều bình đẳng.’’ Cảnh giới của chư Phật trong ba
đời, đều một luật bình đẳng, chẳng có cao thấp, chẳng có khác về lớn
nhỏ, mà đều bình đẳng giống nhau.
‘’ Như các cõi nước hoại và thành.’’ Cõi nước chư Phật làm thế nào
hoại ? Làm thế nào thành ? Cảnh giới này thật là không thể nghĩ bàn.
‘’ Dùng Phật oai thần đều thấy được.’’ Dùng đại oai thần lực của chư
Phật, khiến cho tất cả chúng sinh, đều thấy được Phật, đều minh bạch
được cảnh giới này.
Thân Phật rộng lớn khắp mười phương
Sắc đẹp chẳng sánh lợi quần sinh
Quang minh chiếu sáng khắp hết thảy
Phổ Xưng Thiên Vương thấy môn này.
‘’ Thân Phật rộng lớn khắp mười phương.’’ Pháp thân của Phật rộng
lớn vô biên, khắp trong tất cả mười phương, tận hư không khắp pháp
giới, chỉ cần có không gian tồn tại, thì có pháp thân tồn tại.
‘’ Sắc đẹp chẳng sánh lợi quần sinh.’’ Sắc đẹp của Phật không thể
sánh, lợi ích tất cả chúng sinh hữu tình và vô tình.
‘’ Quang minh chiếu sáng khắp hết thảy.’’ Quang minh thanh tịnh của
Phật, chiếu sáng tất cả chúng sinh, chẳng có một chúng sinh nào,
không tắm mình trong ánh từ quang. Quang minh này rất bình đẳng,
không phân biệt thiện căn hoặc độn căn, đều chiếu sáng và gia bị hết
thảy.
‘’ Phổ Xưng Thiên Vương thấy môn này.’’ Cảnh giới này vị Phổ Xưng
Mãn Âm Thiên Vương quán sát thấy được.
Như Lai phương tiện biển đại từ
Kiếp xưa tu hành rất thanh tịnh
Hóa đạo chúng sinh không bờ mé
Bảo Kế Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Như Lai phương tiện biển đại từ.’’ Như Lai là một trong mười danh
hiệu của Phật. Mỗi vị Phật đều có mười danh hiệu, tức là :
1. Như Lai : Pháp thân của Phật từ đạo như thật mà đến.
2. Ứng cúng : Ðức Phật đoạn trừ ba hoặc và nhị tử, vạn đức phước huệ
đầy đủ, xứng đáng thọ lãnh chúng sinh trong chín pháp giới cúng
dường.
3. Chánh biến tri : Trí huệ của Phật chiếu tất cả các pháp, vừa
chánh lại vừa khắp cùng.
4. Minh hạnh túc : Phước và huệ của Phật đều đầy đủ. Ba minh là huệ,
năm hạnh là phước.
5. Thiện thệ thế gian giải : Phật tu chánh đạo nhập Niết Bàn, còn
hiểu rõ tất cả hình trạng thế gian.
6. Vô thượng sĩ : Chánh giác của Phật là vô thượng, chín giới chúng
sinh không thể so sánh được.
7. Ðiều ngự trượng phu : Phật là bậc đại trượng phu, điều thuận tu
chánh đạo.
8. Thiên nhân sư : Phật là đại đạo sư của trời người, giáo hóa hết
thảy bỏ tà về chánh, cải ác hướng thiện.
9. Phật : Là Thánh nhân đại giác ngộ.
10. Thế Tôn : Phật là người tôn quý nhất trong thế gian.
Ðầy đủ mười hiệu mới xưng là Phật. Vì lòng đại từ bi, cho nên Phật
xử dụng pháp phương tiện, để tiếp dẫn chúng sinh. Từ bi như biển
lớn, cho nên gọi phương tiện biển đại từ.
‘’ Kiếp xưa tu hành rất thanh tịnh.’’ Vì trong kiếp quá khứ, Phật tu
đủ thứ hạnh môn, cho nên thành tựu pháp thân rất thanh tịnh. Thanh
tịnh là chứng minh sự tu hành, nếu không nhận chân tu hành, thì
không thể đắc được thanh tịnh.
‘’ Hóa đạo chúng sinh không bờ mé.’’ Vì thanh tịnh là do tu hành
chân thật mà được, cho nên dùng đủ thứ phương tiện pháp môn đại từ,
để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh, dứt phiền não phá vô
minh, thành tựu pháp thân, phương tiện pháp môn đại từ này chẳng có
bờ mé.
‘’ Bảo Kế Thiên Vương ngộ môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát này,
vị Từ Mục Bảo Kế Thiên Vương giác ngộ được.
Tôi nhớ biển công đức của Phật
Hơn hết trong đời chẳng ai bằng
Phát sinh tâm hoan hỷ rộng lớn
Giải thoát này của Bảo Quang Thiên.
‘’ Tôi nhớ biển công đức của Phật.’’ Bảo Quang Tràng Danh Xưng Thiên
Vương nói : ‘’ Tôi nhớ lại công đức của Phật, vô lượng vô biên như
biển cả.’’ Cho nên nói biển công đức của Phật.
‘’ Hơn hết trong đời chẳng ai bằng.’’ Công đức này cao thượng nhất
trong thế gian, chẳng có ai so sánh với công đức của Phật.
‘’ Phát sinh tâm hoan hỷ rộng lớn.’’ Tôi nhớ tới cảnh giới này,
trong tâm bèn phát sinh tâm hoan hỷ rộng lớn.
‘’ Giải thoát này của Bảo Quang Thiên.’’ Bảo Quang Tràng Danh Xưng
Thiên Vương đắc được môn giải thoát này.
Phật biết nghiệp lành của chúng sinh
Ðủ thứ thắng nhân sinh phước lớn
Ðều khiến hiển hiện chẳng còn xót
Hỷ Kế Thiên Vương thấy môn này.
‘’ Phật biết nghiệp lành của chúng sinh.’’ Phật biết được tất cả
nghiệp lành của chúng sinh, không những biết một đời mà còn biết
được nghiệp lành vô lượng đời.
‘’ Ðủ thứ thắng nhân sinh phước lớn.’’ Tu đủ thứ nhân thù thắng, mới
hoạch được phước báo rộng lớn. Do đó :
‘’ Ðời trước không tu, đời này khổ,
Ðời này không tu, đời sau càng khổ.’’
Người có phước báo, do đời trước đã trồng xuống nhân công đức, cho
nên đời này có tiền tài, có quyền thế giàu sang. Nếu càng bố thí làm
lành, thì đời sau nhất định tốt hơn so với đời này. Nếu đời này keo
kiệt không bố thí, thì đời sau nhất định không được như đời này,
thậm chí hưởng hết phước, thì không chắc được tái sinh làm người,
hoặc có thể tái sinh làm súc sinh để trả nợ nghiệp.
‘’ Ðều khiến hiển hiện chẳng còn xót.’’ Vị này đều khiến cho đủ thứ
nhân lành đều hiển hiện, mà tơ hào chẳng bỏ xót. Trồng nhân lành nhỏ
thì được phước báo nhỏ, trồng nhân lành lớn thì được phước báo lớn,
tơ hào không sai.
‘’ Hỷ Kế Thiên Vương thấy môn này.’’ Cảnh giới này vị Hỷ Lạc Kế
Thiên Vương thấy được.
Chư Phật xuất hiện trong mười phương
Khắp cùng trong tất cả thế gian
Quán tâm chúng sinh hiện điều phục
Chánh Niệm Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Chư Phật xuất hiện trong mười phương.’’ Mười phương ba đời tất cả
chư Phật, xuất hiện trong mười phương ba đời tất cả thế gian.
‘’ Khắp cùng trong tất cả thế gian.’’ Khắp cùng trong thế gian, tức
cũng khắp cùng trong hư không pháp giới.
‘’ Quán tâm chúng sinh hiện điều phục.’’ Mười phương ba đời tất cả
chư Phật, quán sát tất cả tâm chúng sinh, hiển thị ra pháp môn điều
phục. Chúng sinh nhiều tham, thì khiến cho họ tu quán bất tịnh,
chúng sinh nhiều sân, thì khiến cho họ tu quán từ bi. Chúng sinh ngu
si, thì khiến cho họ tu quán nhân duyên. Cho nên phải quán sát căn
tính chúng sinh, mà dùng pháp phương tiện, để giáo hóa, để điều
phục.
Phật điều phục tất cả chúng sinh chẳng chấp trước nơi tướng. Trong
Kinh Kim Cang có nói :
‘’ Phật diệt độ tất cả chúng sinh,
Thật chẳng có chúng sinh được diệt độ.’’
Ðó là không thủ nơi tướng, độ chúng sinh mà chẳng có tướng chúng
sinh, tức là chẳng chấp trước chúng sinh.
Chúng ta làm việc gì, thì chấp trước vào việc đó, bố thí cho người
một ly nước, hoặc cho người một bát cơm, thì cho rằng mình làm việc
tốt, lợi ích cho chúng sinh, đó là chấp trước tướng. Cho nên phải có
tư tưởng tam luân thể không :
1. Không thấy có người bố thí, như vậy thì có thể trừ ngã chấp, tức
là không có ngã (cái ta).
2. Không thấy có vật thí, như vậy thì có thể trừ san tham, tức là
pháp không.
3. Không thấy có người nhận, không phân biệt người thân, kẻ oán, đều
bình đẳng bố thí, tức là người không.
Ðược ba điều này đều không, thì mới là bố thí chân thật. Bằng không,
nếu vì danh vì lợi, thì biến thành bố thí có xí đồ, là bố thí giả,
chẳng phải thật bố thí.
‘’ Chánh Niệm Thiên Vương ngộ môn này.’’ Vị Ðoan Chánh Niệm Thiên
Vương minh bạch được đạo lý môn giải thoát này.
Trí thân Như Lai mắt rộng lớn
Hạt bụi thế giới thảy đều thấy
Như vậy cùng khắp trong mười phương
Vân Âm Thiên Vương chứng môn này.
‘’ Trí thân Như Lai mắt rộng lớn.’’ Trí huệ thân của Phật phóng đại
quang minh, chiếu khắp mười phương thế giới. Quang minh này rộng lớn
không bờ mé, chẳng có chỗ nào không chiếu đến, chẳng có chỗ nào mà
không có.
‘’ Hạt bụi thế giới thảy đều thấy.’’ Tất cả hạt bụi ở trong mười
phương thế giới, và tất cả chúng sinh vạn sự vạn vật, Phật đều biết
đều thấy, cho nên nói hết thảy đều thấy.
‘’ Như vậy cùng khắp trong mười phương.’’ Trí thân của Phật có mắt
rộng lớn, cho nên chiếu sáng khắp mười phương. Hạt bụi trong tất cả
thế giới không đâu mà chẳng thấy, đó là cảnh giới của Phật.
‘’ Vân Âm Thiên Vương chứng môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát này,
vị Cao Thắng Vân Âm Thiên Vương minh bạch được.
Tất cả Phật tử hạnh bồ đề
Ðều hiện trong lỗ lông Như Lai
Như thế vô lượng đều đầy đủ
Giải thoát này của Niệm Thiên Vương.
‘’ Tất cả Phật tử hạnh bồ đề.’’ Tất cả Bồ Tát hậu bổ làm Phật vị, ở
nội viện cung trời Ðâu Suất, hạnh môn của các Ngài tu là giác đạo.
Ðợi nhân duyên thành thục thì nương voi trắng sáu ngà (đại biểu cho
lục độ Ba la mật) hàng sinh xuống nhân gian làm giáo chủ.
‘’ Ðều hiện trong lỗ lông Như Lai.’’ Các Ngài từ ban đầu phát tâm bồ
đề, hành Bồ Tát đạo, tất cả hạnh môn cho đến bổ Phật vị, đều hiện ra
ở trong lỗ chân lông của Phật.
‘’ Như thế vô lượng đều đầy đủ.’’ Giống như những hạnh môn, nhiều vô
lượng vô biên như thế, đều đầy đủ cảnh giới này.
‘’ Giải thoát này của Niệm Thiên Vương.’’ Cảnh giới này vị Thành Tựu
Niệm Thiên Vương minh bạch, thấy được.
Tất cả an lạc của thế gian
Hết thảy đều từ Phật sinh ra
Công đức Như Lai chẳng ai bằng
Tịnh Quang Thiên Vương vào môn này.
‘’ Tất cả an lạc của thế gian.’’ Tất cả sự an lạc và bình an ở nhân
gian và trên cõi trời đều nhờ Phật gia bị, ban bố cho.
‘’ Hết thảy đều từ Phật sinh ra.’’ Vì Phật pháp có công năng vun bồi
tưới bón, khiến cho chúng sinh chẳng có căn lành, thì trồng căn
lành, đã trồng căn lành thì khiến cho tăng trưởng. Người căn lành
tăng trưởng, thì khiến cho thành thục, người căn lành thành thục,
thì khiến cho giải thoát, sau đó khiến cho tất cả chúng sinh, đều
thành tựu Phật đạo, cho nên nói tất cả đều từ Phật sinh ra.
‘’ Công đức Như Lai chẳng ai bằng.’’ Công đức của Phật thù thắng
nhất, chẳng ai có thể sánh được. Vì Phật trong ba đại A tăng kỳ kiếp
tu phước tu huệ, trong trăm đại kiếp tu đủ thứ công đức tướng tốt,
cho nên Phật là phước huệ lưỡng túc tôn, có ba mươi hai tướng trang
nghiêm, tám mươi vẻ đẹp, thành bậc chánh giác, ba giác viên mãn.
Ðầu của Phật có hào quang, trên đỉnh có nhục kế, tóc quắn xanh biếc,
mặt như trăng rằm, hào quang trắng phóng quang minh, lông mi cong
như trăng non, mắt sáng như gương, mũi chẳng hiện lỗ, môi đỏ như đan
(chất màu đỏ tươi), răng trắng như tuyết, bốn mươi cái răng, lưỡi
dài quá mũi, tai thon gần đụng vai, toàn thân màu hoàng kim, da trơn
mịn, thể thơm như bông lan, ngực có chữ vạn, rún sâu tròn tốt, tay
dài quá gối, tay chân có màng mỏng, ngón tay nhỏ dài, móng tay như
ngói, mu bàn chân cao dày, đi như thiên nga, tướng mã âm tàng, đầu
gối tròn cứng, âm thanh sâu xa .v.v. Ba mươi hai tướng này đều hiếm
có trong đời, chúng ta may đâu chỉ có một trong ba mươi hai tướng,
tức là quý tướng. Tại sao chúng ta chẳng có những tướng này ? Vì
kiếp trước chẳng tu phước chẳng tu huệ, cho nên chẳng có tướng tốt
như thế. Nếu muốn tướng mạo đoan chánh trang nghiêm thì phải mau trì
giới bố thí, tu phước tu huệ, mới có được tướng tốt.
‘’ Tịnh Quang Thiên Vương vào môn này.’’ Môn giải thoát này vị Tịnh
Hoa Quang Thiên Vương minh bạch được.
Ðức Phật là cha đại từ bi của chúng ta, cho nên sớm dự bị sự khoái
lạc ở cõi trời và cõi người. Chúng ta giống như lúc còn thơ ấu, cha
mẹ mua đến rất nhiều đồ chơi, trẻ con thấy đồ chơi nhảy nhót vui
mừng, bèn sinh tâm khoái lạc. Sự khoái lạc này do cha mẹ ban cho.
Chư thiên, loài người đều là con, cháu của Phật, cho nên Phật mới
cho chúng sinh an lạc. Suy nghĩ như thế mới sinh tín tâm đối với
Phật.
Nếu nghĩ chút công đức Như Lai
Cho đến kính ngưỡng một tâm niệm
Các đường ác sợ đều vĩnh trừ
Trí Nhãn Thiên Vương ngộ môn này.
‘’ Nếu nghĩ chút công đức Như lai.’’ Nếu như bạn nghĩ nhớ công đức
của Phật dù nhỏ nhất, thậm chí chút công đức nhỏ như hạt bụi, thì sẽ
được chỗ diệu dụng không thể nghĩ bàn.
‘’ Cho đến kính ngưỡng một tâm niệm.’’ Hoặc là trong khoảng một
niệm, sinh tâm chuyên nhất kính ngưỡng đối với Phật, tức là chẳng có
tâm tạp loạn để kính ngưỡng Phật. Tuy nhiên là công đức nhỏ nhất
nhưng có công năng lớn vô cùng.
‘’ Các đường ác sợ đều vĩnh trừ.’’ Chỉ trong một niệm, sinh tâm cung
kính ngưỡng mộ, thì vĩnh viễn thoát khỏi tâm sợ sệt trong ba đường
ác : địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
‘’ Trí Nhãn Thiên Vương ngộ môn này.’’ Vị Trí Nhựt Nhãn Thiên Vương,
giác ngộ thâm sâu và minh bạch cảnh giới môn giải thoát này.
Ðại thần thông trong pháp tịch tĩnh
Ứng khắp quần tâm đều gia bị
Tất cả nghi hoặc đều đoạn trừ
Quang Minh Thiên Vương được môn này.
‘’ Ðại thần thông trong pháp tịch tĩnh.’’ Pháp tịch tĩnh tức là :
không nói cũng không truyền, nên quán sát như thế, các pháp từ duyên
đến, thường đến tướng tịch tĩnh. Tướng của các pháp là tịch tĩnh,
tuy nhiên là tịch tĩnh, nhưng Phật hiển hiện đại thần thong, giáo
hóa chúng sinh, khai thị chúng sinh, khiến cho chúng sinh đoạn trừ
nghi hoặc. Cho nên Phật ở trong tịch tĩnh đạo tràng hiện ra đủ thứ
thần thông.
‘’ Ứng khắp quần tâm đều gia bị.’’ Khi Phật thuyết Kinh Hoa Nghiêm,
thì ở trong định phóng quang, gia bị cho các đại Bồ Tát thuyết pháp
chủ. Các Ngài nương đại oai đức thần thông lực của Phật, mà diễn nói
diệu pháp, cảm ứng đạo giao với tâm chúng sinh hổ tương tiếp xúc, hổ
tương khế hợp, chẳng có một chúng sinh nào, mà không đắc được thần
lực gia bị của Phật.
‘’ Tất cả nghi hoặc đều đoạn trừ.’’ Vì dùng sức cảm ứng đạo giao để
gia bị, cho nên tất cả nghi hoặc của chúng sinh đều đoạn tuyệt, mà
sinh ra tín tâm, tin Phật pháp giải quyết được vấn đề, mà thế gian
chẳng giải quyết được.
Cảm ứng đạo giao tức là : việc sở cầu của chúng sinh, mong Phật, Bồ
Tát đáp ứng, toại tâm như ý, việc tâm mong muốn đều thành tựu. Cảm
là cảm động, chúng sinh kiền thành câu nguyện, hoặc tụng Kinh, niệm
danh hiệu Phật, làm cảm động Phật, Bồ Tát. Ứng là phản ứng, Phật, Bồ
Tát bị cảm động rồi, thì phản ứng nguyện cầu của chúng sinh, đáp ứng
những sở cầu của chúng sinh. Ðạo giao cũng như bật nút điện, chỉ cần
ấn vào thì đèn phát ra ánh sáng. Chúng ta học Phật pháp tức là, học
phương pháp ấn nút điện, hai luồng điện âm dương tiếp với nhau, thì
có ánh sáng, tức là khôi phục đại quang minh tạng vốn có.
‘’ Quang Minh Thiên Vương được môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát
này vị Tự Tại Quang Minh Thiên Vương đắc được.
Lại nữa, Nhựt Thiên Tử được môn giải thoát, thường phóng quang
minh thanh tịnh, chiếu khắp lợi ích chúng sinh, trong mười phương
tận kiếp vị lai.
Vị Nhựt Thiên Tử đắc được quang minh thanh tịnh, chiếu khắp tất cả
chúng sinh trong mười phương, cho đến suốt kiếp vị lai, luôn luôn
lợi ích chúng sinh. Giống như ánh sáng mặt trời, chiếu khắp tất cả,
được sự ấm áp mà sinh trưởng. Ðó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Chúng ta đều đắc được lợi ích của Phật Bồ Tát. Phật Bồ Tát lợi ích
chúng sinh, biến thành ngũ cốc để trị liệu bệnh đói của chúng sinh,
biến thành tơ lụa để che ấm cho chúng sinh, bố thí tất cả vật thất
cho chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được an lạc.
Quang Diệm Thiên Tử, được môn giải thoát, dùng tất cả tùy loại
thân, khai ngộ chúng sinh, khiến cho họ nhập vào biển trí huệ.
Vị Quang Diệm Nhãn Thiên Tử có quang minh sáng chói giống như lửa
ngọn, khiến cho mắt của người bị chói không thể mở. Vị nầy đắc được
môn giải thoát, tùy theo tất cả mọi loại chúng sinh, mà hiển hiện
các thứ thân hình. Muốn độ người thì hiện thân người, muốn độ chó
thì hiện thân chó. Muốn độ chúng sinh nào thì hiện thân đó, khiến
cho họ bỏ mê về giác, từ ngu si mà đắc được trí huệ, đều nhập vào
biển trí huệ, vĩnh viễn chẳng còn ngu si nữa.
Tu Di Quang Hoan Hỉ Tràng Thiên Tử, được môn giải thoát, làm chủ
tất cả chúng sinh, khiến cho họ siêng tu, vô biên công đức thanh
tịnh.
Vị Tu Di Quang Hoan Hỉ Tràng Thiên Tử được môn giải thoát, làm chủ
tất cả chúng sinh, khiến cho ho tinh tấn tu hành, tu vô biên công
đức thanh tịnh. Công đức nầy lợi ích chúng sinh, chứ chẳng phải lợi
ích cho mình, cho nên gọi là làm công đức thanh tịnh.
Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử, được môn giải thoát, thâm tâm hoan hỉ
tu tất cả khổ hạnh.
Vị Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử hiểu nghĩa lý tu tất cả khổ hạnh. Từ
trong thâm tâm hoan hỉ sự khổ hạnh, muốn tu pháp nầy, đó là môn giải
thoát của vị nầy đắc đựơc.
Ðức Phật có mười vị đệ tử lớn, mỗi vị đều đắc được đệ nhất. Tôn Giả
Ma Ha Ca Diếp được đầu đà (khổ hạnh) đệ nhất, làm những việc người
không thể làm, hành những việc người không thể hành, ăn cơm mà những
người khác không thể ăn, mặc y mà những người khác không thể mặc.
Tôn Giả tu mười hai điều khổ hạnh :
1. Ở chỗ vắng lặng.
2. Hoặc ở ngoài nghĩa địa.
3. Hoặc ở ngoài đồng.
4. Ngủ dưới gốc cây.
5. Ngồi không nằm.
6. Thường đi khất thực.
7. Ăn có thứ lớp.
8. Ngày ăn một bữa.
9. Ăn có tiết lượng.
10. Quá ngọ không uống nước.
11. Mặc y phấn tảo.
12. Chỉ có ba y.
Ðó là những điều khổ hạnh.
Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử, được môn giải thoát, quang
minh vô ngại chiếu khắp, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được lợi
ích, tăng thêm tinh tấn khoái lạc.
Vị Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử, dũng mãnh tinh tấn dụng công
tu hành, bất cứ gặp khó khăn gì, cũng tuyệt đối không thối chuyển,
do đó đắc được quang minh vô ngại. Quang minh nầy chiếu khắp tất cả
chúng sinh, khiến cho họ đều đắc được lợi ích, tăng thêm tinh tấn
khoái lạc, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, quang minh
thanh tịnh chiếu khắp thân chúng sinh, khiến cho họ sinh hoan hỉ tin
hiểu.
Vị Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử, đắc được quang minh thanh tịnh,
chiếu khắp thân chúng sinh. Khiến cho tất cả chúng sinh, sinh tâm
đại hoan hỉ, tâm tin hiểu, do tin mà hiểu. Trí huệ nầy giống như
biển cả, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, quang
minh chiếu khắp tất cả thế gian, khiến cho thành tựu đủ thứ công đức
vi diệu.
Vị Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử, dùng quang minh thù thắng
nhất, chiếu khắp tất cả thế gian. Vị nầy dùng quang minh để thuyết
pháp, dùng quang minh để giáo hoá chúng sinh, khiến cho tất cả chúng
sinh thế gian, đều thành tựu đủ thứ diệu công đức không thể nghĩ
bàn. Ðó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Bảo Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, biển đại bi
hiện vô biên cảnh giới, đủ loại sắc tướng báu.
Vị Bảo Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử, đắc được biển đại bi, ban cho
chúng sinh tất cả khoái lạc, và tất cả nguyện vọng, đều toại tâm như
ý. Chúng sinh muốn vàng thì cho vàng, muốn bạc thì cho bạc, muốn lưu
ly thì cho lưu ly. Muốn cầu châu báu gì, thì cho châu báu đó. Cho
nên ở trong biển đại bi, hiện ra vô biên đủ thứ sắc tướng báu, phàm
là châu báu có hình có tướng, đều hiện ra để làm thoả mãn sở cầu của
chúng sinh, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Quanh Minh Nhãn Thiên Tử, được môn giải thoát, tịnh trị tất cả
mắt của chúng sinh, khiến cho họ thấy pháp giới tạng.
Vị Quang Minh Nhãn Thiên Tử có mắt sáng vô cùng, quán sát những nơi
rất xa mà thấy rất rõ ràng. Vị nầy tịnh trị tất cả bệnh mắt của
chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh thấy được cảnh giới pháp
giới tạng.
Trì Ðức Thiên Tử được môn giải thoát, phát sinh tâm thanh tịnh
tương tục, khiến cho không hư hoại.
Vị Trì Ðức Thiên Tử tu pháp môn trì phước đức tướng hảo, cho nên đắc
được cảnh giới tất cả tâm thanh tịnh tương tục, khiến cho tâm thanh
tịnh tương tục không ngừng, vĩnh viễn không mất không hoại. Vị nầy
đắc được môn giải thoát nầy.
Phổ Vận Hành Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, vận khắp
nhựt cung điện, chiếu tất cả chúng sinh trong mười phương, khiến cho
thành tựu nghiệp đã làm ra.
Vị Phổ Vận Hành Quang Minh Thiên Tử, đắc được môn giải thoát, vận
chuyển cung điện ánh sáng mặt trời, chiếu sáng tất cả chúng sinh
trong mười phương, khiến cho họ thành tựu thiện nghiệp tu làm được.
Bấy giờ, Nhựt Thiên Tử, nương oai lực của Ðức Phật, quán khắp tất
cả chúng Nhựt Thiên Tử mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Nhựt Thiên Tử nương đại oai đức thần lực của Ðức Phật,
quán sát khắp tất cả chúng Nhựt Thiên Tử, mà nói kệ tán thán công
đức của Phật.
Trí huệ quang Như Lai rộng lớn
Chiếu khắp mười phương các cõi nước
Tất cả chúng sinh đều thấy Phật
Ðủ thứ điều phục nhiều phương tiện.
"Trí huệ quang Như Lai rộng lớn". Trí huệ quang của Phật rộng lớn vô
biên. Trí huệ Quang nầy do tu thiền định mà đắc được. Tu đến lúc
chẳng còn vọng tưởng, thì trí huệ quang sẽ hiện tiền, tức cũng khai
ngộ. Phật tu phước tu huệ trong nhiều đời nhiều kiếp, cho nên có đại
trí huệ quang.
"Chiếu khắp mười phương các cõi nước". Trí huệ quang nầy rộng lớn
chiếu khắp các cõi nước chư Phật trong mười phương.
"Tất cả chúng sinh đều thấy Phật". Chúng sinh trong mười phương cõi
nước đều thấy Phật.
"Ðủ thứ điều phục nhiều phương tiện". Phật dùng đủ thứ phương tiện
pháp môn, để điều phục tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh, thấy
được Phật rồi, đều sửa lỗi làm mới, bỏ ác hướng thiện, hồi quang
phản chiếu, đắc được giác ngộ.
Sắc tướng Như Lai không bờ mé
Tùy chúng sinh thích đều hiện thân
Khắp vì thế gian mở biển trí
Diệm Nhãn quán nơi Phật như vậy.
"Sắc Thân Như Lai không bờ mé". Pháp thân của Phật chẳng có bờ mé,
sắc thân của Phật cũng chẳng có bờ mé, đều tận hư không khắp pháp
giới. Song, pháp thân không hình không tướng, còn sắc thân thì có
hình có tướng.
"Tùy chúng sinh thích đều hiện thân". Tùy theo sở vui thích của
chúng sinh, Phật đều hiện thân để vì họ thuyết pháp, nói pháp Bốn
Thánh Ðế, pháp mười hai nhân duyên, pháp lục độ .v.v.
"Khắp vì thế gian mở biển trí". Mục đích Phật thuyết pháp, là khắp
vì tất cả chúng sinh thế gian, khai mở biển trí huệ. Có trí huệ rồi
mới biết rõ thiện ác thị phi, không làm việc điên đảo.
"Diệm Nhãn Quán nơi Phật Như vậy". Quang Diễm Nhãn Thiên Tử quán
tưởng nơi Phật như thế.
Thân Phật chẳng sánh không ai bằng
Quang minh chiếu sáng khắp mười phương
Vượt hơn tất cả trên hết thảy
Hoan Hỉ Thiên Tử được môn nầy.
"Thân Phật chẳng sánh không ai bằng". Thân của Phật không ai bằng,
cũng chẳng thể so sánh, nghĩa là chẳng có ai bằng Phật.
"Quang minh chiếu sáng khắp mười phương". Quang minh của Phật chiếu
sáng khắp mười phương, giống như ánh sáng mặt trời, nhưng hơn hẳn
ánh sáng mặt trời. Vì ánh sáng mặt trời chỉ chiếu mặt dương mà không
thể chiếu mặt âm. Quang minh của Phật chiếu khắp, chẳng có chỗ nào
mà không chiếu, bất cứ là mặt âm hay mặt dương đều chiếu khắp.
"Vượt hơn tất cả trên hết thảy". Quang minh của Phật, vượt hơn tất
cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng , sao. Không thể nào so sánh được
quang minh của Phật. Cho nên nói vượt hơn tất cả trên hết thảy.
"Hoan Hỉ Thiên Tử được môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy vị Tu
Di Quang Hoan Hỉ Tràng Thiên tử đắc được.
Vì lợi thế gian tu khổ hạnh
Qua lại các cõi vô lượng kiếp
Quang minh tịnh khắp như hư không
Bảo Nguyệt biết được phương tiện nầy.
"Vì lợi thế gian tu khổ hạnh". Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử, vì lợi ích
tất cả chúng sinh thế gian, mới tu khổ hạnh. Nguyện dùng khổ hạnh
của mình, để giải trừ khổ của chúng sinh, đó là tinh thần của Phật
Bồ Tát cứu đời cứu người.
"Qua lại các cõi vô lượng kiếp". Chuyển đi chuyển lại ở trong tam
giới hai mươi lăm cõi, trong thời gian vô lượng kiếp tu khổ hạnh.
Hai mươi lăm cõi là : Dục giới có mười bốn cõi, sắc giới có bảy cõi,
vô sắc giới có bốn cõi, tổng cộng hai mươi lăm cõi.
Mười bốn cõi dục giới tức là :
Bốn đường ác ( A tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục).
Bốn đại châu (Nam Thiệm Bộ Châu, Ðông thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa
Châu, Bắc Câu Lưu Châu).
Sáu cõi trời dục giới (Trời Tứ Thiên Vương, Trời Ðao Lợi, Trời Dạ
Xoa, Trời Ðâu Suất, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự Tại).
Sắc giới có bảy cõi tức là :
Trời Sơ Thiền,
Trời Nhị Thiền,
Trời Tam Thiền,
Trời Tứ Thiền,
Trời Ðại Phạm,
Trời Tịnh Không,
Trời Vô Tưởng.
Vô sắc giới có bốn cõi tức là :
Trời Không Vô Biên Xứ,
Trời Thức Vô Biên Xứ,
Trời Vô Sở Hữu Xứ,
Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.
Phá phiền não hai mươi lăm cõi gọi là tịnh, phá nghiệp hai mươi lăm
cõi gọi là ngã, phá chấp hai mươi lăm cõi gọi là lạc. Chẳng còn sinh
tử hai mươi lăm cõi gọi là thường. Thường lạc ngã tịnh là bốn đức
Niết Bàn.
Phật nói pháp thế gian là : vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, đó là
pháp phương tiện. Phật nói pháp xuất thế là : thường, lạc, ngã, tịnh
đó là pháp chân thật. Vô thường là chúng sinh, thường là pháp thân.
Khổ là ngoại đạo, lạc là Niết Bàn. Vô ngã là sinh tử, ngã là Như
Lai. Bất tịnh là hữu vi, tịnh là vô vi.
Ví dụ : Trăng sáng là thường lạc ngã tịnh. Mây đen là vô thường khổ
vô ngã bất tịnh. Pháp thế gian là mây đen che mặt trăng, không thấy
ánh sáng. Pháp xuất thế giống như gió mát, thổi mây bay đi hết, thì
lại thấy mặt trăng chiếu sáng.
Phàm phu có bốn việc điên đảo : Lấy sinh diệt vô thường, chấp trước
làm thường. Lấy hoặc nghiệp khổ chấp trước làm vui. Lấy duyên giả
ngã chấp trước làm ngã. Lấy phiền não nhiễm ô, chấp trước làm tịnh,
cho nên là chúng sinh.
Chúng ta là người tu đạo, phải trừ khử vô minh , nếu trừ sạch vô
minh thì chân tâm sáng tỏ, trí huệ hiện tiền, thấy rõ chân lý thì
chẳng còn điên điên đảo nữa.
"Quang minh tịnh khắp như hư không". Quang minh của Phật, thanh tịnh
khắp như hư không, tơ hào chẳng nhiễm.
"Bảo Nguyệt biết được phương tiện nầy". Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử
biết được phương tiện pháp môn nầy.
Phật diễn diệu âm không chướng ngại
Khắp cùng mười phương các cõi nước
Dùng pháp từ vị ích quần sinh
Dũng Mãnh thấu triệt phương tiện nầy.
"Phật diễn diệu âm không chướng ngại". Âm thanh vi diệu của Phật,
chẳng có gì chướng ngại được, bất cứ nơi nào xa, cũng đều nghe được
âm thanh của Phật. Không những nghe được mà còn rất rõ ràng, giống
như Phật đang ở trước mặt.
"Biến khắp mười phương các cõi nước". Phật giảng Kinh thuyết pháp, ở
trong một cõi nước, mà các cõi nước trong mười phương cùng đều nghe
được.
"Dùng pháp từ vị ích quần sinh". Phật dùng từ vị của pháp, để lợi
ích chúng sinh, do đó "Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn", để
tăng trưởng huệ mạng của chúng sinh.
"Dũng mãnh thấu triệt phương tiện này". Vị Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển
Thiên Tử minh bạch môn thiện xảo phương tiện nầy.
Phóng lưới quang minh không nghĩ bàn
Tịnh khắp tất cả các hàm thức
Khiến cho phát sinh tin hiểu sâu
Hoa Anh Thiên Vương chứng môn nầy.
"Phóng lưới quang minh không nghĩ bàn". Phật phóng ra một loại lưới
quang minh, không thể nghĩ bàn, độ thoát tất cả chúng sinh ra khỏi
biển sinh tử.
"Tịnh khắp tất cả các hàm thức". Hàm thức là chúng sinh gồm có tám
thức, lưới quang minh của Phật khiến tất cả chúng sinh đắc được
thanh tịnh.
"Khiến cho phát sinh tin hiểu sâu". Hoàn toàn khiến cho chúng sinh,
đều phát sinh tin hiểu sâu rộng, thậm chí con vật nhất cũng hiểu
được.
"Hoa Anh Thiên Vương chứng môn nầy". Vi Diệu Hoa Anh Quang Minh
Thiên Tử, thâm nhập được môn giải thoát nầy.
Tất cả quang minh trong thế gian
Chẳng bằng quang minh lỗ lông Phật
Quang minh của Phật không nghĩ bàn
Thắng Tràng Quang Thiên ngộ môn nầy.
"Tất cả quang minh trong thế gian". Tất cả ánh sáng mặt trời, mặt
trăng, sao cho đến đèn điện trong thế gian không thể so sánh với
quang minh của Phật.
"Chẳng bằng quang minh lỗ lông Phật". Những ánh sáng trong thế gian,
chẳng bằng quang minh một lỗ chân lông của Phật. Quang minh lỗ chân
lông của Phật chiếu sáng khắp ba ngàn đại thiên thế giới.
"Quang minh của Phật không nghĩ bàn". Quang minh của Phật vĩ đại như
thế, tán thán không hết, nói không cùng được, là cảnh giới không thể
nghĩ bàn.
"Thắng Tràng Quang Thiên ngộ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy
vị Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử đắc được.
Tất cả Phật pháp đều như thế
Ðều ngồi dưới gốc cội bồ đề
Khiến kẻ làm ác sửa làm lành
Bảo Kế Quang Minh thấy môn nầy.
"Tất cả Phật pháp đều như thế". Tất cả pháp của chư Phật trong mười
phương ba đời đều như thế.
"Ðều ngồi dưới gốc cội bồ đề". Khi chư Phật thành đạo, đều ngồi dưới
cội bồ đề khai ngộ thành Phật.
"Khiến kẻ làm ác cải làm lành". Khiến cho chúng sinh địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh xa rời đường ác mà sinh về đường lành, cải ác hướng
thiện, cài tà quy chánh.
"Bảo Kế Quang Minh thấy môn nầy". Vị Bảo Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử
đắc được cảnh giới nầy.
Chúng sinh mù tối ngu si khổ
Phật muốn cho họ sinh mắt tịnh
Khiến cho khai mở đèn trí huệ
Thiện Mục quán được pháp môn nầy.
"Chúng sinh mù tối ngu si khổ". Mù là vô minh, tối là phiền não, ngu
si là chấp trước. Ba thứ nầy khổ đặc biệt, nhưng những khổ nầy chẳng
ai giác ngộ, giống như cá ở trong nước chẳng thấy nước, người ở
trong khổ chẳng biết khổ, nhiễm khổ cho rằng vui.
"Phật muốn cho họ sinh tịnh nhãn". Phật muốn cho tất cả chúng sinh
đều sinh mắt trí huệ thanh tịnh. Có đại trí huệ rồi, thì sẽ phá được
phiền não vô minh và chấp trước, tức là được giải thoát.
"Khiến cho khai mở đèn trí huệ". Vì Phật muốn phá khổ mù tối ngu si
của chúng sinh, cho nên vì chúng sinh khai mở đèn trí huệ, dạy tất
cả chúng sinh phá vô minh, bỏ tà về chánh.
"Thiện Mục quán được pháp môn nầy". Vị Thiện Mục Thiên Tử quán sát
và đắc được môn giải thoát nầy.
Ðấng Tự Tại phương tiện giải thoát
Nếu ai thấy được mà cúng dường
Khiến họ tu hành chứng đạo quả
Trì Ðức Thiên Tử thấu môn nầy.
"Ðấng tự tại phương tiện giải thoát". Giải thoát nghĩa là : chẳng
còn mọi sự chấp trước. Không còn chấp trước mới thật sự tự tại.
Không trói không buộc, không quái không ngại, không sầu không lo,
không vui không giận, không bị gì ràng buộc, không bị vật chất lung
lay, thì "vượt ra khỏi tam giới, không ở trong ngũ hành", như vậy
mới hoàn toàn giải thoát. Nếu muốn được giải thoát thì tu đủ thứ
phương tiện pháp môn, từ phương tiện pháp môn mà đạt đến tự tại, từ
tự tại mới đạt được giải thoát.
Chân chánh giải thoát thì chẳng có tướng giải thoát, chẳng có tính
giải thoát, không thể nói giải thoát. Người hay nói thì chẳng phải
là thật giải thoát, hơn nữa chẳng phải nói có tư tưởng thì nói tôi
giải thoát rồi. Nhưng làm thế nào biết có giải thoát ? vậy vẫn chưa
được giải thoát.
Tại sao phải nói có giải thoát ? Giải thoát vốn là giải thoát. Tại
sao phải nói tôi phải giải thoát ? Tôi phải đắc được giải thoát ?
Vậy bạn đã vứt giải thoát rồi chăng ? hay là đã mất rồi chăng ? cho
nên một số người không giữ quy cụ, cho rằng mình đắc được giải thoát
(tự do), cho rằng muốn họ giữ quy cụ thì chẳng đắc được giải thoát.
Thứ tư tưởng nầy khiến cho họ làm tự liễu hán, họ không biết đến
người, người không biết đến họ. Do đó, "quan niệm", chẳng màng đến
việc gì hết. Thật ra đại Bồ Tát thì hành Bồ Tát đạo, chuyên lo mọi
việc. Di Ðà Phật tiếp dẫn chúng sinh về thế giới Cực Lạc, hoa sen
hóa sinh, chẳng có thời giờ nghỉ ngơi, sao nói không thích lo việc
thiên hạ ?
Tổ thứ tư Ðạo Tín đại sư khoảng mười bốn tuổi thì đến núi Sùng Công
lạy Tổ thứ ba là Tăng Xán.
- Ðạo Tín đại sư nói :"Mong Hòa Thượng từ bi, chỉ dạy pháp môn giải
thóat".
- Tổ Tăng Xán nói : "Ai trói buộc ngươi" ?
- Ngài Ðạo Tín nói : "Chẳng ai trói buộc".
- Tổ Tăng Xán nói : "Cầu giải thoát để làm gì" ?
Ngài Ðạo Tín nghe rồi bèn khai ngộ, ở lại hầu Tổ Tăng Xán bảy năm,
sau được tâm ấn Cà sa làm Tổ thứ tư.
"Nếu ai thấy được mà cúng dường". Ðấng tự tại phương tiện giải thoát
tức là Phật. Nếu có ai thấy được Phật mà phát tâm cúng dường Phật.
"Khiến họ tu hành chứng đạo quả". Hoàn toàn khiến cho chúng sinh
cúng dường, tu đủ thứ pháp môn, chứng được quả vị.
"Trì Ðức Thiên Tử thấu môn nầy". Vị Trì Ðức Thiên Tử minh bạch được
phương tiện pháp môn nầy.
Trong một pháp môn vô lượng môn
Vô lượng ngàn kiếp nói như vậy
Sở diễn pháp môn nghĩa rộng lớn
Phổ Vận Quang Thiên ngộ môn nầy.
"Trong một pháp môn vô lượng môn". Pháp của Phật nói là một làm
lượng, vô lượng làm một. Một gốc tán làm vạn thù, vạn thù quy về một
gốc. Cho nên mới nói : trong một pháp môn, diễn nói vô lượng pháp
môn, vô lượng pháp môn, trở về một pháp môn. Ðó là cảnh giới trùng
trùng vô tận, vô tận trùng trùng.
"Vô lượng ngàn kiếp nói như vậy". Trong vô lượng trăm ngàn vạn kiếp,
Phật đều nói pháp như thế. Nhưng thứ pháp nầy thủy chung cũng nói
không hết.
"Sở diễn pháp môn nghĩa rộng lớn". Pháp môn của Phật diễn nói là vô
lượng vô biên, cho nên nghĩa lý rộng lớn, vô cùng tận.
"Phổ Vận Quang Thiên ngộ môn nầy". Phổ Vận Quang Minh Thiên Tử thấy
rõ cảnh giới nầy.
Lại nữa, Nguyệt Thiên Tử, được môn giải thoát, quang minh thanh
tịnh, chiếu khắp pháp giới nhiếp hóa chúng sinh.
Vị Nguyệt Thiên Tử dùng quang minh thanh tịnh của Phật, chiếu khắp
pháp giới, để nhiếp hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ sớm thành
Phật đạo, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, quán sát
tất cả chúng sinh giới, khiến cho họ vào khắp vô biên pháp.
Vị Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử, quán sát vô lượng vô biên tất
cả chúng sinh giới, khiến cho tất cả chúng sinh, nhập vào khắp vô
biên pháp môn, vô biên trí môn, vị nầy đắc được cảnh giới nầy, nhập
vào môn giải thoát nầy.
Chúng Diệu Tịnh Quang Thiên Tử, được môn giải thoát, biết rõ tất
cả đủ thứ sự phan duyên, biến chuyển trong biển tâm của chúng sinh.
Vị Chúng Diệu Tịnh Quang Thiên Tử, biết rõ tất cả đủ thứ sóng phan
duyên trong biển tâm chúng sinh. Vị nầy hiểu được sóng phan duyên
làm thế nào sinh ra ? Chúng sinh làm thế nào bị sóng phan duyên lay
chuyển? Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.
Trên thế giới nầy có đủ thứ người, có đủ thứ tâm phan duyên. Ðủ thứ
tâm phan duyên bị sóng lay chuyển, giống như sóng trong biển không
khác. Gió lớn thì sóng cũng lớn, gió nhỏ thì sóng cũng nhỏ. Nếu
chẳng có tâm phan duyên thì chẳng có sóng, tâm bình như gương thì
không bị cảnh giới lay chuyển, ngược lại chuyển được cảnh giới.
An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, được môn giải thoát, sự khoái lạc
không thể nghĩ bàn, của tất cả chúng sinh, khiến cho họ nhảy nhót
vui mừng.
Vị An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, đắc được cảnh giới, tâm ai không
khoái lạc, ban cho tất cả chúng sinh khoái lạc không thể nghĩ bàn,
chúng sinh đắc được khoái lạc rồi thì nhảy nhót, sinh tâm vui mừng,
không gì sánh được, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Thụ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, tùy thời
khiến cho thành tựu, như làm nghề ruộng, gieo trồng hạt giống.
Vị Thụ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử mắt sáng đại trí huệ, chiếu
phá sự đen tối vô minh. Cảnh giới tam muội nầy, giống như nông phu
làm nghề ruộng, trước hết gieo giống, sau đó mới nảy mầm đâm chồi
nảy lộc, còn phải tùy thời giữ gìn, chăm sóc, cạo cỏ, tưới nước bón
phân .v.v., mới mong thu hoạch kết quả.
Phật ở trong ruộng Phật, gieo trồng xuống hạt giống bồ đề, sau đó
nảy mầm lớn lên từng chút từng chút, thành cây bồ đề, kết quả bồ đề,
từng bước từng bước mà thành tựu, nhưng cần phải bảo vệ giữ gìn nó,
phải từ từ, thiếu nước thì tưới nước, ít phân thì thêm phân. Dùng
nước đức tính để tưới mầm non trí tuệ, dùng lục độ vạn hạnh, làm
phân bón để vun bồi cây bồ đề, khiến cho nó khai hoa kết quả, phải
luôn luôn giữ gìn, khiến cho nó thành thục, đắc được giải thoát. Vị
Thiên Tử nầy đắc được môn giải thoát nầy.
Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử, được môn giải thoát, từ bi cứu hộ
tất cả chúng sinh, khiến cho hiện thấy sự thọ khổ thọ vui.
Vị Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử đắc được tam muội, từ bi cứu hộ tất
cả chúng sinh. Từ là ban vui cho chúng sinh, bi là cứ khổ chúng
sinh. Từ là vô duyên đại từ, bi là đồng thể đại bi. Vị Thiên Tử nầy
dùng tâm từ bi để cứu độ chúng sinh, để cứu hộ tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh, thấy sự thọ khổ thọ vui. Vị nầy đắc
được môn giải thoát nầy.
Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên Tử, được môn giải thoát, giữ mặt
trăng thanh tịnh, hiện khắp trong mười phương.
Vị Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên Tử du hành khắp mười phương. Tuy
nhiên du hành nhưng chẳng động chỗ ngồi, hoặc là ở nơi tịch tĩnh
trong đạo tràng, đó là cảnh giới thiền định, chẳng phải người phàm
phu hiểu biết được. Ở trong thiền định có thể du hành khắp mười
phương, đến khắp pháp giới, như như bất động, liễu liễu thường minh.
Cảnh giới nầy như mặt trăng thanh tịnh, hiện khắp trong mười phương.
Bạn thấy mặt trăng ở trên đầu bạn, người kia cũng thấy mặt trăng ở
trên đầu của họ, chúng sinh trong mười phương đều cảm thấy mặt trăng
đều ở trên đầu của mình. Vị Thiên Tử nầy đắc được cảnh giới nầy.
Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử, được môn giải thoát, khai thị tất
cả các pháp, như huyễn như hư không, không tướng không tự tánh.
Vị nầy là Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử. Tinh tú là vua của các vì
sao. Nhà thiên văn học phân chia sao ra làm nhị thập bát tú. Phương
đông : thương long thất tú, tức là : Giác kháng thị phòng tâm vĩ kì,
bảy vì sao làm đại biểu. Phương nam : thù tỉnh thất tú, tức là :
Tỉnh, Quỷ, Liểu, Tinh, Trương, Duật, Chẩn bảy vì sao làm đại biểu.
Phương tây : bạch hổ thất tinh, tức là Khuê, Sổ, Vị, Mão, Tất, Tuy,
Tham, bảy vì sao làm đại biểu. Phương bắc : huyền võ thất tú, tức là
Ðẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, bảy vì sao làm đại biểu.
Vị Thiên Tử nầy tự tại vô cùng, khai thị tất cả diệu pháp. Diệu pháp
là gì ? Là như huyễn như hư không, không tướng không tự tính, giống
như huyễn hóa, lại giống như hư không, chẳng có hình tướng, lại
chẳng có tự tính. Cứu kính là gì ? Tức là pháp thân của Phật, vị nầy
đắc được môn giải thoát nầy.
Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử, được môn giải thoát, khắp vì tất cả
chúng sinh khởi đại nghiệp dụng.
Vị Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử, khiến cho tất cả chúng sinh, phát tâm
đại bồ đề, kết quả bồ đề, tu nghiệp đại bồ đề, sinh dụng đại bồ đề.
Quả bồ đề viên mãn thành tựu rồi, thì dứt được nghiệp sinh tử.
Nghiệp bồ đề giác đạo thành tựu rồi, thì đó là khởi dụng đại nghiệp.
Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.
Ðại Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, đoạn sạch
tất cả nghi hoặc.
Vị Ðại Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử rất có oai đức, chúng sinh thấy
được vị nầy, đều sinh tâm cung kính và sợ sệt. Vị nầy đoạn trừ tất
cả nghi hoặc của chúng sinh. Bất cứ nghi hoặc phiền não gì, vị nầy
đều giải trừ. Ðó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Bấy giờ, Nguyệt Thiên Tử nương oai lực của Ðức Phật, quán khắp
tất cả các Thiên chúng, trong Nguyệt cung điện mà nói kệ rằng.
Lúc đó, vị Nguyệt Thiên Tử, nương đại oai đức thần thông lực của đùc
Phật, quán sát khắp tất cả các Thiên chúng hội trong Nguyệt cung
điện, mà nói kệ tán thán công đức của Phật.
Phật phóng quang minh khắp thế gian
Chiếu sáng mười phương các cõi nước
Nói pháp rộng lớn không nghĩ bàn
Phá sạch ngu si hoặc chúng sinh.
"Phật phóng quang minh khắp thế gian". Phật phóng vô lượng vô biên
quang minh, chiếu sáng khắp thế gian.
"Chiếu sáng các cõi nước mười phương". Quang minh của Phật không
những chiếu khắp thế gian mà còn chiếu khắp các cõi Phật trong mười
phương.
"Nói pháp rộng lớn không nghĩ bàn". Phật diễn nói diệu pháp rộng lớn
không thể dùng tâm để suy nghĩ, không thể dùng lời để bàn luận. Diệu
pháp là gì ? Tức là hai chúng tại gia nam và nữ tu : "đừng làm các
điều ác, hãy làm các điều thiện", hai chúng xuất gia Tăng ni tu
"siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si".
"Phá sạch ngu si hoặc chúng sinh". Vô minh đen tối, phiền não ngu si
hoặc của chúng sinh phá sạch vĩnh viễn. Vị Nguyệt Thiên Tử đắc được
môn giải thoát nầy.
Cảnh giới vô biên không ngằn mé
Trong vô lượng kiếp thường khai đạo
Ðủ thứ tự tại hóa quần sinh
Hoa Kế quán thấy Phật như vậy.
"Cảnh giới vô biên không ngằn mé". Cảnh giới của Phật chẳng có bờ
mé, cũng chẳng có cùng tột, tận hư không khắp pháp giới.
"Trong vô lượng kiếp thường khai đạo". Trong vô lượng kiếp về trước,
Phật thường vì chúng sinh mà thuyết pháp, khai đạo chúng sinh, giáo
hóa chúng sinh.
"Ðủ thứ tự tại hóa quần sinh". Phật dùng đủ thứ tự tại thần thông
diệu dụng, để giáo hóa quần sinh, lợi ích quần sinh.
"Hoa Kế quán thấy Phật như vậy". Vị Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên
Tử, quán sát được cảnh giới nầy của Phật.
Biển tâm chúng sinh niệm niệm thù
Trí Phật rộng lớn đều biết rõ
Khắp vì thuyết pháp khiến vui mừng
Giải thoát nầy của Diệu Quang Minh.
"Biển tâm chúng sinh niệm niệm thù". Biển tâm của chúng sinh, niệm
niệm khác nhau. Niệm trước diệt niệm sau sinh, niệm sau diệt niệm
trước sinh, niệm niệm liên tục, như sóng biển lớn.
"Trí Phật rộng lớn đều biết rõ". Trí huệ của Phật rộng lớn và vi tế
vô cùng. Tất cả mọi tâm niệm của chúng sinh Phật đều biết đều thấy.
"Khắp vì thuyết pháp khiến vui mừng". Phật khắp vì tất cả chúng sinh
mà thuyết pháp, khiến cho chúng sinh đắc được đại hoan hỉ mà y giáo
phụng hành, y theo pháp tu học.
"Giải thoát nầy của Diệu Quang Minh". Môn giải thoát nầy vị Chúng
Diệu Tịnh Quang Thiên Tử đắc được.
Chúng sinh chẳng có Thánh an lạc
Trầm mê đường ác thọ các khổ
Như Lai khai thị môn pháp tánh
An Lạc tư duy thấy như thế.
"Chúng sinh chẳng có Thánh an lạc". Tất cả sự an lạc của chúng sinh,
đều là an lạc thế gian, tuy nhiên cảm thấy là an lạc, thật ra là
chẳng thật an lạc. Thật an lạc là gì ? Tức là an lạc của Thánh nhân,
không thọ các khổ, chỉ thọ an lạc, không lo không sầu, không quái
không ngại.
"Trầm mê đường ác thọ các khổ". Chúng sinh trầm mê trong sáu nẻo
luân hồi, thọ đủ thứ sự thống khổ. Trong sáu nẻo có ba đường lành và
ba đường ác. Ba đường lành là cõi trời, cõi người, cõi a tu la. Tu
mười điều lành giữ năm giới, thì sinh về đường lành. Ba đường ác là
: Súc sinh, ngạ quỷ đạo, địa ngục, làm mười điều ác không giữ giới
thì sinh vào ba đường ác. Chúng sinh sinh vào ba đường lành thì khổ
nhiều vui ít. Chúng sinh sinh vào ba đường ác thì không có vui, chỉ
thọ các sự thống khổ.
"Như Lai khai thị môn pháp tính". Phật khai thị cho chúng sinh, các
pháp không rời tự tính, khiến cho chúng sinh, đều đắc được an lạc
của bậc Thánh nhân.
"An Lạc tư duy thấy như vậy". Vị An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, tư
duy thấy được cảnh giới nầy.
Như Lai hi hữu đại từ bi
Vì lợi chúng sinh vào các cõi
Thuyết pháp khuyến thiện khiến thành tựu
Mục Quang Thiên thấu rõ môn nầy.
"Như Lai hi hữu đại từ bi". Lòng từ bi cùa Phật vĩ đại nhất, hi hữu
nhất trên thế gian. Bất cứ lòng từ bi nào, cũng không thể sánh với
lòng từ bi của Phật.
"Vị lợi chúng sinh vào các cõi". Tâm từ bi của Phật rộng lớn vô
biên. Vì lợi ích chúng sinh, vì giáo hóa chúng, mà tâm cam tình
nguyện, vào trong tam giới hai mươi lăm cõi, giải trừ sự thống khổ
của chúng sinh, cứu hộ sự thống khổ của chúng sinh, đó là nguyện lực
của Phật.
"Thuyết pháp khuyến thiện khiến thành tựu". Phật vì muốn cho chúng
sinh, lìa khổ được vui, mà diễn nói đủ thứ pháp môn và khuyên chúng
sinh làm đủ thứ việc thiện, khiến cho chúng sinh đều thành tựu, đắc
được quả giác ngộ bồ đề.
"Mục Quang Thiên thấu rõ môn này". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Thụ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử minh bạch được.
Thế Tôn khai xiển pháp quang minh
Phân biệt các nghiệp tánh thế gian
Thiện ác đã làm chẳng mất tiêu
Tịnh Quang thấy rõ sinh hoan hỉ.
"Thế Tôn khai xiển pháp quang minh". Thế Tôn tức là Phật. Phật khai
dương xiển minh chân lý Phật pháp, khiến cho thế giới phóng đại
quang minh, những chúng sinh được quang minh của Phật chiếu đến đều
đắc được lợi ích vô lượng.
"Phân biệt các nghiệp tính thế gian". Phật thuyết pháp vì phân biệt
thiện nghiệp và ác nghiệp thế gian và nghiệp không thiện không ác.
Nếu gieo trồng nghiệp thiện thì tương lai sẽ được quả báu thiện. Nếu
gieo trồng nghiệp ác thì tương lai sẽ được quả báu ác.
"Thiện ác đã làm chẳng mất tiêu". Trồng nhân thiện thì được quả
thiện, trồng nhân ác thì được quả ác, đó là luật nhân quả bất biến,
tuyệt đối không có vấn đề tạo nghiệp thiện mà không có quả thiện,
tạo nghiệp ác mà không có quả ác. Thiện ác đều không mất tiêu, tơ
hào không sai.
"Tịnh Quang thấy rõ sinh hoan hỉ". Vị Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử
thấy được cảnh giới nầy rất sung sướng vui mừng.
Phật là chỗ nương tất cả phước
Ví như đại địa giữ nhà cửa
Khéo dạy lìa khổ được an ổn
Bất Ðộng biết được phương tiện nầy.
"Phật là chỗ nương tất cả phước". Ðức Phật đầy đủ phước huệ, tất cả
đều viên mãn. Phật là ruộng phước tốt của chúng sinh, là chỗ phước
báu nương tựa của chúng sinh.
"Ví như đại địa giữ nhà cửa". Giống như đại địa giữ gìn tất cả kiến
trúc phòng xá nhà cửa được cất lên. Ðại địa ví như phước, phước của
Phật là chỗ nương tựa của chúng sinh, lại giống như lâu đài cung
điện, nương tựa đất để cất lên.
"Khéo dạy lìa khổ được an ổn". Phật dùng quyền xảo phương tiện để
thuyết pháp, khai thị tất cả chúng sinh thoát ra khỏi con đường khổ,
mà đắc được sự an ổn.
"Bất Ðộng biết được phương tiện này". Vị Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên
Tử, biết Phật dùng phương tiện pháp môn để giáo hóa chúng sinh.
Lửa trí sáng rực chiếu pháp giới
Hiện hình vô số đồng chúng sinh
Khắp vì tất cả bày chân thật
Tinh Tú Vương Thiên ngộ môn nầy.
"Lửa trí sáng rực chiếu pháp giới". Lửa trí huệ của Phật phóng đại
quang minh, chiếu khắp pháp giới.
"Hiện hình vô số đồng chúng sinh". Phật lại hiện trăm ngàn vạn ức
thân chúng sinh, tùy loại chúng sinh mà hóa thân, để giáo hóa chúng
sinh.
"Khắp vì tất cả bày chân thật". Khắp vì tất cả chúng sinh thế gian
mở bày pháp môn chân thật.
"Tinh Tú Vương Thiên ngộ môn nầy". Vị Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử
hiểu được pháp môn cảnh giới nầy.
Phật như hư không không tự tánh
Vì lợi chúng sinh hiện ra đời
Tướng tốt trang nghiêm như bóng hình
Tịnh Giác Thiên Vương thấy như vậy.
"Phật như hư không không tự tánh". Phật thì lấy hư không làm thể,
lấy pháp giới làm thể, lấy chúng sinh làm thể. Bạn muốn biết Phật
chăng ? Vậy thì trước hết phải biết hư không. Nếu biết hư không thì
biết được Phật. Bạn muốn biết Phật chăng ? Vậy thì trước hết phải
biết pháp giới, nếu biết pháp giới thì biết được Phật. Bạn muốn biết
Phật chăng ? Vậy thì trước hết phải biết tất cả chúng sinh, nếu biết
được tất cả chúng sinh thì cũng biết được Phật.
Vì Phật chẳng có tự tánh, chẳng có tự thể, chẳng có tự tướng, lấy hư
không làm tự tánh, lấy pháp giới làm tự thể, lấy chúng sinh làm tự
tướng, cho nên nói Phật như hư không không tự tánh.
"Vì lợi chúng sinh hiện ra đời". Vì sao Phật xuất hiện ra đời ? Vì
Phật có tâm đại bi, muốn lợi ích chúng sinh, khiến cho chúng sinh
đắc được lợi lạc, cho nên mới xuất hiện ra đời.
Phật ở cõi Thường Tịch Quang tịnh độ, như như bất động, liễu liễu
thường minh, không màng chúng sinh được độ hay không, nhưng tâm đại
bi của Phật quá nặng, muốn lợi ích chúng sinh, cứu chúng sinh ra
khỏi biển khổ, cho nên đảo giá từ thuyền, xuất hiện ra đời để độ
chúng sinh đáng được độ.
"Tướng tốt trang nghiêm như hình bóng". Tuy nhiên Phật có ba mươi
hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, đủ thứ trang nghiêm, nhưng giống như
bóng, như hình, chẳng có bổn thể chân thật.
"Tịnh Giác Thiên Vương thấy như vậy". Vị Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử
biết được cảnh giới nầy.
Lỗ lông thân Phật đều diễn âm
Mây pháp che khắp không còn sót
Nghe được thảy đều sinh vui mừng
Oai Ðức Quang Thiên ngộ như vậy.
"Lỗ lông thân Phật đều diễn âm". Tất cả mỗi lỗ chân lông thân thể
của Phật, đều diễn nói diệu âm, vì chúng sinh thuyết pháp, khiến cho
chúng sinh thoát khỏi tam giới, đạt đến bờ bên kia.
"Mây pháp che khắp không còn sót". Phật thuyết pháp giống như mây,
tất cả chúng sinh đều che chở ở dưới mây pháp, đều đắc được pháp ích
và an lạc.
"Nghe được thảy đều sinh vui mừng". Nghe được âm thanh của Phật,
thấy được tướng mạo của Phật, thì chẳng có một chúng sinh nào không
sinh tâm vui mừng.
"Oai Ðức Quang Thiên ngộ như vậy". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử ngộ hiểu được.
Bây giờ đã giải thích xong phần kệ tán thán và các môn giải thoát
của bảy chúng dục giới, sắc giới dưới đây tiếp tục giảng về kệ tán
thán và các môn giải thoát của Bát Bộ Tứ Vương.
Lại nữa, Trì Quốc Càn Thác Bà Vương,
được môn giải thoát, phương tiện tự tại nhiếp tất cả chúng sinh.
Nay giảng tiếp theo. Vị Trì Quốc Càn Thác Bà Vương. Càn Thác Bà dịch
là "hương thần", hoặc là "nhạc thần". Vị nầy đắc được pháp môn tự
tại phương tiện, tức là môn giải thoát nhiếp thọ tất cả chúng sinh.
Tự tại tức là tự do tự tại, tuyệt đối không miễn cưỡng. Phương tiện
tức là quán cơ đầu giáo, vì người thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc.
Nhiếp tức là nhiếp thọ, giống như nam châm hút sắt. Nhiếp có hai lối
giải thích :
1. Triết nhiếp : là dùng pháp môn mãnh liệt để triết phục những
chúng sinh khó điều khó phục.
2. Từ nhiếp : là dùng tâm từ bi đi nhiếp thọ, khiến cho chúng sinh
tự động đến tín ngưỡng Phật pháp, đến thấu hiểu Phật pháp, đến thực
hành Phật pháp mà chứng đắc Phật quả.
Thụ Quang Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát, thấy khắp tất
cả công đức trang nghiêm.
Vị Thụ Quang Càn Thát Bà Vương, thấy hết thảy tất cả chư Phật, dùng
tất cả công đức tu hành, để tang nghiêm pháp thân. Pháp thân là thân
của Phật không hình không tướng, chẳng thể thấy đặng, trái ngược với
sắc thân, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Tịnh Mục Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát, xuất sinh hoan
hỉ tạng, vĩnh viễn đoạn trừ tất cả ưu khổ của chúng sinh.
Vị Tịnh Mục Càn Thác Bà Vương vĩnh viễn đoạn trừ tất cả ưu khổ của
chúng sinh. Chúng sinh có những ưu khổ gì ? Căn bản chẳng có ưu khổ,
mà tự vì phiền não của chính mình, chẳng có việc tìm việc để làm. Vị
nầy không những khiến chúng sinh đoạn trừ ưu khỏ, mà còn khiến cho
chúng sinh, sinh ra tâm vui mừng, đó là môn giải thoát vị nầy đắc
được.
Hoa Quan Càn Thát Bà Vương được môn giải thoát, vĩnh viễn đoạn
trừ tà kiến hoặc, của tất cả chúng sinh.
Vị Hoa Quan Càn Thát Bà Vương, vĩnh viễn đoạn trừ tất cả tà kiến và
nghi hoặc của chúng sinh. Chúng sinh đều có tà tri tà kiến. Tà tri
tà kiến là gì ? Tức là chủ trương không tu hành giới định huệ ba học
vô lậu, có thứ tư tưởng nầy tức là tà tri tà kiến.
Trên thế giới nầy, có rất nhiều người có học vấn, đều có tà tri tà
kiến. Vì chánh tri chánh kiến cần phải có người dạy đạo mới có, mà
tà tri tà kiến chẳng cần ai dạy mình vẫn có, họ tu cho rằng là đúng,
nhưng thực ra là sai lầm, kiến giải của họ không những chính mình
lầm lẫn, mà còn lầm lẫn đến kẻ khác.
Vị Hoa Quan Càn Thác Bà Vương nầy, minh bạch nghĩa lý nầy mà đắc
được môn giải thoát, vĩnh viễn đoạn trừ tà kiến và nghi hoặc của
chúng sinh.
Hỉ Bộ Phổ Âm Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát, như mây
giăng che rộng lớn, che khắp đượm nhuần tất cả chúng sinh.
Vị Hỉ Bộ Phổ Âm Càn Thác Bà Vương, thích chạy bộ vận động và thích
phổ khúc sáng tác nhạc, không những là kiện tướng vận động, mà còn
là nhà âm nhạc, văn võ song toàn. Vị nầy đắc được môn giải thoát,
giống như vừng mây lớn che khắp ba ngàn thế giới, bố thí lợi ích
pháp vũ khắp chúng sinh, đượm nhuần căn lành chúng sinh, khiến cho
sinh trưởng thành thục mà đắc được giải thoát.
Lạc Giao Ðộng Mỹ Mục Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát, hiện
thân tốt rộng lớn vi diệu, khiến cho tất cả chúng sinh hoạch được an
lạc.
Vị Lạc Giao Ðộng Mỹ Mục Càn Thác Bà Vương, đắc được thân tốt rộng
lớn vi diệu, vị nầy không những con mắt rất đẹp, mà thân thể cũng
rất mỹ lệ. Tất cả chúng sinh đều sinh tâm cung kính, tâm ái mộ và
tâm an lạc đối với vị nầy. Vị nầy khiến cho tất cả chúng sinh đều
đắc được an lạc, đắc được môn giải thoát nầy.
Diệu Âm Sư Tử Tràng Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát, phổ
tán đại danh xưng bảo khắp mười phương.
Vị Diệu Âm Sư Tử Tràng Càn Thác Bà Vương, có âm thanh rất vi diệu êm
tai, truyền khắp được trong mười phương. Tất cả chúng sinh trong
mười phương, đều biết vị nầy danh tiếng lừng lẫy, nghe được tên của
vị nầy, thì có thể khai ngộ, khai mở trí huệ mà liễu sinh thoát tử,
đạt đến bờ kia.
Phổ Phóng Bảo Quang Minh Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát,
hiện tất cả thân thanh tịnh quang minh đại hoan hỉ.
Vị Phổ Phóng Bảo Quang Minh Càn Thát Bà Vương, có quang minh báu,
chiếu sáng khắp tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được trí
huệ. Quang minh đại biểu cho trí huệ, khiến cho chúng sinh đều sinh
tâm đại hoan hỉ. Vị nầy đắc được môn giải thoát pháp thân quang minh
thanh tịnh.
Kim Cang Thụ Hoa Tràng Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát, từ
nhuận tất cả cây cối, khiến cho người thấy đều hoan hỉ.
Vị Kim Cang Thụ Hoa Tràng Càn Thác Bà Vương, đắc được cảnh giới từ
nhuận khắp tất cả cây cối, khiến cho tất cả cây cối cành lá hân hân,
cũng khiến cho chúng sinh, thấy được những cây nầy, thì sinh vui
mừng chẳng có ưu sầu. Thứ cây nầy có tát dụng chuyển khổ làm vui, đó
là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Phổ Hiện Trang Nghiêm Càn Thát Bà Vương, được môn giải thoát,
khéo nhập vào tất cả cảnh giới của Phật, khiến cho chúng sinh được
an lạc.
Vị Phổ Hiện Trang Nghiêm Càn Thát Bà Vương, khéo về sự hiện ra đủ
thứ sự trang nghiêm, để trang nghiêm tất cả cõi nước hoặc đạo tràng,
và còn khéo nhập vào tất cả cảnh giới của Phật, đồng thời hiện ra
tất cả cảnh giới của Phật, vừa trang nghiêm vừa thanh tịnh. Vị nầy
lại ban cho tất cả chúng sinh an lạc, trừ khử tất cả ưu khổ của
chúng sinh. Vị nầy có tâm đại từ đại bi, tâm từ ban vui, tâm bi cứu
khổ, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Lúc đó, Trì Quốc Càn Thát Bà Vương, nương oai lực của Ðức Phật,
quán sát khắp tất cả chúng Càn Thát Bà, mà nói ra bài kệ.
Khi vị Phổ Hiện Trang Nghiêm Càn Thát Bà Vương, nói xong môn giải
thoát đã đắc được, thì vị Trì Quốc Càn Thác Bà Vương, (Càn Thác Bà
Vương thuộc về Ðông phương Trì Quốc Thiên Vương cai quản) nương đại
oai thần lực gia bị của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Càn
Thát Bà mà nói kệ để tán thán công đức của Phật.
Quán sát phân làm hai thứ :
1. Quán sát trong định : Tức là ở trong thiền định quán sát nhân
duyên chúng Càn Thác Bà, nên nói pháp gì để khiến cho họ đắc được
lợi ích.
2. Quán sát khi xuất định : Tức là dùng trí huệ để quán sát chúng
Càn Thác Bà, nên dùng pháp phương tiện gì để giáo hóa ? Thì dùng
pháp phương tiện đó. Trước thì dùng sức thần thông để quán sát, sau
thì dùng sức trí huệ để quán sát, hai thứ quán sát nầy phải là người
đã chứng được quả vị mới làm được.
Cảnh giới chư Phật vô lượng môn
Tất cả chúng sinh chẳng vào được
Thiện Thệ như không tánh thanh tịnh
Khắp vì thế gian mở chánh đạo.
"Cảnh giới chư Phật vô lượng môn". Vị Trì Quốc Càn Thác Bà Vương ở
trong định, quán sát quả của chúng sinh trong quá khứ, xuất định thì
lại quán sát quả của chúng sinh trong hiện tại. Thấy quả thì biết
nhân, quán nhân thì biết quả. Và còn biết ba đời tất cả chư Phật có
vô lượng pháp môn.
"Tất cả chúng sinh chẳng vào được". Cảnh giới của chúng sinh và cảnh
giới của chư Phật giống nhau. Nhưng cảnh giới của chúng sinh thì
phiền não, tịnh náo, điên đảo. Cảnh giới của chư Phật thì thanh
tịnh, vô vi mà vô bất vi, gì cũng chẳng có, nhưng có hết thảy. Cảnh
giới nầy chúng sinh chẳng hiểu biết được, cho nên chúng sinh không
thể đạt đến cảnh giới của chư Phât. Vậy làm thế nào có thể đạt đến
được ? Duy chỉ một pháp môn, đó là học tập Phật pháp, tu hành Phật
pháp.
"Thiện Thệ như không tánh thanh tịnh". Thiện Thệ tức là một trong
mười hiệu của Phật. Phật thực hành bát chánh đạo mà chứng nhập cứu
kính Niết Bàn, tánh của Ngài thanh tịnh như hư không.
"Khắp vì thế gian mở chánh đạo". Khắp vì tất cả chúng sinh thế gian,
mà mở ra con đường chánh đại quang minh, khiến cho chúng sinh từ con
đường khang trang bằng phẳng, thẳng đến cõi nước Phật.
Trong mỗi lỗ lông của Như Lai
Biển lớn công đức đều sung mãn
Tất cả thế gian đều lợi lạc
Giải thoát nầy Thụ Quang Vương thấy.
"Trong mỗi lỗ lông của Như Lai". Trong mỗi lỗ chân lông của Phật đều
có công đức vô lượng.
"Biển lớn công đức đều sung mãn". Công đức nầy so với biển còn lớn
hơn. Tất cả công đức trong lỗ long, không thể đo lường được, không
thể nghĩ bàn.
"Tất cả thế gian đều lợi lạc". Công đức của Phật không những lợi lạc
cho chính mình, mà còn hoàn toàn vì lợi lạc của chúng sinh thế gian.
"Giải thoát này Thụ Quang Vương thấy". Cảnh giới nầy vị Thụ Quang
Càn Thát Bà Vương ngộ được, thấy được.
Biển ưu khổ thế gian rộng lớn
Phật tiêu trừ sạch hết không còn
Như Lai thương xót nhiều phương tiện
Tịnh Mục hiểu rõ pháp môn nầy.
"Biển ưu khổ thế gian rộng lớn". Chúng sinh hữu tình thế gian ưu sầu
khổ não, nhiều như nước trong biển lớn, vừa rộng lớn vừa thâm sâu,
do đó "Biển khổ vô biên, quay đầu là bến". Biển khổ vô biên phải làm
như thế nào ? Phải quay đầu tức là giác ngộ, giác ngộ tức là đến bờ
kia. Bờ kia tức là cảnh giới của Phật, đến được cảnh giới của Phật
thì chẳng còn biển ưu khổ nữa.
Làm thế nào để quay đầu ? Tức là buông xả. Buông xả hết tất cả,
buông xả được thì đắc được tự tại. Tại sao có ưu khổ ? Vì buông bỏ
chẳng đặng. Tại sao buông bỏ chẳng đặng ? Vì nhìn không thấu được.
Tại sao nhìn không thấu được ? Vì chẳng có trí huệ. Tại sao chẳng có
trí huệ ? Vì chẳng tu đạo. Cho nên trước hết phải tu đạo, sau mới có
trí huệ, có trí huệ rồi thì nhìn thấu hết mọi sự mọi vật, nhìn thấu
rồi thì buông bỏ đặng. Buông bỏ được thì chẳng còn ưu bi khổ não
nữa.
"Phật tiêu diệt sạch hết không còn". Phật hoàn toàn tiêu diệt trừ
sạch biển ưu khổ của chúng sinh, một chút ưu sầu khổ não cũng chẳng
còn.
"Như Lai thương xót nhiều phương tiện". Phật dùng từ bi giáo hóa
chúng sinh, thương xót độ khắp chúng sinh, dùng đủ thứ phương tiện
pháp môn để giúp đỡ chúng sinh.
Chúng ta người tu đạo, đối với tất cả chúng sinh nên có tâm từ bi,
ban vui cho chúng sinh, cứu khổ chúng sinh, và nên có tâm thương
xót, đồng khổ với chúng sinh, đáng thương nỗi khổ của chúng sinh,
tìm cách giải trừ nỗi khổ của chúng sinh. Người tu đạo trước hết
phải có tâm từ bi thương xót, nếu không, bất cứ tu hành gì cũng
không thể thành tựu, bất quả chỉ là liễu hán mà thôi.
"Tịnh Mục hiểu rõ pháp môn này". Vị Tịnh Mục Càn Thác Bà Vương hiểu
thấu cảnh giới nầy của Phật.
Mười phương cõi nước không bờ mé
Phật dùng trí quang đều chiếu sáng
Quét sạch tất cả tà ác kiến
Môn nầy Thụ Hoa Vương ngộ được.
"Mười phương cõi nước không bờ mé". Cõi nước của mười phương chư
Phật chẳng có bờ mé. Không những mười phương cõi nước không có bờ
mé, mà một phương cõi nước cũng chẳng có bờ mé. Ðừng nói chi đến một
phương cõi nước chẳng có bờ mé, mà một thân cõi nước cũng chẳng có
bờ mé. Cõi nước mỗi thân người với mười phương cõi nước hổ tương
thông với nhau. Thân của mình tức là cõi nước của mình, thân của họ
tức là mười phương cõi nước, nếu phân tích tỉ mỉ thì vô lượng vô
biên, cho nên nói mười phương cõi nước chẳng bờ mé.
"Phật dùng trí quang đều chiếu sáng". Phàm phu chúng ta không biết
có bao nhiêu biển cõi ? Vì chúng ta chẳng có trí huệ quang, nếu khai
mở mắt trí huệ thì "Sát trần tâm niệm khả sổ tri" (tâm niệm nhiều
như hạt bụi cõi nước đều đếm biết được). Phật là bậc đại giác viên
mãn, dùng trí huệ quang minh đồng thời chiếu sáng biển cõi mười
phương, do đó "Phật quang chiếu khắp".
"Quét sạch tất cả tà ác kiến". Quét sạch tất cả tà tri tà kiến, của
hết thảy chúng sinh biển cõi trong mười phương. Tri kiến tà ác không
những lầm người mà còn lầm chính mình.
"Môn nầy Thụ Hoa Vương ngộ được". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Thụ Hoa Càn Thác Bà Vương lãnh ngộ được.
Phật trong quá khứ vô lượng kiếp
Tu tập đại từ hành phương tiện
Tất cả thế gian đều yên vui
Môn nầy Phổ Âm Vương chứng được.
"Phật trong quá khứ vô lượng kiếp". Phật trong vô lượng kiếp về
trước, cũng thành tâm cung kính nghe pháp, một chút tâm cống cao ngã
mạn cũng chẳng có, ở trong pháp hội đều giữ quy cụ, không cười nói
cẩu thả, chuyên tâm nghe giảng, lĩnh hội được nghĩa lý.
"Tu tập đại từ hành phương tiện". Phật tu tâm đại từ bi, tâm bình
đẳng, tâm không người không ta, pháp môn thiện xảo phương tiện. Phật
nói pháp đúng với căn cơ người nghe, cho nên người nghe pháp càng
nghe càng hoan hỉ, do đó "hoan hỉ tin thọ, làm lễ mà lui ra".
"Tất cả thế gian đều yên vui". Yên vui cũng là an lạc. Ví như có
người tâm không thoải mái, hoặc có việc chẳng may xảy đến, lúc đó có
người đến an ủi họ, khuyên họ, họ hiểu được chuyển buồn thành vui.
Phật khiến cho tất cả chúng sinh hữu tình thế gian, đều được yên
vui, làm cho họ chẳng còn ưu sầu, chẳng còn khổ não. Phật vì khiến
cho chúng sinh khoái lạc, mà không nghỉ ngơi, đó là đại từ đại bi.
"Môn nầy Phổ Âm Vương chứng được". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Hỉ Bộ Phổ Âm Càn Thác Bà Vương minh bạch, hiểu rõ, chứng ngộ được.
Thân Phật thanh tịnh đều ưa thấy
Sinh ra vui thế gian vô tận
Giải thoát nhân quả thứ tự thành
Mỹ Mục minh bạch cảnh giới nầy.
"Thân Phật thanh tịnh đều ưa thấy". Thân của Phật thanh tịnh không
gì sánh bằng. Vì Phật trừ hết sạch mọi nhiễm ô, cũng trừ khử sạch
tham sân si, chỉ tồn tại giới định huệ, cho nên thân Phật thanh
tịnh. Chúng sinh đều hoan hỉ thấy pháp thân thanh tịnh.
Thân chúng sinh thì ô trược. Tại sao ? Vì chẳng trừ khử tam độc tham
sân si, cho nên không thanh tịnh. Thân Phật thanh tịnh, do đó chúng
sinh không những thích thấy pháp thân của Phật, mà còn cung kính
cúng dường thân Phật.
Phật trong vô lượng kiếp tu hành, còn chúng sinh trong vô lượng kiếp
tạo nghiệp. Từ vô thủy kiếp đến hiện tại, vẫn không biết ngừng tạo
nghiệp, cho nên thân không thanh tịnh. Thân không thanh tịnh thì
chẳng có ai muốn thấy. Tại sao ? Vì không thanh tịnh ! Có ai muốn
thấy người không thanh tịnh chăng ?
"Sinh ra vui thế gian vô tận". Ðức Phật ở tại hữu tình thế gian sinh
ra vô tận khoái lạc, lúc cuối cùng trong pháp hội giảng Kinh nói :
đều đại hoan hỉ, y giáo phụng hành, vì Ðức Phật hay sinh ra vô tận
an vui trong thế gian.
"Giải thoát nhân quả thứ tự thành" Giải Thoát phải trải qua một đoạn
thời gian, mới có thể đắc được giải thoát, chớ chẳng phải lập tức mà
đắc được giải thoát. Thứ tự giải thoát là như vầy : Người chưa trồng
căn lành, thì khiến cho họ trồng căn lành. Người đã trồng căn lành
rồi, thì khiến cho tăng trưởng. Người đã tăng trưởng, thì khiến cho
thành thục. Người đã thành thục, thì khiến cho được giải thoát. Ðó
là nói phải có nhân giải thoát mới có quả giải thoát. Tóm lại, tại
nhân địa trồng nhân giải thoát, thì đến lúc sẽ kết quả giải thoát.
Bốn quá trình nầy sẽ thành tựu từng bước một chứ chẳng phải hốt
nhiên mà thành tựu.
"Mỹ Mục minh bạch cảnh giới này". Vị Lạc Giao Ðộng Mỹ Mục Càn Thác
Bà Vương, khéo khai thị cho tất cả chúng sinh về đạo lý nầy, khiến
cho họ minh bạch cảnh giới nầy, mới có thể y pháp tu hành.
Chúng sinh mê hoặc thường lưu chuyển
Ngu si chướng che rất kiên cố
Như Lai vì nói pháp rộng lớn
Sư Tử Tràng Vương diễn xướng được.
"Chúng sinh mê hoặc thường lưu chuyển". Mê là không giác ; "hoặc" là
không rõ. Mê hoặc tức là không nhận thức rõ ràng về chính mình, tức
cũng là cảm thấy mình có trí huệ, cảm thấy mình giỏi hơn kẻ khác, đó
tức là mê hoặc. Chúng sinh mê hoặc quá sâu nặng, chính mình còn
không thừa nhận, không biết rằng mê tức là không giác, có hoặc thì
chẳng sáng suốt. Có mê hoặc rồi thì không rõ lý. Có người đang giảng
Phật pháp mà họ nghĩ là thật chăng ? Có Phật chăng ? Có pháp chăng ?
Khởi lên nghi hoặc cho rằng việc không thể được.
Nếu như có người dạy họ pháp tà, thì họ chẳng hoài nghi, ngược lại
còn cho đó là diệu pháp, là pháp diệu không thể tả. Nếu có người dạy
họ pháp thiện, thì họ khởi nghi vấn, không tin là pháp thật, đó tức
là mê hoặc.
Vì nghiệp chướng ràng buộc, lưu chuyển trong sáu nẻo luân hồi. Bị
nghiệp chuyển, càng lưu chuyển càng xa, càng xa càng mê. Lưu chuyển
đi lưu chuyển lại, lưu chuyển đến nơi nào ? Lưu chuyển đến trong sự
ngu si.
"Ngu si chướng che rất kiên cố". Sự ngu si chướng che kiên cố phi
thường, chẳng cách chi phá được, chẳng cách chi tháo mở được. Che
lấp trí huệ khiến cho người biến thành ngu si. Vì quá ngu si cho nên
có người bảo họ học chút trí huệ, mà họ cũng chẳng thừa nhận mình có
trí huệ. Ai ai cũng đều cho rằng mình thông minh, có trí huệ hơn
người. Nhưng nếu họ bị mắc trong lưới, hoặc bị vây hãm trong hầm,
thì chẳng biết thoát thân. Vậy đó là có trí huệ hay là ngu si ?
"Như Lai vì nói pháp rộng lớn". Phật vì loại chúng sinh nầy, nói
pháp môn rộng lớn, vì họ mà phá mê hiển chánh, khiến cho họ hết ngu
si, mà đắc được trí huệ bát nhã của mình vốn có.
"Sư Tử Tràng Vương diễn xướng được". Vị Diệu Âm Sư Tử Tràng Càn Thác
Bà Vương, diễn xướng được pháp môn nầy.
Diệu sắc thân Như Lai hiện khắp
Vô lượng khác biệt đồng chúng sinh
Ðủ thứ phương tiện chiếu thế gian
Phổ Phóng Bảo Quang thấy như vậy.
"Diệu sắc thân Như Lai hiện khắp". Như Lai là một trong mười danh
hiệu của Phật. Không từ đâu đến, cũng không đi về dâu, cho nên gọi
là Như Lai. Hoặc là, nương đạo như thật, đến (lai) thành chánh giác.
Hiện khắp là chẳng chỗ nào mà không đến gọi là khắp, chẳng chỗ nào
mà không đi gọi là hiện. Trên đến cõi Trời Phi Phi Trưởng, dưới đến
địa ngục, đều có diệu sắc thân của Phật. Diệu sắc thân là sắc thân
diệu tốt đẹp, tức cũng là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp.
Diệu sắc thân nầy khắp cùng pháp giới.
"Vô lượng sai biệt đồng chúng sinh". Chúng sinh có vô lượng vô biên
giống loài, tổng quát có bốn loài : Thai, noãn, thấp, hóa.
1. Thai sinh : Thai do tình mà có, chúng sinh trong thai sinh có vô
lượng vô biên sự khác biệt.
2. Noãn sinh : Noãn do tưởng mà sinh. Chúng sinh ở trong noãn sinh
có vô lượng vô biên sự khác biệt.
3. Thấp sinh : Thấp sinh do hợp mà cảm. Chúng sinh trong thấp sinh
có vô lượng vô biên sự khác biệt.
4. Hóa sinh : Hóa dùng sức mà ứng. Chúng sinh trong hóa sinh có vô
lượng vô biên sự khác biệt. Vô lượng những chúng sinh khác biệt nầy
đều thấy được diệu sắc thân của Như Lai.
"Ðủ thứ phương tiện chiếu thế gian". Phật dùng đủ thứ pháp phương
tiện, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh,
đều đắc được bát nhã trí huệ quang. Trí huệ quang minh nầy chiếu
khắp hữu tình thế gian.
"Phổ Phóng Bảo Quang thấy như vậy". Vị Phổ Phóng Bảo Quang Minh Càn
Thát Bà Vương, thấy rõ được cảnh giới nầy.
Ðại trí phương tiện vô lượng môn
Phật vì quần sinh khai xiển khắp
Vào thắng bồ đề hạnh chân thật
Kim Cang Tràng Vương khéo quán sát.
"Ðại trí phương tiện vô lượng môn". Ðại trí tức là trí huệ Bát nhã.
Phương tiện cũng là trí huệ Bát nhã. Phương tiện pháp môn có vô
lượng vô biên. Tuy nhiên có nhiều pháp môn, nhưng mỗi pháp môn đối
với mỗi căn cơ của chúng sinh, có bao nhiêu loại chúng sinh thì có
bấy nhiêu loại pháp môn. Những phương tiện pháp môn này là đạo giáo
hóa tất cả chúng sinh, giáo hóa chúng sinh phải xem nhân duyên chúng
sinh. Loại chúng sinh nào, thì dùng phương tiện pháp môn đó để giáo
hóa, do đó "theo bệnh cho thuốc", thì mới có công hiệu. "Vì người
thuyết pháp", pháp vốn không pháp, căn bản chẳng có pháp để nói,
nhưng cuối cùng thì, chẳng có một pháp nào mà không nói, tất cả đều
phải nói. Chỉ cần nói hết tất cả các pháp, mà không cần chấp trước
nơi pháp. Cho nên nói chẳng có pháp để nói. Tâm niệm tư tưởng của
chúng sinh đều khác nhau, cho nên nói pháp cũng khác nhau.
"Phật vì quần sinh khai xiển khắp". Phật vì tất cả chúng sinh, mà
khai xiển đại trí phương tiện pháp môn, khai xiển vô lượng môn,
khiến cho chúng sinh vào đại trí huệ của Phật.
"Vào thắng bồ đề hạnh chân thật". Khiến cho chúng sinh vào giác đạo
thù thắng, tu hành hạnh môn chân thật. Chẳng phải nói ở đầu miệng mà
là thật hành. Có người giảng được vài quyển Kinh, hoặc là ngồi
thiền, hoặc là dịch Kinh bèn cống cao ngã mạn, cho rằng ta có sự tu
hành ! Tư tưởng nầy là sai lầm, nên biết chân thật tu hành thì phải
đạo đức chân thật, học vấn chân thật, do đó, phẩm học khiêm ưu thì
người mới bội phục bạn, mới sùng kính bạn. Bằng không, chẳng có đạo
đức, thì thuyết pháp chẳng có người nghe, cũng chẳng ai bội phục.
Nếu có đạo đức, bất cứ đi đến đâu cũng có người biết, không tuyên
truyền ai ai cũng đều biết, ai ai cũng đều bảo cho biết.
"Kim Cang Tràng Vương khéo quán sát". Ðạo lý nầy vị Kim Cang Hoa Thụ
Tràng Càn Thác Bà Vương khéo quán sát thấy rõ được.
Trong một Sát na trăm ngàn kiếp
Phật lực hiện được chẳng lay động
Ðồng đem an lạc thí quần sinh
Giải thoát này của Lạc Trang Nghiêm.
"Trong một Sát na trăm ngàn kiếp". Một Sát na nghĩa là hình dung
thời gian rất ngắn. Trong kinh Nhân Vương nói : "Chín chục sát na
làm một niệm, một sát na có chín trăm lần sinh diệt". Trăm ngàn kiếp
rút lại làm một sát na, một sát na lại có thể kéo dài thành trăm
ngàn kiếp. Thời gian tại phàm phu có dài có ngắn, tại địa vị Phật
thì không dài không ngắn. Dài có thể ngắn, ngắn có thể dài, dài ngắn
không hai, dài ngắn nhứt như.
Trong một đời chúng ta cảm thấy thời gian rất dài, từ nhỏ đến lớn,
trưởng thành rồi già, già rồi chết. Sự sinh già bệnh chết, sinh trụ
dị diệt, thành trụ hoại không, phải trải qua thời gian mấy chục năm.
Tại địa vị Phật mà nhìn, thì chỉ là một sát na. Trong khoảng thời
gian trong một sát na nầy, chúng ta rất nhận chân tình hình vui buồn
ly hợp, đợi đến khi nhắm mắt thì, gì cũng chẳng có, đó chẳng phải là
một giấc xuân mộng chăng ?
"Phật lực hiện được chẳng lay động". Ðại oai thần lực của Phật, đem
trăm ngàn kiếp thu lại làm một sát na, và kéo dài một sát na làm vô
lượng kiếp, có những diệu dụng như vậy, mà như như bất động.
"Ðồng đem an lạc thí quần sanh". Phật dùng đại oai thần lực đem an
lạc bố thí cho chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, đắc được
khoái lạc chẳng gì sánh bằng.
"Giải thoát nầy của Lạc Trang Nghiêm". Khoái lạc môn giải thoát nầy
vị Phổ Hiện Trang Nghiêm Càn Thác Bà Vương đắc được.
Lại nữa, Tăng Trưởng Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, diệt
tất cả oán hại lực.
Tiếp theo Kinh văn ở trước. Vị Tăng Trưởng Cưu Bàn Trà Vương (Cưu
Bàn Trà là tên loài quỷ, dịch là "úng hình quỷ", "đông qua quỷ"), vị
nầy đắc được môn giải thoát : diệt tất cả oán hại lực.
Loại quỷ nầy chuyên môn hoành hành bá đạo, không giữ quy cụ. Nhất là
người mà âm thạnh dương suy, thì chúng tìm đến nhiễu hại, không bị
bệnh nặng thì cũng bị tai ương. Có vị Nam Phương Tăng Trưởng Thiên
Vương quản lý. Vua trong tám chúng đều là Bồ Tát hóa thân đến thống
trị bọn chúng. Nếu không thì hậu quả không tưởng tượng nổi, tất cả
chúng sinh đều phải chiu tai ương.
Oán là oán hận, hại là thương hại. Vì có oán hận cho nên có thương
hại. Oán hận không có thì thương hại cũng không. Làm thế nào thì
không có oán hận ? Thì phải tu pháp môn từ bi, không những từ bi đối
với người, mà cũng phải từ bi với loài súc sinh, dù con muỗi con
trùng cũng phải thương tiếc sinh mạng của chúng.
Long Chúa Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, tu tập vô biên
biển hạnh môn.
Vị Long Chúa Cưu Bàn Trà Vương nầy, tu hành vô lượng vô biên pháp
môn. Vì pháp môn quá nhiều như biển cả. Biển cả thì không cách chi
lường được sự rộng lớn, không cách chi dò được sự sâu của nó, cho
nên Kinh Phật thường dùng chữ biển, để miêu tả nghĩa Kinh rộng lớn
ra sao, thâm diệu ra sao. Vị Thiên Vương nầy đắc được môn giải thoát
nầy.
Trang Nghiêm Tràng Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, biết
tâm ưa thích của tất cả chúng sinh.
Vị Trang Nghiêm Tràng Cưu Bàn Trà Vương, thường trang nghiêm cõi
nước của Phật, trang nghiêm tất cả đạo tràng, trang nghiêm cõi nước
mười phương. Vị nầy đắc được cảnh giới : biết được sự hoan hỉ trong
tâm chúng sinh là pháp gì ? Thì sau đó tùy thuận tâm ý chúng sinh mà
nói pháp gì. Ðó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Nhiêu Ích Hạnh Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, thành tựu
đại quang minh sở tác nghiệp thanh tịnh.
Vị Nhiêu Ích Hạnh Cưu Bàn Trà Vương, thường lợi ích chúng sinh. Phàm
là chúng sinh cần gì, thì vị nầy đều không bỏn sẻn, mà sẵn sàng bố
thí, giúp đỡ chúng sinh giải quyết sự khốn khổ. Vị nầy thành tựu
khắp tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được Bát
Nhã đại quang minh tạng và thành tựu tất cả thiện nghiệp của chúng
sinh làm, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Khả Bố Úy Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, khai thị đạo an
ổn không sợ sệt cho tất cả chúng sinh.
Vị Khả Bố Úy Cưu Bàn Trà Vương, tướng mạo rất đáng sợ, tất cả chúng
sinh thấy được vị nầy, đều sinh tâm sợ hãi. Tướng mạo của vị nầy tuy
nhiên đáng sợ, nhưng tâm của vị nầy rất từ bi, chuyên giúp đỡ chúng
sinh, chuyên khai thị chúng sinh, mong muốn chúng sinh lìa khổ được
vui, liễu sinh thoát tử. Và còn khiến chúng sinh tiêu trừ sợ hãi,
đắc được an ổn. Ðó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Diệu Trang Nghiêm Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, trừ
sạch biển ái dục của tất cả chúng sinh.
Vị Diệu Trang Nghiêm Cưu Bàn Trà Vương, tiêu diệt được ái dục của
tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh đoạn dục khử ái. Ðoạn dục
khử ái tức là giải quyết vấn đề sinh tử. Duyên thứ nhất của mười hai
nhân duyên đó là : vô minh. Một niệm vô minh khởi thì đọa lạc. Ðọa
lạc đi về đâu ? Ðọa lạc trong sáu nẻo luân hồi.
Vô minh thì gì cũng chẳng biết, không biết thì làm việc hồ đồ, không
giữ quy cụ, do đó bèn dinh ra tâm dục niệm. Dục tức là mình tưởng
đến, bèn sinh ra tâm ái niệm, ái
tức là những gì mình thích, tâm tư dục và tình ái giống như biển cả,
không cách chi đầy đủ được, không cách chi lấp bằng được. Nếu triệt
để trừ sạch ái dục, thì sẽ chấm dứt sinh tử, đắc được giải thoát. Vị
Cưu Bàn Trà Vương nầy làm khô cạn biển tâm ái dục của tất cả chúng
sinh, khiến cho họ chứng đắc thanh tịnh pháp thân. Vị nầy đắc được
môn giải thoát nầy.
Cao Phong Huệ Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, mây quang
minh hiện khắp trong các pháp giới.
Vị Cao Phong Huệ Cưu Bàn Trà Vương, trí huệ cao vô cùng, đạt đến
đỉnh cao nhất, đắc được cảnh giới, biến hiện khắp trong pháp giới
của Bồ Tát, pháp giới của Duyên Giác, pháp giới của Thanh Văn, pháp
giới của trời, pháp giới của người, pháp giới của A tu la, pháp giới
của súc sinh, pháp giới của ngạ quỷ, pháp giới của địa ngục. Hóa
hiện đủ thứ mây quang minh trong chín pháp giới, khiến cho tất cả
chúng sinh trong các pháp giới, đắc được mây quang minh chiếu sáng,
khai mở đại trí huệ, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Dũng Kiện Tí Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, phóng quang
minh khắp, tiêu diệt nghiệp chướng nặng như núi.
Vị Dũng Kiện Tí Cưu Bàn Trà Vương, không những dũng mãnh phi thường,
mà còn khéo về chiến đấu. Vì sức cánh tay của vị nầy rất khoẻ mạnh
và cứng chắt, thậm chí đao chặt không đứt, cho nên làm Cưu Bàn Trà
Vương, đắc được cảnh giới phóng quang minh khắp. Quang minh chiếu
khắp, khiến cho tất cả nghiệp chướng nặng như núi, tiêu diệt chẳng
còn sót, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Tâm người tu đạo chúng ta, tại sao không kiên cố ? Vì nghiệp chướng
quá nặng, cho nên chướng ngại tâm tu đạo. Chướng có bốn thứ :
1. Nghiệp chướng.
2. Báo chướng.
3. Phiền não chướng.
4. Sở tri chướng.
Nghiệp chướng tức là : nghiệp ác tạo ra, che lấp chướng ngại trí
huệ. Báo chướng tức là : nghiệp tạo ra trong quá khứ, cho đến đời
nay phải thọ quả báu. Phiền não chướng tức là : khởi nóng giận,
không nhẫn nhục và chẳng có định lực. Tại sao chẳng khai ngộ ? Vì
sao không thể giải thoát ? Vì có phiền não chướng. Sở tri chướng tức
là : mình cảm thấy sự hiểu biết của mình nhiều hơn so với người
khác, việc làm đều đúng so với người khác, đó là sở tri chướng.
Bất cứ là phiền não chướng hoặc là sở tri chướng đều nặng như núi,
che lấp chướng ngại sự khai ngộ, cho nên không thể được giải thoát.
Vị Cưu Bàn Trà Vương nầy hiểu được đạo lý nầy, đắc được môn giải
thoát nầy.
Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát,
khai thị đại bi tạng không thối chuyển.
Vị Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn Cưu Bàn Trà Vương, thường khai thị chúng
sinh, khiến cho chúng sinh đắc được cảnh giới tâm đại bi bất thối
chuyển. Tâm đại bi tức là : phổ độ chúng sinh, khiến cho tất cả
chúng sinh đều lìa khổ được vui, cho nên gọi là đại bi tạng, đó là
môn giải thoát vị nầy đắc được.
Quảng Ðại Diện Cưu Bàn Trà Vương, được môn giải thoát, hiện thân
lưu chuyển khắp các pháp giới.
Vị Quảng Ðại Diện Cưu Bàn Trà Vương quản lý diện tích rất rộng lớn.
Vị Cưu Bàn Trà nào không giữ quy cụ, làm việc hại người, thì vị nầy
đều tha thứ, đi khuyên giải họ đừng làm hại người nữa. Vị nầy đắc
được cảnh giới thân lưu chuyển, tức là sinh rồi lại chết, chết rồi
lại sinh, sinh sinh chết chết, luân hồi không ngừng, lưu chuyển bất
tận. Vị nầy đắc được môn giải thoát hiện thân khắp trong các pháp
giới, độ hóa chúng sinh trong các pháp giới, khiến cho chúng sinh
đắc được giải thoát.
Bấy giờ, Tăng Trưởng Cưu Bàn Trà Vương, nương oai lực của Ðức
Phật, quán sát khắp tất cả chúng Cưu Bàn Trà, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Tăng Trưởng Cưu Bàn Trà Vương (Cưu Bàn Trà thuộc về sự
quản lý của Tăng Trưởng Thiên Vương ở phương nam), vị nầy nương đại
oai thần lực gia bị của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Cưu Bàn
Trà mà nói kệ để tán thán công đức của Phật.
Thành tựu nhẫn lực thế Ðạo sư
Vì người tu hành vô lượng kiếp
Vĩnh lìa kiêu mạn hoặc thế gian
Cho nên thân Phật nghiêm tịnh nhất.
"Thành tựu nhẫn lực thế Ðạo sư". Ðức Phật thành tựu được sức nhẫn
nhục, mà làm Ðạo sư thế gian và làm Ðạo sư của chư thiên.
Chúa trời cung trời Ðao Lợi, chán nãn sự sinh hoạt ở cung trời, bèn
quán sát mình quá khứ có nhân duyên gì mà được làm chúa trời ? Sau
khi quán sát thì thấy mình trong quá khứ đã từng nghe Phật pháp, đã
làm công đức, cho nên được làm chúa trời, do đó phát tâm từ bi, mong
muốn trời người đều nghe được Phật pháp mà trồng căn lành, tương lai
sẽ sinh về cõi trời, không còn lẩn quẩn trong sáu nẽo luân hồi, mới
thỉnh Phật đến cung trời Ðao Lợi vì chư thiên mà thuyết pháp. Ðức
Phật theo sự thỉnh cầu mà đến, rộng nói diệu pháp. Có tám vạn bốn
ngàn chúng đắc được lợi ích, đều chứng được không thối chuyển. Cho
nên được xưng là thầy của trời người. Phật không những đến cung trời
vì chúng sinh thuyết pháp mà còn xuống cung rồng vì chúng sinh
thuyết pháp.
"Vì người tu hành vô lượng kiếp". Phật thấy chúng sinh rất đáng
thương, suốt ngày sinh sống trong danh lợi, lẩn quẩn trong luân hồi
sinh tử. Phật thương chúng sinh như con, mới phát nguyện lớn, nhất
định phải tu hành, khai ngộ rồi mới có trí huệ, mới liễu sinh thoát
tử. Có thần thông rồi mới đem pháp môn đã chứng đắc để giáo hóa
chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng đắc được liễu sinh thoát tử,
tức là tu hành Phật pháp. Nhưng pháp môn liễu sinh thoát tử, không
dễ gì hiểu được. Phật muốn minh bạch thứ pháp môn nầy, cho nên trong
vô lượng kiếp đến nay, không trốn tránh sự khổ, không sợ mọi khó
khăn nào, tu đủ thứ khổ hạnh để cứu chúng sinh lìa khổ được vui.
"Vĩnh lìa kiêu mạn hoặc thế gian". Vĩnh viễn xa rời tất cả kiêu
ngạo, ngã mạn, mê hoặc .v.v.. Chúng ta người tu đạo, nếu diệt trừ
được ba thứ ác tập, thì sẽ thành tựu đạo nghiệp.
"Cho nên thân Phật nghiêm tịnh nhất". Vì Chẳng có kiêu ngạo, ngã
mạn, mê hoặc những thứ nhiễm ô nầy, cho nên thân thể của Phật trang
nghiêm thanh tịnh nhất.
Xưa kia Phật tu các biển hạnh
Giáo hóa mười phương vô lượng chúng
Ðủ thứ phương tiện lợi quần sinh
Môn giải thoát nầy Long Chúa được.
"Xưa kia Phật tu các biển hạnh". Ðức Phật trong vô lượng kiếp về
trước, tu hết thảy đủ thứ hạnh môn, bất cứ pháp gì Ngài cũng đều tu.
Phàm là pháp Ngài đều tu hành, tuyệt đối không bỏ qua pháp nào dù
nhỏ như sợi tóc, huống chi là pháp lớn lục độ Ba la mật. Ðời này
Phật tu bố thí Ba la mật, đời sau tu trì giới Ba la mật, đời sau nữa
tu nhẫn nhục ba la mật, đời kế tiếp tu tinh tấn Ba la mật, đời kế
tiêp tu thiền định Ba la mật, đời kế tiếp tu trí huệ Bát nhã Ba la
mật. Tuy nhiên trong một đời tu một Ba la mật nhưng năm Ba la mật
kia cũng tu, bất quá là phụ mà thôi. Vì pháp môn lục độ vạn hạnh
pháp quá nhiều, trước hết tu một ba la mật chính yếu, và tu các hạnh
môn kia khác, cho nên xưng là các biển hạnh.
"Giáo hóa mười phương vô lượng chúng". Ðức Phật tu các biển hạnh
thành tựu rồi, sau đó dùng các pháp môn đã chứng đắc, để giáo hóa vô
lượng chúng sinh trong mười phương, khiến cho họ chiếu theo đó mà tu
các biển hạnh. Phật pháp là kim chỉ nam, là bản đồ tìm kho báu, tìm
báu gì ? Tìm Phật Pháp Tăng Tam Bảo.
"Ðủ thứ phương tiện lợi quần sinh". Ðức Phật dùng đủ thứ pháp phương
tiện, để lợi ích tất cả chúng sinh, mỗi cử chỉ hành động, mỗi lời
nói mỗi hạnh của Phật đều là pháp, làm mô phạm cho chúng sinh tu
hành. Ðức Phật ngàn hạnh vạn khổ tu thành đạo nghiệp, chẳng giữ lại
chút nào cho mình, hoàn toàn bày hết ra để giáo hóa chúng sinh, để
lợi ích chúng sinh.
Ðức Phật có vị đệ tử tên là Châu Lợi Bàn Ðà, trong quá khứ là một vị
đại thiện tri thức, có năm trăm vị đệ tử, nhưng vị này rất bỏn xẻn
về pháp, không muốn giảng pháp. Vì vị nầy không đem pháp của mình đã
hiểu biết để nói với đệ tử, cho nên tái sinh làm Châu Lợi Bàn Ðà,
thì biến thành ngu si nhất. Ðó là quả báu không nói pháp. Muốn có
trí huệ thì phải đem pháp của mình biết (chẳng phải là tà tri kiến
mà là chánh tri chánh kiến) giảng giải cho chúng sinh biết, dù một
câu, cũng được vô lượng công đức. Do đó "một lời hưng bang, một lời
tán bang". Phật pháp cũng như thế, một câu chánh pháp có thể làm cho
người lầm đường lạc lối quay trở về với con đường chân chánh.
"Môn giải thoát nầy Long Chúa được". Môn giải thoát nầy vị Long Chúa
Cưu Bàn Trà Vương đắc được.
Phật dùng đại trí cứu chúng sinh
Rõ biết tất cả tâm chúng sinh
Ðủ thứ tự tại mà điều phục
Nghiêm Tràng thấy được sinh vui mừng.
"Phật dùng đại trí cứu chúng sinh". Ðức Phật là bậc đại giác, không
gì mà chẳng biết, không gì mà chẳng làm được, cho nên Phật dùng đại
trí huệ để cứu chúng sinh. Muốn cứu chúng sinh gì thì dùng pháp môn
đó. Chúng sinh đáng dùng thân gì để độ được, thì hiện ra thân đó để
vì chúng sinh thuyết pháp, do đó quán cơ đầu giáo, vì người thuyết
pháp. Vì căn tính chúng sinh khác nhau, do đó dùng pháp môn cũng
khác nhau. Người có đại trí huệ thì cứu hộ được chúng sinh.
"Biết rõ tất cả tâm chúng sinh". Phật hoàn toàn biết rõ tâm ý của
chúng sinh, do đó "Tất cả bao nhiêu thứ tâm của chúng sinh, Như Lai
đều biết đều thấy". Phật dùng phương pháp đó để giáo hóa, khiến cho
chúng sinh được đầy đủ mà tin thọ.
"Ðủ thứ tự tại mà điều phục". Phật dùng đủ thứ thần thông lực, để
điều phục chúng sinh. Có những chúng sinh khó điều phục, thì Phật
nói đủ thứ pháp môn, khiến cho chúng sinh cang cường phát tâm tín
niệm, tin Phật pháp là cứu thế độ người. Gặp chúng sinh xan tham,
thì vì họ nói pháp môn bố thí, khiến cho họ sinh tâm từ bi. Gặp
chúng sinh không giữ quy cụ, thì vì họ nói pháp môn trì giới, khiến
cho họ giữ gìn quy cụ, tiêu diệt tất cả ác tập khí, tu hành tất cả
pháp lành, do đó :"đừng làm ác, hãy làm các điều lành". Gặp chúng
sinh thích nóng giận, thì dạy họ pháp môn nhẫn nhục, dạy họ lửa vô
minh thiêu hủy tất cả công đức. Khiến cho họ bồi dưỡng tính nhẫn
nhục, và sống trong sự hòa hợp với mọi người, tha thứ hết thảy, bỏ
qua hết mọi sự, do đó :
"Nhẫn được thì yên,
Biết đủ thì an vui".
Cho nên tinh tấn, thiền định, Bát nhã cũng đều như thế. Phải quán
sát tất cả chúng sinh, nên dùng pháp nào độ được, thì dùng pháp đó,
dùng đủ thứ thần thông diệu dụng, để điều phục chúng sinh, khiến cho
họ cải lỗi làm con người mới lại.
"Nghiêm Tràng thấy được sinh vui mừng". Vị Trang Nghiêm Tràng Cưu
Bàn Trà Vương, đắc được cảnh giới nầy thì sinh tâm hoan hỉ.
Thần thông ứng hiện như quang ảnh
Pháp luân chân thật đồng hư không
Xử thế như vậy vô lượng kiếp
Nhiêu Ích Vương chứng được môn nầy.
"Thần thông ứng hiện như quang ảnh". Thần thông của Phật là ứng cơ
hiện khắp. Trí huệ của Phật là chiếu khắp chúng sinh. Vì Phật có đại
trí huệ, có đại thần thông, cho nên tùy loại ứng hiện giáo hóa chúng
sinh. Giống như quang và ảnh, nghiệp chướng của chúng sinh là hình,
thần thông trí huệ của Phật là quang. Ví như nghiệp chướng của chúng
sinh là băng, thần thông trí huệ quang của Phật là mặt trời. Ánh
sáng mặt trời chiếu xuống băng, thì băng lập tức tan thành nước,
hoặc là bốc thành hơi. Băng tan ra tức là phản bổn hoàn nguyên (trở
về nguồn cội). Chúng sinh tuy nhiên là có nghiệp chướng, nhưng qua
sự thần thông trí huệ quang của Phật chiếu, thì nghiệp chướng hoàn
toàn tiêu diệt. Mục đích chúng ta nghiên cứu Phật pháp tức là tiêu
trừ nghiệp chướng.
"Pháp luân chân thật đồng hư không". Chuyển đại pháp luân là chân
thật, nhưng đừng chấp trước có pháp luân để chuyển, có chúng sinh để
độ. Nếu có sự chấp trước thì biến thành pháp chấp. Tuy nhiên pháp
luân là chân thật, nhưng giống như hư không, không thể đắc được.
"Xử thế như vậy vô lượng kiếp". Những gì Phật làm, đều chẳng chấp
trước, như vậy đến thế giới nầy xử lý thế giới giáo hóa chúng sinh.
Phật trong vô lượng vô số đại kiếp, làm Phật sự mà chẳng chấp trước.
"Nhiêu Ích Vương chứng được môn này". Cảnh giới nầy, vị Nhiêu Ích
Hạnh Cưu Bàn Trà Vương, chứng đắc được. Vì vị nầy minh bạch hiểu rõ
được đạo lý nầy, mới chứng được môn giải thoát nầy.
Chúng sinh ngu si thường mê hoặc
Phật quang chiếu khắp khiến an ổn
Vì cứu chúng sinh khiến trừ khổ
Khả Úy quán được pháp môn nầy.
"Chúng sinh ngu si thường mê hoặc". Tại sao lại làm chúng sinh ? Vì
một niệm vô minh. Một niệm vô minh không giác cho nên đọa lạc làm
chúng sinh. Chúng sinh tuy nhiên không giác, nhưng vẫn đầy đủ Phật
tánh vốn có, chỉ không giác mà thôi. Không giác tức là ngu si, che
lấp trí huệ. Ngu si giống như màn che trong con mắt, nhìn sự vật
chẳng rõ ràng. Vì nhìn không rõ nên làm những việc điên đảo hồ đồ.
Vì hồ đồ điên đảo, nên sinh ra nhiều mê hoặc. Nghi Phật không tin
Phật, nghi Pháp không học Pháp, nghi Tăng không tin Tăng. Không tin,
không học, không kính đối với Tam Bảo, cho nên gọi thường mê hoặc.
"Phật quang chiếu khắp khiến an ổn". Vì quang minh của chiếu khắp,
cho nên chẳng có tai nạn, chẳng có nguy hiểm, khiến cho chúng sinh
an ổn tín ngưỡng Tam Bảo, cung kính Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, cúng
dường Tam Bảo.
"Vì cứu chúng sinh khiến trừ khổ". Phật là từ phụ của chúng sinh, là
đạo sư của chúng sinh, là hộ sĩ của chúng sinh, giải trừ tất cả khổ
của chúng sinh, trừ khổ rồi thì đắc được sự an lạc.
"Khả Úy quán được pháp môn này". Vị Khả Bố Úy Cưu Bàn Trà Vương,
quán sát được pháp môn nầy, minh bạch được pháp môn nầy, cho nên
chứng được môn giải thoát nầy.
Biển dục trôi nổi đầy sự khổ
Trí quang chiếu khắp diệt không còn
Dứt trừ khổ rồi vì thuyết pháp
Diệu Trang Nghiêm Vương ngộ môn nầy.
"Biển dục trôi nổi đầy sự khổ". Dục niệm của chúng sinh vô lượng như
biển lớn. Có người muốn làm thủ lãnh, đó là dục thủ lãnh, có người
muốn làm phú ông, đó là dục phú ông, hai thứ dục nầy là dục giàu
sang. Có người muốn có danh vọng tốt, đó là dục danh vọng tốt. Có
người khen họ, thì trong tâm họ cảm thấy ngọt hơn so với mật ong; có
người phỉ báng họ, thì trong tâm cảm thấy đắng hơn là huỳnh liên. Có
người muốn có đời sống tốt, đó là dục đời sống; và muốn có y phục
tốt mặc, có vật ngon ăn, có nhà tốt ở, có xe mới chạy. Tóm lại, phàm
là tất cả sự mong muốn đều là lạc dục. Còn có một thứ dục nữa không
dễ gì đoạn trừ, đó là dục nam nữ. Do đó, trôi đi trôi lại ở trong
biển dục, trôi từ đây sang kia, từ đó lại trôi đến đây. Từ bờ sinh
tử bên nầy trôi vào trong dòng phiền não, trôi lạc đến đáy biển
không dễ gì đến được bờ Niết Bàn bên kia.
Ví như, chúng sinh nầy vốn ở trên cõi trời. Vì quan hệ dục niệm quá
nặng, từ cõi trời trôi lạc xuống nhân gian, từ nhân gian trôi lạc
vào cõi A tu la, cho đến địa ngục. Mỗi lần trôi lạc, thì càng sâu
hơn, trôi lạc xa hơn, tức cũng là rời tự tính sâu hơn, rời Phật pháp
xa hơn. Trôi nổi ở trong biển dục, chịu vô lượng sự thống khổ. Chúng
ta tu đạo là đoạn trừ năm dục (tài, sắc, danh, ăn, và ngủ). Tu hành
viên mãn thì thăng đi lên; không viên mãn thì đọa đi xuống, tơ hào
không sai được, chẳng đếm xỉa gì đế nhân tình, đại công vô tư, mọi
người đều bình đẳng. Cho nên nói tài, sắc, danh, ăn, và ngủ là năm
tầng địa ngục.
"Trí quang chiếu khắp diệt không còn". Trí huệ quang minh của Phật
chiếu khắp các pháp giới, khiến cho sự khổ của chúng sinh, đều diệt
sạch không còn, làm cho chúng sinh đều được an lạc.
"Dứt trừ khổ rồi vì thuyết pháp". Không những Phật vì chúng sinh,
trừ tất cả mọi sự thống khổ, mà còn diễn nói diệu pháp.
"Diệu Nghiêm Tràng Vương ngộ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Diệu Trang Nghiêm Cưu Bàn Trà Vương ngộ được.
Thân Phật ứng khắp thảy đều thấy
Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh
Âm như sấm sét mưa pháp vũ
Cao Huệ vào được pháp môn nầy.
"Thân Phật ứng khắp thảy đều thấy". Thân Phật giống như mặt trăng
mát mẻ, thường lơ lửng trên hư không, nếu trong tâm nước chúng sinh
thanh tịnh, thì ánh sáng mặt trăng của Phật, sẽ chiếu vào trong tâm
ảnh bồ đề của chúng sinh. Và giống như ngàn vũng ao đều có mặt
trăng. Chỉ cần chỗ nào có nước lắng trong, thì mặt trăng sẽ hiện
bóng. Mặt trăng chẳng có tâm phân biệt, trong nước nhiều cũng có mặt
trăng, trong nước ít cũng có mặt trăng. Do đó :
"Nhất nguyệt phổ hiện nhất thiết thủy,
Nhất thiết thủy nguyệt nhất nguyệt nhiếp".
Nghĩa là : một mặt trăng hiện khắp tất cả chỗ nào có nước, mặt trăng
trong tất cả chỗ nào có nước, chỉ phản ảnh bởi một mặt trăng. Chúng
sinh không chỗ nào chẳng thấy thân Phật, vì thân Phật hiện khắp tất
cả . Chỗ nầy có người thắc mắc : "Tại sao tôi không thấy thân của
Phật"? Vì tâm nước của bạn không thanh tịnh, có tư tưởng nhiễm ô,
cho nên ánh sáng mặt trăng Phật không hiện ra.
"Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh". Phật dùng đủ thứ phương tiện
pháp môn, để giáo hóa chúng sinh. Vì người bố thí giáo pháp, với
người lợi căn, thì nói pháp chân không diệu hữu, đối với người độn
căn, thì nói pháp nhân quả báo ứng. Theo bệnh cho thuốc, bệnh nhiệt
thì dùng thuốc mát giải nhiệt, bệnh hàn thì dùng thuốc nhiệt, như
vậy thì mới có hiệu quả và thuốc có công năng chữa hết bệnh.
Phật thuyết pháp, thì tùy người tùy thời tùy nơi mà nói pháp, cho
nên một pháp có đủ thứ sự giải thích khác nhau. Ví như bậc tiểu học
thì nói đạo lý, bậc trung học thì nói tri thức, bậc đại học thì
giảng lý luận. Phật là đạo sư của thế gian, hiểu tâm lý chúng sinh.
Pháp của Phật giáo hóa hoàn toàn thành công và triệt để. Chỉ có
Khổng Tử và Phật được gọi là nhà giáo dục, là thầy tiêu biểu cho
muôn đời, nhưng Khổng Tử chẳng phải là nhà tôn giáo.
"Âm như sấm sét mưa pháp vũ". Âm thanh của Phật thuyết pháp, giống
như tiếng sấm sét, bất cứ chúng sinh ở đâu, cũng đều nghe rõ ràng.
Và còn mưa pháp vũ thấm nhuần khắp tất cả vạn vật. Phật vì chúng
sinh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh đắc được ích lợi pháp vũ.
Người lợi căn, thì được lợi ích pháp nhiều, người độn căn thì được
lợi ích pháp ít, tóm lại đều được lợi ích . Chỉ cần thành tâm tin
thọ, thì chắc chắn đắc sẽ được diệu dụng. Sự diệu dụng nầy diệu
không thể tả, như uống nước, nóng lạnh tự mình biết. Phật pháp không
phải ở lời nói, mà là ở việc làm, làm được thì có công đức, có công
đức thì sẽ thành tựu.
"Cao Huệ vào được pháp môn này". Pháp môn nầy vị Cao Phong Huệ Cưu
Bàn Trà Vương thâm nhập được.
Quang minh thanh tịnh chiếu hết thảy
Nếu ai gặp được tiêu chướng nặng
Nói công đức Phật không bờ mé
Dũng Tí thâm nhập pháp môn nầy.
"Quang minh thanh tịnh chiếu hết thảy". Trí huệ của Phật là quang
minh thanh tịnh, nhưng không phát ra bậy bạ, không phát ra thì thôi,
mà phát ra thì sẽ trúng, có công năng như thế. Công năng gì ? Công
năng diệt trừ được chướng ngũ nghịch thập ác.
"Nếu ai gặp được tiêu chướng nặng". Nếu ai gặp được trí huệ quang
minh thanh tịnh của Phật chiếu, thì bất cứ nghiệp chướng nặng bao
nhiêu cũng đều tiêu trừ.
Chướng nặng tức là : giết cha, giết mẹ, giết bậc A la hán, phá hoại
Tăng đoàn, làm thân Phật chảy máu. Ðó là năm tội nặng nhất. Căn bản
không thể sám hối tiêu tội, nhưng quang minh của Phật chiếu đến, thì
đều tiêu trừ. Ví như chướng nặng như núi băng, quang minh của Phật
như mặt trời. Mặt trời chiếu đến thì núi băng cũng tiêu tan.
"Nói công đức Phật không bờ mé". Nếu nói tỉ mỉ về công đức của Phật,
thì chẳng cách chi diễn nói được, vì công đức của Phật chẳng có bờ
mé. Do đó :
"Hư không khả lượng phong khả khế,
Vô năng thuyết tận Phật công đức".
Nghĩa là :
Hư không có thể lường được, gió buộc được,
Không thể nói hết công đức của Phật.
"Dũng Tí thâm nhập pháp môn này". Vị Dũng Kiện Tí Cưu Bàn Trà Vương,
minh bạch thâm sâu vi diệu đạo lý nầy.
Vì muốn an lạc các chúng sinh
Tu tập đại bi vô lượng kiếp
Ðủ thứ phương tiện trừ các khổ
Tịnh Hoa thấy được pháp môn nầy.
"Vì muốn an lạc các chúng sinh". Vì chúng sinh ở trong sự ưu bi khổ
não, chấp trước mê hoặc quá sâu nặng, không muốn ra khỏi biển khổ.
Phật vì muốn cứu chúng sinh đắc được an lạc, mới hy sinh sự sung
sướng an vui của chính mình, đảo giá từ thuyền đến thế giới Ta Bà
nầy độ tất cả chúng sinh.
"Tu tập đại bi vô lượng kiếp". Phật tự mình chịu khổ, muốn cho chúng
sinh hết khổ, cho nên trong vô lượng kiếp về trước phát nguyện lớn,
tu đủ thứ khổ hạnh. Tại sao phải tu khổ hạnh ? Vì tu khổ hạnh thì có
thể khai ngộ, khai ngộ thì có trí huệ, có trí huệ mới cứu được chúng
sinh, ra khỏi biển khổ tam giới. Phật trong vô lượng kiếp dưỡng
thành tâm đại bi, lấy sự phổ độ chúng sinh làm bổn hoài.
"Ðủ thứ phương tiện trừ các khổ". Phật tu hạnh đại bi, dùng pháp môn
quyền xảo phương tiện, để trừ khử khổ não của chúng sinh, khiến cho
tiêu trừ hết các khổ, thì tự nhiên sẽ đắc được an lạc.
"Tịnh Hoa thấy được pháp môn này". Cảnh giới nầy vị Vô Biên Tịnh Hoa
Nhãn Cưu Bàn Trà Vương thấy và biết rõ.
Thần thông tự tại không nghĩ bàn
Thân Phật hiện khắp trong mười phương
Mà khắp các chỗ chẳng đến đi
Quảng Ðại Diện Vương ngộ môn nầy.
"Thần thông tự tại không nghĩ bàn". Sức thần thông tự tại của Phật
vô lượng vô biên, là cảnh giới không thể nghĩ bàn. Thần thông là
thành tựu trí huệ rất tự nhiên. Tự tại tức là do thành tựu định lực.
Thần thông tự tại từ đâu mà tu được ? Là từ khổ hạnh và trong thiền
định đắc được. Có trí huệ chân chánh, thì sẽ có thần thông. Có định
lực chân chánh thì sẽ đắc tự tại. Bất cứ là thần thông hoặc tự tại
đều là diệu không thể tả.
"Thân Phật hiện khắp trong mười phương". Vì Phật có thần thông tự
tại không thể nghĩ bàn, cho nên Thân Phật hiện khắp trong mười
phương thế giới, do đó "tận hư không khắp pháp giới ". Pháp thân của
Phật vô sở bất tại (chẳng có chỗ nào mà không có).
"Mà khắp các chỗ chẳng đến đi". Phật chẳng đến đi trong mười phương,
cho nên nói không đến không đi. Vì có cảnh giới :"một hiện nhiều,
nhiều hiện một", cho nên một nhiều hổ tương vô ngại. Tóm lại, một
tức là nhiều, nhiều tức là một, một nhiều không hai.
Trong kinh Kim Cang nói :
"Như Lai giả,
Vô sở tùng lai,
Diệc vô sở khứ".
Nghĩa là :
"Ðức Như Lai !
Không từ đâu đến
Cũng không đi về đâu".
Không giống như chúng ta, nếu ở chỗ nầy thì chỗ kia chẳng có ; nếu ở
chỗ kia thì chỗ nầy chẳng có. Thần thông tự tại diệu dụng của Phật,
ở trong đạo tràng không động chỗ ngồi, mà đến được mười phương thế
giới diễn nói Kinh Hoa Nghiêm. Tất cả chúng sinh trong mười phương
đều thấy được Ðức Phật, đều nghe pháp được.
"Quảng Ðại Diện Vương ngộ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Quảng Ðại Diện Cưu Bàn Trà Vương đắc được và thấy rõ được.
Lại nữa, Tì Lâu Bác Xoa Long Vương, được môn giải thoát, tiêu
diệt tất cả sự thống khổ của loài rồng.
Nói tiếp theo Kinh văn ở trước. Vị Tì Lâu Bác Xoa Long Vương (Rồng
là một trong tứ linh, có thần thông, biến hóa bay được, nổi mây làm
mưa ). Vị nầy đắc được cảnh giới tiêu diệt được tất cả sự khổ của
loài rồng. Rồng có những khổ gì?
Có bốn thứ khổ, thống khổ giống như lửa. Bốn thứ khổ là :
1. Khổ về làm thức ăn của chim Kim Sí Ðiểu (chim đại bàng cánh vàng)
: Chim Kim Sí chuyên bắt rồng ăn thịt, rồng gần chết thì bị chim bắt
ăn.
2. Khổ về khi hành dâm thì biến thân thể : Khi rồng đực rồng cái
giao nhau thì phải hiện thân rắn, sự biến hóa nầy thống khổ vô cùng.
3. Khổ về côn trùng ở trong vảy rúc rỉa : Ở trong vảy có rất nhiều
trùng nhỏ, rúc rỉa toàn thân phát ngứa, khổ khó tả được.
4. Khổ về nóng đốt thân : Vì toàn thân ngứa ngáy, do đó lên bờ lăn
trên các nóng, nhưng cá bị ánh nắng mặt trời, đốt nóng như lửa, bị
phỏng mà phát đau.
Tại sao bị đọa làm rồng ? Nếu tâm sân hận quá nặng, thích nóng giận,
không có hàm dưỡng công phu, thì sẽ biến làm rồng. Nếu tâm đố kị quá
nặng, không có tâm từ bi, thì đọa làm loài trăn. Nếu tâm siểm nịnh
quá nặng, chẳng có tâm từ bi, thì đọa làm rắn. Tâm nóng giận của
rồng quá lớn, thích phun độc để hại sinh linh. Bất cứ việc gì chúng
cũng đều nóng giận. Nhưng rồng tu hành thì rất dụng công, dũng mãnh
tinh tấn, không sợ khổ không sợ khó, nhưng chúng không giữ giới
luật, không chú trọng về giới luật, do không giữ giới luật cho nên
đọa làm súc sinh. Vị Long Vương nầy đắc được môn giải thoát : tiêu
diệt sự thiêu đốt nhiệt não của loài rồng.
Sa Kiệt La Long Vương, được môn giải thoát, trong một niệm tự
chuyển hình rồng, thị hiện vô lượng thân chúng sinh.
Vị Sa Kiệt La Long Vương, là Long Vương ở trong biển nước mặn, chỉ
trong một niệm tự chuyển hình rồng mà thị hiện tất cả thân chúng
sinh. Gặp chúng sinh phi hành thì hiện thân chúng sinh phi hành. Gặp
chúng sinh ẩn nổi thì hiện thân chúng sinh ẩn nổi, gặp chúng sinh
thai hình thì hiện thân chúng sinh thai hình, gặp chúng sinh noãn
hình thì hiện thân chúng sinh noãn hình. Tóm lại, gặp chúng sinh
thân hình gì, thì hiện chúng sinh thân hình đó, để giáo hoá chúng
sinh, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Vân Âm Tràng Long Vương, được môn giải thoát, trong tất cả các
cõi, dùng âm thanh thanh tịnh, diễn nói vô biên danh hiệu Phật nhiều
như biển.
Vị Vân Âm Tràng Long Vương có âm thanh biến mãn trang nghiêm như
mây, như tràng. Vị nầy đắc được cảnh giới, ở trong tất cả loài chúng
sinh, vì chúng sinh mà diễn nói danh hiệu của chư Phật.
Các cõi tức là : tam giới hai mươi lăm cõi. Vị nầy ở trong tam giới,
dùng âm thanh thanh tịnh để thuyết pháp. Mỗi một vị Phật có một vạn
danh hiệu, một vạn vị Phật có vạn vạn danh hiệu, cho nên gọi là biển
danh hiệu.
Từ trước mỗi vị Phật có một vạn danh xưng. Vì chúng sinh nhớ không
hết, cho nên sau đó bớt còn một ngàn danh xưng, nhưng chúng sinh
cũng nhớ cũng không hết, về sau bớt còn một trăm danh xưng, chúng
sinh cũng nhớ không hết, cuối cùng bớt xuống còn mười danh xưng, như
vậy mới nhớ hết.
Mười danh hiệu là : Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Trong đó danh hiệu "Thiện Thệ Thế Gian
Giải" đáng lý là hai danh hiệu. Ðầy đủ mười danh hiệu nầy mới xưng
là Thế Tôn. Thế Tôn là tổng đại biểu mười danh hiệu. Vị Long Vương
nầy đắc được môn giải thoát biển danh hiệu của chư Phật.
Diệm Khẩu Long Vương, được môn giải thoát, hiện khắp vô biên thế
giới của Phật, kiến lập đều khác nhau.
Vị Diệm Khẩu Long Vương trong miệng phun ra lửa được, biến thành núi
lửa. Vị nầy đắc được pháp môn biến khắp trong mười phương thế giới
của chư Phật. Thế giới của chư Phật kiến lập, thành tựu, đều khác
nhau. Thế giới Ta Bà là Phật Thích Ca kiến lập, hoằng dương Phật
pháp ở thế giới nầy. Thế giới Cực Lạc là Phật Di Ðà kiến lập, diễn
nói Phật pháp ở thế giới nầy. Thế giới Lưu Ly là Phật Dược Sư kiến
lập, đang giảng Kinh thuyết pháp. Vì chư Phật kiến lập thế giới, cho
nên mỗi thế giới đều khác nhau, do đó mới nói môn giải thoát khác
nhau.
Thế giới của Chư Phật kiến lập hoặc là thời gian kiến lập dài một
chút, hoặc ngắn một chút, hoặc thế giới kiến lập trang nghiêm, đều
là mười phương chư Phật, đối căn cơ của chúng sinh, mà thị hiện ra
loại thế giới nầy, để cứu loại chúng sinh nầy, đó là môn giải thoát
của vị Long Vương nầy đắc được.
Diễm Nhãn Long Vương, được môn giải thoát, tất cả chúng sinh bị
sân si ràng buộc, Như Lai thương xót khiến cho họ trừ diệt.
Vị Diễm Nhãn Long Vương trong con mắt phóng ra hỏa quang. Sự biết
được của vị nầy là : tất cả chúng sinh đều có sân hận, đều có vô
minh, đều có phiền não, đều có nóng giận. Nhưng Như Lai có lòng từ
bi thương xót chúng sinh, khiến cho tất cả sân si che trói đều diệt
trừ.
Tâm sân hận quá nặng thì che lấp từ bi. Tâm ngu si quá nặng thì che
lấp trí huệ. Bị sân si che quá sâu dày gọi là trói buộc, không được
tự tại, sân si của chúng sinh bị che trói, làm chướng ngại sự tu
đạo. Phật phát tâm đại từ bi, khiến cho sân si che trói chúng sinh
diệt trừ. Khiến cho người tu đạo tiêu diệt tham sân si ba độc, tu
thành giới định huệ ba học vô lậu, như thế thì mới có sự thành tựu.
Vân Tràng Long Vương được môn giải thoát, khai thị biển phước đức
đại hỉ lạc cho tất cả chúng sinh.
Vị Vân Tràng Long Vương đắc được cảnh giới : khai thị tất cả chúng
sinh. Chúng sinh không minh bạch, khi vị nầy khai thị thì minh bạch.
Chúng sinh có sự ngu si chướng ngại, khi vị nầy khai thị thì tiêu
diệt. Chúng sinh có ưu sầu khổ não, khi vị nầy khai thị rồi thì
chẳng còn ưu sầu. Sự khai thị cùa vị nầy có đủ thứ lợi ích. Chúng
sinh nghe được vị nầy khai thị thì sinh tâm đại hoan hỉ, sinh tâm
đại khoái lạc. Tại sao ? Vì đắc được phước đức và trí huệ. Sự hỉ lạc
phước đức nầy, vô lượng vô biên rộng lớn như biển lớn, cho nên sinh
đại hỉ lạc, đó là môn giải thoát vị long vương nầy đắc được.
Ðức Xoa Ca Long Vương đươc môn giải thoát, dùng âm thanh thanh
tịnh cứu hộ diệt trừ tất cả sợ hãi.
Vị Ðức Xoa Ca Long Vương, đắc được một thứ âm thanh : thanh tịnh cứu
hộ, bất cứ loài chúng sinh nào nghe được âm thanh của vị nầy, thì sẽ
diệt trừ tất cả tâm sợ hãi, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc
được.
Vô Biên Bộ Long Vương được môn giải thoát, thị hiện tất cả sắc
thân của Phật và thứ tự trụ kiếp.
Vị Vô Biên Bộ Long Vương thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn, hốt
lớn hốt nhỏ, hốt có hốt không. Vị nầy đắc được cảnh giới : thị hiện
được tất cả sắc thân của Phật và tám tướng thứ tự khi Phật ở đời, đó
là môn giải thoát vị Long Vương nầy đắc được.
Tám tướng tức là :
1. Hàng sinh : Từ cung trời Ðâu Xuất cõi voi trắng lớn sáu ngà xuống
trần gian.
2. Trụ thai : Lựa chọn vua Tịnh Phạn làm cha, Hoàng Hậu Ma Gia làm
mẹ. .
3. Xuất thai : Sinh ra dưới cây Vô Ưu trong vườn Lâm Tì Ni, tay trái
chỉ trời tay phải chỉ đất mà nói :"Thiên thượng thiên hạ, duy ngã
độc tôn".
4. Xuất gia : Vì cầu pháp môn liễu sinh thoát tử mà tu đạo.
5. Hàng ma : Dưới cội bồ đề sắp thành chánh giác thì ma nữ hiện ra
ba mươi hai sắc đẹp; nhưng Phật chẳng động tâm, cho nên ma nữ thối
lui.
6. Thành Chánh Giác : Ðêm thấy sao mai mọc mà chứng giác đạo.
7. Chuyển pháp luân : Lúc ban đầu tại vườn Lộc Uyển chuyển bánh xe
pháp bốn Thánh Ðế, cuối cùng nói Kinh Niết Bàn trong rừng Sa La Long
Thọ.
8. Vào Niết Bàn : Vào cứu kính Niết Bàn dưới cây Sa La Song Thọ tại
thành Câu Thi Na .
Thanh Tịnh Sắc Tốc Tật Long Vương, được môn giải thoát, khiến cho
tất cả chúng sinh, sinh ra biển tâm đại ưa thích hoan hỉ.
Vị Thanh Tịnh Sắc Tốc Tật Long Vương, phi hành biến hóa rất mau
chóng. Vị nầy đắc được cảnh giới : khiến cho tất cả chúng sinh đắc
được đại ưa thích đại hoan hỉ. Ưa thích gì ? Ưu thích Phật pháp.
Hoan hỉ gì ? Hoan hỉ Phật pháp. Sự ưa thích và hoan hỉ nầy lớn như
biển, chẳng cùng tận, đó là môn giải thoát của vị nầy.
Phổ Hành Ðại Âm Long Vương, được môn giải thoát, thị hiện tất cả
âm thanh bình đẳng vừa ý vô ngại.
Vị Phổ Hành Ðại Âm Long Vương, khắp cùng pháp giới, phát ra đại pháp
âm, thị hiện tất cả pháp âm bình đẳng vừa ý, chẳng có chướng ngại.
Bất cứ loại chúng sinh nào, nghe được pháp âm nầy, thì đều sinh ra
tâm khoái lạc, tiêu diệt tất cả ưu sầu khổ não, đó là môn giải thoát
của vị nầy đắc được.
Vô Nhiệt Não Long Vương được môn giải thoát, dùng mây đại bi che
khắp, để diệt trừ tất cả sự khổ thế gian.
Vị Vô Nhiệt Não Long Vương, do thành tựu đại bi nguyện lực mây đại
bi, che khắp tất cả chúng sinh trong hư không, diệt trừ được tất cả
sự khổ trong thế gian, đó là môn giải thoát của vị nầy đắ được.
Bấy giờ, Tì Lâu Bác Xoa Long Vương, nương oai lực của Ðức Phật,
quán khắp tất cả các chúng rồng mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Tì Lâu Bác Xoa Long Vương, (Rồng thuộc về sự quản lý của
Quảng Mục Thiên Vương ở hướng tây) nương đại oai thần lực của chư
Phật gia trì, quán sát khắp tất cả loài rồng mà tán thán công đức
của Phật.
Quán thấy pháp Phật thường như vậy
Tất cả chúng sinh đều lợi ích
Thường dùng sức từ bi thương sót
Cứu họ thoát khỏi khổ tam đồ.
"Quán thấy pháp Phật thường như vậy". Quán sát thấy pháp của Phật
luôn luôn là như thế. Tức là tùy duyên không đổi, không đổi mà tùy
duyên.
"Tất cả chúng sinh đều lợi ích". Mục đính Phật thuyết pháp, là lợi
ích tất cả chúng sinh, cho nên chúng sinh đều đắc được thấm nhuần
pháp vị, để lợi ích pháp thân huệ mạng.
"Thường dùng sức từ bi thương xót". Phật dùng tâm đại từ bi thương
xót tất cả chúng sinh, không quên tất cả sự đau khổ của chúng sinh,
luôn luôn cứu họ ra khỏi biển khổ.
"Cứu họ thoát khỏi khổ tam đồ". Dùng sức đại bi cứu họ ra khỏi khổ
trong tam đồ (súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục). Tam đồ là nơi đáng sợ
đáng hãi, chẳng an lạc, chẳng tự tại. Phật khiến cho họ đều lìa khổ
được an lạc.
Tất cả chúng sinh đều khác biệt
Trong một sợi lông đều thị hiện
Thần thông biến hóa đầy thế gian
Sa Kiệt quán nơi Phật như vậy.
"Tất cả chúng sinh đều khác biệt". Tất cả chúng sinh gồm có : thai,
noãn, thấp, hóa bốn sự sinh. Nghiệp báo của họ đủ thứ sự khác biệt.
Có nghiệp báo nhiều sự khổ, có nghiệp báo nhiều sự vui. Có nghiệp
báo không khổ không vui. Những thứ nghiệp báo nầy làm sao có ? Tức
là do khởi cảm, tạo nghiệp, thọ báo. Khởi cảm là gì ? Tức là thấy
cảnh giới bèn sinh nghi hoặc, không phân biệt rõ ràng là thiện hay
ác. Tạo nghiệp là gì ? Vì bị mê hoặc, sáu căn thấy sáu trần bèn khởi
tâm tham muốn mà đi tạo nghiệp. Thọ báo là gì ? Vì có định luật nhân
trước quả sau, trồng nhân gì thì gặt quả đó. Có công đức thiện thì
có quả báo vui. Có hành vi ác thì có quả khổ, đó là đạo lý tự nhiên,
tơ hào chẳng sai.
"Trong một sợi lông đều thị hiện". Trong một sợi lông của Phật, đều
hiện ra đủ thứ nghiệp báo của tất cả chúng sinh.
"Thần thông biến hóa đầy thế gian". Vì Phật có thần thông, cho nên
hiện ra được đủ thứ cảnh giới. Một hiện nhiều, nhiều hiện một, lớn
dung nhỏ, nhỏ dung lớn, hổ tương vô ngại, quán nhiếp viên dung. Sự
thần thông diệu dụng nầy biến hóa vô cùng, đầy khắp tất cả cõi nước
trong ba ngàn đại thiên thế giới.
"Sa Kiệt quán nơi Phật như vậy". Vị Sa Kiệt La Long Vương minh bạch
được Phật có cảnh giới nầy, tam muội nầy.
Phật dùng thần thông không hạn lượng
Rộng nói danh hiệu đồng chúng sinh
Tùy sở thích khiến họ đều nghe
Vân Âm Tràng Vương ngộ môn nầy.
"Phật dùng thần thông vô hạn lượng". Phật có sức thần thông không
thể nghĩ bàn. Sức thần thông nầy chẳng có hạn lượng, có thể dời núi
lấp biển, sáng tạo thế giới.
"Rộng nói danh hiệu đồng chúng sinh". Danh hiệu của Phật nhiều vô
cùng. Ít nhất là vạn danh hiệu, sau bớt còn một ngàn, lại bớt xuống
còn một trăm, cuối cùng còn mười danh hiệu. Do đó, chư Phật đều có
mười danh hiệu nầy, nhưng nếu nói tỉ mỉ, thì danh hiệu của chư Phật
đồng với chúng sinh. Những danh hiệu nầy là khiến cho chúng sinh
giác ngộ, khi họ nghe được danh hiệu Phật thì bèn phát tâm bồ đề,
trồng xuống căn lành.
"Tùy sở thích khiến họ đều nghe". Tùy thuận căn tính chúng sinh, nói
pháp chúng sinh ưa muốn nghe. Khiến cho hết thảy tất cả chúng sinh,
đều được cơ hội nghe Phật thuyết pháp.
"Vân Âm Tràng Vương ngộ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Vân Âm Tràng Long Vương ngộ được.
Vô lượng vô biên các cõi nước
Phật khiến vào được một lỗ lông
Như Lai ngồi yên trong hội đó
Diễm Khẩu Long Vương thấy môn nầy.
"Vô lượng vô biên các cõi nước". Chúng sinh trong cõi nước của chư
Phật vô lượng vô biên, tư tuởng của chúng sinh, trong cõi nước của
chư Phật cũng vô lượng vô biên, chúng sinh thành tựu cõi nước chư
Phật cũng vô lượng vô biên.
"Phật khiến vào được một lỗ lông". Phật khiến cho tất cả những chúng
sinh nầy, đều vào được trong một lỗ lông. Vì thần thông nhiếp trì
của Phật, làm cho trí huệ ngấm vào trong chúng sinh.
"Như Lai ngồi yên trong hội đó". Phật dung nạp được vô lượng vô biên
chúng sinh trong một lỗ lông, nhưng Phật vẫn an nhiên tự tại, ngồi
trong cõi nước của chư Phật trong mười phương, không cần động đậy
chỗ ngồi, mà đi đến được các cõi chư Phật trong mười phương để
thuyết diệu pháp.
"Diễm Khẩu Long Vương thấy môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Diễm Khẩu Long Vương thấy được, hiểu được. Cảnh giới nầy không
thể nghĩ bàn, chẳng phải phàm phu hiểu thấu được.
Tất cả chúng sinh tâm sân hận
Ngu si ràng buộc sâu như biển
Như Lai thương xót đều diệt trừ
Diễm Nhãn quán thấy rõ môn nầy.
"Tất cả chúng sinh tâm sân hận". Tất cả chúng sinh trong thế giới,
đều có tâm sân hận phẫn nộ. Tại sao ? Vì không thể nhẫn nại, không
thể nhẫn nhục, cho nên thích nóng giận.
"Ngu si trói che sâu như biển". Có tâm sân hận phẫn nộ đó là trói
che. Trói buộc che đậy quang minh tự tánh. Tức cũng là tự mình dùng
dây thừng trói buộc mình, chính mình làm cho mình không tự do, như
tằm làm kén tự trói mình ở trong đó.
Chúng sinh dùng tham sân si ba độc, trói chặt thân thể của mình. Tại
sao bị ba độc trói chặt ? Vì ngu si, cho nên bị ba độc trói buộc,
sâu tợ như biển lớn, chẳng có cơ hội giải thoát.
"Như Lai thương xót đều diệt trừ" Phật dùng tâm từ bi thương xót, để
cứu độ tất cả chúng sinh, làm cho tham sân si đều trừ sạch.
"Diễm Nhãn quán thấy rõ môn nầy". Vị Diễm Nhãn Long Vương thấy được,
hiểu được cảnh giới nầy.
Tất cả chúng sinh nhìn thấu suốt được tham sân si, buông xả được thì
đắc được tự tại. Nếu không nhìn thấu suốt được tham sân si, không
buông xả được thì chẳng được tự tại. Chúng ta tu đạo phải nhận thức
rõ ràng, ba độc là đá buộc chân sự tu hành, có tư tưởng tam độc là
quãng đường vực thẳm gập gềnh nguy hiểm; nếu không có tư tưởng ba
độc thì là con đường lớn bằng thẳng. Con đường lớn gì ? Con đường
trí huệ chánh giác.
Tất cả phước đức của chúng sinh
Ðều hiển hiện trong lỗ lông Phật
Hiện rồi đồng vào biển đại phước
Cao Vân Tràng Vương quán thấy được.
"Tất cả phước đức của chúng sinh" Tất cả chúng sinh vừa có phước vừa
có tội. Phước là từ công đức thiện mà có. Tội là từ làm việc ác quấy
mà ra. Nếu làm công đức lành, thì có phước báu, hoặc sinh về cõi
trời, cõi người, cõi A tu la, đó là lữ khách trong ba đường lành.
Nếu làm lỗi quấy thì có ác báo, hoặc đọa địa ngục, làm ngạ quỷ, làm
súc sinh, đó là lữ khách trong ba đường ác. Song, luân hồi trong sáu
nẻo chẳng phải là chủ nhân.
Phước là từ công đức lành tích tụ mà có. Ðức cũng từ công đức lành
tích tụ mà có. Phật thì đầy đủ phước và huệ, cho nên xưng là Lưỡng
Túc Tôn. Phước là do tu, huệ là do nghe. Phước huệ song tu thì công
đức mới viên mãn. Nếu tu phước không tu huệ, hoặc tu huệ không tu
phước, đó là tu pháp không cân bình, công đức đắc được cũng không
quân bình. Chẳng phải phước nhiều thì huệ nhiều, đó vẫn không viên
mãn.
Phước đức tu nhiều rồi thì có một sức mạnh. Tu được nhiều rồi thì
sức lực càng lớn. Tu được ít thì sức lực nhỏ. Không tu thì chẳng có.
Bất cứ là sức mạnh của phước, hoặc sức mạnh của đức, đều cần phải tu
mới có được.
"Ðều hiển hiện trong lỗ lông Phật". Ở trong một lỗ chân lông của
Phật, tất cả phước đức của chúng sinh, trong tận cùng hư không khắp
pháp giới, đều hoàn toàn hiển hiện ra.
"Hiện rồi đồng vào biển đại phước". Ở trong lỗ lông của Phật, hiện
ra mười phương pháp giới chúng sinh, khiến cho họ đều quy vào biển
đại phước.
"Cao Vân Tràng Vương quán thấy được". Cảnh giới môn giải thoát nầy
vị Cao Vân Tràng Long Vương quán sát được, đắc được.
Lỗ lông thân Phật phát trí quang
Quang nầy nơi nơi diễn diệu âm
Chúng sinh nghe được trừ lo sợ
Ðức Xoa Ca ngộ được môn nầy.
"Lỗ lông thân Phật phát trí quang". Trong lỗ chân lông của Phật đều
phát ra trí huệ quang thanh tịnh.
"Quang này nơi nơi diễn diệu âm". Ở trong trí huệ quang minh tạng
của Phật chuyển đại pháp luân, giáo hóa chúng sinh. Khắp mọi nơi đều
bị trí quang của Phật chiếu, đều nghe được diệu pháp không thể nghĩ
bàn.
"Chúng sinh nghe được trừ lo sợ". Chúng sinh nghe được diệu âm diệu
pháp nầy, thì mọi sự lo âu sợ sệt đều trừ sạch.
"Ðức Xoa Ca Ngộ được môn nầy". Vị Ðức Xoa Ca Long Vương hiểu ngộ
được đạo lý nầy, minh bạch được tam muội nầy.
Ba đời tất cả các Như Lai
Cõi nước trang nghiêm kiếp thứ tự
Như vậy đều hiện nơi thân Phật
Quảng Bộ thấy được thần thông nầy.
"Ba đời tất cả các Như Lai" Ðời quá khứ có vô lượng vô biên chư
Phật, đời hiện tại cũng có vô lượng vô biên chư Phật, đời vị lai
cũng có vô lượng vô biên chư Phật.
"Cõi nước trang nghiêm kiếp thứ tự". Mỗi cõi nước của mỗi vị Phật,
đều dùng các châu báu để trang nghiêm. Thế giới Ta Bà của chúng ta
dùng : ngói, đá, đất, gỗ, để trang nghiêm. Phương đông thế giới Lưu
Ly Quang dùng lưu ly để trang nghiêm. Tây phương thế giới Cực Lạc
dùng bảy báu để trang nghiêm. Các đạo tràng đều dùng các thứ báu
trang nghiêm. Mỗi vị Phật nào thành Phật, thì trên thế giới đó chánh
pháp trụ thế, phải trải qua mấy đại kiếp, hoặc trải qua mấy tiểu
kiếp, cái gì trước, cái gì sau, tát cả đều thứ tự tương tục, không
rối loạn.
"Như vậy đều hiện nơi thân Phật". Cảnh giới như vậy, chẳng hiện ở
nơi khác, mà chỉ hiện ra ở trong lỗ chân lông của Phật.
"Quảng Bộ thấy được thần thông này". Vị Quảng Bộ Long Vương, thấy
được thần thông diệu dụng nầy của Phật, cảnh giới nầy không thể nghĩ
bàn.
Tôi quán hạnh xưa kia của Phật
Cúng dường tất cả biển chư Phật
Nơi đó đều tăng tâm vui thích
Tốc Tật Long Vương vào môn nầy.
"Tôi quán hạnh xưa kia của Phật". Vị Thanh Tịnh Sắc Tốc Tật Long
Vương nói :"Tôi quán sát hạnh môn của Phật tu hành trong quá khứ, là
cúng dường chư Phật, tăng thêm tâm vui thích".
"Cúng dường tãt cả biển chư Phật". Hạnh môn của Phật tu là : cúng
dường chư Phật trong mười phương ba đời. Chư Phật nhiều như biển,
cho nên gọi biển chư Phật.
"Nơi đó đều tăng tâm vui thích". Phật xưa kia cúng dường chư Phật,
thì ở trước mỗi vị Phật đều tăng thêm tâm vui mừng ưa thích.
"Tốc Tật Long Vương vào môn nầy". Cảnh giới nầy vị Tốc Tật Long
Vương chứng nhập minh bạch được.
Phật dùng phương tiện tùy loại âm
Vì họ nói pháp khiến vui mừng
Âm đó thanh nhã họ thích nghe
Phổ Hành nghe rồi tâm khai ngộ.
"Phật dùng phương tiện tùy loại âm". Phật dùng pháp quyền xảo phương
tiện để giáo hóa chúng sinh. Vì thật thí quyền, vì Bồ Tát mà nói
pháp đại thừa, vì Thanh Văn Duyên Giác mà nói pháp tiểu thừa, do đó
:
"Phật dùng một âm diễn nói pháp,
Chúng sinh theo loài đều hiểu được".
Ðó là Phật từ bi nói pháp, dùng pháp môn phương tiện.
"Vì họ nói pháp khiến vui mừng". Phật vì tất cả chúng sinh mà nói
pháp, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được pháp hỉ sung mãn,
minh tâm kiến tánh.
"Âm đó thanh nhã họ thích nghe". Ðừng nói nghe đến ngôn ngữ của
Phật, dù nghe đến âm thanh của Phật cũng khai ngộ. Âm thanh của Phật
không những trong trẻo mà còn vang xa, không những hay đẹp mà còn
tao nhã, đều khiến cho người nghe sinh tâm vui thích.
"Phổ Hành nghe rồi tâm khai ngộ". Vị Phổ Hành Ðại Âm Long Vương,
nghe được diệu âm nầy trong tâm yên vui mà tỏ ngộ, vị nầy đắc được
môn giải thoát nầy.
Chúng sinh bức bách trong các cõi
Nghiệp hoặc trôi nổi không ai cứu
Phật dùng đại bi khiến giải thoát
Vô Nhiệt Long Vương ngộ môn nầy.
"Chúng sinh bức bách trong các cõi". Các cõi tức là : cõi dục giới,
cõi sắc giới, cõi vô sắc giới. Tất cả chúng sinh do duyên giả hòa
hợp mà sinh, đều luân hồi trong tam giới, phiêu bạc lưu lãng chẳng
khi nào dừng, cho nên bị các cõi bức bách.
"Nghiệp hoặc trôi nổi không người cứu". Chúng sinh thọ biển nghiệp,
phiêu bạc trôi nổi ở trong tam giới, do đó : "ra bụng ngựa, vào thai
lừa". Tại sao ? Vì khởi cảm, tạo nghiệp, thọ báu. Ðó là định luật
nhân quả tuần hoàn không thay đổi.
Khởi hoặc : Vì có ba thứ hoặc, mà đi tạo nghiệp :
1. Kiến tư hoặc : Kiến hoặc là những kiến giải không chánh đáng, do
đó "Thấy cảnh sinh ra tham ái", người tham tiền tài thì thích tiền
tài, tham sắc đẹp thì thích sắc đẹp, tham danh lợi thì thích danh
lợi. Tư hoặc là những tâm tư phiền não, do đó "mê lý thì sinh phân
biệt", đối với lý không minh bạch, sinh ra tâm phân biệt.
2. Trần sa hoặc : Không rõ sự lý, không biết trái phải tức là mê
hoặc. Thứ mê hoặc nầy nhiều như vi trần hà sa, cho nên gọi là trần
sa hoặc.
3. Vô minh hoặc : Vì vô minh mới có mê hoặc, thứ mê hoặc nầy chướng
ngại đạo lý chân thật, vô minh hoặc là hoặc căn bản.
Tạo nghiệp : Vì không minh bạch đạo lý, cho nên đi sát sinh, trộm
cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Như vậy đã phạm giới sát sinh, trộm
cắp, tà dâm, nói dối, uống rượi rồi, thì đã tạo ba nghiệp thân,
khẩu, ý, cũng tạo nghiệp mười điều ác.
Thọ báo : Tạo nghiệp sát sinh thì phải chịu quả báo sát sinh, tạo
nghiệp trộm cắp thì phải chịu quả báu trộm cắp, tạo nghiệp tà dâm,
nói dối, uống rượu thì phải chịu quả báu tà dâm, nói dối, uống rượu.
Tóm lại, tạo nghiệp gì thì phải chịu quả báu đó, tơ hào không sai
được.
Sự tạo nghiệp của mỗi người, trong một đời rất phức tạp nhiều như
biển, cho nên bị sóng gió nghiệp, thổi đi thổi lại ở trong biển
nghiệp, trôi bên đông dạt bên tây, khi thì làm ngạ quỷ, khi thì làm
súc sinh, khi thì đọa địa ngục, chuyển đi chuyển lại ở trong tam đồ,
lúc nầy chẳng có ai cứu ra khỏi biển nghiệp, cũng chẳng ai cứu vớt
ra khỏi tam giới.
"Phật dùng đại bi khiến giải thoát". Chỉ có thuyền đại bi trí huệ
của Phật, mới cứu vớt được chúng sinh ra khỏi biển nghiệp, khiến cho
chúng sinh đắc được giải thoát.
"Vô Nhiệt Long Vương ngộ môn nầy". Vị Vô Nhiệt Não Long Vương, ngộ
hiểu minh bạch được cảnh giới nầy.
Lại nữa, Tì Sa Môn Dạ Xoa Vương được môn giải thoát, dùng vô biên
phương tiện cứu hộ chúng sinh ác.
Vị Tì Sa Môn Dạ Xoa Vương (Dạ Xoa dịch là khinh tiệp, hành động rất
mau chóng, tính tình rất bạo ác). Vị nầy đắc được cảnh giới : quán
sát tất cả căn tánh của chúng sinh, mà dùng đủ thứ phương tiện pháp
môn để cứu hộ. Nếu có chúng sinh ác, thì khiến cho họ cải ác hướng
thiện, sửa lỗi sám hối. Âm thanh thuyết pháp của vị nầy, rất vi diệu
khiến cho người nghe, đắc được tự tại, đó là môn giải thoát của vị
nầy đắc được.
Dạ Xoa có ba thứ : Thiên hành, không hành và địa hành. Dạ Xoa và La
Sát là quỷ dữ, quỷ La Sát nữ rất đẹp. Người nam mà định lực không đủ
thì sẽ bị hại, làm thức ăn cho bọn chúng. Nay kể một câu chuyện để
mượn làm gương.
Tại đông nam Ấn Ðộ có hòn đảo gọi là nước Sư Tử tức là Tích Lan,
toàn quốc đều tin theo Phật giáo tiểu thừa. Xưa kia người ta thường
gọi là Ðộ Quốc, có năm người đi buôn, tìm châu báu ở trong biển,
thuyền bị hắc phong (gió đen) thổi đến nước quỷ La Sát. Nữ Vương của
nước nầy, thấy một người buôn trong năm người nầy tên là Sư Tử, bèn
muốn kết hôn với y, nhưng người buôn nầy có huệ căn, không bị nữ sắc
mê hoặc, dưới sự an bài của Bồ Tát, mới trốn về bổn quốc (Nam Ấn
Ðộ). Còn bốn người buôn kia đều kết hôn với nữ La Sát, vì tham sắc
đẹp mà quên mất quê hương xứ sở, sau đó đều bị nữ La Sát ăn thịt.
Người buôn tên Sư Tử sau khi về nước, vị nữ La Sát nầy cũng đến. Y
thị nói với quốc vương rằng người buôn tên Sư Tử bỏ y, xin quốc
vương khiến cho người buôn tên Sư Tử trở lại sống với y thị. Vị quốc
vương nầy cũng là đồ háo sắc, thấy La Sát nữ đẹp bèn động lòng dâm
dục, do đó quyết định kết hôn với y thị. Người buôn tên Sư Tử khuyên
can quốc vương rằng : "Người nữ nầy là quỷ, dung mạo đẹp mà tâm địa
ác độc, chuyên ăn thịt người, đừng nên gần gũi y thị"! Nhưng quốc
vương vì sắc đệp mê hoặc, không nghe lời khuyên can, bèn cử hành hôn
lễ, tối đêm đó bị La Sát nữ ăn thịt.
Ngày thứ hai, quan đại thần biết quốc vương bị quỷ ăn thịt, bèn tôn
người buôn tên Sư Tử lên làm vua, đem binh lính tiêu diệt nước quỷ
La Sát, đổi tên là Sư Tử Quốc tức là Tích Lan ngày nay, ra lệnh cho
toàn quốc đều tín ngưỡng Phật giáo, lấy Phật giáo làm quốc giáo tức
là Phật giáo nam truyền, đó là câu chuyện cảnh tỉnh người tham sắc
đẹp, đừng vì sắc đẹp mà mất mạng.
Tự Tại Âm Dạ Xoa Vương, đắc được phương tiện cứu hộ quán sát khắp
tất cả chúng sinh.
Vị Tự Tại Dạ Xoa Vương có âm thanh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh
đắc được giải thoát, và còn quán sát được căn tánh của tất cả chúng
sinh. Căn tánh gì thì dùng pháp môn phương tiện đó để cứu hộ, khiến
cho họ đắc được an lạc, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Nghiêm Trì Khí Trượng Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, thường
làm lợi ích cho tất cả chúng sinh gầy ác.
Vị Nghiêm Trì khí Trượng Dạ Xoa Vương thường dùng vàng bạc hoặc vật
chất, để cứu giúp những chúng sinh nghèo khổ, đó gọi là tài thí. Và
còn dùng trí huệ và tri thức để bố thí cho chúng sinh, đó gọi là
pháp thí. Và còn dùng sức lực hoặc tài năng, để tiêu trừ tất cả khốn
khổ hoạn nạn của chúng sinh, đó gọi là vô úy thí. Vị nầy luôn luôn
có ba thứ tâm bố thí nầy.
Vị Dạ Xoa Vương nầy cứu hộ những chúng sinh gầy ác. Gầy tức là gầy
ốm. Những chúng sinh nầy vừa nghèo vừa ốm yếu, lại tạo nghiệp ác,
cần người để giúp đỡ, cho nên vị nầy luôn luôn giúp đỡ những chúng
sinh nầy, khiến cho họ cải ác hướng thiện, bỏ mê về giác. Ðó là môn
giải thoát vị nầy đắc được.
Ðại Trí Huệ Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, ca ngợi tán thán
biển công đức của tất cả các bậc Thánh.
Vị Ðại Trí Huệ Dạ Xoa Vương nầy có đại trí huệ, quản lý quỷ Dạ Xoa
không giữ quy cụ. Những quỷ Dạ Xoa nầy, vì có chút thần thông nên
luôn luôn làm những việc không hợp pháp, không nói dối thì cũng
lường gạt người.
Vị Dạ Xoa Vương nầy thường hằng thuận chúng sinh, vì chúng sinh
thuyết pháp, khiến cho họ đắc được an lạc, khiến cho họ khen ngợi
tán thán biển công đức của tất cả Chư Phật, Bồ Tát, Duyên Giác,
Thanh văn, tất cả những người tu hành, đó là môn giải thoát của vị
nầy đắc được.
Diệm Nhãn Chúa Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, đại bi trí quán
sát khắp tất cả chúng sinh.
Vị Diệm Nhãn Chúa Dạ Xoa quán sát khắp tất cả tâm chúng sinh, tất cả
thân chúng sinh và tất cả tính của chúng sinh. Vì vị nầy dùng đại bi
trí để quán sát, cho nên đắc được môn giải thoát nầy.
Kim Cang Nhãn Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, đủ thứ phương
tiện lợi ích an lạc tất cả chúng sinh.
Vị Kim Cang Nhãn Dạ Xoa Vương nầy, mắt luôn luôn phóng ra quang minh
kim cang, chiếu khắp tất cả chúng sinh, và còn dùng đủ thứ phương
tiện pháp môn để lợi ích chúng sinh, để an lạc chúng sinh, khiến cho
tất cả chúng sinh, đều đắc được lợi ích Phật pháp. Ðó là môn giải
thoát của vị nầy đắc được.
Dũng Kiện Tí Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, vào khắp tất cả
nghĩa của các pháp.
Vị Dũng Kiện Tí Dạ Xoa Vương nầy, thân thể khỏe mạnh và dũng mãnh.
Vị nầy minh bạch được nghĩa lý của các pháp và thâm nhập Kinh tạng,
đắc được trí huệ như biển, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Dũng Ðịch Ðại Quân Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, giữ gìn bảo
hộ tất cả chúng sinh, khiến cho họ đi trên con đường chân chánh.
Vị Dũng Ðịch Ðại Quân Dạ Xoa Vương, rất dũng cảm vô cùng, một mình
mà địch vạn quân. Cho nên vị nầy bảo vệ tất cả chúng sinh an toàn.
Và còn khiến cho chúng sinh, có tư tưởng tà tri tà kiến, đều theo
con đường chân chánh, suy nghĩ diệu pháp, luôn luôn đi trên con
đường chân chánh, không lạc vào bàng môn tả đạo, để học những tà
pháp hoang đường, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Phú Tài Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, tăng trưởng tụ tập
phước đức của tất cả chúng sinh, khiến cho họ luôn luôn thọ khoái
lạc.
Vị Phú Tài Dạ Xoa Vương nầy có tài sản rất phong phú. Tuy nhiên tài
sản rất nhiều nhưng không keo kiệt, thường bố thí cứu giúp những
chúng sinh, nghèo cùng khốn khổ không nơi nương tựa, không giống như
một số người bỏn xẻn, không chịu cứu giúp, chẳng có tâm thương
người. Phải biết tiền tài là vật ngoài thân, sinh ra không mang đến,
chết đi cũng không mang theo được. Do đó :"Làm việc thiện là điều
sung sướng nhất". Bạn muốn làm một công trình từ thiện có ích cho xã
hội, thì sự sung sướng trong tâm của bạn không cách chỉ nói ra được.
Ðừng ngại hãy thử xem, giúp người là gốc sung sướng khoái lạc.
Vị Dạ Xoa Vương nầy, khiến cho chúng sinh đều đắc được sự tu tập
phước đức, đều đắc được vô biên khoái lạc. Vị nầy chứng được môn
giải thoát nầy.
