Triết
Lý Ðạo Phật
hay là Ðại Cương Kinh Lăng Nghiêm
(Trích
Phật Học Phổ Thông)
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
-o0o-
A.- PHẦN
DUYÊN KHỞI
B.- PHẦN CHÁNH ĐỀ
I.- Nguyên nhơn Phật nói kinh
II.- A Nan cầu Phật dạy phương pháp tu hành,
lần thứ nhất.
III.- Phần lược giải:
1. Định danh và giải nghĩa tên kinh.
2. Nội dung kinh Lăng Nghiêm
A.-
PHẦN DUYÊN KHỞI
Người đến
đô thành lạ, nếu chẳng có bản đồ, thì không
sao khỏi lầm đường lạc nẻo. Người đi trong
biển khơi dịu-vợi, sóng dồi gió dập, lênh
đênh giữa biển, nếu không có kim chỉ-nam,
thì không dễ vượt qua mấy vạn trùng dương,
trở về xứ sở. Người đi đánh giặc, nếu không
có binh thơ đồ trận, không hiểu chiến thuật,
chiến lược, thì không sao thắng được giặc,
đem trở lại trật tự an ninh cho nước nhà, và
giữ gìn non sông cẩm tú. Kẻ làm thợ nếu
chẳng có mực thước, thì không sao làm thành
món đồ có giá trị được.
Người tu
hành cũng thế, nếu không hiểu được lối
thắng, khúc quanh, chỗ đèo ải gay go, nơi hố
hầm nguy hiểm trong đường lối tu hành, lớp
lang chứng đạo, thì không sao khỏi lạc vào
nẻo tà, sa nơi ác đạo.
Kinh-Lăng-Nghiêm là một bộ kinh quý báu vô
cùng, chỉ đường lối tu hành một cách rành
mạch, nào là giáo, lý, hạnh, quả đều rõ
ràng. Người tu phải trải qua bao nhiêu địa
vị, trong khi tu gặp những đều nguy hiểm thế
nào, mà phải làm sao mới tránh khỏi những
điều nguy-hiểm ấy, thì trong
Kinh-Lăng-Nghiêm dạy hết sức rõ ràng.
Nói đến
Kinh-Lăng-Nghiêm, hàng Phật tử ai chẳng nghe
tiếng là một bộ kinh Đại-thừa, vừa hay nhất,
mà cũng vừa quý nhất. Người tu hành hiểu
được Kinh-Lăng-Nghiêm, chẳng khác nào người
bộ hành có bản đồ, kẻ thủy thủ có kim chỉ
nam, người thợ có dây mực, cây thước, kẻ
chiến sỹ có binh thư đồ trận.
Vì
Kinh-Lăng-Nghiêm quý giá như thế, nên thuở
xưa các vị vua Ấn Độ cho là một quốc bảo,
giữ gìn nghiêm ngặt không cho truyền bá ra
ngoài. Trong lúc ấy bên Tàu, có Ngài
Thiên-thai Trí-giả Đại-sư, được nghe
Kinh-Lăng-Nghiêm quý báu như vậy, nên mỗi
ngày hai lần sớm chiều xây mặt về phía Tây
(Ấn Độ) quỳ lạy cầu khẩn cho
Kinh-Lăng-Nghiêm được sớm truyền bá qua Tàu,
để lợi ích quần-sanh.
Cách 100
năm sau, có Ngài Bát-thích-Mật-đế , người Ấn
Độ, đã nhiều lần tìm cách đem
Kinh-Lăng-Nghiêm đến truyền bá tại Trung
Hoa, nhưng không kết quả, vì luật nước
nghiêm cấm, kiểm soát rất chặt chẽ.
Đến lần
cuối cùng, Ngài viết kinh trong tấm lụa
mỏng, rồi cuốn lại, xẻ thịt bắp vế nhét vào,
băng lại làm như người có ghẻ, mới đem ra
được khỏi nước.
Chúng ta
nên nhớ tưởng lại kỳ-công "Vị pháp vong xu"
của Ngài Bát-Thích-Mật-Đế. Thử nghĩ: Một cây
cỏ cắt vào da còn đau; một mụt ghẻ con, còn
biết nhức; huống chi xẻ một đường dài nơi
bắp thịt, nhét cho được một cuốn lụa con,
trải qua bao nhiêu ngày, từ Ấn Độ sang đến
Trung Hoa. Nếu không may bị tiết lộ thì phải
tử hình. Như thế chúng ta đủ thấy sự quý báu
của Kinh-Lăng-Nghiêm là dường nào! tâm vì
đạo quên mình của Bồ Tát Bát-Thích-Mật-Đế
đáng cho chúng sanh trọn đời bái phục.
Khi Ngài
Bát-Thích-Mật-Đế đem Kinh-Lăng-Nghiêm này
qua Tàu, đến đất Nam-thuyên, gặp quan
Thừa-tướng tên Phòng-dung, là bậc bác học
uyên thâm, lại có lòng mộ Phật, nên Ngài
trình bày với Thừa-tướng, về giá trị của
Kinh-Lăng-Nghiêm mà Ngài đã huyền diệu sinh
mang đến.
Quan
Thừa-tướng Phòng-Dung nghe nói rồi hết sức
mừng rỡ, cho là đặng một vật báu chưa từng
có. Nhưng khi đem cuốn lụa ra thì, vì bị máu
mũ bám vào lâu ngày, nên mất cả chữ nghĩa.
Một bà có
công lớn trong việc này, là Phu-nhân của
Thừa-tướng Phòng-Dung. Bà đem cuốn lụa ấy
nấu với một chất hóa học, thì máu mũ đều
theo nước mà tan đi, chỉ lưu lại các nét
mực, nên còn thấy để phiên dịch.
Quan
Thừa-tướng thỉnh Ngài Bát-Thích-Mật-Đế dịch
chữ Phạn ra chữ Tàu. Ngài Di-Già-Thích-Ca
dịch từ ngữ, còn quan Thừa-tướng nhuận-sắc.
Bởi thế nên Kinh-Lăng-Nghiêm chẳng những
nghĩa lý rất hay, mà văn chương còn tuyệt
diệu! Từ xưa các học giả, không những trong
đạo Phật, mà cả đạo nho, các đại gia văn
chương, một phen xem đến Kinh-Lăng-Nghiêm,
đều kính phục và vô cùng khen ngợi cái nghĩa
lý cao siêu, và văn chương tuyệt diệu của
kinh.
B.- PHẦN
CHÁNH ĐỀ
I.-
NGUYÊN NHÂN PHẬT NÓI KINH LĂNG NGHIÊM
Theo lệ
thường, mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, là
ngày mãn hạ, chư Tăng cùng trong tự tứ, để
rửa sạch những hành vi lỗi-lầm và những
tưởng không tốt, cho giới thể được thanh
tịnh, vì trong ba tháng kiết hạ an cư, chư
Tăng đều thúc liễm thân tâm, trau giồi giới
hạnh, tích công lũy đức, nên đến ngày mãn
hạ, các hàng Phật tử cư sĩ đều đua nhau sắm
đủ các món trai diên, thỉnh chư tăng đến
cúng dường, để gieo trồng cội phúc.
Hôm ấy,
nhằm ngày húy nhựt của Tiên-Hoàng, nên vua
Ba-Tư-Nặc sắm đủ các món trân tu mỹ vị rất
linh đình, rồi chính vua thân hành đến rước
Phật và chư Tăng về cúng dường.
Cũng hôm
ấy, các hàng trưởng giả, cư sĩ đều sắm đủ
thức cơm chay, cung thỉnh chư Tăng đến cúng
dường. Phật bảo Ngài Văn-thù chia ban, để đi
đến từng nhà thọ cúng.
Trong lúc
ấy, ông A-nan ví đã chịu người thỉnh riêng
trước, nên trở về chẳng kịp để dự vào hàng
chúng Tăng thọ cúng .
Ông mang
bình bát đi vào thành, oai nghi tề chỉnh, bộ
điệu chậm rãi, qua từng nhà một để khất
thực. Với tâm bình đẳng, ông muốn làm phước
điền cho tất cả mọi người, không phân biệt
bậc quý phái hay hạng bình dân. Ông chỉ mong
gặp những người chưa biết làm phước, hôm nay
phát tâm cúng dường, để họ được ương trồng
hạt giống lành, đặng ngày sau hưởng quả.
Vì lòng từ
bi bình đẳng không lựa chọn, nên ông tuần tự
trải qua các xóm làng. Không may ông gặp nhà
tín-nữ ngoại đạo, tên Ma-Đăng-Già, dùng phép
huyễn thuật là thần chú của Ta-Tỳ-Ca-La Tiên
Phạm-thiên, bắt vào phòng, dùng đủ lời dịu
ngọt, vuốt ve mơn trớn, ép uổng về tình
duyên!....
A-nan bị
nạn, hết sức buồn rầu! Ông chắp tay niệm
Phật, hướng về Đức Chí-tôn cầu cứu ! ...Phật
biết A-nan bị nạn, nên khi thọ trai xong
không kịp thuyết pháp, liền trở về tịnh xá
ngồi kiết-già, trên đảnh phóng hào quang,
hào quang ấy có ngàn cánh, trên hoa sen có
đức Hóa Phật ngồi kiết-già, nói thần chú
Lăng-Nghiêm (mỗi buổi khuya các chùa đều
tụng) .
Phật bảo
Ngài Văn-thù đem thần chú ấy đi đến chỗ nàng
Ma-Đăng-Già, để phá trừ tà chú, cứu nạn cho
A-nan.
II.- A-NAN CẦU PHẬT
DẠY PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH LẦN THỨ NHỨT
Khi ông
A-nan được thoát nạn, về đến chỗ Phật, cúi
đầu kính lạy, buồn tủi, khóc than và bạch
Phật rằng:
-Bạch Thế
Tôn! Con từ hồi nào đến giờ có lòng ỷ lại:
Con là em Phật, được Phật thương yêu, chắc
chắn Phật sẽ ban cho con thần thông trí huệ,
hay đạo quả Bồ-đề, nên chỉ lo học rộng nghe
nhiều, chẳng cần tu niệm, không ngờ ai tu
nấy chứng, mặc dù con là em của Phật, nếu
không tu, thì cũng bị đọa như ai; học nhiều
mà không tu, thì cũng chẳng có ích gì! Cúi
xin Phật rủ lòng từ bi, chỉ dạy cho con
phương pháp nào mà mười phương các Đức Phật
tu hành đều được thành chứng quả?.
III.-
PHẦN LƯỢC GIẢI
1.-ĐỊNH
NGHĨA VÀ GIẢI NGHĨA TÊN KINH
Khi đó Phật
an ủi A-nan và hứa sẽ dạy phương pháp tu
hành để thành đạo chứng quả, là
Kinh-Lăng-Nghiêm. Kinh này đọc cho đủ là:
"Kinh Đại
Phật Đảnh, Như-Lai Mật Nhơn, Tu Chứng Liễu
Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ
Lăng-Nghiêm"; gọi tắt là "kinh
Thủ-Lăng-Nghiêm" tức là kinh nói về chơn
tâm.
a.- Vì kinh
này rất quý báu, đã ít có mà lại khó gặp,
hàng Tiểu-thừa Thinh -văn và quyền-thừa Bồ
Tát không thể thấu suốt được, nên dụ như cái
tướng "Vô kiết đảnh" của Phật. Vì tướng này
rất quý báu và khó thấy, hàng phàm phu và
Nhị-thừa không thể thấy được.
b.- Mười
phương các Đức Phật đều y theo kinh này mà
làm nhơn tu địa hành mà được thành đạo chứng
quả, nên gọi là "Như Lai Mật Nhơn".
c.- Y theo
kinh này mà tu và chứng thì lối tu chứng ấy
mới được là rốt ráo, nên gọi rằng "Tu Chứng
Liễu Nghĩa".
d.- Các vị
Bồ Tát tu pháp lục độ vạn hạnh đều y theo
kinh này, nên kinh nầy cũng gọi là "Chư Bồ
Tát Vạn Hạnh".
đ.- Tóm lại
là "Thủ Lăng Nghiêm", Tàu dịch là "Đại định
kiên cố". Nghĩa là cái bản thể chơn tâm sẳn
có của tất cả chúng sanh và chư Phật, nó bao
trùm khắp cả vũ trụ, nên gọi là "Đại". Tâm
ấy thường tịch tịnh không vọng-động nên gọi
rằng "Định". Nó không bị thời gian thay đổi,
hay không gian chuyển dời, thấu xưa suốt
nay, bao giờ cũng vẫn thường như thế, ở nơi
bực thánh không thêm, tại phàm cũng không
bớt, như như bất động, nên gọi rằng "Kiên
cố".
Chữ "Kinh"
theo nghĩa hẹp là đường chỉ xuôi, tức là
đường canh trong tấm vải. Tấm vải nhờ có
đường canh xâu kết lại các chỉ ngang, mới
thành một tấm vải.
Còn theo
nghĩa rộng, chữ "Kinh" là xâu tóm các lời lẽ
và nghĩa lý của Thánh-hiền làm thành một
quyển hay một bộ.
Trong đạo
Phật hay ngoài đời đều có kinh điển. Song
kinh Phật có thêm chữ "khế" nên khác hơn
kinh sách ở thế gian.
Chữ "khế"
nghĩa là hợp:
a.- Hợp căn
cơ trình độ của chúng sanh.
b.- Hợp
chân lý.
Chữ kinh có
nghĩa "trường pháp", là một chân lý không
thay đổi: quá khứ Phật nói pháp như vậy,
hiện tại Phật cũng nói pháp như vậy và vị
lai Phật ra đời cũng nói pháp như vậy mà
thôi, nên gọi là "thường pháp".
Nói một
cách xác thật hơn:
"Kinh này
chính là tâm của chúng ta".
a.- Chúng
ta sẳn có bản thể chơn tâm thanh tịnh và như
như bất động, thế là nơi ta có "Thủ
Lăng-Nghiêm" .
b.- Y theo
chơn tâm này mà khởi tu lục độ muôn hạnh của
Bồ Tát, thì chính là nơi ta có "Chư Bồ Tát
vạn hạnh".
c.- Y theo
chơn tâm mà tu, và cũng y theo chơn tâm này
mà chứng, tu chứng như thế mới là rốt ráo,
nên gọi là "tu chứng liễu nghĩa".
d.- Chúng
ta y chơn tâm này làm nhân địa tu hành, sẽ
được thành Phật, nên gọi là "Như-lai mật
nhơn".