Bây giờ kể một câu chuyện về một phú ông tiếc tài sản mà không tiếc
phước. Khi Ðức Phật còn tại thế, tại thành Xá Vệ, có người giữ tiền
tài tên là Lô Chí. Y không những keo kiệt với người ngoài, mà cũng
keo kiệt với vợ con của mình. Một ngày nọ, y muốn chính mình hưởng
thụ một phen, bèn đi mua hai cái bánh. Trong tâm nghĩ, không thể đem
về nhà ăn, vì vợ con thấy được thì phải chia ăn. Do đó, bèn đi vào
trong rừng ăn hết một mình. Chim trong rừng thấy người đến bèn bay
đi, y cho rằng chim đến để chia bánh ăn, do đó đi đến bờ sông để ăn
hết một mình. Thình lình chuộc bên bờ sông hoảng sợ bèn chạy tán
loạn. Y lại cho rằng chuộc muốn đến chia ăn. Vì quá sợ người khác
đến chia ăn, cho nên lập tức bỏ vào miệng nuốt. Ðó là biểu hiện của
sự keo kiệt bỏn xẻn.
Lúc đó, Trời Ðế Thích thấy người nầy rất ngu si, sinh ra tâm thương
xót tìm cách làm thay đổi tư tưởng của y, bèn hóa ra hình dạng giống
như Lô Chí, bèn đến nhà Lô Chí, nói với vợ của Lô Chí :"Tôi trước
kia rất keo kiệt với bà và các con, bây giờ tôi đã thức tỉnh. Người
giàu có thì phải làm việc có ý nghĩa, nếu không tức là khinh khi
tiền bạc. Chúng ta hôm nay phải ăn uống no say". Ông Lô Chí thật sau
khi nuốt hai cái bánh ở bờ sông rồi, rất đắc ý trở về nhà. Vào trong
nhà thì thấy tình hình như vậy ! Hai ông Lô Chí thật và giả gây lộn,
ai cũng nói mình đúng, không cách chi giải quyết được, mọi người
cũng đều bó tay, không biết ai thật ai giả. Do đó, cùng nhau đi đến
chốn Phật. Phật nói với Trời Ðế Thích :"Người nầy bỏn xẻn quá độ,
không chịu làm việc công đức, không lâu sẽ đọa địa ngục, dù có
khuyên can y như thế nào, y cũng không nghe sự giáo hóa, ngươi hà
tất hao phí tâm cơ, y là người thành tính bỏn xẻn". Phàm là thương
tiết gia tài như mạng sống, một sợi lông cũng không giúp người, đều
phải phản tỉnh, làm nhiều chút việc có ích cho xã hội, làm nhà đại
từ thiện.
Lực Hoại Cao Sơn Dạ Xoa Vương, được môn giải thoát, tùy thuận
nghĩ nhớ, mà sinh ra sức trí huệ quang minh của Phật.
Vị Lực Hoại Cao Sơn Dạ Xoa Vương, sức lực rất lớn có thể xô ngã núi,
cũng nhờ sức gia bị của Phật. Vị nầy thường tùy thuận chúng sinh,
nghĩ nhớ việc quá khứ, mà sinh ra sức trí huệ quang minh của Phật,
đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Bấy giờ, Ða Văn Ðại Dạ Xoa Vương, nương oai lực của Ðức Phật,
quán sát khắp tất cả chúng hội Dạ Xoa, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Ða Văn Ðại Dạ Xoa Vương (Dạ Xoa dưới sự cai quản của Ða
Văn Thiên Vương ở hướng bắc), nương sức đại oai đức của chư Phật gia
bị, quán sát khắp tất cả chúng Dạ Xoa mà nói kệ để tán thán công đức
của Phật.
Tội ác chúng sinh sâu đáng sợ
Trong trăm ngàn kiếp không thấy Phật
Trôi nổi sinh tử thọ khổ nhiều
Vì cứu chúng sinh Phật xuất thế.
"Tội ác chúng sinh sâu đáng sợ". Chúng sinh vì tạo nghiệp quá nhiều,
cho nên chẳng thấy Phật, chẳng nghe Pháp, chẳng thấy Tăng. Bị trôi
nổi trong biển sinh tử, thọ đủ thứ quả báo. Phật muốn cứu chúng sinh
ra khỏi biển khổ mới xuất hiện ra đời. Vì chúng sinh có vô minh nên
khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo. Tội nghiệp của chúng sinh vừa nhiều
vừa sâu rất đáng kinh, đáng sợ.
"Trong trăm ngàn kiếp chẳng thấy Phật". Vì sự quan hệ tội nghiệp của
chúng sinh, quá nặng quá sâu cho nên không thấy được Phật, do đó :
"Thân người khó được,
Phật pháp khó nghe,
Thiện tri thức khó gặp".
Bây giờ chúng ta rất may mắn, đều gặp được những việc mà trên thế
gian khó gặp, cũng thấy Phật, cũng nghe Pháp, cũng thấy Tăng. Ðó là
nhân lành sở cảm đã trồng trong quá khứ.
"Trôi nổi sinh tử thọ khổ nhiều". Chẳng thấy được Phật, chẳng nghe
được pháp, chẳng gặp được Tăng, những chúng sinh nầy, đều trôi nổi
trong biển sinh tử, lưu chuyển trong sáu nẻo luân hồi. Có lúc làm
người trời, làm A tu la, làm người, cho đến đọa địa ngục, phải chịu
đủ thứ khổ.
"Vì cứu chúng sinh Phật xuất thế". Vì cứu chúng sinh lìa khổ được
vui, Phật mới xuất hiện ra đời.
Như Lai cứu hộ các thế gian
Ðều hiện trước tất cả chúng sinh
Dứt trừ lo sợ khổ luân hồi
Môn giải thoát nầy Âm Vương ngộ.
"Như Lai cứu hộ các thế gian". Phật xuất hiện ra đời là vì cứu hộ
tất cả chúng sinh thế gian. Trong kinh Pháp Hoa có nói "Phật vì một
đại sự nhân duyên mà xuất nhiện ra đời" đại sự nhân duyên gì ? Ðó là
việc sinh tử.
"Ðều hiện trước tất cả chúng sinh". Phật như mặt trăng trong hư
không. Bạn nhìn thấy mặt trăng ở trên đầu của bạn, tôi cũng nhìn
thấy mặt trăng ở trên đầu của tôi. Bất cứ đi ngàn dặm, mặt trăng đều
ở trên đầu của mình. Phật cũng như thế, cho nên nói Phật đều ở trước
mặt tất cả chúng sinh.
"Dứt trừ lo sợ khổ luân hồi". Tại sao Phật phải hiện ra trước chúng
sinh ? Vì muốn dứt trừ khổ trong sáu nẻo luân hồi. Tin Phật pháp,
hiểu Phật pháp, hành Phật pháp, chứng Phật pháp; nếu thực hành được
như thế thí chắc chắn sẽ ra khỏi tam giới, chứng được quả vị Niết
Bàn.
"Môn giải thoát nầy Âm Vương ngộ". Môn giải thoát nầy vị Tự Tại Âm
Dạ Xoa Vương minh bạch, hiểu ngộ được.
Ác nghiệp chúng sinh là chướng nặng
Phật bày diệu lý khiến khai ngộ
Như dùng đèn sáng chiếu thế gian
Nghiêm Trượng quán thấy pháp môn nầy.
"Ác nghiệp chúng sinh là chướng nặng". Tại sao chúng sinh không khai
ngộ ? Tại sao không thành Phật ? Vì nghiệp chướng quá nặng quá sâu.
Nghiệp chướng từ đâu đến ? Từ thân khẩu ý ba nghiệp. Thân có ba
nghiệp ác, tức là : sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Miệng có bốn ác là :
nói dối, thêu dệt, chưởi mắng, hai lưỡi. Ý có ba nghiệp ác là : tham
sân si.
1. Sát sinh : Tức là giết hại sinh mạng chúng sinh, tạo tội trong ba
đường ác. Nếu được sinh làm người thì mạng sống rất ngắn bị chết
yểu.
2. Trộm cắp : Không được sự đồng ý của người mà đi lấy vật của họ,
tạo tội ba đường ác. Nếu được sinh làm người thì luôn luôn bần cùng
khốn khổ.
3. Tà dâm : Tức là hành vi không chánh đáng ngoài vợ chồng, tạo tội
ba đường ác. Nếu được làm người thì con gái không trinh lương, vợ
không có tiết hạnh.
4. Nói dối : Tức là nói không thật, chuyện không nói có, chuyện có
nói không, tạo tội ba đường ác. Nếu được sinh làm người thì gặp
người phỉ báng hoặc bị người lừa dối.
5. Thêu dệt : Tức là lời dơ bẩn, nói về việc nam nữ không chánh
đáng, khiến cho người khởi tưởng đâu đâu, tạo tội ba đường ác. Nếu
được sinh làm người thì lời nói không rõ hoặc bị câm.
6. Chưởi mắng : Tức là chưởi mắng người, hoặc là dùng phương tiện
khéo léo để chưởi người; khiến cho người không thể chưởi lại, tạo
tội ba đường ác. Nếu được sinh làm người thì suốt đời gặp nhiều việc
tranh tụng.
7. Hai lưỡi : Tức là gặp người nầy nói xấu người kia, gặp người kia
nói xấu người nọ, làm cho hai bên chia rẽ. Tạo nhân ba đường ác. Nếu
được làm người thì quyến thuộc chống đối nhau.
8. Tham : Tức là xan tham, tham không biết chán, càng tham càng tốt,
tuyệt đối không bố thí, tuyệt đối không làm việc lợi ích cho người.
Tạo tội ba đường ác. Nếu được làm người thì tâm thường không biết
đủ, được một tất muốn một thước.
9. Sân : Tức là sân hận, phát nóng giận, xem tất cả mọi người đều
chẳng đúng. Tạo tội ba đường ác. Nếu được làm người thì thường bị
người não hại.
10. Si : Tức là ngu si, không rõ trái phải, lấy giả làm thật, thường
làm những việc hồ đồ điên đảo, tạo tội ba đường ác. Nếu được làm
người thì tâm siểm khúc không ngay thẳng.
"Phật bày diệu lý khiến khai ngộ". Vì chúng sinh có mười nghiệp ác,
mà trôi nổi ở trong biển sinh tử, không đến được bờ bên kia. Phật
lấy từ bi làm bổn hoài, phương tiện làm gốc, mà mở bày đạo lý diệu
không thể tả. Diệu lý nầy là phương pháp đối trị tất cả nghiệp ác,
khiến cho tất cả chúng sinh đều khai ngộ hiểu rõ.
"Như dùng đèn sáng chiếu thế gian". Phương pháp diệu lý nầy giống
như đèn sáng, chiếu sáng những nơi tối tăm thành sáng sủa. Phật xuất
hiện ra đời giống như mặt trời, chiếu sáng thế gian tối tăm.
"Nghiêm Trượng Quán Thấy Pháp Môn Này". Cảnh giới môn giải thoát
nầy, vị Nghiêm Trì Khí Trượng Dạ Xoa Vương quán sát và minh bạch
được.
Phật xưa biển kiếp tu các hạnh
Tán thán tất cả Phật mười phương
Cho nên danh vang dội cao xa
Trí Huệ Vương thấu rõ môn nầy.
"Phật xưa biển kiếp tu các hạnh". Ðức Phật trong vô lượng kiếp quá
khứ, tu lục độ vạn hạnh. Trong lục độ, dùng bố thí độ tham lam, trì
giới độ phạm giới, nhẫn nhục sân hận, tinh tấn độ giải đãi, thiền
định độ tán loạn, Bát nhã độ ngu si. Vạn hạnh tức là tất cả hạnh lợi
ích chúng sinh.
"Tán thán tất cả Phật mười phương". Trong quá khứ Phật tu các hạnh
thì tán thán ca ngợi tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, dùng
đủ thứ kệ để tán thán chư Phật, dùng đủ thứ bài ca để ca ngợi chư
Phật.
"Cho nên danh vang dội cao xa". Vì Phật tán thán ca ngợi tất cả chư
Phật mười phương, ca ngợi danh hiệu tất cả chư Phật trong mười
phương, cho nên bổn danh Phật cũng vang danh cao Xa. Cao đến chư
thiên đều nghe danh hiệu của Phật, xa đến tận hư không khắp pháp
giới, đều nghe thấy danh hiệu của Phật.
"Trí Huệ Vương thấu rõ môn này". Cảnh giới nầy vị Ðại Trí Huệ Dạ Xoa
Vương thấu rõ được.
Trí huệ như không chẳng bờ mé
Pháp thân rộng lớn không nghĩ bàn
Cho nên xuất hiện khắp mười phương
Diễm Mục quán sát được môn nầy.
"Trí huệ như không chẳng bờ mé". Trí huệ có hình tướng gì ? Trí huệ
chẳng có hình tướng, như hư không. Hư không chẳng có bờ mé, cho nên
trí huệ cũng chẳng có bờ mé.
"Pháp thân rộng lớn không nghĩ bàn". Pháp thân của Phật rộng lớn vô
biên, không thể nghĩ bàn, như hư không, không cách chi đo lường được
hư không lớn cỡ nào.
"Cho nên xuất hiện khắp mười phương". Vì thân của Phật rộng lớn vô
biên, cho nên trong mười phương thế giới đều có pháp thân của Phật
xuất hiện. Pháp thân của Phật là vô tại vô bất tại.
"Diễm Mục quán sát được môn này". Vị Diễm Nhãn Dạ Xoa Vương quán sát
thâm sâu được đạo lý nầy.
Trong tất cả loài diễn diệu âm
Thuyết pháp lợi ích các quần sinh
Nơi nào nghe được diệt các khổ
Kim Cang Nhãn vào phương tiện nầy.
"Trong tất cả cõi diễn diệu âm". Phật diễn nói pháp âm vi diệu trong
sáu nẻo luân hồi. Tất cả chúng sinh nghe được diệu âm nầy thì đắc
được lợi ích.
"Thuyết pháp lợi ích các quần sinh". Phật thì theo căn cơ mà thuyết
pháp, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được lợi ích. Lợi ích gì ?
Thoát khỏi khổ trong tam giới lục đạo, đắc được thường lạc ngã tịnh.
"Nơi nào nghe được diệt các khổ". Diệu âm thuyết pháp của Phật đến
nơi nào, thì khổ của chúng sinh nơi đó đều tiêu diệt, tóm lại, nghe
được âm thanh của Phật thì được độ.
"Kim Cang Nhãn vào phương tiện này". Vị Kim Cang Nhãn Dạ Xoa Vương,
vào được phương tiện môn giải thoát nầy.
Tất cả nghĩa thâm sâu rộng lớn
Phật dùng một câu nói hết được
Giáo lý như vậy đồng thế gian
Dũng Kiện Huệ Vương ngộ môn nầy.
"Tất cả nghĩa thâm sâu rộng lớn". Pháp có nghĩa lý vô lượng vô biên,
do đó "pháp vi diệu thâm sâu vô thượng", pháp nầy chí cao vô thượng,
càng không so sánh thì càng sâu, càng không so sánh thì càng vi
diệu. "Trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được", pháp nầy trải qua thời gian
lâu dài mới gặp được, chớ không dễ gì gặp được. Giống như các nước
tây phương, đã bao nhiêu năm mà chẳng có ai chân chánh nghe được
Phật pháp, thấy được Phật, thấy được Tăng, bây giờ mới bắt đầu. Cho
nên nói thời gian lâu dài không dễ gì gặp được. "Con nay thấy nghe
được thọ trì". Bây giờ con đã thấy được Phật pháp, nghe được Phật
pháp, được thọ trì, thật là người may mắn ! Kiếp trước đã gieo trồng
căn lành, đời nầy mới được thọ trì, chẳng phải là việc dễ dàng. Cho
nên phải lễ kính Tam Bảo, phải cúng dường Tam Bảo. Thân người khó
được nay đã được, Phật pháp khó nghe nay đã nghe. "Nguyện hiểu nghĩa
chân thật của Như Lai". Phật nói Tam Tạng (kinh, luật, luận), mười
hai bộ (trường hàng, trùng tụng, cô khởi, ví dụ, nhân duyên, tự
thuyết, bổn sự, bổn sinh, vị tăng hữu, phương quảng, luận nghị, thọ
ký.) Nghĩa lý nầy thật rộng lớn, vi diệu không thể tả. Chúng ta phải
hiểu rõ đạo lý chân chánh thật tại của Như Lai.
"Như Lai một câu nói hết được". Trong một câu pháp, Phật nói hết
được tất cả các pháp, và trong một câu pháp nói ra tất cả nghĩa thâm
sâu rộng lớn. Ý nghĩa nầy là một làm vô lượng, vô lượng làm một, tức
cũng là đạo lý một gốc tán làm vạn thù, vạn thù quy về một gốc.
"Giáo lý như vậy đồng thế gian". Ở trên đã nói về nghĩa thâm sâu
rộng lớn, Phật một câu thì nói hết được. Giáo nghĩa nầy đầy khắp thế
gian, cho nên giáo nghĩa Phật giáo là viên dung vô ngại. Không phân
biệt chủng tộc, quốc tịch, tất cả mọi người đều là Phật giáo đồ. Bạn
tin Phật cũng là Phật giáo đồ, bạn không tin Phật cũng là Phật giáo
đồ. Tại sao ? Vì Phật giáo là tận hư không khắp pháp giới, mà tất cả
chúng sinh đều đầy đủ Phật tánh, đều có thể thành Phật. Bây giờ bạn
không tin Phật, thì tương lai sẽ tin Phật. Tương lai không tin Phật,
thì đời sau nữa sẽ tin Phật. Không những chắc chắn tin Phật, mà còn
có thể thành Phật. Pháp môn của Phật giáo là bao la vạn tượng, chẳng
có một chúng sinh nào ở ngoài Phật giáo, cho nên nói giáo lý đồng
thế gian.
"Dũng Kiện Thệ Vương ngộ môn này". Vị Dũng Kiện Huệ Dạ Xoa Vương,
hiểu ngộ và minh bạch được đạo lý môn giải thoát nầy.
Tất cả chúng sinh theo tà đạo
Phật bày chánh đạo không nghĩ bàn
Khiến khắp thế gian thành pháp khí
Dũng Ðịch Quân Vương chứng môn nầy.
"Tất cả chúng sinh theo tà đạo". Tất cả chúng sinh tức là : Thai,
noãn, thấp, hóa mười hai loài. Tính tình chúng sinh rất kỳ quái. Nói
pháp chánh đạo với họ, thì họ hoài nghi chẳng tin, nếu nói pháp tà
đạo với họ, thì họ tin không hoài nghi. Vì pháp chánh đạo phải giữ
giới luật, không thể sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu,
còn pháp tà đạo thì không giữ giới luật, có thể sát sinh, trộm cắp,
tà dâm, nói dối, uống rượu. Cho nên chúng sinh đối với chánh đạo
chẳng biết thật hoặc là giả mà khởi nghi hoặc, còn đối với tà đạo
thì cho là thật, không nghi hoặc, cho nên đi theo tà đạo.
"Phật bày chánh đạo không nghĩ bàn". Phật muốn cứu chúng sinh không
giữ quy cụ, tức là chỉ bày cảnh giới chánh đạo, khiến cho chúng sinh
tu học. Cảnh giới chánh đạo là gì ? Tức là quy y Tam Bảo, Phát tâm
bồ đề (trên cầu Phật đạo, dưới độ muôn loài), cảnh giới nầy không
thể nghĩ bàn, khiến cho tội diệt phước sinh, nghiệp tịnh tình không,
có diệu dụng như vậy.
"Khiến khắp thế gian thành pháp khí". Pháp khí tức là tài năng. Ngài
Lục Tổ là thành tựu pháp khí. Hám Sơn Ðại Sư cũng là thành tựu pháp
khí. Các ngài tu đắc được thân kim cang bất hoại, nhập diệt rồi mà
nhục thể không rữa không thối, trở thành nhục thân Bồ Tát đó là pháp
khí.
Ðức Phật khiến cho chúng sinh thế gian đều thành pháp khí, do đó
"mượn cái giả tu cái thật", túi da hôi thối nầy là căn phòng tạm
thời, chúng ta ở trong căn phòng tu đạo. Ðó là mượn thân giả (sắc
thân) tu chân thân (pháp thân). Ðừng xem căn phòng quá quan trọng,
nhưng cũng đừng cố ý làm tổn hoại nó. Nếu có chút hư hỏng gì cũng
phải sửa lại, nếu không thì chẳng có phòng để ở, không nơi để tu.
Bây giờ người ở trong phòng đều có bệnh. Có bệnh gì ? Có bệnh tham,
bệnh sân, bệnh si, bệnh đố kị, bệnh ích kỷ. Chúng ta phải mời bác sĩ
đến chữa trị. Vì bác sĩ có thuốc hay, thuốc đến thì lành bệnh. Thuốc
hay nầy tức là siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si. Cho nên
Phật pháp là "vạn linh đan".
"Dũng Ðịch Quân Vương chứng môn nầy". Vị Dũng Ðịch Ðại Quân Dạ Xoa
Vương chứng đắc được, hiểu được pháp môn nầy.
Tất cả các phước nghiệp thế gian
Hết thảy đều do Phật quang chiếu
Biển trí của Phật khó dò được
Phước Tài đắc được giải thoát nầy.
"Tất cả các phước nghiệp thế gian". Phật là do làm các việc thiện mà
thành tựu, do đó : "tích tụ các điều lành thì gặt hái quả báu tốt
đẹp, tích tụ các điều ác thì gặt hái quả báu tai ương". Ðó là đạo lý
thiên kinh địa nghĩa, định luật vạn cổ không thay đổi. Chúng ta là
người tu đạo, phải lấy "thọ khổ thì hết khổ, hưởng phước thì hết
phước", khắc vào tâm khảm..
"Hết thảy đều do Phật quang chiếu". Phật quang phổ chiếu tức là ban
phước. Phước từ đâu đến ? Là do Phật gia bị mới có phước nghiệp như
thế, cho nên nói hết thảy đều do Phật quang chiếu.
"Biển trí của Phật khó dò được". Trí huệ của Phật như biển cả. Biển
thì rộng lớn vô biên, khó dò khó lường, không cách chi biết được nó
lớn cỡ nào.
"Phước Tài đắc được giải thoát này". Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Phước Tài Dạ Xoa Vương đắc được.
Nghĩ nhớ quá khứ vô biên kiếp
Phật thảy đều tu mười trí lực
Khiến các trí lực đều viên mãn
Cao Tràng Vương biết rõ môn nầy.
"Nghĩ nhớ quá khứ vô số kiếp". Hồi tưởng nhớ lại chư Phật tu hành
trong quá khứ, đều trải qua vô số kiếp. Tuy trải qua thời gian lâu
dài như thế, nhưng Phật rất dũng mãnh tinh tấn, chẳng có tơ hào giải
đãi phóng dật, cho nên mới thành tựu ngày hôm nay.
"Phật thảy đều tu mười trí lực". Phật trong vô số kiếp đều tinh tấn
tu mười thứ trí lực :
1. Tri xứ phi xứ trí lực (trí lực biết xứ phi xứ).
2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực (trí lực biết nghiệp báo ba đời).
3. Tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực (trí lực biết thiền
giải thoát tam muội).
4. Tri chư căn thắng liệt trí lực (trí lực biết cá căn thắng liệt).
5. Tri chủng chủng giải trí lực.
6. Tri chủng chủng giới trí lực.
7. Tri nhất thiết chí sở đạo trí lực.
8. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực.
9. Tri túc mạng vô lậu trí lực.
10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực.
"Khiến các trí lực đều viên mãn". Mười trí lực nầy viên mãn thành
tựu tất cả sức lực.
"Cao Tràng Vương biết rõ môn nầy". Cảnh giới nầy vị Cao Tràng Dạ Xoa
Vương hiểu biết rõ được.
Lại nữa, Thiện Huệ Ma Hầu La Già Vương, được môn giải thoát, dùng
tất cả thần thông phương tiện, khiến cho chúng sinh tích tập công
đức.
Vị Thiện Huệ Ma Hầu La Già Vương (Ma Hầu La Già dịch là "đại phục
hành", tức là thần mãn xà, còn gọi là địa long, nhưng rồng chẳng có
thần thông). Vị nầy đắc được cảnh giới : biết được Phật dùng thần
thông phương tiện pháp môn, khiến cho chúng sinh tích tập công đức,
từ ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn. Công đức tích tụ nhiều rồi, thì
đắc được giải thoát. Ðó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Thần thông có sáu thứ :
1. Thiên nhãn thông.
2. Thiên nhĩ thông.
3. Túc mạng thông.
4. Tha tâm thông
5. Thần túc thông
6. Lậu tận thông.
Thần thông của Phật, thần thông của Bồ Tát, thần thông của A La Hán
đều khác nhau. Ví như thần thông của A La Hán, chỉ quán sát được
nhân quả trong tám vạn đại kiếp, mà không thể quán sát được nhân
duyên ngoài tám vạn đại kiếp. Thần thông của Bồ Tát quán sát được
nhân quả ngoài tám vạn đại kiếp, nhưng không quán sát được nhân
duyên trăm vạn đại kiếp. Thần thông của Phật quán sát được nhân quả
vô lượng đại kiếp.
Tịnh Oai Âm Ma Hầu La Già Vương, được môn giải thoát, khiến cho
tất cả chúng sinh, diệt trừ phiền não, đắc được mát mẻ an vui.
Vị Tịnh Oai Âm Ma Hầu La Già Vương, biết được cảnh giới của Phật,
khiến cho tất cả chúng sinh giải nhiệt phiền não. Nhiệt phiền não là
gì ? Tức là vọng tưởng phiền thân não tâm. Phiền não có phiền não
lớn, phiền não vừa, phiền não nhỏ. Phiền não lớn có tám thứ, phiền
não vừa có hai thứ, phiền não nhỏ có mười thứ. Vị Ma Hầu La Già
Vương nầy, khiến cho tất cả chúng sinh, đều được mát mẻ an vui, tinh
tấn nỗ lực tu hành, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế Ma Hầu La Già Vương, được môn giải
thoát, khiến khắp tất cả chúng sinh, suy nghĩ thiện hoặc bất thiện,
đều vào pháp thanh tịnh.
Vị Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế Ma Hầu La Già Vương, khiến khắp tất cả
chúng sinh, suy nghĩ thiện và bất thiện, đều đắc được thanh tịnh.
Những chúng sinh nầy minh bạch rất nhiều đạo lý; đạo lý thiện cũng
minh bạch, đạo lý bất thiện cũng minh bạch. Nhưng loại chúng sinh
nầy rất dễ đi lầm đường. Vì chính mình cảm thấy đã minh bạch. Thật
ra họ chẳng minh bạch chân chánh, cho nên rất dễ lầm đường lạc lối.
Vị nầy khiến cho tất cả chúng sinh vào pháp thanh tịnh vô vi, đi
trên con đường chân chánh, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Diệu Mục Chúa Ma Hầu La Già Vương, được môn giải thoát, thấu đạt
tất cả chẳng chấp trước tướng phước đức, tự tại bình đẳng.
Vị Diệu Mục Chúa Ma Hầu La Già Vương thấy rõ thông đạt, đức Phật đối
với tất cả cảnh giới chẳng có chỗ chấp trước, cũng chẳng chấp trước
tất cả tướng, không rời tất cả tướng. Không chấp trước nơi phước
đức, cũng chẳng chấp trước nơi tự tại, cũng chẳng chấp trước nơi
bình đẳng, cho nên gọi là tất cả chẳng có chỗ chấp trước.
Phật là ruộng phước của chúng sinh, Tăng cũng là ruộng phước của
chúng sinh. Do đó :
"Rồng tuy không thể mưa xuống,
Nhưng cầu mưa phải nhờ rồng;
Phàm Tăng tuy không thể trồng phước,
Nhưng cầu phước phải nhờ Tăng".
Người tu phước phải luôn luôn tiếc phước, thì phước không tổn giảm.
Có phước đức thì được tự tại, có tự tại thì được bình đẳng, đó là
môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Ðăng Tràng Ma Hầu La Già Vương, được môn giải thoát, khai thị tất
cả chúng sinh, khiến cho xa lìa con đường đen tối sợ hãi.
Vị Ðăng Tràng Ma Hầu La Già Vương, thường hiện quang minh. Quang
minh nầy từ trí huệ hiện ra, giống như đèn tràng, năm quang mười
màu, sáng lạn chói mắt. Vị nầy đắc được cảnh giới của Phật, khai thị
tất cả chúng sinh. Khai là khai Phật tri kiến, thị là thị Phật tri
kiến, khiến cho chúng sinh ngộ Phật tri kiến, nhập Phật tri kiến. Vị
nầy khiến cho tất cả chúng sinh, rời khỏi con đường đen tối sợ hãi,
tức cũng là ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Trong ba đường
ác đầy dẫy đen tối và sợ hãi. Ðen tối là biểu thị chẳng có trí huệ.
Một khi gặp được quang minh trí huệ đăng tràng, thì chẳng còn sợ
hãi, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Tối Thắng Quang Minh Tràng Ma Hầu La Già Vương, được môn giải
thoát, biết rõ tất cả công đức của Phật sinh hoan hỉ.
Vị Tối Thắng Quang Minh Tràng Ma Hầu La Già Vương, biết rõ tất cả
công đức của Phật, là do vạn đức trang nghiêm mà thành Phật. Vị nầy
hiểu được cảnh giới nầy, cũng khiến cho tất cả chúng sinh, đều minh
bạch cảnh giới nầy, chúng sinh minh bạch rồi, thì cũng sinh tâm hoan
hỉ, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Sư Tử Ức Ma Hầu La Già Vương, được môn giải thoát, sức dũng mãnh
làm chủ cứu hộ tất cả chúng sinh.
Vị Sư Tử Ức Ma Hầu La Già Vương. Ức tức là bộ ngực, vị nầy sức lực
dũng mãnh nhất, được làm chủ nhân cứu hộ tất cả chúng sinh. Nếu có
một chúng sinh nào không thành Phật, thì vị nầy thề không nghỉ ngơi.
Bất cứ chúng sinh có tai nạn gì, vị nầy đều đi cứu hộ, đó là môn
giải thoát vị nầy đắc được.
Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm Ma Hầu La Già Vương, được môn giải
thoát, khiến tất cả chúng sinh, tùy sự nghĩ nhớ mà sinh ra vô biên
vui thích.
Vị Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm Ma Hầu La Già Vương, âm thanh do chúng
diệu trang nghiêm, cho nên âm thanh của vị nầy rất hay đẹp êm tai,
khiến cho người nghe quên hết tất cả mọi ưu sầu phiền não. Tùy theo
sự nghĩ nhớ của chúng sinh, mà khiến cho họ sinh ra vô biên vui
thích, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Tu Di Ức Ma Hầu La Già Vương, được môn giải thoát, nơi tất cả sở
duyên, quyết định không động và được đầy đủ đến bờ kia.
Vị Tu Di Ức Ma Hầu La Già Vương đắc được cảnh giới : tất cả sở
duyên, vị nầy quyết định không bị cảnh giới làm lay động, mà đạt đến
bờ kia cứu kính làm mãn túc, đó là cảnh giới của vị nầy đắc được.
Khả Ái Lạc Quang Minh Ma Hầu La Già Vương, được môn giải thoát,
vì tất cả chúng sinh không bình đẳng, mà khai thị con đường bình
đẳng.
Vị Khả Ái Lạc Quang Minh Ma Hầu La Già Vương, được cảnh giới : vì
tất cả chúng sinh không bình đẳng mà khai thị pháp bình đẳng. Ðạo lý
cứu kính thành Phật là bình đẳng, chẳng khác biệt, đó là môn giải
thoát vị nầy đắc được.
Bấy giờ, Thiện Huệ Oai Quang Ma Hầu La Già Vương, nương oai lực
của Ðức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Ma Hầu La Già, mà nói ra
bài kệ.
Lúc đó, Vị Thiện Huệ Oai Quang Ma Hầu La Già Vương, nương đại oai
thần lực gia bị của chư Phật, quán sát khắp tất cả chúng Ma Hầu La
Già mà nói kệ, để tán thán công đức của Phật.
Ông quán Như Lai tánh thanh tịnh
Oai quang hiện khắp lợi quần sanh
Khai thị cam lồ khiến mát mẻ
Các khổ diệt hẳn không chỗ nương.
"Ông quán Như Lai tánh thanh tịnh". Thiện Huệ Oai Quang Vương nói
với quyến thuộc Ma Hầu La Già rằng :"Các vị hãy xem Phật tánh là
thanh tịnh, không nhiễm ô, thanh tịnh như hư không".
"Oai quang hiện khắp lợi quần sanh". Phật từ bi phóng ra quang minh
đại oai đùc, khiến cho chúng sinh nhờ quang minh của Phật chiếu
sáng, mà đắc được lợi ích. Sự lợi ích nầy có thể khai mở trí huệ.
"Khai thị cam lồ khiến thanh lương". Vị nầy khai thị chúng sinh đều
đắc được vị cam lồ thơm ngon. Chúng sinh đói khác mà được cam lồ,
thì lập tức no đủ. Chúng sinh tội nghiệp nặng mà được cam lồ, thì
tội nghiệp tiêu trừ. Dù chúng sinh ở trong địa ngục, nếu được cam lồ
thì chảo dầu than hồng cũng biến thành hồ sen, bất cứ việc gì không
như ý nếu được cam lồ thì đều mát mẻ.
"Các khổ vĩnh diệt không chỗ nương". Bất cứ có bao nhiêu nghiệp khổ,
nếu đắc được oai quang của Phật chiếu sáng, thì tất cả nghiệp khổ
đều tiêu diệt. Vì nghiệp chướng tiêu diệt rồi, cho nên tất cả sự khổ
cũng chẳng còn. Khổ là do nghiệp chướng mà đến. Có nghiệp chướng khổ
thì có chỗ nương tựa, không có nghiệp chướng khổ, thì chẳng có chỗ
nương tựa.
Tất cả chúng sinh trong biển cõi
Các ác nghiệp hoặc tự ràng buộc
Bày họ thực hành pháp tịch tĩnh
Tịnh Oai Âm Vương thấu môn nầy.
"Tất cả chúng sinh trong biển cõi". Chúng sinh trong tam giới ở
trong biển lớn hai mươi lăm cõi, tức cũng là ba cõi. Ba cõi là gì ?
Vì chúng sinh trong ba cõi đều có nghiệp nhân quả báo, cho nên gọi
là ba cõi.
"Các ác nghiệp hoặc tự che đậy". Chúng sinh ở trong tam giới hai
mươi lăm cõi, các nghiệp ác đều khác nhau. Dục giới thì có nghiệp
của dục giới, sắc giới thì có nghiệp của sắc giới, vô sắc giới thì
có nghiệp của vô sắc giới.
Do các ác mà tạo ra các nghiệp, có các nghiệp rồi thì mê hoặc càng
sâu. Nghiệp hoặc giống như xiềng xích trói người, không được giải
thoát, lại còn che đậy chúng sinh ở trong biển nghiệp, cho nên không
thấy quang minh; không thấy quang minh thì sinh ngu si; ngu si thì
chẳng có trí huệ; chẳng có trí huệ thì làm việc điên đảo mê hoặc.
Chúng sinh tạo các nghiệp ác, nhất định phải sám hối mới tiêu diệt
được. Do đó:
"Tội lỗi tày trời, sám hối tiêu sạch".
Song, nghiệp ác của chúng sinh quá sâu, còn không biết sinh tâm sám
hối. Người xưa nói :"
Tội từ tâm khởi đem tâm sám,
Nếu tâm diệt thì tội cũng mất,
Tâm mất tội diệt cả hai đều không,
Ðó mới gọi là thật sám hối".
Nghĩa là, chỉ cần chí thành khẩn thiết sám hối, thì tội nghiệp đã
tạo ra chắc chắn sẽ tiêu diệt. Nhưng chẳng phải nói, hôm nay sám hối
ở trước đức Phật, ngày mai lại tái phạm nữa. Không chân chánh sửa
đổi lỗi lầm, thì không những chẳng có ích gì, mà còn có tội thêm, vì
biết mà cố phạm thì tội sẽ gia tăng.
"Bày họ thực hành pháp tịch tĩnh". Khai thị chỉ bày chúng sinh có
nghiệp ác, dạy họ pháp tịch tĩnh của Phật tu hành, thì chẳng còn
phiền não, bỏ nghiệp ác mà lựa nghiệp thiện.
"Tịnh Oai Âm Vương thấu môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Tịnh Oai Âm Ma Hầu La Già Vương hiểu biết rõ.
Trí Phật như biển không nghĩ bàn
Biết tâm chúng sinh vô bất tận
Vì họ xiển minh pháp thanh tịnh
Thắng Huệ Nghiêm Kế ngộ môn nầy.
"Trí Phật như biển không nghĩ bàn". Trí huệ của Phật như biển cả,
rộng lớn vô biên, không thể đo lường, không thể nghĩ bàn, cho nên
chẳng có gì mà không biết, chẳng chỗ nào mà không thấy.
"Biết tâm chúng sinh vô bất tận". Vì nguyên nhân nầy, cho nên tâm
của chúng sinh Phật đều biết đều thấy. Chúng sinh khởi vọng tưởng gì
Phật đều hiểu biết rõ ràng.
"Vì họ xiển minh pháp thanh tịnh". Vì tâm của chúng sinh, bị danh
lợi trói che mà sinh ra vô minh. Phật vì giáo hóa độ cho họ lìa khổ
được an vui, mà nói pháp thanh tịnh cho họ nghe. Dạy họ thế nào tu
giới, định, huệ ba học vô lậu, làm thế nào dứt trừ tham, sân, si ba
độc.
"Thắng Huệ Nghiêm Kế ngộ môn nầy". Pháp môn nầy vị Thắng Huệ Trang
Nghiêm Kế Ma Hầu La Già Vương hiểu ngộ được.
Vô lượng chư Phật hiện thế gian
Vì khắp chúng sinh làm ruộng phước
Biển phước rộng lớn sâu khó dò
Diệu Mục Ðại Vương thấy môn nầy.
"Vô lượng chư Phật hiện thế gian". Có mười phương ba đời vô lượng
Phật, do đó :"đồng với số chúng sinh", có bao nhiêu chúng sinh, thì
có bấy nhiêu đức Phật, đó là chủ trương của Phật giáo. Vì ai ai cũng
có Phật tánh, đều sẽ thành Phật. Chỉ cần tu hành thì có cơ hội thành
Phật. Giống như một số người, đều có tư cách làm tổng thống hoặc chủ
tịch, nhưng phải có đủ điều kiện, có học thức phong phú, có khả năng
làm việc, có tinh thần phục vụ, có thân thể cường tráng, thì sẽ có
cơ hội làm tổng thống hoặc chủ tịch.
"Khắp vì chúng sinh làm ruộng phước". Vô lượng vô biên tất cả chư
Phật, xuất hiện khắp trong thế gian, để vì chúng sinh làm ruộng
phước, khiến cho tất cả chúng sinh, đều có cơ hội trồng phước. Cúng
dường Tam Bảo, có công đùc không thể nghĩ bàn, nhưng phải làm đừng
có xí đồ mới có công đức lớn, dùng tâm thanh tịnh cúng dường một
trái cây hoặc một cành hoa, thì công đức không thể tính đếm được.
"Biển phước rộng lớn sâu khó dò". Dùng tâm kiền thành không mong
cầu, để cúng dường Tam Bảo, thì biển phước tích tập vừa rộng vừa
sâu, không cách chi đo lường được. Công đức càng nhiều thì biển
phước càng sâu. Chư Phật đều ở trong ba A tăng kỳ tu phước huệ, cúng
dường tất cả chư Phật. Khi phước huệ đầy đủ thì mới thành tựu.
"Diệu Mục Ðaị Vương thấy môn nầy". Cảnh giới nầy, vị Diệu Mục Chúa
Ma Hầu La Già Vương hoàn toàn thấy được.
Tất cả chúng sinh lo sợ khổ
Phật hiện ra trước để cứu hộ
Khắp hết thảy pháp giới hư không
Môn giải thoát nầy Ðăng Tràng chứng.
"Tất cả chúng sinh lo sợ khổ". Tất cả chúng sinh lo âu mà sợ haỉ đó
là quả khổ. Vì tham vui nhất thời mà trồng xuống nhân ác, thì chắt
chắn không thể tránh khỏi quả báo khổ. Bồ tát thì sợ nhân không sợ
quả, lúc trồng nhân thì đặc biệt rất cẩn thận, không khởi chút vọng
niệm nào, nhưng khi thọ quả báo khổ thì tâm vẫn an nhiên tiếp thọ,
chẳng oán trời trách người, tất cả đều là nhân quả, chẳng sai lầm.
"Phật hiện ra trước để cứu hộ". Mười phương ba đời tất cả chư Phật,
đều hiện ra trước tất cả chúng sinh, để cứu hộ chúng sinh giữa
đường. Vì vô minh tác quái, che lấp tâm thanh tịnh, mất đi trí tuệ,
bỏ con đường chân chánh, mà đi trên con đường nhỏ hẹp nguy hiểm.
Phật thương xót những chúng sinh nầy, cho nên nương thuyền từ bi đến
thế giới nầy, để cứu hộ chúng sinh ra khỏi biển khổ.
"Khắp hết thảy pháp giới hư không". Pháp thân của Phật là khắp tất
cả mọi nơi, cho nên nói tận hư không biến pháp giới khắp hết thảy.
Phàm là chỗ nào có chúng sinh, bất cứ là chúng sinh cang cường hoặc
là chúng sinh khó điều phục, đều cứu hộ khiến cho họ lìa khổ được an
lạc.
"Môn giải thoát nầy Ðăng Tràng chứng". Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Ðăng Tràng Ma Hầu La Già Vương chứng đắc được.
Công đức nơi một lỗ lông Phật
Thế gian đo lường không biết được
Vô lượng vô biên đồng hư không
Quảng Ðại Quang Tràng thấy như vậy
"Công đức nơi một lỗ lông Phật". Trong một lỗ chân lông của đức Phật
có vô lượng vô biên công đức. Những công đức nầy từ đâu đến ? Khi
Phật tại nhân địa phát tâm bồ đề, thì luôn luôn làm việc có ích lợi
cho chúng sinh. Vì có ích lợi cho chúng sinh, cho nên mới thành tựu
công đức.
Tu công đức như thế nào ? Trước hết phải ủng hộ Tam Bảo, cúng dường
Tam Bảo, cung kính Tam Bảo. Tam Bảo tức là ruộng phước của chúng
sinh. Làm công đức tức là trồng vào ruộng phước. Phàm là Phật giáo
đồ đều phải hết sức mình để làm công đức, đến khi công đức viên mãn,
thì chắc chắn sẽ đắc được phước báu.
Khi Phật tại nhân địa thì gần gũi Tam Bảo, quy y Tam Bảo, hộ trì Tam
Bảo, phàm là công đức lớn nhỏ Ngài cũng đều làm. Cho nên trong một
lỗ chân lông của Phật đầy đủ các công đức. Vì trong một lỗ chân lông
của Phật, dung nạp được vô lượng chúng sinh, tận hư không khắp pháp
giới, và ở trong lỗ chân lông chuyển đại pháp luân, giáo hóa chúng
sinh.
"Thế gian đo lường không biết được". Tất cả chúng sinh thế gian,
cùng chung lại để nghiên cứu vấn đề nầy, cũng không lường được đức
Phật có bao nhiêu công đức, cũng chẳng cách chi hiểu biết được cứu
kính có bao nhiêu ?
"Vô biên vô tận đồng hư không" Công đức của Phật chỉ có thể nói là
vô biên cô tận. Ví như sự rộng lớn của hư không, không cách chi hình
dung được. Cổ đức có nói :
"Tâm niệm hạt bụi đếm biết được,
Nước trong biển lớn uống hết được,
Hư không lường được gió buộc được,
Không thể nói hết công đức của Phật".
Ðó là sự thuyết minh thích hợp nhất.
"Quảng Ðại Quang Tràng thấy như vậy". Công đức như vậy chỉ có vị
Quảng Ðại Quang Tràng Ma Hầu La Già Vương thấy được cảnh giới nầy.
Như Lai thông đạt tất cả pháp
Nơi pháp tánh kia đều chiếu rõ
Như núi Tu Di không lay động
Sư Tử Ức Vương vào môn nầy.
"Như Lai thông đạt tất cả pháp". Phật muốn lợi ích chúng sinh, muốn
cứu hộ chúng sinh, cho nên Ngài tu đủ thứ công đức. Mỗi mỗi công đức
viên mãn rồi, thì vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển, mới thông đạt
được tất cả các pháp, mới hiểu được tất cả các pháp.
"Nơi pháp tánh kia đều chiếu rõ". Ở trong tám vạn bốn ngàn pháp môn,
pháp tính trong mỗi môn đều thấu triệt thông đạt vô ngại, đều hiểu
biết vô ngại. Tóm lại, tức là trí huệ quang minh chiếu sáng thật
tướng của các pháp.
"Như núi Tu Di chẳng lay động". Pháp tánh giống như núi Diệu Cao,
không lay động, bốn vị Thiên Vương ở giữa núi Tu Di (dịch là Diệu
Cao), trên đỉnh núi là trời Ðao Lợi. Phật dùng sức dũng mãnh tinh
tấn, để cứu hộ tất cả chúng sinh, cho nên gọi là chúa cứu hộ tất cả
chúng sinh. Pháp tánh của Phật có định lực như núi Tu Di.
"Sư Tử Ức Vương vào môn nầy". Vị Sư Tử Ức Vương minh bạch được,
chứng nhập được pháp môn giải thoát nầy.
Phật trong quá khứ kiếp xa xưa
Tập biển hoan hỉ sâu vô tận
Nên ai thấy được đều vui mừng
Pháp nầy Nghiêm Âm chứng nhập được.
"Phật trong quá khứ kiếp xa xưa". Khi đùc Phật ở trong vô lượng vô
biên đại kiếp xa xưa, chưa từng sinh một chút phiền não.
"Tập biển hoan hỉ sâu vô tận". Phật ở trong vô lượng kiếp tích tập
hoan hỉ, sâu rộng không bờ bến như biển cả. Khi Phật ở taị nhân điạ
thì, bất cứ thấy ai cũng đều sinh tâm hoan hỉ. Ngài phát tâm độ tất
cả chúng sinh.
"Nên ai thấy được đều vui mừng". Vì quan hệ như vậy, cho nên chúng
sinh thấy được Phật thì chẳng có một chúng sinh nào mà chẳng sinh
tâm hoan hỉ.
"Pháp nầy Nghiêm Âm chứng nhập được". Môn giải thoát nầy vị Chúng
Diệu Trang Nghiêm Âm Ma Hầu La Già Vương chứng nhập được.
Biết rõ pháp giới không hình tướng
Biển Ba la mật đều viên mãn
Ðại quang cứu khắp các chúng sinh
Sơn Ức biết được phương tiện nầy.
"Biết rõ pháp giới không hình tướng". Thấy biết rõ pháp giới chẳng
có hình tướng. Pháp Giới tức là chân tâm của chúng sinh. Chân tâm
thì khắp cùng pháp giới, pháp giới cũng chẳng lìa khỏi chân tâm của
chúng ta. Cho nên mới nói :"
"Nếu ai muốn biết rõ,
Tất cả Phật ba đời.
Hãy quán tánh pháp giới,
Tất cả do tâm tạo".
Giống như làm văn, trước hết phải nhận thức rõ ràng chủ đề. Chân tâm
thì chẳng có hình tướng, là tận hư không khắp pháp giới, do đó
:"Mười pháp giới không lìa một tâm niệm". Pháp giới là do pháp hóa
mà thành giới. Phật pháp giới có vô lượng chư Phật, là do Phật pháp
mà hóa thành. Bồ Tát pháp giới, Duyên Giác pháp giới, Thanh Văn pháp
giới .v.v., đều do đủ thứ pháp mà hóa thành, cho nên gọi là pháp
giới. Nếu phân ra mà nói thì có mười pháp giới, nói chung lại thì
một pháp giới, tức cũng là một niệm chân tâm.
"Biển Ba La Mật đều viên mãn". Biết được pháp giới là vô tướng, thì
thông đạt bổn thể, là như như bất động, rõ ràng sáng suốt, là minh
bạch tự tánh bổn thể.
Tất cả biển Ba la mật gồm có sáu Ba la mật, mười Ba la mật, trăm Ba
la mật, ngàn Ba la mật, vạn Ba la mật, cũng có thể nói có tám vạn
bốn ngàn Ba la mật. Nếu minh bạch được pháp giới là vô tướng, thì tấ
cả Ba La Mật đều viên mãn đầy đủ.
"Ðại quang cứu khắp các chúng sinh". Ðại quang tức là đại quang minh
tạng. Ðại quang chiếu khắp tất cả chúng sinh, cứu hộ tất cả chúng
sinh. Chúng simh nào được đại quang minh tạng chiếu đến, thì chúng
sinh đó được cứu, được hết khổ.
Ðại quang là từ trí huệ quang tu được. Trí huệ quang nầy là vô lượng
vô biên, chẳng có chỗ nào mà không chiếu đến, chiếu khắp pháp giới,
trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng.
"Sơn Ức biết được phương tiện nầy". Vị Tu Di Ức Ma Hầu La Già Vương
biết được pháp môn phương tiện nầy.
Ông quán Như Lai sức tự tại
Mười phương hóa hiện thảy đồng đều
Chúng sinh được chiếu đều khai ngộ
Diệu Quang Minh Vương thâm nhập được.
"Ông quán Như Lai sức tự tại". Bạn hãy xem sức tự tại của Phật, diệu
không thể tả. Sức tự tại tức là sức thần thông. Sức thần thông của
Phật là không thể suy nghĩ, không thể luận bàn.
"Mười phương hóa hiện thảy đồng đều". Phật hóa hiện pháp thân trong
mười phương pháp giới, chẳng có chỗ nào mà không có. Cho nên tất cả
chúng sinh đắc được lợi ích cũng khác nhau. Người đại căn thì được
thấm nhuần lớn, người tiểu căn thì được sự thấm nhuần ít.
"Chúng sinh được chiếu đều khai ngộ". Chúng sinh được đaị quang minh
tạng của Phật chiếu đến, thì đều khai ngộ, đắc được trí huệ giải
thoát.
"Diệu Quang Minh Vương thâm nhập được". Cảnh giới nầy vị Khả Ái Lạc
Quang Minh Ma Hầu La Già Vương thâm nhập được, thấy rõ quang minh
của Phật chiếu sáng chúng sinh, thì tội nghiệp của chúng sinh đều
tiêu diệt.
Lại nữa, Thiện Huệ Quang Minh Thiên
Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, sinh khắp tất cả nghiệp vui
thích.
Tiếp theo kinh văn ở trên. Vị Thiện Huệ Quang Minh Thiên Khẩn Na La
Vương ( Khẩn Na La dịch là Nghi thần, thần nầy khéo ca ngâm pháp âm
trang nghiêm khiến cho người nghe sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng), khiến cho khắp tất cả chúng sinh, sinh ra nghiệp hoan hỉ
khoái lạc, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Diệu Hoa Tràng Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, sinh vô
thượng pháp hỉ, khiến cho tất cả chúng sinh được an lạc.
Vị Diệu Hoa Tràng Khẩn Na La Vương, minh bạch cảnh giới của Phật,
khiến cho tất cả chúng sinh sinh ra vô thượng pháp hỉ. Nghe Kinh tâm
vui mừng, dù không ăn cơm cũng không cảm thấy đói, cho nên nói :
pháp hỉ sung mãn. Cảnh giới pháp hỉ tức là phấn khởi quên ăn, vui vẻ
quên mất lo âu. Vị nầy đắc được pháp hỉ, cũng khiến cho chúng sinh
đắc được pháp hỉ an lạc. Tư tưởng nầy là tự lợi lợi tha, tự giác
giác tha. Tóm lại, mình vui sướng cũng khiến cho người khác vui
sướng, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Chủng Chủng Trang Nghiêm Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát,
đầy đủ tất cả công đức tín giải tạng thanh tịnh rộng lớn.
Vị Chủng Chủng Trang Nghiêm Khẩn Na La Vương, đầy đủ đủ thứ sự trang
nghiêm. Sự trang nghiêm nầy, biểu thị sự tốt đẹp, thù thắng, đặc
biệt để trang nghiêm cõi Phật. Vì tu đủ thứ phước, mới có đủ thứ
công đức. Có công đúc rồi, thì tất cả công đức đều đầy đủ viên mãn,
vừa rộng lớn vừa thanh tịnh, do đó sinh ra tạng tin hiểu thanh tịnh.
Vị nầy đặc được môn giải thoát nầy.
Thanh tịnh tức là không phát cuồng, phát cuồng thì không thanh tịnh.
Thanh tịnh tức cũng chẳng có tư tưởng ô nhiễm, tâm đối với cảnh giới
mà chẳng chấp trước cảnh giới, tức là :
"Mắt thấy hình sắc trong tâm chẳng có,
Tai nghe âm thanh tâm chẳng biết".
Tạng tin hiểu : Trước hết giải thích chữ tin. Tin làm tăng trưởng
rừng công đức. Do đó :
"Tin là gốc đạo, mẹ công đức,
Dưỡng lớn tất cả các pháp lành".
Nhứt xiển đề dịch là "niềm tin không đủ", là người không tin Phật
Pháp. Song, họ vẫn có Phật tánh nhưng tạm thời không thể thành Phật.
Vì họ không tin nhân quả. Hiểu là hiểu rõ, hiểu rõ nghĩa chân thật
của Kinh điển. Tin hiểu tụ tập nhiều thì thành tạng. Ví như Tam Tạng
: Tạng Kinh, Tạng Luật, Tạng luận.
Ðạo lý Kinh Hoa Nghiêm, phân làm bốn giai đoạn, tức là : Tin, hiểu,
hành, chứng. Trước hết phải tin, nhất định phải sinh ra tâm tin. Có
tâm tin rồi, mới hứng thú với Phật Pháp. Thứ hai là phải hiểu, phải
nghiên cứu giáo lý, hiểu rõ giáo lý. Thứ ba là phải hành, hiểu rồi
thì phải theo pháp mà tu hành. Nếu không, chỉ tin Phật Pháp, hiểu rõ
Phật Pháp, mà không tu thì chẳng ích gì. Thứ tư là phải chứng, tu
hành mới có chứng quả, chứng quả mới giải thoát, giải thoát khỏi sự
trói buộc nghiệp chướng mê hoặc, thoát khỏi đau khổ trong ba cõi.
Duyệt Ý Hống Thanh Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, luôn
luôn phát ra tất cả âm thanh rất êm tai, khiến cho người nghe lìa lo
sợ.
Vị Duyệt Ý Hống Thanh Khẩn Na La Vương, thường khiến cho tâm của bạn
sinh hoan hỉ. Tiếng hống của vị nầy rất êm tai, khiến cho người nghe
sinh vui mừng. Vị nầy luôn luôn phát ra âm thanh chúng sinh thích
nghe, khiến cho người nghe được tiếng hống nầy, đều lìa khỏi tất cả
sự lo âu sợ hãi, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Bảo Thụ Quang Minh Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, đại bi
an lập tất cả chúng sinh, khiến cho họ giác ngộ nhân duyên.
Vị Bảo Thụ Quang Minh Khẩn Na La Vương, minh bạch được Phật khiến
cho tất cả chúng sinh nghe pháp, mà khai ngộ, hiểu rõ giác ngộ nguồn
gốc nhân duyên, mà tự tánh của tất cả chúng sinh là thanh tịnh, đó
là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Phổ Lạc Kiến Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, thị hiện tất
cả sắc thân tốt đẹp.
Vị Phổ Lạc Kiến Khẩn Na La Vương, minh bạch được, Phật thị hiện tất
cả sắc thân tốt đẹp, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho chúng
sinh đều sinh tâm hoan hỉ, đắc được tâm thanh tịnh, đó là môn giải
thoát vị nầy đắc được.
Tối Thắng Quang Trang Nghiêm Khẩn Na La Vương, được môn giải
thoát, biết rõ tất cả quả thù thắng trang nghiêm từ nghiệp sinh ra.
Vị Tối Thắng Quang Trang Nghiêm Khẩn Na La Vương, minh bạch tất cả
Phật quả thù thắng trang nghiêm, do từ nghiệp sinh ra mà thành tựu,
đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Vi Diệu Hoa Tràng Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, khéo
quán sát tất cả nghiệp quả báo ứng của thế gian.
Vị Vi Diệu Hoa Tràng Khẩn Na La Vương, đắc được cảnh giới khéo quán
sát tất cả nghiệp quả báo ứng của thế gian. Chúng sinh trồng nhân gì
thì kết qủa đó. Trồng nhân thiện thì kết quả thiện, trồng nhân ác
thì kết qủa ác. Tóm lại, kết quả thiện thì thọ báo ứng thiện, kết
qủa ác thì thọ báo ứng ác, đó là đạo lý về luật nhân qủa.
Chúng sinh trong chín pháp giới, Bồ Tát tu pháp lục độ vạn hạnh cho
nên làm Bồ Tát. Duyên Giác tu pháp mười hai Nhân Duyên cho nên làm
Duyên Giác. Thanh văn tu pháp bốn Thánh Ðế cho nên làm Thanh Văn. Do
đó, nhân gì thì kết quả đó. Nếu bạn làm công đức lành, thì sinh về
ba đường lành. Nếu bạn tạo tội ác, thì đoạ vào ba đường ác. Sở sinh
báo tức là sở thọ quả báo. Do đó :
"Trồng dưa được dưa,
Trồng đậu được đậu".
Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.
Ðộng Ðịa Lực Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, luôn luôn
khởi tất cả việc lợi ích cho chúng sinh.
Vị Ðộng Ðịa Lực Khẩn Na La Vương, có sức lực chấn động đại địa, Vị
nầy có thể khiến cho đất chấn động. Vị nầy có sức lực lợi ích chúng
sinh, khiến cho chúng sinh đều được an lạc và hoan hỉ, đó là môn
giải thoát vị nầy đắc được.
Oai Mãnh Chúa Khẩn Na La Vương, được môn giải thoát, biết rõ và
khéo nhiếp phục tâm của tất cả Khẩn Na La.
Vị Oai Mãnh Chúa Khẩn Na La Vương, rất oai đức và dũng mãnh, cho nên
làm Khẩn Na La Vương. Vị nầy khéo biết tâm tư của Khẩn Na La. Nếu
những vị Khẩn Na La, không giữ quy cụ, thì vị nầy dùng phương tiện
khéo léo để quản lý, khiến cho chúng giữ quy cụ, an phận giữ mình.
Giáo hóa chúng sinh có hai môn : triết và nhiếp. Triết tức là pháp
triết phục, điều trị hàng phục những chúng sinh cang cường. Nhiếp
tức là pháp nhiếp thọ, nhiếp tất cả chúng sinh vào trong Phật pháp.
Ðó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Bấy giờ, Thiện Huệ Quang Minh Thiên Khẩn Na La Vương, nương oai
lực của Ðức Phật, quán khắp tất cả chúng Khẩn Na La mà nói ra bài
kệ.
Lúc đó, Vị Thiện Huệ Quang Minh Thiên Khẩn Na La Vương, nương oai
lực gia bị của chư Phật, quán sát tất cả chúng Khẩn Na La mà nói kệ
rằng.
Tất cả sự an lạc thế gian
Ðều do thấy được Phật ra đời
Ðạo sư lợi ích các quần sinh
Khắp làm nơi cứu hộ nương tựa.
"Tất cả sự an lạc thế gian". Chúng sinh hữu tình thế gian, có sự vui
sướng và khổ não. Bây giờ là nói tất cả việc an lạc. Làm thế nào có
được sự an lạc ? Vì gần gũi Tam Bảo, quy y Tam Bảo, cúng dường Tam
Bảo, cung kính Tam Bảo.
"Ðều do thấy được Phật ra đời". Chúng sinh không những được bình an
và còn vui sướng. Sự an lạc nầy, là do thấy Phật, nghe Pháp, thấy
Tăng mà có.
"Ðạo sư lợi ích các quần sinh". Phật luôn luôn lợi ích chúng sinh,
khiến cho chúng sinh đắc được diệu dụng. Diệu dụng gì ? tức là lìa
sự khổ thế gian, được an vui xuất thế gian.
"Khắp làm nơi cứu hộ nương tựa". Phật cứu hộ khắp tất cả chúng sinh.
Chúng sinh có tai nạn gì, Ngài đều không sợ khổ mà đi cứu hộ, cho
nên Phật là nơi nương tựa chân chánh của tất cả chúng sinh.
Sinh ra tất cả sự vui thích
Thế gian đều được vô cùng tận
Khiến người thấy được chẳng luống uổng
Ðây là sở ngộ của Hoa Tràng.
"Sinh ra tất cả sự vui thích". Phật khiến cho chúng sinh, đắc được
pháp hỷ sung mãn, nghe được Phật Pháp mà sinh tâm hoan hỉ vui sướng.
"Thế gian đều được vô cùng tận". Sự pháp hỉ nầy, tất cả chúng sinh
thế gian đều đắc được. Sự pháp hỉ nầy giống như nước chảy, chẳng hết
được.
"Khiến người thấy được chẳng luống uổng". Phật khiến cho tất cả
chúng sinh, thấy được Phật đều có công đức, không thể nào thấy được
Phật mà chẳng có ích gì. Tóm lại, ai thấy được Phật thì người đó đắc
được pháp ích. Ai đắc được pháp ích, thì người đó y pháp tu hành, ai
y pháp tu hành thì người đó chứng được Phật quả.
"Ðây là sở ngộ của Hoa Tràng". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Diệu
Hoa Tràng Khẩn Na La Vương minh bạch được.
Biển công đức Phật không cùng tận
Muốn tìm bờ mé không thể được
Quang minh chiếu khắp trong mười phương
Giải thoát nầy của Trang Nghiêm Vương.
"Biển công đức Phật không cùng tận". Công đức của Phật như biển cả,
vô lượng vô biên chẳng cùng tận. Không cần nói hết công đức toàn bộ
thân của Phật, mà công đức một lỗ chân lông của Phật cũng vô cùng vô
tận. Do đó :"
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Thập phương thế giới diệc vô tỉ,
Nhất thiết sở hữu ngã tận kiến,
Nhất thiết vô hữu như Phật giả".
Nghĩa là :
Trên trời nhân gian không ai bằng Phật
Mười phương thế giới cũng chẳng sánh
Tất cả hết thảy Phật đều thấy
Tất cả chẳng ai như đức Phật.
Ðó là nói sự bất khả tư nghì của Phật.
"Muốn tìm bờ mé không thể đựơc". Vì công đức của Phật quá lớn, cho
nên muốn tìm bờ mé không thể nào được. Vì cảnh giới của Phật cao sâu
khó dò, so với núi Tu- Di còn cao hơn, so với biển Hương-Thủy còn
sâu hơn, cho nên tìm không được bờ mé.
"Quang minh chiếu khắp trong mười phương". Quang Minh của Phật chiếu
sáng khắp mười phương thế giới. Tất cả chúng sinh trong mười phương,
đắc được quang minh của Phật gia bị, đều bỏ mê về giác, cải tà quy
chánh.
"Giải thoát nầy của Trang Nghiêm Vương". Cảnh giới môn giải thoát
nầy vị Chủng Chủng Trang Nghiêm Khẩn Na La Vương đắc được.
Âm thanh Như Lai thường diễn xướng
Khai thị pháp chân thật lìa khổ
Chúng sinh nghe được đều vui mừng
Như vậy Hống Thanh tin thọ được.
"Âm thanh Như Lai thường diễn xướng". Phật dùng âm thanh rộng lớn để
thuyết pháp, âm thanh nầy liên tục không ngừng, luôn luôn đang nói
pháp. Trí Giả Ðại Sư tụng kinh Pháp Hoa liên tục, thì đắc được Pháp
Hoa Tam Muội, thấy được pháp hội Linh Sơn vẫn còn đó, Phật Thích Ca
còn đang thuyết pháp tại đó.
Ðó là chứng minh Phật pháp, có thể đem quá khứ vô lượng kiếp dời đến
hiện taị, cũng có thể đem vị lai vô lượng kiếp dời đến hiện taị. Do
đó, quá khứ chẳng quá khứ, vị lai chẳng vị lai, tức hiện tại cũng
thế, không thể đắc được. Cho nên nói : tâm quá khứ không thể được,
tâm hiện taị không thể được, tâm vị lai không thể được.
Diễn xướng tức là muốn nói pháp thì nói, muốn nói đạo lý thì nói,
tuôn chảy như nước, chảy mãi không ngừng.
"Khai thị pháp chân thật lìa khổ". Khai thị tất cả chúng sinh, dạy
họ làm thế nào lìa khỏi lo sầu khổ não, làm thế nào lìa khổ được
vui. Phật khai thị tất cả chúng sinh phải tu giới, định, huệ. Có
giới định huệ rồi, thì chẳng còn lo âu, chẳng còn quái ngại. Pháp
chân thật, tức là pháp môn giới định huệ, do đó :"Siêng tu giới đinh
huệ, diệt trừ tham sân si", Câu nầy tuy nhiên tôi thường nói, song,
người làm được chẳng bao nhiêu.
"Chúng sinh nghe được đều vui mừng". Chúng sinh nghe được pháp chân
thật của Phật nói, đều sinh tâm vui mừng, do đó, đều đại hoan hỉ tín
thọ phụng hành, như thế Phật Pháp mới lưu thông.
"Như vậy Hống Thanh tin thọ được". Pháp chân thật như vậy, Vị Duyệt
Ý Hống Thanh Khẩn Na La Vương, tin thọ được môn giải thoát nầy.
Tôi quán sức tự tại của phật
Ðều do quá khứ đã tu hành
Ðại bi cứu độ khiến thanh tịnh
Bảo Thụ Quang Vương ngộ vào được.
"Tôi quán sức tự taị của Phật". Vị Bảo Thụ Quang Minh Khẩn Na La
Vương nói :"Tôi quán sát Như Lai đắc được thần lực tự tại nầy, chẳng
phải dễ dàng, nếu không trải qua một phen tu khổ hạnh".
"Ðều do quá khứ đã tu hành". Ðức Phật thành tựu là do quá khứ đã tu
hành. Nếu không tu hành, thì chẳng có sức thần thông tự tại như thế.
"Ðại bi cứu độ khiến thanh tịnh". Ðức Phật đầy đủ tâm đại bi, cứu độ
tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, đều trở về cội
nguồn, cải tà theo chánh.
"Bảo Thụ Quang Vương ngộ nhập được". Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Bảo Thụ Quang Minh Khẩn Na La Vương, minh bạch chứng nhập được.
Khó thấy nghe được đức Như Lai
Chúng sinh ức kiếp mới được gặp
Các tướng trang nghiêm đều đầy đủ
Cảnh giới nầy Lạc Kiến Vương thấy.
"Khó thấy nghe được đức Như Lai". Chẳng dễ gì thấy được Phật, không
biết phải trải qua bao nhiêu đại kiếp, mới gặp được Phật, nghe được
Pháp, thấy được Tăng. Pháp thân của Phật tuy nhiên khắp mọi nơi,
song, chúng sinh không đắc được năm nhãn (Phật nhãn, Pháp nhãn, Huệ
nhãn, thiên nhãn, và nhục nhãn) thì không thể thấy được pháp thân
của Phật. Sắc thân của Phật, cũng chẳng dễ gì thấy được. Dù danh
hiệu của Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng không dễ gì nghe được. Cho nên
nói khó thấy nghe được đức Như Lai.
"Chúng sinh ức kiếp mới được gặp". Nếu chúng sinh có duyên với Phật,
cũng phải trải qua ức kiếp mới gặp được, song, cũng chẳng dễ. Muốn
thấy Phật, thì phải tu hành. Pháp môn tham thiền là khai mở năm
nhãn.
"Các tướng trang nghiêm đều đầy đủ". Các tướng tức là : ba mươi hai
tướng tám mươi vẽ đẹp, mỗi tướng đều đầy đủ trang nghiêm. Chúng sinh
thấy được các tướng sắc thân tốt đẹp của Phật, vừa viên mãn vừa
trang nghiêm.
"Cảnh giới nầy Lạc Kiến Vương thấy". Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Phổ Lạc Kiến Khẩn Na La Vương thấy, hiểu rõ được.
Ông quán trí huệ của Như Lai
Ứng khắp sở thích của quần sinh
Tất cả trí đạo đều nói hết
Tối Thắng Trang Nghiêm rõ môn nầy.
"Ông Quán Trí huệ của Như Lai". Tối Thắng Quang Trang Nghiêm Khẩn Na
La Vương, nói : "Bạn hãy Quán sát đại trí huệ của Phật như biển cả,
không thể đo lường, không thể nghĩ bàn".
"Ứng khắp sở thích của quần Sinh". Trong tâm của chúng sinh nghĩ gì,
cầu gì ? Phật đều làm cho họ được đầy đủ. Dục vọng nầy chẳng phải là
năm dục (tài, sắc, danh, ăn ngủ), mà là trí huệ dục.
"Tất cả trí đạo đều nói hết". Hết thảy tất cả đạo lý, đều khiến cho
chúng sinh sinh ra trí huệ, chẳng có gì mà không nói. Nói gì ? Nói
đạo lý thật tướng của các pháp. Tướng chân thật là vĩnh viễn không
biến đổi. Tướng năm uẩn hòa hợp là hư vọng không thật. Trong kinh
Kim Cang nói : "Phàm cái gì có hình tướng đều là giả dối".
"Tối Thắng Trang Nghiêm rõ môn nầy". Vị Tối Thắng Quang Trang Nghiêm
Khẩn Na La Vương, hiểu rõ môn giải thoát nầy.
Biển nghiệp rộng lớn không nghĩ bàn
Chúng sinh khổ vui do tạo nghiệp
Phật vì tất cả mà khai thị
Hoa Tràng Vương biết rõ môn nầy.
"Biển nghiệp rộng lớn không nghĩ bàn". Nghiệp tức là những gì tạo ra
bởi : thân, miệng và ý ba nghiệp. Nguyên nhân tạo nghiệp là do hoặc
mà khởi, thấy cảnh thì sinh tham ái. Nghiệp gồm có thiện nghiệp và
ác nghiệp. Làm nghiệp thiện thì được quả vui, làm nghiệp ác thì được
quả khổ. Nghiệp thiện tức là duyên tịnh, nghiệp ác tức là duyên
nhiễm. Nghiệp là như bóng theo hình, luôn luôn theo bạn mà không
tách rời. Nghiệp thiện cũng theo bạn, nghiệp ác cũng theo bạn, luôn
luôn không lìa bạn. Ví như bạn tạo nghiệp sát sinh, thì tương lai
quả báo bị người giết lại, thọ tội khổ ở trong địa ngục trên thì núi
đao, dưới thì chảo dầu. Phạm nghiệp trộm cắp, thì ở trong địa ngục
bị chặt đứt hai tay. Phạm nghiệp dâm dục, thì bị nướng ở trong địa
ngục, thứ hình cụ nầy là ống đồng tròn, bên trong lửa nung đến khi
ống đồng đỏ rực thì kẻ phạm nghiệp dâm ôm lấy, đó là những kẻ thích
đàn bà hoặc những kẻ thích đàn ông. Trong khoảnh khắc thì nướng cháy
đen như than. Phạm nghiệp nói dối thì chịu khổ trong đia ngục bạt
thiệt ngục tốt kéo lưỡi người tội ra, đến đời sau thì bị câm. Phạm
nghiệp uống rượu, thì bị tống vào trong ao rượu, dùng lửa rượu thiêu
thân. Ở trên là cảnh giới tạo nghiệp thọ báo, cho nên nói biển
nghiệp rộng lớn không nghĩ bàn.
"Chúng sinh khổ vui do tạo nghiệp". Chúng sinh hưởng thụ sung sướng,
hoặc chịu đau khổ đều do tạo nghiệp mà sinh ra. Chấp trước tướng là
tạo nghiệp, không chấp trước tướng là giải thoát. Ðạo lý nầy rất đơn
giản dễ hiểu, nhưng trí huệ của phàm phu bị vô minh che lấp trong sự
mê hoặc. Phàm là việc gì, hoặc là pháp gì, mà chúng ta làm đều là
tạo nghiệp, còn các bậc Thánh làm là giải thoát. Vì chúng ta khởi
tâm vọng đi làm, là có tâm mà làm. Các bậc Thánh dùng một phiến tâm
thanh tịnh đi làm, chẳng có tâm vọng mà làm.
"Phật vì tất cả mà khai thị". Về vấn đề nầy, cho nên Phật khai thị
chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, đều hiểu rõ nhân qủa. Có
nhân trước rồi có quả sau. Nhân quả tuần hoàn báo ứng, không sai mảy
may.
"Hoa Tràng Vương biết rõ môn nầy". Ðạo lý nầy vị Hoa Tràng Khẩn Na
La Vương biết và hiểu rõ.
Thần thông chư Phật không dừng nghỉ
Mười phương đại địa thường chấn động
Tất cả chúng sinh chẳng biết được
Quảng Ðại Lực thấy rõ môn nầy.
"Thần thông chư Phật không dừng nghỉ". Mười phương chư Phật có đại
oai đức thần thông lực, chuyển đại pháp luân trong cõi nước mười
phương, giáo hóa chúng sinh. Chư Phật dùng đủ thứ trí huệ, khiến cho
chúng sinh đắc được sự giác ngộ, nhưng Phật vĩnh viễn chẳng khi nào
nghỉ ngơi, đó là tinh thần đại từ đại bi.
"Mười phương đại địa thường chấn động". Mười phương đại địa thường
thường chấn động, có lúc chư Phật hiển hiện thần thông, khiến cho
chúng sinh giác ngộ, biết ba cõi là khổ, ra khỏi ba cõi là vui. Pháp
thế gian là : vô thường, khổ, không, vô ngã. Pháp xuất thế gian là :
thường, lạc, ngã, tịnh. Có lúc ma hiển hiện thần thông mà phóng
quang, khiến cho chúng sinh mê hoặc điên đảo, mê trong sinh tử, lìa
đạo Bồ Ðề.
"Tất cả chúng sinh chẳng biết được". Cảnh giới nầy, đạo lý nầy, tất
cả chúng sinh không thể biết được. Tuy nhiên chư Phật luôn luôn lợi
ích chúng sinh, nhưng chúng sinh không nhận thức được tâm từ bi của
chư Phật.
"Quảng Ðại Lực thấy rõ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy vị
Quảng Ðại Lực Khẩn Na La Vương hiểu biết được.
Phật trong chúng hội hiện thần thông
Phóng đại quang minh khiến giác ngộ
Hiển bày tất cả cảnh Như Lai
Oai Mãnh Chúa Vương quán sát được.
"Phật trong chúng hội hiện thần thông". Cõi nước chư Phật trong mười
phương, đều có Phật đang chuyển pháp luân, giáo hóa chúng sinh. Tất
cả hải hội chúng sinh đều đang nghe pháp ở trong đó, Phật ở trong
pháp hội hiện ra đủ thứ thần thông khiến cho chúng sinh tự giác tự
ngộ.
"Phóng đại quang minh khiến giác ngộ". Phật phóng quang minh trí huệ
Bát Nhã, chiếu soi tất cả chúng sinh, khiến cho họ đều đắc được đại
trí huệ quang minh, và chánh tri chánh kiến, khiến cho họ đều được
giác ngộ.
"Hiển thị tất cả cảnh Như Lai". Phật dùng đủ thứ thần thông, hiển
hiện ra cảnh giới của Phật. Cảnh giới của Phật như hư không, khó đo
lường được.
"Oai Mãnh Chúa Vương quán sát được". Cảnh giới nầy vị Oai Mãnh Chúa
Khẩn Na La Vương quán sát được, hiểu được.
Lại nữa, Ðại Tốc Tật Lực Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát,
cặp mắt vô trước vô ngại, quán sát khắp tất cả chúng sinh.
Tiếp theo ở trên. Vị Ðại Tốc Tật Lực Ca Lâu La Vương (Ca Lâu La dịch
là "Ðại Bàng Kim Sí điểu", vì cánh của nó dài ba trăm ba chục do
tuần). Vị nầy đắc được cặp mắt vô trước vô ngaị của Phật, đều quán
sát được tận hư không khắp pháp giới. Vị nầy quán sát được nhân
duyên cuả tất cả chúng sinh trong mười phương thế giới. Ðó là môn
giải thoát vị nầy đắc được.
Ðại Bàng Kim Sí điểu hàng phục được
rồng. Khi rồng thấy đại bàng thì hết lối thoát, chỉ chờ bị bắt ăn.
Trên thế giới nầy, một vật hàng phục được một vật. Khi sư tử hống
lên thì trăm loài đều sợ. Chim đại bàng hiện lên thì rồng run sợ.
Cánh chim đại bàng không những rộng lớn, mà còn có sức mạnh, chỉ cần
quạt một cái, thì nước biển rẽ làm hai, rồng hết số thì lộ nguyên
hình, bị chim đại bàng hớp một cái, thì chạy tuột vào bụng. Một ngày
chim đại bàng ăn một con rồng lớn, và trăm con rồng nhỏ, ngày nào
cũng thế, cho nên loài rồng sớm bị tuyệt nòi. Lúc đó, Long Vương
sinh tâm sợ hãi, nếu kéo dài như thế nầy, thì quyến thuộc của ta
chẳng phải là bị ăn sạch chăng ? Làm sao mà truyền tông tiếp đại ?
Rồng con rồng cháu không cách chi tiếp nối lâu dài. Do đó, Long
Vương bèn đến chốn Phật cầu cứu, xin Phật từ bi. Phật bèn cho một
tấm y cà sa, nói với Long Vương rằng : "Ông đem tấm y cà sa nầy về,
rút ra từng sợi tơ, cột vào mỗi con rồng thì không còn bị chim đại
bàng bắt ăn nữa". Quả nhiên hiệu nghiệm, do đó, Long Vương vui mừng,
quy y Tam Bảo, làm thần hộ pháp.
Nhờ vậy loài rồng được sinh tồn, nhưng
chim đại bàng bị đói, cũng đến chốn Phật cầu cứu, nói với Phật :
"Thế Tôn ! Ngài từ bi đối với loài rồng, mà không từ bi đối với chim
đại bàng. Bây giờ chúng tôi chẳng có gì ăn, chắt sớm phải chết mất".
Phật nói : "Ngươi phải phát nguyện, đừng ăn rồng nữa, mỗi ngày ăn
cơm thì ta dạy đệ tử thí cho nhà ngươi ít cơm". Cho nên bây giờ ăn
quả đường thì phải thí ít cơm cho đại bàng, đọc rằng :
"Ðaị bàng Kim Sí điểu,
Khoáng dã quỷ thần chúng,
La Sát qủy tử mẫu,
Cam lồ tất sung mãn".
Ðó là nhân duyên về Ca Lâu La.
Bất Khả Hoại Bảo Kế Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát, an trụ
khắp pháp giới giáo hoá chúng sinh.
Vị Bất Khả Hoại Bảo Kế Ca Lâu La Vương, khiến cho tất cả pháp giới
chúng sinh, đều đắc được bình an và khoái lạc, chẳng có chút phiền
não âu lo. Ðó là đức Phật ở dưới cội Bồ Ðề đạo tràng, trong mười
phương pháp giới, để giáo hoá chúng sinh, khiến cho tất cả chúng
sinh đều đắc được cảnh giới lìa khổ được vui. Mục đích của bậc Thánh
nhân thiết giáo, là độ chúng sinh. Các Ngài đem đạo lý sở ngộ của
mình, nói với chúng sinh, khiến cho chúng sinh y pháp tu hành, thì
chắc chắn được giải thoát. Vị Ca Lâu La Vương nầy đắc được môn giải
thoát nầy.
Thanh Tịnh Tốc Tật Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát, khắp
thành tựu sức tinh tấn Ba la mật.
Vị Thanh Tịnh Tốc Tật Ca Lâu La Vương nầy, khiến khắp tất cả chúng
sinh đều được thành tựu. Vị nầy không ích kỷ lợi mình, cũng chẳng có
tư tưởng người tiểu thừa, mà muốn đem môn giải thoát thành tựu Ba La
Mật tinh tấn lực, của mình đắc được để giáo hóa chúng sinh, khiến
cho tất cả chúng sinh cũng đắc được sự thành tựu nầy.
Ba La Mật dịch là "đến bờ kia". Bờ kia
là gì ? Tức là từ bờ sinh tử bên nầy, qua dòng phiền não, đạt đến bờ
Niết Bàn bên kia. Hoặc có thể nói cách khác; tập quán người Ấn Ðộ là
bất cứ làm việc gì xong, cũng đều gọi là Ba La Mật.
Người tu hành, tu thành công rồi cũng gọi là Ba La Mật. Bổn lai có
phiền não nhưng bây giờ không còn phiền não nữa, cũng gọi là Ba La
Mật. Ba La Mật nầy, phải có sức tinh tấn để trợ giúp mới thành tựu
được, bằng không chẳng đắc được Ba La Mật. Bạn muốn đắc được Ba La
Mật chăng ? Bạn muốn thành tựu chăng ? Vậy phải dũng mãnh tinh tấn
tu hành.
Vị Ca Lâu Na Vương nầy, đắc được môn giải thoát nầy, làm thế nào đắc
được ? Là do thấy Phật nghe pháp tu hành mà đắc được.
Chúng ta nghe mỗi câu Kinh Hoa Nghiêm rồi, phải hồi quang phản
chiếu, kiểm thảo chính mình, có tương ưng với pháp môn nầy chăng ?
tu được pháp môn nầy chăng ? tu pháp môn nầy đắc được giải thoát
chăng ? ta muốn được môn giải thoát hay là muốn được môn phiền não ?
Ðừng nên suốt ngày đến tối, mở cửa phiền não mà đóng cửa giải thoát,
nếu như vậy thì chẳng bao giờ đắc được môn giải thoát.
Nghe pháp nghe Kinh thì phải y theo pháp mà tu hành. Nếu không y
theo pháp tu hành, thì nghe Kinh nghe pháp chẳng ích lợi gì. Pháp
không cần nghe nhiều, nghe nhiều ngược lại không chú trọng. Phải có
mắt chọn pháp, lựa pháp môn nào hợp với mình, thì tu môn giải thoát
đó, do đó :"chuyên nhất thì linh, phân chia thì tán". Ở trên đã
giảng qua rất nhiều môn giải thoát, nghe càng nhiều thì càng không
muốn giải thoát, đó là hoàn toàn sai lầm, cô phụ tông chỉ cuả chư
Phật diễn nói Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật.
Bất Thối Tâm Trang Nghiêm Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát,
sức dũng mãnh nhập vào cảnh giới của Như Lai.
Vị Bất Thối Tâm Trang Nghiêm Khẩn Na La Vương nầy, bất cứ gặp cảnh
giới gì, đều không thối tâm, có người đối với vị nầy không tốt, vị
nầy cũng không sinh phiền não, hoặc là phỉ báng, vị nầy cũng không
thối bồ đề tâm. Không những chẳng thối tâm, ngược lại còn tinh tấn
dũng mãnh, còn trang nghiêm cõi nước chư Phật. Vị nầy đắc được sức
dũng mãnh, nếu thiên ma ngoại đạo đến đấu tranh với vị nầy, thì vị
nầy nhất định sẽ thắng. Vị nầy có tâm bất thối, toại tâm mãn nguyện,
nhập vào cảnh giới của Phật, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Ðại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát,
vào biển trí huệ hạnh rộng lớn của phật.
Vị Ðại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực Ca Lâu La Vương nầy, trí huệ như biển
cả, nhiếp chúng sinh vào trong pháp giới cuả Phật. Vì thâm nhập hạnh
môn của Phật, tu pháp môn biển trí huệ hạnh rộng lớn, cho nên đắc
được môn giải thoát, cạn sạch biển phiền não của chúng sinh.
Kiên Pháp Tịnh Quang Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát, thành
tựu vô biên trí sai biệt của chúng sinh.
Vị Kiên Pháp Tịnh Quang Ca Lâu La Vương nầy, tại nhân địa, thì tâm
cầu pháp rất kiên cố, do đó những gì khó thực hành mà làm được, việc
khó nhẫn mà nhẫn được, dùng tâm kiên cố để cầu phật pháp, đắc được
quang minh thanh tịnh, cho nên gọi là kiên cố tịnh quang. Vị nầy đắc
được cảnh giới : bất cứ một loài chúng sinh nào có cầu thì tất ứng,
không những thành tựu được một chúng sinh mà thành tựu được tất cả
chúng sinh.
Trí sai biệt là gì ? Tức là mỗi một loài
chúng sinh đều có trí huệ của họ, giống loại chúng sinh khác nhau,
cho nên trí huệ của họ cũng khác nhau. Hoặc có thể nói, mỗi một loài
chúng sinh, có thể đắc được trí huệ sai biệt, mà mình đáng đắc được,
nghĩa là tùy loại chúng sinh đắc được sự hiểu biết của mỗi loài.
Hoặc có thể nói trí huệ sai biệt, tức là trạch pháp nhãn, dùng trí
huệ sai biệt để lựa chọn pháp môn mà mình thích, và pháp môn tương
ưng với mình. Tóm lại, trí sai biệt tức là trí huệ khác nhau. Vị Ca
Lâu La Vương nầy, đắc được môn giải thoát nầy.
Diệu Nghiêm Quan Kế Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát, trang
nghiêm pháp thành của Phật.
Vị Diệu Nghiêm Quan Kế Ca La Vương nầy, đội mão không những tốt đẹp
mà còn trang nghiêm, khiến cho người thấy sinh tâm hoan hỉ, cho nên
chúng sinh đều muốn thấy vị nầy đội mão. Vị nầy khéo trang nghiêm
tất cả đạo tràng của chư Phật, đạo tràng có nhiều loại khác nhau. Có
đạo tràng giảng Kinh, đạo tràng tụng Kinh, đạo tràng dịch Kinh, đạo
tràng phát hành Kinh sách .v.v. Tóm lại, phàm là nơi trụ xứ cuả chư
Phật đều là pháp thành của Phật. Vị Khẩn Na La Vương nầy, trang
nghiêm pháp thành của Phật đặc biệt thanh tịnh, đặc biệt trang
nghiêm, đặc biệt thù thắng, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Phổ Tiệp Thị Hiện Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát, thành tựu
sức bình đẳng không thể hoại.
Vị Phổ Tiệp Thị Hiện Ca Lâu La Vương, thành tựu được sức đại từ bình
đẳng, không thể phá hoại được, kiên cố như kim cang. Vị nầy có tư
tưởng vô duyên đaị từ, đồng thể đại bi. Nơi nào vị nầy đến, đều khai
thị chúng sinh, tương lai đều sẽ thành Phật,đó là môn giải thoát vị
nầy được.
Phổ Quán Hải Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát, biết rõ tất cả
thân chúng sinh mà vì họ hiện hình.
Vị Phổ Quán Hải Ca Lâu La Vương, quán sát khắp biển phiền não, biển
trí huệ, biển nghiệp lực, biển phước báu cuả chúng sinh, tức cũng là
quán sát khắp tất cả biển của chúng sinh.
Vị nầy còn biết rõ tất cả thân của chúng sinh, y theo loài mà hiện
hình, để giáo hóa các loài chúng sinh. Ví như thấy thân chư thiên,
thì hiện thân chư thiên để vì họ thuyết pháp. Thấy thân người thì
hiện thân người, mà vì họ thuyết pháp. Thấy thân A Tu La, thì hiện
thân A Tu La, mà vì họ thuyết pháp, cho đến thấy thân chúng sinh địa
ngục, thì hiện thân chúng sinh điạ ngục, mà vì họ thuyết pháp. Tóm
lại, thấy thân chúng sinh nào thì hiện ra thân đó, để vì họ mà
thuyết pháp, khiến cho tất cả chúng sinh lìa khổ đươc vui, bỏ mê về
giác, tu đạo Bồ Ðề, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Long Âm Ðại Mục Tinh Ca Lâu La Vương, được môn giải thoát, trí
hạnh vào khắp sinh tử của tất cả chúng sinh.
Vị Long Âm Ðại Mục Tinh Ca Lâu La Vương nầy, vì ăn rồng quá nhiều,
cho nên âm thanh biến thành âm thanh của rồng, do đó âm thanh rất
vang dội. Mắt của vị nầy cũng biến thành mắt rồng. Nhãn châu của
rồng sinh ở bên ngoài, cho nên gọi là Long Âm Ðại Mục Tinh.
Vị nầy biết rõ tất cả chúng sinh, lúc sinh tạo nghiệp gì thì chết
rồi thọ quả đó. Vị nầy đắc được trí huệ quán sát, biết đuợc nhân
duyên quả báo của tất cả chúng sinh, vì vị nầy hiểu được đạo lý nầy,
cho nên khéo vì chúng sinh nói pháp, khiến cho tất cả chúng sinh
đồng thời cũng đắc được môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Bấy giờ, Ðại Tốc Tật Lực Ca Lâu La Vương, nương oai lực của đức
Phật, quán sát khắp tất cả chúng Ca Lâu La mà nói ra bài kệ.
Khi vị Long Âm Ðại Mục Tinh Ca Lâu La Vương, nói xong môn giải thoát
của mình đắc được, thì vị Ðại Tốc Tật Lực Ca Lâu La Vương, mới nương
đại oai thần lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Ca Lâu La
mà nói kệ rằng.
Mắt Phật rộng lớn không bờ mé
Thấy khắp các cõi nước mười phương
Chúng sinh trong đó không thể lường
Hiện đại thần thông để điều phục.
"Mắt Phật rộng lớn không bờ mé". Mắt của Phật rộng lớn chẳng có bờ
mé. Trong bài tán Di Ðà có nói : "Cám mục trừng thanh tứ đại hải".
Nghĩa là mắt của Phật Di Ðà màu sắc xanh biết, thấu suốt nước trong
bốn biển, cũng có thể nói là : bốn biển rộng lớn như thế, mà mắt của
Phật còn lớn hơn so với bốn biển, nói thật ra tìm chẳng được bờ mé.
"Hiện khắp các cỏi nước mười phương". Vì mắt Phật rộng lớn, cho nên
thấy khắp các cõi Phật trong mười phương. Chúng sinh trong mỗi cõi
nước đang làm gì, Phật đều thấy rõ ràng.
"Chúng sinh trong đó không thể lường". Chúng sinh trong mười phương
cõi Phật nhiều chẳng có số lượng, không thể tính được.
"Hiện đại thần thông để điều phục". Tuy nhiên là vô lượng, nhưng
Phật dùng đại thần thông để điều phục tất cả chúng sinh, khiến cho
họ đều quy y Tam Bảo, phát tâm Bồ Ðề, thì tương lai sẽ thành tựu quả
Bồ Ðề.
Thần thông của Phật chẳng gì ngại
Ngồi cội bồ đề khắp mười phương
Nói pháp như mây đều đầy khắp
Bảo Kế nghe rồi tâm dứt nghi.
"Thần thông của Phật không gì ngại". Sức thần thông diệu dụng cuả
tất cả chư Phật trong mười phương, chẳng có chướng ngại mảy may nào,
tùy theo tâm thích mà vận động tự tại.
"Ngồi cội Bồ Ðề khắp mười phương". Phật thì ngồi dưới cội Bồ Ðề,
trong các cõi Phật trong mười phương mà ngộ đạo, giác ngộ nghiã chân
thật cuả tất cả pháp, là do duyên mà sinh, do duyên mà diệt mà thành
quả vị Phật.
"Nói pháp như mây đều đầy khắp". Phật diễn nói diệu pháp, giống như
mây trong hư không, đầy khắp pháp giới, khiến cho tất cả chúng sinh,
đều đắc được đượm nhuần mây pháp, đắc được mát mẻ, an vui, tự tại,
pháp mà chúng sinh đáng đắc được đều đắc được.
"Bảo Kế nghe rồi tâm dứt nghi". Vị Bất Khả Hoại Bảo Kế Ca Lâu La
Vương, nghe rồi thì trong tâm không còn hoài nghi nữa, cũng chẳng
trái với đạo lý nầy, mà thấy rõ pháp môn nầy.
Phật trong quá khứ tu các hạnh
Tịnh khắp Ba la mật rộng lớn
Cúng dường tất cả các Như Lai
Thanh tịnh Tốc Tật tin hiểu sâu.
"Phật trong quá khứ tu các hạnh". Phật thuở xa xưa tu đủ thứ khổ
hạnh, tức là khó thực hành, mà thực hành được, khó nhẫn mà nhẫn
được, khó chịu mà chịu được, khó ăn mà ăn được. Những pháp môn nầy
Ngài đều tu được.
"Tịnh khắp Ba La Mật rộng lớn". Phật tu khắp các môn Ba La Mật thanh
tịnh rộng lớn. Ba La Mật làm được viên mãn, cứu kính rồi, thì đạt
được bờ bên kia tịnh khắp rộng lớn.
"Cúng dường tất cả các Như Lai". Phật cúng dường mười phương tất cả
chư Phật, dùng thân tâm tánh mạng để cúng dường chư Phật, khi Phật
tại nhân điạ thì tu đủ thứ công đức cúng dường.
"Thanh Tịnh Tốc Tật tin hiểu sâu". Pháp môn giải thoát nầy, vị Thanh
Tịnh Tốc Tật Ca Lâu La Vương, tin hiểu thâm sâu.
Trong mỗi lỗ lông của Như Lai
Một niệm hiện khắp vô biên hạnh
Như vậy khó nghĩ cảnh giới Phật
Bất Thối Trang Nghiêm đều thấy rõ.
"Trong mỗi lỗ lông của Như Lai". Trong mỗi lỗ lông của Như Lai, có
thể dung nạp mười phương vô lượng vô biên thế giới, đó là đạo lý :
trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ.
"Một niệm hiện khắp vô biên hạnh". Tức trong khoảng một niêm, hiện
khắp mười phương thế giới. Vô biên hạnh môn của Phật tu đều hiện ra.
"Như vậy khó nghĩ cảnh giới Phật". Như ở trên có nói : nhỏ dung lớn
được, lớn dung nhỏ được, lớn nhỏ hổ tương vô ngại ; nhiều ít hổ
tương vô ngại, thời gian dài ngắn hổ tương vô ngại, đó đều là đạo lý
không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là khó nghĩ. Cảnh giới nầy không thể
nghĩ bàn, diệu không thể tả. Cảnh giới nầy vi diệu khó nghĩ, tức là
cảnh giới của Phật.
"Bất Thối Trang Nghiêm đều thấy rõ". Vị Bất Thối Tâm Trang Nghiêm Ca
Lâu La Vương nầy, hoàn toàn thấy rõ cảnh giới nầy, hoàn toàn chứng
nhập môn giải thoát nầy.
Hạnh Phật rộng lớn không nghĩ bàn
Tất cả chúng sinh chẳng dò được
Ðạo sư biển công đức trí huệ
Là nơi tu hành của Chấp Trì.
"Hạnh Phật rộng lớn không nghĩ bàn". Phật tu hành đủ thứ hạnh môn,
gồm tám vạn bốn ngàn pháp môn, Phật đều tu hành viên mãn, cho nên
nói : khắp đại đîa, chẳng có một hạt bụi nào, chẳng phải là chỗ xả
bỏ thân mạng của chư Phật, tức cũng là nơi chư Phật hành Bồ Tát đạo.
Phật hành Bồ Tát đạo, là lợi ích chúng sinh. Dù chúng sinh ác, Phật
cũng nguyện cứu độ họ, lợi ích họ.
Khi Phật trong quá khứ tu Bồ Tát đạo,
thì gặp con chim ưng đang diệt con chim cáp, con chim cáp bay đến
trước người tu hành khẩn cầu người tu hành bảo hộ (người tu hành đó
là tiền thân của Phật Thích Ca tại nhân địa hành Bồ tát đạo). Phật
từ bi giấu che chở cho con chim cáp. Lúc đó, chim ưng bay đến trước
mặt Phật, nói với đức Phật : "Ngài cứu tính mạng con chim cáp, nhưng
tôi chẳng có thịt ăn, chắt phải chết đói. Ngài làm như thế là từ bi
bình đẳng chăng" ? Vị tu hành nghe chim ưng nói, mới đáp lại :
"Ngươi muốn ăn thịt chăng ? Ðược, ta sẽ lóc thịt thân của ta cho
ngươi ăn". Nói xong, vị tu hành lấy dao lóc thịt thân của mình để
cho chim ưng ăn, ăn xong miếng nầy đến miếng khác, ăn hết thịt thân
của vị tu hành cũng chẳng no. Vị tu hành lóc hết thịt toàn thân của
mình, nhưng tơ hào chẳng đổi ý, đến khi chẳng còn thịt để lóc nữa,
thì chim ưng bay vụt lên không trung, hiện ra thân trời Ðế Thích mà
đi. Nguyên lai là trời Ðế Thích đến thử thách đạo hạnh của vị tu
hành như thế nào !
Lão tu hành lúc đó vì hành Bồ Tát đạo mà
lóc thịt thí cho chim ưng, chẳng có xí đồ ích kỷ lợi mình, cho nên
thịt cắt đi khôi phục lại như cũ. Chúng ta là người tu đạo, phải học
tinh thần của Phật xả mình vì người. Hành Bồ Tát đạo là lợi ích
chúng sinh, chớ chẳng phải lợi mình. Tóm lại, làm lợi ích cho chúng
sinh tức là Bồ Tát, còn lợi ích cho mình là ma quỷ.
Còn có một chuyện nữa, thuở xưa khi Phật tu Bồ Tát đạo, thì xả thân
cứu cọp đói. Tinh thần vì pháp quên mình nầy, khiến cho người kính
phục vô cùng ! Câu chuyện như thế nầy, một ngày nọ trời rơi tuyết
phủ trắng xoá khắp nơi. Cho nên động vật bị tuyết làm khốn khổ,
không cách chi tìm vật ăn được. Lúc đó, Phật Thích Ca đang tĩnh tọa
dưới gốc cây, xa thấy dưới núi có con cọp mẹ dẫn hai cọp con đi khắp
nơi tìm vật ăn, đói đến kiệt sức, đi cũng chẳng còn sức để đi. Hai
con cọp con theo bên cọp mẹ, thật đáng thương xót ! Phật thấy hoàn
cảnh như vậy, phát tâm từ bi, nguyện đem thân mình bố thí cho cọp mẹ
cọp con làm thức ăn, do đó chẳng nghĩ gì nữa, bèn chạy đến trước mặt
cọp, cúng dường cho cọp. Vì nguyên nhân như vậy, mới nói hạnh của
Phật rộng lớn, không thể nghĩ bàn.
"Tất cả chúng sinh không dò được". Tất cả hết thảy chúng sinh, đều
không thể đo lường được hạnh của Phật tu hành như thế nào. Vì chúng
sinh chẳng khai mở mắt trí hụê, cho nên chẳng thấu suốt được việc
qúa khứ. Nếu ai khai mở ngũ nhãn thì biết rõ, thấy rõ.
"Ðạo Sư biển công đức trí huệ". Phật là đại Ðạo sư tiếp dẫn chúng
sinh, không những là Ðạo sư chúng sinh nhân gian, mà còn là Ðạo sư
của chúng sinh các cõi trời, cho nên được xưng là Thiên Nhân Sư.
Công đức và trí huệ cuả Phật rộng lớn vô biên như biển cả.
"Là nơi tu hành của Chấp Trì". Cảnh giới nầy là nơi tu hành cuả Ðại
Hải Xứ Chấp Trì Lực Ca Lâu La Vương, vị nầy chứng nhập môn giải
thoát nầy.
Như Lai vô lượng trí huệ quang
Diệt lưới si hoặc của chúng sinh
Cứu hộ hết thảy các thế gian
Kiên Pháp Tịnh Quang được môn nầy.
"Như Lai vô lượng trí huệ quang". Trí huệ quang minh của Phật vô
lượng vô biên, chiếu khắp tất cả, do đó : "Phật quang phổ chiếu".
Trí huệ quang minh của Phật, siêu hơn ánh sáng mặt trời, quang minh
của Phật, không có nơi nào mà chẳng chiếu, chẳng có nơi nào mà không
có, tận hư không khắp pháp giới.
"Diệt lưới si hoặc của chúng sinh". Phật dùng vô lượng trí huệ
quang, để tiêu diệt lưới ngu si và hoặc nghiệp của chúng sinh. Chúng
sinh tại thế gian bị lưới ngu si, lưới phiền não, lưới tạo nghiệp
trói chặt, không cách chi thoát khỏi ba cõi.
"Cứu hộ hết thảy các thế gian". Phật đại từ bi, dùng vô lượng trí
huệ quang minh, cứu tất cả hữu tình chúng sinh thế gian, khiến cho
họ đều được giải thoát, vĩnh viễn lìa khỏi lưới sinh tử.
"Kiên Pháp Tịnh Quang được môn này". Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Kiên Pháp Tịnh Quang đắc được.
Pháp thành rộng lớn không cùng tận
Ðủ thứ pháp môn không số lượng
Phật ở nơi đời đại khai xiển
Diệu Quan Kế thấu rõ môn nầy.
"Pháp thành rộng lớn không cùng tận". Pháp thành tức là thành hoằng
dương Phật pháp. Pháp thành nầy là chỉ tất cả đạo tràng. Tất cả đạo
tràng là pháp thành cuả Phật. Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm,
giảng Kinh hơn ba trăm hội. Kiến lập pháp thành khắp nơi, khắp nơi
thổi pháp loa lớn, đánh trống pháp lớn, kiến pháp tràng lớn, chuyển
đại pháp luân. "Kiến pháp tràng ư xứ xứ, phá võng nghi ư trùng
trùng". Cho nên nói pháp thành rộng lớn không cùng tận.
"Ðủ thứ pháp môn không số lượng". Pháp thành nầy cứu kính có bao
nhiêu môn ? chẳng có số lượng. Nói tổng quát, có tám vạn bốn ngàn
pháp môn, môn nào cũng thẳng đến quả vị Phật.
"Phật ở nơi đời đại khai xiển". Phật ở tại thế giới nầy, kiến lập
đại pháp thành, khai xiển pháp yếu rộng lớn, khiến cho chúng sinh
liễu sinh thoát tử, cứu kính thành Phật.
"Diệu Nghiêm Quan Kế rõ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy vị
Diệu Nghiêm Quan Kế Ca Lâu La Vương thấy rõ được.
Tất cả chư Phật một pháp thân
Chân như bình đẳng chẳng phân biệt
Phật dùng lực nầy thường an trụ
Phổ Tiệp diễn nói đủ môn nầy.
"Tất cả chư Phật một pháp thân". Mười phương ba đời tất cả chư Phật,
đều cùng một pháp thân. Pháp thân của Phật chẳng có phân biệt. Giống
như tất cả ánh sáng của đèn đều là một tên. Tên với tên đó đây chẳng
phân biệt. Tóm lại, tên của bạn là tên của tôi, tên của tôi là tên
của bạn, cho nên nói tất cả chư Phật một pháp thân.
Pháp thân của Phật giống như tên đèn không khác. Trí huệ quang của
Phật đều là một, âm thanh của Phật cũng là một, cho nên Phật với
Phật, đó đây chẳng có phân biệt.
"Chân như bình đẳng không phân biệt". Tánh của Phật là chân như,
cũng là bình đẳng. Chân như bình đẳng chẳng có phân biệt, đều là
một. Phật chẳng giống chúng ta, phân này chia nọ, có người, có ta,
có chúng sinh, có thọ mạng. Phật thì tất cả đều bình đẳng.
"Phật dùng lực nầy thường an trụ". Phật dùng sức lực chân như bình
đẳng, chẳng có cảnh giới phân biệt, thường an trụ vào trong cảnh
giới nầy.
"Phổ Tiệp diễn nói đủ môn nầy". Vị Phổ Tiệp Thị Hiện Ca Lâu La
Vương, diễn nói đầy đủ được môn giải thoát nầy.
Phật trong các cõi nhiếp chúng sinh
Khắp phóng quang minh chiếu thế gian
Ðủ thứ phương tiện hiện điều phục
Quán Hải ngộ được thắng pháp nầy.
"Phật trong các cõi nhiếp chúng sinh". Phật trong quá khứ cũng dùng
: cõi dục giới, cõi sắc giới, cõi vô sắc giới, pháp phương tiện các
cõi, để nhiếp hóa chúng sinh.
"Khắp phóng quang minh chiếu thế gian". Phật khắp phóng đại quang
minh, soi sáng tất cả thế gian. Taị sao ? Vì Phật muốn phổ độ tất cả
chúng sinh thoát khỏi biển khổ, mà đắc được an lạc vĩnh cửu.
"Ðủ thứ phương tiện hiện điều phục". Phật dùng đủ thứ phương tiện
pháp môn, để điêù phục tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh cải
tà quy chánh, khử vọng tồn chân, bỏ mê về giác, đồng quy về đại đạo
Bồ Ðề.
"Quán Hải ngộ được thắng pháp nầy". Pháp môn thù thắng đặc biệt nầy,
vị Phổ Quán Hải Ca Lâu La Vương ngộ nhập được.
Phật quán tất cả các cõi nước
Ðều nương biển nghiệp mà an trụ
Khắp mưa pháp vũ ở trong đó
Giải thoát nầy của Long Âm Vương.
"Phật quán tất cả các cõi nước". Phật dùng mắt trí huệ, để quán sát
tất cả cõi nước cuả chư Phật trong mười phương. Tất cả chúng sinh
trong cõi nước, đều trôi nổi trong biển sinh tử, không biết đạo lý :
"biển khổ vô biên, hồi đầu là bờ".
"Ðều nương biển nghiệp mà an trụ". Tất cả cõi nước, đều nương biển
nghiệp mà an trụ, đều do nghiệp của chúng sinh tạo thành, chúng sinh
trôi nổi bất định ở trong biển nghiệp, trôi nổi theo nghiệp mà chịu
sinh tử. Sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh. Nay sinh ra là họ
Trương, sau sinh ra là họ Lý, chẳng khi nào dứt, luôn luôn chuyển đi
chuyển lại ở trong luân hồi. Làm việc thiện, thì sinh vào ba đường
lành. Làm việc ác thì sinh vào ba đường ác.
"Khắp mưa pháp vũ ở trong đó". Phật khắp vì chúng sinh mà thuyết
pháp, giống như mưa, khiến cho chúng sinh đều đắc được sự thấm nhuần
của pháp vũ, hoặc là biển nghiệp như lửa, mưa Phật Pháp khiến cho
chúng sinh đắc được mát mẻ.
"Giải thoát nầy cuả Long Âm Vương". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Long Âm Ðại Mục Tinh Ca Lâu La Vương, hiểu rõ biết được.
Lại nữa, La Hầu A Tu La Vương, được môn giải thoát, hiện làm chủ
tôn thắng trong đại hội.
Vị La Hầu A Tu La Vương nầy, La Hầu dịch là "nhiếp não". Vì vị nầy
dấu tay che mặt trời mặt trăng, khiến cho chư Thiên buồn bực. Vị nầy
minh bạch được, đức Phật thị hiện làm chủ thuyết pháp, trong tất cả
pháp hội, vị nầy đắc được cảnh giới nầy, và cũng nhập vào môn giải
thoát nầy.
Môn giải thoát chỉ là ví dụ, giống như là có môn giải thoát, thật ra
chẳng phải thật sự có môn giải thoát. Nếu có môn (cửa), thì chẳng
phải là giải thoát, vì có sự chấp trước. Do đó, vào môn giải thoát
là vào mà không vào, không vào mà vào. Môn giải thoát là chẳng có gì
để chấp trước, tất cả đều không chấp trước, mới thật sự là môn giải
thoát. Nếu như vào cửa (môn) giải thoát thì phải ra cửa (môn) giải
thoát, nếu vào được mà không ra được, vậy thì lại bị nhốt, thì cũng
không đắc được giải thoát.
A Tu La dịch ra có nhiều nghĩa. Có khi
dịch là "phi thiên", vì chúng có phước trời mà không có đức trời.
Lại có lối giải thích khác, phi thiên chẳng phải thần cũng chẳng
phải quỷ. Có khi dịch là "vô tửu", chẳng phải chúng không có rượu
uống, mà là uống không đủ, bất cứ uống bao nghiêu cũng không đủ. Có
khi dịch là ỡ "vô đoan chánh", vì nam A Tu La tướng mạo rất xấu xí,
mũi thì dài hai thước rưởi, miệng thì rất nhỏ, mắt thì rất to. Tóm
lại, rất xấu xí vô cùng, khiến cho người thấy mà sợ hãi, nếu ai thấy
được chúng, đều bị dọa nạt phát run hồn bay phách tán, cho nên ai
cũng không giám nhìn tôn dung của chúng. Nữ A Tu La thì rất đẹp vô
cùng, chúa trời Ðế Thích cõi trời Ðao Lợi, vì tham sắc đẹp mà cầu
hôn con gái của vua A Tu La. Vua A Tu La vốn không muốn gả con gái
cho trời Ðế Thích, vì giữa họ thường phát sinh chiến tranh, cho nên
phản đối về việc nầy, nhưng con gái của vua A Tu La muốn sống với
Trời Ðế Thích, cho nên Vua A Tu La đành phải gả cho Trời Ðế Thích
làm vợ.
Kết hôn rồi, vợ chồng rất hạnh phúc,
nhưng Ðế Thích thường đi các nơi để nghe giảng Kinh thuyết pháp. Có
vị tu hành ở trong núi thuyết pháp, Ðế Thích thường đến để nghe
pháp, về nhà thì hơi muộn một chút. Vợ của y hoài nghi chồng chẳng
trung thực, bèn truy hỏi "Ông đi đâu mà ngày nào cũng đi"? Ðế Thích
nói : "Có vị tu hành thuyết pháp, tôi đi nghe pháp". Vợ của y không
tin nói : "Ông chẳng phải đi nghe pháp, chắc chắn có bạn gái, hẹn hò
chăng ? lần sau ông đi, tôi cũng đi theo xem thử cứu kính việc như
thế nào"? Ðế Thích nói :"Bà đừng đi ! Vì bà quá đẹp, dễ khiến cho
người nghe pháp nghĩ tưởng đâu đâu". Ðế Thích nói thế, càng làm cho
vợ sinh tâm nghi ngờ, vợ của y nói : "Ông nhất định có bạn gái, nếu
không, tại sao không cho tôi đi "? Do đó vợ của Ðế Thích quyết tâm
đi để xem tình hình ra sao.
Ngày thứ hai, Ðế Thích vẫn đến núi nghe
pháp, vợ của y là nữ A Tu La có thần thông, do đó dùng pháp ẩn thân
đi tham gia pháp hội, Ðế Thích cũng chẳng biết, vợ của y đến đạo
tràng, thấy có nam có nữ nhưng nữ nhiều hơn nam mà toàn là phụ nữ
đẽp ! cho nên vợ của Ðế Thích đố kị bèn hiện ra nguyên hình. Ðế
Thích quay đầu lại nhìn thấy vợ mình theo đến, rất bực mình hỏi y :
"Tại sao bà đến đây ? tôi dạy bà đừng đến đây mà". Nữ A Tu La nóng
giận nói : "Tôi đương nhiên phải đến, ở đây có nhiều phụ nữ đẹp, tôi
không an tâm cho nên phải đến xem thử". Lúc đó, Ðế Thích nổi giận
mất đi lý trí, bèn cầm mấy cộng hoa sen đánh y thị, không ngờ lần đó
bèn khởi đại chiến.
Sau khi vợ cuả Ðế Thích bị đánh, bèn trở
về nhà của vua A Tu La khóc, kể lại sự việc xảy ra, vua A Tu La nổi
giận, điều binh khiển tướng tấn công Ðế Thích báo cừu cho con gái.
Vì binh A Tu La thiện chiến, cho nên binh trời tướng trời của Ðế
Thích bị bại. Ðế Thích mới cầu cứu Dức Phật, Phật dạy niệm câu : "Ma
Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða". Ðế Thích trở về dạy hết toàn quân niệm câu
nầy, quả nhiên đánh bại A Tu La, vua A Tu La đầu hàng, bèn đem con
gái trở lại trong cung Ðế Thích.
Chủng loại A Tu La rất nhiều, trên trời
có A Tu La, nhân gian có A Tu La, súc sinh có A Tu La, ngạ quỷ cũng
có A Tu La. A Tu La có bốn thứ Sinh : A Tu La hóa sinh ở cõi trời, A
Tu La thai sinh ở cõi nhân gian, A Tu La noãn sinh ở cõi súc sinh, A
Tu La thấp sinh ở cõi ngạ quỷ.
Có khi A Tu La liệt vào trong ba đường lành, vì chúng tu hạ phẩm năm
giới thập thiện, cho nên có căn lành. Có khi liệt A Tu La vào bốn
đường ác, vì tâm của chúng đố kị quá nặng, tâm đấu tranh quá mạnh. A
Tu La trên trời là kẻ trộm trên trời, A Tu La ở nhân gian là kẻ
cường hào ác bá ở nhân gian. A Tu La cõi súc sinh là ngựa hại bầy,
thứ ngựa A Tu La chẳng giữ quy cụ, chuyên phá hoại ngựa khác, không
cắn thì đá, khiến cho bầy ngựa không được yên. Tóm lại, phàm là kẻ
thích đấu tranh đều là A Tu La.
Tì Ma Chất Ða La A Tu La Vương, được môn giải thoát, thị hiện vô
lượng kiếp.
Vị Tì Ma Chất Ða La A Tu La Vương nầy, Tì Ma dịch là "tơ", Chất Ða
La dịch là "chủng chủng". Vị A Tu La Vương nầy, dùng một sợi chỉ tơ
mà huyễn hoá làm đủ thứ cảnh giới, vị nầy đắc được môn giải thoát,
thị hiện vô lượng vô biên kiếp. Tóm lại, Môn giải thoát nầy, bất cứ
trong bao nhiêu kiếp, đều tự tại mà không chướng ngại, chẳng có
chướng ngại tức là giải thoát.
Xảo Huyễn Thuật A Tu La Vương, được môn giải thoát, tiêu diệt tất
cả khổ của chúng sinh, khiến cho họ đắc được thanh tịnh.
Vị Xảo Huyễn Thuật A Tu La Vương, khéo về thuật xảo huyễn biến hóa,
huyễn hóa đủ thứ cảnh giới, để tiêu diệt tất cả thống khổ của chúng
sinh, khiến cho chúng sinh đắc được thanh tịnh an vui, đó là môn
giải thoát vị nầy đắc được.
Ðại Quyến Thuộc A Tu La Vương, được môn giải thoát, tu tất cả khổ
hạnh để tự trang nghiêm.
Vị Ðại Quyến thuộc A Tu La Vương, có rất nhiều công đức, cứu khắp
chúng sinh thế gian, cho nên có rất nhiều quyến thuộc, chúng sinh
đều nguyện theo vị nầy, được vị nầy bảo hộ. Vị nầy ở tại nhân đîa,
thì tu đủ thứ khổ hạnh, hành đủ thứ Bồ Tát đạo, việc người không
nhẫn được vị nầy đều nhẫn được. Vị nầy có công đức như thế, không
những tự trang nghiêm, mà còn trang nghiêm cho tất cả. Ðó là môn
giải thoát vị nầy đắc được.
Bà Trĩ A Tu La Vương, được môn giải thoát, chấn động mười phương
vô biên thế giới.
Vị Bà Trĩ A Tu La Vương có oai lực lớn, có thể chấn động mười
phương, khiến cho chúng sinh ở trong mộng tỉnh dậy, không còn làm
việc điên đảo hồ đồ nữa, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Biến Chiếu A Tu La Vương, được môn giải thoát, đủ thứ phương tiện
an lập tất cả chúng sinh.
Vị Biến Chiếu A Tu La Vương nầy, trí huệ quang chiếu khắp tất cả. Vị
nầy đắc được đủ thứ phương tiện pháp môn, an lập tất cả chúng sinh,
vì có trí huệ của Phật, cho nên quyền, (thiền xảo phương tiện) thật
(chân thật) không mê hoặc, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Kiên Cố Hạnh Diệu Trang Nghiêm A Tu La Vương, được môn giải
thoát, phương tiện phổ tập căn lành, bất khả hoại thanh tịnh các sự
nhiễm ô chấp trước.
Vị Kiên Cố Hạnh Diệu Trang Nghiêm A Tu La Vương, kiên cố hạnh tức là
chuyên tu một hạnh môn, vĩnh viễn không thối chuyển. Kiên cố tức là
tùy duyên không thay đổi, không thay đổi mà tùy duyên.
Kiên cố tức là dù bị đả kích hoặc nghịch cảnh như thế nào cũng chẳng
thối chuyển. Cảnh giới là để khảo nghiệm định lực của người tu đạo.
Chỉ tiến về trước, tuyệt đối không thể : một ngày nóng mười ngày
lạnh, nếu không thì chẳng khi nào được thành tựu, đừng nói đến kiên
cố hạnh.
Vì có kiên cố hạnh rồi, mới có diệu trang nghiêm, không có hạnh kiên
cố, thì không có diệu trang nghiêm. Diệu trang nghiêm nầy, là do
hạnh kiên cố trang nghiêm mà thành tựu.
Vị A Tu La Vương nầy đắc được phổ tập
căn lành bất khả hoại. Phổ tập là phổ biến tích tập hạnh kiên cố. Vì
tu hạnh kiên cố, cho nên căn lành không thể hoại, ngày nào cũng tu,
lúc nào cũng tu, niệm niệm không bỏ, như thế thì căn lành tăng
trưởng, sẽ tiêu diệt căn ác.
Căn ác là gì ? Tức là nhiễm trước. Nhiễm
là nhiễm ô, trước là chấp trước. Có tư tưởng không thanh tịnh, thì
buông chẳng đặng chấp trước. Chấp trước : sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp sáu trần. Tại sao phải chấp trước sáu trần ? Vì : mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và ý sáu căn bị nhiễm ô, bên trong thì nhiễm ô,
bên ngoài thì chấp trưóc. Bây giờ làm cho các nhiễm trước thanh
tịnh, buông xả đặng thì đắc được môn giải thoát.
Quảng Ðại Nhân Huệ A Tu La Vương, được môn giải thoát, sức đại bi
không nghi hoặc.
Vị Quảng Ðại Nhân Huệ A Tu La Vương, được sức lực đại bi, có sự quán
sát chánh quyết đối với tất cả sự lý, mà chẳng hoài nghi, vì vị nầy
có trí huệ, do đó : "Bi là mẹ của Phật, trí là cha của Phật. Ba đời
chư Phật, đều từ đại bi sinh ra". Chúng ta học Phật Pháp thì trước
hết phải học bi, kế tiếp thì học trí, bi trí đầy đủ mới thành tựu.
Bi là tâm đồng tình, trí là về kỷ thuật. Ví như có người rớt xuống
sông, có tâm đồng tình mà không có kỹ thuật (không biết bơi), ở trên
bờ la cứu người thì chẳng ích gì, phải có kỹ thuật biết bơi, mới cứu
được người rớt xuống nước. Có người chẳng có tâm trắc ẩn, song, biết
bơi nhưng không động lòng. Tư tưởng như thế chẳng làm gì được. Cho
nên, chúng ta phải có bi trí song toàn, mới lợi ích người được. Nên
nhớ ! Tương lai phải hoằng pháp lợi sinh, đừng tham sí đồ danh văn
lợi dưỡng.
Hiện Thắng Ðức A Tu La Vương, được môn giải thoát, khiến khắp
chúng sinh thấy Phật, thừa sự cúng dường tu các căn lành.
Vị Hiện Thắng A Tu La Vương, thực hành pháp môn cúng dường tu thiện,
có công đức thù thắng. Vị nầy trong quá khứ, hay khiến cho chúng
sinh thấy được Phật, phát nguyện thừa sự cúng dường, mười phương ba
đời tất cả chư Phật, tu tất cả căn lành, làm tất cả công đức, căn
lành càng tu thì càng sâu, công đức càng làm thì càng nhiều, căn sâu
đức nhiều thì thành Phật. Vị nầy minh bạch đạo lý nầy mà vào môn
giải thoát nầy.
Thiện Âm A Tu La Vương, được môn giải
thoát, hạnh quyết định bình đẳng vào khắp tất cả các cõi.
Vị Thiện Âm A Tu La Vương, vì khéo thuyết pháp, có âm thanh rất hay,
khiến cho người nghe vui mừng, y pháp phụng hành, cho nên vị nầy vào
được khắp tất cả các cõi. Vì chúng sinh đều có Phật tánh, cho nên
đều bình đẳng, vị nầy hành môn giải thoát nầy, mà đắc được giải
thoát.
Bấy giờ, La Hầu A Tu La Vương, nương oai lực của đức Phật, quán
khắp tất cả chúng A Tu La mà nói kệ.
Lúc đó, vị Nhiếp Não A Tu La Vương, nương đại oai thần lực gia bị
của chư Phật, quán sát khắp tất cả chúng A Tu La, mà nói kệ tán thán
công đức cuả Phật.
Mười phương tất cả chúng rộng lớn
Phật ở trong đó thù đặc nhất
Quang minh chiếu khắp đồng hư không
Hiện khắp trước tất cả chúng sinh.
"Mười phương tất cả chúng rộng lớn". Mười phương là : Ðông, tây,
nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên và dưới, cộng
thành mười phương. Mười phương tất cả chúng sinh rộng lớn, bao quát
: Thai, noãn, thấp, hóa, phi, tiềm, động, thực, tất cả hữu tình và
vô tình. Chúng sinh hữu tình là động vật có huyết khí, chúng sinh vô
tình là sơn hà đại điạ, hoa cỏ thụ mộc.
"Phật ở trong đó thù đặc nhất". Ðức Phật ở trong tất cả chúng sinh,
khắp mười phương rộng lớn thù thắng đặc biệt nhất. Vì chỉ có Phật
mới minh bạch được đạo lý cứu kính thật tướng của các pháp.
"Quang minh chiếu khắp đồng hư không". Quang minh của Phật chiếu
sáng khắp mười phương thế giới. Quang của Phật là bình đẳng, Phật
chẳng có tâm phân biệt. Bất cứ chúng sinh thiện hay ác, hoặc chúng
sinh không thiện không ác, Phật đều không bỏ, đều chiếu khắp, do đó
Phật quang phổ chiếu, cứu hộ chúng sinh. Quang minh của Phật đồng hư
không, vì trong hư không bao la vạn tượng, chẳng có gì mà không có,
chẳng có gì mà không bao, chẳng có gì mà không dung, chẳng có gì mà
không nạp.
"Hiện khắp trước tất cả chúng sinh". Quang minh của Phật, hiện khắp
trước tất cả chúng sinh. Chúng sinh thấy được quang cuả Phật, bèn
phát tâm bồ đề mà được độ, chúng sinh nhờ quang minh của Phật tiếp
dẫn, mà lìa khổ được vui, thẳng đến bờ kia, đắc được giải thoát.
Trăm ngàn vạn kiếp các cõi Phật
Trong một Sát na đều hiện rõ
Phóng quang hóa độ khắp hết thảy
Tỳ Ma vui khen cảnh giới nầy.
"Trăm ngàn vạn kiếp các cõi Phật". Thời gian trăm ngàn vạn kiếp rất
dài, Phật ở trong vô lượng các cõi Phật, thành Phật giáo hóa chúng
sinh mà không ngừng nghỉ.
"Trong một Sát na đều hiện rõ". Thời gian rất ngắn trong một Sát na,
Phật làm cho thời gian dài vô lượng kiếp, và vô lượng các cõi Phật
đều hiện ra, do đó :
"Thu vô lượng kiếp làm một niệm,
Kéo dài một niệm làm vô lượng kiếp".
Mười phương các cõi Phật, hiện ở trong một hạt bụi, đó là cảnh giới
:
"Nhỏ dung được lớn,
Lớn vào được nhỏ,
Lớn nhỏ vô ngại,
Một nhiều vô ngại".
Ðạo lý nầy, chẳng phải một số người phàm phu hiểu biết được, khi
người khai mở ngũ nhãn rồi, thì thấy sự việc rõ ràng, là cảnh giới
bình đẳng, chẳng có gì kỳ lạ hết.
"Phóng quang hóa độ khắp hết thảy". Phật phóng quang minh, chiếu soi
tất cả chúng sinh, hóa độ tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh
đắc được quang minh của Phật gia bị, bỏ mê về giác. Quang minh của
Phật, đến khắp cùng mười phương, chẳng có chỗ nào mà không chiếu
đến.
"Tỳ Ma vui khen cảnh giới nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Tỳ
Ma A Tu La Vương vui mừng khen ngợi.
Cảnh giới Như Lai chẳng ai bằng
Ðủ thứ pháp môn thường lợi ích
Chúng sinh có khổ khiến diệt trừ
Xảo Thuật La Vương thấy môn nầy.
"Cảnh giới Như Lai chẳng ai bằng". Cảnh giới của Như Lai và cảnh
giới của bất cứ ai, đều hoàn toàn khác nhau. Cảnh giới của Như Lai
không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận. Cảnh giới
của bất cứ ai, cũng không thể so sánh được, cũng không thể đồng
được. Cảnh giới của Phật là độc nhất vô nhị, thù thắng nhất, đặc
biệt nhất.
"Ðủ thứ pháp môn thường lợi ích". Phật dùng đủ thứ phương tiện pháp
môn, để lợi ích tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh cải
tà qui chánh. Phật thấy tất cả chúng sinh, với Phật không hai không
khác. Tại sao ? Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có thể
thành Phật. Quá khứ không làm Phật, thì hiện tại có thể làm Phật.
Hiện tại không thể làm Phật, thì vị lai sẽ làm Phật. Tóm lại, sẽ có
một ngày làm Phật, song, chỉ là vấn đề sớm hay muộn mà thôi.
Phật giáo là nhân giáo, là tông giáo của tất cả mọi người. Phật giáo
còn là chúng sinh giáo, là tôn giáo của tất cả chúng sinh. Cho nên
đức Phật mới nói :
"Tất cả chúng sinh đều có Phật tính,
Ðều có thể thành Phật".
Phàm là động vật có huyết khí, đều gọi là chúng sinh. Ðã là chúng
sinh, thì đều có Phật tánh. Phật tánh tức là tự tánh, tức là chân
như tự tánh, tức là tánh Như Lai Tạng, tức là tánh đại quang minh
tạng, tức là thật tánh viên thành. Tóm lại, tức là tự tánh tâm thanh
tịnh, tánh giác ngộ. Có người nói : "Tôi không cần cái Phật tánh
nầy, bỏ nó đi cho rồi", nhưng bỏ chẳng được. Vì bạn là chúng sinh,
chẳng cách chi tách Phật tánh ra, cho nên bỏ chẳng đặng Phật tánh
vốn có sẵn.
Nói về Phật giáo, bất cứ bạn tin hay không tin Phật, đều là Phật
giáo đồ, chỉ bất quá bạn tin Phật thì gần Phật một chút, bạn không
tin Phật thì xa Phật một chút. Chẳng phải Phật gần bạn là bạn gần
Phật, cũng chẳng phải Phật xa bạn mà là bạn xa Phật, cho nên nói tin
hoặc không tin đều là Phật giáo đồ, đều có Phật tánh, sớm muộn đều
sẽ thành Phật.
Phật giáo bao quát tánh pháp giới, bao
quát toàn nhân loại, bao quát mọi loài chúng sinh, tất cả hết thảy
đều ở trong Phật giáo. Bạn không tin Phật giáo, cũng là Phật giáo
đồ. Vì bạn không chạy ra khỏi ngoài pháp giới. Phật giáo là tận hư
không, khắp pháp giới, rộng chẳng có bờ mé, không màng là bạn chưởi
Phật hoặc mắng Phật, cũng là Phật giáo đồ. Cho nên nói cảnh giới của
Phật không thể nghĩ bàn, dùng đủ thứ pháp môn thường lợi ích chúng
sinh.
"Chúng sinh có khổ khiến diệt trừ". Phật thương xót chúng sinh,
khiến cho tất cả khổ cuả chúng sinh đều tiêu diệt, vì Phật dạy chúng
sinh tu pháp môn liễu sinh thoát tử, tức cũng là pháp mười hai Nhân
Duyên.
"Xảo Thuật La Vương thấy môn nầy". Vị Xảo Huyễn Thuật A Tu La Vương,
minh bạch thấy được cảnh giới nầy.
Phật vô lượng kiếp tu khổ hạnh
Lợi ích chúng sinh tịnh thế gian
Nhờ vậy trí Phật trọn thành tựu
Ðại Quyến Thuộc Vương thấy như vậy.
"Phật vô lượng kiếp tu khổ hạnh". Khi Phật Thích Ca tại nhân địa,
thì tu đủ thứ sự khổ hạnh trải qua vô lượng kiếp, mới viên mãn công
đức mà thành Phật. Do đó :
"Ba A tăng kỳ tu phước huệ,
Trăm kiếp trồng tướng tốt".
Ðức Phật trong vô lượng kiếp tu khổ hạnh, chỉ tinh tấn mà chẳng thối
lùi. Chẳng giống như chúng ta tọa thiền, tu được mấy ngày, thì sinh
tâm thối chuyển, cảm thấy không được thoải mái bằng nằm ra. Hoặc tu
ngày ăn một bữa, cảm thấy ăn nhiều bữa, thì có ích lợi cho thân thể.
Tự mình thế mình làm luật sư biện hộ. Có tư tưởng nầy, làm sao yên
tâm tu đạo được ? Tu khổ hạnh là cước đạp thật địa mà tu hành, chẳng
phải chỉ nói suông là được. Do đó :
"Không trải qua một phen lạnh thấu xương,
Sao được hoa mai thơm ngát mũi" ?
"Lợi ích chúng sinh tịnh thế gian". Ðức Phật vì lợi ích chúng sinh
mà tu khổ hạnh, chỉ cần có ích cho chúng sinh, thì bất cứ khổ như
thế cũng đều chịu được. Phật tu khổ hạnh là lợi ích chúng sinh, là
thanh tịnh thế gian, khiến cho chúng sinh, chẳng có tư tưởng không
thanh tịnh và hành vi ô nhiễm. Như vậy thì thế gian sẽ thanh tịnh
chẳng ô nhiễm.
"Nhờ vậy trí Phật trọn thành tựu". Nhờ vậy mà Phật trong vô lượng
kiếp tu khổ hạnh, lợi ích chúng sinh, thanh tịnh thế gian, làm đủ
thứ công đức, hành đủ thứ sự khổ hạnh, là do trí của Phật khắp cùng
thành tựu.
"Ðại Quyến Thuộc Vương thấy như vậy". Vị Ðại Quyến Thuộc A Tu La
Vương, hiểu biết và thấy được cảnh giới của Phật, tu khổ hạnh và lợi
ích chúng sinh.
Vô ngại vô đẳng đại thần thông
Ðộng khắp mười phương tất cả cõi
Chẳng khiến chúng sinh sinh sợ hãi
Ðại Lực thấu rõ pháp môn nầy.
"Vô ngại vô đẳng đại thần thông". Vô ngại tức là chẳng có gì chướng
ngại, tức cũng là thông đạt vô ngại. Vô đẳng là chẳng có gì sánh
bằng, tức cũng chẳng có gì bằng được. Thần thông có lớn có nhỏ, đều
khác nhau. Thần thông nhỏ là thần thông của bàng môn tả đạo, chúng
cũng có một thứ tiên tri tiên giác. Nếu trên thân bị động thì chúng
nghĩ : hôm nay sẽ có ai đến ? Nếu mắt bị giựt thì chúng tưởng nghĩ :
hôm nay phải phát sinh sự việc gì ? có khi cũng có chút linh nghiệm.
Ðó là thần thông của kẻ chẳng khai mở ngũ nhãn lục thông.
Ðại thần thông là thần thông của bậc đã
khai mỡ ngũ nhãn lục thông, các Ngài không cần suy nghĩ, cũng không
cần khởi ý niệm, thì lập tức biết muốn phát sinh sự việc gì, hoặc là
có cảnh giới gì muốn xảy ra, các Ngài đều thấy rõ ràng, biết được
nhân quả ngoài tám vạn đại kiếp.
"Ðộng khắp mười phương tất cả cõi". Thần thông của Phật quảng đại
không thể so sánh được, có thể làm cho mười phương tất cả cõi, khắp
đều giao động, nhưng chẳng tổn thất tai hại gì.
"Chẳng khiến chúng sinh sinh sợ hãi".
Tuy nhiên tại một cõi nước có biến động, động biến động, cho đến
mười phương thế giới cũng biến động, cũng có động biến động. Nhưng
không làm cho chúng sinh, có cảm giác kinh hãi sợ sệt. Tuy nhiên có
động, nhưng chẳng nguy hiểm, đó là vì thần lực của Phật làm cho biến
động.
"Ðại Lực thấu rõ pháp môn này". Vị Ðại
Lực A Tu La Vương thấy rõ được cảnh giới nầy, vì vị nầy thấy được
cảnh giới của Phật.
Phật hiện ra đời cứu chúng sinh
Tất cả trí đạo đều khai thị
Khiến cho lìa khổ được an lạc
Biến Chiếu khai xiển được nghĩa nầy.
"Phật hiện ra đời cứu chúng sinh". Chư Phật ở tại Thường Tịch Quang
tịnh độ, vừa thanh tịnh vừa an vui, vậy tại sao phải hiện ra nơi đời
ác năm trược ? Phật thấy chúng sinh trôi nổi ở trong biển dục, thật
đáng thương xót, cho nên khởi tâm thương xót đến thế giới Ta Bà nầy,
để cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ.
"Tất cả trí đạo đều khai thị". Phật dùng
tất cả trí huệ, để diễn nói đạo lý vượt ra khỏi hồng trần, tức cũng
là pháp môn thoát khỏi ba cõi. Phật thấy người hạ căn, thì nói pháp
về nhân quả nhân duyên, người trung căn thì nói pháp ba mươi bảy Ðạo
Phẩm, thấy người thượng căn thì nói pháp Bồ Tát đạo lục độ vạn hạnh,
đó là vì người thuyết pháp, pháp bình đẳng độ khắp ba căn, không
phân biệt đó đây, đó là chỗ vĩ đại của Phật giáo, chỗ mà hơn các tôn
giáo khác cũng tại chỗ nầy.
"Khiến cho lìa khổ được an lạc". Ðức
Phật xuất hiện ra đời, duy chỉ một mục đích là : "Khiến cho tất cả
chúng sinh lìa khổ mà đắc được an lạc". Do đó : "Thân thư vô hiểm,
tâm minh vô ưu". Nghĩa là : "Thân thư thái thì chẳng nguy hiểm, tâm
sáng suốt thì chẳng sầu lo", tức cũng là thân tâm kiện khang. Phật
giáo chú trọng về mặt tu dưỡng tinh thần, mà không chú trọng về mặt
hưởng thụ vật chất. Cho nên người xuất gia vứt bỏ năm dục : 1. Không
tham tài. 2. Không kết hôn. 3. Không cầu danh. 4. Không ăn thịt.
5. Không ngủ nhiều. Sống đời đạm bạc, đó
là lối sống thanh tâm quả dục, chẳng phải phàm phu tục tử làm được.
Vua Ðường Thái Tông có nói : "Xuất gia là việc của bậc đại trương
phu". Cho nên Phật giáo đề xướng tinh thần hơn hẳn vật chất, tinh
thần là tư lương tu đạo, còn vật chất là nguồn gốc tạo nghiệp.
"Biến Chiếu khai xiển được nghĩa này".
Ðạo lý nầy, vị Biến Chiếu A Tu La Vương khai thị xiển minh được.
Tất cả biển phước của thế gian
Phật lực sinh được khắp khiến tịnh
Phật khai thị được nơi giải thoát
Kiên Hạnh Trang Nghiêm vào môn nầy.
"Tất cả biển phước của thế gian". Thế gian là tất cả chúng sinh thế
gian, tức cũng là hữu tình thế gian. Phước do tu mà có, tu nghiệp
thiện, làm công đức, tích tụ các thành tháp. Có đủ thứ công đức rồi,
thì sau đó mới có đủ thứ phước báo, phước báo rộng lớn như biển cả.
Cho nên, Ðức Phật gọi là phước đủ huệ đủ xưng là Lưỡng Túc Tôn. Phải
phước huệ song tu, do đó :
"Tu phước không tu huệ, làm voi mang anh lạc,
Tu huệ không tu phước, La Hán ôm bát không".
Phước là từng chút từng chút tích tập mà thành, giống như biển cả.
Bất cứ nước sông lớn, hoặc nước sông nhỏ, đều chảy vào biển, cho nên
mới thành biển cả. Tu phước cũng như thế, bất cứ phước bao nhiêu
cũng phải tu, dù phước nhỏ như hạt bụi cũng đừng bỏ qua, do đó phước
không tổn mất, tập ít thành nhiều, mới thành tựu biển phước.
"Phật lực sinh được khắp khiến tịnh".
Sức lực của Phật không thể nghĩ bàn, sinh được tất cả phước thanh
tịnh, khiến khắp tất cả chúng sinh đều đắc được phước báo thanh
tịnh.
"Phật khai thị được nơi giải thoát". Ðức
Phật khai thị tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh minh
bạch đạo lý nầy, đắc được nơi giải thoát.
"Kiên Hạnh Trang Nghiêm vào môn nầy". Vị
Kiên Cố Hạnh Diệu Trang Nghiêm A Tu La Vương, minh bạch được đạo lý
nầy, do đó vào được môn giải thoát nầy. Ai vào được môn nầy, là nội
hán môn, vào không được môn nầy là ngọai hán môn.
Thân Phật đại bi không gì bằng
Ði khắp vô ngại đều khiến thấy
Ví như hình bóng hiện thế gian
Nhân Huệ nói được công đức nầy.
"Thân Phật đại bi không gì bằng". Ðại bi tức là cứu khổ, giải trừ
tất cả thống khổ của chúng sinh, do đó đồng thể đại bi, thấy người
khổ giống như nỗi khổ của mình, thấy người vui giống như niềm vui
của mình. Thân đại bi của Phật, trên thế gian chẳng có người nào có
thể so sánh được. Phật là vô thượng, cho nên khi đức Phật đản sinh
dưới cây Vô Ưu bèn nói : "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn".
"Ði khắp vô ngại đều khiến thấy". Chúng
sinh trong mười phương thế giới, đều thấy được thân đại bi của Phật.
Vì thân đại bi của Phật đi khắp pháp giới mà chẳng chướng ngại.
"Giống như hình bóng hiện thế gian".
Thân đại bi của Phật, giống như hình và bóng, không lìa với nhau,
hình không lìa bóng. Tóm lại, thân người bất cứ đến đâu, bóng cũng
đều theo, mà không phân ly. Hình bóng thân đại bi hiện khắp trong
hữu tình thế gian.
"Nhân Huệ nói được công đức này". Vị
Quảng Ðại Nhân Huệ A Tu La Vương, diễn nói được công đức nầy, vào
được môn giải thoát nầy.
Hi hữu vô đẳng đại thần thông
Nơi nơi hiện thân khắp pháp giới
Thảy đều ngồi dưới cội bồ đề
Nghĩa này Thắng Ðức diễn nói được.
"Hi hữu vô đẳng đại thần thông". Hi hữu tức là hi kỳ ít có. Vô đẳng
là chẳng gì sánh được. Sự thần thông hi kỳ ít có không thể sánh, chỉ
có Phật mới có thần thông không thể suy nghĩ, không thể luận bàn.
"Nơi nơi hiện thân khắp pháp giới". Pháp
thân của Phật, là tận hư không khắp pháp giới, nơi nơi đều hiện pháp
thân. Pháp thân nầy chẳng thể sánh, chẳng chướng ngại.
"Thảy đều ngồi dưới cội bồ đề". Mỗi vị
Phật đều ngồi dưới cội bồ đề ở thế gian của các Ngài, để làm gì ?
tĩnh tọa tư duy pháp liễu sinh thoát tử.
Chúng ta đã trồng xuống hạt giống bồ đề,
đợi cây bồ đề lớn lên, hy vọng cũng có Phật ngồi dưới cây bồ đề
thành chánh giác. Phật pháp từ phương đông truyền đến phương tây,
tại phương đông là thời đại mạt pháp, tại phương tây là thời đại
chánh pháp, vì Phật pháp mới bắt đầu ở tây phương, cho nên các bạn
học Phật pháp phải tinh tấn tu hành, nỗ lực nghiên cứu, trách nhiệm
tục Phật huệ mạng là ở trên vai những người thanh niên các bạn, các
bạn phải gánh lấy xứ mạng, làm cho Phật pháp phát dương quang đại,
hoằng dương toàn thế giới. Trách nhiệm của các bạn trọng đại, đừng
cô phụ kì vọng của Phật giáo !
"Nghĩa nầy Thắng Ðức diễn nói được".
Nghĩa lý, cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Hiện Thắng Ðức A Tu La
Vương, diễn nói được đạo lý cảnh giới nầy. Cảnh giới nầy là cảnh
giới của Phật, cảnh giới của Phật là vô lượng vô biên, không thể
nghĩ bàn, diệu không thể tả, vị A Tu La Vương nầy, minh bạch được
cảnh giới nầy, còn cảnh giới khác của Phật thì chẳng biết.
Ba đời Như Lai tu các hạnh
Các cõi luân hồi đều trải qua
Ðộ chúng sinh khổ không xót thừa
Thiện Âm tán thán pháp môn nầy.
"Ba đời Như Lai tu các hạnh". Như Lai là Phật, Phật là Như Lai. Xưa
kia, trong vô lượng kiếp ba đời chư Phật tu hành tất cả các hạnh
môn. Ba đời tức là : quá khứ, hiện tại, và vị lai. Ví như, năm ngoái
phải tu hành, năm nay phải tu hành, sang năm cũng phải tu hành.
Tháng vừa rồi phải tu hành, tháng nầy phải tu hành, tháng tới càng
phải tu hành. Giống như chúng ta người tu đạo, hôm qua tu như thế
nầy, hôm nay tu như thế nầy, ngày mai cũng tu như thế nầy, ngày mốt
cũng tu như thế nầy, phải ngày nào cũng tu hành không gián đoạn, thì
mới có sự thành tựu.
Ðức Phật tu đạo, thì bất cứ việc thiện
nhỏ như thế nào, cũng đi làm, còn việc ác nhỏ như thế nào, cũng
chẳng làm. Cho nên, dùng việc thiện nhỏ mà tích tụ thành việc thiện
lớn, đức Phật trong quá khứ tu viên mãn tám vạn bốn ngàn pháp môn.
"Các cõi luân hồi đều trải qua". Các cõi
là : Cõi trời, cõi người, cõi A tu la, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ,
cõi địa ngục. Trong sáu nẻo luân hồi, Phật đều bình đẳng đi thọ
sinh. Trong cõi đó, đều bình đẳng giáo hóa chúng sinh cõi đó, cho
nên nói các cõi luân hồi đều trải qua.
Luân hồi phân làm sáu cửa, tùy theo
nghiệp lực của họ mà vào cửa, người tu nghiệp thiện, thì chuyển vào
cửa ba đường lành ; người tu nghiệp ác, thì chuyển vào của ba đường
ác, đây chẳng có ai thẩm phán mà là tự động. Một số chúng sinh, lưu
chuyển ở trong sinh tử, sinh rồi lại tử, tử rồi lại sinh, sinh sinh
tử tử không thời hạn, trôi nổi ở trong biển khổ, không được giải
thoát.
Phật vì cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ
sinh tử, mới đến các cõi để giáo hóa, giáo hóa chúng sinh trong cõi
trời, cõi người, cõi A Tu La, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, cõi địa
ngục. Phật thị hiện đủ thứ thân chúng sinh để thuyết pháp, khiến cho
chúng sinh liễu sinh thoát tử.
"Ðộ chúng sinh khổ không xót thừa". Phật
làm thế nào để giáo hóa chúng sinh ? Tức là vào trong các cõi, hiện
thân chúng sinh, mà vì chúng sinh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh
lià khổ được vui. Gặp chúng sinh không hiểu Phật Pháp, thì Phật dùng
tâm nhẫn nhục, để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh tu hành,
chúng sinh đã biết tu hành, thì Phật giúp cho họ thành tựu đạo
nghiệp, chúng sinh đã thành tựu đạo nghiệp, thì Phật trợ giúp cho họ
được giải thoát, khiến cho chúng sinh cầu đạo, tu đạo, hiểu đạo,
thành đạo, đắc được quả giác viên mãn vốn có, làm cho chúng sinh hết
khổ, một chút cũng không xót thừa.
"Thiện Âm tán thán pháp môn nầy". Vị
Thiện Âm A Tu La Vương, tán thán ca ngợi cảnh giới vi diệu nầy, môn
giải thoát nầy của Phật.
Bây giờ đã giảng xong sở đắc môn giải
thoát và kệ của tám bộ chúng trong dị sinh chúng. Dưới đây tiếp tục
giảng các Thần mười chín chúng.
Lại nữa, Chủ Trú Thần Thị Hiện Cung
Ðiện, được môn giải thoát, vào khắp tất cả thế gian.
Ý nghiã ở trên vẫn chưa nói xong, bây giờ tiếp tục nói, tức cũng là
tiếp tục nói về đạo lý Kinh Hoa
Nghiêm. Ðã
giải thích xong tám bộ chúng trong dị sinh chúng. Nay tiếp tục giảng
về các vị thần mười chín chúng trong dị sinh chúng. Các chúng Thần
là:
1. Chủ Trú Thần.
2. Chủ Dạ Thần.
3. Chủ Phương Thần.
4. Chủ Không Thần.
5. Chủ Phong Thần.
6. Chủ Hỏa Thần.
7. Chủ Thủy Thần.
8. Chủ Hải Thần.
9. Chủ Hà Thần.
10. Chủ Giá Thần.
11. Chủ Dược Thần.
12. Chủ Lâm
Thần.
13. Chủ Sơn Thần.
14. Chủ Ðịa Thần.
15. Chủ Thành Thần.
16. Ðạo Tràng Thần.
17. Túc Hành Thần.
18. Thân Chúng Thần,
19. Chấp Kim Cang Thần.
Trong mỗi chúng Thần có mười vị Thần chủ, mỗi vị Thần chủ chứng đắc
được một môn giải thoát, nói ra một bài kệ, để tán thán công đức của
Phật, tổng cộng có một trăm chín mươi môn giải thoát, có môt trăm
chín mươi bài kệ. Nếu ai hiểu rõ một môn giải thoát, hoặc minh bạch
một bài kệ, thì có hy vọng giải thoát, có khả năng thành tựu. Mong
những người tu đạo tinh tấn tụng Kinh Hoa
Nghiêm, lạy Kinh Hoa
Nghiêm, in Kinh Hoa
Nghiêm, biên chép Kinh Hoa
Nghiêm, truyền bá Kinh Hoa
Nghiêm, thì chắc chắn công đức và sự cảm ứng không
thể nghĩ bàn. Chư Phật Bồ Tát nhất định sẽ gia bị cho bạn, khiến cho
bạn khai mở đại trí huệ trồng căn lành lớn !
Người mới nghe Kinh Hoa
Nghiêm, cảm thấy Kinh văn của Kinh Hoa
Nghiêm rất
phức tạp, tựa như nói chẳng bao giờ hết. Ðúng vậy ! Ðạo lý Kinh Hoa
Nghiêm nói
chẳng hết, trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng. Chỉ cần bạn thành
tâm nghe Kinh nghe pháp, thì lâu dần từ từ tự nhiên sẽ hiểu nghĩa
Kinh, lĩnh ngộ nghĩa lý huyền diệu thâm áo vô cùng. Có người đọc
Kinh Hoa
Nghiêm đến
lần thứ tư, mới hiểu ý nghĩa vi diệu của nó. Tụng Kinh càng nhiều,
thì được ích càng sâu, tụng một lần thì có lợi ích một lần.
Vị Thị Hiện Cung Ðiện Chủ Trú Thần. Chủ
Trú Thần là thần quản lý ban ngày, tức cũng là quản lý tất cả công
và tội, Những gì chúng sinh làm đều ghi nhớ hết, nhưng không cần
dùng bút ghi chép vào vở. Sự ghi nhớ của Thần rất là đặc thù, còn
diệu hơn so với máy vi tính, càng diệu hơn so với máy tính ! Các vị
đó đều ghi nhớ hết tất cả sự việc của thế gian. Khi muốn kiểm tra
thì không cần bấm nút máy vi tính, tự nhiên sẽ hiện ra tư liệu cần
đến, không những nhanh chóng mà còn chính xác, đó là thần thông diệu
toán.
Vị Chủ Trú Thần nầy, thị hiện được tất
cả cung điện. Cung điện của vua, cung điện của Phật Bồ Tát, vị nầy
không những thị hiện được, mà còn trang nghiêm được, và còn vào khắp
trong tất cả thế gian, dùng pháp nhập thế để hiển thị pháp xuất thế.
Ðó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Chủ Trú Thần Phát Khởi Huệ Hương, được môn giải thoát, quán sát
khắp tất cả sự lợi ích của chúng sinh, khiến cho họ vui mừng đầy đủ.
Vị Phát Khởi Huệ Hương Chủ Trú Thần nầy, phát khởi giới hương, định
hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương, năm
phần hương pháp thân. Vị nầy biết sự vui mừng của chúng sinh, cho
nên toả ra năm thứ hương, khiến cho chúng sinh sinh tín tâm. Bạn trì
giới thì thân sẽ toả ra giới hương. Bạn thiền định thì thân sẽ toả
ra định hương. Bạn tu huệ thì sẽ toả ra huệ hương. Tâm bạn không
phan duyên, thì thân sẽ toả ra hương giải thoát. Bạn học rộng nghe
nhiều, thì thân sẽ toả ra hương giải thoát tri kiến. Vị Chủ Trú Thần
nầy quán sát khắp tất cả chúng sinh, khiến cho họ hoàn toàn đắc được
lợi ích năm thứ hương nầy, và còn khiến cho chúng sinh vui mừng mà
đầy đủ, toại tâm mãn nguyện, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.
Tổ Ðạt Ma nói: "Giới hương đoạn được các điều ác, hay tu các điều
thiện. Ðịnh hương tin sâu đại thừa, tâm không thối chuyển. Huệ hương
thường ở thân tâm, trong tự quán sát. Hương giải thoát đoạn tất cả
vô minh trói buộc. Hương giải thoát tri kiến quán chiếu thường sáng
suốt, thông đạt vô ngại".
Năm phần hương pháp thân là do giới sinh
định, do định sinh huệ, do huệ được giải thoát, do giải thoát mà đắc
được giải thoát tri kiến, tức cũng là hậu đắc trí. Do đó, có thể
thấy, giới luật quan trọng như thế nào. Bất cứ tu pháp gì, điều kiện
đầu tiên là phải giữ gìn giới luật. Bằng không, chẳng có sự thành
tựu chân chánh. Ví như có vị pháp sư biết giảng kinh, giảng rất hay,
biện tài vô ngại, nói thao thao bất tuyệt, nói ngang nói dọc đều có
lý, khiến cho người nghe vào thắng địa. Nhưng nếu như vị pháp sư đó
chẳng giữ giới luật, bất quá cũng chỉ là khẩu đầu thiền mà thôi.
Chủ Trú Thần Lạc Thắng Trang
Nghiêm, được môn giải thoát, phóng vô biên pháp
quang minh đáng ưa thích.
Vị Lạc Thắng Trang
Nghiêm Chủ Trú Thần nầy, tu đủ thứ phước, đắc được
đủ thứ công đức. Do đó, sinh ra sự an vui. Sự an vui nầy chẳng giống
sự an vui bình thường, là sự an vui rất thù thắng. Vị Thần nầy,
không những trang nghiêm mà còn tốt tướng, biết được sở tạo công
hoặc tội của chúng sinh, và còn phóng ra vô lượng trí huệ quang
minh. Quang nầy tức là quang minh đáng ưa thích pháp, chiếu soi
chúng sinh, khiến cho chúng sinh có công tiếp tục làm công đức lành;
khiến cho chúng sinh có tội, cải ác hướng thiện, quay đầu là bờ.
Quang nầy khiến cho tất cả chúng sinh đều vui mừng, đều sinh ra tư
tưởng ưa thích Phật pháp, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Chủ Trú Thần Hoa
Hương Diệu Quang, được môn giải thoát, khai phát
tâm tin hiểu thanh tịnh của vô biên chúng sinh.
Vị Hoa
Hương Diệu Chủ Trú Thần nầy, tùy thuận nguyện của
chúng sinh, mà toả ra các thứ hoa và các thứ hương, và còn hiện ra
quang minh vi diệu không thể nghĩ bàn, để chiếu soi tất cả chúng
sinh, khiến cho họ khai ngộ, đắc được trí huệ. Vị nầy có thể khai
khẩn đất hoang, chưa có ai gieo trồng ngũ cốc xuống mảnh đất màu mỡ
nầy. Cho nên phải có người đến khai khẩn, cạo sạch cỏ hoang, sau đó
mới trồng trọt được. Khai đất hoang phải tốn công khổ cực một phen
mới thành công được, do đó:
"Trồng trọt một phần,
Thì có một phần thu hoạch".
Ruộng phước của chúng sinh, giống như một mảnh đất hoang, phải cần
có đại thiện tri thức phát bồ đề tâm đến khai quật, trồng xuống hạt
giống bồ đề tâm tin hiểu thanh tịnh, mới đắc được quả giác bồ đề.
Tâm chúng sinh phần nhiều không thanh tịnh, có tư tưởng ô nhiễm. Vì
tâm nhiễm ô quá nhiều, mà tâm thanh tịnh thì ít, cho nên chẳng tin
hiểu. Giảng Phật pháp cũng nghe chẳng vào, nói đạo lý cũng chẳng
tin. Vì không tin không hiểu cho nên chẳng minh bạch. Không minh
bạch thì chẳng có tâm tin hiểu thanh tịnh.
Tâm tin hiểu thanh tịnh là gì ? Nếu
không có vô minh, không có phiền não, không có nóng giận, đó là tâm
tin hiểu thanh tịnh. Nếu như có vô minh, có phiền não, có nóng giận,
thì tâm tin hiểu chẳng thanh tịnh. Tóm lại, người mà tâm ô nhiễm quá
nặng, thì tâm tin hiểu thanh tịnh nhẹ đi. Người mà tâm thanh tịnh
quá nặng, thì tâm tinh hiểu thanh tịnh cũng nặng. Cho nên, người học
Phật pháp, mỗi cử chỉ, mỗi hành động, đều phải hồi quang phản chiếu,
cầu trở lại nơi chính mình. Phải phản tỉnh tâm của mình, nhiễm ô
nhiều hay là thanh tịnh nhiều ? Tâm tin hiểu của tôi nhiều, hay là
tâm không tin hiểu nhiều ? Tự mình kiểm thảo, nếu minh bạch được
cảnh giới nầy, thì vào được môn giải thoát tin hiểu thanh tịnh.
Chủ Trú Thần Phổ Tập Diệu Dược, được môn giải thoát, sức tích tập
quang minh khắp trang nghiêm.
Vị Phổ Tập Diệu Dược Chủ Trú Thần nầy, tích tập hết thảy tất cả chất
thuốc đặc biệt thù thắng, để chữa trị bệnh tham sân si ba độc phiền
não của tất cả chúng sinh. Vị nầy tu đủ thứ pháp môn, tích tập nhiều
công đức để trang nghiêm. Giống như trồng hoa, bón phân đầy đủ thì
hoa mới sum sê tươi tốt, hoa nở mới tươi đẹp. Tại sao hoa vừa tươi
tốt vừa đẹp ? Vì có người bón phân. Chúng ta tu công đức cũng phải
như thế, trang nghiêm tức là bón phân.
Chúng ta người tu đạo, tại sao phải có
sự trang nghiêm? Vì tích tập tất cả công đức lành. Công đức nầy, tức
là phân để đượm nhuần pháp thân huệ mạng của chúng ta, khiến cho
chúng ta đắc được sức quang minh đại trí huệ. Có sức nầy rồi thì gặp
được tất cả cảnh giới, đều nhận thức rõ ràng, mà không bị cảnh giới
làm lay chuyển, ngược lại còn chuyển được cảnh giới. Tóm lại, cảnh
giới ác chuyển đổi thành cảnh giới lành, cảnh giới nhiễm ô chuyển
đổi thành cảnh giới thanh tịnh. Ðó là sức đại trí huệ quang.
Vị Chủ Trú Thần nầy, đắc được sức phổ
quang minh, tức cũng là sức trí huệ Bát nhã. Trí huệ Bát nhã giống
như một cây đao, còn gọi là kiếm trí huệ. Bạn chẳng có trí huệ thì
là ngu si, chẳng có kiếm trí huệ, thì không thể chém đầu lục tặc,
lục tặc tức là lục trần. Lục trần nầy sai khiến con người làm việc
điên đảo. Cho nên nói, kiếm trí huệ là pháp bảo rất quang trọng.
Trong chứng Ðạo Ca có nói:
"Ðại trượng phu, bỉnh huệ kiếm,
Bát nhã phong hề kim cang diễm,
Phi đán năng thôi ngoại đạo tâm,
Tảo hội lạc khước thiên ma đảm".
Nghĩa là nói, chúng ta người xuất gia đều là đại trượng phu. Phật
Thích Ca là đại trượng phu, chúng ta là đệ tử của Phật, cho nên cũng
là đại trượng phu. Bất cứ nam nữ, phàm là xuất gia đều là đại trượng
phu. Phật Thích Ca là đại anh hùng, cho nên điện Phật gọi là đại
hùng bảo điện. Bỉnh huệ kiếm tức là cầm thanh bảo kiếm trí huệ, sắc
bén vô cùng, giống như đá kim cang phát ra lửa ngọn, không những phá
tan tâm ngoại đạo, mà cũng làm cho thiên ma khiếp đảm.
Vị Chủ Trú Thần nầy, vì có sức trí huệ quang minh mới vào được môn
giải thoát nầy.
Chủ Trú Thần Lạc Tác Hỉ Mục, được môn giải thoát, khai ngộ khắp
tất cả khổ vui của chúng sinh, khiến cho họ đắc được pháp vui.
Vị Lạc Tác Hỉ Mục Chủ Trú Thần luôn luôn an vui, luôn luôn hoan hỉ,
cũng khiến cho tất cả chúng sinh luôn luôn an vui, luôn luôn hoan
hỉ. Vị nầy dùng tâm từ bi để tiếp dẫn chúng sinh, khiến cho tất cả
chúng sinh khai ngộ. Khai ngộ gì ? Khai tất cả khổ vui của chúng
sinh, khiến cho họ ngộ được pháp vui.
Khổ có rất nhiều thứ khổ: Có ba thứ khổ, tám thứ khổ và vô lượng
khổ.
Ba thứ khổ tức là:
1. Khổ khổ.
2. Hoại khổ.
3. Hành khổ.
Tám thứ khổ là:
1. Khổ về sinh.
2. Khổ về già.
3. Khổ về bệnh.
4. Khổ về chết.
5. Khổ về thương mà phải biệt ly.
6. Khổ về ghét mà gặp nhau.
7. Khổ về cầu muốn không được.
8. Khổ về năm uẩn.
Và còn có vô lượng vô biên thứ khổ.
Khổ khổ: Tức là khổ của người nghèo. Ví
như có một túp lều để ở, che mưa che nắng, chẳng may bị gió bão thổi
sập, không chỗ để nương tựa. Hoặc là người không có tiền bạc lại
bệnh hoạn, đó là khổ tăng thêm khổ, cũng là khổ trong khổ.
Hoại khổ: Tức là khổ của người giàu. Ví
như nhà nọ giàu có, chẳng may bị lửa thiêu sạch, tiền bạc châu báu
cũng bị lửa thiêu hủy, đó là hoại khổ.
Hành khổ: Chẳng phải là khổ khổ, cũng
chẳng phải là hoại khổ, mà là hành khổ về vô thường. Bất cứ là anh
hùng hào kiệt, đại trượng phu, cũng không tránh khỏi sinh già bệnh
chết, bốn đại hành khổ.
Khổ về sinh: Khi sinh ra thì thống khổ
giống như rùa lột mai, và thống khổ giống như hai hòn núi ép nhau,
cho nên trẻ con khi sinh ra, thì khóc oà lên đó là khổ.
Khổ về già: Thân thể từ nhỏ lớn dần rồi
già nua, chẳng lúc nào mà không biến đổi, tóc bạc da nhăn, tai điết
mắt mờ, tứ chi yếu đuối, ngũ quan tứ chi chẳng làm gì được, răng
rụng ăn gì cũng chẳng biết mùi vị.
Khổ về bệnh: Tứ đại không điều hòa thì
thường phát sinh bệnh. Khổ về bệnh mới là khổ thật, chẳng ăn được
gì, chẳng hành động được. Già thì mắt tai mũi lưỡi phải về hưu; có
bệnh thì thân thể cũng phải về hưu.
Khổ về chết: Thứ khổ nầy thật đáng sợ,
thống khổ như bò sống bị lột da. Phút cuối cùng khi lâm chung, thì
trong tâm tính sổ sách, nếu như khi sống làm việc còn thiếu sót, thì
chết cắn răn trừng mắt mà đi.
Khổ về thương mà phải biệt ly: Việc
thống khổ nhất của đời người là lúc sinh ly tử biệt. Vì đủ thứ nhân
duyên phải biệt ly với người thân. Thứ khổ nầy ai chưa trải qua hoàn
cảnh ấy, thì chẳng biết được vị của nó.
Khổ về ghét mà gặp nhau: Người càng
không thích ưa mà thình lình gặp nhau, thứ khổ nầy không thể tả.
Người xưa nói: "Oán nên giải không nên kết". Bắt tay vui vẻ, đổi
địch làm bạn, đó là tránh gieo thứ khổ nầy.
Khổ về cầu muốn không được: Thứ khổ nầy
ai ai cũng có. Người nghèo có, người giàu cũng có, người nam có,
người nữ cũng có, già có, trẻ có, tức là khổ về mong muốn không
ngừng.
Khổ về năm ấm: Năm ấm tức là: Sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Năm uẩn nầy giống như lửa thiêu hủy. Sắc là vật
chất, thọ tưởng hành thức là tinh thần, đều vì vô minh mà thiêu đốt
không ngừng, khiến cho người thọ thống khổ vô cùng.
Vô lượng khổ: Nỗi khổ không thể tả ! Bất
cứ thứ khổ nào cũng đều chịu không thấu. Tại sao có vô lượng sự khổ
? Vì tâm tham không đủ, được rồi muốn được nữa, không khi nào biết
đủ. Nói ngược lại là biết đủ thì an vui.
Vui cũng đủ thứ vui, có sự vui của mình,
sự vui của người khác, sự vui của ta và người, vui cũng có vô lượng
vô biên. Song, chúng sinh sống trong khổ vui, lúc thì vui, lúc thì
khổ, khổ vui đều không dễ chịu.
Bây giờ, bất cứ là khổ hay là vui, vị
Chủ Trú Thần nầy, đều khiến cho chúng sinh đắc được pháp vui, tức
cũng là pháp hỉ sung mãn, an vui chân thật. Nghe kinh nghe pháp đều
là pháp vui, vị nầy đắc được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát
nầy.
Chủ Trú Thần Quán Phương Phổ Hiện, được môn giải thoát, đều hiện
thân khác nhau trong mười phương pháp giới.
Vị Quán Phương Phổ Hiện Chủ Trú Thần nầy, quán căn cơ chúng sinh vì
người thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc. Vị nầy quán sát mười phương
pháp giới, hiện thân khắp vì chúng sinh mà thuyết pháp. Và còn minh
bạch chư Phật ở trong mười phương pháp giới, khắp các cõi nước nhiều
như số hạt bụi, hóa hiện vô lượng thân khác nhau, mà vì người độ
được mà thuyết pháp, tức cũng là người đáng dùng thân Phật độ được,
thì Phật hiện thân Phật mà vì họ nói pháp, để giáo hóa chúng sinh.
Vị nầy minh bạch được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy.
Chủ Trú Thần Ðại Bi Oai Lực, được môn giải thoát, cứu hộ tất cả
chúng sinh, khiến cho họ được an lạc.
Vị Ðại Bi Oai Lực Chủ Trú Thần. Ðại bi là cứu tất cả thống khổ của
chúng sinh, ban tất cả an vui cho chúng sinh. Oai lực là có sức đại
oai đức. Vị nầy có tâm đại bi, cứu tất cả khổ của chúng sinh, và còn
có đại oai đức hàng phục được tất cả ma. Vị nầy đắc được cảnh giới
nầy, và còn minh bạch đức Phật vì cứu hộ tất cả chúng sinh, mà khiến
cho tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, vị nầy vào được môn giải
thoát nầy.
Chủ Trú Thần Thiện Căn Quang Chiếu, được môn giải thoát, sức công
đức khắp sinh ra vui mừng đầy đủ.
Vị Thiện Căn Quang Chiếu Chủ Trú Thần nầy, trong đời quá khứ gieo
trồng đủ thứ căn lành, tu tập đủ thứ trí huệ quang, để giáo hóa tất
cả chúng sinh, cũng khiến cho tất cả chúng sinh vun bồi căn lành,
gieo trồng căn lành. Vị nầy đắc được trí huệ quang minh, cho nên mới
nói đắc được sức thiện xảo công đức khắp sinh ra vui mừng đầy đủ. Vị
nầy vào môn giải thoát nầy.
Chủ Trú Thần Diệu Hoa
Anh Lạc, được môn giải thoát, danh tiếng vang khắp,
chúng sinh nào thấy được cũng đều được lợi ích.
Vị Diệu Hoa
Anh Lạc Chủ Trú Thần nầy, danh tiếng đều vang khắp
mười phương thế giới. Phàm là chúng sinh trong mười phương thế giới,
nghe được âm thanh của vị nầy, hoặc là nghe được tên của vị nầy, đều
đắc được lợi ích, đắc được pháp vui, vị nầy vào môn giải thoát nầy.
Bấy giờ, Chủ Trú Thần Thị Hiện Cung Ðiện, nương oai lực của đức
Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Trú Thần, mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, khi vị Diệu Hoa
Anh Lạc Chủ Trú Thần, vừa nói xong đoạn kinh nầy,
thì vị Thị Hiện Cung Ðiện Chủ Trú Thần, nương đại oai thần lực của
đức Phật, quán sát khắp tất cả Chủ Trú Thần trong pháp hội, mà dùng
kệ tán thán công đức của Phật.
Trí Phật như không chẳng cùng tận
Quang minh chiếu soi khắp mười phương
Tâm hạnh chúng sinh đều biết rõ
Tất cả thế gian đều vào khắp.
"Trí Phật như không chẳng cùng Tận". Trí huệ của Phật giống như hư
không. Hư không thì rộng lớn chẳng cùng tận.
"Quang minh chiếu soi khắp mười phương". Trí huệ quang minh của Phật
không thể sánh, chiếu soi khắp mười phương thế giới, chiếu soi cõi
nước chư Phật mười phương.