đ.- Chơn
tâm này rất quý báu, những hàng phàm phu ,
Tiểu-thừa và quyền thừa Bồ Tát không ngộ
nhập được, nên dụ như "vô kiến đảnh tướng"
của Phật. Chơn tâm chúng ta bao trùm cả vũ
trụ, muôn sự muôn vật không ngoài chơn tâm
ta, đó là nghĩa chữ "kinh".
Mười chính
chữ đầu đề của kinh này: "Đại Phật đảnh,
Như-lai mật nhơn, tu chứng liễu nghĩa, chư
Bồ Tát vạn hạnh, Thủ Lăng-Nghiêm", đã bao
hàm toàn bộ kinh, nào là giáo, lý, hạnh,
quả, thể đại, tướng đại và dụng đại, nhơn
địa tu chứng đều trùm cả, mà rốt cuộc chỉ ở
nơi tự tâm chúng ta sẳn đủ. Bởi ngộ được lý
này, nên đức Lục-tổ Huệ-năng nói rằng:
Không ngờ tâm
mình vốn sẳn thanh tịnh
Không ngờ tâm
mình vốn không sanh diệt
Không ngờ tâm
mình sẳn đủ các pháp
Không ngờ tâm
mình vốn không lay động
Không ngờ tâm
mình hay sanh muôn pháp.
Đọc đề mục
kinh chỉ có 19 chữ, chúng ta thấy đã vui thú
rồi, vì chính nơi ta sẳn có kinh "Đại Phật
đảnh, Như-lai mật nhơn, tu chứng liễu nghĩa,
chư Bồ Tát vạn hạnh, thủ Lăng-Nghiêm". Chỉ
vì chúng ta mê muội nên chẳng nhận được kinh
Lăng Nghiêm của mình. Song nó cũng không
mất, khi ngộ được thì sẽ thành Phật.
2.- NỘI
DUNG KINH LĂNG NGHIÊM
Nội dung
của kinh Lăng-Nghiêm là Phật chỉ dạy cho
chúng ta ngộ được chơn tâm. Chúng ta vì
không ngộ được chơn tâm nên phải vĩnh kiếp
làm chúng sanh, trầm luân trong biển sanh
tử, chịu không biết bao nhiêu khổ sở. Còn
như Phật thoát ly sanh tử luân hồi, được tự
do giải thoát, thần thông tự tại, trí huệ vô
ngại v.v....đều do các Ngài đã ngộ chơn tâm,
nên mới được như thế.
Nói cho dể
hiểu: Phật với chúng sanh vẫn đồng một thể
tánh chơn tâm, nhưng các Ngài đã hoàn toàn
giác ngộ được thể tánh ấy, nên mới thành
Phật. Trái lại, chúng sanh vì mê muội thể
tánh chơn tâm, nên phải bị sanh tử luân hồi.
Nếu chúng sanh giác ngộ chơn tâm, thì sẽ
được như Phật.
Ông A-nan
cầu Phật chỉ dạy phương pháp nào mà mười
phương các Đức Phật đã tu hành và đều được
chứng quả, thì Phật chỉ dạy, phải ngộ "Chơn
tâm" mà thôi. Nếu ngộ được chơn tâm này thì
thành Phật. Ngộ được chơn tâm, như người còn
ngủ chiêm bao. Đây là phương pháp duy nhứt
mà mười phương chư Phật tu hành đã được
thành đạo chứng quả.
Bài Thứ Hai
BẢY ĐOẠN PHẬT HỎI VỀ TÂM
I.- A-nan
chấp tâm ở trong thân
II.- A-nan chấp tâm ở ngoài thân
III.- A-nan chấp tâm ẩn trong con mắt
IV.- A-nan chấp lại tâm ở trong thân
V.- A-nan chấp tâm tùy chỗ hòa hợp mà có
VI.- A-nan chấp tâm ở chính giữa
VII.- A-nan chấp "không trước" làm tâm
BẢY ĐOẠN PHẬT HỎI VỀ TÂM
Trước khi
muốn chỉ chơn tâm, Phật gạn hỏi cái vọng
tâm. Khi đã hiểu vọng tâm rồi, thì về sau
Phật chỉ cái chơn tâm mới khỏi lầm. Cũng như
người, trước phân biệt được thau, đồng và
vàng giả rồi, thì về sau chỉ đến vành thiệt,
họ mới nhận được chắc chắn, nên trước hỏi về
cái tâm.
Phật kêu
A-Nan hỏi rằng;-trong giáo pháp ta, ông
ngưỡng mộ cái gì mà phát tâm xuất gia?
A-nan thưa:
-Vì thấy Phật có 32 tướng tốt đẹp lạ thường,
con sanh lòng hâm mộ và phát tâm xuất gia.
Phật hỏi:
-Ông nói: "Vì thấy 32 tướng tốt của Phật,
sanh lòng hâm mộ"; vậy ông lấy cái gì để
thấy, và lấy cái gì để hâm mộ?
A-Nan thưa:
-Con lấy mắt để thấy và dùng tâm hâm mộ.
Phật hỏi:
-Ông nói: "lấy con mắt để thấy và cái tâm
hâm mộ", vậy ông có biết cái tâm và con mắt
ở chỗ nào không?
Ông từ hồi
nào đến giờ, nhiều kiếp sanh tử luân hồi,
cũng vì tâm và mắt! Nếu ông không biết nó ở
chỗ nào, thì không bao giờ hàng phục được
phiền não và trần lao.
Cũng như vị
quốc vương, bị giặc đến xâm chiếm, đem binh
dẹp trừ, nếu không biết giặc trú ngụ ở chỗ
nào thì không bao giờ dẹp được giặc.
I.-A-NAN
CHẤP TÂM TRONG THÂN
A-Nan thưa:
-Bạch ThếTôn, không những một mình con hiểu,
mà tất cả chúng sanh cũng đều cho "con mắt ở
trên mặt, còn tâm ở trong thân".
PHẬT BÁC:
Phật hỏi:
-Ông ngồi trong giảng đường này, trước hết
ông thấy cái gì? Và vì sao ông thấy được cây
cối ngoài vườn?
A-Nan thưa:
-Bạch Thế Tôn, con ngồi trong giảng đường,
trước thấy Phật cùng chư tăng, và nhờ mở các
cửa, nên con nhìn ra ngoài, thấy được cây
cối, cảnh vật bên ngoài.
Phật hỏi:
-Có ai ngồi trong nhà, không thấy các vật
trong nhà, mà lại thấy được cảnh vật bên
ngoài không?
A-Nan thưa:
-Bạch
Thế Tôn,
người ngồi trong nhà, mà không thấy các vật
trong nhà, lại thấy cảnh vật bên ngoài là
không có lý.
Phật nói:
-Tâm ông cũng thế, nếu thật ở trong thân
ông, thì trước hết nó phải thấy tim, gan,
ruột, phổi hoặc móng tay ra, tóc dài, gân
chuyển, mạch động ở trong, rồi sau do mở
mắt, ông mới thấy đặng các cảnh vật bên
ngoài. Cũng như người ngồi trong giảng đường
này, trước hết phải thấy Phật cùng chúng
tăng và những vật trong giảng đường, rồi sau
nhìn ra ngoài, mới thấy núi sông cây rừng
v.v..
Vậy có ai
trước thấy tim, gan, ruột, phổi ở trong
thân, rồi sau mới thấy các vật ở bên ngoài
không ? Nếu không, thì ông nói: "tâm ở ngoài
thân" là phi lý.
II.-
A-NAN CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
A Nan bạch
Phật: Bạch Thế Tôn, cứ theo lý luận trên thì
con hiểu: Tâm ở ngoài thân. Vì nếu ở trong
thân, sao không thấy được các vật ở bên
trong, mà chỉ thấy cảnh vật bên ngoài. Vậy
nên con biết tâm ở ngoài thân. Cũng như cái
đèn đốt ngoài nhà, nên chẳng sáng được trong
nhà. Nghĩa này đúng rồi, chắc không còn lầm
lạc nữa.
PHẬT BÁC:
Phật hỏi
A-nan: Cái tâm của ông, nếu ở ngoài thân,
thì thân và tâm ông không dính dấp với nhau.
Vậy trong lúc tâm biết, thân phải không
biết; còn khi thân biết, thì tâm phải không
biết.
Cũng như ta
với các thầy Tỳ kheo, vì thân thể khác nhau,
nên khi ta thọ trai, các thầy không no được
.
Vậy ông thử
xem cánh tay của ta đây, trong lúc mắt (thân)
ông vừa thấy, tâm ông có biết liền không?
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn, trong lúc con mắt vừa thấy,
thì tâm con liền phân biệt .
Phật hỏi:
Nếu mắt ông vừa thấy, tâm ông liền biết, thì
thân ông và tâm không thể rời nhau được, như
thế thì ông nói: "Tâm ở ngoài thân" cũng
không phải.
III.-
A-NAN CHẤP TÂM ẨN TRONG CON MẮT
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn, theo lời Phật bác: "tâm không
phải ở trong thân, vì nó chẳng thấy được bên
trong; cũng không phải ở ngoài thân, vì mắt
vừa thấy, tâm liền biết, rõ ràng tâm thân
không rời nhau".
Cứ theo lý
luận này, thì con hiểu: Tâm núp trong con
mắt; cũng như con mắt của người mang kiến,
nên chỉ thấy các cảnh vật bên ngoài, mà
không thấy được vật bên trong.
PHẬT BÁC
Phật hỏi
A-nan: Nếu tâm con núp trong con mắt, cũng
như con mắt người mang kiến; vậy tôi hỏi:
"Người mang kiến trong khi họ thấy cảnh vật,
họ có thấy được cái kiến mang đó không?"
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn, thấy được .
Phật hỏi:
Nếu tâm ông cũng như con mắt người mang
kiến, thì vậy sao người mang kiến có thể
thấy được cái kiến mang, còn tâm ông sao
không thấy được con mắt của ông?
Nếu tâm ông
thấy được con mắt của ông, thì con mắt của
ông thành ra cảnh bị thấy, nó phải ở ngoài
thân ông mới phải.
Nếu thân,
tâm ngoài nhau, thì làm sao mắt ông vừa
thấy, tâm ông liền phân biệt được?
Nếu tâm ông
không thấy được con mắt của ông, thì sao ông
tỷ dụ như con mắt người mang kiến?
Thế nên ông
nói: "Tâm núp trong con mắt, như con mắt
người mang kiến núp sau cái kiến", cũng
không phải.
IV.- ÔNG
ANAN CHẤP TRỞ LẠI, TÂM Ở TRONG THÂN
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn, bây giờ con nghĩ: Nhắm mắt
thấy tối, là tâm thấy trong thân (gan
ruột); nhờ cửu khiếu, thất huyệt (các
giác quan) trống hở, nên mở mắt thấy
sáng là tâm thấy các cảnh vật ngoài thân.
Chẳng biết nghĩa này có đúng không?
PHẬT BÁC
Phật hỏi
A-nan: Ông nói: "Nhắm mắt thấy tối là thấy
trong thân"; vậy thì khi ông thấy tối, cảnh
tối đó có đối trước mắt ông hay không?
Nếu cái tối
không đối trước mắt , thì không thành cái
nghĩa thấy. Còn có đối trước mắt, thì thấy
tối là thấy trước, sao ông lại nói thấy
trong?
Nếu ông cho
thấy tối là thấy trong thân (gan ruột)
thì khi ở trong nhà tối không có ánh sáng,
ông thấy tối đó, cũng là thấy gan ruột của
ông sao?
Lại nữa,
nếu nhắm mắt thấy tối, ông cho là thấy trong
thân, mở mắt thấy sáng là thấy ngoài thân,
vậy sao ông không thấy được cái mặt?
Cái mặt ở
ngoài, ông mở mắt còn không thấy, thì khi
nhắm mắt thấy tối, làm sao chắc là thấy
trong thân?
Nếu ông
thấy được cái mặt ông, thì con mắt với tâm
hiểu biết của ông, phải ở ngoài thân ông.
Nếu tâm và
mắt ở ngoài thân, thì nó không phải là tâm
mắt của ông rồi.
Nếu ông cho
tâm, mắt (ngoài thân ông) đó cũng là
ông, vậy thì nay ta thấy được mặt ông, thế
thì ta đây cũng là tâm, mắt của ông sao?
Lại nữa,
trong lúc con mắt ông biết, thì thân ông
cũng phải không biết, khi thân ông biết, thì
con mắt ông phải không biết (vì ông chấp
nó rời nhau).
Nếu ông cho
cả hai đều biết, thì một mình ông phải có
hai cái biết (tâm), vậy khi tu hành
chứng quả, ông sẽ thành hai vị Phật sao?
Thế nên
phải biết: Ông nói: "thấy tối là thấy trong
thân" cũng không phải.
V.- A
NAN CHẤP TÂM TÙY CHỒ HÒA HIỆP MÀ CÓ.
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn, con thường nghe Phật dạy tứ
chúng: "Do tâm sanh, nên các pháp mới sanh.
do các pháp sanh, cho nên tâm mới sanh". nay
con suy nghĩ, thì cái "suy nghĩ" đó là tâm
của con; tùy hòa hiệp chỗ nào, thì tâm liền
theo đó mà có, không phải ở trong, ngoài và
chính giữa.
PHẬT BÁC
Phật hỏi
Anan: Ông nói: "tùy hòa hiệp chổ nào, thì
tâm liền theo đó mà có"; như thế thì cái tâm
của ông không có thật thể.
Nếu tâm ông
không có hình thể (tức là không có)
thì lấy cái gì mà hòa hiệp? Còn nó có hình
thể, thì ông thử lấy tay mặt đánh qua tay
trái, ông liền biết đau. Vậy cái tâm biết
đau này, là từ trong thân chạy ra hay từ bên
ngoài chạy vào?
Nếu ông
nói: "Nó từ trong thân chạy ra", thì ttrước
hết nó phải thấy gan ruột trong thân của
ông. Còn nếu nó từ ngoài hư không chạy vào,
thì trước hết nó phải thấy cái mặt của ông.
A-Nan thưa:
Con mắt thì thấy, còn cái tâm thì biết; Phật
nói: "cái tâm thấy", nghĩa đó không phải.