"Tâm hạnh chúng sinh đều biết rõ". Tất cả những sự việc chúng sinh
suy nghĩ, hoặc làm, Phật đều hiểu biết rõ. Tóm lại, Bạn khởi vọng
tưởng gì, tạo nghiệp gì, Phật đều biết rõ ràng.
"Tất cả thế gian đều vào khắp". Phật có đại trí huệ quang minh, có
đại thần thông, có sức đại bi nguyện, do đó, đến tất cả thế giới để
giáo hóa chúng sinh, chẳng có một thế giới nào mà Phật không vào.
Phật biết sở thích của chúng sinh
Vì họ mà nói các biển pháp
Ý nghĩa rộng lớn đều khác nhau
Cụ Túc Huệ Thần thấy rõ được.
"Phật biết sở thích của chúng sinh". Phật biết được trong tâm của
tất cả chúng sinh hoan hỉ những gì, và còn biết được tất cả sự việc
chúng sinh mong muốn.
"Vì họ mà nói các biển pháp". Nghĩa là đáng hiện thân gì để độ được,
thì hiện thân đó mà nói pháp đó. Pháp môn nói ra nhiều như biển, nói
chẳng hết.
"Ý nghĩa rộng lớn đều khác nhau". Nghĩa lý mỗi câu mỗi chữ rộng lớn
vô cùng, đều khác nhau. Mỗi câu có nghĩa lý của mỗi câu, mỗi chữ có
ý nghĩa mỗi chữ, ý vị vô cùng.
"Cụ Túc Huệ Thần thấy rõ được". Vị Phát Khởi Huệ Hương Chủ Trú Thần,
hoàn toàn thấy được cảnh giới nầy, và còn thấy rất rõ ràng.
Phật phóng quang minh chiếu thế gian
Thấy nghe vui mừng không luống qua
Chỉ bày chỗ tịch diệt rộng lớn
Lạc Thắng Trang
Nghiêm tâm
ngộ hiểu.
"Phật phóng quang minh chiếu thế gian". Phật phóng vô lượng đại
quang minh tạng, chiếu soi hữu tình thế gian trong mười phương.
Khiến cho tất cả hữu tình chúng sinh, bất cứ thấy được quang minh
của Phật, hoặc nghe được pháp âm của Phật, đều đắc được công đức và
lợi ích.
"Thấy nghe vui mừng không luống qua". Không luống qua tức là không
hư mất, không lãng phí. Nếu luống qua thì không được lợi ích. Phàm
là chúng sinh thấy được quang minh của Phật, hoặc nghe được âm thanh
của Phật, đều sinh ra vô lượng công đức pháp tài, vô lượng tâm vui
mừng.
"Chỉ bày chỗ tịch diệt rộng lớn". Phật thuyết pháp ở trong quang
minh, để giáo hóa tất cả chúng sinh, không những thuyết pháp, mà còn
nói pháp vi diệu thâm sâu vô thượng, và còn chỉ bày chỗ tịch diệt
cho chúng sinh, tức cũng là bờ Niết Bàn. Niết Bàn tức là đạo lý:
Thường, lạc, ngã, tịnh. Thường tức là pháp thân, Lạc tức là Niết
Bàn, Ngã tức là Như Lai, Tịnh tức là pháp vô vi.
"Lạc Thắng Trang
Nghiêm tâm
ngộ hiểu". Cảnh giới nầy, vị Lạc Thắng Trang
Nghiêm Chủ Trú Thần ngộ và hiểu rõ, vào được môn
giải thoát nầy.
Phật rưới mưa pháp vô biên lượng
Khiến cho người thấy vui mừng lớn
Căn lành tối thắng từ đây sinh
Ðây là sở ngộ của Diệu Quang.
« Phật rưới mưa pháp vô biên lượng ». Phật tức là Phật Thích Ca Mâu
Ni, rưới tức là chỉ pháp của Phật nói. Mưa pháp tức là Phật nói pháp
giáo hóa chúng sinh, giống như trời mưa, khiến cho chúng sinh đắc
được đượm nhuần mưa pháp, mà tăng trưởng huệ mạng. Phật pháp vô
lượng vô biên, cho nên không có chỗ nào mà chẳng phải là nơi Phật
rưới mưa pháp đầy khắp, cho nên nói Phật rưới mưa pháp vô biên
lượng.
« Khiến cho người thấy vui mừng lớn ».
Phật nói pháp vi diệu thâm sâu vô thượng, chúng sinh thấy, hoặc nghe
được, đều sinh tâm vui mừng lớn. Cho nên, cuối cùng mỗi bộ kinh đều
nói « vui mừng lớn » (đại hoan hỉ) hoặc « vui mừng tin nhận » (hoan
hỉ tín thọ) hoặc « tín thọ phụng hành, làm lễ lui ra ». Ðó là nói,
phàm là người tham gia pháp hội, người nghe kinh nghe pháp, đều đắc
được tâm vui mừng lớn.
« Căn lành tối thắng từ đây sinh ». Vì
chúng sinh đắc được đượm nhuần mưa pháp, mà sinh ra căn lành thù
thắng. Căn lành của chúng sinh sinh trưởng ở trong Phật pháp. Bạn
muốn sinh căn lành chăng ? Vậy thì phải nghe kinh nghe pháp.
« Ðây là sở ngộ của Diệu Quang ». Cảnh giới nầy, vị Hoa
Hương Diệu Quang Chủ Trú Thần ngộ hiểu được.
Vào khắp pháp môn sức khai ngộ
Nhiều kiếp tu trị đều thanh tịnh
Như thế đều vì nhiếp chúng sinh
Môn nầy Diệu Dược thấu rõ được.
« Vào khắp pháp môn sức khai ngộ ». Phật vào khắp tất cả tâm của
chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều phát tâm bồ đề, kết quả
bồ đề, và còn khiến cho tất cả chúng sinh vào khắp tất cả pháp môn,
phát sinh sức khai ngộ.
« Nhiều kiếp tu trị đều thanh tịnh ». Pháp môn và sức lực nầy, là do
Phật tu pháp môn thanh tịnh, từ vô thủy kiếp cho đến hiện tại. Phật
đã trị sạch đủ thứ mao bệnh, cho nên thanh tịnh không ô nhiễm.
« Như thế đều vì nhiếp chúng sinh ».
Phật vào khắp pháp môn tu học, khiến cho sức khai ngộ của chúng
sinh, từ đời đời kiếp kiếp tu hành mà thành công. Tại sao Phật phải
tu hành ? Vì phải nhiếp hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều
được thanh tịnh.
« Môn nầy Diệu Dược thấu rõ được ». Cảnh giới nầy, vị Phổ Tập Diệu
Dược Chủ Trú Thần hiểu rõ.
Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh
Ai thấy nghe được đều lợi ích
Ðều khiến nhảy nhót vui mừng lớn
Diệu Nhãn Trú Thần thấy như vậy.
« Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh ». Phật vì thật mà thí quyền,
dùng đủ thứ pháp môn phương tiện quyền xảo, để giáo hóa chúng sinh,
sau đó mới khai quyền hiển thật, khiến cho chúng sinh hồi tiểu hướng
đại, phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát đạo.
« Ai thấy nghe được đều lợi ích ». Hết
thảy tất cả chúng sinh, bất cứ thấy được hóa thân của Phật, hoặc
nghe được pháp âm của Phật, đều đắc được lợi ích. Nếu quy y Tam Bảo,
cúng dường Tam Bảo, thì càng được lợi ích lớn.
« Ðều khiến nhảy nhót vui mừng lớn ». Phật hoàn toàn khiến cho tất
cả chúng sinh sinh tâm vui mừng, khiến cho chúng sinh nhảy nhót lên
không tự chủ được, quên mất chính mình. Phật pháp tức là khiến cho
chúng sinh lìa khổ thế gian, mà đắc được vui xuất thế gian.
« Diệu Nhãn Trú Thần thấy như vậy ». Vị Lạc Tác Hỉ Mục Chủ Trú Thần,
minh bạch thấy được cảnh giới môn giải thoát nầy.
Thập lực ứng hiện khắp thế gian
Mười phương pháp giới đều không thừa
Thể tánh chẳng không cũng chẳng có
Quán Phương Phổ Hiện vào môn nầy.
« Thập lực ứng hiện khắp thế gian ». Thập lực của Phật ứng hiện tận
hư không khắp pháp giới, đầy khắp tất cả thế gian.
« Mười phương pháp giới đều không thừa ». Sức lực nầy, sung mãn khắp
mười phương pháp giới, chẳng có nơi nào dư thừa.
« Thể tánh chẳng không cũng chẳng có ». Thể tánh của Phật chẳng phải
không có, cũng chẳng phải có. Ðối với chúng sinh thì có khác biệt,
khắp trong mười phương không thể nói không có. Ðối với Phật thì gọi
là nhất chân pháp giới, không thể nói có.
« Quán Phương Phổ Hiện vào môn nầy ». Cảnh giới môn giải thoát nầy,
vị Quán Phương Phổ Hiện Chủ Trú Thần vào được.
Chúng sinh lưu chuyển trong hiểm nạn
Như Lai thương xót hiện ra đời
Khiến cho tiêu diệt tất cả khổ
Môn giải thoát nầy của Bi Lực.
« Chúng sinh lưu chuyển trong hiểm nạn ». Chúng sinh tức là anh,
tôi, họ, cũng bao quát hết tất cả chúng sinh; bạn, tôi, họ, là chúng
duyên hoà hợp mà sinh, thiếu một duyên cũng không thể sinh, cho nên
gọi là chúng sinh. Giống như ngũ cốc trồng xuống đất, phải có duyên
trời che đất chở, duyên đất duyên nước, duyên ấm và duyên lạnh, và
phải có duyên người làm, và duyên thời tiết. Ðầy đủ nhân duyên phối
hợp rồi, thì mới sinh trưởng được. Chúng sinh cũng phải có duyên cha
duyên mẹ hoà hợp, nếu không thì không thể sinh ra.
Lưu chuyển tức là lưu đi chuyển lại,
chuyển đến chuyển đi. Tức cũng là đời nay làm người, đời sau làm
trâu ngựa dê gà chó heo lục súc. Hoặc là đời trước làm lục súc, đời
nay làm người, đó gọi là lưu chuyển. Có khi kiếp trước là ếch nhái
hoặc chuột, nhưng vì gần gũi chùa chiền, cho nên có cơ hội nghe pháp
nghe kinh. Thời gian lâu rồi chúng đều có công đức, gieo trồng căn
lành, đời sau bèn chuyển sinh làm người, không những làm người mà
còn xuất gia làm Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni.
Trước đây mấy hôm tôi thấy hai người xuất gia. Một vị kiếp trước là
ếch nhái, phước báu rất lớn, cho nên mập mạp. Một vị kiếp trước là
chuột, phước báu rất nhỏ, cho nên gầy ốm, nhưng vị đó rất thông
minh.
Chuyện nầy nghe qua giống như là kể chuyện, giống như nói chuyện
tiếu, nhưng là sự thật. Khi nào bạn chân chánh biết được, thì mới
tin là có thật, chớ chẳng phải giả. Tuy nhiên họ xuất gia làm hòa
thượng, nhưng lại tạo nhiều nghiệp ác, tương lai nói không nhầm thì,
chưa chắt đã làm được ếch nhái hoặc là chuột, có thể phải làm con
giòi trong hầm phân. Ðó là vì không tu công đức cho nên bị đoạ lạc,
nếu siêng tu công đức, rộng gieo căn lành, thì phước báu đời đời
tăng thêm, nói cho dễ hiểu, tu công đức thì có phước báu, không tu
công đức thì chẳng có phước báu, đó là đạo lý lưu chuyển.
Chúng ta là người tu đạo, phải càng ngày càng sinh tâm tinh tấn,
sinh đại đạo tâm, sinh tâm vui mừng, thì căn lành càng bám càng sâu.
Căn lành sâu rồi, thì cành lá càng sum sê tươi tốt. Nếu hôm nay
không tu hành, ngày mai không dụng công, ngày mốt lại giải đãi, cứ
như thế thì, đạo nghiệp một ngày không như một ngày. Do đó, có thể
chứng minh, bạn đời đời kiếp kiếp đều là hoà thượng lười như thế.
Nếu tu đạo, lúc tiến lúc lùi, tiến tới một bước, lùi về sau hai
bước, thì vĩnh viễn không đạt đến bờ kia. Công đức mình tu chẳng bao
nhiêu, mà tạo tội thì nhiều, thì chắc chắn sẽ đọa lạc, tơ hào chẳng
có gì nghi vấn. Ðó gọi là lưu chuyển.
Trong hiểm nạn tức là chỉ sự lưu chuyển
trong các đường, con đường nầy rất nguy hiểm và gian nan, lang,
trùng, hổ, báo, sư tử, rắn độc, thú dữ gì cũng đều có. Nếu gặp rắn
độc sẽ bị rắn độc cắn chết, gặp thú dữ thì sẽ bị thú dữ cắn nuốt.
Cho nên nói trong hiểm nạn.
Chúng ta người tu đạo, bất cứ xử lý việc gì, nên nhớ đừng có chút
tâm đố kị, đừng có tâm cầu danh cầu lợi. Nếu có tâm cầu danh cầu
lợi, hoặc tâm đố kị, vì cầu danh hoặc vì cầu lợi để tu đạo, thì chắc
chắn sẽ đọa lạc, hoặc đoạ lạc vào điạ ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đều
không nhất định. Vì tu đạo phải tu nhẫn nhục Ba la mật, nếu không
nhẫn được thì không bằng chết thanh tịnh; nếu không tinh tấn được,
thì tu đạo có ích gì ? Nếu không rõ sự lý, thì càng ngày càng chẳng
có ý nghĩa; nếu không hiểu Phật Pháp thì càng ngày càng đọa lạc,
thậm chí đọa lạc vào trong hầm phân làm giòi, trải qua vô lượng kiếp
rồi chuyển làm người, thân thể của họ sẽ toả ra một mùi hôi thối vô
vùng. Phàm là thân thể người nào có một thứ mùi lạ, hoặc hôi thối
thì, đều là kiếp trước không giữ giới luật.
Vừa nói về ếch nhái và chuột tái sinh
làm người, lại xuất gia tu hành. Chắc chắn có người khởi hoài nghi:
Làm sao biết được họ là ếch nhái tái sinh ? Làm sao biết được họ là
chuột tái sinh ? Vấn đề nầy rất là đơn giản, rất dễ biết. Ai dũng
mãnh tinh tấn, dụng công ngồi thiền, thì sẽ biết cảnh giới nầy. Ví
như súc sinh sinh làm người, thì sau lưng xương sống của người đó,
lưu lại bóng hình kiếp trước. Kiếp trước là súc sinh gì ? Thì hiện
ra hình bóng đó. Song, phải là minh nhãn thiện tri thức mới biết
được.
Nếu muốn biết mình kiếp trước là gì ?
Thì hãy xem đời nầy mình làm những việc gì để quyết định, nếu bạn có
tâm làm việc thiện, giữ quy cụ, thì bạn nhất định kiếp trước là
người trồng căn lành. Nếu bạn không muốn làm việc thiện và không giữ
quy cụ, thì nhất định kiếp trước là người chẳng trồng căn lành.
Người xuất gia, nhất định phải giữ gìn giới luật, dụng công tu hành,
dù một giây một phút thời gian cũng đừng để luống qua, mỗi người
phải có mỗi thời khóa biểu nhất định : Khi nào tọa thiền, khi nào
tụng kinh, khi nào lễ Phật, khi nào trì Chú, đều phải làm đúng giờ.
Bất cứ khổ như thế nào, mệt nhọc như thế nào, đều phải tự mình dụng
công, tu pháp của mình. Không những một ngày có tâm thành, mà mỗi
ngày đều có tâm thành, không những một ngày phải nhẫn nhục, mà mỗi
ngày đều phải nhẫn nhục. Thành tâm nhẫn nhục là tại nơi mình, không
thể gạt người. Phải dũng mãnh tu hành, mới mong thành tựu.
Làm sao biết được kiếp trước ? Phải xem
họ giữ hay không giữ giới luật ? Giữ hay không giữ quy cụ ? Giữ được
giới luật là có căn lành, giữ được quy cụ là thiện tri thức. Phàm là
không giữ giới luật, vạch lộng tìm vết, làm cho người phiền não thì
chẳng có căn lành.
Con mắt của con người tức là gương sáng,
có khi chiếu bên ngoài, có khi chiếu bên trong, phải chiếu ngược
lại, chiếu chính mình. Ðừng làm máy nhiếp ảnh, chỉ chiếu người mà
không chiếu chính mình. Bất cứ là người xuất gia hoặc tại gia, đều
phải hồi quang phản chiếu. Nếu thường hồi quang phản chiếu, thì sẽ
có ngày thành công. Nếu không hồi quang phản chiếu, thì chỉ là lãng
phí thời gian quý báu, đều để luống qua.
« Như Lai thương xót hiện ra đời ». Tại sao Phật xuất hiện ra đời ?
Vì muốn giáo hóa chúng sinh cang cường khó điều khó phục, Phật
thương xót tất cả chúng sinh. Những chúng sinh nầy mê mà không tỉnh,
bất cứ dùng pháp môn gì để giáo hóa, họ cũng không giác ngộ. Họ chỉ
biết đọa lạc vào trong ba đường ác, nhận súc sinh làm cha mẹ, ngạ
quỷ làm bạn bè, đến địa ngục để tham quan, đều muốn thưởng thức, đáo
để mùi vị như thế nào ? Cho nên, Phật thương xót loại chúng sinh
nầy, mới xuất hiện ra thế giới nầy.
« Khiến cho diệt trừ tất cả khổ ». Phật đều khiến cho tất cả khổ não
của chúng sinh đều tiêu diệt, mà đắc được an vui.
Người không có khổ thì không có vô minh, phiền não, nóng giận. Người
chẳng có khổ mới là người tự tại thật sự. Nếu y theo pháp mà tu
hành, thì mới đoạn được vô minh, diệt phiền não, như vậy thì sự nóng
giận chẳng tồn tại dấu vết. Lúc đó mới đắc được Ba la mật.
« Môn giải thoát nầy của Bi Lực ». Môn giải thoát nầy, vị Ðại Bi Oai
Lực Chủ Trú Thần thấy rõ được.
Chúng sinh trôi chìm trong đen tối
Phật vì thuyết pháp khiến thông đạt
Ðều khiến được vui trừ các khổ
Thiện Căn Quang Thần vào môn nầy.
« Chúng sinh trôi chìm trong đen tối ». Lúc chẳng có Phật ra đời,
thì tất cả chúng sinh đều bị hãm ở trong thế giới đen tối, bị vô
minh che đậy, trôi nổi ở trong ba đường ác, trong ba đường ác chẳng
có ánh sáng, đen tối như ban đêm, chúng sinh vĩnh viễn chịu khổ ở
trong ba đường ác, chẳng được tự do, càng không được ánh sáng.
Ba đường ác là gì ? Tức là địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh. Ba đường ác nầy do tội nghiệt tạo thành. Vậy tại sao
phải tạo tội nghiệt ? Vì tham sân si ba độc tác quái, tham thì
chuyển làm ngạ quỷ, sân thì đọa vào địa ngục, si thì đọa làm súc
sinh.
« Phật vì thuyết pháp khiến thông đạt ». Vì chúng sinh tạo tội
nghiệt, mà đọa lạc vào ba đường ác. Dù ở trong ba đường lành cũng bị
vô minh che đậy, cho nên cũng chẳng có trí huệ. Phật phát tâm thương
xót vì những chúng sinh nầy, mà thuyết pháp khiến cho họ bỏ mê về
giác, cải tà quy chánh, phát tâm bồ đề, cứu kính thành Phật.
Phật giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ hiểu đạo lý chân
chánh, thì họ không còn tạo tội nghiệt nữa, muốn diệt trừ tham sân
si, thì phải siêng tu giới định huệ, thực tiễn tín hạnh nguyện.
« Ðều khiến được vui trừ các khổ ». Phật giáo hóa tất cả chúng sinh,
khiến cho họ lìa khổ được vui, diệt sạch tất cả sự thống khổ.
« Thiện Căn Quang Thần vào môn nầy ». Vị Thiện Căn Quang Chiếu Chủ
Trú Thần, đắc được cảnh giới nầy, minh bạch được Phật vì khiến cho
tất cả chúng sinh dứt khổ được vui, mà xuất hiện ra đời. Vị nầy vào
môn giải thoát nầy.
Phước Như Lai lường đồng hư không
Phước của thế gian từ đây sinh
Phàm ai làm được không luống qua
Hoa Anh đắc
được giải thoát nầy.
« Phước Như Lai lường đồng hư không ». Tất cả phước của Phật đều là
phước thanh tịnh. Tất cả phước của chúng sinh là phước không thanh
tịnh. Song, phước không thanh tịnh là từ phước thanh tịnh sinh ra.
Phước thanh tịnh cứu kính lớn cỡ nào ? Rộng cỡ nào ? Dài cỡ nào ? Có
hạn lượng chăng ? Chẳng có ! Cho nên nói phước Như Lai lường đồng hư
không. Hư không thì chẳng có số lượng, hư không thì chẳng cách chi
tính được, cũng chẳng có bờ mé có thể tìm được.
« Phước của thế gian từ đây sinh ». Tất cả phước của thế gian đều
chẳng thanh tịnh. Song, tất cả phước báu của thế gian, đều từ trong
phước thanh tịnh của Phật sinh ra.
Phàm ai làm được không luống qua ». Bất
cứ làm việc công đức gì, đều có phước báo không luống qua. Tuy
nhiên, phước báu là từ trong phước thanh tịnh của Phật sinh ra,
nhưng cũng phải tự mình đi làm công đức lành, thì mới được phước
báo. Bằng không, thì đừng hy vọng có phước báo, phước báu chẳng phải
ngẫu nhiên có được, mà là phải thực hành !
Nếu chúng ta làm việc thiện, lập công, tích tập công đức, thì mới có
phước báo. Một số người thế gian chỉ biết tu phước trước mắt, mà
không biết tài bồi phước báo cho tương lai.
Phước báo trước mắt là từ đâu đến ? Là từ vô lượng kiếp tài bồi mà
đến. Tức là trong đời quá khứ tu đủ thứ căn lành, lập nhiều công,
tích nhiều đức, cho nên đời này mới có phước báo. Vậy thì hãy nhớ
phước báu cố hữu để tu phước báo vị lai. Ðó là phước lại thêm phước,
trong phước tích phước, thì phước báu đời sau chắc chắn càng lớn.
Nếu không tiếp tục làm lành lập công tích đức, hưởng hết phước thì
đời sau phải chịu khổ. Cho nên mới nói:
« Chịu khổ thì hết khổ,
Hưởng phước thì hết phước ».
Hai câu nầy rất quang trọng, hy vọng mọi người ghi nhớ, hiểu ý nghĩa
hai câu nầy, thì cũng hiểu được đạo lý làm người.
Trồng nhân lành thì kết quả tốt, trồng nhân ác thì kết quả ác, đó là
luật nhân qủa. Tuy nhiên đạo lý nầy rất đơn giản, dễ hiểu, song
không thực hành thì chẳng ích gì! Cho nên chịu khổ thì hết khổ,
hưởng phước thì hết phước, hai câu nầy rất là hệ trọng, nên nhớ !
không thể như gió qua tai!
Giống như bạn hiếu thuận với cha mẹ, thì con cái cũng sẽ hiếu thuận,
do đó:
« Hiếu thuận thì sinh con hiếu thuận,
Con cháu hiếu thuận bồi đáp lại ».
Bạn hiếu thuận với cha mẹ như thế nào, thì con cháu của bạn sẽ hiếu
thuận với bạn như thế đó, đó cũng là đạo lý nhân quả.
Dù con cái không biết hiếu thuận, thì bạn cũng nên hiếu thuận với
cha mẹ, lấy thân làm gương ngày lại ngày, lâu dần thì từ từ sẽ cảm
hóa con cái bất hiếu, mà biết hiếu thuận.
Tại nước Mỹ nầy, người dân chẳng có quan niệm về luân lý phải hiếu
thuận với cha mẹ, tôn kính sư trưởng, mọi người đều cho rằng là xã
hội bại hoại, ngựa hại bầy. Do đó, đều đồng loã, mắng họ chưởi họ,
nói họ ngu si quá, cho rằng tuy cha mẹ sinh ra mình, nuôi dưỡng dạy
dỗ mình, đó là trách nhiệm của họ, cho nên người già chẳng ai chiếu
cứ, thật đáng thương xót ! Khoa học của nước Mỹ là nhất thế giới,
nhưng người già chẳng ai trông, đó cũng là nhất thế giới. Ở nước Mỹ,
ai hiếu thuận với cha mẹ là kẻ địch của mọi người, khắp nơi chịu kỳ
thị, chịu bài bác, chịu phỉ báng, bị người phê bình là ngoan cố, bảo
thủ, lạc hậu, không theo thời đại. Thanh niên nước Mỹ tìm hết phương
pháp thanh toán cha mẹ, đấu tranh cha mẹ. Tóm lại, không những không
báo ân dưỡng dục của cha mẹ, ngược lại bất hiếu với cha mẹ. Người
làm cha mẹ, sinh ra con cái không giáo dục, để mặc chúng tự do phát
triển, thì những con cái đó làm sao biết ý nghĩa chữ hiếu là gì ? Do
đó, nuôi mà không dạy là lỗi của cha mẹ vậy.
Tại đất nước nầy, nếu đề xướng về hiếu đạo, thì một số thanh niên sẽ
phản đối. Nếu đề xướng về làm "hippi" hoặc hút độc .v.v., thì họ
hoan nghênh, nhiệt liệt ủng hộ. Dạy họ hướng về hạ lưu thì cho rằng
tốt, dạy họ hướng về thượng lưu thì cho rằng xấu, chẳng phải là đáng
thương xót chăng ?
Pháp luật trên thế giới đều khác nhau.
Ðồng thế ấy, tại nước nầy thì hợp pháp, đến nước khác thì phạm pháp.
Có nước cho đàn ông để tóc dài râu dài, cho rằng là tiến bộ, hiện
đại, tân thời. Có nước cho rằng sẽ ảnh hưởng trị an xã hội. Ðất nước
nầy không hoan nghênh người hiếu thuận, nước nọ thì hoan nghênh
người hiếu thuận. Cho nên, trên thế giới nầy rất nhiều việc quái lạ,
do đó:
"Mười dặm không đồng phong,
Trăm dặm không đồng tục".
Viêc trên thế gian trăm kỳ ngàn quái rất khó nói, chẳng phải một đạo
lý mà nói xong.
Tại đất nước tây phương trước kia chẳng có Phật giáo, ai ai cũng đều
không cảm thấy thế nào là không tốt, bây giờ có Phật giáo, ai ai
cũng không cảm thấy thế nào là tốt. Ðó là điên đảo tướng của chúng
sinh. Có khi thật thì họ cho rằng giả, có khi giả lại cho là thật.
Cho nên, một sự việc dùng một đạo lý nói thì không xong được. Song,
dùng lý luận Phật giáo nói thì viên mãn được. Nếu bạn tạo tội nghiệt
thì đọa lạc vào ba đường ác. Nếu bạn làm công đức lành thì vượt ra
tam giới. Cho nên nói, phàm là làm việc gì cũng không luống qua.
« Hoa Anh đắc được giải thoát nầy ». Ðạo lý môn giải thoát đã nói ở
trước, vị Hoa
Anh Lạc Chủ Trú Thần minh bạch, hiểu rõ được.
Lại nữa, Chủ Dạ Thần Phổ Ðức Tịnh Quang, được môn giải thoát, vui
tịch tĩnh thiền định đại dũng kiện.
Nghĩa lý ở trên chưa nói hết, bây giờ tiếp tục nói, cho nên gọi là
lại nữa.
Ở trên đã giảng qua Chủ Trú Thần, là Thần quản lý ban ngày. Ðương
nhiên cũng phải có Thần quản lý ban đêm. Những vị Chủ Dạ Thần nầy,
phân làm đầu hôm, giữa đêm và cuối đêm ba phần. Các vị Thần nầy quan
sát chúng sinh vào ban đêm, xem họ có tạo tội nghiệt chăng ? Nếu tạo
tội nghiệt thì ghi nhớ. Tương lai khiến cho họ thọ quả báo. Có khi
thấy chúng sinh tạo tội nhẹ thì không ghi nhớ, tựa như không biết.
Trong các vị Chủ Dạ Thần nầy, trong đó
có bảy vị là thiện hữu của Thiện Tài đồng tử, trong năm mươi ba vị
thiện tri thức. Vị Phổ Ðức Tịnh Quang Chủ Dạ Thần nầy, đức tính phổ
biến để lợi ích chúng sinh, để cứu hộ chúng sinh, để khiến cho chúng
sinh phát tâm đại bồ đề. Quang minh của vị nầy thanh tịnh vô ngại, ở
trong quang minh lại hiện quang minh, hiện ra đủ thứ quang minh vô
ngại, thật là diệu không thể tả.
Vị nầy đắc được môn giải thoát, vui tịch
tĩnh thiền định. Tịch là lặng yên không động, tĩnh là tĩnh mà thông
đạt, do đó Ềtĩnh cực quang thông đạtỀ, nghĩa là lặng đến chỗ cùng
cực, thì trí huệ quang sẽ hiện tiền. Tịch nhiên tức là :
« Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng ».
Vì tịch diệt, cho nên là tĩnh. Vì tịch tĩnh thì được thiền lạc.
Thiền định là gì ? Thiền là tiếng Phạn, đầy đủ là Thiền na, dịch là
"tĩnh lự". Vì tĩnh lự mới có thiền, không tĩnh lự thì không có
thiền. Ðịnh nghĩa là bất động, tóm lại, không động tức là định, động
thì chẳng phải định. Có thiền mà không định, có định mà không thiền,
thì không thể đắc được cảnh giới thiền duyệt vi thực. Công phu tu
thiền định là ngồi thiền. Thiền là phải ngồi xuống, thì công phu mới
hiện tiền, chẳng phải ngồi thiền là ngủ. Ngủ chẳng phải là ngồi
thiền, mà là thiền ngủ. Ngủ chẳng phải thiền, thiền không thể ngủ.
Khi nhập định thì lưng phải thẳng, đầu phải ngay, ngồi thẳng ngay
ngắn, đầu không chúi, thân không nghiêng, hai mắt nửa nhắm nửa mở,
đó là tư thế nhập định. Nhập định và ngủ khác nhau, ngủ thì mất đi
linh tri linh giác, hồ đồ trong hồ đồ nhập mộng, gì cũng chẳng biết.
Ðó là ngủ, chẳng phải định, nhập định cần có sức lực. Sức lực nầy
chi trì thân thể không nghiêng ngã, không ngã về trước, không
nghiêng về sau. Như thế, thì mới đắc được công phu thiền định.
Vui thiền định là gì ? Tức là ở trong định đắc được một thứ khoái
lạc không gì so sánh được. Thứ khoái lạc nầy, không cách chi có thể
hình dung, vượt ra khỏi sự suy nghĩ. Do đó :
« Ngôn ngữ đạo đoạn,
Tâm hành xứ diệt ».
Thứ vui thiền định nầy, là sự khoái lạc liên tục không ngừng, phải
là người trải qua cảnh giới nầy, mới biết được diệu lạc của nó.
Giống như:
« Như người uống nước,
Nóng lạnh tự biết ».
Thiền chẳng phải nói, mà là thực hành.
Có vui thiền định rồi, thì sinh ra một thứ tâm dũng mãnh tinh tấn,
thứ dũng mãnh tinh tấn nầy chẳng phải là tầm thường, mà rất đặc thù,
là một thứ đại dũng mãnh tinh tấn, là một thứ đại thiền định khoái
lạc. Thứ tinh tấn nầy là kiên cố nhất, sự khoái lạc nầy là hằng
thường nhất.
Ðại dũng kiện tức là định dụng, tức cũng là kham được chẳng sợ. Sức
lực nầy rất rộng lớn, chẳng có sức lực nào cản trở được. Vị Chủ Dạ
Thần nầy, đắc được môn giải thoát nầy. Vị nầy là thiện tri thức thứ
ba mươi hai của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Ly Cấu Ðịa,
đã chứng đắc địa thứ hai của bậc Bồ Tát.
Chủ Dạ Thần Hỉ Nhãn Quán Thế, được môn giải thoát, tướng công đức
thanh tịnh rộng lớn đáng ưa thích.
Vị Hỉ Nhãn Quán Thế Chủ Dạ Thần nầy, mắt luôn luôn hoan hỉ. Vị nầy
dùng mắt hoan hỉ, để quán sát tất cả chúng sinh thế gian. Nếu có
chúng sinh ở trong hoạn nạn, thì vị nầy duỗi tay ra cứu giúp chúng
sinh ra khỏi dầu sôi lửa bỏng, khiến cho họ được mát mẻ. Vì nhân
duyên đó, cho nên mới đắc được công đức tướng thanh tịnh rộng lớn
đáng ưa thích, đó là tâm của Bồ tát. Vị nầy đắc được môn giải thoát
nầy, và còn là thiện tri thức thứ ba mươi ba của Thiện Tài đồng tử,
tức cũng là Thiện Hữu Phát Quang Ðịa, đã chứng địa thứ ba của bậc Bồ
tát.
Chủ Dạ Thần Hộ Thế Tinh Khí, được môn giải thoát, hiện khắp thế
gian để điều phục chúng sinh.
Vị Hộ Thế Tinh Khí Chủ Dạ Thần nầy, bảo hộ tinh khí tất cả hữu tình
chúng sinh thế gian, khiến cho tinh khí của tất cả chúng sinh không
mất đi. Vì vị nầy phát nguyện bảo hộ tinh khí của chúng sinh, cho
nên hiện khắp trong thế gian. Vậy hiện khắp trong thế gian để làm gì
? Ðể điều phục chúng sinh cang cường. Vì tướng ngã của chúng sinh
quá sâu, ngã kiến quá nặng, cho nên dính mắc tại ngã tướng và ngã
kiến, dù thiệt thòi đi một chút cũng không được : "Ðây là ta, kia là
của ta". Tóm lại, không chịu mình thiệt thòi, không muốn mình chịu
khổ, đó đều là tác dụng của sự cang cường chấp trước. Vị Chủ Dạ Thần
nầy phát nguyện để điều phục chúng sinh, khiến cho họ đều vào môn
giải thoát, đều được lợi ích. Vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi
bốn của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Diệm Huệ Ðịa, đã
chứng địa thứ tư của bậc Bồ tát.
Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Hải Âm, được môn giải thoát, tích tập tâm
vui mừng rộng lớn.
Vị Tịch Tĩnh Hải Âm Chủ Dạ Thần. Tịch tĩnh hải âm là trong biển
chẳng có âm thanh sóng gió. Biển cũng nhập định, chẳng có âm thanh,
không nghe mà nghe, chẳng phải chẳng có âm thanh, mà là âm thanh
tịch tĩnh, ban đêm chẳng có âm thanh gì hết, cho nên gọi là Tịch
Tĩnh Hải Âm.
Vị nầy đắc được tâm vui mừng rộng lớn, tâm vui mừng nầy, do từng
chút từng chút tích tập mà thành, tức cũng là tích ít thành nhiều,
do đó: « Tích cát thành tháp », cho nên tụ tập tâm vui mừng rộng
lớn.
Ai ai cũng biết vui mừng là tốt, song nhiều khi vẫn bi ai hoặc buồn
phiền, tâm không vui mừng. Tại sao không vui mừng ? Vì chẳng tích
tập tâm vui mừng rộng lớn. Nếu tích tập được tâm vui mừng rộng lớn,
thì sẽ không buồn phiền.
« Tự cổ thần tiên vô biệt pháp,
Quảng sinh hoan hỉ không sinh sầu ».
Thần tiên thì tiêu dao tự tại, khoái lạc vô ngần, vì họ có tâm vui
mừng. Tại sao chúng sinh có khổ não? Vì có tâm bi ai, cho nên không
được khoái lạc luôn luôn.
Vị Chủ Dạ Thần nầy, đắc được tam muội tâm vui mừng rộng lớn, mà vào
môn giải thoát tâm vui mừng rộng lớn, vị nầy là thiện tri thức thứ
ba mươi lăm của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Nan Thắng
Ðịa, đã chứng đắc địa thứ năm của bậc Bồ tát.
Chủ Dạ Thần Phổ Hiện Cát Tường, được môn giải thoát, lời nói vừa
ý tự tại thâm sâu.
Vị Phổ Hiện Cát Tường Chủ Dạ Thần. Cát tường là hiện tượng tốt, hung
ác là hiện tượng xấu, cho nên ai ai cũng thích cát tường mà chẳng
thích hung ác. Do đó : « Cát tường như ý », cát tường là chẳng có
việc xấu, như ý là toại tâm như ý. Vị nầy hiện ra khắp các hiên
tượng cát tường, nếu ai gặp được vị nầy, thì chắt chắn sẽ cát tường,
sẽ khoái lạc. Vị nầy đắc được tự tại thâm hậu phi thường, trong tâm
có sự cảm giác hoan hỉ. Ai nghe được lời nói và âm thanh cũng đều
vừa ý, đều vui mừng, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được. Vị nầy là
thiện tri thức thứ ba mươi sáu của Thiện Tài đồng tử, cũng là thiện
hữu Hiện Tiền Ðịa đã chứng được địa thứ sáu của bậc Bồ Tát.
Chủ Dạ Thần Phổ Phát Thụ Hoa, được môn giải thoát, quang minh đầy
khắp hoan hỉ tạng rộng lớn.
Vị Phổ Phát Thụ Hoa
Chủ Dạ Thần nầy, khiến cho tất cả cây cối đồng thời
nở hoa. Môn giải thoát của vị nầy đắc được là, phóng quang minh đầy
khắp pháp giới. Và còn đắc được hoan hỉ tạng rộng lớn, tức cũng là
hoan hỉ vô cùng vô tận. Vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi bảy của
Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Viễn Hành Ðịa, đã chứng
được địa thứ bảy của bậc Bồ Tát.
Chủ Dạ Thần Bình Ðẳng Hộ Dục, được môn giải thoát, khai ngộ chúng
sinh, khiến cho căn lành thành thục.
Vị Bình Ðẳng Hộ Dục Chủ Trú Thần nầy, bình đẳng bảo hộ và giáo dục
đối với tất cả chúng sinh, chẳng có tâm phân biệt, do đó: ỂMắt từ
trông chúng sinhỀ, khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được khai
ngộ và chứng quả bình đẳng.
Vị nầy đắc được môn giải thoát, khai ngộ chúng sinh, khiến cho chúng
sinh khai mở tri kiến của Phật, ngộ tri kiến của Phật, vào tri kiến
của Phật. Tức cũng là khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật. Khiến cho
tất cả chúng sinh, không trồng căn lành thì khiến cho họ trồng,
người đã trồng căn lành thì khiến cho tăng trưởng, đã tăng trưởng
thì khiến cho thành thục, đã thành thục thì khiến cho họ được giải
thoát. Vị nầy thường khiến cho căn lành của chúng sinh được thành
tựu viên mãn, vào môn giải thoát nầy. Vị nầy là thiện tri thức thứ
ba mươi tám của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Bất Ðộng
Ðịa đã chứng được địa thứ tám của bậc Bồ Tát.
Chủ Dạ Thần Du Hí Khoái Lạc, được môn giải thoát, vô biên từ cứu
hộ chúng sinh.
Vị Du Hí Khoái Lạc Chủ Dạ Thần nầy, thích du hí và khoái lạc. Giống
như trong đạo tràng của chúng ta, có những trẻ em chạy qua chạy lại
chơi đùa, chúng cho rằng đó là chơi vui, đó là du hí. Trẻ con đến
đây chẳng nghe kinh, mà chỉ đùa giỡn chạy la ồn ào, đó là khoái lạc.
Chúng ta chúng sinh ở trong thế giới nầy cũng thế. Chư Phật Bồ Tát
xem chúng ta cũng như trẻ con, chạy nhảy đùa giỡn, suốt ngày điên
đảo thị phi. Chúng ta đều cảm thấy là khoái lạc. Vì chúng sinh thích
du hí khoái lạc, cho nên vị Chủ Dạ Thần nầy, dùng sự du hí khoái lạc
để giáo hóa chúng sinh, để khai đạo chúng sinh.
Vị nầy đắc được môn giải thoát, vô biên
từ cứu hộ chúng sinh, dùng vô biên từ để ái hộ tất cả trẻ con. Có
những vị cư sĩ thấy có trẻ con thì không vui, cho nên không đến nghe
kinh. Họ không những chẳng đến nghe kinh, mà còn kêu người khác cũng
đừng đến nghe kinh. Thật ra, dù không có trẻ con, họ cũng không đến
nghe kinh, cũng không đến nghiên cứu Phật pháp, đó là khéo từ chối
mà thôi. Vậy họ nghiên cứu gì ? Nghiên cứu nhảy đầm, nghe âm nhạc,
xem truyền hình, họ dồn hết thời giờ vào những việc du hí vô ích,
cho rằng đó là khoái lạc.
Bây giờ, có những người tại gia và xuất gia rất tệ hại, họ chẳng
tinh tấn, không lạy Phật, không nghe kinh, không nghiên cứu Phật
pháp, ngược lại còn ganh ghét người khác đến đây nghe kinh nghe
pháp, còn khuyên họ đừng đến vô tri vô thức, nghe họ nói thế bèn
tin, cho rằng họ nói có lý. Họ nói: « Trẻ con ở trong đạo tràng vừa
khóc vừa la ồn ào, sư phụ giảng kinh lại nghe không rõ, không bằng ở
nhà xem truyền hình còn khoái lạc hơn ». Thật ra, đó là mượn cớ
không đến nghe kinh. Thứ người nầy, họ vốn chẳng muốn tu học Phật
pháp, còn làm ảnh hưởng đến người khác không học Phật pháp, cho nên
mới có tư tưởng như thế. Thật là dẫn người vào địa ngục, dẫn người
vào đường tà. Cho nên, các vị phải chú ý loại người nầy, đừng để mắc
lừa họ mà thối đạo tâm.
Vô biên từ tức là tha thứ cho người, bất cứ ai khinh thường ta, hoặc
phỉ báng, vu cáo đều phải nhẫn nại.
Giống như trẻ con khóc, đừng đánh nó, cũng đừng chưởi nó, dùng lời
từ bi để nói với nó, thì từ từ nó sẽ hết khóc, đó là vô biên từ.
Chủ Dạ Thần Chư Căn Thường Hỉ, được môn giải thoát, môn đại bi
hiện khắp trang nghiêm.
Vị Chư Căn Thường Hỉ Chủ Dạ Thần nầy, mắt tai mũi lưỡi thân ý các
căn luôn luôn biểu hiện sự hoan hỉ. Sự hoan hỉ nầy là pháp hỉ sung
mãn. Nhãn căn thấy được pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Nhĩ căn
mà nghe được pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Tĩ căn mà ngửi được
pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Thiệt căn mà nếm được pháp thì
đắc được pháp hỉ sung mãn. Thân căn mà giác được pháp thì đắc được
pháp hỉ sung mãn. Ý căn mà biết được pháp thì cũng đắc được pháp hỉ
sung mãn. Cho nên gọi là Chư Căn Thường Hỉ Chủ Dạ Thần.
Tâm từ bi của vị nầy rất lớn, luôn luôn giáo hóa chúng sinh, ban đêm
bố thí tất cả pháp để gia bị cho tất cả chúng sinh, hoặc khiến cho
chúng sinh ở trong mộng, đắc được lợi ích pháp thí, hoặc là trong sự
ngồi nằm, cũng đắc được lợi ích pháp thí. Vị nầy thí pháp âm bình
đẳng, khiến cho chúng sinh phát tâm bồ đề, cải ác hướng thiện.
Chữ « chư » của chư căn nầy, có thể làm
từ trợ ngữ để nói. Từ trợ ngữ là nói một căn, tức là nói riêng về
nhãn căn thường hỉ. Vậy vừa mới giảng "chư căn", là nói nhãn nhĩ tĩ
thiệt thân ý sáu căn. Bây giờ lại nói là nhãn một căn. Nếu nói riêng
nhãn căn tức là từ trợ ngữ. « Chư » tức là chỉ một, cho nên nói nhãn
căn thường thường hoan hỉ.
Vị Chủ Dạ Thần nầy làm việc ban đêm. Làm
việc gì ban đêm ? Vị nầy dùng pháp thí để cứu hộ tất cả chúng sinh,
cho nên đắc được môn giải thoát, hiện khắp tất cả các nơi để trang
nghiêm cõi Phật. Tất cả công đức của vị nầy làm, đều hồi hướng cõi
nước chư Phật mười phương, đều trang nghiêm cõi nước chư Phật trong
mười phương. Ðó gọi là dùng sự trang nghiêm cho Phật, mà tự trang
nghiêm cho mình, trang nghiêm cõi nước chư Phật, tức là trang nghiêm
cõi nước chính mình. Tại sao ? Vì khi tương lai thành Phật, thì cõi
nước của mình càng tô điểm trang nghiêm mỹ lệ. Vì phát tâm lớn vô
lượng vô biên không thể tả, cho nên đắc được sự trang nghiêm cũng vô
cùng vô tận không thể tả.
Vị nầy dùng môn đại bi trang nghiêm, để
phổ độ tất cả chúng sinh. Ðại bi tức là cứu khổ chúng sinh, khiến
cho chúng sinh lìa khổ được vui, vị nầy dùng pháp môn nầy, minh bạch
được cảnh giới nầy mà đắc được môn giải thoát nầy.
Vị nầy dùng môn đại bi hiện thân trang nghiêm, để cảm hóa chúng
sinh, cho nên có câu chuyện « Thạch ốc lưu ảnh, độc long hoa tâm ».
Phật nói với tôn giả A Nan rằng: Trước kia, Như Lai đến núi Cổ
Tiên, nước Na Càn Ha La, tại rừng Hoa Ðảm Bặc, bên hồ của rồng độc ở
phía sau suối thanh liên hoa. Ở trong động La
Sát, có năm con quỷ La
Sát, biến hóa làm long nữ và thông dâm với rồng
độc. Rồng độc làm mưa đá, khiến cho quỷ La
Sát chạy
tán loạn, do đó tạo thành tai nạn đói khát và bệnh ôn dịch. Hoạn nạn
trải qua hơn bốn năm, vị quốc vương sợ hãi bèn khấn vái thần linh
nhưng chẳng kết quả.
Lúc đó, có vị Phạm Chí tán thán công đức của Phật, cho nên vị quốc
vương mới đốt hương khấn vái ở xa thỉnh đức Như Lai. Như Lai nhận sự
thỉnh mời của quốc vương
Phất Ba Phù Ðề nước Na Càn Ma La, thị hiện thần
thông biến hóa rộng lớn. Quỷ La
Sát và
rồng độc đều thọ sự cảm hóa, cải tà quy chánh. Lúc đó, Long vương
quỳ chắp tay ở trước Phật, thỉnh Phật ở lâu chỗ nầy, nói : « Nếu
Phật không ở thì tôi sẽ phát tâm ác, không thể đắc được Vô thượng bồ
đề, cho nên Phật mới hứa khả mà không rời hang rồng ».
Một lần nọ, Phật nhận lời mời của Long Vương vào thành giáo hóa, du
hành đến những nơi mà đã từng hành Bồ Tát đạo trong qúa khứ, lúc đó,
các loài rồng thấy được Phật muốn bỏ đi, mới khóc lóc thỉnh cầu đức
Phật từ bi ở lâu, bèn nói với Phật: « Tại sao muốn bỏ chúng tôi mà
đi ? Mỗi ngày tôi không thấy được tôn dung của Phật, thì sẽ làm việc
ác, chắt sẽ phải đọa vào ba đường ác ».
Lúc đó, Phật an ủi Long Vương nói: « Ta
đã nhận sự thỉnh cầu của nhà ngươi rồi, ngồi ở trong hang của nhà
ngươi một ngàn năm trăm năm », đức Phật nói xong, bèn vọt thân nhập
vào trong đá, tượng đó sáng rõ như gương. Do đó, các loài rồng luôn
luôn thấy được đức Phật ngồi kiết già ở trên vách đá, bóng hiện ra
ngoài. Nhờ đó, loài rồng chắp tay vui mừng, về sau không ra khỏi nơi
đó.
Chủ Dạ Thần Thị Hiên Tịnh Phước, được môn giải thoát, khiến khắp
tất cả chúng sinh đầy đủ sự vui thích.
Vị Thị Hiện Tịnh Phước Chủ Dạ Thần nầy, thường thị hiện ra cõi nước
thanh tịnh. Chúng sinh có phước đức đều được độ đến bờ kia. Vậy,
chúng sinh chẳng có phước đức thì không được độ chăng ? Cũng được
độ, nhưng thời gian phải chậm một chút, chẳng phải được độ cùng lúc.
Trước hết, độ chúng sinh bậc thượng, sau mới độ chúng sinh bậc
trung, cuối cùng thì độ chúng sinh bậc hạ, độ có thứ tự.
Thị hiện cũng như thế, trước hết thị
hiện cõi thanh tịnh, sau mới thị hiện cõi nước nửa tịnh nửa uế, cuối
cùng thị hiện cõi đời ác năm trược. Ðời ác năm trược là thế giới của
chúng ta đây. Năm trược là: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược,
chúng sinh trược, mạng trược, năm thứ cấu trược. Vì có năm thứ không
thanh tịnh, cho nên ảnh hưởng thế giới của chúng ta đang ở, thành là
đời ác năm trược.
Vị Chủ Dạ Thần nầy, hiện sức đại thần
thông, quán sát khắp tất cả chúng sinh, ai có duyên chín mùi, thì đi
độ chúng sinh đó. Chúng sinh cơ duyên chưa chín mùi, thì phải chờ
đợi. Chúng sinh căn tánh kém nhất, thì đợi cuối cùng mới độ. Tóm
lại, bất cứ căn lành lợi, hoặc hạ liệt, đều được độ, song chia ra độ
trước độ sau mà thôi.
Phàm là việc chúng sinh ưa thích, thì vị Chủ Dạ Thần nầy, sẽ khiến
cho họ mãn nguyện. Ví như bạn thích chó, thì cho bạn một con chó
xinh đẹp, bạn thích mèo thì cho bạn một con mèo đáng mến. Có người
nói: ỂPháp sư giảng pháp gì vậy ?Ề Tức là giảng pháp chó mèo. Ðộ
người không được, thì độ chó mèo cũng không sai. Bạn đừng khinh
thường chó mèo, Phật Thích Ca trong quá khứ, vừa làm chó vừa làm
mèo, vừa làm nai, vừa làm rồng, cho nên tại Ấn Ðộ còn có cổ tích Lộc
dã uyển. Các bạn đừng xem thường tất cả chúng sinh, tất cả chúng
sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật.
Trên thế gian nầy, những gì con người
mong muốn mà được mãn nguyện thì vui vẻ, còn không được điều mà mình
mong muốn thì buồn rầu, đó là việc thường tình ! Trừ khi, người tu
hành đã đến nhà rồi thì miễn bàn.
Vị Chủ Dạ Thần nầy, đắc được môn giải thoát nầy. Chỉ cần chúng sinh
thích gì, thì vị nầy nhất định sẽ làm cho họ tùy tâm mãn nguyện.
Bấy giờ, Chủ Dạ Thần Phổ Ðức Tịnh Quang, nương oai lực của đức
Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Dạ Thần, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, là lúc nào ? Tức là khi vị Thị Hiện Tịnh Phước Chủ Dạ Thần,
nói kinh trường hàng xong rồi, thì lúc đó, vị Phổ Ðức Tịnh Quang Chủ
Dạ Thần, nương đại oai thần lực của Phật, quán sát khắp tất cả đại
chúng Chủ Dạ Thần, mà nói ra bài kệ để tán thán Phật.
Các ông hãy quán Phật tu hành
Rộng lớn tịch tĩnh như hư không
Biển dục vô tận đều trị tịnh
Ly cấu đoan nghiêm chiếu mười phương.
« Các ông hãy quán Phật tu hành ». Vị Phổ Ðức Tịnh Quang Chủ Dạ Thần
nói : Các ông hãy quán sát hạnh môn tu hành của Phật. Những pháp môn
Phật tu hành, là khó hành mà hành được, khó nhẫn mà nhẫn được. Người
chịu khổ không được mà Ngài chịu được. Hạnh người tu không được mà
Ngài tu được, cho nên hãy quán sát những khổ hạnh khó hành của Phật
tu.
Ðây chẳng phải nói suông là được, mà phải y pháp tu hành, tự mình
hỏi mình, Phật tu khổ hạnh khó hành mà tu được, ta có thể tu được
chăng ? Chẳng phải chỉ quán sát là xong, mà phải thực hành. Nếu
không thể y pháp tu hành, thì nên sinh tâm sám hối.
« Rộng lớn tịch tĩnh như hư không ». Hạnh môn của Phật tu là rộng
lớn nhất, tịch tĩnh nhất, giống như hư không. Hư không thì rộng lớn
không bờ mé, hư không thì tịch tĩnh không âm thanh. Tướng của hư
không là rộng lớn mà tịch tĩnh.
Phật chẳng có sự chấp trước, tu mà không tu, chứng mà không chứng.
Không tu, không chứng, không chấp trước, cho nên giống như hư không.
Hư không thì chẳng có tướng, nhưng không lìa tất cả tướng, cũng là:
« Tức tất cả tướng, lìa tất cả tướng ».
« Biển dục vô tận đều trị tịnh ». Dục vọng của con người chẳng có bờ
mé, cũng chẳng biết đủ, do đó:
« Nhân tâm bất túc xà thôn tượng ».
Dục niệm của con người chẳng có khi nào ngừng nghỉ, không bờ bến
giống như biển cả, cho nên gọi là biển dục. Biển dục của chúng sinh
tuy nhiên chẳng có bờ bến, song Phật dùng phương tiện pháp môn, làm
cho biển dục của chúng sinh đều được thanh tịnh, khiến cho chúng
sinh trở về cội nguồn, khôi phục lại bản lai chân diện mục, khiến
cho chúng sinh giác ngộ tất cả, biết rõ pháp thế gian là vô thường.
« Ly cấu đoan nghiêm chiếu mười phương ». Phật là pháp thân ly cấu
thanh tịnh, cho nên đoan chánh trang nghiêm đầy đủ, tức cũng là ba
mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân. Trí huệ quang
minh chiếu soi khắp mười phương thế giới. Bây giờ, chúng ta đang
giảng Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật, tức cũng là nơi trí huệ quang của Phật chiếu.
Tất cả thế gian đều thích thấy
Trong vô lượng kiếp gặp một lần
Ðại bi nghĩ nhớ khắp hết thảy
Môn giải thoát nầy Quán Thế thấy.
« Tất cả thế gian đều thích thấy ». Tất cả thế gian dù hữu tình hay
vô tình thế gian, bao quát tất cả chúng sinh trong mười phương. Ðều
thích thấy, tức là tất cả chúng sinh đều thích thấy được Phật.
« Trong vô lượng kiếp gặp một lần ». Song, trong vô lượng vô biên
đại kiếp, mới có thể gặp được Phật, chẳng phải thường gặp được Phật.
« Ðại bi nghĩ nhớ khắp chúng sinh ». Phật dùng tâm đại bi để giáo
hóa chúng sinh, nghĩ chúng sinh, tưởng chúng sinh, cho nên mới độ
chúng sinh. Phật đều tưởng nhớ tất cả hết thảy chúng sinh khắp mọi
nơi, cho nên nói đại bi nghĩ nhớ khắp chúng sinh.
« Môn giải thoát nầy Quán Thế thấy ». Môn giải thoát nầy, vị Hỉ Nhãn
Quán Thế Chủ Dạ Thần thấy hiểu biết được.
Người tu đạo phải ngày càng tinh tấn, ngày càng có tâm thành, ngày
càng có tâm sám hối. Nếu ngày càng lười biếng giải đãi, ngày càng
cẩu thả, tu hành như thế, thì vĩnh viễn chẳng có tiến bộ, đừng nói
đến sự thành tựu. Phải luôn luôn giữ chánh niệm, đừng khởi vọng
tưởng, đừng sinh dục niệm. Nếu muốn đừng sinh dục niệm, thì trước
hết phải giữ quy cụ. Quy cụ nầy chẳng phải là quy cụ của một người,
mà là quy cụ của mọi người. Mọi người phải giữ quy cụ, vì không
nương quy cụ thì không thể thành vuông tròn. Do đó, người tu đạo
không giữ quy cụ, thì cũng giống như gỗ mục, không thể đẽo gọt được,
cùng đạo lý ấy.
Nếu làm thầy Tỳ kheo mà không giữ quy cụ, thì chẳng có chút giá trị
gì. Thầy Tỳ Kheo mà không giữ quy cụ, thì người tại gia học Phật
pháp với thầy Tỳ kheo đó, càng không giữ quy cụ. Cử chỉ hành động
nói năng của thầy Tỳ Kheo, đều là mô phạm cho người, cho nên đi đứng
nằm ngồi, đều phải hợp với quy cụ, đó là oai nghi đại biểu của người
xuất gia.
Nếu Tỳ Kheo khinh sư mạn pháp, chẳng tôn
trọng đối với sư phụ, cũng chẳng cung kính đối với pháp, thì đó là
làm Tỳ Kheo gì ? Ðừng nói đến muốn khai ngộ, muốn thành Phật. Như
thế chỉ là càng ngày càng đọa lạc, làm Tỳ Kheo không hiểu quy cụ,
thật không bằng người tại gia. Người tại gia đều hiểu được quy cụ,
đều biết đi thỉnh pháp, phải đắp y trì cụ. Ngược lại, làm Tỳ Kheo mà
không hiểu quy cụ nầy, vậy làm Tỳ Kheo gì vậy ? Tôi thấy thứ người
nầy, thật rất là đau lòng !
Ðạo Sư cứu hộ các thế gian
Chúng sinh đều thấy ở trước họ
Khiến cho các cõi đều thanh tịnh
Hộ Thế quán sát được như vậy.
« Ðạo sư cứu hộ các thế gian ». Ðạo sư tức là sư tiếp dẫn, tức cũng
là đức Phật. Vị Phật nầy tức là Phật Thích Ca Mâu Ni, chẳng phải
mười phương ba đời tất cả chư Phật. Song, mười phương ba đời tất cả
chư Phật, và Phật Thích Ca Mâu Ni, đều cứu hộ các thế gian, cứu tất
cả các chúng sinh ra khỏi biển khổ, đồng thời bảo hộ tất cả chúng
sinh và tất cả hữu tình thế gian.
« Chúng sinh đều thấy ở trước họ ». Phật
xuất hiện ra đời, tất cả chúng sinh đều thấy được Phật ở trước mặt
họ, để vì họ thuyết pháp. Ðây cũng giống như mặt trăng hiện khắp ở
trong tất cả nước. Mặt trăng trong tất cả nước, vẫn do một mặt trăng
hiện ra. Bây giờ, Phật hiện ra ở trước mặt chúng sinh. Tâm của chúng
sinh tức là nước, Phật là mặt trăng, nếu tâm nước của chúng sinh
lắng trong không đục, thì mặt trăng sẽ hiện tiền. Do đó:
« Phật thị thanh lương nguyệt,
Thường du tất kính không,
Chúng sinh tâm cấu tịnh,
Bồ đề ảnh hiện trung ».
Nghĩa là:
Phật như mặt trăng mát mẻ,
Thường lơ lửng trong hư không,
Tâm nước chúng sinh lắng trong,
Bồ đề giác đạo sẽ hiện ra.
« Khiến cho các cõi đều thanh tịnh». Phật khiến cho tất cả chúng
sinh ở trong các đường ác, đều được tội diệt phước sinh, nghiệp sạch
tình không, đều đắc được nghiệp báo thanh tịnh.
« Hộ Thế quán sát được như vậy ». Cảnh giới nầy, vị Hộ Thế Tinh Khí
Chủ Dạ Thần quán sát được, hiểu biết được.
Xưa Phật tu trị biển hoan hỉ
Rộng lớn vô biên không thể dò
Nên ai thấy được đều vui thích
Tịch Tĩnh Hải Âm ngộ thấy được.
« Xưa Phật tu trị biển hoan hỉ ». Ðức Phật trong vô lượng kiếp về
trước, khi bắt đầu tu hành và trị lý, thì tu hành hoan hỉ. Do đó:
« Tự cổ thần tiên vô biệt pháp,
Quảng sinh hoan hỉ bất sinh sầu ».
Thần tiên thì chẳng còn sinh tử, các Ngài đều tu hành hoan hỉ.
Hạnh hoan hỉ tức là đối với bất cứ người nào, cũng luôn luôn sinh
tâm hoan hỉ, dù họ đối với mình không tốt, mình cũng sinh tâm hoan
hỉ đối với họ. Tu hạnh hoan hỉ phải có tâm thường hằng mới thành
tựu. Chẳng phải tu mười ngày, hai mươi ngày thì thành công, mà là
phải tu hạnh nầy đời đời kiếp kiếp, tức là không nóng giận đối với
bất cứ ai, không sinh phiền não với bất cứ ai. Chỉ tu hành tiến tới,
không thối lùi về sau, tinh tấn tinh tấn càng tinh tấn, dũng mãnh
dũng mãnh càng dũng mãnh !
Trong quá khứ, Ðức Phật tu hành hoan hỉ, thì bất cứ ai đối với Ngài
không tốt, Ngài cũng đều sinh tâm hoan hỉ, mà không sinh tâm phiền
não, cũng chẳng nóng giận. Chúng ta là đệ tử của Phật, thì hãy y
theo hạnh của Phật tu mà tu hành.
Trong Thái Căn Ðàm có mấy câu :
« Quang phong tế nguyệt, thảo mộc hân hân
Nộ vũ tật phong, cầm điểu thê thê
Cố thiên địa bất khả nhất nhật vô hoà khí,
Nhân tâm bất khả nhất thời vô hỉ thần ».
Ðại ý là: Trời chẳng có mây gió, thì ánh trăng rạng soi, cỏ cây đều
vui vẻ hớn hở. Khi cuồng phong bạo vũ nổi lên, thì cầm thú chim chóc
đều bị thảm thê lương. Vì nguyên nhân đó, cho nên giữa trời đất, một
ngày không thể chẳng có hòa khí; trong tâm con người, phải luôn luôn
hoan hỉ vui vẻ.
« Rộng lớn vô biên không thể dò ». Biển hoan hỉ rộng lớn chẳng có bờ
bến, không thể đo lường.
« Nên ai thấy được đều vui thích ». Vì nhân duyên đó, cho nên chúng
sinh thấy được Phật, đều sinh tâm hoan hỉ vui vẻ.
« Tịch Tĩnh Hải Âm ngộ thấy được ». Cảnh giới nầy, môn giải thoát
nầy, vị Tịch Tĩnh Hải Âm Chủ Dạ Thần minh bạch được.
Cảnh giới Như Lai không thể lường
Tịch mà diễn được khắp mười phương
Khiến khắp chúng sinh tâm thanh tịnh
Thi Lợi Dạ Thần nghe nhảy nhót.
« Cảnh giới Như Lai không thể lường ». Như Lai tức là:
"Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu".
Bậc Như Lai giống như đến mà chẳng đến. Có đi chăng ? Cũng chẳng đi.
Không đến không đi, cho nên gọi là Như Lai. Như Lai là một trong
mười hiệu của Phật, tức cũng là Phật. Cho nên, Như Lai tức là Phật,
Phật tức là Như Lai.
Một số người không hiểu Phật pháp, gọi Phật là Như Lai Phật. Thật
ra, tức là Phật Phật, Phật Phật đạo đồng, Phật Phật đều như nhau.
Phật và Phật là một thể, giống như quang minh với quang minh là một.
Tuy nhiên quang minh có màu đỏ, màu vàng, màu trắng, màu tía, nhưng
quang minh tương hợp, đều là quang minh. Phật với Phật chẳng phân
biệt đó đây, cho nên mới nói:
« Ba đời mười phương Phật,
Ðều cùng một pháp thân ».
Tức cũng là một pháp thân, một quang minh.
Phật thì một quang minh, tại sao chúng ta chẳng phải là một quang
minh ? Song, quang minh chẳng phải là một, nhưng khí là một. Khí là
gì ? Tức là nóng giận. Bạn có nóng giận, tôi cũng có nóng giận, y
cũng có nóng giận, mọi người cũng có nóng giận. Nếu biến sự nóng
giận nầy, thành quang minh thì tốt biết bao ! Nếu tiêu diệt được sự
nóng giận thì là quang minh, tức là trí huệ. Tại sao con người ngu
si ? Vì có nóng giận. Nóng giận là do vô minh phiền não tích tập mà
thành. Có sự nóng giận thật là đáng thương xót, phải biết lửa vô
minh thường thiêu đốt rừng công đức. Vì có sự nóng giận cho nên sinh
tâm sân hận. Tâm sân hận sinh ra rồi, thì tâm sát hại cũng sinh ra.
Phải biết : Tâm sát hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối, uống rượu, đều
từ vô minh, phiền não, nóng giận, mà biến thành.
Cho nên, tôi mới nói sự nóng giận của
con người là như nhau. Nhất là, tôi là người xuất gia tâm tham dễ
sợ. Tham gì ? Tham sự nóng giận của người khác. Tôi muốn hết thảy
mọi người, hãy đem tâm nóng giận bố thí cho tôi. Song, các bạn những
người Mỹ đều xả bỏ chẳng đặng. Ôm ấp sự nóng giận, so với trân châu
đá quý còn quý hơn. Bây giờ, nói với các bạn, xả bỏ không được cũng
xả bỏ, không xả bỏ không được, không xả bỏ thì chẳng có phần thành
Phật. Nếu xả bỏ được thì sẽ có phần thành Phật.
Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, song tất cả chúng sinh đều có ma
tánh. Ma tánh tức là nóng giận. Bạn hãy nghĩ xem, có nóng giận thì
sẽ tác quái, không có nóng giận, thì trở về nguồn cội, hiện ra đại
quang minh tạng, Bát nhã trí huệ.
Tôi giảng nãy giờ quên mất thời gian, quên mất đề mục, nhưng hiện
tại lìa đề chưa xa lắm, bây giờ trở lại ! Trở lại đâu ? Trở lại cảnh
giới của Phật ở trên. Có người nói : Hòa Thượng có hiểu biết cảnh
giới của Phật chăng ? Tôi chỉ hiểu biết chút chút cảnh giới của
Phật, nhưng không nhiều. Người khác lại hỏi: ỂTại sao nói hiểu biết
chút chút ?Ề Vì cảnh giới không thể lường được, chẳng có số lượng,
chẳng có bờ bến, hoặc là không thể nói không thể nói. Tôi chỉ hiểu
được cảnh giới không thể nói. Cảnh giới nầy tức là chỗ tôi biết. Nếu
bạn truy cứu gốc rễ, thì cứu kính không thể nói ! Có người lại hỏi:
’’Tức nhiên là không thể nói, sao còn phải nói" ? Tôi cũng không thể
nói, bạn cũng không cần hỏi. Tôi cũng không thể nói, đó là cảnh giới
của Phật, bạn cũng không cần hỏi, đó tức là cảnh giới của Phật. Biết
được chút chút nầy thì khá rồi, đừng biết quá nhiều, quá nhiều thì
có phiền não. Lại có người hỏi : ‘’Chút chút nầy là gì ? ‘’Tức là
phá vô minh, hiển pháp tánh. Phá được vô minh, thì pháp tánh tự
nhiên sẽ hiển hiện ra, đó tức là chút chút cảnh giới của Phật. Minh
bạch được cũng là cảnh giới của Phật, tất cả tất cả đều là cảnh giới
của Phật. Nếu không minh bạch, cũng là cảnh giới của Phật. Bất quá
bạn không biết, tạm thời chẳng thấu hiểu mà thôi. Ðó là đạo lý cảnh
giới của Phật không thể lường.
‘’Tịch mà diễn được khắp mười phương’’. Cảnh giới của Phật là:
’’Tĩnh lặng không động,
Cảm mà toại thông.’’
Tĩnh lặng không động, mà chẳng có tướng tịch diệt, cảm mà toại
thông, mà chẳng có tướng động. Cho nên mới nói: Tịch mà diễn được
khắp mười phương. Nghĩa là : Không động đạo tràng mà khắp cùng pháp
giới. Ðạo tràng, vì tịch mà diễn được, ở trong tĩnh lặng, Phật vì
chúng sinh trong mười phương pháp giới, mà diễn nói diệu pháp.
Chúng ta đến chỗ nầy, thì chỗ kia chẳng có, đến chỗ nọ, thì chỗ nầy
chẳng có. Vì không thể phân thân, cho nên không thể tịch mà diễn
được. Ðộng tức là ngồi máy bay đến nơi nào đó để diễn nói, hoặc ngồi
thuyền đến nơi đó để diễn nói. Phật có trăm ngàn ức hóa thân, cho
nên tịch mà diễn được, không cần mua vé máy bay, hoặc tàu, mà đến
khắp cùng mười phương thế giới, vì chúng sinh diễn nói diệu pháp.
Có người nói: ’’Ðó thật là quá thần diệu ! Nhưng bây giờ là thời đại
khoa học, con người đi đến được mặt trăng mà còn giảng như thế, thật
là không thực tế’’! Tức nhiên bạn nói điều nầy không thực tế, vậy
thì bạn hãy đi tìm thực tế ! Tôi tin rằng bạn tìm chẳng được. Tự
tánh của chúng ta có sự diệu dụng như vậy. Song, bạn chẳng minh bạch
được đạo lý nầy. Giống như trong túi áo của bạn có hạt minh châu, mà
bạn chẳng biết dùng nó, tuy là có mà giống như không có. Nếu bạn
dùng được nó, thì ngàn biến vạn hóa, tùy tâm mãn nguyện, nhưng bạn
phải biết dùng. Nếu không dùng được, thì như ý cũng không như ý, còn
dùng được, thì không như ý cũng như ý.
Tại sao chúng ta có vô minh ? Vì ‘’ý‘’ chẳng thanh tịnh. Tại sao
chúng ta có phiền não ? Vì ‘’ý‘’ chẳng thanh tịnh. Nếu ý thanh tịnh,
thì vô minh cũng phá tan, phiền não cũng dứt. Vô minh không thể phá
tan, thì phiền não không thể dứt. Tại sao ? Vì phiền não phải biến,
biến gì ? Biến phiền não thành bồ đề, phá vô minh thành trí huệ.
Nếu đoạn được phiền não, làm sao biến thành bồ đề ? Cho nên không
cần đoạn trừ, mà biến nó thành bồ đề. Phiền não tức là không minh
bạch, mới sinh phiền não, bồ đề tức là minh bạch, mới sinh bồ đề. Ví
như băng là phiền não, nước là bồ đề. Chẳng phải bảo đem băng nấu
cho khô sạch, thì gọi là đoạn phiền não, không phải vậy !
Hãy làm cho băng tan thành nước, do đó : ’’Băng tức là nước, nước
tức là băng’’. ‘’Phiền não tức là bồ đề, bồ đề tức là phiền não.’’
Tóm lại, bạn minh bạch tức là bồ đề, bạn hồ đồ tức là phiền não.
Phiền não và bồ đề chẳng hai, mà là một. Cho nên đừng "đầu lại thêm
đầu", ở ngoài phiền não đi tìm bồ đề. Kinh văn ở trên nói khắp mười
phương. Phiền não cũng khắp mười phương, bồ đề cũng khắp mười
phương, trí huệ quang minh của Phật cũng khắp mười phương, đó đều có
mối quan hệ với nhau.
Tại sao nói phiền não, vô minh, nóng giận, đều khắp mười phương ? Lý
nầy rất đơn giản, vì trong mười phương đều có chúng sinh, có chúng
sinh thì có phiền não, vô minh, nóng giận. Bồ đề cũng như thế, cũng
khắp mười phương. Có chúng sinh thì có tánh bồ đề, tánh bồ đề tức là
Phật tánh, do đó:
"Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh,
Ðều có thể thành Phật".
"Khiến khắp chúng sinh tâm thanh tịnh". Trong Kinh Hoa
Nghiêm có
câu:
"Nếu ai muốn biết cảnh giới Phật,
Hãy tịnh ý mình như hư không".
Bạn muốn minh bạch cảnh giới của Phật, thì hãy làm cho ý thanh tịnh,
thanh tịnh như hư không, dù một cũng chẳng chỗ thanh tịnh, bị bụi
khói làm ô nhiễm. Tuy hư không bị ô nhiễm, đó là tính tạm thời, từ
từ sẽ thanh tịnh, không khí không thanh tịnh, không lâu thì sẽ thanh
tịnh. Phật khiến cho ý thức của tất cả chúng sinh được thanh tịnh,
chẳng có chút ô nhiễm tồn tại.
"Thi Lợi Dạ Thần nghe nhảy nhót". Thi Lợi tức là Phổ Hiện Các Tường,
vị Dạ Thần nầy nghe được cảnh giới không thể tả nầy, mà vui mừng
nhảy nhót, do đó: "Nghe pháp tâm quá đỗi vui mừng mà nhảy múa".
Tôn giả Ðại Ca Diếp, là đệ tử lớn của đức Phật, chuyên tu khổ hạnh,
cho nên xưng là đầu đà đệ nhất. Tôn giả nghe được pháp diệu quá êm
tai, chẳng kiềm chế được bèn nhảy múa lên, cho nên pháp khiến cho
ngu si chuyển thành trí huệ. Mục đích chúng ta học Phật pháp là học
trí huệ. Có trí huệ rồi, thì sẽ không tạo các nghiệp ác mà tạo các
nghiệp thiện. Vì có trạch pháp nhãn phân biệt được thiện và ác, đó
là tác dụng của trí huệ.
"Bày pháp tịch diệt lìa trần cấu". Phật
mở bày cho chúng sinh vô phước, phải lìa bỏ tất cả nhiễm trước.
Nhiễm trước tức là trần cấu, trần cấu thì không thanh tịnh, tức cũng
là đời ác năm trược. Trần cấu nhiều thì sẽ đọa lạc, đọa đi xuống tức
là trần cấu. Ðọa lạc vào đâu ? Vào ba đường ác. Bụi trần tuy nhiên
từng hạt từng hạt, song, nhiều rồi thì trọng lượng cũng không nhẹ,
cho nên phải lìa khỏi sự bám níu, sự bám níu tức là nghiệp chướng,
lìa khỏi nghiệp chướng thì đắc được pháp tịch diệt.
"Phổ Phát Hoa
Thần ngộ môn này". Ðạo lý vừa giảng ở trên, vị Phổ
Phát Thụ Hoa
Chủ Dạ Thần, minh bạch cảnh giới nầy, mà vào môn
giải thoát nầy.
Ðại thần thông hiện khắp mười phương
Tất cả chúng sinh đều điều phục
Các loại sắc tướng đều khiến thấy
Bình Ðẳng Hộ Dục quán sát được.
"Ðại thần thông hiện khắp mười phương". Phật có thể hiện thần thông
rộng lớn khắp trong mười phương. Tại sao phải hiện khắp thần thông
rộng lớn ? Vì muốn độ khắp chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được
vui.
"Tất cả chúng sinh đều điều phục". Hết thảy chúng sinh không dễ gì
điều phục. Trong Kinh Ðịa Tạng nói: "Chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù
Ðề cang cường khó điều khó phục".
"Các loại sắc tướng đều khiến thấy". Phật thị hiện đủ loại pháp
thân. Tại sao ? Vì khiến cho chúng sinh thấy được thân của Phật, mới
tín ngưỡng Phật pháp. Trong Kinh Pháp Hoa nói : "Ðáng dùng thân gì
độ được, thì hiện ra thân đó mà vì họ thuyết pháp".
"Bình Ðẳng Hộ Dục quán sát được". Cảnh giới nầy, vị Bình Ðẳng Hộ Dục
Chủ Dạ Thần, quán sát được mà vào môn giải thoát nầy.
Mỗi niệm của Như Lai xưa kia
Ðều tịnh phương tiện biển từ bi
Cứu hộ khắp hết thảy thế gian
Giải thoát nầy của Phước Lạc Thần.
"Mỗi niệm của Như Lai xưa kia". Phật ở trong vô lượng kiếp quá khứ,
mỗi niệm đều không quên cứu độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa
khổ được vui.
"Ðều tịnh phương tiện biển từ bi". Tu pháp môn phương tiện nầy, đều
hoàn toàn thanh tịnh. Dùng phương tiện để tăng trưởng tâm từ bi,
dùng tâm từ bi để trợ giúp phương tiện, tương trợ lẫn nhau. Từ bi
nhiều thì giống như biển cả, cho nên gọi là biển từ bi.
"Cứu hộ khắp hết thảy thế gian". Phật vì
cứu hộ chúng sinh hữu tình thế gian, nơi nào có chúng sinh, thì Phật
đều thị hiện pháp thân, hoặc hóa thân. Trên thế gian, chẳng có nơi
nào mà Phật không hiện thân. Phật là Ðạo sư vĩ đại nhất, từ bi nhất.
Ngài tuyệt đối không bỏ một chúng sinh nào, dù chúng sinh này đã tạo
ác nghiệp, chướng che bản tâm, không kham nạp thọ, thế mà Phật cũng
nguyện cứu hộ họ. Hạnh của Phật là không thể giáo hóa mà giáo hóa,
không thể độ mà độ hóa, vì tinh thần vĩ đại, nguyện lực vĩ đại, từ
bi vĩ đại nầy, cho nên cứu hộ khắp hết thảy thế gian.
"Giải thoát nầy của Phước Lạc Thần". Môn giải thoát nầy, vị Du Hí
Khoái Lạc Chủ Dạ Thần đã chứng nhập được.
Chúng ta có muốn vào môn giải thoát nầy chăng ? Nếu muốn vào thì có
thể vào, không muốn vào thì không thể vào. Tại sao ? Vì tất cả đều
do tâm đạo, do đó:
"Người có chí, việc tất thành".
Chí muốn thành Phật, thì sẽ thành Phật; chí muốn thành Bồ Tát, thì
sẽ thành Bồ tát. Hãy xem chí nguyện của bạn để quyết định. Môn giải
thoát nầy, ai ai cũng có cơ hội vào. Nếu chẳng có hy vọng, thì Phật
giảng pháp môn nầy để làm gì ? Mục đích của Phật nói pháp, là dạy
chúng sinh y pháp tu hành. Nếu không y pháp tu hành, thì pháp vốn
chẳng có ích gì. Tức nhiên, Phật nói ra môn giải thoát nầy, thì bạn,
tôi, họ, đều có tư cách vào môn nầy. Song, phải phát tâm tinh tấn
dũng mãnh, tiến về trước, đừng lùi về sau. Như vậy, thì sẽ có hy
vọng vào môn giải thoát nầy.
Chúng sinh ngu si thường loạn trược
Tâm họ cứng độc rất đáng sợ
Như Lai thương sót mà ra đời
Chư Căn Thường Hỉ Thần ngộ được.
"Chúng sinh ngu si thường loạn trược". Chúng sinh tức là Phật, Phật
tức là chúng sinh, đừng ở ngoài chúng sinh mà đi tìm Phật, cũng đừng
ở ngoài Phật, mà đi tìm chúng sinh, cho nên, mười pháp giới không
lìa một tâm niệm, một tâm niệm đầy đủ mười pháp giới. Do đó, tâm,
Phật và chúng sinh là ba, chứ chẳng khác biệt, đó là chúng sinh.
Ngu si tức là trí huệ, trí huệ tức là
ngu si. Ðạo lý nầy không dễ gì hiểu được. Ví như bề mặt bàn tay, và
bề trái bàn tay, chuyển qua được tức là trí huệ, không chuyển qua
được tức là ngu si. Ngu si và trí huệ là một thể hai mặt. Nếu hiểu
thì là trí huệ, không hiểu thì là ngu si, chẳng có diệu lý gì thâm
áo ! Cho nên, đừng đầu lại thêm đầu, ở ngoài ngu si đi tìm trí huệ,
ở ngoài trí huệ lại đi tìm ngu si. Ðạo lý nầy, tức là tâm, Phật,
chúng sinh, cả ba không khác biệt.
Phiền não tức bồ đề, bồ đề tức phiền não, phiền não tức là ngu si,
bồ đề tức là trí huệ. Cho nên, phiền não và bồ đề là hai mà chẳng
hai, chẳng hai mà hai. Nói ra lời nầy, giống như chẳng có ý nghĩa là
bao, tức là ở trong cái chẳng có đại ý nghĩa, lại có đại ý nghĩa.
Nếu riêng ngoài tìm cái có đại ý nghĩa, thì đó tức là đầu lại thêm
đầu. Giống như sự ngu si của Diễn Nhã Ðạt Ða trong Kinh Lăng Nghiêm,
chạy khắp các đường phố đi tìm đầu, gặp người bèn hỏi : "Ðầu của tôi
chạy đi đâu mất rồi" ?
Thường loạn trược, tức là thường hỗn
loạn mà ô trược, nghĩa là không thanh tịnh. Thường và ngắn đều khác
nhau, song kéo dài một niệm làm tám vạn kiếp, thu tám vạn kiếp lại
làm một niệm, chẳng có mục đích nhất định là thường, là ngắn. Tức
nhiên chẳng có thường và ngắn, vậy, tại sao phải nói thường loạn
trược ? Ðó là đối với tư tưởng của chúng sinh mà nói. Nếu nói ra
thường loạn trược, thì chúng sinh nghĩ ta phải ngắn loạn trược, ngắn
lại ngắn đi thì chẳng có, tức là ý nghĩa nầy.
Tôi là pháp sư không biết giảng kinh, cũng chẳng biết giảng giải,
song tôi dùng tri kiến ngu si của tôi, để giải thích diệu pháp của
Như Lai. Tận hết sở tri kiến của tôi giảng ra, để làm tư liệu cho
mọi người tham khảo.
"Tâm họ cứng độc rất đáng sợ". Ðộc nầy không thể phá hoại, giống như
sự cứng rắn của đá kim cương, bất cứ vật gì cũng không thể phá hoại
được, cho nên gọi là cứng độc. Sự cứng độc nầy ở đâu ? Ở trong tâm
của chúng ta. Làm sao tâm sinh ra cứng độc ? Vì do tham sân si mà
có, cho nên gọi là ba độc. Chỉ có sự ngu si, thì chưa có vấn đề là
bao. Lão Tử nói: "Trí huệ xuất hữu đại ngụy". Nếu bạn ngu si thì
chẳng hư ngụy. Người có trí huệ mới làm điều hư ngụy. Lão Tử đã từng
nói đoạn nầy :
"Ðại đạo phế, hữu nhân nghĩa.
Trí huệ xuất, hữu đại ngụy.
Lục thân bất hòa, hữu hiếu tử.
Quốc gia hỗn loạn, hữu trung thần".
Tâm của chúng ta vì quá thông minh, cho nên mới có hư ngụy. Nếu ngu
si thì chẳng có hư ngụy. Nhưng ngu si không thể đầy đủ tham sân si
ba độc. Nếu ba độc đầy đủ, thì tâm cứng độc rất đáng sợ. Có gì đáng
sợ ? Vì sớm phải đọa địa ngục, có thể nói không đáng sợ chăng ? Nếu
làm ngạ quỷ, có thể nói không đáng sợ chăng ? Nếu biến thành súc
sinh, có thể nói không đáng sợ chăng ? Nếu có người cho rằng không
đáng sợ, vậy đừng ngại hãy thử xem, cứu kính đáng sợ hay chăng ?
"Như Lai thương xót mà ra đời". Như Lai
thương chúng sinh như mẹ thương con. Chúng sinh ở thế giới nầy tác
quái, khi thì sinh về cõi trời, khi thì làm người, khi thì làm quỷ,
khi thì làm A Tu La, khi thì làm súc sinh, khi thì đọa địa ngục. Du
hí ở trong sáu nẻo, trôi nổi ở trong luân hồi mà không biết về nhà.
Như Lai ở cõi Thường Tịch Quang đợi chờ, đợi rất lâu mà cũng chẳng
thấy trở về, cho nên mới đến thế giới của chúng ta. Ðến nơi chúng ta
ở để làm gì ? Thương xót chúng sinh, rờ đầu bạn, rờ đầu tôi, rờ đầu
họ, đó là rờ đầu gia bị, nói : "Thiện nam tử ! Thiện nữ nhân ! Các
con sớm tỉnh ngộ ! Ðừng tham luyến hồng trần, mau trở về cõi Thường
Tịch Quang ! "Ðó là Như Lai thương xót chúng sinh mà xuất hiện ra
đời.
Cõi Phật chia ra làm bốn thứ :
1. Cõi phàm, Thánh đồng ở : Tức là nơi Thánh nhân và phàm phu cùng ở
với nhau.
2. Cõi phương tiện hữu dư : Tức là nơi Thanh Văn và Duyên Giác ở.
3. Cõi thật báo trang nghiêm : Tức là nơi Bồ Tát ở.
4. Cõi Thường Tịch Quang : Là nơi chư Phật ở.
"Chư Căn Thường Hỉ Thần ngộ được". Vị Chư Căn Thường Hỉ Chủ Dạ Thần,
ngộ được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy.
Vị Chủ Dạ Thần nầy đã phát bồ đề tâm, chẳng có tư tưởng ích kỷ,
không muốn tự lợi, mà muốn lợi tha, cho nên nói lại môn giải thoát
nầy, để cho tất cả chúng sinh đều nghe, mỗi chúng sinh đều muốn nghe
môn giải thoát nầy.
Bạn muốn vào môn giải thoát nầy chăng ?
Rất hoan nghênh ! Bất cứ ai vào cũng đều chẳng có vấn đề, hoan
nghênh mọi người đều vào, nguyện tất cả chúng sinh đồng vào môn Bát
Nhã Ba La
Mật, hoan nghênh tất cả các vị thiện tri thức, đồng
vào môn Bát Nhã Ba La
Mật.
Xưa Phật tu hành vì chúng sinh
Tất cả mong cầu đều khiến đủ
Do đó thành tựu công đức tướng
Thị Hiện Tịnh Phước vào môn nầy.
"Xưa Phật tu hành vì chúng sinh". Phật tức là đức Phật Thích Ca,
cũng là mười phương ba đời tất cả chư Phật.
Vì Phật Phật đồng nhau. Một vị Phật tức là tất cả Phật. Tất cả Phật
là một vị Phật. Phật và Phật giống như quang minh với quang minh,
quang quang hợp với nhau, Phật Phật đồng nhau.
Xưa tức là trước kia, khi mỗi vị Phật
chưa thành Phật, hoặc gọi là xưa kia, tức cũng là thời gian vô lượng
kiếp.
Tu hành tức là tu chân hành đạo, đời đời kiếp kiếp đều tu hành như
thế. Trước kia, khi chưa thành Phật, dù việc rất nhỏ cũng chú ý cẩn
thận, tụ ít thành nhiều, từ từ biến thành đại tu hành. Ðại tu hành
lâu dần, thành pháp thân vạn đức trang nghiêm, cuối cùng thành Phật.
Tu hành tự mình hiểu chân lý, giác ngộ
chân lý, vẫn không quên chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng giác
ngộ, đó là tư tưởng tự giác giác tha của Bồ Tát. Bồ Tát có ba mục
tiêu lớn là : Tự độ độ tha, tự lợi lợi tha, tự giác giác tha. Tóm
lại, tất cả đều vì lợi ích chúng sinh, tuyệt đối không vì lợi ích
cho chính mình.
Giác ngộ có bắt đầu, có giữa, có cuối, tức cũng là tự giác, giác
tha, giác mãn. Cuối cùng đắc được giác hạnh viên mãn. Lúc đó, tự
giác cũng viên mãn, giác tha cũng viên mãn. Tám vạn bốn ngàn pháp
môn đều tu hành viên mãn. Tại sao phải như thế ? Vì muốn độ chúng
sinh, cho nên Phật mới tu hành.
Tại sao Phật không có việc tìm việc làm
? Ðã thành Phật rồi, thì ngồi tại đó tiếp nhận sự cúng dàng của tất
cả chúng sinh không tốt chăng ? Bất tất phải đi cứu độ chúng sinh ?
Vì Phật thấy tất cả chúng sinh với mình là một thể, cho nên phải độ
mọi người đều thành Phật, đó là hoài bão của Phật. Bất cứ chúng sinh
không nghe lời như thế nào, Phật cũng không thay đổi, vẫn thương xót
chúng sinh, cứu độ chúng sinh. Làm thế nào Phật cứu độ chúng sinh ?
Ở dưới đây đã nói ra.
"Tất cả mong cầu đều khiến đủ". Tất cả những gì trong tâm của chúng
sinh ưa thích, Phật đều khiến cho họ toại tâm mãn nguyện. Nguyện
vọng của chúng sinh đầy đủ, thì sẽ cảm tạ công đức Phật, thì sẽ gần
gũi Tam Bảo. Mục đích Phật tu hành là muốn độ chúng sinh, khiến cho
chúng sinh lìa khỏi biển khổ, chỉ cần quay đầu thì đến bờ kia.
"Do đó trọn thành công đức tướng". Vì Phật muốn cứu độ chúng sinh,
cho nên khiến cho cúng sinh đầy đủ mãn nguyện, chính Phật cũng đắc
được công đức tướng, Công đức tướng là gì ? Do nhân duyên nầy, cho
nên thành tựu đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm
tướng tốt, mà làm Ðạo Sư của trời người.
Những công đức tướng nầy, đều do quá khứ
tu hành mà thành tựu. Nếu có một pháp môn tu hành không thành tựu,
thì công đức tướng trang nghiêm nầy, cũng không viên mãn. Nếu nói
như thế thì có tướng chăng ? Phật là vô tướng. Tức nhiên là vô
tướng, sao còn nói công đức tướng ? Nếu Phật vô tướng, vậy bạn lại
tin Phật gì ? Phật là vô tướng vô bất tướng, chẳng có tướng vẫn tích
tập tất cả tướng. Vì tích tập tất cả tướng, thì trong đó bao quát có
công đức tướng.
"Thị Hiện Tịnh Phước vào môn nầy". Môn giải thoát nầy, vị Thị Hiện
Tịnh Phước Chủ Dạ Thần, thấy rõ mà ngộ nhập.
Bốn câu kệ nầy, đã giảng sơ lược xong, nếu giảng tỉ mỉ vẫn chưa
giảng hết. Ðạo lý của Kinh Hoa
Nghiêm là
đầy khắp pháp giới. Nghĩa lý của mỗi câu kệ đều đầy khắp pháp giới,
đầy đủ tám vạn bốn ngàn pháp môn. Cho nên, nếu giảng tỉ mỉ thì hết
thuở kiếp vị lai, cũng không thể giảng hết được. Tôi chỉ có thể nói
chút chút nầy, nếu nói nhiều tôi cũng không hiểu. Tuy nhiên nghĩa lý
rộng lớn, song tri thức của tôi có hạn, không thể giảng nhiều.
Vậy, tại sao tôi nói có nhiều nghĩa lý
như thế ? Vì khuyên các bạn tự đi nghiên cứu, tự phát huy, tự tìm ở
trong thật tạng. Vì nguyên nhân đó, cho nên tôi mới giảng chút chút.
Song, người nghe kinh, tất phải nghiên cứu minh bạch chút chút đạo
lý nầy, thì được ích lợi chẳng nhỏ. Nếu chút chút đạo lý nầy mà
không hiểu, thì làm sao hiểu vô lượng vô biên đạo lý ?
Tuy nhiên thường nói : "Một làm vô
lượng, vô lượng làm một". Nhưng thế nào là một làm vô lượng ? Thế
nào là vô lượng làm một ? Ðạo lý nầy, dạy bạn tự mình đi thể nghiệm,
đi lĩnh hội. Giống như ăn đồ ăn, có ăn mới no, không ăn thì không
no. Ăn rồi mới biết mùi vị, trước khi ăn không cách chi biết được
mùi vị gì, cho nên nói: Phải vào sâu tạng kinh, thì trí huệ sẽ như
biển. Phải sớm nghiền ngẫm, luôn luôn nghiền ngẫm thì mới đắc được
trí huệ.
Lại nữa, Chủ Phương Thần Biến Trụ Nhất Thiết, được môn giải
thoát, sức cứu hộ khắp hết thảy chúng sinh.
Nghĩa văn ở trước chưa giảng xong, nay tiếp tục giảng, cho nên gọi
là lại nữa.
Vị Biến Trụ Nhất Thiết Chủ Phương Thần. Phương là phương hướng.
Phương hướng tức là mười phương, mười phương là nơi ở của tất cả
chúng sinh. Phương có sự phân biệt một phương, bốn phương, tám
phương, mười phương. Bây giờ là biến trụ nhất thiết, có thể nói đến
mười phương. Không có biến trụ nhất thiết, thì có thể nói đến một
phương.
Mười phương thế giới, đều là chỗ ở của
vị Chủ Phương Thần nầy. Vị nầy ở trong mười phương thế giới để làm
gì ? Phải chăng hy vọng người đốt cho mình chút hương ? Cúng kiến ?
Lễ lạy ? Cung kính ? Chẳng phải ! Vị nầy đắc được sức cứu hộ khắp
tất cả chúng sinh, phải chăng sức lực nầy chính vị nầy đắc được ?
Chẳng phải, là nhờ thần lực của Phật gia bị, khiến cho vị nầy minh
bạch cảnh giới này. Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.
Cảnh giới và môn giải thoát nầy, là một trong vô lượng pháp môn của
Phật. Cho nên vị nầy đắc được sức cứu hộ khắp hết thảy. Sức cứu hộ
nầy là khắp hết thảy, chẳng có lựa chọn, chẳng có phân biệt. Chẳng
phải nói chúng sinh nầy đốt hương, cúng kiến, và lễ lạy tôi, thì tôi
cứu hộ cho, còn chúng sinh kia, không lễ lạy tôi, không cung kính
tôi, thì tôi không cứu hộ họ, chẳng phải như thế, mà là khắp hết
thảy. Bất cứ cúng dường hay không cúng dường, chỉ cần chúng sinh có
tai nạn, thì vị Chủ Phương Thần nầy đến cứu bạn. Bất cứ có tai nạn
hoặc không có tai nạn, vị nầy cũng đều đến cứu hộ chúng sinh. Nếu có
tai nạn thì có thể làm cho tiêu tai nạn, không có tai nạn thì có thể
khiến cho tai nạn không hiện tiền. Tóm lại, chúng sinh đã phát sinh
tai nạn, thì vị nầy cũng đến cứu, chúng sinh sẽ phát sinh tai nạn,
thì vị nầy cũng đến cứu, chúng sinh chưa phát sinh tai nạn, thì vị
nầy cũng đến cứu. Cho nên, gọi là sức cứu hộ khắp hết thảy, không
phân biệt chúng sinh thiện ác, cũng không lựa chọn chúng sinh thiện
ác, mà bình đẳng cứu hộ đồng đều, cho nên gọi là môn giải thoát, sức
cứu hộ khắp hết thảy chúng sinh.
Chủ Phương Thần Phổ Hiện Quang Minh, được môn giải thoát, nghiệp
thần thông thành tựu biện tài giáo hóa tất cả chúng sinh.
Vị Phổ Quang Minh Chủ Phương Thần nầy, quang minh hiện khắp trong
mười phương, khiến cho tất cả chúng sinh trong mười phương, thấy
được quang minh nầy, thì thành tựu nghiệp thiện, thành tựu nghiệp
thanh tịnh, thành tựu nghiệp thần thông. Thành tựu nghiệp thiện,
khiến cho tất cả chúng sinh, sinh phát tâm thiện, làm công đức thập
thiện, tu giữ năm giới. Thành tựu nghiệp thanh tịnh, thì khiến cho
nghiệp nhiễm ô của tất cả chúng sinh đều không, thì nghiệp thanh
tịnh sẽ có sở thành tựu. Thành tựu nghiệp thần thông, khiến cho tất
cả chúng sinh xa lìa ngu si, đắc được thần thông trí huệ. Cho nên
nói, vị nầy đắc được nghiệp thần thông thành tựu biện tài giáo hóa
tất cả chúng sinh.
Nghiệp thần thông trợ giúp cho người tu
đạo quả bồ đề, có thể dùng: "Sở tác dĩ biện, đại sự dĩ tất, bất thọ
hậu hữu". Những việc gì đáng làm đã làm xong, tất cả mọi việc cũng
đều hoàn thành, không còn trôi nổi trong sáu nẻo sinh tử luân hồi
nữa. Lúc đó, đắc được quả viên mãn không sinh không diệt, không dơ
không sạch, không tăng không giảm.
Vị Chủ Phương Thần nầy, đắc được cảnh giới nầy, vào môn giải thoát
nầy. Môn giải thoát nầy, là một pháp môn trong tám vạn bốn ngàn pháp
môn. Bất cứ người nào, chỉ cần chuyên tâm để tu pháp môn nầy, thì
đều có thể thành tựu, đều có thể vào môn giải thoát nầy.
Chủ Phương Thần Quang Hành Trang
Nghiêm, được môn giải thoát, đại quang minh phá tan
tất cả ám chướng sinh hỉ lạc.
Vị Quang Hành Trang
Nghiêm Chủ Phương Thần nầy, cũng phóng đại quang
minh, do định sinh huệ. Giới định huệ mà tu thành rồi, thì đắc được
quang minh, cho nên gọi là môn giải thoát đại quang minh.
Ðắc được đại quang minh mới có trí huệ, thì tự nhiên được giải
thoát. Tại sao chúng ta không được giải thoát ? Vì chúng ta chẳng có
trí huệ chân chánh. Vị Chủ Phương Thần nầy, nói ra cảnh giới nầy,
chúng ta cũng nên y pháp tu hành, thì cũng phá trừ được tất cả ám
chướng, chứng được môn giải thoát nầy.
Bây giờ, thời giờ còn lại là vấn đề nghiên cứu kinh văn, hy vọng mọi
người nêu ra vấn đề, để cùng nhau nghiên cứu, để mọi người phát biểu
ý kiến. Hôm nay giảng Kinh Hoa
Nghiêm, có những chỗ nào không đúng thì mọi người
hãy thảo luận.
Giảng kinh văn không cần giảng quá
nhiều, phải chân chánh hiểu rõ nghĩa kinh, thì mới đắc được pháp
ích. Nếu có chỗ nào không hiểu, tôi sẽ không ngại giảng lại lần nữa,
đến khi bạn minh bạch mới thôi. Bây giờ, mọi người đều có quyền nói,
đều có tư cách phê bình. Mọi người hãy đưa ra nghi vấn để thảo luận.
Nhất định phải phát huy hết nghĩa lý kinh văn, khiến cho ai nấy cũng
đều minh bạch hiểu rõ triệt để, như vậy thì không uổng thời gian
chúng ta ngồi lâu tại chỗ nầy.
Bây giờ có người đưa ra vấn đề. Làm thế nào được làm thần ? Có thể
nói "Thông minh chánh trực gọi là thần", chỉ cần thông minh, lời nói
lại ngay thẳng, đó tức là thần. Thần chẳng phải là kỳ quái gì, cũng
chẳng phải huyền diệu. Người trong âm là quỷ, người trong dương là
thần. Có đen tối tức là quỷ, có quang minh tức là thần. Thần chẳng
phải là đi tìm ở bên ngoài, chính mình có trí huệ tức là thần, chính
mình ngu si tức là quỷ. Chúng sinh ngu si lấy tham sân si làm chủ,
đó tức là chúng sinh quỷ ngu si. Chúng sinh thông minh lấy giới định
huệ làm chủ, đó tức là chúng sinh thần thông minh.
Thần có nhiều loại, nào là: Sơn thần,
thổ thần, thiên thần, địa thần, thảo thần, thụ thần, phong thần, vũ
thần, thủy thần, hỏa thần .v.v. Thần của Lão Tử nói là Cốc thần,
thần của nhà nho nói là Thiên thần. Lão Tử đã từng nói :
"Cốc thần bất tử, thị vị nguyên tẫn.
Nguyên tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn".
Cốc thần là ngoài trời đất, sức đại khí. Cốc thần là không chết cũng
không sinh, cho nên nói là cốc thần bất tử. Nguyên tẫn tức là con
đường sinh giữa trời đất, cho nên nói là làm căn bản của trời đất,
đó tức là Thiên địa căn.
Nhà nho nói :
"Sung thật nhi hữu quang huy chi vị đại,
Ðại hóa chi chi vị Thánh,
Thánh nhi bất khả tri vị chi thần".
Sung thật mà vẻ vang, đó là đại nhân. Lớn rồi lại khởi biến hóa, đó
là Thánh nhân, Thánh nhân chẳng kiêu ngạo, lớn mà nhỏ, nhỏ mà lớn.
Vị Thánh nhân nầy, tức là Khổng Lão Phu Tử. Thánh nhân cũng chẳng
biết, biến hóa cũng biến không ra, đó đều là không thể nghĩ bàn, đó
gọi là Thần.
Các bạn nói Thần cứu kính là gì ? Muốn
biết vấn đề làm thế nào mà thành Thần chăng ? Bây giờ không cần
nghiên cứu họ, chỉ cần nỗ lực dụng công tu hành, đến khi thành Phật,
thì lúc đó chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không thấy, đó
mới là Chánh Biến Tri, mà không phải là tà biến tri. Lúc đó, trên
thì biết được nhân duyên vô lượng kiếp, dưới thì biết được nhân
duyên vô lượng kiếp. Ðừng nói là Thần những gì cũng đều biết ! Bây
giờ lại hà tất không việc tìm việc làm ? Muốn biết pháp môn làm thần
? Phải chăng muốn làm thần ?
Vị Chủ Phương Thần nầy, với Thần vừa mới nói chẳng giống nhau, chẳng
phải Thần của bạn, cũng chẳng phải Thần của tôi, càng không phải
thần của họ, mà là Bồ Tát thị hiện làm thần. Những vị pháp thân Ðại
sĩ thị hiện làm thần, đến thế gian để giáo hóa tất cả chúng sinh.
Các Ngài vốn cũng là chúng sinh, vì tu hành mà thành Bồ Tát, tại sao
phải hỏi chúng sinh làm sao làm thần ? Tại sao không nghiên cứu
chúng sinh làm thế nào để thành Phật ? Tức nhiên, biết đạo lý chúng
sinh làm thế nào để thành Phật, thì cũng biết đạo lý chúng sinh làm
thế nào để làm thần. Vì Phật cao hơn Thần mấy vạn lần, do đó vấn đề
nầy chẳng phải là vấn đề.
Chủ Phương Thần Du Hành Vô Ngại, được môn giải thoát, hiện khắp
tất cả chỗ mà không mệt nhọc.
Vị Du Hành Vô Ngại Chủ Phương Thần nầy, bất cứ đi đến cõi nào cũng
đều không chướng ngại. Tại sao ? Vì vị nầy có thần thông biến hóa
diệu dụng, đến khắp tất cả cõi nước trong mười phương giáo hóa chúng
sinh, chịu mệt chịu nhọc, không sợ khổ, không sợ gian nan, chỉ cần
chúng sinh cải ác hướng thiện, thì dù khổ nhọc mấy cũng tình nguyện.
Thần mà Bồ Tát hóa hiện đều có tâm từ bi, xem chúng sinh như quyến
thuộc, cứu chúng sinh lìa khỏi lò lửa tam giới. Vị Chủ Phương Thần
nầy vào môn giải thoát nầy không mệt nhọc.
Hôm nay báo cáo với mọi người, một tin mới về Quả Du (Hằng Cụ) và
Quả Ðạo (Hằng Do) hai vị "Tam bộ nhất bái". Hai vị nầy lạy từ San
Francisco thẳng đến tiểu bang Seattle. Không ngờ lạy giữa đường quần
của Quả Ðạo bị rách nát, tình hình rách rất là nghiêm trọng, không
thể nào mặc quần rách rưới mà lạy, như vậy thì mất oai nghi. Hai vị
suy nghĩ tìm cách mãi mà chẳng có kết quả gì, chính lúc hết cách suy
nghĩ tìm tòi, thì hốt nhiên phát hiện ở giữa đường có một cái quần,
lượm lên xem thì cái quần đó không lớn không nhỏ, không dài không
ngắn, kích thước vừa vặn cho Quả Ðạo mặc. Các bạn nói có lạ chăng ?
Chủ Phương Thần Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc, được môn giải thoát, thị hiện
số danh hiệu đồng tất cả chúng sinh, mà phát sinh công đức.
Vị Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Chủ Phương Thần nầy, vĩnh viễn đoạn tuyệt mê
hoặc. Mê hoặc là gì ? Mê hoặc tức là chẳng thấy rõ gì hết, cũng
chẳng biết gì hết. Hoặc là mê hoặc, gì cũng chẳng rõ ràng, phải thì
cho là trái, trái thì cho là phải. Trắng thì cho là đen, đen thì cho
là trắng, nghĩa là nhận lý không thật, sinh khởi mê hoặc. Lại có thể
nói, lấy sự nhận làm lý, lấy lý nhận làm sự, sự lý chẳng phân biệt
rõ ràng, trắng đen chẳng phân biệt rõ ràng, thậm chí, ta, người,
cũng không phân biệt rõ ràng. Tại sao chẳng rõ ràng ? Vì sinh ra hồ
nghi, cho nên không tin bất cứ lý và sự. Giống như hồ ly mùa đông đi
qua sông, đi trên băng mà luôn luôn vẫn hoài nghi, sợ băng tan thì
lọt xuống nước, cho nên đi một bước, thì phải lắng nghe thử băng có
âm thanh gì chăng, nếu có âm thanh thì chứng minh băng không chắc
chắn, dễ lọt xuống nước, hành vi như thế là hồ nghi. Hồ ly khéo
nghi, đó là biểu hiện sự hoài nghi.
Trong Kinh Kim Cang có nói : "Ðoạn nghi sinh tin". Nghĩa là đoạn
được mê hoặc, thì sẽ sinh tín tâm, như thế thì có Bát nhã trí huệ
chân chánh.
Vị Chủ Phương Thần nầy, thường đoạn mê hoặc cho ai ? Thường đoạn mê
hoặc cho chúng sinh, khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác, cải ta quy
chánh, cho nên tên của vị nầy là Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Chủ Phương Thần.
Vị Chủ Phương Thần nầy, đắc được môn giải thoát: Thị hiện số danh
hiệu đồng tất cả chúng sinh, mà phát sinh công đức, tức cũng là Phật
hiện khắp số danh hiệu của tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng
sinh đều phát sinh công đức tâm bồ đề. Phật khiến cho chúng sinh,
chưa phát công đức bồ đề tâm, thì phát bồ đề tâm. Chẳng phải khiến
cho một chúng sinh phát bồ đề tâm, mà là khiến cho hết thảy chúng
sinh đều phát bồ đề tâm. Phát bồ đề tâm chẳng phải hôm nay tu hành,
thì hôm sau mới phát bồ đề tâm, mà là trong vô lượng kiếp về trước,
đã phát bồ đề tâm. Bất quá, đến bây giờ mới sinh ra một sức lực bồ
đề, tương lai sẽ kết quả giác bồ đề.
Có người nói : "Chẳng phải ! Lúc nào đó, tôi nghe kinh gì đó, thì
tôi phát tâm tin Phật". Bạn nghe được kinh, là nhân bồ đề xa. Nếu
chẳng có nhân bồ đề xa, thì vốn không cách chi nghe được kinh. Bạn
hãy nhìn xem ! Trên thế gian nầy có bao nhiêu người chẳng nghe được
kinh ? Có bao nhiêu chúng sinh chẳng nhìn thấy được Phật ? Chẳng
nghe được pháp ? Chẳng thấy được Tăng ? Những chúng sinh nầy, nhiều
vô lượng vô biên. Vậy họ đã phát bồ đề tâm chăng ? Ðã gieo hạt giống
bồ đề chăng ? Họ đều đã phát bồ đề tâm, và đã trồng xuống hạt giống
bồ đề. Song, giống như nhân sâm, nếu thấy người thì ẩn tàng dưới đất
sáu mươi năm, qua sáu mươi năm sau mới đội lên. Nếu như người không
thấy nó, thì mỗi năm nó sẽ lên.
Bồ đề tâm cũng như thế, nếu không gặp
ma, thì nó luôn luôn đều phát triển, nhưng khi gặp ma, thì cũng phải
ẩn tàng lại, ẩn tàng bao nhiêu năm ? Hoặc là ẩn tàng sáu mươi năm,
hoặc lâu hơn, chẳng có nhất định.
Có người nói : "Hòa Thượng ! Ðạo lý mà Hòa Thượng vừa nói nằm ở
trong bộ kinh nào" ? Nằm ở trong bộ kinh của tôi đây. Bạn muốn đọc
bộ kinh nầy của tôi, thì có đoạn kinh văn nầy. Bạn cũng có bộ kinh
điển nầy, nhưng kinh của bạn và tôi không dễ gì đọc.
Chủ Phương Thần Biến Du Tịnh Không, được môn giải thoát, luôn
luôn phát ra âm thanh vi diệu, khiến cho người nghe đều vui mừng.
Vị Biến Du Tịnh Không Chủ Phương Thần, thích du khắp hư không thanh
tịnh, cho nên gọi là Biến Du Tịnh Không Chủ Phương Thần.
Vị Chủ Phương Thần nầy, khắp cùng tất cả mọi nơi, minh bạch được
cảnh giới của Phật là, luôn luôn phát ra âm thanh vi diệu. Thứ diệu
âm nầy, cũng không nhất định, bất cứ loài chúng sinh nào nghe được,
cũng đều vừa ý của họ mà sinh vui mừng.
Bây giờ, nói về một chút cảnh giới vi diệu không thể nghĩ bàn. Phàm
là pháp sư giảng kinh thuyết pháp, đều có hộ pháp. Có chư Phật đến
hộ pháp, có Bồ Tát đến hộ pháp, có Thanh Văn đến hộ pháp, có trời
người đến hộ pháp, có A Tu La đến hộ pháp, có một số người đến hộ
pháp, có quỷ đến hộ pháp. Vậy, làm sao biết được ? Nếu bạn đắc được
thiên nhãn thông, thì sẽ biết vị pháp sư giảng kinh pháp, là do một
giới Thánh hiền trong mười pháp giới, đến ủng hộ đạo tràng.
Pháp sư có đạo đức, thì khi giảng kinh ở trong đạo tràng, luôn luôn
phóng quang minh, chiếu khắp chúng sinh trong và ngoài hội, khiến
cho họ đều đắc được lợi ích, đều tiêu trừ nghiệp chướng. Có pháp sư
khi giảng kinh ở trong đạo tràng, cũng có chút quang minh như khói
sương không rõ ràng, chỉ có chút chút quang minh nhỏ, hoặc là quang
trắng, quang đỏ, quang tía. Tại sao ? Vì bồ đề tâm của vị pháp sư
đó, chưa phát triển lớn, cho nên quang phát ra rất nhỏ. Tóm lại, tâm
lượng của pháp sư lớn bao nhiêu, thì quang minh trong pháp hội lớn
bấy nhiêu, ngược lại, tâm lượng nhỏ thì quang minh nhỏ, tâm lượng
lớn thì quang minh lớn, do đó : "Tất cả do tâm tạo".
Căn cứ chỗ tôi biết, kinh nghiệm thấy
được một số pháp sư giảng kinh thuyết pháp, đa số đều do trời người
đến hộ pháp, hoặc do chim tước trên trời đến hộ pháp, đến ủng hộ đạo
tràng. Nếu vị pháp sư giảng kinh thuyết pháp biện tài vô ngại, thao
thao bất tuyệt, đầu đầu thị đạo, giảng đến mỗi chư Thiên rải hoa
cúng dường, âm thanh như chim hót, êm tai vô cùng, khiến cho người
nghe sinh tâm hoan hỉ, đó gọi là thảy đều vui mừng.
Tại sao hôm nay phải nói những điều nầy
? Vì hiện tại giảng đến luôn luôn phát âm thanh vi diệu. Trong Kinh
A Di Ðà có nói : "Chim Bạch hạt, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng
tần già, Cộng mệnh; các loại chim nầy ngày đêm sáu thời phát ra âm
thanh hòa nhã". Những thứ chim nầy, đều phát ra âm thanh vi diệu
không thể nghĩ bàn. Những âm thanh nầy, đều do Ðức Phật A Di Ðà muốn
khiến cho pháp âm tuyên lưu mà biến hóa làm ra.
Vị Chủ Phương Thần nầy, luôn luôn phát
ra diệu âm, cũng là muốn cho pháp âm tuyên lưu, do Phật Tỳ Lô Giá Na
biến hóa làm ra, khiến cho người nghe được diệu âm nầy mà tu hành,
thì sẽ có sở thành tựu. Nếu không nghe được diệu âm nầy, thì cũng
phải tu hành, cảm ứng đạo giao, ở trong định bèn nghe được mười
phương chư Phật thường phát diệu âm.
Chủ Phương Thần Vân Tràng Ðại Âm, được môn giải thoát, như rồng
mưa khắp hết thảy, khiến cho chúng sinh đều vui mừng.
Vị Vân Tràng Ðại Âm Chủ Phương Thần nầy, âm thanh rất vang dội,
giống như tiếng sấm ở trên mây, xa gần đều nghe. Trong Kinh Ðịa Tạng
có nói : "...Vân lôi âm, đại vân lôi âm..." (tiếng mây sấm, tiếng
mây sấm lớn). Vị Chủ Phương Thần nầy, có tiếng mây sấm lớn vi diệu.
Làm sao biết được ? Vì cảnh giới của Kinh Hoa
Nghiêm không
thể nghĩ bàn. Cho nên âm thanh lớn nầy, với tiếng mây sấm lớn trong
Kinh Ðịa Tạng có chỗ chẳng giống nhau. Ðây là Ðại Vân Lôi Âm Chủ
Phương Thần.
Vị Chủ Phương Thần nầy, đắc được cảnh
giới của Phật là gì ? Tức là như rồng mưa khắp hết thảy, đượm nhuần
vạn vật. Rồng có thần thông rưới mưa pháp, khiến cho chúng sinh phàm
phu, đất mỏng đắc được đượm nhuần của mưa pháp, mà sinh tâm hoan hỉ.
Có người ở tại đây phát sinh tâm hoài nghi nói : "Tất cả sự mong
muốn đều khiến cho đầy đủ". Vậy tại sao sự mong muốn của tôi chẳng
đầy đủ ? Tôi hỏi y là "mong muốn gì" ? Y đáp : "Muốn thành Phật".
Bạn muốn thành Phật thì phải tu hành, không tu hành thì làm sao đầy
đủ được nguyện vọng của bạn ? Giống như ăn cơm, cơm thì ngon nhưng
phải ăn, bụng mới no được, nếu không ăn thì bụng làm sao no ?
Hiện tại, chúng ta giảng Kinh Hoa
Nghiêm, tức như rồng mưa khắp hết thảy. Nghe được
Kinh Hoa
Nghiêm nầy,
thì đắc được đượm nhuần của pháp vũ. Nghe kinh hiểu rõ đạo lý, thì
trong tâm sinh ra tâm vui mừng, đó chẳng phải là như rồng mưa khắp
hết thảy chăng ? Còn phải đi đâu tìm ? Bây giờ đang ở trước mắt. Bất
quá đắc được pháp vũ mà không nhận ra mà thôi.
Các bạn phải minh bạch đạo lý nầy, nghe
Kinh Hoa
Nghiêm đại
pháp rồi, trong tâm cảm thấy có một không khí pháp hỉ tràn trề, đó
chẳng phải như rồng mưa khắp chăng ? Khiến cho tất cả chúng sinh
sinh hoan hỉ chăng ? Song, còn cách môn giải thoát nầy xa lắm. Nếu
chân chánh đắc được pháp hỷ sung mãn, thì hợp vào môn giải thoát
nầy. Khi nào các bạn vào môn giải thoát nầy, thì lúc đó sẽ đắc được
pháp hỷ sung mãn.
Có câu rằng :
"Tánh định ma phục triều triều lạc,
Vọng niệm bất khởi xứ xứ an".
Nghĩa hai câu nầy là: Tánh không định thì ma không phục, khi tánh
định thì ma phục và luôn luôn đều an lạc. Không khởi vọng tưởng, thì
bất cứ ở đâu cũng đều chẳng có sự phân biệt, đều tốt hết. Hai câu
nầy nên làm pháp môn để mọi người tu tâm.
- Có người hỏi tôi: "Hòa Thượng cảm thấy ở San Francisco tốt chăng"?
- Tôi nói: "Tốt lắm".
- Y lại hỏi: "Hòa Thượng cảm thấy Hương Cảng tốt chăng" ?
- Tôi nói: "Cũng tốt lắm".
Tóm lại, bất cứ ở đâu, chỉ cần đừng sinh vọng tưởng, thì nơi nào
cũng tốt.
Chúng ta nghiên cứu Phật pháp ở tại đây, phải học chí nguyện của
Phật, phải học hành vi của Phật. Cử chỉ động niệm của Phật đều là
Phật pháp. Phật đem phương pháp của Ngài đã khai ngộ, nói ra hết
chẳng lưu lại chữ nào, nên y theo pháp mà tu hành, cung hành thực
tiễn, đừng chú trọng nói suông. Nói suông cũng giống như ăn bánh vẽ,
nói no mà chẳng no. Phật pháp là thực hành chẳng phải nói suông, do
đó:
"Nói một trượng, không bằng hành một thước".
Khoảng hai mươi hai năm về trước, khi tôi ở Hương Cảng, tại núi Ðạo
Phong, có vị Mục Sư đạo Cơ Ðốc, nhiệm vụ của Y là chuyên môn dạy
những người xuất gia hoàn tục. Phương pháp của Y là dùng tiền bạc và
sắc đẹp để dẫn dụ người xuất gia, nếu ý chí không kiên cường thì bị
gạt, lầm lỡ cơ hội một đời tu.
Người xuất gia thích tiền tài sắc đẹp thì ở tại nơi đó, đam vui
hưởng thụ, gọi là "Lưu liên vong phản". Lưu liên vong phản là gì ?
Trong Mạnh Tử có nói :
"Từ hạ lưu mà vong phản gọi là lưu,
Từ thượng lưu mà vong phản gọi là liên,
Từ (loài) thú mà không chán gọi là hoang,
Thích rượu mà không chán gọi là vong".
Nghĩa là: Hoàng đế thời xưa rất dễ phạm những mao bệnh nầy. Song,
những vị pháp sư xuất gia nầy, cũng chạy theo "Lưu liên vong phản"
đó. Tại sao ? Thứ nhất là vị Mục Sư đó cho tiền bạc, thứ hai là cho
con gái; tức nhiên có tiền dùng, lại có con gái.
Sau khi tôi biết tin đó, cũng muốn đi thử nghiệm một phen. Tôi đến
đó xem, phát giác chẳng có duyên với tôi, lúc đó, tôi với vị Mục Sư
đó biện luận. Tôi chẳng e dè phê bình nói : "Ông ở đây làm những
việc đó, là trái với tâm của Chúa. Chúa là cứu người chớ chẳng phải
hại người. Tác phong của ông là phá hoại người, chứ chẳng phải cứu
người, cho nên ông chẳng phải là tín đồ của đạo Cơ Ðốc, cũng không
đủ tư cách làm tín đồ của đạo Cơ Ðốc. Ông dạy người xuất gia hoàn
tục, phá hoại phạm hạnh của người xuất gia, việc làm của ông có lợi
cho đạo Cơ Ðốc chăng ? Ðối với Phật giáo có hại chăng ? Tơ hào chẳng
ăn thua gì. Tôi cũng chẳng phải là Phật giáo đồ, tại sao ? Vì chẳng
có lòng từ bi giống như Phật để cứu ông, thật đáng tiếc ! Tôi cứu
không được ông, cũng chẳng có sức cứu ông, cho nên nói tôi chẳng
phải là Phật giáo đồ".
Tôi nói một phen như vậy, y chẳng có lời
gì để đáp, ngước mắt nhìn tôi, câm miệng không nói. Cuối cùng, y yêu
cầu chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm, nhưng bị tôi cự tuyệt. Tôi
nói: "Ông là thứ bại hoại của đạo Cơ Ðốc, tôi là bại hoại của Phật
giáo, chụp hình ra để cho Phật giáo đảo lộn, cho Cơ Ðốc giáo đảo
lộn, không chụp là tốt hơn". Ðó là vấn đề chúng ta không nên nghiên
cứu, bất quá nói ra để mọi người biết, ở Hương Cảng có sự việc quái
lạ như thế phát sinh.
Chủ Phương Thần Kế Mục Vô Loạn, được môn giải thoát, sức tự tại
thị hiện nghiệp vô sai biệt của tất cả chúng sinh.
Vị Kế Mục Vô Loạn Chủ Phương Thần nầy, trong kế tóc sinh ra tám vạn
bốn ngàn con mắt, tức cũng là trên mỗi sợi tóc sinh ra nhiều con mắt
như thế, tuy nhiên là nhiều như thế, nhưng không tạp loạn, cho nên
có tên nầy.
Giảng kinh, mỗi người có mỗi ý, có trí huệ vốn có, phát huy đạo lý
vốn có. Nhưng đạo lý của kinh, mỗi chữ mỗi câu kinh, mỗi đoạn kinh,
đều đầy đủ tánh pháp giới. Muốn biểu lộ ra hết nghĩa lý của kinh,
đừng nói đến một tuần giảng chín tiếng, dù hết thuở vị lai cũng nói
không hết.
Bây giờ giảng chữ "kế" cũng có đạo lý vô
cùng vô tận. Kế thì có kế tóc, nhục kế, bảo kế. Kế tóc tức là búi
tóc, cuốn tóc lại thành hình tròn cao ở trên đỉnh đầu. Nhục kế là
cục thịt lồi hình tròn sinh ra trên đỉnh đầu, Phật mới có tướng cát
tường nầy, do đó: "Vô kiến đảnh tướng". Trong Kinh Lăng Nghiêm có
nói: "Nhĩ thời Thế Tôn, tùng nhục kế trung, dũng bách bảo quang,
quang trung dũng xuất, thiên diệp bảo liên". (Lúc đó, từ trong nhục
kế của đức Thế Tôn, vọt ra trăm luồng quang minh báu, trong quang
minh báu đó, vọt ra hoa sen báu ngàn cánh). Nghĩa là, từ trong nhục
kế của đức Phật, vọt ra hoa sen báu ngàn cánh, ở trong mỗi cánh hoa
sen, lại có hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi. Mỗi hóa thân lại có
ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, làm sao mà nói hết được ? Bảo kế
tức là dùng bảy báu để trang nghiêm, để thành tựu.
Chữ kế ở đây có thể giảng là kế tóc, lại
có thể nói là nhục kế. Chỉ nói về kế tóc, thì diệu lý đã vô cùng vô
tận. Nói huyền diệu một chút, ở trên mỗi sợi tóc, có thể trang
nghiêm vô lượng mười phương pháp giới, do đó: "Ư nhất mao đoan hiện
bảo vương sát" (Nơi đầu sợi lông hiện ra cõi Bảo Vương). Trên mỗi
đầu sợi tóc, có vô lượng vô biên con mắt. Trên mỗi đầu sợi tóc, sinh
ra tám vạn bốn ngàn con mắt. Tuy nhiên, mỗi đầu sợi tóc đầy đủ tám
vạn bốn ngàn con mắt, song vẫn không rối, không tạp loạn, mỗi con
mắt quán sát việc nên quán của mỗi con. Chẳng phải nói bạn nhìn tôi
cũng nhìn, nhìn chẳng rõ ràng, nhìn hồ đồ, không phải vậy, mà là
phân biệt rất rõ ràng sáng suốt.
Phân biệt gì ? Sức tự tại phân biệt nghiệp sai biệt của chúng sinh.
Vị Chủ Phương Thần nầy có nhiều kế mục như thế, đối với chúng sinh
nghiệp nhiều như vậy vẫn chưa phân biệt hết. Nhưng ở trong sự không
phân biệt, mà quả báu của chúng sinh không sai mảy may, mỗi người
chịu quả báu của mình. Bổn lai:
"Thấu rõ thì nghiệp chướng vốn không,
Không thấu rõ thì phải sớm hoàn trả".
Nếu thấu rõ thì nghiệp chướng sẽ không. Nghiệp tính vốn không là vốn
chẳng có. Nghiệp thì chẳng có hình tướng, nếu có hình tướng thì tận
hư không khắp pháp giới, cũng không có chỗ chứa. Vì nghiệp của mỗi
người đều đầy khắp pháp giới. Sở hạnh nghiệp chẳng có hình tướng,
cho nên không cần chứa tại nguyệt cầu hoặc tinh cầu. Vì nghiệp có
thể cuốn theo trong sự ẩn mật, nhưng không thể phóng thì hợp trong
di lục.
Có người nói: "Tôi không tin trên đầu sợi tóc có tám vạn bốn ngàn
con mắt. Cần nhiều con mắt như thế để làm gì" ? Bạn có nhìn thấy
trong phòng lái của phi cơ có nhiều nút bấm chăng ? Bạn có nhìn thấy
trong buồn lái tàu ngầm có nhiều nút bấm chăng ? Ðó tức là con mắt.
Biểu pháp nầy, chẳng phải như nút bấm của phi cơ và tàu ngầm. Hôm
nay là thời đại khoa học tiến bộ, đều có những vật cổ linh tinh quái
xuất hiện, hà huống có thần thông. Trên đầu một sợi tóc, có tám vạn
bốn ngàn con mắt chẳng phải nhiều, vì có thần thông, không thể nhìn
lộn, tóc cũng chẳng loạn, con mắt cũng chẳng loạn. Mỗi sợi tóc chẳng
rối loạn, mắt thì nhìn chân chánh mà chẳng quán loạn xạ. Quán gì ?
Quán sát nghiệp của tất cả chúng sinh, bất cứ chúng sinh làm nghiệp
gì, cũng đều biết được.
Vị Kế Mục Vô Loạn Chủ Phương Thần, có
một sự tác dụng là, thị hiện được nghiệp của tất cả chúng sinh.
"Thị" là chỉ thị "tương có kim vô", tức là tương lai sẽ có, nhưng
bây giờ thì chưa hiện. Vị nầy chỉ thị chúng sinh nói: "Nói với các
vị ! Chúng sinh gieo nghiệp gì, thì tương lai phải thọ quả báo như
thế đó". "Hiện" là nay có xưa không, nghĩa là bây giờ có, nhưng
trong quá khứ thì không, tức cũng là hiện ra. Hiện ra cái gì ? Hiện
ra nghiệp của chúng sinh. Nghiệp của chúng sinh mỗi người đều khác
nhau, ai nấy đều có nghiệp của mình, song, thọ quả báo thì cùng một
đạo lý: Thiện thì có thiện báo, ác thì có ác báo. Quả báo tuy nhiên
khác nhau, nhưng đạo lý không khác nhau. Tại sao nói chẳng có khác
nhau ? Vì tạo nghiệp như thế nào, thì thọ quả báo như thế đó, tuyệt
đối không sai lầm, mà là rất tự nhiên. Chúng sinh không chịu ngoại
lực chi phối, mà chịu nghiệp lực của mình để chi phối mình. Nói về
sự thật thì nghiệp tính vốn không, tức nhiên nghiệp tính ác vốn
không, thì tính thiện cũng không tồn tại, cho nên đây gọi là vô sai
biệt tự tại lực. Vị Chủ Phương Thần nầy đắc được môn giải thoát nầy.
Chủ Phương Thần Phổ Quán Thế Nghiệp, được môn giải thoát, quán
sát đủ thứ nghiệp sinh trong tất cả các cõi.
Vị Phổ Quán Thế Nghiệp Chủ Phương Thần, quán sát khắp nhân duyên của
tất cả chúng sinh trong mười phương thế giới, khởi hoặc, tạo nghiệp,
thọ báo. Vị nầy dùng phương pháp gì để giác ngộ chúng sinh, khiến
cho họ y pháp tu hành ? Vì vị Chủ Phương Thần nầy là Bồ Tát thị
hiện, cho nên minh bạch cảnh giới của Phật. Do đó, dùng cảnh giới
của Phật, để khiến cho chúng sinh giác ngộ, khiến cho chúng sinh tu
hành.
Cảnh giới của Phật là khéo quán sát tất cả các cõi. Cõi nầy đi hướng
về trước, đi về đâu ? Hoặc là vào trong ba đường ác ? Hoặc vào trong
bốn đường ác ? Hoặc là thăng lên trời ? Hoặc làm người ? Con người
cứ nghĩ như vậy không ngừng, đó gọi là cõi.
Vị chủ Phương Thần nầy, dùng mắt trí huệ
để quán sát trong tất cả các cõi, dùng trí huệ quang minh chiếu soi,
phá tan đen tối trong các đường ác, khiến cho chúng sinh có nghiệp
ác bỏ mê về giác, cải tà quy chánh, và khiến cho chúng sinh nghiệp
thiện chưa phát bồ đề tâm, thì phát bồ đề tâm. Chúng sinh chưa trồng
căn lành, thì dạy họ trồng căn lành; chúng sinh đã trồng căn lành,
thì dạy họ làm cho căn lành tăng trưởng; chúng sinh căn lành đã tăng
trưởng, thì trợ giúp cho họ căn lành sớm thành thục; chúng sinh căn
lành đã thành thục, thì trợ giúp cho họ đắc được giải thoát. Vị Chủ
Phương Thần nầy, dùng đủ thứ pháp để đối trị nghiệp của chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh cùng tu môn Bát Nhã Ba La
Mật, cùng chứng được cảnh giới không thể nghĩ bàn
nầy, cùng vào môn giải thoát nầy.
Chủ Phương Thần Chu
Biến Du Lãm, được môn giải thoát, những việc làm
đều rốt ráo, tất cả chúng sinh đều sinh hoan hỉ.
Vị Chu
Biến Du Lãm Chủ Phương Thần nầy, thích du hành, du
lãm khắp nơi. Song, sự du lãm của vị nầy, chẳng giống sự du lãm của
chúng sinh. Chúng sinh muốn du hành, thì trước hết đến tòa đại sứ
xin kiểm chứng (visa), nếu lãnh sự quán không phê chuẩn thì không
được đi. Sau đó phải mua vé máy bay, hoặc vé tàu, hoặc vé xe lửa
.v.v., phải trải qua nhiều thủ tục mới đi được.
Vị Chủ Phương Thần nầy, khi muốn du hành
thì chẳng có rắc rối như thế, được tự do thật sự, không có gì hạn
chế, muốn đi thì đi. Chẳng tốn kém gì cả, mà còn rất được hoan
nghênh. Vị nầy đi du lãm tận hư không khắp pháp giới. Tại sao vị nầy
phải đi du lãm ? Vì muốn trợ giúp tất cả chúng sinh làm việc. Vị nầy
đắc được cảnh giới của Phật, những gì làm đều được rốt ráo, như là
mười Ba La
Mật rốt ráo, tứ vô lượng tâm rốt ráo, cho nên sinh
tất cả sự hoan hỉ, tức cũng khiến cho tất cả chúng sinh đều sinh tâm
hoan hỉ. Hoan hỉ cái gì ? Hoan hỉ đắc được pháp ích. Vị nầy khiến
cho tất cả mọi việc đều rốt ráo, cho nên tất cả chúng sinh đều sinh
đại hoan hỉ. Vị nầy vào môn giải thoát nầy.
Bây giờ, mọi người cùng nghiên cứu về mười Ba La
Mật và tứ vô lượng tâm. Tôi nhớ bắt đầu giảng kinh
từ năm 1968, mười Ba la mật nầy đã giảng qua ba lần và bốn vô lượng
tâm đã giảng qua năm lần. Nay nghiên cứu lại một lần nữa. Nghiên cứu
Phật pháp thì phải giành trước đừng lạc về sau. Ai nhớ thì người đó
nói trước, nói sai cũng chẳng quan hệ gì, vì chúng ta đang nghiên
cứu vấn đề.
Mười ba la mật là :
1. Bố thí.
2. Trì giới.
3. Nhẫn nhục.
4. Tinh tấn.
5. Thiền định.
6. Bát nhã.
7. Phương tiện.
8. Nguyện.
9. Lực.
10. Trí.
Sáu ba la mật trước đã giảng nhiều lần. Bây giờ, chỉ giảng sơ lược
về bốn Ba la mật sau cùng.
Trước hết, chúng ta phải biết tại sao Bồ Tát phải tu mười pháp Ba la
mật ? Vì tâm của Bồ Tát quá từ bi, không đành để chúng sinh chịu khổ
đói rét, cho nên phải bố thí. Không nhẫn tâm làm thương hại sinh
mạng chúng sinh, cho nên phải trì giới. Thương xót chúng sinh vô tri
và phiền não, cho nên phải nhẫn nhục. Muốn rộng độ chúng sinh, tự
cầu giải thoát cho nên phải tinh tấn. Vì cầu đại trí huệ, đại thần
thông, cho nên phải thiền định. Vì lãnh đạo năm Ba la mật ở trên,
đạt đến cảnh giới chí chân chí thiện chí mỹ, cho nên tu Bát Nhã. Ðó
là chí nguyện của Bồ Tát tu sáu Ba la mật.
Phương tiện Ba la mật : Tức là phương
tiện khéo léo đến bờ kia, có phương tiện hồi hướng và cứu tế, có
phương tiện bất xả bất thọ.
Nguyện Ba la mật : Là phát nguyện đến bờ kia, có nguyện cầu bồ đề,
và lợi lạc cho kẻ khác.
Lực Ba la mật: Là sức lực đến bờ kia, có lực tu tập, lực hóa độ, lực
nghĩ chọn ba sức lực.
Trí Ba la mật: Là trí huệ đến bờ kia, có hai thứ trí là trí thọ dụng
pháp lạc, và trí thành thục hữu tình.
Bốn vô lượng tâm là:
1. Từ
2. Bi
3. Hỉ
4. Xả
Tu hành bốn hạnh nầy, đối tượng là tất cả chúng sinh, cho nên chẳng
có giới hạn, chẳng có số lượng, chẳng có thời gian .v.v., cho nên
gọi là bốn vô lượng. Bốn hạnh nầy là tự phát nơi tâm của mình, tức
cũng là cam tâm tình nguyện làm bốn việc nầy, cho nên mới gọi là bốn
vô lượng tâm.
Từ vô lượng tâm: Là ban sự an vui cho
tất cả chúng sinh, bất cứ là chúng sinh có duyên hay là vô duyên,
đều ban cho sự an vui, đó gọi là vô duyên đại từ.
Bi vô lượng tâm: Là cứu mọi sự thống khổ
của tất cả chúng sinh, thấy chúng sinh chịu khổ giống như chính mình
chịu khổ không khác, cho nên không màng là chúng sinh thiện hay là
chúng sinh ác, thảy đều cứu trừ sự khổ của họ, đó là đồng thể đại
bi.
Hỉ vô lượng tâm: Là gặp chúng sinh làm
việc thiện, đắc được cảnh giới khoái lạc, phải biểu thị sự vui mừng,
pháp môn nầy đối trị tâm đố kị, chúng ta đừng có tâm lý vui mừng khi
họ gặp tai họa.
Xả vô lượng tâm: Là đồi với chúng sinh,
chẳng sinh tâm thương ghét, không phân biệt kẻ oán người thân, đều
xem bình đẳng. Xả bỏ tất cả mà không chấp trước, chỉ bố thí cho
chúng sinh mà chẳng có xí đồ, do đó : "Thi ân bất cầu báo" (giúp đỡ
người chẳng mong họ đền đáp).
Bốn tâm nầy, mà tu đến giai đoạn vô
lượng, thì chúng sinh mới cung kính bạn, tin bạn, sau đó mới cảm hóa
họ tín ngưỡng Tam Bảo, quy y Tam Bảo, cung kính Tam Bảo, cúng dường
Tam Bảo, làm Phật giáo đồ thuần thành.
Người tu hành phải hành pháp môn mười Ba la mật, và phối hợp với bốn
vô lượng tâm và bốn nhiếp pháp, như thế thì mới có sự thành tựu,
bằng không thì tất cả chỉ là nói suông, tuyệt đối chẳng có gì thành
tựu đáng nói.
Bấy giờ, Chủ Phương Thần Biến Trụ Nhất Thiết, nương oai lực của
đức Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Phương Thần, mà nói ra bài kệ.
Lúc bấy giờ là lúc nào ? Tức là lúc vị Chu
Biến Du Lãm Chủ Phương Thần vừa nói xong, thì lúc
đó, vị Biến Trụ Nhất Thiết Chủ Phương Thần, nương đại oai thần lực
của đức Phật, mà nói ra bài kệ.
Sức lực của vị thần nầy, có được là nhờ đức Phật gia bị, được Phật
trợ giúp. Phật dùng đại oai thần lực để gia bị cho vị nầy, cho nên
vị nầy mới có trí huệ như thế, mới quán sát khắp tất cả chúng Chủ
Phương Thần, dùng kệ bốn câu để tụng lại, diễn đạt rõ nghĩa lý trong
trường hàng ở trên.
Bây giờ nói cho quí vị biết một tin tức. Tại sao Thiện Tài đồng tử
luôn luôn đến pháp hội Hoa
Nghiêm của
chúng ta ? Chẳng có ý nghĩa gì khác, chỉ là vì đến ủng hộ pháp hội,
ủng hộ đại đạo tràng Hoa
Nghiêm của
thế giới. Bạn thấy được Thiện Tài đồng tử, tức là có duyên thù đặc
với Thiện Tài. Có người nói : "Tôi chẳng thấy được Thiện Tài đồng
tử". Vì công phu tu hành của bạn chưa đến nhà, cho nên bạn chẳng
thấy. Nếu khai mở ngũ nhãn thì sẽ thấy được, không những thấy được
mà còn là bạn tốt. Bạn muốn làm bạn với Thiện Tài đồng tử chăng ?
Vậy thì phải dũng mãnh tinh tấn tu hành, tham thiền đả tọa, tâm
chẳng vọng tưởng, thì sẽ khai ngộ, thì sẽ thấy được Thiện Tài đồng
tử.
Như Lai tự tại hiện ra đời
Giáo hóa tất cả các quần sinh
Bày hết pháp môn khiến ngộ nhập
Ðều khiến sẽ thành vô thượng trí.
"Như Lai tự tại hiện ra đời". Phật rất tự nhiên tự tại đến thế giới
Ta Bà trong đời ác năm trược. Tại sao ? Trong Kinh Pháp Hoa có nói:
"Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ra đời". Ðại sự gì ? Tức
là sinh tử đại sự.
"Giáo hóa tất cả các quần sinh". Vì chúng sinh bị vô minh che, suốt
ngày điên đảo, khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, lưu chuyển trong vòng
sinh tử, chẳng biết cầu giải thoát. Phật ôm lòng thương xót chúng
sinh, đến đời ác năm trược, giáo hóa chúng sinh bị tình dục mê hoặc,
khiến cho họ sớm tỉnh ngộ. Do đó :
"Biển khổ bao la, quay đầu thì thấy bờ".
Quay đầu tức là tu hành. Người tu đạo biết đi sai đường, thì phải
sớm quay trở lại, không thể bế tắc giữa đường, phải siêng tinh tấn
thì mới đạt đến bờ giác ngộ.
"Bày hết pháp môn khiến ngộ nhập". Phật mở bày hết phương pháp, cho
chúng sinh bị tình dục mê hoặc, để vượt ra khỏi biển khổ, tức là tám
vạn bốn ngàn pháp môn, nói đơn giản là:
"Ðừng làm điều ác, hãy làm các điều lành".
Và :
"Siêng tu giới định huệ, dứt sạch tham sân si".
Ðó là pháp cơ bản tu hành, có cơ sở rồi thì mới hành Bồ Tát đạo,
công đức viên mãn thì mới ngộ nhập vào môn giải thoát.
"Ðều khiến sẽ thành vô thượng trí". Nếu được như thế, thì đều khiến
cho họ thành tựu trí huệ vô thượng, tức cũng là chuyển thức thành
trí, chuyển tám thức thành bốn trí, đem năm thức trước chuyển thành
Thành sở tác trí, thức thứ sáu chuyển thành Diệu quán sát trí, thức
thứ bảy chuyển thành Bình đẳng tánh trí, thức thứ tám chuyển thành
Ðại viên cảnh trí.
Thần thông vô lượng đồng chúng sinh
Tuỳ chúng sinh thích hiện các tướng
Ai thấy cũng lìa các sự khổ
Giải thoát lực nầy của Hiện Quang.
"Thần thông vô lượng đồng chúng sinh". Thần thông là cảnh giới không
thể nghĩ bàn. Phật có thần thông của Phật, Bồ Tát có thần thông của
Bồ Tát, La
Hán có
thần thông của La
Hán, trời có thần thông của trời, người có thần
thông của người, quỷ có thần thông của quỷ, tuy nhiên đều có thần
thông, nhưng đều khác nhau, có thần thông cứu kính, thần thông không
cứu kính.
Phật thì có vô lượng vô biên đại thần thông cứu kính, vì muốn cứu độ
chúng sinh, cho nên có bao nhiêu chúng sinh, thì Phật có bấy nhiêu
thần thông. Nếu Phật không có thần thông nhiều như thế, thì làm sao
cứu độ chúng sinh ? Chúng sinh vô lượng thì thần thông của Phật cũng
vô lượng. Dùng vô lượng thần thông để giáo hóa vô lượng chúng sinh,
cho nên nói thần thông vô lượng đồng chúng sinh.
Bây giờ, đưa ra một ví dụ nông cạn dễ
hiểu, để thuyết minh về đạo lý thần thông, hiểu rõ đạo lý nông cạn
thì tự nhiên sẽ hiểu đạo lý thâm sâu. Các bạn đều thấy rõ công dụng
của máy lôi đạt (radar), là hành động trinh sát máy bay và tàu ngầm.
Nếu máy bay của địch đến phạm vi bầu trời của nước mình, thì máy lôi
đạt lập tức phát hiện. Hoặc là tàu địch xâm phạm đến hải phận của
nước mình, thì máy lôi đạt hiện ra, đó tức là thần thông, bất quá đó
là thần thông khoa học, cũng là thần thông nhân tạo, mà không phải
là thần thông tự nhiên.
Thần thông của Phật là thần thông tự nhiên, là vốn có, không cần bấm
nút, là tự tánh vốn có sẵn đầy đủ. Thần thông của Phật là vì cứu độ
tất cả chúng sinh. Do đó:
"Nhất thiết chúng sinh,
Nhược can chủng tâm,
Như Lai tất tri tất kiến".
Nghĩa là :
Tất cả chúng sinh,
Có bao nhiêu thứ tâm
Như Lai thảy đều thấy biết hết.
Vì tâm của Phật và chúng sinh có lưới lôi đạt (radar) tương giao với
nhau, có quan hệ tâm điện cảm ứng, cho nên Phật biết được việc suy
nghĩ trong tâm của chúng sinh, đều rõ ràng không sai lầm mảy may, đó
là tác dụng của thần thông.
"Tùy chúng sinh thích hiện các tướng". Mười phương ba đời tất cả chư
Phật, tùy theo sự ưa thích của chúng sinh, cho nên mới thị hiện đủ
thứ tướng, khiến cho chúng sinh minh bạch tất cả tướng.
Tôi thường nói với các bạn :
Kiến sự tỉnh sự xuất thế gian,
Kiến sự mê sự đọa trầm luân.
Nghĩa là : Nếu thấy việc gì mà giác ngộ việc đó, thấu rõ nguyên lai
là như thế, minh bạch được, thì chẳng có vấn đề gì. Nếu thấy việc mà
hồ đồ, thì bị cảnh giới chuyển, mà chẳng chuyển được cảnh giới, thì
phải đọa lạc vào ba đường ác chịu khổ.
"Nhãn quán hình sắc nội vô hữu,
Nhĩ thính trần sự tâm bất tri".
Nghĩa là :
Mắt thấy hình sắc chẳng dính mắc,
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng hay.
Tâm của bạn một thời thanh tịnh, thì một thời tại núi Linh Sơn. Luôn
luôn thanh tịnh, thì luôn luôn tại Linh Sơn. Phật Thích Ca Mâu Ni
đang ở trên pháp hội Linh Sơn, vẫn còn đang thuyết pháp chưa giải
tán. Cảnh giới nầy, vị Trí Giả đại sư vào đời Tùy thấy được. Nếu bạn
thấy việc tỉnh việc, thì cũng sẽ có sự cảm ứng nầy. Vì pháp hội Linh
Sơn chưa tan, cho nên mới nói, tùy chúng sinh thích hiện các tướng,
tức là thị hiện tất cả các tướng. Tất cả tướng tức là tất cả pháp.
Minh bạch được tất cả tướng, thì minh bạch được tất cả pháp.
"Ai thấy cũng lìa các sự khổ". Bạn thấy
được Phật, nghe được pháp, khai mở trí huệ, thì lìa khổ được vui,
liễu sinh thoát tử. Nếu bạn ngu si, thì ở trong địa ngục đen tối,
giống như ở trong phòng đen tối chẳng có ánh đèn. Nếu thắp lên một
cây đèn cầy, thì có chút chút ánh sáng Bát nhã. Chút ánh sáng Bát
nhã nầy, khiến cho bạn nhìn thấy được chữ. Bạn nên khai mở ánh sáng
của tâm, nếu ánh sáng của tâm khai mở, thì không cần đèn cầy, cũng
chẳng cần đèn điện, cũng chiếu sáng như thường. Ðó là đắc được cảnh
giới vô thượng trí. Ðắc được vô thượng trí, thì dù ở trong thế giới
đen tối, cũng có đại quang minh tạng chiếu khắp như thường.
"Giải thoát lực nầy của Hiện Quang". Cảnh giới nầy vị Phổ Hiện Quang
Minh Chủ Phương Thần, thấy rõ giải thoát lực nầy.
Phật trong biển ám chướng chúng sinh
Vì hiện đuốc pháp đại quang minh
Quang nầy chiếu soi khắp hết thảy
Giải thoát nầy của Hành Trang
Nghiêm.
"Phật trong biển ám chướng chúng sinh". Chúng sinh
ngu si quá nhiều, ám chướng cũng quá nhiều, nhiều sâu rộng như biển
cả. Phật ở trong biển đen tối nghiệp chướng của chúng sinh, phóng
đại quang minh, khiến cho chúng sinh quay đầu thấy bờ kia.
"Vì hiện đuốc pháp đại quang minh". Phật thương xót tất cả chúng
sinh, vì chúng sinh mà hiện đuốc pháp. Ðuốc pháp tức là trí huệ
quang minh. Ðuốc pháp tức là đèn pháp, do đó đèn pháp thường sáng.
Phật vì chúng sinh mà phóng đại quang minh, hiện ra đèn sáng trí
tuệ, tức cũng là Phật quang phổ chiếu.
"Quang nầy chiếu soi khắp hết thảy". Ðen tối tức là ngu si, Bát nhã
tức là trí huệ. Chúng sinh có trí huệ thì phá trừ đen tối. Phá trừ
đen tối rồi, thì Bát nhã quang minh sẽ chiếu khắp tất cả chúng sinh
trong mười phương, khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được Bát nhã
quang minh, đó là đạo lý khắp hết thảy, tức cũng là chẳng có một
chúng sinh nào, mà không đắc được lợi ích Bát nhã quang minh.
"Giải thoát nầy của Hành Trang
Nghiêm". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Quang
Hành Trang
Nghiêm Chủ Phương Thần đắc được.
Ðầy đủ các âm thanh thế gian
Chuyển pháp luân khắp thảy đều hiểu
Chúng sinh nghe được phiền não diệt
Sở ngộ nầy của Du Hành Thần.
"Ðầy đủ các âm thanh thế gian". Phật dùng một âm diễn nói pháp,
chúng sinh tùy loại đều hiểu được. Một âm thanh của Phật tức là tất
cả âm thanh. Tất cả âm thanh tức là một âm thanh. Cho nên nói đầy đủ
các âm thanh thế gian. Các thứ âm thanh nầy, đều đầy đủ trong một âm
thanh của Phật.
"Chuyển pháp luân khắp thảy đều hiểu". Phật chuyển đại pháp luân
khắp hết thảy. Chuyển pháp luân tức là đầy đủ các thứ âm thanh thế
gian. Dùng đủ loại âm thanh, đủ thứ pháp để chuyển đại pháp luân,
khiến cho chúng sinh đều được ngộ hiểu, đều được cứu.
Chuyển đại pháp luân là gì ? Nói đơn
giản, phàm là vì sự nghiệp Phật giáo mà nỗ lực, tức là chuyển pháp
luân. Ví như : Giảng kinh thuyết pháp, phiên dịch kinh điển, ấn tống
kinh điển, truyền bá kinh điển, đó tức là thay thế mười phương chư
Phật để chuyển pháp luân. Thành lập đạo tràng, thổi đại pháp loa,
đánh đại pháp cổ, đều là chuyển đại pháp luân.
"Chúng sinh nghe được phiền não diệt". Chúng sinh nghe được pháp âm
nầy, thì phiền não sẽ tiêu diệt, vô minh cũng phá tan. Phá vô minh
hiển pháp tính, thì trở về cội nguồn, nhận ra bộ mặt thật của mình
trước khi cha mẹ sinh ra.
Bây giờ chúng ta tự hỏi mình, nghe cảnh giới không thể nghĩ bàn của
Kinh Hoa
Nghiêm, phiền não của mình đã tiêu diệt chưa ? Phải
hồi quang phản chiếu, kiểm thảo chính mình. Nếu phiền não của mình
tiêu diệt rồi, thì nên lên thêm một từng lầu, do đó :
"Ðầu sào trăm thước,
Tiến thêm một bước".
Nếu không diệt thì hãy sinh tâm sám hối, phải dùng trí huệ của mình
để tiêu diệt phiền não. Ðây là điểm quan trọng nhất. Học Phật pháp
thì phải không có phiền não, không có phiền não mới khai ngộ được,
khai ngộ mới có đại trí huệ, tức cũng là diệu dụng của thần thông.
"Sở ngộ nầy của Du Hành Thần". Cảnh giới nầy, vị Du Hành Vô Ngại Chủ
Phương Thần, ngộ hiểu minh bạch được.
Tất cả hết thảy tên chúng sinh
Ðều đồng tên Phật mà sinh ra
Tất khiến chúng sinh lìa si hoặc
Nơi sở hành của Ðoạn Mê Thần.
"Tất cả hết thảy tên chúng sinh". Tất cả chúng sinh hữu tình thế
gian, đều có tên của mình. Có vô lượng vô biên chúng sinh, thì có vô
lượng vô biên tên, tất cả tên tức là bao quát tên của hết thảy chúng
sinh.
"Ðều đồng tên Phật mà sinh ra". Tên của chúng sinh có rất nhiều,
song, tên Phật và tên chúng sinh đều nhiều như nhau. Phật xuất hiện
ra đời, để giáo hóa nhiều chúng sinh như thế.
"Tất khiến chúng sinh lìa si hoặc". Phật hoàn toàn khiến cho chúng
sinh, đều thoát khỏi ngu si, vô minh, nghi hoặc. Do đó :
"Tu đạo thì tâm chớ nghi,
Nếu khởi tâm nghi tức mê đồ".
Người tu đạo, thì phải y pháp tu hành, đừng khởi tâm hoài nghi. Có
Phật chăng ? Ai cũng đều nói có Phật, sao tôi chẳng thấy Phật ? Là
giả chăng ? Kinh điển có phải Phật nói chăng ? Sinh ra đủ thứ tâm
nghi hoặc, đó là nhân duyên chướng ngại đạo.
Có rất nhiều người nói Kinh Lăng Nghiêm
là giả, đáo để là giả chăng ? Hãy nghiên cứu xem. A ! Ðại khái là
giả, đó là sinh nghi. Sự nghi nầy sinh ra, thì nhận thức không rõ
ràng, đó chẳng khác nào như kẻ mù đi đường, chẳng biết đi về hướng
nam hay là hướng bắc ? Ði về hướng đông hay là hướng tây ? Người mù
mắt vì không thấy được ánh sáng, cho nên cho rằng khắp nơi đều là
đen tối, chính y chẳng thấy được ánh sáng, mà cho rằng tất cả mọi
người đều giống như y, không thấy được ánh sáng.
Làm thế nào lìa được si hoặc ? Vì có si mới có hoặc. Nếu không có
ngu si, thì chẳng có hoặc, do đó :
"Trí hiện hoặc đoạn,
Đoạn hoặc chứng chân".
Nói về chữ hoặc có rất nhiều ý nghĩa, nào thô hoặc, tế hoặc, kiến tư
hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc .v.v... Tóm lại, có trí huệ thì
đoạn sạch tất cả hoặc.
"Nơi sở hành của Ðoạn Mê Thần". Hoặc mà đoạn trừ thì trí huệ sẽ hiện
tiền. Cảnh giới nầy, là nơi sở hành của vị Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Chủ
Phương Thần.
Nếu có chúng sinh đến trước Phật
Nghe được mỹ diệu âm Như Lai
Thảy đều sinh tâm đại hoan hỉ
Biến Du Hư Không ngộ pháp nầy.
"Nếu có chúng sinh đến trước Phật". Nếu như có chúng sinh đến
trước mặt đức Phật. Ðể làm gì ? Nghe Phật nói pháp vi diệu thâm sâu
vô thượng.
"Nghe được mỹ diệu âm Như Lai". Ðến trước đức Phật, cung kính nghe
Phật diễn nói pháp âm mỹ diệu không thể nghĩ bàn, nghe được rồi thì
sinh trí huệ.
"Thảy đều sinh tâm đại hoan hỉ". Chúng sinh nghe được Phật thuyết
pháp, thì chẳng có một chúng sinh nào mà trong tâm không sinh đại
hoan hỉ, đắc được pháp hỷ sung mãn.
"Biến Du Hư Không ngộ pháp nầy". Vị Biến Du Hư Không Chủ Phương
Thần, tỏ ngộ cảnh giới nầy của Phật, mà ngộ nhập vào môn giải thoát
nầy.
Phật ở trong mỗi một sát na
Rưới khắp vô biên mưa pháp lớn
Đều khiến chúng sinh diệt phiền não
Pháp nầy Vân Tràng Thần biết rõ.
"Phật ở trong mỗi một sát na". Một sát na là thời gian rất ngắn.
Phật ở trong mỗi một sát na làm gì ? Chuyển đại pháp luân, mưa đại
pháp vũ, phổ độ chúng sinh.
"Rưới khắp vô biên mưa pháp lớn". Phật ở trong mỗi một sát na, luôn
luôn không nghỉ, nói pháp không ngừng, mưa khắp vô biên đại pháp vũ,
trong mỗi niệm đều giáo hóa, trong mỗi sát na đều thức tỉnh chúng
sinh, mà không cảm thấy mỏi mệt.
"Ðều khiến chúng sinh diệt phiền não". Phật dùng nước Bát nhã trí
huệ, để dập tắt lửa vô minh phiền não, làm cho phiền não của chúng
sinh hoàn toàn tiêu diệt.
"Pháp nầy Vân Tràng Thần biết rõ". Vị Vân Tràng Ðại Âm Chủ Phương
Thần, biết rõ cảnh giới nầy mà vào môn giải thoát nầy.
Tất cả các biển nghiệp thế gian
Phật đều khai thị đồng không khác
Khiến khắp chúng sinh trừ nghiệp hoặc
Môn nầy Kế Mục Thần thấy rõ.
"Tất cả các biển nghiệp thế gian". Tất cả chúng sinh hữu tình thế
gian, đã tạo nghiệp chướng như biển cả, vừa sâu vừa rộng lớn. Tại
sao có nghiệp ? Vì mê hoặc, cho nên mới tạo nghiệp, do đó :
"Khởi cảm, tạo nghiệp, thọ báo".
"Phật đều khai thị đồng không khác". Nghiệp của chúng sinh tạo ra
như biển cả. Song, Phật vẫn khai thị chúng sinh, tạo đủ thứ nghiệp,
thì thọ đủ thứ quả báo. Chúng sinh đều có nghiệp khác nhau, cho nên
thọ quả báo cũng khác nhau, rất là bình đẳng và công đạo. Trồng nhân
gì, thì kết quả đó. Trồng nhân thiện, thì kết quả thiện, trồng nhân
ác, thì kết quả ác. Tuy nhiên quả báo không giống, là tùy theo việc
làm của họ, mà thọ lấy quả báo. Cho nên nói, Phật đều khai thị đồng
không khác.
"Ðều khiến chúng sinh trừ nghiệp hoặc". Phật khiến cho khắp hết thảy
tất cả chúng sinh, đều trừ khử sạch nghiệp hoặc. Trừ khử nghiệp hoặc
thì đắc được bổn thể thanh tịnh. Không trừ khử nghiệp hoặc thì không
đắc được bổn thể thanh tịnh.
"Môn nầy Kế Mục Thần thấy rõ". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Kế
Mục Vô Loạn Chủ Phương Thần thấy rõ được.
Nhất thiết trí địa không bờ bến
Tất cả tâm niệm của chúng sinh
Như Lai chiếu thấy đều rõ ràng
Môn rộng lớn nầy Quán Thế vào.
"Nhất thiết trí địa không bờ bến". Nhứt thiết chủng trí địa nầy vô
lượng vô biên. Ðây là Phật trí, là Phật địa, là vô thượng trí, vô
thượng trí tức là Phật trí, chẳng có gì cao hơn được. Cho nên nói
Nhất thiết trí địa không bờ bến.
Trí huệ nầy tùy cơ hóa đạo, tuỳ duyên dẫn độ, đều hiện ở trong tất
cả tâm của chúng sinh. Do đó :
"Thiên đầm hữu thủy thiên đầm nguyệt,
Vạn lý vô vân vạn lý thiên".
Nghĩa là:
Ngàn đầm có nước đều hiện mặt trăng
Ngàn dặm không mây, ngàn dặm trời xanh.
Trí huệ nầy là diệu trí vô tác, diệu huệ vô tác. Vô tác tức là không
cần tạo tác. Trí huệ của Phật không cần suy nghĩ, bất cứ cảnh giới
gì đến, đều tiếp nhận mà giải quyết, vừa cấp tốc vừa nhanh chóng. Ðó
gọi là Nhất thiết trí địa không bờ bến. Ðó là nói đại khái, nếu nói
tỉ mỉ thì hết thuở vị lai cũng nói không hết. Vì nó chẳng có bờ bến,
làm sao nói xong được ?
"Tất cả chúng sinh đủ thứ tâm". Do đó :
"Chúng sinh nhược can chủng tâm,
Như Lai tất tri tất kiến".
Nghĩa là:
Chúng sinh có bao nhiêu thứ tâm
Như Lai đều biết đều thấy.
Làm sao biết ? Vì có vô thượng trí. Làm sao thấy được ? Vì có mắt
trí huệ.
"Như Lai chiếu thấy đều rõ ràng". Mắt trí huệ của Phật chiếu thấy
được tất cả, hoàn toàn đều thấy rõ. Do đó :
"Không gì mà không biết,
Không chỗ nào mà không thấy".
"Môn rộng lớn nầy Quán Thế vào". Môn Bát Nhã rộng lớn nầy, vị Phổ
Quán Thế Nghiệp Chủ Phương Thần, tỏ ngộ mà vào được môn giải thoát
nầy.
Phật trong quá khứ tu các hạnh
Vô lượng các độ đều viên mãn
Đại từ thương xót lợi chúng sinh
Giải thoát nầy của Biến Du Thần.
"Phật trong quá khứ tu các hạnh". Phật ở trong vô lượng kiếp thuở xa
xưa, tu tất cả hạnh môn. Hạnh môn là gì ? Tức là tám vạn bốn ngàn
hạnh môn, cho nên gọi là các hạnh. Lại có thể nói là, một môn trong
tám vạn bốn ngàn hạnh môn, tức là một môn nầy. Tu một môn nầy thành
công rồi, thì tu môn khác, môn này tu thành công rồi, thì tu môn
khác nữa. Cho nên chữ "các" (chư) nầy, có thể nói là nhiều, lại có
thể nói là một. Chữ một nầy là từ trợ ngữ, tức là một môn nầy.
Vì nếu nói nhiều hạnh môn, thì chúng ta phát sợ. Chao ôi ! Có nhiều
hạnh môn như thế làm sao mà tu ? Chúng ta tuyệt đối không thể thành
Phật. Ðừng quan tâm, đừng sợ ! Tu từng môn từng môn, tu môn nầy
thành rồi, thì môn khác cũng thành. Tại sao ? Vì một môn là tất cả
môn, tất cả môn là một môn. Một thông thì tất cả thông, tất cả thông
là một thông, do đó :
"Một pháp thông,
Thì trăm pháp đều thông".
Trong Kinh Hoa
Nghiêm nói
:
"Tự tánh như hư không,
Chân vọng tại kỳ trung,
Ngộ triệt bổn lai thể,
Nhất thông nhất thiết thông".
Nghĩa là :
Tánh mình như hư không
Chân vọng đều có hết
Thấu triệt thể vốn có,
Một thông vạn sự đều thông.
Ðắc được một, thì việc gì cũng đều chẳng có. Giống như ăn cơm no
rồi, thì chẳng muốn ăn gì nữa.
Phật tu tất cả hạnh, trước hết bắt đầu tu từ đâu ? Trước hết bắt đầu
từ nhẫn nhục mà tu, do đó :
"Nhẫn là báu vô giá,
Mọi người đối không tốt,
Phải thường dùng được nó,
Vạn sự đều thành công".
Tại sao chúng ta buông bỏ chẳng đặng ? Vì nhẫn không đặng.
"Vô lượng các độ đều viên mãn". Ðộ là gì ? Tức là Ba La
Mật. Các độ tức là vô lượng vô biên Ba La
Mật. Ba la mật dịch là "đến bờ kia", tức là từ bờ
sinh tử bên nầy, qua dòng sinh tử phiền não, đạt đến bờ Niết Bàn bên
kia. Các độ tức là lục độ (Ba la mật), cũng là thập độ (Ba la mật).
Bạn thấy độ nào tốt thì tu độ đó, tu từng độ từng độ, nếu không tu
thì tuyệt đối không đến được bờ kia. Nhất định trước phải tu một độ,
tu độ nầy xong thì tu độ khác, từ từ tu viên mãn hết các độ, đó là
đạo lý hòa tu pháp môn đồng một dạng. Một dạng tu viên mãn, thì dạng
dạng cũng đều viên mãn, chúng đều hỗ tương thông đạt, hỗ tương trợ
giúp, cũng giống như bạn giúp tôi, tôi giúp bạn, hợp tác với nhau.
Bạn mượn chút sức của tôi, tôi mượn chút sức của bạn. Sức này viên
mãn, thì vô lượng vô biên Ba la mật đều tu viên mãn.
"Ðại từ thương xót lợi chúng sinh". Phật dùng tâm đại từ ban vui cho
chúng sinh, dùng tâm thương xót (đại bi) cứu khổ của chúng sinh,
khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, khiến cho chúng sinh liễu
sinh thoát tử, đó tức là lợi ích chúng sinh.
"Giải thoát nầy của Biến Du Thần". Vị Chu
Biến Du Lãm Chủ Phương Thần đắc được môn giải thoát
nầy.
Lại nữa, Chủ Không Thần Tịnh Quang
Phổ Chiếu, được môn giải thoát, biết khắp tâm chúng sinh trong tất
cả các cõi.
Lại nữa, tức là tiếp tục nói, Vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần
nầy, có quang minh thanh tịnh. Quang minh nầy do Bát Nhã trí huệ
hiện ra, mà chiếu sáng khắp mười phương.
Trong Kinh Lăng Nghiêm nói : "Thuấn Nhã Ða tính khả tiêu vong, Thước
ca la tâm vô động chuyển". Thuấn Nhã Ða là Không Thần, vị Không Thần
nầy có thể không còn, nhưng tâm kiên cố không thể lay động chuyển
đổi. Con tin sâu vào đại định Lăng Nghiêm, tâm kiên cố của con không
lay động chuyển đổi, đó là kệ của tôn giả A Nan nói.
Vị Chủ Không Thần nầy, biết khắp tâm của chúng sinh trong tất cả các
cõi. Các cõi tức là sáu nẻo. Chúng sinh ở trong sáu nẻo đang khởi
vọng tưởng gì, thì vị nầy đều biết. Nếu có chúng sinh khởi tâm tham,
thì vị nầy ban bố cho họ. Tham một đồng tiền thì cho hai đồng tiền.
Tại sao ? Vì:
"Muốn khiến vào Phật trí,
Trước dùng móc dục dắt".
Chúng sinh thích gì, thì trước hết cho họ cái đó. Ví như muốn một bộ
Phật học từ điển, thì có người mang đến cho bạn, hoàn thành tâm
nguyện của bạn. Tóm lại, vị Chủ Không Thần nầy, có cầu thì tất ứng,
song, chỉ mãn túc vọng tưởng thiện, chứ không phải là vọng tưởng ác.
Vị nầy đắc được môn giải thoát, biết khắp tâm của tất cả chúng sinh.
Chủ Không Thần Phổ Du Thâm Quảng, được môn giải thoát, vào khắp
pháp giới.
Vị Phổ Du Thâm Quảng Chủ Không Thần nầy, thích du hành, không những
du hành khắp thế giới, mà còn đến các nơi rộng sâu, thậm chí cũng đi
đến tham quan Long cung, xem thử có phải Long Vương đang ngủ, làm
mưa sái giờ, hoặc là sai rồng khác đi làm mưa, còn mình thì lười ngủ
khò ? Nếu Long Vương ngủ, thì vị Chủ Không Thần nầy đánh thức dậy
nói : "Ê ! Ông bạn ! Hãy tỉnh dậy ! Ông phải chấp hành nhiệm vị của
ông ! Ngủ nữa thì chúng sinh trong thiên hạ sớm phải chết đói" !
Tôi nói vị Phổ Du Thâm Quảng Chủ Không
Thần đi xuống Long cung, chẳng phải người si nói mộng mà là có căn
cứ. Căn cứ gì ? Căn cứ vị nầy đắc được môn giải thoát vào khắp pháp
giới. Pháp giới thì bao quát tất cả, Long cung cũng ở trong pháp
giới. Do đó, có thể chứng minh vị Chủ Không Thần nầy, đã đến Long
cung thưởng thức phong cảnh, chẳng phải vui miệng nói bậy.
Các bạn ai muốn du hành đến Long cung, thì trước hết phải chứng được
môn giải thoát vào khắp pháp giới. Có cảnh giới nầy rồi, thì mới
toại tâm mãn nguyện, chẳng có gì hạn chế được, đến đi tự do. Ðó là
môn giải thoát mà vị Chủ Không Thần nầy vào được.
Những người xuất gia và tại gia tại chùa Kim Sơn, đều dũng mãnh tinh
tấn. Vì Phật giáo đang bắt đầu ở phương tây, cần người khai ngộ, cần
người chứng quả. Có người khai ngộ và người chứng quả, thì phật giáo
mới dễ dàng phát dương quang đại. Cho nên hy vọng Tỳ kheo và Tỳ Kheo
Ni nỗ lực tham thiền, chí cầu khai ngộ, chứng đắc đạo quả.
Hiện tại có hai vị Tỳ Kheo phát tâm tam bộ nhất bái, cầu cho thế
giới hoà bình vô tai nạn. Tỳ Kheo Ni không thể đứng đàng sau, vì tại
nước Mỹ nầy nam nữ bình đẳng. Hiện tại đang khảo tuyển nhân tài khai
ngộ và chứng quả, hy vọng mọi người nỗ lực tranh thủ.
Hiện tại có vị cư sĩ đưa ra vấn đề. Vị
cư sĩ nầy không biết là cư sĩ nam hay là cư sĩ nữ ? y nói : "Tỳ kheo
và Tỳ Kheo ni có thể khai ngộ, có thể chứng quả. Vậy, chúng tôi
người cư sĩ có hy vọng chăng" ? Bây giờ bổ sung thêm, cư sĩ nam và
cư sĩ nữ đều có hy vọng, đều có thể khai ngộ cũng có thể chứng quả,
nhưng phải tu hành. Nếu không tu hành, thì dù Phật đích thân tới
giáo hóa, cũng không thể thành Phật. Nếu thành tâm tu hành, thì Phật
không đến cũng có thể thành Phật, chỉ xem bạn tu hành hay chăng, để
quyết định thành Phật hay không thành Phật.
Chủ Không Thần Sanh Cát Tường Phong, được môn giải thoát, thấu rõ
vô biên cảnh giới thân tướng.
Vị Sinh Cát Tường Chủ Không Thần. Cát Tường tức là gì cũng đều tốt,
chẳng có xấu, nếu có xấu thì chẳng phải là cát tường. Vị Chủ Không
Thần nầy, sinh được gió cát tường, gió nầy là pháp thanh tịnh, chứ
chẳng phải là pháp nhiễm ô, cho nên gọi là gió cát tường.
Gió có rất nhiều loại. Có gió cuồng, gió bão, gió bắc, gió đông, gió
tây, đều chẳng phải là gió cát tường. Gió từ, gió hòa, gió huệ, gió
nam, đều là gió cát tường. Ðại Thuấn nói :
"Nam phong chi huân hề,
Khả dĩ giài ngô dân chi xấn hề.
Nam phong chi thời hề,
Khả dĩ phú ngô dân chi tài hề".
Ông ta nói gió nam rất nhu hòa, rất dễ chịu, làm cho dân của tôi đều
chẳng có nóng giận, mọi người đều hòa mục tương xứ; khi trời thổi
gió nam, thì có thể khiến cho dân của tôi đều giàu có. Vị vua Thuấn
nầy, là hoàng đế hiếu thuận nhất của Trung
Quốc, cũng là hoàng đế dân chủ nhất. Ông ta là Bồ
Tát đến giáo hóa chúng sinh, đến lợi ích chúng sinh. Cử chỉ hành
động của ông ta là đại công vô tư, là hoàng đế được đời sau nầy tôn
kính nhất, sùng bái nhất.
Có bài thơ rằng :
"Sơn ngoại thanh sơn, lầu ngoại lầu,
Tây hồ ca vũ ki thời hưu ?
Noãn phong huân đắc du nhân túy,
Trực bả Hàng Châu đương Biện Châu".
Ðây là bài thơ vào đời Tống, người ái quốc sáng tác. チnh
Sạ Thiên An hoàng đế tại Giang Nam, quên chinh phạt phía bắc, khôi
phục đất nước, cho nên nhận lầm Hàng Châu (kinh đô Nam Tống gọi là Lâm
An, nay gọi là Hàng Châu) làm Biện Châu (kinh đô
bắc Tống gọi là Biện Lương nay là Khai Phong).
Bài thơ nầy cũng nói về gió. Ông ta nói bên ngoài núi còn có núi
xanh, bên ngoài lầu còn có lầu các, giống như một bức họa tuyệt tác.
Ðây là hình dung cảnh trí Tây Hồ. Gió ấm nhẹ nhàng dễ chịu, thổi vào
mặt người làm cho thoải mái dễ chịu, khiến cho người viếng cảnh
giống như uống say, chẳng biết đông tây nam bắc. Cho đến Hàng Châu
mà nhận làm Biên Châu, vui mà quên về. Ðó là nói Nam Tống hoàng đế
không có ý chí phạt bắc, mà nhớ nhung say sưa sự ca vũ.
Hiện tại chúng ta đang nói đến chữ
phong, chữ nầy có rất nhiều danh từ, như : Phong tục, phong hóa,
phong khí, phong tình, phong nguyệt, phong thủy, phong thổ, phong
vân, phong cảnh, phong ba, phong tai .v.v. Muốn biết tỉ mỉ thì có
thể tra từ điển ở trong đó, có đề cập đến rất nhiều.
Chúng ta phải quạt gió cát tường đến khắp mọi nơi. Làm sao sinh được
gió cát tường ? Nếu bạn có sự khoái lạc thanh tịnh, tức là gió cát
tường, không thanh tịnh không khoái lạc, thì chẳng phải là gió cát
tường, mà là cuồng phong bạo vũ. Chúng ta phải làm cho gió cát tường
hòa phong tế vũ cùng khắp pháp giới, khiến cho tất cả chúng sinh đắc
được lợi ích ở trong gió cát tường.
Có câu : "Hàng như ý vũ ư trần hoàn", (rưới mưa như ý khắp hoàn
cầu). Khắp hoàn cầu đều rưới mưa như ý, tức cũng là rưới mưa châu
như ý trong hoàn vũ. Bạn có châu như ý, tôi cũng có châu như ý. Hạt
châu như ý nầy, tròn sáng lấp lánh đều ở trong tự tánh của chúng ta,
bất tất phải cầu bên ngoài.
Muốn tận hư không khắp pháp giới, đều sinh ra thứ gió cát tường nầy,
thì phải quạt gió cát tường làm cho tất cả tai nạn đều chẳng còn
nữa, quạt hết khí xấu đi chẳng còn nữa, thì sẽ có hòa khí, hòa khí
tức là cát tường, khí sấu tức là ách nạn. Trong Tâm Kinh có nói :
"Độ tất cả khổ ách", có khổ ách thì chẳng có cát tường, không có khổ
ách thì có cát tường.
Chúng ta phải quạt gió cát tường đến
khắp mọi nơi, rưới mưa như ý khắp mười phương, phải phát tâm như
thế. Nếu không quạt gió cát tường, thì không thể rưới mưa như ý. Như
vậy thì sao chổi sẽ đến. Hiện tại trong hư không xuất hiện sao chổi,
con sao chổi nầy lợi hại nhất, lớn nhất, nó đã xuất hiện cách đây
hai ngàn năm. Nó có thể hủy diệt quả địa cầu nầy, có thể khiến cho
trời đất đảo ngược, trời ở dưới đất ở trên ! Ai có sức lực nầy ? Con
sao chổi có oai lực nầy. Ðó là thế giới đã đến ngày cuối vậy.
Trong Kinh Lăng Nghiêm nó : "Tuệ bộc phi lưu". (sao chổi bay chạy).
Tia sáng nhoáng của sao chổi, là thiên sạ giống như hỏa tiển, ở đuôi
đều phun ra lửa ngọn giống như cái chổi, cho nên gọi là sao chổi; là
sao chẳng cát tường. Khi nó xuất hiện thì tạo thành đại kiếp vận.
Sao bộc cũng một thứ sao chổi, tia sáng nhoáng tứ sạ cũng chẳng cát
tường. Phi lưu tức là sao rớt. Vào tháng 10 năm 1973 con sao chổi
nầy xuất hiện, đã đến gần bên cạnh quả địa cầu, xem ra tràng kiếp
vận nầy không cách chi vãn hồi.
Những lời nầy tôi vốn không muốn nói, vì
sao chổi quá nguy hiểm, lần kiếp vận nầy quá lớn. Song, nếu không
nói thì tâm của mọi người vẫn chuyển không qua được. Nếu tâm của mọi
người chuyển biến thành tâm thanh tịnh, thì mới khiến cho sao chổi
nầy tiêu mất trong vô hình, mới tránh được tràng kiếp lớn nầy. Tai
nạn nầy chẳng phải là một quốc gia, mà là tai nạn lớn của toàn thế
giới. Lúc đó, là đầu mối sinh tử của nhân loại, có thể nói là vạn
phần nguy hiểm.
Chùa Kim Sơn của chúng ta có hai vị Tỳ Kheo hành Bồ Tát đạo, vì cầu
cho thế giới hòa bình, mà phát tâm tam bộ nhất bái, hiện thân thuyết
pháp, có khả năng điều phục sao chổi lần nầy, khiến cho nó chuyển
biến phương hướng, không để cho địa cầu hủy diệt. Một số người xem
ra cho rằng việc làm hành vi nầy là ngu si nhất. Kì thật, hai vị nầy
dùng phương pháp cổ lão ngu si nhất, để hàng phục sao chổi, khiến
cho nó không đến xâm đánh quả địa cầu, nhờ đó mà cứu vãn sinh mạng
của tất cả chúng sinh toàn thế giới.
Ðại kiếp vận nầy, là nghiệp tạo ra bởi
chúng sinh toàn thế giới. Nếu ai ai cũng cải ác hướng thiện, thay
đổi tâm tánh, thì tức là sinh gió cát tường. Thứ gió cát tường nầy,
có thể làm cho vận nguy của thế giới xoay chuyển, không bị sao chổi
lẻn đánh. Sự lẻn đánh nguy hại nầy, so với đạn nguyên tử, hoặc đạn
kinh khí (nucléaire) còn lợi hại hơn gấp trăm ngàn vạn lần. Hãy nhìn
hai vị hành giả nầy, công đức tam bộ nhất bái có thể vãn hồi kiếp
vận chăng ?
Vị Chủ Không Thần nầy, đắc được môn giải thoát, thấu đạt vô biên
cảnh giới thân tướng. Thấu đạt tức là tỏ ngộ triệt để, triệt ngộ đến
vô biên cảnh giới. Vô biên cảnh giới là gì ? Tức là thân Phật như hư
không. Vì thân Phật như hư không cho nên gọi là vô biên cảnh giới.
Do đó :
Nếu ai muốn biết cảnh giới Phật,
Hãy tịnh ý mình như hư không".
Vô biên cảnh giới cũng vô tướng. Tướng mà vô tướng, mà tướng cảnh
giới nầy, tức là cảnh giới Hoa
Nghiêm không
thể nghĩ bàn. Cảnh giới vi diệu nầy, chẳng phải sự suy nghĩ của phàm
phu mà minh bạch được. Vị Chủ Không Thần nầy, vào được môn giải
thoát nầy.
Chủ Không Thần Ly Chướng An Trụ, được môn giải thoát, trừ được
tất cả nghiệp, hoặc, chướng, của tất cả chúng sinh.
Vị Ly Chướng An Trụ Chủ Không Thần nầy, lìa khỏi tất cả chướng ngại,
an trụ nơi bất động địa, an trụ nơi thiền định, an trụ nơi tịch
tĩnh. Vị nầy đắc được trừ diệt nghiệp, hoặc, chướng, của tất cả
chúng sinh, tức là trừ tất cả ác nghiệp, tất cả hoặc, tất cả chướng
ngại của chúng sinh.
Nghiệp ác trừ khử được, thì tồn tại nghiệp thiện. Nghi hoặc tức là
mê hoặc, chẳng thấy rõ gì hết, chướng là chướng ngại bồ đề đạo. Cái
gì chướng ngại bồ đề đạo ? Tức là phiền não. Song, phiền não là bồ
đề, làm sao trừ khử ? Không cần trừ khử mà phải chuyển hóa nó,
chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển vô minh thành trí tuệ, chuyển
nghiệp ác thành nghiệp thiện. Cho nên vị Chủ Không Thần nầy, đắc
được môn giải thoát nầy.
Chủ Không Thần Quảng Bộ Diệu Kế, được môn giải thoát, tư duy quán
sát khắp biển hạnh rộng lớn.
Vị Quảng Bộ Diệu Kế Chủ Không Thần nầy, quán sát được sở tu hành
biển hạnh rộng lớn của tất cả chúng sinh, suy gẫm căn tính rộng lớn
của tất cả chúng sinh, bèn quán sát căn cơ vì người nói pháp, theo
bệnh cho thuốc, mà phổ độ tất cả chúng sinh. Biển hạnh rộng lớn, tức
là hạnh môn vô lượng vô biên. Mỗi một chúng sinh đều có một thứ nhân
duyên, thì họ tu thứ pháp môn đó, cần nhất phải tương ưng. Nếu không
tương ưng, thì đó đây đều chẳng ích lợi gì. Cho nên, vị Chủ Không
Thần nầy, đắc được cảnh giới nầy, minh bạch được môn giải thoát nầy.
Chủ Không Thần Vô Ngại Quang Diệm, được môn giải thoát, đại bi
quang cứu hộ hết thảy ách nạn của tất cả chúng sinh.
Vị Vô Ngại Quang Diệm Chủ Không Thần nầy, đắc được môn giải thoát
đại bi quang. Ðại bi tức là cứu khổ. Vị nầy dùng Bát nhã quang minh,
để cứu hộ hết thảy ách nạn của tất cả chúng sinh, khiến cho họ lìa
khổ được vui. Tất cả chúng sinh, sinh tử ở trong biển khổ, sinh rồi
chết, chết rồi sinh, tuần hoàn không ngừng ở trong sinh tử luân hồi,
ở trong biển khổ bỏ thân nầy sinh thân khác, tự cho rằng đó là việc
tốt, cho nên trôi nổi mà không nghĩ lìa khỏi. Ðó là ách nạn của tất
cả chúng sinh. Trong Tâm Kinh nói : "Năm uẩn đều không, vượt qua tất
cả khổ ách". Khổ ách nầy tức là khổ ách sinh tử. Năm uẩn giống như
năm bộ y phục mặc trên thân, phải cởi ra từng bộ từng bộ, đến khi
chẳng còn đeo sợi tơ nào nữa, thì thấy được bổn lai bộ mặt thật, đắc
được giải thoát, liễu sinh thoát tử, như thế thì vượt qua được sinh
tử luân hồi, đạt đến bờ Niết Bàn bên kia. Vị Chủ Không Thần nầy, cứu
hộ tất cả chúng sinh lìa khổ ách, đắc được môn giải thoát nầy.
Chủ Không Thần Vô Ngại Thắng Lực, được môn giải thoát, sức vào
khắp tất cả phước đức mà chẳng chấp trước.
Vị Vô Ngại Thắng Lực Chủ Không Thần nầy, đắc được môn giải thoát,
sức vào khắp tất cả phước đức mà không chấp trước. Tại sao chúng ta
chấp trước ? Vì tồn tại cái ta. Ðây là ta, đó là của ta, chấp đông
chấp tây, tất cả đều buông chẳng đặng, cho nên chẳng có phước, chẳng
có đức.
Chúng ta người tu đạo, phải phá chấp trước, tu phước đức, chẳng còn
chấp trước nơi năm uẩn, thì sẽ có sở thành tựu. Tóm lại, năm uẩn đều
không tức là Bồ Tát, năm uẩn chưa không là phàm phu. Vị Chủ Không
Thần nầy, tu vô lượng phước đức. Phước thì bên ngoài, đức thì bên
trong, song cũng chẳng chấp trước.
Chủ Không Thần Ly Cấu Quang Minh, được môn giải thoát, khiến tất
cả chúng sinh lìa chư cái, thì tâm được thanh tịnh.
Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Không Thần nầy, xa lìa trần cấu mà đắc được
quang minh. Không thanh tịnh gọi là cấu, cấu nầy che đậy tâm tính
của con người, che tính tịnh minh thể của chúng ta không sáng được,
giống như trên gương có bụi bặm đóng, không thể chiếu soi tất cả
tướng. Phải lau chùi bụi bặm trên gương, thì dụng đồ của gương sẽ
hiện ra. Dụng đồ của gương là gì ? Tức là chiếu được mọi hình tướng.
Nếu có một lớp bụi bặm, thì không thể chiếu soi tất cả hình tướng.
Tâm quang minh của chúng ta, vốn có tự tánh quang minh, vốn có trí
huệ quang minh như tấm gương. Trí huệ vốn có, trạch pháp nhãn vốn
có, cũng giống như gương. Song, bị trần cấu vô minh tập khí che lấp,
cho nên không hiện ra quang minh.
Ly cấu quang minh tức là lìa cấu bẩn,
quét sạch trần cấu, tức là đoạn trừ tập khí nhiều đời nhiều kiếp.
Quét sạch cấu tham, cấu sân, cấu si, thì quang minh tự nhiên sẽ hiện
ra. Cho nên, vị Chủ Không Thần nầy gọi tên nầy, tên nầy cũng là giả,
vì vị nầy là Chủ Không Thần. Không tức là gì cũng chẳng có, một
không thì tất cả đều không, ở đâu cũng chẳng có tình hình gì, sao
lại có một cái tên gọi là ly cấu quang minh ? Bổn lai, thì gì cũng
chẳng có, lại có cấu gì có thể lìa ? Còn có quang minh gì có thể
hiện ? Ðó là nói tự tánh của con người, bổn lai là thanh tịnh, bổn
lai là bất cấu bất tịnh, khiến cho con người đừng chấp trước.
Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Không Thần nầy,
chỉ minh bạch được một pháp môn, trong vô lượng pháp môn của Phật.
Vì vị nầy là Thần, cho nên chỉ minh bạch một bộ phận. Giống như
chúng ta uống nước, chỉ cần uống đủ lượng nước, vừa đủ thì ngưng,
không thể uống nhiều vì sức chứa của bụng có hạn.
Vị Chủ Không Thần nầy, tuy nhiên không như thế, song cũng không thể
hoàn toàn thấy rõ, thông đạt hết pháp môn của Phật, chỉ minh bạch
được cảnh giới môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh tâm lìa
chư cái thanh tịnh mà thôi.
Chư cái tức là ngũ cái. Những gì là ngũ cái ? Tức là :
1) Tham dục cái : Có thứ cái nầy rồi, thì chấp trước vào cảnh giới
năm dục.
2) Sân khuể cái : Có thứ cái nầy rồi, thì gặp nghịch cảnh tâm bèn
phẫn nộ.
3) Thùy miên cái : Có thứ cái nầy rồi, thì thân tâm hôn trầm.
4) Trạo hối cái : Có thứ cái nầy rồi, thì tâm tánh nóng nảy, đối với
những việc làm đều khởi ưu não.
5) Nghi pháp cái : Có thứ cái nầy rồi, thì khởi mê hoặc đối với các
pháp, do dự không quyết định.
Năm thứ cái nầy che đậy tâm tánh nên không thể sinh ra pháp lành.
Nếu không có năm thứ cái nầy, thì sẽ đắc được thanh tịnh, tâm quang
minh sẽ hiện tiền, tâm quang minh hiện tiền, thì sẽ chiếu khắp pháp
giới. Vị Chủ Không Thần nầy, vào môn giải thoát nầy.
Trí huệ quang minh bổn lai chiếu khắp pháp giới, song vì có thùng gỗ
đen cho nên chẳng có quang minh. Trên thùng gỗ đen nầy có nắp đậy,
bây giờ bị che đậy, cho nên một chút ánh sáng cũng chẳng có. Giống
như ly trà nầy, bây giờ tôi đậy nắp lên, thì bên trong sẽ đen tối.
Tâm của chúng ta cũng như thế, trí huệ của chúng ta cũng như thế. Sự
che đậy tức là vô minh, ai phá được năm cái nầy, thì người đó được
tự tại, không phá được năm cái nầy, thì chẳng được tự tại.
Phương thức giảng kinh hiện tại của chúng ta, có những điều khác với
phương thức giảng kinh ở Trung
Quốc. Chúng ta chọn lấy phương thức dân chủ, mọi
người đều có quyền phát biểu, bất cứ ai giảng sai thì mọi người đều
có quyền đưa ra thảo luận. Dù tôi cũng thế, nếu có chỗ nào giảng sai
lầm, thì chỉ ra để nghiên cứu. Chúng ta đều bình đẳng, không có quan
niệm giai cấp, đừng có phân biệt thầy trò, nên phá tư tưởng chuyên
chế.
Trên lý luận, bất cứ ai cũng không thể
cẩu thả lơ là, phô diễn mà phải nhận chân để nghiên cứu. Cho nên
Vĩnh Gia Ðại Sư nói : "Có nghi bất quyết trực tu tranh", chỗ nào
không minh bạch hoài nghi thì phải tranh. Tranh gì ? Tranh chân lý.
Nhất định phải phát huy ra chân lý. Kiến giải của tôi không nhất
định đều là đúng, hãy dùng trí huệ của mọi người để phát minh. Trí
huệ của một người có hạn, trí huệ của đại chúng vô hạn. Tôi nghĩ
không tới mà bạn nghĩ tới, bạn nghĩ không đến mà họ nghĩ đến. Mọi
người cùng nhau hợp thành một, đó gọi là tâm đại chúng, tức là Phật
tâm. Lý luận của đại chúng là lý luận của Phật. Cho nên mọi người
đừng khách sáo thảo luận, cùng nhau phát huy ra chân lý.
Tôi nhớ xưa kia, không rõ năm nào, tôi cảm thấy ai ai cũng đều phát
nguyện muốn giỏi hơn người, thông minh hơn người, hy vọng có trí huệ
hơn người. Do đó, tôi phát một lời nguyện đặc biệt là : "Nguyện ngu
si hơn người, nguyện đem trí huệ của mình bố thí cho hết thảy mọi
người". Phát nguyện nầy rồi, quả nhiên ngu si thật, có tiền thì bố
thí cho người dùng, có vật gì cũng thế, thậm chí sinh mạng cũng
nguyện bố thí, đó là việc quá khứ của tôi.
Chủ Không Thần Thâm Viễn Diệu Âm, được môn giải thoát, trí quang
minh thấy khắp mười phương.
Vị Thâm Viễn Diệu Âm Chủ Không Thần nầy, có cảnh giới sâu xa
không thể nghĩ bàn. Cảnh giới nầy, vị nầy khéo nói các pháp, vì vị
nầy có đại trí huệ, phá được tất cả ngu si, cho nên đắc được môn
giải thoát, trí huệ quang minh thấy khắp mười phương, đó là một phần
trong cảnh giới của Phật.
Chủ Không Thần Quang Biến Thập Phương, được môn giải thoát, không
động bổn xứ mà hiện khắp thế giới.
Vị Quang Biến Thập Phương Chủ Không Thần nầy, có trí huệ quang minh
đầy khắp mười phương, đắc được cảnh giới không động bổn xứ. Không
động tức là tuy thân tâm không động, mà trí huệ quang biến khắp mười
phương. Tuy nhiên biến khắp mười phương, mà trí huệ quang minh vốn
có chẳng giảm bớt. Không động bổn xứ là chỗ chính không giao động,
mà biến khắp mười phương, mà bổn xứ không động. Cho nên, vị nầy gọi
là Quang Biến Thập Phương Chủ Không Thần.
Môn giải thoát nầy, ai muốn tu thì người
đó đắc được. Tu đạo là từ nhỏ mà lớn, từ gần mà xa, từ tự mà tha, tu
từng bước từng bước.
Bất động bổn xứ là gì ? Ví như làm rất nhiều công việc, mà trong tâm
không cảm thấy mệt, không có ý niệm khổ nhọc mệt mỏi, đó là sở hành
vô sự, dùng công việc làm vận động thân thể. Tuy làm việc mà không
có việc để làm, đó là vô công dụng đạo, tức cũng là không động bổn
xứ. Bổn xứ tức là tâm, tâm không động thì không động bổn xứ. Nếu tâm
động thì động bổn xứ.
Bấy giờ, Chủ Không Thần Tịnh Quang Phổ Chiếu, nương oai lực của
đức Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Không Thần, mà nói bài kệ rằng:
Lúc bấy giờ, là chỉ lúc nào ? Kì thật chẳng có một thời nào. Nếu nói
là thời nầy đây, thì thời nầy đây đã qua rồi. Trong kinh Kim Cang
nói :
"Quá khứ tâm bất khả đắc,
Hiện tại tâm bất khả đắc,
Vị lai tâm bất khả đắc".
Tức nhiên là ba tâm bất khả đắc, sao lại chấp trước vào một thời ?
Vậy tại sao trong kinh văn nói có một thời ? Lúc bấy giờ trong kinh
văn, là vì lúc đó có trăm ngàn ức Bồ Tát và Thần chúng, Thiên Long
bát bộ .v.v., đều vây quanh đức Phật, mọi người đồng thời tán thán
Phật, chẳng phân biệt trước sau. Nhưng dùng văn tự ghi chép, thì có
phân biệt trước sau, không thể biên chép ra nhiều kệ như vậy cùng
một lúc, giống như ăn đồ ăn, phải ăn từng miếng từng miếng, không
thể cùng lúc ăn một miếng mà no được. Cho nên có thứ lớp trước sau.
Bổn lai, lúc bấy giờ nầy, là lúc đương thời tất cả Bồ Tát, tất cả
Thiên Vương, tất cả Thần chúng, tất cả Thiên Long bát bộ, đồng thời
tán thán Phật. Cho nên lúc đó chẳng có trước sau. Hơn nữa, lúc đó đã
quá khứ rồi, chấp trước vào lúc đó lại có ích gì ?
Vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần nầy, có quang minh thanh
tịnh, chiếu khắp mười phương pháp giới. Vị nầy nương đại oai thần
lực của Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Không Thần, mà nói ra
bài kệ, tán thán cảnh giới của Phật.
Mắt Như Lai rộng lớn
Thanh tịnh như hư không
Thấy khắp các chúng sinh
Hết thảy đều rõ ràng.
Bài kệ bốn câu nầy, là vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần, tán
thán những gì Phật nói. Những vị Thần chúng nầy đồng thời tán thán
Phật, đều đồng thời nói kệ của mình, nhưng lúc ghi chép thì có phân
ra thứ tự trước sau. Giống như chúng ta tụ hội lại với nhau, đồng
thời tán thán một quốc gia, hoặc là một người. Thậm chí đối với một
sự việc, mọi người đồng thời phát biểu, lại giống như mọi người đồng
thời tán thán hoàng đế, hoàng đế là nhân vương, Phật là Pháp vương,
dùng đạo lý nhân vương để ví dụ pháp lý Pháp vương.
Giống như hoàng đế xuất chinh đi đến
đâu, thì dân chúng ở đó đều đến triều bái hoàng đế, mọi người dị
khẩu đồng thanh nói : "Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế", bất cứ có
bao nhiêu người, đều đồng thời cùng hô lên. Ðó là biểu thị cung kính
chúc tụng. Nhân vương thì như thế, Pháp vương cũng như thế. Ðồng
thời mỗi vị Thần đều dùng kệ bốn câu để tán thán Phật, tức là sự cảm
tưởng và thấy pháp của mỗi người đối với Phật. Các ngài dùng kinh
nghiệm sự chứng đạo của mình, môn giải thoát mình đắc được, làm kệ
để tán thán đức Phật.
"Mắt Như Lai rộng lớn". Phật có pháp nhãn rộng lớn vô biên, quán sát
được mười phương pháp giới.
"Thanh tịnh như hư không". Pháp nhãn của Phật thanh tịnh quang minh
giống như hư không.
"Thấy khắp các chúng sinh". Mắt rộng lớn của Phật, quán sát được
khắp hết thảy chúng sinh.
"Tất cả đều thấy rõ". Tất cả chúng sinh khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ
báo, Phật đều thấy rất rõ ràng, cho nên dùng đủ thứ pháp môn để giáo
hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh lìa khỏi khổ não,
đắc được khoái lạc.
Con người thì có kỷ niệm sinh nhật, quốc gia thì có kỷ niệm ngày
quốc khánh. Ngày sinh nhật thì các thân hữu đến chúc thọ, mọi người
đều ca bài sinh nhật khoái lạc. Ngày quốc khánh thì nhân dân Trung
Quốc hô to Trung
Hoa Dân Quốc
vạn tuế ! Quốc khánh của nước nào thì hô vạn tuế của nước đó ! Một
sự chúc mừng thế tục còn như thế, huống hồ là Phật thành Phật, có vô
lượng Bồ Tát, A la hán, Thiên vương, Thần chúng, Thiên Long bát bộ,
đều đến vây chung quang Phật, tán thán Phật.
Vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần
nầy, dùng bốn câu nầy để tán thán Phật, biểu thị sự cảm tưởng và sự
thấy pháp đối với Phật. Khi tôn giả A Nan kết tập kinh điển, thì ghi
vào trong kinh điển. Bây giờ chúng ta đọc tụng ra, thì minh bạch chỗ
diệu của KinhHoa
Nghiêm. Kệ có nhiều như thế, song nếu thông đạt
thấy rõ được một bài kệ, thì có thể đắc được giải thoát.
Thân Phật đại quang minh
Chiếu khắp trong mười phương
Nơi nơi đều hiện tiền
Phổ Du quán đạo nầy.
"Thân Phật đại quang minh". Thân Phật phóng đại quang minh, vào khắp
pháp giới. Trí huệ quang minh của Phật, cũng vào khắp pháp giới.
"Chiếu khắp trong mười phương". Thân Phật phóng đại quang minh,
chiếu soi khắp tất cả chúng sinh trong mười phương, khiến cho tất cả
chúng sinh đắc được trí huệ.
"Nơi nơi đều hiện tiền". Mỗi chúng sinh đều nói như vầy : "Phật ở
trước mặt tôi, mà vì tôi nói diệu pháp". Ðạo lý nầy giống như
"Nguyệt ảnh thiên giang". Nghĩa là: Một mặt trăng, hiện bóng xuống
muôn ngàn con sông. Quang minh của Phật chiếu khắp, phàm là chúng
sinh thì quang của Phật đều chiếu đến.
"Phổ Du quán đạo nầy". Vị Phổ Du Thâm Quảng Chủ Không Thần, quán sát
và minh bạch được đạo lý nầy, mà vào môn giải thoát nầy.
Thân Phật như hư không
Không sinh không thủ lấy
Không đắc không tự tánh
Cát Tường Phong thấy rõ.
"Thân Phật như hư không". Thân của Phật giống như hư không, là vô
tướng nhưng vô bất tướng, cho nên nói thật tướng.
"Không sinh không thủ lấy". Tức nhiên là vô sinh, làm sao có sự thủ
lấy ? Không sinh không nhiễm, tức là gió cát tường.
"Không đắc không tự tánh". Cũng chẳng có đắc, bạn nói có sở đắc
chăng ? Đắc gì ? Thân Phật chẳng có tự tánh, giống như hư không, hư
không cũng chẳng có tự tánh.
"Cát Tường Phong thấy rõ". Cảnh giới nầy, vị Sinh Cát Tường Phong
Chủ Không Thần thấy rõ được.
Như Lai vô lượng kiếp
Rộng nói các Thánh đạo
Diệt khắp chúng sinh chướng
Viên Quang ngộ môn nầy.
"Như Lai vô lượng kiếp". Như Lai là một trong mười danh hiệu của
Phật, Phật từ trong vô lượng kiếp cho đến hiện tại.
"Rộng nói các Thánh đạo". Phật luôn luôn rộng nói con đường tu hành
của bậc Thánh, nghĩa là rộng nói chánh pháp.
"Diệt khắp chúng sinh chướng". Khiến khắp hết thảy nghiệp chướng của
chúng sinh đều tiêu diệt. Nghiệp chướng diệt rồi, thì sinh ra trí
huệ. Có trí huệ thì có thể vào môn giải thoát của Phật.
"Viên Quang ngộ môn nầy". Cảnh giới nầy, vị Viên Quang Chủ Không
Thần minh bạch, và ngộ hiểu được.
Chùa Kim Sơn và Viện Dịch Kinh Quốc Tế, mỗi ngày đều giảng Kinh Hoa
Nghiêm, nếu không giảng ở Chùa Kim Sơn, thì giảng ở
Viện Dịch Kinh Quốc Tế. Giống như nước sông lớn, đều chảy hằng ngày
không gián đoạn. Vào thời mạt pháp nầy, đệ tử Phật nên làm việc
chánh pháp, đó là nguyện lực của tôi đã phát ra xưa kia. Tôi nguyện
khi thời đại mạt pháp, thì duy trì chánh pháp. Bất cứ tôi đến đâu,
chỉ có chánh pháp chứ không có mạt pháp tồn tại, đó là nguyện lực
quá khứ của tôi, bây giờ, tôi cũng phát nguyện lực như vậy, vị lai,
tôi cũng phát nguyện lực như vậy. Nguyện lực của tôi là diệt trừ mạt
pháp, phải nối tiếp huệ mạng của Phật, thiệu long Tam Bảo, cho nên
giảng kinh không ngừng.
Tôi quán Phật xưa kia
Tích tập hạnh bồ đề
Đều vì an thế gian
Diệu Kế hành môn nầy.
"Tôi quán Phật xưa kia". Vị Quảng Bộ Diệu Kế Chủ Không Thần nói :
"Tôi quán sát Phật thuở xa xưa, đời đời kiếp kiếp tu tập các hạnh
môn".
"Tích tập hạnh bồ đề". Phật trong vô lượng kiếp đến nay, tích tập
hạnh bồ đề chẳng có ai có thể sánh bằng, đó là hạnh môn vô thượng.
"Ðều vì an thế gian". Tại sao Phật tu hạnh bồ đề ? Hoàn toàn vì
khiến cho chúng sinh hữu tình thế gian đắc được an lạc.
"Diệu Kế hành môn nầy". Ðây là cảnh giới tu hành của Quảng Bộ Diệu
Kế Chủ Không Thần.
Tất cả cõi chúng sinh
Lưu chuyển biển sinh tử
Phật phóng quang diệt khổ
Vô Ngại Thần thấy được.
"Tất cả cõi chúng sinh". Ðây là bao quát chúng sinh hữu tình và vô
tình. Chúng sinh hữu tình là vì chúng sinh vô tình mà hữu tình,
chúng sinh vô tình là vì chúng sinh hữu tình mà vô tình. Ðó là đạo
lý hỗ tương với nhau, khiến cho người thấy rõ Phật pháp, do đó các
pháp bổn lai là tướng tịch diệt. Vì có tất cả chúng sinh, ở trong
pháp vốn chẳng có gì có thể nói, nhưng bất đắc dĩ mới nói ra. Cho
nên nói tất cả cõi chúng sinh.
"Lưu chuyển biển sinh tử". Chúng ta chuyển đi chuyển lại ở trong sáu
nẻo luân hồi không thoát ra được. Sự sinh tử rộng lớn như biển cả,
trôi đi trôi lại ở trong biển khổ sinh tử, hoặc lưu chuyển đến cõi
trời, hoặc cõi người, cho đến địa ngục, vĩnh viễn ở trong sáu nẻo,
không đắc được liễu sinh thoát tử.
"Phật phóng quang diệt khổ". Vì chúng sinh quá ngu si, quá khổ não,
không phân biệt được đâu là đúng, đâu là không đúng. Rõ ràng là đúng
mà nói không đúng, rõ ràng là không đúng mà nói là đúng, đó là
chuyển ở trong cảnh giới hư vọng không thật. Chuyển tức là khổ não,
cho nên, Phật phóng ra một luồng quang minh diệt khổ, khiến cho
chúng sinh giác ngộ, khiến cho họ phát tâm lìa khổ được vui.
"Vô Ngại Thần thấy được". Vị Vô Ngại Quang Diệm Chủ Không Thần, thấy
được cảnh giới nầy, mà vào được môn giải thoát nầy.
Tạng công đức thanh tịnh
Làm ruộng phước thế gian
Vì họ khai trí giác
Lực Thần ngộ môn nầy.
"Tạng công đức thanh tịnh". Thanh tịnh là gì ? Tức là chẳng có nhiễm
ô. Công đức là gì ? Tức là lập công tích đức, làm nhiều việc lợi ích
chúng sinh. Do đó, công đức thiện, là làm hết những việc tốt tức là
thiện, dũng cảm mà làm thiện tức là công, lập công nhiều rồi tức là
đức. Mặt trái của công đức thiện, là tội nghiệt quá. Việc không nên
làm mà làm, tức là tội nghiệt quá. Ví như, không nên giết hại chúng
sinh mà bạn đi giết hại, đó là tội. Không nên tà dâm mà bạn tà dâm,
đó là nghiệt. Có tội có nghiệt, tức là có lỗi lầm. Tóm lại, tu mười
điều thiện tức là công đức thiện, tạo mười điều ác tức là tội nghiệt
quá.
Công của Phật lập nên, thật là vô lượng vô biên, đức của Phật làm,
cũng vô lượng vô biên. Bảo tạng công đức của Phật, cũng vô lượng vô
biên. Tóm lại, công đức thanh tịnh, tức là trồng ruộng phước.
"Làm ruộng phước thế gian". Phật Pháp Tăng
Tam Bảo, là ruộng phước thù thắng nhất trong thế
gian. Ai muốn gieo trồng ruộng phước, thì phải gần gũi Tam Bảo, cúng
dường Tam Bảo, cung kính Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo.
"Vì họ khai trí giác". Tại sao phải trồng vào ruộng phước ? Vì cầu
khai mở trí huệ. Phật tùy theo môn trí huệ Bát nhã, để khai đạo tất
cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được giác ngộ.
"Lực Thần ngộ môn nầy". Cảnh giới nầy, vị Vô Ngại Thắng Lực Chủ
Không Thần giác ngộ được, mà vào môn giải thoát nầy.
Chúng sinh bị si che
Lưu chuyển trong đường hiểm
Phật vì họ phóng quang
Ly Cấu Thần chứng được.
"Chúng sinh bị si che". Chúng sinh đều bị vô minh ngu si che đậy. Vì
trí huệ quang minh bị vô minh đen tối che lấp, cho nên gọi là bị si
che.
"Lưu chuyển trong đường hiểm". Vì hồ đồ mà điên đảo, cho nên lưu
chuyển không ngừng trong sáu nẻo. Có lúc sinh vào ba đường lành, có
lúc sinh vào ba đường ác, đó thật là nguy hiểm vô cùng, cho nên gọi
là lưu chuyển trong đường hiểm.
"Phật vì họ phóng quang". Phật thương xót chúng sinh, vì chúng sinh
mà phóng đại trí huệ quang minh để cứu họ, khiến cho họ lìa xa đường
hiểm nạn.
"Ly Cấu Thần chứng được". Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Không Thần, chứng
được cảnh giới nầy.
Trí huệ không ngằn mé
Đều hiện các cõi nước
Quang minh chiếu thế gian
Diệu Âm thấy như vậy.
"Trí huệ không ngằn mé". Trí huệ của ai không có ngằn mé ? Ðương
nhiên là trí huệ của Phật ! Trí huệ quang minh của Phật tận hư không
khắp pháp giới, không có ngằn mé, cũng không cùng tận.
"Ðều hiện các cõi nước". Vì trí huệ quang minh của Phật chẳng có
ngằn mé, cho nên chiếu soi khắp các cõi nước chư Phật trong mười
phương.
"Quang minh chiếu thế gian". Trí huệ quang minh của Phật, chiếu soi
khắp tất cả chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới.
"Diệu Âm thấy như vậy". Vị Thâm Viễn Diệu Âm Chủ Không Thần, thấy
được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy.
Phật vì độ chúng sinh
Tu hành khắp mười phương
Tâm nguyện lớn như vậy
Phổ Hiện quán sát được.
"Phật vì độ chúng sinh". Phật vì độ tất cả chúng sinh, mà đến thế
giới nầy, khiến cho tất cả chúng sinh, đều lìa khổ được vui, liễu
sinh thoát tử.
"Tu hành khắp mười phương". Phật dùng trí huệ để tu hành, đầy khắp
trong cõi nước chư Phật mười phương.
"Tâm nguyện lớn như vậy". Phật muốn độ khắp chúng sinh, mà phải tu
hành khắp mười phương, tâm nguyện thật lớn vô cùng.
"Phổ Hiện quán sát được". Vị Phổ Hiện Quang Biến Thập Phương Chủ
Không Thần, quán sát được cảnh giới nầy, minh bạch được đạo lý nầy,
mà vào môn giải thoát nầy.
Lại nữa, Chủ Phong Thần Vô Ngại Quang Minh, được môn giải thoát,
vào khắp Phật pháp, và tất cả thế gian.
Người không biết Phật pháp, thì không biết có Chủ Trú Thần, Chủ Dạ
Thần, Chủ Phương Thần, Chủ Không Thần, Chủ Phong Thần .v.v., có
nhiều vị thần như thế. Người nghiên cứu Phật pháp, mới biết có các
Thần chúng nhiều như thế. Riêng nói về Chủ Phong Thần, chẳng phải là
một Chủ Phong Thần, mà là có vô lượng vô biên Chủ Phong Thần. Kinh
văn ở trước, bất quá chỉ nói ra tên của mười vị Chủ Phong Thần mà
thôi, không biết còn có bao nhiêu không đề ra ? Cho nên bây giờ lại
nói lại nữa. Lại nữa có nghĩa là ý nghĩa ở trên chưa nói xong, bây
giờ tiếp tục nói.
Các vị Thần đồng thời tán thán Phật,
không những chỉ có Chủ Trú Thần, Chủ Dạ Thần, Chủ Phương Thần, Chủ
Không Thần, mà còn có Chủ Phong Thần, và các vị Thần khác .v.v. Bây
giờ nói về Chủ Phong Thần tán thán Phật.
Vị Chủ Phong Thần nầy, tên là Vô Ngại Quang Minh. Vì quang minh của
vị nầy, chẳng có gì chướng ngại được, chiếu khắp được mọi nơi. Vị
nầy đắc được tam muội vào khắp Phật pháp. Phật pháp tức là pháp xuất
thế gian. Vị nầy còn vào được tất cả pháp thế gian. Cho nên ngài Lục
Tổ nói :
"Phật pháp tại thế gian,
Không lìa thế gian giác,
Lìa thế cầu Bồ đề,
Ví như tìm sừng thỏ.
Phật pháp không lìa khỏi pháp thế gian. Nghĩa là ở trong pháp thế
gian có pháp xuất thế, cho nên nói là tất cả thế gian. Vị Chủ Phong
Thần nầy, đắc được môn giải thoát nầy.
Gió có nhiều loại, cho nên tên của Phong
Thần (thần gió) cũng rất nhiều, gió cũng có thần để quản lý, không
để cho nó thổi bậy. Nếu không có thần quản lý, thì nó sẽ gây ra
cuồng phong bạo vũ, tạo thành tai hại. Trong ba nạn lớn mà lợi hại
nhất là nạn gió, dù trên cõi trời Tam Thiền, cũng phải chịu nạn gió.
Trong thân thể của chúng ta cũng có gió, cho nên bên ngoài mới có
gió. Thân thể của chúng ta do bốn đại giả hòa hợp mà thành. Bốn đại
giả là đất nước gió lửa bốn yếu tố. Ðất tức là gân xương da thịt,
nước là máu mồ hôi nước mắt, lửa là nhiệt độ của thân thể, gió là
không khí hô hấp (hơi thở). Bốn đại điều hòa thì khỏe mạnh, bốn đại
không điều hòa là bịnh hoạn. Bốn đại không nghe sự chỉ huy, mất đi
tát dụng tức là lúc sắp chết. Vì quan hệ bốn đại giả hợp, cho nên
trong thân thể của chúng ta có gió. Chúng ta ở trong gió mà nhìn
chẳng thấy hình tướng của gió, giống như cá trong nước mà chẳng thấy
hình tướng của nước. Con người ở trong gió (không khí) mới sinh tồn
được, nếu không có gió thì không thể sống. Cá ở trong nước mới sinh
tồn được, nếu chẳng có nước cũng không thể sống. Tóm lại, con người
lìa khỏi không khí thì lập tức chết liền, giống như cá mà lìa khỏi
nước không lâu sẽ chết. Cho nên, gió với con người có quan hệ mật
thiết với nhau.
Chủ Phong Thần Phổ Hiện Dũng Nghiệp, được môn giải thoát, Phật
xuất hiện ra đời trong vô lượng cõi nước, đều cúng dường rộng lớn.
Vị Phổ Hiện Dũng Nghiệp Chủ Phong Thần nầy, hiện ra dũng nghiệp khắp
hết thảy. Dũng nghiệp tức là nghiệp dũng mãnh tinh tấn. Tinh tấn bồ
đề, tinh tấn phạm hạnh, tinh tấn cúng dường Tam Bảo, tinh tấn cung
kính Tam Bảo, đối với tất cả Phật pháp, đều tinh tấn không giải đãi.
Khi Phật xuất hiện ra đời trong vô lượng vô biên cõi nước, thì vị
nầy đều hoàn toàn cúng dường rộng lớn. Vị nầy dùng tâm pháp giới để
cúng dường chư Phật pháp giới, không những cúng dường chư Phật trong
quá khứ, chư Phật hiện tại, mà còn cúng dường chư Phật vị lai, đó là
môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Chủ Phong Thần Phiêu Kích Vân Tràng, được môn giải thoát, dùng
gió thơm tiêu diệt hết thảy bệnh của tất cả chúng sinh.
Vị Phiêu Kích Vân Tràng Chủ Phong Thần nầy, đắc được môn giải thoát,
gọi là gió thơm diệt khắp bệnh của tất cả chúng sinh. Ở trong gió
nầy có một mùi thơm, mùi thơm nầy là dược phẩm vô thượng, tiêu diệt
khắp bệnh tham sân si ba độc của tất cả chúng sinh. Bệnh ba độc giải
trừ rồi, thì sinh ra đức hạnh giới định huệ. Ðó là môn giải thoát
của vị nầy đắc được.
Chủ Phong Thần Tịnh Quang Trang
Nghiêm, được môn giải thoát, hết thảy tất cả chúng
sinh, đều sinh căn lành, khiến cho họ diệt trừ núi chướng nặng.
Vị Tịnh Quang Trang
Nghiêm Chủ Phong Thần nầy, dùng quang minh thanh
tịnh để trang nghiêm thân mình. Vị nầy đắc được môn giải thoát,
khiến cho tất cả chúng sinh, đều phát bồ đề tâm, sinh căn lành lớn,
cải ác hướng thiện, cải tà quy chánh, không làm các điều ác, làm các
điều lành, cho nên khiến khắp tất cả chúng sinh, sinh ra căn lành.
Căn lành tăng trưởng thì nghiệp ác tiêu diệt. Vị nầy khiến cho tất
cả chúng sinh, diệt trừ núi chướng nặng.
Núi chướng nặng lợi hại nhất, là ngã
chấp và pháp chấp. A la
Hán đã
đoạn được ngã chấp (chấp cái ta) mà chưa đoạn được pháp chấp. Bồ Tát
không những đã đoạn được ngã chấp, mà còn đoạn được pháp chấp. Vị
Chủ Phong Thần nầy, diệt trừ được ngã, pháp hai chấp, sang bằng núi
chướng nặng, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Chủ Phong Thần Lực Năng Kiệt Thuỷ, được môn giải thoát, phá được
vô biên chúng ác ma.
Vị Lực Năng Kiệt Thủy Chủ Phong Thần nầy, sức lực có thể thổi nước
khô cạn. Vị nầy đắc được môn giải thoát, phá được vô biên chúng ác
ma. Ác ma tức là ma lợi hại nhất, tức cũng là ma vô minh phiền não.
Chúng ta người tu hành, phải luôn luôn hồi quang phản chiếu. Phản
chiếu gì ? Phản chiếu trong tự tánh của mình có phiền não tồn tại
chăng ? Nếu có người nói bạn không tốt, bạn có phiền não chăng ? Có
người nói bạn không đúng, bạn có phiền não chăng ? Có người đến mắng
bạn, bạn có phiền não chăng ? Có người đến đánh bạn, bạn có phiền
não chăng ? Nếu bạn không sinh phiền não, tức là tiêu diệt được vô
biên chúng ác ma. Nếu sinh phiền não, thì chẳng phá được chúng ác
ma. Người tu đạo phải mỗi ngày hồi quang phản chiếu, nghĩa là kiểm
thảo chính mình, phản tỉnh chính mình : Tại sao phải nóng giận ? Sao
lại nổi giận ? Nên biết nóng giận là lửa vô minh, lửa vô minh thì
thiêu hủy rừng công đức.
Nếu chúng ta không có phiền não, không
nóng giận, thì người đó cao thượng, khiến cho người cung kính, nếu
vô minh phiền não và nóng giận quá lớn, thì người đó chẳng có giá
trị, không cao thượng, không đáng cho người cung kính. Ðức tánh
thanh cao của người tu đạo là, chẳng có phiền não. Ai không có phiền
não, thì người đó sớm chứng quả, sớm khai ngộ. Ai có phiền não thì
chứng quả muộn, khai ngộ muộn. Ðó là đạo lý thực tế, ai ai cũng
biết, nhưng chẳng ai thực hành được.
Tại nước Mỹ nầy, Phật pháp mới bắt đầu, chúng ta nhất định cần nhiều
người chứng quả, nhiều người khai ngộ. Chúng ta phải tạo Thánh hiền,
Bồ Tát, La
Hán, tạo Thánh nhân sơ quả, nhị quả, tam quả, và tứ
quả. Chúng ta phải tạo bậc Thánh hiền, chẳng phải tạo người dư thừa.
Người dư thừa là gì ? Tức là người mà mọi người không cần.
Tại nước nầy, mọi người đừng bỏ qua cơ
hội tốt. Bạn vốn có thể chứng quả, nhưng một khi nóng giận lên, thì
chẳng có phần. Bạn hãy xem có vị Thánh nhân nào có vô minh, có phiền
não, có nóng giận chăng ? Vì họ đã chứng đến cảnh giới người cũng
không, pháp cũng không, thì tự nhiên chẳng còn vô minh phiền não và
nóng giận. Bạn phải tôn trọng mình, đừng khinh mình, tìm cách để sớm
chứng quả, đừng rơi vào phía sau. Bạn muốn chứng quả chăng ? Vậy
trước hết phải phá ác ma. Ác ma tức là vô minh phiền não của bạn.
Khi tôi giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Phẩm Phổ Môn có nói rằng : "Ngàn ngày nhặt củi,
chút lửa đốt sạch". Khổ công nhặt củi cả ngàn ngày, chỉ một chút lửa
thì thiêu sạch. Giống như công làm được ngàn ngày, đức tu được ngàn
ngày, một khi phát lửa vô minh (nóng giận), thì bao nhiêu công đức
tu được đều cháy sạch. Cho nên, người tu đạo, tối kị nhất là nóng
giận, nhất định phải tu pháp môn nhẫn nhục !
Ác ma chuyên phá đạo nghiệp của bạn, nó
thấy bạn tu được chút công đức, thì đến quấy nhiễu bạn, ngày ngày
đợi cơ hội xem bạn chừng nào nổi nóng, thì nó thừa cơ mà vào trong
tâm của bạn, khiến cho bạn thối đạo tâm. Bổn lai muốn tu hành, bây
giờ suốt ngày đến tối muốn hoàn tục, không muốn tu hành nữa, đó là
bị ma vương chi phối. Ma vương chuyên môn phá hoại đạo tâm. Nếu
người tu hành ý chí không kiên cố, thì sẽ đầu hàng ma vương, làm
quyến thuộc của chúng. Cho nên, muốn thoát khỏi khổ luân hồi, thì
phải nhận chân tu hành.
Vị Chủ Phong Thần nầy, phá được vô biên chúng ác ma, bất cứ loại ma
nào, vị nầy cũng hàng phục được, chẳng cho chúng tác quái, không để
cho chúng đến nhiễu loạn tâm thanh tịnh của người tu đạo, gia bị cho
người tu đạo sớm chứng quả, sớm khai ngộ, đó là môn giải thoát của
vị nầy đắc được.
Chủ Phong Thần Ðại Thanh Biến Hống, được môn giải thoát, vĩnh
viễn diệt trừ sự sợ hãi của tất cả chúng sinh.
Vị Ðại Thanh Biến Hống Chủ Phong Thần nầy, khéo thổi gió lớn, cho
nên âm thanh của gió rất lớn, khắp hư không đều có tiếng hống. Khi
chúng sinh có sự sợ hãi, thì vị nầy bố thí không sợ hãi cho chúng
sinh, khiến cho chúng sinh vĩnh viễn diệt trừ tâm sợ hãi, mà đắc
được an lạc, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.
Chủ Phong Thần Thụ Diểu Thùy Kế, được môn giải thoát, biển biện
tài vào thật tướng của tất cả các pháp.
Vị Thụ Diểu Thùy Kế Chủ Phong Thần nầy, thổi gió khiến cho các cành
cây nhỏ rũ xuống. Vị nầy minh bạch được cảnh giới thật tướng của các
pháp, tỏ ngộ biển biện tài thật tướng của các pháp, tức cũng là bổn
thể của các pháp. Bổn thể của các pháp là gì ? tức là :
"Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng.
Không thể dùng lời nói, các pháp thật tướng là không thể nói, không
thể nói. Tức nhiên không thể nói, sao còn có thể biện tài ? Vì không
thể nói, cho nên mới có biện tài mà vào biện tài.
Biển biện tài nầy, là bổn thể thật tướng của các pháp, dùng để phát
huy diệu dụng của nó. Ðạo lý nầy vô cùng vô tận, giảng cách nào cũng
có đạo lý, cho nên gọi là biển biện tài. Vì chẳng phải một đạo lý có
thể nói hết được, cho nên chẳng có định pháp. Giảng kinh thuyết pháp
mỗi người đều có sở thấy, sở ngộ của mình, giảng ra nghĩa kinh không
nhất định đều giống nhau. Nếu giảng giống nhau đó là kinh chết,
chẳng minh bạch được nghĩa sâu rộng của kinh, cũng chẳng vào được
bổn thể thật tướng của các pháp, cũng chẳng hiểu rõ nghĩa lý chân
chánh.
Minh bạch được thật tướng của các pháp, thì vào được biển biện tài,
tức là biện tài vô ngại, ai cũng giảng không bằng bạn, không bắt bẻ
được lý luận của bạn, bạn luôn luôn là người thắng lợi. Nếu không
như thế, thì chẳng đắc được biển biện tài. Vị Chủ Phong Thần nầy,
đắc được môn giải thoát, biển biện tài vào thật tướng của tất cả các
pháp.
Chủ Phong Thần Phổ Hành Vô Ngại, được môn giải thoát, tạng phương
tiện điều phục tất cả chúng sinh.
Vị Phổ Hành Vô Ngại Chủ Phong Thần nầy, sức gió đi khắp mười phương
pháp giới, mà chẳng chướng ngại. Vị nầy đắc được tạng phương tiện
điều phục tất cả chúng sinh. Ðiều phục là gì ? Tức là khiến cho
chúng sinh cang cường hết cang cường, chúng sinh ác hết ác, chúng
sinh bại hoại hết bại hoại, điều phục chúng sinh, khiến cho họ nhu
hòa mà nhẫn nhục, dũng mãnh tinh tấn, siêng tu đạo nghiệp. Khiến cho
tất cả chúng sinh cải ác hướng thiện, bỏ tà về với chánh, bỏ tối về
sáng đó là điều phục.
Dùng phương pháp gì để điều phục tất cả chúng sinh ? Tức dùng pháp
môn phương tiện khéo léo để điều phục. Pháp môn phương tiện khéo léo
nầy vô lượng vô biên, cho nên gọi là tạng. Gặp chúng sinh cang
cường, thì dùng pháp môn nhu hòa nhẫn nhục để điều phục, gặp chúng
sinh xấu thì dùng phương pháp tốt để điều phục. Tóm lại, dùng đủ thứ
pháp môn phương tiện, để điều phục tất cả chúng sinh. Vị Chủ Phong
Thần nầy vào được môn giải thoát nầy.
Chủ Phong Thần Chủng Chủng Cung Ðiện, được môn giải thoát, vào
môn thiền định tịch tĩnh diệt trừ ngu si ám cực nặng.
Vị Chủng Chủng Cung Ðiện Chủ Phong Thần nầy, vào môn thiền định tịch
tĩnh. Tịch tĩnh tức là bất động, bất động tức là thiền định. Vị nầy
diệt trừ ngu si ám cực nặng. Làm thế nào để diệt ? Vì vị nầy vào
được môn thiền định, do giới sinh định, do định phát huệ. Vì có trí
huệ cho nên tiêu trừ được ngu si ám cực nặng.
Ngu là rất ngốc nghếch, si là rất u mê. Ngu si tức là rất hồ đồ,
chẳng có trí huệ, chẳng có quang minh. Nhập thiền định thì có trí
huệ quang minh, có thể phá trừ ngu si ám cực nặng, đó là môn giải
thoát vị nầy đắc được.
Chủ Phong Thần Ðại Quang Phổ Chiếu, được môn giải thoát, tùy
thuận tất cả chúng sinh hành sức vô ngại.
Vị Ðại Quang Phổ Chiếu Chủ Phong Thần nầy, có đại trí huệ quang
chiếu khắp tất cả chúng sinh. Vị nầy đắc được cảnh giới, tùy thuận
tất cả chúng sinh. Phàm là việc gì chúng sinh muốn làm, vị nầy đều
thuận theo họ, không làm cho họ sinh phiền não nóng giận. Tóm lại,
khiến cho chúng sinh sinh tâm hoan hỉ, tức là sức vô ngại. Khiến cho
chúng sinh sinh phiền não, tức là có chướng ngại. Vị nầy đắc được
môn giải thoát nầy.
Bấy giờ, Chủ Phong Thần Vô Ngại Quang Minh, nương oai lực của đức
Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Phong Thần, mà nói ra bài kệ.
Khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói Kinh Hoa
Nghiêm, thì có vô lượng các Bồ Tát đến tụ tập tại
Ðạo Tràng, có vô lượng chư Thiên Vương, vô lượng Thiên Long bát bộ,
và các chúng Thần đến tụ tập tại Ðạo Tràng.
Lúc đó, vị Vô Ngại Quang Minh Chủ Phong Thần, nương đại oai thần lực
của Phật Thích Ca Mâu Ni, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Phong Thần,
mà nói ra bài kệ.
Tất cả Phật pháp rất thâm sâu
Vô ngại phương tiện vào được khắp
Phật thường xuất hiện khắp thế gian
Không tướng không hình không bóng dáng.
"Tất cả các Phật pháp thâm sâu". Hết thảy tất cả Phật pháp, của chư
Phật trong mười phương ba đời nói, đều là pháp thâm sâu vi diệu.
Trong Phật pháp lại sinh Phật pháp, trong Phật pháp lại hàm chứa
Phật pháp, cho nên nói pháp của tất cả chư Phật, là không thể nghĩ
bàn.
"Vô ngại phương tiện vào được khắp". Phật có pháp môn vô ngại phương
tiện, vào được khắp mọi nơi. Pháp môn nầy vào được khắp cõi nước,
nhiều như hạt bụi chẳng có gì chướng ngại, không chỗ nào mà chẳng
đến.
"Thường xuất hiện hết thảy thế gian". Phật luôn luôn xuất hiện tại
hữu tình thế gian, để giáo hóa chúng sinh, để phổ độ chúng sinh.
"Không tướng không hình không bóng dáng". Tuy Phật thường xuất hiện,
nhưng chẳng có tướng, chẳng có hình, tức nhiên không tướng không
hình, làm sao có bóng dáng ? Cho nên nói không tướng không hình
không bóng dáng.
Những gì Phật làm đều chẳng chấp trước, không giống như chúng ta có
tâm chấp trước. Hôm nay ta nghĩ làm gì ? Ta tốt như thế nào ? Mà
chẳng nghĩ đến chỗ nào mình không đúng. Ðó là biến thành có tướng,
có hình, có bóng dáng.
Phật thì quét sạch tất cả pháp, lìa tất cả tướng, tuy là suốt ngày
nói pháp, cũng chẳng nói câu pháp nào, suốt ngày ăn cơm, cũng chẳng
ăn hạt gạo nào, suốt ngày mặt y phục, cũng chẳng mặc sợi tơ nào.
Những gì Phật làm đều hành sở vô sự. Cảnh giới nầy, chẳng phải một
số phàm phu minh bạch được.
Ông quán Như Lai trong quá khứ
Một niệm cúng dương vô biên Phật
Hạnh bồ đề dũng mãnh như vậy
Phổ Hiện Thần ngộ cảnh giới nầy.
"Ông
quán Như Lai thuở
xa xưa". Vị Phổ Hiện Dũng Nghiệp Chủ Long Phong Thần nói : Các ông
hãy quán sát, khi Phật ở tại nhân địa, thì tu những hạnh môn không
thể nghĩ bàn.
"Một niệm cúng dường vô biên Phật". Phật ở trong một niệm, cúng
dường được vô biên chư Phật trong pháp giới. Ðều phát tâm cúng dường
hết thảy các vị Phật đó, đó tức là : "Rộng tu cúng dường".
"Hạnh bồ đề dũng mãnh như vậy". Dũng mãnh tinh tấn không giải đãi
như vậy, luôn luôn tu hạnh bồ đề. Hạnh bồ đề là gì ? Tức là giác
đạo, tu pháp môn trí huệ.
"Phổ Hiện Thần ngộ cảnh giới nầy". Vị Phổ Hiện Dũng Mãnh Chủ Phong
Thần, minh bạch được cảnh giới môn giải thoát nầy.
Như Lai cứu thế không nghĩ bàn
Hết thảy phương tiện chẳng luống qua
Ðều khiến chúng sinh lìa các khổ
Giải thoát nầy của Vân Tràng Thần.
"Như Lai cứu thế không nghĩ bàn". Như Lai tức là Phật, Phật tức là
Như Lai. Tuy hai tên nhưng một thể. Nếu xưng Như Lai Phật, tức là
người không hiểu Phật pháp. Phật xuất hiện nơi hữu tình thế gian, để
cứu độ tất cả chúng sinh. Sức nhu hòa nhẫn nhục nầy không thể nghĩ
bàn, chúng sinh không dễ gì minh bạch, cũng không thể tưởng tượng
được cảnh giới nầy.
"Hết thảy phương tiện không luống qua". Phật nói pháp là vì muốn cứu
chúng sinh thế gian, cho nên dùng pháp quyền xảo phương tiện, tức
cũng là nhân thời thuyết pháp, nhân sự thuyết pháp, nhân địa thuyết
pháp, vì người thuyết pháp. Tất cả phương tiện pháp môn, chẳng có
môn nào mà không sử dụng. Phật thấy loài chúng sinh gì, thì thuyết
pháp đó, cho nên không luống qua.
"Giải thoát nầy của Vân Tràng Thần". Vị Phiêu Kích Vân Tràng Chủ
Phong Thần, minh bạch được cảnh giới nầy.
Chúng sinh vô phước chịu các khổ
Trọng cái mật chướng thường mê đậy
Tất cả đều khiến được giải thoát
Tịnh Quang Thần biết rõ môn nầy.
"Chúng sinh vô phước chịu các khổ". Chúng sinh tức là chúng duyên
hòa hợp mà sinh, cũng là chúng duyên hòa hợp mà tử. Tại sao chúng
sinh chẳng có phước báo ? Vì không có trồng phước, sao chẳng trồng
phước ? Vì không gặp được Phật, không nghe được Pháp, không thấy
được Tăng, cho nên chẳng có chỗ đi trồng phước. Do đó, chẳng đắc
được phước báo.
Chỗ nào không có Phật, không có Pháp,
không có Tăng, thì sau khi chúng sinh hưởng hết phước báo, lại không
thể tăng thêm phước báo nữa. Tại sao ? Vì chẳng có nơi trồng phước.
Chẳng có phước thì chịu khổ, khổ có nhiều thứ gồm có: Ba thứ khổ,
tám thứ khổ .v.v., cho nên gọi là các khổ.
Ba thứ khổ tức là: Khổ khổ, hoại khổ và
hành khổ. Tám thứ khổ là: Sinh, già, bệnh, chết, ái biệt ly, oán
tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh.
"Trọng cái mật chướng thường mê đậy". Trọng cái tức là vô minh phiền
não, mật chướng tức là nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng,
sở tri chướng, đủ thứ cái và chướng, che đậy rất nghiêm mật. Che đậy
gì ? Che đậy tâm thanh tịnh của bạn. Bổn lai rất minh bạch, nhưng
bây giờ khiến cho bạn luôn luôn mê hoặc không minh bạch, càng ngày
càng hồ đồ, càng ngày càng nhiều vọng tưởng. Ai có trọng cái mật
chướng thường mê đậy, thì bây giờ hãy giác ngộ, hãy minh bạch, đừng
mê nữa, sớm tỉnh dậy, đừng ban ngày nằm mộng.
"Tất cả đều khiến được giải thoát". Phật
muốn tất cả những chúng sinh khổ, đều được giải thoát, tức cũng là
lìa khổ được vui.
"Tịnh Quang Thần biết rõ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị
Tịnh Quang Trang
Nghiêm Chủ Phong Thần thấy rõ được.
Nghiệp gồm có định nghiệp và bất định nghiệp. Bất định nghiệp có thể
thay đổi, có thể tiêu diệt. Ðịnh nghiệp thì không cách chi thay đổi
được, phải chịu khổ, chịu tội để tiêu diệt.
Vào cuối đời nhà Minh, hoàng đế Sùng
Trinh kiếp trước là một vị Sa Di, chưa đến lúc thọ giới cụ túc thì
qua đời. Sư phụ của y là minh nhãn thiện tri thức, quán sát được
nhân duyên quá khứ vị lai. Biết y có định nghiệp, đời sau sẽ làm
hoàng đế, song có đức mà không có phước, cho nên dạy sư huynh của y
hãy phanh thi thể của y ra, như thế thì có thể trợ giúp cho y tiêu
trừ nghiệp chướng. Ðó là một phen khổ tâm của sư phụ y, xí đồ muốn
thành tựu phước báo đời sau cho y. Lúc đó, sư huynh của y phát tâm
từ bi không nhẫn tâm sư đệ của mình chết không toàn thây, mới đem
xác sư đệ đi chôn. Ðời sau, sư huynh của y biết được sự việc, mới
đến tranh ngôi hoàng đế, đó là Lý Tự Thành. Lý Tự Thành tấn công vào
Bắc Kinh, thì hoàng đế Sùng Tring đến dưới cây núi than treo ngược
mà chết, chỉ làm hoàng đế được 17 năm.
Nếu như lúc đó sư huynh của y, đem thi thể của y phanh ra, thì đời
nầy y làm hoàng đế, vừa có đức vừa có phước, làm vị hoàng đế anh
minh . Bất hạnh thay, vì nghiệp đã đến, nên làm vua bị mất nước. Ðó
là sự việc có thật, để cho mọi người hiểu rõ đạo lý định nghiệp.
Sức thần thông Như Lai rộng lớn
Khắc phục tất cả chúng ma quân
Hết thảy các phương tiện điều phục
Dũng Kiện Oai Lực quán sát được.
"Sức thần thông Như Lai rộng lớn". Phật có sức thần thông biến hóa
rộng lớn vô lượng vô biên.
"Khắc phục tất cả chúng ma quân". Thần thông của Phật không thể nghĩ
bàn, có đại oai lực khắc phục tiêu diệt hết tất cả quân chúng thiên
ma.
"Hết thảy các phương tiện điều phục". Phật dùng tất cả pháp môn
phương tiện, để điều phục ma quân, khiến cho chúng tâm phục khẩu
phục. Ðó là dùng oai đức để cảm hóa.
"Dũng Kiện Oai Lực quán sát được". Cảnh giới nầy, vị Dũng Kiện Oai
Lực Chủ Phong Thần quán sát được.
Trong lỗ lông Phật diễn diệu âm
Âm đó vang khắp trong thế gian
Tất cả khổ sợ đều dứt trừ
Cảnh giới nầy của Biến Hống Thần.
"Trong lỗ lông Phật diễn diệu âm". Chúng ta muốn nói thì dùng miệng
để nói, dùng lưỡi để giảng giải, đó là bản năng của một số phàm phu
tục tử. Phật thì không những miệng thuyết pháp được, mà tất cả lỗ
chân lông khắp toàn thân, cũng diễn nói diệu pháp được. Mỗi lỗ chân
lông đều có thể diễn nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, mỗi lỗ chân lông
lại có thể dung nạp ba ngàn đại thiên thế giới. Mỗi lỗ chân lông của
Phật, đều có thể thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, hơn nữa, trong mỗi
lỗ chân lông đều có vô lượng chúng sinh đang ở trong đó để nghe
pháp. Nếu chỉ có Phật thuyết pháp, mà chẳng có chúng sinh nghe pháp,
thì cũng chẳng ích gì.
Có người nói : "Trong một lỗ chân lông của Phật, có vô lượng chúng
sinh đang nghe Phật thuyết pháp tại đó, đó là chuyện không thể có".
Cảnh giới của phàm phu, thì đương nhiên bạn không tin có cảnh giới
như thế, dù chứng được quả A La
Hán, còn không biết cảnh giới pháp hội Hoa
Nghiêm của
Phật, phải là Bồ Tát thì mới minh bạch được cảnh giới nầy. Cho nên
bạn không tin cũng không trách bạn, đợi khi nào bạn tu đến quả vị Bồ
Tát thì sẽ tin.
Diệu âm là gì ? Tức là đối cơ thuyết pháp, vừa đúng cơ của bạn tức
là pháp diệu; không đúng cơ thì chẳng phải pháp diệu, đó tức là quán
cơ đầu giáo, vì người thuyết pháp, cho nên gọi là diệu âm.
"Âm đó vang khắp trong thế gian". Diệu âm nầy, vang khắp tất cả mọi
nơi, tất cả mọi nơi đều có diệu âm nầy. Chúng sinh hữu tình thế
gian, nghe được diệu âm nầy mà khai ngộ, bỏ mê về giác.
"Tất cả khổ sợ đều dứt trừ". Tất cả
thống khổ và sợ hãi, đều hoàn toàn tiêu diệt. Không có khổ não thì
chẳng có sợ hãi, tức cũng là độ tất cả khổ ách. Trong Kinh Bát Nhã
nói : "Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly
điên đảo mộng tưởng, cứu kính Niết Bàn". Không có quái ngại thì
không có sợ hãi; không có sợ hãi mới xa lìa điên đảo mộng tưởng; xa
lìa được điên đảo mộng tưởng rồi, mới đắc được cứu kính Niết Bàn.
Chứng đắc được cứu kính Niết Bàn, đó là đắc được Thường Lạc Ngã Tịnh
bốn đức Niết Bàn. Thường Lạc Ngã Tịnh là gì ? Thường tức là phần
đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử đều chẳng còn. Lạc tức là giải
thoát thọ dụng, tức cũng là trí huệ giải thoát, đắc được vui chân
thật, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. Ngã tức là chứng được
pháp thân. Tịnh tức là tuyệt đối chẳng còn nhiễm ô chướng ngại.
"Giải thoát nầy của Biến Hống Thần". Vị Ðại Thanh Biến Hống Chủ
Phong Thần nầy, thấy rõ được cảnh giới nầy, vào được môn giải thoát
nầy.
Hôm nay chỉ giảng bốn câu kệ, mọi người có ý kiến gì chăng ? Ðừng
ngại hãy đưa ra nghiên cứu, phát huy trí huệ vốn có của các bạn, để
giảng kiến giải đặc biệt của bạn trước mọi người. Bây giờ là đúng
lúc, nếu có một chữ hoặc là một câu kinh văn không hiểu, thì có thể
nêu ra nghiên cứu, không thể nuốt trựng mà không hay biết được mùi
vị được. Nếu chẳng có ý kiến gì, thì sẽ tiếp tục giảng tiếp theo.
Chúng ta là dân chủ giảng kinh, mọi người đều có quyền nói, mọi
người đều có cơ hội giảng kinh, mỗi ngày chỉ nghe mình tôi giảng
kinh, do đó:
"U mê truyền u mê,
Một truyền hai không hiểu,
Sư phụ đọa địa ngục,
Ðồ đệ cùng đi theo.
Ðó là lấy bậy truyền bậy, càng truyền càng xa lìa kinh. Cho nên, có
chỗ nào nghi vấn, phải nêu ra để cùng nhau nghiên cứu !
Phật trong tất cả các cõi nước
Bất tư nghì kiếp thường diễn nói
Là diệu biện tài của Như Lai
Thụ Diểu Kế Thần ngộ hiểu được.
"Phật trong tất cả các cõi nước". Phật ở trong đại kiếp, các cõi
nước nhiều vô lượng không thể nghĩ bàn.
"Bất tư nghì kiếp thường diễn nói". Trong đại kiếp không thể dùng
tâm suy nghĩ, không thể dùng lời luận bàn, Phật luôn luôn diễn nói
diệu pháp thâm sâu vô thượng.
"Là diệu biện tài của Như Lai". Phật nói pháp là có diệu biện tài,
bất cứ nói pháp gì, thì lý luận vô cùng tận, như vào sâu ra cạn,
khiến cho người nghe đều hiểu rõ. Phật nhập vào tam muội biện tài
thuyết pháp.
"Thụ Diểu Kế Thần ngộ hiểu được". Cảnh giới nầy, vị Thụ Diểu Kế Chủ
Phong Thần ngộ hiểu được.
Phật trong tất cả môn phương tiện
Trí vào trong đó đều không ngại
Cảnh giới vô biên không ai bằng
Giải thoát nầy của Phổ Hành Thần.
"Phật trong tất cả môn phương tiện". Ðây là kệ của vị Phổ Hành Vô
Ngại Chủ Phong Thần tán thán Phật. Ngài nói Phật ở trong tất cả đủ
thứ môn phương tiện.
"Trí vào trong đó đều vô ngại". Tất cả trí huệ của Phật vào tất cả
môn phương tiện. Phương tiện pháp môn tức là vô ngại pháp môm, cho
nên nói đều vô ngại.
"Cảnh giới vô biên chẳng ai bằng". Cảnh giới của Phật vô lương vô
biên, không thể nghĩ bàn, cũng chẳng có vị Bồ Tát nào, hoặc vị La
Hán nào
có thể sánh với Phật, cho nên gọi là không gì bằng. Nghĩa là chẳng
có cảnh giới của ai đồng với cảnh giới của Phật.
"Giải thoát nầy của Phổ Hành Thần". Vị Phổ Hành Vô Ngại Chủ Phong
Thần, đắc được môn giải thoát nầy.
Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé
Nơi nơi phương tiện đều khiến thấy
Mà thân tịch tĩnh không hình tướng
Chủng Chủng Cung Thần môn giải thoát.
"Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé". Cảnh giới của Phật chẳng có bờ mé,
Ngài là tùy duyên không đổi, không đổi mà tùy duyên; một làm vô
lượng, vô lượng làm một, cho nên cảnh giới của Phật là vô lượng vô
biên, không thể nghĩ bàn.
"Nơi nơi phương tiện đều khiến thấy". Nơi nơi tức là khắp mọi nơi.
Khắp mọi nơi là mười phương pháp giới. Tận hư không biến pháp giới,
khắp mọi nơi Phật dùng phương tiện pháp môn viên dung vô ngại, khiến
cho chúng sinh đều thấy được sắc thân của Phật, pháp thân của Phật,
hóa thân của Phật, đồng thời có thể thấy được pháp, báo, hóa, ba
thân, chỉ xem nhân duyên của chúng sinh mà định.
"Mà thân tịch tĩnh chẳng có tướng". Tuy nhiên thấy được ba thân của
Phật, nhưng bổn thân của Phật tịch tĩnh chẳng chấp trước tướng. Bổn
thân của Phật chẳng có tướng. Tại sao ? Vì là tịch tĩnh, là không.
Tuy nhiên là không, nhưng không mà chẳng không, mà hay sinh ra diệu
hữu, diệu hữu ấy chẳng phải hữu, cho nên nói diệu hữu phi hữu, không
ngại chân không. Chân không chẳng không, không ngại diệu hữu. Ðó là
không, hữu (có) chẳng hai, tức không tức có, tức có tức không.
Không, hữu (có) chẳng hai, tức là trung đạo liễu nghĩa. Cho nên nói,
bổn thân Phật là tịch tĩnh vô tướng, chẳng có tướng. Song, tuy chẳng
có tướng nhưng chẳng lìa tất cả tướng.
"Chủng Chủng Cung Thần môn giải thoát". Vị Chủng Chủng Cung Ðiện Chủ
Phong Thần, đắc được môn giải thoát nầy.
Như Lai biển kiếp tu các hạnh
Tất cả các lực đều viên mãn
Tùy theo thế pháp ứng chúng sinh
Cảnh giới nầy của Phổ Chiếu Thần.
"Như Lai biển kiếp tu các hạnh". Phật trong vô lượng đại kiếp về
trước, tu hành tất cả hạnh môn, hết thảy đều viên mãn. Phật không
chê việc thiện nhỏ mà không đi làm, cũng không xem thường việc ác
nhỏ mà đi làm. Cho nên Phật tu hết thảy các hạnh, không bỏ pháp nào,
tu hết tất cả pháp, tu hết tất cả phương tiện pháp môn.
"Tất cả các lực đều viên mãn". Các lực tức là : Ðại từ lực, đại bi
lực, đại hỉ lực, đại xả lực, đại tín lực, đại nguyện lực, đại hạnh
lực, đại vô uý lực, đại vô ngại lực .v.v. Phật tu tất cả các lực đều
viên mãn mà thành tựu.
"Tùy theo thế pháp ứŨng chúng sinh". Phật thường tùy thuận tất cả
chúng sinh, để giáo hóa tất cả chúng sinh. Ðó tức là vì thế pháp mà
nói pháp xuất thế, ấy chẳng phải lìa thế pháp mà tu pháp xuất thế.
Cho nên nói, tùy theo pháp thế gian để tùy cơ ứng hóa. Tóm lại, thấy
căn tánh chúng sinh như thế nào, thì vì họ mà nói pháp. Cho nên dùng
pháp hành phương tiện thiện xảo, để giáo hóa tất cả chúng sinh.
"Cảnh giới nầy của Phổ Chiếu Thần". Ðây là vị Ðại Quang Phổ Chiếu
Chủ Phong Thần, thấy được cảnh giới môn giải thoát nầy.
Bây giờ là lúc thảo luận vấn đề, ai có vấn đề thì đưa ra, để mọi
người nghiên cứu. Có người đưa ra vấn đề : "Niệm Phật là ai" ? Trong
Kinh Kim Cang nói : "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm". Có một nơi nào
đó tức là trụ. Vô sở trụ, tức là không nghĩ thiện, không nghĩ ác, là
tại chỗ nầy mà dụng công. Nếu chú ý vào một nơi, nghĩ tốt nghĩ không
tốt, đó đều là chấp trước. Tu hành tức là tu chẳng chấp trước vào gì
hết, chấp trước gì cũng chẳng có, ngay cả thân thể của mình cũng
quên luôn, cho đến thân thể cũng chẳng có, thì còn chấp trước vào
cái gì ?
Khi tham thiền thì chẳng nhớ gì hết, chỉ nhớ : "Niệm Phật là ai" ?
Tìm cái "ai"? nầy, khi nào mà tìm được "ai"? Thì lúc đó sẽ khai ngộ,
tìm không được thì một ngày cũng phải tìm, mười ngày cũng phải tìm,
trăm ngày cũng phải tìm, ngàn ngày cũng phải tìm, vạn ngày cũng phải
tìm, cho đến một năm, mười năm, trăm năm, ngàn năm, vạn năm, cũng
đều tìm cái nầy. Khi nào tìm được thì lúc đó mới thôi.
Ðừng muốn nhanh, chẳng như hút nha
phiến, hút xong thì ghiền; sự việc chẳng dễ dàng như thế, đó là pháp
môn gạt người. Tu pháp môn chân chánh, phải tự mình nỗ lực dụng
công, đừng nhổ mầm giúp cho mau lớn, muốn cho mau lớn lên một chút !
Mau cao lên một chút ! Ðó là tư tưởng sai lầm. Câu "Niệm Phật là
ai"? Là chém chặt hết tất cả mọi vọng tưởng, chém chặt hết tất cả
mọi dục niệm, tức là chém hết mười đại ma quân. Chữ "ai" nầy, tức là
kim cang vương bảo kiếm, gì cũng đều chém sạch hết, gì cũng chẳng
còn. Ấy chẳng phải chấp trước một nơi nào.
"Phàm tất cả tướng đều là hư vọng,
Nếu thấy các tướng phi tướng,
Tức thấy Như Lai".
Tất cả chấp trước đó là nhân tâm. Chẳng chấp trước đó là đạo tâm.
Ngồi thiền mà không tham chữ "ai" thì vọng tưởng sẽ sinh ra, như vậy
thì suốt đời cũng chẳng khai ngộ. Tham thoại đầu tức là dùng độc trị
độc, dùng vọng tưởng để khống chế vọng tưởng, nghĩa là dùng một vọng
tưởng điều phục nhiều vọng tưởng, đến được sơn cùng thủy tận, hết
đường đi thì sẽ khai ngộ.
Giảng kinh chẳng phải là việc dễ, không
giảng thì chẳng biết không dễ dàng, đợi khi nào bạn giảng thì mới
biết là không dễ, nhất là người chưa nghe giảng kinh, càng không
biết việc giảng kinh là không dễ dàng. Giảng kinh thì chẳng biết thế
nào là đúng ? Thế nào là không đúng ? Thậm chí, chữ kinh hoặc kinh
văn in sai cũng đều không biết, cho nên nói giảng kinh là không dễ
dàng.
Không những tôi giảng kinh có chỗ sai,
mà nhiều vị pháp sư có khi cũng đều giảng sai. Giảng sai là giảng
sai, nhưng hy vọng các bạn đừng nghe sai. Ðợi khi nào các bạn phiên
dịch, thì phải cải chính lại mới đúng. Nếu biết sai mà không cải
chính, đó là quả báo của tôi. Vì trước kia tôi nghe người ta giảng
kinh, tôi cũng đều chê họ giảng sai. Bây giờ đồ đệ cũng chê sư phụ
giảng sai. Vì tôi không sợ đọa địa ngục, cho nên phê bình người khác
giảng kinh sai. Bây giờ đồ đệ của tôi, cũng chẳng sợ đọa địa ngục,
đến phê bình sư phụ. Ðợi tương lai bạn giảng kinh, thì không những
đồ đệ của các bạn đến phê bình bạn, mà đồ đệ tôn của các bạn, cũng
đến phê bình các bạn giảng sai. Ðó là quả báo, tương lai các bạn sẽ
biết, bây giờ tôi biết tôi đang thọ quả báo.
Hôm nay nhận được thư của Quả Du nói : Y tam bộ nhất bái, thì mũi và
miệng của y thường tiếp hợp với đất, nghĩ đến sự tu hành nghiên cứu
Phật pháp ở tại chùa Kim Sơn rất là quan trọng. Y không thể tiếp hợp
với Phật pháp, đại khái rất là khổ tâm ! Y muốn các bạn hãy nỗ lực
nghiên cứu Phật pháp, và hợp với Phật pháp mà làm một, đả thành một
khối, đó là đại ý trong thư của y.
Các bạn hãy nghĩ xem ! Chùa Kim sơn có
hai vị xuất gia, dùng công đức tam bộ nhất bái, để cầu cho thế giới
hòa bình, tu hành Bồ Tát đạo khó hành. Chúng ta hằng ngày ở tại đây
làm biếng, gì cũng chẳng làm, làm sao ăn nói với hai vị đó ? Chúng ở
ngoài mưa ngoài gió hành Bồ Tát đạo, vì nhân loại thế giới mà cầu
bình an, chứ chẳng phải vì hạnh phúc của mình. Các bạn hãy phản tỉnh
một phen, nên tu hạnh môn gì, mới giúp được hai vị sớm hoàn thành
hạnh nguyện to lớn nầy ? Có phải nghĩ biện pháp khiến cho Phật giáo
phát dương quang đại ? Có phải dùng tâm từ bi để phổ độ tất cả chúng
sinh ? Bất cứ tu pháp môn gì, chỉ cần tinh tấn đừng giải đãi, thì có
thể trực tiếp hoặc gián tiếp, đều trợ giúp cho hai vị công đức được
viên mãn.
Hai vị tam bộ nhất bái trên xa lộ, có các nhà báo đến phỏng vấn, lại
có ký giả đài truyền hình đến nhiếp ảnh, hai vị gây sức ảnh hưởng
rất lớn cho Phật giáo ! Thành công của hai vị, tức là của mỗi người
chúng ta. Chúng ta phải phát nguyện trợ giúp hạnh môn của hai vị,
cho sớm được thành công. Ở tại đất nước nầy, tu hạnh môn tam bộ nhất
bái, là kỷ lục từ trước chẳng có mà mới sáng tạo, hy vọng từ nay về
sau, Phật giáo lấy họ làm mô phạm. Ðây mới là bắt đầu ! Về sau nhất
định sẽ có người phá kỷ luật.
Mọi người nghĩ xem, hai vị tu hạnh môn
thế nầy, còn chúng ta thì tu hạnh môn ngủ chăng ? Hạnh môn lười
biếng ? Tu hạnh môn đố kị ? Mọi người phải hồi quang phản chiếu. Cho
nên tôi phát tâm vì họ mà giảng kinh nhiều lần, Mỗi chiều thứ bảy
một giờ bắt đầu giảng kinh (hiện tại một tuần giảng kinh chín lần).
Tôi đem công đức nầy, hồi hướng cho hai vị. Quả Du (Hằng Cụ) là
người hồ đồ trong hồ đồ, không biết sự quan trọng học Phật pháp. Bây
giờ, đi tam bộ nhất bái hơn một tháng, đã hiểu nhiều hơn so với lúc
trước, có thể nói là khai ngộ một chút, Y biết bỏ lỡ cơ hội học Phật
pháp, không những y bỏ lỡ cơ hội, mà cũng liên lụy đến Quả Ðạo (Hằng
Do), cũng bỏ lỡ cơ hội nầy. Ðó là chỗ họ khai ngộ, cho nên hy vọng
mọi người cố gắng học Phật pháp, nỗ lực tham thiền đả tọa. Y còn hy
vọng mọi người giúp y học chút Phật pháp.
Trong sự cảm giác của tôi, tướng mạo của
Quả Du chẳng giống lúc trước, bây giờ hiện ra tướng Tỳ Kheo. Quả Ðạo
cũng khác với lúc trước, không cần nhìn họ, chỉ nghe âm thanh của
họ, thì biết khác hẳn lúc trước nhiều, đó là đạo lý công chẳng luống
mất.
Quả Du lúc trước, tuyệt đối không biên thư được như thế, bây giờ thư
của y có ý nghĩa khai ngộ, song chẳng phải khai đại ngộ, mà là khai
tiểu ngộ. Bất cứ pháp môn gì, cũng đều có cảm ứng đạo giao.
Lại nữa, Chủ Hỏa Thần Phổ Quang Diệm Tạng, được môn giải thoát,
phá trừ đen tối của tất cả thế gian.
Ý nghĩa ở trên chưa nói hết, lại tiếp tục nói. Vị Phổ Quang Diệm
Tạng Chủ Hỏa Thần này, quang minh chiếu soi khắp hết thảy. Quang
minh của vị này trùng trùng vô tận, cho nên gọi là Phổ Quang Diệm
Tạng. Vì vị này là Phổ Quang Diệm Tạng, cho nên chiếu phá trừ đen
tối của tất cả thế gian, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Phổ Tập Quang Tràng Chủ Hỏa Thần, được môn giải thoát, diệt trừ
các hoặc phiêu lưu nhiệt não khổ, của tất cả chúng sinh.
Vị Phổ Tập Quang Tràng Chủ Hỏa Thần này, quang minh tụ lại với nhau
như tràng báu. Vị này diệt trừ được đủ thứ mê hoặc, vô minh, ngu si,
ám chướng, của tất cả chúng sinh, khiến cho họ thoát khỏi phiêu lưu
nhiệt não trong biển khổ, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Vì chúng sinh sanh ra các hoặc, cho nên luân hồi trong sáu nẻo, lúc
làm người, làm quỷ, làm súc sinh, làm A tu la, làm người trời, đọa
địa ngục, cho nên gọi là phiêu lưu. Trong địa ngục là nơi nhiệt não
khổ nhất, chịu khổ chẳng khi nào hết được. Phàm là người không hiếu
thuận với cha mẹ, không cung kính sư trưởng, cho nên mới vào địa
ngục thọ quả báo.
Chủ Hỏa Thần Ðại Quang Biến Chiếu, được môn giải thoát, không
động phước lực đại bi tạng.
Vị Ðại Quang Biến Chiếu Chủ Hỏa Thần này, có hỏa quang chiếu khắp ba
ngàn đại thiên thế giới. Vị này đắc được môn giải thoát, không động
phước lực đại bi tạng. Không động phước lực là gì ? Tức là phước lực
này vĩnh viễn không dứt, không động. Vì tu phước lực này, cho nên
đắc được môn giải thoát đại bi tạng. Ðại bi tạng là gì ? Tức là tâm
thương xót muốn giáo hóa cứu độ chúng sinh. Vị Chủ Hỏa Thần này,
dùng phước lực của mình để hộ trì tất cả chúng sinh, khiến cho họ
đều đắc được không động phước lực đại bi tạng, đó là tâm địa của Bồ
Tát.
Chủ Hỏa Thần Chúng Diệu Cung Ðiện, được môn giải thoát, quán sức
thần thông của Như Lai thị hiện không có bờ mé.
Vị Chúng Diệu Cung Ðiện Chủ Hỏa Thần này, dùng tất cả báu đẹp để
trang nghiêm cung điện. Vị này đắc được sức thần thông tự tại của
Phật, thị hiện được vô lượng vô biên cõi nước và chúng sinh, ở trong
biển cõi giáo hóa tất cả chúng sinh, đó là môn giải thoát vị này đắc
được.
Chủ Hỏa Thần Vô Tận Quang Kế, được môn giải thoát, quang minh
chiếu sáng vô biên cõi hư không.
Vị Vô Tận Quang Kế Chủ Hỏa Thần này, quang minh vô tận, chiếu sáng
vô tận cõi nước, vô lượng thế giới, vô lượng biển kiếp. Tận hư không
khắp pháp giới đều chiếu soi đến, khiến cho tất cả chúng sinh đều
phát tâm bồ đề, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Chủ Hỏa Thần Chủng Chủng Diệm Nhãn, được môn giải thoát, đủ thứ
phước trang nghiêm tịch tĩnh quang.
Vị Chủng Chủng Diệm Nhãn Chủ Hỏa Thần này, mắt phóng ra đủ thứ quang
minh lửa ngọn màu xanh vàng đỏ trắng đen. Vị này minh bạch được pháp
thân của Phật, do vạn phước vạn đức trang nghiêm, do đó dùng đủ thứ
phước để trang nghiêm thân Phật. Vị này có một thứ quang minh tịch
tĩnh, tức cũng là định quang, thường phóng quang minh ở trong định,
đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Chủ Hỏa Thần Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn, được môn giải
thoát, diệt trừ sự khổ nóng bức của tất cả chúng sinh trong các
đường ác.
Vị Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn Chủ Hỏa Thần này, trang
nghiêm tất cả cung điện trong mười phương, khiến cho nguy nga hùng
vĩ như núi Tu di. Vị này diệt trừ được sự thống khổ thiêu đốt, của
tất cả chúng sinh thế gian trong các cõi. Các cõi là địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh, A tu la. Ở trong các cõi này, thống khổ giống như bị
lửa thiêu đốt. Ðó là môn giải thoát vị này đắc được.
Chủ Hỏa Thần Oai Quang Tự Tại, được môn giải thoát, tự tại khai
ngộ tất cả thế gian.
Vị Oai Quang Tự Tại Chủ Hỏa Thần này, có uy đức cho nên quang minh
phóng ra rất tự tại vô cùng. Vị này đắc được môn giải thoát, tự tại
khai ngộ tất cả thế gian. Vị này khiến cho tất cả chúng sinh thế
gian, cũng đều tự tại khai ngộ, thành tựu đạo nghiệp, vị Chủ Hỏa
Thần này, không những oai quang tự tại, mà còn có tâm từ bi lớn,
mình khai ngộ rồi, cũng muốn cho họ khai ngộ.
Chủ Hỏa Thần Quang Chiếu Thập Phương, được môn giải thoát, vĩnh
viễn phá tất cả ngu si chấp trước sự thấy.
Vị Quang Chiếu Thập Phương Chủ Hỏa Thần này, hỏa quang chiếu khắp
mười phương, vĩnh viễn phá trừ tất cả đen tối ngu si, của những kẻ
chẳng có trí huệ. Kẻ ngu si, chính mình chẳng chịu mình là ngu si,
ngược lại, nói người thông minh mới là ngu si, giống như con quạ ở
trên lưng con heo đen, mà chẳng biết mình cũng là màu đen. Ðó tức là
hành vi của kẻ ngu si. Kẻ ngu si, chính mình còn chẳng biết mình là
ngu si, mà còn nói họ là ngu si, thật là quá ngu si !
Vì ngu si mới có chấp trước. Việc gì nhìn cũng không thấu, thấy việc
gì cũng chẳng hiểu biết, do đó bị sự việc trói buộc, mà không được
giải thoát, nhất là chấp trước sự thấy, chấp trước sự hiểu biết của
mình là đúng, còn sự hiểu biết của họ là sai, đó là cố chấp không
thông. Nếu có tư tưởng chấp trước sự thấy, thì không thể khai ngộ,
không thể giải thoát. Vị Chủ Hỏa Thần này, đắc được môn giải thoát,
phá trừ ngu si chấp trước sự thấy.
Chủ Hỏa Thần Lôi Âm Ðiện Quang, được môn giải thoát, thành tựu
tất cả nguyện lực đại chấn hống.
Vị Lôi Âm Ðiện Quang Chủ Hỏa Thần này, có âm thanh như sấm sét, chấn
động khắp pháp giới, và có quang minh như điện chiếu khắp pháp giới.
Vị này thành tựu nguyện lực của tất cả chúng sinh, bất cứ bạn phát
nguyện gì, thì vị này đều giúp cho bạn thành tựu. Âm thanh sư tử
hống của vị này, chấn động pháp giới, đánh thức kẻ mê muội, khiến
cho họ thức tỉnh, bỏ mê về giác, đó là môn giải thoát vị này đắc
được.
Bây giờ, là thời gian để chúng ta nghiên cứu với nhau. Ai có ý kiến
gì thì nói ra, đừng ngập ngừng, muốn nói lại không dám nói, không
dám nói lại muốn nói, đó chẳng phải là thái độ học Phật pháp. Học
Phật pháp phải hoạt bát, đừng học kiểu khúc gỗ, phải tiến về trước,
đừng lùi về sau. Phải đưa ra ý kiến, đó mới là tinh thần học Phật
pháp.
Người thối lùi về sau, thì sẽ bị người
mới theo đuổi kịp, cho nên tự mình hỏi chính mình, có phải muốn thối
lùi chăng ? Nếu muốn không thối lùi, thì phải dũng mãnh tinh tấn,
đừng dậm chân tại chỗ. Do đó: "Dừng lại một bước, thì cách xa hai
dặm rưỡi.’’ Tu đạo giống như thuyền đi ngược dòng, không tiến thì
lùi, lại giống như hành giả tam bộ nhất bái, quy định mỗi ngày phải
lạy hai dặm rưỡi, nếu không tinh tấn, thì không đạt được như đã quy
định. Các vị phải tinh tấn đừng thối lùi về sau.
Bấy giờ ! Chủ Hỏa Thần Phổ Quang Diệm Tạng, nương oai lực của đức
Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Hỏa Thần, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Phổ Quang Diệm Tạng Chủ Hỏa Thần, nương đại oai thần lực
của Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Hỏa Thần rồi dùng kệ để
thuật lại môn giải thoát.
Hiện tại, tôi giảng Kinh Hoa
Nghiêm đã
có chút nhập môn. Mỗi đoạn kinh văn, chỉ cần xem qua một lần thì
nhớ, không cần xem lại lần thứ hai. Bây giờ giảng kinh thì nhìn qua
một lần, sau đó thì tụng thuộc lòng lại được, đó là nhờ chư Phật, Bồ
Tát của pháp hội Hoa
Nghiêm gia
bị, mới có sự cảm ứng như thế. Tôi vốn chẳng muốn nói tin này với
các vị, song tôi hy vọng các vị cũng phải học theo, không cần nhìn
kinh văn thì tụng ra được.
Tôi thấy khi các vị giảng kinh, thì hoàn
toàn dùng tiếng Anh của tôi đã giảng đọc ra, như thế thì không đúng.
Các vị nên phát huy trí huệ của mình, dùng kiến giải của mình để
giảng mới sinh động được, mới có ý nghĩa. Những gì tôi giảng, có
những chỗ không được viên mãn lắm, cho nên hy vọng các vị y chiếu ý
nghĩa của mình để giảng, không thể chiếu theo ý nghĩa của tôi giảng
đọc lại, như vậy chẳng khác gì là tôi giảng, chỉ bất quá các vị đọc
lại mà thôi.
Giảng kinh không cần đọc thuộc chú giải, tôi giảng kinh thì chẳng
nhìn chú giải, có khi nhìn nhưng cũng chẳng nhớ. Nghe nói có người
khi giảng Ðại Thừa Khởi Tín Luận, thì trước hết họ xem qua nghĩa
giảng giải của Khởi Tín Luận, như thế cũng được, nhưng nhìn tài liệu
của người, chứ chẳng phải của mình, cuối cùng sẽ quên mất. Cho nên,
tôi khuyên các vị, nên phát huy trí huệ của mình, xem chú giải phải
thêm kiến giải của mình, nếu chỉ lập lại của người thì chẳng tác
dụng gì.
Ông quán tinh tấn của Như Lai
Ức kiếp rộng lớn không nghĩ bàn
Vì lợi chúng sinh hiện ra đời
Tất cả ám chướng đều diệt trừ.
‘’Ông quán tinh tấn của Như Lai‘’. Ông quán là ai nói ông ? Ai quán
? Như Lai là vị Như Lai nào ? Những vấn đề này đều phải biết, thì
sau đó mới minh bạch được nghĩa kinh.
Câu kệ này do ai nói ? Là vị Phổ Quang Diệm Tạng Chủ Hỏa Thần đã nói
ở trên. Ngài nói: ‘’Các vị nhìn xem ! Xem gì ? Xem Như Lai. Vị Như
Lai nào ? Là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, xem ba mươi hai tướng tốt, tám
mươi vẻ đẹp của Phật chăng ? Chẳng phải ! Xem sức tinh tấn của Như
Lai tu vô lượng kiếp.’’
Phật vì cầu pháp mà hy sinh tất cả, buông bỏ tất cả, thậm chí, thân
tâm tính mạng cũng đều xả bỏ, chỉ biết tinh tấn, ngày tinh tấn đêm
tinh tấn, ngày đêm sáu thời đều tinh tấn, làm cho mười đại ma quân
đều bỏ chạy. Phật dụng công tu hành những gì người làm không được,
mà Ngài làm được, người nhẫn không được, mà Ngài nhẫn được.
Như Phật xả thân cứu cọp đói, theo sự
suy nghĩ của mọi người thì cọp rất là hung ác, cứu nó làm gì ? Nó
chết đói tốt biết chừng nào ! Thế giới sẽ bớt đi một thú dữ. Phật
thì không nghĩ như thế, Ngài có tâm từ bi, xả bỏ thân thể của mình
để cứu cọp đói, và Phật còn lóc thịt cứu chim ưng. Phần đông đa số
đều nghĩ, chim ưng cũng là thứ chim ác, chuyên môn ăn thịt động vật
nhỏ, nhưng Phật lóc thịt mình để cứu nó. Bạn thấy đó ! Sức tinh tấn
này có ai sánh bằng ?
Các vị chỉ biết ích kỷ, mà chẳng biết vô tư, chỉ biết lợi mình, mà
chẳng biết lợi người, còn tồn tại tư tưởng như thế, thì chẳng tinh
tấn được. Cho nên chúng ta phải tinh tấn dụng công tu đạo. Tất cả
hãy vì người đừng vì mình, như vậy thì mới hành Bồ Tát đạo được.
‘’Ức kiếp rộng lớn không nghĩ bàn‘’. Phật ở trong quá khứ vô lượng
kiếp tu hành, hạnh môn sức tinh tấn không thể nghĩ bàn.
‘’Vì lợi chúng sinh hiện ra đời‘’. Tại sao Phật xuất hiện ra đời ?
Vì muốn lợi ích chúng sinh. Tại sao chúng ta hiện ra đời ? Vì đến để
làm tổn hại chúng sinh. Phật thì đến để giáo hóa chúng sinh, phổ độ
chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, liễu sinh thoát
tử, còn chúng ta chỉ biết ích kỷ lợi mình, đem những gì ích lợi
chúng sinh, để làm của riêng mình, chỉ biết có mình mà chẳng biết có
kẻ khác.
Có lẽ chúng ta có những tư tưởng này đối
với chúng sinh: "Ông phải chết đi cho sớm ! Những đồ vật tôi cần đều
bị ông xử dụng. Nếu ông chết đi, thì tôi hưởng thụ nhiều hơn một
chút. Thậm chí giữa cha với con cũng có tư tưởng như thế, cha giàu
có thì con mong cho cha chết sớm để tiền tài thuộc hết về mình. Chao
ôi ! Sao ông không chết ? Ðã già mà không chết cho rồi, sống để báo
hại". Con cái trông mong cha mẹ chết sớm một chút. Các vị nghĩ xem,
chúng ta xuất hiện ra đời có phải để tổn hại chúng sinh chăng ?
‘’Tất cả ám chướng đều diệt trừ‘’. Ám chướng tức là phiền não
chướng, sở tri chướng, nghiệp chướng, báo chướng .v.v. Vị Chủ Hỏa
Thần này, khiến cho tất cả ám chướng của chúng sinh đều tiêu diệt.
Ám chướng không còn nữa, thì xuất hiện quang minh, đắc được trí huệ,
đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Chúng sinh ngu si khởi chư kiến
Phiền não tuông trào như lửa thiêu
Ðạo Sư phương tiện đều diệt trừ
Sở ngộ này của Phổ Quang Tràng.
‘’Chúng sinh ngu si khởi chư kiến‘’. Chư kiến tức là thân kiến, biên
kiến, tà kiến .v.v. Tức cũng là tà tri tà kiến. Chúng sinh ngu si
thì nhiều, còn chúng sinh thông minh thì ít. Trong một vạn người,
khó tìm được một người thông minh. Chúng sinh thông minh có đủ chánh
tri chánh kiến, chúng sinh ngu si có đủ tà tri tà kiến.
‘’Phiền não tuông trào như lửa thiêu‘’. Có tà tri tà kiến thì có
phiền não. Phiền não giống như nước chảy cuồn cuộn, có thể làm cho
nhà xập, cây ngã. Lại giống như lửa lớn thiêu đốt tất cả mọi vật.
‘’Ðạo Sư phương tiện đều diệt trừ‘’. Phật là tiếp dẫn đạo sư, Ngài
dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để diệt trừ phiền não tuông trào
và lửa lớn.
‘’Sở ngộ này của Phổ Quang Tràng’’. Vị Phổ Tập Quang Tràng Chủ Hỏa
Thần, tỏ ngộ cảnh giới này, vào sâu môn giải thoát này.
Phước đức như không chẳng bờ bến
Muốn tìm bờ mé không thể được
Là Phật đại bi sức bất động
Quang Chiếu ngộ nhập tâm vui mừng.
‘’Phước đức như không chẳng bờ bến‘’. Phước đức của Phật như hư
không, chẳng có bờ bến, chẳng phải tính đếm ví dụ mà biết được.
‘’Muốn tìm bờ mé không thể được‘’. Muốn biết phước đức của Ðức Phật
có bao nhiêu ? Không thể biết được, vì như hư không, cho nên không
cách chi tính được.
‘’Là Phật đại bi sức bất động‘’. Ðây là sức đại bi tâm tịch nhiên
bất động của Phật.
‘’Quang Chiếu ngộ nhập tâm vui mừng.’’ Vị Ðại Quang Biến Chiếu Chủ
Hỏa Thần, minh bạch cảnh giới này, trong tâm sinh vui mừng.
Tôi quán việc làm của Như Lai
Trải qua biển kiếp không bờ mé
Như thế thị hiện sức thần thông
Chúng Diệu Cung Thần biết rõ được.
Tôn giả A Nan khi kết tập kinh điển, thì sợ rằng ý nghĩa của kinh
trường hàng có người không hiểu, cho nên dùng kệ tụng lại. Hiện tại
đang giảng mười bài kệ, tuy nhiên do Ngài A Nan nói ra, nhưng là ý
nghĩa đại biểu của mười vị Chủ Hỏa Thần. Bất quá, Ngài A Nan là
người ghi nhớ, mà chẳng phải là người thuyết pháp.
Mỗi vị Chủ Hỏa Thần nói ra cảnh giới đắc
được của mình, mà vào môn giải thoát đó. Bài kệ thứ nhất vì ở trước
đã nói ra tên của vị Thần đó, cho nên câu cuối chẳng có tên, chín
bài kệ còn lại đều có tên. Vì nguyên nhân này mà có người cho rằng,
mười bài kệ là chỉ một vị Thần nói, đó là sai, không hợp với nghĩa
kinh. Bây giờ giảng bốn câu kệ.
‘’Tôi quán việc làm của Như Lai‘’. Tôi quán này là do ai nói ? Là vị
Chúng Diệu Cung Ðiện Chủ Hỏa Thần nói, đây là tôn giả A Nan biên kệ
thế Ngài nói. Tôi quán sát hạnh môn của Phật tu. Hạnh môn gì ? Ở
dưới đây có nói rõ.
‘’Trải qua biển kiếp không bờ mé‘’. Nên đọc, xem lại kinh trường
hàng mới minh bạch được đại ý. Trong trường hàng ở trên nói, Chúng
Diệu Cung Ðiện Chủ Hỏa Thần, đắc được môn giải thoát, quán sát sức
thần thông của Như Lai thị hiện không bờ mé. Như Lai đắc được sức
thần thông, tức là hạnh môn của Như Lai tu.
Biển kiếp tức là đại kiếp nhiều như biển
cả, vô cùng vô tận không bờ mé, số lượng không thể nghĩ bàn, cho nên
gọi là biển kiếp. Trải qua biển kiếp thời gian dài như thế. Cứu kính
có bao nhiêu đại kiếp ? Không thể biết được, vì không có bờ bến.
‘’Như thế thị hiện sức thần thông‘’. Ở trong thời gian lâu dài này,
Phật thị hiện đủ thứ sức thần thong, để giáo hóa tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ đề.
‘’Chúng Diệu Cung Thần biết rõ được.’’ Từ câu kệ này nhìn lại, chứng
minh là kết tập kinh tạng do tôn giả A Nan nói. Trường hàng ở trước,
đầu tiên nói tên của vị Chủ Hỏa Thần đó, nói là vị đó nương oai lực
của Phật mà nói kệ. Tức nhiên vị đó nương oai lực của Phật mà nói
kệ, vậy còn lại chín vị Chủ Hỏa Thần, sao lại không nương oai lực
của Phật mà nói kệ ? Các bạn nghĩ thử thì sẽ minh bạch.
Ở trước, tôi chẳng giải thích tỉ mỉ, cho rằng các bạn sẽ minh bạch
đạo lý này, không ngờ còn có người không minh bạch, mà đi xem chú
giải, song chú giải cũng không chắc chắn là đúng. Vì mỗi người có
lối nhìn của mỗi người, mỗi người có kiến giải của mỗi người, cho
nên bạn có chú giải của bạn, tôi có chú giải của tôi, người khác có
chú giải của họ. Chú giải này cũng không nhất định chính xác. Tức
nhiên không chính xác, tại sao đem nó liệt vào trong Ðại Tạng Kinh ?
Tuy nhiên liệt vào trong Ðại Tạng Kinh, cũng không nhất định hoàn
toàn là đúng.
Mạnh Tử có nói câu này :
‘’Tận tín thư, bất như vô thư.’’
Nghĩa là:
Tin trong sách, tốt hơn đừng có sách.
Bạn tin đạo lý nói trong sách, chẳng bằng không có sách còn hơn, sẽ
không làm cho người hồ đồ đến thế. Tại sao Mạnh Tử phải nói câu này
? Vì trong kinh sách có hai câu kinh văn như vầy :
‘’Võ Vương phạt Trụ, huyết lưu phiêu sử.’’
Là hình dung Chu
Võ Vương chinh
phạt vua Trụ, giết người vô số, máu chảy thành sông, còn chày sắt
(vũ khí) thì trôi nổi bềnh bồng. Bạn có tin lời nói này chăng ? Cho
nên nói tin trong sách tốt hơn đừng có sách.
Chu Võ Vương là ông vua có đạo đức, binh
lính của ông đều rất nhân nghĩa, ông dùng nhân nghĩa làm thầy, đi
đánh ông vua vô đạo đức là thế thiên hành đạo, thay dân phạt tội,
cứu dân thoát khỏi biển khổ dầu sôi lửa bỏng, mà giết người khiến
cho máu chảy khắp nơi, đến nỗi chày sắt nổi lên. Bạn thử nghĩ xem
điều này có đạo lý chăng ? Sẽ phân tích kỹ càng dưới đây, sức nặng
cái chày sắt ít nhất cũng vài chục cân, vì thời xưa vũ khí rất nặng,
vậy cần bao nhiêu máu huyết mới làm cho chày sắt nổi lên ?
Ðạo lý nói ở trong kinh điển là phá
chấp. Nếu bạn có sự chấp trước, thì sẽ không đắc được trí huệ chân
chánh, do đó mê là chúng sinh, ngộ tức là Phật. Giác ngộ là gì ? Tức
là chẳng có sự chấp trước. Cho nên, khi Phật đắc đạo dưới cội bồ đề,
thì thốt lên ba lần lành thay. ‘’Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !
Tất cả chúng sinh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng vì
vọng tưởng chấp trước mà không chứng đắc.’’
Tại sao chúng ta ngu si ? Vì có chấp
trước. Tại sao chẳng có trí huệ ? Vì có chấp trước. Chấp trước danh,
chấp trước lợi; chấp trước danh thì chết vì danh, chấp trước lợi thì
chết vì lợi, cho nên hai chữ danh lợi là kẻ giết người.
Ức kiếp tu hành không nghĩ bàn
Muốn tìm bờ mé chẳng biết được
Nói pháp thật tướng khiến vui mừng
Vô Tận Quang Thần quán thấy được.
Bốn câu kệ này, cũng ở trong ký ức của tôn giả A Nan. Khi kết tập
kinh điển thì tôn giả nói, vị Vô Tận Quang Kế Chủ Hỏa Thần, đắc được
một môn giải thoát. Môn giải thoát gì ? Kệ đã nói rõ ở dưới đây.
‘’ Ức kiếp tu hành không nghĩ bàn‘’. Ngài biết được Phật trong vô
lượng kiếp về trước, tu hành các hạnh môn thành công không thể nghĩ
bàn, thần thông không thể nói, diệu dụng không thể nghĩ bàn. Nói tóm
lại, tất cả tất cả đều không thể nghĩ bàn.
‘’Muốn tìm bờ mé chẳng biết được‘’. Muốn biết bờ mé thần thông diệu
dụng, và phước đức trang nghiêm của Phật, thì chẳng cách chi có thể
biết được.
‘’Nói pháp thật tướng khiến vui mừng‘’. Phật diễn nói diệu pháp thật
tướng, diễn nói diệu pháp thật tướng vô tướng, diễn nói diệu pháp vô
tướng vô bất tướng, khiến cho tất cả chúng sinh nghe được pháp âm
này, đều hớn hở vui mừng tin nhận phụng hành.
‘’Vô Tận Quang Thần quán thấy được.’’ Vị Vô Tận Quang Kế Chủ Hỏa
Thần, quán sát thấy được cảnh giới này, đắc được môn giải thoát này.
Khi các bạn nghe kinh, nếu có chỗ nào không hiểu thì biên ra, song
hiểu rồi thì phải đốt đi. Tại sao ? Vì khi mê thì xem ngàn quyển
cũng cảm thấy ít, khi ngộ rồi thì một chữ cũng cảm thấy nhiều. Như
còn có một chữ, tức là còn chướng ngại trong tự tánh. Các bạn nghĩ
xem phải làm sao ?
Các bạn phải biết những gì đã hiểu,
những gì không hiểu ? Khi không hiểu, thì đối với Phật pháp chẳng
vào sâu kinh tạng, chẳng có trí huệ như biển, đó tức là lúc nên ghi
chép. Khi nào bạn vào sâu kinh tạng, trí huệ như biển, thì kinh tức
là bạn, bạn tức là kinh, những gì ghi chép đều nhớ ở trong tự tánh,
vĩnh viễn không quên mất, vậy bạn còn lưu lại những gì ghi chép để
làm gì ? Cho nên, kêu bạn đốt sạch những gì ghi chép là vì lý do
này.
Mười phương tất cả chúng rộng lớn
Hết thảy chiêm ngưỡng ở trước Phật
Quang minh tịch tĩnh chiếu thế gian
Diệu Diệm Thần thấu rõ môn này.
‘’Mười phương tất cả chúng rộng lớn‘’. Mười phương tức là: Trên,
dưới, đông, tây, nam, bắc, sáu phương và đông nam, tây nam, đông
bắc, tây bắc, cộng thành mười phương. Tất cả chúng sinh rộng lớn vô
biên ở trong mười phương.
‘’Hết thảy chiêm ngưỡng ở trước Phật‘’. Hết thảy vô biên chúng sinh
rộng lớn này, đều hiện ở trước Phật để chiêm ngưỡng Phật.
‘’Quang minh tịch tĩnh chiếu thế gian‘’. Tịch tĩnh là định. Phật ở
trong định phóng quang, chiếu soi tất cả hữu tình thế gian.
‘’Diệu Diệm Thần thấu rõ môn này.’’ Cảnh giới này, vị Chủng Chủng
Diệm Nhãn Chủ Hỏa Thần thấy rõ, đắc được môn giải thoát này.
Mâu Ni xuất hiện các thế gian
Ngự trong tất cả các cung điện
Mưa khắp vô biên pháp rộng lớn
Cảnh giới này của Thập Phương Thần.
‘’Mâu Ni xuất hiện các thế gian‘’. Mâu Ni tức là Phật Thích Ca Mâu
Ni. Thích Ca dịch là "năng nhân", Mâu Ni dịch là "tịch mặc", tức là
vị Phật này năng nhân tịch mặc, Ngài xuất hiện đến hết thảy tất cả
thế gian.
‘’Ngự trong tất cả các cung điện‘’. Phật xuất hiện ra đời, Ngài thị
hiện trong dòng dõi vua. Nơi của vua ở đều là cung điện, Phật ra đời
cũng ở nơi cung điện, hoặc khi Phật ngồi dưới cội bồ đề, cung điện
trang nghiêm bằng bảy báu cũng hiện ra. Phật ngồi trrong cung điện
bảy báu, diễn nói diệu pháp Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật.
‘’Mưa khắp vô biên pháp rộng lớn‘’. Phật
ra đời vì chúng sinh diễn nói vô biên pháp môn rộng lớn. Phật nói
pháp như ý, giống như rưới mưa cát tường khắp hết thảy, khiến cho
tất cả chúng sinh nghe pháp, đều đắc được lợi ích của pháp. Giống
như cây lớn (chúng sinh lợi căn), thì thấm nhuần pháp vũ cam lồ
nhiều hơn một chút, cây nhỏ (chúng sinh độn căn), thì thấm nhuần
pháp vũ cam lồ ít hơn một chút. Pháp vũ là bình đẳng, chẳng qua căn
tánh có sự khác biệt mà thôi.
‘’Cảnh giới này của Thập Phương Thần.’’ Tôn giả A Nan nói: ‘’Cảnh
giới này, vị Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn Chủ Hỏa Thần đắc
được.’’
Trí huệ chư Phật thâm sâu nhất
Nơi pháp tự tại hiện thế gian
Ðều xiển minh được lý chân thật
Oai Quang ngộ được tâm hớn hở.
‘’Trí huệ chư Phật thâm sâu nhất‘’. Chư Phật có thể nói là mười
phương tất cả chư Phật, lại có thể nói là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật. Bát nhã trí huệ của Phật thâm sâu nhất, chẳng có ai có trí huệ
cao hơn Phật. Phật là đại đạo sư thế gian và xuất thế gian, Ngài có
thể khai mở trí huệ của tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng
sinh trở về nguồn cội, nhận ra bộ mặt thật của chính mình. Phật dùng
đủ thứ ví dụ để vì chúng sinh thuyết pháp, khiến cho tất cả chúng
sinh đều minh bạch Phật pháp.
‘’Nơi pháp tự tại hiện ra đời‘’. Phật
chứng đắc quả giác viên mãn, Ngài thấu rõ pháp thế gian và pháp xuất
thế gian, cho nên tự tại nơi các pháp. Sao gọi là tự tại nơi các
pháp ? Tức là không cần miễn cưỡng, không cần tạo tác, rất là tự
nhiên, rất là tự tại. Phật hiện ra đời, khiến cho tất cả chúng sinh
đều khai mở tri kiến của Phật, ngộ vào tri kiến của Phật.
‘’Ðều xiển minh được ý chân thật‘’. Phật giảng pháp thì biểu hiện rõ
ràng lý chân thật. Lý chân thật tức là lý không biến đổi, lý này là
chân lý xưa nay trước sau đều tôn theo.
‘’Oai Quang ngộ được tâm hớn hở’’. Vị Oai Quang Tự Tại Chủ Hỏa Thần,
minh bạch được cảnh giới này, cho nên trong tâm của Ngài hớn hở vui
mừng vô cùng.
Chư kiến ngu si là ám cái
Chúng sinh mê hoặc thường lưu chuyển
Phật vì khai xiển diệu pháp môn
Sở ngộ này của Chiếu Phương Thần.
‘’Chư kiến ngu si là ám cái‘’. Chư kiến tức cũng là các thứ tà kiến,
trước có tà tri, sau có tà kiến, thấy hiểu mà tà thì sẽ ngu si, thấy
hiểu mà chánh thì sẽ có trí huệ. Cho nên nói có tà kiến thì có ngu
si. Ngu si tức là vô minh, tức là đen tối, tức là cái, cái thì che
lấp quang minh trí huệ của chúng sinh, cho nên nói là ám cái.
‘’Chúng sinh mê hoặc thường lưu
chuyển‘’. Chúng ta vì có tà tri tà kiến, cho nên từ vô thủy đến nay,
chưa thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, không dứt sinh tử, do đó chuyển đi
chuyển lại ở trong sáu nẻo luân hồi, khi thì ở cõi trời, cõi người,
ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục, A tu la. Sự vô minh ngu si ám chướng
này, chướng ngại bạn không thể vượt khỏi sáu nẻo luân hồi, đó gọi là
thường lưu chuyển.
‘’Phật vì khai xiển diệu pháp môn‘’. Phật vì chúng sinh ngu si, mà
khai xiển diệu pháp môn diệu nhất không thể nghĩ bàn: Dạy người niệm
Phật vãng sinh thế giới Cực Lạc, dạy người trì Chú tức thân thành
Phật, dạy người tu đủ thứ hạnh môn, đều liễu sinh thoát tử, vượt
khỏi luân hồi.
‘’Sở ngộ này của Chiếu Phương Thần.’’ Cảnh giới này, môn giải thoát
này, vị Quang Chiếu Thập Phương Chủ Hỏa Thần ngộ nhập được.
Nguyện môn rộng lớn không nghĩ bàn
Lực, độ, tu hành đều thanh tịnh
Như tâm nguyện xưa đều xuất hiện
Môn này Chấn Âm Thần thấy rõ.
‘’Nguyện môn rộng lớn không nghĩ bàn‘’. Có tín môn, nguyện môn, và
hạnh môn, đó là ba điều kiện để vãng sinh thế giới Cực Lạc. Bạn muốn
thành Phật, muốn liễu sinh tử, muốn tu hành, thì trước hết phải có
tín tâm, không những chỉ có tín tâm, mà còn phải có nguyện tâm, phát
nguyện sinh tây phương Cực Lạc thế giới, phát nguyện sinh đông
phương thế giới Lưu Ly. Cho nên nguyện môn rộng lớn không thể nghĩ
bàn.
‘’Lực, độ, tu hành đều thanh
tịnh‘’. Lực tức là mười lực, độ tức là mười độ. Mười độ và mười lực
Phật đều tu hành viên mãn. Vì viên mãn cho nên đắc được bổn thể
thanh tịnh.
‘’Như tâm nguyện xưa đều xuất hiện‘’. Nguyện lực phát ra, những gì
tu hành thuở xưa, đời đời kiếp kiếp vô lượng đại kiếp trong quá khứ,
đã hoàn toàn thanh tịnh. Bây giờ đều hiển hiện ra, giống như chiếu
phim xuất hiện ra từng thứ lớp trên màn ảnh, lại giống như máy thu
âm, phát ra từng câu từng câu nghe rất rõ ràng.
‘’Môn này Chấn Âm Thần thấy rõ.’’ Cảnh giới này, vị Lôi Âm Ðiện
Quang Chủ Hỏa Thần thấy rõ, vào được môn giải thoát này.
Lại nữa, Chủ Thủy Thần Phổ Hưng Vân
Tràng, được môn giải thoát, lòng từ bình đẳng lợi ích tất cả chúng
sinh.
Ðạo lý ở trên nói chưa hết, cho nên tiếp tục nói. Vị Phổ Hưng Vân
Tràng Chủ Thủy Thần này, nổi mây lên che khắp hết thảy trang nghiêm
như tràng báu. Vị này là thần quản lý nước. Nếu nước chẳng có thần
cai quản, thì sẽ tràn ngập gây tai nạn, gây lụt lội khắp thiên hạ,
đâu đâu cũng là nước, thì chúng sinh không được an cư lạc nghiệp. Vì
có Thần cai quản, cho nên nước chảy có chỗ nhất định và có phương
hướng.
Ða số đều cho rằng nước chảy đi xuống, song có lúc cũng chảy đi lên,
ví như suối vọt, tức là từ dưới đất chảy đi lên. Tôi kinh nghiệm đã
từng xem qua nước giếng chảy vọt đi lên : Lúc đó, tôi ở tại quê của
tôi miền Ðông bắc, tại thôn Ðông Tĩnh, thấy được cảnh giới kỳ lạ
này. Tôi với các vị sư huynh năm người, đến các nơi truyền giáo, đến
thôn Ðông Tĩnh nhà cư sĩ nọ. Lúc đó, gặp ma ở trong nước, y muốn
dùng nước để giết chết chúng tôi. Trời mưa lớn giống như dùng bồn đổ
nước xuống. Nước dưới giếng vọt lên cao hơn hai trượng, giống như
trụ nước, chưa bao lâu mà thành đầm nước, nước ào tới tấp dữ dội như
vạn mã, làm xập hết hơn tám chục nóc nhà, người bị nước ngập chết
hơn ba mươi người, dù đứng ở trên bục cũng bị ngập chết, thật là tai
nạn ghê gớm. Song, phòng của chúng tôi ở là nơi thấp nhất, tường
chung quanh làm bằng gỗ, giống như tre làm bờ rào, giữa có lỗ trống.
Nước ở ngoài bờ rào gỗ cao khoảng một trượng, nước ở trong bờ rào gỗ
chỉ cao hơn một thước, cho nên chỉ sợ hãi mà chẳng có gì nguy hiểm,
chẳng bao lâu thì tạnh mưa.
Nước có thể lợi người, cũng có thể hại người. Nước lớn thì hại
người, nước nhỏ thì lợi người. Cho nên Lão Tử có nói :
‘’Thượng thiện nhược thủy,
Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh.
Xứ chúng nhân chi sở ác, cố cơ ư đạo.’’
Nghĩa là nói: Người thiện bậc trên hết giống như nước, nước lợi ích
tất cả chúng sinh, song nó cũng chẳng tranh công. Nó chẳng nói bạn
sống là nhờ tôi, nếu chẳng có tôi thì bạn đã không tồn tại, cho nên
tôi có công với bạn. Nơi của nước ở, chẳng ai muốn ở, tại sao ? Vì
là chỗ thấp nhất, nước tình nguyện chảy xuống chỗ thấp, cho nên nó
hợp với đạo. Người thiện bậc trên cũng như thế.
Vị Chủ Thủy Thần này, đắc được môn giải thoát, từ bi bình đẳng lợi
ích tất cả chúng sinh.
Chủ Thủy Thần Hải Triều Vân Âm, được môn giải thoát, vô biên pháp
trang nghiêm.
Vị Hải Triều Vân Âm Chủ Thủy Thần, có một sức lực như hải triều vân
âm. Vị này dùng vô lượng vô biên pháp môn để trang nghiêm
Phật đạo, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Chủ Thủy Thần Diệu Sắc Luân Kế, được môn giải thoát, quán sát
chúng sinh nào giáo hóa được, thì dùng phương tiện nhiếp hết thảy.
Vị Diệu Sắc Luân Kế Chủ Thủy Thần này, có quang diệu sắc và kế vòng
tròn. Vị này quán sát chúng sinh nào cơ duyên chín mùi, thì đến giáo
hóa trước, dùng đủ thứ phương tiện pháp môn để phổ nhiếp chúng sinh
này, khiến cho họ giác ngộ, được giải thoát, đó là môn giải thoát vị
này đắc được.
Chủ Thủy Thần Thiện Xảo Tuyền Phục, được môn giải thoát, diễn nói
khắp cảnh giới thâm sâu của chư Phật.
Vị Thiện Xảo Tuyền Phục Chủ Thủy Thần này, minh bạch pháp môn thiện
xảo phương tiện, cho nên nói pháp này lần thứ nhất, rồi lần thứ hai,
vì sợ chúng sinh không hiểu, cho nên nói đi nói lại. Vị này dùng
pháp thiện xảo phương tiện để giáo hóa chúng sinh, vì Ngài đắc được
tam muội thiện xảo. Vị này dùng đủ thứ pháp phương tiện, để diễn nói
cảnh giới thâm sâu của mười phương chư Phật, có khi dùng quang minh
để diễn nói pháp môn thiện xảo, có khi dùng âm thanh để diễn nói
pháp môn thiện xảo, có khi dùng âm thanh nước chảy, để diễn nói pháp
môn thiện xảo, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Chủ Thủy Thần Ly Cấu Hương Tích, được môn giải thoát, hiện khắp
đại quang minh thanh tịnh.
Vị Ly Cấu Hương Tích Chủ Thủy Thần này, đã lìa khỏi tất cả nhiễm ô,
mà đắc được thanh tịnh. Vì thanh tịnh cho nên sinh ra năm thứ mùi
hương điều hòa. Những mùi hương này tụ lại, thì khiến cho pháp giới
đều thanh tịnh không nhiễm, ở trong tận hư không khắp pháp giới, đều
hiện ra đại quang minh tạng, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Chủ Thủy Thần Phước Kiều Quang Âm, được môn giải thoát, thanh
tịnh pháp giới chẳng có tướng, cũng chẳng có tánh.
Vị Phước Kiều Quang Âm Chủ Thủy Thần này, phước như kiều lương
(nhiều vô lượng), lợi ích đối với chúng sinh. Quang minh của vị này
giống như thuyết pháp, có lợi ích đối với chúng sinh. Vị này đắc
được môn giải thoát, thanh tịnh pháp giới chẳng có tướng, chẳng có
tánh. Pháp giới thanh tịnh thì hợp với hư không làm một, cũng chẳng
có tướng, cũng chẳng có tánh, nó là:
‘’Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng,’’
Không thể dùng lời để nói. Vậy, vô tướng có tánh chăng ? Cũng chẳng
có tánh, cho nên mới hợp với hư không làm một thể.
Chủ Thủy Thần Tri Túc Tự Tại, được môn giải thoát, biển đại bi vô
tận.
Vị Tri Túc Tự Tại Chủ Thủy Thần này, đắc được tri túc, đắc được tự
tại, cho nên Ngài là Thần khoái lạc. Vị này dùng tâm đại bi để giáo
hóa chúng sinh, cho nên luôn luôn nghĩ nhớ chúng sinh, không quên
chúng sinh, thường ban vui cho chúng sinh, thường cứu khổ cho chúng
sinh, chẳng có thời giờ nghỉ ngơi. Do đó, gọi là biển đại bi vô tận,
đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Con người thì sợ chẳng biết đủ, không biết đủ tức là khổ, biết đủ
thì vui, do đó:
‘’Tri túc thường lạc, năng nhẫn tự an.’’
Nghĩa là:
Biết đủ thì vui, nhịn được thì yên.
Vui vẻ tức là biết đủ, yên ổn tức là tự tại. Không biết đủ là một
việc thống khổ nhất, sao gọi là không biết đủ ? Ví như, có người vốn
chẳng có nhà để ở, chẳng có cơm ăn, chẳng có đồ mặc, nghèo mạt rệp.
Y bèn nghĩ : Uớc gì có cái phòng nhỏ để ở, thì sướng biết mấy, do đó
tối ngày khởi vọng tưởng về phòng ở. Nếu có bộ đồ mặc thì ấm biết
bao, tối ngày cứ khởi vọng tưởng về quần áo. Uớc gì có vật gì ăn thì
sướng biết mấy, do đó tối ngày khởi vọng tưởng ăn. Một ngày nọ,
phòng ở cũng có, đồ mặc cũng có, vật ăn cũng có. Phòng thì có thể
che mưa che gió, y phục thì có thể che thân, vật ăn thì có thể ăn
cho khỏi đói. Nếu biết đủ thì chẳng cần cầu gì nữa. Song, y lại khởi
vọng tưởng, ta ở nhà lớn thì tốt biết mấy, mặc đồ quý giá thì tốt
biết mấy, ăn vật ngon thì tốt biết mấy, đó là biểu hiện không biết
đủ.
Lúc trước không có phòng ở, bây giờ đã có phòng ở, còn muốn ở nhà
lớn. Trước kia chẳng có quần áo mặc, bây giờ có quần áo mặc, còn
nghĩ muốn mặc đồ quý giá, trước kia chẳng có cơm ăn, bây giờ có cơm
ăn, còn nghĩ muốn ăn đồ ngon. Ðó là tâm tham không đáy, cho nên nói
không biết đủ là khổ.
Có phòng ở, có đồ mặc, có cơm ăn, lại muốn làm quan, được làm huyện
trưởng, hiềm chê chức nhỏ, muốn làm tỉnh trưởng, được làm tỉnh
trưởng hiềm chê nhỏ, lại muốn làm tổng thống, lại muốn làm người
lãnh đạo thế giới, được làm người lãnh đạo thế giới, lại muốn làm
thượng đế trên trời. Các bạn thấy đó ! Không biết đủ là khổ như thế.
Song, chỉ có vị Chủ Thủy Thần này biết đủ, cho nên tự tại, đó là môn
giải thoát vị này đắc được.
Chủ Thủy Thần Tịnh Hỷ Thiện Âm, được môn giải thoát, ở trong đạo
tràng chúng hội Bồ Tát, làm đại hoan hỷ tạng.
Vị Tịnh Hỷ Thiện Âm Chủ Thủy Thần này, thường sinh tâm hoan hỷ thanh
tịnh, khéo diễn nói diệu pháp âm. Vị này ở trong đạo tràng chúng hội
Bồ Tát, khiến cho tất cả đại chúng hải hội đều đắc được đại hoan hỷ.
Vì đắc được đại hoan hỷ, cho nên gọi là tạng, đó là môn giải thoát
vị này đắc được.
Chủ Thủy Thần Phổ Hiện Oai Quang, được môn giải thoát, dùng sức
phước đức rộng lớn vô ngại, xuất hiện khắp các cõi.
Vị Phổ Hiện Oai Quang Chủ Thủy Thần, xuất hiện khắp, lại có đại oai
quang. Vị này dùng sức phước đức, vô lượng vô biên vô ngại, xuất
hiện khắp trong mười phương cõi nước. Phước là do tu, đức là do làm
mới có. Vị này minh bạch được cảnh giới này, mà vào môn giải thoát
này.
Chủ Thủy Thần Hống Thanh Biến Hải, được môn giải thoát, quán sát
tất cả chúng sinh, dùng phương tiện để điều phục, phát khởi như hư
không.
Vị Hống Thanh Biến Hải Chủ Thủy Thần này, âm thanh như tiếng hống
của sư tử, làm chấn động vô lượng chúng sinh, trong các cõi nước
nhiều như số hạt bụi. Vị này quán sát được hết thảy tất cả chúng
sinh trong mười phương, dùng phương tiện điều phục để giáo hóa tất
cả chúng sinh. Tuy nhiên giáo hóa tất cả chúng sinh, song tất cả
chúng sinh tự giáo tự hóa, cho nên Ngài hành sở vô sự, chẳng chấp
trước tướng, đó gọi là phát khởi như hư không. Trong Kinh Kim Cang
có nói :
‘’Diệt độ tất cả chúng sinh rồi,
Mà chẳng có chúng sinh nào thật diệt độ.’’
Tất cả cõi chúng sinh đều không ! Nhưng nguyện lực của Phật vẫn chưa
tròn đầy. Cho nên, vị Thần này quán sát tất cả chúng sinh, phát khởi
nguyện rộng lớn, thần thông rộng lớn như hư không, dùng đủ thứ
phương tiện pháp môn, để điều phục tất cả chúng sinh, đó là môn giải
thoát vị này đắc được.
Bấy giờ, Chủ Thủy Thần Phổ Hưng Vân Tràng, nương oai lực của đức
Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Thủy Thần, mà nói ra bài kệ.
Tôn giả A Nan đã nhớ kinh trường hàng ở trước, lúc này dùng kệ để
tuyên lại ý nghĩa của kinh trường hàng. Vị Phổ Hưng Vân Tràng Chủ
Thủy Thần, nương đại oai thần lực của Phật (những vị Chủ Thủy Thần
kia, cũng nương đại oai thần lực của Phật), quán sát khắp tất cả
nhân duyên và căn tánh của chúng Chủ Thủy Thần, mà nói kệ rằng.
Môn từ thanh tịnh nhiều như bụi
Ðều sinh trong một tướng của Phật
Mỗi mỗi các tướng đều như thế
Vì thế người thấy chẳng nhàm chán.
‘’Từ môn thanh tịnh nhiều như bụi‘’. Từ môn này thanh tịnh, chẳng có
pháp nhiễm ô. Chẳng có pháp nhiễm ô, tức là chẳng có tâm tham dục.
Từ bi môn này dùng để làm gì ? Ðể lợi ích tất cả chúng sinh, để bình
đẳng lợi ích tất cả chúng sinh, để từ bi bình đẳng lợi ích tất cả
chúng sinh. Từ môn này có bao nhiêu ? Nhiều như bụi trong cõi nước.
Làm thế nào sinh ra môn từ thanh tịnh nhiều như thế ?
‘’Ðều sinh trong một tướng của Phật‘’. Trên mỗi một đầu sợi lông của
Phật, đều đầy đủ nhiều môn từ bi như thế, vô lượng vô biên đầu sợi
lông, đều đầy đủ môn từ bi nhiều như số hạt bụi.
‘’Mỗi mỗi các tướng đều như thế‘’. Ở
trong mỗi một tướng của Phật, đều đầy đủ vô biên môn từ thanh tịnh
rộng lớn, để giáo hóa lợi ích tất cả chúng sinh, mỗi một tướng đều
như thế. Bạn nghĩ thử môn từ này có bao nhiêu ?
‘’Vì thế người thấy chẳng nhàm chán.’’ Vì mỗi một tướng tốt của
Phật, đều đầy đủ vô lượng vô biên môn từ thanh tịnh, cho nên phàm là
ai thấy được Phật đều muốn thấy mãi, đều muốn nghe pháp mãi. Khi
chúng sinh thấy được Phật, thì mắt tựa như nhập định, mắt chiêm
ngưỡng Phật chẳng nhấp nháy, do đó ‘’mắt không tạm rời.’’ Tại sao ?
Vì không nhàm chán. Chúng sinh đều chấp trước tướng, thấy tướng tốt
của Phật, thì sinh tâm chẳng muốn lìa xa, muốn luôn luôn nhìn thấy
Phật.
Thuở xưa khi Thế Tôn tu hành
Ðều đến tất cả chỗ Như Lai
Tu hành đủ thứ chẳng lười mỏi
Phương tiện như thế Vân Âm vào.
‘’Thuở xưa khi Thế Tôn tu hành‘’. Thế Tôn tức là bậc tôn kính nhất
trong thế gian và xuất thế gian, tức là bậc được sự tôn kính của
người thế gian và người xuất thế gian, cũng là một trong mười hiệu
của Phật. Thuở xưa tức là trong quá khứ, tức là lúc Phật ở tại nhân
địa. Bây giờ Phật thành Phật là tại quả địa, lúc Phật tại nhân địa
thì tu hành như thế nào ?
‘’Ðều đến tất cả chỗ Như Lai’’. Có Phật
ở chỗ nào, thì đến chỗ vị Phật đó. Trong lúc, Phật Thích Ca Mâu Ni
chưa thành Phật, cho nên Ngài đến gần gũi tất cả chư Phật, đến cúng
dường cung kính tất cả chư Phật.
‘’Tu hành đủ thứ chẳng lười mỏi‘’. Ðủ thứ là chỉ những pháp môn làm
được, ví như gần gũi, cúng dường, cung kính, tất cả chư Phật. Phật
vì pháp mà quên mình, vì cầu pháp mà không ngủ, vì cầu pháp mà không
ăn cơm, quên mất thân thể của mình. Dù có bệnh cũng chẳng màng đến.
Có người nói : ‘’Phật còn có bệnh chăng‘’? Lúc đó, Phật chưa thành
Phật. Dù thành Phật rồi, có lúc còn đau đầu. Trong đời quá khứ, khi
Phật chưa thành Phật, làm một đồng tử. Lúc đó, trong thôn nọ có
người đi đánh cá, được một con cá lớn. Vị đồng tử đó thấy cá thích
đùa chơi, mới dùng cây gậy đánh lên đầu con cá ba cái, do đó mà
trồng xuống nhân quả. Khi thành Phật rồi đầu bị đau ba ngày, vì đánh
lên đầu con cá ba cái. Do đó, có thể chứng minh nhân quả báo ứng tơ
hào không sai mảy may. Mọi người phải tin nhân quả, đừng bác không
có nhân quả.
Tóm lại, khi Phật ở tại nhân địa tu hành, thì chẳng lười biếng,
chẳng phạm giới, dũng mãnh tinh tấn chẳng thối lùi.
‘’Phương tiện như thế Vân Âm vào’’. Ðủ thứ phương tiện pháp môn vừa
nói ở trên, vị Hải Triều Vân Âm Chủ Thủy Thần vào được môn giải
thoát này.
Phật ở trong tất cả mười phương
Tịch nhiên bất động chẳng đến đi
Chúng sinh độ được đều khiến thấy
Ðây là chỗ biết của Luân Kế.
‘’Phật ở trong tất cả mười phương‘’. Thế giới của chúng ta có mười
phương, những thế giới khác cũng có mười phương, Phật ở trong tất cả
mười phương.
‘’Tịch nhiên bất động chẳng đến đi‘’. Vì Phật tịch nhiên bất động,
cho nên không đến cũng không đi, do đó:
‘’Bậc Như Lai !
Chẳng từ đâu đến,
Cũng chẳng đi về đâu.’’
‘’Chúng sinh độ được đều khiến thấy‘’. Tuy Phật không đến không đi,
nhưng chúng sinh nào đáng được Phật giáo hóa, thì Phật bèn dùng sức
đại thần thông, khiến cho họ đều thấy được Phật.
‘’Ðây là chỗ biết của Luân Kế’’. Cảnh giới này, vị Diệu Sắc Luân Kế
Chủ Thủy Thần, biết được mà vào môn giải thoát này.
Cảnh giới Như Lai vô biên lượng
Tất cả chúng sinh chẳng biết được
Diễn nói diệu âm khắp mười phương
Sở hành này của Thiện Tuyền Thần.
‘’Cảnh giới Như Lai vô biên lượng‘’. Ðây là nói cảnh giới của Phật
không thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên, vô biên vô lượng.
‘’Tất cả chúng sinh chẳng biết được‘’. Tất cả chúng sinh chưa khai
thị ngộ nhập Phật tri kiến, thì không thể hiểu biết được cảnh giới
của Phật. Khi nào khai tri kiến của Phật, mở tri kiến của Phật, ngộ
tri kiến của Phật, vào tri kiến của Phật, thì mới thật sự hiểu biết
cảnh giới của Phật.
‘’Diễn nói diệu âm khắp mười phương‘’. Phật dùng âm vi diệu để nói
pháp vi diệu, không những chỉ nói pháp tại một thế giới, mà là nói
pháp khắp mười phương thế giới.
‘’Sở hành này của Thiện Tuyền Thần.’’ Cảnh giới này, là đạo lý tu
hành của vị Thiện Xảo Tuyền Phục Chủ Thủy Thần. Ngài vào được môn
giải thoát này.
Quang minh Thế Tôn không cùng tận
Ðầy khắp pháp giới không nghĩ bàn
Nói pháp giáo hóa độ chúng sinh
Tịnh Hương Thần quán thấy như vậy.
‘’Quang minh Thế Tôn không cùng tận‘’. Thế Tôn tức là Phật, quang
minh của Phật hiện ra vô lượng vô tận. Vì quang minh trùng trùng vô
tận, cho nên nói chẳng cùng tận.
‘’Ðầy khắp pháp giới không nghĩ bàn‘’. Quang minh của Phật tận hư
không khắp pháp giới. Cảnh giới này không thể suy nghĩ, không thể
luận bàn, diệu đến cực điểm.
‘’Thuyết pháp giáo hóa độ chúng sinh‘’. Phật diễn nói đủ thứ diệu
pháp, để giáo hóa tất cả chúng sinh, để độ thoát tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh đều lìa khổ được vui, liễu sinh thoát
tử.
‘’Tịnh Hương Thần quán thấy như vậy.’’ Cảnh giới này, vị Ly Cấu
Hương Tích Chủ Thủy Thần thấy được, minh bạch được, chứng đắc được.
Như Lai thanh tịnh đồng hư không
Không tướng không hình khắp mười phương
Mà khiến chúng hội thảy đều thấy
Phước Quang Thần quán sát thấy được.
‘’Như Lai thanh tịnh đồng hư không‘’. Pháp thân của Như Lai thanh
tịnh như hư không, vô tại vô bất tại, nhưng biến khắp trong mười
phương pháp giới, tại sao ? Vì đồng hư không.
‘’Không tướng không hình khắp mười phương‘’. Pháp thân của Phật tuy
khắp mười phương pháp giới, nhưng chẳng có hình, chẳng có tướng. Tuy
không hình không tướng, mà biến khắp mười phương pháp giới, cho nên
nói cảnh giới của Phật diệu là như thế.
‘’Mà khiến chúng hội thảy đều thấy‘’. Tuy không hình không tướng,
nhưng khiến chúng sinh trong chúng hội đạo tràng, chẳng có người nào
mà chẳng thấy được Phật.
‘’Phước Quang Thần quán sát thấy được.’’ Cảnh giới này, vị Phước
Kiều Quang Âm Chủ Thủy Thần, quán sát thấy và minh bạch được.
Xưa Phật tu tập môn đại bi
Nên tâm rộng khắp đồng chúng sinh
Giống như vầng mây hiện ra đời
Môn giải thoát này Tri Túc rõ.
‘’Xưa Phật tu tập môn đại bi‘’. Thuở xa xưa, Phật tu tập hạnh môn
đại bi, cứu khổ cho chúng sinh, ban vui cho chúng sinh.
‘’Nên tâm rộng khắp đồng chúng sinh‘’. Khi Phật tu môn đại bi, thì
tâm của Ngài rộng lớn vô cùng. Có bao nhiêu chúng sinh, thì tu bấy
nhiêu môn đại bi, cho nên nói đồng chúng sinh.
‘’Giống như vầng mây hiện ra đời‘’. Vì nhân duyên đó, cho nên giống
như vầng mây trên bầu trời xuất hiện trong thế gian, che làm cho tất
cả nhiệt não nóng bức của chúng sinh, đều biến thành sự mát mẻ.
‘’Môn giải thoát này Tri Túc rõ.’’ Phật giống như vầng mây hiện ra
đời, che khắp tất cả chúng sinh, khiến cho họ đắc được sự mát mẻ.
Môn giải thoát này, vị Tri Túc Tự Tại Chủ Thủy Thần thấy rõ.
Mười phương tất cả các cõi nước
Ðều thấy Như Lai ngự tòa sen
Minh bạch khai ngộ đại bồ đề
Hỷ Âm vào được cảnh giới này.
‘’Mười phương tất cả các cõi nước‘’. Tất cả các cõi nước của chư
Phật trong mười phương.
‘’Ðều thấy Như Lai ngự tòa sen‘’. Tất cả chúng sinh đều thấy Phật
ngồi trên tòa sen, diễn nói diệu pháp rất thâm sâu không gì bằng.
‘’Minh bạch khai ngộ đại bồ đề‘’. Phàm là chúng sinh thấy và nghe
được pháp của Phật, thì đều minh bạch mà khai ngộ, đắc được đạo lý
đại giác.
‘’Hỷ Âm vào được cảnh giới này.’’ Cảnh giới này, vị Tịnh Hỷ Thiện Âm
Chủ Thủy Thần đắc được, vào được môn giải thoát này.
Những gì Phật làm chẳng quái ngại
Ðến khắp mười phương tất cả cõi
Nơi nơi thị hiện đại thần thông
Phổ Hiện Oai Quang đã ngộ được.
‘’Những gì Phật làm chẳng quái ngại‘’. Bất cứ những gì Phật làm, đều
chẳng quái ngại.
‘’Ðến khắp mười phương tất cả cõi‘’. Phật ngự trên tòa sen tịch
nhiên bất động, cảm mà toại thông, khắp mười phương. Tuy Phật không
lìa khỏi tòa ngồi, nhưng có cảm ứng nơi chúng sinh. Nếu có chúng
sinh muốn thấy Phật, muốn nghe Phật pháp thì có cảm thông, có cầu
tất ứng. Ai kiền thành muốn cầu nơi Phật, thì người đó sẽ thấy được
Phật.
‘’Nơi nơi thị hiện đại thần thông‘’.
Trong tất cả cõi nước, nhiều như số hạt bụi trong mười phương pháp
giới, nơi nơi Phật đều hiện đại thần thông. Ðại thần thông là gì ?
Tức là lớn dung được nhỏ, nhỏ dung được lớn, nhỏ lớn dung nhiếp với
nhau. Cõi nước mười phương không ra ngoài một hạt bụi, một hạt bụi
lại dung nạp được cõi nước mười phương ở bên trong. Một hạt bụi thì
nhỏ, nhưng dung nạp được lớn. Cõi nước mười phương là lớn, nhưng
dung nạp được nhỏ. Ðó là cảnh giới trong lớn hiện nhỏ, trong nhỏ
hiện lớn, cho nên gọi là đại thần thông.
‘’Phổ Hiện Oai Quang đã ngộ được.’’ Ðạo
lý này nghe coi bộ rất dễ dàng, kỳ thật không dễ gì hiểu được. Nhỏ
sao dung nạp được lớn ? Lớn sao dung nạp được nhỏ ? Có người nói :
‘’Lớn dung nạp được nhỏ thì có thể, nhỏ dung nạp lớn thì chẳng có
lý.’’ Nói về phần của Phật thì không lớn không nhỏ, không trong
ngoài, cũng chẳng có lớn, cũng chẳng có nhỏ, cũng chẳng có trong,
cũng chẳng có ngoài, hổ tương viên dung vô ngại. Cảnh giới này, vị
Phổ Hiện Oai Quang Chủ Thủy Thần, đã minh bạch hiểu rõ được.
Tu tập vô biên hạnh phương tiện
Ðều đầy khắp đồng cõi chúng sinh
Thần thông diệu dụng chẳng tạm ngừng
Hống Thanh Biến Hải nhập vào được.
‘’Tu tập vô biên hạnh phương tiện‘’. Vị Hống Thanh Biến Hải Chủ Thủy
Thần nói : ‘’Phật tu tập đủ thứ vô biên hạnh môn phương tiện.’’
‘’Ðều đầy khắp đồng cõi chúng sinh‘’. Có bao nhiêu chúng sinh, thì
tu bấy nhiêu phương tiện hạnh môn, số mục nhiều như cõi chúng sinh,
hoàn toàn đều đầy khắp pháp môn này.
‘’Thần thông diệu dụng chẳng tạm ngừng‘’. Thần thông diệu dụng của
chư Phật là không thể nghĩ bàn, chẳng có khi nào tạm thời ngừng
nghỉ, luôn thị hiện thần thông diệu dụng để giáo hóa chúng sinh.
‘’Hống Thanh Biến Hải nhập vào được.’’ Vị Hống Thanh Biến Hải Chủ
Thủy Thần, vào được môn giải thoát này.
Lại nữa, Chủ Hải Thần Xuất Hiện Bảo Quang, được môn giải thoát,
dùng tâm bình đẳng bố thí biển phước đức cho tất cả chúng sinh, và
dùng các thứ báu trang nghiêm thân.
Ðạo lý ở trước chưa nói hết, bây giờ tiếp tục nói. Vị Xuất Hiện Bảo
Quang Chủ Hải Thần này, hiện ra được đủ loại quang minh báu. Vị này
đắc được cảnh giới, dùng tâm bình đẳng để bố thí cho tất cả chúng
sinh. Bố thí gì cho tất cả chúng sinh ? Bố thí biển phước đức. Vị
này dùng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, các thứ
báu, để trang nghiêm thân, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Chủ Hải Thần Bất Khả Hoại Kim Cang Tràng, được môn giải thoát,
dùng phương tiện khéo léo, để giữ gìn bảo hộ căn lành của tất cả
chúng sinh.
Vị Bất Khả Hoại Kim Cang Tràng Chủ Hải Thần này, công đức kiên cố
như tràng báu kim cang, vĩnh viễn không thể hoại. Vị này dùng phương
tiện pháp môn khéo léo, để giữ gìn bảo hộ căn lành cho tất cả chúng
sinh, khiến cho căn lành của chúng sinh không hủy hoại, và còn giúp
tất cả chúng sinh thành tựu căn lành. Vị này đắc được môn giải thoát
này.
Chủ Hải Thần Bất Tạp Trần Cấu, được môn giải thoát, cạn biển
phiền não của tất cả chúng sinh.
Vị Bất Tạp Trần Cấu Chủ Hải Thần, rất thanh tịnh vô cùng, chẳng
nhiễm bụi trần. Vị này khiến cho biển phiền não của tất cả chúng
sinh đều khô cạn, nếu biển phiền não khô cạn rồi, thì sẽ đắc được
trí huệ. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Tại sao chúng ta chẳng khai mở trí huệ ?
Vì phiền não của chúng ta quá nặng, cho nên biển phiền não chẳng khô
cạn được. Ðại khái vị Chủ Hải Thần này chẳng lo cho chúng ta, nếu
Ngài lo cho chúng ta, thì biển phiền não cũng sẽ khô cạn, đều sẽ đắc
được môn giải thoát này.
Hiện tại chúng ta đã nghe đến Kinh Hoa
Nghiêm, vị Chủ Hải Thần này nhất định sẽ làm cho
biển phiền não của chúng ta khô cạn. Song, chúng ta đừng ỷ lại vị
Chủ Hải Thần này, mà phải ỷ lại tín tâm và sức lực của chính mình.
Mình hãy tự làm cạn biển phiền não của mình, đừng đợi vị Chủ Hải
Thần này đến giúp đỡ, Ngài còn có nhiều công việc phải làm, đừng làm
phiền đến Ngài, mình phải tự cạn biển phiền não, thì trí huệ quang
minh sẽ hiện tiền.
Chủ Hải Thần Hằng Trụ Ba Lãng, được môn giải thoát, khiến cho tất
cả chúng sinh lìa khỏi đường ác.
Vị Hằng Trụ Ba Lãng Chủ Hải Thần này, thường sinh sống ở trong sóng.
Vị này đắc được một môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh xa
lìa ba đường ác, thành tựu ba đường lành.
Chủ Hải Thần Cát Tường Bảo Nguyệt, được môn giải thoát, diệt trừ
khắp hết thảy đại si ám.
Vị Cát Tường Bảo Nguyệt Chủ Hải Thần này, bảo kế đẹp như diệu
hoa long. Vị này diệt trừ khổ của chúng sinh trong bốn đường ác, tức
là khiến cho họ lìa khổ được vui, đó là môn giải thoát của vị này
đắc được.
Chủ Hải Thần Phổ Trì Quang Vị, được môn giải thoát, tịnh trị chư
kiến và tánh ngu si, của tất cả chúng sinh.
Vị Phổ Trì Quang Vị Chủ Hải Thần này, quang minh khắp hết thảy mà
giữ được lâu. Vị này thanh tịnh trị lý chư kiến (sáu mươi hai kiến)
của tất cả chúng sinh, và điều hòa tính ngu si của chúng sinh, khiến
cho họ biến thành trí huệ tính, đó là môn giải thoát của vị này đắc
được.
Chủ Hải Thần Bảo Diệm Hoa
Quang, được môn giải thoát, xuất sinh tất cả giống
tánh báu bồ đề tâm.
Bảo Diệm Hoa
Quang Chủ Hải Thần, có hoa quang bảo diệm, chiếu
khắp tất cả chúng sinh. Vị này thường sinh ra giống tánh báu tâm bồ
đề (kiên cố), thứ tâm bồ đề này kiên cố như kim cang. Lại có lối
giải thích khác, giống tánh báu này tức là bổn thể của giới. Người
xuất gia thọ giới, tức là thọ giống tánh báu. Giống tánh báu này
phải khiến cho nó ngày càng một lớn thêm, phải khiến cho bồ đề ngày
càng tăng trưởng, tập ít thành nhiều. Vị này đắc được môn giải thoát
này.
Chủ Hải Thần Kim Cang Diệu Kế, được môn giải thoát, tâm bất động
biển công đức.
Kim Cang Diệu Kế Chủ Hải Thần, có bảo kế kim cang kỳ diệu, vị này
đắc được cảnh giới của Phật, là tâm bất động biển công đức. Tâm của
vị này luôn luôn tịch tĩnh bất động, công đức cũng đặc biệt nhiều
như biển, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Chủ Hải Thần Hải Triều Lôi Âm, được môn giải thoát, vào khắp pháp
giới môn tam muội.
Hải Triều Lôi Âm Chủ Hải Thần này, âm thanh như hải triều, như
tiếng sấm sét, xa gần đều nghe. Chúng sinh nghe được diệu âm này,
thì có thể khai ngộ, vị này vào khắp pháp giới môn tam muội.
Bấy giờ, Chủ Hải Thần Xuất Hiện Bảo Quang, nương oai lực của đức
Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Hải Thần, mà nói ra bài kệ.
Ðương lúc đó, vị Xuất Hiện Bảo Quang Chủ Hải Thần, nương đại oai
thần lực của Phật, mà quán sát khắp tất cả chúng Chủ Hải Thần, dùng
kệ thuật lại ý nghĩa của trường hàng.
Biển đại kiếp không thể nghĩ bàn
Cúng dường tất cả các Như Lai
Dùng công đức thí khắp quần sinh
Nên đoan nghiêm nhất chẳng ai bằng.
Bốn câu kệ này, là người kết tập kinh điển thuật lại ý nghĩa trường
hàng ở trên, tổng hợp lại rồi nói ra. Tuy là tôn giả A Nan nói,
nhưng đó là căn cứ theo ý nghĩa của Chủ Hải Thần mà nói, chứ tôn giả
A Nan bất quá chỉ là người ghi nhớ thuật lại mà thôi.
‘’Biển đại kiếp không thể nghĩ bàn‘’. Vị Xuất Hiện Bảo Quang Chủ Hải
Thần nói: ‘’Phật ở trong biển đại kiếp, không thể dùng tâm suy
lường, không thể dùng lời luận bàn.’’ Biển đại kiếp tức là vô lượng
vô biên đại kiếp như biển, không cách chi biết được cứu kính có bao
nhiêu ? Cho nên dùng chữ "biển" để hình dung.
‘’Cúng dường tất cả các Như Lai‘’. Phật
ở trong biển đại kiếp xa xưa, thời gian lâu dài như thế, cúng dường
mười phương ba đời tất cả các đức Phật. Có khi dùng tiền tài để cúng
dường, có khi dùng pháp để cúng dường, có khi dùng thân tâm tính
mạng để cúng dường, thời khắc luôn luôn siêng cầu Phật đạo.
Giống như người xuất gia và tại gia, của chùa Kim Sơn chúng ta, đều
bận rộn học Phật pháp, hành trì Phật pháp. Ðó cũng là cúng dường tất
cả chư Phật, chúng ta hãy dùng tiền tài để cúng dường Tam Bảo, dùng
pháp để cúng dường Tam Bảo, dùng thân tâm tính mạng để cúng dường
Tam Bảo, đó là việc Phật giáo đồ nên làm.
‘’Dùng công đức thí khắp quần sinh‘’.
Phật tu đủ thứ công đức, đều hồi hướng cho chúng sinh, bố thí cho
chúng sinh. Nói tóm lại, vì tất cả chúng sinh mà tu công đức. Tất cả
công đức của Phật thuở xưa cúng dường tất cả chư Phật, chẳng lưu lại
chút nào cho chính mình, hoàn toàn hồi hướng cho chúng sinh, mong
muốn chúng sinh lìa khổ được vui, nghiệp chướng tiêu trừ, căn lành
tăng trưởng, siêng tu chánh đạo, sớm chứng quả vị Phật.
‘’Nên đoan nghiêm nhất chẳng ai bằng.’’
Vì Phật đem tất cả công đức hồi hướng cho pháp giới chúng sinh, bố
thí cho pháp giới chúng sinh, cho nên thân của Phật đoan chánh trang
nghiêm, chẳng ai sánh bằng. Bất cứ chúng sinh trên trời, dưới trời,
đều chẳng có ba mươi hai tướng tốt quang minh, và tám mươi vẻ đẹp
như đức Phật. Quang minh này trang nghiêm tướng tốt đẹp, bất cứ ai
cũng không thể sánh được, cho nên nói đoan nghiêm nhất chẳng ai
bằng.
Tất cả thế gian đều xuất hiện
Căn tánh chúng sinh đều biết hết
Khắp vì tuyên dương biển đại pháp
Ðây là sở ngộ của Kiên Tràng.
‘’Tất cả thế gian đều xuất hiện‘’. Phật xuất hiện trong hết thảy tất
cả thế gian. Xuất hiện để làm gì ? Ðể giáo hóa tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được giải thoát, khiến cho tất
cả chúng sinh, không còn bị năm dục trói buộc.
‘’Căn tánh chúng sinh đều biết hết‘’. Căn tánh của mỗi chúng sinh,
có căn lành, hoặc chẳng có căn lành, Phật đều biết rõ, vì Phật có
sức thần thông, cho nên chúng sinh mong muốn những gì, Phật cũng đều
biết hết.
‘’Khắp vì tuyên dương biển đại pháp‘’. Phật vì khắp hết thảy chúng
sinh hoằng dương tuyên nói đại pháp, pháp này như biển cả, cho nên
gọi là biển đại pháp, tức cũng là pháp vô lượng vô biên không cùng
tận.
‘’Ðây là sở ngộ của Kiên Tràng.’’ Ðạo lý này, vị Kiên Tràng Chủ Hải
Thần hiểu rõ, cho nên ngộ nhập vào môn giải thoát này.
Tất cả chúng Đạo sư thế gian
Mây pháp mưa lớn không lường được
Tiêu trừ dứt sạch các biển khổ
Ly Cấu Trần vào pháp môn này.
‘’Tất cả chúng Đạo sư thế gian‘’. Chúng Đạo sư tức là Phật, tức cũng
là hết thảy Phật trong tất cả thế gian.
‘’Mây pháp mưa lớn không lường được‘’. Chư Phật nổi mây đại pháp
khắp hết thảy, mưa xuống đại pháp. Cảnh giới này, chẳng phải phàm
phu tục tử minh bạch được, dò lường được, cho nên nói không lường
được.
‘’Tiêu trừ dứt sạch các biển khổ‘’. Mây pháp này, mưa xuống đại
pháp, tiêu trừ phiền não của tất cả chúng sinh, tức cũng khiến cho
phiền não tham sân si, tiêu trừ sạch sành sanh, chẳng còn tơ hào. Vì
chúng sinh có sự khổ vô cùng tận, cho nên gọi là biển.
‘’Ly Cấu Trần vào pháp môn này.’’ Pháp môn này vị Ly Cấu Trần Chủ
Hải Thần, thấy rõ mà vào môn giải thoát này.
Tất cả chúng sinh phiền não che
Lưu chuyển các cõi thọ khổ nhiều
Vì họ khai thị cảnh Như Lai
Phổ Thủy Cung Thần vào môn này.
‘’Tất cả chúng sinh phiền não che‘’. Chúng sinh vốn đều có trí huệ,
vốn với Phật không hai không khác, nhưng vì phiền não che lấp trí
huệ, cho nên trí huệ quang minh không thể hiện ra, giống như mây che
lấp mặt trời, thì ánh sáng mặt trời không hiện ra.
‘’Lưu chuyển các cõi thọ khổ nhiều‘’. Chúng sinh vì phiền não che
đậy, do đó trôi đi trôi lại ở trong sáu nẻo luân hồi, lưu chuyển
không ngừng ở trong các cõi, thọ tất cả mọi sự khổ.
‘’Vì họ khai thị cảnh Như Lai‘’. Tại sao Phật phải khai thị tất cả
chúng sinh ? Vì khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được cảnh giới
của Như Lai, nghĩa là khai ngộ thành Phật.
‘’Phổ Thủy Cung Thần vào môn này.’’ Vị Phổ Thủy Cung Chủ Hải Thần,
vào được môn giải thoát này.
Phật trong biển kiếp khó nghĩ bàn
Tu hành các hạnh không cùng tận
Cắt lưới si hoặc của chúng sinh
Bảo Nguyệt thấu rõ vào môn này.
‘’Phật trong biển kiếp khó nghĩ bàn‘’. Thuở xưa Phật ở trong biển
kiếp lâu dài, biển kiếp thời gian dài bao lâu ? Sự lâu dài này, tâm
của con người suy lường không biết được, cho nên gọi là biển kiếp.
‘’Tu hành các hạnh không cùng tận‘’.
Phật ở trong biển kiếp tu tất cả pháp môn, khó xả bỏ mà Ngài xả bỏ
được, khó hành mà Ngài hành được, khó nhẫn mà Ngài nhẫn được, khó
nhường mà Ngài nhường được. Tóm lại, pháp môn không dễ tu, không dễ
dàng làm được, mà Ngài đều làm được, đều tu xong hết hoàn toàn. Pháp
môn chẳng cùng tận, Phật đều tu được viên mãn.
‘’Cắt lưới si hoặc của chúng sinh‘’. Si
là ngu si, hoặc là mê hoặc. Hai thứ này giống như tấm lưới ví bắt
chúng sinh, do đó nhảy chẳng khỏi sáu nẻo luân hồi. Phật cắt đứt
lưới si hoặc của chúng sinh, không phải cắt đứt tạm thời, mà là cắt
đứt vĩnh viễn, nghĩa là phá hủy lưới si hoặc của chúng sinh, khiến
cho chúng sinh đắc được tự tại.
‘’Bảo Nguyệt thấu rõ vào môn này.’’ Vị Cát Tường Bảo Nguyệt Chủ Hải
Thần, minh bạch được cảnh giới này, mà vào được môn giải thoát này.
Phật thấy chúng sinh thường sợ hãi
Lưu chuyển trong biển lớn sinh tử
Mở bày đạo vô thượng của Phật
Long Kế ngộ hiểu sinh vui mừng.
‘’Phật thấy chúng sinh thường sợ hãi‘’. Phật nhìn thấy chúng sinh,
thường sinh sợ hãi vấn đề sinh tử không dứt được, chứ chẳng phải sợ
pháp môn khó tu. Vì chúng sinh còn chưa biết gì là pháp, gì là môn,
cho nên ở trong sáu nẻo sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, lưu
chuyển không ngừng, không muốn lìa khỏi tam giới.
‘’Lưu chuyển trong biển lớn sinh tử‘’. Ở trong biển lớn sinh tử là
đáng sợ nhất. Sợ gì ? Sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, chẳng có khi
nào chấm dứt, đó là đáng sợ nhất, hơn nữa thọ đủ thứ tội ở trong ba
đường ác, nhất là chịu đủ thứ hình phạt ở trong địa ngục, thật là
khiến người phải khiếp sợ.
Tại nhân gian một trăm năm, thì chỉ một ngày đêm trên trời Ðao Lợi,
cho nên người trời xem tuổi thọ của chúng ta giống như con phù du,
sáng sinh chiều chết. Chúng ta thấy con phù du sáng sớm sinh ra, đến
tối thì chết mất, cảm thấy thọ mạng của chúng quá ngắn ngủi, nhưng
trong quá trình một ngày, chúng cảm thấy thời gian rất là dài. Tuổi
thọ của chúng ta chẳng phải như thế chăng ? Sinh rồi lại chết, chết
rồi lại sinh, thật là khiếp sợ ! Cho nên Phật sợ hãi thế cho chúng
sinh, thường vì sinh tử của chúng sinh không dứt được mà sợ hãi.
‘’Mở bày đạo vô thượng của Phật‘’. Phật
từ bi mở bày đạo vô thượng của Như Lai. Ðạo vô thượng là gì ? Tức là
siêng tu giới định huệ, sẽ diệt tham sân si, đó là đạo vô thượng
vượt ra thế gian. Ðừng làm các điều ác, hãy làm các điều lành, đó là
vô thượng đạo của thế gian.
‘’Long Kế ngộ hiểu sinh vui mừng.’’ Vị Diệu Hoa
Long Kế Chủ Hải Thần, minh bạch cảnh giới này,
trong tâm sinh vui mừng hớn hở.
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Nam Mô Ðại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Nam Mô Hoa
Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Ðó là kệ cầu nguyện. Khi tôi vừa đến Mỹ, thì gặp lúc Mỹ và Cu Ba
muốn phát sinh chiến tranh, tình hình thập phần nguy hiểm, có một sự
cảm xúc phát hiện. Lúc đó, tôi nghĩ, vừa mới đến nước này, cũng
chẳng có chút giúp đỡ gì. Nếu chiến tranh bùng nổ, thì hai bên không
biết phải hy sinh bao nhiêu mạng người ?