Phật hỏi:
Nếu con mắt thấy thì những người chết, con
mắt vẫn còn, sao họ không thất vật?
Nếu người
chết, mà vẫn còn thấy vật, thì sao gọi là
người chết?
Lại nữa,
nếu cái tâm hiểu biết của ông có thật thể,
thì có một thể hay nhiều thể, ở khắp cả thân
ông, hay không khắp cả thân?
Nếu tâm ông
có một thể, và ở khắp cả thân, thì khi ông
lấy tay đánh thử một nơi trên thân ông, đáng
lẽ ra thân đều biết đau hết, vì tâm ở khắp
cả thân và đồng một thể.
Nếu cả thân
đều biết đau, thì cái đau đó lẽ ra không có
ở nhứt định chổ nào.
Nếu có đau
có chổ ở nhứt định, thì ông nói: "cái tâm
một thể và ở khắp cả thân" cũng không phải.
Còn nói "tâm ông có nhiều thể", thì thành ra
nhiều người; vậy cái nào tâm của ông?
Nếu tâm ông
không ở khắp thân thể, vậy ông đồng thời vừa
đụng trên đầu, và cũng vừa đụng dưới chân,
khi ấy nếu đầu biết đau, thì chân phải không
biết, còn chân biết đau, thì đầu phải không
biết.
Nhưng thật
tế thì, đầu và chân của ông cả hai đều biết
đau.
Thế nên ông
nói: "tùy hòa hiệp chổ nào, thì tâm thì theo
đó mà có", cũng không phải .
VI.-
A-NAN CHẤP TÂM Ở CHÍNH GIỮA
A-nan bạch
Phật: Con nghe Phật cùng với ngài Văn
Thù...khi luận về "thật tướng" (chơn tâm),
Phật dạy rằng: "Tâm chẳng ở trong và cũng
chẳng ở ngoài ".
Nay con suy
nghĩ: Nếu tâm ở trong thân, sao chẳng biết
được bên trong? Còn nói tâm ở ngoài , thì
sao tâm lại biết nhau? Như thế thì "tâm"
chắc ở chính giữa.
PHẬT BÁC
Phật hỏi:
Ông nói "Tâm ở chính giữa", vậy cái "chính
giữa"; còn ở chính giữa thân, thì đồng thời
với ở trong thân, như đã nói trước. Nghĩa
là: tâm phải thấy trước tim, gan, ruột, phổi
ở bên trong .
Còn như ở
về cảnh, thì có thể nêu (cái giữa) ra
được, hay không nêu ra được?
Nếu không
nêu ra được , thì đồng như không có; còn nêu
ra được , thì không thể nhứt định chổ nào là
chính giữa.
Vì sao? Như
người lấy cái cắm chính giữa, nếu người ở
phía đông thì xem thấy cây ấy cắm ở phía
tây; còn người ở phía nam, thì xem thấy cây
ở phía bắc.
Cái cây cắm
nêu đó đã không nhứt định chổ nào là chính
giữa, thì cái tâm của ông cũng phải lộn lạo
không định.
A-Nan thưa:
con nói "chính giữa" không phải hai chổ ấy.
Như Phật thường nói: "con mắt đối với sắc
trần, sanh ra nhãn thức". Một bên con mắt
thì có phân biệt, một bên sắc trần lại không
phân biệt, cái thức sanh chính giữa, đó là
chổ của tâm ở.
Phật hỏi:
Ông nói: "Tâm ông sanh chính giữa căn và
trần cảnh" hay không gồm cả hai .
Nếu gồm cả
hai, thì căn với cảnh lộn lạo (căn không
thành căn, cảnh không thành cảnh; vì vừa
biết mà cũng là không biết). Song trần
cảnh thì không có tri giác, còn căn lại có
tri giác, hai bên đối lập riêng khác, vậy
lấy chổ nào làm giữa.
Còn như
không gồm cả căn và cảnh, thì tâm không thật
thể. Vậy lấy cái gì làm chính giữa?
Thế nên
phải biết: Ông nói "tâm ở chính giữa" cũng
không phải.
VII.-
A-NAN CHẤP CÁI "KHÔNG TRƯỚC" LÀM TÂM
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn, ngày trước con thấy khi Phật
cùng với ông Đại Mục Kiền Liên. Tu Bồ Đề
v.v...nói pháp, Phật có dạy rằng:
"Cái tâm
hiểu biết phân biệt, không ở trong thân,
không ở ngoài thân, không ở chính giữa,
không ở chổ nào cả; "không dính mắc (vô
trước) tất cả" đó gọi là tâm ".
Vậy nay con
lấy cái "không dính mắc" đó làm tâm, chẳng
biết có hay được không?
PHẬT BÁC
Phật hỏi:
-Ông nói: lấy cái "không dính mắc tất cả"
làm tâm. Vậy tôi hỏi ông: tất cả các vật
tượng trong thế gian này, nào là hư-không,
thế-giới v.v...Vậy các vật tượng ấy có mà
ông không dính mắc (trước) hay là
không, mà ông không dính mắc?
Nếu các vật
tượng ấy không có, thì cũng như lông rùa,
sừng thỏ: nó đã không, thời có gì mà dính
mắc.
Nếu còn có
cái "không dính mắc" thì ông không thể nói
rằng "không dính mắc được". Vì cái gì không
có hình tướng thì không, còn cái gì có hình
tướng là có. Nếu có hình tướng thì phải bị
"dính mắc".
Thế nên ông
nói: "không dính mắc tất cả làm tâm" cũng
không phải.
LƯỢC GIẢI
Đã bảy lần Phật gạn về tâm, ông A-nan đều
nói không trúng. Vậy nên biết: Nếu chưa ngộ
được thể tánh chơn tâm, thì dù cho nói cách
nào cũng sai cả. Chẳng khác nào mhư trong
Nhiếp Đại Thừa luận có cái dụ: "kẻ mù rờ
voi". Người rờ nhầm cái chân thì nói con voi
như cột nhà, người rờ nhằm lỗ tai, thì nói
voi như ki hốt rác, người rờ nhằm đuôi, thì
nói voi như cây chổi quét nhà v.v...mặc dù
rờ trúng, nhưng nói và nghĩ thế nào cũng sai
cả. Phải thấy chơn tướng của con voi, thì
nói mới không sai.
Chúng ta cũng nên lưu ý; trong kinh này,
ngài A-nan đại diện cho chúng sanh mê lầm
hiện tại, cũng như tương lai mà đứng ra thưa
hỏi.
Có những đoạn ngài trình bày hoặc thưa hỏi
rất thấp, là đại diện cho những chúng sanh
mê lầm bực hạ căn. Có những đoạn Ngài trình
bày hoặc thưa hỏi thâm thúy, là đại diện,
cho những chúng sanh căn tánh bực thượng.
Vậy chúng ta không nên căn cứ lời trình bày
trên mặt văn tự mà phê phán trình độ của
Ngài.
Bài Thứ Ba
I.- A-nan
cầu Phật dạy phương pháp tu hành, lần thứ
hai
II.- Phật gạn hỏi lại tâm lần thứ hai.
III.- A-nan chấp cái "Suy nghĩ phân biệt "
làm tâm.