Do đó, tôi mới đến trước bàn Phật đốt hương phát nguyện, vì cầu cho
tiêu diệt chiến tranh và thế giới hòa bình, mà tuyệt thực năm tuần
lễ, nghĩa là ba mươi lăm ngày không ăn. Mãn hạn rồi thì Cu Ba chẳng
phát sinh chiến tranh, không biết có phải sự thành tâm của tôi có sở
cảm ứng chăng, nhưng chẳng có chiến tranh là sự thật.
Bây giờ, Trung Ðông lại phát sinh chiến
tranh (1973), vì tôn giáo và dân tộc mà chiến tranh. Do Thái Giáo và
Hồi Giáo hai tín ngưỡng khác nhau, tư tưởng dân tộc cũng khác nhau,
cho nên đó đây thường phát sinh chiến tranh. Cho nên chúng ta phải
nỗ lực cầu cho thế giới hòa bình, nguyện cho chiến tranh này sớm
ngưng chiến, sinh linh không chịu lầm than.
Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn
Pháp giới hư không tướng bình đẳng
Tịnh lưới si hoặc của chúng sinh
Phổ Trì diễn nói được như vậy.
‘’Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn‘’. Chúng sinh thì có cảnh giới
của chúng sinh, Bồ Tát thì có cảnh giới của Bồ Tát, chư Phật thì có
cảnh giới của chư Phật. Cảnh giới của chúng sinh không thể nghĩ bàn,
cảnh giới của Bồ Tát không thể nghĩ bàn, cảnh giới của chư Phật cũng
không thể nghĩ bàn. Cảnh giới không nghĩ bàn, chẳng phải sự suy
lường và luận bàn của phàm phu mà minh bạch được, cho nên nói cảnh
giới diệu không thể tả.
‘’Pháp giới hư không tướng bình đẳng‘’.
Chư Phật tức là pháp giới, pháp giới tức là chư Phật. Pháp giới và
chư Phật đồng như hư không, là tướng bình đẳng, không thiếu không
thừa, không nhiều không ít, là bình đẳng nhất.
‘’Tịnh luới si hoặc của chúng sinh‘’. Thần thông diệu dụng của chư
Phật tu trị, làm cho ngu si và mê hoặc của chúng sinh được thanh
tịnh, chẳng còn pháp nhiễm ô nào.
Chúng sinh giống như con nhặng, bay
đông, bay tây. Tại sao ? Vì tìm thực vật, có khi bay không rất nhiều
đường oan uổng, cũng tìm chẳng được vật ăn. Tại sao chúng lại làm
nhặng ? Vì sự ngu si và mê hoặc của chúng quá sâu, bay loạn khắp
nơi, chẳng thành công, cho nên làm nhặng, hơn nữa, khi tại nhân địa
thì chúng vọng tưởng quá nhiều, thích làm nhặng được tự do tự tại,
chẳng có ai quản lý, thích như thế nào thì như thế đó, do đó cứ làm
nhặng mãi, ngày nào cũng bay, mà bay không vượt khỏi ngoài lưới si
hoặc. Vì vậy mà Phật tịnh lưới si hoặc của chúng sinh, để cho chúng
tương lai còn có cơ hội thành Phật.
‘’Phổ Trì diễn nói được như vậy.’’ Vị Phổ Trì Quang Chủ Hải Thần,
hiểu rõ đạo lý này, mà diễn nói được pháp môn này.
Phật nhãn thanh tịnh không nghĩ bàn
Tất cả cảnh giới đều hiện ra
Bày khắp chúng sinh các diệu đạo
Ðây là sở ngộ của Hoa Quang.
‘’Phật nhãn thanh tịnh không nghĩ bàn‘’. Phật có ngũ nhãn lục thông.
Phật nhãn thanh tịnh quán khắp tất cả, là không thể nghĩ bàn.
‘’Tất cả cảnh giới đều hiện ra‘’. Tất cả cảnh giới, tức là cảnh giới
của chúng sinh, cũng là cảnh giới của chư Phật, bất cứ cảnh giới gì,
cũng đều hiện ra ở trong Phật nhãn. Phật nhãn như là tấm gương lớn,
tất cả cảnh giới của chúng sinh Phật đều thấy được.
‘’Bày khắp chúng sinh các diệu đạo‘’.
Căn tánh của chúng sinh, căn lành nhiều hay căn ác nhiều, Phật đều
biết, dục niệm của chúng sinh nhiều hay ít, Phật cũng đều biết. Cho
nên, Phật khắp vì tất cả chúng sinh, khai thị đủ thứ diệu đạo.
Diệu đạo là gì ? Nói cho dễ hiểu, tức là đạo mà hằng ngày thường
làm, đạo mà hằng ngày chúng ta đều dùng, những việc làm đều rất là
diệu. Nếu không chú ý nghiên cứu nó, thì chẳng biết chỗ diệu của nó.
Phải chú ý nghiên cứu nó, thì bất cứ gì cũng đều diệu, diệu không
thể tả. Ví như, vật mà hằng ngày chúng ta dùng từ đâu đến ? Nơi đến
rất diệu, lại ra đi như thế nào ? Chỗ đi cũng rất diệu, tóm lại đều
là diệu đạo.
Cảnh giới mà mỗi ngày chúng ta thấy, đó
tức là diệu đạo, giống như không ăn cơm thì bụng đói, tại sao phải
đói ? Ðó tức là diệu, ăn no rồi cũng là diệu, cho đến mặc áo, hoặc
uống trà, cũng đều diệu như thế. Nếu không diệu tại sao phải dùng nó
? Dù dùng nó rồi cũng chẳng lâu dài, chỉ là tạm thời mà thôi, bạn
nói đó có diệu chăng ? Có người nói : ‘’Thứ đạo lý này ai cũng
hiểu.’’ Nhưng chỗ bạn hiểu chỉ là ngoài da, chứ chẳng phải là cứu
kính, chỗ diệu thì chẳng biết. Tại sao muốn ăn vật ngon ? Ðó là
diệu, tại sao muốn mặc đồ đẹp ? Ðó là diệu. Tại sao muốn ở nhà tốt ?
Ðó là diệu.
Ý nghĩa chữ diệu là không hiểu biết nó
cho lắm, không minh bạch nó cho lắm. Tóm lại, minh bạch tức là diệu,
không minh bạch thì chẳng diệu. Giống như hai vị tam bộ nhất bái,
trên đường lạy thì bị rách quần, không thể che thân thể, lúc đó bên
cạnh lề đường xuất hiện một cái quần, đó cũng là diệu. Có người ném
họ mảnh chai mà không trúng, đó cũng là diệu. Ðã giảng ý nghĩa chữ
diệu ra quá nhiều rồi, bây giờ trở lại kinh văn.
‘’Ðây là sở ngộ của Hoa
Quang.’’ Ðạo lý này, vị Bảo Diệm Hoa
Quang Chủ Hải Thần ngộ được, mà vào môn giải thoát
này.
Ma quân quảng đại vô lượng số
Trong một sát na đều phá sạch
Tâm chẳng khuynh động khó lường được
Phương tiện này của Diệu Kế Thần.
‘’Ma quân quảng đại vô lượng số‘’. Ma quân tức là mười đại ma quân
(tham dục, buồn lo, đói khát, khát thọ, ngủ nghỉ, sợ sệt, nghi, hàm
độc, lợi dưỡng, tự cao). Trong mỗi thứ ma quân, lại biến thành mười
đại ma quân, mà thành trăm đại ma quân. Trăm đại ma quân lại biến
thành ngàn đại ma quân, ngàn đại ma quân lại biến thành vạn đại ma
quân, càng biến càng nhiều, càng sinh càng nhiều ma con ma cháu, ma
vua ma dân, chẳng biết bao nhiêu, cho nên nói là vô lượng số.
Mỗi con ma có thể biến thành trăm ngàn
vạn ức, vì sức thần thông của ma cũng rất lớn, đáng tiếc thuộc về
phương diện ác. Nếu làm lợi ích cho chúng sinh thì tốt biết bao,
đằng này chúng hại người, cho nên ma vương là kẻ giết người. Người
tu đạo sắp thành tựu, thì ma vương bèn dùng đủ thứ phương pháp đến
phá hoại đạo tâm, khiến cho người định lực không đủ, thì mất đi cơ
hội khai ngộ.
Thiền sư Huệ Ngôi đang ngồi thiền ở trong rừng, bỗng cò một con ma
không đầu đến dọa nạt uy hiếp Thiền sư, nhưng Thiền sư tâm chẳng
giao động, mới nói với ma : ‘’Ngươi chẳng có bệnh đau đầu.’’ Lúc đó,
ma lại biến thành ác tướng chẳng có bụng, thiền sư lại nói : ‘’Cung
hỷ, ngươi chẳng có chứng lục phủ.’’ Ma lại biến hóa ra rất nhiều
tướng khiến cho người khiếp sợ, để uy hiếp đều bị Thiền sư dùng định
lực hàng phục, chẳng bị chúng làm mê hoặc. Cuối cùng, ma lại biến
thành tiên nữ nói với Thiền sư : ‘’Tôi phụng mạng Thiên Ðế đến để
hầu hạ Thiền sư.’’ Thiền sư nói : ‘’Tâm của ta như đại địa, tuyệt
đối chẳng khuynh động.’’ Ma nữ hết cách, bèn bay lên không mà đi.
Thiền sư an nhiên không sợ, đó là định lực công phu thâm hậu, không
bị cảnh giới làm lay chuyển.
‘’Trong một sát na đều phá sạch‘’. Có
câu rằng : ‘’Ðạo cao một thước, ma cao một trượng‘’, nhưng tà không
thắng chánh, cuối cùng tà cũng phải đầu hàng. Vì thần thông của Phật
chỉ trong một sát na hàng phục hết vô lượng số ma quân, khiến cho
chúng thay đổi tư tưởng, sửa đổi hành vi, làm kẻ hộ pháp.
‘’Tâm chẳng khuynh động khó lường được‘’. Tâm chẳng khuynh động, tức
là như như bất động, liễu liễu thường minh. Nếu tâm chẳng giao động,
thì chứng tỏ đã đắc được định lực. Tâm không khuynh động, thì nhất
định rất khó dò lường được.
Tâm không khuynh động tức là một niệm
không sinh. Khi một niệm không sinh thì quỷ thần nhìn chẳng thấy
bạn, sẽ không tìm đến quấy nhiễu bạn. Giống như biển chẳng có sóng,
gió yên sóng lặng, lúc đó thì chẳng cách chi dò lường được.
‘’Phương tiện này của Diệu Kế Thần.’’ Phương tiện pháp môn này, vị
Kim Cang Diệu Kế Chủ Hải Thần, đắc được mà vào môn giải thoát này.
Khắp trong mười phương diễn diệu âm
Âm đó pháp giới thảy đều nghe
Ðó là cảnh tam muội của Phật
Là sở hành của Hải Triều Âm.
‘’Khắp trong mười phương diễn diệu âm‘’. Hết thảy tất cả âm thanh
trong mười phương thế giới, đều là pháp âm tuyên lưu biến hóa làm
ra, gồm có hữu tình thuyết pháp và vô tình thuyết pháp, thuyết pháp
có âm thanh và thuyết pháp chẳng có âm thanh, tóm lại, tất cả đều
đang thuyết pháp. Diệu âm này, là Phật dùng một âm diễn nói pháp,
tùy loài chúng sinh đều hiểu rõ. Loài chúng sinh nào nghe pháp, thì
nghe được tiếng của loài đó, đều đắc được lợi ích của pháp.
‘’Âm đó pháp giới thảy đều nghe‘’. Phật ở trong mười phương diễn
diệu âm, không những khắp pháp giới đều nghe được, mà tận hư không
cũng nghe được âm đó, chẳng có một nơi nào, mà chẳng phải là chỗ
Phật diễn diệu âm.
‘’Ðó là cảnh tam muội của Phật‘’. Ðó là cảnh giới định lực thành tựu
của Như Lai.
‘’Là sở hành của Hải Triều Âm.’’ Cảnh giới tam muội hạnh môn này, là
sở tu sở hành của vị Hải Triều Lôi Âm Chủ Hải Thần.
Diệu âm của Phật pháp, chúng ta không nhất định nghe được, dù nghe
được cũng chẳng biết. Giống như máy truyền hình, không những có âm
thanh mà còn có hình. Nếu như ba trăm năm về trước, có người nói
tương lai sẽ có một vật, vừa có người nói, vừa có người biểu diễn,
giống như thật. Con người lúc đó nhất định cho rằng bạn nói ngông
cuồng, người ngu nói mộng, sao lại có sự việc đó ? Sao lại có thứ
cảnh giới diệu như thế ? Ba trăm năm sau, hôm nay ai ai cũng đều
tin, đó là đạo lý diễn diệu âm. Phật pháp hợp với khoa học, khoa học
càng tiến bộ thì càng chứng minh Phật pháp là khoa học. Hơn hai ngàn
năm trăm năm về trước, Ðức Phật đã biết bí mật trong vũ trụ, khẳng
định rằng có ba ngàn đại thiên thế giới. Một mặt trời là một thế
giới, một ngân hà là một tiểu thiên thế giới, còn có trung thiên thế
giới và đại thiên thế giới, hiện nay nhân loại đang phát hiện tương
lai cảnh giới ba ngàn đại thiên thế giới, sẽ giống như máy truyền
hình, sẽ xuất hiện ở trước mắt. Người có ngũ nhãn lục thông thấy ba
ngàn đại thiên thế giới rất rõ ràng, giống như xem truyền hình. Nhân
quả ba đời đều hiện ra trong máy truyền hình. Thuở xưa cho rằng sự
việc không thể có, mà bây giờ đã có. Bây giờ cho rằng không thể có,
tương lai sẽ có. Cho nên, Phật pháp càng chịu sự khảo nghiệm càng
hiển lộ ra chân lý.
Lại nữa, Chủ Hà Thần Phổ Phát Tấn Lưu, được môn giải thoát, mưa
khắp vô biên pháp vũ.
Kinh nghĩa ở trên chưa nói hết, bây giờ tiếp tục nói. Vị Phổ Phát
Tấn Lưu Chủ Hà Thần, là thần quản lý về sông ngòi, vị này làm cho
nước chảy khắp nơi rất là nhanh chóng và đắc được cảnh giới khắp
rưới mưa vô biên đại pháp vũ. Vô biên pháp vũ tức là tận hư không
biến pháp giới, chẳng có nơi nào mà không đắc được pháp vũ của Phật.
Pháp vũ này, tuy là pháp vũ mưa xuống hiện tại, nhưng quá khứ cũng
đắc được pháp vũ này, vị lai cũng đắc được pháp vũ này, đồng thời
hiện tại đều đắc được pháp vũ này. Ðó là môn giải thoát của vị này
đắc được.
Chủ Hà Thần Phổ Khiết Tuyền Giản, được môn giải thoát, hiện khắp
trước tất cả chúng sinh, khiến cho họ vĩnh viễn lìa phiền não.
Nước suối và nước khe, có khi không được trong sạch, rất dơ đục.
Nhưng vị Phổ Khiết Tuyền Giản Chủ Hà Thần này, khiến cho nước suối
và nước khe trong sạch, ví như tâm của chúng sinh trong sạch, thì
trừ khử tất cả phiền não. Vị này khắp thị hiện ở trước tất cả chúng
sinh, khiến cho họ vĩnh viễn lìa khỏi phiền não. Lìa khỏi phiền não,
tức là lìa khỏi tham, sân, si, ba độc. Ba độc này đều lìa khỏi rồi,
thì vĩnh viễn lìa khỏi phiền não, đắc được bổn thể thanh tịnh, bèn
sinh ra đại trí huệ, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Chủ Hà Thần Ly Trần Tịnh Nhãn, được môn giải thoát, dùng đại bi
phương tiện, quét sạch các hoặc trần cấu của tất cả chúng sinh.
Vị Ly Trần Tịnh Nhãn Chủ Hà Thần. Ly trần gọi là gì ? Tức là lìa
khỏi tất cả bụi bặm và vọng tưởng, cũng có thể nói là lìa khỏi tất
cả mọi tư tưởng nhiễm ô. Bụi bặm bên ngoài phải lìa khỏi, đồng thời
nhiễm ô bên trong cũng phải lìa khỏi, được như thế thì tâm mới thanh
tịnh mà đắc được tịnh nhãn.
Tịnh nhãn là gì ? Tức là thanh tịnh nhãn, cũng gọi là ngũ nhãn. Có
tịnh ngũ nhãn mới đắc được ngũ lực.
Ngũ nhãn tức là: Thiên nhãn, nhục nhãn,
huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn. Người mở ngũ nhãn thì mới lìa khỏi
tâm nhiễm ô. Nếu giải thích tỉ mỉ về ngũ nhãn thì vô cùng vô tận,
không cách chi nói hết được. Bây giờ nói một cách tổng quát.
1). Thiên nhãn : ‘’Thiên nhãn thông phi
ngại.’’ Tức là chẳng có chướng ngại, không những quán được vật xa
hàng ngàn vạn dặm, mà vật trong mười phương pháp giới cũng đều thấy
được rõ ràng, quán được tất cả đều không, chẳng có chướng ngại.
2). Nhục nhãn : ‘’Nhục nhãn ngại phi
thông.’’ Nhục nhãn ở đây, chẳng phải là nhục nhãn của phàm phu, phàm
phu chỉ thấy vật hữu hình, mà chẳng thấy được vật vô hình; chỉ thấy
hữu sắc mà chẳng thấy được vô sắc. Nhục nhãn ở đây, không những thấy
được vật có chướng ngại, mà còn thấy được vật vô chướng ngại, bất cứ
là hữu hình vô hình, hữu sắc vô sắc, đều có thể thấy được.
Hữu hình là gì ? Ví như con người có hình tướng, nhìn thấy được. Vô
hình là gì ? Ví như quỷ, là vô hình không thể nhìn thấy đặng. Tuy
nhiên một số người chẳng nhìn thấy quỷ thần, nhưng người khai mở ngũ
nhãn, thì nhìn thấy được quỷ thần, lại thấy được Phật Bồ Tát.
3). Pháp nhãn : ‘’Pháp nhãn duy quán
tục.’’ Pháp nhãn quán sát được pháp thế gian và xuất thế gian. Không
những quán được tục đế, mà còn quán được chân đế, bất quá quán tục
đế rõ ràng hơn so với quán chân đế.
4). Huệ nhãn : ‘’Huệ nhãn liễu chân
không.’’ Huệ nhãn thấy rõ đạo lý chân không. Chân không chẳng không,
chẳng không mà không, không mà chẳng không, không những hiểu mà còn
nhìn thấy rõ ràng.
5). Phật nhãn : ‘’Phật nhãn như thiên
nhật.’’ Phật nhãn sáng giống như ngàn mặt trời, chiếu khắp ba ngàn
đại thiên thế giới, chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không
thấy.
Ngũ lực tức là:
1. Tín lực.
2. Tấn lực.
3. Niệm lực.
4. Ðịnh lực.
5. Huệ lực.
Năm sức lực này làm tăng trưởng mầm bồ đề, không bị pháp bên ngoài
làm giao động.
Tín lực phá được nghi hoặc.
Tấn lực phá được giải đãi.
Niệm lực phá được tà kiến.
Ðịnh lực chuyển được cảnh giới.
Huệ lực phá được các chấp.
Vị Chủ Hà Thần này, đắc được cảnh giới của Phật, dùng tâm đại bi và
phương tiện pháp môn, tẩy sạch các hoặc khắp hết thảy tất cả chúng
sinh trong mười phương ba đời, đồng thời cũng tẩy sạch trần cấu mê
hoặc, khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được môn giải thoát ly
trần tịnh nhãn này.
Chủ Hà Thần Thập Phương Biến Hống, được môn giải thoát, luôn vang
ra âm thanh lợi ích chúng sinh.
Vị Thập Phương Biến Hống Chủ Hà Thần này, âm thanh rất lớn, vang
khắp mười phương, chúng sinh nghe được tiếng hống này, đều được lợi
ích. Lợi ích gì ? Tức là chúng sinh có tâm tham, nghe được tiếng
hống này, thì tâm tham bớt đi một chút, chúng sinh có tâm sân, nghe
được tiếng hống này, thì tâm sân giảm đi một chút, chúng sinh có tâm
si, nghe được tiếng hống này, thì tâm si giảm bớt đi một chút. Tham
sân si chẳng còn nữa trong vô hình, đó là môn giải thoát của vị này
đắc được.
Chủ Hà Thần Phổ Cứu Hộ Chúng Sinh, được môn giải thoát, ở trong
tất cả hàm thức, luôn luôn khởi từ bi không não hại.
Vị Phổ Cứu Hộ Chúng Sinh Chủ Hà Thần này, cứu hộ khắp hết thảy chúng
sinh. Vị này chẳng có tâm phân biệt kẻ thân người oán, đều xem như
nhau. Vị này đắc được môn giải thoát, ở trong tất cả hàm thức chẳng
có não hại. Hàm thức là gì ? Tức là chúng sinh có tính tri giác,
nghĩa là chúng sinh: Noãn, thai, thấp, hóa. Tóm lại, phàm là có
huyết, có khí, hoặc có huyết chẳng có khí .v.v., đều là hàm thức. Vị
Chủ Hà Thần này, thường khởi từ bi chẳng não hại, vị này đắc được
cảnh giới này, mà vào môn giải thoát này.
Chủ Hà Thần Vô Nhiệt Tịnh Quang, được môn giải thoát, khắp thị
hiện tất cả căn lành mát mẻ.
Vị Vô Nhiệt Tịnh Quang Chủ Hà Thần, quang thanh tịnh là vô nhiệt, vô
nhiệt tức là vô nhiệt não, vô nhiệt phiền não tức đắc được thanh
lương mát mẻ, đắc được mát mẻ mới có quang minh thanh tịnh. Vị này
đắc được cảnh giới của Phật, thị hiện khắp tất cả căn lành thanh
lương, để trừ khử nhiệt phiền não, mà đắc được trí huệ.
Căn lành thanh lương là gì ? Tức là căn
lành Bát nhã, cũng là căn lành bồ đề, cũng là: Tín căn, tấn căn,
niệm căn, định căn, huệ căn năm căn.
1). Tín căn : Căn này sinh ra một sức lực tín ngưỡng, tín căn này
kiên cố vô cùng, không dễ gì phá hoại, chẳng phải nửa tin nửa ngờ,
mà là tin một cách vĩnh viễn.
2). Tấn căn : Tức là căn lành tinh tấn.
Thân cũng tinh tấn, tâm cũng tinh tấn, ngày cũng tinh tấn, đêm cũng
tinh tấn, ngày đêm đều tinh tấn, tinh tấn như thế mới có sự thành
tựu.
3). Niệm căn : Niệm là gì ? Niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng, giờ phút đều niệm Tam Bảo, mà niệm niệm không
quên Tam Bảo.
4). Ðịnh căn : Có định thì không bị tất
cả cảnh giới làm giao động, do đó :
‘’Bát phong suy bất động,
Ðoan tọa tử kim liên.’’
Tức cũng là như như bất động, liễu liễu thường minh, đó là căn lành
của định sinh ra. Bát phong là gì ? Giải thích sơ lược sau đây :
A. Xưng : Tức là xưng tán ca ngợi, đây là gió thuận, gió thuận dễ
khiến cho con người sanh tâm vui mừng.
B. Cơ : Tức là chê bai, đây là gió nghịch, gió nghịch dễ khiến cho
người sinh tâm sân hận.
C. Khổ : Tức là khổ sở, thứ gió này rất khó mà chịu được, cũng là
gió nghịch, lại có thể nói là gió bắc, lạnh thấu xương.
D. Lạc : Tức là vui sướng, thứ gió thuận này rất là tự tại, cũng là
gió thuận, cũng có thể nói là gió nam, ôn hòa dễ chịu.
E. Lợi : Tức là lợi ích, thứ gió này có lợi cho người, khiến cho
người sinh tâm vui vẻ.
F. Suy : Tức là suy bại, thứ gió này có hại cho người, khiến cho
người sinh tâm buồn rầu.
G. Ðắc : Tức là đắc được, thứ gió này là gió có tất cả mọi thứ gió,
tức cũng là gió thuận hy vọng.
H. Thất : Tức là mất mát, thứ gió này là gió chẳng có mọi thứ gió,
tức cũng là gió nghịch thất vọng.
5). Huệ căn : Tức là căn lành trí huệ. Muốn có trí huệ thì phải đọc
nhiều kinh điển, tu nhiều Bát nhã, do đó :
"Vào sâu tạng kinh,
Trí huệ như biển".
Nếu đầy đủ tín, tấn, niệm, định, huệ, năm căn lành này, tức là căn
lành thanh lương. Vị Chủ Hà Thần này, đắc được môn giải thoát này.
Chủ Hà Thần Phổ Sinh Hoan Hỷ, được môn giải thoát, tu hành bố thí
đầy đủ, khiến cho tất cả chúng sinh, vĩnh viễn lìa xan tham và chấp
trước.
Vị Phổ Sinh Hoan Hỷ Chủ Hà Thần này, được hết thảy chúng sinh đều
sinh tâm vui mừng, vui mừng lìa xan tham, vui mừng lìa chấp trước.
Vị này đắc được cảnh giới của Phật, tức là tu hành pháp môn bố thí
đầy đủ, bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy, ba thứ bố thí nầy đều
tu được viên mãn.
1). Bố thí tài : Gồm có nội tài và ngoại
tài. Nội tài tức là : Ðầu, mắt, tủy não, đem thân thể tính mạng đều
xả thí hết. Ngoại tài là : Ngôi vua, vợ con, bố thí hết vinh hoa phú
quý.
2). Bố thí pháp : Gồm có hữu vi và vô
vi. Pháp hữu vi tức là có hình tướng; pháp vô vi tức là vô vi mà vô
bất vi, lại có thể nói pháp hữu vi là pháp thế gian, pháp vô vi là
pháp xuất thế gian, giảng kinh thuyết pháp bố thí cho tất cả chúng
sinh.
3). Bố thí không sợ hãi : Tức là gặp
người kinh hãi sợ sệt thì an ủi họ, làm cho tâm họ hết sợ sệt, hoặc
là bị hoàn cảnh uy hiếp, bạn khiến cho họ được an toàn, không còn sợ
hãi nữa. Vị Chủ Hà Thần này, khiến cho tất cả chúng sinh, vĩnh viễn
xa lìa khỏi san tham và chấp trước, mà đắc được khoái lạc.
Chủ Hà Thần Quảng Ðức Thắng Thành, được môn giải thoát, làm tất
cả ruộng phước hoan hỷ.
Vị Quảng Ðức Thắng Thành Chủ Hà Thần này, có công đức rộng lớn trang
nghiêm như tràng báu. Vị này đắc được cảnh giới của Phật, Phật vì
chúng sinh mà làm ruộng phước hoan hỷ, khiến cho chúng sinh gieo
trồng phước căn lành bồ đề. Chúng sinh thành tựu vô biên công đức,
thì đều đại hoan hỷ. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Chủ Hà Thần Quang Chiếu Phổ Thế, được môn giải thoát, khiến cho
tất cả chúng sinh, ai tạp nhiễm thì được thanh tịnh, ai sân độc thì
được hoan hỷ.
Vị Quang Chiếu Phổ Thế Chủ Hà Thần này, có quang minh chiếu khắp thế
gian, khiến cho tất cả chúng sinh, đều lìa khỏi tạp nhiễm mà đắc
được thanh lương. Tạp nhiễm tức là không thanh tịnh, có thiện có ác,
có tốt có xấu, có chánh có tà, tức cũng là không thuần. Trong niệm
thiện lẫn lộn chút niệm ác, trong niệm ác lẫn lộn chút niệm thiện;
trong niệm chánh lẫn lộn chút niệm tà, trong niệm tà lẫn lộn chút
niệm chánh; trong tốt có chút xấu, trong xấu có chút tốt, đó là tạp
nhiễm.
Vị Chủ Hà Thần này, lại khiến cho tất cả
chúng sinh, chẳng có tâm sân hận mà sinh tâm hoan hỷ. Nên biết tâm
sân hận như rắn độc đáng sợ, khiến cho người không dám đến gần. Phàm
là người có tâm sân hận, thì rất ít tâm hoan hỷ. Vị Chủ Hà Thần này
đắc được môn giải thoát này.
Chủ Hà Thần Hải Ðức Quang Minh, được môn giải thoát, khiến cho
tất cả chúng sinh vào biển giải thoát, luôn luôn được đầy đủ sự vui
sướng.
Vị Hải Ðức Quang Minh Chủ Hà Thần này, đức hạnh như biển cả, mà còn
phóng đại quang minh chiếu soi tất cả. Vị này khiến cho tất cả chúng
sinh vào biển giải thoát. Vì môn giải thoát rất nhiều, cho nên vị
này thường được đầy đủ sự khoái lạc, tức cũng là khoái lạc viên mãn,
cũng là khoái lạc vô thượng, đó là môn giải thoát của vị này đắc
được.
Bấy giờ, Chủ Hà Thần Phổ Phát Tấn Lưu, nương oai lực của đức
Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Hà Thần, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Phổ Phát Tấn Lưu Chủ Hà Thần, nương đại oai lực của Phật,
quán sát khắp tất cả căn cơ của chúng Chủ Hà Thần, dùng kệ để thuật
lại ý nghĩa của trường hàng ở trên.
Như Lai thuở xưa vì chúng sinh
Tu hành biển pháp vô biên hạnh
Như mưa thuấm nhuần dứt nóng bức
Diệt phiền não nhiệt của chúng sinh.
‘’Như Lai thuở xưa vì chúng sinh‘’. Phật trong vô lượng kiếp về
trước tu hành. Tại sao phải tu hành ? Vì Phật thấy chúng sinh thọ
khổ, chẳng biết cách nào để lìa khổ được vui, do đó Phật mới phát
nguyện tu hành, nguyện khai ngộ thành Phật rồi, sẽ cứu độ tất cả
chúng sinh ra khỏi biển khổ. Phật thì vì chúng sinh mà tu hành,
chẳng phải vì mình mà tu hành, đó là hành Bồ Tát đạo, tất cả vì
người chẳng vì mình.
‘’Tu hành biển pháp vô biên hạnh‘’. Pháp môn của Phật tu hành vô
lượng vô biên như biển cả, cho nên gọi là biển pháp. Phật trước hết
tu pháp môn lục độ vạn hạnh.
Ðộ đầu tiên trong sáu độ là bố thí, phải
bố thí cho người, chẳng phải kêu người bố thí cho mình.
Ðộ thứ hai là trì giới, phải thật thà
giữ gìn giới luật, chẳng phải kêu người giữ giới, còn mình thì chẳng
giữ giới.
Ðộ thứ ba là nhẫn nhục, phải nhẫn những
gì người khác không nhẫn được, phải chịu đựng những gì người khác
không chịu đựng được, nhẫn tức là khảo nghiệm, trải qua sự khảo
nghiệm mới hợp cách. Thọ tức là nhẫn thọ, một số người không nhẫn
thọ được, mà bạn nhẫn thọ được mới hợp cách, hợp cách mới thông qua
được. Trong sáu độ quan trọng nhất là nhẫn nhục, nếu không nhẫn
được, thì năm độ kia dù tu như thế nào, cũng không thể có sự thành
tựu.
Ðộ thứ tư là tinh tấn, tức là không giải đãi, luôn luôn tham thiền,
niệm Phật, trì Chú, nghiên cứu kinh điển, phiên dịch kinh điển.
Ðộ thứ năm là thiền định, có định lực thì không bị cảnh giới chuyển.
Ðộ thứ sáu là trí huệ, có trí huệ thì không điên đảo mộng tưởng, sẽ
đắc được Niết Bàn cứu kính.
Hạnh môn của Phật tu là như thế. Người
khác nhẫn không được mà Ngài nhẫn được, người khác chịu đựng không
được mà Ngài chịu đựng được. Tại sao ? Vì vô ngã, chẳng còn có tướng
ta thì ai nhẫn ? Ai chịu đựng ? Chẳng còn cái năng nhẫn sở nhẫn,
chẳng còn cái năng thọ sở thọ. Khi Phật tu hành biển pháp, thì không
biết chịu đựng được bao nhiêu sự người ta đánh Ngài, mắng ngài, Ngài
cũng đều thản nhiên, bất động, tu vô biên hạnh môn, cuối cùng Ngài
đắc được thần thông diệu dụng để giáo hóa chúng sinh.
‘’Như mưa thuấm nhuần dứt nóng bức‘’. Trong Mạnh Tử có nói :
‘’Thiên du nhiên tác vân, phái nhiên hạ vũ,
Tắc miêu bột nhiên hưng chi hĩ‘’!
Nghĩa là trời ùn ùn nổi mây, lại mưa xuống ầm ầm, chẳng phải thái
quá, chẳng phải bất cập, vừa lượng nước cần đến, mầm non đột nhiên
sinh sôi nẩy nở lớn dần. Phật giáo hóa chúng sinh cũng giống như
trời mưa đúng thời, khiến cho sự nóng bức đều tiêu trừ, đắc được sự
mát mẻ.
‘’Diệt phiền não nhiệt của chúng sinh.’’ Phật dùng Phật pháp mát mẻ,
để tiêu diệt tất cả phiền não nhiệt của chúng sinh, khiến cho tất cả
chúng sinh đều đắc được mát mẻ, không những thân mát mẻ mà tâm cũng
mát mẻ.
Khó nói Phật vô lượng kiếp xưa
Dùng nguyện quang minh tịnh thế gian
Những ai thành thục khiến khai ngộ
Sở ngộ này của Phổ Khiết Thần.
‘’Khó nói Phật vô lượng kiếp xưa‘’. Phật ở trong vô lượng kiếp xa
xưa, có bao nhiêu kiếp ? Khó mà nói được bao nhiêu vô lượng kiếp.
‘’Dùng nguyện quang minh tịnh thế gian‘’. Phật dùng đại nguyện lực,
đại trí huệ quang minh, để giáo hóa thế gian, để thanh tịnh thế
gian, khiến cho tất cả thế gian lìa khổ được vui, liễu sinh thoát
tử.
‘’Những ai thành thục khiến khai ngộ‘’. Chúng sinh nào các căn lành
thành thục, thì Phật khiến cho chúng sinh đó giác ngộ đại đạo. Ðại
đạo gì ? Tức là đạo lý sinh tử đại sự.
‘’Sở ngộ này của Phổ Khiết Thần.’’ Vị Phổ Khiết Tuyền Giản Chủ Hà
Thần, trong tâm minh bạch ngộ được cảnh giới này, mà vào môn giải
thoát này.
Ðại bi phương tiện đồng chúng sinh
Ðều hiện trước họ thường hóa dụ
Khiến cho tiêu sạch dơ phiền não
Tịnh Nhãn thấy được sinh vui mừng.
‘’Ðại bi phương tiện đồng chúng sinh‘’. Phật dùng tâm đại bi để cứu
độ tất cả chúng sinh. Tâm đại bi tức là cứu khổ chúng sinh, ban cho
họ an vui. Phật dùng phương tiện pháp môn, để giáo hóa tất cả chúng
sinh. Phương tiện tức là quyền xảo phương tiện, là pháp môn tính
biến thông, hoạt động tạm thời, chẳng phải pháp môn bất biến thông.
Ðồng chúng sinh tức là có bao nhiêu chúng sinh, thì có bấy nhiêu tâm
đại bi và phương tiện pháp môn.
‘’Ðều hiện trước họ thường hóa dụ‘’. Phật thường thị hiện ở trước
chúng sinh, thường dùng đủ thứ phương pháp để giáo hóa chúng sinh,
dẫn dụ chúng sinh, khiến cho chúng sinh biết đạo cải tà quy chánh,
sửa đổi lỗi lầm làm con người mới, cho nên nói thường hóa dụ.
‘’Khiến cho tiêu sạch dơ phiền não‘’. Phật khiến cho tập khí mao
bệnh của tất cả chúng sinh đều tiêu trừ, trở về cội nguồn. Phiền não
dơ bẩn giống như rác, cho nên nói dơ phiền não. Phật thường khiến
cho chúng sinh quét sạch phiền não dơ bẩn, thì sẽ được thanh tịnh
chẳng còn nhiễm chút bụi trần nào.
‘’Tịnh Nhãn thấy được sinh vui mừng.’’ Vị Ly Trần Tịnh Nhãn Chủ Hà
Thần này, đắc được cảnh giới này, trong tâm sinh ra sự vui mừng
khoái lạc.
Phật diễn diệu âm thảy đều nghe
Chúng sinh vui thích tâm hoan hỷ
Ðều khiến trừ sạch vô lượng khổ
Giải thoát này của Biến Hống Thần.
‘’Phật diễn diệu âm thảy đều nghe‘’. Phật diễn nói pháp âm thanh
tịnh vi diệu, khiến khắp tất cả chúng sinh, thảy đều nghe được diệu
âm không thể nghĩ bàn này.
‘’Chúng sinh vui thích tâm hoan hỷ‘’. Chúng sinh nghe được diệu âm
này rồi, thì trong tâm sinh hoan hỷ và khoái lạc, hoan hỷ âm thanh
vi diệu này, nghe hoài chẳng biết chán.
‘’Ðều khiến trừ sạch vô lượng khổ‘’. Khi chúng sinh nghe được diệu
âm của Phật, thì gốc rễ của vô lượng sự khổ đều hoàn toàn tẩy trừ
sạch sẽ. Gốc rễ sự khổ đã tẩy sạch rồi, thì căn lành sẽ sinh ra.
‘’Giải thoát này của Biến Hống Thần.’’ Vị Thập Phương Biến Hống Chủ
Hà Thần, đắc được môn giải thoát này.
Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề
Vì lợi chúng sinh vô lượng kiếp
Thế nên quang minh khắp thế gian
Hộ Thần nghĩ nhớ sinh hoan hỷ.
‘’Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề‘’. Khi Phật tại nhân địa, thì tu tập
hạnh môn giác ngộ, tu tập hạnh môn tự giác giác tha, tu tập hạnh môn
lợi ích chúng sinh. Tóm lại, tu tập đủ thứ hạnh môn giác đạo.
‘’Vì lợi chúng sinh vô lượng kiếp‘’. Phật vì lợi ích tất cả chúng
sinh, mà trải qua vô lượng vô biên đại kiếp tu tập hạnh bồ đề.
‘’Thế nên quang minh khắp thế gian‘’. Vì nhân duyên đó, cho nên
quang minh chiếu soi khắp hữu tình thế gian trong mười phương.
‘’Hộ Thần nghĩ nhớ sinh hoan hỷ.’’ Vị Phổ Cứu Hộ Chúng Sinh Chủ Hà
Thần này, nghĩ nhớ cảnh giới này, do đó, trong tâm sinh vô lượng vô
biên sự hoan hỷ, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Ai có vấn đề gì, thì đưa ra để mọi người cùng nhau nghiên cứu. Quả
Hộ pháp sư hỏi : ‘’Sinh nhẫn là gì ? Pháp nhẫn là gì ? Vô sinh pháp
nhẫn là gì ? Mong Hòa Thượng khai thị.’’
Sinh nhẫn : Tức là chúng sinh nhẫn. Ai mắng bạn, bạn nhẫn được; ai
đánh bạn, bạn nhẫn được; ai giết bạn, bạn cũng nhẫn được, đó là
chúng sinh nhẫn.
Pháp nhẫn : Tức là học pháp cũng phải nhẫn. Phật pháp sâu như biển,
nếu không có sự nhẫn nại, thì không thể học Phật pháp. Phật pháp
nhiều như thế, tôi làm sao mà học ? Tôi chẳng có cách nào học, đó là
chẳng có pháp nhẫn.
Vô sinh pháp nhẫn : Là chứng được một
thứ cảnh giới. Cảnh giới này chẳng thấy có chút pháp sinh, chẳng
thấy có chút pháp diệt, lúc đó, người cũng không, pháp cũng không,
người và pháp đều không, đó là vô sinh pháp nhẫn.
Sinh nhẫn tức là người không. Có được cảnh giới người không, thì mới
đắc được pháp nhẫn. Có được người không rồi, thì có sinh nhẫn, có
pháp không nữa tức là pháp nhẫn. Người không pháp không, đó là vô
sinh pháp nhẫn.
Không thấy có chút pháp sinh, cũng chẳng thấy có chút pháp diệt,
nhẫn nại nơi tâm. Ðối với cảnh giới này muốn nói lại nói không ra,
đó là vô sinh pháp nhẫn.
Xưa Phật tu hành vì chúng sinh
Ðủ thứ phương tiện khiến thành thục
Tịnh khắp biển phước trừ các khổ
Vô Nhiệt thấy được tâm hớn hở.
‘’Xưa Phật tu hành vì chúng sinh‘’. Phật vì chúng sinh mà tu hành,
chẳng phải vì mình mà tu hành. Tại sao Phật vì chúng sinh mà tu hành
? Vì Phật thấy tất cả chúng sinh đang chịu khổ, giống như chính mình
chịu khổ. Nếu không trừ khổ cho chúng sinh, thì Phật cảm thấy khổ
của mình vẫn còn, cho nên Phật phát nguyện phải trừ khổ cho chúng
sinh. Do đó, Phật trong quá khứ tu hành đều vì chúng sinh.
‘’Ðủ thứ phương tiện khiến thành thục‘’.
Phật dùng đủ thứ pháp môn phương tiện khéo léo, khiến cho chúng sinh
căn cơ sớm thành thục, tức cũng là chúng sinh chưa có căn lành, thì
khiến cho họ trồng căn lành, chúng sinh đã trồng căn lành, thì trợ
giúp căn lành của họ tăng trưởng; chúng sinh căn lành đã tăng
trưởng, thì giúp cho căn lành của họ thành thục; chúng sinh căn lành
đã thành thục, thì khiến cho họ được giải thoát, đắc được Phật quả.
‘’Tịnh khắp biển phước trừ các khổ‘’. Khiến cho khắp hết thảy chúng
sinh, đều đắc được ruộng phước thanh tịnh, thành tựu đạo nghiệp vô
thượng, mà trừ khử tất cả sự khổ.
‘’Vô Nhiệt thấy được tâm hớn hở.’’ Vị Vô Nhiệt Tịnh Quang Chủ Hà
Thần, thấy được và minh bạch cảnh giới này, cho nên trong tâm hoan
hỷ hớn hở vô cùng.
Thí môn rộng lớn vô cùng tận
Tất cả chúng sinh đều lợi ích
Khiến cho người thấy không tham chấp
Sở ngộ này của Phổ Hỷ Thần.
‘’Thí môn rộng lớn vô cùng tận‘’. Vị Chủ Hà Thần này, thấy pháp môn
bố thí của Phật tu, rộng lớn vô cùng vô tận. Thí môn tức là pháp môn
tài thí, vô úy thí. Sự bố thí vô cùng tận.
‘’Tất cả chúng sinh đều lợi ích‘’. Bất cứ loài chúng sinh nào cũng
đều đắc được lợi ích. Sự lợi ích này là bình đẳng, chẳng có sự phân
biệt.
‘’Khiến cho người thấy không tham chấp‘’. Ðại oai thần lực, đại trí
huệ lực, đại quang minh của Phật chiếu soi, phá tan tất cả đen tối.
Sự đen tối này tức là san tham. Phàm là chúng sinh thấy được quang
minh của Phật, nghe được pháp của Phật, nghe được âm thanh của Phật,
đều lìa khỏi san tham chấp trước.
Người tu hành phải lợi ích kẻ khác, đừng lợi ích chính mình, do đó:
‘’Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa.’’
Phải luôn luôn giúp đỡ người. Việc gì mình làm được thì cố gắng giúp
đỡ người, dù là việc mình làm không được cũng phải giúp đỡ người,
nghĩa là tận hết khả năng, như thế tức là không san tham. Cho nên
Phật giáo đồ phải có tâm từ bi, không những tu pháp môn tĩnh, mà
cũng tu pháp môn động, như thế mới trừ khử được san tham, trừ khử
được chấp trước.
San tham tức là xả bỏ chẳng đặng. Nếu xả
bỏ được thì sẽ đắc được, xả bỏ gì ? Xả bỏ nội tài và ngoại tài, đắc
được gì ? Ðắc được đức hạnh, đắc được công đức. Cho nên, người tu
đạo nên bố thí tất cả tài sản sở hữu bên ngoài, thân tâm tính mạng
bên trong cũng phải bố thí, bố thí được như thế thì còn có tham chấp
chăng ?
‘’Sở ngộ này của Phổ Hỷ Thần.’’ Ðạo lý này nói thì dễ, mà thực hành
chẳng phải dễ, cho nên nói chẳng dễ gì minh bạch được, nhưng vị Phổ
Sinh Hoan Hỷ Chủ Hà Thần này, minh bạch được và ngộ được, cho nên
nói chẳng dễ dàng.
Xưa Phật tu hành thật phương tiện
Thành tựu vô biên biển công đức
Khiến cho người thấy đều vui mừng
Thắng Tràng Thần ngộ được môn này.
‘’Xưa Phật tu hành thật phương tiện‘’. Thuở xưa, Phật tu hành đủ thứ
phương tiện pháp môn, tại sao lại nói thật phương tiện ? Vì thật mà
thí quyền, cho nên vì thật giáo mà tu phương tiện pháp môn.
‘’Thành tựu vô biên biển công đức‘’. Phật lợi ích chúng sinh, bố thí
cho chúng sinh, làm đủ thứ công đức. Phàm là việc có lợi cho chúng
sinh đều đi làm, chẳng phải chuyên vì lợi mình, còn phải lợi người,
cho nên thành tựu vô biên biển công đức.
‘’Khiến cho người thấy đều vui mừng‘’. Phàm là chúng sinh thấy được
Phật, đều khiến cho họ sinh tâm vui mừng.
‘’Thắng Tràng Thần ngộ được môn này.’’ Cảnh giới này, vị Quảng Ðức
Thắng Tràng Chủ Hà Thần, ngộ được mà vào môn giải thoát này.
Chúng sinh nhiễm ô đều thanh tịnh
Tất cả oán hại sinh từ bi
Nên được quang chiếu đầy hư không
Phổ Thế Hà Thần thấy hoan hỷ.
‘’Chúng sinh nhiễm ô đều thanh tịnh‘’. Nhiễm ô tức là dơ bẩn. Vì
chúng sinh có tâm nhiễm ô, cho nên Phật khiến cho họ hoàn toàn biến
thành thanh tịnh.
‘’Tất cả oán hại sinh từ bi‘’. Oán hại tức là oán độc và sân hại.
Chúng sinh có tâm sân hận oán hại này, thì phật khiến cho biến thành
tâm từ bi.
‘’Nên được quang chiếu đầy hư không‘’. Phật khiến cho tất cả chúng
sinh nhiễm ô, đều đắc được thanh tịnh, tất cả chúng sinh sân độc,
đều đắc được vui mừng, cho nên đại trí huệ quang minh của Phật, khắp
cùng hư không biến pháp giới.
‘’Phổ Thế Hà Thần thấy hoan hỷ.’’ Vị Quang Chiếu Phổ Thế Chủ Hà
Thần, thấy được cảnh giới này mà sinh tâm hoan hỷ.
Phật là ruộng phước biển công đức
Khiến cho hết thảy lìa điều ác
Cho đến thành tựu đại bồ đề
Giải thoát này của Hải Quang Thần.
‘’Phật là ruộng phước biển công đức‘’. Phật là ruộng phước của chúng
sinh, tức là ruộng đất để cho chúng sinh gieo trồng công đức, còn là
biển công đức của chúng sinh.
‘’Khiến cho hết thảy lìa điều ác‘’. Vì chúng sinh mà nói giới luật,
tức là không làm các điều ác, ngăn ngừa việc quấy. Nếu đừng làm các
điều ác, mà làm các điều thiện, thì sẽ lìa khỏi mọi điều ác.
‘’Cho đến thành tựu đại bồ đề‘’. Không những lìa khỏi các điều ác,
mà còn thành tựu đại bồ đề, trong tương lai sẽ thành tựu quả Phật.
‘’Giải thoát này của Hải Quang Thần.’’ Vị Hải Ðức Quang Minh Chủ Hà
Thần, minh bạch môn giải thoát này.
Lại nữa, Chủ Giá Thần Nhu Nhuyến Thắng Vị, được môn giải thoát,
làm cho tất cả chúng sinh được pháp từ vị, khiến cho thành tựu thân
Phật.
Ở trên đã giảng qua mười vị Chủ Hà Thần, các Ngài mỗi vị đều nói một
bài kệ, để ca ngợi công đức của Phật, sau đây lại có mười vị Chủ Giá
Thần, tiếp tục diễn xướng nghĩa lý đại hội Hoa
Nghiêm. Bây giờ
dùng trường hàng để nói rõ cảnh giới Hoa
Nghiêm là
không thể nghĩ bàn. Ðạo lý cảnh giới này, chẳng phải phàm phu và
người nhị thừa hiểu rõ được, cho nên ‘’lại nữa‘’ nghĩa là ý nghĩa ở
trên chưa nói xong, nay lại tiếp tục nói.
Vị Nhu Nhuyến Thắng Vị Chủ Giá Thần. Nhu
nhuyến tức là pháp phương tiện, khiến cho chúng sinh nghe pháp, đều
có cảm giác dễ chịu thư thái. Thắng vị tức là vị đạo thù thắng, tức
cũng là : Chua, ngọt, đắng, cay, mặn, năm vị. Giá tức là giá sắc,
"giá" là trồng trọt ; "sắc" là thu hoạch. Thần Nông thời xưa, dạy
nhân dân phương pháp trồng trọt thu hoạch; cách thức gieo giống,
chăm sóc, tưới nước, bón phân, thu hoạch .v.v. Vị Thần này tức là
Thần quản lý trồng trọt thu hoạch.
Người thế gian ưa thích năm mùi vị này,
mỗi người đều có sở thích khác nhau. Có người thích mặn, có người
thích ngọt, có người thích đắng, có người thích chua, có người thích
cay. Song, vị mà mọi người thích đó, là vị bình thường, chẳng phải
là thắng vị. Thắng vị là gì ? Tức là phương tiện trong sự phương
tiện, liễu nghĩa trong sự liễu nghĩa. Vị này thắng hơn tất cả các
vị, là một thứ pháp từ vị đặc biệt thù thắng.
Căn tánh của mọi người đều khác nhau, do
đó sự ưa thích cũng khác nhau. Người thích Thiên Chúa giáo, thì cho
rằng Thiên Chúa giáo chí cao vô thượng, người thích Cơ Ðốc giáo, thì
cho rằng Cơ Ðốc giáo là đệ nhất thế giới, người thích Nho giáo, thì
cho rằng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, ngũ thường là đạo đức toàn
thiện nhất, người thích Ðạo giáo, thì cho rằng luyện đan là thuốc
tiên trrường sinh bất lão, người thích Phật giáo, thì cho rằng đạo
Phật cứu kính liễu sinh thoát tử.
Chúng ta người tu đạo, tức là người làm ruộng đất, hãy tự làm tự ăn,
hãy tự lực cánh sinh. Ðem hạt giống bồ đề trồng vào ruộng phước của
Phật, khiến cho nó nảy mầm đâm chồi lớn lên thành cây bồ đề, kết quả
bồ đề thật, đắc được cảnh giới giải thoát. Do đó : ‘’Người chưa
trồng căn lành, thì khiến cho trồng căn lành, người đã trồng căn
lành, thì khiến cho lớn lên, đã lớn lên thì khiến cho chín mùi, đã
chín mùi thì khiến cho giải thoát.’’ Vị Chủ Giá Thần này, quản lý về
việc này. Ai trồng nhân bồ đề, thì tương lai sẽ đắc được quả bồ đề.
Tóm lại, ai tu hành thì người đó đắc được; ai chẳng tu thì người đó
chẳng đắc được. Ðắc được hay không đắc được, chỉ xem tu hay không
tu. Nếu y giáo phụng hành, y pháp tu hành thì sẽ đắc được thứ pháp
từ vị này.
Pháp từ vị này ngon ngọt nhất, thù thắng
nhất. Nếu hoàn toàn nếm được, thì vị đó là thắng vị trong thắng vị.
Pháp từ vị này có tám vạn bốn ngàn pháp môn, hãy vun bồi, tưới nước
vào ruộng pháp tính để thành tựu Phật quả. Thành Phật rồi sẽ giáo
hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng thành Phật. Công tác của
Phật là phổ độ giáo hóa chúng sinh.
Vị Chủ Giá Thần này, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được pháp
từ vị mà thành tựu thân Phật. Ngài minh bạch cảnh giới này mà vào
môn giải thoát từ vị.
Chủ Giá Thần Thời Hoa
Tịnh Quang, được môn giải thoát, khiến cho tất cả
chúng sinh, thọ vui sướng rộng lớn.
Vị Thời Hoa
Tịnh Quang Chủ Giá Thần này, có hoa sen lớn đẹp,
một năm bốn mùa đều thường nở hoa. Ðóa hoa sen đẹp này, phóng ra
quang minh thanh tịnh, chiếu soi tất cả chúng sinh trong mười phương
pháp giới, khiến cho tất cả chúng sinh, đắc được vui sướng rộng lớn,
đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Tất cả chúng sinh tức là bạn, tôi, họ, đều bao quát hết thảy. Vị Chủ
Giá Thần này, khiến cho chúng ta thọ được sự chiếu sáng của quang
minh, mà đắc được pháp ích. Chỉ cần tinh tấn tu hành, thì cuối cùng
sẽ đắc được môn giải thoát vui sướng rộng lớn.
Chủ Giá Thần Sắc Lực Dũng Kiện, được môn giải thoát, dùng tất cả
pháp môn viên mãn, tịnh các cảnh giới.
Sắc Lực Dũng Kiện Chủ Giá Thần, sắc lực tức là thân thể, dũng kiện
tức là dũng mãnh tráng kiện, cho nên thân thể của vị này, cường
tráng vô cùng. Vì giáo hóa chúng sinh, mà Ngài ngày đêm luôn luôn
tinh tấn, không ngại gian lao, cũng chẳng thối tâm, cho nên Ngài tu
viên mãn tất cả pháp môn, để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng
sinh trở về nguồn cội, đắc được bổn thể thanh tịnh, tức cũng khiến
cho chúng sinh bỏ mê về giác, cải tà quy chánh, hành Bồ Tát đạo,
thành tựu Phật quả, đó là môn giải thoát vị này đắc được.
Cảnh giới của Kinh Hoa
Nghiêm diệu
không thể tả, không thể nghĩ bàn, chẳng phải tri kiến của phàm phu
chúng ta có thể nói được viên mãn, dù chư Phật ở cõi Thường Tịch
Quang Tịnh Ðộ, giờ phút đều giảng, cũng nói không hết đạo lý Hoa
Nghiêm. Hiện tại chỉ bất quá nói đại khái một ít
trong vạn phần mà thôi.
Các vị thiện tri thức, nếu cảm thấy có vấn đề gì, thì hãy đưa ra để
mọi người cùng dụng chân tâm nghiên cứu. Chỗ vĩ đại của Phật giáo
là, dù có nghi vấn thì có thể nghiên cứu, chẳng giống như các tôn
giáo khác, chỉ cho nghe giảng mà không cho nghi vấn, đó mới là mê
tín.
Chủ Giá Thần Tăng Ích Tinh Khí, được môn giải thoát, thấy sức đại
bi vô lượng thần thông biến hóa của Phật.
Vị Tăng Ích Tinh Khí Chủ Giá Thần. Tăng ích tức là tăng thêm lợi
ích, lợi ích gì ? Lợi ích tăng thêm tinh khí. Vị Chủ Giá Thần này
quản lý trồng trọt và thu hoạch, khiến cho ngũ cốc phong phú, cho
nên tăng thêm tinh khí. Tinh khí sung túc thì thân thể kiện khang,
thân thể kiện khang mới tu hành được. Nếu thân thể suy nhược, có
muốn dụng công tu hành cũng bất tiện. Thân thể đau ốm thì không thể
chuyên tâm tu hành. Cho nên nói tu hành chẳng dễ dàng, chẳng phải là
việc đơn giản.
Vị Chủ Giá Thần này, đắc được cảnh giới
của Phật, thấy được đời quá khứ của Ðức Phật tu pháp môn đại bi tâm,
được vô lượng vô biên sức thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn. Vị
này tăng thêm pháp thân huệ mạng, lại trợ giúp cho chúng sinh tăng
thêm bồ đề tâm, tức cũng khiến cho chúng sinh tăng thêm tâm thiện
pháp, tiêu diệt tất cả pháp ác. Pháp thiện tức là bồ đề tâm, pháp ác
tức là tâm sân hận, cho nên khiến cho chúng sinh trồng ruộng công
đức kết công đức quả.
Nếu chúng ta nương theo pháp tu hành, siêng tu tâm đại bi, thì cũng
đắc được vô lượng vô biên sức thần thông biến hóa. Biến hóa là chẳng
có pháp nhất định. Một số người biến hóa, thì ở trong động biến hóa,
mà ở trong tĩnh không biến hóa được. Cảnh giới của Phật thì không
những ở trong động thiên biến vạn hóa, mà ở trong tĩnh cũng có thần
thông biến hóa, bất cứ động tĩnh đều biến hóa được, cho nên Phật
theo căn cơ mà thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh. Vị Chủ Giá Thần
này, minh bạch Phật pháp một phần nhỏ mà vào môn giải thoát này.
Người xưa nói : ‘’Ðộng tắc biến, biến tắc hóa, vi thiên hạ chí
thành.’’ Tôi thường nói, động thì có biến hóa.
Các bạn không ngại tu thần thông để xem
thử, tu được thần thông thì sẽ hiểu sự biến hóa này. Bạn hiểu được
tức là chí thành, đạo chí thành thì có thể biết trước. Thành đến cực
điểm thì việc gì cũng đều biết trước được, nhưng cứ lo đắc được sự
biết trước, thì cũng đừng biết quá nhiều, biết quá nhiều cũng có
phiền não, đó tức là động, cũng là vọng tưởng.
Chủ Giá Thần Phổ Sinh Căn Quả, được môn giải thoát, hiện khắp
ruộng phước của Phật, khiến cho hạt giống trồng xuống không hư hoại.
Vị Phổ Sinh Căn Quả Chủ Giá Thần, không những năng động mà cũng năng
sinh. Sinh gì ? Sinh căn, sinh quả. Sinh căn gì ? Sinh căn quả. Sinh
quả gì ? Sinh quả căn. Có căn mới có quả, có quả tất có căn. Căn là
căn gì ? Là căn bồ đề, quả là quả gì ? Là quả bồ đề. Ðạo lý này
không hiểu tức là ngu si. Tại sao ? Trường hàng ở dưới đây nói rất
rõ ràng.
Vị Chủ Giá Thần này, đắc được môn giải
thoát, hiện khắp ruộng phước của Phật, khiến cho hạt giống gieo
xuống không hư hoại, những gì trồng ở trong ruộng phước của Phật,
đều là căn bồ đề, thì sẽ kết quả bồ đề, không thể hư hoại, không thể
không sinh ra, cũng không thể mất đi. Bất cứ lúc nào, chắc chắn sẽ
sinh căn bồ đề, mà kết quả bồ đề. Chỉ cần tinh tấn thì sớm sẽ sinh
căn, sớm sẽ nở hoa, sớm sẽ kết quả.
Vị Chủ Giả Thần này, thường giúp đỡ
chúng sinh trồng căn bồ đề, trừ khi chẳng nghe được Kinh Hoa
Nghiêm, đó là chuyện khác, tạm thời không bàn tới.
Chỉ cần nghe được Kinh Hoa
Nghiêm, một khi lọt vào tai, thì đã trồng xuống hạt
giống thành đạo, đó tức là hạt giống trồng xuống không hư mất. Giống
như nuốt chất kim cang vào trong bụng, bất cứ bộ tiêu hóa mạnh như
thế nào, cũng không thể tiêu hóa được chất kim cang, cho nên chất
kim cang không bao giờ hư hoại. Căn và quả bồ đề cũng chẳng hư hoại
như kim cang, cho nên nói một khi Kinh Hoa
Nghiêm nghe
lọt vào tai, thì nhất định sẽ phát bồ đề tâm. Giống như các vị phát
bồ đề tâm, đó đều là căn lành đã thành thục. Các bạn ở trong quá khứ
có đủ thứ nhân duyên khác nhau, có đủ thứ nhân duyên chẳng giống
nhau. Cho nên có người phát tâm rất thuân lợi công đức viên mãn, có
người muốn phát tâm thì có nhiều sự chướng ngại phát sinh. Nhưng nếu
đã trồng xuống hạt giống bồ đề này, thì sẽ chẳng mất đi. Hạt giống
này cuối cùng sẽ mọc rễ, đâm chồi, đơm hoa, kết quả; đừng lo lắng,
sớm hay muộn gì đều sẽ thành Phật. Ai muốn vào môn giải thoát này,
thì phải sớm phát bồ đề tâm.
Chủ Giá Thần Diệu Nghiêm
Hoàn Kế, được môn giải thoát, khiến khắp chúng sinh
phát hoa tịnh tín.
Vị Diệu Nghiêm
Hoàn Kế Chủ Giá Thần này, có công đức vi diệu không
thể nghĩ bàn, để trang nghiêm hoàn kế. Hoàn kế là đồ trang sức hình
tròn, "hoàn" là biểu thị sự vô tận, "kế" là biểu thị tướng công đức
trang nghiêm. Nói tóm lại, nếu nói tỉ mỉ thì khó mà nói hết được.
Vị này minh bạch một cảnh giới của Phật,
đó là khiến khắp chúng sinh phát hoa tịnh tín. Hoa tịnh tín là gì ?
Tức là trước kia rất nhiều sự nhiễm ô, rất nhiều vọng tưởng, rất
nhiều lòng tham muốn cho riêng mình, mà không thể phát hoa tịnh tín.
Bây giờ đã phát rồi, thì chúng sinh chưa trồng căn lành, khiến cho
họ trồng căn lành, chúng sinh chưa phát tâm lành, thì khiến cho họ
phát tâm lành, đó là tác dụng của sự phát khởi. Giống như trồng ngũ
cốc xuống đất, được sự trợ duyên của ánh sáng mặt trời, được sự trợ
duyên của nước, và các sự trợ duyên khác, thì mới đâm chồi nảy lộc
lớn lên, phát hoa tịnh tín thì kết quả tịnh tín. Không thể có hoa mà
chẳng có quả, trừ khi đó là hoa dại, cũng không thể có quả mà chẳng
có hoa. Hoa tịnh tín này là công đức thành tựu. Ðó là một sự biểu
hiện thành tựu đạo bồ đề, tức cũng là hoa kết quả giác viên mãn.
Vị Chủ Giá Thần này, minh bạch hoa tịnh tín thì kết quả giác đạo,
tức cũng là thành Phật quả. Vị này liễu ngộ cảnh giới này, mà vào
môn giải thoát này.
Chủ Giá Thần Nhuận Trạch Tịnh Hoa, được môn giải thoát, đại từ
thương xót cứu độ các chúng sinh, khiến cho họ tăng trưởng biển
phước đức.
Vị Nhuận Trạch Tịnh Hoa
Chủ Giá Thần này, thường nhuận trạch hoa tịnh tín.
Làm sao để nhuận trạch ? Là dùng đủ thứ công đức để nhuận trạch. Ðầy
đủ vô lượng công đức, thì đóa hoa tịnh tín này tươi tốt. Vị này đắc
được pháp môn đại từ thương xót cứu độ các chúng sinh. Phật giáo thì
thương xót cứu hộ chúng sinh đều bình đẳng. Ví như có người qua bờ
sinh tử, cũng chẳng đến bờ bên kia, cũng chẳng ở bờ bên này, đang ở
giữa dòng sắp chết đuối, lúc đó dùng cái phao cứu sống họ, hoặc vớt
họ lên thuyền, đưa họ từ bờ này qua bờ kia, đó là cứu độ.
Bất hạnh thay, thuyền đến giữa dòng thì lủng lỗ, chẳng có sức lực
đến được bờ kia. Lúc đó, lại dùng chiếc thuyền khác đưa họ qua bờ
bên kia, đó gọi là tế độ. Phật giáo dùng giới định huệ ba học vô
lậu, làm thuyền cứu độ chúng sinh, khiến cho họ đến được bờ bên kia
cứu kính Niết Bàn.
Thời xưa, có câu chuyện về qua sông rồi đốt hết thuyền. Có vị đại
tướng quân xuất lãnh đội quân đi chinh phạt nước khác, qua sông lớn
rồi ra lệnh cho quân lính đốt sạch hết các chiếc thuyền, đó là biểu
thị tuyệt lộ, chỉ có tiến chứ không thể lùi, vị tướng quân nói với
quân lính : ‘’Các anh em phải dũng mãnh đánh địch, thì còn có hy
vọng sống sót; nếu bị bại thì chẳng có cơ hội về nước.’’ Ðó là cảnh
cáo quân đội phải bỏ sự sống quên sự chết, gác sự sống chết ra
ngoài, mới có thể chiến thắng khải hoàn trở về.
Chúng ta người tu đạo, phải có sự phát
tâm phá vỡ thuyền chìm, mới đạt đến bờ bên kia Niết Bàn. Ðến được bờ
bên kia rồi, thì đừng nghĩ trở lại thế giới Ta Bà nữa, cho nên qua
được rồi, thuyền cũng đốt sạch, đó là biện pháp một khi đã dứt, thì
vĩnh viễn dứt hẳn, một phen lao nhọc vĩnh viễn an nhàn.
Chẳng phải tế độ một chúng sinh đến bờ kia, mà là tế độ tất cả chúng
sinh đến bờ kia. Tế độ chúng sinh đến bờ kia để làm gì ? Khiến cho
họ tăng trưởng biển phước đức. Ví như độ chúng sinh về thế giới Cực
Lạc tu hành, khi phước đức của họ tăng trưởng rộng lớn như biển, thì
có thể thành Phật. Vị Chủ Giá Thần này, minh bạch cảnh giới này mà
vào môn giải thoát này.
Chủ Giá Thần Thành Tựu Diệu Hương, được môn giải thoát, rộng khai
thị tất cả pháp môn tu hành.
Vị Thành Tựu Diệu Hương Chủ Giá Thần này, thành tựu đủ thứ diệu
hương, khiến cho chúng sinh ngửi được thứ diệu hương này, thì sẽ cải
ác hướng thiện, phát bồ đề tâm, cho nên gọi là diệu hương. Thứ diệu
hương này, tức là giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát
hương, giải thoát tri kiến hương.
Vị này đắc được một cảnh giới của Phật, cho nên rộng khai thị pháp
môn tu hành cho tất cả chúng sinh, chỉ bày cho tất cả chúng sinh, vô
lượng vô biên pháp môn của chư Phật tu hành trong quá khứ, hiện tại
và vị lai, ba đời chư Phật đều từ pháp môn này mà ngộ đạo.
Chúng ta đừng sinh tâm sợ hãi đối với
pháp môn tu hành, thấy biển mà thở dài, tức là nói Phật pháp như
biển cả, vừa rộng lớn lại vừa sâu thăm thẳm, chừng nào mới có thể
học hết những pháp môn nhiều như thế ? Ví như có người đứng ở bờ
biển, thấy biển cả rộng lớn mênh mông vô tận thì trong tâm nghĩ :
‘’Biết bao giờ mới có thể qua được biển này‘’ ? Do đó mà thở dài, đó
là ý nghĩa thấy biển mà thở dài.
Vậy làm thế nào để biết ? Ðừng hấp tấp, chỉ cần cung hành tực tiễn,
chân thật dụng công tu hành, cuối cùng sẽ có ngày thành tựu. Do đó:
‘’Ðàn chỉ viên thành tám vạn môn‘’.
Nghĩa là thời gian khoảng khảy móng tay, thì có thể viên mãn thành
tựu tám vạn pháp môn. Tại sao ? Vì :
"Nhất thông nhất thiết thông".
Một pháp môn mà tu thành công, thì tất cả pháp môn đều thông đạt vô
ngại, đều thành công. Cho nên nói :
‘’Sát na diệt trừ tam kỳ kiếp.’’
Trong khoảng một sát na, thì công đức tu trong ba đại A tăng kỳ kiếp
đều viên mãn. Cho nên, đừng sinh tâm khó tu hành đối với Phật pháp.
Vị Chủ Giá Thần này, khai thị cho tất cả chúng sinh tu tám vạn bốn
ngàn pháp môn, mà không sinh tâm sợ hãi. Vị này minh bạch đạo lý
này, mà vào được môn giải thoát này.
Hôm nay, tôi có vấn đề này muốn hỏi các bạn, mong các bạn nói ra !
Tôi không biết trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, pháp môn nào là đệ
nhất ?
- Có vị đệ tử đáp : ‘’Tám vạn bốn ngàn pháp môn, chẳng có môn nào đệ
nhất, nhưng đều là đệ nhất.’’
- Tại sao có nhiều đệ nhất như thế ?
- Lại đáp : ‘’Vì có nhiều chúng sinh, mỗi chúng sinh đều có pháp môn
của họ, khiến cho họ thành Phật. Cho nên pháp nào hợp với họ là đệ
nhất, do đó mới nói đều là đệ nhất.’’
- Vậy pháp môn đệ nhất của bạn là gì ?
- Ðáp : ‘’Là ngủ‘’.
- Bạn có thật ngủ chăng ?
- Ðáp : ‘’Không’’.
- Vậy không ngủ sao lại có pháp môn ngủ ? Nếu có pháp môn ngủ thì sẽ
đắc được "ngủ tam muội". Ngủ tức cũng là tỉnh, tỉnh cũng tức là ngủ,
tỉnh ngủ nhất như, chẳng có phân biệt. Khi tỉnh và ngủ chẳng có phân
biệt, khi ngủ và tỉnh cũng chẳng phân biệt, đó tức là đắc được "ngủ
tam muội". Ðắc được ngủ tam muội thì tỉnh ngủ, ngủ tỉnh đều là một.
- Pháp môn của bạn có phải như thế chăng ?
- Ðáp : ‘’Chẳng phải như thế.’’
- Vậy ra làm sao ?
- Ðáp : ‘’Vọng tưởng lung tung.’’
- Vọng tưởng cũng là pháp môn, thêm một cái đệ nhất. Tại sao phải
nói như thế ? Vì đó là căn cứ, chẳng phải tùy tiện nói, cũng chẳng
phải nói vu vơ, càng chẳng phải nói bậy bạ, mà là căn cứ kinh điển
nói. Trong Kinh Kim Cang có nói:
‘’Là pháp bình đẳng, chẳng có cao thấp.’’
Chẳng có pháp nào đệ nhất, cũng chẳng có đệ nhị. Nếu không tin thì
hãy đi nghiên cứu. Pháp môn nào hợp với bạn thì là đệ nhất; ngủ.
Pháp môn nào hợp với tôi thì là đệ nhất; ăn cơm. Pháp môn nào hợp
với họ thì là đệ nhất; mặc áo. Ăn cơm, ngủ nghỉ, mặc áo, đều là đệ
nhất, chẳng có gì khác, tức là ba việc này.
Chủ Giá Thần Kiến Giả Ái Lạc, được môn giải thoát, khiến tất cả
chúng sinh trong pháp giới, bỏ lìa giải đãi ưu não các ác, thảy đều
sinh ra thanh tịnh.
Vị Kiến Giả Ái Lạc Chủ Giá Thần, bất cứ loại chúng sinh nào, thấy
được Ngài đều sinh tâm ái mộ vui vẻ, vị này đắc được một cảnh giới
của Phật là, khiến cho tất cả chúng sinh thấy, hoặc nghe được Phật
pháp, thì đều bỏ lìa giải đãi ưu não và các ác, thảy đều sinh ra
thanh tịnh, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.
Chúng ở chùa Kim Sơn, có thể nói là bỏ lìa sự giải đãi. Tại sao ? Vì
những người trẻ này, trước kia chưa nghe được Phật pháp, với các bạn
bè người Mỹ ăn thì có phần, làm việc chẳng có phần. Ăn thì vô nhân
tướng (chỉ biết có mình, chẳng biết có người khác); làm việc thì vô
ngã tướng (chỉ dạy họ làm mà mình thì chẳng làm); hại người thì vô
chúng sinh tướng, ăn thịt thì vô thọ giả tướng. Bây giờ đến chùa Kim
Sơn rồi, tác phong hoàn toàn khác hẳn lúc trước. Ăn thì vô ngã
tướng, mình ăn hay không ăn chẳng quan hệ gì, chỉ cần người khác ăn
no thì tốt, làm việc thì vô nhân tướng, tất cả việc làm tự mình đi
làm, không sai họ làm, chẳng tranh luận với người vì có chúng sanh
tướng, cũng chẳng ăn thịt vì có tướng thọ mạng. Không những không
sát sinh, mà còn bảo hộ chúng sinh, nguyện tất cả chúng sinh sống
lâu trăm tuổi. Những người trẻ này đều siêng năng cực nhọc, không sợ
làm việc nhiều, đó tức là bỏ lìa sự giải đãi, tức cũng là vì pháp
quên mình, vì học Phật pháp, nhẫn việc người không thể nhẫn, chịu
những sự khổ người không chịu được.
Ưu não tức là ưu sầu phiền não. Người tu đạo không nên có tâm ưu bi
khổ não. Hai thứ này là đá cột chân.
Thời xưa có ngụ ngôn rằng, có người nước Kỷ suốt ngày đến tối ưu tư
sầu muộn, có người hỏi y ưu sầu việc gì ? Y đáp : ‘’Tôi lo trời sẽ
xập xuống, lúc đó tôi biết làm sao‘’ ? Cho nên y cũng chẳng đi làm
ruộng, việc gì cũng chẳng làm, chỉ ngồi ở nhà ưu sầu. Do đó, thiên
hạ vốn vô sự, người ngu tự quấy nhiễu, người sau gọi là "người nước
Kỷ lo trời".
Có người tự tìm phiền não, sáng sớm soi gương phát hiện lỗ mũi chúc
xuống, y nghĩ : ‘’Nếu như lỗ mũi dài uốn lên, khác với mọi người thì
tốt biết mấy‘’ ! Do đó, bèn sinh ra phiền não, đó là ăn cơm no,
không việc làm, mới sinh vọng tưởng và phiền não. Nếu có việc làm,
thì chẳng nhàn rỗi để khởi vọng tưởng và sinh phiền não.
Chủ Giá Thần Ly Cấu Quang Minh, được môn giải thoát, quán sát căn
lành của tất cả chúng sinh, theo căn cơ mà thuyết pháp, khiến cho
chúng hội đều hoan hỷ đầy đủ.
Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Giá Thần, lìa khỏi tất cả trần cấu mà đắc
được quang minh. Trần cấu là gì ? Tức là những sự nhiễm ô. Trong
Chứng Ðạo Ca của Ngài Vĩnh Gia có nói :
‘’Tâm là căn, pháp là trần,
Hai thứ này như vết trên gương,
Vết bẩn tẩy sạch thì quang thủy hiện,
Tâm pháp đều quên thì tánh tức chân.’’
Lìa cấu thì tâm và pháp đều phải quên, tức cũng là lìa khỏi ngã,
pháp, hai chấp. Ngã chấp như là cấu, pháp chấp cũng là cấu. Nếu lìa
khỏi ngã, pháp, hai chấp, người cũng không, pháp cũng không, thì tự
tánh quang minh sẽ hiện tiền.
Vị này đắc được môn giải thoát, dùng trí huệ để quán sát căn cơ của
tất cả chúng sinh. Vì căn cơ của chúng sinh có sâu có cạn, có nhiều
có ít. Cho nên, phải dùng Phật pháp để vun bồi, để tưới, mới khiến
cho tăng trưởng mà tươi tốt. Vun bồi tưới nước là gì ? Tức là theo
căn cơ thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc, khiến cho đại chúng trong
pháp hội đều hoan hỷ đầy đủ.
Bấy giờ, Chủ Giá Thần Nhu Nhuyến Thắng Vị, nương oai lực của đức
Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Giá Thần, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, đại chúng trong pháp hội có vị Nhu Nhuyến Thắng Vị Chủ Giá
Thần, nương đại oai thần lực của Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ
Giá Thần, lại dùng kệ để nói.
Như Lai biển công đức vô thượng
Hiện đèn sáng chiếu khắp thế gian
Tất cả chúng sinh đều cứu hộ
Thảy đều an lạc không sót thừa.
‘’Như Lai biển công đức vô thượng‘’. Như Lai là ba giác và vạn đức
đều viên mãn, cho nên nói biển công đức vô thượng. Vô thượng có
nghĩa là chẳng có gì cao hơn được. Công đức của Như Lai chẳng thể so
sánh được. Công đức nhiều như biển cả, vô luợng vô biên, vô cùng vô
tận. Cho nên gọi là biển công đức.
‘’Hiện đèn sáng chiếu khắp thế gian‘’. Phật thị hiện bình đẳng khắp
thế gian. Tại sao ? Vì giáo hóa tất cả chúng sinh cải ác hướng
thiện, bỏ mê về giác. Trí huệ quang của Phật như đèn sáng phá tan
đen tối vô minh.
Khi Phật chưa ra đời, thế gian giống như
chẳng có ánh sáng của mặt trời mặt trăng, chẳng có ánh đèn, chúng
sinh sống ở trong đêm dài tăm tối. Từ khi Phật ra đời, thì thế gian
có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, lại có ánh đèn, chiếu sáng tất cả
thế giới, đều đắc được quang minh, do đó Phật quang phổ chiếu.
‘’Tất cả chúng sinh đều cứu hộ’’. Mục
đích Phật phải thành Phật, là vì cứu độ chúng sinh. Ðộ chúng sinh là
công việc của Phật. Chúng sinh trôi nổi ở trong biển ái dục, không
thể thoát khỏi biển khổ, Phật nương thuyền từ bi đến cứu hộ tất cả
chúng sinh. Cho nên nói đều cứu hộ. Chẳng có một chúng sinh nào, mà
chẳng phải là đối tượng sự cứu hộ của Phật. Nghĩa là dù chúng sinh
ác, Phật cũng cứu hộ họ. Phật chẳng nói con là chúng sinh quá ác, ta
chẳng cứu con, Phật chẳng có tâm phân biệt như thế. Phật xem chúng
sinh đều như là con cái của Ngài. Bất cứ con cái bất hiếu, không giữ
quy cụ, Ngài cũng đều cứu hộ họ ra khỏi biển khổ, đắc được giải
thoát.
‘’Thảy đều an lạc không sót thừa.’’ Phật hoàn toàn ban cho chúng
sinh khoái lạc, chẳng bỏ sót một chúng sinh nào, cũng chẳng quên một
chúng sinh nào, trừ khi chẳng phải là chúng sinh, cho nên nói thảy
đều an lạc không sót thừa.
Công đức Thế Tôn không bờ mé
Chúng sinh nghe được chẳng luống qua
Ðều khiến lìa khổ thường an vui
Ðây là sở nhập của Thời Hoa.
‘’Công đức Thế Tôn không bờ mé‘’. Thế Tôn là bậc tôn kính của thế
gian và xuất thế gian, là đại đạo sư của tam giới. Công đức của Ngài
vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn.
‘’Chúng sinh nghe được chẳng luống qua‘’. Hết thảy chúng sinh kể cả
bạn, tôi và họ, nghe được danh hiệu của Phật, hoặc nghe được kinh
điển của Phật, đều chẳng luống qua, mà đắc được lợi lạc.
‘’Ðều khiến lìa khổ thường an vui‘’. Phật hoàn toàn khiến cho tất cả
chúng sinh, đều lìa khỏi tất cả khổ, mà đắc được tất cả an vui, tức
cũng là chẳng có sự khổ, mà chỉ hưởng sự an vui, cho nên nói là
thường an vui.
‘’Ðây là sở nhập của Thời Hoa.’’ Cảnh giới này, vị Thời Hoa
Tịnh Quang Chủ Giá Thần, minh bạch được mà vào môn
giải thoát này.
Thiện Thệ các lực đều viên mãn
Công đức trang nghiêm hiện thế gian
Tất cả chúng sinh đều điều phục
Pháp này Dũng Lực chứng đắc được.
‘’Thiện Thệ các lực đều viên mãn‘’. Thiện Thệ là một trong mười danh
hiệu của Phật. Các lực tức là mười lực. Phật tu tất cả các lực đều
viên mãn.
‘’Công đức trang nghiêm hiện thế gian‘’. Phật thành tựu là nhờ tất
cả công đức trang nghiêm. Phật dùng công đức để trang nghiêm thân,
xuất hiện ở trong hữu tình thế gian.
‘’Tất cả chúng sinh đều điều phục‘’.
Chúng sinh ở thế giới Ta Bà cang cường khó điều phục. Bạn dùng đủ
thứ pháp môn quyền xảo phương tiện, nói thiện pháp cho họ nghe, thì
họ cũng chẳng tin. Nhưng nếu gặp ác duyên tà dâm không thanh tịnh,
thì chạy theo như phát cuồng, giống như người cuồng chạy về hướng
nào đó, loại người này khó điều phục nhất. Song, Phật hoàn toàn điều
phục được tất cả chúng sinh. Phật dùng hai phương pháp để điều phục,
một là dùng văn để độ, hai là dùng võ để độ. Hiển giáo là dùng văn
để độ, mật giáo là dùng võ để độ. Bồ Tát là mắt hiền lành để độ
chúng sinh, Kim cang là mắt giận dữ để độ chúng sinh. Tóm lại, đều
vì khiến cho chúng sinh thoát khỏi tam giới, bất quá phương pháp
chẳng giống nhau mà thôi. Hiển giáo giống như toa thuốc, theo sự chỉ
dẫn trong toa mà uống thuốc. Mật giáo giống như thuốc đã làm xong,
uống thuốc thì hết bệnh.
‘’Pháp này Dũng Lực chứng đắc được.’’ Pháp môn này, vị Sắc Lực Dũng
Kiện Chủ Giá Thần, minh bạch mà chứng đắc được môn giải thoát này.
Xưa Phật tu hành biển đại bi
Tâm Phật niệm niệm đồng thế gian
Cho nên thần thông vô cùng tận
Tăng Ích Tinh Khí quán thấy được.
‘’Xưa Phật tu hành biển đại bi‘’. Thuở xưa Phật tu hành pháp môn đại
bi. Pháp môn đại bi tức là pháp môn ban vui cho chúng sinh, cứu khổ
cho chúng sinh, tu tập thành biển đại bi.
‘’Tâm Phật niệm niệm đồng thế gian‘’. Mỗi tâm niệm của Phật, đều
nghĩ cứu hộ chúng sinh, nghĩ khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui,
liễu sinh thoát tử, đắc được giải thoát, cho nên niệm niệm đồng thế
gian.
‘’Cho nên thần thông vô cùng tận‘’. Nghĩ muốn giáo hóa chúng sinh
cang cường khó điều phục, thì phải có đủ thứ thần thông, đủ thứ
phương tiện pháp môn, để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh
thấy được thần thông diệu dụng mà sinh niềm tin, cho nên thần thông
của Phật vô cùng tận.
‘’Tăng Ích Tinh Khí quán thấy được.’’ Cảnh giới này, vị Tăng Ích
Tinh Khí Chủ Giá Thần quán sát thấy được.
Phật thường hiện tiền khắp thế gian
Tất cả phương tiện chẳng luống qua
Ðều tịnh chúng sinh các hoặc não
Giải thoát này của Phổ Sinh Thần.
‘’Phật thường hiện tiền khắp thế gian‘’. Phật thì vô tại vô bất tại,
Phật thì khắp cùng tất cả mọi mơi, cho nên nói Phật hiện khắp thế
gian. Tại sao chúng sinh chẳng nhìn thấy Phật ? Vì có các hoặc não
che đậy, giống như mây che mặt trời không khác.
Tuy nhiên Phật khắp cùng tất cả mọi nơi, thường hiện trước chúng
sinh, nhưng chúng sinh nhìn chẳng thấy Phật. Nếu diệt trừ được hoặc
nghiệp vô minh các chướng ngại, thì sẽ thấy được Phật.
‘’Tất cả phương tiện chẳng luống qua‘’. Phật dùng tất cả phương tiện
để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh phát bồ đề tâm, thành
tựu quả vị Phật. Những pháp phương tiện Phật dùng, chẳng có luống
qua, thảy đều có hiệu quả.
‘’Ðều tịnh chúng sinh các hoặc não‘’. Các hoặc tức là kiến hoặc, tư
hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc. Phật khiến các hoặc của tất cả
chúng sinh, đều hoàn toàn thanh tịnh, chẳng còn tạp nhiễm. Giống như
mây tan hết thì mặt trời hiện ra. Các phiền não hoặc tiêu diệt hết,
thì trí huệ sẽ hiện tiền.
‘’Giải thoát này của Phổ Sinh Thần.’’ Cảnh giới này, vị Phổ Sinh Căn
Quả Chủ Giá Thần minh bạch được.
Phật là biển trí của thế gian
Phóng tịnh quang minh chiếu hết thảy
Tin hiểu rộng lớn đều sinh ra
Diệu Nghiêm
Kế Thần thấu rõ được.
‘’Phật là biển trí của thế gian‘’. Phật là bậc có trí huệ nhất trong
thế gian, Phật là bậc giác ngộ ở trong chúng sinh. Chẳng có gì mà
Phật không biết, chẳng có gì mà Phật không thấy, cho nên gọi là biển
trí. Phật Pháp Tăng là biển đại trí huệ của thế gian, cũng là đèn
sáng vô tận của thế gian.
‘’Phóng tịnh quang minh chiếu hết thảy‘’. Phật là biển đại trí,
phóng quang minh trí huệ thanh tịnh. Chiếu soi khắp hết thảy mọi
nơi, lại chiếu soi tâm của chúng sinh, khiến cho họ phát bồ đề tâm,
thành đạo vô thượng.
‘’Tin hiểu rộng lớn đều sinh ra‘’. Phật phóng quang minh thanh tịnh
chiếu tâm chúng sinh, thì chúng sinh sinh ra tâm tin hiểu rộng lớn.
Sự tin hiểu này không thể nghĩ bàn, là đắc được trí huệ quang minh
gia bị của Phật mà sinh ra.
‘’Diệu Nghiêm
Kế Thần thấu rõ được.’’ Cảnh giới này, vị Diệu Nghiêm
Hoàn Kế Chủ Giá Thần, minh bạch được mà vào môn
giải thoát này.
Như Lai quán thế khởi tâm từ
Vì lợi chúng sinh mà xuất hiện
Mở bày yên vui đạo tối thắng
Giải thoát này của Tịnh Hoa
Thần.
‘’Như Lai quán thế khởi tâm từ‘’. Như Lai tức là Phật Thích Ca, Ngài
quán sát chúng sinh thế gian quá khổ, suốt ngày tranh giành ở trong
biển khổ, mà chẳng đắc được giải thoát, do đó Phật sinh khởi tâm đại
từ bi, ban vui cho chúng sinh, cứu mọi sự khổ của chúng sinh, khiến
cho chúng sinh lìa khổ được vui.
‘’Vì lợi chúng sinh mà xuất hiện‘’. Phật vị lợi ích chúng sinh, vì
cứu hộ chúng sinh mà xuất hiện ra đời, để giáo hóa tất cả chúng
sinh, khiến cho chúng sinh đều có trí huệ mà ngộ đạo.
‘’Mở bày yên vui đạo tối thắng‘’. Phật vì chúng sinh mà mở bày đại
đạo yên vui nhất, thù thắng nhất, quang minh nhất. Chỉ cần tinh tấn
dũng mãnh tiến về trước, thì nhất định sẽ đạt được bờ bên kia cứu
kính Niết Bàn.
‘’Giải thoát này của Tịnh Hoa
Thần.’’ Vị Nhuận Trạch Tịnh Hoa
Chủ Giá Thần, đắc được môn giải thoát này.
Thiện Thệ tu tập hạnh thanh tịnh
Dưới cội bồ đề diễn nói đủ
Như vậy giáo hóa khắp mười phương
Sự nghe thọ này của Diệu Hương.
‘’Thiện Thệ tu tập hạnh thanh tịnh‘’. Phật trong quá khứ tu hạnh môn
thanh tịnh, là chẳng làm các điều ác, làm hết các điều lành; tức
cũng là xa lìa tất cả pháp ác, tu trị tất cả pháp lành. Tất cả pháp
ác tức là pháp nhiễm ô, tất cả pháp lành tức là pháp thanh tịnh.
Pháp thế gian là pháp nhiễm ô, pháp xuất thế gian là pháp thanh
tịnh. Pháp nhiễm ô có dục niệm, pháp thanh tịnh chẳng có dục niệm.
Tóm lại, có tâm dục niệm tức là nhiễm ô, chẳng có tâm dục niệm tức
là thanh tịnh, mục đích của chúng ta tu là đoạn dục khử ái.
‘’Dưới cội bồ đề diễn nói đủ‘’. Phật ở dưới cội bồ đề thấy sao mai
mọc mà ngộ đạo. Thốt lên ba lần lành thay ! ‘’Tất cả chúng sinh đều
có đủ trí huệ đức tướng Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước
không thể chứng đắc.’’ Do đó, có thể thấy vọng tưởng chấp trước là
vật chướng ngại lớn của sự tu đạo.
Nếu chúng ta chẳng có vọng tưởng chấp
trước, thì sớm sẽ chứng quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Tại sao
chúng ta chẳng chứng đắc ? Vì tâm vọng tưởng quá nhiều, tâm chấp
trước quá nặng, cho nên vẫn còn là phàm phu.
Ðức Phật thành đạo dưới cội bồ đề rồi, trong thời gian hai mươi mốt
ngày, diễn nói Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật. Lúc đó, người nhị thừa tuy cũng ở trong pháp hội,
song có mắt mà chẳng thấy Lô Xá Na, có tai chẳng nghe giáo viên đốn.
Tại sao ? Vì căn tánh chẳng giống nhau. Bồ Tát là lợi căn, tiếp thọ
được đốn giáo; nhị thừa thì độn căn chỉ tiếp thọ được tiệm giáo, cho
nên như mù như điếc.
‘’Như vậy giáo hóa khắp mười phương‘’. Phật nói Kinh Hoa
Nghiêm và
tất cả tạng kinh, là vì giáo hóa tất cả chúng sinh trong mười
phương, khiến cho hết thảy đều được độ.
‘’Sự nghe thọ này của Diệu Hương.’’ Vị Thành Tựu Diệu Hương Chủ Giá
Thần, nghe thọ được pháp môn này, mà lãnh ngộ được môn giải thoát
này.
Phật trong tất cả các thế gian
Ðều khiến hết lo sinh vui mừng
Hết thảy căn dục đều tịnh trị
Khả Ái Lạc Thần ngộ vào được.
‘’Phật trong tất cả các thế gian‘’. Phật chẳng riêng gì xuất hiện ở
thế giới Ta Bà này, mà đều xuất hiện khắp hết thảy thế giới trong
mười phương. Hiện ra thế gian để làm gì ? Sẽ nói rõ dưới đây.
‘’Ðều khiến hết lo sinh vui mừng‘’. Phật thương xót chúng sinh, thấy
chúng sinh chẳng dứt được sinh tử, luân hồi trong đường hiểm, lưu
chuyển ở trong sáu nẻo luân hồi, thật rất đáng lo âu. Cho nên, Phật
không ngại gian lao khổ nhọc, nghĩ hết biện pháp để độ chúng sinh,
khiến cho chúng sinh xa lìa tất cả lo âu khổ não, mà sinh tâm vui
mừng.
‘’Hết thảy căn dục đều tịnh
trị‘’. Căn tính của chúng sinh chẳng giống nhau, có người thì thiện
căn, có người thì ác căn. Người có căn lành thì Phật dùng phương
tiện pháp môn, khiến cho họ tăng trưởng. Kẻ chẳng có căn lành, thì
Phật dùng phương tiện, khiến cho họ trồng căn lành. Dục niệm của
chúng sinh cũng khác nhau; có người thích tiền tài, có người thích
sắc đẹp, có người thích danh lợi, có người thích ăn ngon, có người
thích ngủ nhiều. Ðủ thứ căn tánh và đủ thứ dục này Phật đều biết,
cho nên khiến cho tất cả tập khí mao bệnh nhiều đời nhiều kiếp của
chúng sinh, đều tu trị thanh tịnh, từ nhiễm ô biến thành thanh tịnh.
Ví như có người vốn chẳng tu hành, cũng chẳng giữ quy cụ, thích ăn
thịt, uống rượu, hút thuốc, nhưng khi nghe được Phật pháp rồi, thì
giữ quy cụ, thành thật tu hành, trừ khử tập khí, buông xả tâm nhiễm
ô. Như thế thì tâm thanh tịnh sẽ hiện tiền. Cho nên nói Phật giáo là
đèn sáng, là bảng đi đường, chỉ đường mê cho chúng sinh, đi trên con
đường sáng, tức cũng là con đường giác ngộ vô thượng.
‘’Khả Ái Lạc Thần ngộ vào được.’’ Vị Kiến Giả Ái Lạc Chủ Giá Thần
này, minh bạch lãnh ngộ được cảnh giới này, cho nên vào được môn
giải thoát này.
Như Lai xuất hiện trong thế gian
Quán khắp sở thích của chúng sinh
Ðủ thứ phương tiện khiến thành thục
Giải thoát này của Tịnh Quang Thần.
‘’Như Lai xuất hiện trong thế gian‘’. Tại sao Phật phải xuất hiện
nơi thế giới Ta Bà ? Vì muốn cứu hộ chúng sinh ra khỏi biển phiền
não.
‘’Quán khắp sở thích của chúng sinh‘’. Phật quán sát hết thảy tâm
của chúng sinh, xem trong tâm của chúng sinh thích những gì ? Phàm
là những gì chúng sinh muốn, Phật đều khiến cho họ được đầy đủ mà
đắc được yên vui.
‘’Ðủ thứ phương tiện khiến thành thục‘’. Phật dùng đủ thứ phương
tiện pháp môn, để giáo hóa chúng sinh, khiến cho căn lành của họ
được thành thục, mà đắc được giải thoát. Do đó, đủ thấy chứng minh
Phật giáo hóa chúng sinh cũng chẳng dễ dàng. Nếu như dễ dàng thì
Phật chẳng cần đủ thứ phương tiện pháp môn để giáo hóa, chỉ cần dùng
một phương tiện pháp môn, thì có thể độ hết tất cả, lại hà tất phải
dùng đủ thứ phương tiện để độ ? Ðủ thấy chúng sinh là khó độ. Phương
tiện pháp môn này dùng xong, mà chúng sinh chưa độ được, thì dùng
pháp môn khác để độ. Ðều muốn khiến cho chúng sinh này tin pháp này,
hiểu pháp này, hành pháp này, chứng pháp này, kiên trì mãi đến khi
chúng sinh được độ mới thôi. Cho nên, dùng đủ thứ phương tiện pháp
môn, khiến cho chúng sinh thành thục quả vị Phật.
Lại có lối giảng khác, là dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo
hóa đủ loại chúng sinh. Vì căn tánh của chúng sinh khác nhau, cho
nên phải dùng đủ thứ phương tiện pháp môn. Loại chúng sinh nào thì
dùng pháp môn đó để giáo hóa, cho nên nói đủ thứ phương tiện khiến
thành thục.
Trong hai lối giảng này, lối giảng sau viên mãn hơn. Lối giảng ở
trước là nói, Phật phải dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo
hóa một chúng sinh. Ðiểm này có vấn đề : Có phải Phật không biết căn
dục của chúng sinh ? Vì Phật biết căn dục của chúng sinh, cho nên
mới dùng một phương tiện pháp môn, để độ chúng sinh này, chẳng cần
dùng đủ thứ phương tiện pháp môn. Vậy đủ thứ pháp môn, là vì giáo
hóa đủ loại chúng sinh. Giáo hóa rồi, còn phải luôn luôn trợ giúp
cho chúng sinh này tu hành, tu hành rồi mới được thành thục, thành
tựu đạo nghiệp.
‘’Giải thoát này của Tịnh Quang Thần.’’ Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Giá
Thần, đắc được môn giải thoát này.
Lại nữa, Chủ Dược Thần Cát Tường,
được môn giải thoát, quán khắp tất cả tâm chúng sinh mà siêng nhiếp
thủ.
Ðạo lý ở trên chưa nói hết, cho nên lại tiếp tục nói. Vị Cát Tường
Chủ Dược Thần, là thần quản lý về dược thảo (cỏ thuốc). Dược có công
năng trị bệnh. Có bệnh gì thì phải hốt thuốc đó. Ví như bệnh cảm thì
phải uống thuốc giải độc, ho thì uống thưốc cao tỳ bà, mới có công
hiệu, thuốc đến thì hết bệnh. Thuốc có thuốc hay và thuốc độc, cho
nên phải có Thần đến cai quản. Không có Thần đến quản lý, thì dễ có
hại cho chúng sinh.
Vị Thần này tên là Cát Tường. Cát tường tức là bình an chẳng bệnh,
thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý. Nếu có bệnh thì có thể uống thuốc
này, thì sẽ hết bệnh. Không có bệnh cũng có thể uống thuốc này, uống
rồi thì vĩnh viễn chẳng sinh bệnh. Vậy thuốc này là thuốc gì ? Ðó là
thuốc hoan hỷ, người người hoan hỷ thì vĩnh viễn chẳng đau bệnh;
người người ưu sầu thì luôn luôn đau bệnh. Cho nên hoan hỷ tức là
cát tường, chẳng hoan hỷ thì chẳng cát tường.
Người xưa từng nói :
‘’Tự cổ thần tiên chẳng phép mầu,
Luôn sinh hoan hỷ chẳng sinh sầu.’’
Thần tiên là gì ? Tức là người bất tử. Tại sao thần tiên bất tử ? Vì
họ ngày ngày sinh hoan hỷ mà chẳng biết sầu muộn. Các bạn muốn
trường sinh bất lão chăng ? Vậy thì ngày ngày phải uống thuốc hoan
hỷ, tức cũng chẳng nóng giận. Vui cười là linh đan trường sinh bất
lão.
Vị Chủ Dược Thần này, quán sát khắp tất cả bệnh của chúng sinh. Nếu
người có bệnh tham, thì cho uống thuốc ‘’giới‘’, nếu người có bệnh
sân, thì cho uống thuốc ‘’định’’, nếu có người bệnh si, thì cho uống
thuốc ‘’huệ’’. Thuốc hay giới định huệ này, chuyên trị bệnh nhiệt
tham sân si.
Bệnh tham sân tương đối còn dễ trị, chỉ có bệnh si khó trị nhất.
Bệnh si là gì ? Ví như có người khởi vọng tưởng, chẳng muốn học mà
muốn đỗ trạng nguyên, chẳng trồng trọt mà muốn gặt hái ngũ cốc,
chẳng tu hành mà muốn khai ngộ, đó là bệnh si. Tâm của người si vọng
tưởng ước rằng :
‘’Hoa nở mãi đừng bao giờ tàn,
Trăng rằm sáng mãi đừng khuyết,
Nước sông ngòi ao hồ đều hóa thành rượu,
Lá cây trong rừng đều biến thành tiền.’’
Ðó là bệnh si, cũng có thể nói là bệnh tâm lý biến thái.
Vị Thần này, nhiếp tất cả chúng sinh si tâm vọng tưởng, đến con
đường bằng phẳng bồ đề đại đạo, nói với họ : ‘’Hãy tỉnh dậy ! Ðừng
nằm mộng giữa ban ngày.’’ Nhân sinh tức là mộng, ngày nào thức tỉnh
thì ngày đó giác ngộ. Vị này đắc được môn giải thoát siêng nhiếp
thủ.
Chủ Dược Thần Chiên Ðàn Lâm, được môn giải thoát, dùng quang minh
nhiếp thủ chúng sinh, khiến cho người thấy được chẳng luống qua.
Vị Chiên Ðàn Lâm Chủ Dược Thần. Chiên đàn là tên cây, cây này có
hương thơm đặc biệt; rễ, cành và hoa đều có thể chế thành dầu thơm,
hương thơm tỏa ra hàng mấy dặm, còn có tác dụng làm thuốc. Thuốc
phân ra : Hàn, nhiệt, ôn, bình, bốn loại. Ví như Xuyên quân là dược
tính hàn, có tác dụng làm giảm bớt, có thể trị như thần, gọi là mãnh
tướng. Cam thảo là thuốc bình hòa, trị được trăm chất độc gọi là Cát
lão. Tê giác là thuốc giải nhiệt. Nhân sâm là thuốc bổ. Có bệnh gì
thì dùng thuốc đó để đối trị, phải hiểu chứng bệnh và biết rõ tính
thuốc, thì dù thuốc độc cũng là tiên đan (thuốc tiên), nếu không thì
thuốc tiên cũng biến thành thuốc độc, lầm lỡ mạng sống của người.
Vị Chủ Dược Thần này, minh bạch cảnh giới của Phật, dùng quang minh
để nhiếp thủ chúng sinh, khiến cho tâm niệm của chúng sinh không
luống qua, mà đắc được diệu dụng, đó là môn giải thoát vị này đắc
được.
Chủ Dược Thần Ly Trần Quang Minh, được môn giải thoát, dùng tịnh
phương tiện, diệt tất cả phiền não của chúng sinh.
Vị Ly Trần Quang Minh Chủ Dược Thần này, lìa khỏi sự nhiễm ô thế
gian, mà đắc được quang minh thanh tịnh. Vị này dùng phương tiện
pháp môn thanh tịnh, để diệt trừ tất cả phiền não của chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được quang minh thanh tịnh, trừ
khử sạch bệnh ngu si phiền não, đó là môn giải thoát của vị này đắc
được.
Chủ Dược Thần Danh Xưng Phổ Văn, được môn giải thoát, dùng tiếng
đồn lớn làm tăng trưởng vô biên biển căn lành.
Vị Danh Xưng Phổ Văn Chủ Dược Thần này, tiếng đồn rất lớn, xa gần
đều nghe. Ở trong chúng Chủ Dược Thần, vị này rất có danh vọng, ai
cũng đều biết. Vì thuốc của vị này trị được tập khí mao bệnh của
chúng sinh, hết thảy đều sinh ra đủ thứ căn lành. Vị này đắc được
cảnh giới của Phật, dùng tiếng đồn lớn để trị bệnh chúng sinh, khiến
cho chúng sinh nghe được tiếng đồn của Ngài mà phát tâm bồ đề, làm
tăng trưởng vô biên biển căn lành, đó là môn giải thoát của vị này
đắc được.
Hôm nay là ngày đầu tiên chúng ta cử hành niệm Phật thất. Trong bảy
ngày này, mọi người tụ hội lại với nhau, đều là có duyên cùng nhau
thành tâm niệm ‘’Nam mô A Di Ðà Phật’’, đây là cơ hội khó có được,
đừng để luống qua. Cho nên người tin Phật mượn sự nhàn rỗi trong sự
bận rộn để tham gia niệm Phật.
Tại sao phải tham gia niệm Phật thất ? Vì dùng sức của một người
niệm Phật có lúc sẽ gián đoạn, đề chẳng lên niệm này. Mọi người niệm
với nhau thì không thể gián đoạn. Do đó :
‘’Niệm Phật niệm được chẳng gián đoạn,
Miệng niệm Di Ðà thành một phiến,
Tạp niệm chẳng sinh đắc tam muội,
Vãng sinh Tịnh Ðộ chắc có phần,
Cuối cùng nhàm chán khổ Ta Bà,
Mới dứt tâm niệm cõi hồng trần,
Bèn cầu vãng sinh cõi Cực Lạc,
Buông bỏ nhiễm niệm quy tịnh niệm.’’
Trong bảy ngày này, chúng ta phải đắc được ‘’Niệm Phật tam muội’’,
thì mới chẳng lãng phí công phu. Càng khổ càng phải niệm, càng khó
càng phải niệm. Ðừng sợ khổ ! Ðừng sợ khó ! Ðừng coi trọng cái túi
da hôi thối này. Ngồi xuống thì cảm thấy lưng đau, đi thì cảm thấy
chân đau, niệm nhiều thì cảm thấy cổ khô và khan tiếng, chịu không
thấu. Chịu không thấu là ai ? Hà tất xem cái túi da hôi thối này quá
quý trọng ? Hãy vì pháp mà quên mình ! Thân này là giả, là vô
thường, đến lúc nó cũng sẽ bỏ đi.
Bây giờ bạn khách sáo với nó, bảo hộ nó,
thương tiếc nó, chẳng muốn nó chịu lạnh, chẳng muốn nó đói, chẳng
muốn nó khát, càng chẳng muốn nó bệnh. Bạn trợ giúp nó không ngừng,
coi chừng nó. Song, thời gian lâu dần thì nó từ từ suy giảm từng bộ
phận, mắt nhìn chẳng rõ ràng, tai nghe chẳng rõ, cho đến tứ chi
chẳng linh hoạt, thậm chí chẳng làm gì được. Ðến lúc đó bạn càng đối
với nó tốt, nó cũng chẳng nghe sự sai khiến của bạn, chẳng nghe lời
bạn. Vì vậy, cho nên chúng ta phải thừa lúc thân thể còn khỏe mạnh,
thì cố gắng tinh tấn niệm Phật, phải mượn cái giả tu cái thật. Ðiểm
này các bạn nên chú ý.
Có người nói : ‘’Năm ngoái tôi tham gia
niệm Phật thất, chẳng có cảm ứng gì, năm nay tôi không tham gia
nữa.’’ Ðây là quan niệm sai lầm. Chính vì năm ngoái chẳng đắc được
diệu dụng gì, cho nên năm nay càng phải nỗ lực niệm Phật, thì nhất
định sẽ đắc được diệu dụng. Người tu đạo phải tinh tấn hướng về
trước, đừng thối lùi về sau, phải ngày càng tinh tấn, phải ngày càng
thành tâm. Như thế thì mới có sự thành tựu.
Hai vị Tỳ Kheo ba bước một lạy, vì thế
giới hòa bình, lạy ở trong mưa trong gió, cũng chẳng cảm thấy là
khổ, đó là cảm ứng sự thành tâm. Các bạn niệm Phật ở trong phòng,
chẳng thể nói là khổ, cho nên phải nỗ lực niệm Phật, niệm được cảnh
giới ‘’Niệm Phật tam muội‘’, thì mới có công đức. Mọi người hãy nhất
tâm nhất ý niệm !
Chủ Dược Thần Mao Khổng Hiện Quang, được môn giải thoát, đại bi
tràng chạy nhanh đến tất cả cảnh giới bệnh.
Vị Mao Khổng Hiện Quang Chủ Dược Thần này, mỗi lỗ chân lông của Ngài
đều hiện ra đại quang minh. Quang minh này, khéo về chữa trị bệnh
tật của tất cả chúng sinh. Bất cứ chứng bệnh gì, chỉ cần quang minh
này chiếu đến thì sẽ khỏi. Vị Dược Thần này đắc được đại bi tràng,
cũng là từ bi tràng. Từ là ban vui, bi là cứu khổ. Từ bi hỷ xả là
bốn tâm vô lượng của Bồ Tát. Hết thảy tất cả căn lành, đều từ bốn
tâm vô lượng này sinh ra. Nhất là tâm từ càng quan trọng, trong sớ
văn có nói :
‘’Dùng sức từ căn lành,
Phóng nguyệt ái đẳng quang,
Thân tâm hai bệnh vừa niệm liền diệt.’’
Tâm từ là mẫu thể của căn lành, nếu chẳng có tâm từ thì tất cả căn
lành không thể tăng trưởng, cho nên phải tu ‘’Từ tâm tam muội,’’ mới
tăng trưởng căn lành được.
Tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và chư Phật, đều từ tâm từ mà
thành tựu. Tâm từ hay sinh căn lành, có công đức căn lành thì sẽ
chứng Phật quả. Cho nên, từ bi là pháp môn căn bản nhất, quan trọng
nhất của người tu đạo. Thường dùng tâm từ bi để hành bố thí, thì
công đức sẽ vô lượng vô biên, cho đến Bát Nhã cũng lại như thế. Do
đó, có thể biết tâm từ bi là hạnh môn quan trọng nhất, cho nên người
tu đạo phải:
‘’Lấy từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa.’’
Người hành Bồ Tát đạo phải đầy đủ từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng. Dùng
bốn tâm vô lượng này làm gốc, thì tất cả căn lành sẽ sinh ra. Sinh
ra rồi thì một thứ thần thông diệu dụng cũng đầy đủ, đây đều có mối
quan hệ với nhau. Thần thông diệu dụng chẳng phải vô duyên cớ mà có,
có tu hành mới có được. Các bạn nghĩ muốn có thần thông diệu dụng
chăng ? Thì hãy tu từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng. Khi nào tu viên mãn
thì lúc đó sẽ có thần thông. Vì thế, công phu tu hành là "cước đạp
thật địa", chứ chẳng phải may mắn mà có được.
Từ tức là Phật, Phật tức là từ, lại có
thể nói từ tức là pháp môn đại thừa, pháp môn đại thừa cũng chẳng
vượt ra khỏi từ này. Vì thế nói từ là hạnh môn quan trọng nhất. Nếu
lìa bỏ từ bi thì miễn bàn. Các bạn thấy đó, Ðức Phật tu hạnh môn
‘’Từ tâm tam muội.’’ và ‘’Nguyệt ái tam muội.’’
Bây giờ dùng công án để giải thích, gì là ‘’Từ tâm tam muội‘’? Ðức
Phật có vị đệ tử thông minh nhất đó là Ðề Bà Ðạt Ða (anh em chú bác
với Ðức Phật). Tuy Ðề Bà Ðạt Ða thông minh, nhưng tâm đố kỵ quá
nặng, ông ta muốn hại chết đức Phật để tự mình làm Phật, nên xúi dục
vua A Xà Thế thả voi say để hại chết đức Phật. Ðức Phật bèn nhập
‘’Từ tâm tam muội’’, duỗi năm ngón tay ra hóa thành năm con sư tử !
Sư tử hống lên một tiếng, thì lập tức voi say không dám hoành hành
nữa, mà cúi đầu quỳ xuống, bị đức Phật hàng phục.
Phật nói với đệ tử : ‘’Lúc đó, ngón tay của ta hóa thành sư tử, đó
là do sức căn lành mà thành tựu, ta dùng tâm đại từ bi để hàng phục
voi say.’’
Lại dùng công án nữa để giải thích, gì là ‘’Nguyệt ái tam muội‘’?
Khi Phật tại rừng Sa La song thọ, ở trong định quán sát thấy vua A
Xà Thế mắc bệnh nặng muốn tắt thở (vua A Xà Thế phạm trọng tội :
Giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hoà hợp Tăng, làm thân Phật
chảy máu). Phật mới nhập ‘’Nguyệt ái tam muội’’, phóng đại quang
minh. Thứ quang minh này mát mẻ giống như ánh sáng mặt trăng, chiếu
đến thân vua A Xà Thế, ông ta cảm thấy mát mẻ vô cùng, bệnh lập tức
khỏi ngay.
Trong pháp bốn mươi hai tay và mắt, có một tay gọi là Nguyệt tinh ma
ni thủ, hay trừ khử tất cả bệnh nhiệt. Chân ngôn rằng : ‘’Úm, tô tất
địa yết lý. Tát phạ hạ,’’ có hiệu quả không thể nghĩ bàn.
Vua A Xà Thế khỏi bệnh rồi, mới hỏi Kỳ Bà (ông ta là bác học đa văn)
: Gì gọi là ‘’Nguyệt ái tam muội ?‘’ Phật dùng ‘’Nguyệt ái tam
muội‘’ chữa lành bệnh của ta, ta chẳng hiểu đạo lý ‘’Nguyệt ái tam
muội,’’ ông hãy vì ta nói được chăng ? Kỳ Bà nói : ‘’Nguyệt ái tam
muội‘’ có sáu nghĩa :
1). Ánh sáng của mặt trăng, khiến cho
hoa Ưu bát la nở tươi đẹp rực rỡ. Nguyệt ái tam muội cũng như thế,
khiến cho tất cả chúng sinh mở rộng tâm lành, phát triển sâu xa bồ
đề tâm, vĩnh viễn chẳng thối chuyển.
2). Ánh sáng của mặt trăng, khiến cho
người đi đường hoan hỷ, phát ra ánh sáng vui mừng. Nguyệt ái tam
muội khiến cho người tu tập đạo Niết Bàn đều hoan hỷ, ai tu tập Phật
pháp, thì người đó bèn sinh tâm hoan hỷ.
3). Từ mồng một cho đến ngày rằm, đoạn
thời gian này, ánh sáng của mặt trăng càng ngày càng sáng, càng ngày
càng tròn đầy. Nguyệt ái tam muội cũng khiến cho căn lành của tất cả
chúng sinh tăng trưởng.
4). Từ ngày 16 đến 30, đoạn thời gian
này ánh sáng mặt trăng càng ngày càng giảm bớt, nguyệt ái tam muội
cũng khiến cho phiền não của tất cả chúng sinh giảm bớt.
5). Ánh sáng mặt trăng hay trừ khử sự
bực tức, tức cũng là trừ sạch sự nóng bức. Nguyệt ái tam muội hay
trừ khử bệnh nhiệt độc tham não của tất cả chúng sinh, khiến cho tâm
được mát mẻ.
6). Ánh sáng mặt trăng là vua trong các
vì sao, như cam lồ, ai ai cũng ưa thích. Nguyệt ái tam muội là vua
trong các điều thiện, cũng ví như cam lồ hay khiến cho trong tâm của
tất cả chúng sinh phát sinh cảm giác vui thích.
Ðây là Kỳ Bà trả lời cho vua A Xà Thế,
hỏi về đạo lý nguyệt ái tam muội. Bây giờ giải thích đạo lý : ‘’Thân
tâm hai bệnh, vừa niệm liền diệt.’’ Thân có ba bệnh tức là giết hại,
trộm cắp, tà dâm. Tâm có ba bệnh tức là tham sân si. Niệm từ tâm tam
muội và nguyệt ái tam muội, thì sẽ làm cho hai bệnh này tiêu diệt mà
đắc được mát mẻ. Người khoẻ mạnh, không những thân khoẻ mạnh, mà tâm
cũng phải khoẻ mạnh. Học Phật pháp thì hay khiến cho thân tâm đều
khoẻ mạnh. Tham thiền đả tọa là khiến cho sinh lý khỏe mạnh, nghiên
cứu kinh điển khiến cho tâm lý kiện toàn, cho nên nói Phật pháp là
thuốc diệu vô thượng, khiến cho thân tâm khoẻ mạnh.
Vị Mao Khổng Hiện Quang Chủ Dược Thần này, khiến cho tất cả chúng
sinh có bệnh hoạn, thấy được quang minh của Ngài rồi, thì hết thảy
bệnh đều khỏi hẳn. Thân tâm chẳng có bệnh, thì tinh thần mới thoải
mái, sinh hoạt an lạc, vị này đắc được môn giải thoát này.
Chủ Dược Thần Phá Ám Thanh Tịnh, được môn giải thoát, chữa trị
tất cả chúng sinh mù tối, khiến cho khai mở mắt trí huệ thanh tịnh.
Vị Phá Ám Thanh Tịnh Chủ Dược Thần này, hay phá tất cả vô minh, cho
nên đắc được thanh tịnh. Thanh tịnh là gì ? Ở trong sớ văn có nói :
‘’Mê lý mê báo, nhị ngu manh minh,
Khởi hoặc tạo nghiệp, bị thọ chúng khổ,
Phật dĩ chánh pháp kim bài, khai kỳ trí nhãn,
Khiến minh kiến tam đế, cố vân thanh tịnh.’’
Mê lý mê báo, tức là chẳng minh bạch chân lý cũng chẳng hiểu quả
báo, hai thứ ngu này giống như kẻ mù tối. Manh là người mù, gì cũng
chẳng nhìn thấy, minh là tối tăm chẳng linh, là người ngu si, gì
cũng chẳng hiểu, thấy cảnh khởi tham ái là kiến hoặc, mê lý khởi
phân biệt là ngu si. Hai hoặc này tức là ngu, cho nên nói nhị hoặc
manh minh, khởi hoặc tạo nghiệp thì thọ quả khổ.
Trong Kinh Niết Bàn quyển thứ tám, có một đoạn kinh văn : ‘’Bồ Tát
Ca Diếp bạch Phật rằng : Thưa Thế Tôn ! Phật tánh vì sao thâm sâu ?
Khó thấy khó vào ? Phật nói : Thiện nam tử ! Như trăm người mù, vì
muốn trị mắt, đi tìm lương y, lúc đó vị lương y dùng dụng cụ lôi
màng mắt ra, dùng một ngón tay chỉ ra, hỏi có thấy chăng ? Người mù
đáp, tôi chưa thấy, lại dùng hai ngón, ba ngón tay chỉ ra, mới nói
là thấy chút chút.’’
Trăm người mù là người chẳng thấy Phật
tánh, cũng là Bồ Tát chẳng minh tâm kiến tánh. Ví như thập địa Bồ
Tát, tại mỗi địa phải tu thập độ, thập địa, thành một trăm, cho nên
gọi là trăm người mù. Ðây là nói thập địa Bồ Tát chẳng thấy được
Phật tánh, cũng chẳng hiểu Phật tánh, đợi khi Phật chỉ thị cho các
Ngài rồi, thì mới cảm thấy kỳ quái, các Ngài từ vô thủy đã tu hành,
còn bị vô minh hoặc loạn, không thể minh bạch triệt để Phật tánh.
Thập địa Bồ Tát còn không dễ gì thấy được Phật tánh, hà huống là
Thanh Văn Duyên Giác, càng không dễ gì thấy được Phật tánh.
Có người nói rằng, ba ngón tay là biểu
thị ba đại A tăng kỳ kiếp, nhưng Ngài Thanh Lương quốc sư dùng tam
đế dụ cho ba ngón tay. Ngón thứ nhất là biểu thị tục đế, ngón thứ
hai biểu thị chân đế, ngón thứ ba biểu thị trung đạo. Tục đế là nói,
phàm là có đạo tâm, thì chắc chắn sẽ thành Phật, đều có Phật tánh.
Chân đế là biểu thị Phật tánh, là đệ nhất nghĩa không. Trung đạo là
nói Phật tánh, là hạt giống bồ đề vô thượng.
Chữa trị tất cả chúng sinh mù tối, tức
là phá hết thảy đen tối, phá vô minh, thì trí huệ sẽ hiện tiền. Mỗi
chúng sinh đều có mắt trí huệ, nếu khai mở mắt trí huệ, thì chiếu
thấy năm uẩn đều không, chiếu thật tướng của các pháp, vào sâu tạng
kinh, trí huệ như biển. Phàm là người trí huệ như biển, thì chắc
chắn biện tài vô ngại, bất cứ kinh điển gì đã học qua, hay chưa học
qua, đều giảng giải được. Ðạo lý giảng ra với đạo lý học được, đều
hoàn toàn khác nhau, vì những gì học được, là học theo sở học của
người khác, chứ chẳng phải là của mình. Nếu người khai mở mắt trí
huệ, thì những gì hiểu biết, đều từ trong tự tánh phát huy ra, cho
nên chẳng giống với những người khác.
Mắt trí huệ thì phá ngu si, ngu si như
là đen tối. Chúng sinh tối tăm chẳng linh, thì chẳng nghe sự giáo
hóa, chẳng nghe lời của bất cứ ai, chẳng giữ quy cụ. Hàn Dũ ở trong
văn cúng cá sấu có nói : ‘’Nếu ngươi tối tăm chẳng linh, thì ta dùng
tên độc bắn chế ngươi.’’ Khi ông ta nổi nóng dọa nạt quả nhiên cá
sấu bỏ chạy. Cá sấu là động vật tối tăm chẳng linh, còn có tri giác,
huống gì con người là loài linh trong vạn vật. Nếu chẳng giữ quy cụ,
chẳng y giáo phụng hành, tức là người tối tăm, tức cũng là người
chẳng cách chi giáo hóa. Nho Giáo có nói : ‘’Ðã không thể khiến, lại
chẳng nghe lời, là tuyệt vật vậy.’’ Nghĩa là kêu y đi chi phối
người, y chẳng có khả năng để chi phối người, nhưng y lại không nghe
sự giáo hóa của người, loại người này là vật vô dụng, là vật chết.
Mắt của con người bị mù chẳng quan trọng, bất quá nhìn chẳng thấy
vật gì. Tâm mà mù là mao bệnh quan trọng nhất, tức chẳng rõ chân lý,
chẳng hiểu nhân quả, tức cũng là mê lý mê báo.
Khai mở mắt trí huệ, thì bất cứ đạo lý gì, cũng đều tiếp nhận mà
giải, chẳng có chướng ngại gì cả. Có người nhìn thấy quỷ thần, đó
chẳng phải một số nhục nhãn của phàm phu thấy được, mà là do có thần
thông. Người tu đạo, ngoài ra còn có ngũ nhãn tức là: Phật nhãn,
pháp nhãn, huệ nhãn, thiên nhãn và nhục nhãn. Nhục nhãn trong ngũ
nhãn chẳng phải nhục nhãn của phàm phu chúng ta. Nhục nhãn này thấy
được vật hữu hình và vật có chướng ngại. Nhục nhãn này là một, còn
bốn nhãn kia đều là một, chẳng phải hai hàng cùng nhau. Phàm là
người đắc được ngũ nhãn, đều biết cảnh giới này. Người chẳng khai mở
ngũ nhãn, thì chỉ hiểu theo ở trong kinh điển đã nói, chớ chẳng biết
cứu kính. Cứu kính ngũ nhãn ở tại đâu ? Là ở trong tâm, chẳng lìa
khỏi tâm. Tự tâm này vốn có đủ, song tự tâm bị vô minh che lấp, cho
nên ngũ nhãn giống như mất hẳn. Nếu tu đạo hoặc tu quán chữ Phạn,
quán đi quán lại, thời gian lâu thì sẽ quán thành công, thì sẽ khai
mở ngũ nhãn đắc lục thông. Quán như thế nào ? Tức là quán tưởng chữ
Phạn, Lục tự đại minh chân ngôn : ‘’Úm ma ni bát mê hùm,’’ sáu chữ
Phạn. Lại có thể quán chữ Phạn tâm chú của Chú Lăng Nghiêm : ‘’Ðát
điệt tha ! Án, A na lệ, tỳ xá đề ...’’ Lại có thể quán bốn mươi hai
chữ tự mẫu diệu đà la ni của Hoa Nghiêm. Mỗi chữ đều bao hàm vô biên
nghĩa lý. Quán một chữ thành công, thì biết được cảnh giới ngũ nhãn
lục thông.
Lúc này có người hỏi : ‘‘Pháp sư ! Thầy
thế nào ? Có ngũ nhãn lục thông chăng‘’? Tôi và bạn chẳng giống
nhau, chẳng có gì phân biệt. Người chẳng khai mở ngũ nhãn, thì muốn
khai mở ngũ nhãn. Song, người đã khai mở ngũ nhãn, cũng có rất nhiều
việc phiền phức, có thể nhìn thấy thiên đường, có thể nhìn thấy địa
ngục, lại có thể thấy người, thấy quỷ, nhìn thấy rất nhiều sự vật.
Nếu không thể nhiếp tâm, định lực không đủ, thì dễ bị ma, đạo lý này
các bạn cần phải biết. Việc khai ngũ nhãn chẳng khai ngũ nhãn, đều
chẳng quan trọng, đừng cho rằng khai ngũ nhãn thì có nhiều lợi ích.
Khai ngũ nhãn giống như xem phim, xem truyền hình, bất quá xem nhiều
một chút mà thôi. Lại giống như máy lôi đạt (radar), bất quá phát
giác việc trước mà thôi. Người chẳng khai ngũ nhãn, giống như người
nhà quê, biết ít thì phiền não ít. Khi lên đến đô thị thì nhìn thấy
có ca vũ, có chiếu phim, có đánh bạc, nhìn thấy hàng trăm ngàn việc
kỳ quái, thì sinh ra phiền não.
Người đô thị và người nhà quê, vì hoàn
cảnh sinh sống chẳng giống nhau, sự cảm thọ cũng chẳng giống nhau,
người nhà quê trong tâm chẳng có nhiều phiền não, người khai ngũ
nhãn trong tâm có năm tấm lưới lôi đạt (radar), phải luôn luôn chiếu
cứ năm máy lôi đạt, sợ máy bay của địch hoặc hỏa tiển đến, đều phải
xem giữ máy lôi đạt, một bước cũng chẳng lìa, bạn nói phiền phức
chăng ? Nếu chẳng có máy lôi đạt, thì gì cũng chẳng biết, căn bản
vật gì cũng chẳng biết, như thế so ra rất tự tại hơn nhiều.
Vị Phá Âm Thanh Tịnh Chủ Dược Thần này, chữa trị tất cả chúng sinh
mù tối, khiến cho họ khai mở mắt trí huệ, minh bạch chân lý, hiểu
quả báo mà chẳng thọ các sự khổ, vị này đắc được môn giải thoát này.
Chủ Dược Thần Phổ Phát Hống Thanh, được môn giải thoát, hay diễn
âm thanh của Phật, nói nghĩa sai biệt của các pháp.
Vị Phổ Phát Hống Thanh Chủ Dược Thần này, phát ra tiếng hống có thể
truyền đạt khắp hết thảy pháp giới, chúng sinh trong mê mộng bị
tiếng hống đánh thức, do đó mau làm việc cần làm trong ngày, giống
như chúng ta sáng sớm đánh bản gỗ, đó là vô tình thuyết pháp, người
tu đạo phải tinh tấn tu học, không thể tham ngủ, ngủ là một lối đọa
vào địa ngục.
Vị Chủ Dược Thần này, đắc được môn giải thoát, hay diễn âm thanh của
Phật, nói nghĩa sai biệt của các pháp.
Âm thanh của Phật là gì ? Tức là tất cả âm thanh của thế gian, đều
là tướng lưỡi rộng dài của Phật. Nếu nói chẳng phải âm thanh của
Phật, thì bạn nói là âm thanh gì ? Có người nói : ‘’Người có âm
thanh của người, ngựa có âm thanh của ngựa, bò có âm thanh của bò.’’
Không sai, mỗi loài đều có âm thanh của mỗi loài. Song, đó đều là
thần thông diệu dụng của Phật biến hóa làm ra. Giống như thế giới
Cực Lạc ‘’Chim Bạch hạc, Khổng tước, Oanh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần
già, Cộng mệnh, các loài chim, sáu thời phát ra âm thanh hòa nhã,
diễn nói pháp: Năm căn, năm lực, bảy bồ đề phần, tám thánh đạo.
Những pháp như thế, đều do Phật A Di Ðà muốn khiến cho pháp âm tuyên
lưu mà biến hóa làm ra.’’ Thế giới Cực Lạc là như thế, thế giới Ta
Bà của chúng ta cũng như thế. Nếu biết nghe, thì tất cả âm thanh đều
là âm thanh của Phật, chẳng biết nghe, thì tất cả âm thanh đều là âm
thanh của quỷ.
Các pháp là gì ? Tức là: ‘’Sắc pháp mười một, tâm pháp tám, năm mươi
mốt tâm sở pháp, hai mươi bốn pháp bất tương ưng, sáu pháp vô vi,
cộng thành một trăm pháp.’’ Trăm pháp này tức cũng là các pháp, các
pháp ở đây là nói một pháp, chứ chẳng phải nói nhiều pháp. Song, ý
nghĩa một pháp này chẳng đồng, do đó:
‘’Một gốc tán làm vạn thù,
Vạn thù quy về một gốc.’’
Một có thể làm vô lượng, vô lượng có thể làm một, cho nên nói các
pháp sai biệt.
Sai biệt là gì ? Tức là có sự phân biệt. Một làm vô lượng, tức là
nhiều pháp; vô lượng làm một tức là một pháp. Một chẳng ngại nhiều,
nhiều chẳng ngại một. Một pháp tức là tất cả các pháp, tất cả các
pháp tức là một pháp. Chiếu theo Phật pháp mà nói, thì có tám vạn
bốn ngàn pháp môn là các pháp, các pháp mà phân biệt ra, thì cùng
tận kiếp cũng khó nói hết được.
Tu pháp môn tĩnh lự (thiền) mà thành công rồi, thì sẽ minh bạch tất
cả các pháp, đây gọi là :
‘’Chỉ đắc được gốc, chớ lo ngọn.’’
Ðắc được gốc rễ, thì chẳng lo về ngọn ngành. Gốc tức là một pháp. Do
đó :
‘’Ðược một vạn sự đều xong,’’
Ðắc được số ‘’một‘’ này rồi, thì việc gì cũng chẳng còn nữa. Song,
đắc được số ‘’một‘’ vẫn chưa xong. Có người nói: ‘’Sao lại chưa xong
? Trời được một nên trời thanh. Ðất được một nên đất yên.’’ Ý nghĩa
tôi nói chưa được, tức là đem số ‘’một‘’ biến thành số ‘’O.’’ Nếu
minh bạch ý nghĩa số ‘’O‘’ thì đắc được gốc. Cho nên chúng ta là
người tu đạo, thì phải tu số ‘’O‘’ này, tu số ‘’O’’ cho viên mãn,
thì tất cả mọi vấn đề, đều chẳng có vấn đề gì cả, chẳng có vấn đề gì
cả, tức là buông xả hết, thì chẳng có quái ngại.
Chủ Dược Thần Tế Nhật Quang Tràng, được môn giải thoát, làm thiện
tri thức cho tất cả chúng sinh, khiến cho người thấy đều sinh căn
lành.
Vị Chủ Dược Thần Tế Nhật Quang Tràng này, có thể che lấp ánh sáng
mặt trời và mặt trăng, giống như vầng mây che mặt trời. Còn có lối
giảng khác là tràng báu của vị Chủ Dược Thần này, phóng ra ánh sáng,
còn sáng hơn là mặt trời. Một câu trong kinh văn có rất nhiều ý
nghĩa, xem kiến giải của mỗi người như thế nào, do đó :
‘’Nhân giả kiến nhân, trí giả kiến trí’’.
Nghĩa là :
Người kiến giải sâu thì thấy sâu,
Người nông cạn thì thấy cạn.
Tôi là người nông cạn, do đó kiến giải cạn. Con người tôi chẳng phải
nhân của nhân từ, mà là một người như bao nhiêu người, cho nên chỗ
thấy với chỗ thấy của một số người đều giống nhau. Nói về trí huệ
thì đừng nói đến, chẳng phải là khiêm nhường, cũng chẳng phải là
khách sáo. Mỗi người đều có sự hiểu biết của người đó, cho nên tôi
cũng như thế.
Vị Chủ Dược Thần này, Ngài minh bạch một
phần cảnh giới của Phật, Ngài hay vì tất cả chúng sinh mà làm thiện
tri thức. Thiện tri thức thì hay khiến cho tất cả chúng sinh, xa lìa
mười điều ác, mà tu hành mười điều thiện, tức cũng là "đừng làm các
điều ác mà làm các điều lành". Ðây là cảnh giới của một vị đại Bồ
Tát, nếu chẳng phải là Bồ Tát thì không làm thiện tri thức của tất
cả chúng sinh. Tất cả chúng sinh ở đây là bao quát : Phi, cầm, tẩu,
thú, thai, noãn, thấp, hóa, Ngài đều tùy theo loài hóa hiện mà vì họ
nói pháp.
Thiện tri thức phân làm ba hạng, đó là:
Ðại, trung và tiểu. Ðại thiện tri thức là quán căn cơ mà thí giáo,
vì người nói pháp. Trung thiện tri thức là tùy lòng mong muốn của
chúng sinh, mà vì họ nói pháp, khiến cho chúng sinh cải biến tâm ô
nhiễm, thành tâm thanh tịnh. Tiểu thiện tri thức hay khiến cho chúng
sinh, trừ khử tập khí mao bệnh nhỏ.
Vị Chủ Dược Thần này là đại thiện tri thức, hay khiến cho người thấy
được đều sinh căn lành, hoặc là nghe nói pháp bèn sinh tâm từ bi hỷ
xả, đầy đủ bốn tâm vô lượng, thì sẽ gieo trồng đầy đủ căn lành.
Có người giảng đạo lý chánh tri chánh
kiến, hay làm thiện tri thức của chúng sinh, có người giảng đạo lý
tà tri tà kiến, chỉ làm ác tri thức của chúng sinh. Ác tri thức hay
dẫn chúng sinh đi vào đường tà, khiến cho người chẳng có tâm tham,
thì sinh ra tâm tham, khiến cho người chẳng có tâm sân, thì sinh ra
tâm sân, khiến cho chúng sinh chẳng có tâm si, thì sinh ra tâm si,
khiến cho chúng sinh chẳng có tâm đố kỵ, thì sinh ra tâm đố kỵ,
khiến cho chúng sinh chẳng có vọng tưởng, thì sinh ra vọng tưởng, đó
là hành vi của ác tri thức, trái ngược lại với thiện tri thức. Công
hiệu của thiện tri thức là chúng sinh có tham sân si thì khiến cho
họ tiêu diệt, chúng sinh có đố kỵ vọng tưởng, thì khiến cho tiêu
diệt. Dùng đạo lý chân chánh để giáo hóa, khiến cho họ cải tà quy
chánh.
Khi tôi ở tại quê hương miền Ðông bắc Trung Quốc, thì có gặp một thứ
ngoại đạo, chuyên môn dạy tín đồ làm hoàng đế. Họ nói: ‘’Nếu tin
theo đạo của ta, thì tương lai sẽ được làm hoàng đế, nếu chẳng tin
đạo của ta, thì muốn làm dân cũng chẳng làm được.’’ Thứ tư tưởng tà
kiến mê hoặc dân chúng này, khiến cho họ sinh tâm tham dục, đó là ác
tri thức. Cho nên, người tu đạo phải có con mắt chọn pháp, thấu rõ
chánh tà thị phi, phải đạo thì tiến, trái đạo thì lùi, bằng không
thì nguy hại suốt đời, chẳng đắc được chánh đạo.
Vị Chủ Dược Thần này, vì chúng sinh mà làm thiện tri thức, khiến cho
chúng sinh phát tâm bồ đề, tương lai sẽ thành Phật, Ngài đắc được
môn giải thoát này.
Chủ Dược Thần Minh Kiến Thập Phương, được môn giải thoát, thanh
tịnh đại bi tạng, hay dùng phương tiện, khiến cho chúng sinh, sinh
tâm tin hiểu.
Vị Chủ Dược Thần Minh Kiến Thập Phương này, vì Ngài có trí huệ quang
minh, cho nên thấy được tất cả chúng sinh trong mười phương, tức
cũng hiểu rõ căn tánh của tất cả chúng sinh trong mười phương. Ngài
đắc được thanh tịnh đại bi sám. Thanh tịnh tức là chẳng có nhiễm ô,
nhiễm ô tức là có ái và kiến. Ðại bi tức là đại từ đại bi. Tạng tức
là bao dùng hàm tạng. Bao dung đại từ, hàm tạng đại bi, từ hay ban
vui, bi hay cứu khổ. Tại sao phải nói thanh tịnh đại bi tạng ? Vì
chẳng có nhiễm ô kiến và ái. Ái mà một số chúng sinh minh bạch là ái
nhiễm ô, chứ chẳng phải ái thanh tịnh. Kiến (sự thấy) mà một số
chúng sinh minh bạch, là tà tri tà kiến, chứ chẳng phải chánh tri
chánh kiến. Từ ái thanh tịnh ở đây, chẳng có chút tạp niệm nhiễm ô;
kiến giải thanh tịnh ở đây, chẳng tạp lộn tơ hào tư tưởng bất chánh
đáng, cho nên mới gọi là thanh tịnh đại bi tạng.
Từ ái xuất thế gian và ái nhiễm ô của
thế gian, chỉ trong một niệm. Một niệm thiện thì thanh tịnh, một
niệm ác thì nhiễm ô. Niệm nhiễm ô và thanh tịnh là một niệm, chứ
chẳng phải hai niệm. Trong một niệm chẳng nhiễm ô, tức là thanh
tịnh; chẳng thanh tịnh tức là nhiễm ô. Cho nên ái của từ bi, hay cứu
chúng sinh lìa khổ được vui, đó tức là công đức. Có công đức từ ái
chúng sinh rồi, thì mới có thể dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để
khiến cho chúng sinh sanh tâm tin hiểu. Chúng sinh chẳng có tâm tin,
thì khiến cho họ sinh tâm tin, chúng sinh chẳng thấu hiểu, thì khiến
cho họ thấu hiểu. Vị Chủ Dược Thần này, minh bạch cảnh giới này, đắc
được môn giải thoát này.
Chủ Dược Thần Phổ Phát Oai Quang, được môn giải thoát, phương
tiện khiến cho họ niệm Phật, để tiêu diệt bệnh tật của tất cả chúng
sinh.
Vị Chủ Dược Thần Phổ Phát Oai Quang, có quang minh oai đức chiếu soi
khắp, khiến cho chúng sinh thấy được thứ oai quang này, thì trừ khử
đi tất cả bệnh tật. Ngài đắc được một phương tiện pháp môn, hay
khiến cho chúng sinh, sinh tâm tin niệm Phật, tâm nguyện niệm Phật,
tâm hạnh niệm Phật. Tóm lại, trước hết Ngài khiến cho chúng sinh
hoan hỷ, sau đó dạy chúng sinh niệm Phật, Ngài đắc được môn giải
thoát này.
Hiện nay chúng ta đang đả Phật thất, đây là pháp môn phương tiện. Có
người nói: ‘’Pháp môn niệm Phật chẳng phải là pháp môn phương
tiện.’’ Bất cứ một pháp môn nào, đều có thể nói là pháp môn phương
tiện, cũng có thể nói đều là chẳng phải pháp môn phương tiện. Vì
Phật pháp là hoạt động, chẳng phải cố định, cho nên pháp chẳng có
nhất định. Nếu nói Phật pháp nhất định, thì biến thành chấp trước,
đừng nên chấp trước, tất cả đều chẳng chấp trước phương tiện niệm
Phật.
Trước kia đả Phật thất, lúc bắt đầu ở
Trung Quốc, có rất nhiều người đắc được ‘’Niệm phật tam muội’’.
‘’Niệm Phật tam muội‘’, tức là cảnh giới nhất tâm bất loạn, một bụi
trần không nhiễm. Hiện tại ở tây phương đề xướng pháp môn tịnh độ,
cũng dạy người phát tâm niệm Phật, song pháp môn niệm Phật ở đây,
chẳng phải là niệm một niệm là thôi, mà là niệm từ từ, niệm Phật
niệm đến lúc gió thổi chẳng vào, mưa rơi chẳng lọt, thì sẽ chuyển
được cảnh giới sáu trần. Ví dụ như hiện nay ở tại Phật đường, có các
trẻ con chơi ồn ào, nếu bạn đắc được ‘’Niệm Phật tam muội‘’, thì cảm
thấy rằng đều đang niệm Phật, đang niệm A Di Ðà Phật. Trong pháp môn
niệm Phật, mà niệm một tiếng Phật, thì diệt trừ được tội nặng tám
mươi ức kiếp sinh tử, cho nên công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn.
Song, phải thành tâm để niệm Phật, phải đem chân tâm ra để niệm
Phật, thì mới có cảm ứng.
Hiện tại, Phật giáo ở tây phương mới bắt đầu, nhất định phải đào tạo
những đại Bồ Tát, đại Tổ Sư, đại Thánh nhân, những đại Bồ Tát, đại
Tổ sư, đại Thánh nhân ở trong chùa Kim Sơn. Ai chẳng sợ khổ, chẳng
sợ khó, chân thật tu hành, dụng công đến cực điểm, thì nhất định sẽ
thành tựu. Bất luận tu thiền, niệm Phật, tụng kinh hoặc trì chú, tu
pháp môn nào, cũng phải nhận chân tu hành, tơ hào đừng cẩu thả, dù
một giây phút cũng đừng bỏ qua, tinh tấn chuyên tâm nhất chí, thì
chắc chắn sẽ thành công. Tại sao chúng ta chẳng thành tựu ? Là vì
chẳng có dụng công tu hành như các đại Bồ Tát, đại tổ sư, đại Thánh
nhân. Người tu hành, nếu mà lười biếng giải đãi, thì tự mình lừa dối
mình, do đó có câu:
‘’Ông tu ông đắc,
Bà tu bà đắc,
Không tu không đắc.’’
Cho nên, tu hành là chân thật công phu, tu một phần thì có ích lợi
một phần, tiến về trước một bước, cách gần Phật một bước. Dũng mãnh
tinh tấn thẳng đến bờ kia.
Niệm Phật hay chữa trị được các bệnh
tật, bất cứ bệnh gì cũng đều có thể chữa, do đó một niệm trăm bệnh
tiêu trừ. Có người nói : ‘’Có thật chăng ! Ông thầy này phải chăng
là gạt người ! Chẳng niệm Phật thì chưa có bệnh, bây giờ đả Phật
thất, ngược lại có bệnh, làm sao có thể diệt trừ các chứng bệnh ? Ðó
chẳng phải là gạt người chăng‘’? Vì sinh bệnh mới diệt bệnh. Nếu
chẳng sinh bệnh thì làm sao diệt bệnh ? Các bạn hãy nghĩ kỹ xem,
sinh bệnh rồi sau đó chẳng còn nữa, đó tức là diệt bệnh. Nói cho bạn
biết : Chẳng những sẽ sinh bệnh mà còn phải chết, cho nên phải mau
dụng công tu hành, đến lúc quỷ vô thường đến, thì muốn tu hành cũng
tu chẳng kịp nữa. Ðến lúc đó, chẳng làm chủ được nữa, khổ sở khó tả.
Sinh bệnh là báo cho biết trước, kêu bạn phải mau tu hành, dụng
công, đừng bị mê mộng làm mê hoặc, đừng có cái này cũng buông chẳng
đặng, cái kia cũng xả không xong. Buông xả được thì sẽ khai ngộ,
buông chẳng đặng thì hồ đồ. Ðến lúc chết, buông chẳng đặng cũng phải
buông. Tôi thường nói với các bạn bài kệ này :
‘’Khuyên bạn làm thiện,
Bạn nói chẳng có tiền,
Ðây là có cũng không.
Khi tai họa xảy đến,
Thì dùng ngàn vạn,
Ðây là không cũng có.
Nếu nói với bạn làm việc thiện,
Bạn bảo chẳng có thời gian,
Ðây là đi cũng bận;
Một khi hết số tắt thở thì phải ra đi,
Ðây là bận cũng đi.’’
Bạn nghĩ xem, vì sao mà phải tu hành ? Tức là muốn liễu sinh thoát
tử, trừ khử đi những phiền não này.
Vị Chủ Dược Thần Phổ Quát Oai Quang này, hay diệt trừ bệnh khổ hoạn
nạn của tất cả chúng sinh, cho nên đắc được môn giải thoát này.
Bấy giờ, Chủ Dược Thần Cát Tường, nương oai lực của đức Phật,
quán sát khắp tất cả chúng Chủ Dược Thần, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Chủ Dược Thần Cát Tường, nương oai thần lực của Phật,
quán khắp tất cả chúng Chủ Dược Thần, mà nói ra bài kệ, để khen ngợi
công đức của Phật.
Trí tuệ Như Lai không nghĩ bàn
Ðều biết tất cả tâm chúng sinh
Hay dùng đủ thứ sức phương tiện
Diệt sạch quần mê vô lượng khổ.
‘’Trí huệ Như Lai không nghĩ bàn.’’ Viên mãn trí huệ của Phật không
thể nghĩ bàn. Chúng ta chúng sinh cũng có thứ không thể nghĩ bàn, đó
là ngu si, chẳng phân biệt thị phi, chẳng rõ chánh tà, cũng chẳng rõ
trắng đen, chẳng phân biệt thiện ác, màu đen nói là màu trắng, màu
trắng nói là màu đen, thiện nói là ác, ác nói là thiện, đó là tư
tưởng của người ngu si. Còn có một loại người ngu si nữa, không tốt
mà họ cho là tốt, tốt mà họ cho là không tốt. Pháp xuất thế nên tu
hành, mà họ nói là sai lầm chẳng đúng, pháp thế gian nên buông xả,
mà họ cứ khăng khăng ôm giữ chấp trước, đó là chỗ không thể nghĩ bàn
của chúng sinh.
Chúng sinh có trí huệ chăng ? Có. Có trí huệ của Phật chăng ? Cũng
có, bất quá bị vô minh che lấp mà thôi, cho nên tạm thời chẳng hiện
ra. Nếu tu hành thì lập tức sẽ hiện tiền. Giống như ánh sáng mặt
trời bị mây che lấp, ánh sáng mặt trời tức là trí huệ của chúng sinh
vốn có, vầng mây tức là ngu si. Ngu si là từ trong tham sân si sinh
ra, cho nên phải tu giới định huệ, thì tiêu diệt tham sân si.
Chúng ta hết thảy chúng sinh, nếu muốn khôi phục trí huệ vốn có, thì
nhất định phải tu giới, tu định, tu huệ. Giới tức là phòng ngừa làm
các điều ác, làm các điều lành. Bạn không làm các điều ác tức là
sinh định. Bạn hay làm các việc lành thì có công đức. Ðịnh phải có
nội công ngoại quả. Bên ngoài phải tu lục độ. Tu lục độ có chút cơ
sở thì có định. Cho nên phải dùng công đức bố thí, công đức trì
giới, công đức nhẫn nhục, công đức tinh tấn, để trợ giúp thiền định.
Thiền định sung túc thì sẽ sinh ra trí huệ. Nếu chẳng có bốn công
đức này, thì rất dễ lạc vào đường tà, vì sáu độ này là pháp môn tu
hành quan trọng nhất.
Người tu đạo nên nhớ đừng có tâm san tham, phải có tâm bố thí. Xả
được, xả được, phải xả thì mới được. Không xả thì không thể được. Do
đó, phải tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn. Những pháp môn
này đều trợ giúp cho sinh ra định, sau đó do định mà sinh ra huệ.
Công phu định lực sâu dày, thì sẽ sinh ra trí huệ. Ðịnh lực sâu dày
cũng giống như đọc sách, đọc nhiều rồi thì sẽ có tu dưỡng, cho nên
nói:
‘’Học vấn thâm sâu, thì ý khí bình.’’
Tu dưỡng tức là chẳng có tham sân si, chẳng có vô minh. Vô minh tuy
chẳng dễ gì đoạn, nhưng có thể khiến cho nó ngày càng giảm bớt, giảm
lại giảm đi thì chẳng còn nữa, công đáo tự nhiên thành. Dùng phương
pháp gì để giảm bớt vô minh ? Tức là dùng pháp môn Bát Nhã trí huệ,
có trí huệ Bát Nhã, thì sẽ phá trừ được đen tối vô minh, hiện ra
quang minh.
Cảnh giới không thể nghĩ bàn này, vốn không thể nói, vì không thể
nghĩ bàn. Hiện tại tôi trên đầu lại thêm đầu, nói ra mấy câu. Các
bạn đừng giống như tôi, cái đầu ở trên cái đầu, lại thêm cái đầu
nữa, biến thành ba cái đầu. Hai cái đầu đã không ít, lại thêm ba cái
đầu, trở thành ba đầu sáu tay. Các bạn xem ! Thánh tượng của Bồ Tát
Quán Thế Âm chẳng những chỉ có ba đầu sáu tay, mà còn có mười một
mặt, ngàn tay ngàn mắt, Bồ Tát Chuẩn Ðề cũng có nhiều tay như thế,
nhưng đó là thật có ba cái đầu. Bạn mà gắn lên ba cái đầu là chết,
chẳng tác dụng được gì cả.
‘’Ðều biết tất cả tâm chúng sinh’’. Trí huệ của Phật biết được tâm
của tất cả chúng sinh. Trong Kinh Kim Cang có nói :
‘’Tất cả chúng sinh,
Có bao nhiêu thứ tâm,
Như Lai đều biết đều thấy.’’
Có bao nhiêu chúng sinh, thì có bấy nhiêu thứ tâm. Làm sao Phật biết
được tâm của chúng ta chúng sinh ? Kỳ lạ thật ! Vậy thì chúng ta làm
gì, Phật cũng đều biết hết chăng ? Không sai. Chúng sinh làm gì,
nghĩ gì, Phật đều biết rõ ràng. Phật chẳng những biết tâm của chúng
sinh, mà còn thấy được việc làm của chúng sinh.
Mới vừa hỏi: ‘’Làm sao Phật biết được
tâm của chúng sinh‘’? Vấn đề này tạm thời chẳng nói, bây giờ cử ra
hai ví dụ khoa học để nói rõ về vấn đề này. Song, ví dụ này vốn
chẳng đúng, nhưng vì tôi chẳng có cách gì có thể dùng đúng để ví dụ,
chỉ có thể nói cái không đúng. Ví dụ không đúng này là gì ? Tức là
máy lôi đạt (radar), công năng của máy lôi đạt, bất cứ có bao nhiêu
sóng điện, nó đều có thể thu được, trên gương phát hiện hình ảnh.
Lại giống như máy vô tuyến điện, chỉ cần mở đúng tần số, thì tin tức
các nước đều thu được.
Ðức Phật là nhà khoa học vĩ đại, chẳng những Ngài có máy lôi đạt
(radar) hữu hình, mà còn có máy lôi đạt (radar) vô hình. Máy lôi đạt
vô hình này, hiện ra một cách tự nhiên. Trong mỗi tự tánh của chúng
sinh, đều có Phật tánh, Phật tánh tức là máy lôi đạt vô hình, song,
chúng sinh không thể quan sát, cho nên chẳng biết. Ðức Phật nhìn
thấy được máy lôi đạt vô hình, cho nên xưng là nhà khoa học vĩ đại.
Máy lôi đạt vô hình của Phật là gì ? Tức
là con mắt trí huệ. Vì mắt trí huệ đầy đủ, nên quán sát được nhân
duyên ngoài tám vạn đại kiếp, do đó siêu hơn là máy lôi đạt hữu
hình. Phàm là người khai mở ngũ nhãn, tức là trạm máy lôi đạt, biết
được nhân duyên ba đời.
Có người nói: ‘’Ví dụ này là sai lầm, hoàn toàn không đúng.’’ Lại có
người nói: ‘’Tức nhiên là biết không đúng, tại sao phải đưa ra làm
ví dụ‘’ ? Vì tìm chẳng ra ví dụ thứ hai, chỉ có thể dùng nó để làm
thí dụ. Hy vọng bạn đưa ra một thí dụ đúng, để nói cho tôi biết. Về
sau khi giảng kinh, thì tôi dùng ví dụ đúng đó của bạn để giảng.
Hiện tại tôi chẳng biết ví dụ gì đúng để hình dung, chỉ nói cái ví
dụ không đúng.
‘’Hay dùng đủ thứ sức phương tiện.’’ Sau
khi Phật biết tâm của chúng sinh rồi, thì mới dùng phương tiện để
giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, liễu
sinh thoát tử, sớm thành Phật đạo. Phật biết trong tâm chúng sinh bị
vô minh khóa chặt, mới dùng chìa khóa trí huệ để mở. Cửa trí huệ của
chúng sinh mở rồi, thì cửa ngu si đóng lại. Chúng ta người tu hành,
tức là tìm chìa khóa trí huệ. Khi nào tìm được thì khi đó sẽ khai
mở, cho nên cần phải nỗ lực niệm Phật, dụng công ngồi thiền, tức là
phương pháp tìm chìa khóa.
‘’Diệt sạch quần mê vô lượng khổ’’. Quần
mê tức là bạn, tôi, họ, tất cả chúng sinh. Phàm là người chưa chứng
quả, chưa ra khỏi tam giới, đều là chúng sinh mê. Khổ là gì ? Khổ
tức là chẳng hiểu biết chân lý. Nếu hiểu biết chân lý thì khổ chẳng
còn nữa. Làm thế nào có thể minh bạch được chân lý ? Thì phải học
tập Phật pháp. Học tập Phật pháp như thế nào ? Tức là phải phát tâm
trường viễn, suốt thuở vị lai, phát nguyện học tập Phật pháp: ‘’Con
muốn đời đời kiếp kiếp xuất gia tu hành, làm Tỳ Kheo hoặc làm Tỳ
Kheo Ni; con muốn đời đời kiếp kiếp làm cư sĩ nam hoặc cư sĩ nữ, con
muốn đời đời kiếp kiếp huân tu ở trong Phật pháp, chẳng lìa khỏi
Phật pháp. Sau khi con minh bạch Phật pháp, thì phải hoằng dương
Phật pháp, khiến cho ai ai cũng đều hiểu được chân thật nghĩa của
Phật pháp.’’ Phải phát nguyện như thế, thì mới có thể thành tựu. Tu
hành chẳng phát nguyện thì giống như hoa nở mà chẳng kết trái, chẳng
ích lợi gì.
Diệt vô lượng khổ, nói sao mà dễ quá.
Ðức Phật tâm niệm luôn luôn muốn diệt khổ của chúng sinh. Song, khổ
của chúng sinh này diệt rồi, thì khổ của chúng sinh kia lại xuất
hiện. Khổ của chúng sinh đó diệt rồi, thì khổ của chúng sinh nọ lại
hiện ra, giống như sóng, sóng trước diệt rồi, thì sóng sau sinh ra,
sinh sinh không ngừng, sóng cũng giống như chúng sinh, vĩnh viễn
chẳng gián đoạn. Song, vẫn phải tiêu diệt vô lượng khổ của chúng
sinh. Tuy diệt chẳng hết, nhưng nhất định cũng phải diệt. Vì Phật
biết khổ của chúng sinh chẳng dễ gì diệt, cho nên muốn làm công việc
khó làm này, để giáo hóa chúng sinh.
Hiện tại có người phát tâm cứu thế giới, hạo kiếp (tai nạn lớn của
nhân gian) này chẳng phải sức của một người làm được, phải cần sự
kết hợp sức lực của mọi người lại, mới có thể vãn hồi hạo kiếp.
Song, bạn thì chờ tôi, tôi thì chờ họ, cứ trông chờ với nhau, ai
cũng chẳng phát tâm bồ đề, để cứu độ tất cả chúng sinh, thì thế giới
này sớm sẽ đến ngày tàn.
Cứu vãn thế giới, ai ai cũng đều có trách nhiệm, chẳng màng có ai
làm việc này hay không, tôi trước hết phải tận hết trách nhiệm của
mình, chẳng chờ người khác làm. Như thế, thì mới có hy vọng vãn hồi
thế giới này, nếu không như thế, thì mọi người chẳng có cơ hội sinh
tồn.
Ðại hùng khéo léo khó dò lường
Phàm có làm gì chẳng luống qua
Ðều khiến chúng sinh diệt các khổ
Chiên Ðàn Lâm Thần ngộ như thế.
‘’Ðại hùng khéo léo khó dò lường‘’. Ðại hùng tức là Phật. Vì Phật là
đại anh hùng, đại trượng phu, đại đạo sư. Ba tên gọi này chỉ có Phật
mới đủ tư cách để thọ nhận. Chúng ta một số chúng sinh, tự cho là
anh hùng, tự cho là trượng phu, tự cho là đạo sư, kỳ thật đều chẳng
có đủ tư cách. Chỉ có Phật mới đảm đương được tên gọi này.
Thế nào mới gọi là đại anh hùng ? Anh
hùng ở đây chẳng phải vung đao múa kiếm, dùng sức phục người, mà là
tu hạnh người khác không thể tu, nhẫn điều mà người khác không thể
nhẫn, chịu các sự khổ mà người khác không chịu được. Tóm lại, việc
mà người khác làm không được mà Ngài đều làm được. Nếu người khác
làm được, Ngài cũng làm được; người khác không làm được, Ngài cũng
làm không được, thì đó chẳng phải là đại anh hùng.
Giống như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ba A
tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp trồng tướng tốt. Trong thời gian dài
như thế chỉ có tinh tấn, chẳng giải đãi. Trong quá khứ, Phật tu đủ
thứ khổ hạnh, tuy là khổ nhưng chẳng sinh tâm thối chuyển, cho nên
cuối cùng Ngài đã thành Phật, đó là tu hạnh môn mà người khác không
thể tu được.
Thế nào là nhẫn nhục được, mà người khác
không thể nhẫn ? Giống như đức Phật trong quá khứ tu hành, thì bị
vua Ca Lợi chặt đứt tứ chi thân thể, đó là sự nhẫn nhịn mà một số
người không thể nhẫn thọ, song Ngài đều nhẫn thọ được, chẳng những
nhẫn thọ được, mà còn phát nguyện : ‘’Khi tôi thành Phật, sẽ độ ông
trước nhất.’’ Tại sao Phật phát nguyện như thế ? Vì vua Ca Lợi là
thiện tri thức của Ngài, trợ giúp Ngài tăng trưởng tâm bồ đề, thành
thục đạo quả. Tâm từ bi của Ngài thật là vĩ đại ! Chẳng những chẳng
sân hận vua Ca Lợi, ngược lại còn độ vua Ca Lợi trước.
Thế nào là chịu các thứ khổ mà người
khác không chịu được ? Chúng ta chẳng biết sám hối, cho rằng một
ngày ăn một bữa, ngủ ngồi, là có sự tu hành, cho rằng đó là thiên
thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Hãy xem đức Phật tu hành ở trong
núi Tuyết, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, mà chẳng cảm thấy khổ, vì
pháp quên mình. Chúng ta có sữa bò uống, có gạo ăn, có bánh mì, có
rau tươi, muốn ăn mặn thì thêm chút muối, muốn ăn ngon thì thêm chút
gia vị, hằng ngày trong đầu óc đều nghĩ món ăn, hôm nay có đậu hũ ăn
chăng ? Cứ vọng tưởng về ăn uống, thì làm sao mà tu hành.
Bây giờ đang đả Phật thất, thân đang đi nhiễu Phật, miệng đang niệm
Phật, mà tâm thì đi xuống nhà bếp, rằng hôm nay buổi trưa như thế
nào ? Có ai đến cúng dường chăng ? Ðó chẳng phải là đả Phật thất, mà
là "thực thất". Chúng ta phải nghĩ xem, đức Phật chịu đựng các thứ
khổ, mà người khác không chịu được, đó mới là một vị đại anh hùng,
đại trượng phu, đại đạo sư, được làm thầy của chúng ta. Chúng ta có
vị thầy anh hùng như thế, thì nên vui mừng, thật là may mắn. Chúng
ta nên làm đồ đệ của vị đại anh hùng, nên tranh đệ nhất với đức
Phật. Ðức Phật xưa kia chịu khổ như thế, tại sao ta chịu không được
? Chúng ta nhất định phải làm đồ đệ của vị đại anh hùng, mới không
hổ thẹn lương tâm.
Phương tiện thiện xảo của Phật nói pháp,
là quán sát căn cơ giáo hóa chúng sinh, pháp môn này khó dò lường
được. Pháp môn phương tiện của Phật dung, chẳng giống phương tiện
pháp môn của chúng ta chúng sinh dùng. Pháp môn phương tiện của Phật
dùng, thì có chúng sinh tiếp thọ giáo hóa; phương tiện pháp môn của
chúng ta chúng sinh, chẳng có chúng sinh tiếp thọ giáo hóa. Tại sao
? Ðây là vấn đề ‘’duyên‘’, vì Phật kết duyên với chúng sinh, cho nên
chúng sinh muốn tiếp thọ sự giáo hóa của Phật; chúng ta chẳng kết
duyên với chúng sinh, cho nên chúng sinh chẳng hoan hỷ nghe sự giáo
hóa của chúng ta. Từ điểm này mà nhìn, thì chúng ta phải rộng kết
chúng duyên, rộng mở cửa phương tiện, chứ chẳng phải cho chúng sinh
thêm phiền não.
Phật trong ba A tăng kỳ tu phước tu huệ,
trong trăm kiếp trồng ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp. Công
đức viên mãn lấy đạo đức để cảm hóa người, chẳng dùng sức bức bách
đi chinh phục người, cho nên trong thâm tâm của chúng sinh sinh ra
bội phục, đều tôn kính Ngài, tín ngưỡng Ngài. Nho Giáo cũng có nói
rằng:
‘’Dùng sức mà phục người,
Thì tâm họ chẳng phục,
Sức chẳng thiện vậy.
Dùng đức phục người,
Thì tâm họ vui vẻ mà thành phục vậy.’’
Từ điểm này thấy rằng, chúng ta phải tu phước tu huệ, mới phục được
người. Tu như thế nào ? Tức là cứ làm lợi ích cho mọi người, đó là
tu phước; tu trì lợi cho chính mình, đây là tu huệ. Tức là dùng trí
huệ Bát Nhã để trợ giúp chính mình, dùng từ bi hỷ xả để giúp đỡ
người.
Vậy cứu cánh dùng pháp môn phương tiện
nào, để đúng với căn cơ của chúng sinh ? Ðó thì Phật mới biết được,
chúng ta chúng sinh chẳng có trí huệ, cho rằng là đúng, ngược lại
biến thành không đúng; cho rằng là không đúng, ngược lại biến thành
đúng. Cho nên, pháp môn thiện xảo phương tiện rất khó dò lường.
‘’Phàm có làm gì chẳng luống qua.’’ Nhất cử nhất động của Phật, cho
đến lời nói việc làm, đều là lợi ích chúng sinh, cho nên phàm là làm
gì, đều chẳng luống qua vô dụng. Chúng ta chúng sinh làm gì cũng đều
luống qua, uổng phí công phu, song chính mình chẳng biết được.
‘’Ðều khiến chúng sinh diệt các khổ.’’ Hy vọng duy nhất của Phật là,
muốn giáo hóa chúng sinh lìa khổ được vui. Mục đích duy nhất của
Phật là, muốn cứu được chúng sinh liễu sinh thoát tử, như thế thì,
tất cả khổ não của chúng sinh chẳng còn nữa.
‘’Chiên Ðàn Lâm Thần ngộ như thế.’’ Các đạo lý như thế, các cảnh
giới như thế, vị Chủ Dược Thần Chiên Ðàn Hương Lâm, minh bạch nên
vào được môn giải thoát này.
Ông quán các Phật pháp như thế
Thuở xưa siêng tu vô lượng kiếp
Mà trong các cõi chẳng chấp trước
Ly Trần Quang Thần vào môn này.
‘’Ông quán các Phật pháp như thế.’’ Hiện tại kêu hết thảy chúng sinh
hãy quán sát, quán sát Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai,
pháp của tất cả chư Phật ba đời đều như thế.
Như thế là như thế nào ? Nói tóm gọn tức là ba thân, bốn trí, năm
nhãn, sáu thông. Thần thông biến hóa của Phật, tám vạn bốn ngàn pháp
môn đều như thế. Như thế lại như thế nào ? Tức là: ‘’Ngôn ngữ đạo
đoạn, tâm hành xứ diệt,’’ do đó có câu : ‘’Khẩu dục ngôn nhi từ tán,
tâm dục duyên nhi lự vong.’’ Nghĩa là chẳng có gì đáng nói, cũng tức
là như thế. Vậy các Phật pháp như thế, thì làm thế nào đắc được pháp
như thế ? Lại làm thế nào đắc được pháp như như bất động, liễu liễu
thường minh ? Một câu dưới đây nói rất rõ ràng.
‘’Thuở xưa siêng tu vô lượng kiếp.’’ Làm
thế nào đắc được pháp như thế ? Là trong vô lượng kiếp về trước, chư
Phật siêng tu giới định huệ, tiêu diệt tham sân si mà đắc được. Từ
vô lượng kiếp đến hiện tại, trải qua thời gian dài như thế, siêng tu
các pháp, siêng tu pháp như thế, siêng tu đạo như thế, cho nên hiện
tại mới thành tựu quả vị Phật như thế. Công phu quả vị Phật như thế,
tức là từ hai chữ ‘’siêng tu‘’ mà đắc được.
Khi Phật tu đạo thì chẳng những ngày
tinh tấn, mà đêm cũng tinh tấn. Phật vì cầu Phật pháp, vì thành Phật
đạo mà bố thí hết thảy tất cả, cung hành thực tiễn, cước đạp thật
địa, lão lão thật thật đi tu hành.
‘’Mà trong các cõi chẳng chấp trước.’’ Các cõi tức là tam giới các
cõi. Tam giới là dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Trong dục giới có
mười bốn cõi (bốn đường ác, bốn đại châu, sáu cõi trời). Ở sắc giới
có bảy cõi (bốn cõi trời thiền, trời Vô Tưởng, trời Tịnh Không, trời
Phạm Thiên). Tại vô sắc giới có bốn cõi (trời Không vô biên xứ, trời
Thức vô biên xứ, trời Vô sở hữu xứ, trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ)
cộng lại là hai mươi lăm cõi.
Chẳng chấp trước tức là chẳng chấp người, cũng chẳng chấp pháp, hai
chấp đều không. Nếu như có chấp ngã và chấp pháp, thì không thể nào
được giải thoát, cho nên chẳng chấp trước bất cứ gì.
‘’Ly Trần Quang Thần vào môn này.’’ Vị Chủ Dược Thần Ly Trần Quang
Minh, ngộ vào được môn giải thoát này.
Phật trăm ngàn kiếp khó gặp được
Nếu ai thấy được và nghe danh
Thảy đều lợi ích chẳng luống qua
Môn này Phổ Xưng Thần thấu rõ.
‘’Phật trăm ngàn kiếp khó gặp được.’’ Phật pháp khó nghe, thân người
khó được, thiện tri thức khó gặp, do đó:
‘’Pháp nhiệm mầu thâm sâu vô thượng,
Trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được,
Nay con thấy nghe được thọ trì,
Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai.’’
Pháp này, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được, trăm ngàn vạn kiếp chẳng
dễ gì gặp được Phật, có khi gặp được Phật cũng chẳng biết, vì căn
lành không đầy đủ, nhân duyên chẳng thành thục, cho nên thấy mà
chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, bỏ lỡ cơ hội, cho nên nói khó gặp
được. Việc qua rồi mới biết, nhưng lúc đó thì chẳng biết, do đó:
‘’Người trong cuộc thì mê,
Người bàng quan thì rõ.’’
‘’Nếu ai thấy được và nghe danh.’’ Nếu như gặp được Phật, hoặc nghe
danh của Phật, thì chúng sinh đó đều đắc được vô lượng lợi ích.
‘’Thảy đều lợi ích chẳng luống qua.’’ Phàm là chúng sinh thấy Phật
nghe danh, thì sẽ không luống qua, nhất định sẽ đắc được lợi ích,
khiến cho tất cả chúng sinh lìa khỏi phiền não, đắc được giải thoát.