IV.- A-nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp tu
hành, lần thứ ba.
V.- Phật chỉ tâm lần thứ nhứt.
VI.- Phật chỉ cái thấy làm tâm, không phải
con mắt .
VII.- Phật chỉ tâm lần thứ hai
VII.- A-nan cầu Phật chỉ dạy ở nơi thân này
cái nào "chơn" và cái nào "vọng"
I.- Vua Ba Tư nặc đứng dậy hỏi Phật .
X.- Phật chỉ tâm lần thứ ba
XI.- Phật chỉ "cái thấy" không sanh diệt
I.-
A-NAN CẦU PHẬT DẠY PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH LẦN
THỨ HAI.
Ông A-nan
đã bảy lần chỉ tâm đều không trúng, vì ông
chấp vọng tưởng là tâm, nên bị Phật bác cả,
lần thứ hai ông đứng dậy chắp tay kính lạy,
cầu Phật chỉ dạy phương pháp tu hành để
thoát ly sanh tử luân hồi.
A-nan thưa
rằng: -Bạch Thế Tôn ! Con là em Phật, tuy đã
xuất gia, mà vẫn còn ỷ lại lòng thương yêu
của Phật chỉ lo học rộng nghe nhiều, không
chuyên tu niệm, nên không chứng được đạo
quả, chẳng hàng phục nổi tà chú của ngoại
dạo Ta-Tỳ-Ca-La; trái lại, còn bị Ma Đăng
Già bắt vào phòng dâm...phải nhờ Phật cứu
độ. Vậy cúi xin Phật từ bi chỉ dạy cho con
phương pháp tu hành, để phá trừ ác chiến và
chứng thành đạo quả.
Thưa thỉnh
xong, A-nan và đại chúng kính cẩn và trông
chờ lời Phật chỉ dạy.
II.-
PHẬT GẠN HỎI TÂN LẦN THỨ HAI.
Lúc bấy giờ
Phật gạn hỏi lại cái "tâm" lần thứ hai, và
bảo ông A-nan phải phân biệt rành rõ cái nào
là chơn tâm, và cái nào là vọng tâm.
Phật dạy:
Ông nay muốn đặng đạo vô thượng Bồ đề, thì
điều cần nhứt là phải hiểu rõ hai món căn
bản:
Một căn bản
của sanh tử luân hồi là vọng tâm.
Một căn bản
của Bồ đề, Niết bàn, là chơn tâm.
Nếu ông
nhận lầm căn bản của sanh tử (vọng tâm)
làm nhơn tu hành, thì không bao giờ giải
thoát được. Cũng như người nhận giặc làm
con, thì chỉ thêm bị phá hoại gia sản của
mình mà thôi. Và cũng như người nấu cát làm
cơm, dầu trải bao nhiêu năm cũng chẳng thành
cơm được.
Vậy nay ông
muốn biết đường lối tu hành để ra khỏi sanh
tử luân hồi, thì ông hãy nghe tôi hỏi đây:
Phật liền
đưa bàn tay, co lại năm ngón và hỏi ông
A-nan rằng: Ông có thấy không?
A-nan đáp:
Bạch Thế Tôn, thấy.
Phật hỏi:
-Ông thấy cái gì?
A-nan đáp:
Con thấy Phật đưa bàn tay co năm ngón lại.
Phật hỏi:
Ông lấy cái gì để thấy và lấy cái gì làm
tâm?
III.-
A-NAN CHẤP CÁI "SUY NGHĨ PHÂN BIỆT" LÀM TÂM
A-nan thưa:
con lấy "mắt" để thấy và cái "biết suy nghĩ
phân biệt" làm tâm .
Phật quở:
Dốt lắm, A-nan! cái đó không phải là tâm của
ông.
LƯỢC GIẢI
Chúng ta
nên lưa ý: Thông thường ai cũng đều có cái
"suy nghĩ phân biệt" là tâm của mình, mà
Phật lại nói "không phải tâm". Vậy chúng ta
cần phải chính chắn suy xét chổ đó.
* * *
A-nan hoảng
hốt, đứng dậy thưa Phật: Bạch Thế Tôn, cái
"suy nghĩ, phân biệt" này, nếu không phải là
tâm của con thì gọi nó là cái gì?
Phật dạy:
nó là "vọng tưởng" (vọng tâm). bởi
các ông từ hồi nào đến giờ, lầm nhận "vọng
tưởng" làm "chơn tâm", cho nên nhiều kiếp
trầm luân. Như người nhận giặc làm con, nên
bị giặc phá hại.
A-nan thưa:
Bạch Thế Tôn, con vì thương Phật nên mới
xuất gia, thì con mới dùng cái tâm này mà
thương Phật. Con phụng thờ các đức Phật
trong mười phương và làm tất cả các điều
công đức, cũng dùng cái tâm này. Dầu cho con
có làm các điều tội lỗi, hủy báng Phật pháp,
đọa vào địa ngục đi nữa, thì con cũng dùng
cái tâm này. Ngày hôm nay Phật nói "nó"
không phải tâm của con, như thế thành như
con không có tâm; nếu không có tâm, thì con
đồng như cây, đá rồi! Cúi xin đức Thế tôn từ
bi chỉ giáo.
Phật dạy
rằng: này A-nan nếu ông chấp cái "suy nghĩ,
phân biệt" là tâm của ông, thì khi rời cảnh
vật hiện tiền, cái tâm "hiểu biết, phân
biệt" ấy, cũng vẫn còn, thế mới phải là tâm
của ông. Nếu rời cảnh vật hiện tiền, mà tâm
hiểu biết phân biệt ấy mất đi, thì không
phải là chơn tâm của ông rồi.
Dầu cho ông
diệt hết năm tri giác bên ngoài là thấy,
nghe, hay, biết (năm giác quan), chỉ
còn lưu lại cái "thầm thầm phân biệt" bên
trong (thức thứ sáu) thì đó cũng là
cái vọng tưởng phân biệt (ý thức thứ sáu)
bóng dáng pháp trần không phải là chơn tâm
của ông.
Này A-nan,
tôi không bắt buộc ông phải chấp cái "suy
nghĩ phân biệt" đó là không phải tâm của
ông; tôi chỉ bảo ông nên chính chắn suy xét:
nếu rời cảnh vật hiện tiền, mà cái "suy nghĩ
phân biệt" này vẫn còn, thì mới phải thật là
chơn tâm của ông.
Còn nếu rời
khỏi cảnh vật hiện tiền, mà phải "suy nghĩ
phân biệt" này cũng mất luôn đi, thì rõ ràng
nó là cái "vọng tưởng phân biệt" (vọng
tâm) bóng dáng của sáu trần, chớ không
phải là "chân tâm thường trụ" của ông vậy.
Nếu ông
nhận cái "hư vọng phân biệt sanh diệt" (vọng
tưởng) nay làm tâm của ông, thì khi cảnh
vật hiện tiền qua rồi, tâm ấy cũng theo cảnh
vật mà diệt đi. Lúc ấy thành ra ông không có
tâm rồi. Nếu không có tâm, thì ông lấy cái
gì để tu hành, và thành đạo chứng quả.
Ông phải
biết rằng: trong thế gian tất cả người tu
hành, không được thành đạo, đều do chấp lầm
cái "vọng tưởng sanh diệt" (vọng tâm)
này làm chân thật (chơn tâm).