‘’Môn này Phổ Xưng Thần thấu rõ.’’ Vị Chủ Dược Thần Danh Xưng Phổ
Văn, thấu rõ được môn giải thoát này.
Trong mỗi lỗ lông của Như Lai
Ðều phóng quang minh diệt các nạn
Phiền não thế gian đều khiến sạch
Môn này Hiện Quang Thần vào được.
‘’Trong mỗi lỗ lông của Như lai.’’ Trong mỗi lỗ chân lông của Phật,
đều phóng ra trí huệ quang minh để nói pháp.
‘’Ðều phóng quang minh diệt các nạn.’’ Phật dơ tay, dở chân, hoặc
phóng quang động địa, đều có nhân duyên, tức là muốn lợi ích chúng
sinh, để diệt các hoạn nạn. Có hoạn nạn thì chẳng cát tường. Phật
khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được cát tường, tiêu diệt sạch
hết tất cả hoạn nạn. Phật phóng đại quang minh chiếu khắp thân chúng
sinh. Bất cứ loài chúng sinh nào, cũng đều đắc được lợi ích, cứu ra
khỏi ba cõi, liễu sinh thoát tử, vĩnh viễn thoát khỏi khổ nạn trong
luân hồi.
‘’Phiền não thế gian đều khiến sạch.’’ Tại thế gian rất nhiều phiền
não, phiền não này chẳng dễ gì tiêu sạch được, song Phật hiện đại
thần thông, tiêu trừ tất cả chướng phiền não của chúng sinh. Phiền
não chướng tiêu trừ, thì trí huệ sẽ tăng trưởng.
‘’Môn này thiện Quang Thần vào được.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược
Thần Mao Khổng Hiện Quang đắc được.
Tất cả chúng sinh ngu si mù
Hoặc nghiệp các khổ vô lượng biệt
Phật đều trừ sạch khai trí huệ
Như thế Phá Ám Thần thấy được.
‘’Tất cả chúng sinh ngu si mù.’’ Chúng sinh thật đáng thương xót, tự
mình cho rằng mình có trí huệ, kỳ thật là ngu si nhất, hồ đồ nhất.
Ði vào hầm sinh tử mà tự mình chẳng hay biết. Tại sao lạc vào hầm
sinh tử ? Vì quá ngu si, ngu si như là kẻ mù, người mù đi thì rất dễ
rớt xuống sông, hoặc rớt xuống giếng, chẳng biết sự nguy hiểm chết
bất cứ lúc nào. Chúng ta chúng sinh ngu si muốn chấm dứt sinh tử, mà
tìm chẳng được lối ra, chẳng biết làm thế nào có thể liễu sinh thoát
tử ? Thoát khỏi sáu nẻo luân hồi ?
‘’Hoặc nghiệp các khổ vô lượng biệt’’. Mê hoặc tức là ngu si. Vì
chúng sinh khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, ở trong vòng sinh tử,
không vượt ra được, ở trong đó chuyển lại chuyển đi, chẳng biết làm
gì, cho nên các sự khổ vô lượng vô biên khác nhau.
‘’Phật đều trừ sạch khai trí huệ.’’ Phật thấy chúng sinh đáng thương
như thế, cho nên diệt trừ các hoặc nghiệp khổ và ngu si mù tối của
tất cả chúng sinh, như ánh sáng mặt trời chiếu khắp, khiến cho chúng
sinh khai mở đại trí huệ.
‘’Như thế Phá Ám Thần thấy được.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần
Phá Ám Thanh Tịnh, quán sát và thấy được.
Tiếng nói Như Lai không hạn lượng
Khai mở tất cả biển pháp môn
Chúng sinh nghe được đều hiểu rõ
Môn giải thoát này của Ðại Âm.
‘’Tiếng nói Như Lai không hạn lượng.’’ Phật dùng một âm thanh diễn
nói pháp, chúng sinh tùy loài đều hiểu được, cho nên nói chẳng có
hạn lượng.
‘’Khai mở tất cả biển pháp môn’’. Một âm thanh này, đầy đủ tất cả âm
thanh, tất cả pháp, tất cả nghĩa, cho nên nói khai mở tất cả biển
pháp môn.
‘’Chúng sinh nghe được đều hiểu rõ.’’ Hết thảy chúng sinh nghe được
âm thanh của Phật, giống như thấy được mặt trời, cảm thấy mặt trời
chiếu soi đến mình, Phật đang vì mình nói pháp, hoàn toàn minh bạch
hiểu rõ.
‘’Môn giải thoát này của Ðại Âm’’. Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần
Phổ Phát Hống Thanh đắc được.
Ông quán Phật trí khó nghĩ bàn
Hiện khắp các cõi cứu quần sinh
Khiến cho người thấy được cảm hóa
Ðây sở ngộ của Tế Nhật Tràng.
‘’Ông quán Phật trí khó nghĩ bàn.’’ Bạn hãy quán sát Phật từ vô
lượng kiếp đến nay, đều tu đại trí đại huệ, tâm không thể nghĩ được,
không thể nói được. Cảnh giới này, trí huệ của chúng ta chẳng đạt
đến được, cho nên mới nói khó nghĩ bàn.
‘’Hiện khắp các cõi cứu quần sinh’’. Các cõi tức là bốn đường ác,
tức cũng là chúng sinh tội nghiệp sâu nặng. Tâm bi thiết thiết của
Phật, thấy các cõi chúng sinh điên đảo, Phật bèn dùng đại oai thần
lực, thị hiện đủ loại thân ở trong các cõi, để giáo hóa chúng sinh.
Trong đường A tu la, thì Phật thị hiện A tu la cang cường khó điều
phục, dùng thân đồng loại để giáo hóa chúng, khiến cho chúng cải ác
hướng thiện. Ðến địa ngục cũng lại như thế. Tóm lại, ở trong cõi nào
thì Phật thị hiện thân đó, để giáo hóa chúng sinh đó, vì như thế thì
dễ giáo hóa hơn.
‘’Khiến cho người thấy được cảm hóa’’. Phật dùng sức thần thông để
giáo hóa chúng sinh, cho nên tất cả chúng sinh đều được Phật cảm
hoá, y theo pháp mà tu hành, không sinh ác niệm.
‘’Ðây sở ngộ của Tế Nhật Tràng’’. Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần Tế
Nhật Tràng giác ngộ thâm sâu.
Như Lai đại bi biển phương tiện
Vì lợi thế gian mà xuất hiện
Rộng mở chánh đạo dạy chúng sinh
Kiến Thập Phương Thần thông đạt được.
‘’Như Lai đại bi biển phương tiện’’. Phật dùng pháp môn đại bi
phương tiện để cứu độ chúng sinh. Pháp môn phương tiện này, rộng lớn
như biển cả, cho nên nói là biển phương tiện.
‘’Vì lợi thế gian mà xuất hiện.’’ Phật vì lợi ích chúng sinh hữu
tình thế gian, mà xuất hiện ra đời, rộng nói pháp phương tiện, khiến
cho chúng sinh đi trên con đường bồ đề giác ngộ.
‘’Rộng mở chánh đạo dạy chúng sinh.’’ Chánh đạo tức là chánh pháp,
Phật rộng mở chánh pháp, để chỉ thị cho chúng sinh con đường thoát
khỏi ba cõi, tức cũng là đi đến cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ.
‘’Kiến Thập Phương Thần thông đạt được.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược
Thần Minh Kiến Thập Phương, thông đạt thấu rõ được.
Như Lai khắp phóng đại quang minh
Chiếu soi khắp tất cả mười phương
Khiến chúng niệm Phật sinh công đức
Giải thoát này của Phát Oai Quang.
‘’Như Lai khắp phóng đại quang minh.’’ Phật trụ ở trong đại quang
minh tạng, tận hư không khắp pháp giới, đều ở trong đại quang minh
tạng của Phật, cho nên nói Như Lai khắp phóng ra đại quang minh.
Tôi vì các bạn giảng đạo lý mà một số người không tin, song quỷ sẽ
tin, thần cũng sẽ tin. Tại sao ? Vì con người quá thông minh, cũng
có thể nói là quá ngu si. Người quá thông minh thì lại thái quá,
không tin; người quá ngu si lại bất cập cũng chẳng tin. Là đạo lý gì
? Tức là "thư viện". Khắp nơi ở nhân gian của chúng ta đều có thư
viện. Thư viện phải có người quản lý, để quản lý giữ gìn, không để
cho thư viện sinh trùng làm tổn hại, mà phải làm cho sạch sẽ, đẹp
đẽ. Song, có những người giữ gìn quá độ, thậm chí đem sách ở thư
viện về nhà, để trên đầu giường để giữ gìn, như thế cũng sẽ có sự
tổn thất.
Có người nói: ‘’Pháp sư ! Thầy giảng
những đạo lý đó chẳng cao siêu, ai cũng biết, rất là nông cạn.’’ Bạn
đừng gấp vội. Bây giờ tôi nói đạo lý cao siêu. Giống như Ðại Tạng
Kinh, nhất định phải giữ gìn chu toàn. Nước này không được thái
bình, thì chuyển đến nước khác để bảo tồn. Nếu nước đó cũng không
thái bình, thì chuyển đến nước thái bình để bảo tồn. Giữ đi giữ lại
đến khi chết, thì bộ Ðại Tạng Kinh đó, chẳng biết do ai đến giữ gìn
? Lúc đó, có người nghĩ, đây là nói đạo lý gì ? Càng nói càng bình
thường. Hiện tại, tôi đang nói cái thư viện chẳng bình thường. Nếu
bạn khai mở pháp nhãn, thì sẽ nhìn thấy thư viện tận hư không khắp
pháp giới, chẳng biết có bao nhiêu ? Song, những thư viện đó chẳng
cần người giữ gìn, cũng chẳng tổn thất. Mỗi ngày đều có vô số các vị
A La Hán và Bồ Tát ở tại đó, xem vô lượng pháp tạng. Mỗi vị Thánh
nhân đều đang ở tại đó, đọc kinh mà đọc chẳng hết. Song, bộ kinh đó
chẳng cần giữ gìn. Nếu người chẳng có Phật nhãn, pháp nhãn, huệ
nhãn, thì chẳng biết được cảnh giới này. Cho nên, nếu nói ra cảnh
giới này thì chẳng có ai tin. Tôi biết các bạn chẳng tin, nhưng
không thể không nói, đến lúc nói thì nhất định phải nói.
Vậy những kinh điển này ở đâu ? Nói là
tận hư không khắp pháp giới, song, trong hư không gì cũng chẳng có,
làm sao có nhiều kinh điển như thế ? Bạn nói trong hư không gì cũng
chẳng có, song, trong hư không gì cũng đều có, chỉ là người mù mắt
nhìn chẳng thấy cảnh giới diệu hữu. Giống như, Như Lai khắp phóng
đại quang minh, mà người chẳng có mắt, thì nhìn chẳng thấy quang
minh.
‘’Chiếu soi khắp tất cả mười phương.’’ Tất cả chúng sinh trong mười
phương thế giới, đều được đại quang minh của Phật chiếu đến. Do đó
‘’Phật quang phổ chiếu.’’ Quang minh của Phật siêu hơn ánh sáng mặt
trời ngàn vạn lần. Ánh sáng mặt trời chỉ chiếu dương chẳng chiếu âm,
quang minh của Phật thì chẳng những chiếu dương mà còn chiếu âm, cho
nên nói chiếu khắp hết thảy.
‘’Khiến chúng niệm Phật sinh công đức.’’ Phật hay khiến cho tất cả
chúng sinh đều phát tâm niệm Phật, hay niệm Phật thì diệt trừ được
tất cả bệnh tật, tất cả tội nghiệt và tất cả nghiệp chướng. Tội
nghiệt diệt trừ, bệnh cũng chẳng còn, thì sẽ sinh ra công đức. Công
đức sinh ra thì sẽ phát bồ đề tâm, tu vô thượng đạo, cứu kính thành
Phật.
Chúng ta người tu đạo đừng háo cao vụ
viễn, cao rồi lại muốn cao, xa rồi lại càng muốn xa. Sự việc trước
mắt còn chẳng minh bạch, suốt ngày đến tối cứ muốn xem đá ở trên mặt
trăng như thế nào ? Song, đá ở trái đất còn chưa biết rõ nguồn gốc
của nó, thành phần của nó, cấu tạo của nó, lại hà tất phải biết đá
trên mặt trăng ? Ðó tức là bỏ gần cầu xa, bỏ gốc tìm ngọn. Loại
chúng sinh đó, Phật cũng chẳng có biện pháp. Làm thế nào ? Những
chúng sinh đó, đã quên chính mình mà nương tựa người, tức cũng là bỏ
đất của mình, mà trồng đất của người khác.
‘’Giải thoát này của Phát Oai Quang.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược
Thần Phổ Phát Oai Quang đắc được.
Ðại sư Thiên Thai Trí Giả, lúc đọc tụng Kinh Pháp Hoa, tụng đến Phẩm
Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương : ‘’Là chân tinh tấn, gọi là chân pháp
cúng dường Như lai’’, khi ấy thân tâm khoát nhiên nhập định, thấy
pháp hội Linh Sơn vẫn chưa tan. Trí Giả đại sư bèn đến chỗ của Ngài
Huệ Tư đại sư thỉnh cầu ấn chứng.
Ðại sư nói:
‘’Phi nhữ mạc thức, phi ngã mạc chứng.‘’
Nghĩa là:
Chẳng phải ông không ngộ,
Chẳng phải ta không chứng.
Bèn đem tông pháp yếu truyền thọ cho Ngài, về sau làm Tổ thứ ba của
tông Thiên Thai.
Lại nữa, Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như Vân, được môn giải thoát, trí
hải tạng rộng lớn vô biên.
Vị Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như vân, Ngài phân bố biển hoa sen như mây.
Ngài là vị Thần thống lãnh quản lý cây rừng, ở trong Phật giáo đại
thụ (cây lớn) gọi là cây quỷ thần, vì quỷ thần đều ở trong cây lớn.
Cho nên khi gặp cây lớn, thì phải đặc biệt coi chừng. Vị Thần cây
này đắc được môn giải thoát, trí huệ hải tạng rộng lớn vô biên. Trí
hải tạng là gì ? Vì trí huệ lớn như biển, ở trong trí hải lại hàm
tàng công đức, lại phóng quang minh, cho nên gọi là trí hải tạng.
Chủ Lâm Thần Diệu Cán Thư Quang, được môn giải thoát, tu trị khắp
thanh tịnh rộng lớn.
Vị Chủ Lâm Thần Diệu Cán Thư Quang, Ngài có thể khiến cho hết thảy
Thần cây, càng ngày càng lớn lên, và phóng ra quang minh thanh tịnh.
Ngài tu pháp môn thanh tịnh rộng lớn, thanh tịnh tức là chẳng có tâm
nhiễm ô. Tâm nhiễm ô là gì ? Tức là có tư tưởng nhiễm ô về ái tình,
cho nên người tu đạo, trước hết là phải tu đoạn dục khử ái, công phu
này mà tu viên mãn, thì tất cả đều thanh tịnh. Vị Chủ Lâm Thần Diệu
Cán Thư Quang này, hay khiến cho khắp hết thảy chúng sinh, đắc được
pháp môn thanh tịnh không nhiễm, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Lâm Thần Sinh Nhạ Phát Diệu, được môn giải thoát, tăng trưởng
các thứ mầm niềm tin thanh tịnh.
Vị Chủ Lâm Thần Sinh Nhạ Phát Diệu, hay sinh ra mầm thanh tịnh, phát
sáng trí huệ quang minh. Thứ quang minh này, hay tăng trưởng mầm bồ
đề tín tâm thanh tịnh, khiến cho chúng sinh tương lai đắc được quả
bồ đề. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Lâm Thần Cát Tường Tịnh Diệp, được môn giải thoát, tất cả
công đức thanh tịnh trang nghiêm tụ.
Vị Chủ Lâm Thần Cát Tường Tịnh Diệp, cây rừng của Ngài quản lý, vừa
thanh tịnh vừa trang nghiêm, nhất là khiến cho lá cây rất sạch sẽ,
có thể nói là một hạt bụi cũng không nhiễm. Ngài đắc được môn giải
thoát này, là do thanh tịnh, công đức, trang nghiêm, ba thứ tích tụ
lại với nhau.
Chủ Lâm Thần Thuỳ Bố Diễm Tạng, được môn giải thoát, phổ môn
thanh tịnh, môn giải thoát tu trị khắp thanh tịnh huệ, luôn du lãm
khắp cùng pháp giới.
Vị Chủ Lâm Thần Thùy Bố Diễm Tạng, Ngài có diễm tạng thùy bố. Thứ
ánh sáng lửa ngọn này chiếu khắp mười phương, khiến cho hết thảy cây
rừng đều thanh tịnh, giống như đắc được trí huệ, Ngài hay du lãm
khắp pháp giới. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Lâm Thần Diệu Trang Nghiêm Quang, được môn giải thoát, biết
khắp tất cả biển hạnh của chúng sinh, mà giăng bủa mây pháp.
Vị Chủ Lâm thần Diệu Trang Nghiêm Quang, có quang minh vi diệu trang
nghiêm, biết được tất cả biển hạnh môn tu hành của hết thảy chúng
sinh, lại giăng bủa tất cả pháp như mây, khiến cho chúng sinh đắc
được thanh lương. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Lâm Thần Khả Ý Lôi Thanh, được môn giải thoát, nhẫn thọ tất
cả tiếng nói bất như ý, diễn nói âm thanh thanh tịnh.
Vị Chủ Lâm Thần Khả Ý Lôi Thanh, khả ý nghĩa là toại tâm như ý. Âm
thanh của Ngài tuy là như tiếng sấm, nhưng khiến cho tất cả chúng
sinh nghe được, mà sinh tâm hoan hỷ, Ngài hay nhẫn thọ được tất cả
âm thanh bất như ý. Âm thanh khả ý là âm thanh thuận, âm thanh bất
như ý là âm thanh nghịch. Âm thanh thuận là âm thanh hoan hỷ, âm
thanh nghịch là âm thanh phỉ báng. Chẳng màng là âm thanh khả ý hay
bất khả ý, Ngài đều nhẫn thọ được, lại có thể diễn nói âm thanh vi
diệu thanh tịnh, khiến cho chúng sinh biết được lợi ích của Phật
pháp. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Lâm Thần Hương Quang Phổ Biến, được môn giải thoát, hiện khắp
mười phương những cảnh giới hạnh môn, rộng lớn tu hành trong quá
khứ.
Vị Chủ Lâm Thần Hương Quang Phổ Biến, có phảng phất mùi thơm, lại có
trí huệ quang minh, chiếu soi đến khắp mười phương. Trong mười
phương thị hiện khắp những hạnh môn tu hành trong quá khứ. Những
cảnh giới hạnh môn này rộng lớn vô biên, không thể nghĩ bàn, bất khả
thuyết, tất cả tập khí mao bệnh đều tu trị chẳng còn nữa, thanh tịnh
minh bạch, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Lâm Thần Diệu Quang Hướng Diệu, được môn giải thoát, dùng tất
cả pháp công đức nhiêu ích tất cả thế gian.
Vị Chủ Lâm Thần Diệu Quang Hướng Diệu, có trí huệ quang chiếu soi
tất cả cây rừng của đại địa, tức cũng là chiếu soi tất cả chúng
sinh. Ngài dùng tất cả pháp công đức, để nhiêu ích hết thảy chúng
sinh thế gian, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được lợi ích.
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Lâm Thần Hoa Quả Quang Vị, được môn giải thoát, hay khiến cho
tất cả chúng sinh, đều thấy Phật xuất hiện ra đời, thường cung kính
niệm chẳng quên trang nghiêm công đức tạng.
Vị Chủ Lâm Thần Hoa Quả Quang Vị, hay khai hoa Bát Nhã của chúng
sinh, để chúng sinh kết quả bồ đề. Ngài hay phóng ra quang minh Bát
Nhã, hiện ra vị đề hồ. Ngài đắc được cảnh giới của Phật, hay khiến
cho tất cả chúng sinh, đều gặp Phật xuất hiện ra thế giới này. Ngài
lại luôn cung kính nghĩ nhớ Phật, luôn luôn chẳng quên Phật. Vì có
công đức cho nên đặc biệt trang nghiêm, công đức tích tụ nhiều thành
tạng. Tạng tức là công đức bao hàm trang nghiêm, vi diệu, thù thắng.
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chúng ta học Phật pháp, học được một chút mà thực hành một chút, thì
mới có lợi ích. Nếu học mà chẳng thực hành, thì giống như chẳng học.
Nghe kinh nghe pháp, thì nên cung hành thực tiễn, y giáo phụng hành.
Ðừng sợ biết ít, chỉ sợ không tu hành; biết nhiều mà chẳng tu hành,
thì cũng chẳng ích gì. Cho nên phải lão lão thật thật tu hành, như
thế thì mới tiến bộ; tụ cát thành tháp, dần dần sẽ tu thành chánh
quả.
Tại chùa Kim Sơn hàng ngày giảng kinh
thuyết pháp, các bạn hằng ngày nghe kinh nghe pháp, không ngại gió
mưa, chưa từng gián đoạn. Cho nên, Phật pháp ở chùa Kim Sơn giống
như mạch máu trên thân người, không thể đoạn tuyệt. Hy vọng các bạn
mọi người sau khi nghe rồi, thì nên y chiếu đạo lý Phật pháp để tu
hành. Dụng công như thế, thì mới không lãng phí thời gian quý báu.
Các bạn đều là thanh niên trẻ, mà đến học Phật pháp thật là hiếm có.
Nếu chẳng nhận chân tu hành thì chẳng có chút giá trị gì.
Bất cứ là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Sa di, Sa di ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ,
đều nên sinh tâm đại tinh tấn, sinh tâm đại dũng mãnh, để học tập
Phật pháp, mới không cô phụ tâm ý phát nguyện lúc ban đầu. Các bạn
hãy xem thế giới hiện tại, chẳng có nơi nào được an lạc, ai ai cũng
ôm ấp sợ chiến tranh thế giới thứ ba. Ai ai cũng đều ôm lòng sợ hãi,
nghĩ muốn đi tránh tai nạn này. Người người nên hồi quang phản
chiếu, sửa đổi tâm địa của mình. Như thế thì sẽ có cơ hội cứu vãn.
Vậy thế giới có loạn chăng ? Thế giới
chẳng loạn. Người có loạn chăng ? Người cũng chẳng loạn. Bất quá là
tâm của con người loạn, nên làm cho thế giới chẳng an ninh. Chúng ta
là người học Phật pháp, phải khơi dậy trách nhiệm tâm chân chánh,
phải trị bệnh tâm là tham sân si. Nếu ai ai cũng chẳng bệnh ba độc
này, thì gia đình sẽ hạnh phúc, xã hội an ninh, nước nhà giàu mạnh,
thế giới hòa bình. Như thế thì sẽ trở thành thế giới đại đồng.
Hiện tại Phật giáo ở Á châu ngày càng suy đồi. Phật giáo ở Mỹ Châu
thì ngày càng hưng thịnh, muốn Phật giáo hưng thịnh, thì nhất định
phải nhận chân tu hành. Cho nên chúng ta những người xuất gia và tại
gia của chùa Kim Sơn, đừng nên giải đãi, làm biếng, mọi người cùng
nhau tu hành, có việc thì mọi người làm, có pháp thì mọi người học,
đừng đố kỵ chướng ngại. Nếu không như thế, thì sống ở đây chẳng có
đại ý nghĩa gì. Chúng ta ngày ăn một bữa, ngủ ngồi, nếu không nhận
chân tu hành, thì chẳng có giá trị. Các vị thiện tri thức ! Thời
gian quý báu, không thể tùy tiện để cho trôi qua, phải luôn luôn tự
cảnh tỉnh mình, tự hỏi mình đang ở đây làm gì ?
Bấy giờ, Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như Vân, nương oai lực của đức Phật,
quán sát khắp tất cả chúng Chủ Lâm Thần, mà nói ra bài kệ.
Lúc đó, vị Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như Vân, nương đại oai thần lực của
đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Lâm Thần, lại dùng kệ để
giảng giải đạo lý ở trên chưa nói hết.
Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề
Phước đức trí huệ đều viên mãn
Tất cả các lực đều đầy đủ
Phóng đại quang minh hiện ra đời.
‘’Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề.’’ Thuở xưa Phật tu hành, tích tập hạnh
bồ đề, là từ gần đến xa, từ cạn vào sâu. Thuở xưa Phật và chúng ta
đều là phàm phu, bất quá Phật siêng năng tinh tấn tu đủ thứ hạnh.
Khi Phật chưa tu hành thì chẳng có hạnh bồ đề. Nhưng về sau dần dần
tích tu hạnh bồ đề, do đó ‘’Từ không mà có.’’ Về sau lại tu đủ thứ
hạnh bồ đề, do đó ‘’Từ một mà nhiều.’’ Có một hạnh bồ đề thì tụ tập
nhiều hạnh bồ đề. Vì khi Phật tu hành, thì chẳng bỏ việc thiện nhỏ
mà không làm, tức là việc thiện dù nhỏ như sợi tóc, cũng phải đi làm
công đức, cho nên tập ít thành nhiều. Các khổ hạnh mà Phật tu, chẳng
phải là một số người chịu đựng được. Một số người không tu được, mà
Ngài tu được, do đó mà hạnh bồ đề tụ tập thành nhiều.
‘’Phước đức trí huệ đều viên mãn.’’ Phật
tu phước đức đầy đủ, trí huệ cũng đầy đủ, đây gọi là phước huệ đều
đầy đủ. Phước đức viên mãn, trí huệ cũng viên mãn, đây gọi là phước
huệ song viên.
‘’Tất cả các lực đều đầy đủ.’’ Phật tu mười lực đều đầy đủ viên mãn,
chỉ có Phật mới tu đầy đủ mười lực. Mười lực này ở trước đã giảng
qua rồi.
‘’Phóng đại quang minh hiện ra đời.‘’ Sau khi Phật tu thành Phật
rồi, thì liền phóng đại quang minh mà xuất hiện ra thế gian, để giáo
hóa chúng sinh, nói với chúng sinh rằng :
‘’Biển khổ mênh mông, quay đầu là bờ.’’
Cửa bi vô lượng đồng chúng sanh
Thuở xưa Như Lai khắp tịnh trị
Cho nên hay lợi ích cho đời
Ðây sở ngộ của Diệu Cán Thần.
‘’Cửa bi vô lượng đồng chúng sinh.’’ Bi hay cứu khổ tất cả chúng
sinh, cửa bi có nhiều vô lượng vô biên, tức là có bao nhiêu chúng
sinh, thì có bấy nhiêu cửa từ bi.
‘’Thuở xưa Như Lai khắp tịnh trị.’’ Như Lai tức là "thừa như thật
đạo, lai thành chánh giác". Thuở xưa Phật tu đủ thứ hạnh môn, cho
nên khiến khắp tất cả hạnh môn thanh tịnh mà trị lý.
‘’Cho nên hay lợi ích cho đời.’’ Vì nguyên nhân đó, cho nên Phật ở
trên thế gian, đều có lợi ích cho tất cả chúng sinh. Lợi ích gì ?
Khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui.
Nếu có chúng sinh gặp được Phật
Ðều khiến họ vào biển tin sâu
Mở bày tất cả đạo Như Lai
Giải thoát này của Diệu Nhạ Thần.
‘’Nếu có chúng sinh gặp được Phật.’’ Tất cả chúng sinh chẳng dễ gì
gặp được Phật, nghe được Phật pháp càng khó hơn. Bất cứ đến nơi nào,
có tháp hoặc có chùa, thấy tượng Phật, thì đều là người có căn lành
lớn. Người chẳng có căn lành, thì chẳng có cơ hội gặp Phật, nghe
pháp, thấy Tăng. Phật Pháp Tăng Tam Bảo chẳng dễ gì gặp được. Nếu
như có chúng sinh gặp được Phật, hoặc tượng Phật, thì đó là nhờ căn
lành đời trước gieo trồng.
‘’Ðều khiến họ vào biển tin sâu.’’ Nhất định khiến cho chúng sinh đó
minh bạch Phật pháp, tin sâu Phật pháp, niềm tin lớn như biển, vĩnh
viễn chẳng thối chuyển, chẳng khô cạn.
‘’Mở bày tất cả đạo Như Lai.’’ Phật từ bi chỉ thị cho tất cả chúng
sinh, khiến cho họ minh bạch đạo của Phật tu hành, thành tựu quả vị
Phật.
‘’Giải thoát này của Diệu Nhạ Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Sinh
Nhạ Phát Diệu Chủ Lâm Thần đắc được.
Một lỗ lông tụ các công đức
Biển kiếp tuyên dương không hết được
Chư Phật phương tiện khó nghĩ bàn
Tịnh Diệp thấu rõ nghĩa lý này.
‘’Một lỗ lông tụ các công đức.’’ Trong một lỗ lông của Phật, hiện
được mười phương cõi nước. Cảnh giới này chẳng phải phàm phu minh
bạch được, trong một lỗ lông của Phật có thể tụ tập tất cả công đức.
‘’Biển kiếp tuyên dương không hết được.’’ Kiếp không thể nói nhiều
như biển cả, tuyên dương công đức trong một lỗ lông của Phật cũng
không thể nào hết được. Tại sao nói không hết được ? Vì vô lượng vô
biên.
‘’Chư Phật phương tiện khó nghĩ bàn.’’ Cho nên cảnh giới pháp môn
phương tiện của Phật không thể nghĩ bàn.
‘’Tịnh Diệp thấu rõ nghĩa lý này.’’ Vị Chủ Lâm Thần Cát Tường Tịnh
Diệp, thấu rõ được đạo lý thâm sâu này.
Tôi nhớ Như Lai thuở quá khứ
Cúng dường bụi cõi vô lượng Phật
Mỗi chỗ đức Phật trí sáng dần
Ðây sở ngộ của Diễm Tạng Thần.
‘’Tôi nhớ Như Lai thuở quá khứ.’’ Vị Chủ Lâm Thần Thùy Bố Diễm Tạng
nói: ‘’Tôi nhớ Như Lai ở trong vô lượng kiếp về trước.’’
‘’Cúng dường sát trần vô lượng Phật.’’ Từng dùng đủ thứ đồ bố thí,
để cúng dường chư Phật, nhiều như số hạt bụi của cõi nước.
‘’Mỗi chỗ đức Phật trí sáng dần.’’ Ở mỗi chỗ Ðức Phật cúng dường
rồi, phước cũng trang nghiêm, trí cũng trang nghiêm; phước huệ đều
đủ, trí huệ quang minh ngày càng tăng dần.
‘’Ðây sở ngộ của Diễm Tạng Thần.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Lâm Thần
Thùy Bố Diễm Tạng thấu rõ được.
Tất cả chúng sinh các biển hạnh
Thế Tôn một niệm đều biết rõ
Trí vô ngại rộng lớn như thế
Diệu Trang Nghiêm Thần ngộ vào được.
‘’Tất cả chúng sinh các biển hạnh.’’ Tất cả chúng sinh tức là: Thai,
noãn, thấp, hóa, đều bao quát ở trong đó. Các biển hạnh tức là tất
cả hành vi của mỗi chúng sinh, nghiệp tạo của mỗi chúng sinh, tư
tưởng của mỗi chúng sinh, do đó : ‘’Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ
báo,’’ tức cũng do tạo vô lượng vô biên nghiệp, cho nên thọ vô lượng
vô biên quả báo.
‘’Thế Tôn một niệm đều biết rõ.’’ Phật ở trong một niệm, hoàn toàn
biết tâm của chúng sinh, do đó:
‘’Tất cả chúng sinh, bao nhiêu thứ tâm,
Như Lai đều biết đều thấy.’’
Cho nên, Phật chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không thấy.
‘’Trí vô ngại rộng lớn như thế.’’ Trí huệ vô chướng ngại rộng lớn vô
biên như thế.
‘’Diệu Trang Nghiêm Thần ngộ vào được.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ
Lâm Thần Diệu Trang Nghiêm Quang, minh bạch mà ngộ nhập.
Hằng diễn Như Lai tịch diệu âm
Khắp sinh hoan hỷ không sánh được
Tùy sở thích hiểu đều khiến ngộ
Ðây pháp tu hành của Lôi Âm.
‘’Hằng diễn Như Lai tịch diệu âm.’’ Hằng thường bất biến, diễn nói
tịch diệu âm của Như lai. Âm thanh của Như lai tịch tĩnh vi diệu.
‘’Khắp sinh hoan hỷ không sánh được.’’ Hay khiến cho tất cả chúng
sinh, đều sinh ra một thứ đại hoan hỷ không thể sánh được.
‘’Tùy sở thích hiểu đều khiến ngộ.’’ Chúng sinh nghe được tịch diệu
âm của Như lai, tùy thuận âm thanh hoan hỷ, đều hiểu đạo lý thâm sâu
này mà khai ngộ, do đó :
‘’Phật dùng một âm diễn nói pháp,
Chúng sinh tùy loài đều hiểu được.’’
‘’Ðây pháp tu hành của Lôi Âm.’’ Phương pháp này vị Chủ Lâm Thần Khả
Ý Lôi Âm tu hành.
Như Lai thị hiện đại thần thông
Mười phương cõi nước khắp hết thảy
Xưa Phật tu hành đều khiến thấy
Phổ Hương Quang Thần vào môn này.
‘’Như Lai thị hiện đại thần thông.’’ Như Lai tức là Phật, Phật tức
là Thế Tôn, Thế Tôn tức là Như Lai. Ba tên mà một thể, danh xưng tuy
nhiều, kỳ thật tức là Phật. Phật là nửa chữ Phạn, đầy đủ là Phật đà
gia, dịch nghĩa là "giác giả", tức là người giác ngộ. Phật là người
có trí huệ nhất của thế gian và xuất thế gian. Song, mình có trí huệ
cũng dạy chúng sinh có trí huệ, mình đã thành Phật cũng dạy chúng
sinh thành Phật. Cho nên nói, Phật giáo là nhân giáo, là chúng sinh
giáo. Vì Phật pháp rộng lớn vô biên, chẳng màng bạn tin Phật cũng
tốt, đều ở trong Phật giáo, chẳng vượt ra ngoài phạm vi Phật giáo.
Cho nên tất cả chúng sinh đều có cơ hội thành Phật, bất quá thời
gian sớm muộn mà thôi.
Phật giáo là bình đẳng nhất, vô tư nhất,
ai mà chiếu theo Phật pháp tu hành, thì người đó sẽ được trí huệ. Ai
không tu hành, thì chẳng đắc được trí huệ chân chánh. Ðược trí huệ
chân chánh, thì được giải thoát chân chánh, được giải thoát chân
chánh, thì lìa khổ được vui.
Chúng ta chúng sinh tại sao vẫn là chúng sinh ? Vì điên điên đảo
đảo, lấy phải làm trái, lấy trái làm phải, khi chẳng phân biệt được
phải trái rõ ràng, thì rất dễ làm việc điên đảo. Chúng ta học Phật
pháp, tức là học không điên đảo, không điên đảo tức là được thanh
tịnh, được thanh tịnh tức là an vui.
Phật chẳng động đạo tràng thị hiện đại
thần thông; thần thông tức là trong không biến có, trong có biến
không, biến hóa vô cùng, ẩn hiển khó dò.
‘’Mười phương cõi nước khắp hết thảy.’’ Phật ở trong mười phương cõi
nước, khắp hết thảy đều hiện pháp thân.
‘’Xưa Phật tu hành đều khiến thấy.’’ Những hạnh môn thuở xưa Phật tu
hành, đều khiến cho tất cả chúng sinh hoàn toàn thấy được.
‘’Phổ Hương Quang Thần vào môn này.’’ Môn giải thoát này, vị Hương
Quang Phổ Biến Chủ Lâm Thần vào được.
Chúng sinh xiểm nịnh chẳng tu đức
Mê hoặc trầm luân trong sinh tử
Vì họ xiển minh các trí đạo
Ðây sở thấy của Diệu Quang Thần.
‘’Chúng sinh xiểm nịnh chẳng tu đức.’’ Xiểm nịnh chẳng nói lời chân
thật, tâm của chúng sinh chẳng ngay thẳng, thích nói lời giả dối,
cho nên chẳng tu đức. Dạy họ tâm ngay thẳng tu chánh đạo, nhưng
chẳng dễ gì học được. Nếu dạy họ tâm quanh co tu tà đạo, thì họ sẽ
biết rành. Tại sao ? Vì tâm quanh co ai cũng có, cho nên nói chúng
sinh xiểm nịnh chẳng tu đức.
‘’Mê hoặc trầm luân trong sinh tử.’’ Mê tức là chẳng hiểu rõ sự lý.
Mê nghi về lý là kiến hoặc, mê nghi về sự là tư hoặc. Vì chẳng minh
bạch lại nghi hoặc, cho nên trầm luân ở trong biển khổ sinh tử.
‘’Vì họ xiển minh các trí đạo.’’ Phật vì những chúng sinh mê hoặc
đó, mà xiển minh nói rõ tất cả đạo lý có trí huệ, khiến cho họ ngộ
hiểu, đắc đạo bồ đề.
‘’Ðây sở thấy của Diệu Quang Thần.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Lâm Thần
Diệu Quang Hướng Diệu thấy được.
Phật vì chúng sinh nghiệp chướng nặng
Trải qua ức kiếp mới xuất hiện
Khiến cho họ thường gặp được Phật
Ðây vị Quang Thần quán sát được.
‘’Phật vì chúng sinh nghiệp chướng nặng.’’ Phật niệm niệm chẳng quên
chúng sinh nghiệp chướng sâu nặng, ở trong niệm niệm đều muốn cứu họ
ra khỏi biển khổ, song, nghiệp chướng của chúng sinh vừa sâu vừa
nặng, cho nên không thể cảm ứng đạo giao.
‘’Trải qua ức kiếp mới xuất hiện.’’ Vì chúng sinh nghiệp chướng quá
nặng, cho nên phải trải qua thời gian lâu dài, thậm chí ức kiếp,
Phật mới xuất hiện ra đời.
‘’Khiến cho họ thường gặp được Phật.’’ Tất cả chúng sinh ở trong
niệm niệm muốn gặp được Phật, thì Phật cũng ở trong niệm niệm khiến
cho chúng sinh thường thấy được Phật.
‘’Ðây vị Quang Thần quán sát được.’’ Ðạo lý này, vị Chủ Lâm Thần Hoa
Quả Quang Vị, quán sát được cảnh giới này.
Lại nữa, Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai
Hoa, được môn giải thoát, nhập vào đại tịch định quang minh.
Vị Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa, Ngài ở trên ngọn núi báu có thể
khai nở hoa sen lớn, chẳng những tươi thắm mà còn trang nghiêm. Ngài
là Thần quản lý núi, nếu chẳng có Thần quản lý thì núi sẽ dời đi.
Hiện tại có Thần quản lý, cho nên chẳng dám di động. Chủ Sơn Thần đa
số là loài thú chúa ở trong núi, như cọp, xưng là Thần núi. Vị Chủ
Sơn Thần này, đắc được đại tịch định quang minh. Ðại tịch định tức
là tịch nhiên bất động. Ngài ở trong định phóng quang để trông giữ
núi, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Sơn Thần Hoa
Lâm Diệu Kế, được môn giải thoát, tu tập từ thiện
căn, thành thục số chúng sinh không thể nghĩ bàn.
Vị Chủ Lâm
Thần Hoa
Lâm Diệu Kế, những núi của Ngài quản lý đều khai
phô hoa mỹ lệ. Trên đầu của Ngài có búi tóc vi diệu trang nghiêm,
Ngài tu hành học tập từ thiện căn, khiến cho căn lành thành thục, có
thể cứu bất khả tư nghì số chúng sinh thoát khỏi biển khổ, Ngài đắc
được môn giải thoát này.
Chủ Sơn Thần Cao
Tràng Phổ Chiếu, được môn giải thoát, quán sát tất
cả tâm sở thích của chúng sinh, để nghiêm tịnh các căn.
Vị Chủ Sơn Thần Cao
Tràng Phổ Chiếu, cao tràng của Ngài phóng ra quang
minh, chiếu soi khắp tất cả thân của chúng sinh. Ngài quán sát tất
cả tâm của chúng sinh, hoan hỷ thích gì thì đều khiến cho họ đầy đủ.
Sau đó, lại trang nghiêm mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu căn cho thanh
tịnh. Sáu căn nghiêm tịnh là do giữ giới luật, mắt chẳng tùy tiện
nhìn sắc đẹp, tai chẳng tùy tiện nghe tiếng, mũi chẳng tùy tiện ngửi
mùi, lưỡi chẳng tùy tiện nếm vị, thân chẳng tùy tiện xúc giác, ý
chẳng tùy tiện biết pháp, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Sơn Thần Ly Trần Bảo Kế, được môn giải thoát, trong vô biên
biển kiếp siêng tinh tấn chẳng nhàm mỏi.
Vị Chủ Sơn Thần Ly Trần Bảo Kế, Ngài đã lìa khỏi thế giới hồng trần,
đắc được cảnh giới thanh lương. Ngài có búi tóc bảy báu trang
nghiêm, một bụi trần cũng không nhiễm, thanh tịnh quang minh. Ngài
thấy được khi Phật ở trong vô biên biển kiếp, luôn luôn đều tu hành
tinh tấn, chẳng khi nào nhàm chán, từng phút từng giây đều tinh tấn
dũng mãnh, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Sơn Thần Quang Chiếu Thập Phương, được môn giải thoát, dùng
vô biên công đức quang minh khắp giác ngộ.
Vị Chủ Sơn Thần Quang Chiếu Thập Phương, trí huệ quang minh của Ngài
chiếu khắp mười phương thế giới. Ngài dùng vô lượng vô biên công đức
quang minh, chiếu soi khắp hết thảy chúng sinh, khiến cho tất cả
chúng sinh thấy được quang minh này, thì đều có thể giác ngộ. Giác
ngộ thế giới Ta Bà khổ nhiều vui ít, thế giới Cực Lạc chỉ có vui mà
chẳng có khổ, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Sơn Thần Ðại Lực Quang Minh, được môn giải thoát, hay tự
thành thục, lại khiến cho chúng sinh bỏ lìa hạnh ngu mê.
Vị Chủ Sơn Thần Ðại Lực Quang Minh, có sức lực dời núi, phóng ra
quang minh rất mãnh liệt, khiến cho yêu ma quỷ quái ở trong núi và
lị mị vọng lượng đều chẳng dám tác quái. Ngài tự thành thục quả giác
vô thượng viên mãn, và cũng khiến cho tất cả chúng sinh, xả bỏ lìa
khỏi hành vi ngu si mê hoặc, mà khai mở đại trí huệ, thấu rõ thị
phi, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Sơn Thần Oai Quang Phổ Thắng, được môn giải thoát, cứu tất cả
mọi sự khổ, khiến cho chẳng còn dư thừa.
Vị Chủ Sơn Thần Oai Quang Phổ Thắng, đại oai quang của Ngài phổ khắp
thù thắng. Ngài đắc được cảnh giới, thấu rõ Phật cứu tất cả khổ của
chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được an lạc. Ngài hay
khiến cho chúng sinh chẳng còn khổ nữa, hoàn toàn tiêu diệt sạch.
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Sơn Thần Vi Mật Quang Luân, được môn giải thoát, diễn nói
giáo pháp quang minh, hiển thị tất cả công đức của Như Lai.
Vị Chủ Sơn Thần Vi Mật Quang Luân, có quang luân vi diệu nghiêm mật.
Quang luân đó phóng ra vô lượng trí huệ quang, chiếu soi hữu tình và
vô tình ở trong núi đều nghe được Phật pháp. Ngài diễn nói tất cả
giáo pháp, diễn nói tam tạng mười hai bộ tất cả kinh điển. Ngài dùng
quang để nói pháp, dùng quang để hiển thị tất cả công đức của Như
lai tu hành trong quá khứ, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chúng ta phàm phu chẳng đắc được thần thông, cho nên không hiểu được
cảnh giới này. Nếu đắc được ngũ nhãn lục thông, thì sẽ nhìn thấy
trong quang minh cũng có Phật, cũng có Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên
Giác, cũng có tất cả chúng sinh. Có Thánh nhân ở trong đó, đang diễn
nói giáo pháp, cũng có chúng sinh đang ở đó nghe pháp, đây là cảnh
giới không thể nghĩ bàn. Phàm là cao tăng thời xưa đều có thần thông
diệu dụng. Vào đời nhà Tấn, có vị cao tăng hiệu là Phật Ðồ Trừng Tam
Tạng, vì cảm hóa kẻ giết người là Thạch Lặc và Thạch Hổ mà hiện đủ
thứ thần thông, khiến cho hai người đó kiền thành tín ngưỡng Phật
giáo, sửa đổi tánh ác tàn nhẫn. Hiện đại, lão hòa thượng Hư Vân cũng
có thần thông diệu dụng, mọi người muốn biết thì hãy đọc quyển tự
truyện của Ngài Hư Vân thì sẽ biết.
Chủ Sơn Thần Phổ Nhãn Hiện Kiến, được môn giải thoát, khiến cho
tất cả chúng sinh, cho đến ở trong mộng cũng tăng trưởng căn lành.
Vị Chủ Sơn Thần Phổ Nhãn Hiện Kiến, mắt của Ngài có thể quán sát
khắp cảnh giới hiện ra gần hoặc xa. Ngài đắc được cảnh giới của
Phật, khiến cho tất cả chúng sinh, chẳng những lúc tỉnh làm việc
thiện, tăng trưởng căn lành, tu phước tu huệ, bố thí thuyết pháp,
lợi ích chúng sinh, mà dù ở trong mộng cũng khiến cho chúng sinh đắc
được pháp ích. Ngài vì chúng sinh mà nói pháp khổ, không vô thường
vô ngã .v.v., khi chúng sinh tỉnh dậy liền chứng đạo quả, Ngài đắc
được môn giải thoát này.
Có khi Phật Bồ Tát ở trong mộng của chúng sinh, hiện ra Dạ xoa, hoặc
La sát đáng sợ để uy hiếp người. Người bị uy hiếp thì sẽ sợ hãi tâm
nghĩ : ‘’Hãy mau sớm tu hành, đây là quỷ vô thường đến nhiễu loạn,
mình chẳng cách chi ứng phó với nó.’’ Do đó, mà sinh tâm tu đạo.
Ðừng cho rằng nằm mộng sợ hãi là điềm không cát tường, kỳ thật là
cát tường nhất. Vì dạy bạn phát bồ đề tâm, hiểu rõ đời người là hư
vọng, như thế mới khiến cho bạn tăng trưởng căn lành, phát tâm bồ
đề, cầu đạo vô thượng đắc quả bồ đề. Ðó là pháp môn phương tiện của
Phật, Bồ Tát.
Chủ Sơn Thần Kim Cang Kiên Cố Nhãn, được môn giải thoát, xuất
hiện vô biên biển đại nghĩa lý.
Vị Chủ Sơn Thần Kim Cang Kiên Cố Nhãn, mắt của Ngài sáng như kim
cang, rất là kiên cố, bất cứ vật gì cũng phá chẳng được. Mắt kim
cang kiên cố này, biết rõ tất cả ma vương, Dạ xoa, La sát, quỷ quái.
Vì có sự tác dụng như thế, cho nên Ngài quản lý núi đều rất an ninh.
Ngài xuất hiện vô lượng vô biên nghĩa lý đại pháp, sâu rộng như biển
cả, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Bấy giờ, Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa, nương oai lực của đức
Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Sơn Thần, mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa, nương đại oai thần lực
của Phật Thích Ca Mâu Ni, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Sơn Thần ở
trong hội Hoa
Nghiêm. Tại sao chẳng nói là sức lực của mình, sức
thần thông của mình ? Vì Phật Thích Ca là thuyết pháp chủ của pháp
hội Hoa
Nghiêm, vì tôn trọng mà nói như thế. Mười vị Chủ
Sơn Thần này, là đại biểu cho vô lượng vô biên chúng Chủ Sơn Thần,
làm thượng thủ của họ. Nếu ai ai cũng đều nói ra, thì e rằng suốt
thuở vị lai cũng nói chẳng hết. Bài kệ này là vị Chủ Sơn Thần Bảo
Phong Khai Hoa nói, còn các Chủ Sơn Thần kia, mỗi người nói ra một
bài kệ, để khen ngợi cảnh giới của Phật.
Xưa tu thắng hạnh không bờ mé
Nên được thần thông cũng vô lượng
Pháp môn rộng mở như số bụi
Ðều khiến chúng sinh thâm ngộ hỷ.
‘’Xưa tu thắng hạnh không bờ mé.’’ Thuở xưa Phật tu đủ thứ hạnh môn
thù thắng. Song, thắng hạnh này chẳng có bờ mé, chẳng có số lượng.
‘’Nên được thần thông cũng vô lượng.’’ Vì thuở xưa Phật tu thắng
hạnh vô biên, cho nên đắc được thần thông cũng vô lượng, chẳng cách
chi biết được.
‘’Pháp môn rộng mở như số bụi.’’ Pháp môn khai mở rộng lớn, nhiều
như số hạt bụi. Tại sao phải có nhiều pháp môn như thế ? Vì chúng
sinh nhiều như hạt bụi, cho nên dùng số pháp môn nhiều như hạt bụi,
để giáo hóa số chúng sinh nhiều như hạt bụi.
‘’Ðều khiến chúng sinh thâm ngộ hỷ.’’ Tuy có pháp môn nhiều như số
hạt bụi, nhưng khiến cho tất cả chúng sinh, hoàn toàn minh bạch được
chân thật nghĩa của Phật pháp, đều liễu ngộ thâm sâu mà sinh hoan
hỷ.
Các tướng nghiêm thân khắp thế gian
Quang minh lỗ lông đều thanh tịnh
Ðại từ phương tiện bày tất cả
Hoa Lâm Diệu
Kế ngộ môn này.
‘’Các tướng nghiêm thân khắp thế gian.’’ Các tướng tức là ba
mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp. Nghiêm thân tức là trang nghiêm
thân Phật, khắp thế gian tức là đầy khắp tất cả thế gian. Thân Phật
là tướng tốt quang minh chẳng gì sánh bằng, vô tại vô bất tại, cho
nên khắp cùng thế gian.
‘’Quang minh lỗ lông đều thanh tịnh.’’ Mỗi lỗ lông của Phật, đều
phóng ra vô lượng quang minh. Ở trong vô lượng quang minh, lại phóng
ra vô lượng quang minh, đủ thứ vô tận, quang minh chiếu với nhau,
chiếu soi tất cả thế gian đều thanh tịnh.
‘’Ðại từ phương tiện bày tất cả.’’ Phật dùng tâm đại từ bi, để ban
cho chúng sinh mọi niềm vui, cứu mọi sự khổ của chúng sinh. Phật
dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, khiến cho chúng sinh sinh ra niềm
tin, tâm nguyện và tâm hạnh. Lại dùng đủ thứ phương tiện pháp môn,
để khai thị chúng sinh, khiến cho họ giác ngộ pháp thế gian là: Vô
thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, pháp xuất thế là: Thường, lạc,
ngã, tịnh, bất không.
‘’Hoa Lâm Diệu
Kế ngộ môn này.’’ Vị Chủ Sơn Thần Hoa
Lâm Diệu Kế, ngộ được môn giải thoát này.
Thân Phật hiện khắp không bờ mé
Mười phương thế giới đều sung mãn
Các căn nghiêm tịnh thấy được vui
Pháp này Cao
Tràng Ngộ vào được.
‘’Thân Phật hiện khắp không bờ mé.’’ Pháp thân của Phật tận hư không
khắp pháp giới; chẳng có chỗ hạt bụi nào, mà chẳng phải là pháp thân
của Phật ở tại đó, cho nên nói thân Phật hiện khắp chẳng bờ mé.
‘’Mười phương thế giới đều sung mãn.’’ Pháp thân của Phật chẳng phải
chỉ xuất hiện trong một thế giới, mà là hết thảy thế giới trong mười
phương, đều sung mãn pháp thân của Phật.
‘’Các căn nghiêm tịnh thấy được vui.’’ Ba mươi hai tướng tốt và tám
mươi vẻ đẹp của Phật, đều trang nghiêm thanh tịnh. Phàm là chúng
sinh nào thấy được Phật, thì đều sinh tâm hoan hỷ.
‘’Pháp này Cao
Tràng ngộ
vào được.’’ Cảnh giới môn giải thoát này, vị Chủ Sơn Thần Cao
Tràng Phổ Chiếu, ngộ hiểu thấu rõ mà vào được.
Nhiều kiếp siêng tu chẳng giải đãi
Chẳng nhiễm thế pháp như hư không
Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh
Ngộ pháp môn này tên Bảo Kế.
‘’Nhiều kiếp siêng tu chẳng giải đãi’’. Nhiều kiếp tức là vô lượng
đại kiếp, tức cũng là từ vô thủy kiếp đến nay. Siêng tu tức là chẳng
giải đãi, thời khắc siêng năng tu hành. Phật trải qua vô lượng đại
kiếp, siêng tu hành chẳng giải đãi, tinh tấn lại tinh tấn.
Chúng ta đả Phật thất, từ bốn giờ sáng bắt đầu đến mười giờ khuya
mới nghỉ, suốt ngày chẳng có thời gian nghỉ ngơi, đều dụng công niệm
Phật, đó là siêng tu. Siêng tu giới định huệ, sẽ diệt tham sân si,
đây là pháp môn cơ bản của Phật giáo.
Chúng ta đả thiền thất, dù một giây thời
gian cũng không để luống qua. Có thể trong một giây thời gian đó bạn
sẽ khai ngộ, cho nên càng phải tinh tấn. Sáng sớm từ hai giờ rưỡi đã
bắt đầu, đến mười hai giờ đêm mới đi ngủ, mỗi ngày chỉ ngủ hơn hai
tiếng, đó tức là siêng tu. Tại sao phải khổ như thế ? Vì khổ hành
mới là chìa khóa khai ngộ, có thể khai mở cửa trí huệ.
Sự siêng tu của chúng ta có thời gian,
đả Phật thất là một tuần lễ, còn đả thiền thất là hai tuần lễ (về
sau tăng lên ba tuần lễ), nhưng Phật chẳng có thời gian định kỳ, mà
là ngày ngày tinh tấn, tháng tháng tinh tấn, năm năm tinh tấn, tức
cũng là thời khắc siêng tinh tần, chẳng có chút giải đãi.
‘’Chẳng nhiễm thế pháp như hư không‘’. Pháp thế gian là : Tài, sắc,
danh, thực, thùy, năm dục; hư không thì thanh tịnh chẳng ô nhiễm.
Phật chỉ biết siêng tu pháp xuất thế, cho nên chẳng nhiễm pháp thế
gian, giống như hư không.
Chúng ta người thế gian hay thích ăn đồ
ngon, mặc đồ đẹp, ở nhà tốt. Vì có pháp nhiễm ô như thế, cho nên tu
pháp xuất thế chẳng thành công. Nếu xem nặng bên pháp thế gian, thì
bên kia pháp xuất thế sẽ nhẹ đi; còn nếu xem pháp xuất thế nặng, thì
pháp thế gian sẽ nhẹ đi. Ðạo lý này rất nông cạn, chỉ cần buông bỏ
được năm dục, thì mọi vấn đề giải quyết được.
‘’Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh‘’. Vì Phật siêng tu vô thượng
đạo, chẳng nhiễm pháp thế gian, nên thành tựu Phật đạo. Sau khi
thành Phật, Ngài dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo hóa quần
sinh. Tại sao phải dùng đủ thứ phương tiện pháp môn ? Vì chúng sinh
quá nhiều loài, có tứ sinh cửu hữu, mười hai loại khác nhau, cho nên
dùng đủ thứ phương tiện pháp môn để giáo hóa chúng sinh.
‘’Ngộ pháp môn này tên Bảo Kế‘’. Vị Chủ Sơn Thần liễu ngộ được môn
giải thoát này, tên là Chủ Sơn Thần Ly Trần Bảo Kế, Ngài minh bạch
được cảnh giới này.
Chúng sinh mù tối vào đường hiểm
Phật thương xót họ phóng quang minh
Khiến khắp thế gian ngủ tỉnh dậy
Oai Quang ngộ được sinh hoan hỷ.
‘’Chúng sinh mù tối vào đường hiểm‘’. Chúng sinh tức là động vật có
máu, có khí, bạn, tôi, họ, đều bao quát trong đó. Mù tối tức là
người chẳng có mắt, nhìn chẳng thấy ánh sáng. Ðường hiểm là con
đường nguy hiểm eo hẹp chẳng bằng phẳng. Chúng sinh quá ngu si, tuy
nhiên muốn đi con đường bằng phẳng, nhưng vì chẳng có mắt, cho nên
đi trên con đường đen tối. Con đường nguy hiểm đó, chẳng những có
hầm hố, lại có đá, hoặc có sài lang hổ báo, hoặc có yêu ma quỷ quái,
cũng có Dạ xoa, La sát đang ở trên đường hiểm đợi bạn.
Tất cả chúng sinh trong thế gian, vốn muốn tìm cầu thiện pháp tu
hành, đắc được giải thoát. Song, vì quá ngu si, nên pháp hay cũng
chẳng biết, cho nên dễ lầm vào đường tà, lạc vào bàng môn tả đạo, mà
mình vẫn không hay biết, cho rằng pháp của mình tu là chánh pháp,
đạo của mình hành là chánh đạo. Kết quả, sau khi chết rồi rớt vào
địa ngục, mà cũng chẳng biết là đường hiểm. Do đó, người tu đạo phải
có mắt chọn pháp, mới có thể hướng đi trên con đường chánh, thẳng
đến Niết Bàn.
‘’Phật thương xót họ phóng quang minh‘’. Phật thương xót chúng sinh
mù tối, cho nên phóng ra quang minh chiếu soi loại chúng sinh này,
khiến cho họ khai mở mắt trí huệ. Ðừng lấy phải làm trái, lấy trái
làm phải; càng đừng lấy đen làm trắng, lấy trắng làm đen, lìa khỏi
mộng tưởng điên đảo, đắc được cứu kính Niết Bàn.
‘’Khiến khắp thế gian ngủ tỉnh dậy‘’. Phật phóng quang minh chiếu
soi chúng sinh, để khiến cho chúng sinh trong thế gian, từ trong
mộng mà giác ngộ, minh bạch thế gian là khổ, là vô thường.
‘’Oai Quang ngộ được sinh hoan hỷ‘’. Cảnh giới này, vị Chủ Sơn Thần
Quang Chiếu Thập Phương, thấu rõ ngộ được, nên sinh tâm đại hoan hỷ.
Xưa trong các cõi rộng tu hành
Cúng dường bụi cõi vô số Phật
Khiến chúng sinh thấy phát nguyện lớn
Môn này Ðịa Ðại Lực ngộ được.
‘’Xưa trong các cõi rộng tu hành‘’. Xưa kia, khi Phật chưa thành
Phật, cũng giống như chúng ta. Phật ở trong tam giới hai mươi lăm
cõi, phát tâm nguyện rộng lớn, tu hạnh môn rộng lớn, cho nên thành
Phật.
‘’Cúng dường bụi cõi vô số Phật‘’. Thuở xưa Phật tu hành như thế nào
? Là cúng dường nhiều vị Phật như số hạt bụi. Tại sao phải cúng
dường Phật ? Vì Phật là người có đạo đức nhất, của thế gian và xuất
thế gian, là người có tu hành nhất, là người có trí huệ nhất. Phật
là đại Thánh nhân Lưỡng Túc Tôn viên mãn giác, phước cũng đủ, huệ
cũng đủ, chứng được quả vị viên mãn đại giác, cho nên phải cúng
dường Phật.
Có người nói: ‘’Tôi muốn cúng dường
chúng sinh, không biết được chăng‘’? Ðược ! Cho con chó ăn, hoặc cho
con mèo ăn, đều là cúng dường, nhưng chẳng có công đức, trong Kinh
Bốn Mươi Hai Chương nói rất rõ ràng : Cúng dường cho một trăm người
ác, chẳng bằng cúng dường cho một người thiện; cúng dường cho một
ngàn người thiện, chẳng bằng cúng dường cho một người giữ năm giới;
cúng dường cho một vạn người giữ năm giới, không bằng cúng cho một
vị Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni; Cúng dường cho một trăm vạn vị Tỳ Kheo
hoặc Tỳ Kheo Ni, chẳng bằng cúng dường cho một vị Thánh nhân sơ quả;
cúng dường cho một ngàn vạn Thánh nhân sơ quả, chẳng bằng cúng cho
một vị Thánh nhân nhị quả; cúng dường cho một vạn vạn vị Thánh nhân
nhị quả, chẳng bằng cúng cho một vị Thánh nhân tam quả; cúng dường
cho một trăm vạn vạn vị Thánh nhân tam quả, chẳng bằng cúng dường
cho một vị Thánh nhân tứ quả A La
Hán; cúng dường vô lượng vị tứ quả A La
Hán, chẳng bằng cúng dường cho một vị vô tu vô
chứng (tức là Phật, chẳng cần tu, cũng chẳng cần chứng). Vì Phật mọi
việc đã làm xong, chẳng còn thọ thân sau nữa, ba giác tròn, vạn đức
đầy, cho nên phải cúng dường Phật.
Cho nên, khi Ðức Phật tu hành ở tại nhân
địa, thì cúng dường Phật, chẳng phải chỉ cúng dường một vị Phật, mà
là cúng dường vô lượng vị Phật, nhiều như hạt bụi trong cõi nước. Vì
cúng dường Phật nhiều như thế, cho nên tăng trưởng vô lượng căn
lành, và tướng tốt trang nghiêm.
‘’Khiến chúng sinh thấy phát nguyện lớn‘’. Khiến cho chúng sinh thấy
được Phật, đều phát nguyện lớn. Nguyện tức là chiếc thuyền qua sông,
chẳng phát nguyện thì không thể qua sông sinh tử, đến bờ bên kia. Do
đó, quy cụ của chùa Kim Sơn chúng ta là : Phàm là xuất gia Sa Di
hoặc Sa di ni, nhất định phải phát nguyện lớn, sau đó mới thành tựu
quả vị lớn, chẳng phát nguyện thì chẳng thành quả. Bồ Tát Phổ Hiền
phát mười đại hạnh nguyện, Bồ Tát Quán Thế Âm phát mười hai đại
nguyện, Bồ Tát Ðịa Tạng phát mười tám đại nguyện. Ít nhất cũng phải
phát bốn hoằng thệ nguyện :
1). Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
2). Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
3). Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
4). Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Người xuất gia ở chùa Kim Sơn chúng ta, ít nhất phải chứng tứ quả A La
Hán, mới không cô phụ tâm thành của thiện tín mười
phương đến cúng dường, do đó đều phải phát đại nguyện, thành đại Bồ
Tát.
‘’Môn này Ðịa Ðại Lực ngộ được.’’ Pháp môn này, cảnh giới này, môn
giải thoát này, vị Chủ Sơn Thần Ðại Lực Quang Minh minh bạch ngộ vào
được.
Thấy các chúng sinh trôi nổi khổ
Tất cả nghiệp chướng luôn trói che
Dùng trí huệ quang diệt trừ sạch
Giải thoát này của Phổ Thắng Thần.
‘’Thấy các chúng sinh trôi nổi khổ‘’. Phật thấy tất cả chúng sinh,
trôi qua trôi lại ở trong sáu nẻo luân hồi chẳng dứt.
‘’Tất cả nghiệp chướng luôn trói che‘’. Tại sao chúng sinh trôi nổi
trong sinh tử ? Vì có tất cả nghiệp chướng. Nghiệp chướng này từ đâu
đến ? Là từ mê hoặc đến. Có mê hoặc thì chẳng thể tu đạo, chẳng tu
đạo thì luôn luôn bị nghiệp hoặc trói buộc che đậy.
‘’Dùng trí huệ quang diệt trừ sạch‘’. Phật dùng trí huệ quang minh,
để phá trừ vô minh của chúng sinh, diệt trừ ngu si ám chướng của
chúng sinh, hết thảy tất cả chướng ngại đều tiêu diệt trừ sạch.
‘’Giải thoát này của Phổ Thắng Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ
Sơn Thần Oai Quang Phổ Thắng thấu rõ được.
Trong mỗi lỗ lông vang diệu âm
Tùy tâm chúng sinh khen chư Phật
Thảy khắp mười phương vô lượng kiếp
Quang Luân Thần vào được môn này.
‘’Trong mỗi lỗ lông vang diệu âm‘’. Trong mỗi lỗ chân lông của Phật,
đều vang ra âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn, diệu âm đó diễn nói
diệu pháp không thể nghĩ bàn cho chúng sinh nghe.
‘’Tùy tâm chúng sinh khen chư Phật‘’. Hay tùy thuận tâm chúng sinh,
để khen ngợi tất cả các Ðức Phật.
‘’Thảy khắp mười phương vô lượng kiếp‘’. Chẳng những Phật ở trong
một thế giới vang ra diệu âm, giáo hóa chúng sinh, mà là khắp hết
thảy mười phương thế giới, vì chúng sinh mà nói pháp, cũng chẳng
phải trong thời gian ngắn diễn nói diệu âm, mà là thời gian dài
trong vô lượng kiếp giáo hóa chúng sinh.
‘’Quang Luân Thần vào được môn này.’’ Vị Chủ Sơn Thần Vi Mật Quang
Luân, thấu rõ cảnh giới này, mà vào được môn giải thoát này.
Khắp mười phương Phật đều hiện tiền
Ðủ thứ phương tiện nói diệu pháp
Rộng ích chúng sinh các biển hạnh
Sở ngộ này của Hiện Kiến Thần.
‘’Khắp mười phương Phật đều hiện tiền‘’. Pháp thân của Phật tận hư
không khắp pháp giới, cho nên đầy khắp mười phương, thị hiện khắp ở
trước chúng sinh.
‘’Ðủ thứ phương tiện nói diệu pháp‘’. Phật dùng đủ thứ pháp môn
phương tiện khéo léo, để diễn nói diệu pháp, giáo hóa chúng sinh.
Cho đến chúng sinh ở trong mộng, Phật cũng vào trong mộng, để vì
chúng sinh nói diệu pháp, hà huống là lúc chúng sinh tỉnh, Phật càng
dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo hóa chúng sinh ngu si.
‘’Rộng ích chúng sinh các biển hạnh‘’. Phật vì muốn rộng lợi ích
chúng sinh, cho nên tu đủ thứ hạnh môn, hạnh môn tu không bờ bến như
là biển cả, cho nên nói các biển hạnh.
‘’Sở ngộ này của Hiện Kiến Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ Sơn
Thần Phổ Nhãn Hiện Kiến ngộ hiểu được.
Pháp môn như biển vô biên lượng
Một âm nói ra khiến hiểu rõ
Trong tất cả kiếp nói chẳng hết
Kim Cang Mục vào phương tiện này.
‘’Pháp môn như biển vô biên lượng‘’. Pháp môn của Phật như biển cả,
vô lượng vô biên, cũng chẳng có bờ mé, cũng chẳng có hạn lượng.
‘’Một âm nói ra khiến hiểu rõ‘’. Phật dùng một âm diễn nói pháp,
chúng sinh tùy loài đều hiểu rõ. Người trời nghe thì ngôn ngữ trên
trời, con người nghe thì ngôn ngữ của nhân gian, súc sinh nghe thì
ngôn ngữ của súc sinh, chúng sinh trong sáu nẻo nghe đều hiểu rõ.
‘’Trong tất cả kiếp nói chẳng hết‘’. Phật nói pháp chẳng nhàm mỏi,
chẳng mệt nhọc, luôn luôn vì chúng sinh nói pháp, luôn luôn giáo hóa
chúng sinh. Diệu pháp này trải qua tất cả đại kiếp cũng nói chẳng
hết.
‘’Kim Cang Mục vào phương tiện này.’’ Vị Chủ Sơn Thần Kim Cang Kiên
Cố Nhãn, minh bạch cảnh giới này, mà vào được môn giải thoát phương
tiện này.
Lại nữa, Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức Tịnh Hoa, được môn giải thoát, dùng
tâm từ bi, niệm niệm quán sát khắp tất cả chúng sinh.
Nghĩa lý trên chưa nói hết lại tiếp tục nói. Vị Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức
Tịnh Hoa, hay khiến khắp trong tâm của tất cả chúng sinh, sinh ra
công đức, nở hoa thanh tịnh trang nghiêm. Ngài là Thần chủ quản đất
đai. Nếu chẳng có Thần đến quản lý đất đai, thì bụi đất sẽ bay tán
đi hết, địa cầu chẳng còn tồn tại. Ngài đắc được cảnh giới, ở trong
Phật pháp biết được, Phật dùng tâm từ bi ở trong niệm niệm, quán sát
khắp chúng sinh, cứu khổ chúng sinh, ban vui cho chúng sinh, Ngài
đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Kiên Phước Trang
Nghiêm, được môn giải thoát, hiện khắp tất cả chúng
sinh phước đức lực.
Vị Chủ Ðịa Thần Kiên Phước Trang
Nghiêm, hay khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ
đề, mà vào biển công đức, đắc được phước trang nghiêm kiên cố. Ngài
khắp khiến cho chúng sinh tăng trưởng sức phước đức, tức là tu phước
tu huệ tu đức, tu đến khi viên mãn thì sẽ giải thoát, Ngài đắc được
môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa
Nghiêm Thụ, được môn giải thoát, khắp vào các pháp,
sinh ra tất cả cõi Phật trang nghiêm.
Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa
Nghiêm Thụ, những cây của Ngài lớn lên rất trang
nghiêm, hoa nở cũng rất vi diệu thanh tịnh. Ngài có thể vào khắp tất
cả các pháp, mà sinh ra tất cả các cõi Phật trong mười phương, rất
trang nghiêm vi diệu, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng Bảo, được môn giải thoát, tu tập đủ
thứ các tam muội, khiến cho chúng sinh tiêu trừ chướng cấu.
Vị Phổ Tán Chúng Bảo Chủ Ðịa Thần này, biết chúng sinh thích bảo
bối, cho nên rải khắp vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu,
mã não, bảy báu, để bố thí cho chúng sinh. Ngài minh bạch được, Phật
thuở xưa ở tại nhân địa, tu đủ thứ các tam muội, hay ở trong định
khiến cho tất cả chúng sinh, tiêu trừ chướng cấu chẳng còn tâm nhiễm
ô, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời, được môn giải thoát, khiến cho
tất cả chúng sinh thường du hí khoái lạc.
Vị Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời, mắt của Ngài thanh tịnh quán sát
được nhân duyên ba đời. Ngài hay quán căn cơ của chúng sinh, biết
chúng sinh thích du hí, thích khoái lạc, Ngài dùng tam muội này để
giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh thường du hí thường khoái
lạc. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Kim Sắc Diệu Nhãn, được môn giải thoát, thị hiện tất
cả thân thanh tịnh, để điều phục chúng sinh.
Vị Chủ Ðịa Thần Kim Sắc Diệu Nhãn, thân của Ngài phóng ra sắc vàng,
mắt vi diệu của Ngài quán sát được căn tính của chúng sinh trong
mười phương. Ngài hiện khắp tất cả diệu pháp thân thanh tịnh, để
điều phục tất cả chúng sinh khó điều phục, khiến cho chúng sinh cang
cường biến thành nhu hòa, khiến cho chúng sinh sân hận sinh tâm hoan
hỷ, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Hương Mao Phát Quang, được môn giải thoát, biết rõ
biển công đức của tất cả chư Phật có đại oai lực.
Chủ Ðịa Thần Hương Mao Phát Quang, lỗ lông của Ngài đều phóng ra
hương thơm, vì Ngài giữ giới luật tinh nghiêm. Nếu chúng ta giữ giới
thanh tịnh, thì thân thể sẽ tỏa ra mùi thơm. Người giữ giới chẳng
thanh tịnh, thì thân thể tỏa ra mùi hôi hám. Vị Chủ Ðịa Thần này
chẳng những tỏa ra mùi thơm, mà còn phóng quang minh. Quang minh
hương thơm này, chiếu khắp chúng sinh, khiến cho chúng sinh hoan hỷ
học tập Phật pháp. Ngài biết rõ biển công đức của chư Phật tu, có
sức đại oai đức. Sức đại oai đức này, nếu chúng ta tu hành thì sẽ có
đủ. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Tịch Âm Duyệt Ý, được môn giải thoát, khắp nhiếp trì
biển lời nói âm thanh của tất cả chúng sinh.
Vị Chủ Ðịa Thần Tịch Âm Duyệt Ý, tuy âm thanh của Ngài chẳng nghe
được, song, khiến cho người sinh tâm hoan hỷ. Ngài khắp nhiếp trì
biển lời nói âm thanh của tất cả chúng sinh, thu hết lời nói âm
thanh của chúng sinh lại. Ðây là dùng âm tịch tĩnh mà thu âm thanh
động của chúng sinh. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa
Toàn Kế, được môn giải thoát, sung mãn cõi Phật lìa
tính cấu bẩn.
Vị Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa
Toàn Kế, có hương hoa vi diệu không thể nghĩ bàn.
Hương hoa này hướng về bên phải du chuyển, kết thành bảo kế. Ngài
đắc được cảnh giới của Phật, cảm thấy Phật là hương quang phổ chiếu.
Mỗi lỗ chân lông đều phóng ra mây hương hoa, đầy khắp mười phương
thế giới, cho nên sung mãn cõi Phật, khiến cho tất cả chúng sinh
thấy được thứ mây này, thì đều xa lìa tất cả tâm ô nhiễm, mà đắc
được bổn thể thanh tịnh. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Ðịa Thần Kim Cang Phổ Trì, được môn giải thoát, pháp luân của
tất cả chư Phật nhiếp trì khắp xuất hiện.
Vị Chủ Ðịa Thần Kim Cang Phổ Trì, đất đai của Ngài quản lý cứng chắc
như kim cang, chẳng cách chi phá hoại được. Ngài đắc được pháp luân
sở nhiếp trì, của tất cả chư Phật mười phương ba đời. Tuy nhiên,
chúng ta đang ở thời mạt pháp, nhưng hiện tại giảng Phật pháp, tức
cũng như pháp của chư Phật quá khứ đã giảng. Những pháp này hổ tương
nhiếp trì, pháp này thông với pháp kia, pháp kia cũng thông với pháp
này, viên dung với nhau, hổ tương vô ngại. Vì Phật Phật đạo đồng,
cho nên bánh xe pháp của Phật cũng tuần hoàn không ngừng, hết rồi
lại bắt đầu. Khi Phật chuyển bánh xe pháp, thì nhiếp trì tất cả
chúng sinh, khiến cho họ y pháp tu hành, khắp xuất hiện thành Phật
đạo, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Bấy giờ, Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức Tịnh Hoa, nương oai lực của Phật,
quán sát tất cả chúng Chủ Ðịa Thần, mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức Tịnh Hoa, nương đại oai thần lực của
Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Ðịa Thần, mà nói ra bài kệ bốn
câu, tán thán cảnh giới của Phật.
Thuở xưa Như Lai trong niệm niệm
Môn đại từ bi không thể nói
Tu hành như thế không ngừng nghỉ
Nên được thân kiên cố bất hoại.
‘’Thuở xưa Như Lai trong niệm niệm‘’. Trong quá khứ ở tại nhân địa,
Phật tu đủ thứ hạnh môn, ở trong niệm niệm chẳng quên chúng sinh.
Phật thường tu từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng, thường tu pháp từ bi
tam muội, để cứu độ chúng sinh ra khỏi biển khổ mà được giải thoát.
‘’Môn đại từ bi không thể nói‘’. Môn đại từ bi tức là dùng tâm đại
từ và tâm đại bi, để đối đãi bình đẳng với chúng sinh. Tức cũng là
vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Môn đại từ bi tức cũng chẳng có
biểu hiện tâm sân hận. Giống như Bồ Tát Thường Bất Khinh, khi Ngài
tu Bồ Tát đạo, gặp chúng sinh thì lễ lạy, miệng nói: ‘’Tôi không dám
khinh các vị, các vị đều sẽ thành Phật.’’ Song, có người mắng chửi
Ngài quá ngu si, có người đánh Ngài quá điên khùng. Nhưng bất cứ họ
đối đãi bất kính với Ngài như thế nào, Ngài vẫn dùng tâm từ bi để
tha thứ họ, tuyệt đối chẳng sinh tâm sân hận. Và giống như Tiên ông
nhẫn nhục tu đạo ở trong núi, bị vua Ca Lợi chặt đứt chi thể, mà
Ngài cũng chẳng sinh tâm sân hận, đó đều là biểu hiện tu môn đại từ
bi.
‘’Tu hành như thế không ngừng nghỉ‘’. Giống như tu từ tâm tam muội,
tức là đối với tất cả chúng sinh, sinh ra tâm đại từ bi, hạnh môn
như thế, dù tu vô lượng vô biên đại kiếp, cũng chẳng khi nào tu
xong, cho nên nói không ngừng nghỉ. Tóm lại, dù tu thành Phật, vẫn
phải tu từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng không ngừng.
‘’Nên được thân kiên cố bất hoại.’’ Vì Phật chẳng bao giờ giết hại
sinh mạng của chúng sinh, cho nên thân của Phật kiên cố như kim
cang, chẳng bao giờ tổn hại. Thân thể của chúng ta, tại sao chẳng
kiên cố mà nhiều bệnh ? Là vì chẳng tu giới sát sinh cho viên mãn.
Phải minh bạch nhân quả, vì sao bị người ta giết ? Là vì trong quá
khứ đã từng giết người. Tại sao bị người ta đánh chưởi ? Là vì trong
quá khứ đã từng đánh chưởi người. Khi nhân duyên đến thì phải chịu
quả báo, do đó :
‘’Trồng dưa được dưa,
Trồng đậu được đậu.’’
Nếu chúng ta tu từ tâm tam muội, chẳng sát sinh, chẳng sân hận, thì
tương lai thân thể cũng sẽ kiên cố bất hoại, chẳng bệnh tật mà mạnh
khoẻ.
Ba đời chúng sinh và Bồ Tát
Hết thảy tất cả các phước tụ
Ðều thấy trong lỗ lông Như Lai
Phước Nghiêm thấy rồi sinh hoan hỷ.
‘’Ba đời chúng sinh và Bồ Tát‘’. Ba đời tức là đời quá khứ, hiện tại
và vị lai. Hết thảy chúng sinh và Bồ Tát ba đời, Phật đều nhìn thấy
rất rõ ràng, vì Phật quán sát được nhân duyên vô lượng đại kiếp.
‘’Hết thảy tất cả các phước tụ’’. Chúng sinh và Bồ Tát ba đời, hết
thảy tất cả phước tụ Phật đều biết.
‘’Ðều thấy trong lỗ lông Như Lai‘’. Ðều hiện ra ở trong lỗ chân lông
của Phật.
‘’Phước Nghiêm thấy rồi sinh hoan hỷ.’’ Vị Chủ Ðịa Thần Kiên Phước Trang
Nghiêm, thấy được cảnh giới này, trong tâm bèn sinh
ra đại hoan hỷ.
Có người sinh tâm hoài nghi đối với bốn câu kệ này, hoài nghi Phật
chỉ có thể nhìn thấy chúng sinh và Bồ Tát quá khứ, cùng với chúng
sinh và Bồ Tát hiện tại, chứ không thể nhìn thấy chúng sinh và Bồ
Tát vị lai. Vì vị lai thì chưa đến, làm sao có thể hiện ra ? Bạn nên
biết cảnh giới của Phật không thể nghĩ bàn, Phật có thể dời quá khứ
đến hiện tại, dời hiện tại về vị lai, lại dời vị lai về quá khứ, đây
là đạo lý ba mà một, một mà ba. Do đó, làm cho công đức của chúng
sinh và Bồ Tát vị lai, đều hiển hiện ra trong một lỗ chân lông.
Ví như máy truyền hình, chiếu sự việc,
phim ảnh ba đời hợp lại với nhau. Ðem việc quá khứ dời về hiện tại
diễn ra, việc vị lai cũng dời về hiện tại diễn ra, khiến cho ba đời
thành một thể. Máy truyền hình còn có công năng như thế, huống chi
là lỗ lông của Phật, càng có cảnh giới không thể nghĩ bàn. Mỗi lỗ
chân lông của Phật, đều giống như một máy truyền hình.
Lại có người nói : ‘’Tôi vẫn không tin
đạo lý này.’’ Vậy tôi đưa ra một ví dụ nữa. Giống như nằm mộng,
trong mộng thấy việc vị lai, sự việc mười mấy năm sau, mà hiện tại ở
trong mộng hiện ra. Lại có thể mộng thấy việc quá khứ, sự việc mười
mấy năm về trước, mà hiện tại ở trong mộng hiện ra. Ðó tức là dời
quá khứ đến hiện tại, dời vị lai đến hiện tại. Cảnh giới này ai ai
cũng đều nằm mộng thấy, chẳng có gì là huyền diệu, bạn đã tin thì
phải !
Tôi còn nhớ bốn mươi năm về trước, gặp một giấc mộng không thể nghĩ
bàn, mộng thấy tôi ngồi ở trên pháp tòa, giảng kinh thuyết pháp cho
rất nhiều người ngoại quốc nghe, giảng Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật. Lúc đó, cũng chẳng cảm thấy ly kỳ, vẫn cho rằng
chỉ là một giấc mộng mà thôi. Hiện tại, cảnh giới đó quả nhiên hiện
thật. Chẳng những mộng thấy cảnh giới đó, mà còn mộng thấy rất nhiều
cảnh giới. Bây giờ nghĩ lại, nguyên lai là như thế.
Người ở trong mộng, còn có thể biết được
quá khứ hiện tại vị lai, hà huống là Phật. Phật có thể trong một lỗ
lông khắp cùng pháp giới, làm cho hết thảy phước đức của chúng sinh
và Bồ Tát, trong quá khứ hiện tại vị lai ba đời, đều hiện ra trong
một lỗ chân lông. Phàm là người khai mở ngũ nhãn, đều có thể nhìn
thấy tất cả sự việc ba đời, thậm chí mình ở trên đất bò như thế nào,
hoặc là mình ngồi ở nơi nào đó chết đi, đều nhìn thấy rất rõ ràng,
chẳng có chút gì kỳ lạ.
Tam ma địa tịch tĩnh rộng lớn
Không sinh không diệt không đến đi
Nghiêm tịnh cõi nước bày chúng sinh
Giải thoát này của Thụ Hoa
Thần.
‘’Tam ma địa tịch tĩnh rộng lớn‘’. Tam ma địa nghĩa là định. Tịch
tĩnh tức là chẳng có âm thanh, nghĩa là vắng lặng. Rộng lớn là từ
hình dung, nghĩa là vừa rộng vừa lớn. Thứ định này vắng lặng rộng
lớn, không thể nghĩ bàn.
‘’Không sinh không diệt không đến đi‘’. Tam ma địa tức là không
sinh, không diệt, không đến, không đi, đây là nói định của Phật là
cảnh giới như thế.
‘’Nghiêm tịnh cõi nước bày chúng sinh‘’. Trang nghiêm tất cả cõi
nước chư Phật, thanh tịnh tất cả cõi nước của chư Phật, để mở bày
cho chúng sinh pháp môn liễu sinh thoát tử.
‘’Giải thoát này của Thụ Hoa
Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa
Nghiêm Thụ đắc được.
Thuở quá khứ Phật tu các hạnh
Muốn khiến chúng sinh tiêu chướng nặng
Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng Bảo
Thấy Giải thoát này sinh hoan hỷ.
‘’Thuở quá khứ Phật tu các hạnh‘’. Phật là vì chúng sinh mà tu hành,
vì Phật thấy nghiệp chướng của chúng sinh quá nặng, cho nên thuở xưa
Phật tu đủ thứ hạnh môn, để cứu độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh
tiêu trừ nghiệp chướng mà được giải thoát.
‘’Muốn khiến chúng sinh tiêu chướng nặng‘’. Chúng sinh chẳng biết
cách để tiêu trừ nghiệp chướng nặng, nhưng Phật từ bi giúp chúng
sinh tiêu trừ nghiệp chướng, đắc được thanh tịnh.
‘’Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng Bảo‘’. Vị Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng
Bảo, nhìn thấy được cảnh giới này của Phật.
‘’Thấy Giải thoát này sinh hoan hỷ.’’ Vị Chủ Ðịa Thần này, thấy được
môn giải thoát này, tâm đại hoan hỷ.
Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé
Niệm niệm hiện khắp trong thế gian
Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời
Thấy Phật tu hành tâm vui mừng.
‘’Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé‘’. Cảnh giới của Như Lai tu chẳng có
bờ mé.
‘’Niệm niệm hiện khắp trong thế gian‘’. Phật ở trong niệm niệm nghĩ
nhớ chúng sinh, cho nên hiện khắp trong mười phương thế giới.
‘’Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời‘’. Vị Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán
Thời, đắc được cảnh giới của Phật.
‘’Thấy Phật tu hành tâm vui mừng.’’ Ngài thấy được hạnh môn của Phật
tu hành trong quá khứ, và pháp môn hiện tại giáo hóa chúng sinh, nên
trong tâm rất hoan hỷ vui mừng.
Diệu âm vô hạn không nghĩ bàn
Khắp vì chúng sinh diệt phiền não
Kim Sắc Nhãn Thần tỏ ngộ được
Thấy Phật vô biên thắng công đức.
‘’Diệu âm vô hạn không nghĩ bàn‘’. Phật diễn nói âm thanh vi diệu
chẳng có hạn lượng, không thể nghĩ bàn.
‘’Khắp vì chúng sinh diệt phiền não‘’. Diệu âm của Phật nói, là vì
tiêu diệt phiền não chướng của chúng sinh.
‘’Kim Sắc Nhãn Thần tỏ ngộ được‘’. Vị Chủ Ðịa Thần Kim Sắc Diệu
Nhãn, tỏ ngộ được đạo lý này.
‘’Thấy Phật vô biên thắng công đức.’’ Ngài thấy được vô lượng vô
biên công đức thù thắng của Phật.
Hết thảy hình sắc đều hóa hiện
Mười phương pháp giới đều sung mãn
Hương Mao Phát Quang thường thấy Phật
Như thế hóa khắp các chúng sinh.
‘’Hết thảy hình sắc đều hóa hiện‘’. Hết thảy tất cả chúng sinh có
hình có sắc, Phật đều tùy theo loài mà hóa hiện để giáo hóa họ.
‘’Mười phương pháp giới đều sung mãn‘’. Chẳng những Phật hóa hiện
trong một thế giới, mà còn hóa hiện trong mười phương pháp giới, do
đó mà hoàn toàn sung mãn khắp pháp giới.
‘’Hương Mao Phát Quang thường thấy Phật‘’. Phàm là ngũ cốc và hoa
quả lớn lên ở trên đất, đều có hương thơm. Vị Chủ Ðịa Thần Hương Mao
Phát Quang này, luôn luôn thấy được cảnh giới này của Phật.
‘’Như thế hóa khắp các chúng sinh.’’ Phật đại từ đại bi giáo hóa
khắp tất cả chúng sinh, chẳng những giáo hóa chúng sinh hữu tình, mà
còn giáo hóa chúng sinh vô tình.
Diệu âm khắp cùng trong mười phương
Trong vô lượng kiếp vì chúng nói
Duyệt Ý Ðịa Thần tâm thấu đạt
Nghe được lời Phật rất kính vui.
‘’Diệu âm khắp cùng trong mười phương‘’. Âm thanh vi diệu của Phật
nói, vang khắp cùng trong mười phương.
‘’Trong vô lượng kiếp vì chúng nói‘’. Diệu âm của Phật vang khắp
mười phương, thời gian nói pháp dọc cùng tam tế, trong vô lượng kiếp
đều vì chúng sinh nói diệu pháp.
‘’Duyệt Ý Ðịa Thần tâm thấu đạt‘’. Vị Chủ Ðịa Thần Tịch Âm Duyệt Ý,
trong tâm của Ngài thấu đạt được cảnh giới này.
‘’Nghe được lời Phật rất kính vui.’’ Ở chỗ Ðức Phật nghe được diệu
pháp này, nên Ngài cung kính hoan hỷ rất thâm sâu.
Lỗ lông Phật sinh mây hương diễm
Tùy tâm chúng sinh khắp thế gian
Hết thảy thấy được đều thành thục
Môn này Hoa
Toàn quán
sát được.
‘’Lỗ lông Phật sinh mây hương diễm‘’. Trong mỗi lỗ lông của
Phật, đều sinh ra mây hương diễm.
‘’Tùy tâm chúng sinh khắp thế gian‘’. Tùy thuận tâm của chúng sinh,
mà đi khắp thế gian.
‘’Hết thảy thấy được đều thành thục‘’. Khiến cho tất cả chúng sinh,
thấy được cảnh giới của Phật, thì căn lành đều thành thục.
‘’Môn này Hoa
Toàn quán
sát được.’’ Vị Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa
Toàn Kế, quán sát minh bạch được đạo lý này.
Cứng chắc khó hoại như kim cang
Không thể khuynh động như Tu Di
Thân Phật như thế nơi thế gian
Phổ Trì thấy được sinh hoan hỷ.
‘’Cứng chắc khó hoại như kim cang‘’. Thân Phật cứng chắc không thể
hoại như chất kim cang. Thân Phật tại sao cứng chắc như thế ? Vì
Phật tu hạnh môn đại từ đại bi, tu từ tâm tam muội, cho nên mới được
thân cứng chắc bất hoại. Phật còn phát tâm hộ pháp, cho nên thành
tựu thân kim cang bất hoại. Vì hộ trì chánh pháp, giữ gìn giới luật,
tu oai nghi, tay cầm đao kiếm cung tên, để bảo hộ cho Tỳ Kheo giữ
giới thanh tịnh.
Thuở xưa, có vị Tỳ Kheo Giác Ðức giữ giới thanh tịnh, Ngài đi đứng
nằm ngồi, bốn đại oai nghi đều rất trang nghiêm. Song, có những vị
Tỳ Kheo chẳng giữ giới luật phản đối Ngài, khinh khi Ngài. Ông vua
đương thời tên là Hữu Ðức hộ pháp cho Ngài. Ông vua đó và những vị
Tỳ Kheo không giữ giới luật đánh với nhau, bất hạnh bị đánh trọng
thương. Tỳ Kheo Giác Ðức rất khen ngợi ông vua, ông vua nghe pháp
rồi thì qua đời.
Vị vua đó vì hộ pháp có công đức, cho nên sau khi chết đi, được sinh
về thế giới Ðông Phương cõi của Ðức Phật A Súc Bệ, làm đại đệ tử thứ
hai của Phật A Súc Bệ. Do đó, đủ biết công đức hộ pháp lớn hơn người
bị hộ.
‘’Không thể khuynh động như Tu Di‘’. Thân kim cang của Phật giống
như núi Tu Di, không thể nào lay động được.
‘’Thân Phật như thế nơi thế gian‘’. Thân Phật giống như núi Tu Di ở
nơi thế gian, rất an ổn vững chắc.
‘’Phổ Trì thấy được sinh hoan hỷ.’’ Vị Chủ Ðịa Thần Kim Cang Phổ
Trì, thấy được cảnh giới này của Phật, nên sinh tâm đại hoan hỷ.
Lại nữa, Chủ Thành Thần Bảo Phong Quang Diệu, được môn giải
thoát, phương tiện lợi ích chúng sinh.
Ðạo lý ở trên nói chưa hết, nên tiếp tục nói. Vị Chủ Thành Thần
Bảo Phong Quang Diệu, đỉnh núi bảy báu của Ngài phóng ra quang minh
rất sáng, chiếu soi khắp mười phương thế giới. Ngài là người quản lý
thành quách, hay phá tan mùi hôi hám tất cả phiền não ở trong thành,
khiến cho sinh ra mùi hương thơm tất cả trí huệ, làm cho chúng sinh
ở trong thành đều đắc được giải thoát. Ngài dùng đủ thứ phương tiện
pháp môn để lợi ích chúng sinh, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Thành Thần Diệu Nghiêm
Cung Ðiện,
được môn giải thoát, biết căn tánh của chúng sinh, giáo hóa khiến
cho họ thành thục.
Vị Chủ Thành Thần Diệu Nghiêm
Cung Ðiện,
hay khiến cho tất cả cung điện đều tốt đẹp trang nghiêm. Ngài biết
căn tánh của mỗi chúng sinh, bất cứ là chúng sinh căn lành sâu dày,
hay là chúng sinh căn lành cạn mỏng, họ hoan hỷ pháp môn gì, thì
Ngài dùng pháp môn đó để giáo hóa họ, khiến cho căn lành của họ được
thành thục, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Thành Thần Thanh Tịnh Hỷ Bảo, được môn giải thoát, thường
hoan hỷ, khiến cho tất cả chúng sinh thọ các phước đức.
Vị Chủ Thành Thần Thanh Tịnh Hỷ Bảo, có hỷ bảo thanh tịnh, hay khiến
cho chúng sinh thường hoan hỷ. Ngài hay khiến cho chúng sinh căn
lành tăng trưởng, tăng phước tăng huệ tăng đức, khiến cho chúng sinh
thọ được tất cả lợi ích phước đức, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Thành Thần Ly Ưu Thanh Tịnh, được môn giải thoát, cứu các sự
sợ hãi đại bi tạng.
Vị Chủ Thành Thần Ly Ưu Thanh Tịnh, Ngài hay bảo hộ an toàn cho
chúng sinh ở trong thành, tiêu tai giải nạn, gặp hung hóa cát, khiến
cho tất cả chúng sinh lìa khỏi ưu sầu lo lắng mà được tâm thanh
tịnh. Ngài dùng vô úy thí để cứu hộ chúng sinh, khiến cho chúng sinh
chẳng sợ hãi lo âu. Vì Ngài rất từ bi, cho nên gọi là đại bi tạng,
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Thành Thần Hoa Ðăng Diễm Nhãn, được môn giải thoát, khắp thấu
rõ đại trí huệ.
Vị Chủ Thành Thần Hoa Ðăng Diễm Nhãn, Ngài hay dùng đèn làm bằng
hoa, phóng ra ánh sáng lửa ngọn, khiến cho tất cả chúng sinh, thấu
rõ diệu dụng của đại trí huệ, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Thành Thần Diễm Tràng Minh Hiện, được môn giải thoát, phương
tiện thị hiện khắp.
Vị Chủ Thành Thần Diễm Tràng Minh Hiện, tràng báu lửa ngọn của Ngài
phóng ra quang minh, hiện khắp trong thế gian. Ngài dùng khắp pháp
môn phương tiện để thị hiện, khiến cho chúng sinh từ những phương
tiện này mà được cứu độ, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Thành Thần Thịnh Phước Oai Quang, được môn giải thoát, khắp
quán sát tất cả chúng sinh, khiến cho họ tu biển phước đức rộng lớn.
Vị Chủ Thành Thần Thịnh Phước Oai Quang, phước đức thịnh của Ngài có
sức đại oai quang, hay khiến cho phước đức của chúng sinh tăng thêm.
Ngài quán sát khắp tất cả chúng sinh trong mười phương, chúng sinh
nào cơ duyên thành thục, thì sẽ hóa độ chúng sinh đó, khiến cho họ
tu phước tu huệ, tu rộng lớn như biển cả, Ngài đắc được môn giải
thoát này.
Chủ Thành Thần Tịnh Quang Minh Thân, được môn giải thoát, khai
ngộ tất cả những chúng sinh ngu tối.
Vị Chủ Thành Thần Tịnh Quang Minh Thân, thân thể của Ngài vừa thanh
tịnh vừa quang minh. Ngài hay khiến cho chúng sinh ngu si đắc được
trí huệ, chúng sinh mù tối được ánh sáng. Khiến cho chúng sinh ngu
si và mù tối đều có thể khai ngộ, đắc được trí huệ giải thoát, Ngài
đắc được môn giải thoát này.
Chúng sinh mù tối tức là người sinh ra chẳng có mắt, gì cũng chẳng
thấy, gì cũng chẳng biết. Người chẳng hiểu biết Phật pháp, chẳng
hiểu biết tí nào về đạo lý Phật pháp, thì cũng giống như người mù,
thật đáng thương xót.
Trong Kinh Niết Bàn có ghi rằng: ‘’Có một người mù từ lúc mới sinh
ra, chẳng biết màu sắc của sữa bò như thế nào ?
- Bèn hỏi người khác, có người nói với y rằng : Trắng giống như con
sò.’’
- Người mù lại hỏi : ‘’Vậy màu sắc của sữa bò cứng giống như là con
sò chăng ?
- Người đó đáp : ‘’Chẳng phải.’’
- Người mù lại hỏi : ‘’Màu sắc của con sò lại như thế nào‘’?
- Người kia đáp : ‘’Giống như bột gạo.’’
- Người mù lại hỏi : ‘’Màu sắc sữa bò mềm dịu, giống như sự mềm dịu
của bột gạo chăng ? Vậy bột gạo lại như thế nào ?
- Người kia đáp: ‘’Giống như tuyết.’’
- Người mù lại hỏi : ‘’Bột gạo có lạnh chăng ? Tuyết lại như thế
nào‘’?
- Người kia đáp : ‘’Trắng như hạc.’’
- Người mù lại hỏi : ‘’Con hạc là động chăng‘’? Kết quả đưa ra bốn
ví dụ mà người mù cũng chẳng hiểu, cứu kính màu sắc của sữa bò như
thế nào ? Vẫn chẳng biết.
Ðó là nói về kẻ ngoại đạo chẳng hiểu biết về Niết Bàn: Thường, lạc,
ngã, tịnh, là gì ? Giống như người mù chẳng biết màu sắc của sữa bò,
thật là ngu si. Con sò biểu hiện cho thường đức, bột gạo biểu thị
cho lạc đức, tuyết biểu thị cho tịnh đức, con hạc biểu thị cho ngã
đức.
Một số người ngu si chẳng hiểu biết Phật pháp, chẳng biết Phật pháp
là gì ? Nếu đối với họ nói ra pháp xuất thế thì họ nói : ‘’Pháp xuất
thế là pháp bao quát ở trong pháp thế gian.’’ Không sai ! Nói cũng
đúng. Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói :
‘’Phật pháp tại thế gian,
Chẳng lìa thế gian giác,
Lìa thế gian cầu bồ đề,
Ví như tìm sừng thỏ.’’
Ý nghĩa của bốn câu kệ này, tức là ở trong pháp thế gian có thể tìm
ra pháp xuất thế, chứ chẳng phải nói chẳng có pháp xuất thế, đem
pháp thế gian chuyển qua, tức là pháp xuất thế ; đem pháp xuất thế
chuyển qua, thì lại trở về pháp thế gian. Nếu xả bỏ pháp thế gian,
thì vĩnh viễn tìm chẳng được pháp xuất thế. Tuy nhiên pháp xuất thế
bao quát ở trong pháp thế gian, song, bạn phải hiểu rõ. Nếu chẳng
hiểu rõ thì vốn chẳng có pháp xuất thế. Sau khi thấu rõ rồi, thì mới
ở trong pháp thế gian, mà tu pháp xuất thế gian, đó là đạo lý bổn
lai của Phật pháp. Chủ yếu là trong thế gian giác mà dụng công phu.
Thế gian thì không giác, căn bản thì chẳng có Phật pháp; nếu bạn
giác thì có pháp xuất thế, cho nên không cần lìa khỏi thế giới này,
mà đến thế giới khác tìm sự giác ngộ, như thế thì vĩnh viễn tìm
chẳng được, giống như chẳng thể nào tìm được sừng trên đầu con thỏ.
Người chẳng hiểu biết Phật pháp, xem bốn câu kệ này, bèn cho rằng
chẳng có pháp xuất thế, đó là vốn chẳng biết pháp xuất thế là gì,
chỉ biết có pháp thế gian mà hiểu quanh co về ý nghĩa bài kệ của Lục
Tổ.
Chủ Thành Thần Hương Tràng Trang
Nghiêm, được môn giải thoát, quán sát sức tự tại
của Như Lai, khắp điều phục chúng sinh thế gian.
Vị Chủ Thành Thần Hương Tràng Trang
Nghiêm, Ngài dùng hương tràng để trang nghiêm
thành. Ngài hay quán sát sức thần thông tự tại của Như Lai, khắp hết
thảy mười phương thế giới, dùng sức đại oai thần tự tại để điều phục
tất cả chúng sinh. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chủ Thành Thần Bảo Phong Quang Mục, được môn giải thoát, hay dùng
đại quang minh, để phá trừ núi chướng ngại của tất cả chúng sinh.
Vị Chủ Thành Thần Bảo Phong Quang Mục, bảo phong của Ngài phóng ra
đại quang minh bảy báu, chiếu soi chúng sinh, để phá trừ tất cả núi
chướng ngại. Núi chướng ngại là gì ? Tức là tham sân si, giống như
núi, hay chướng ngại bồ đề giác đạo. Nếu phá được núi chướng ngại,
thì sẽ hiện ra trí huệ đại quang minh, song làm thế nào để phá trừ
núi chướng ngại ? Tức là phải siêng tu giới định huệ, tu đến lúc
viên mãn, thì bồ đề đại đạo cũng chẳng còn chướng ngại. Vị Chủ Thành
Thần này đắc được môn giải thoát này.
Bấy giờ, Chủ Thành Thần Bảo Phong Quang Diệu, nương oai lực của
đức Phật, quán sát tất cả chúng Chủ Thành Thần, mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị Chủ Thành Thần Bảo Phong Quang Diệu, nương đại oai thần
lực của Phật, quán sát khắp hết thảy chúng Chủ Thành Thần, mà nói ra
bài kệ bốn câu.
Ðạo Sư như thế không nghĩ bàn
Quang minh chiếu khắp trong mười phương
Chúng sinh hiện tiền đều thấy Phật
Giáo hóa thành thục vô lượng số.
‘’Ðạo sư như thế không nghĩ bàn‘’. Ðạo sư tức là người tiếp dẫn
chúng sinh thành Phật đạo, là người vì chúng sinh làm lãnh tụ dẫn
đường. Vì Phật đem hết thảy tất cả pháp môn tu hành thành Phật trong
quá khứ, để giáo hóa tất cả chúng sinh, cũng thành tựu vô thượng
đạo, cho nên gọi là Ðạo sư.
Như thế tức là trung đạo, tức cũng là phương pháp dụng công tu hành,
để minh bạch trung đạo, tức là như thế; chẳng minh bạch thì chẳng
như thế. Trung đạo là căn bản thành Phật, hay sinh ra vô lượng chư
Phật, vô lượng Bồ Tát, vô lượng A la hán, vô lượng tổ sư. Tất cả chư
Phật trong mười phương ba đời, đều từ trung đạo sinh ra, cho nên
không nghĩ bàn.
Chỗ diệu không thể nghĩ bàn của trung đạo, là chẳng cách chi có thể
nói hết được, chẳng cách chi có thể minh bạch, chẳng tu trung đạo,
thì chẳng cách chi thành quả vị Phật. Do đó, trung đạo tức là chân
không, tức cũng là diệu hữu; chân không chẳng không, mới sinh diệu
hữu; diệu hữu chẳng hữu, chẳng ngại chân không, biến hóa vô cùng, áo
diệu chẳng thể sánh được.
‘’Quang minh chiếu khắp trong mười phương‘’. Tất cả chư Phật đều tu
trung đạo, khi tu thành công thì sẽ có đại định lực, đại huệ lực,
đại quang minh, chiếu khắp mười phương pháp giới.
‘’Chúng sinh hiện tiền đều thấy Phật‘’. Hết thảy chúng sinh trong
mười phương, đều thấy Phật ở trước mình, mỗi chúng sinh đều cảm thấy
Phật đang ở trước họ nói pháp.
‘’Giáo hóa thành thục vô lượng số.’’ Phật giáo hóa chúng sinh, khiến
cho họ thành thục quả vị Phật, chúng sinh đã thành thục quả vị Phật
nhiều không thể nói, không thể nói cho nên nói là vô lượng số.
Các căn chúng sinh đều khác nhau
Phật đều biết rõ chẳng sót thừa
Chủ Thành Thần Diệu Nghiêm
Cung Ðiện
Vào pháp môn này tâm vui mừng.
‘’Các căn chúng sinh đều khác nhau‘’. Chúng sinh mỗi người có nhân
khác nhau, quả khác nhau, cho nên căn tánh cũng khác nhau. Nhân quả
nghiệp báo của chúng sinh chẳng giống nhau, căn tánh của chúng sinh
cũng chẳng giống nhau, có người căn lành sâu dày, có người căn lành
cạn mỏng. Có người tu hành đã nhiều năm, có người mới bắt đầu tu
hành, có người lợi căn, có người độn căn. Cho nên nói đều khác nhau.
‘’Phật đều biết rõ chẳng sót thừa‘’. Tuy căn tánh của chúng sinh
chẳng giống nhau, song Phật hoàn toàn thấu rõ. Biết căn tánh của
chúng sinh rồi, sau đó mới đối căn cơ mà nói pháp.
‘’Chủ Thành Thần Diệu Nghiêm
Cung Ðiện‘’.
Vị Chủ Thành Thần Diệu Nghiêm
Cung Ðiện,
biết được cảnh giới này.
‘’Vào pháp môn này tâm vui mừng.’’ Vị Chủ Thành Thần này, vào được
pháp môn này, nên tâm sinh vui mừng.
Như Lai tu hành vô lượng kiếp
Thuở xưa hộ trì pháp chư Phật
Ý thường thừa cử sinh hoan hỷ
Diệu Bảo Thành Thần ngộ môn này.
‘’Như Lai tu hành vô lượng kiếp‘’. Từ vô lượng kiếp đến nay, Phật tu
trì hạnh môn Phật pháp.
‘’Thuở xưa hộ trì pháp chư Phật‘’. Thuở xưa, Phật hết lòng hộ trì
pháp của chư Phật nói, chẳng khiến cho Phật pháp tiêu diệt.
‘’Ý thường thừa cử sinh hoan hỷ‘’. Tâm ý của Phật thường thường
nghinh thừa pháp của chư Phật, cử hành pháp của chư Phật, trong tâm
sinh đại hoan hỷ.
‘’Diệu Bảo Thành Thần ngộ môn này.’’ Chủ Thành Thần Thanh Tịnh Diệu
Bảo, minh bạch được cảnh giới của Phật, nên vào được môn giải thoát
này.
Hộ pháp và giáo hóa chúng sinh, phải dùng đủ thứ phương tiện pháp
môn, mới có thể thành công, giống như tôn giả Ca Chiên Diên đại đệ
tử của Phật, Ngài thường ở trong mộng giáo hóa chúng sinh, khiến cho
chúng sinh giác ngộ, phát bồ đề tâm, thành vô thượng đạo, có một câu
chuyện có thể chứng minh. Tôn giả Ca Chiên Diên có vị đệ tử là ông
vua Mi Hi La,
vì nhìn thấu hồng trần mà buông bỏ tất cả, bỏ ngôi vua mà xuất gia
tu hành, ngày ăn một bữa, đêm nghỉ dưới gốc cây, tu hạnh đầu đà, tóc
cũng chẳng cắt, râu cũng chẳng cạo, giống như người nguyên thủy đời
xưa.
Một ngày nọ, ông vua nước lân cận tên là
A Bàn Ðịa, dẫn đội võ sĩ và cung nữ phi tần vào núi săn bắn, vì du
hí tiêu khiển, nên cao hứng tha hồ bắn giết, chẳng bao lâu thì ông
vua mệt mỏi và ngủ đi. Những cung nga thể nữ chẳng biết làm gì, bèn
đi hái hoa bắt bướm, phát hiện dưới gốc cây có vị Tỳ Kheo tu khổ
hạnh. Những cung nga thể nữ bèn vây quanh ông ta, yêu cầu khai thị
chỉ dạy, do đó vị Tỳ Kheo vì họ mà giảng giải Phật pháp.
Lúc đó, ông vua tỉnh dậy, phát hiện ra
bọn cung nga thể nữ chẳng ở kế bên mình, nên chạy đi tìm, thì thấy
họ đang nói chuyện với quái vật, trong cơn thịnh nộ, bèn sai võ sĩ
đánh vị Tỳ Kheo bị trọng thương. Vị Tỳ Kheo bèn sinh tâm sân hận,
phát nguyện muốn báo thù ngày hôm nay, do đó đến chỗ sư phụ xin hoàn
tục. Tôn giả Ca Chiên Diên bèn an ủi ông ta nói : ‘’Ðây là nhân quả,
vì kiếp trước ông đã từng đánh ông ta, cho nên đời này ông ta phải
đánh ông. Ông phải tin nhân quả tuần hoàn báo ứng.’’ Nhưng vị Tỳ
Kheo đó vẫn quyết định phải báo thù. Tôn giả Ca Chiên Diên yêu cầu
ông ta ở thêm một đêm nữa, ngày thứ hai hoàn tục trở về làm vua cũng
chưa muộn.
Ðêm đó, tôn giả Ca Chiên Diên bèn vận dụng thần thông, ở trong mộng
của vị Tỳ Kheo đó, giáo hóa cho ông ta biết nhân quả tơ hào chẳng
sai. Vị Tỳ Kheo đó, mộng thấy ông ta trở về làm vua, thần dân đều
hoan nghênh, lập ông ta làm vua. Sau khi ông ta lên ngôi rồi, bèn
lập tức chuẩn bị chiến tranh, xuất lãnh mười vạn đại quân đến chinh
phạt vua A Bàn Ðịa. Song, mỗi lần đánh đều bị thua, cuối cùng bị bắt
nhốt, phán tội chém đầu thị chúng. Ðương lúc chấp hình, thì ông ta
sinh tâm sám hối, hối hận rằng mình chẳng nghe lời sư phụ dạy bảo,
mới có hậu quả ngày hôm nay. Do đó, bèn khẩn cầu sư phụ từ bi mau
đến cứu. Ðang lúc cầu nguyện thì bị chém đầu, đầu người rơi xuống.
Hốt hoảng tỉnh dậy, nguyên lai là giấc mộng !
Sáng sớm ngày thứ hai, ông ta nói với tôn giả cảnh giới ở trong mộng
và đảnh lễ sám hối, quyết tâm chẳng hoàn tục nữa. Vị Tỳ Kheo đó tuy
nhiên xuất gia, song tâm chưa được thanh tịnh, còn có sự chấp trước
nghĩ không ra. Tôn giả Ca Chiên Diên dùng pháp phương tiện khéo léo,
để giáo hóa ông ta, khiến cho ông ta giác ngộ, cho nên giáo hóa
chúng sinh, phải dùng đủ thứ phương tiện khác nhau, mới có hiệu quả.
Tôn giả Ca Chiên Diên là luận nghị bậc nhất, có cảnh giới biện tài
vô ngại, luận sư ngoại đạo đương thời đều bội phục, Ngài nghị luận
rất cao minh.
Có một lần, luận sư chấp đoạn đến vấn nạn : ‘’Người ác chết rồi chịu
khổ, thì nên về nói sự khổ. Chết mà không về, do đó chẳng có đời
sau.’’
- Tôn giả đáp : ‘’Như tội nhân bị tù có được về chăng‘’ ?
- Lại hỏi : ‘’Người thiện sinh về cõi trời, sao cũng chẳng về báo
cho biết sự sung sướng‘’?
- Ðáp : ‘’Như người rớt xuống hầm phân, có chịu trở xuống nữa
chăng‘’?
Do đó, Ngài là luận nghị đệ nhất, chẳng có ai sánh bằng.
Thuở xưa Như Lai đã diệt trừ
Tất cả sợ hãi của chúng sinh
Mà luôn từ bi đối với họ
Ðây Ly Ưu Thần tâm ngộ vui.
‘’Thuở xưa Như Lai đã diệt trừ‘’. Lâu xa về trước, Phật hay trừ diệt
tất cả sự sợ hãi của tất cả chúng sinh, hay cứu hộ tất cả chúng
sinh, khiến cho họ đắc được an lạc.
‘’Tất cả sợ hãi của chúng sinh‘’. Khiến cho tất cả chúng sinh xa lìa
tất cả sự ưu sầu, phiền não, sợ hãi.
‘’Mà luôn từ bi đối với họ‘’. Phật thương xót chúng sinh, mà sinh
tâm đại từ bi. Có khi dùng từ bi hữu hình, để cứu sự ưu sầu khổ não
của chúng sinh, có khi dùng từ bi vô hình, để ban vui vẻ khoái lạc
cho chúng sinh.
‘’Ðây Ly Ưu Thần tâm ngộ vui.’’ Cảnh giới này của Phật, chúng sinh
chẳng dễ gì minh bạch được, mà vị Chủ Thành Thần Ly Ưu Thanh Tịnh
minh bạch được, cho nên tâm sinh hoan hỷ vui mừng.
Trí Phật rộng lớn chẳng bờ mé
Ví như hư không không thể lường
Hoa Mục
Thành Thần tỏ ngộ được
Tu học diệu huệ của Như Lai.
‘’Trí Phật rộng lớn chẳng bờ mé‘’. Trí huệ của Phật rộng lớn
chẳng có bờ mé, vị Thánh nhân nào cũng không thể so sánh với trí huệ
của Phật được, vì trí huệ Phật không bờ mé.
‘’Ví như hư không không thể lường‘’. Trí huệ của Phật giống như hư
không. Vì hư không không thể độ lượng, cho nên chẳng cách chi biết
được lớn cỡ nào.
‘’Hoa Mục
Thành Thần tỏ ngộ được‘’. Cảnh giới này, chỉ có Chủ Thành Thần Hoa
Ðăng Diễm Mục tỏ ngộ được, cho nên sinh tâm vui mừng.
‘’Tu học diệu huệ của Như Lai.’’ Vị Chủ Thành Thần này, hay tu tập
diệu trí huệ rộng lớn vô biên của Như Lai.
Sắc tướng Như Lai đồng chúng sinh
Tùy họ ưa thích đều khiến thấy
Diễm Tràng Minh Hiện tâm ngộ được
Tu phương tiện này sinh hoan hỷ.
‘’Sắc tướng Như Lai đồng chúng sinh‘’. Sắc thân của Như Lai tùy
nơi nào hiện cũng được, chỉ cần chúng sinh hoan hỷ thấy Phật, thì
Phật làm cho chúng sinh được mãn nguyện. Vì sắc thân của Phật đồng
chúng sinh. Tóm lại, có bao nhiêu chúng sinh, thì Phật thị hiện bấy
nhiêu sắc thân.
‘’Tùy họ ưa thích đều khiến thấy‘’. Phật hay tùy thuận nguyện vọng
của chúng sinh, phàm là chúng sinh muốn nhìn thấy Phật, thì Phật đều
khiến cho họ thấy.
‘’Diễm Tràng Minh Hiện tâm ngộ được‘’. Cảnh giới này, vị Chủ Thành
Thần Diễm Tràng Minh Hiện, tỏ ngộ được đạo lý này.
‘’Tu phương tiện này sinh hoan hỷ.’’ Vị Chủ Thành Thần này, tu học
phương tiện pháp môn này, nên tâm hoan hỷ vui mừng.
Xưa Như Lai tu các biển phước
Thanh tịnh rộng lớn không bờ mé
Phước Ðức Tràng Quang nơi môn này
Quán sát tỏ ngộ tâm vui mừng.
‘’Xưa Như Lai tu các biển phước‘’. Thuở xưa, khi Phật tu phước tu
huệ, thì rất nhận chân tu hành, dù phước nhỏ như sợi tóc, như hạt
bụi, cũng chẳng bỏ qua, cho nên tích tụ nhiều như biển cả.
‘’Thanh tịnh rộng lớn không bờ mé‘’. Cử chỉ hành động của Như Lai,
đều hay khiến cho chúng sinh, rộng sinh hoan hỷ mà chẳng sinh phiền
não, cho nên phước tu được đều thanh tịnh. Phước thanh tịnh đó, rộng
lớn chẳng có bờ mé.
‘’Phước Ðức Tràng Quang nơi môn này‘’. Cảnh giới này, vị Chủ Thành
Thần Phước Ðức Tràng Quang, minh bạch đắc được môn giải thoát này.
‘’Quán sát tỏ ngộ tâm vui mừng.’’ Ngài quán sát tỉ mỉ mà thấu rõ,
trong tâm sinh ra vui mừng.
Chúng sinh ngu mê trong các cõi
Như kẻ đui mù chẳng thấy gì
Phật vì lợi ích hiện ra đời
Thanh Tịnh Quang Thần vào môn này.
‘’Chúng sinh ngu mê trong các cõi‘’. Hết thảy tất cả chúng sinh vì
ngu si mê hoặc, cho nên lưu chuyển thọ khổ ở trong tam giới hai mươi
lăm cõi, chẳng biết làm thế nào để thoát khỏi luân hồi.
‘’Như kẻ đui mù chẳng thấy gì‘’. Giống như người đui mù, khi sinh ra
thì chẳng có mắt, tuy có thể nghe tiếng nói, nhưng chẳng nhìn thấy
vật gì, chẳng thấy được mặt trời mặt trăng như thế nào, cho nên
người đui mù rất là đau khổ.
Người chẳng hiểu biết Phật pháp, người chẳng biết ra khỏi ba cõi,
thật đáng thương như người đui mù. Mục đích xuất gia tu hành, là ra
khỏi hai mươi lăm cõi, đắc được pháp thân thanh tịnh. Song, xuất gia
chẳng phải là việc dễ dàng. Nếu là người chẳng có căn lành, thì
không thể nào xuất gia tu hành. Muốn xuất gia cũng chẳng thành tựu,
càng không được mãn nguyện. Cho nên, phải có căn lành thì mới có đại
thành tựu, mới mãn được đại nguyện lực.
Có người nói : ‘’Người đó xuất gia được
cho nên anh ta xuất gia, tôi không thể xuất gia, cho nên tôi không
xuất gia.’’ Tư tưởng này chẳng đúng. Gì là được ? Gì là không được ?
Bạn xuất gia thì được, bạn không xuất gia thì không được, chỉ xem
bạn có thực hành chăng. Giống như có vị nữ cư sĩ, cô ta xuất gia
được, song chẳng ai dạy cô ta xuất gia, nên cô ta chẳng cách gì xuất
gia được. Hôm nay, bất hạnh gặp tai nạn xe, đó là sự cảnh cáo. Cô ta
đáng lẽ chết mà không chết, vì cô ta còn có tâm muốn xuất gia. Ở
trong kinh có nói : ‘’Chẳng có pháp nhất định.’’ Người đáng chết,
nhưng nếu tu hành thì không chết. Người không đáng chết, nhưng nếu
không tu hành thì sẽ chết. Ðó là dùng công đức để tăng tuổi thọ, chứ
chẳng phải uy hiếp. Ông
Viên Liễu Phàm vào đời nhà Tống là một điển hình,
ông ta đáng lẽ phải chết lúc năm mươi tuổi, nhưng về sau vì làm công
đức, do đó sống đến tám mươi tuổi mới chết. Nếu vốn có tuổi thọ là
tám mươi, mà làm nhiều chuyện bất nghĩa, thương trời hại lý, tổn
người lợi mình, thì sớm sẽ chết yểu.
Lúc tôi ở Chùa Tam Duyên tại Ðông Bắc Trung
Quốc, thì một ngày nọ đi hóa duyên với Hoà Thượng
trụ trì, đến ngôi làng nọ hóa duyên tại một gia đình họ Vương. Khi
chúng tôi đi vào cửa, thì thấy chủ nhà đang quỳ ở trước cửa, bèn hỏi
họ sao lại quỳ ở trước cửa thì họ nói : ‘’Vì con của tôi đang mắc
chứng bện nặng, bệnh đã lâu mà thầy thuốc đều bó tay. Hôm nay nghe
nói lão thiện nhân (người hiểu biết Phật pháp gọi lão Hòa Thượng là
lão tu hành; người chẳng hiểu biết Phật pháp gọi là lão thiện nhân)
đến hóa duyên, thỉnh lão thiện nhân từ bi, cứu mạng đứa con của
tôi‘’!
Lúc đó, Hòa Thượng trụ trì quay đầu lại nói với tôi : ‘’Con nên tìm
cách chữa trị xem‘’!
- Tôi nói : ‘’Con chẳng biết trị bệnh ! Có cách gì mà có thể nghĩ‘’?
- Lúc đó, hoà thượng trụ trì lại nói : ‘’Con ở tại Ðại Bá, chẳng
phải là đã cứu chữa được một đức bé chăng‘’?
- Tôi nói với người chủ nhà rằng : ‘’Hãy mang nó ra, trước hết xem
bệnh tình rồi mới nói.’’
Cha con quỳ ở dưới đất đảnh lễ. Tôi nhìn đứa bé chắc khoảng mười
tuổi, có tướng mạo xuất gia. Tôi bèn nói với chủ nhà rằng : ‘’Sau
khi con của ông lành bệnh rồi, phải nhất định phải cho nó đi xuất
gia, mới không có nguy hiểm, ông đồng ý chăng‘’ ?
Chủ nhà lúc đó chẳng suy nghĩ nói : ‘’Ðương nhiên là được, chỉ cần
con của tôi hết bệnh, thì điều kiện gì tôi cũng đồng ý.’’
Tôi lại nói với ông ta rằng : ‘’Bệnh con của ông chẳng cần chữa trị,
cũng chẳng cần uống thuốc, nửa tháng sau chắc chắn sẽ hết.‘’ Quả
nhiên, chẳng bao lâu đứa con chẳng uống thuốc mà khỏi bệnh.
Hơn một tháng sau, tôi đi qua thôn trang đó, chủ ý đi xem bệnh của
đức bé đó như thế nào ? (Lúc đó tôi rất chú ý đứa bé đó, hy vọng nó
được xuất gia tu hành). Biết được nó đã hoàn toàn bình phục.
- Tôi nói với cha của đứa bé rằng : ‘’Hãy mau cho nó đi xuất gia.’’
- Ông ta nói : ‘’Ðợi mấy ngày nữa xem tình hình thế nào.’’ Ðứa con
lành bệnh rồi, ông ta xả bỏ chẳng đặng, đó là thường tình của con
người.
Quá một tháng sau, tôi lại đi xem tình
trạng của đứa bé thế nào, lần này tinh thần của đứa bé tốt hơn, vui
vẻ nói chuyện với tôi. Tôi lại thúc giục cha của đứa bé, sớm cho đứa
bé đi xuất gia, cha của đứa bé chẳng có biểu thị gì. Tôi nói với ông
ta rằng : ‘’Nếu chẳng cho nó đi xuất gia, mà bệnh của con ông tái
phát, thì lúc đó tôi không còn lo được nữa. Ông nên nghĩ cho thật
kỹ, đến lúc đó hối hận cũng chẳng còn kịp nữa.’’ Ông ta cho rằng tôi
uy hiếp, cho nên không lý tới, sau đó tôi đi đến nơi khác làm Phật
sự.
Khoảng nửa năm sau, tôi lại đi qua thôn trang đó, nhưng lần này
chẳng đi xem đứa bé, vì tôi đã biết bệnh của đứa bé lại tái phát
nữa. Ðứa bé đó bệnh nằm trên giường, mà biết được tôi đi ngang qua
thôn trang, bèn nói với cha rằng : ‘’Vừa rồi có người ở Chùa Tam
Duyên vừa mới đi ngang qua thôn của mình, nhưng vị đó không đến thăm
con, bệnh của con sẽ không khỏi được.’’ Người cha an ủi nói :
‘’Không sao, mai cha sẽ đến Chùa Tam Duyên thỉnh ông ta đến.’’
Ngày thứ hai, cha của cậu bé đến Chùa Tam Duyên, lúc đó tôi đi ra
ngoài chẳng có ở chùa, ông ta nói chuyện với Hoà Thượng trụ trì vài
câu rồi đi về nhà.
Ông ta vừa về đến nhà, thì đứa bé nói với ông ta rằng : ‘’Ba ba ! Ba
ba ! Con cũng vừa theo ba đến Chùa Tam Duyên.’’
- Ông ta nghe nói rất ngạc nhiên hỏi : ‘’Sao ba không thấy con đi‘’
?
- Ðứa bé cười nói : ‘’Ba chẳng nhìn thấy con, mà con nhìn thấy ba
nói chuyện với Lão thiện nhân ở căn phòng đó, có người nào kế bên
cạnh, đi qua đâu, lại có Ðiện vãng sanh và bài vị công đức.’’ Nói
rất rõ ràng (đứa bé đó chưa bao giờ đến Chùa Tam Duyên), cha của đứa
bé cảm thấy rất là kỳ lạ.
Về sau, tôi lại đi ngang qua thôn trang đó, đứa bé đó nói với ba của
y rằng : Người ở Chùa Tam Duyên, hôm nay lại đi ngang qua thôn trang
của chúng ta, nhưng không đến nhà mình, đại khái con không được xuất
gia‘’ ! Vào tối hôm đó, đứa bé nói với ba của y rằng : ‘’Ba ba ! Hãy
thắp đèn lên sớm một chút, nhìn con ngồi có ngay thẳng chăng ? ‘’Ba
của đứa bé thắp đèn dầu lên xem, thì đứa bé ngồi kiết già ở trên
giường mà vãng sinh.
Ðứa bé đó vốn được xuất gia, nhưng chẳng
có ai dạy y đi xuất gia. Bệnh khỏi nhưng cha của cậu bé chẳng nỡ cho
con đi xuất gia, kết quả cậu bé chết đi. Từ chỗ này mà nhìn lại,
xuất gia hay không xuất gia chẳng nhất định. Tuy đứa bé đã chết
nhiều năm, nhưng luôn luôn theo bên cạnh tôi. Lúc đứa bé còn sống,
chẳng có duyên đi xuất gia, sau khi chết rồi vẫn biết tu hành. Cho
nên vấn đề sanh tử chẳng dễ gì giải quyết được.
‘’Phật vì lợi ích hiện ra đời‘’. Phật vì lợi ích tất cả chúng sinh
mới hiện ra thế gian, do đó: ‘’Ðảo giá từ thuyền’’, trở lại bằng con
thuyền từ bi, đến thế giới Ta Bà để độ chúng sinh có duyên.
‘’Thanh Tịnh Quang Thần vào môn này.’’ Vị Chủ Thành Thần Tịnh Quang
Minh Thân, vào được môn giải thoát này.
Như Lai tự tại chẳng bờ mé
Như mây khắp cùng trong thế gian
Cho đến trong mộng cũng điều phục
Môn này Hương Tràng quán sát thấy.
‘’Như Lai tự tại chẳng bờ mé‘’. Phật dùng thần thông tự tại diệu
dụng để giáo hóa tất cả hữu tình, khắp cùng mười phương chúng sinh
trong pháp giới, cho nên nói là chẳng bờ mé.
‘’Như mây khắp cùng trong thế gian‘’. Giống như mây ở trong hư
không, khắp cùng trong thế gian.
‘’Cho đến trong mộng cũng điều phục‘’. Phật chẳng những giáo hóa lúc
chúng sinh tỉnh táo, dù chúng sinh trong giấc mộng, cũng có thể điều
phục, khiến cho họ phát tâm bồ đề.
‘’Môn này Hương Tràng quán sát thấy.’’ Cảnh giới này của Phật, vị
Chủ Thành Thần Hương Tràng Trang
Nghiêm quán
sát thấy được.
Chúng sinh ngu tối như đui mù
Ðủ thứ chướng cái trói che đậy
Phật quang chiếu phá khai trí huệ
Bảo Phong Thần vào được môn này.
‘’Chúng sinh ngu tối như đui mù‘’. Sự ngu si đen tối của chúng sinh
giống như người đui mù.
‘’Ðủ thứ chướng cái trói che đậy‘’. Sự ngu si của chúng sinh giống
như con khỉ, chẳng có lúc nào an tĩnh, tay này cầm lên thì tay kia
bỏ xuống, không việc tìm việc làm. Tuy chẳng nhàn rỗi, nhưng chẳng
làm được việc gì tốt. Chúng sinh cũng như thế, thứ dục này buông bỏ
thì cầm thứ dục kia lên, ví như có người buông bỏ tài vật, lại ôm
cầm sắc dục, thậm chí danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ, đủ thứ tâm tham
cũng sinh ra. Năm dục này tức là chướng cái, trói buộc che đậy, vì
có đủ thứ chướng cái và che đậy trói buộc, cho nên chẳng đắc được
giải thoát.
‘’Phật quang chiếu phá khai trí huệ‘’. Phật phóng đại trí huệ quang
minh, chiếu phá sự ngu si của chúng sinh, đen tối cũng chiếu phá,
khiến cho khắp hết thảy chúng sinh đều khai mở trí huệ.
‘’Bảo Phong Thần vào được môn này.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Thành
Thần Bảo Phong Quang Mục, thấu rõ mà vào được môn giải thoát này.
Lại nữa, Ðạo Tràng Thần Tịnh Trang
Nghiêm Tràng, được môn giải thoát, xuất hiện cúng
dường Phật rộng lớn, đồ trang nghiêm thệ nguyện lực.
Nghĩa lý của bộ Kinh Hoa
Nghiêm này
trùng trùng vô tận, cho nên nghĩa lý ở trên chưa nói hết, lại tiếp
tục nói, cho nên nói là lại nữa.
Vị Ðạo Tràng Thần Tịnh Trang
Nghiêm Tràng, Ngài vừa thanh tịnh vừa trang nghiêm,
như là tràng báu. Ngài là thần hộ trì đạo tràng, tức là nơi nào
giảng kinh thuyết pháp tu hành đều là đạo tràng. Ví như, tham thiền
tức là đạo tràng tham thiền, niệm Phật là đạo tràng niệm Phật, học
giáo lý là đạo tràng giảng giáo lý, trì Chú là đạo tràng trì Chú,
trì giới là đạo tràng trì giới. Tóm lại, tu pháp môn gì thì là đạo
tràng đó.
Chúng ta người tu đạo, trước hết phải có
đạo tràng mới có thể tu được, phải có hộ pháp. Nếu chẳng có hộ pháp
thì phải chịu mọi sự chướng ngại. Do đó, phải có thiện thần hộ trì
đạo tràng, các Ngài đuổi hết bàng môn tả đạo và thiên ma ngoại đạo
đi, chẳng để cho chúng nhiễu loạn người tu đạo
Vị Ðạo Tràng Thần này, đắc được cảnh
giới, biết Phật tu hạnh bồ đề trong quá khứ, tức là tu bố thí Ba la
mật, trì giới Ba la mật, nhẫn nhục Ba la mật, tinh tấn Ba la mật,
thiền định Ba la mật, Bát nhã Ba la mật. Khi tu sáu độ vạn hạnh này,
thì hoan hỷ cúng dường tất cả chư Phật trong mười phương ba đời. Lại
phát tâm rộng lớn để trang nghiêm tất cả đạo tràng, lại phát đại thệ
nguyện lực, đại bồ đề tâm, để rộng độ tất cả chúng sinh, khiến cho
họ đều thành Phật đạo, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Ðạo Tràng Thần Tu Di Bảo Quang, được môn giải thoát, hiện ở trước
tất cả chúng sinh, để thành tựu hạnh bồ đề rộng lớn.
Vị Ðạo Tràng Thần Tu Di Bảo Quang, đắc được cảnh giới của Phật. Khi
Phật ở tại nhân địa tu hành, thì phát đại nguyện muốn thành tựu hạnh
bồ đề rộng lớn của chúng sinh, cho nên hiện ở trước tất cả chúng
sinh, khiến cho họ từ bậc phàm phu tu thành bậc Thánh, Ngài đắc được
môn giải thoát này.
Ðạo Tràng Thần Lôi Âm Tràng Tướng, được môn giải thoát, tùy tâm
sở thích của tất cả chúng sinh, khiến cho họ thấy Phật ở trong mộng,
để vì họ thuyết pháp.
Vị Ðạo Tràng Thần Lôi Âm Tràng Tướng, đắc được một cảnh giới của
Phật, hay tùy thuận tâm sở thích của tất cả chúng sinh, khiến cho
tất cả chúng sinh ở trong mộng, thấy được Phật vì họ mà thuyết pháp,
Ngài đắc được cảnh giới này.
Mộng có nhiều thứ, cảnh giới mà gặp ban ngày, ở trong mộng có thể
hiện ra, đây là mộng hồi ý. Có khi cảnh giới chưa đến, song hiện ra
trước ở trong mộng, về sau cảnh giới ở trong mộng mới hiện ra, đây
là mộng thần thông. Một số cảnh giới mộng về ban ngày nghĩ gì, thì
ban đêm sẽ nằm mộng, hoặc chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh. Ví như khí
nóng nhiều thì mộng lửa, khí lạnh nhiều thì mộng nước, gió nhiều thì
mộng bay .v.v...
Có mộng quá khứ, mộng hiện tại, mộng
tương lai, những giấc mộng này là mộng chẳng thanh tịnh, cảnh mộng
cũng chẳng rõ ràng. Nếu mộng thấy chư Phật, mộng thấy Bồ Tát, mộng
thấy A La
Hán, để vì bạn nói pháp, khiến cho bạn khai mở đại
trí huệ, thì đây là mộng thanh tịnh, cảnh mộng rất rõ ràng, thậm chí
có quang minh màu đỏ, hoặc quang minh màu vàng, đây là biểu hiện cảm
ứng đạo giao. Nếu như kiền thành niệm, Phật thì nhất định sẽ mộng
thấy thân Phật A Di Ðà, phóng kim quang để chiếu soi bạn.
Ðạo Tràng Thần Vũ Hoa
Diệu Nhãn, được môn giải thoát, hay mưa xuống tất
cả các báu vật trang nghiêm khó xả bỏ.
Vị Ðạo Tràng Thần Vũ Hoa
Diệu Nhãn, đắc được cảnh giới hay đem báu vật hiếm
có, bố thí cho tất cả chúng sinh. Ngài minh bạch đức Phật thuở quá
khứ tu, ngoài thì xả bỏ đất nước vợ con, trong thì xả bỏ đầu mắt tuỷ
não, cho nên, Ngài hay mưa xuống tất cả các báu vật trang nghiêm khó
xả bỏ, Ngài đắc được cảnh giới nầy.
Ðạo Tràng Thần Thanh Tịnh Diễm Hình, được môn giải thoát, hay
hiện đạo tràng vi diệu trang nghiêm, rộng độ chúng sinh, khiến cho
họ thành thục.
Vị Ðạo Tràng Thần Thanh Tịnh Diễm Hình, đắc được cảnh giới, hiện
ra khắp đạo tràng vi diệu trang nghiêm, để rộng độ giáo hoá tất cả
chúng sinh, khiến cho họ đều thành thục Phật đạo, Ngài đắc được môn
giải thoát nầy.
Ðạo Tràng Thần Hoa
Anh Thuỳ Kế, được môn giải thoát, tuỳ thuận căn cơ
thuyết pháp, khiến cho chúng sinh sinh chánh niệm.
Vị Ðạo Tràng Thần Hoa
Anh Thuỳ Kế, được cảnh giới tuỳ thuận căn tính của
chúng sinh để thuyết pháp, đối với người đại căn đại trí, thì nói
pháp tối thượng thừa, người trung căn trung trí, thì nói pháp trung
thừa, người tiểu căn tiểu trí, thì nói pháp tiểu thừa, khiến cho tất
cả chúng sinh cải tà theo chánh, Ngài đắc được môn giải thoát nầy.
Tà niệm là gì? Tức là tham sân si, chấp vào tham sân si, hành tham
sân si. Chánh niệm là gì? Tức là giới định huệ, siêng tu giới định
huệ để diệt trừ tham sân si, như thế thì sẽ được giải thoát, khiến
cho tất cả chúng sinh, đều tu theo pháp môn giới định huệ.
Ðạo Tràng Thần Vũ Bảo Trang
Nghiêm, được môn giải thoát, hay dùng biện tài mưa
xuống khắp vô biên pháp hoan hỉ.
Vị Ðạo Tràng Thần Vũ Bảo Trang
Nghiêm, đắc được cảnh giới, mưa xuống khắp tất cả
diệu pháp, để trang nghiêm hết thảy đạo tràng, hay dùng biện tài vô
ngại để rưới xuống vô biên pháp hoan hỉ, khiến cho chúng sinh nghe
pháp đều được hoan hỉ, Ngài đắc được cảnh giới nầy.
Ðạo Tràng Thần Dũng Mãnh Hương Nhãn, được môn giải thoát, rộng
khen ngợi công đức của chư Phật.
Vị Ðạo Tràng Thần Dũng Mãnh Hương Nhãn, minh bạch được cảnh giới của
Phật, hay rộng khen ngợi công đức của chư Phật, ở trong cõi nước của
chư Phật, trong mười phương tận hư không khắp pháp giới, đều khen
ngợi công đức của chư Phật rộng lớn chẳng có bờ mé, như hư không,
Ngài đắc được môn giải thoát nầy.
Có người dùng kiến giải thế tục nói: "Chư Phật cũng hoan hỉ người
khác khen ngợi, đây là biểu hiện hữu tình, cho nên nói chư Phật cũng
có tình cảm". Phật giáo đồ nhận lầm mắt cá làm hạt châu cũng nói:
"Phật tức là hữu tình, hữu tình tức là Phật". Vậy, có phải như thế
chăng? Chẳng phải! Phật là Thánh nhân, không hoan hỉ chúng sinh tán
thán công đức của Ngài, dù khen ngợi Ngài cũng chẳng hoan hỉ, phỉ
báng Ngài cũng chẳng giận, khen chê đều chẳng lay động, thuận nghịch
đều như như. Bất cứ gặp cảnh giới thuận, hoặc cảnh giới nghịch, cũng
đều như như bất động, cho nên chiếu rõ thật tướng của các pháp.
Ðức Phật là bậc giác ngộ vĩ đại nhất trên thế giới, minh bạch tất cả
đạo lý, do đó thường vắng lặng không động, giác chiếu thường minh.
Chẳng giống như chúng ta chúng sinh có sự chấp trước, nói họ hai câu
tốt, thì họ vui mừng như ăn đường, nói họ một câu không tốt, thì họ
khổ còn hơn là ăn bòn hòn, thậm chí còn cay đắng hơn là ăn ớt. Ðó là
tri kiến của chúng sinh.
Tại sao chúng ta phải khen
ngợi Phật? Vì khen ngợi công đức của Phật, thì có thể tăng trưởng
công đức của mình, hơn nữa khen ngợi Phật tức là khen mình, khen
mình tức là khen Phật, cho nên phải khen ngợi Phật.
Có người đang nghĩ tưởng: "A! Vậy, ta tự khen mình là ‘thiên thượng
thiên hạ duy ngã độc tôn’, là người có trí huệ nhất trên thế gian".
Nếu bạn có đại trí huệ chân chánh, thì có thể tự khen mình, song nếu
chỉ nghĩ hồ đồ hư danh thì vô dụng, phải có công phu chân thật, thì
mới có thể bách chiến bách thắng, chẳng có công phu chân thật, thì
nhất định bách chiến bách bại.
Phật làm thế nào mà được thành Phật? Là rộng khen ngợi công đức của
chư Phật, chẳng riêng gì khen ngợi công đức của chư Phật quá khứ, mà
cũng khen ngợi công đức của chư Phật hiện tại, và chư Phật vị lai,
đều khen ngợi công đức của chư Phật ba đời, thì sau đó mình cũng
thành Phật.
Ðạo Tràng Thần Kim Cang Thải Vân, được môn giải thoát, thị hiện
vô biên cây sắc tướng, để trang nghiêm đạo tràng.
Vị Ðạo Tràng Thần Kim Cang Thải Vân, đắc được cảnh giới của Phật, ở
tại Bồ đề đạo tràng, thị hiện vô lượng vô biên cây tốt đẹp trang
nghiêm, để trang nghiêm đạo tràng, khiến cho chúng sinh thấy cảnh
tượng bảy hàng cây, mà phát tâm vô thượng bồ đề, đắc được vô thượng
đạo, Ngài đắc được môn giải thoát nầy.
Ðạo Tràng Thần Liên Hoa
Quang Minh, được môn giải thoát, dưới cội bồ đề
tĩnh lặng không động, mà sung mãn khắp mười phương.
Vị Ðạo Tràng Thần Liên Hoa
Quang Minh, đắc được cảnh giới của Phật, ngồi dưới
cội bồ đề tĩnh lặng không động. Tuy nhập định, nhưng quang minh vẫn
sung mãn khắp mười phương pháp giới, Ngài dùng quang minh để giáo
hoá tất cả chúng sinh, Ngài đắc được môn giải thoát nầy.
Ðạo Tràng Thần Diệu Quang Chiếu Diệu, được môn giải thoát, hiển
bày đủ thứ lực của Như Lai.
Vị Ðạo Tràng Thần Diệu Quang Chiếu Diệu, đắc được đủ thứ lực của Như
Lai. Tuy Như Lai có mười lực, song, nếu nói ra tỉ mỉ thì Như Lai có
trăm lực, ngàn lực, vạn lực, vô lượng lực, Ngài đắc được môn giải
thoát nầy.
Bấy giờ, Ðạo Tràng Thần Tịnh Trang
Nghiêm Tràng, nương oai lực của đức Phật, quán sát
khắp tất cả chúng Ðạo Tràng Thần, mà nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị Ðạo Tràng Thần Tịnh Trang
Nghiêm Tràng, nương sức đại oai thần của Phật, quán
sát khắp tất cả chúng Thần ở trong đạo tràng, mà dùng kệ để khen
ngợi công đức của Phật.
Tôi nhớ Như Lai thuở xa xưa
Trong vô lượng kiếp siêng tu hành
Chư Phật ra đời đều cúng dường
Nên được công đức như hư không.
"Tôi nhớ Như Lai thuở xa xưa". Vị Ðạo Tràng Thần Tịnh Trang
Nghiêm Tràng nói:
"Tôi nhớ lại khi Phật ở trong vô lượng kiếp về trước, tu hành vô
lượng hạnh môn".
"Trong vô lượng kiếp siêng tu hành". Khi Phật ở tại nhân địa, thì
trải qua thời gian vô lượng kiếp, tu hành pháp môn rộng lớn cúng
dường chư Phật, tức là hạnh môn "Rộng tu cúng dường", trong mười đại
nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.
"Chư Phật ra đời đều cúng dường". Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tại nhân
địa tu hành, thì thảy đều cúng dường mười phương chư Phật. Mỗi vị
Phật xuất hiện ra đời, Ngài đều cúng dường vị Phật đó.
"Nên được công đức như hư không". Cho nên, mới được công đức lớn,
bất khả thuyết bất khả thuyết, vô lượng vô biên, như tận hư không
khắp pháp giới.
Xưa Phật tu hành vô tận thí
Ðồng số hạt bụi vô lượng cõi
Tu Di Quang Chiếu Bồ Ðề Thần
Nhớ nghĩ Thiện Thệ tâm hoan hỉ.
"Xưa Phật tu hành vô tận thí". Thuở xưa Phật tu hành pháp môn bố
thí, thậm chí đất nước vợ con, đầu mắt tuỷ não, thảy đều bố thí cho
chúng sinh, cho nên nói tu hành vô tận thí.
"Ðồng số hạt bụi vô lượng cõi". Phật tu vô tận thí, nhiều như số hạt
bụi trong vô lượng cõi.
"Tu Di Quang Chiếu Bồ Ðề Thần". Vị Ðạo Tràng Thần Tu Di Quang Chiếu
minh bạch cảnh giới nầy.
"Nhớ nghĩ Thiện Thệ tâm hoan hỉ". Vị Ðạo Tràng Thần nầy nói : "Hiện
tại, tôi nghĩ nhớ lại thuở xưa hạnh môn của Phật tu, trong tâm rất
hoan hỉ vô cùng, nguyện sẽ tu tập pháp môn nầy.
Sắc tướng Như Lai không cùng tận
Biến hoá lưu khắp tất cả cõi
Cho đến trong mộng thường thị hiện
Lôi Tràng thấy được sinh hoan hỉ.
"Sắc tướng Như Lai không cùng tận". Thanh tịnh pháp thân, trang
nghiêm báo thân, thiên bách ức hoá thân, đủ thứ sắc thân của Phật
đều không cùng tận.
"Biến hoá lưu khắp tất cả cõi". Thần thông biến hoá của Phật diệu
không thể tả, giống như nước chảy khắp mọi nơi, chu biến khắp cùng
các cõi, để giáo hoá tất cả chúng sinh.
"Cho đến trong mộng thường thị hiện". Chẳng những chúng sinh lúc
tỉnh táo, Phật đều giáo hoá cứu độ tất cả chúng sinh, mà cho đến ở
trong mộng của chúng sinh, Phật cũng thị hiện để giáo hoá họ, khiến
cho chúng sinh phát bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo, cầu vô thượng đạo,
chứng quả vô thượng.
"Lôi Tràng thấy được sinh hoan hỉ". Vị Ðạo Tràng Thần Lôi Âm Tràng
Tướng, thấy được cảnh giới nầy, trong tâm rất hoan hỉ, không cách
chi hình dung được sự vui mừng ở trong nội tâm.
Xưa tu hạnh xả vô lượng kiếp
Xả mắt khó xả nhiều như biển
Hạnh xả như thế vì chúng sinh
Diệu Nhãn Thần ngộ được môn nầy.
"Xưa tu hạnh xả vô lượng kiếp". Thuở xưa, đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
tu hành hạnh môn xả bỏ, trải qua vô lượng vô biên biển kiếp.
"Xả mắt khó xả nhiều như biển". Phật xả bỏ được những gì người khác
không xả bỏ được, chỉ nội con mắt mà Ngài xả bỏ nhiều như biển. Con
mắt là vật người không xả bỏ được, mà Phật xả bỏ được, chẳng những
xả bỏ một, mà là xả bỏ con mắt nhiều như biển, hạnh xả bỏ nầy thật
là vĩ đại.
"Hạnh xả như thế vì chúng sinh". Hạnh môn bố thí như thế, chẳng phải
vì mình, mà là vì tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được
trí huệ quang minh. Phật giống như đèn cầy, hy sinh chính mình mà
chiếu sáng thế gian.
"Diệu Nhãn Thần ngộ được môn nầy". Vị Ðạo Tràng Thần Vũ Hoa
Diệu Nhãn, lãnh ngộ được cảnh giới nầy, mà sinh vui
thích.
Vô biên sắc tướng mây báu đẹp
Hiện bồ đề tràng khắp thế gian
Ðạo Tràng Thần Diễm Hình Thanh Tịnh
Thấy Phật tự tại sinh hoan hỉ.
"Vô biên sắc tướng mây báu đẹp". Phật có vô lượng vô biên sắc tướng
trang nghiêm như mây báu đẹp. Ngài du hoá trong vô lượng vô biên cõi
nước, để giáo hoá chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được trí huệ
quang minh, mà chấm dứt sinh tử, đạt đến cứu kính Niết Bàn.
"Hiện bồ đề tràng khắp thế gian". Thị hiện khắp bồ đề đạo tràng,
khắp hết thảy tất cả thế gian.
"Ðạo Tràng Thần Diễm Hình Thanh Tịnh". Vị Ðạo Tràng Thần Diễm Hình
Thanh Tịnh, thấy được cảnh giới nầy.
"Thấy Phật tự tại sinh hoan hỉ". Thấy được Phật có cảnh giới, biến
hoá tự tại thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn nầy, nên tâm sinh
hoan hỉ mà vui mừng.
Chúng sinh biển hạnh chẳng bờ mé
Phật tiêu diệt khắp rưới mưa pháp
Tuỳ căn tánh họ trừ nghi hoặc
Hoa Anh ngộ
được tâm hoan hỉ.
"Chúng sinh biển hạnh chẳng bờ mé". Chúng sinh tạo nghiệp và thọ quả
báo, như biển cả chẳng có bờ mé.
"Phật tiêu diệt khắp rưới mưa pháp". Phật khiến cho hết thảy chúng
sinh, tiêu trừ sạch tất cả nghiệp chướng, để giáo hoá họ, khiến cho
họ đắc được mưa pháp, thấm nhuần căn lành, khiến cho tăng trưởng,
khiến cho thành thục, khiến cho họ được giải thoát.
"Tuỳ căn tánh họ trừ nghi hoặc". Tuỳ theo căn tánh của chúng sinh,
để giải trừ nghi hoặc của chúng sinh, tức là : Kiến, tư hoặc (hoặc
về sự thấy và nghĩ), trần sa hoặc, vô minh hoặc. Tứ quả A la hán đã
đoạn trừ được kiến tư hoặc, Bồ Tát đã đoạn trừ trần sa hoặc, Phật đã
hoàn toàn đoạn trừ vô minh hoặc.
"Hoa Anh ngộ
được tâm hoan hỉ". Vị Ðạo Tràng Thần Hoa
Anh Thuỳ Kế, minh bạch được đạo lý nầy, tâm sinh
đại hoan hỉ.
Vô lượng pháp môn nghĩa khác nhau
Biện tài như biển đều vào được
Ðạo Tràng Thần Vũ Bảo Nghiêm Cụ
Trong mỗi tâm niệm luôn như thế.
"Vô lượng pháp môn nghĩa khác nhau". Vì pháp môn vô lượng, nên nghĩa
lý cũng vô lượng. Nghĩa lý vô lượng thì có rất nhiều sự khác nhau.
"Biện tài như biển đều vào được". Tất cả pháp môn và diệu nghĩa của
các pháp, cần có đầy đủ biện tài như biển cả, mới vào được tất cả
pháp môn, hiểu rõ nghĩa chân thật của các pháp.
"Ðạo Tràng Thần Vũ Bảo Nghiêm
Cụ". Vị Ðạo Tràng Thần Vũ Bảo Nghiêm
Cụ, minh bạch được cảnh giới nầy.
"Trong mỗi tâm niệm luôn như thế". Ở trong tâm niệm của Ngài, niệm
niệm luôn luôn không quên môn giải thoát nầy.
Trong bất khả thuyết tất cả cõi
Dùng hết lời lẽ khen ngợi Phật
Nên được tiếng khen đại công đức
Dũng Nhãn Thần nghĩ nhớ môn nầy.
"Trong bất khả thuyết tất cả cõi". Vì cõi nước nhiều giống như bụi,
cho nên gọi là bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả cõi.
"Dùng hết lời lẽ khen ngợi Phật". Khi Phật ở tại nhân địa, thì trong
bất khả thuyết cõi, Phật dùng hết thảy lời lẽ thế gian để khen ngợi
chư Phật, tức cũng là dùng đủ thứ ngôn ngữ, để khen ngợi công đức
của chư Phật.
"Nên được tiếng khen đại công đức". Vì thuở xưa tại nhân địa khen
ngợi chư Phật, cho nên tại quả địa được tiếng khen tốt đẹp nhất, và
công đức lớn nhất.
"Dũng Nhãn Thần nghĩ nhớ môn nầy". Vị Ðạo Tràng Thần Dũng Mãnh Hương
Nhãn, nghĩ nhớ lại môn giải thoát nầy.
Ðủ thứ cây sắc tướng vô biên
Hiện khắp dưới cội bồ đề vương
Kim Cang Thải
Vân ngộ môn nầy
Thường quán đạo thụ sinh hoan hỉ.
"Ðủ thứ cây sắc tướng vô biên". Trong Bồ đề đạo tràng, có đủ thứ cây
vô biên sắc đẹp trang nghiêm.
"Hiện khắp dưới cội bồ đề vương". Loại cây vô biên sắc tướng nầy,
hiện khắp ở dưới cội bồ đề vương.
"Kim Cang Thải Vân ngộ môn nầy". Vị Ðạo Tràng Kim Cang Thải Vân,
minh bạch được môn giải thoát nầy.
"Thường quán đạo thụ sinh hoan hỉ". Ngài thường quán xem sắc tướng
cây thụ vương, mà sinh tâm hoan hỉ.
Mười phương bờ mé bất khả đắc
Phật ngồi đạo tràng trí cũng vậy
Liên Hoa
Bộ Quang tịnh tín tâm
Vào giải thoát này rất vui mừng.
"Mười phương bờ mé bất khả đắc". Bờ mé mười phương không cách chi
lường được, chẳng biết cứu kính lớn cỡ nào? Ðó mới là không thể nghĩ
bàn.
"Phật ngồi đạo tràng trí cũng vậy". Phật ngồi đạo tràng trí huệ cũng
như thế, chẳng có bờ mé.
"Liên Hoa
Bộ Quang tịnh tín tâm". Vị Ðạo Tràng Thần Liên Hoa
Bộ Quang, thấy được cảnh giới nầy, minh bạch được
pháp môn nầy, bèn sinh tín tâm thanh tịnh.
"Vào giải thoát nầy rất vui mừng". Ngài vào môn giải thoát nầy,
trong tâm rất hoan hỉ vui mừng.
Tất cả đạo tràng vang diệu âm
Khen Phật sức thanh tịnh khó nghĩ
Và còn thành tựu các nhân hạnh
Ðây Diệu Quang Thần nghe thọ được.
"Tất cả đạo tràng vang diệu âm". Tất cả đạo tràng đều diễn xướng
pháp âm vi diệu.
"Khen Phật sức thanh tịnh khó nghĩ ". Khen ngợi sức thanh tịnh của
Phật không thể nghĩ bàn.
"Và còn thành tựu các nhân hạnh". Và còn thành tựu tất cả nhân địa
hạnh môn của chúng sinh, cũng thành tựu nhân địa hạnh môn của chính
mình.
"Ðây Diệu Quang Thần nghe thọ được". Vị Ðạo Tràng Thần Diệu Quang
Chiếu Diệu, nghe được diệu âm nầy, mà thọ được pháp ích, y theo pháp
mà tu hành.
Lại nữa, Túc Hành Thần Bảo Ấn Thủ,
được môn giải thoát, mưa khắp các báu sinh hoan hỉ rộng lớn.
Lại nữa, là tiếp tục nói, vị Túc Hành Thần Bảo Ấn Thủ nầy có bảo ấn,
hàng phục được bàng môn tả đạo, Ngài là Thần quản lý chúng sinh túc
hành. Túc hành có rất nhiều loại: Có loài hai chân, bốn chân, sáu
chân, tám chân, mười chân, thậm chí một trăm chân. Phàm là dùng chân
để đi, đều gọi là túc hành. Giống như Thần đại phục hành, tức là
Thần túc hành.
Vị Túc Hành Thần nầy khéo về bố thí, hay mưa xuống các châu báu, bố
thí khắp cho chúng sinh cần dùng, khiến cho tất cả chúng sinh đều
sinh tâm đại hoan hỉ. Ngài đắc được môn giải thoát nầy.
Túc Hành Thần Liên Hoa
Quang, được môn giải thoát, thị hiện thân Phật,
ngồi trên tất cả tòa hoa sen quang sắc, khiến cho ai thấy cũng đều
hoan hỷ.
Vị Túc Hành Thần Liên Hoa
Quang, có tòa hoa sen bốn màu, hay phóng ra quang
minh bốn màu; màu xanh thì quang minh xanh, màu vàng thì quang minh
vàng, màu đỏ thì quang minh đỏ, màu trắng thì quang minh trắng, mùi
vị phảng phất hương thơm tinh khiết vi diệu. Ngài đắc được cảnh
giới, thị hiện được thân Phật, ngồi ở trên tất cả tòa sen quang sắc,
khiến cho tất cả chúng sinh ai thấy được, đều sinh tâm đại hoan hỷ,
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Túc Hành Thần Tối Thắng Hoa
Kế, được môn giải thoát, trong mỗi mỗi tâm niệm,
kiến lập chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai.
Vị Túc Hành Thần Tối Thắng Hoa
Kế, ở trong mỗi tâm niệm, kiến lập pháp hội đạo
tràng của Phật, và pháp hội đạo tràng của mười phương chư Phật để
diễn nói diệu pháp, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Túc Hành Thần Nhiếp Chư Thiện Kiến, được môn giải thoát, dở chân
cất bước, điều phục được vô biên chúng sinh.
Vị Túc Hành Thần Nhiếp Chư Thiện Kiến, đắc được cảnh giới, hay nhiếp
thọ một thứ thiện kiến giải của tất cả chúng sinh. Ngài mỗi lần dở
tay, cất chân, đều điều phục được vô biên chúng sinh, khiến cho họ
đắc được khoái lạc, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Túc Hành Thần Diệu Bảo Tinh Tràng, được môn giải thoát, trong
niệm niệm hóa hiện ra đủ thứ lưới hoa sen quang minh, mưa xuống khắp
các thứ châu báu, vang ra âm thanh vi diệu.
Vị Túc Hành Thần Diệu Bảo Tinh Tràng, ở trong niệm niệm, hay hóa
hiện ra đủ thứ lưới hoa sen quang minh, tức cũng là vô lượng quang
minh, mưa xuống vô lượng pháp bảo. Ở trong các báu, ở trong lưới hoa
sen, ở trong quang minh, còn vang ra âm thanh diệu pháp thâm sâu vô
thượng, để giáo hóa tất cả chúng sinh, Ngài đắc được môn giải thoát
này.
Túc Hành Thần Lạc Thổ Diệu Âm, được môn giải thoát, sinh ra vô
biên biển hoan hỷ.
Vị Túc Hành Thần Lạc Thổ Diệu Âm, đắc được cảnh giới, hay khoái lạc
vang ra vô biên diệu âm. Tất cả chúng sinh nghe được âm thanh vi
diệu này, đều sinh tâm hoan hỷ rộng lớn như biển, Ngài đắc được môn
giải thoát này.
Túc Hành Thần Chiên Ðàn Thụ Quang, được môn giải thoát, dùng gió
thơm giác ngộ khắp tất cả chúng hội đạo tràng.
Vị Túc Hành Chiên Ðàn Thụ Quang, đắc được cảnh giới, dùng gió thơm
chiên đàn, để thuyết pháp khiến cho chúng sinh ở trong tất cả đạo
tràng, ngửi được thứ gió thơm này rồi, thì đều phát tâm bồ đề, sinh
tâm giác ngộ, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Túc Hành Thần Liên Hoa
Quang Minh, được môn giải thoát, tất cả lỗ chân
lông đều phóng quang minh, diễn nói pháp âm vi diệu.
Vị Túc Túc Hành Thần Liên Hoa
Quang Minh, đắc được cảnh giới của Phật, ở trong
mỗi lỗ chân lông của Phật, đều phóng ra đại quang minh, chiếu khắp
mười phương mà diễn nói pháp âm thâm sâu vi diệu, khiến cho chúng
sinh nghe được chân thật nghĩa Phật pháp, đều y theo pháp tu hành, ở
trong định được giải thoát, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Túc Hành Thần Vi Diệu Quang Minh, được môn giải thoát, khắp thân
Phật phóng ra đủ thứ lưới quang minh, chiếu sáng khắp mười phương.
Vị Túc Hành Thần Vi Diệu Quang Minh, đắc được cảnh giới của Phật, là
thân Phật khắp phóng ra lưới quang minh, chiếu khắp ba ngàn thế giới
phá trừ đen tối, khiến cho chúng sinh mười phương pháp giới, đều đắc
được quang minh, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Túc Hành Thần Tích Tập Diệu Hoa, được môn giải thoát, khai ngộ
tất cả chúng sinh, khiến cho sinh biển căn lành.
Vị Túc Hành Thần Tích Tập Diệu Hoa, đắc được cảnh giới, chẳng những
hay khiến cho tất cả chúng sinh, khai ngộ đắc được trí huệ siêu
nhân, mà còn khiến cho tất cả chúng sinh, chẳng có căn lành thì đều
sinh ra căn lành lớn. Căn lành của Ngài sinh ra nhiều như biển cả,
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Bấy giờ, Túc Hành Thần Bảo Ấn Thủ, nương oai lực của đức Phật,
quán sát khắp tất cả chúng Túc Hành Thần, rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị Túc Hành Thần Bảo Ấn Thủ, nương sức đại oai thần của
Phật, quán sát khắp hết thảy nhân duyên của chúng Túc Hành Thần, rồi
nói bài kệ bốn câu :
Xưa vô lượng kiếp Phật tu hành
Cúng dường tất cả các Như Lai
Tâm luôn vui mừng chẳng nhàm mỏi
Hạnh môn sâu lớn như biển cả.
‘’Xưa vô lượng kiếp Phật tu hành.’’ Phật từ vô lượng kiếp đến nay,
tu tất cả hạnh môn cúng dường chư Phật.
‘’Cúng dường tất cả các Như Lai.’’ Khi Phật tu hành tại nhân địa,
thì Ngài đều cúng dường hết thảy tất cả chư Phật.
‘’Tâm luôn vui mừng chẳng nhàm mỏi.’’ Tuy Phật cúng dường chư Phật,
song tâm chẳng mỏi mệt. Cúng dường Phật càng nhiều, thì càng sinh
tâm vui mừng.
‘’Hạnh môn sâu lớn như biển cả.’’ Hạnh môn của Phật tu rất là sâu
xa, rất là rộng lớn, sâu rộng như biển cả.
Niệm niệm thần thông không thể lường
Hóa hiện hoa sen đủ thứ hương
Phật ngồi trên đó du vãng khắp
Hồng Sắc Quang Thần nhìn thấy được.
‘’Niệm niệm thần thông không thể lường.’’ Ở trong niệm niệm, nghĩ
tưởng đến thần thông của Phật không thể suy lường, chẳng cách chi
biết được cứu kính số lượng bao nhiêu.
‘’Hóa hiện hoa sen đủ thứ hương.’’ Dùng thần thông của Phật, để biến
hóa thị hiện tất cả hoa sen, trên hoa sen còn phóng ra đủ thứ hương
thơm, khiến cho người nghe thân tâm được thanh lương tự tại.
‘’Phật ngồi trên đó du vãng khắp.’’ Phật ngự trên tòa hoa sen, mà du
vãng khắp hết thảy cõi nước trong mười phương pháp giới, để giáo hóa
chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui.
‘’Hồng Sắc Quang Thần nhìn thấy được.’’ Cảnh giới này diệu không thể
tả, vị Túc Hành Thần Hồng Sắc Quang nhìn thấy được, nên Ngài minh
bạch đạo lý này, mà vào môn giải thoát này.
Pháp chư Phật Như Lai như vậy
Chúng hội rộng lớn khắp mười phương
Thần thông hiện khắp không nghĩ bàn
Tối Thắng Hoa
Thần thấy môn này.
‘’Chư Phật Như Lai pháp như vậy.’’ Mười phương chư Phật, tất cả Như
Lai, hết thảy Phật pháp đều như vậy.
‘’Chúng hội rộng lớn khắp mười phương.’’ Bất cứ vị Phật nào, cũng
đều hóa hiện chúng hội đạo tràng rộng lớn đầy khắp mười phương.
‘’Thần thông hiện khắp không nghĩ bàn.’’ Phật hiện ra sức thần thông
rộng lớn, không thể sánh, khó nghĩ bàn.
‘’Tối Thắng Hoa
Thần thấy môn này.’’ Vị Túc Hành Thần Tối Thắng Hoa
Kế, thấy được và hiểu rõ đạo lý cảnh giới này.
Mười phương cõi nước khắp mọi nơi
Trong sự dở chân hoặc hạ chân
Thảy đều thành tựu các quần sinh
Thiện Kiến Thần ngộ được môn này.
‘’Mười phương cõi nước khắp mọi nơi.’’ Ở trong mười phương cõi nước
hết thảy mọi nơi.
‘’Trong sự dở chân hoặc hạ chân.’’ Ở trong mỗi cõi nước, Phật dở
chân hoặc hạ chân.
‘’Thảy đều thành tựu các quần sinh.’’ Mỗi cử chỉ, mỗi hành động, mỗi
lời nói, mỗi việc làm, đều vì giáo hóa chúng sinh, thành tựu chúng
sinh, khiến cho chúng sinh đắc được lợi ích.
‘’Thiện Kiến Thần ngộ được môn này.’’ Vị Túc Hành Thần Nhiếp Chư
Thiện Kiến, ngộ được môn giải thoát này, mà sinh tâm hoan hỷ.
Hiện thân khắp như số chúng sinh
Mỗi mỗi thân hình đầy pháp giới
Ðều phóng tịnh quang mưa các báu
Tinh Tràng vào được giải thoát này.
‘’Hiện thân khắp như số chúng sinh.’’ Có bao nhiêu chúng sinh, thì
Phật hiện bấy nhiêu thân, thân Phật và số lượng chúng sinh đều đồng
nhau.
‘’Mỗi mỗi thân hình đầy pháp giới.’’ Tuy hiện số thân chúng sinh,
song mỗi thân đều đầy khắp pháp giới.
‘’Ðều phóng tịnh quang mưa các báu.’’ Thân Phật đầy khắp pháp giới,
đều phóng ra quang minh thanh tịnh, mưa xuống các báu vật.
‘’Tinh Tràng vào được giải thoát này.’’ Môn giải thoát này, vị Túc
Hành Thần Diệu Bảo Tinh Tràng thâm nhập được.
Cảnh giới Như Lai không bờ mé
Khắp rưới mưa pháp đều sung mãn
Chúng hội thấy Phật sinh hoan hỷ
Ðây chỗ thấy của Diệu Âm Thanh.
‘’Cảnh giới Như Lai không bờ mé.’’ Cảnh giới của Phật như hư không,
chẳng có bờ mé.
‘’Khắp rưới mưa pháp đều sung mãn.’’ Khắp rưới xuống mưa pháp, sung
mãn mười phương pháp giới.
‘’Chúng hội thấy Phật sinh hoan hỷ.’’ Tất cả chúng hội đạo tràng
trong mười phương pháp giới, thấy được Phật đều sinh đại hoan hỷ.
‘’Ðây chỗ thấy của Diệu Âm Thanh.’’ Vị Túc Hành Thần Diệu Âm Thanh
Tràng, giác ngộ đạo lý này, mà thấy được cảnh giới này.
Âm thanh của Phật đồng hư không
Tất cả âm thanh đều ở trong
Ðiều phục khắp hết thảy chúng sinh
Chiên Ðàn nghe thọ được như vậy.
‘’Âm thanh của Phật đồng hư không.’’ Âm thanh của Phật tận hư không
khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có âm thanh của Phật,
cho nên nói âm thanh của Phật đồng như hư không.
‘’Tất cả âm thanh đều ở trong.’’ Phật dùng một âm diễn nói pháp,
theo loài chúng sinh đều hiểu rõ. Người phương đông nghe được tiếng
của người phương đông; người phương tây nghe được ngôn ngữ của người
phương tây. Tóm lại, loài chúng sinh nào, thì nghe được tiếng của
loài đó, không cần phiên dịch, song người nghe đều minh bạch hiểu
rõ.