Chính ông
ngày nay cũng thế, nên tuy học nhiều mà
không được quả Thánh.
IV.-
A-NAN CẦU PHẬT CHỈ DẠY PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH
LẦN THỨ BA.
A-nan cùng
Đại chúng, nghe Phật nói như vậy, đều ngẫn
ngơ và im lặng.
Lúc bấy giờ
ông A-nan cúi đầu lạy Phật, quỳ gối chắp tay
vừa khóc lóc, vừa bạch Phật rằng: Con từ khi
xuất gia theo Phật đến nay, vì ỷ lại là em
của Phật, tin chắc sẽ nhờ oai thần Phật ban
cho đạo quả, chẳng cần tu tránh cực nhọc;
không ngờ ai tu nấy chứng, không thể thay
thế cho nhau được.
Hôm nay con
mất "bản tâm" đi rồi thân tuy xuất gia mà
tâm chẳng vào đạo, chẳng khác nào đứa cùng
sanh tử bỏ cha trốn đi.
Nay con mới
biết học nhiều mà không tu cũng như người
không học mà cũng như người nói đến đủ các
thức ăn, rốt cuộc trong bụng vẫn đói.
Bạch Thế
Tôn, chúng con vì hai chứng phiền não và sở
tri ràng buộc, nên không ngộ được chơn tâm.
Cúi xin đức Thế Tôn thương xót kẻ bần cùng,
chỉ dạy cho con phương pháp tu hành, để phát
minh được tâm tánh.
V.- PHẬT
CHỈ CÁI "THẤY" THƯỜNG CÒN
Khi ấy Phật
kêu A-nan, dạy rằng: -Vừa rồi ông nói "thấy
năm ngón tay của ta con mắt nắm lại". Vậy
thì sao có nắm tay? Và nhờ cái gì mà có cái
thấy?
A-nan thưa:
-Bạch Thế Tôn, nhơn bàn tay của Phật co lại
năm ngón, nên mới có nắm tay, và nhờ con mắt
cho nên mới có cái thấy.
Phật hỏi:
Vậy thì "không bàn tay chẳng có ngón tay,
cũng như không con mắt thời chẳng có cái
thấy "; so sánh như thế có đúng không?
A-nan thưa:
Bạch Thế Tôn, đúng.
Phật dạy:
Không đúng hẳn! Không bàn tay thì không có
nắm tay thì phải, không con mắt chẳng phải
cái "thấy" không có.
Ông nên ra
ngoài đường hỏi những người mù mắt: "các
người có thấy gì không?", thì họ đều trả lời
với ông rằng: "Chỉ thấy tối đen". Như thế
thì rõ ràng: Người mù không có con mắt, mà
cái "thấy" cũng vẫn còn.
Đây là cái
bằng chứng: Mặc dù con mắt không có, và trần
cảnh đối trước có tối và sáng khác nhau,
nhưng cái thấy lúc nào cũng có (nói cái
thấy là đại diện cho năm giác quan).
A-nan thư:
Người mù thấy tối, thì sao gọi là thấy được?
VI.-
PHẬT CHỈ TÂM LẦN THỨ NHỨT
Phật hỏi
A-nan: Người sáng mắt ở trong nhà tối thấy
tối, cùng với người mù mắt thấy tối, vậy hai
cái tối đó có khác nhau không?
A-nan thưa:
-Bạch Thế Tôn ! không khác.
Phật hỏi:
Nữa trong nhà tối thấy tối, nếu có người đem
đèn vào, họ thấy được các vật, vậy cái đèn
thấy hay con mắt thấy?
A-nan thưa:
Mắt thấy chớ không phải đèn thấy.
Phật dạy:
Cũng thế, người mù mắt khi lột mây rồi, thấy
được cái cảnh vật, đó là tâm thấy chớ không
phải mắt thấy.
Phật dạy
tiếp: -Cái đèn chỉ làm cho sáng các vật, còn
cái thấy là con mắt (dụ cho tâm) chớ
không phải đèn (dụ con mắt). Lên một
tầng nữa: con mắt chỉ làm cho tỏ rõ các vật,
còn cái thấy là tâm, chớ không phải con mắt
(đây là lần thứ nhứt Phật chỉ tâm).
A-nan và
đại chúng nghe Phật giảng dạy như thế rồi,
đều im lặng, nhưng trong tâm thật chưa hiểu,
nên đều kính cẩn chắp tay, để chờ Phật chỉ
dạy thêm.
LƯỢC GIẢI
Trong
đoạn này, xin nói thêm tỷ dụ này cho dễ
hiểu: Con mắt của người cũng như bóng đèn
điện, còn cái "thấy" của người cũng như
điện. Khi dây đứt (dụ dây thần kinh đứt )
bóng hư (dụ mắt mù ) thì đèn không cháy, chớ
không phải điện mất (không cái thấy). Đến
khi thay bóng mới nối dây lại, thì điện cháy
trở lại không phải do bóng hay do dây mới có
điện.
Cái "thấy" của người cũng thế: khi mắt bị
mây che thì chỉ thấy tối, chớ không phải cái
"thấy" mất, đến khi lột mây rồi, thì cái
"thấy" hiện ra, không phải do con mắt mới có
cái thấy. Đoạn này Phật chỉ rõ cái "thấy" là
tâm.
* * *
VII.-PHẬT
CHỈ TÂM LẦN THỨ HAI
Khi đó Phật
đưa bàn tay lên, năm ngón co lại rồi mở ra
và hỏi ông A-nan: -Ông có thấy cái gì không?
A-nan thưa:
-Thấy Phật đưa tay lên co vào rồi mở ra.
Phật hỏi:
Tự cái tay của ta co mở, hay "cái thấy" của
ông co mở?
A-Nan thưa:
- Tự tay Phật co mở, chứ "cái thấy" của con
không co mở.
Phật khen:
Phải lắm.
Phật lại
phóng một đạo hào quang trên vai phía mặt
của A-nan: A-Nan liền xoay đầu ngó về phía
bên mặt.
Phật lại
phóng hào quang trên vai phía trái của
A-Nan; A-Nan xoay đầu ngó qua phía trái.
Phật hỏi:
Cái đầu của ông hôm nay tại sao xoay qua lắc
lại như vậy?
A-Nan thưa:
vì Phật phóng hào quang trên hai vai của
con, nên con xoay qua lắc lại để xem.
Phật hỏi:
Vậy cái đầu của ông lắc, hay cái thấy của
ông lắc?
A-Nan thưa:
tự cái đầu con xoay qua lắc lại, chớ cái
thấy của con không có xoay lắc.
Phật hỏi:
-Cái nào động, cái nào tịnh?
A-Nan thưa:
-Cái đầu của con có động và tịnh (dừng)
chứ cái thấy của con không có động và tịnh.
Phật nói:
Phải
Phật dạy
tiếp: -Cái nào có co, có mở, có động, có
tịnh, có sanh, có diệt, thì cái đó là vọng,
thuộc về "khách" không phải ông. Còn cái nào
không động tịnh, co mở, không sanh diệt, thì
cái đó là "chơn", thuộc về "chủ" chính là
ông. Như thế chơn và vọng rất rõ ràng, ông
còn chưa hiểu hay sao!