‘’Ðiều phục khắp hết thảy chúng sinh.’’ Âm thanh của Phật hàng phục
được chúng sinh cang cường. Dù cọp nghe được tiếng của Phật, cũng
quy y Tam Bảo, sư tử nghe được tiếng của Phật, cũng quy y Tam Bảo,
tín thọ phụng hành. Âm thanh của Phật khắp hết thảy mọi nơi chốn, mà
vì chúng sinh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh khó điều khó phục,
đều y theo pháp mà tu hành.
‘’Chiên Ðàn nghe thọ được như vậy.’’ Cảnh giới này, vị Túc Hành Thần
Chiên Ðàn Thụ Quang, nghe thọ được mà hiểu rõ.
Cảnh giới của Kinh Hoa
Nghiêm sung
mãn pháp giới, đừng nói là nghe kinh, chỉ đọc kinh văn, hoặc nghe âm
thanh này, thì đã trồng xuống vô lượng căn lành. Nếu hiểu được nghĩa
lý nữa, thì sẽ tăng trưởng vô lượng căn lành, cho nên nói cảnh giới
của Kinh Hoa
Nghiêmdiệu không thể tả.
Sáng sớm dậy phải lên khóa lễ sáng, ngồi thiền, dịch kinh, tối thì
phải dự khóa lễ tối, nghe kinh, đó đều là trừ khử tập khí mao bệnh
của chúng ta, tức cũng dạy chúng ta không khởi vọng tưởng. Tại sao
chúng ta không khai ngộ ? Vì có vọng tưởng. Phật pháp có tám vạn bốn
ngàn pháp môn, môn nào cũng đều vì diệt vọng tưởng. Song, chúng ta
vẫn đang khởi vọng tưởng, đó chẳng phải là đáng thương chăng ?
Tất cả lỗ lông vang hóa âm
Xiển dương danh hiệu Phật ba đời
Ai nghe âm này đều hoan hỷ
Liên Hoa
Quang Thần thấy như vậy.
‘’Tất cả lỗ lông vang hóa âm.’’ Ở trong mỗi lỗ chân lông trên thân
của Ðức Phật, đều sinh ra diệu âm biến hóa.
‘’Xiển dương danh hiệu Phật ba đời.’’ Diệu pháp âm biến hóa này,
xiển dương khen ngợi danh hiệu của tất cả chư Phật ba đời.
‘’Ai nghe âm này đều hoan hỷ.’’ Khiến cho tất cả chúng sinh, phàm ai
nghe được diệu âm này, đều sinh tâm hoan hỷ.
‘’Liên Hoa
Quang Thần thấy như vậy.’’ Vị Túc Hành Thần Liên Hoa
Quang Minh, thấy được cảnh giới này.
Thân Phật biến hiện không nghĩ bàn
Tất cả sắc tướng như biển cả
Tùy tâm chúng sinh đều khiến thấy
Ðây sở đắc của Diệu Quang Minh.
‘’Thân Phật biến hiện không nghĩ bàn.’’ Thân Phật biến hóa vô cùng,
do đó có câu : ‘’Thiên bách ức hóa thân’’, cảnh giới này không thể
nghĩ bàn.
‘’Hết thảy sắc tướng như biển cả.’’ Phật biến hóa tất cả diệu sắc
tướng rộng lớn như biển cả.
‘’Tùy tâm chúng sinh đều khiến thấy.’’ Tùy theo tâm niệm của chúng
sinh, đều khiến cho chúng sinh thấy được thân của Phật.
‘’Ðây sở đắc của Diệu Quang Minh.’’ Vị Túc Hành Thần Vi Diệu Quang
Minh, minh bạch được môn giải thoát này.
Mười phương khắp hiện đại thần thông
Tất cả chúng sinh đều khai ngộ
Chúng Diệu Hoa
Thần nơi pháp này
Thấy rồi tâm sinh đại hoan hỷ.
‘’Mười phương khắp hiện đại thần thông.’’ Phật thị hiện thần thông
rộng lớn ở trong mười phương pháp giới.
‘’Tất cả chúng sinh đều khai ngộ.’’ Khiến cho tất cả chúng sinh, từ
trong ngu si đắc được trí huệ.
‘’Chúng Diệu Hoa
Thần nơi pháp này.’’ Vị Túc Hành Thần Tích Tập Diệu
Hoa, rất hứng thú đối với diệu pháp này.
‘’Thấy rồi tâm sinh đại hoan hỷ.’’ Ngài nhìn thấy diệu pháp này rồi,
đắc được pháp hỷ sung mãn, sinh tâm hoan hỷ.
Lại nữa, Thân Chúng Thần Tịnh Hỷ Cảnh Giới, được môn giải thoát,
nhớ biển thệ nguyện thuở xưa của Phật.
Tiếp tục nói đạo lý nghĩa kinh ở trên. Vị Thân Chúng Thần Tịnh Hỷ
Cảnh Giới, có cảnh giới thanh tịnh hoan hỷ, Ngài là Thần thiên biến
vạn hóa nhiều thân, hay nhớ lại thệ nguyện thuở xưa của Ðức Phật đã
phát ra, tức là : Rộng tu bố thí, cúng dường chư Phật, phổ độ chúng
sinh, đều thành Phật đạo. Những thệ nguyện này rộng lớn thâm sâu như
biển cả, chẳng có bờ mé, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chúng ta phải tu học theo Phật, Phật
phát vô lượng đại nguyện, chúng ta là đệ tử của Phật, cũng phải phát
vô lượng nguyện cầu vô thượng đạo. Nhất là người tu đạo, chúng ta
cần phải phát đại nguyện, sau đó mới đắc được quả báo lớn, đại
nguyện giống như chiếc thuyền qua biển, nếu muốn qua biển cả mà
chẳng có thuyền, thì không cách chi đến được bờ kia, do đó phát
nguyện rất là quan trọng.
Thân Chúng Thần Quang Chiếu Thập Phương, được môn giải thoát,
quang minh chiếu khắp vô biên thế giới.
Vị Thân Chúng Thần Quang Chiếu Thập Phương, quang minh của Ngài
chiếu sáng khắp mười phương thế giới. Hết thảy chúng sinh trong các
cõi, đều đắc được quang minh này chiếu đến, mà sinh ra đại trí huệ,
minh bạch pháp thế gian là : Vô thường, khổ, không, vô ngã; pháp
xuất thế gian là : Thường, lạc, ngã, tịnh. Ngài đắc được môn giải
thoát này.
Thân Chúng Thần Hải Âm Ðiều Phục, được môn giải thoát, âm thanh
lớn giác ngộ khắp tất cả chúng sinh, khiến cho họ hoan hỷ mà điều
phục được.
Vị Thân Chúng Thần Hải Âm Ðiều Phục này, có âm thanh như hải triều,
khiến khắp tất cả chúng sinh nghe được, thì khai ngộ và điều phục
được những chúng sinh cang cường, khiến cho họ đều sinh đại hoan hỷ,
chịu nghe sự giáo hóa, sửa đổi tập khí mao bệnh không tốt, Ngài đắc
được môn giải thoát này.
Thân Chúng Thần Tịnh Hoa
Nghiêm Kế, được môn giải thoát, thân như hư không,
chu biến trụ khắp pháp giới.
Vị Thân Chúng Thần Tịnh Hoa
Nghiêm Kế, minh bạch được thân của Phật như hư
không, chẳng có bờ mé, không chỉ chu biến khắp mười phương pháp
giới, mà còn trụ trong pháp giới, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Thân Chúng Thần Vô Lượng Oai Nghi, được môn giải thoát, mở bày
cho tất cả chúng sinh cảnh giới của chư Phật.
Vị Thân Chúng Thần Vô Lượng Oai Nghi, minh bạch được Phật, chỉ thị
cho tất cả chúng sinh pháp môn cải tà quy chánh, bỏ mê về giác, Ngài
còn minh bạch cảnh giới của chư Phật không thể nghĩ bàn, Ngài đắc
được môn giải thoát này.
Thân Chúng Thần Tối Thắng Quang Nghiêm, được môn giải thoát,
khiến cho tất cả chúng sinh, đói thiếu được đầy đủ sắc lực.
Vị Thân Chúng Thần Tối Thắng Quang Nghiêm, minh bạch Phật hay khiến
tất cả chúng sinh bần cùng thiếu thốn, đều đắc được thiền duyệt vi
thực, pháp hỷ sung mãn; lấy niềm vui thiền định làm thức ăn, pháp hỷ
tràn đầy, khí sắc và sức lực đều no nê đầy đủ. Chúng sinh chẳng đắc
được thiền định, tức là đói pháp, chẳng đắc được pháp hỷ, tức là
thiếu pháp. Tu đạo mà đắc được thiền định và pháp hỷ, thì mới đầy đủ
sắc lực. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Thân Chúng Thần Tịnh Quang Hương Vân, được môn giải thoát, trừ
phiền não dơ bẩn của tất cả chúng sinh.
Vị Thân Chúng Thần Tịnh Quang Hương Vân, minh bạch được Phật diệt
trừ phiền não dơ bẩn của tất cả chúng sinh. Phiền não tức là nhiễm
ô, nhiễm ô tức là phiền não, cả hai đồng một thể. Mục đích chúng ta
tu đạo, là biến phiền não thành bồ đề. Bồ đề tức là thanh tịnh,
thanh tịnh tức là bồ đề, đồng thể nhưng khác tên, Ngài đắc được môn
giải thoát này.
Người tu đạo, nếu không xả đặng phiền não dơ bẩn, thì uổng phí công
phu, giống như người chẳng tu hành, chẳng có chút giá trị gì. Những
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni và cư sĩ của Chùa Kim Sơn chúng ta, nhất định
phải trừ sạch phiền não dơ bẩn, đừng tranh với mọi người, mà phải
nhẫn nhục với mọi người, do đó có câu :
‘’Nhẫn phiến khắc phong bình lãng tịnh
Thối nhất bộ hải khoát thiên không.’’
Nghĩa là :
Nhịn một chút gió yên sóng lặng,
Lùi một bước biển rộng trời cao.
Ðược như thế thì mọi người hòa bình với nhau, hóa địch thành bạn.
Phải biết rằng, có duyên mới sống với nhau, cùng nghiên cứu Phật
pháp. Nếu dùng phiền não để làm việc, thì thủy chung sẽ không thành
công, cũng không thể thành tựu được tam muội. Do đó, bất cứ làm việc
gì, đều phải trừ khử phiền não mới sinh tâm bồ đề.
Có người nói : ‘’Hiện nay thế giới này đang hư hoại.’’ Ðây là quan
niệm sai lầm.
Thế giới vốn chẳng hư hoại, có người nói : ‘’Thế giới chẳng hư hoại
mà con người biến hoại.’’ Ðây cũng là sự phán đoán sai lầm, người
cũng chẳng hư hoại.
Lúc này có người hỏi : ‘’Vậy, thế giới chẳng hư hoại, con người cũng
chẳng hư hoại, song thế giới này chẳng thái bình, mọi người tranh
đấu với nhau, bạn tranh tôi giành, cứu kính là gì hư hoại‘’?
Tức là tâm của con người hư hoại. Vì tâm của con người quá hư hoại,
cho nên thế giới mới hư hoại, làm cho con người cũng hư hoại. Tâm hư
hoại rồi, thì sẽ tạo nghiệp ác, tạo nghiệp ác thì phải chịu quả báo
ác; thọ quả báo ác thì tạo thành thế giới không bình an. Muốn con
người tốt, thế giới tốt, thì trước hết từ trong tâm của con người
làm ra. Tâm con người tốt thì thế giới tự nhiên sẽ chẳng có chiến
tranh.
Giống như chùa Kim Sơn có hai vị Tỳ Kheo phát tâm ba bước lạy một
lạy, hướng về đỉnh núi cao nhất ở Tây Nhã Ðồ (Seatle, tiểu bang
Washington nước Mỹ), đó là nơi chư Phật tụ hội. Song, hai vị hành
giả Tỳ Kheo này chẳng phải lạy Phật, Bồ Tát, mà là vì cầu nguyện cho
thế giới hòa bình, cầu nguyện cho tâm của con người trên thế giới
cải ác hướng thiện, tiêu diệt tất cả tai nạn của thế giới, khiến cho
nhân loại bình an, thế giới thái bình. Nếu ai ai trước hết cũng từ
nội tâm của mình mà làm, chẳng có ích kỷ lợi mình, chẳng có tham sân
si, thì thế giới sẽ thái bình.
Tại sao bây giờ thế giới chẳng thái bình
? Vì tâm tham của ai cũng lớn. Nhân vật lớn thì có tâm tham lớn,
nhân vật nhỏ thì có tâm tham nhỏ, ai cũng đều có tâm tham. Tham tiền
tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nhiều, hưởng thụ năm dục này.
Người chấp chính thì tham vọng nước của mình rộng lớn, kinh tế phồn
thịnh, cho nên tìm cách xâm lược nước yếu, hoặc là dùng văn hóa xâm
lược, kinh tế xâm lược, chính trị xâm lược, cuối cùng dẫn đến chiến
tranh bùng nổ. Do đó, thế giới không thể thái bình. Nhân dân muốn
phát tài, muốn hưởng thụ, có xe hơi lại muốn nhà rộng, có vợ đẹp lại
muốn thiếp xinh. Từ khi sanh ra cho đến chết, đều muốn nhiều tiền,
cho rằng tiền là vạn năng, có tiền thì vạn sự đều hanh thông, tiền
là trên hết, tiền là đệ nhất, cho nên tạo thành phong khí xã hội
ngày nay không tốt, đánh mất đi quan niệm đạo đức hồi xưa. Tại sao
có sự việc như vậy ? Vì vật chất dẫn dụ. Do đó, tâm của con người
chẳng như xưa, dùng hết tâm cơ, tìm hết mưu kế, bất chấp thủ đoạn
làm cho được mục đích. Có tâm tham như thế thì xã hội làm sao yên
được ?
Người tu đạo phải chú trọng tu dưỡng về
mặt tinh thần, chứ đừng chú trọng về hưởng thụ vật chất. Cho nên đề
xướng ba y, ăn một bữa, khiến cho trừ khử đi tâm tham dục. Pháp môn
hàng đầu trong lục độ là bố thí, bố thí cho chúng sinh, tức chẳng có
tâm tham mà có tâm từ bi. Do đó, các bạn nên phát tâm cúng dường,
tâm bố thí, tâm từ bi.
Thân Chúng Thần Thủ Hộ Nhiếp Trì, được môn giải thoát, chuyển
được nghiệp ma ngu si của tất cả chúng sinh.
Vị Thân Chúng Thần Thủ Hộ Nhiếp Trì, chuyển biến được ngu si của tất
cả chúng sinh, khiến cho họ sinh trí huệ, chuyển phiền não biến
thành bồ đề, chuyển nghiệp ma (nhiễm ô) thành nghiệp thanh tịnh. Chỉ
cần tu hành giới luật thì sẽ thành tựu, Ngài đắc được môn giải thoát
này.
Thân Chúng Thần Phổ Hiện Nhiếp Hóa, được môn giải thoát, ở trong
khắp tất cả cung điện của thế chủ, hiển bày tướng trang nghiêm.
Vị Thân Chúng Thần Phổ Hiện Nhiếp Hóa, ở trong khắp tất cả cung điện
của thế chủ ở, hiển bày ra cung điện trang nghiêm, khiến cho chúng
sinh thấy mà sinh tín tâm và tâm cung kính, Ngài đắc được môn giải
thoát này.
Thân Chúng Thần Bất Ðộng Quang Minh, được môn giải thoát, nhiếp
khắp tất cả chúng sinh, khiến cho họ sinh căn lành thanh tịnh.
Vị Thân Chúng Thần Bất Ðộng Quang Minh, hay nhiếp hóa khắp tất cả
chúng sinh, khiến cho họ sinh ra căn lành thanh tịnh. Căn lành này
đều là căn lành vô lậu, căn lành cứu kính. Tuy làm lành mà chẳng
chấp trước vào tướng lành, làm qua rồi thì tốt, đó là căn lành thanh
tịnh. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Bấy giờ, Thân Chúng Thần Tịnh Hỷ Cảnh Giới, nương oai lực của đức
Phật, quán sát tất cả đại chúng Thân Chúng Thần, rồi nói bài kệ
rằng.
Lúc đó, vị Thân Chúng Thần Tịnh Hỷ Cảnh Giới, nương sức đại oai thần
của Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng Thân Chúng Thần, rồi dùng
kệ để nói đạo lý trường hàng ở trên.
Tôi nhớ Tu Di bụi kiếp trước
Có Phật Diệu Quang hiện ra đời
Thế Tôn ở chỗ Như Lai đó
Phát tâm cúng dường tất cả Phật.
‘’Tôi nhớ Tu Di bụi kiếp trước.’’ Thân Chúng Thần Tịnh Hỷ Cảnh Giới
nói : ‘’Tôi nhớ lại thuở xưa số kiếp nhiều như bạt bụi núi Tu Di.’’
‘’Có Phật Diệu Quang hiện ra đời.’’ Lúc đó, có vị Phật hiệu là Diệu
Quang, Ngài đến thế giới này thành Phật.
‘’Thế Tôn ở chỗ Như Lai đó.’’ Khi vị Phật Diệu Quang ra đời, đức Thế Tôn
Thích Ca Mâu
Ni bèn phát đại nguyện.
‘’Phát tâm cúng dường tất cả Phật.’’ Phát tâm cúng dường Phật Diệu
Quang, và cúng dường tất cả chư Phật mười phương ba đời.
Thân Như Lai phóng đại quang minh
Quang đó sung mãn khắp pháp giới
Chúng sinh gặp được tâm điều phục
Ðây chỗ thấy của Chiếu Phương Thần.
‘’Thân Như Lai phóng đại quang minh.’’ Tại sao thân của Phật lại
phóng quang minh ? Vì tất cả tập khí mao bệnh đều thanh tịnh. Tất cả
phiền não đều biến thành bồ đề, tất cả đen tối u ám biến thành quang
minh, cho nên thân của Như Lai phóng đại quang minh.
Người tu đạo, công phu đến nhà thì khai mở đại trí huệ. Có đại trí
huệ thì trên thân sẽ phóng ra quang minh năm màu. Quang minh này,
hay phá trừ đen tối và ai có duyên, thì người đó sẽ thấy được quang
minh. Phàm là người thấy được quang minh, đều sẽ phát tâm bồ đề. Bây
giờ, không phát tâm thì tương lai chắc chắn sẽ phát tâm, đời này
không phát tâm thì đời sau nhất định sẽ phát tâm. Tóm lại, đợi khi
nào cơ duyên chín mùi, thì nhất định sẽ xuất gia tu đạo, lấy sự cứu
người cứu đời làm trách nhiệm của mình, cho nên Phật thường phóng
đại quang minh, chiếu soi chúng sinh, khiến cho họ bỏ bụi trần hợp
với giác ngộ, thì trở về ngôi nhà Như Lai.
‘’Quang đó sung mãn khắp pháp giới.’’
Quang minh của Phật tận hư không khắp pháp giới, chẳng có nơi nào mà
chẳng có quang minh của Phật, do đó ‘’Phật quang phổ chiếu.’’ Nếu
chúng ta quét sạch ngu si phiền não, thì sẽ chuyển phiền não thành
trí huệ giác ngộ, lúc đó sẽ thấy được quang minh của Phật. Quang
minh của Phật như ánh sáng mặt trăng, tâm của chúng sinh như nước,
nếu nước thanh tịnh thì quang minh của Phật sẽ hiện tiền. Tâm chúng
sinh thanh tịnh tức là nước lắng trong, thì mặt trăng tự hiện vào.
‘’Chúng sinh gặp được tâm điều phục.’’ Phàm ai gặp được quang minh
của Phật, thì chúng sinh cang cường sẽ hết cang cường, chúng sinh
ngu si cũng hết ngu si, chúng sinh phiền não cũng hết phiền não,
tiếp thọ được quang minh của Phật cảm hóa, mà hàng phục được tập khí
mao bệnh.
‘’Ðây chỗ thấy của Chiếu Phương Thần.’’ Vị Thân Chúng Thần Phổ Chiếu
Thập Phương, thấy được cảnh giới của môn giải thoát này.
Tiếng Như Lai chấn mười phương cõi
Tất cả lời lẽ đều viên mãn
Giác khắp quần sinh chẳng thừa sót
Ðiều Phục nghe được tâm vui mừng.
‘’Tiếng Như Lai chấn mười phương cõi.’’ Quang minh của Như Lai sung
mãn mười phương pháp giới, tiếng của Như Lai chấn động khắp mười
phương cõi nước.
‘’Tất cả lời lẽ đều viên mãn.’’ Lời nói và âm thanh đều viên mãn.
‘’Giác khắp quần sinh chẳng thừa sót.’’ Giác ngộ khắp tất cả chúng
sinh, chẳng để sót một chúng sinh nào mà chẳng được giác ngộ.
‘’Ðiều Phục nghe được tâm vui mừng.’’ Vị Thân Chúng Thần Hải Âm Ðiều
Phục, nghe được âm thanh này, mà sinh tâm hoan hỷ vui mừng.
Thân Phật thanh tịnh thường vắng lặng
Hiện khắp sắc tướng vô các tướng
Trụ khắp như vậy nơi thế gian
Ðây chỗ nhập của Tịnh Hoa
Thần.
‘’Thân Phật thanh tịnh thường vắng lặng.’’ Thân Phật thanh tịnh
thường vắng lặng, thân Phật không lay động nơi bổn xứ.
‘’Hiện khắp các sắc vô các tướng’’. Thân Phật hiện ra khắp tất cả
sắc thân diệu hữu, song sắc thân diệu hữu chẳng có tất cả tướng, vì
là chân không. Trong chân không thấy diệu hữu, diệu hữu tức là chân
không, cho nên chẳng có các tướng, do đó có câu :
‘’Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng,
Bất sinh diệc bất diệt,
Bất khả dĩ ngôn thuyên.’’
Nghĩa là :
Nguồn gốc của các pháp,
Tướng thường tự vắng lặng,
Không sinh cũng không diệt,
Không thể dùng lời nói.
Tức là đạo lý này.
‘’Trụ khắp như vậy nơi thế gian.’’ Chân không diệu hữu như vậy, trụ
khắp hết thảy trong mười phương thế gian.
‘’Ðây chỗ vào của Tịnh Hoa
Thần.’’ Vị Thân Chúng Thần Tịnh Hoa
Nghiêm Kế, vào được môn giải thoát này.
Ðạo sư như vậy không nghĩ bàn
Tùy tâm chúng sinh đều khiến thấy
Hoặc ngồi hoặc đi hoặc khi đứng
Vô Lượng Oai Nghi ngộ môn này.
‘’Ðạo sư như vậy không nghĩ bàn.’’ Tiếp dẫn đại Ðạo sư không thể
nghĩ bàn, có oai nghi như thế không thể tả, có uy đáng sợ có nghi
dung đáng kính.
‘’Tùy tâm chúng sinh đếu khiến thấy.’’ Tùy theo tâm niệm của chúng
sinh, mà khiến cho họ được thấy tướng đại oai nghi: Ði, đứng, nằm,
ngồi của Phật.
‘’Hoặc ngồi hoặc đi hoặc khi đứng.’’ Chúng sinh thấy Phật, bất cứ đi
đứng nằm ngồi, đều trang nghiêm đầy đủ oai nghi, tức cũng là ba ngàn
oai nghi, tám vạn tế hạnh đều như pháp.
Ba ngàn oai nghi là gì ? Tức là Tỳ Kheo phải đầy đủ hai trăm năm
mươi giới, mỗi giới đủ bốn oai nghi : Ði, đứng, nằm, ngồi, thành ra
một ngàn, noi theo ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai), thành ra ba
ngàn, đó là ba ngàn oai nghi.
Tám vạn tế hạnh là gì ? Tức là ba ngàn oai nghi phối hợp với thân
nghiệp ba chi (sát, đạo, dâm) và khẩu nghiệp bốn chi (nói dối, nói
thêu dệt, nói hai lưỡi, chửi mắng) thành là hai vạn một ngàn, lại
phối hợp ba độc (tham, sân, si) và bốn phiền não tức là tám vạn bốn
ngàn oai nghi, nay chỉ lược nói tám vạn.
‘’Vô Lượng Oai Nghi ngộ môn này.’’ Vị Thân Chúng Thần Vô Lượng Oai
Nghi, thấu rõ minh bạch được môn giải thoát này.
Trăm ngàn kiếp khó gặp được Phật
Ra đời lợi ích được tự tại
Khiến đời đều lìa khổ bần cùng
Tối Thắng Quang Nghiêm vào môn này.
‘’Trăm ngàn kiếp khó gặp được Phật.’’ Khi chúng ta ra đời thì Phật
đã vào Niết Bàn, cho nên chẳng dễ gì thấy được Phật. Ở trong tám nạn
thì chúng ta rơi vào nạn sinh ra sau Phật. Do đó, trong trăm ngàn
kiếp cũng chẳng dễ gì gặp được Phật, dù gặp được Phật cũng chẳng
nhận ra Phật.
‘’Ra đời lợi ích được tự tại.’’ Tại sao Phật phải hiện ra đời ? Vì
muốn lợi ích chúng sinh, muốn độ chúng sinh lìa khổ được vui, Ngài
dùng thần thông diệu dụng tự tại, để cứu khổ chúng sinh, ban vui cho
chúng sinh.
‘’Khiến đời đều lìa khổ bần cùng.’’ Phật khiến cho hết thảy chúng
sinh trong tất cả thế giới, đều lìa khỏi khổ về bần cùng, đắc được
lợi ích của pháp. Không hiểu Phật pháp tức là bần cùng, hiểu Phật
pháp tức là giàu sang. Do đó, người tu đạo là đại phú ông, là giàu
sang thật.
‘’Tối Thắng Quang Nghiêm vào môn này.’’ Vị Thân Chúng Thần Tối Thắng
Quang Nghiêm, vào được môn giải thoát này.
Mỗi mỗi tướng răng của Như Lai
Khắp phóng mây thơm đèn sáng rực
Tiêu diệt tất cả hoặc chúng sinh
Ly Cấu Vân Thần thấy như vậy.
‘’Mỗi mỗi tướng răng của Như Lai.’’ Phật có bốn mươi cái răng, mỗi
cái răng đều phóng ra quang minh. Khi Phật diễn nói Kinh Hoa
Nghiêm, hội thứ nhất tại Bồ Ðề Ðạo Tràng, thì phóng
quang minh nơi răng.
‘’Khắp phóng mây thơm đèn sáng rực.’’ Khắp phóng ra một thứ mây thơm
đèn sáng rực rỡ, do đủ thứ ánh sáng mà thành mây lửa ngọn.
‘’Diệt trừ tất cả hoặc chúng sinh.’’ Thứ mây lửa ngọn này, hay diệt
trừ tất cả mê hoặc của chúng sinh. Mê hoặc tức là kiến tư hoặc, trần
sa hoặc, vô minh hoặc, và phiền não chướng, sở tri chướng.
‘’Ly Cấu Vân Thần thấy như vậy.’’ Vị Thân Chúng Thần Ly Cấu Vân,
thấy được cảnh giới này, mà vào môn giải thoát này.
Chúng sinh nhiễm hoặc nên chướng nặng
Cứ theo đường ma lưu chuyển luôn
Như Lai mở bày đường giải thoát
Thủ Hộ Chấp Trì ngộ vào được.
‘’Chúng sinh nhiễm hoặc nên chướng nặng.’’ Vì chúng sinh bị pháp
nhiễm ô mê hoặc, cho nên chẳng thanh tịnh. Không thanh tịnh thì sinh
ra đủ thứ chướng nặng, thứ chướng nặng này, che đậy tự tính quang
minh, cho nên trí huệ Bát nhã chẳng hiện tiền.
‘’Cứ theo đường ma lưu chuyển luôn.’’ Vì bị chướng nặng che đậy, vì
chẳng có trí huệ, cho nên cứ theo đường ma mà lưu chuyển luôn.
Giống như tại chùa Kim Sơn chúng ta, là pháp hội nói chánh pháp, dạy
người cải tà về chánh, song người đến nghe pháp chỉ có hai ba mươi
vị, đến đây nghiên cứu Phật pháp. Nếu như mở đại hội ca múa, thì sẽ
có mấy ngàn người tranh nhau đến thưởng thức biểu diễn những thứ
chẳng thanh tịnh, thứ chẳng có ích gì đối với thân tâm. Vì tư tưởng
của chúng sinh chẳng thanh tịnh, nên thích cảnh giới không thanh
tịnh.
‘’Như Lai mở bày đường giải thoát.’’ Phật vì những chúng sinh điên
đảo này, mà mở bày con đường giải thoát, khiến cho họ biết để mà đi.
‘’Thủ Hộ Chấp Trì ngộ vào được.’’ Vị Thân Chúng Thần Thủ Hộ Chấp
Trì, vào được môn giải thoát này.
Tôi quán sức tự tại của Phật
Quang bủa pháp giới đều sung mãn
Nơi cung điện vua hóa chúng sinh
Cảnh giới này của Phổ Hiện Thần.
‘’Tôi quán sức tự tại của Phật.’’ Vị Thân Chúng Thần Phổ Hiện Nhiếp
Hóa nói : ‘’Tôi quán sát sức tự tại đại thần thông của Như Lai.’’
‘’Quang bủa pháp giới đều sung mãn.’’ Ðại quang minh từ thân Phật
phóng ra, đều bủa giăng che trùm khắp mười phương pháp giới, hết
thảy pháp giới đều đầy dẫy quang minh của Phật.
‘’Nơi cung điện vua hóa chúng sinh.’’ Phật trụ ở trong cung điện của
vua, để giáo hóa tất cả chúng sinh.
‘’Cảnh giới này của Phổ Hiện Thần.’’ Vị Thân Chúng Thần Phổ Hiện
Nhiếp Hóa, thấu rõ cảnh giới này.
Chúng sinh mê vọng đủ thứ khổ
Phật ở trong đó thường cứu hộ
Ðều khiến diệt hoặc sinh vui mừng
Bất Ðộng Quang Thần quán thấy được.
‘’Chúng sinh mê vọng đủ thứ khổ.’’ Hết thảy chúng sinh vì điên đảo,
mà mê mất con đường chân chánh, dẫn đến vọng tưởng lăn xăn, đầy dẫy
tất cả mọi thứ khổ.
‘’Phật ở trong đó thường cứu hộ.’’ Phật luôn luôn ở trong sáu nẻo
luân hồi, cứu hộ tất cả khổ não của chúng sinh.
‘’Ðều khiến diệt hoặc sinh vui mừng.’’ Khiến cho khắp hết thảy chúng
sinh, đều diệt trừ mê hoặc mà sinh tâm hoan hỷ vui tươi.
‘’Bất Ðộng Quang Thần quán thấy được.’’ Vị Thân Chúng Thần Bất Ðộng
Quang Minh, quán sát thấy được môn giải thoát này.
Lại nữa, Chấp Kim Cang Thần Diệu Sắc Khẩn Na La
Diên, được môn giải thoát, thấy đức Như Lai thị
hiện vô biên thân sắc tướng.
Nghĩa lý ở trên vẫn nói chưa hết, bây giờ tiếp tục nói. Vị Chấp Kim
Cang Thần Diệu Sắc Khẩn Na La
Diên. Na La
Diên dịch
là "kiên cố", sắc tướng của Ngài rất kiên cố, chẳng dễ gì phá hoại,
cho nên làm Chấp Kim Cang Thần, trong tay cầm chày báu bằng kim
cang, hoặc là kim cang vương bảo kiếm, để làm thiện thần hộ pháp.
Ngài minh bạch cảnh giới của Phật, thấy Phật thị hiện vô biên thân
sắc tướng, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chấp Kim Cang Thần Nhật Luân Tốc Tật Tràng, được môn giải thoát,
mỗi mỗi sợi lông trên thân của Phật, như bánh xe mặt trời, hiện ra
đủ thứ mây quang minh.
Vị Chấp Kim Cang Thần Nhật Luân Tốc Tật Tràng, minh bạch cảnh giới
của Phật. Mỗi sợi lông trên thân của Phật, đều có một luồng quang
minh bánh xe, giống như quang minh của bánh xe mặt trời. Ở trong
quang minh bánh xe hay phóng ra mây quang minh năm màu, Ngài đắc
được môn giải thoát này.
Chấp Kim Cang Thần Tu Di Hoa
Quang, được môn giải thoát, đại thần thông biến hóa
hiện vô lượng thân.
Vị Chấp Kim Cang Thần Tu Di Hoa
Quang, minh bạch cảnh giới của Phật, Phật hay hóa
hiện vô lượng thân, hiển hiện đại thần thông biến hóa. Bổn lai, ma
có tướng của ma, Phật có tướng của Phật, song có khi vì muốn hàng
ma, thì Phật hiện ra tướng ma. Tướng ma hiện ra phải cao lớn hơn so
với ma, ví như thân ma cao một trăm trượng, thì Phật hóa hiện ra
thân ma cao một ngàn trượng, như thế mới hàng phục được ma, ma mới
năm thể sát đất đảnh lễ, y giáo phụng hành. Ðó là phương tiện pháp
môn hàng ma. Ngài đắc được môn giải thoát này.
Phật pháp ứng dụng thì áo diệu vô cùng, nếu chẳng ứng dụng thì giống
như cùng tử, chẳng biết trong áo có hạt minh châu, vì không biết,
cho nên là người nghèo, biết được thì là người giàu. Hạt minh châu
này hay sinh ra tất cả châu báu, lấy không hết, dùng không xuể. Ai
được hạt minh châu này, thì đó là người giàu có. Hạt minh châu này
là Phật pháp, tức cũng là pháp bảo vô tận.
Chấp Kim Cang Thần Thanh Tịnh Vân Âm, được môn giải thoát, vô
biên tùy loại âm thanh.
Vị Chấp Kim Cang Thần Thanh Tịnh Vân Âm, minh bạch cảnh giới của
Phật, là hay tùy thuận đủ loại chúng sinh mà hiện thân thuyết pháp.
Ví như Phật muốn độ loài cá, thì hiện thân cá mà nói pháp của cá,
muốn độ rồng thì hiện thân rồng, mà nói pháp của rồng, muốn độ cọp
thì hiện thân cọp, mà nói pháp của cọp, muốn độ chim thì hiện thân
chim, mà nói pháp của chim. Cho nên, hiện vô biên thân nói vô biên
thứ tiếng, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chấp Kim Cang Thần Diệu Tý Thiên Chủ, được môn giải thoát, hiện
làm chủ tất cả thế gian, để khai ngộ chúng sinh.
Vị Chấp Kim Cang Thần Diệu Tý Thiên Chủ, minh bạch cảnh giới của
Phật, biết rõ Phật thị hiện chủ của tất cả thế gian, để giáo hóa
chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều khai ngộ. Vì sao phải thị hiện
chủ thế gian ? Vì chủ thế gian có sức lãnh đạo, chúng sinh tin lời
ông vua của họ nói, rất dễ dàng dẫn dắt họ về với con đường chánh,
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chấp Kim Cang Thần Khả Ái Lạc Quang Minh, được môn giải thoát,
khai thị khắp tất cả môn khác nhau của Phật pháp, đều hoàn toàn hiểu
rõ.
Vị Chấp Kim Cang Thần Khả Ái Lạc Quang Minh, minh bạch cảnh giới của
Phật, là khiến cho khắp hết thảy tất cả chúng sinh, thấu rõ tất cả
nghĩa lý Phật pháp. Tất cả pháp môn khác nhau, Ngài đều hoàn toàn
minh bạch, chẳng có chỗ nào không hiểu, Ngài đắc được môn giải thoát
này.
Chấp Kim Cang Thần Ðại Thụ Lôi Âm, được môn giải thoát, dùng đồ
trang nghiêm đáng ưa thích, để nhiếp tất cả Thần cây.
Vị Chấp Kim Cang Thần Ðại Thụ Lôi Âm, minh bạch cảnh giới của Phật,
dùng đồ trang nghiêm đáng ưa thích, để quản lý tất cả Thần cây. Vì
đa số Thần cây thích đồ trang nghiêm, Ngài đắc được môn giải thoát
này.
Chấp Kim Cang Thần Sư Tử Vương
Quang Minh, được môn giải thoát, thấu rõ phước
trang nghiêm tụ rộng lớn của Như Lai, đều đầy đủ.
Vị Chấp Kim Cang Thần Sư Tử Vương
Quang Minh, minh bạch cảnh giới của Phật, là không
xả bỏ phước nhỏ mà thành tựu phước rộng lớn. Vì phước nhiều rồi thì
đầy đủ trang nghiêm, cõi nước cũng trang nghiêm, cung điện cũng
trang nghiêm, pháp tướng cũng trang nghiêm, tất cả đều trang nghiêm.
Chẳng những trang nghiêm mà còn phước huệ đầy đủ, thấu rõ căn tính
của tất cả chúng sinh, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chấp Kim Cang Thần Mật Diễm Cát Tường Mục, được môn giải thoát,
quán sát khắp tâm hiểm ác của chúng sinh, vì họ mà hiện thân oai
nghi trang nghiêm.
Vị Chấp Kim Cang Thần Mật Diễm Cát Tường Mục, minh bạch cảnh giới
của Phật, hay quán sát khắp tất cả tâm chúng sanh hiểm ác nhất, để
hiện ra thân oai nghi và trang nghiêm, khiến cho loại chúng sinh
này, thấy thân đại oai đức, đại thế lực, đại công đức, đại quyền
oai, thì sinh ra tâm sợ hãi, cuối cùng bị hàng phục mà sinh ra tâm
phục tùng, Ngài đắc được môn giải thoát này.
Chấp Kim Cang Thần Liên Hoa
Ma Ni Kế,
được môn giải thoát, mưa khắp tất cả đồ trang nghiêm ma ni kế.
Vị Chấp Kim Cang Thần Liên Hoa
Ma Ni Kế,
minh bạch cảnh giới của Phật, mưa xuống khắp tất cả loại châu báu
anh lạc đồ trang nghiêm. Ngài hiện ra kế báu ma ni rất trang nghiêm,
Ngài đắc được môn giải thoát này.
Bấy giờ, Chấp Kim Cang Thần Diệu Sắc Na La
Diên, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất
cả chúng Chấp Kim Cang Thần, rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị Chấp Kim Cang Thần Diệu Sắc Na La
Diên, nương đại oai thần lực của Phật, quán sát
khắp tất cả chúng Chấp Kim Cang Thần, rồi nói ra bài kệ.
Ông hãy quán Pháp Vương
Pháp của
Phật như vậy
Sắc tướng chẳng bờ mé
Hiện khắp trong thế gian.
Vị Chấp Kim Cang Thần Diệu Sắc Na La
Diên nói
: ‘’Ông hãy quán đấng Pháp Vương, quán pháp của đấng Pháp vương.
Pháp thân của đấng Pháp vương thị hiện sắc tướng chẳng có bờ mé,
hiện khắp trong thế gian mười phương pháp giới, để giáo hóa tất cả
chúng sinh.’’
Mỗi chân lông thân Phật
Lưới quang không nghĩ bàn
Ví như mặt trời sáng
Chiếu khắp mười phương cõi.
Thân Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, song mỗi chân
lông của Phật, đều phóng đại quang minh mà thành lưới quang minh,
quang minh chiếu với nhau, kết thành lưới quang minh không thể nghĩ
bàn, giống như ánh sáng mặt trời thanh tịnh. Trong hư không chẳng
phải chỉ có một mặt trời, mà có rất nhiều mặt trời (ở trong ngân hà
có rất nhiều thái dương hệ). Lưới quang minh này, chiếu sáng khắp
các cõi Phật trong mười phương thế giới, chúng sinh trong mười
phương cõi nước, đều là Phật quang phổ chiếu.
Sức thần thông Như Lai
Ðến khắp cùng pháp giới
Trước tất cả chúng sinh
Thị hiện thân vô tận.
Ðại oai thần lực của Phật tận hư không khắp pháp giới, đến khắp cùng
hết thảy. Tất cả chúng sinh trong pháp giới, đều thấy Phật hiện ở
trước họ mà thuyết pháp. Vì chúng sinh là vô tận vô lượng, cho nên
Phật hiện thân cũng vô tận vô lượng, dùng thân vô tận để độ vô lượng
chúng sinh.
Tiếng Như Lai thuyết pháp
Mười phương đều nghe khắp
Tùy các loại chúng sinh
Ðều khiến tâm đầy đủ.
Vì thân của Phật là khắp cùng pháp giới, cho nên tiếng của Phật cũng
khắp cùng pháp giới, diệu âm của Phật nói pháp, chúng sinh trong
mười phương pháp giới đều nghe được. Tùy theo mỗi loài chúng sinh,
đều đắc được pháp hỷ sung mãn, khiến cho tâm mãn ý túc, đều hoan hỷ,
y pháp phụng hành.
Chúng thấy đấng Mâu Ni
Trong cung điện nơi đời
Khắp vì các quần sinh
Mà xiển dương pháp lớn.
Hết thảy chúng sinh, đều thấy Phật Thích Ca Mâu Ni, ở trong cung
điện thế gian giảng kinh thuyết pháp, khắp vì tất cả chúng sinh xiển
minh Phật pháp, tuyên dương quang đại.
Biển pháp lưu chảy mãi
Tất cả nghĩa khác biệt
Ðủ thứ môn phương tiện
Diễn nói chẳng cùng tận.
Pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn, dùng đủ thứ pháp phương tiện để
tuyên nói, giống như nước chảy mãi, nói phen này rồi phen khác, nói
rõ đạo lý khác nhau; dùng đủ thứ môn phương tiện để diễn nói đủ thứ
nghĩa lý vô tận.
Vô biên đại phương tiện
ứng khắp mười phương cõi
Gặp quang minh của Phật
Tất thấy thân Như Lai.
Dùng vô lượng vô biên đại phương tiện pháp môn, ứng hóa khắp chúng
sinh trong mười phương cõi nước, khiến cho họ nghe được tiếng của
Phật nói pháp, hoặc gặp quang minh thanh tịnh của Phật, thì đều thấy
được thân tướng tốt trang nghiêm của Phật.
Cúng dường các đức Phật
Như số bụi ức cõi
Công đức như hư không
Chỗ chiêm ngưỡng tất cả.
Phật Thích Ca Mâu Ni tại nhân địa tu hành, thì phát nguyện muốn cúng
dường tất cả chư Phật mười phương ba đời, và cõi nước chư Phật, số
đó vô lượng vô biên như hạt bụi, Phật đều cúng dường, do đó công đức
rộng lớn như hư không. Cho nên, tất cả chúng sinh đều chiêm ngưỡng
Phật, hâm mộ Phật, cung kính Phật, lễ lạy Phật.
Sức thần thông bình đẳng
Tất cả cõi đều hiện
An tọa diệu đạo tràng
Hiện khắp trước chúng sinh.
Ðại thần thông của Phật bình đẳng, cứu hộ tất cả chúng sinh. Vì phổ
độ tất cả chúng sinh, mà ở trong hết thảy các cõi nước, Phật đều
hiện thân thuyết pháp. Phật ngồi yên ổn trong đạo tràng tất cả cõi
nước trong mười phương pháp giới, thành đạo dưới cội bồ đề, mà lại
hiện khắp ở trước tất cả chúng sinh.
Mây sáng chiếu các cõi
Ðủ thứ quang viên mãn
Pháp giới đâu chẳng có
Chỉ bày Phật tu hành.
Phật có một thứ mây quang minh sáng, hay chiếu khắp mười phương pháp
giới. Thứ mây quang minh sáng đó, do đủ thứ quang viên mãn thành
tựu, thứ mây quang minh sáng đó, chiếu khắp hết thảy pháp giới, để
chỉ bày cho chúng sinh rằng, Phật tu hành như thế nào mà thành Phật.
Trên đây là dị sinh chúng trong các vị Thần mười chín chúng, bây giờ
đã giải thích xong. Dưới đây bắt đầu giải thích về pháp môn sở đắc,
của hai mươi mốt vị đại Bồ Tát trong đồng sinh chúng.
Học Phật pháp, phải biết rõ tính quan trọng của Phật pháp. Nếu không
nhận thức rõ ràng, hoặc chẳng hiểu biết triệt để, thì không thể nào
lão lão thực thực mà tu hành, không tu hành thì chẳng có sở đắc,
cũng chẳng có trí huệ.
Người có trí huệ thì không thể ở chỗ đen tối, người ngu si thì không
thể ở chỗ ánh sáng. Tại sao ? Vì người ngu si ở chỗ đen tối, thì
không cảm thấy rằng đen tối, do đó tập quán thành tự nhiên. Song,
người có trí huệ biết đen tối là không đúng, cho nên phải tìm chỗ có
ánh sáng mà ở. Ánh sáng thì chẳng có tâm sân hận, đen tối thì có tâm
sân hận. Cho nên chánh đại quang minh tức là tâm địa quang minh,
chẳng có đen tối chướng ngại.
Người tu đạo phải luôn luôn hồi quang
phản chiếu, tức cũng là phản tỉnh những gì mình làm mỗi ngày, rằng
có hợp với giới luật chăng ? Hợp thì khỏi, không hợp thì sửa đổi,
luôn luôn quản thúc mình, đừng làm cho mình niệm niệm sinh ngu si,
mà phải niệm niệm sinh trí huệ, sinh trí huệ thì không nóng giận,
người ngu si mới nóng giận. Người có sự tu dưỡng, thì tuyệt đối
chẳng sinh tâm nóng giận. Người có hàm dưỡng công phu, thì sẽ khiến
cho người tự nhiên sinh tâm cung kính. Học Phật pháp, phải ngày càng
thông minh, đừng ngày càng ngu si, về điểm này hãy nên nhớ, nên luôn
luôn chú ý.
Nếu bị người mắng, thì không nên mắng lại người, đó mới là công phu
nhẫn nhục thật sự, tức cũng là có định lực. Chẳng những đối đãi với
huynh đệ phải hòa khí, mà đối đãi với đồ đệ đồ điệt, cũng phải hòa
mục, đừng bao giờ sinh nóng giận. Cổ đức có nói : ‘’Lửa vô minh,
thần cọp, đây là gốc tội nghiệt kiếp trước.’’ Tức nhiên biết có gốc
tội nghiệt, thì hãy bứng gốc tội nghiệt lên, nếu không, thì sẽ biến
thành đại chướng ngại cho sự tu đạo, không thể tăng trưởng căn lành.
Người tu đạo, bất cứ gặp cảnh nghịch như thế nào, đều phải thuận
thọ, đừng động lửa trong gan, đừng sinh nóng giận. Ở trong Chứng Ðạo
Ca của đại sư Vĩnh Gia có nói :
‘’Quán lời ác là công đức,
Ðó là thiện tri thức của ta,
Ðừng vì sự phỉ báng mà khởi oán thân,
Ðó là vô sinh từ nhẫn lực.’’
Ðại ý nói là : Nếu có người mắng bạn, thì đó là công đức. Người mắng
bạn, tức là thiện tri thức của bạn, họ trợ giúp bạn tăng trưởng công
đức, họ trợ giúp bạn tu đạo, đừng vì họ phỉ báng mà khởi tâm sân
hận, nên sinh tâm từ bi, do đó có câu : ‘’Người xuất gia, dùng từ bi
làm gốc, phương tiện làm cửa.’’ Làm thế nào chứng minh có tâm từ bi
? Có người đến mắng bạn, có người đánh bạn, thậm chí có người giết
bạn, đó là thử thách định lực của bạn có đủ hay không, người có định
lực thì chẳng động tâm, tức là không nóng giận.
Bây giờ tôi nhớ lại, lúc tôi ở tại Tam Phan
Thị (San Francisco), lúc đó chỉ có mình tôi ở đó,
chẳng có ai trợ giúp, do đó mới mời một vị pháp sư từ Ðài Loan đến,
hy vọng ông ta giúp tôi hoằng dương
Phật pháp. Tôi nhờ luật sư làm giấy tờ để bảo lãnh
ông ta đến Mỹ, sau khi ông ta nhận được giấy nhập cảnh, bèn đi các
nơi hóa duyên, có được nhiều tiền rồi, ông ta bỏ kế hoạch đi Mỹ. Một
năm sau, giấy tờ đã bỏ hết, lại muốn đi Mỹ, tôi lại nhờ luật sư để
làm giấy tờ nữa, trước sau hai lần làm giấy tờ tốn khoảng hơn tám
trăm đô la. Ban đầu ông ta muốn thành tâm hợp tác, vì Phật giáo cống
hiến một phần sức lực. Thật không ngờ chưa đầy một tháng, thì đã
hoàn toàn thay đổi, hằng ngày ông ta đi đến hội Phật Giáo khác, bí
mật ký ước với người ta, muốn rời bỏ Giảng Ðường của tôi.
Lúc đó, tôi đã biết nội tình, một ngày nọ sau khi làm lễ buổi tối
xong, khi đó có năm sáu vị cư sĩ cũng ở đó, có một nhóm người mang
ông ta đến. Ông ta nổi giận lôi đình dùng cây đao (đao mang từ Ðài
Loan đến, dài khoảng một thước), chỉ vào bụng của tôi nói : ‘’Tôi
muốn giết ông‘’ ! Lúc đó, tôi nhắm mắt lại như nhập định, tâm nghĩ :
Nếu tôi kiếp trước đã giết ông, thì đời này nhất định ông sẽ giết
tôi, đó là nhân quả. Cho nên thái độ của tôi rất bình tĩnh, không
sao, ông cứ tùy tiện ! Vị pháp sư đó la lên nói : ‘’Ðừng nhắm mắt !
Tại sao ông không nói‘’ ! Một mặt thì chửi, một mặt dùng đao để uy
hiếp, trải qua ba ngày như thế, chẳng những mắng chửi mà còn muốn
giết người. Ba ngày sau, ông ta thấy tôi chẳng có chút phản ứng gì,
mới dọn đến hội Phật giáo mà ông ta đã ký ước để ở. Chưa đến một
tháng, chịu khổ không được bèn yêu cầu muốn trở lại, tôi nói :
‘’Hoan nghinh ông trở lại, tôi đem Giảng Ðường đó cho ông ta vô điều
kiện, tôi muốn đến nơi khác để ở.’’ Ông ta chẳng dám nhận, cho nên
trở về Ðài Loan, bây giờ nghe nói ông ta điết, và mắc nhiều thứ bệnh
tật.
Người tu đạo mà bị người ta mắng chửi, đó là thử thách định lực của
bạn như thế nào ? Người có định lực, được người ta khen cũng chẳng
mừng, bị người phỉ báng cũng chẳng giận, đó là cảnh giới tám gió
thổi không lay động. Hãy xem những lời mắng chửi như tiếng ca hát để
thưởng thức, hoặc coi như tiếng ngoại quốc nghe chẳng hiểu, có công
phu như thế thì tự nhiên sẽ hóa "đao nhọn thành ngọc lụa", có việc
biến thành không việc.
Người tu đạo, tức là nhẫn nhục không
được cũng phải nhẫn, chịu không được cũng phải chịu. Nhẫn được chịu
được đó là có định lực, không nhẫn được không chịu được, thì chẳng
có định lực. Ðịnh lực tu như thế nào ? Trước hết phải giữ giới, giữ
giới thì không làm ác, ngừa việc quấy, tức cũng là ‘’Không làm các
việc ác, làm các việc lành.’’ Giữ giới thì phải thường kiểm thảo
mình, phải làm việc thiện, đừng làm việc ác. Ðối với thế giới có
công, thì đừng ngại hãy tiếp tục làm, còn đối với thế giới có lỗi,
thì lập tức hối cải, như thế thì sẽ sinh ra định lực. Sinh ra định
lực rồi, thì còn phải trải qua sự thử thách. Nếu có người đến chửi
bạn, hoặc đánh bạn, mà bạn như như không lay động, đến cảnh giới
không người không ta, thì mới cho rằng là có định lực, do đó có câu
:
‘’Tất cả là thử thách,
Xem thử bạn làm sao,
Trước mắt mà chẳng hay,
Phải luyện lại từ đầu.’’
Người tu đạo, không thể chướng ngại những người khác phát tâm bồ đề,
nhất là không thể khiến cho người khác sinh đạo tâm thối lùi, nếu có
những tư tưởng như thế, thì mình tu đạo cũng chẳng có sự thành tựu,
bất cứ ai muốn phát bồ đề tâm, thì nên trợ giúp họ, thành tựu họ,
không nên phá hoại họ, khiến cho cho họ sinh tâm thối lùi, nếu như
thế thì chắc chắn sẽ đọa địa ngục.
Giữ giới phải thanh tịnh, phải từ bi, phải cung kính, phải hòa khí,
do đó cần có tinh thần lục hòa. Người tu đạo lấy lục hòa làm tiêu
chuẩn, mới là người giữ giới luật.
Lục hòa là gì ?
1). Thân hòa đồng trụ : Mọi người ở
chung với nhau, tu với nhau, nghiên cứu với nhau. Không được nói chỗ
này chỉ có tôi, chẳng có bạn, càng chẳng có ai khác, không được từ
sáng đến tối, đấu tranh với sư huynh đệ, hoặc bạn đồng tu bằng thân
khẩu ý, thứ tư tưởng này không nên tồn tại. Nếu có tình hình như
thế, thì hãy mau sửa đổi. Không thể chỉ biết có mình, mà không biết
có người khác, ngược lại dùng thế lực, địa vị để đè nén bức bách
người, khiến cho họ phải phục tùng, như thế càng không thể được. Nếu
đè nén bức bách người khác, thì đừng nói đến thân hòa đồng trụ.
2). Khẩu hòa vô tranh : Không được dùng
miệng để tranh luận, dùng miệng để đấu tranh, đều cho rằng mình là
đúng, còn người khác là sai, đó là biểu hiện miệng chẳng hòa hợp.
Người tu đạo, phải tu tam muội không tranh, miệng hòa tức là chẳng
tranh luận. Nếu có hàm dưỡng công phu, thì mọi người nhất định cung
kính nhau như khách.
3). Ý hòa đồng duyệt : Ý niệm của bạn
phải hòa hợp với ý niệm của người khác, đừng có chia rẽ ý kiến, được
như thế thì mọi người thuận với nhau. Phải biết rằng, đạo tràng
chẳng phải đạo tràng của một người, mà là đạo tràng của mọi người,
đừng dùng thủ đoạn cưỡng bách bức ép người, khiến cho người không
vui vẻ hòa thuận, mà gieo trồng xuống nhân ba đường ác.
4). Kiến hòa đồng giải : Không nên cho
rằng kiến giải của người khác là không đúng, chỉ đặc biệt kiến giải
của mình là hơn người khác, tư tưởng như thế không chấp nhận được.
Phải minh bạch kiến giải của mọi người mới có thể thực hành, tức
cũng là phục tùng ý kiến của đa số, không độc tài, không được chuyên
chế.
5). Giới hòa đồng tu : Giới luật mọi
người đều giữ, giống như luật pháp quốc gia, ai ai cũng phải giữ,
không được nói giới này là bạn giữ, chứ chẳng phải tôi giữ. Những
người có tư tưởng như thế là thứ bại hoại ở trong Phật giáo, mọi
người nên cùng trừ khử ‘’trùng sư tử’’, khiến cho cửa Phật thanh
tịnh.
6). Lợi hòa đồng quân : Tất cả lợi ích,
mọi người nên cùng nhau chia đều, không thể chỉ một người có, một
người có, đó là chẳng quân bình. Người xưa có nói :
‘’Bất hoạn quả, nhi hoạn bất quân.’’
Nghĩa là:
Không quân bình thì sẽ than oán,
Nếu đồng đều thì chẳng có lời oán trách.
Do đó có câu :
‘’Nhân bình bất ngữ,
Thủy bình bất lưu.’’
Nghĩa là :
Người hòa thì chẳng nói,
Nước bình thì không chảy.
Tức là đạo lý này.
Người tu đạo, phải minh bạch đạo lý sáu điều hòa hợp, mới không
chướng ngại người khác đồng tu, không áp bức người khác đồng đạo, đó
là việc rất quan trọng, mong rằng mọi người lưu ý, không được biết
rõ mà cố ý phạm. Phải :
‘’Tính định ma phục triều triều lạc,
Vọng niệm bất khởi xứ xứ an.’’
‘’Tính định ma phục triều triều lạc‘’ là gì ? Giữ giới thì khiến cho
tính an định. Tính an định thì ma gì cũng chẳng có. Tính không định
thì mới có ma đến nhiễu loạn, tính định thì hàng phục được ma, do đó
có câu :
‘’Ðạo cao long hổ phục,
Ðức trọnh quỷ thần khâm’’.
Nếu bạn có đạo nghiệp cao thâm, nói ra một câu thì chư Phật, Bồ Tát,
Thiên long bát bộ, đều đến ủng hộ lời nói của bạn, lúc đó rồng cũng
khoanh lại, cọp cũng nằm phục xuống. Nếu bạn có đức hạnh cao thượng,
thì lời nói ra đều rất linh nghiệm. Do đó, quỷ thần cũng khâm phục
bạn, thấy bạn liền cúi đầu đảnh lễ rất cung kính, cho nên nói tính
định ma phục triều triều lạc.
‘’Vọng niệm bất khởi xứ xứ an’’ là gì ? Nếu tâm của bạn khởi vọng
tưởng, thì bất cứ đi đến đâu, cũng chẳng được bình an, cũng chẳng
được cát tường. Người có vọng tưởng tức là tham tâm bất túc, đứng
núi này trông núi nọ cao, đến núi nọ rồi thì thấy núi khác cao hơn.
Ðó là biểu hiện lòng tham của con người, giống như tâm tham của
người làm ruộng, mùa xuân gieo xuống ít hạt giống, mà muốn mùa thu
thu hoạch dồi dào. Người đi học có tâm tham là hy vọng đọc tứ thư
ngũ kinh, để tương lai làm quan lớn. Người làm công có tâm tham của
người làm công, người buôn bán thì có lòng tham của người buôn bán.
Tóm lại, ai cũng hy vọng muốn kiếm được nhiều tiền, hưởng thụ cho
nhiều. Song, dục vọng chẳng ngừng, vĩnh viễn chẳng bao giờ đầy đủ.
Có bài thơ này khuyên người :
‘’Suốt ngày bận rận chỉ vì cơm
Ðược cơm no rồi lại nghĩ áo
Cơm áo hai thứ đều đầy đủ
Trong phòng lại thiếu người vợ đẹp
Cưới xong vợ đẹp và thiếp xinh
Ra vào không kiệu chẳng ngựa cưỡi
Lừa, ngựa một bầy kiệu có đủ
Lại chẳng quan chức bị người cười
Năm phẩm bốn phẩm chê quan nhỏ
Ba phẩm hai phẩm cũng hiềm thấp
Nhất phẩm đương triều làm tể tướng
Lại muốn làm vua một cõi nước
Một khi được lên làm ông
vua
Lại muốn thần tiên xuống đánh cờ.’’
Ðây là vọng tưởng lòng tham của con người, do đó có câu : ‘’Tâm tham
bất túc xà thôn tượng.’’ Nghĩa là, lòng tham chẳng biết đủ, thì
giống như một con rắn nhỏ, mà muốn nuốt chửng một con voi lớn, làm
sao mà làm được ? Cũng giống như kẻ ngu nói chuyện mộng mị.
Người tu đạo phải chú trọng đức hạnh,
tức cũng là chú trọng về đạo đức. Ðạo đức là lợi ích kẻ khác, chẳng
phải lợi ích chính mình, việc đối với mình có chỗ bất lợi, nhất định
mình phải gánh lấy, việc đối với người có chỗ thiệt hại, thì mình
nhất định trợ giúp giải quyết sự khó khăn. Tóm lại, đạo đức là lợi
người, chẳng phải hại người, đây là nguyên tắc cơ bản.
Quan trọng nhất về việc tu đạo là tu đạo đức. Ðạo thì ở bên ngoài,
đức thì ở bên trong; tài bồi đạo bên ngoài, tức là tu tất cả đạo, ở
bên ngoài có đạo rồi, thì bên trong cảm thấy rất khoái lạc, có đức
nơi tâm thì gọi là đức hạnh.
‘’Có đức ai ai cũng kính,
Có đạo ai ai cũng trọng.’’
Bạn có đức hạnh thì ai ai cũng kính phục bạn, sùng bái bạn, dù bạn
mắng người hoặc đánh người, song người bị mắng hoặc bị đánh, đều cảm
thấy rất vinh hạnh mà sinh hoan hỷ. Nếu chẳng có đức hạnh, dù hướng
về người đảnh lễ, người ta còn muốn đá bạn hai đá, chán đánh bạn
chẳng có đạo đức ! Cho nên, đức hạnh là hạnh môn người tu đạo phải
tu.
Người tu đạo, phải treo hai chữ đạo đức
lên giữa chân mày, khi mở mắt thì thấy ngay. Ở các nước phương tây,
vốn chẳng chú trọng về đạo đức, chỉ đề cập đến khoa học, chứ chẳng
đề cập đến đạo đức, nên đã quên mất đi nguồn gốc. Người tu hành
chẳng có đạo đức, thì không thể thành tựu đạo nghiệp, không thể
thành Phật làm Tổ. Phật là vạn đức trang nghiêm, vạn đức thành tựu,
có nhiều đức hạnh nên mới có thể thành Phật.
Ðạo đức tức là chánh khí, đạo đức ví như
mặt trời mặt trăng, đạo đức đồng như trời đất, cho nên hai chữ đạo
đức mọi người không thể coi thường. Ðạo đức tức là đạo tràng, đạo
đức tức là tu hành, phải tu hành mới có đạo đức.
‘’Ðạo thì phải hành,
Không hành đạo dùng làm gì ?
Ðức thì phải tu,
Không tu đức từ đâu đến‘’ ?
Cho nên người tu đạo, nếu không chú trọng về đạo đức, thì chẳng cách
chi để tu hành.
Ðạo đức tức là xả mình vì người, chẳng có tâm ích kỷ lợi mình. Cho
nên người tu đạo, mỗi cử chỉ hành động, lời nói, việc làm, đều phải
chú trọng về đạo đức. Khi mình có sức lực, thì hết mình giúp đỡ
người khác, hộ trì đạo tràng, cúng dường Tam Bảo, tức là hành vi
giúp đỡ kẻ khác, khiến cho đạo tràng chẳng có chút phiền não gì, đó
đều là phương pháp tu đạo đức tốt nhất. Do đó, các bạn nên đem hết
sức mình, hết lòng tu cho được viên mãn, thì mới có sở thành tựu.
Thiên ngôn vạn ngữ một câu nói :
‘’Tất cả vì chúng sinh mà chẳng vì chính mình.’’
Ðó là hành Bồ Tát đạo. Người hành Bồ Tát đạo, thì nhất định phải
đừng có cái ta. Tự giác tuy quan trọng, song giác tha còn quan trọng
hơn. Ðiểm này mong rằng mọi người hãy chú ý, tức là phải luôn luôn
lợi ích chúng sinh.
Ở trên đã giải thích sơ lược dị sinh chúng rồi, bây giờ giải thích
sơ lược về đồng sinh chúng. Ở trong đồng sinh chúng phân ra làm ba
bộ phận :
1). Nói rõ tất cả pháp môn mà Bồ Tát Phổ Hiền đắc được.
2). Nói rõ pháp môn của mỗi mười vị Bồ Tát chữ Phổ đắc được.
3). Nói rõ mười vị Bồ Tát khác tên, mỗi vị đắc được một môn.
Môn giải thoát của các đại bồ tát
Lại nữa, đại Bồ Tát Phổ Hiền vào môn giải thoát, biển phương tiện
không thể nghĩ bàn, vào biển công đức của Như Lai.
Nghĩa lý kinh văn ở trước chưa biểu đạt hết, nên bây giờ tiếp tục
nói tiếp.
Vị Bồ Tát Phổ Hiền là một trong bốn vị đại Bồ Tát. Ngài và Bồ Tát
Văn Thù hầu hai bên Ðức Phật Thích Ca. Bồ Tát Văn Thù ở bên trái, Bồ
Tát Phổ Hiền ở bên phải. Bồ Tát Văn Thù đại biểu trí huệ chứng ba
đức, cho nên nặng về tất cả Bát Nhã. Bồ Tát Phổ Hiền đại biểu lý
định hạnh ba đức, cho nên nặng về tất cả Tam muội.
Ðại Bồ Tát Phổ Hiền lớn nhất về hạnh lực
và nguyện lực, Ngài phát mười đại nguyện vương, bao quát tất cả hạnh
nguyện ở trong đó, cho nên là vua trong các lời nguyện.
Mười hạnh nguyện là :
1). Lễ kính chư Phật.
2). Xưng tán Như Lai.
3). Quảng tu cúng dường.
4). Sám hối nghiệp chướng.
5). Tùy hỷ công đức.
6). Thỉnh chuyển pháp luân.
7). Thỉnh Phật trụ thế.
8). Thường tùy Phật học.
9). Hằng thuận chúng sinh.
10). Phổ giai hồi hướng.
Cảnh giới của Ngài tu không thể nghĩ bàn, cảnh giới của Ngài vào,
cũng không thể nghĩ bàn. Vì tu cảnh giới không thể nghĩ bàn, nên vào
cảnh giới không thể nghĩ bàn. Ngài tự vào cảnh giới không thể nghĩ
bàn, đồng thời cũng muốn tất cả chúng sinh vào cảnh giới không thể
nghĩ bàn. Vào như thế nào ? Tức là khuyên chúng sinh rộng tu mười
đại hạnh nguyện, thì sẽ đạt đến môn giải thoát không thể nghĩ bàn.
Ðại Bồ Tát Phổ Hiền, Ngài đã vào môn
giải thoát, biển phương tiện không thể nghĩ bàn. Không thể nghĩ bàn
là gì ? Tức là không thể dùng tâm ý để suy lường, không thể dùng lời
lẽ để nói rõ được. Biển phương tiện là gì ? Cảnh giới của Phật và
cảnh giới của Bồ Tát Phổ Hiền vào, chẳng phải nói ở trong cõi Thường
Tịch Quang, hoặc khởi một niệm, hoặc khởi một vọng tưởng, muốn đến
thế giới này giáo hóa chúng sinh, Ngài chẳng cần như thế. Ở trong lý
chân đế chẳng cần động, thì sẽ thành tựu việc tục đế, đây là cảnh
giới lý sự vô ngại không thể nghĩ bàn, tức cũng là lý chẳng ngại sự,
sự chẳng ngại lý, tức trong lý cũng có sự, trong sự cũng có lý. Cho
nên đây là biển phương tiện lý sự vô ngại.
Còn có một thứ phương tiện là, trong nhân địa thành tựu quả giác
viên mãn. Cho nên, tức nhân tức quả, tức quả tức nhân, nhân quả giao
triệt, đây là biển phương tiện sự sự vô ngại (sự và sự vốn phải có
chướng ngại, song chẳng chướng ngại, đây là cảnh giới không thể nghĩ
bàn). Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói : ‘’Không động đạo tràng, khắp
mười phương cõi. Thân dung mười phương, vô tận hư không (đây là cảnh
giới lý sự vô ngại). Nơi đầu sợi lông, hiện cõi bảo vương. Ngồi
trong hạt bụi, chuyển bánh xe pháp (đây là cảnh giới sư sự vô
ngại).’’ Ở trên là là cảnh giới lý sự vô ngại không thể nghĩ bàn, ở
sau là cảnh giới sự sự vô ngại không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là
biển phương tiện.
Vào được môn giải thoát, biển phương tiện không thể nghĩ bàn, thì
theo đó vào biển công đức của Phật. Khi Phật tu công đức, thì công
đức dù nhỏ như hạt bụi, cũng chẳng bỏ qua, vì ngày tháng tích lũy
công đức sẽ như biển cả, cho nên nói biển công đức của Như Lai.
Gồm có môn giải thoát tên là : Nghiêm tịnh tất cả cõi Phật, điều
phục chúng sinh, khiến cho họ rốt ráo ra khỏi biển sinh tử.
Ðây là mười môn giải thoát, của đại Bồ Tát Phổ Hiền đã chứng được,
Ngài chẳng lưu giữ mà nói ra. Chúng ta biết môn giải thoát này, thì
cũng phải chiếu theo môn giải thoát này mà tu hành.
Môn giải thoát này, tên là Nghiêm tịnh tất cả cõi Phật, điều phục
chúng sinh, khiến cho họ rốt ráo lìa khỏi biển sinh tử. Môn giải
thoát này, hay khiến cho tất cả các cõi Phật, đặc biệt trang nghiêm
và thanh tịnh, điều phục được chúng sinh cang cường, khiến cho họ
rốt ráo lìa khỏi biển sinh tử.
Trang nghiêm thế gian và trang nghiêm xuất thế gian khác nhau. Sự
trang nghiêm thế gian, vì chẳng lìa được pháp nhiễm ô, cho nên có vị
khí trần tục bên trong. Sự trang nghiêm xuất thế gian, thì thanh
tịnh chẳng có pháp nhiễm ô tồn tại. Nhiễm ô là gì ? Có tâm tham tức
là nhiễm ô, có tâm sân cũng là nhiễm ô, có tâm si càng nhiễm ô. Thậm
chí có tâm dâm dục, tâm đố kỵ, đều là nhiễm ô. Nếu có những thứ
nhiễm ô này, thì tuyệt đối không thể lìa khỏi được khổ, trong sáu
nẻo ba cõi.
Hiện tại trang nghiêm thanh tịnh tận hư
không khắp pháp giới, tất cả cõi nước chư Phật. Tại sao phải trang
nghiêm cõi nước chư Phật ? Phải chăng chư Phật thích đẹp đẽ ? Chẳng
phải. Vì muốn giáo hóa những chúng sinh không dễ giáo hóa, khiến cho
họ thấy được cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh, thì tự nhiên trừ khử
tất cả ba độc tham sân si, khiến cho thân tâm mát mẻ.
Ðiều phục là gì ? Ðiều là điều thuận, phục là hàng phục; điều thuận
và hàng phục những chúng sinh cang cường, tức cũng khiến cho chúng
sinh có tập khí mao bệnh, tất cả mọi thứ nhiễm ô đều được thanh
tịnh, thì có thể trở về nguồn cội, rốt ráo lìa khỏi biển sinh tử.
Chúng ta ở trên thế giới này, tức cũng là ở trong biển khổ, có khi
cảm thấy như thế này là tốt, thế kia là không tốt; có khi thích việc
này, chẳng đồng ý việc kia, đó đều là khổ, tức cũng là xoay vòng ở
trong vọng tưởng, trôi nổi trong luân hồi. Luân hồi ở đây, chẳng
phải luân hồi sau khi chết, mà là luân hồi của sự sống. Bạn sinh một
niệm thiện, thì như sinh về cõi trời, do đó có câu :
‘’Vi thiện tối lạc.’’
Nghĩa là:
Làm một việc thiện,
Thì trong tâm rất vui vẻ,
Lâng lâng như thần tiên.
Nếu sinh một niệm ác, thì như là đọa địa ngục, phải chịu lương tâm
cắn rứt, giống như thọ tội. Tóm lại, bạn khởi vọng tưởng gì, thì
chuyển động ở trong sáu nẻo, vì trong thức thứ tám có vọng niệm này,
sau đó tạo thành vọng nghiệp bên ngoài. Nếu chẳng có vọng niệm, thì
vọng nghiệp cũng chẳng sinh. Cho nên, tất cả nghiệp đều do mê hoặc
tạo thành. Tạo nghiệp rồi thì thọ quả báo, vĩnh viễn chẳng lìa khỏi
được luân hồi sanh tử trong sáu nẻo. Vậy, làm thế nào để lìa khỏi ba
cõi ? Muốn không thọ luân hồi, chỉ có một biện pháp tức là tu hành,
siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si; diệt sạch ba độc, thì
rốt ráo ra khỏi được tam giới và luân hồi.
Có môn giải thoát tên là: Ðến khắp tất cả cảnh giới, đầy đủ công
đức ở chỗ của Như Lai tu.
Lại có môn giải thoát tên là : Ðến khắp tất cả cảnh giới, đầy đủ
công đức ở chỗ của Như Lai tu, tức là đến khắp hết thảy chỗ của Phật
ở, vì công đức của Phật tu đều viên mãn, phước cũng đầy đủ, huệ cũng
đầy đủ, cho nên dùng phước huệ để trang nghiêm cảnh giới công đức.
Có môn giải thoát tên là: An lập các biển đại nguyện của tất cả Bồ
Tát.
Lại có môn giải thoát tên là: An lập biển đại nguyện của tất cả Bồ
Tát. Tu đủ thứ hạnh của Bồ Tát, mới thành tựu công đức của Bồ Tát,
mới có các biển đại nguyện. Công đức của Bồ Tát có sáu thứ :
1). Ðịa vị.
2). Nguyện lực.
3). Mười hạnh thù thắng.
4). Mười phương tiện.
5). Mười như thị.
6). Chứng pháp giới.
Có môn giải thoát tên là: Hiện vô lượng thân, nhiều như số hạt
bụi khắp pháp giới.
Lại có môn giải thoát tên là: Hiện vô lượng thân nhiều như số hạt
bụi khắp pháp giới. Ngài hiện ra khắp hết thảy vô lượng vô biên hóa
thân, nhiều như số hạt bụi trong pháp giới, hoặc hiện thân Phật,
hoặc hiện thân Bồ Tát, hoặc hiện thân Duyên Giác, hoặc hiện thân
Thanh Văn. Tóm lại, ứng cơ hiện khắp để diễn nói pháp.
Có môn giải thoát tên là: Diễn nói tên khác nhau, khắp tất cả các
cõi không thể nghĩ bàn.
Lại có môn giải thoát tên là: Diễn nói tên khác nhau, khắp tất cả
các cõi không thể nghĩ bàn. Hằng ngày diễn nói không thể nghĩ bàn,
tên của Phật và Bồ Tát đủ thứ sự khác nhau, khắp tất cả cõi nước.
Có môn giải thoát tên là: Trong tất cả hạt bụi, đều hiện vô biên
thần thông cảnh giới của các Bồ Tát.
Lại có môn giải thoát tên là: Trong tất cả hạt bụi đều hiện thần
thông cảnh giới của các Bồ Tát. Có số thế giới nhiều như hạt bụi,
mỗi hạt bụi làm một thế giới, ở trong mỗi thế giới có vô biên các Bồ
Tát, đều hiện thần thông cảnh giới của mỗi vị. Hạt bụi tuy giống
nhau, song các Bồ Tát hiện cảnh giới chẳng giống nhau, cho nên có vô
lượng hạt bụi, lại hiện ra vô lượng Bồ Tát; vô lượng Bồ Tát, lại
hiện ra vô lượng thần thông cảnh giới, đây là môn giải thoát không
thể nghĩ bàn.
Có môn giải thoát tên là: Trong một niệm, hiện ra việc kiếp
thành, kiếp hoại trong ba đời.
Lại có môn giải thoát tên là: Trong một niệm, hiện ra việc kiếp
thành kiếp hoại trong ba đời. Ngài có thể ở trong thời gian ngắn
nhất, hiện ra kiếp đời quá khứ, kiếp đời hiện tại, kiếp đời vị lai,
đây là việc bốn trung kiếp thành trụ hoại không trong ba đời.
Kiếp là tiếng Phạn, dịch ra là "Thời
phân", tức cũng là thời gian phân biệt, ví như vô lượng kiếp tức là
vô lượng thời gian. Kiếp ba đời tức là thời gian quá khứ, hiện tại
và vị lai ba đời. Phương pháp tính kiếp có hai cách:
1). Lấy mười ba vạn chín ngàn sáu trăm
năm làm một kiếp, một ngàn mười ba vạn chín ngàn sáu trăm năm làm
một tiểu kiếp, hai mươi tiểu kiếp làm một trung kiếp, bốn trung kiếp
làm một đại kiếp.
2). Lấy tuổi thọ của con người làm đơn
vị, từ tám vạn bốn ngàn tuổi bắt đầu giảm. Mỗi một trăm năm giảm
xuống một tuổi, độ cao của thân thể cũng giảm một tấc, giảm đến tuổi
thọ của con người chỉ còn mười tuổi thì ngừng; sau đó mỗi một trăm
năm tăng thêm một tuổi, thân cũng cao thêm một tấc, tăng đến tuổi
thọ của con người là tám vạn bốn ngàn tuổi thì ngừng. Một lần tăng
một lần giảm như thế là một kiếp, tám mươi tiểu kiếp làm một đại
kiếp.
Khi thế giới thành, thời gian hai mươi
tiểu kiếp, trụ cũng hai mươi tiểu kiếp, hoại cũng hai mươi tiểu
kiếp, không cũng hai mươi tiểu kiếp, cho nên trong một đại kiếp có
thành trụ hoại không bốn giai đoạn. Ðời quá khứ có thành trụ hoại
không của quá khứ, đời hiện tại có thành trụ hoại không của hiện
tại, vị lai có thành trụ hoại không của vị lai.
Thân thể của chúng ta cũng có thành trụ
hoại không, song chẳng gọi thành trụ hoại không, mà gọi sinh trụ dị
diệt. Khi sinh ra đến hai mươi tuổi là thành, đến khoảng bốn mươi
tuổi là trụ, đến khoảng sáu mươi tuổi là dị, đến khoảng tám mươi
tuổi là diệt. Dị là biến hoại, diệt là không, chẳng còn gì nữa. Ðây
là pháp tính theo tuổi thọ của con người tám mươi tuổi. Tóm lại,
trong sự vật thì có thành trụ hoại không, trong thân người thì có
sinh trụ dị diệt, hoặc sinh già bệnh chết, đó là biểu hiện của sự vô
thường. Ở trong một niệm hiện ra cảnh giới này.
Có môn giải thoát tên là: Thị hiện biển các căn của tất cả Bồ
Tát, tự vào cảnh giới của mình.
Lại có môn giải thoát tên là: Thị hiện biển các căn của tất cả Bồ
Tát, tự vào cảnh giới của mình. Các căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý, của Bồ Tát xử dụng với nhau. Mắt của Bồ Tát chẳng những thấy, mà
còn có thể: Nghe, ngửi, nếm, biết, đầy đủ năm thứ công năng. Lỗ tai
cũng như thế, ngoài sự nghe ra, cũng có thể thấy ngửi nếm biết. Bốn
căn kia cũng như thế, đều dụng với sáu căn, một căn đầy đủ năm căn.
Cho nên cảnh giới của Bồ Tát, tự nhập vào cảnh giới của mình, mỗi
một căn vào cảnh giới của mỗi căn, mỗi căn có sự khác nhau.
Có môn giải thoát tên là: Dùng sức thần thông hóa hiện đủ thứ
thân, khắp vô biên pháp giới.
Lại có môn giải thoát tên là: Dùng sức thần thông hóa hiện đủ thứ
thân, khắp vô biên pháp giới. Bồ Tát hay dùng sức thần thông, để
biến hóa thị hiện đủ thứ thân. Có khi hiện thân Bồ Tát, có khi hiện
thân trời rồng tám bộ. Tóm lại, người đáng dùng thân gì độ được, thì
hiện thân đó mà độ họ, sự hóa thân này khắp hết thảy trong mười
phương vô biên pháp giới.
Có môn giải thoát tên là: Hiển bày môn thứ lớp pháp tu hành của
tất cả Bồ Tát, vào nhất thiết trí phương tiện rộng lớn.
Lại có môn giải thoát tên là: Hiển bày môn thứ lớp pháp tu hành của
tất cả Bồ Tát, vào nhất thiết trí phương tiện rộng lớn. Chỉ bày rõ
ràng pháp tu hành lục độ vạn hạnh của tất cả Bồ Tát, y theo thứ lớp
pháp môn tu hành, tức là trước hết tu bố thí, sau đó trì giới, tu
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Tu hành viên mãn thì sẽ
đắc được nhất thiết trí huệ, thứ trí huệ này, rộng nhất lớn nhất vô
lượng môn phương tiện.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Phổ Hiền dùng công đức của mình, lại nương
sức oai thần của đức Như Lai, quán khắp tất cả đại chúng hải hội,
rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Phổ Hiền, dùng công đức của mình tu hành trong
quá khứ, đời đời kiếp kiếp trong tất cả biển kiếp, và nương đại oai
thần lực của Như Lai, quán sát khắp đại chúng nhiều như biển cả ở
trong pháp hội, quán sát xong rồi, bèn dùng kệ để nói rõ lại tỉ mỉ ý
nghĩa trong trường hàng ở trên.
Ðức Phật trang nghiêm cõi rộng lớn
Ðồng như tất cả số hạt bụi
Phật tử thanh tịnh đầy trong đó
Mưa pháp diệu nhất không nghĩ bàn.
‘’Ðức Phật trang nghiêm cõi rộng lớn.’’ Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô
Giá Na Phật, Ngài trang nghiêm các cõi Phật rộng lớn.
‘’Ðồng như tất cả số hạt bụi.’’ Cõi của Ngài trang nghiêm, đồng như
số hạt bụi nhiều khắp tận hư không biến pháp giới.
‘’Phật tử thanh tịnh đầy trong đó.’’ Ở trong mỗi cõi, đều có Phật tử
tu hạnh thanh tịnh. Thân thanh tịnh thì chẳng nhiễm ô: Sát sinh,
trộm cắp, và dâm dục. Miệng thanh tịnh thì: Chẳng nói dối, nói thêu
dệt, chửi mắng và hai lưỡi. Ý thanh tịnh thì: Chẳng có tham, sân,
si. Những đại Bồ Tát như thế, đầy khắp ở trong tất cả cõi Phật.
Phật tử là gì ? Tức là đệ tử của Phật. Phật tử phân ra ba thứ :
1). Ngoại tử.
2). Giá tử.
3). Chân tử.
1. Ngoại tử : Tức là phàm phu, đệ tử ở ngoài Phật pháp. Tuy chẳng
hiểu Phật pháp, song có Phật tánh. Cho nên Phật nói :
‘’Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh,
Ðều có thể thành Phật.’’
Chỉ cần là chúng sinh, chẳng màng tin Phật hay không tin Phật, tương
lai đều có cơ hội thành Phật. Do đó, hết thảy chúng sinh đều là Phật
tử.
2. Giá tử : Tức là hàng nhị thừa Thanh
Văn, Duyên Giác, chẳng phải từ đại pháp chân chánh của Phật sinh ra.
Giá tử nói theo nghĩa thế tục là con của vợ lẽ sinh, chứ chẳng phải
vợ chính, cho nên chẳng có quyền thừa kế.
3. Chân tử : Tức là Bồ Tát, là chân Phật
tử, từ miệng Phật sinh ra, từ Phật pháp hóa sinh, chân chánh từ đại
pháp sinh ra. Hiện tại đang nói là thanh tịnh Phật tử, tức là chân
tử, Phật tử chân chánh.
‘’Mưa pháp diệu nhất không nghĩ bàn.’’ Phật và Phật tử thanh tịnh, ở
tại cõi thanh tịnh nói pháp diệu nhất không thể nghĩ bàn, giống như
mưa xuống, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được pháp ích, vi diệu
nhất không thể nghĩ bàn, mà tăng trưởng căn lành.
Như nơi hội này thấy Phật ngồi
Trong tất cả bụi đều như thế
Thân Phật không đến cũng chẳng đi
Hết thảy các cõi đều hiện rõ.
‘’Như nơi hội này thấy Phật ngồi.’’ Giả như bạn ở trong pháp hội
này, thấy được Phật ngồi trên tòa sư tử, vì chúng sinh hiện thân
thuyết pháp.
‘’Trong tất cả bụi đều như thế.’’ Trong hết thảy tất cả cõi hạt bụi
cũng như thế, Phật đều vì chúng sinh diễn nói diệu pháp.
‘’Thân Phật không đến cũng chẳng đi.’’ Thân Phật như như bất động,
liễu liễu thường minh, chẳng đến chẳng đi, chẳng đi chẳng đến.
‘’Hết thảy các cõi đều hiện rõ.’’ Tuy thân Phật chẳng đến cũng chẳng
đi, song trong hết thảy các cõi, đều hiện ra thân Phật rõ ràng.
Hiển bày sở tu của Bồ Tát
Vô lượng thứ địa các phương tiện
Và nói lý chân thật khó nghĩ
Khiến các Phật tử vào pháp giới.
‘’Hiển bày sở tu của Bồ Tát.’’ Hiện ra rất rõ pháp môn tu hành của
tất cả Bồ Tát.
‘’Vô lượng thứ địa các phương tiện.’’ Ðịa vị của Bồ Tát, nguyện lực
của Bồ Tát, tu mười pháp môn Ba la mật thù thắng, và mười phương
tiện đều là vô lượng vô biên.
Mười phương tiện tức là :
1). Phương tiện bố thí.
2). Phương tiện trì giới.
3). Phương tiện nhẫn nhục.
4). Phương tiện tinh tấn.
5). Phương tiện thiền định.
6). Phương tiện trí huệ.
7). Phương tiện đại từ.
8). Phương tiện đại bi.
9). Phương tiện giác ngộ.
10). Phương tiện chuyển bánh xe pháp bất thối.
‘’Và nói lý chân thật khó nghĩ.’’ Lại nói mười thứ như thị, chứng
đắc đạo lý chân thật vi diệu không thể nghĩ bàn.
Mười như thị (như vậy) tức là
:
1). Tướng như vậy.
2). Tánh như vậy.
3). Thể như vậy.
4). Lực như vậy.
5). Tác như vậy.
6). Nhân như vậy.
7). Duyên như vậy.
8). Quả như vậy.
9). Báo như vậy.
10). Gốc ngọn rốt ráo như vậy.
‘’ Khiến các Phật tử vào pháp giới.’’ Hay khiến cho tất cả Phật tử,
đều nhập vào pháp giới. Tâm lượng của Ngài tràn đầy pháp giới, thần
thông của Ngài tràn đầy pháp giới, sự thuyết pháp của Ngài tràn đầy
pháp giới, tất cả hết thảy đều tràn đầy pháp giới.
Sinh ra hóa Phật nhiều như bụi
ứng khắp quần sinh tâm ưa thích
Vào sâu pháp giới môn phương tiện
Rộng lớn vô biên đều khai diễn.
‘’Sinh ra hóa Phật nhiều như bụi.’’ Vị Bồ Tát này, có thể hóa Phật
nhiều như hạt bụi.
‘’Ứng khắp quần sinh tâm ưa thích‘’. Ngài ứng hiện khắp hết thảy sự
ưa thích ở trong tâm của tất cả chúng sinh, tùy theo căn cơ mà
thuyết pháp.
‘’Vào sâu pháp giới môn phương tiện.’’ Ngài vào được pháp môn phương
tiện pháp giới sâu nhất, tức cũng là pháp môn quyền xảo phương tiện.
‘’Rộng lớn vô biên đều khai diễn.’’ Pháp môn này rộng lớn vô biên,
đều khai thị diễn nói tất cả diệu pháp.
Danh hiệu Như Lai đồng thế gian
Cõi nước mười phương đều sung mãn
Tất cả phương tiện chẳng luống qua
Ðiều phục chúng sinh đều lìa cấu.
‘’Danh hiệu Như Lai đồng thế gian.’’ Danh hiệu của Phật nhiều đồng
hết thảy số hạt bụi tại thế gian, chẳng cách chi tính đếm được.
‘’Cõi nước mười phương đều sung mãn.’’ Hết thảy cõi nước mười phương
đều sung mãn danh hiệu của Phật.
‘’Tất cả phương tiện chẳng luống qua.’’ Phật dùng tất cả pháp môn
phương tiện, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho chẳng có một
chúng sinh nào luống qua.
‘’Ðiều phục chúng sinh đều lìa cấu.’’ Ðiều phục tất cả chúng sinh
cang cường, khiến cho họ lìa khỏi tất cả pháp nhiễm ô, mà sinh tâm
thanh tịnh. Pháp nhiễm ô tức là tất cả sự việc người thế gian làm.
Pháp thanh tịnh tức là tất cả sự việc người xuất thế gian làm. Ðiểm
này các bạn nên nhận thức rõ ràng, minh bạch hiểu rõ, gì là pháp
nhiễm ô ? Gì là pháp thanh tịnh ?
Phật ở trong tất cả hạt bụi
Thị hiện vô biên sức thần thông
Ðều ngồi đạo tràng diễn nói pháp
Như hạnh bồ đề Phật thuở xưa.
‘’Phật ở trong tất cả hạt bụi.’’ Phật ở trong tất cả hạt bụi cõi
nước.
‘’Thị hiện vô biên sức thần thông.’’ Thị hiện ra sức đại thần thông
chẳng có bờ mé.
‘’Ðều ngồi đạo tràng diễn nói pháp.’’ Phật ngồi đạo tràng ở trong
mỗi hạt bụi cõi nước, diễn nói pháp vi diệu vô thượng.
‘’Như hạnh bồ đề Phật thuở xưa.’’ Giống như hạnh bồ đề của Phật tu
thuở xưa, chỉ bày cho chúng sinh, khiến cho họ phát tâm bồ đề.
Ba đời hết thảy kiếp rộng lớn
Trong niệm niệm Phật đều thị hiện
Tất cả các việc thành hoại đó
Trí không nghĩ bàn đâu chẳng thấu.
‘’Ba đời tất cả kiếp rộng lớn.’’ Thời gian lâu dài ba đời tất cả
kiếp rộng lớn, ba đời thời gian đã rất dài, kiếp rộng lớn càng lâu
dài hơn.
‘’Trong niệm niệm Phật đều thị hiện.’’ Phật ở trong mỗi niệm, đều
thị hiện ra cảnh giới này.
‘’Tất cả các việc thành hoại đó.’’ Ở trong ba đời có thành trụ hoại
không bốn trung kiếp. Kiếp thành là thành như thế nào ? Kiếp trụ là
trụ như thế nào ? Kiếp hoại là hoại như thế nào ? Kiếp không là
không như thế nào ? Phật đều nói rất rõ ràng.
‘’Trí không nghĩ bàn đâu chẳng thấu.’’ Phật có diệu trí huệ không
thể nghĩ bàn, đối với cảnh giới này chẳng có gì mà chẳng thấu rõ.
Chúng hội Phật tử rộng vô hạn
Muốn cùng dò lường các Phật địa
Pháp môn chư Phật chẳng bờ mé
Ðều muốn biết rõ rất là khó.
‘’Chúng hội Phật tử rộng vô hạn.’’ Các vị đại Bồ Tát và hàng nhị
thừa cùng với phàm phu, tất cả những Phật tử này, rất nhiều ở trong
pháp hội, không biết là bao nhiêu, chẳng cách chi tính đếm được.
‘’Muốn cùng dò lường các Phật địa.’’ Các vị đó, đều muốn minh bạch
cảnh giới các Phật địa, cứu kính như thế nào ?
‘’Pháp môn chư Phật chẳng bờ mé.’’ Song, cảnh giới chư Phật và pháp
môn chư Phật vô lượng vô biên, chẳng cách chi dò lường được.
‘’Ðều muốn biết rõ rất là khó.’’ Nghĩ muốn dò lường cảnh giới của
Phật, nghĩ muốn minh bạch pháp môn của Phật, đây là việc thật không
dễ dàng.
Phật như hư không chẳng phân biệt
Ðồng chân pháp giới chẳng chỗ nương
Hóa hiện khắp hết đâu chẳng có
Ðều ngồi đạo tràng thành chánh giác.
‘’Phật như hư không chẳng phân biệt.’’ Pháp thân của Phật đầy khắp
tất cả mọi nơi, vô sở tại, cũng vô sở bất tại, giống như hư không,
nói nó có chăng ? Tức nhìn mà chẳng thấy, nói nó chẳng có chăng ?
Lại đầy khắp hư không. Ví như hư không, nói nó chẳng có, nó vẫn tồn
tại; nói nó có, nó lại là không. Pháp thân của Phật cũng như thế,
với hư không chẳng có phân biệt.
‘’Ðồng chân pháp giới không chỗ nương.’’ Bình đẳng một chân pháp
giới, nó vốn là không chỗ nương, mà là chỗ nương của tất cả vạn vật.
‘’Hóa hiện khắp hết đâu chẳng có.’’ Pháp thân của Phật, hóa hiện ở
trong mỗi cõi nước, khắp trong pháp giới, chẳng có chỗ nào mà chẳng
có hóa thân của Phật.
‘’Ðều ngồi đạo tràng thành chánh giác.’’ Pháp thân của Phật khắp hết
trong tất cả cõi nước, đều ngồi dưới cội bồ đề thành chánh giác.
Phật dùng diệu âm rộng tuyên dương
Tất cả các địa đều thấy rõ
Hiện khắp trước mỗi mỗi chúng sinh
Ðồng với Như Lai pháp bình đẳng.
‘’Phật dùng diệu âm rộng tuyên dương.’’ Phật dùng pháp âm vi diệu,
rộng tuyên dương
Phật pháp khắp nơi, khiến cho Phật pháp lưu thông
đến mọi nơi, khiến cho chúng sinh đều minh bạch nghĩa chân thật của
Phật pháp.
‘’Tất cả các địa đều thấy rõ.’’ Từ sơ địa đến đẳng giác, địa vị pháp
thân đại sĩ, đối với sở tu chân thật pháp và tất cả các địa, các
Ngài đều thấu rõ.
‘’Hiện khắp trước mỗi mỗi chúng sinh.’’ Xuất hiện khắp ở trước tất
cả chúng sinh, mà vì họ nói pháp.
‘’Ðồng với Như Lai pháp bình đẳng.’’ Vì chúng sinh nói diệu pháp
bình đẳng, tức cũng chẳng có pháp phân biệt. Do đó có câu :
‘’Tâm, Phật, chúng sinh,
Cả ba chẳng khác biệt.’’
Khiến cho chúng sinh biết tự tánh, chỉ cần tu hành thì sẽ thành
Phật.
Lại nữa, đại Bồ Tát Tịnh Ðức Diệu
Quang, được môn giải thoát, đến khắp mười phương trang nghiêm đạo
tràng chúng hội Bồ Tát.
Tiếp tục nói kinh văn ở trước. Vị đại Bồ Tát Tịnh Ðức Diệu Quang, là
đại Bồ Tát trong hàng Bồ Tát, tức cũng là pháp thân Ðại sĩ. Ngài đắc
được cảnh giới: Ðến khắp mười phương pháp giới, trang nghiêm đạo
tràng pháp hội đại chúng Bồ Tát, Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Ðức Tối Thắng Ðăng Quang Chiếu, được môn giải
thoát, trong một niệm, hiện ra vô tận môn Phật thành chánh giác,
giáo hóa thành thục chúng sinh giới không nghĩ bàn.
Vị đại Bồ Tát Phổ Ðức Tối Thắng Ðăng Quang Chiếu, đắc được cảnh
giới, ở trong một niệm, hiện ra vô tận pháp môn Phật thành chánh
giác, lại giáo hóa chúng sinh thành thục, đều được thành thục Phật
quả, đây là một cảnh giới trong chúng sinh giới không thể nghĩ bàn,
Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Quang Sư Tử Tràng, được môn giải thoát, tu tập
phước đức của Bồ Tát, để trang nghiêm hiện ra tất cả cõi Phật.
Vị đại Bồ Tát Phổ Quang Sư Tử Tràng, đắc được cảnh giới, tu tập
phước đức của Bồ Tát, tức là tu lục độ vạn hạnh, đủ thứ việc lành,
để trang nghiêm hiện ra tất cả cõi Phật, Ngài vào môn giải thoát
này.
Ðại Bồ Tát Phổ Bảo Diễm Diệu Quang, được môn giải thoát, quán sát
cảnh giới thần thông của Phật, mà chẳng mê hoặc.
Vị đại Bồ Tát Phổ Bảo Diễm Diệu Quang, đắc được cảnh giới, quán sát
cảnh giới thần thông diệu dụng của Phật, mà chẳng mê hoặc, Ngài vào
môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Âm Công Ðức Hải Tràng, được môn giải thoát, ở
trong một chúng hội đạo tràng, thị hiện tất cả cõi Phật trang
nghiêm.
Vị đại Bồ Tát Phổ Âm Công Ðức Hải Tràng, đắc được cảnh giới, ở trong
một đại chúng pháp hội, hiện ra tất cả cõi nước chư Phật trang
nghiêm, tất cả đạo tràng trang nghiêm, Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh, được môn giải thoát,
tùy theo Như Lai quán sát pháp giới tạng thâm sâu rộng lớn.
Vị đại Bồ Tát Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh, đắc được cảnh giới:
Quang minh của Ngài chiếu sáng cảnh giới của Phật, tùy theo Phật để
quán sát pháp giới tạng rộng lớn thâm sâu vô thượng, mà minh bạch
đạo lý pháp giới, Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Giác Duyệt Ý Thanh, được môn giải thoát, gần gũi
thừa sự cúng dường tất cả chư Phật.
Vị đại Bồ Tát Phổ Giác Duyệt Ý Thanh, đắc được cảnh giới, khiến khắp
hết thảy chúng sinh giác ngộ, mà gần gũi chư Phật, thừa sự chư Phật,
cúng dường chư Phật, tức cũng là luôn luôn hầu cận chư Phật, Ngài
vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Oai Quang, được môn giải
thoát, dùng tất cả thần thông biến hóa rộng lớn, để gia trì chúng
sinh.
Vị đại Bồ Tát Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Oai Quang, đắc được cảnh
giới, dùng thần thông biến hóa rộng lớn, để gia trì tất cả chúng
sinh, khiến cho họ phát tâm bồ đề, Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Bảo Kế Hoa
Tràng, được môn giải thoát, vào khắp tất cả hạnh
thế gian, mà sinh ra vô biên hạnh môn của Bồ Tát.
Vị Ðại Bồ Tát Phổ Bảo Kế Hoa
Tràng, đắc được cảnh giới, vào khắp tất cả hạnh môn
sở hành của thế gian, mà sinh ra vô biên hạnh môn sở tu của Bồ Tát,
Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Phổ Tướng Tối Thắng Quang, được môn giải thoát, ở
trong pháp giới vô tướng, xuất hiện cảnh giới của tất cả chư Phật.
Vị đại Bồ Tát Phổ Tướng Tối Thắng Quang, đắc được cảnh giới, ở trong
pháp giới vô tướng, lại hiện ra cảnh giới của tất cả chư Phật. Vô
tướng vốn chẳng có hình tướng có thể thấy, song ở trong vô tướng mà
hiện ra có tướng, đây là thần thông diệu dụng, Ngài vào môn giải
thoát này.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Tịnh Ðức Diệu Quang, nương oai thần lực của
đức Phật, quán sát khắp biển môn giải thoát của tất cả Bồ Tát, rồi
nói bài kệ rằng.
Lúc đó, đại Bồ Tát Phổ Tướng Tối Thắng Quang, nói xong môn giải
thoát của Ngài đắc được rồi, thì vị đại Bồ Tát Tịnh Ðức Diệu Quang,
nương đại oai đức thần lực của Phật, quán sát khắp biển môn giải
thoát, của tất cả Bồ Tát rồi, bèn dùng kệ nói ra đạo lý này.
Mười phương hết thảy các cõi nước
Trong một sát na đều nghiêm tịnh
Dùng diệu âm thanh chuyển pháp luân
Khắp thảy thế gian chẳng gì bằng.
‘’Mười phương hết thảy các cõi nước.’’ Mười phương tức là trên,
dưới, bốn phương, bốn hướng, cộng lại là mười. Ở trong mười phương
hết thảy cõi nước chư Phật, trong mỗi cõi Phật, đều có Phật đang ở
đó diễn nói diệu pháp.
‘’Trong một sát na đều nghiêm tịnh.’’ Ở trong thời gian rất ngắn,
đều trang nghiêm cõi nước chư Phật trong mười phương, một hạt bụi
chẳng nhiễm, vạn niệm không sinh.
‘’Dùng diệu âm thanh chuyển pháp luân.’’ Phật dùng âm thanh vi diệu
không thể nghĩ bàn, để chuyển đại pháp luân, vì chúng sinh thuyết
pháp.
‘’Khắp thảy thế gian chẳng gì bằng.’’ Khắp trong hết thảy mười
phương thế giới cõi nước chư Phật, chẳng có âm thanh nào vi diệu
sánh bắng âm thanh của Phật, cũng chẳng có đạo lý nào viên mãn bằng
đạo lý của Phật nói.
Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé
Một niệm sung mãn khắp pháp giới
Trong mỗi hạt bụi lập đạo tràng
Ðều chứng bồ đề khởi thần biến.
‘’Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé.’’ Cảnh giới của Phật chẳng có bờ
mé, chẳng cách chi biết được.
‘’Một niệm sung mãn khắp pháp giới.’’ Trong khoảng một niệm, đầy dẫy
mười phương pháp giới ở trong tất cả hạt bụi.
‘’Trong mỗi hạt bụi lập đạo tràng.’’ Cảnh giới của Phật, có thể ở
trong mỗi hạt bụi kiến lập đạo tràng, chuyển bánh xe pháp, giáo hóa
chúng sinh.
‘’Ðều chứng bồ đề khởi thần biến.’’ Khiến tất cả chúng sinh, đều
chứng được bồ đề, mà còn có thần thông biến hóa diệu dụng.
Thuở xưa Thế Tôn tu các hạnh
Trải qua trăm ngàn vô lượng kiếp
Tất cả cõi Phật đều trang nghiêm
Xuất hiện vô ngại như hư không.
‘’Thuở xưa Thế Tôn tu các hạnh.’’ Thuở xưa Thế Tôn tu tất cả hạnh
môn, tức cũng là có bao nhiêu hạnh môn Phật đều tu, chẳng bỏ qua.
‘’Trải qua trăm ngàn vô lượng kiếp.’’ Phật trải qua trăm ngàn vô
lượng đại kiếp, tu hành sáu độ vạn hạnh viên mãn.
‘’Tất cả cõi Phật đều trang nghiêm.’’ Vì có vô lượng công đức, cho
nên khiến cho tất cả cõi Phật, đều trang nghiêm thanh tịnh.
‘’Xuất hiện vô ngại như hư không.’’ Pháp thân của Phật vô ngại,
giống như hư không, thích đến cõi nào thì hiện thân ở cõi đó.
Thần thông của Phật vô hạn lượng
Sung mãn vô biên tất cả kiếp
Giả sử trải qua vô lượng kiếp
Niệm niệm quán sát không mỏi nhàm.
‘’Thần thông của Phật vô hạn lượng.’’ Pháp thân của Phật khắp hết
thảy pháp giới, thần thông của Phật cũng chẳng hạn lượng, chẳng ai
biết được, chẳng ai thấu được.
‘’Sung mãn vô biên tất cả kiếp.’’ Thần thông của Phật sung mãn vô
biên vô bờ nhiều đại kiếp.
‘’Giả sử trải qua vô lượng kiếp.’’ Giả sử trải qua vô lượng vô biên
nhiều đại kiếp, thời gian lâu dài.
‘’Niệm niệm quán sát chẳng mỏi nhàm.’’ Trong mỗi niệm, đều quán sát
sức thần thông biến hóa của Phật, chẳng khi nào mỏi mệt hoặc nhàm
chán.
Hãy quán cảnh giới thần thông Phật
Mười phương cõi nước đều nghiêm tịnh
Tất cả trong đó đều hiện tiền
Niệm niệm khác nhau vô lượng loài.
‘’Hãy quán cảnh giới thần thông Phật.’’ Các vị hãy quán sát cảnh
giới thần thông diệu dụng của Phật, là không thể nghĩ bàn.
‘’Mười phương cõi nước đều nghiêm tịnh.’’ Thần thông của Phật, đều
trang nghiêm thanh tịnh các cõi Phật trong mười phương.
‘’Thảy đều hiện tiền ở trong đó.’’ Phật có thể hiện ở trong tất cả
các cõi, ở trước mặt mỗi chúng sinh nói diệu pháp.
‘’Niệm niệm khác nhau vô lượng loài.’’ Ở trong mỗi niệm hiện ra khác
nhau, có vô lượng vô biên nhiều giống loài.
Quán Phật trăm ngàn vô lượng kiếp
Chẳng hết sợi lông nơi thân Phật
Phương tiện vô ngại của Như Lai
Quang này chiếu khắp khó lường được.
‘’Quán Phật trăm ngàn vô lượng kiếp.’’ Quán chư Phật, ở trong thời
gian dài trăm ngàn vô lượng kiếp, đều chẳng nghỉ ngơi.
‘’Chẳng hết sợi lông nơi thân Phật.’’ Cho đến một sợi lông và khoảng
cách một sợi lông, đều chẳng quán hết được.
‘’Phương tiện vô ngại của Như Lai.’’ Phật có pháp môn phương tiện,
hổ tương vô ngại để giáo hóa chúng sinh.
‘’Quang này chiếu khắp khó lường được.’’ Thứ quang minh Bát nhã của
Phật, trong trăm ngàn vô lượng kiếp, đều chiếu khắp các cõi Phật
không thể nghĩ bàn.
Kiếp xưa Như Lai tại thế gian
Thừa sự vô biên biển chư Phật
Cho nên tất cả như nước chảy
Ðều đến cúng dường đức Thế Tôn.
‘’Kiếp xưa Như Lai tại thế gian.’’ Thuở xưa khi Phật tại thế gian,
tu trì tất cả Phật pháp, và tất cả pháp môn.
‘’Thừa sự vô biên biển chư Phật.’’ Pháp môn của Phật tu hành, là
cúng dường tất cả chư Phật, lễ kính tất cả chư Phật. Cúng dường chư
Phật nhiều như biển cả, cho nên gọi là biển chư Phật.
‘’Cho nên tất cả như nước chảy.’’ Vì vậy cho nên tất cả Bồ Tát, A La
Hán, chúng sinh giống như trăm sông đều chảy về
biển cả.
‘’Ðều đến cúng dường đức Thế Tôn.’’ Ðức Thế Tôn tức là Phật, mọi
người cùng nhau đến cúng dường Phật, thừa sự nơi Phật, lễ kính Phật.
Như Lai xuất hiện khắp mười phương
Trong mỗi hạt bụi vô lượng cõi
Cảnh giới trong đó đều vô lượng
Ðều trụ vô biên vô tận kiếp.
‘’Như Lai xuất hiện khắp mười phương.’’ Phật luôn luôn xuất hiện
khắp trong mười phương, đến các cõi Phật để thuyết pháp.
‘’Trong mỗi hạt bụi vô lượng cõi.’’ Phật xuất hiện ở trong mỗi cõi
hạt bụi, chuyển đại pháp luân ở trong đó.
‘’Cảnh giới trong đó đều vô lượng.’’ Cảnh giới ở trong đó đều khác
nhau, vô lượng vô biên.
‘’Ðều trụ vô biên vô tận kiếp.’’ Thần thông biến hóa của Phật, đều
là vô biên vô tận, ở trong vô biên vô tận kiếp đã tu hành.
Phật nơi kiếp xưa vì chúng sinh
Tu tập vô biên biển đại bi
Theo các chúng sinh vào sinh tử
Hóa khắp chúng hội khiến thanh tịnh.
‘’Phật nơi kiếp xưa vì chúng sinh.’’ Thuở xưa, khi Phật làm chúng
sinh, thì có tâm từ bi rộng lớn.
‘’Tu tập vô biên biển đại bi.’’ Lúc đó, Phật tu pháp môn tâm đại bi,
thấy chúng sinh chịu khổ thì sinh tâm đại bi, thương xót chúng sinh,
nguyện cứu chúng sinh khổ, khiến cho chúng sinh được khoái lạc. Vì
tích lũy tu hành pháp môn này, lâu dần thành biển cả, cho nên gọi là
biển đại bi.
‘’Theo các chúng sinh vào sinh tử.’’ Vì giáo hóa chúng sinh, mà Phật
nguyện xả mình vì chúng sinh, cho nên thường theo chúng sinh vào
biển sinh tử.
‘’Hóa khắp chúng hội khiến thanh tịnh.’’ Phật giáo hóa khắp tất cả
chúng sinh hữu tình, khiến cho họ đắc được bổn thể thanh tịnh.
Phật trụ chân như pháp giới tạng
Không tướng không hình lìa ô nhiễm
Chúng sinh quán thấy đủ thứ thân
Tất cả khổ nạn đều tiêu diệt.
‘’Phật trụ chân như pháp giới tạng.’’ Phật trụ trong chân như pháp
giới tạng. Chân như tức là chân thật, lìa hư vọng, thường trụ bất
biến. Pháp giới tức là bổn thể của tất cả thân tâm chúng sinh.
‘’Không tướng không hình lìa nhiễm ô.’’ Phật trụ trong chân như pháp
giới tạng, không hình không tướng. Tại sao là không tướng không hình
? Vì lìa khỏi tất cả tướng và tất cả hình, cũng lìa khỏi tất cả pháp
nhiễm ô không thanh tịnh, cho nên đắc được khoái lạc Niết Bàn, tức
cũng là khoái lạc của tự tánh chân như bình đẳng.
‘’Chúng sinh quán thấy đủ thứ thân.’’ Chúng sinh quán thấy đủ thứ
thân Phật, có thanh tịnh pháp thân, có viên mãn báo thân, có thiên
bách ức hóa than, cho đến mười thân .v.v...
‘’Tất cả khổ nạn đều tiêu diệt.’’ Chúng sinh thấy được đủ thứ thân
Phật, thì tất cả khổ nạn đều tiêu diệt chẳng còn sót.
Lại nữa, đại Bồ Tát Hải Nguyệt Quang Ðại Minh, được môn giải
thoát, hiện ra các địa, các Ba la mật của Bồ Tát, giáo hóa chúng
sinh, và phương tiện nghiêm tịnh tất cả cõi Phật.
Tiếp tục nói nghĩa lý kinh văn. Vị đại Bồ Tát Hải Nguyệt Quang Ðại
Minh, đắc được cảnh giới, hiện ra các địa của Bồ Tát, từ sơ địa đến
đẳng giác, lại hay sinh ra các Ba la mật, từ bố thí Ba la mật, đến
Bát nhã ba la mật. Ba la mật là tiếng Phạn, dịch là "đến bờ kia",
dùng những phương pháp này, để giáo hóa chúng sinh, và pháp môn
phương tiện trang nghiêm thanh tịnh tất cả cõi Phật, Ngài vào môn
giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Vân Âm Hải Quang Ly Cấu Tạng, được môn giải thoát,
trong niệm niệm vào khắp pháp giới, đủ thứ nơi khác nhau.
Vị đại Bồ Tát Vân Âm Hải Quang Ly Cấu Tạng, đắc được cảnh giới, ở
trong mỗi niệm vào khắp trong tất cả pháp giới, đủ thứ nơi khác
nhau, và đủ thứ đạo tràng khác nhau, Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Trí Sinh Bảo Kế, được môn giải thoát, nhiều kiếp không
thể nghĩ bàn, ở trước tất cả chúng sinh, hiện ra đại công đức thanh
tịnh.
Vị đại Bồ Tát Trí Sinh Bảo Kế, đắc được cảnh giới, thời gian lâu dài
tâm không thể nghĩ, không thể luận bàn, hiện ra trước tất cả chúng
sinh đại công đức thanh tịnh, chẳng có tham sân si, Ngài vào môn
giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Công Ðức Tự Tại Vương
Tịnh Quang, được môn giải thoát, thấy khắp đủ thứ
trang nghiêm, của tất cả Bồ Tát trong mười phương, lúc ban đầu đến
đạo tràng.
Vị đại Bồ Tát Công Ðức Tự Tại Vương
Tịnh Quang, đắc được cảnh giới, thấy khắp đủ thứ
trang nghiêm, đủ thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn, của tất cả Bồ Tát
trong mười phương ba đời, lúc ban đầu đi đến đạo tràng của Phật,
Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa
Kế, được môn giải thoát, tùy biển căn tánh hiểu
biết của các chúng sinh, mà khắp vì họ hiển bày tất cả Phật pháp.
Vị đại Bồ Tát Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa, đắc được cảnh giới, tùy
thuận căn tánh hiểu biết đạo lý, thấu rõ nghĩa lý của tất cả chúng
sinh, như biển cả, cho nên gọi là biển căn tánh hiểu biết. Nếu hiển
bày chút ít pháp, thì chúng sinh không thể nào mãn túc được, do đó
mới hiển bày khắp tất cả các pháp, Ngài vào môn giải thoát này.
Chữ ‘’các‘’ của câu các chúng sinh nói là nhiều, lại có thể nói là
một. Ý nghĩa nói chữ nhiều, là hết thảy tất cả chúng sinh, căn tánh
của họ và sự hiểu biết của họ, rộng lớn như biển cả. Ý nghĩa nói chữ
một, là chúng sinh này, căn tánh của họ lanh lợi chứ chẳng phải độn,
sự hiểu biết đạo lý của họ rất rộng lớn, có hai ý nghĩa này, cho nên
phải chú ý về phương diện này.
Tại sao chữ ‘’các‘’ này nói là một ? Vì nó tức nhiên là nhiều, cho
nên nói nhiều, cũng có thể nói là một. Ở trong kinh có nói :
‘’Nhiều tức là một,
Một tức là nhiều,
Một nhiều không hai.’’
Vì nhiều là từ một mà ra, một là một bộ phận ở trong nhiều, cho nên
một tức là nhiều, nhiều tức là một. Cảnh giới Kinh Hoa
Nghiêm tức
là như thế, quan trọng là phá nhân chấp (chấp trước về người). Cho
nên, giảng kinh chỉ cần viên dung vô ngại, thì đều có thể giảng, do
đó chữ ‘’các‘’ nói là chữ một.
Ðại Bồ Tát Phổ Trí Vân Nhật Tràng, được môn giải thoát, thành tựu
trí của Như Lai, vĩnh viễn trụ trong vô lượng kiếp.
Vị đại Bồ Tát Phổ Trí Vân Nhật Tràng, đắc được cảnh giới, thành tựu
trí huệ của Phật, vĩnh viễn trụ trong thời gian dài vô lượng kiếp,
để hành Bồ Tát đạo, Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Ðại Tinh Tấn Kim Cang Tề, được môn giải thoát, vào tất
cả vô biên sức pháp ấn.
Vị đại Bồ Tát Ðại Tinh Tấn Kim Cang Tề, đắc được cảnh giới, vào khắp
tất cả sức pháp ấn, tức cũng là vào khắp thật tướng của các pháp.
Pháp pháp viên dung, tâm tâm tương ấn, pháp và tâm viên dung tương
ấn, Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Hương Diễm Quang Tràng, được môn giải thoát, hiển bày
tất cả chư Phật hiện tại, bắt đầu tu hạnh Bồ Tát, cho đến thành tựu
trí huệ.
Vị đại Bồ Tát Hương Diễm Quang Tràng, đắc được cảnh giới, hiển bày
ra tất cả chư Phật hiện tại bắt đầu tu hạnh Bồ Tát, khi hành Bồ Tát
đạo, cho đến khi thành tựu trí huệ của Phật, khoảng giữa thời gian
của quả vị Phật này, phải trải qua thời gian rất dài, do đó có câu :
‘’Ba A tăng kỳ tu phước huệ,
Trăm kiếp vun trồng tướng tốt.’’
Ngài vào môn giải thoát này.
Ðại Bồ Tát Ðại Minh Ðức Thâm Mỹ Âm, được môn giải thoát, an trụ
vào tất cả biển đại nguyện của đức Tỳ Lô Giá Na.
Vị đại Bồ Tát Ðại Minh Ðức Thâm Mỹ Âm, đắc được cảnh giới, an trụ
vào trong biển đại nguyện của Phật Tỳ Lô Giá Na, tức cũng là thực
hành tất cả đại nguyện lực, của Phật Tỳ Lô Giá Na đã phát ra. Phật
Tỳ Lô Giá Na, là pháp thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Lô Xa Na,
là báo thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài nhập vào môn giải thoát
này.
Ðại Bồ Tát Ðại Phước Quang Trí Sinh, được môn giải thoát, hiển
bày cảnh giới thâm sâu của Như Lai khắp pháp giới.
Vị đại Bồ Tát Ðại Phước Quang Trí Sinh, đắc được cảnh giới, hiển bày
thân Phật đầy khắp pháp giới, cảnh giới thâm sâu này, chẳng dễ gì
minh bạch, tức là đại quang minh tạng của Phật, Ngài đắc được môn
giải thoát này.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Hải Nguyệt Quang Ðại Minh, nương oai lực của
đức Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng Bồ Tát biển trang nghiêm,
rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Hải Nguyệt Quang Ðại Minh, nương đại oai thần
lực của Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng Bồ Tát, trang nghiêm
pháp hội đạo tràng nhiều như biển cả, cho nên gọi là biển trang
nghiêm. Ngài quán sát nhân duyên này rồi, lập tức dùng kệ, để nói
lại ý nghĩa trường hàng ở trên.
Các Ba la mật và các địa
Rộng lớn khó nghĩ đều viên mãn
Vô lượng chúng sinh thảy đều phục
Tất cả cõi Phật đều nghiêm tịnh.
‘’Các Ba la mật và các địa.’’ Tu pháp lục độ vạn hạnh, mới đến được
bờ bên kia, mới chứng quả vị Thập địa. Thập địa là địa vị của Bồ
Tát, tiêu diệt một phần vô minh hoặc, thì chứng một phần pháp thân,
tiến lên một địa vị.
‘’Rộng lớn khó nghĩ đều viên mãn.’’ Tuy các Ba la mật và các địa,
đều là cảnh giới rộng lớn khó nghĩ lường, song hiện tại đều viên
mãn.
‘’Vô lượng chúng sinh thảy đều phục.’’ Hết thảy tất cả chúng sinh
đều được điều phục, chúng sinh cang cường đều nhu hòa, chúng sinh có
tâm tham thì không còn tham nữa, chúng sinh có tâm si cũng chẳng còn
si mê nữa.
‘’Tất cả cõi Phật đều nghiêm tịnh.’’ Tất cả các cõi Phật đều trang
nghiêm thanh tịnh.
Như Phật giáo hóa cõi chúng sinh
Cõi nước mười phương đều đầy dẫy
Trong một tâm niệm chuyển pháp luân
Ứng khắp quần sinh khắp hết thảy.
‘’Như Phật giáo hóa cõi chúng sinh.’’ Giống như Phật, vì giáo hóa
chúng sinh, mà vào tất cả cõi chúng sinh.
‘’Cõi nước mười phương đều đầy dẫy.’’ Hết thảy cõi nước mười phương,
đều đầy dẫy pháp của Phật giáo hóa.
‘’Trong một tâm niệm chuyển pháp luân.’’ Ở trong một tâm niệm chuyển
bánh xe pháp.
‘’Ứng khắp quần sinh khắp hết thảy.’’ Cảm ứng khắp hết thảy chúng
sinh, chẳng có một chúng sinh nào, mà không nghe được chánh pháp.
Phật trong vô lượng kiếp rộng lớn
Hiện khắp trước tất cả chúng sinh
Như Phật thuở xưa rộng tu hành
Chỉ bày nơi tu hành thanh tịnh.
‘’Phật trong vô lượng kiếp rộng lớn.’’ Phật ở trong vô lượng vô biên
kiếp rộng lớn về trước, làm gì ?
‘’Hiện khắp trước hết thảy chúng sinh.’’ Thị hiện khắp ở trước tất
cả chúng sinh, giáo hóa chúng sinh tu học Phật pháp như thế nào ?
‘’Như Phật thuở xưa rộng tu hành.’’ Giống như Phật thuở xưa rộng tu
lục độ vạn hạnh tất cả các pháp, trừ khử tập khí mao bệnh.
‘’Chỉ bày nơi tu hành thanh tịnh.’’ Chỉ bày cho tất cả chúng sinh,
nơi Phật tu hành thanh tịnh.
Tôi thấy mười phương chẳng còn sót
Cũng thấy chư Phật hiện thần thông
Ðều ngồi đạo tràng thành chánh giác
Chúng hội nghe pháp cùng vây quanh.
‘’Tôi thấy mười phương chẳng còn sót.’’ Tôi nhìn thấy hết thảy chư
Phật trong mười phương, chẳng có chỗ nào mà chẳng thấy, cho nên nói
là chẳng còn sót.
‘’Cũng thấy chư Phật hiện thần thông.’’ Cũng nhìn thấy chư Phật hiện
thần thông, thiên biến vạn hóa, không thể nghĩ bàn.
‘’Ðều ngồi đạo tràng thành chánh giác.’’ Tất cả chư Phật đang ngồi
tại đạo tràng, mà thành chánh giác.
‘’Chúng hội nghe pháp cùng vây quanh.’’ Tất cả Bồ Tát trong chúng
hội, và Thanh Văn, Duyên Giác, Thiên long bát bộ, nhân, phi nhân
.v.v., nghe pháp rồi, hết thảy đều cùng nhau vây quanh chư Phật,
cúng dường chư Phật.
Pháp thân Phật quang minh rộng lớn
Thường dùng phương tiện hiện thế gian
Khắp tùy chúng sinh tâm ưa thích
Theo căn tính họ mà mưa pháp.
‘’Pháp thân Phật quang minh rộng lớn.’’ Phật có trí huệ Bát nhã, hay
hiện ra quang minh rộng lớn, đây là cảnh giới do pháp thân của Phật
thành tựu.
‘’Thường dùng phương tiện hiện thế gian.’’ Quang minh của Phật rộng
lớn vô biên, pháp thân của Phật không tướng không hình, song Phật
dùng pháp môn phương tiện xuất hiện trong thế gian, từ không hình mà
hiện có hình.
‘’Khắp tùy chúng sinh tâm ưa thích.’’ Tùy thuận khắp hết thảy căn
tánh của chúng sinh, và sự ưa thích trong tâm.
‘’Theo căn tánh họ mà mưa pháp.’’ Pháp của Phật rưới xuống diệu dụng
vô cùng. Chúng sinh giống như hoa cỏ cây cối, chúng sinh đại căn đại
trí, thì đượm nhuần nhiều mưa pháp; chúng sinh tiểu căn tiểu trí,
thì đượm nhuần ít mưa pháp. Căn tánh của chúng sinh phân ra làm hai
thứ, một là lợi căn, tức là người thông minh; hai là độn căn, tức là
người ngu si. Có trí huệ như cây lớn, được nhiều lợi ích; chẳng có
trí huệ như cây nhỏ, được ít lợi ích, tùy theo căn tánh mà đắc được
mưa pháp.
Chân như bình đẳng thân vô tướng
Lìa cấu quang minh tịnh pháp thân
Trí huệ tịch tĩnh vô lượng thân
Ứng khắp mười phương mà thuyết pháp.
‘’Chân như bình đẳng thân vô tướng.’’ Phật là bình đẳng nhất, cho
nên nói là chân như bình đẳng, chân như còn gọi là thật tướng, còn
gọi là nhất chân pháp giới, đây là thể pháp thân của Phật, cũng là
thể không hình không tướng. Tính diệu chân như này, ở bậc Thánh
chẳng tăng, ở địa vị phàm phu cũng chẳng giảm, không thể vì đọa lạc
trong ba đường ác, hoặc là thành Phật mà có sự khác nhau. Ðó là chân
như bình đẳng thân vô tướng.
‘’Lìa cấu quang minh tịnh pháp thân.’’ Lìa cấu tức là lìa khỏi tất
cả phiền não chướng và sở tri chướng. Nếu lìa khỏi tất cả phiền não
vô minh, thì trí huệ quang minh pháp thân thanh tịnh sẽ hiện tiền.
‘’Trí huệ tịch tĩnh vô lượng thân.’’ Trí huệ là đầy đủ trí Bát nhã
và Nhất thiết chủng trí, tịch tĩnh là tịch nhiên bất động, song cảm
ứng mà toại thông. Tịch tĩnh bất động là Viên mãn báo thân của Phật,
cảm mà toại thông là Thiên bách ức hóa thân của Phật, cho nên nói vô
lượng thân.
Chẳng những Phật có hóa thân, mà chúng
ta cũng có hóa thân. Ví như : Thầy giáo đem đạo lý mình đã hiểu biết
dạy học sinh, học sinh minh bạch rồi, theo đó mà thực hành, thì đồng
hóa thân nơi thầy giáo. Học sinh vẫn tiếp tục đi truyền dạy, hết lớp
này đến lớp khác, đó là hóa thân không ngừng, đó chẳng phải là thiên
bách ức hóa thân chăng ?
Giảng kinh thuyết pháp phải khiến cho
Phật pháp linh hoạt, đừng chiếu theo đạo lý chết để giảng, như thế
thì chẳng có ý nghĩa gì. Cho nên, giảng kinh không cần quá sâu,
khiến cho người nghe không hiểu, cũng không cần quá cạn, khiến cho
người nghe sinh nhàm chán, phải bình dị vào sâu ra cạn, mới khiến
cho người nghe sinh hoan hỷ, mà đắc được lợi ích.
‘’Ứng khắp mười phương mà thuyết pháp.’’ Tại sao phải hiện ra thiên
bách ức hóa thân ? Vì phải cảm ứng khắp căn cơ của tất cả chúng sinh
trong mười phương, mà diễn nói diệu pháp.
Các lực của Phật đều thanh tịnh
Trí huệ như không chẳng bờ mé
Ðều vì khai thị không lưu giữ
Khiến khắp chúng sinh cùng ngộ nhập.
‘’Các lực của Phật đều thanh tịnh.’’ Pháp vương tức là Thánh nhân,
đã tu đến địa vị cùng cực, cũng là Phật. Mười lực của Phật tu, đều
thanh tịnh viên mãn.
‘’Trí huệ như không chẳng bờ mé.’’ Trí huệ của Phật giống như hư
không, chẳng có bờ mé. Tuy nhiên chẳng có bờ mé, song vẫn biết có hư
không tồn tại.
‘’Ðều vì khai thị không lưu giữ.’’ Pháp của Phật nói, hoàn toàn vì
khai thị cho tất cả chúng sinh mà nói, hoàn toàn nói ra hết, chẳng
để lại hoặc cất giữ.
‘’Khiến khắp chúng sinh cùng ngộ nhập.’’ Khiến khắp tất cả chúng
sinh, đều khai ngộ và nhập vào đạo vô thượng giác, cùng nhau đắc
được quả vị Phật.
Như Phật thuở xưa đã tu hành
Cho đến thành tựu Nhất thiết trí
Nay phóng quang minh khắp pháp giới
Trong đó hiển hiện đều rõ ràng.
‘’Như Phật thuở xưa đã tu hành.’’ Giống như Phật thuở xưa, tu hành
lục độ vạn hạnh trong nhiều đời nhiều kiếp, mới diệt trừ sạch vô
minh tập khí phiền não, tức là:
‘’Tam kỳ tu phước huệ,
Bách kiếp chủng tướng hảo’’.
‘’Cho đến thành tựu Nhất thiết trí.’’ Phật tu hành thời gian dài như
thế mới thành Phật.
‘’Khiến phóng quang minh khắp pháp giới.’’ Hiện tại Phật phóng đại
quang minh, chiếu khắp mười phương pháp giới.
‘’Trong đó hiển hiện đều rõ ràng.’’ Phóng đại quang minh khắp pháp
giới, đều hiện ra hết tất cả rất rõ ràng, chẳng có gì mà chẳng nhìn
thấy.
Phật dùng nguyện xưa hiện thần thông
Tất cả mười phương đâu chẳng chiếu
Như Phật thuở xưa đã tu hành
Trong lưới quang minh đều diễn nói.
‘’Phật dùng nguyện xưa hiện thần thông.’’ Tại sao Phật phải hiện
thần thông ? Vì bổn lai Phật có nguyện lực, muốn hiện thần thông để
giáo hóa chúng sinh.
‘’Tất cả mười phương đâu chẳng chiếu.’’ Hết thảy tất cả mười phương
pháp giới, chẳng có chỗ nào mà không bị quang minh Bát Nhã của Phật
chiếu đến.
‘’Như Phật thuở xưa đã tu hành.’’ Giống như thuở xưa Phật tu các
hạnh môn.
‘’Trong lưới quang minh đều diễn nói.’’ Ở trong lưới đại quang minh
của Phật, đều diễn nói ra những hạnh môn của Phật tu thuở xưa, khiến
cho chúng sinh y theo pháp mà tu hành.
Mười phương cảnh giới không cùng tận
Vô đẳng vô biên đều khác biệt
Phật vô ngại lực phát đại quang
Tất cả cõi nước đều hiện rõ.
‘’Mười phương cảnh giới không cùng tận.’’ Cảnh giới mười phương cõi
nước chẳng cùng tận, thần thông biến hóa của Phật cũng chẳng cùng
tận.
‘’Vô đẳng vô biên đều khác biệt.’’ Chẳng có ai có thần thông diệu
dụng bằng Ðức Phật, thứ thần thông diệu dụng này chẳng có bờ mé, mà
cảnh giới mười phương có đủ thứ sự khác biệt.
‘’Phật vô ngại lực phát đại quang.’’ Phật có sức vô ngại, phát ra
một thứ đại quang minh.
‘’Tất cả cõi nước đều hiện rõ.’’ Hết thảy mười phương cõi nước, đều
hiển hiện ra ở trong đại quang minh tạng của Phật.
Hiện tại đã giải thích sơ lược xong, môn giải thoát và kệ của hai
mươi mốt vị đại Bồ Tát, dưới đây nói rõ kinh văn tiếp theo.
Bấy giờ, tòa sư tử của đức Như Lai, các hoa báu vi diệu, đài bánh
xe, thềm bực và các cửa nẻo, như thế trong tất cả đồ trang nghiêm,
mỗi mỗi đều hiện ra đại Bồ Tát, nhiều như số hạt bụi cõi Phật.
Khi hai mươi mốt vị đại Bồ Tát nói xong, môn giải thoát của các
Ngài, thì Phật ngồi trên tòa sư tử, lại vì tất cả chúng sinh mà
thuyết pháp. Bên cạnh tòa sư tử, có rất nhiều châu báu ma ni, lại có
hoa sen xinh đẹp vi diệu, lại có pháp luân, bệ đài, thềm bực, và tất
cả cửa nẻo để trang nghiêm đạo tràng, còn có rất nhiều đồ trang
nghiêm vi tế, như lư hương, đèn nến, bình hoa .v.v... Ở trong những
đồ trang nghiêm đó, lại hiện ra trong cõi Phật khác, có các đại Bồ
Tát nhiều như số hạt bụi, tức cũng là pháp thân Ðại sĩ. Hiện tại
dùng mười vị đại Bồ Tát để đại biểu, làm thượng thủ trong chúng đại
Bồ Tát.
Tòa ngồi của Phật gọi là tòa sư tử. Pháp của Phật nói gọi là sư tử
hống. Tại sao gọi là sư tử ? Vì sư tử là chúa của loài thú, một khi
nó hống lên, thì các loài thú đều sợ hãi. Ở trong Chứng Ðạo Ca của
Ngài Vĩnh Gia có nói :
‘’Sư tử hống, vô úy thuyết,
Bách thú văn chi giai não liệt,
Hương tượng bôn ba thất cước oai,
Thiên long tịch thính sinh hân duyệt.’’
Nghĩa là sư tử hống thì chẳng sợ sệt gì, hết thảy loài thú nghe được
tiếng hống, đều bị nhiếp phục, thậm chí đầu não bị tan vỡ, dù cho
voi to lớn mà nghe được tiếng hống, thì cũng mất đi oai phong, trời
rồng tám bộ chúng nghe được âm thanh Phật nói pháp, thì sinh tâm
hoan hỷ. Cho nên, Phật nói pháp giống như sư tử hống, hàng phục bọn
bàng môn tả đạo, buông bỏ pháp tà mà đến học chánh pháp.
Như Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên,
trước kia các Ngài tu học theo ngoại đạo, sau khi nghe Phật thuyết
pháp, mới bỏ tối về sáng, theo Phật tu học chánh pháp, chứng được
quả vị A La
Hán. Ngài Xá
Lợi Phất bậc nhất về trí huệ, Ngài Mục Kiền Liên bậc nhất về thần
thông. Trí huệ và thần thông hai thứ pháp môn này, người học Phật
nên chứng đắc, mong rằng mọi người đều chứng được hai pháp môn này.
Danh hiệu của các Ngài là: Ðại Bồ Tát Hải Huệ Tự Tại Thần Thông
Vương. Ðại Bồ Tát Lôi Âm Phổ Chấn. Ðại Bồ Tát Chúng Bảo Quang Minh
Kế. Ðại Bồ Tát Ðại Trí Nhật Dũng Mãnh Huệ. Ðại Bồ Tát Bất Tư Nghì
Công Ðức Bảo Trí Ấn. Ðại Bồ Tát Bách Mục Liên Hoa
Kế. Ðại Bồ Tát Kim Diễm Viên Mãn Quang. Ðại Bồ Tát
Pháp Giới Phổ Âm. Ðại Bồ Tát Vân Âm Tịnh Nguyệt. Ðại Bồ Tát Thiện
Dũng Mãnh Quang Minh Tràng.
Ở trong mỗi thứ đồ trang nghiêm, hiện ra số Bồ Tát nhiều như số hạt
bụi. Những Bồ Tát đó đều có danh hiệu của mình. Hiện tại sơ lược kể
ra danh hiệu của mười vị đại Bồ Tát, để làm đại biểu.
Vị đại Bồ Tát thứ nhất tên là Hải Huệ Tự
Tại Thần Thông Vương, trí huệ của Ngài đặc biệt rộng lớn vô biên như
biển cả. Ngài cũng rất tự tại, lại có đại thần thông, có thể không
động bổn tòa, mà hóa hiện trong mười phương pháp giới, cho nên được
tên này.
Vị đại Bồ Tát thứ hai tên là Lôi Âm Phổ
Chấn. Âm thanh của Ngài thuyết pháp như tiếng sấm, chấn động khắp
mười phương pháp giới, khiến cho chúng sinh đang ngủ, từ trong mê
mộng tỉnh dậy, biết bỏ đường mê về với giác ngộ, cho nên được tên
này.
Vị đại Bồ Tát thứ ba tên là Chúng Bảo
Quang Minh Kế, Ngài dùng các châu báu chế thành quang minh bảo kế,
rất mỹ lệ trang nghiêm. Vì bảo kế phóng quang minh hay đại biểu
thuyết pháp, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, cho nên được tên
này.
Vị đại Bồ Tát thứ tư tên là Ðại Trí Nhật
Dũng Mãnh Huệ. Trí huệ của Ngài sánh như mặt trời, chiếu khắp mười
phương pháp giới. Ngài có trí huệ dũng mãnh tinh tấn, không tu hành
những khổ hạnh vô ích, nên được tên này.
Vị đại Bồ Tát thứ năm tên là Bất Tư Nghì
Công Ðức Bảo Trí Ấn, Ngài có công đức không thể nghĩ bàn, lại có trí
huệ đặc biệt như bảo trí ấn, cho nên được tên này.
Vị đại Bồ Tát thứ sáu tên là Bách Mục
Liên Hoa
Kế. Ngài có tướng trăm mắt trang nghiêm (Bồ Tát
Quán Thế Âm có ngàn mắt, Bồ Tát Dược Vương có vạn mắt), lại có hoa
sen để trang nghiêm búi tóc, cho nên được tên này.
Vị đại Bồ Tát thứ bảy tên là Kim Diễm
Viên Mãn Quang. Ngài phóng quang minh lửa ngọn màu vàng thật rất
viên mãn, phàm là đỉnh đầu của chư Phật, Bồ Tát và A La
Hán đều
có quang luân (quang minh hình bánh xe). Tóm lại, người chứng đạo
đều có hiện tượng này, nên được tên này.
Vị đại Bồ Tát thứ tám tên là Pháp Giới
Phổ Âm. Âm thanh của Ngài thuyết pháp, vang khắp pháp giới, tức là
‘’tận hư không khắp pháp giới,’’ khắp nơi đều có pháp âm của Ngài,
cho nên được tên này.
Vị đại Bồ Tát thứ chín tên là Vân Âm
Tịnh Nguyệt. Ngài hiện ra mây quang minh, trong mây có diệu âm
thanh, lại hiện ra mặt trăng thanh tịnh, mặt trăng tròn chiếu sáng,
cho nên được tên này.
Vị đại Bồ Tát thứ mười tên là Thiện Dũng
Mãnh Quang Minh Tràng, bất cứ Ngài tu pháp môn gì, cũng khéo về dũng
mãnh tinh tấn, tuyệt đối không thối lùi, do đó đắc được trí huệ
quang minh, quang minh này như tràng báu, cho nên được tên này.
Giống như giáo chủ Hồi Giáo tên là Mục
Hãn Mặc Ðức, ông ta cũng rất dũng mãnh, song phương thức truyền giáo
của ông ta là dùng võ lực, tay trái cầm kinh Khả Lan, tay phải cầm
bảo kiếm. Hồi giáo tin ta thanh chân nhận chủ thì có thể sống, Hồi
giáo chẳng tin ta, chẳng thanh chân nhận chủ, thì một nhát kiếm chém
chết kẻ không tin. Các bạn hãy xem, tôn giáo này thật là đáng sợ,
đây là ác dũng mãnh, chứ chẳng phải thiện dũng mãnh, do đó có câu :
‘’Thuận ta thì sống, nghịch ta thì chết.’’ Ðây là hành vi của A Tu
La, thích đấu tranh.
Như thế, hết thảy các Ngài đều làm thượng thủ, có chúng Bồ Tát
nhiều như số hạt bụi cõi Phật, đồng thời xuất hiện. Các vị Bồ Tát
đó, đều dùng đủ thứ mây cúng dường.
Ở trên cử ra mười vị đại Bồ Tát, để đại biểu làm lãnh tụ trong chúng
Bồ Tát nhiều như hạt bụi. Hiện tại lại có chúng đại Bồ Tát, nhiều
như số hạt bụi cõi Phật, đồng thời xuất hiện, những vị đại Bồ Tát
đó, đều dùng đủ thứ mây pháp để cúng dường Phật.
Số hạt bụi cõi Phật rốt ráo là bao nhiêu ? Có cõi Phật nhiều như số
hạt bụi, trong mỗi hạt bụi ở trong cõi Phật, lại biến thành cõi Phật
nhiều như hạt bụi, tức cũng là nhiều cõi Phật bất khả thuyết bất khả
thuyết.
Nào là: Mây tất cả hoa báu ma ni. Mây tất cả hoa sen diệu hương.
Mây tất cả quang minh báu viên mãn. Mây vô biên cảnh giới hương
diễm. Mây nhật tạng ma ni luân quang minh. Mây tất cả âm nhạc duyệt
ý. Mây vô biên sắc tướng tất cả bảo đăng quang diễm. Mây các nhánh
hoa quả cây báu. Mây vô tận báu thanh tịnh quang minh ma ni vương.
Mây tất cả đồ trang nghiêm ma ni vương. Các thứ mây cúng dường như
thế, nhiều như số hạt bụi thế giới của Phật.
Cảnh giới của Kinh Hoa
Nghiêm là
trùng trùng vô tận, đạo lý cũng viên dung vô ngại. Bất cứ là nói quỷ
cũng tốt, nói thần cũng tốt, nói Bồ Tát cũng tốt, nói sự cũng tốt,
nói lý cũng tốt, đều nói mười, lấy mười làm số thành. ‘’Mười‘’ này
là biểu thị ý nghĩa trùng trùng vô tận. Hiện tại nói ra đủ thứ mây
cúng dường, cũng là biểu thị cảnh giới Hoa
Nghiêm trùng
trùng vô tận, giống như mây, mây ở trong hư không cũng vô tận trùng
trùng, cho nên diệu pháp của Kinh Hoa
Nghiêm, nơi nơi đều là trùng trùng vô tận.
Sự cúng dường của các vị đại Bồ Tát đó, chỉ lấy mười thứ mây trong
số tất cả các vị đại Bồ Tát, để làm đại biểu. Mây thứ nhất là mây
tất cả hoa báu ma ni. Mây thứ hai là mây tất cả hoa sen thơm vi
diệu. Mây thứ ba là mây tất cả báu phát ra quang minh viên mãn. Mây
thứ tư là mây đủ thứ vô biên cảnh giới hương diễm. Mây thứ năm là
mây nhật tạng ma ni luân quang minh. Mây thứ sáu là mây tất cả âm
nhạc duyệt ý. Mây thứ bảy là mây đủ thứ vô biên sắc tướng và tất cả
bảo đăng quang diễm. Mây thứ tám là mây các nhánh hoa quả cây báu.
Mây thứ chín là mây vô tận báu thanh tịnh quang minh ma ni vương.
Mây thứ mười là mây tất cả đồ trang nghiêm ma ni vương. Ở trên nói
đủ thứ mây cúng dường, có nhiều như số hạt bụi thế giới của Phật.
Các vị Bồ Tát đó, mỗi vị đều nổi mây lên cúng dường như thế, mưa
xuống nơi tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng liên tục không
ngừng.
Những vị Bồ Tát đó, mỗi vị đều nổi mây lên cúng dường giống như mưa,
đủ thứ báu, đủ thứ mây, để trang nghiêm đại chúng hải hội trong đạo
tràng, liên tục không ngừng, tức cũng có nghĩa là, mây này qua rồi,
thì mây khác lại đến, hiển hiện không ngừng.
Hiện ra mây như thế rồi, đi nhiễu bên phải đức Thế Tôn vô lượng
trăm ngàn vòng, tùy phương diện cách đức Phật không xa, đều hóa làm
tòa sư tử vô lượng đủ thứ hoa sen báu, rồi ngồi kiết già trên đó.
Các vị Bồ Tát nhiều như số hạt bụi đó, hiện ra đủ thứ mây cúng dường
rồi, lại đi nhiễu bên phải của Ðức Phật vô lượng trăm ngàn vòng, sau
đó tùy theo phương diện chỗ ngồi của Bồ Tát, hoặc bên trái, bên phải
của Phật, hoặc phía trước, phía sau của Phật, đều cách Phật không
xa, ai nấy đều dùng thần thông diệu dụng của mình, mà biến hiện ra
đủ thứ vô lượng hoa sen báu vi diệu, ở trên hoa sen lại có tòa sư
tử. Mỗi vị Bồ Tát đều ngồi kiết già trên tòa mà mình hiện ra. Ngồi
kiết già tức cũng là tư thế ngồi cát tường, còn gọi là ngồi hàng ma
.v.v... Kỳ thật công dụng giống nhau, bất quá tên gọi khác mà thôi.
Các vị Bồ Tát đó, sự tu hành đều thanh tịnh rộng lớn như biển.
Các vị Bồ Tát đó, tu hành pháp môn thanh tịnh rộng lớn nhiều như
biển cả.
Ðược pháp trí huệ quang minh chiếu phổ môn, tùy thuận sự tu hành
vô ngại của chư Phật, vào được tất cả biện tài biển pháp.
Những vị Bồ Tát đó, đắc được chân chánh trí huệ quang minh, cứu độ
khắp tất cả chúng sinh, còn đắc được pháp bình đẳng thị hiện phổ
môn. Các Ngài ở trong đời quá khứ, đều tùy thuận pháp môn tu hành vô
ngại của chư Phật. Các ngài đều có vô lượng tam muội biện tài, thứ
biện tài này sâu như biển, không thể dò lường được, cho nên gọi là
biện tài biển pháp.
Ðược pháp môn giải thoát không thể nghĩ bàn, trụ nơi phổ môn của
Như Lai, đã đắc được tất cả môn Ðà la ni, đều dung thọ được tất cả
biển pháp.
Các Ngài lại đắc được pháp môn giải thoát vi diệu không thể nghĩ
bàn, trụ ở trong pháp môn bình đẳng của Phật, tức cũng là phổ quang
minh địa, đã đắc được tất cả pháp môn Ðà la ni (Ðà na ni dịch là
"tổng trì", tức là tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa. Tức cũng là
tổng thân khẩu ý ba nghiệp thanh tịnh, trì giới định huệ ba học viên
minh). Các Ngài đều dung nạp tiếp thọ tất cả biển pháp của chư Phật.
Khéo trụ vào bậc trí huệ bình đẳng ba đời, đã được hỷ lạc tin sâu
rộng lớn.
Những vị Bồ Tát đó, khéo trụ vào bậc trí huệ bình đẳng ba đời của
tất cả chư Phật, tức cũng là quả vị trí huệ, đã được hỷ lạc tin sâu
rộng lớn, tức cũng là khoái lạc pháp hỷ sung mãn.
Vô biên phước tụ rất thiện thanh tịnh, quán sát khắp hư không
pháp giới, tất cả cõi, hết thảy chư Phật ra đời trong mười phương
pháp giới, các Ngài đều siêng năng đến cúng dường.
Tất cả Bồ Tát đều dùng vô biên phước để trang nghiêm, hoàn toàn rất
thiện thanh tịnh, quán sát được khắp trong hư không pháp giới, mà
chẳng chướng ngại. Hết thảy chư Phật trong các cõi mười phương thế
giới, như có vị Phật mới xuất hiện ra đời, thì các Ngài đều đến chốn
Phật, ân cần cúng dường Phật mới.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Hải Huệ Tự Tại Thần Thông Vương, nương oai
lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng hội trong đạo tràng,
rồi nói bài kệ rằng.
Lúc Phật vì đại chúng nói pháp, cũng là lúc đại chúng đang nghe
pháp. Vị đại Bồ Tát Hải Huệ Tự Tại Thần Thông Vương, tức cũng là đại
Bồ Tát ở trong chúng đại Bồ Tát, Ngài nương sức đại oai thần của
Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng, lập
tức dùng kệ để nói ra đạo lý ở trên. Mười bài kệ dưới đây, chỉ một
vị đại Bồ Tát Hải Huệ Tự Tại Thần Thông Vương nói, khác với những
bài kệ ở trước, ở trước là mỗi vị Bồ Tát, hoặc mỗi vị Thần, mỗi
người nói một bài kệ.
Chư Phật sở ngộ đều đã biết
Như không vô ngại đều chiếu sáng
Soi khắp mười phương vô lượng cõi
Tất cả chúng hội khắp nghiêm khiết.
‘’Chư Phật sở ngộ đều đã biết.’’ Chư Phật chỗ nên ngộ đã ngộ, chỗ
nên giác cũng giác rồi. Hết thảy tất cả các pháp đều thấu rõ.
‘’Như không vô ngại đều chiếu sáng.’’ Phật đắc được trí huệ như hư
không, pháp thân như hư không, chẳng có gì chướng ngại, đều chiếu
sáng tận hư không khắp pháp giới.
‘’Soi khắp mười phương vô lượng cõi.’’ Quang minh của Phật chiếu
soi, khắp mười phương vô lượng cõi nước của chư Phật, tức cũng là
chiếu soi khắp tất cả mọi nơi.
‘’Tất cả chúng hội khắp nghiêm khiết.’’ Hết thảy đạo tràng, hết thảy
pháp hội, đều khắp trang nghiêm thanh khiết.
Công đức Như Lai không thể lường
Mười phương pháp giới đều sung mãn
Ngồi khắp dưới tất cả thụ vương
Các đại
tự tại đều vân tập.
‘’Công đức Như Lai không thể lường.’’ Công đức của Phật rốt ráo có
bao nhiêu ? Chẳng có ai biết được, do đó có câu :
‘’Sát trần tâm niệm khả sổ tri,
Đại hải trung thủy khả ẩm tận,
Hư không khả lượng phong khả khế,
Vô năng tận thuyết Phật công đức.’’
Nghĩa là :
Hạt bụi tâm niệm đếm biết được,
Nước trong biển cả uống hết được,
Hư không lường được, gió buộc được,
Không thể nói hết công đức Phật.
Cho nên, công đức của Phật không thể dò lường được.
‘’Mười phưong pháp giới đều sung mãn.’’ Hết thảy mười phương pháp
giới, đều là nơi sở tại công đức của Phật, cho nên nói mười phương
pháp giới đều sung mãn.
‘’Ngồi khắp dưới tất cả thụ vương.’’ Phật ngồi dưới cội bồ đề, ở
trong mỗi cõi nước làm đạo tràng, ngồi khắp tại đó khai ngộ thành
Phật, diễn nói diệu pháp Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật này.
‘’Các đại Tự tại đều vân tập.’’ Những vị đại Bồ Tát đó, đều là pháp
thân Ðại sĩ, đã đắc được đại tự tại, chẳng còn phiền não. Các Ngài
giống như mây cùng chung tụ tập ở nơi Bồ đề đạo tràng để nghe diệu
pháp.
Phật có sức thần thông như thế
Một niệm hiện ra vô tận tướng
Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé
Tùy môn giải thoát quán thấy được.
‘’Phật có sức thần thông như thế.’’ Phật có sức thần thông biến hóa
không thể nghĩ bàn như thế.
‘’Một niệm hiện ra vô tận tướng.’’ Trong một niệm, hiện ra vô cùng
vô tận các tướng. Bất cứ quá khứ, vị lai, hiện tại, ba đời hết thảy
vô lượng cảnh giới, đều hiện ra ở trong một niệm. Do đó, có câu :
‘’Một niệm hiện ra vô lượng kiếp,
Vô lượng kiếp thu vào một niệm.’’
Cảnh giới này, do sức thần thông của chư Phật biến hóa.
‘’Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé.’’ Nghĩ muốn biết cảnh giới của
Phật, thì phải quán hư không. Vì hư không chẳng có bờ mé, cảnh giới
của Phật cũng chẳng có bờ mé, giống như hư không.
‘’Tùy môn giải thoát quán thấy được.’’ Tùy theo căn tánh của chúng
sinh, mà nói môn giải thoát, khiến cho chúng sinh quán thấy được
cảnh giới thù thắng, do thần thông diệu dụng của Phật thị hiện.
Thuở xưa Như Lai trải biển kiếp
Ở trong các cõi siêng tu hành
Đủ thứ phương tiện độ chúng sinh
Khiến họ thọ hành các Phật pháp.
‘’Thuở xưa Như Lai trải biển kiếp.’’ Thuở xưa Phật trải qua vô lượng
kiếp nhiều như biển, cho nên gọi là biển kiếp.
‘’Ở trong các cõi siêng tu hành.’’ Trước khi Phật thành Phật, thì
cũng giống như chúng ta, cũng ở trong tam giới hai mươi lăm cõi,
luôn luôn tu hành, luôn luôn tinh tấn, ở trong mỗi niệm, đều dũng
mãnh hướng về trước, tinh tấn chẳng giải đãi, cho nên gọi là siêng
tu hành.
‘’Ðủ thứ phương tiện độ chúng sinh.’’ Phật chẳng những siêng tu
hành, mà còn dùng đủ thứ pháp môn phương tiện khéo léo, để giáo hóa
chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng minh bạch liễu sinh thoát tử,
mà vào Niết Bàn.
‘’Khiến họ thọ hành các Phật pháp.’’ Khiến cho tất cả chúng sinh,
đều tiếp thọ được các Phật pháp của Phật nói, phải theo pháp mà tu
hành, mới đắc được lợi ích của Phật pháp.
Tỳ Lô Giá Na đủ tướng tốt
Ngồi tòa sư tử liên hoa tạng
Tất cả chúng hội đều thanh tịnh
An trụ vắng lặng đồng chiêm ngưỡng.
‘’Tỳ Lô Giá Na đủ tướng tốt.’’ Phật có ba thân :
1. Pháp thân : Tức là Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật.
2. Báo thân : Tức là Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật.
3. Ứng hóa thân : Tức là Thiên Bách ŨỨc Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni
Phật, ứng thân đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, để trang
nghiêm thân, do đó có câu : ‘’Tướng hảo trang nghiêm vô đẳng luân.’’
‘’Ngồi tòa sư tử liên hoa tạng.’’ Phật ngồi trên tòa sư tử liên hoa
tạng lớn tốt đẹp, vì tất cả chúng sinh mà thuyết pháp, điều phục
chúng sinh cang cường, khiến cho họ bỏ lìa mê, quay về với giác ngộ,
đi trên con đường bồ đề giác đạo.
‘’Tất cả chúng hội đều thanh tịnh.’’ Ở trong cõi nước mười phương
chư Phật, đại chúng ở trong hết thảy pháp hội, đều một lòng nghe
Phật diễn nói diệu pháp, đồng thời đều thanh tịnh tâm của họ.
‘’An trụ vắng lặng đồng chiêm ngưỡng.’’ Mọi người đều an trụ vắng
lặng chẳng đàm luận ở trong pháp hội, đều chiêm ngưỡng Phật, mắt
chẳng tạm rời, nghe Phật thuyết pháp.
Ma ni bảo tạng phóng quang minh
Tỏa khắp vô biên mây thơm sáng
Vô lượng chuỗi hoa cùng bủa giăng
Như Lai ngồi trên tòa như vậy.
‘’Ma ni bảo tạng phóng quang minh.’’ Tạng châu báu ma ni phóng đại
quang minh, vạn luồng tia sáng, chói lòa cả mắt, vừa trang nghiêm
lại thanh tịnh.
‘’Toả khắp vô biên mây thơm sáng.’’ Ở trong đại quang minh, lại tỏa
ra vô biên mây thơm sáng, đầy khắp mười phương pháp giới.
‘’Vô lượng chuỗi hoa cùng bủa giăng.’’ Lại có vô lượng diệu hoa tốt
đẹp, và chuỗi hoa sinh tươi đều rũ xuống trang nghiêm.
‘’Như Lai ngồi trên tòa như vậy.’’ Phật ngồi trên tòa trang nghiêm
mây thơm sáng, và báu ma ni để nói diệu pháp.
Đủ thứ nghiêm sức cửa cát tường
Luôn phóng đăng quang mây báu sáng
Chiếu soi rộng lớn khắp hết thảy
Mâu Ni ngự lên thêm nghiêm tốt.
‘’Ðủ thứ nghiêm sức cửa cát tường.’’ Lại dùng đủ thứ các châu báu,
để trang nghiêm sửa sang cửa cát tường.
‘’Luôn phóng đăng quang mây báu sáng.’’ Thường phóng ra đăng quang
mây báu sáng. Ðăng quang là ngũ quang thập sắc, đẹp như mây báu
sáng.
‘’Chiếu soi rộng lớn khắp hết thảy.’’ Thứ đăng quang này rộng lớn vô
biên, quang minh phóng ra, chẳng có chỗ nào mà chẳng chiếu đến, khắp
hết thảy.
‘’Mâu Ni ngự lên thêm nghiêm tốt.’’ Ðấng Mâu Ni ngự lên, thì càng
tăng thêm oai nghi trang nghiêm tướng tốt.
Đủ thứ cửa sổ ma ni đẹp
Hoa sen báu tốt rũ nghiêm sức
Thường vang diệu âm nghe êm đẹp
Phật ngồi trên đó hiển rõ nhất.
‘’Ðủ thứ cửa sổ ma ni đẹp.’’ Dùng đủ thứ ma ni châu báu để trang
nghiêm cửa sổ sinh đẹp.
‘’Hoa sen báu tốt rũ nghiêm sức.’’ Thứ cửa sổ này dùng châu báu vi
diệu, và hoa sen để thòng rũ xuống, treo ở trên mà rũ xuống rất
trang nghiêm sinh đẹp.
‘’Thường vang diệu âm nghe êm đẹp.’’ Ðồ nghiêm sức cửa sổ, luôn luôn
vang ra âm thanh diệu pháp không thể nghĩ bàn, khiến cho người nghe
đều sinh tâm vui đẹp.
‘’Phật ngồi trên đó hiển rõ nhất.’’ Phật ngồi trên tòa sư tử rất thù
đặc quang minh hiển rõ. Vì quang minh thân Phật phóng ra, hơn hẳn
tất cả quang minh, cho nên nói hiển rõ nhất.
Tòa ngồi luân báu hình bán nguyệt
Kim cang làm đài màu lửa sáng
Bồ Tát trì kế thường vây quanh
Phật ở trong đó chiếu sáng nhất.
‘’Tòa ngồi luân báu hình bán nguyệt.’’ Tòa của Phật ngồi là luân
báu, hình bán nguyệt.
‘’Kim Cang làm đài màu lửa sáng.’’ Ðài của Phật thuyết pháp, dùng đá
kim cương làm thành, đài màu lửa ngọn, phóng ra quang minh ở hướng
tây.
‘’Bồ Tát trì kế thường vây quanh.’’ Bồ Tát trì kế luôn luôn nhiễu
quanh pháp tòa của Phật, để gần gũi Phật.
‘’Phật ở trong đó chiếu sáng nhất.’’ Phật ở trong tất cả Bồ Tát trì
kế quang minh tối thắng nhất, hiển rõ nhất.
Đủ thứ biến hóa đầy mười phương
Diễn nói nguyện lớn của Như Lai
Tất cả hình bóng hiện trong đó
Phật ngồi yên trên toà như thế.
‘’Ðủ thứ biến hóa đầy mười phương.’’ Lại có đủ thứ mây biến hóa, đầy
khắp trong mười phương pháp giới.
‘’Diễn nói nguyện lớn của Như Lai.’’ Ở trong mây biến hóa đó, có một
thứ âm thanh diễn nói nguyện lớn của Phật đã phát. Nguyện lớn gì ?
Tức là nguyện cứu độ tất cả chúng sinh được giải thoát.
‘’Tất cả hình bóng hiện trong đó.’’ Nguyện lớn của Phật phát ra
trong quá khứ, tất cả hình bóng đều biến hóa hiện ra ở trong mây.
‘’Phật ngồi yên trên tòa như thế.’’ Ðủ thứ mây như thế, bao quanh
bốn phía, Phật ngồi yên ở trên tòa sư tử, mà vì đại chúng thuyết
pháp.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Lôi Âm Phổ Chấn, nương oai lực của đức Phật,
quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng, rồi nói bài
kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Lôi Âm Phổ Chấn, nương đại oai thần lực của
Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng đến tham gia pháp hội ở trong
đạo tràng, liền dùng kệ để nói công đức của Phật.
Xưa Thế Tôn tu hạnh bồ đề
Cúng dường mười phương vô lượng Phật
Ðược oai lực Thiện Thệ gia trì
Phật ngồi trên tòa đâu chẳng thấy.
‘’Xưa Thế Tôn tu hạnh bồ đề.’’ Trong quá khứ vô lượng kiếp về trước,
Phật tu hành tích tụ công đức, nên thành tựu bồ đề hạnh môn.
‘’Cúng dường mười phưong vô lượng Phật.’’ Trước khi Phật chưa thành
Phật, thì chuyên tu hạnh môn cúng dường, mười phương ba đời tất cả
vô lượng chư Phật.
‘’Ðược oai lực Thiện Thệ gia trì.’’ Thiện Thệ tức là Phật, oai lực
của Phật quá khứ gia trì, oai lực của Phật hiện tại gia trì.
Gia trì là gì ? Bổn lai chẳng có thần thông, bây giờ có thần thông,
bổn lai chẳng có trí huệ, bây giờ có trí huệ, đó là chư Phật, Bồ Tát
gia trì cho bạn, khiến cho bạn đắc được thần thông và trí huệ.
‘’Phật ngồi trên tòa đâu chẳng thấy.’’ Phật ngồi trên tòa sư tử, tất
cả Bồ Tát không ai mà chẳng nhìn thấy đức Phật.
Hương diễm ma ni châu như ý
Chạm trổ diệu hoa tòa sư tử
Đủ thứ trang nghiêm đều hiện ra
Hết thảy chúng hội đều thấy rõ.
‘’Hương diễm ma ni châu như ý.’’ Vừa dùng hương vừa dùng châu ma ni
như ý.
‘’Chạm trổ diệu hoa tòa sư tử.’’ Dùng những thứ châu báu này, chạm
trổ trên tòa sư tử, để nghiêm sức tòa báu hoa sen vi diệu.
‘’Ðủ thứ trang nghiêm đều hiện ra.’’ Ở trên tòa sư tử của Phật, còn
có đủ thứ đồ nghiêm sức, đều hiện ra ở trong ánh sáng.
‘’Tất cả chúng hội đều thấy rõ.’’ Hết thảy đại chúng hải hộI, đều
nhìn thấy rất rõ cảnh giới này.
Phật tòa hiện khắp tướng trang nghiêm
Niệm niệm màu sắc đều khác nhau
Tùy các chúng sinh hiểu khác biệt
Đều thấy Phật ngồi ở trên mình.
‘’Phật tòa hiện khắp tướng trang nghiêm.’’ Phật ngồi tại tòa sư tử,
hiện ra khắp pháp tướng trang nghiêm.
‘’Niệm niệm màu sắc đều khác nhau.’’ Ở trong mỗi niệm, hiện ra vô
lượng ánh sáng và vô lượng màu sắc; ở trong vô lượng màu sắc, lại
hiện ra vô lượng tướng đều khác nhau chẳng giống.
‘’Tùy các chúng sinh hiểu khác biệt.’’ Cảnh giới mà Phật hiện ra, là
tùy theo căn tính của chúng sinh mà hiện. Chúng sinh có kiến giải
khác nhau, cho nên hiểu biết đạo lý cũng khác nhau, trí huệ đắc được
cũng khác nhau.
‘’Thảy đều thấy Phật ngồi trên mình.’’ Tuy có đủ thứ cảnh giới khác
nhau, song mỗi chúng sinh đều thấy Phật ngồi ở trên mình, đối diện
với mình. Ví như mặt trời, mỗi người đều cảm thấy mặt trời ở trên
đầu mình.
Cành báu bủa giăng lưới hoa sen
Hoa nở hiện ra các Bồ Tát
Mỗi vị vang tiếng diệu êm tai
Khen ngợi Như Lai ngồi tòa báu.
‘’Cành báu bủa giăng lưới hoa sen.’’ Có cành cây báu bủa giăng trang
nghiêm như lưới hoa sen.
‘’Hoa nở hiện ra các Bồ Tát.’’ Hoa sen ở trên lưới, hoa sen nở ra
thì có vô lượng các Bồ Tát vọt hiện ra.
‘’Mỗi vị vang tiếng diệu êm tai.’’ Mỗi vị Bồ Tát đều diễn ra âm
thanh vi diệu êm tai, giống như tấu nhạc, khiến cho người nghe sinh
tâm hoan hỷ vui mừng.
‘’Khen ngợi Như Lai ngồi tòa báu.’’ Thứ âm thanh vi diệu đó, đều
khen ngợi Phật, Pháp, Tăng, cũng khen ngợi công đức của Phật ngồi
trên tòa sư tử, vì chúng sinh thuyết pháp.
Công đức Phật lượng như hư không
Tất cả trang nghiêm từ đây sinh
Sự nghiêm sức ở trong mỗi địa
Tất cả chúng sinh chẳng biết được
‘’Công đức Phật lượng như hư không.’’ Công đức của Phật có bao nhiêu
? Có vô số lượng, chẳng cách chi tính đếm, chỉ có cách dùng hư không
để đại biểu.
‘’Tất cả trang nghiêm từ đây sinh.’’ Phật có ba mươi hai tướng, tám
mươi vẻ đẹp. Những tướng trang nghiêm đó, đều do công đức thành tựu
từ vô lượng kiếp về trước.
‘’Sự nghiêm sức ở trong mỗi địa.’’ Phật từ sơ địa Bồ Tát, cho đến
thập địa Bồ Tát, làm tất cả công đức là việc nghiêm sức.
‘’Tất cả chúng sinh chẳng biết được.’’ Việc này hết thảy chúng sinh
không thể biết được. Vì công đức của Phật vô lượng vô biên, chẳng
phải trí của chúng sinh thấy biết được.
Kim cang làm đất chẳng hoại được
Rộng lớn thanh tịnh rất bằng phẳng
Ma ni làm lưới giăng hư không
Dưới cội bồ đề đều cùng khắp.
‘’Kim Cang làm đất chẳng thể hoại.’’ Bồ đề đạo tràng dùng đá kim
cang làm đất, vĩnh viễn không thể hủy hoại được.
‘’Rộng lớn thanh tịnh rất bằng phẳng’’. Thứ đất kim cang này, vừa
rộng lớn, vừa thanh tịnh, vừa bằng phẳng.
‘’Ma ni làm võng giăng hư không’’. Lại dùng châu ma ni chế thành
võng, giăng bủa trong hư không, phóng ra ánh sáng rực rỡ.
‘’Dưới cội bồ đề đều cùng khắp’’. Phật ngồi dưới cội bồ đề, đều cùng
khắp pháp giới.
Mặt đất vô biên sắc tướng đẹp
Vàng thật tán nhỏ rải lên trên
Khắp nơi rải hoa và châu báu
Đều làm sáng đẹp tòa Như Lai.
‘’Mặt đất vô biên sắc tướng đẹp.’’ Ðất bồ đề đạo tràng, có vô biên
sắc tướng đẹp đẽ khác nhau.
‘’Vàng thật tán nhỏ rải lên trên.’’ Mặt đất này lại dùng bột mịn
bằng vàng thật rải lên trên, ánh sáng vàng thật chiếu sáng rất trang
nghiêm.
Trước kia, tôi gặp một người, lúc anh ta bị bệnh, ở trong cơn mê đi
đến thế giới Cực Lạc, song chỉ đến bên ngoài chứ chẳng vào bên
trong, nhìn thấy cõi thế giới Cực Lạc, đều là vàng thật làm đất, cây
báu thẳng hàng. Anh ta nhìn thấy thế giới Cực Lạc, thì càng tăng
thêm niềm tin đối với pháp môn niệm Phật. Sau khi khỏi bệnh, càng
kiền thành tu pháp môn niệm Phật, đi đứng nằm ngồi đều chẳng lìa
chuỗi, miệng niệm Phật tay lần chuỗi, chẳng khi nào ngừng nghỉ. Mấy
năm sau, anh ta biết giờ giấc vãng sinh, sau khi tắm rửa xong, niệm
Phật chẳng bệnh mà vãng sinh về thế giới Cực Lạc. Lúc đó, có đủ thứ
cảnh giới không thể nghĩ bàn xuất hiện, ai thấy cũng đều cho rằng
chưa từng có.
‘’Khắp nơi rải hoa và châu báu.’’ Ở trên mặt đất, khắp nơi đều rải
hoa quý tốt đẹp và các thứ châu báu.
‘’Ðều làm sáng đẹp tòa Như Lai.’’ Tại sao phải trang nghiêm như thế
? Vì Phật muốn nói bộ Kinh đầu tiên: Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật, cho nên đại chúng đều dùng ánh sáng chói đẹp, để
nghiêm sức pháp tòa của Phật.
Địa thần hoan hỷ rất hớn hở
Sát na thị hiện vô cùng tận
Khắp nổi tất cả mây trang nghiêm
Luôn đứng
trước Phật để chiêm ngưỡng.
‘’Ðịa thần hoan hỷ rất hớn hở.’’ Mỗi nơi đều có địa thần, địa thần
cũng hoan hỷ gặp được Phật, các Ngài gặp được Phật thì tay múa chân
nhảy, biểu thị sự vui mừng đến tột độ.
‘’Sát na thị hiện vô cùng tận.’’ Trong khoảng thời gian rất ngắn,
Phật thị hiện quang minh chẳng có lúc nào cùng tận.
‘’Khắp nổi tất cả mây trang nghiêm.’’ Khắp hết thảy nổi lên tất cả
mây trang nghiêm tốt đẹp.
‘’Luôn đứng trước Phật để chiêm ngưỡng.’’ Ðịa thần luôn luôn đứng ở
trước Phật, để chiêm ngưỡng Phật, mắt nhìn Phật chẳng tạm rời.
Đèn báu rộng lớn rất sáng chói
Phóng quang thơm sáng chẳng ngừng ngớt
Tùy thời thị hiện đều khác nhau
Địa thần dùng đây để cúng dường.
‘’Ðèn báu rộng lớn rất sáng chói.’’ Có đèn báu ma ni rất rộng lớn,
lửa ngọn đèn báu này rất sáng chói.
‘’Phóng quang thơm sáng chẳng ngừng ngớt.’’ Ánh sáng của đèn báu
phóng ra, chẳng những sáng chói mà còn có hương thơm, chẳng có khi
nào tắt.
‘’Tùy thời thị hiện đều khác nhau.’’ Tùy theo thời gian thị hiện ra
cảnh giới đều khác nhau.
‘’Ðịa thần dùng đây để cúng dường.’’ Ðịa thần dùng cảnh giới trang
nghiêm này, để cúng dường Phật.
Trong tất cả mười phương cõi nước
Nơi đó hết thảy sự trang nghiêm
Khiến đạo tràng này đều hiện ra
Nhờ Phật oai thần nên được vậy.
‘’Trong tất cả mười phương cõi nước.’’ Trong hết thảy tất cả mười
phương cõi nước của chư Phật.
‘’Nơi đó hết thảy sự trang gnhiêm.’’ Ở tại chỗ của Phật, có hết thảy
tất cả sự trang nghiêm.
‘’Khiến đạo tràng này đều hiện ra.’’ Bây giờ hết thảy sự trang
nghiêm tại đạo tràng này đều hiện ra.
‘’Nhờ Phật oai thần nên được vậy.’’ Sao lại có cảnh giới này ? Ðây
là do đại oai đức thần thông lực của Phật, cho nên mới được như thế.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Chúng Bảo Quang Minh Kế, nương oai lực của
đức Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng,
rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Chúng Bảo Quang Minh Kế, nương đại oai thần
lực của Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo
tràng, rồi nói ra mười bài kệ này.
Thuở xưa khi Thế Tôn tu hành
Thấy các cõi Phật đều viên mãn
Sở thấy như vậy vô cùng tận
Trong đạo tràng này đều hiện ra.
‘’Thuở xưa khi Thế Tôn tu hành.’’ Thuở xưa khi Phật tu hành tại nhân
địa.
‘’Thấy các cõi Phật đều viên mãn.’’ Thấy tất cả cõi nước chư Phật,
đều trang nghiêm viên mãn.
‘’Sở thấy như vậy vô cùng tận.’’ Phật trải qua vô lượng kiếp tu
hành, sở thấy đều trang nghiêm viên mãn chẳng cùng tận.
‘’Trong đạo tràng này đều hiện ra.’’ Hiện tại Ðức Phật thành Phật ở
trong đạo tràng, đều hiện ra tất cả cảnh giới trong quá khứ.
Thần thông của Phật rất rộng lớn
Phóng quang mưa khắp châu ma ni
Tạng báu như thế rải đạo tràng
Khắp cả mặt đất đều nghiêm lệ.
‘’Thần thông của Phật rất rộng lớn.’’ Phật có sức thần thông
biến hóa rộng lớn vô biên.
‘’Phóng quang mưa khắp châu ma ni.’’ Phật phóng quang mưa xuống khắp
châu báu ma ni.
‘’Tạng báu như thế rải đạo tràng.’’ Châu báu nhiều như vậy, rải trên
mặt đất tại đạo tràng.
‘’Khắp cả mặt đất đều nghiêm lệ.’’ Chung quanh đạo tràng đều trang
nghiêm mỹ lệ.
Phước đức thần thông của Như Lai
Diệu báu ma ni khắp trang nghiêm
Mặt đất và cả cây bồ đề
Lần lượt phát quang âm diễn nói.
‘’Phước đức thần thông của Như Lai.’’ Phước đức và sức thần thông
của Phật không thể nghĩ bàn.
‘’Diệu báu ma ni khắp trang nghiêm.’’ Dùng châu báu ma ni để trang
nghiêm khắp mặt đất.
‘’Mặt đất và cả cây bồ đề.’’ Mặt đất và cây bồ đề thụ vương đều có
tác dụng.
‘’Lần lượt phát quang âm diễn nói.’’ Làn lượt hổ tương phát ra ánh
sáng và âm thanh, ở trong quang minh diễn nói diệu pháp, đây là vô
tình thuyết pháp.
Đèn báu vô lượng từ không mưa
Bảo vương xen lẫn để nghiêm sức
Thảy đều nói pháp âm vi diệu
Như vậy Địa Thần hiển hiện ra.
‘’Ðèn báu vô lượng từ không mưa.’’ Có vô lượng vô số đèn báu ma ni,
từ không trung mưa xuống.
‘’Bảo vương xen lẫn để nghiêm sức.’’ Ðèn báu và ma ni bảo vương, hổ
tương xen lẫn để trang nghiêm đạo tràng.
‘’Thảy đều nói pháp âm vi diệu.’’ Chẳng những mặt đất và cây bồ đề
diễn nói pháp được, mà đèn báu và ma ni bảo vương cũng diễn nói pháp
âm vi diệu.
‘’Như vậy Địa Thần hiển hiện ra.’’ Như cảnh giới này, là vị Ðịa Thần
hộ trì đạo tràng hiện ra cảnh giới trang nghiêm.
Đất báu hiện khắp mây sáng đẹp
Đuốc báu chiếu sáng như điện chớp
Lưới báu bủa giăng trùm trên không
Cành báu xen tạp nghiêm sức đẹp.
‘’Ðất báu hiện khắp mây sáng đẹp.’’ Trên đất báu lại hiện ra khắp
loại mây sáng đẹp.
‘’Ðuốc báu soi sáng như điện chớp.’’ Ánh sáng của ngọn đuốc báu rất
sáng lạng, phát ra ánh sáng giống như ánh sáng của điện chớp.
‘’Lưới báu bủa giăng trùm trên không.’’ Lưới báu giăng che rất rộng
lớn, che trùm ở trên đuốc báu.
‘’Cành báu xen tạp nghiêm sức đẹp.’’ Cành báu của cây bồ đề xen tạp
nơi đạo tràng trang nghiêm rất đẹp đẽ.
Các Ngài hãy quán khắp nơi này
Đủ thứ châu báu trang nghiêm đẹp
Hiển bày biển nghiệp của chúng sinh
Khiến họ biết rõ chân pháp tánh.
‘’Các Ngài hãy quán khắp nơi này.’’ Các vị hãy quán sát khắp nơi
này.
‘’Ðủ thứ châu báu trang nghiêm đẹp.’’ Ðều dùng đủ thứ châu báu vi
diệu để trang nghiêm.
‘’Hiển bày biển nghiệp của chúng sinh.’’ Ở trên mặt đất này, hiển
bày ra hết thảy các nghiệp nhân, của tất cả chúng sinh như là biển
cả.
‘’Khiến họ biết rõ chân pháp tánh.’’ Tại sao phải hiện thứ cảnh giới
này ? Vì muốn khiến cho tất cả chúng sinh, minh bạch chân pháp tánh,
tức cũng là tự tánh.
Khắp hết mười phương tất cả Phật
Hết thảy cây bồ đề viên mãn
Thảy đều hiện ra trong đạo tràng
Diễn nói pháp tịnh của Như Lai.
‘’Khắp hết mười phương tất cả Phật.’’ Hết thảy tất cả chư Phật trong
mười phương.
‘’Hết thảy cây bồ đề viên mãn.’’ Hết thảy cây bồ đề viên mãn trong
mười phương.
‘’Thảy đều hiện ra trong đạo tràng.’’ Hết thảy tất cả chư Phật, và
tất cả cây bồ đề, đều hiện ra ở trong đạo tràng.
‘’Diễn nói pháp tịnh của Như Lai.’’ Ðều diễn nói diệu pháp thanh
tịnh của Phật.
Tùy tâm ưa thích của chúng sinh
Mặt đất vang khắp diệu âm thanh
Như Phật trên tòa diễn nói pháp
Mỗi mỗi pháp môn đều nói đủ.
‘’Tùy tâm ưa thích của chúng sinh.’’ Tùy theo sự ưa thích ở trong
tâm của chúng sinh.
‘’Mặt đất vang khắp diệu âm thanh.’’ Khắp trên mặt đất đều vang ra
âm thanh vi diệu, khiến cho tâm chúng sinh hoan hỷ.
‘’Như Phật trên tòa diễn nói pháp.’’ Giống như Phật ngồi trên tòa sư
tử diễn nói pháp.
‘’Mỗi mỗi pháp môn đều nói đủ.’’ Hết thảy tám vạn bốn ngàn pháp môn,
đều hiện ra nói pháp diệu âm, khiến cho tất cả chúng sinh, nghe pháp
khai ngộ mà sớm thành Phật.
Mặt đất luôn phóng quang diệu hương
Trong quang diễn khắp âm thanh tịnh
Nếu có chúng sinh tiếp thọ được
Đều khiến được nghe diệt phiền não.
‘’Mặt đất luôn phóng quang diệu hương.’’ Phật nói pháp trong đạo
tràng, thường phóng ra hương quang, khiến cho chúng sinh nghe, hoặc
thấy, đều phát tâm bồ đề.
‘’Trong quang diễn khắp âm thanh tịnh.’’ Ở trong diệu hương quang
khắp diễn ra diệu âm thanh tịnh, nói diệu pháp thanh tịnh.
‘’Nếu có chúng sinh tiếp thọ được.’’ Nếu như có chúng sinh cơ duyên
thành thục, và có duyên với Phật pháp mới tiếp thọ được.
‘’Ðều khiến được nghe diệt phiền não.’’ Hoàn toàn khiến cho loại
chúng sinh này, đều được lợi ích của sự nghe pháp, làm cho tiêu diệt
phiền não. Khi Phật nói pháp, tuy chúng sinh ở trong pháp hội, song
có duyên mới có thể nghe được Phật pháp, kẻ vô duyên chẳng nghe được
Phật pháp. Chúng sinh nghe được, đều sinh tâm thanh lương chẳng có
phiền não.
Mỗi mỗi trang nghiêm đều viên mãn
Cho dù ức kiếp nói không hết
Thần lực Như Lai khắp hết thảy
Cho nên mặt đất đều nghiêm tịnh.
‘’Mỗi mỗi trang nghiêm đều viên mãn.’’ Hết thảy mặt đất trang nghiêm
đều viên mãn thanh tịnh.
‘’Cho dù ức kiếp nói không hết.’’ Cảnh giới trang nghiêm viên mãn
này, dù ức kiếp nói cũng chẳng hết được.
‘’Thần lực Như Lai khắp hết thảy.’’ Song, thần thông diệu dụng của
Phật, chẳng có nơi nào mà chẳng khắp cùng, chẳng hiển hiện.
‘’Cho nên mặt đất đều nghiêm tịnh.’’ Vì vậy cho nên tất cả mặt đất,
đều biến thành trang nghiêm thanh tịnh.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Đại Trí Nhật Dũng Mãnh Huệ, nương oai lực của
đức Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng,
rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Ðại Trí Nhật Dũng Mãnh Huệ, nương đại oai thần
lực của Phật, quán khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng,
rồi dùng kệ nói công đức của Phật.
Thế Tôn nghiêm nhìn nơi pháp đường
Chiếu sáng rực rỡ trong cung điện
Tùy tâm ưa thích của chúng sinh
Thân Phật hiện khắp mười phương cõi.
‘’Thế Tôn nghiêm nhìn nơi pháp đường.’’ Mắt của Phật sáng suốt
tỏ rõ, yên lặng bất động ở trên pháp đường.
‘’Chiếu sáng rực rỡ trong cung điện.’’ Chiếu sáng rực rỡ trong cung
điện của chư Phật.
‘’Tùy tâm ưa thích của chúng sinh.’’ Tùy thuận trong tâm hoan hỷ ưa
thích của tất cả chúng sinh.
‘’Thân Phật hiện khắp mười phương cõi.’’ Phật hay làm cho chúng sinh
mãn nguyện, nên mới hiện thân khắp trong mười phương pháp giới,
khiến cho tất cả chúng sinh đều thấy được Phật, nghe được pháp.
Cung điện Như Lai không nghĩ bàn
Tạng báu ma ni làm nghiêm sức
Các đồ trang nghiêm đều sáng chói
Phật ngồi trong đó đặc thù nhất.
‘’Cung điện Như Lai chẳng nghĩ bàn.’’ Cung điện của Phật không thể
nghĩ bàn, vừa trang nghiêm vừa đẹp đẽ.
‘’Tạng báu ma ni dùng nghiêm sức.’’ Cung điện của Phật ở, đều dùng
châu ma ni để trang nghiêm tu sức.
‘’Các đồ trang nghiêm đều sáng chói.’’ Hết thảy tất cả đồ trang
nghiêm, đều phát ra đủ thứ ánh sáng nhiều màu chiếu soi rực rỡ.
‘’Phật ngồi trong đó đặc thù nhất.’’ Phật ngồi ở trong cung điện
hiển rõ đặc biệt, chiếu soi mười phương pháp giới.
Ma ni làm cột đủ màu sắc
Chuông bằng vàng thật như mây bủa
Thềm báu bốn phía bày thẳng hàng
Cửa nẻo theo hướng đều mở rộng.
‘’Ma ni làm cột đủ màu sắc.’’ Cột trụ ở trong cung điện, đều làm
bằng đủ thứ châu ma ni nhiều màu sắc.
‘’Chuông bằng vàng thật bủa như mây.’’ Dùng vàng thật để đúc chuông
và linh, treo chung quanh mái cung điện, giống như mây giăng bủa.
‘’Thềm báu bốn phía bày thẳng hàng.’’ Bốn phía thềm bực của cung
điện, mỗi cấp đều dùng các châu báu làm thành, rất ngay hàng thẳng
lối.
‘’Cửa nẻo theo hướng đều mở rộng.’’ Bất cứ cửa lớn hoặc cửa nhỏ, đều
tùy phương hướng mà mở rộng.
Diệu hoa màn thêu trang nghiêm đẹp
Cây cành lá báu cùng nghiêm sức
Chuỗi ngọc ma ni rũ bốn phía
Như Lai yên lặng ngồi trong đó.
‘’Diệu hoa màn thêu trang nghiêm đẹp.’’ Dùng diệu hoa sen và tơ lụa,
để làm màn báu trang nghiêm.
‘’Cây cành lá báu cùng nghiêm sức.’’ Cành lá cây báu sinh trưởng rất
trang nghiêm mỹ lệ, dùng để nghiêm sức.
‘’Chuỗi ngọc ma ni rũ bốn phía.’’ Ở trong cung điện, còn dùng châu
báu ma ni làm chuỗi treo ở bốn phía.
‘’Như Lai yên lặng ngồi trong đó.’’ Phật ngồi trên tòa sư tử ở trong
cung điện, rất yên tĩnh và trang nghiêm.
Ma ni làm lưới, tràng thơm đẹp
Đèn sáng chói rực như mây bủa
Che trên đủ thứ đồ trang nghiêm
Siêu thế
Chánh Tri ngồi trên tòa.
‘’Ma ni làm lưới, tràng thơm đẹp.’’ Dùng châu ma ni làm thành lưới,
và tràng báu thơm tho đẹp đẽ, đều treo ở trong cung điện.
‘’Ðèn sáng rực rỡ như mây bủa.’’ Lưới ma ni phóng ra ánh sáng rực
rỡ, giống như ánh sáng của đèn, lại giống như mây trắng, giăng bủa
trùng trùng vô tận ở trong không trung.
‘’Che trên đủ thứ đồ trang nghiêm.’’ Lưới báu đó, che ở trên đủ thứ
đồ trang nghiêm.
‘’Siêu thế Chánh Tri ngồi trên tòa.’’ Chánh Biến Tri vượt ra thế
gian, tức cũng là Phật, ngồi trên pháp tòa ở trong cung điện.
Khắp mười phương hiện mây biến hóa
Mây đó diễn nói khắp thế gian
Tất cả chúng sinh đều điều phục
Như thế đều từ cung Phật hiện.
‘’Khắp mười phương hiện mây biến hóa.’’ Hết thảy trong mười phương,
khắp hiện ra mây biến hóa.
‘’Mây đó diễn nói khắp thế gian.’’ Trong mây biến hóa lại xuất hiện
đủ thứ pháp âm, diễn nói chân lý thật tướng của tất cả các pháp, âm
thanh đó khắp tất cả thế gian.
‘’Tất cả chúng sinh đều điều phục.’’ Mục đích diễn nói diệu pháp, là
để điều phục tất cả chúng sinh ngoan cố cang cường.
‘’Như thế đều từ cung Phật hiện.’’ Như diệu pháp âm như thế, đều từ
cung điện của Phật biến hóa hiện ra.
Ma ni làm cây đơm hoa đẹp
Hết thảy mười phương không thể sánh
Ba đời cõi nước việc trang nghiêm
Đâu chẳng
hiện hình ở trong đó.
‘’Ma ni làm cây đơm hoa đẹp.’’ Dùng châu ma ni trang nghiêm cây,
sinh ra một thứ hoa thơm tốt đẹp.
‘’Hết thảy mười phương không thể sánh.’’ Hết thảy cây ở trong mười
phương pháp giới, đều không thể sánh với bồ đề thụ vương.
‘’Ba đời cõi nước việc trang nghiêm.’’ Ðời quá khứ, đời hiện tại,
đời vị lai, hết thảy tất cả việc trang nghiêm.
‘’Ðâu chẳng hiện hình ở trong đó.’’ Ba đời cõi nước việc trang
nghiêm như thế nào, đều hiện ra ở trong diệu quang liên hoa.
Nơi nơi đều có châu ma ni
Ánh sáng rực rỡ vô lượng thứ
Cửa nẻo theo hướng xen nhau mở
Cột nóc trang nghiêm rất đặc thù.
‘’Nơi nơi đều có châu ma ni.’’ Cung điện của Phật, nơi nơi đều dùng
báu ma ni để trang nghiêm.
‘’Ánh sáng rực rỡ vô lượng thứ.’’ Châu ma ni phóng ra ánh sáng như
lửa ngọn, có đủ thứ ánh sáng và màu sắc đều khác nhau, rất là rực
rỡ.
‘’Cửa nẻo tùy hướng xen nhau mở.’’ Hết thảy cửa lớn cửa sổ, tùy theo
phương hướng mà mở, khoảng cách rất là tương xứng.
‘’Cột nóc trang nghiêm rất đặc thù.’’ Nóc và cột trụ trong cung điện
và tường vách, đều dùng châu ma ni để trang nghiêm rất thù thắng mỹ
lệ.
Cung điện Như Lai không nghĩ bàn
Quang minh thanh tịnh đủ các tướng
Tất cả cung điện hiện trong đó
Mỗi mỗi đều có tòa Như Lai.
‘’Cung điện Như Lai không nghĩ bàn.’’ Cung điện của Phật ở không thể
nghĩ bàn.
‘’Quang minh thanh tịnh đủ các tướng.’’ Trong cung điện này, vừa
quang minh vừa thanh tịnh, đầy đủ các thứ tướng.
‘’Tất cả cung điện hiện trong đó.’’ Cung điện của mười phương chư
Phật, đều hiện ra ở trong cung điện này. Cung điện này lại hiện ra ở
trong cung điện của mười phương chư Phật. Ðây là quang tướng và sắc
tướng hổ tương chiếu với nhau, hiển hiện không ngừng.
‘’Mỗi mỗi đều có tòa Như Lai.’’ Ở trong mỗi cung điện đều có Phật
ngồi ở đó, chuyển bánh xe pháp, tuyên dương
Phật pháp.
Cung điện Như Lai chẳng bờ mé
Đức Phật tự nhiên ngự trong đó
Mười phương tất cả các chúng hội
Đâu chẳng vân tập hướng về Phật.
‘’Cung điện Như Lai chẳng bờ mé.’’ Số lượng cung điện của Phật chẳng
có bờ mé, hà huống là tất cả cung điện khác, càng vô lượng vô biên.
‘’Ðức Phật tự nhiên ngự trong đó.’’ Hết thảy cung điện, Phật rất tự
nhiên ngự ở trong đó.
‘’Mười phương tất cả các chúng hội.’’ Ở trong mười phương pháp giới,
hết thảy chúng hội của chư Phật.
‘’Ðâu chẳng vân tập hướng về Phật.’’ Ðại chúng ở trong chúng hội,
đâu chẳng vân tập tụ hội hướng về cung điện của Phật.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Bất Tư Nghì Công Đức Bảo Trí Ấn, nương oai
lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo
tràng, rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Bất Tư Nghì Công Ðức Bảo Trí Ấn, nương đại oai
đức thần thông lực của Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội
trong đạo tràng, bèn nói ra mười bài kệ sau đây.
Xưa Phật tu hành biển phước huệ
Tất cả cõi nước số hạt bụi
Thần thông nguyện lực mà sinh ra
Đạo tràng nghiêm tịnh chẳng cấu bẩn.
‘’Xưa Phật tu hành biển phước huệ.’’ Thuở xưa, khi Phật tu hành tại
nhân địa, thì vừa tu phước vừa tu huệ, do đó có câu :
‘’Tam kỳ tu phước huệ,
Bách kiếp chủng tướng hảo.’’
Phước huệ tu hành nhiều như biển cả, cho nên gọi là biển phước huệ.
‘’Tất cả cõi nước số hạt bụi.’’ Tu bao nhiêu phước huệ ? Nhiều giống
như hạt bụi ở trong hết thảy tất cả các cõi nước.
‘’Thần thông nguyện lực mà sinh ra.’’ Ðó đều là thần thông diệu dụng
của Phật biến hóa ra, và nguyện lực đã phát ra trong quá khứ sinh
ra.
‘’Ðạo tràng nghiêm tịnh chẳng cấu bẩn.’’ Hết thảy đạo tràng rất
trang nghiêm thanh tịnh, chẳng có cấu bẩn.
Châu vương như ý làm gốc cây
Kim cang ma ni dùng làm thân
Lưới báu giăng che trên thân cây
Hương thơm ngào ngạt tỏa khắp nơi.
‘’Châu vương như ý làm gốc cây.’’ Dùng châu vương như ý làm gốc cây
bồ đề.
‘’Kim Cang ma ni dùng làm thân.’’ Dùng kim cang ma ni báu, để làm
thân cây bồ đề.
‘’Lưới báu giăng che trên thân cây.’’ Dùng châu ma ni làm thành
lưới, giăng che ở trên cây bồ đề.
‘’Hương thơm ngào ngạt tỏa khắp nơi.’’ Lại có diệu hương và dị
hương, tỏa ra mùi thơm ngào ngạt khắp cây bồ đề.
Nhánh cây nghiêm sức các thứ báu
Thân bằng ma ni tranh vươn cao
Cành lá
dày đặc như mây giăng
Phật ngồi dưới Bồ đề đạo tràng.
‘’Nhánh cây nghiêm sức các thứ báu.’’ Nhánh cây bồ đề rất trang
nghiêm, dùng các thứ báu để nghiêm sức.
‘’Thân bằng ma ni tranh vươn cao.’’ Dùng châu ma ni làm thân cây,
thân cây tranh nhau vươn lên cao vút.
‘’Cành lá dày đặc như mây giăng.’’ Cành lá hổ tương giăng che dày
đặc, giống như mây trùng trùng vô tận.
‘’Phật ngồi dưới Bồ đề đạo tràng.’’ Cây bồ đề trang nghiêm như thế,
Phật ngồi nơi Ðạo tràng dưới cội bồ đề, chuyển pháp luân giáo hóa
chúng sinh.
Đạo tràng rộng lớn không nghĩ bàn
Chu vi cây đó đều che khắp
Lá dày bông nhiều chiếu sáng nhau
Trong hoa đều kết quả ma ni.
‘’Ðạo tràng rộng lớn không nghĩ bàn.’’ Bồ đề đạo tràng rộng lớn
không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời luận bàn.
‘’Chu vi cây đó đều che khắp.’’ Bồ đề thụ vương cành lá rất sum xê
dị thường, chu vi rất rộng lớn mà che khắp hết thảy.
‘’Lá dày bông nhiều chiếu sáng nhau.’’ Cành lá dày đặc, có rất nhiều
hoa, hổ tương chiếu với nhau.
‘’Trong hoa đều kết quả ma ni.’’ Ở trong mỗi nụ hoa, đều kết quả
châu ma ni.
Tất cả nhánh cây phát ánh sáng
Ánh sáng chiếu khắp trong đạo tràng
Thanh tịnh rực rỡ sáng vô tận
Do nguyện lực Phật hiển hiện ra.
‘’Tất cả nhánh cây phát ánh sáng.’’ Hết thảy các nhánh cây, lại phát
ra một thứ ánh sáng vi diệu.
‘’Ánh sáng chiếu khắp trong đạo tràng.’’ Ánh sáng đó chiếu sáng khắp
ở trong đạo tràng.
‘’Thanh tịnh rực rỡ sáng vô tận.’’ Ánh sáng đó thanh tịnh rực rỡ
chẳng có cùng tận.
‘’Do nguyện lực Phật hiển hiện ra.’’ Tại sao hiện ra ánh sáng này ?
Vì do nguyện lực của Phật phát ra, khi tu ở tại nhân địa, cho nên Bồ
đề thụ vương mới hiện ra cảnh giới này.
Ma ni bảo tạng dùng làm hoa
Bóng sáng
chói giăng như mây gấm
Quanh cây khắp nơi đều thơm tho
Ở trong đạo tràng khắp nghiêm sức.
‘’Ma ni bảo tạng dùng làm hoa.’’ Dùng châu ma ni để làm hoa của cây
bồ đề, chẳng những tốt đẹp mà còn trang nghiêm.
‘’Bóng sáng chói giăng như mây gấm.’’ Bóng cây bày hàng la liệt, và
ánh sáng chói rọi giống như mây ngũ sắc ở trên không trung rất đẹp
đẽ.
‘’Quanh cây khắp nơi đều thơm tho.’’ Thứ mây gấm đó, khắp chung
quanh cây bồ đề, đều tỏa ra hương thơm ngào ngạt.
‘’Ở trong đạo tràng khắp nghiêm sức.’’ Ở trong Bồ đề đạo tràng, khắp
nơi bố trí rất trang nghiêm tốt đẹp lạ thường.
Ngài xem Thiện Thệ trong đạo tràng
Lưới báu hoa sen đồng thanh tịnh
Ánh sáng hình tròn từ đây hiện
Tiếng chuông tiếng linh vang trong mây.
‘’Các Ngài hãy quán Phật đạo tràng.’’ Các vị hãy quán sát trong đạo
tràng này của Phật ở.
Các Ngài hãy quán sát, khi Phật thuyết pháp, thì chỉ có tất cả đại
chúng đương thời ở trong pháp hội. Hiện tại các Ngài hãy quán, kêu
chúng ta tất cả chúng sinh hãy quán sát. Nếu không quán thì Kinh văn
này chẳng có ích gì. Vì Phật nói pháp là vì độ chúng sinh, đều bao
quát chúng ta ở trong đó, đừng cho rằng câu Kinh văn này, chẳng có
quan hệ gì với bạn, bạn phải dùng thân tâm của mình, để suy nghĩ
rằng đây là việc của mình, chứ chẳng phải việc của người khác. Bạn
suy nghĩ như thế, thì đối với nghĩa lý của Kinh văn mới không luống
qua.
Quán cái gì ? Quán đấng Thiện Thệ. Thiện Thệ có hai nghĩa :
1. Giảng theo chữ nghĩa là đạt đến chân thiện mỹ.
2. Giảng theo Kinh văn nghĩa là Niết Bàn không sinh không diệt,
chẳng còn ở trong biển sinh tử. Thiện Thệ tức cũng là Phật.
‘’Lưới báu hoa sen đều thanh tịnh.’’ Lưới báu hoa sen ở trong Bồ đề
đạo tràng, đều thanh tịnh chẳng cấu bẩn.
‘’Ánh sáng hình tròn từ đây hiện.’’ Trong lưới báu hoa sen, lại hiện
ra đủ thứ ánh sáng, trong ánh sáng hiện ra đủ thứ màu sắc, thứ ánh
sáng tự nhiên thành hình tròn như bánh xe.
‘’Tiếng chuông tiếng linh vang trong mây.’’ Ánh sáng này, chẳng
những hiện ra ánh sáng hình tròn, mà còn có tiếng chuông, tiếng linh
từ trong mây vang ra.
Tất cả cõi nước trong mười phương
Hết thảy diệu sắc trang nghiêm cây
Trong cây bồ đề đâu chẳng hiện
Phật ngồi nơi đây sạch cấu nhiễm.
‘’Trong mười phương tất cả cõi nước.’’ Hết thảy tất cả cõi nước
trong mười phương.
‘’Hết thảy diệu sắc trang nghiêm cây.’’ Hết thảy tất cả cây bồ đề,
có đủ thứ hình tướng, có đủ thứ màu sắc rất trang nghiêm, rất mỹ lệ.
Một khi chúng sinh thấy thứ cây bồ đề này, thì phát tâm bồ đề, kết
quả bồ đề, chứng được quả vị Phật.
‘’Trong cây bồ đề đâu chẳng hiện.’’ Ở trong cây bồ đề bao la vạn
tượng, chẳng có gì mà chẳng hiện. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, đều
hiện ra ở trong cây bồ đề, vì muốn đối trị với tám vạn bốn ngàn bệnh
phiền não của chúng sinh, chúng sinh có nhiều bệnh như thế, cho nên
hiện ra nhiều pháp như thế. Nếu chúng sinh chẳng có bệnh phiền não,
thì tất cả các pháp cũng vô dụng. Do đó, dưới cây bồ đề hiện ra đủ
thứ quang minh, đủ thứ màu sắc, đủ thứ âm thanh, đủ thứ pháp; như:
Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy bồ
đề phần, tám chánh đạo .v.v., đều từ trong cây bồ đề hiện ra.
Ðạo lý tiểu thừa nói về bốn diệu đế, và
mười hai nhân duyên, đạo lý đại thừa nói về lục độ vạn hạnh phát tâm
bồ đề, hành Bồ Tát đạo, tương lai đạt đến phước huệ đều đầy đủ,
chứng được cảnh giới ba giác viên vạn đức tròn, viên mãn thành quả
vị Phật.
‘’Phật ngồi nơi đây sạch cấu nhiễm.’’ Câu kinh văn này, theo ý tôi
thì nên sửa chữ ‘’Phật‘’ thành chữ ‘’chúng sinh.‘’ Tại sao ? Vì Phật
ở dưới cội bồ đề đã lìa khỏi mọi cấu nhiễm, nếu còn cấu nhiễm thì
làm sao thành Phật được ? Chúng sinh đến dưới cội bồ đề, đều có thể
lìa khỏi các cấu nhiễm, đắc được cảnh giới thanh lương, chẳng nhiễm
mảy trần. Tuy là nói như thế, song kinh văn là Phật nói, không thể
nào dám tự tiện sửa đổi, bất quá phải hiểu rằng, câu kinh này Phật
là Thánh nhân chẳng có cấu nhiễm. Cấu nhiễm là không thanh tịnh,
chúng ta là chúng sinh mới có cấu nhiễm. Phật vốn là thanh tịnh, chứ
chẳng phải nói, đến dưới cội cây bồ đề mới thanh tịnh, mới sạch cấu
nhiễm. Ðức Phật lúc chẳng ở dưới cội bồ đề, đã sạch cấu nhiễm. Chúng
ta chúng sinh đến dưới cội bồ đề, phát tâm bồ đề, hành đạo bồ đề,
chứng quả bồ đề, thì sẽ sạch cấu nhiễm. Muốn nghĩ sạch cấu nhiễm thì
phải tu hành, tu hành thì dứt phiền não, chẳng còn phiền não tức là
sạch cấu nhiễm.
Đạo tràng rộng lớn do phước thành
Nhánh cây luôn mưa báu vô tận
Trong báu xuất hiện các Bồ Tát
Đều đến mười phương cúng dường Phật.
‘’Ðạo tràng rộng lớn do phước thành.’’ Ðạo tràng của Phật nói pháp
rất rộng lớn vô cùng, do tu phước huệ rộng lớn mà thành tựu, cho nên
mới có đạo tràng lớn như thế.
‘’Nhánh cây luôn mưa báu vô tận.’’ Mỗi cành mỗi lá của cây bồ đề,
đều mưa xuống châu báu vô cùng vô tận.
‘’Trong báu xuất hiện các Bồ Tát.’’ Ở trong mỗi châu báu, lại có các
Bồ Tát hóa hiện.
‘’Ðều đến mười phương cúng dường Phật.’’ Những vị Bồ Tát đó, đều đến
cõi nước chư Phật trong mười phương cúng dường chư Phật.
Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn
Khiến khắp cây đó vang âm nhạc
Như xưa tu tập đạo bồ đề
Chúng hội nghe tiếng đều được thấy.
‘’Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn.’’ Cảnh giới của chư Phật, chẳng
phải ngôn ngữ của phàm phu chúng ta hình dung được, suy lường được,
cho nên nói không nghĩ bàn.
‘’Khiến khắp cây đó vang âm nhạc.’’ Khiến cho khắp cây bồ đề, vang
ra một thứ âm nhạc, khiến cho tất cả chúng sinh nghe được, đều phát
tâm bồ đề.
‘’Như xưa tu tập đạo bồ đề.’’ Giống như thuở xưa Phật tu hành đạo bồ
đề, đều tu tập lại với nhau.
‘’Chúng hội nghe tiếng đều được thấy.’’ Ðại chúng trong hải hội Hoa
Nghiêm, nghe được thứ âm nhạc này, thì đều thấy
được cảnh giới này.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Bách Mục Liên Hoa
Kế, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất
cả đại chúng hải hội trong đạo tràng, rồi nói bài kệ rằng.
Vào lúc đó, vị đại Bồ Tát Bách Mục Liên Hoa
Kế, nương đại oai thần lực của Phật, quán sát khắp
hết thảy đại chúng hải hội mà nói ra mười bài kệ này. Vị đại Bồ Tát
này rất khiêm cung. Ngài nói : ‘’Tôi chẳng biết nói kệ, mười bài kệ
này là nhờ nương đại oai thần lực của Phật gia trì, mới nói ra
được.’’ Chẳng giống như phàm phu chúng ta có tri kiến, luôn luôn cho
rằng đây là tôi làm, đó là tôi làm, nếu hết thảy tất cả chẳng có
tôi, thì không thể thành công, bất cứ việc gì phải có tôi làm, sau
đó sự việc mới thành tựu.
Vị đại Bồ Tát này, dùng kệ để thuật lại
đạo lý vừa nói ở trên, vì muốn khiến cho chúng sinh ngu si dễ hiểu
thêm một chút. Do đó, đủ thấy lòng từ bi của Phật, Bồ Tát đối với
chúng ta, chúng sinh như thế nào ! Thương xót như thế nào ! Ái hộ
đối với chúng ta như thế, thấu hiểu như thế, có thể nói là vô vi bất
chí, nếu chúng ta chẳng chuyên nhất tu hành, thì thật cô phụ chư
Phật, Bồ Tát một phen khổ tâm.
Tất cả ma ni vang diệu âm
Khen danh hiệu chư Phật ba đời
Phật đó vô lượng sức thần thông
Trong đạo tràng này đều hiện ra.
‘’Tất cả ma ni vang diệu âm.’’ Ở trong tất cả châu ma ni, đều phát
ra một thứ diệu âm không thể nghĩ bàn. Tại sao nói là diệu âm ? Vì
thứ diệu âm đó, nếu chúng sinh ngu si nghe được rồi, thì lập tức
sinh ra trí huệ, bạn nói có diệu chăng ? Sự diệu không thể nói được,
do đó có câu :
‘’Vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển.’’
Thứ diệu âm đó tức là tạng Kinh, chúng sinh nghe được diệu âm đó,
thì trí huệ sinh ra như biển cả.
Nếu chúng sinh có tâm sân hận, mà nghe được diệu âm đó, thì bất tri
bất giác tâm sân hận tiêu diệt. Bất cứ làm việc gì, đều phải tâm
bình khí hòa để xử lý, tuyệt đối đừng nổi lửa vô minh. Ðối với bất
cứ người nào, cũng đều khiêm nhường hòa nhan duyệt sắc, tuyệt đối
đừng nóng giận, đây là công hiệu của diệu âm.
Chúng sinh có tâm tham, nghe được diệu
âm đó cũng hết tham. Bổn lai thì tham chẳng biết chán, càng nhiều
càng tốt, song sau khi nghe diệu âm đó rồi, thì chẳng những không
tham, mà còn bố thí, do đó có câu :
‘’Biết đủ thì an vui,
Làm việc thiện thì sung sướng nhất’’.
Sửa đổi tác phong san tham trong quá khứ, bạn nói âm thanh đó có
diệu chăng ? Thứ diệu âm đó, hay chuyển biến tham sân si của con
người, thành giới định huệ, bạn nói có diệu chăng ? Có sức lực lớn
như thế, thậm chí có bệnh thì hết bệnh, đáng chết nhưng không chết,
có công hiệu không nghĩ bàn như thế. Có người nói : ‘’Pháp sư ! Ngài
giảng thật chẳng hợp đạo lý, có người đáng chết mà không chết, có
người đáng bệnh mà không bệnh‘’. Nếu chẳng có kỳ tích như thế, thì
sao có thể nói là diệu âm ? Diệu âm tức là dù bạn nghĩ tưởng cũng
tưởng chẳng được, việc không thể được mà có thể được, việc làm chẳng
thông mà làm thông được, đó mới là diệu. Ví như phiền não chẳng dễ
gì đoạn trừ, mà nghe được diệu âm rồi, thì phiền não sẽ đoạn trừ.
‘’Khen danh hiệu chư Phật ba đời.’’ Tại
sao nói tham mà không tham, sân mà không sân, si mà không si, bệnh
mà không bệnh, chết mà không chết ? Vì đều ở trong diệu, cho nên
phải khen ngợi danh hiệu của chư Phật ba đời, nếu kiền thành niệm
thánh hiệu, thì tất cả phiền não sẽ chuyển thành bồ đề, mọi sự tham
lam chuyển thành bố thí, sân hận chuyển thành từ bi, ngu si chuyển
thành trí huệ, vì diệu âm này không thể nghĩ bàn. Tuy khen ngợi danh
hiệu chư Phật ba đời, song sức của nó cũng diệu không thể tả.
‘’Phật đó vô lượng sức thần thông.’’ Có chứng cứ gì để nói rằng có
sức lực lớn như thế ? Ðó là vô lượng thần thông diệu dụng của Phật,
đây là chứng cứ.
‘’Trong đạo tràng này đều hiện ra.’’ Ở trong bồ đề đạo tràng này,
đều hiện ra cảnh giới không thể ngĩ bàn này.
Tức nhiên hoàn toàn hiện ra thần thông
diệu dụng. Song, pháp mà tôi vừa mới nói, bất quá chỉ là một giọt
nước ở trong biển cả, một hạt bụi trong một cõi nước mà thôi, chứ
chẳng phải toàn bộ. Ðây là ‘’Tri nhất phản vô lượng,’’ tức cũng là
‘’Nhất thông vạn sự thông,’’ biết được một việc thì những việc khác
cũng đều biết.
Thứ thần thông diệu dụng này, có sức cảm ứng đạo giao không thể nghĩ
bàn, chẳng những là ngu si được trí huệ, chúng sinh chưa dứt sinh tử
nghe được diệu pháp này, thì lập tức dứt sinh tử chứng được Niết
Bàn.
Các hoa đua nở như chuỗi giăng
Mây sáng lưu diễn khắp mười phương
Thần cây bồ đề hướng đến Phật
Một lòng chiêm ngưỡng cúng dường Phật.
‘’Các hoa đua nở như chuỗi giăng.’’ Trên cây bồ đề nở vô lượng hoa,
những hoa bồ đề đó, tranh nhau đua nở bủa giăng như chuỗi anh lạc,
cành hoa này rất đẹp, cành hoa kia càng đẹp hơn, rất trang nghiêm,
khiến cho ai thấy được thì phát tâm bồ đề.
‘’Mây sáng lưu diễn khắp mười phương.’’ Thứ ánh sáng đó giống như
mây trắng, lưu động diễn xướng khắp mười phương pháp giới.
‘’Thần cây bồ đề hướng đến Phật.’’ Thần cây bồ đề dùng thứ hoa và
ánh sáng đó, để cúng dường tất cả chư Phật trong mười phương.
‘’Một lòng chiêm ngưỡng cúng dường Phật.’’ Chuyên tâm nhất trí để
chiêm ngưỡng Phật, tức cũng là mắt chẳng tạm rời chiêm ngưỡng Phật,
đây là cúng dường Phật.
Ma ni sáng chói đều thành tràng
Trong tràng sáng rực toả hương thơm
Hương đó xông khắp tất cả chúng
Cho nên đạo tràng đều nghiêm khiết.
‘’Ma ni sáng chói đều thành tràng.’’ Châu ma ni trên cây bồ đề, đều
phóng ra ánh sáng lửa ngọn, chiếu soi rất tốt đẹp, ánh sáng lửa ngọn
đó, lại kết thành đại pháp tràng.
‘’Trong tràng rực rỡ tỏa hương thơm.’’ Ở trong đại pháp tràng đó,
lại tỏa ra một thứ lửa ngọn rất rực rỡ, ở trong lửa ngọn lại tỏa ra
hương thơm, mùi hương đó tỏa ra khắp mọi nơi.
‘’Hương đó huân khắp tất cả chúng.’’ Thứ mùi hương thơm đó, xông
khắp tất cả chúng sinh, khiến cho phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát đạo.
‘’Cho nên đạo tràng đều nghiêm khiết.’’ Vì hương thơm đó huân tập
tâm chúng sinh, khiến cho họ thanh tịnh, cho nên đạo tràng rất trang
nghiêm tốt đẹp, thanh khiết chẳng nhiễm, chúng sinh đều phát tâm vô
thượng bồ đề.
Hoa sen thòng rũ phóng kim quang
Quang đó diễn khắp tiếng của Phật
Che khắp mười phương các cõi nước
Vĩnh diệt phiền não của chúng sinh.
‘’Hoa sen thòng rũ phóng kim quang.’’ Ở trong đạo tràng có hoa sen
vi diệu, hoa đó lại phóng ra quang minh màu vàng thật, giăng bủa
chung quanh.
‘’Quang đó diễn khắp tiếng của Phật.’’ Quang minh trên hoa sen phóng
ra, diễn nói pháp âm của Phật, thứ diệu âm thanh đó, như vừng mây
phủ khắp, khiến cho chúng sinh nghe được rất rõ ràng.
‘’Che khắp mười phương các cõi nước.’’ Thứ mây âm thanh vi diệu đó,
đến khắp mười phương pháp giới, vì tất cả chúng sinh mà diễn nói
diệu pháp, lại che rợp khắp chúng sinh, trong tất cả cõi Phật trong
mười phương.
‘’Vĩnh diệt phiền não của chúng sinh.’’ Thứ quang minh đó, hay diệt
trừ tất cả phiền não, và lửa vô minh của chúng sinh, trừ khử bệnh ba
độc tham sân si, khôi phục thân tâm kiện khang.
Bồ đề thụ vương sức tự tại
Thường phóng quang minh rất thanh tịnh
Chúng hội mười phương nhiều vô biên
Đâu chẳng hiển hiện trong đạo tràng.
‘’Bồ đề thụ vương sức tự tại.’’ Cây bồ đề là vua trong loài cây, bổn
thân cây thụ vương đó, có sức thần tự tại.
‘’Thường phóng quang minh rất thanh tịnh.’’ Bồ đề thụ vương thường
phóng quang minh rất thanh tịnh vô cùng.
‘’Chúng hội mười phương nhiều vô biên.’’ Chúng hội ở trong mười
phương pháp giới, nhiều vô lượng vô biên chẳng cách chi tính đếm
được.
‘’Ðâu chẳng hiển hiện trong đạo tràng.’’ Tuy nhiên có vô biên chúng
hội, song đều hiển hiện ra ở trong đạo tràng bồ đề thụ vương, đạo
tràng này cũng hiện ra trong đạo tràng kia, hổ tương chiếu soi.
Nhánh báu sáng rực như đèn sáng
Ánh sáng diễn âm tuyên đại nguyện
Như Phật thuở xưa nơi các cõi
Các môn tu hành đều nói đủ.
‘’Nhánh báu sáng rực như đèn sáng.’’ Nhánh báu ma ni của bồ đề thụ
vương, đều phóng quang minh giống như đèn sáng.
‘’Ánh sáng diễn âm tuyên đại nguyện.’’ Ở trong ánh sáng đó, diễn nói
pháp âm vi diệu, tuyên dương đại nguyện của chư Phật trong quá khứ.
‘’Như Phật thuở xưa nơi các cõi.’’ Giống như trong quá khứ, khi Phật
tu hành tại nhân địa, tức cũng ở trong hai mươi lăm cõi tu hành.
‘’Các môn tu hành đều nói đủ.’’ Phật vốn tu pháp môn gì, đều nói ra
đầy đủ, giống như xem truyền hình, từng màn từng màn hiện ra.
Các Thần dưới cây nhiều như bụi
Đều cùng hộ trì đạo tràng này
Mỗi đức Như Lai trước đạo thụ
Niệm niệm tuyên dương môn giải thoát.
‘’Các Thần dưới cây nhiều như bụi.’’ Dưới cội bồ đề có vô biên các
vị Thần cây, nhiều như hạt bụi.
‘’Ðều cùng hộ trì đạo tràng này.’’ Những vị thần đó, cùng đến hộ trì
Bồ đề đạo tràng.
‘’Mỗi đức Như Lai trước đạo thụ.’’ Hết thảy tất cả chư Phật, khi
thành Phật, thì nhất định phải chứng đạo dưới cội bồ đề.
‘’Niệm niệm tuyên dương môn giải thoát.’’ Thần cây chẳng những hộ
trì đạo tràng, mà còn giúp Phật tuyên dương giáo hóa, khiến cho Phật
pháp phát dương quang đại, ở trong niệm niệm, đều tuyên dương đạo lý
các môn giải thoát của Kinh Hoa
Nghiêm.
Thuở xưa Thế Tôn tu các hạnh
Cúng dường tất cả các Như Lai
Các môn tu hành và nghe danh
Trong châu ma ni thảy đều hiện.
‘’Thuở xưa Thế Tôn tu các hạnh.’’ Thuở xưa Phật ở tại nhân địa, tu
lục độ vạn hạnh tất cả pháp môn.
‘’Cúng dường tất cả các Như Lai.’’ Hạnh môn chính là lễ kính các Ðức
Phật, khen ngợi các Ðức Như Lai, rộng tu cúng dường, cúng dường tất
cả vị Phật trong mười phương ba đời.
‘’Các môn tu hành và nghe danh.’’ Trong cảnh giới thuở xưa của Phật
tu hành, thảy đều nghe danh, ai cũng đều biết Ngài tu hành như thế
nào.
‘’Trong châu ma ni thảy đều hiện.’’ Trong châu ma ni, cây bồ đề đều
hiện ra tất cả cảnh giới trong quá khứ, khiến cho chúng sinh thấy
được, thì phát tâm bồ đề, tu quả vị Phật vô thượng.
Tất cả đạo tràng vang diệu âm
Âm đó rộng lớn khắp mười phương
Nếu có chúng sinh tiếp thọ pháp
Điều phục hết thảy khiến thanh tịnh.
‘’Tất cả đạo tràng vang diệu âm.’’ Ở trong Bồ đề đạo tràng, bất cứ
là cây bồ đề, hoặc là tòa sư tử, cho đến ánh sáng, hoa .v.v., đều
vang ra một thứ diệu âm, diễn xướng tất cả diệu pháp.
‘’Âm đó rộng lớn khắp mười phương.’’ Thứ diệu âm đó, vang ra rất
rộng lớn đầy khắp mười phương pháp giới.
‘’Nếu có chúng sinh tiếp thọ pháp.’’ Nếu như có chúng sinh có thể
tiếp thọ được pháp này, và có duyên với pháp này.
‘’Ðiều phục hết thảy khiến thanh tịnh.’’ Ðiều phục hết thảy khiến
cho được thanh tịnh, tức cũng chẳng có tham sân si phiền não, sinh
ra sự khoái lạc thanh tịnh.
Thuở xưa Như Lai khắp tu hành
Tất cả vô lượng việc trang nghiêm
Mười phương tất cả cây bồ đề
Mỗi mỗi thứ trang nghiêm vô lượng.
‘’Thuở xưa Như Lai khắp tu hành.’’ Thuở xưa, khi Phật ở tại nhân
địa, tu hành khắp hết thảy tất cả pháp môn, đều thanh tịnh chẳng
nhiễm ô.
‘’Tất cả vô lượng việc trang nghiêm.’’ Phật tu vô lượng pháp môn,
cho nên mới có vô lượng việc trang nghiêm.
‘’Mười phương tất cả cây bồ đề.’’ Cõi nước chư Phật trong mười
phương, hết thảy tất cả cây bồ đề.
‘’Mỗi mỗi trang nghiêm vô lượng thứ.’’ Sự trang sức trên mỗi cây bồ
đề đều khác nhau, mỗi đạo tràng trang nghiêm cũng khác nhau, ở trong
vô lượng đạo tràng có vô lượng thứ trang nghiêm.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Kim Diễm Viên Mãn Quang, nương oai lực của
đức Phật, quán sát khắp đại chúng hải hội trong đạo tràng, rồi nói
bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Kim Diễm Viên Mãn Quang, nương đại oai thần
lực của Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong Ðạo tràng
rồi, bèn nói ra mười bài kệ này. Ðây là cảnh giới khen ngợi mười trí
lực của Phật không thể nghĩ bàn.
Mười trí lực tức là :
1). Xứ, phi xứ trí lực.
2). Quá, vị, hiện tại, nghiệp báo trí lực.
3). Căn thắng liệt trí lực.
4). Chủng chủng giải trí lực.
5). Chủng chủng giới trí lực.
6). Nhất thiết chí xứ đạo trí lực.
7). Thiền định giải thoát tam muội trí lực.
8). Túc trụ niệm trí lực.
9). Thiên nhãn trí lực.
10). Lậu tận trí lực.
Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề
Trong các cảnh giới hiểu thấu rõ
Xứ và phi xứ tịnh vô ngại
Đây trí lực thứ nhất của Phật.
‘’Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề.’’ Thuở xưa khi Phật tu hạnh bồ đề.
‘’Trong các cảnh giới hiểu thấu rõ.’’ Tất cả hết thảy cảnh giới,
Phật đều thấu triệt hiểu rõ.
‘’Xứ và phi xứ tịnh vô ngại.’’ Bất cứ pháp gì, Phật cũng đều minh
bạch, bất cứ đạo gì, Phật cũng đều hiểu rõ, bất cứ cảnh giới gì,
Phật cũng thấy rõ. Tất cả các pháp Phật đều biết, tất cả tâm chúng
sinh Phật cũng đều biết. Hết thảy tất cả cảnh giới xứ và phi xứ, đều
chẳng nghi hoặc. Tại sao chẳng nghi hoặc ? Vì hoàn toàn minh bạch
hết.
Xứ phi xứ là gì ? Ví như trồng nhân lành thì kết quả lành, đây là xứ
hợp lý. Nếu như nói trồng nhân lành mà kết quả khổ, thì đây chẳng
phải xứ hợp lý, tức cũng là phi xứ.
Xứ ở đây nghĩa là kiến lập, kiến lập tất cả pháp ‘’thị‘’ và pháp
‘’bất thị,’’ Phật có sức trí huệ này.
‘’Ðây là Phật trí lực thứ nhất.’’ Ðây là trí huệ lực thứ nhất của
Phật, tức cũng là xứ phi xứ trí lực.
Như xưa Phật quán các pháp tánh
Tất cả biển nghiệp đều thấu rõ
Như vậy khiến trong lưới quang minh
Khắp cùng mười phương diễn nói đủ.
‘’Như xưa Phật quán các pháp tánh.’’ Giống như Phật ở trong quá khứ,
hiện tại, vị lai, ba đời quán sát khắp tất cả các pháp tánh, tức
cũng là người này ở trong quá khứ, khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo,
như thế nào, hiện tại khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, như thế nào,
vị lai khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, như thế nào.
‘’Tất cả biển nghiệp đều thấu rõ.’’ Tất cả nghiệp báo trong quá khứ,
hiện tại, vị lai, ba đời như biển cả, song trí lực của Phật thảy đều
thấy rõ triệt để.
‘’Như vậy khiến trong lưới quang minh.’’ Như cảnh giới biển nghiệp
như vậy, hiện ra ở trong quang minh của cây bồ đề phóng ra.
‘’Khắp cùng mười phương diễn nói đủ.’’ Cảnh giới này, chẳng những
hiển hiện ở dưới cội bồ đề một phương, mà còn hiển hiện ra dưới cội
bồ đề trong mười phương, tức cũng là tận hư không khắp pháp giới,
hết thảy dưới cội bồ đề cũng lại như thế, tóm lại, hổ tương hiển
hiện. Cội bồ đề phương này, hiện đến mười phương, cội bồ đề trong
mười phương, lại hiện đến phương này, cảnh giới trùng trùng vô tận.
Ðây là trí huệ lực thứ hai của Phật, tức cũng là nghiệp báo trí lực
quá khứ, hiện tại và vị lai.
Kiếp xưa tu hành đại phương tiện
Tùy căn chúng sinh mà hóa độ
Khiến khắp chúng hội tâm thanh tịnh
Nên Phật thành tựu căn trí lực.
‘’Kiếp xưa tu hành đại phương tiện.’’ Kiếp xưa khi Phật tu hành Bồ
Tát đạo, thì đắc được pháp môn quyền xảo đại phương tiện.
‘’Tùy căn chúng sinh mà hóa độ.’’ Phật biết rõ căn tánh của chúng
sinh, là thắng hay là hạ liệt. Thắng là căn lành, hạ liệt là căn ác.
Phật tùy thuận căn tánh của chúng sinh, để giáo hóa chúng sinh, dẫn
dắt chúng sinh khiến cho họ phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát đạo. Do đó
có câu :
‘‘Trước dùng câu dục móc,
Sau khiến vào Phật trí.’’
Nghĩ muốn giáo hóa chúng sinh này, cứu độ chúng sinh này, thì phải
quán sát họ hoan hỷ những gì ? Trước hết cho họ những gì mà họ hoan
hỷ, sau đó mới vì họ thuyết pháp, khéo dụ từ từ, đây là phương pháp
dẫn dắt. Giống như câu chuyện Phật tay không mà độ được em bé, tức
là dùng pháp môn phương tiện để giáo hóa chúng sinh.
Nghĩ muốn cứu độ người này,
trước hết phải hiểu rõ căn tánh của họ là thắng hay liệt ? Xem họ
thích gì ? Chán những gì ? Sẽ vì họ thuyết pháp mới thành tựu. Cho
nên người tu đạo, phải chân chánh minh bạch tâm lý học, biết căn
tánh của chúng sinh, nói pháp phương tiện mới thành công.
‘’Khiến khắp chúng hội tâm thanh tịnh.’’ Vì Phật biết căn tánh của
chúng sinh, cho nên khiến khắp tất cả đại chúng trong pháp hội mười
phương thế giới, tâm đều thanh tịnh chẳng tạp nhiễm.
‘’Nên Phật thành tựu căn trí lực.’’ Vì Phật tu đại phương tiện, cho
nên thành tựu căn trí huệ lực. Ðây là trí huệ lực thứ ba của Phật,
tức cũng là căn thắng liệt trí lực.
Như các chúng sinh hiểu khác nhau
Ưa thích các hạnh cũng chẳng giống
Tùy theo sở thích mà nói pháp
Phật dùng trí lực được như thế.
‘’Như các chúng sinh hiểu khác nhau.’’ Minh bạch căn tánh của tất cả
chúng sinh rồi, sau đó thấu hiểu tất cả chúng sinh. Mỗi người mỗi
loài đều có căn tính khác nhau. Người thì có đủ tánh người, chó thì
có đủ tánh chó, mèo thì có đủ tánh mèo, chuột thì có đủ tánh chuột,
thảy đều có năng lực, trí huệ. Giống như ếch thì biết nhảy, thỏ thì
biết chạy, cá thì biết bơi trong nước, chim thì biết bay trong không
gian, đó là năng lực và trí huệ của chúng.
‘’Ưa thích các hạnh cũng chẳng giống.’’ Mỗi loài chúng sinh, đều có
sự ưa thích riêng của họ, giống như chó thấy người thì sủa, mèo thấy
chuột thì bắt ăn, gà thì gáy, chó giữ cửa, thảy đều hữu dụng, không
thể cưỡng bách chúng làm giống nhau. Cho nên, phải minh bạch căn
tánh của chúng sinh, thì mới giáo hóa được chúng sinh.
‘’Tùy theo sở thích mà nói pháp.’’ Phật hay tùy thuận chúng sinh
tiếp thọ được pháp gì, thì vì chúng sinh nói pháp đó, đối với chúng
sinh căn thắng thì nói pháp sâu, đối với chúng sinh căn liệt thì nói
pháp cạn.
‘’Phật dùng trí lực được như thế.’’ Phật hay quán căn cơ mà nói
pháp, xem cơ duyên của chúng sinh, đáng nói pháp gì thì nói pháp đó.
Ðây là trí huệ lực thứ tư của Phật, tức cũng là chủng chủng giải trí
lực.
Khắp cùng mười phương các cõi nước
Hết thảy tất cả cõi chúng sinh
Trí Phật bình đẳng như hư không
Thảy đều hiển hiện trong lỗ lông.
‘’Khắp cùng mười phương các cõi nước.’’ Khắp hết thảy cõi nước của
chư Phật trong mười phương.
‘’Hết thảy tất cả cõi chúng sinh.’’ Hết thảy cõi nước, cõi chúng
sinh trong mười phương.
‘’Trí Phật bình đẳng như hư không.’’ Trí huệ của Phật bình đẳng như
hư không.
‘’Thảy đều hiển hiện trong lỗ lông.’’ Tất cả cõi nước của chư Phật,
tất cả cõi chúng sinh, tuy là rộng lớn vô biên, song đều hiển hiện ở
trong lỗ chân lông của Phật. Ðây là đạo lý gì ? Ðó là đạo lý trong
lớn hiện nhỏ, trong nhỏ hiện lớn, lớn nhỏ vô ngại. Ba ngàn đại thiên
thế giới là lớn, lỗ chân lông của Phật là nhỏ, trí lực của Phật tận
cùng pháp giới. Phật biết chủng chủng giới (đủ thứ cõi), cho nên
dùng đủ thứ pháp để phân họa đủ thứ cõi. Ðây là trí huệ lực thứ năm
của Phật, tức cũng là chủng chủng giới trí lực.
Nhất thiết xứ hành Phật đều biết
Một niệm ba đời chẳng sót thừa
Mười phương cõi kiếp chúng sinh thời
Thảy đều khai thị khiến hiện rõ.
‘’Nhất thiết xứ hành Phật đều biết.’’ Tu đạo phải thanh tịnh mới đắc
được giác ngộ. Nếu tu pháp nhiễm ô thì không thể lìa khổ được vui,
cũng không thể đắc được giác ngộ, đạo lý này Phật đều biết. Cho nên,
nhất thiết chí xứ đạo, còn gọi là biến thú hành. Biến tức là nhất
thiết (tất cả) thú tức là chí xứ (nơi đến), hành tức là đạo. Nghĩ
muốn lìa khổ được vui, thì phải tu pháp thanh tịnh, nếu không muốn
lìa khổ được vui, thì chạy theo pháp ô nhiễm, trí huệ của Phật đều
biết hết nhất thiết chí xứ đạo.
‘’Một niệm ba đời không sót thừa.’’ Phật ở trong một niệm, có thể
làm cho hiển hiện ra sự việc ba đời, chẳng có gì mà không hiện, cho
nên nói chẳng sót thừa.
‘’Mười phương cõi kiếp chúng sinh thời.’’ Chẳng những thế, mà cho
đến tất cả kiếp cõi nước trong mười phương, hết thảy chúng sinh, hết
thảy thời gian.
‘’Thảy đều khai thị khiến hiện rõ.’’ Phật hoàn toàn khai thị cho
chúng sinh, khiến cho chúng sinh thấy được cảnh giới này, và còn
thấu rõ cảnh giới này. Ðây là trí huệ lực thứ sáu của Phật, tức cũng
là nhất thiết chí xứ đạo trí lực.
Sức thiền định giải thoát vô biên
Tam muội phương tiện cũng như thế
Phật vì thị hiện khiến hoan hỷ
Khiến khắp trừ sạch tối phiền não.
‘’Sức thiền định giải thoát vô biên.’’ Phật có sức thiền định và
giải thoát, thứ sức lực này vô lượng vô biên. Thiền định là gì ? Tức
là vọng tưởng không sinh, ngồi thấy bản tánh. Giải thoát là gì ?
Giải sự trói buộc nghiệp hoặc, thoát khỏi quả khổ ba cõi.
‘’Tam muội phương tiện cũng như thế.’’ Phật có vô lượng vô biên định
lực và phương tiện lực. Tam muội là gì ? Tức là chánh định, không
lệch không tà là chánh, không suy không nghĩ là định. Phương tiện là
gì ? Tức là phương pháp khéo léo, sử dụng tiện lợi.
‘’Phật vì thị hiện khiến hoan hỷ.’’ Phật vì tất cả chúng sinh, thị
hiện đủ thứ những lực vừa nói ở trên, khiến cho họ đắc được hoan hỷ.
‘’Khiến khắp trừ sạch tối phiền não.’’ Khiến cho khắp tất cả chúng
sinh, xử dụng nước tam muội trí huệ, tẩy trừ sạch sẽ tối phiền não
tham sân si, để trở về nguồn cội. Ðây là trí huệ lực thứ bảy của
Phật, tức cũng là thiền định giải thoát tam muội trí lực.
Trí Phật vô ngại cả ba đời
Sát na đều hiện trong lỗ lông
Phật pháp cõi nước và chúng sinh
Sở hiện đều tùy theo niệm lực.
‘’Trí Phật vô ngại cả ba đời.’’ Trí huệ của Phật chẳng có gì chướng
ngại, chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà chẳng thấu rõ, thấu
suốt cả ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai.
‘’Sát na đều hiện trong lỗ lông.’’ Trong khoảng thời gian rất ngắn,
thì có thể hiển hiện ra tât cả nhân duyên ba đời ở trong lỗ chân
lông.
‘’Phật pháp cõi nước và chúng sinh.’’ Ở trong lỗ chân lông hiện ra
cảnh giới gì ? Hiện ra chuyển pháp luân nói diệu pháp, cõi nước của
chư Phật và tất cả chúng sinh.
‘’Sở hiện đều tùy theo niệm lực.’’ Những cảnh giới hiện ra, đều do
túc trụ tùy niệm trí lực mà hiện ra. Ðây là trí huệ lực thứ tám của
Phật, tức cũng là túc trụ tùy niệm trí lực.
Mắt Phật rộng lớn như hư không
Thấy khắp pháp giới trọn không thừa
Trong bậc vô ngại dùng chẳng bằng
Mắt đó vô lượng Phật diễn được.
‘’Mắt Phật rộng lớn như hư không.’’ Mắt của Phật rộng lớn chẳng có
bờ bến như hư không, đây là biểu thị sự rộng lớn của mắt trí huệ.
‘’Thấy khắp pháp giới trọn không thừa.’’ Nhìn thấy khắp tâm của
chúng sinh, trong mười phương pháp giới đang nghĩ gì, Phật đều nhìn
thấy, chẳng có gì mà nhìn chẳng thấy.
‘’Trong bậc vô ngại dùng chẳng bằng.’’ Thuở xưa Phật ở tại nhân địa
tu pháp môn vô ngại, cho nên được sự dụng chẳng gì sánh bằng, chẳng
có ai đồng với Ngài được.
‘’Mắt đó vô lượng Phật diễn được.’’ Mắt của Phật có diệu dụng vô
lượng vô biên, cũng chỉ có Phật mới diễn nói, chứng đắc cảnh giới
này được. Ðây là trí huệ lực thứ chín của Phật, tức cũng là thiên
nhãn trí lực.
Tất cả chúng sinh đủ nghiệp chướng
Hết thảy tùy miên và tập khí
Như Lai xuất hiện khắp thế gian
Đều dùng phương tiện khiến diệt trừ.
‘’Tất cả chúng sinh đủ nghiệp chướng.’’ Tất cả nghiệp chướng tức là
‘’các kết.’’ Có kết thì không được giải thoát, tức cũng là bị ràng
buộc. Bị gì ràng buộc ? Bị nghiệp chướng mà mình tạo ra ràng buộc.
Tại sao tạo nghiệp chướng ? Vì tham sân si ba độc tác quái, chuyên
môn tạo nghiệp nhiễm ô, cho nên đen tối chẳng thấy quang minh, chẳng
có trí huệ. Làm thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng ? Thì phải tu
hành. Tu cái gì ? Tu giới định huệ, hành Bồ Tát đạo, công đức viên
mãn thì nghiệp chướng tự nhiên tiêu trừ.
‘’Hết thảy tùy miên và tập khí.’’ Chủng tử nghiệp chướng hiện hành
tồn tại trong thức thứ tám, và hết thảy tập khí tùy miên tạo ra đời
đời kiếp kiếp.
Tập khí là gì ? Tức cũng là dư tập, giống như người hút thuốc, tuy
giữ giới hút thuốc, song có khi vẫn muốn hút thuốc, đó là dư tập.
Người uống rượu cũng như thế, thậm chí ở trong mộng vẫn nằm mộng hút
thuốc hoặc uống rượu. Phàm là những thứ tập quán mao bệnh không tốt,
đều gọi là tập khí. Tham sân si cũng là tập khí. Giống như đệ tử của
Phật, Ngài Tân Ðầu Lô Phả La Ðọa có tập khí tham, tham cái bát bằng
gỗ chiên đàn, bèn dùng sức thần thông để lấy. Tôn giả Xá Lợi Phất có
tập khí sân hận, tuy trí huệ đệ nhất, song vẫn nổi nóng giận. Tôn
giả Châu Lợi Bàn Ðà Gia có tập khí si mê, tuy khai ngộ, song vẫn có
ngu si.
‘’Như Lai xuất hiện khắp thế gian.’’ Phật xuất hiện đầy khắp tất cả
thế gian, tận hư không biến pháp giới.
‘’Ðều dùng phương tiện khiến trừ diệt.’’ Phật hoàn toàn dùng pháp
môn phương tiện, khiến cho tập khí của tất cả chúng sinh đều trừ
diệt, khiến cho chúng sinh đắc được vô lậu, khiến cho chúng sinh
thành Phật, có trí lực này. Vì Phật đã hoàn toàn vô lậu mà thành
Phật, cho nên có thể khiến cho chúng sinh thành Phật. Ðây là trí huệ
lực thứ mười của Phật, tức cũng là lậu tận trí lực.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Pháp Giới Phổ Âm,
nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội
trong đạo tràng, rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Pháp Giới Phổ Âm, nương đại oai thần lực của
Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng, rồi
dùng mười một bài kệ để giải thích nói đạo lý ở trước chưa nói hết.
Bài kệ thứ nhất trong mười một bài kệ là tổng, đại khái tổng lại nói
ý nghĩa mười Ba la mật, còn mười bài kệ sau là biệt, phân biệt để
nói. Phải nhận chân tu mười Ba la mật này, thì mới đến được bờ kia.
Mười Ba la mật tức cũng là mười độ :
1). Bố thí độ.
2). Trì giới độ.
3). Nhẫn nhục độ.
4). Tinh tấn độ.
5). Thiền định độ.
6). Bát nhã độ.
7). Phương tiện độ.
8). Nguyện độ.
9). Lực độ.
10). Trí độ.
Ðộ tức là độ bạn đến cứu kính Niết Bàn, tức cũng là chiếc thuyền,
chiếc thuyền qua khỏi biển khổ sinh tử. Ðây là mười chiếc thuyền,
đều có thể đến bờ kia.
Thần lực của Phật khắp mười phương
Thị hiện rộng lớn chẳng phân biệt
Hạnh đại bồ đề Ba la mật
Thuở xưa đầy đủ đều khiến hiện.
‘’Thần lực của Phật khắp mười phương.’’ Ðại oai đức, đại thần thông,
đại lực của Phật, đầy khắp mười phương, tận hư không khắp pháp giới.
‘’Thị hiện rộng lớn chẳng phân biệt.’’ Oai thần lực của Phật rộng
lớn bình đẳng, thị hiện đến khắp các nơi, chẳng có phân biệt cao
thấp.
‘’Hạnh đại bồ đề Ba la mật.’’ Phật tu hạnh môn đại bồ đề, cũng phát
đại tâm giác ngộ, tu đại Ba la mật. Khó hành mà hành được, khó nhẫn
mà nhẫn được, tất cả pháp môn đến bờ kia, đều dũng mãnh tinh tấn tu
hành.
‘’Thuở xưa đầy đủ đều khiến thấy.’’ Thuở xưa Phật tu mười độ vạn
hạnh đều viên mãn đầy đủ, khiến cho đại chúng trong pháp hội đều
thấy được cảnh giới này.
Xưa khởi đại bi với chúng sinh
Tu hành bố thí Ba la mật
Nhờ đó thân Phật thù diệu nhất
Đều khiến người thấy sinh hoan hỷ.
Bốn câu kệ này, là nói về bố thí Ba la mật. Ba la mật dịch là "đến
bờ kia". Phàm là việc gì làm xong, hoặc là thành công, đều gọi là
đến bờ kia, đây là từ ngữ thời xưa của Ấn Ðộ.
Tại sao phải bố thí ? Vì chúng sinh có sáu thứ che đậy, che đậy
đường bồ đề của chính mình.
1). Keo kiệt che đậy : Tức là xả bỏ chẳng đặng, dù một đồng cũng
chẳng bố thí cho người, do đó có câu : ‘’Xả tiền như lóc thịt.’’ Bất
cứ việc gì cũng tính toán kỹ lưỡng, việc đối với mình có lợi thì
làm; còn nếu việc mình chẳng có lợi, thì chẳng bao giờ làm, tính
toán rất kỹ càng, đây là tư tưởng keo kiệt.
Thuở xưa, có một người rất tham lam keo kiệt, bạn của ông ta mời dự
sinh nhật, thì phải mang quà đến biếu, ông ta nghĩ, bất cứ mang thứ
gì đến tặng cũng phải chi tiền ra mua, thật là uổng tiền lại chẳng
kỷ niệm giá trị gì. Chi bằng vẽ một cái bánh thật lớn lên giấy, vừa
chẳng tốn tiền vừa làm kỷ niệm. Do đó, ông ta bèn vẽ một cái bánh
mừng sinh nhật, mang đến nhà bạn chúc mừng. Thấy bạn bè thì chúc
mừng nói : ‘’Chúc mừng ! Chúc mừng ! Chúc bạn sinh nhật vui vẻ, vạn
thọ vô cương ! Tôi chẳng có lễ vật đặc biệt để tặng, chỉ mang đến
cái bánh này làm lễ chúc mừng.’’
Người bạn của ông ta còn keo kiệt hơn,
thấy bánh mừng sinh nhật vẽ trên giấy, bèn nói với ông ta rằng :
‘’Khi nào đến ngày sinh nhật của anh, thì tôi mang đến cái bánh lớn
như vầy (ông ta dùng tay vẽ một cái vòng tròn lớn ở trong hư không),
đến mừng sinh nhật của anh và làm quà kỷ niệm.’’ Người này cho đến
một trang giấy cũng xả bỏ chẳng đặng, một đồng cũng chẳng tốn, đây
là chuyện tiếu về keo kiệt.
2). Phạm giới che đậy : Người tin Phật
thọ giới rồi, mà chẳng giữ gìn giới báu kim cang, luôn luôn sát
sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, phạm năm giới căn bản
này.
3). Sân hận che đậy : Bất cứ gặp việc gì
vô duyên vô cớ nổi nóng, lửa vô minh cao ba trượng mà mình vẫn không
biết.
4). Giải đãi che đậy : Cảm thấy làm gì
cũng chẳng có ý nghĩa, chi bằng ngủ là sung sướng nhất, đó là biểu
hiện sự giải đãi.
5). Tán loạn che đậy : Suốt ngày từ sáng
đến tối khởi vọng tưởng, tinh thần chẳng tập trung, tâm chẳng tu
hành. Một khi giải đãi thì tán loạn, tán loạn thì chẳng có trí huệ,
chẳng có trí huệ thì chẳng được giải thoát.
6). Ác huệ che đậy : Trí huệ cũng có
phân ra thiện và ác. Dùng chỗ chánh đáng là thiện trí huệ, dùng chỗ
chẳng chánh đáng là ác trí huệ, giống như thiếu niên bất lương,
chúng là ác trí huệ, làm việc gì cũng thông minh, song ngược lại bị
thông minh lừa.
Có thứ che đậy này, thì không thể hành
bố thí. Họ nghĩ rằng : ‘’Tại sao tôi phải bố thí cho bạn ? Sao bạn
không bố thí cho tôi‘’ ? Giống như người xuất gia chẳng nghĩ bố thí
cho người khác, chuyên nghĩ người khác bố thí cho mình. Suốt ngày
đến tối chỉ chú ý về cư sĩ, rằng vị cư sĩ này có bao nhiêu tiền ? Vị
kia có bao nhiêu tiền ? Tính toán rất là rõ ràng, cứ khởi những vọng
tưởng này.
‘’Xưa khởi đại bi với chúng sinh.’’ Thuở xưa khi Phật tu hành tại
nhân địa, thì khởi tâm đại bi đối với chúng sinh, bi hay cứu khổ,
chúng sinh có khổ thì bố thí niềm vui, khiến cho chúng sinh lìa khổ
được vui.
‘’Tu hành bố thí Ba la mật.’’ Phật tu pháp môn bố thí, phát tâm cứu
khổ chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được chân chính khoái lạc.
Tu bố thí phải liên tục không gián đoạn, bất cứ bố thí nhiều hoặc bố
thí ít, đều phải bố thí, phải có tư tưởng "tam luân thể không" (bố
thí ba không) :
1). Không thấy người bố thí.
2). Không thấy vật bố thí.
3). Không thấy gười nhận.
Ba thứ này phải không, tức là chẳng chấp trước. Nếu chấp trước thì
chẳng có công đức, đó là bố thí cầu danh cầu lợi, có sở xí đồ.
Bố thí có ba thứ :
1). Tài thí : Tài thí gồm có hai thứ : Nội tài và ngoại tài. Nội tài
là đầu mắt tủy não; ngoại tài là đất nước vợ con. Ngoại tài dễ bố
thí, có thể đem đất nước thành thị bố thí cho người, và có thể đem
vợ con đều bố thí cho người. Song, nội tài chẳng dễ gì bố thí, song
người hành Bồ Tát đạo, vì có tâm từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng, thì
xả được bố thí.
2). Pháp thí : Tức là giảng kinh thuyết
pháp, đây là dùng pháp cúng dường, do đó có câu :
‘’Trong các sự bố thí,
Cúng dường pháp là hơn hết’’.
Do đó, pháp thù thắng hơn tài thí. Tài thí là bố thí có hình tướng,
pháp thí là bố thí vô hình. Nếu có người chẳng có tiền của, hoặc
pháp để bố thí, thì có thể bố thí sức lực, đem thân hiến cho Phật,
vì Phật giáo mà làm việc, chỉ cần kiền thành chẳng có sở cầu, hoặc
quét đất, hoặc lau chùi nhà cầu cho sạch sẽ, cũng có công đức. Trang
nghiêm đạo tràng, làm đẹp hoàn cảnh cũng là bố thí, bố thí sức lực.
3). Vô úy thí : Khiến cho người chẳng
sinh tâm sợ hãi, luôn luôn cảm giác rất bình an. Giống như có người
gặp tai nạn, phải dùng lời lẽ an ủi họ, phải dùng hành động để trợ
giúp, khiến cho kẻ gặp nạn được an toàn, đây là tinh thần từ bi đại
vô úy của Phật giáo.
‘’Nhờ đó thân Phật thù diệu nhất.’’ Vì Phật tu hành bố thí Ba la
mật, cho nên thân Phật tướng tốt trang nghiêm, có ba mươi hai tướng,
tám mươi vẻ đẹp, có tướng thân vi diệu thù thắng như thế.
Khi Phật tu hành bố thí, thì bất cứ vật gì, cũng bố thí cho chúng
sinh, chúng sinh cần gì, thì bố thí cho chúng sinh thứ đó, thậm chí
thân tâm tính mạng của mình, cũng đều có thể bố thí. Tinh thần từ bi
hỷ xả như thế, thật là vĩ đại ! Chẳng như chúng ta người ngu si, cho
rằng bố thí là thiệt thòi. Tại sao phải đem tiền của mình ra bố thí
cho kẻ khác ? Không nên có tư tưởng như thế, phải biết bố thí có vô
lượng công đức, do đó có câu :
‘’Thiệt thòi là chiếm tiện nghi.’’
Sáng thì thiệt thòi, tối thì tiện nghi. Cảnh giới này chỉ có người
bố thí mới thể hội được chân lý của nó.
‘’Ðều khiến người thấy sinh hoan hỷ.’’ Hay khiến cho hết thảy chúng
sinh thấy được Phật, đều sinh tâm đại hoan hỷ ! Vì khi Phật tu hành
tại nhân địa rộng kết duyên lành, cho nên ai ai thấy Phật cũng đều
hoan hỷ, cung kính cúng dường, luyến ái chẳng xả bỏ.
Xưa trong vô biên biển đại kiếp
Tu trì tịnh giới Ba la mật
Nên chứng tịnh thân khắp mười phương
Diệt các khổ nặng của thế gian.
Bốn câu kệ này, nói về trì giới Ba la mật. Giới là gì ? Tức là không
làm các điều ác, phòng ngừa việc quấy, tức cũng là:
‘’Không làm các điều ác,
Làm các điều lành.’’
Ðừng làm các điều ác, tức là thân khẩu ý ba nghiệp thanh tịnh. Thân
chẳng phạm: Giết hại, trộm cắp, tà dâm, ba điều ác; miệng thì không
phạm: Nói dối, nói thêu dệt, chửi mắng, hai lưỡi; ý thì không tham,
sân, si, ba điều ác. Không phạm mười điều ác này, thì ba nghiệp mới
thanh tịnh. Làm các điều lành, tức là làm việc có lợi ích cho chúng
sinh, tức cũng là siêng tu giới định huệ.
Vua Ðường Tuyên Tôn (từng xuất gia làm Sa di) hỏi thiền sư Tiến
Phước Biện rằng: ‘’Thế nào là giới định huệ‘’?
- Thiền sư đáp : ‘’Ngừa điều quấy không làm các điều ác là giới. Sáu
căn tiếp súc với sáu cảnh mà không tùy theo duyên là định. Tâm cảnh
đều không, chiếu soi là huệ.’’ Ðây là nói rõ về giới định huệ.
Giới luật là phòng ngừa phạm tội, giới luật của Phật giáo và pháp
luật của thế gian chẳng giống nhau. Pháp luật của thế gian, là trừng
phạt người đã phạm tội, mà chẳng phòng ngừa phạm lỗi công hiệu. Có
giới tức không làm các điều ác, có sự giữ gìn tức làm các điều lành,
cho nên Phật pháp trợ giúp cho pháp luật, khiến cho người hiểu thấu
được đạo lý nhân quả báo ứng, mà chẳng tạo nghiệp ác trái với lương
tâm. Tóm lại, siêng tu giới định huệ, tức là làm các điều lành; diệt
trừ tham sân si, tức là đừng làm các điều ác.
Vào đời Ðường ông Thái thú Bạch Cư Dị hỏi vị Thiền sư Ô Sào rằng :
‘’Phật pháp là gì‘’?
- Thiền sư nói :
‘’Ðừng làm các điều ác,
Hãy làm các điều lành.’’
- Ông Bạch Cư Dị nói : ‘’Ðạo lý này, con nít ba tuổi đều biết.’’
- Thiền sư nói : ‘’Tuy con nít ba tuổi đều biết, song ông già tám
mươi làm chưa xong.’’
Thật là như vậy, cho nên Phật giáo chú trọng về hiểu và làm phải
tương ưng, biết mà không làm cũng như không biết.
‘’Xưa trong vô biên biển đại kiếp.’’ Thuở xưa, Phật trải qua đại
kiếp số nhiều vô lượng vô biên như biển cả, cho nên gọi là biển đại
kiếp.
‘’Tu trì tịnh giới Ba la mật.’’ Tu hành giới báu kim cang quang minh
rất thanh tịnh. Giới có năm giới, tức là chẳng giết hại, chẳng trộm
cắp, chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu. Lại có tám giới,
tức cũng là Bát quan trai giới. Hai thứ giới này là giới người tại
gia thọ trì. Lại có mười giới, đây là giới của Sa Di và Sa Di Ni thọ
trì. Tỳ Kheo có hai trăm năm mươi giới, Tỳ Kheo Ni có ba trăm bốn
mươi tám giới, đây là giới của người xuất gia thọ trì. Còn có giới
Bồ Tát, mười giới trọng bốn mươi tám giới khinh, đây là giới của
người tại gia và xuất gia đều có thể thọ trì. Ðủ thứ giới tướng, đều
phải thân tâm thọ trì tịnh giới Ba la mật này, thì mới đạt đến Niết
Bàn thanh tịnh bờ bên kia.
‘’Nên chứng tịnh thân khắp mười phương.’’ Vì Phật tu hành tất cả
giới luật, tu hành đủ thứ pháp lành, giáo hóa tất cả chúng sinh, cho
nên chứng được pháp thân thanh tịnh, mới đầy khắp mười phương pháp
giới.
‘’Diệt các khổ nặng của thế gian.’’ Phật bình đẳng tiệu diệt hết
thảy khổ nặng của thế gian, khiến tất cả chúng sinh thế gian đều
được an lạc.
Thuở xưa tu hành nhẫn thanh tịnh
Tin hiểu chân thật chẳng phân biệt
Cho nên sắc tướng đều viên mãn
Khắp phóng quang minh chiếu mười phương.
Bốn câu kệ này, nói về nhẫn nhục Ba la mật, tức là bị người nhiễu
loạn khinh khi, phải nhẫn thọ chẳng phát tác. Nhẫn những việc mà
người khác nhẫn không được, không nhẫn được cũng phải nhẫn, đây là
hạnh môn quan trọng nhất của người tu hành. Muốn minh bạch Phật
pháp, thì không thể quên pháp nhẫn nhục. Có người mắng bạn, bạn phải
nhẫn, có người đánh bạn, bạn cũng phải nhẫn, thậm chí có người giết
bạn, bạn càng phải nhẫn thọ, không sinh tâm sợ hãi, đây là sức nhẫn
lớn nhất, người chẳng có công phu sâu dày thì làm chẳng được. Chẳng
những thân phải nhẫn, mà tâm cũng phải nhẫn. Có người mắng bạn,
chẳng những miệng không nói lại, mà tâm cũng chẳng sân hận. Có người
đánh bạn, chẳng những không đánh lại, mà trong tâm cũng chẳng sinh
tâm báo thù. Bạn nhẫn được như thế, thì có vô lượng công đức. Tôi
thường nói :
‘’Nhẫn là báu vô giá
Mọi người xử không tốt
Nếu nhẫn chịu đựng được
Mọi sự đều tốt đẹp’’.
Ðây là nhẫn nhục Ba la mật, tức là báu vô giá, nếu mọi người đối xử
không tốt, mà nhẫn chịu đựng được, thì bất cứ làm gì, chắc chắn đều
thành công viên mãn.
Bồ Tát Di Lặc có nói :
‘’Lão Tăng mặc áo vá
Cơm hẩm no đầy bụng
Áo vá che rét lạnh
Vạn sự hãy tùy duyên.’’
Lão Tăng tôi chỉ mặc áo rách vá lại, tôi chỉ ăn cơm đạm bạc, chẳng
có mùi vị gì, ăn no thì thôi. Áo vá của tôi mặc để che rét lạnh. Bất
cứ việc gì đều phải tùy duyên, không chấp trước.
Lại nói :
‘’Có người mắng lão quê,
Lão quê chỉ nói tốt
Có người đánh lão quê,
Lão quê nằm lăn ra.’’
Nếu như có người đến mắng tôi, thì tôi nói tốt; nếu có người muốn
đánh tôi, thì tôi nằm lăn ra, giống như ngủ chẳng biết gì.
Lại nói :
‘’Khạc nhổ vào mặt lão
Để nó tự khô lấy
Tôi cũng chẳng nhọc sức
Họ cũng chẳng phiền não.’’
Nếu có người nhổ nước bọt vào mặt tôi, thì tôi cũng chẳng lấy tay
chùi, để nó khô tự nhiên, như thế thì tôi cũng chẳng nhọc sức, họ
cũng chẳng có phiền não.
Lại nói :
‘’Ðó là Ba la mật,
Châu báu ở trong diệu
Nếu làm được như thế
Lo gì đạo chẳng thành.’’
Nhục Ba la mật là bảo bối ở trong diệu, nếu làm được những gì Ngài
nói, lo gì đạo nghiệp chẳng thành tựu !
Các vị ! Ai tu được nhẫn nhục Ba la mật, thì người đó độ lượng rất
lớn, các bạn thấy đó. Tại sao bụng của Bồ Tát Di Lặc lớn như thế ?
Vì Ngài nhẫn được việc thiên hạ chẳng nhẫn được. Khoan hồng đại
lượng, thì nhẫn thọ được tất cả mọi việc. Bụng của Bồ Tát Di Lặc
dung nạp được tất cả, chẳng giống như bụng của chúng ta, chẳng dung
nạp được chuyện nhỏ như hạt mè. Người ta nói một câu thì chịu không
được, hoặc thấy được cảnh giới gì đó, thì dung chẳng được. Người đó
đối với tôi ra sao ? Người đó đối với tôi như thế nào ? Suốt ngày
đến tối, chất chứa những việc đó đầy dẫy trong bụng.
Còn có một bài kệ khen ngợi Bồ Tát Di Lặc :
‘’Mở miệng cười, ít nói chuyện.
Bao lớn chẳng to bằng bụng,
Trước mắt phước báo thường bay đến,
Vì Ngài vạn vật dung chứa được.’’
Bồ Tát Di Lặc luôn luôn đều cười, rất ít nói chuyện, Ngài mang trên
vai túi vải lớn (sau này gọi Ngài là Bố Ðại Hòa Thượng), chưa lớn
bằng bụng của Ngài. Ngài luôn luôn có phước báo lớn, thường bay đến
trước mặt Ngài. Vì sao Ngài có phước báo lớn như thế ? Vì Ngài có
công phu nhẫn nhục, bất cứ việc gì đều chẳng tranh luận với ai, nên
Ngài chứng được vô tranh tam muội. Tất cả mọi sự đều bao dung ở
trong bụng. Có câu đối liễn rằng :
Mở miệng thường cười,
Cười kẻ thiên hạ đáng cười.
Bụng lớn dung chứa,
Chứa việc thiên hạ khó nhẫn.’’
Do đó, có câu : ‘’Tâm rộng thể mập‘’, phàm là người lạc quan, hầu
như đều mập mạp. Bồ Tát Di Lặc đại biểu tượng trưng cho "lạc thiên
phái", Ngài là vị giáo chủ ở đời vị lai, tương lai sẽ đến nhân gian
hoằng dương chánh pháp, bây giờ đang ở trên nội viện cung trời Ðâu
Suất, giảng kinh thuyết pháp.
‘’Thuở xưa tu hành nhẫn thanh tịnh.’’ Thuở xưa khi Phật tại nhân
địa, thì tu hành pháp môn nhẫn nhục thanh tịnh.
‘’Tin hiểu chân thật chẳng phân biệt.’’ Phật tin hiểu chân thật
chẳng có phân biệt, đối đãi với chúng sinh đều bình đẳng, xem tất cả
chúng sinh đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong tương lai.
Tức nhiên là cha mẹ trong quá khứ, thì không thể không hiếu thảo với
cha mẹ, tức nhiên là chư Phật ở đời vị lai, thì không thể nào không
cung kính chư Phật, cho nên phải tu hạnh môn nhẫn nhục.
‘’Cho nên sắc tướng đều viên mãn.’’ Bởi nhân duyên đó, cho nên khi
Phật thành Phật, thân thể đặc biệt rất viên mãn, tướng mạo đặc biệt
trang nghiêm.
‘’Khắp phóng quang minh chiếu mười phương.’’ Quang minh nhẫn nhục
của Phật chiếu sáng khắp mười phương, khiến cho tất cả chúng sinh tu
nhẫn nhục, sớm thành Phật đạo.
Thuở xưa siêng tu nhiều biển kiếp
Chuyển được chướng nặng của chúng sinh
Nên phân thân được khắp mười phương
Đều hiện dưới bồ đề thụ vương.
Bốn câu kệ này là nói về tinh tấn Ba la mật, tinh tấn có ba ý nghĩa
:
1). Bị giáp.
2). Nhiếp thiện.
3). Lợi lạc.
1). Bị giáp : Giống như quân nhân tác chiến thời xưa, đều mặc áo
giáp phòng vệ vũ khí của kẻ địch. Bị giáp nói ở đây là áo giáp tinh
tấn, chỉ hướng về trước chứ không thối lùi, cũng giống như tác
chiến, nhất định phải thắng lợi, không thể bại được.
Tin niệm thắng lợi ở đây dùng gì để chi trì ? Tức là phát đại thệ
nguyện, dùng đại thệ nguyện để chi trì, giống như người xuất gia,
nhất định phải phát đại thệ nguyện, chỉ có tiến về trước, không thể
lùi về sau. Không thể hằng ngày khởi vọng tưởng hoàn tục, bằng không
thì chẳng có áo giáp tinh tấn. Bất cứ gặp cảnh giới gì, không nên
sinh tâm thối chuyển, phải vì Phật giáo nỗ lực, vì Phật giáo chí
nguyện hy sinh. Tóm lại, tất cả đều vì Phật giáo, đây là áo giáp
tinh tấn phát đại thệ nguyện.
2). Nhiếp thiện : Tức là dùng đủ thứ
pháp môn phương tiện, để hướng về đạo bồ đề phía trước. Chẳng những
mình đi trên con đường đạo bồ đề, mà cũng dạy chúng sinh đi trên con
đường đạo bồ đề, mọi người cùng nhau tiến về trước, mọi người cùng
nhau đến tu hành. Ðây là nhiếp trì căn lành của chúng sinh, đều
thành Phật đạo.
3). Lợi lạc : Tức là lợi ích khoái lạc
tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, đắc được vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
‘’Thuở xưa siêng tu nhiều biển kiếp.’’ Phật thuở xưa siêng tu hạnh
môn tinh tấn, càng ngày càng tinh tấn, càng ngày càng dụng công,
trải qua nhiều biển kiếp mới tu thành công, chứng được quả vị Phật.
‘’Chuyển được chướng nặng của chúng sinh.’’ Phật có thể chuyển
nghiệp chướng sâu nặng, chướng ngại đạo bồ đề của chúng sinh, tức
cũng là chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển sinh tử thành Niết Bàn.
‘’Nên phân thân được khắp mười phương.’’ Cho nên, Phật phân thân đầy
khắp mười phương pháp giới.
‘’Ðều hiện dưới bồ đề thụ vương.’’ Hết thảy phân thân hoàn toàn,
hiện nơi Ðạo tràng bồ đề thụ vương.
Phật tu lâu xa vô lượng kiếp
Thiền định biển lớn khắp thanh tịnh
Nên khiến người thấy tâm hoan hỷ
Phiền não chướng cấu đều trừ diệt.
Bốn câu kệ này, là nói về thiền định Ba la mật, hai chữ thiền định
là danh từ Trung, Ấn hợp lại. Thiền là tiếng Ấn Ðộ, đáng lẽ đọc là
thiền na, dịch là "tĩnh lự", ngừng bặt tư lự, không khởi vọng tưởng.
Ðịnh là tiếng Trung
Quốc, nghĩa là "định lực", không lệch không tà là
chánh, không suy không nghĩ là định. Khi nào chẳng có vọng tưởng,
thì lúc đó chứng được cảnh giới khai ngộ.
Thiền tông là Phật giáo chân chánh của Trung
Quốc, vào thời Ðông Tấn, Pháp sư Ðạo Sinh đề ra lý
luận đốn ngộ, trồng xuống hạt giống bồ đề, đến đời Ðường, thời Lục
tổ Huệ Năng, mới khai hoa kết trái. Ðây có thể nói là cách mạng của
Phật giáo, chẳng nặng về hình thức, chuyên tu tâm. Từ đó về sau, lập
ra bốn tiêu chuẩn là :
1). Giáo ngoại biệt truyền (truyền ngoài giáo lý).
2). Bất lập văn tự (chẳng cứ chữ nghĩa).
3). Trực chỉ nhân tâm (chỉ thẳng tâm người)
4). Kiến tánh thành Phật (thấy tánh thành Phật).
Thiền có nhiều thứ, phần lớn chỉ nói về Như Lai thiền và Tổ Sư
thiền. Như Lai thiền là thiền nguyên thủy ở Ấn Ðộ, tức cũng là thiền
tiểu thừa, ngồi thì chú ý điều tâm và điều hơi thở, tay chân tư thế
đều có quy định. Tổ Sư thiền là trải qua sự cải cách của các vị Tổ
Sư, hình thức tự do hơn, tức là tại núi rừng, động, cốc, đều là nơi
tham thiền, không nhất định là tại thiền đường, hoặc tịnh thất; chỉ
cần nhất tâm bất loạn, một bụi trần cũng không nhiễm, thì sẽ khai
ngộ. Không chú trọng về nghi thức, mà chuyên chú về tâm, cho nên vào
thời Ðường Võ Tông phá hoại Phật pháp, thì các tông phái khác của
Phật giáo đều ngã quật, chẳng chấn chỉnh được, chỉ có thiền tông vẫn
đứng vững, vì chẳng cần có hình thức chùa chiền, cũng chẳng cần có
hình thức kinh điển, cho nên chẳng ảnh hưởng thọ pháp nạn. Do đó,
Phật pháp ở Trung
Quốc, bảo tồn đến nay mà chẳng bị hủy diệt, có thể
nói là ‘’tục Phật huệ mạng‘’, nếu không thì thật không thể tưởng
tượng được.
‘’Phật tu lâu xa vô lượng kiếp.’’ Phật luôn luôn đều tu hành, trải
qua thời gian lâu dài vô lượng đại kiếp, chưa từng giải đãi mà siêng
tinh tấn.
‘’Thiền định biển lớn khắp thanh tịnh.’’ Phật tu pháp môn thiền
định, trải qua thời gian dài như biển kiếp, thảy đều thanh tịnh,
diệt sạch hết vọng tưởng thì trí huệ sinh ra, tức cũng là trí huệ
giải thoát.
‘’Nên khiến người thấy tâm hoan hỷ.’’ Cho nên, mới khiến cho chúng
sinh thấy được Phật, đều sinh tâm hoan hỷ luyến mộ.
‘’Phiền não chướng cấu đều diệt trừ.’’ Vì hoan hỷ, cho nên phiền não
chướng cấu đều tiêu trừ sạch hết, trí huệ cũng hiện tiền.
Xưa Như Lai tu các biển hạnh
Đầy đủ Bát nhã Ba la mật
Cho nên quang minh chiếu sáng khắp
Khắc phục tất cả tối ngu si.
Bốn câu kệ này nói về Bát nhã Ba la mật, Bát nhã dịch là "trí
huệ", vì trí huệ này là trí huệ xuất thế gian, chẳng phải là trí huệ
thế gian. Trí huệ thế gian có thể là thiện, lại có thể là ác. Trí
huệ xuất thế gian là thiện, chẳng phải ác; vì tôn trọng ý của nó,
cho nên gọi là Bát nhã. Bát nhã có ba thứ :
1). Văn tự Bát nhã : Tức là dùng văn tự để nói rõ chân lý như tam
tạng, mười hai bộ, tất cả kinh điển.
2). Quán chiếu Bát nhã : Tức là phải quán sát, phải chiếu rõ tất cả
kinh điển, mới có thể thấu hiểu chân lý. Giống như dùng ánh đuốc
chiếu soi đạo lý.
3). Thật tướng Bát nhã : Thật tướng là vô tướng, do đó có câu :
‘’Bát nhã phá hết các tướng.’’
Bất cứ vật gì, hình ảnh gì, cũng đều chẳng có hình tướng. Vô tướng
là gì ? Tức là trí huệ tự có, tức cũng là tự tâm. Tự tâm này thanh
tịnh tức là Bồ Tát, tự tâm này mê hoặc tức là chúng sinh.
‘’Xưa Như Lai tu các biển hạnh.’’ Thuở xưa Phật tu tất cả hạnh môn
nhiều như biển, tức cũng là tu hạnh môn Bát nhã trí huệ.
‘’Ðầy đủ Bát nhã Ba la mật.’’ Tại sao phải tu các biển hạnh ? Vì
muốn đắc được Bát nhã Ba la mật. Nếu tu hành đầy đủ rồi, thì sẽ qua
được biển phiền não ngu si một cách an toàn, đạt đến bờ bên kia trí
huệ.
‘’Cho nên quang minh chiếu sáng khắp.’’ Vì tu hạnh môn Bát nhã, cho
nên phát ra ánh sáng trí tuệ, chiếu khắp mười phương pháp giới.
‘’Khắc phục tất cả tối ngu si.’’ Phật khắc phục được tất cả ngu si
và vọng tưởng, phá sạch tất cả ngu si đen tối, chỉ có tồn tại trí
huệ quang minh, khiến cho tất cả chúng sinh cũng hiện ra trí huệ vốn
có. Trí huệ vốn có hiện ra như thế nào ? Chỉ có một biện pháp tức là
ngồi thiền. Ðây là phương pháp căn bản tu trí huệ. Ngồi đến lúc "Hà
xứ nhạ trần ai" (bụi bám ở chỗ nào) ? Tức cũng là lúc khai ngộ.
Đủ thứ phương tiện độ chúng sinh
Khiến sự tu hành đều thành tựu
Tất cả mười phương đều đến khắp
Vô biên tế kiếp chẳng nghỉ ngơi.
Bốn bài kệ này nói về phương tiện Ba la mật. Phương là phương pháp,
tiện là tiện lợi, tức cũng là thiện xảo. Phương tiện có hai thứ, tức
là hồi hướng phương tiện và bạt tế phương tiện. Do đại trí mà hồi
tiền lục độ, hướng đại bồ đề, đây là hồi hướng phương tiện. Do đại
bi mà hồi tiền lục độ, cứu tế hữu tình, đây là bạt tế phương tiện.
Trong câu kệ có nói : ‘’Ðủ thứ phương tiện độ chúng sinh’’ là cứu tế
phương tiện. ‘’Khiến sự tu hành đều thành tựu’’ là hồi hướng phương
tiện. Tóm lại, đây là độ về điều phục tất cả, cứu tế tất cả, phương
pháp hành hóa.
‘’Ðủ thứ phương tiện độ chúng sinh.’’ Phật dùng đủ thứ pháp môn
phương tiện khéo léo, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất
cả chúng sinh, trước hết do pháp phương tiện, sau đó đắc được pháp
chân thật.
‘’Khiến sự tu hành đều thành tựu.’’ Khiến cho tất cả chúng sinh, đối
với những hạnh môn tu hành, thảy đều hoàn toàn thành tựu.
‘’Tất cả mười phương đều đến khắp.’’ Phật đến khắp hết thảy cõi Phật
trong mười phương, để diễn nói diệu pháp; tức cũng là diễn nói diệu
pháp Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật này.
‘’Vô biên tế kiếp chẳng nghỉ ngơi.’’ Phật ở trong đại kiếp nhiều
chẳng có bờ mé, đều đi giáo hóa chúng sinh, vĩnh viễn chẳng nghỉ
ngơi. Phật chẳng phải vì mình, mà là vì tất cả chúng sinh, cho nên
mới đến độ tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khỏi sự khổ,
đắc được an vui. Chúng ta nên học tu Phật như thế, mới có thể báo
được ân của Phật.
Xưa Phật tu hành biển đại kiếp
Tịnh trị các nguyện Ba la mật
Cho nên xuất hiện khắp thế gian
Suốt kiếp vị lai cứu chúng sinh.
Bốn câu kệ này nói về nguyện Ba la mật, nguyện giống như chiếc
thuyền, chẳng những độ mình mà còn độ người, là đại nguyện đồng sinh
về tịnh độ. Nguyện có hai thứ :
1). Bồ đề nguyện, tức là trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh, tức
cũng là:
‘’Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.’’
2). Nguyện lợi lạc kẻ khác, tức cũng là từ bi hỷ xả, bốn tâm vô
lượng. Ðem sự lợi ích, an vui cho kẻ khác, đó là tinh thần Bồ Tát.
Ðối tượng của Kinh Hoa
Nghiêm nói
pháp, là pháp thân Đại sĩ, nơi nơi đều dùng Bồ Tát làm mục tiêu, lấy
lục độ vạn hạnh làm hạnh môn, do đó có câu :
‘’Tu hành không phát nguyện,
Nở hoa chẳng kết trái.’’
‘’Xưa Phật tu hành biển đại kiếp.’’ Thuở xưa Phật tu hành, trải qua
thời gian lâu dài biển đại kiếp.
‘’Tịnh trị các nguyện Ba la mật.’’ Phật tu hành tất cả đại nguyện,
chiếu theo nguyện đã phát ra mà tu hành, mỗi lời nguyện đều tịnh trị
thanh tịnh, chẳng có chút bụi bặm. Mỗi người tu đạo đều phải phát
đại nguyện, ai ai cũng chiếu theo lời nguyện mà tu hành. Phát nguyện
gì, thì phải y theo nguyện đó mà tu hành. Không nên ngày nay phát
nguyện, ngày mai quên mất. Phải luôn luôn y theo lời nguyện mình đã
phát ra mà tu hành, một chút cũng không thể giải đãi. Như thế thì
không nên khởi nhiều vọng tưởng, cũng không nên không giữ quy cụ,
cho nên ai ai cũng phải phát nguyện. Tại sao Phật thành Phật ? Vì
thuở xưa Phật đã từng phát nguyện, cho nên đặng thành Phật. Chúng ta
cũng phải phát nguyện, thì tương lai cũng sẽ thành Phật.
Chúng ta phát nguyện, phải luôn luôn giáo hóa chúng sinh, vĩnh viễn
chẳng nghỉ ngơi. Ví như phát nguyện ngủ ngồi không nằm, thì phải
luôn luôn ngủ ngồi không nằm; phát nguyện ngày ăn một bữa, thì phải
hằng ngày ăn một bữa; phát nguyện chẳng cất giữ tiền bạc, thì phải
luôn luôn chú ý, đừng coi trọng tiền bạc; phát nguyện đời đời kiếp
kiếp, muốn xuất gia tu học Phật pháp, hoằng dương
Phật pháp, thì đừng khởi vọng tưởng, cứ muốn hoàn
tục; phát nguyện hộ trì Phật pháp, thì phải luôn luôn hộ trì Tam
Bảo, trang nghiêm
Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo. Phải y chiếu lời
nguyện của mình mà tu hành, đó mới là tịnh trị.
‘’Cho nên xuất hiện khắp thế gian.’’ Vì Phật tu hành nguyện Ba la
mật, cho nên xuất hiện trong hết thảy thế gian.
‘’Suốt kiếp vị lai cứu chúng sinh.’’ Ðại nguyện của Phật phát ra, là
đời đời suốt kiếp vị lai, đều cứu độ tất cả chúng sinh.
Phật vô lượng kiếp rộng tu trị
Tất cả pháp lực Ba la mật
Do đó thành tựu tự nhiên lực
Hiện khắp mười phương các cõi nước.
Bốn câu này nói về lực Ba la mật, lực là sức lực, không thể khuất
phục, tiêu diệt sạch tất cả phiền não, tức cũng là pháp lực, suy
nghĩ lựa chọn các pháp mà tu tập, thứ lực này có thể đến thẳng bờ
bên kia.
‘’Phật vô lượng kiếp rộng tu trị.’’ Phật ở trong vô lượng kiếp rộng
tu hành. Trong lúc tu hành, có khi sinh ra các thứ phiền não, thì
luôn luôn có ma chướng đến khảo nghiệm định lực của bạn. Lúc đó
‘’Tâm không động‘’, là pháp bảo dùng nó để trị ma chướng, thì tự
nhiên bình an vô sự.
Bây giờ xin đưa ra ví dụ : Ví như chúng ta muốn tu bố thí Ba la mật,
lúc đang muốn thực hành bố thí, thì đột nhiên ý niệm thứ hai sinh ra
: ‘’Ta không thể bố thí, nếu bố thí thì chẳng còn tiền để ăn uống,
hoặc chẳng còn tiền để đi xe .v.v...’’ Do đó, chẳng tu bố thí Ba la
mật. Lúc đó, phải dùng trị để xử lý. Ví như có người bị bệnh, nhất
định muốn trị khỏi bệnh. Nếu nghĩ như thế này : ‘’Ôi ! Người này rất
là khổ, ta hãy bố thí cho họ ! Ta ăn bớt lại một chút cũng chẳng
sao, không có tiền đi xe, đi bộ cũng được.’’ Nghĩ như thế, thì sẽ
chữa khỏi bệnh san tham, chẳng những một việc là như thế, mà hết
thảy mọi việc đều như thế, đó tức là rộng tu trị.
‘’Tất cả pháp lực Ba la mật.’’ Phật tu hành tất cả các pháp, và hết
thảy tám vạn bốn ngàn pháp môn, đều là dùng sức lực của các pháp đến
bờ bên kia.
‘’Do đó thành tựu tự nhiên lực.’’ Vì tu hành đủ thứ pháp, đắc được
đủ thứ pháp lực đến bờ bên kia, nên thành tựu tự nhiên trí huệ lực.
‘’Hiện khắp mười phương các cõi nước.’’ Pháp thân trí huệ quang
minh, hiện khắp nơi các nước chư Phật trong mười phương, để vì chúng
sinh hiện thân thuyết pháp, đó là Phật lực.
Xưa Phật tu trị trí phổ môn
Tất cả trí tánh như hư không
Cho nên thành tựu vô ngại lực
Quang minh chiếu khắp mười phương cõi.
Bốn câu kệ này nói về trí Ba la mật. Trí này do sáu Ba la mật ở
trước thành tựu (từ bố thí đến Bát nhã), về sau đắc được trí huệ.
Lại do trí này, mà thành lập sáu Ba la mật ở trước, tức cũng là
thành tựu tất cả trí năng, do đó trí ‘’Thọ dụng pháp lạc, thành thục
hữu tình.’’
‘’Xưa Phật tu trị trí phổ môn.’’ Thuở xưa, khi Phật tu hành tại nhân
địa, tu trị trí huệ phổ môn thị hiện, tức cũng là bình đẳng trí.
‘’Tất cả trí tánh như hư không.’’ Bổn thể của trí là gì ? Giống như
hư không chẳng có hình tướng.
‘’Cho nên thành tựu lực vô ngại.’’ Vì nó như hư không, cho nên thành
tựu trí huệ lực vô ngại. Vô sở chướng ngại tức là bao quát hết thảy
Đại viên cảnh trí, Bình đẳng tánh trí, Diệu quán sát trí, Thành sở
tác trí.
‘’Quang minh chiếu khắp mười phương cõi.’’ Trí huệ quang minh của
Phật phóng ra, chiếu sáng khắp tất cả thế giới đen tối trong mười
phương, giáo hóa tất cả chúng sinh trong sáu nẻo, khiến cho họ sớm
thoát khỏi luân hồi, khai mở trí huệ, thành tựu quả vị Phật.
Có người hỏi : ‘’Tu trị và tịnh trị có gì khác nhau‘’? Ý nghĩa tu
trị là lúc ban đầu nghĩ muốn làm việc gì, chẳng được tự nhiên, về
sau dùng đủ thứ phương tiện pháp môn để đối trị, trị tốt những mao
bệnh này, đó gọi là tu trị. Ý nghĩa tịnh trị là có rất nhiều vọng
tưởng, tìm cách làm cho thanh tịnh; có rất nhiều nhiễm ô, làm cho nó
thanh tịnh. Ý nghĩa tu trị và tịnh trị chẳng khác gì mấy, bất quá tu
trị là trị lý tiêu cực, còn tịnh trị là trị tích cực, đây là điểm
khác nhau.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Vân Âm Tịnh Nguyệt, nương oai lực của đức
Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội trong đạo tràng, rồi
nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Vân Âm Tịnh Nguyệt, nương đại oai thần lực của
Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng hải hội ở trong đạo tràng, rồi
lập tức nói ra mười một bài kệ này.
Bài kệ đầu tiên trong mười một bài kệ này, là tổng quát ý nghĩa, còn
mười bài kệ kia là phân biệt giải thích đạo lý Thập địa. Thập địa
tức là:
1). Hoan hỷ địa.
2). Ly cấu địa.
3). Phát quang địa.
4). Diễm huệ địa.
5). Nan thắng địa.
6). Hiện tiền địa.
7). Viễn hành địa.
8). Bất động địa.
9). Thiện huệ địa.
10). Pháp vân địa.
Cảnh giới thần thông đồng hư không
Mười phương chúng sinh đâu chẳng thấy
Như xưa tu hành thành các địa
Trong quả ma ni đều nói đủ.
‘’Cảnh giới thần thông đồng hư không.’’ Cảnh giới thần thông của
Phật như hư không, chẳng có bờ mé.
‘’Mười phương chúng sinh đâu chẳng thấy.’’ Vì cảnh giới rộng lớn như
hư không, cho nên chúng sinh trong mười phương, thảy đều nhìn thấy
được.
‘’Như xưa tu hành thành các địa.’’ Giống như thuở xưa tu hành thành
tựu các quả vị, tức cũng là quả vị thập địa.
‘’Trong quả ma ni đều nói đủ.’’ Phật ở trong quả ma ni, đều hoàn
toàn diễn nói ra đầy đủ, tất cả cảnh giới thần thông diệu dụng,
khiến cho tất cả chúng sinh nghe được, đều biết thần thông diệu dụng
này không thể nghĩ bàn.
Thanh tịnh siêng tu vô lượng kiếp
Vào nơi sơ địa rất hoan hỷ
Sinh trí rộng lớn như pháp giới
Thấy khắp mười phương vô lượng Phật.
Bốn câu kệ này, là nói về cảnh giới Sơ địa, gọi là Hoan hỷ địa. Tại
sao hoan hỷ ? Vì đã phá được kiến, tư, hai hoặc (hai hoặc về thấy và
suy nghĩ), chứng được lý người và pháp đều không, đắc được thọ dụng
pháp hỷ sung mãn, thấu hiểu cảnh giới của chư Phật, cho nên hoan hỷ,
do đó gọi là Hoan hỷ địa.
‘’Thanh tịnh siêng tu vô lượng kiếp.’’ Thanh tịnh là chẳng có pháp ô
nhiễm nào, pháp ô nhiễm có hai thứ.
1). Pháp ô nhiễm có hình tướng, tức là cảnh giới bên ngoài.
2). Pháp ô nhiễm vô hình, tức là trong tâm ý của mình.
Lúc có hình tướng mà thực hành hạnh môn bất tịnh, thì tạo ra vô
lượng vô biên nghiệp chẳng thanh tịnh. Lúc vô hình mà khởi tư tưởng
không tịnh, thì tạo ra vô lượng vô biên nghiệp chẳng thanh tịnh. Khi
Phật tu hành tại nhân địa, thì luôn luôn giữ giới, cho nên được
thanh tịnh. Thanh tịnh rồi lại siêng năng tu hành hơn nữa.
Siêng tu thì không lười biếng phóng dật. Lười biếng tức là không
tinh tấn, phóng dật tức là không giữ quy cụ. Siêng tu tức là tinh
tấn, tinh tấn chẳng phải chỉ dụng công một ngày hai ngày, cũng chẳng
phải một năm hai năm, càng chẳng phải một đời hai đời, mà là dụng
công siêng tu giới định huệ mãi mãi không ngừng, trải qua thời gian
lâu dài vô lượng biển kiếp.
‘’Vào nơi sơ địa rất hoan hỷ.’’ Vì ở trong vô lượng kiếp, siêng tu
giới định huệ; ở trong vô lượng kiếp tiêu diệt tham sân si, như thế
mới vào được nơi sơ địa, chứng được quả vị Bồ Tát. Lúc đó, tâm giác
và tự tánh thông đạt, pháp hỷ sung mãn, thiền duyệt vi thực, hoan hỷ
vô cùng, cho nên gọi là hoan hỷ địa.
‘’Sinh trí rộng lớn như pháp giới.’’ Chứng được sơ địa Bồ Tát, thì
có trí huệ rộng lớn như pháp giới.
‘’Thấy khắp mười phương vô lượng Phật.’’ Có trí huệ rộng lớn rồi,
thì lúc đó mới thấy khắp vô lượng vô số chư Phật trong mười phương,
bèn cung kính cúng dường, gần gũi vô lượng chư Phật trong mười
phương.
Trong tất cả pháp Ly cấu địa
Đồng số chúng sinh giữ tịnh giới
Ở trong nhiều kiếp rộng tu hành
Cúng dường vô biên biển chư Phật.
Bốn câu kệ này, là nói về cảnh giới Nhị địa, gọi là Ly cấu địa. Tại
sao gọi là Ly cấu địa ? Vì đã lìa khỏi mọi pháp nhiễm ô, khiến cho
thân tâm thanh tịnh. Làm thế nào lìa cấu bẩn được ? Phải nhận chân
tu hành mới có sự cảm ứng, mới lìa khỏi cấu bẩn được. Nếu không nhận
chân tu hành, thì không thể có sự cảm ứng, càng không thể lìa khỏi
được phiền não cấu bẩn. Do đó, có câu:
‘’Bậc Sơ địa chẳng biết cảnh giới của bậc Nhị địa,
Bậc Thập địa chẳng biết cảnh giới của bậc Ðẳng giác.’’
Ở trong Phật pháp, sai một ly đi ngàn dặm. Cảm thấy sai không nhiều,
kết quả càng đi càng xa nhà, càng xa càng chẳng biết quay đầu lại.
Lìa cấu bẩn chẳng dễ gì làm được, cấu bẩn tức là pháp nhiễm ô, lìa
khỏi cấu bẩn tức là được thanh tịnh. Pháp nhiễm ô này khắp nơi đều
có. Các vị ! Các bạn hằng ngày đến nghe kinh, đến nghiên cứu Phật
pháp, cảm thấy rất bình thường, song biết đâu có những người muốn
nghe kinh, muốn nghiên cứu Phật pháp mà không thể được.
Lúc trước, tôi giảng kinh thì có chuyện này phát sinh: Có vợ chồng
đồng đến nghe kinh, hoặc có người chồng chẳng cho vợ đến nghe kinh,
hoặc có người vợ chẳng cho chồng đến nghe kinh. Có một vị phụ nữ rất
kiền thành tin Phật, thích nghe kinh, song chồng của bà ta cản trở,
chẳng cho bà ta đến chùa thắp hương lễ Phật, càng không cho bà ta
đến chùa để nghe kinh, nghe pháp, thường dùng hai chữ ‘’ly dị‘’ để
uy hiếp vợ. Một ngày nọ, ông ta nói với vợ : ‘’Nếu bà mà đi nghe
kinh nữa, thì chúng ta sẽ ly dị.’’ Song, bà vợ chẳng sợ sự uy hiếp
ly dị, vẫn cứ đi. Ông ta chẳng có cách gì hơn, đã hơn bảy mươi tuổi
mà còn ly dị sao ? Mới lấy tấm hình kết hôn, dùng kéo cắt làm hai
ném xuống nền nhà, đó là biểu thị ly dị. Khi bà vợ trở về nhà thấy
vậy thì buồn cười. Ðó là ma chướng, trở ngại bà này tăng trưởng căn
lành.
Người trên thế gian có rất nhiều trường
hợp như thế, đều ở trong xấu có tốt, trong tốt có xấu. Muốn thật sự
lìa khỏi cấu bẩn được giải thoát, thật là việc chẳng dễ dàng. Nghĩ
muốn đắc được tự do tự tại, cũng là việc hết sức khó khăn.
‘’Trong tất cả pháp Ly cấu địa.’’ Ly cấu địa tức là lìa khỏi pháp ô
nhiễm, buông xả pháp nhiễm ô, thành tựu pháp thanh tịnh.
‘’Ðồng số chúng sinh giữ tịnh giới.’’ Tu đến Nhị địa (địa thứ hai),
thì dùng số kiếp nhiều như số chúng sinh, để tu trì giới pháp thanh
tịnh. Có người sau khi thọ năm giới, chẳng những chẳng giữ giới, mà
mình còn chẳng biết sửa đổi lỗi lầm, chẳng nghe sự khuyên bảo, cho
nên nhất định phải biết sửa đổi lỗi, thì chẳng có việc thiện nào lớn
bằng.
‘’Ở trong nhiều kiếp rộng tu hành.’’ Chứng được Bồ Tát Nhị địa, thì
phải trải qua nhiều đại kiếp rộng tu hành, chẳng giải đãi, chẳng
lười biếng, chẳng phóng dật. Chỉ có tinh tấn hướng về trước, chẳng
lùi về sau.
‘’Cúng dường vô biên biển chư Phật.’’ Nhị địa Bồ Tát tu hành tại
nhân địa, thì phải rộng tu hạnh môn cúng dường. Cho nên, cúng dường
vô biên vô tận các Ðức Phật như biển cả, mới chứng được địa vị này.
Do đó, Bồ Tát tu hành ở trong các pháp môn, thì chuyên tu pháp môn
cúng dường vô biên biển chư Phật.
Tích tập phước đức Phát quang địa
Xa ma tha tạng nhẫn kiên cố
Mây pháp rộng lớn đều đã nghe
Trong quả ma ni nói như thế.
Bốn câu kệ này, nói về cảnh giới Phát quang địa thứ ba. Tại sao gọi
là Phát quang địa ? Vì khi còn ở Nhị địa, thì tích tập công đức vô
lượng, lúc đó nội tâm thanh tịnh đến cực điểm, tự tánh quang minh
bèn phát ra.
Chúng ta tu hành Phật pháp, phải tích tập phước đức, đừng cho rằng
công đức nhỏ mà không làm. Nên biết, công đức nhỏ mà làm nhiều, thì
thành công đức lớn, công đức lớn là do công đức nhỏ tích tụ mà
thành. Người thời xưa thì ăn ít mặc ít, dùng bớt tài vật lại để làm
công đức. Công đức tuy nhỏ, xong vẫn phải làm mới có công đức. Không
làm thì chẳng có công đức. Tại sao chúng ta gặp hoàn cảnh khó khăn ?
Vì chúng ta thuở xưa chẳng làm công đức, cho nên cuộc sống đời này
khó khăn, hoàn cảnh khốn khổ, tất cả đều chẳng thuận lợi. Nếu làm
nhiều công đức thì có quang minh, đó là biểu hiện của phước đức.
‘’Tích tập phước đức Phát quang địa.’’ Tích tập là do nhỏ thành lớn,
do ít thành nhiều, nghĩa là tụ lại với nhau. Phước đức tích tập càng
nhiều, thì quang minh tỏa ra càng lớn. Thứ quang minh này là biểu
hiện của phước đức, cho nên gọi là Phát quang địa.
‘’Xa ma tha tạng nhẫn kiên cố.’’ Xa ma tha nghĩa là "tịch tĩnh",
muốn tịch tĩnh thì phải có nhẫn kiên cố. Làm thế nào để có nhẫn kiên
cố ? Thì phải tu pháp tịch tĩnh, pháp tĩnh lự, tức cũng là tu chỉ,
tu định. Chẳng có vọng tưởng, chỉ ư chí thiện, thì phải có sức nhẫn
kiên cố.
‘’Mây pháp rộng lớn đều đã nghe.’’ Thứ mây pháp này rộng lớn vô
biên, cho nên tất cả chúng sinh đều đã nghe được.
‘’Trong quả ma ni nói như thế.’’ Trong quả ma ni trên cây bồ đề nói
pháp như thế, giống như đạo lý vừa nói ở trên.
Diễm hải huệ minh vô đẳng địa
Khéo rõ cảnh giới khởi từ bi
Tất cả cõi hiện thân bình đẳng
Như chỗ Phật tu đều diễn xướng.
Bốn câu kệ này nói về cảnh giới Diễm huệ địa. Vì địa này trí huệ rất
cao, hay khiến cho huệ tánh mãnh liệt. Lúc đó, tự tánh quang minh đã
đạt đến cực điểm, chánh giác đã viên mãn.
‘’Diễm hải huệ minh vô đẳng địa.’’ Trí huệ quang minh của Bồ Tát địa
thứ tư như biển cả, cho nên gọi là vô đẳng địa.
‘’Khéo rõ cảnh giới khởi từ bi.’’ Khéo thấu rõ tất cả cảnh giới thế
pháp. Tất cả cảnh giới thanh tịnh cũng minh bạch, tất cả cảnh giới
nhiễm ô cũng biết rõ, đối với tất cả chúng sinh ngu si đen tối, đều
phát tâm từ bi mà cứu hộ những chúng sinh này, gặp người có căn lành
thì khiến cho căn lành tăng trưởng.
‘’Tất cả cõi hiện thân bình đẳng.’’ Trong tất cả cõi nước trong mười
phương, đều hiện thân bình đẳng để giáo hóa tất cả chúng sinh.
‘’Như Phật sở tu đều diễn xướng.’’ Giống như pháp môn của Phật tu,
diệu pháp của Phật nói. Ngài cũng đến diễn nói, hoan hỷ nói pháp gì
thì nói pháp đó. Muốn nói đạo lý gì, thì nói đạo lý đó, chẳng có câu
thúc, chẳng có hạn chế, tức cũng tùy cơ thuyết pháp, tùy duyên
thuyết pháp. Thấy người gì thì nói pháp đó, tức cũng là vì người
thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc.
Phổ tạng đẳng môn Nan thắng địa
Động tĩnh thuận nhau chẳng trái nghịch
Cảnh giới Phật pháp đều bình đẳng
Như chỗ Phật tịnh đều nói được.
Bốn câu kệ này nói về cảnh giới Địa thứ năm, gọi là Nan thắng địa.
Tại sao gọi là Nan thắng địa ? Vì chân, tục, hai trí trái nhau,
khiến cho hợp lại, khiến cho thuận nhau. Lại có thể nói, đồng dị của
tất cả các pháp đều bất khả đắc.
‘’Phổ tạng đẳng môn Nan thắng địa.’’ Tạng pháp giới bình đẳng khắp
hết thảy, chẳng có gì hơn được, cho nên gọi là Nan thắng địa.
‘’Ðộng tĩnh thuận nhau chẳng trái nghịch.’’ Tại sao nói là nan thắng
? Vì động chẳng ngại tĩnh, tĩnh cũng là động. Ðộng tĩnh tùy thuận
với nhau chẳng trái nghịch. Tại phàm phu mà nhìn, thì động tức là
động, tĩnh tức là tĩnh, chẳng biết đạo lý chẳng tương phản. Ðến bậc
Nan thắng địa thì động tĩnh nhất như, động tĩnh chẳng hai, trong
động và tĩnh như nhau chẳng có phân biệt.
‘’Cảnh giới Phật pháp đều bình đẳng.’’ Tất cả Phật pháp, tất cả cảnh
giới đều bình đẳng.
‘’Như Phật sở tịnh đều nói được.’’ Giống như pháp môn của Phật tu
hành, Bồ Tát địa này đều nói ra được, đều có thể đại biểu cho Phật
để nói pháp, giáo hóa chúng sinh.
Tu hành rộng lớn huệ hải địa
Tất cả pháp môn đều biết rõ
Hiện khắp cõi nước như hư không
Trong cây diễn nói pháp âm này.
Bốn câu kệ này nói về cảnh giới Địa thứ sáu gọi là Hiện tiền địa.
Tại sao gọi là Hiện tiền địa ? Vì phát ra trí huệ thù thắng nhất,
hiện tiền chẳng có phân biệt tịnh và nhiễm. Lại gọi là Huệ hải địa,
trí huệ của Bồ Tát này như biển cả.
‘’Tu hành rộng lớn huệ hải địa.’’ Rộng lớn mà tinh tế, tu hành hết
thảy tất cả pháp môn, đắc được trí huệ như biển, cho nên gọi là Huệ
hải địa.
‘’Tất cả pháp môn đều biết rõ.’’ Vì tu hành rộng lớn, cho nên đều
biết rõ tám vạn bốn ngàn pháp môn, đều tu hành thành công.
‘’Trong cây diễn nói pháp môn này.’’ Trong cây bồ đề thụ vương, hết
thảy cõi nước mười phương, đều diễn nói tất cả pháp âm, để giáo hóa
tất cả chúng sinh.
Khắp cùng pháp giới thân hư không
Chiếu khắp chúng sinh đèn trí huệ
Tất cả phương tiện đều thanh tịnh
Xưa tu Viễn hành nay nói đủ.
Bốn câu kệ này nói về Địa thứ bảy, gọi là Viễn hành địa. Tại sao gọi
là Viễn hành địa ? Vì cùng tận chân như tự tánh viên tế, phát tâm
đại bi, lìa khỏi nhị thừa độ.
‘’Khắp cùng pháp giới thân hư không‘’. Ðến được Viễn hành địa, thì
pháp thân sở hiện có thể khắp cùng pháp giới, đồng như hư không.
‘’Chiếu khắp chúng sinh đèn trí huệ.’’ Tức nhiên chiếu khắp pháp
giới được, thì chiếu khắp chúng sinh được. Ðèn trí huệ của Bồ Tát
viễn hành địa, phóng ra ánh sáng chiếu soi khắp tất cả chúng sinh,
khiến cho chúng sinh chuyển nhiễm thành tịnh.
‘’Tất cả phương tiện đều thanh tịnh.’’ Hết thảy tất cả pháp môn
phương tiện, đều khiến cho tất cả chúng sinh, từ nhiễm ô chuyển
thành thanh tịnh, đắc được diệu pháp thân thanh tịnh.
‘’Xưa tu Viễn hành nay nói đủ.’’ Thuở xưa tu Viễn hành địa, bây giờ
nói ra diệu pháp này, cho tất cả chúng sinh nghe.
Tất cả hạnh nguyện thảy trang nghiêm
Vô lượng
cõi nước đều thanh tịnh
Hết thảy phân biệt chẳng lay động
Đây vô đẳng địa đều diễn nói.
Bốn câu kệ này nói về cảnh giới Địa thứ tám, gọi là Bất động địa.
Tại sao gọi là Bất động địa ? Vì do tất cả nguyện lực thành tựu. Ðến
được Bồ Tát địa này, thì như như bất động, liễu liễu thường minh,
cho nên gọi là Bất động địa. Chúng ta tu hành phải phát nguyện kiên
cố, và nguyện lâu dài, phải đời đời kiếp kiếp, chiếu theo lời nguyện
của mình mà tu hành, mới từng bước từng bước tiến đến Bất động địa.
‘’Tất cả hạnh nguyện thảy trang nghiêm.’’ Chư Phật quá khứ và tất cả
Bồ Tát, đều do tất cả lời nguyện trang nghiêm mà thành tựu. Nguyện
chỉ tăng thêm chứ đừng thối lùi. Nguyện thối lùi là biểu hiện giải
đãi. Bổn lai vốn sớm thành Phật, song vì nguyện thối lùi mà mất công
phu, không thể có sự thành tựu.
Các bạn ! Phải nhận rõ mục đích, phát nguyện rồi không nên sửa đổi
lại. Nếu sửa đổi lời nguyện lại, thì giống như tự đọa vào địa ngục,
đó là trong kinh Phật có nói. Các bạn xem ! Chư Phật và Bồ Tát đều
giữ theo lời nguyện của mình mà đi thực hành. Bồ Tát Ðịa Tạng có
phát nguyện rằng :
‘’Ðịa ngục chưa trống không,
Thề không thành Phật.’’
‘’Vô lượng cõi nước đều thanh tịnh.’’ Nguyện lực của Phật phát ra
phước đức trang nghiêm, trải qua vô lượng cõi nước đều thanh tịnh
chẳng nhiễm.
‘’Hết thảy phân biệt chẳng lay động.’’ Hết thảy tất cả tâm phân biệt
cũng chẳng lay động, kiên cố như kim cang, chẳng có cách chi phá
hoại được.
‘’Ðây vô đẳng địa đều diễn nói.’’ Bất động địa này diệu chẳng có gì
sánh bằng, cho nên nói ra hết hoàn toàn.
Vô lượng cảnh giới sức thần thông
Khéo vào giáo pháp sức quang minh
Đây là thanh tịnh Thiện huệ địa
Biển kiếp tu hành đều nói đủ.
Bốn câu này nói về Địa thứ chín, gọi là Thiện huệ địa. Tại sao gọi
là Thiện huệ địa ? Vì có đầy đủ mười trí huệ lực, cầu khắp mọi nơi,
biết chúng sinh có thể độ, không thể độ, vì họ thuyết pháp, cho nên
gọi là Thiện huệ địa.
‘’Vô lượng cảnh giới sức thần thông.’’ Cảnh giới của Phật như biển
cả, cho nên nói là vô lượng. Cảnh giới này do sức thần thông biến
hóa.
‘’Khéo vào giáo pháp sức quang minh.’’ Sức thần thông này, khéo diễn
nói tất cả giáo lý và tất cả các pháp. Khiến cho tất cả chúng sinh
minh bạch giáo lý và pháp này, đắc được sức trí huệ quang minh.
‘’Ðây là thanh tịnh Thiện huệ địa.’’ Ðây là thanh tịnh Thiện huệ
địa, đắc được bổn thể tự tánh.
‘’Biển kiếp tu hành đều nói đủ.’’ Muốn đắc được cảnh giới Thiện huệ
địa này, phải tu hành thời gian lâu dài mới thành tựu được. Hiện tại
đều hoàn toàn diễn nói ra hết, khiến cho tất cả chúng sinh, biết
hạnh môn của chư Phật tu trong quá khứ.
Pháp vân rộng lớn Địa thứ mười
Hàm tàng tất cả khắp hư không
Cảnh giới chư Phật diễn trong âm
Âm này là thần lực của Phật.
Bốn câu kệ này nói về cảnh giới Địa thứ mười, gọi là Pháp vân địa.
Tại sao gọi là Pháp vân địa ? Vì thành tựu trí Ba la mật, sinh ra
nước pháp công đức, giống như vầng mây lớn, mưa xuống nước thanh
tịnh như cam lồ, khiến cho người nghe pháp thân tâm mát mẻ.
‘’Pháp vân rộng lớn Địa thứ mười.’’ Thứ pháp vân này rộng lớn khắp
mười phương. Ðây là địa (bậc) Bồ Tát cuối cùng, tức là Pháp vân địa,
lúc tu tập hạnh Bồ Tát, công đức đã viên mãn.
‘’Hàm tàng tất cả khắp hư không.’’ Pháp vân khắp hư không, ở trong
hư không lại hàm tàng tất cả, tất cả cũng bao hàm ở trong hư không.
‘’Cảnh giới chư Phật diễn trong âm.’’ Hết thảy cảnh giới của tất cả
chư Phật trong mười phương ba đời, đều ở trong pháp âm không thể
nghĩ bàn của Pháp vân địa diễn nói ra.
‘’Âm này là thần lực của Phật.’’ Thứ pháp âm này, là đại oai thần
lực của chư Phật mười phương ba đời, đều cùng diễn nói ra diệu âm.
Ðây là cảnh giới của mười địa (bậc) Bồ Tát, do tu mười Ba la mật mà
thành tựu. Ví như tu bố thí Ba la mật mà thành tựu Sơ địa, cho đến
tu trí Ba la mật mà thành tựu Thập địa. Hiện tại giải thích sơ lược
về Thập địa, đến quyển thứ hai mươi sáu, mới giải thích tỉ mỉ về
nghĩa lý Thập địa.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Thiện Dũng Mãnh Quang Tràng, nương oai thần
của đức Phật, quán sát mười phương, rồi nói bài kệ rằng.
Lúc đó, vị đại Bồ Tát Thiện Dũng Mãnh Quang Tràng, nương đại oai
thần lực của Phật, quán sát khắp mười phương pháp giới, lập tức nói
ra mười bài kệ này.
Vô lượng chúng sinh trong pháp hội
Đủ thứ tâm tin hiểu thanh tịnh
Thảy đều ngộ nhập trí Như Lai
Thông đạt tất cả cảnh trang nghiêm.
‘’Vô lượng chúng sinh trong pháp hội.’’ Phật thuyết pháp ở trong
pháp hội, có vô lượng vô biên chúng sinh đang nghe pháp.
‘’Ðủ thứ tâm tin hiểu thanh tịnh.’’ Mỗi loài chúng sinh, đắc được
lợi ích tuy khác nhau, song tâm tin hiểu đều giống nhau, đều được
thanh tịnh.
‘’Thảy đều ngộ vào trí Như Lai.’’ Hoàn toàn đều minh bạch trí huệ
của Phật. Trí huệ của Phật tức là đại viên cảnh trí.
‘’Thông đạt tất cả cảnh trang nghiêm.’’ Tất cả cảnh giới trang
nghiêm của Phật, các Ngài đều thấu rõ thông đạt.
Đều khởi tịnh nguyện tu các hạnh
Thảy từng cúng dường vô lượng Phật
Thấy được thể chân thật của Phật
Và tất cả thần thông biến hóa.
‘’Ðều khởi tịnh nguyện tu các hạnh.’’ Hết thảy chư Phật và các Bồ
Tát, khi tu hành ở tại nhân địa, đều phát nguyện thanh tịnh, mới tu
đủ thứ hạnh môn. Mỗi vị Phật và mỗi vị Bồ Tát, đều do nguyện lực mà
thành tựu. Ðức Phật Thích Ca phát bốn đại nguyện, Phật Dược Sư phát
mười hai đại nguyện, Phật A Di Ðà phát bốn mươi tám đại nguyện. Bồ
Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Ðịa Tạng, các đại Bồ Tát đều phát
đại nguyện. Nếu chẳng có nguyện lực, thì không thể thành Phật hoặc
Bồ Tát, cho nên phát nguyện là người tu hành phải có.
‘’Thảy từng cúng dường vô lượng Phật.’’ Hết thảy chư Phật, chư Bồ
Tát, đều đã từng cúng dường vô lượng vô số các đức Phật, mới có thể
thành Phật, thành Bồ Tát, mới có thể thọ nhận sự cúng dường của tất
cả chúng sinh.
‘’Thấy được thể chân thật của Phật.’’ Mới có thể thấy được thể chân
thật của Phật, tức cũng là pháp thân của Phật.
‘’Và tất cả thần thông biến hóa.’’ Và hết thảy tất cả thần thông
biến hóa vô cùng diệu dụng.
Hoặc có người thấy pháp thân Phật
Vô đẳng vô ngại khắp hết thảy
Tất cả vô biên các pháp tánh
Đều vào thân đó vô bất tận.
‘’Hoặc có người thấy pháp thân Phật.’’ Hoặc có chúng sinh ở trong
pháp thân của Phật, thấy được Phật pháp thân. Vì tất cả chúng sinh
đều ở trong pháp thân của Phật, cho nên không thể thấy được pháp
thân của Phật. Bất quá, chúng sinh có căn lành lớn, thì thấy được
pháp thân của Phật.
‘’Vô đẳng vô ngại khắp hết thảy.’’ Pháp thân của Phật là vô tại vô
bất tại, ‘’tận hư không biến pháp giới‘’ pháp thân của Phật rất thù
thắng, cho nên chẳng có gì bằng pháp thân của Phật. Pháp thân Phật
đặc biệt thanh tịnh, cho nên chẳng có chướng ngại. Vì thù thắng
thanh tịnh, vô đẳng vô ngại, cho nên thông khắp hết thảy, rộng lớn
chẳng có bờ mé, chẳng có gì mà không bao dung.
‘’Tất cả vô biên các pháp tính.’’ Hết thảy tất cả các pháp tính của
chúng sinh, vô bất tại trong pháp thân của Phật.
‘’Ðều vào trong đó vô bất tận.’’ Hết thảy tất cả Phật pháp, chúng
sinh pháp, tâm pháp, đều ở trong pháp thân của Phật. Tuy chúng sinh
ở trong pháp thân của Phật, song cũng chẳng biết ở trong pháp thân
của Phật. Tại sao ? Vì bị vô minh chướng ngại quá sâu, cho nên chẳng
thấy được pháp thân của Phật. Ví như một con kiến nhỏ ở trên chiếc
thuyền lớn, con kiến này thủy chung vẫn chẳng thấy được bờ mé của
chiếc thuyền, tức là chẳng biết chiếc thuyền là gì. Pháp thân của
Phật cũng giống như chiếc thuyền lớn, chúng ta chúng sinh giống như
con kiến nhỏ, kiến chẳng thấy được bờ mé của chiếc thuyền. Tuy chúng
ta ở trong pháp thân của Phật, mà chẳng biết có pháp thân của Phật,
nhìn chẳng thấy pháp thân của Phật. Vì nhìn chẳng thấy cho nên chẳng
biết. Song, trong đó có chúng sinh nhìn thấy được pháp thân của
Phật, vì có căn lành lớn, đời đời kiếp kiếp tu hành Phật pháp, cho
nên có cơ duyên này, tức cũng là cảm ứng đạo giao. Ví dụ như nếu
thành tâm niệm ‘’Nam Mô A Di Ðà Phật‘’, sáu chữ liên tục không
ngừng, đến lúc vãng sanh, thì nhất định sẽ thấy ba vị Thánh ở cõi
Phương Tây đến tiếp dẫn. Sơ tổ của tông tịnh độ là Ngài Huệ Viễn, ở
chùa Ðông Lâm núi Lư Sơn đề xướng niệm Phật, thành lập Liên Xã.
Chẳng những ngài nhìn thấy Phật A Di Ðà ba lần rồi vãng sinh, mà cư
sĩ Lưu Di Dân cũng thấy ba vị Thánh hai lần rồi vãng sinh. Từ đó đến
nay, phàm ai thành tâm niệm Phật, đều có thứ cảnh giới này.
Hoặc thấy diệu sắc thân của Phật
Vô biên sắc tướng sáng rực rỡ
Tùy các chúng sinh hiểu khác nhau
Đủ thứ biến hiện trong mười phương.
‘’Hoặc thấy diệu sắc thân của Phật.’’ Ở trước nói về pháp thân thì
vô hình vô tướng, bây giờ nói sắc thân của Phật. Pháp thân thì vô
hình vô tướng, sắc thân thì có hình có tướng. Sắc thân tức là thân
trang nghiêm ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, hoặc có chúng sinh
thấy được diệu sắc thân của Phật.
‘’Vô biên sắc tướng sáng rực rỡ.’’ Có vô biên tướng tốt sáng chói
rực rỡ vô cùng vô tận.
‘’Tùy các chúng sinh hiểu khác nhau.’’ Tùy theo căn tánh khác nhau
của chúng sinh, nên kiến giải cũng khác nhau, do đó có câu :
‘’Phật dùng một âm thanh nói pháp,
Chúng sinh tùy loài đều hiểu rõ.’’
‘’Ðủ thứ biến hiện trong mười phương.’’ Tuy nhiên sự hiểu biết khác
nhau, song Phật có đủ thứ thần thông biến hóa, thị hiện trong mười
phương pháp giới, để giáo hóa tất cả chúng sinh.
Hoặc thấy vô ngại trí huệ thân
Ba đời bình đẳng như hư không
Khắp tùy tâm chúng sinh nói pháp
Đủ thứ sai biệt đều khiến thấy.
‘’Hoặc thấy vô ngại trí huệ thân.’’ Hoặc có loại chúng sinh thấy
được thân trí huệ vô ngại của Phật.
‘’Ba đời bình đẳng như hư không.’’ Quá khứ Phật cũng có trí huệ
thân, hiện tại Phật cũng có trí huệ thân, vị lai Phật cũng có trí
huệ thân, cho nên nói ba đời bình đẳng.
Trí huệ thân như thế nào ? Giống như hư không. Hư không lại như thế
nào ? Là không bờ không mé, biết được hình dáng của hư không, thì
biết được trí huệ thân.
‘’Khắp tùy tâm chúng sinh nói pháp.’’ Thân trí huệ này, tùy theo tâm
ưa thích của chúng sinh, mà chuyển bánh xe pháp, giáo hóa chúng
sinh, khiến cho chúng sinh minh bạch Phật pháp.
‘’Ðủ thứ khác biệt đều khiến thấy.’’ Dùng đủ thứ pháp phương tiện
khác nhau, khiến cho chúng sinh tỏ ngộ mà thấy trí huệ thân. Trí huệ
thân này, tức là trí thân trong mười thân.
Hoặc nghe rõ âm thanh của Phật
Khắp cùng mười phương các cõi nước
Tùy sự hiểu biết của chúng sinh
Vì họ diễn nói chẳng chướng ngại.
‘’Hoặc nghe rõ âm thanh của Phật.’’ Có chúng sinh thấu rõ âm thanh
của Phật nói pháp, tuy nhiên âm thanh của Phật là một thứ, song
người trời nghe là tiếng của người trời, súc sinh nghe là tiếng của
súc sinh, ngạ quỷ nghe là tiếng của ngạ quỷ, chẳng cần phiên dịch,
thảy đều hiểu rõ, song cũng có chúng sinh chẳng minh bạch. Vì chẳng
có duyên sâu dày với Phật, cho nên không thể minh bạch âm thanh của
Phật, dù nghe được cũng chẳng hiểu.
‘’Khắp cùng mười phương các cõi nước.’’ Từ âm của Phật, truyền bá
đến tất cả cõi Phật trong mười phương.
‘’Tùy sự hiểu biết của chúng sinh.’’ Tùy theo sự hiểu biết của tất
cả chúng sinh, mà đắc được lợi ích, bạn hiểu biết bao nhiêu thì minh
bạch bấy nhiêu. Giống như trời mưa, cây lớn thì hấp thụ lượng nước
nhiều, cây nhỏ thì đượm nhuần lượng nước ít, thảy đều được lợi ích.
‘’Vì họ diễn nói chẳng chướng ngại.’’ Vì mỗi loài chúng sinh, mà lời
nói phát ra đều chẳng có chướng ngại.
Hoặc thấy đủ thứ quang của Phật
Chiếu sáng khắp hết thảy thế gian
Hoặc có ở trong Phật quang minh
Lại thấy chư Phật hiện thần thông.
‘’Hoặc thấy đủ thứ quang của Phật.’’ Hoặc có loại chúng sinh, thấy
nhiều thứ quang minh của Phật.
‘’Chiếu sáng khắp hết thảy thế gian.’’ Ðủ thứ quang minh này, chiếu
sáng mười phương thế giới, khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ
đề, tu hạnh bồ đề, cùng thành Phật đạo.
‘’Hoặc có ở trong quang minh Phật.’’ Hoặc có loại chúng sinh ở trong
quang minh của Phật, thấy chư Phật, Bồ Tát hiện ra ở trong quang
minh để thuyết pháp.
‘’Lại thấy chư Phật hiện thần thông.’’ Lại thấy chư Phật, Bồ Tát ở
trong quang minh, hiện ra đủ thứ thần thông diệu dụng, có cảnh giới
không thể nghĩ bàn, tất cả chúng sinh thấy được cảnh giới này, đều
sinh tâm hoan hỷ tin nhận.
Hoặc thấy quang biển mây của Phật
Từ lỗ lông hiện sắc rực rỡ
Thị hiện đạo tu hành thuở xưa
Khiến sinh tin sâu vào Phật trí.
‘’Hoặc thấy quang biển mây của Phật.’’ Hoặc có loại chúng sinh, thấy
được quang biển mây của Phật. Ðó là biểu thị quang minh của Phật,
rộng lớn như biển cả và nhiều như mây.
‘’Từ lỗ lông hiện sắc rực rỡ.’’ Thứ quang minh này, từ trong lỗ chân
lông của Phật, hiện ra vô lượng vô biên quang biển mây, có đủ thứ
màu sắc rất rực rỡ phi thường.
‘’Thị hiện đạo tu hành thuở xưa.’’ Ðủ thứ quang minh và đủ thứ màu
sắc hiện ra ở trong lỗ lông, lại thị hiện ra đủ thứ pháp môn, đủ thứ
đạo của Phật tu, khi Ngài ở tại nhân địa. Giống như diễn kịch, từng
màn từng màn hiện ra ở trước chúng sinh, khiến cho chúng sinh y theo
pháp mà tu hành.
‘’Khiến sinh tin sâu vào Phật trí.’’ Tại sao phải thị hiện cảnh giới
này ? Vì muốn khiến cho đại chúng ở trong pháp hội, tin sâu pháp này
mà khai ngộ, đắc được đại trí huệ của Phật.
Hoặc thấy tướng nghiêm phước của Phật
Và thấy phước này sinh từ đâu
Thuở xưa tu các Ba la mật
Ðều thấy rõ trong tướng của Phật.
‘’Hoặc thấy tướng nghiêm phước của Phật.’’ Hoặc có loại chúng sinh
lại thấy ba mươi hai tướng, và tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân của
Phật. Vì khi thuở xưa Phật tu hành, thì tu phước tu huệ, cho nên
phước huệ đều trang nghiêm. Phước cũng trang nghiêm, huệ cũng trang
nghiêm, cho nên gọi là ‘’Lưỡng Túc Tôn,’’ tức là phước cũng đầy đủ,
huệ cũng đầy đủ.
Lưỡng Túc Tôn ở đây chẳng phải là "hai chân" mà nghĩa là phước huệ
đều đủ (vì chữ lưỡng nghĩa là hai, chữ túc có nghĩa là chân, là đủ,
song chữ túc ở đây nghĩa là đầy đủ).
‘’Và thấy phước này sinh từ đâu.’’ Có loại chúng sinh thấy tướng
trăm phước trang nghiêm của Phật, song chẳng biết phước này từ đâu
đến ? Phước này do sự tu hành trung đạo mà đến. Cho nên phải tu
phước, tu huệ, phước huệ song tu. Giống như chiếc xe hai bánh, một
lớn một nhỏ thì tuyệt đối chẳng tiến về trước được, phải phát triển
đồng đều mới có hiệu quả. Do đó có câu :
‘’Tu phước không tu huệ,
Làm voi mang anh lạc;
Tu huệ chẳng tu phước,
La Hán ôm
bát không.’’
Tu phước như thế nào ? Tức là lợi ích chúng sinh, làm nhiều công
đức. Tu huệ như thế nào ? Tức là giảng kinh thuyết pháp, siêng tụng
kinh điển. Lợi ích chúng sinh thì tăng trưởng phước báo, trì tụng
kinh điển thì khai mở trí huệ.
‘’Thuở xưa tu các Ba la mật.’’ Thuở xưa tu mười độ Ba la mật, tu vạn
hạnh thì đến bờ bên kia.
‘’Ðều thấy rõ trong tướng của Phật.’’ Ðều nhìn thấy rõ ràng, phước
từ đâu đến ở trong tướng của Phật.
Công đức Như Lai không thể lường
Sung mãn pháp giới khắp bờ mé
Và dùng thần thông các cảnh giới
Nhờ Phật lực nên diễn nói được.
‘’Công đức Như Lai không thể lường.’’ Công đức của Phật rộng lớn vô
biên, không thể dò lường.
‘’Sung mãn pháp giới chẳng bờ mé.’’ Công đức của Phật sung mãn khắp
pháp giới, chẳng có bờ mé.
‘’Và dùng thần thông các cảnh giới.’’ Cảnh giới là sở hiện của thần
thông, thần thông diệu dụng này, và thần thông các cảnh giới không
thể nghĩ bàn.
‘’Nhờ Phật lực nên diễn nói được.’’ Nhờ mười phương chư Phật, và đại
oai thần lực của Ðức Phật Thích Ca, mới diễn nói được đạo lý này, sự
diệu dụng này và cảnh giới này.
Bấy giờ, Thế Giới Hải Hoa
Tạng Trang
Nghiêm, nhờ thần lực của đức Phật, mà tất cả mặt
đất, đều có sáu thứ mười tám tướng chấn động. Ðó là: Ðộng, biến
động, phổ biến động. Khởi, biến khởi, phổ biến khởi. Dũng, biến
dũng, phổ biến dũng. Chấn, biến chấn, phổ biến chấn. Hống, biến
hống, phổ biến hống. Kích, biến kích, phổ biến kích.
Khi nói xong bài kệ ở trên, thì Hoa
Tạng thế giới hải, nhờ đại oai thần lực của Phật,
phát sinh sáu thứ chấn động.
Hoa Tạng thế giới hải, là do đủ thứ loại thế giới mà thành. Thế giới
của chúng ta là thế giới Ta Bà, là từng thứ mười ba trong Liên Hoa
Tạng thế giới, ở trong Hoa
Tạng thế giới hải. Trong thế giới này, có vô lượng
vô biên thế giới, chẳng phải chỉ có thế giới của chúng ta ở, mà còn
có các thế giới khác. Tại sao đất phải chấn động ? Vì sức đại oai
thần thông của Phật, cho nên mới chấn động. Mặt đất đó có sáu thứ
chấn động khác nhau. Một thứ lại có ba dạng phát sinh, cộng thành
mười tám tướng chấn động.
Sáu thứ chấn động là: Chấn, hống, kích,
động, dũng, khởi. Chấn, hống, kích, thuộc về âm thanh; động, dũng,
khởi, thuộc về hình. Ðất động và đất chấn là do đủ thứ nhân duyên mà
phát sinh. Ðịa chấn tức là rung động, sẽ tạo thành tai hại to lớn.
Ðất động chỉ động động mà thôi chẳng có tai hại.
Nhân duyên mười thứ chấn động :
1). Nước động lớn, thì đất cũng chấn động.
2). Tất cả vị Thần tôn quý, muốn thử sức lực của mình lớn cỡ nào,
nên đất cũng chấn động.
3). Khi Phật nhập thai, thì đất cũng chấn động.
4). Khi Phật ra đời, đất cũng chấn động.
5). Khi Phật tu hành thành đạo chứng quả, thì đất cũng chấn động.
6). Khi Phật chuyển pháp luân, đất cũng chấn động.
7). Phật không thuyết pháp, không giáo hóa chúng sinh, đất cũng chấn
động.
8). Khi Phật vào Niết Bàn, đất cũng chấn động.
9). Ðại Tỳ Kheo có thần túc thông, tâm đắc được tự tại quán đất vô
tướng, dùng thần thông khiến cho đất chấn động.
10). Khi Phật thọ ký cho Bồ Tát : ‘’Ngươi tại thế giới nào thành
Phật,’’ lúc đó địa thần hoan hỷ, đất cũng chấn động.
Ngoài ra còn có bảy thứ chấn động :
1). Khiến cho tất cả ma sợ hãi, cũng có sự chấn động.
2). Khi thuyết pháp, khiến cho tâm của đại chúng chẳng tán loan,
cũng có tình hình đất chấn động.
3). Khiến cho chúng sinh phóng dật sinh tâm giác ngộ, đất cũng chấn
động.
4). Khiến cho tất cả chúng sinh biết được pháp tướng, đất cũng chấn
động.
5). Khiến cho tất cả chúng sinh quán sát được nơi thuyết pháp, đất
cũng chấn động.
6). Khiến cho căn lành của chúng sinh thành thục, đắc được giải
thoát, đất cũng chấn động.
7). Khiến cho tùy thuận chúng sinh, hỏi về chánh nghĩa, đất cũng
chấn động.
Ngoài ra còn có ba thứ chấn động :
1). Khiến cho chúng sinh bất thiện cải ác hướng thiện, lúc đó đất
cũng chấn động.
2). Khiến cho các chúng sinh tin các vị trời, biết trời chẳng phải
cứu kính, lúc đó đất cũng chấn động.
3). Khiến cho tất cả chúng sinh ngã mạn sinh tâm hổ thẹn, lúc đó đất
cũng chấn động.
Mười tám tướng chấn động là gì ?
1). Ðộng : Có hình tướng, nhìn thấy được, một phương động là động.
2). Biến động : Bốn phương lần lượt động.
3). Phổ biến động : Tám phương đều động.
4). Khởi : Dưới hướng lên khởi tốc độ chậm hơn, một phương khởi gọi
là khởi.
5). Biến khởi : Bốn phương khởi.
6). Phổ biến khởi : Tám phương khởi.
7). Dũng (vọt) : Từ dưới vọt đi lên, tốc độ nhanh hơn, một phương
vọt gọi là dũng.
8). Biến dũng : Bốn phương dũng.
9). Phổ biến dũng : Tám phương dũng.
10). Chấn : Có âm thanh, đó đây cùng nhau chấn động, một phương chấn
gọi là chấn.
11). Biến chấn : Bốn phương chấn động.
12). Phổ biến chấn : Tám phương đều chấn.
13). Hống : Âm thanh rất lớn gọi là hống, một phương hống gọi là
hống.
14). Biến hống : Bốn phương đều hống.
15). Phổ biến hống : Tám phương đều hống.
16). Kích : Cùng nhau xung kích, một phương kích, gọi là kích.
17). Biến kích : Bốn phương đều kích.
18). Phổ biến kích : Tám phương đều kích.
Lại có người nói rằng bốn phương chấn là chấn, tám phương chấn là
biến chấn, mười phương chấn là phổ biến chấn, lối nói này, tôi thấy
rằng không thích đáng lắm. Tại sao ? Vì sáu thứ chấn động ở phương
trên chúng ta không biết. Tức nhiên chúng ta không biết, chỉ có thể
nói là tám phương, không thể nói là mười phương. Một số người nói,
lấy một phương, bốn phương, tám phương, làm tiêu chuẩn, như thế thì
hợp lý hơn.
Còn có một lối nói rằng, một phương chấn là chấn, bốn phương lần
lượt chấn là phổ biến chấn. Lần lượt và cùng lúc là khác nhau. Lần
lượt là theo thứ tự chấn động, phương này chấn động rồi, thì phương
khác mới chấn động, chấn động từng phương từng phương. Cùng lúc là
đồng thời đều chấn động, hoặc là một phương, hoặc bốn phương, hoặc
tám phương.
Mười tám thứ chấn động này, tức cũng đại biểu cho mười tám giới.
Mười tám giới là: Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sáu trần
(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức,
tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) cũng giống như chấn động.
Các vị thế chủ đó, ai nấy đều hiện mây cúng dường không nghĩ bàn,
mưa xuống nơi đại chúng hải hội đạo tràng của Như Lai.
Ở trong các thế chủ này, có Phật, Bồ Tát, các vị thần, Chuyển luân
thánh vương, đều ở trong pháp hội đạo tràng. Mỗi vị thế chủ đều hiện
ra mây cúng dường Phật không thể nghĩ bàn, những mây này giống như
mưa, mưa xuống nơi tất cả đại chúng hải hội, Bồ đề đạo tràng của Như
Lai.
Ðó là: Mây tất cả hoa thơm trang nghiêm. Mây tất cả châu ma ni
nghiêm sức vi diệu. Mây tất cả lưới hoa báu rực rỡ. Mây vô biên các
loại ma ni báu quang minh viên mãn. Mây tất cả tạng châu báu nhiều
màu. Mây tất cả chiên đàn quý báu thơm. Mây tất cả bảo cái. Mây châu
ma ni vương vang ra âm thanh thanh tịnh vi diệu. Mây chuỗi ma ni
hình bánh xe sáng như mặt trời. Mây tất cả tạng quang minh báu. Mây
tất cả đồ trang nghiêm đều khác biệt. Các thứ mây cúng dường như
thế, số nhiều vô lượng không thể nghĩ bàn.
Những mây của các vị thế chủ cúng dường Phật, đều là những mây gì ?
Có mười một thứ mây cúng dường không thể nghĩ bàn.
1). Có đủ thứ mây hương và đủ thứ mây hoa để trang nghiêm.
2). Có đủ thứ mây châu báu ma ni nghiêm sức vi diệu.
3). Có đủ thứ mây châu báu phóng quang minh rực rỡ kết thành lưới
hoa.
4). Có mây đủ thứ vô biên loại ma ni báu phóng quang minh viên mãn.
5). Có đủ thứ mây tạng trân châu và các màu sắc báu.
6). Có đủ thứ mây quý báu hương chiên đàn.
7). Có đủ thứ mây châu báu kết thành bảo cái.
8). Có mây ma ni vương vang diệu âm thanh tịnh.
9). Có mây chuỗi ma ni hình bánh xe sáng như mặt trời.
10). Có đủ thứ mây báu phóng quang minh tạng.
11). Có đủ thứ mây đồ trang nghiêm đều khác nhau. Ở trên đề ra mười
một thứ mây cúng dường làm đại biểu, còn có vô số vô lượng mây cúng
dường, cũng có mây cúng dường nhiều không thể nghĩ bàn.
Các vị thế chủ đó, ai nấy đều hiện mây cúng dường như thế, mưa
xuống khắp hết thảy nơi đại chúng hải hội đạo tràng của Như Lai.
Tất cả những vị thế chủ này, ai nấy đều hiện ra mây cúng dường như
đã nói ở trên, ở tại đại chúng hải hội bồ đề đạo tràng nơi Phật
thành đạo, chẳng có nơi nào mà chẳng có mây cúng dường.
Như trong thế giới này, mỗi vị thế chủ đều sinh tâm hoan hỷ cúng
dường như thế. Trong Thế Giới Hải Hoa
Tạng Trang
Nghiêm, hết thảy các thế chủ của tất cả thế giới,
cũng đều cúng dường như thế, trong tất cả thế giới đó, đều có đức
Như Lai ngồi nơi đạo tràng.
Giống như trong thế giới của chúng ta, mỗi vị thế chủ của một nước,
hoặc Thần của một mảnh đất sinh tâm đại hoan hỷ, đều đến cúng dường
Phật như thế.
Trong Thế Giới Hải Hoa
Tạng Trang
Nghiêm, có vô lượng thế giới, trong mỗi thế giới
lại có vô lượng thế giới. Ở trong hết thảy tất cả vô lượng thế giới,
hết thảy tất cả vị thế chủ, đều dùng mây cúng dường để cúng dường
Phật, tức cũng là, hết thảy các ông vua ở trong mỗi quốc độ, đều
phát tâm cúng dường như thế, ở trong mỗi quốc độ, đều thấy Phật
thành Phật ở dưới cội bồ đề, cho nên phát tâm cúng dường Ðức Phật.
Ở trong Thế Giới Hải Hoa
Tạng, dưới cội bồ đề của hết thảy tất cả thế giới,
Phật đều ngồi ở đó thành Chánh giác, làm đạo tràng diễn nói diệu lý
Kinh Hoa
Nghiêm Ðại
Phương Quảng Phật.
Mỗi vị thế chủ đều có sự tin hiểu khác nhau, sở duyên khác nhau,
môn phương tiện tam muội khác nhau, tu tập pháp trợ đạo khác nhau,
thành tựu khác nhau, ngộ hiểu các pháp môn khác nhau, vào cảnh giới
thần thông của Như Lai khác nhau, vào sức cảnh giới của Như Lai khác
nhau, vào môn giải thoát của Như Lai khác nhau.
Mỗi thế giới đều có thế chủ, tức cũng là ông vua, mỗi ông vua đều
sinh tâm tin sâu thấu hiểu Phật pháp. Nghe pháp có ba điều lợi ích :
1). Văn ích (ích lợi của sự nghe) : Vì thấy nghe hay sinh tâm tin
hiểu, nghe được pháp của Phật nói mà minh bạch đạo lý bên trong, đây
gọi là tin hiểu, cũng gọi là lợi ích của sự nghe.
2). Tư ích (ích lợi của sự suy nghĩ) : Nghe rồi bèn suy nghĩ, quán
lý chân thật của lời nói.
3). Tu ích (ích lợi của sự tu) : Ở trong ích lợi của sự tu lại có
bảy thứ lợi ích.
A). Tu môn : Tu đủ thứ pháp môn tam muội mà thành tựu thánh quả.
B). Tu pháp : Y theo pháp tu hành, thì đắc được pháp hỷ sung mãn.
Pháp chủ yếu là phải có tín tâm, nguyện tâm, sau đó phải thực hành.
C). Tu quả : Do tu mà minh bạch đạo lý, chứng được Thánh quả.
D). Tu ích : Phải tu hành mới đắc được đủ thứ lợi ích.
E). Tu chuyển : Chuyển phàm phu thành Thánh nhân.
F). Tu đồng : Pháp môn mà chúng ta ngộ hiểu, đồng với pháp môn của
các vị Thánh nhân chứng đắc trong quá khứ.
G). Tu cực : Tu đến cực điểm, trong sự tu cực lại chia ra ba loại :
1. Ðại bi cực : Vào cảnh giới thần thông của Phật, tại sao phải vào
cảnh giới thần thông của Phật ? Vì muốn lợi ích tất cả chúng sinh,
đó là thành tựu ân đức của Phật.
2. Ðại trí cực : Vào sức cảnh giới của Phật, vào sức trí huệ của
Phật, lúc đó bi trí siêu tuyệt, chẳng gì sánh bằng, đây là thành tựu
trí huệ của Phật.
3. Tự tại cực : Vào môn giải thoát của Phật, trừ sạch tất cả chướng
ngại, tâm cảnh đều tự tại, tức cũng là tâm cảnh như như, tâm cảnh
không hai, đó là thành tựu đoạn đức của Phật, tức cũng là thành tựu
tất cả môn giải thoát của Phật. Mỗi vị thế chủ đều đắc được ba thứ
lợi ích văn, tư, tu.
Mỗi vị thế chủ sau khi tâm tin hiểu sâu xa rồi, ai nấy y chiếu theo
nhân duyên của mình để tu hành, tu môn phương tiện tam muội của
mình, còn phải tu tập pháp trợ đạo của mình, tức cũng là làm tất cả
việc lành, dùng công đức lành để trợ giúp sự tu đạo. Mình tu pháp
môn của mình, thì sẽ đắc được pháp mình tu, cho nên ai nấy đều sinh
tâm đại hoan hỷ. Họ càng vào sâu pháp môn sở tu, thì đều ngộ hiểu sở
tu các pháp môn, sở tu được thần thông diệu dụng của Phật, đều vào
cảnh giới của Phật, cũng vào cảnh giới trí huệ lực của Phật. Cuối
cùng đều vào môn giải thoát của Phật. Môn giải thoát này tức là đoạn
đức của Phật, đoạn tất cả phiền não, đắc được giải thoát.
Như nơi Thế Giới Hải Hoa
Tạng này, mười phương tận pháp giới hư không giới,
trong tất cả thế giới hải cũng đều như thế.
Ở trong Hoa
Tạng thế giới hải này, hết thảy thế giới trong mười
phương, hết thảy hư không giới, trong tất cả thế giới hải mười
phương, mỗi thế giới đều như thế. Mỗi vị thế chủ của thế giới, đều
nổi mây cúng dường, sau đó hết thảy các vị thế chủ đều vào môn giải
thoát của Phật.
Bây giờ đã lược giảng xong Phẩm Thứ Nhất Thế Chủ Diệu Nghiêm. Nay
dùng kệ khen ngợi để giải thích :
‘’Hoa Nghiêm pháp
hội,
Bảo tạng linh văn.
Ðại thiên kinh quyển nhất vi trần,
Phẩu xuất tại đương nhân.
Hoa vũ tân phân,
Pháp giới phổ huân văn.’’
Ðây là kệ khen ngợi một phẩm Kinh Hoa
Nghiêm này.
‘’Hoa Nghiêm hải
hội.’’ Hải hội của kinh Hoa
Nghiêm vô
cùng vô tận.
‘’Bảo Tạng linh văn.’’ Bộ kinh này là Bảo Tạng, còn là Linh văn. Bất
cứ người nào tụng, thì người đó có công ích và lợi ích.
‘’Ðại thiên kinh quyển nhất vi trần.’’ Bộ kinh quyển này lớn như đại
thiên thế giới, chứa đựng ở trong một hạt bụi.
‘’Phẩu xuất tại đương nhân.’’ Dùng đao bổ hạt bụi ra, thì đại thiên
kinh quyển hiện ra. Chính bạn như có bổn sự này, tức bổ hạt bụi này
ra, thì minh bạch được đạo lý của Kinh Hoa
Nghiêm.
‘’Hoa vũ tân phân.’’ Bạn làm được như thế, thì trời
mưa hoa báu xuống rực rỡ.
‘’Pháp giới phổ huân văn.’’ Tất cả chúng sinh trong pháp giới, đều
được pháp vị công đức huân tập, tất cả chúng sinh đều được nghe.
(Hết tập 4)
Hồi hướng
công đức
Trong các sự bố thí, thì bố thí pháp là
cao thượng nhất. Vì ấn tống kinh điển bố thí cho mọi người đọc,
khiến cho họ hiểu rõ những lời đức Phật dạy, phát tâm tu học, thực
hành hạnh Bồ Tát, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tích tụ căn lành
công đức, hồi hướng về quả Vô thượng bồ đề, cuối cùng sẽ chứng ngộ
quả vị Phật. Nhờ giáo lý Pháp bảo mà chúng ta tin, hiểu, thực hành,
và chứng ngộ.
Xin hồi hướng công đức pháp thí cao thượng nầy, đến các bậc Thầy Tổ,
và toàn thể tất cả Phật tử đã phát tâm hùn phước ấn tống, hữu danh
hoặc vô danh, và thân bằng quyến thuộc của tất cả quý vị còn sống
hoặc đã quá vãng, cùng pháp giới chúng sinh, thảy đều được lợi lạc,
căn lành tăng trưởng, tâm bồ đề kiên cố, luôn luôn an trụ ở trong
chánh pháp, tu hành chánh pháp, rốt ráo được thoát khỏi sinh tử luân
hồi, đến được bờ giác ngộ bên kia.
Nam Mô Hộ
Pháp Vi Ðà Tôn
Thiên Bồ Tát
Kệ hồi hướng
công đức
Nguyện đem công đức nầy
Trang Nghiêm cõi
Phật tịnh
Trên đền bốn ân nặng
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có ai thấy nghe
Liền phát tâm bồ đề
Khi bỏ báo thân nầy
Sinh về cõi Cực Lạc.
|