Tại sao từ
hồi nào đến giờ, các ông cứ nhận cái
vọng-thân tứ đại giả hợp này, cho là thật
"thân" của mình; cái vọng tưởng sanh-diệt
này, cho là thật "tâm" của mình; cảnh vật
giả tạm, cho là thật "cảnh" cảnh của mình,
mà lại bỏ cái chơn tâm thường còn bất sanh
bất diệt của mình sẵn có kia đi? Bởi thế nên
các ông phải nhiều kiếp sanh tử luân hồi,
thật là rất oan uổng!
LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật chỉ cái "thấy" không co mở, và
không sanh, diêt, động, tịnh, đó là chơn tâm
lưu lộ.
* * *
VIII. -A
NAN CẦU PHẬT CHỈ DẠY Ở NƠI THÂN NÀY CÁI NÀO
"CHƠN", CÁI NÀO "VỌNG".
Khi ấy
A-Nan và đại chúng được nghe Phật tạm chỉ
"cái thấy không động tịnh co mở là Tâm", nên
tất cả đều hớn hở vui mừng, và nghĩ rằng: Từ
vô thỉ đến nay, tự mình làm mất bản tâm,
nhận cái vọng tưởng phân biệt theo bóng dáng
của trần cảnh làm tâm, ngày hôm nay mới ngộ
được Tâm mình, nên hết sức vui mừng. Cũng
như đứa con nhỏ khát sữa đã lâu, nay được
gặp bà từ mẫu, nên ông và đại chúng cầu Phật
chỉ rõ ở nơi thân tâm hiện tiền đây, cái naò
chơn thật không sanh diệt và cái nào hư vọng
có sanh diệt.
IX.-VUA
BA TƯ NẶC ĐỨNG DẬY HỎI TIẾP
Khi ấy vua
Ba-tư nặc đứng dậy thưa Phật: -Bạch Thế Tôn,
lúc trước chưa thọ giáo với Phật, con nghe
phái ngoại-đạo Ca chiên diên và Tỳ la chi tử
đều nói: "Thân này sau khi chết rồi mất hẳn,
gọi là Niết bàn".
Hôm nay con
tuy được Phật chỉ dạy, nhưng vẫn còn hồ
nghi: làm sao biết rõvà chứng chắc cái tâm
này không sanh diệt. Xin Phật từ bi chỉ dạy
cho chúng con.
X.-PHẬT
CHỈ TÂM LẦN THỨ BA
Phật hỏi:
-Đại vương! Cái thân của ông hiện tại đây,
nó bền chắc như ngọc kim cương, còn mãi
không hư họai, hay là phải hoại diệt?
Vua đáp:
-Bạch thế tôn, thân con ngày nay đây, rốt
cuộc rồi cũng bị hoại diệt.
Phật hỏi:
-Ông chưa chết, làm sao biết nó sẽ bị hoại
diệt?
Vua đáp:
-Bạch thế tôn, cái thân vô thường của con
đây, tuy chưa chết, nhưng hiện tiền nó đã
tàn tạ dần! ngày qua, rồi lại ngày qua! Mỗi
niệm qua, qua từ sát na (tíc-tắc)
không dừng!...cũng như củi đốt thành tro,
cháy dần cho đến lúc tiêu tan! Vì thế nên
con biết, thân này nhứt định sẽ tiêu diệt.
Phật nói:
-Phải!
Phật lại
hỏi: -Đại vương! Thân thể ông đâu phải tiêu
diệt liền bây giờ?
Vua đáp:
-Bạch thế tôn, ngày qua tháng lại, hết hạ
đến đông, nó thầm già chết, cho đến ngày
nay, đầu bạc răng rụng, chân lỏng gối dùn,
mắt mờ tai lảng, già nua đến thế này, mà con
thật không hay không biết!
Bạch thế
tôn, khi con hai mươi tuổi, tuy nói rằng
tuổi trẻ, thật ra nhan sắc đã già hơn khi
mười tuổi. Khi ba mươi tuổi lại già hơn khi
hai mươi tuổi. Cho đến ngày nay, sáu mươi
hai tuổi, lại già hơn khi năm mươi tuổi.
Nó âm thầm
già chết, lấy trong khoảng thời gian mười
năm mà nói như vậy. Nếu chín chắn suy nghĩ,
thì cái già, chết này, không phải hạn định
trong khoảng mười năm hay hai mươi năm, mà
thật ra, mà nó già từng năm, từng tháng,
từng ngày. Nếu suy nghĩ kỷ hơn nữa, thì nó
già, chết từng phút, từng giây và từng sát
na (tíc tắc)! Năm nay già hơn năm
rồi, tháng này già hơn tháng trước, ngày hôm
nay già hơn ngày hôm qua, giờ này già hơn
giờ trước. Phút này già hơn phút trước, cho
đến sát na này cũng già hơn sát na trước.
Thế nên con biết, thân này rốt cuộc rồi cũng
tiêu diệt.
LƯỢC GIẢI
Cũng như cái đồng hồ, vì có chạy từng giây,
cho nên mới qua từng phút. Bởi có đi từng
phút, nên mới chỉ đến từng giờ, và ngày
v.v...thân này già chết cũng thế.
* * *
Phật hỏi:
-Đai vương! Ông thấy cái thân thể của ông âm
thầm già chết như thế, nên ông lo buồn; vậy
ở nơi thân thể sanh diệt, già chết này, ông
có biết được cái gì chẳng sanh diệt già chết
không?
Vua Ba Tư
Nặc chắp tay cung kính thưa: -Bạch thế tôn,
con thật không biết?
XI.-PHẬT
CHỈ CÁI "THẤY" KHÔNG SANH DIỆT
Phật dạy
rằng: -Tôi nay chỉ cho ông thấy cái không
sanh diệt.
Này đại
vương, khi ông mấy tuổi mới thấy được nước
sông hằng?
Vua đáp:
-Khi lên ba tuổi, con được mẹ bồng đến yết
kiến thành tỳ bà thiên (thành trường thọ)
đi ngang qua sông này, nên lúc bấy giờ , con
đã thấy được sông hằng.
Phật hỏi:
-Hôm nay ông thấy sông hằng, vậy cái "thấy"
đó là khác không?
Vua thưa:
-Khi con ba tuổi thấy sông hằng, đến lúc ba
mươi tuổi và nay được sáu mươi hai tuổi thấy
sông hằng cũng đều không khác.
Phật dạy:
Ngày nay ông lo buồn cho thân ông già yếu,
đầu bạc mặt nhăn, không được như lúc còn
trẻ. Vậy nay sáu mươi hai tuổi, ông xem thấy
sông hằng, cùng với khi còn trẻ thấy sông
Hằng, cái "thấy" đó có già trẻ chi không?
Vua Ba tư
nặc thưa: Bạch thế tôn, cái "thấy" không có
già trẻ.
Phật dạy,
này Đại vương thân thể mặt mày ông tuy già,
vậy cái nào có già, thì cái ấy sẽ bị biến
đổi ,tiêu diệt; còn cái nào không già, thì
cái đó không có biến đổi tiêu diệt. Nó đã
không sanh diệt, thì đâu có bị ông làm cho
nó sanh tử luân hồi được, rõ ràng như thế,
ông không hiểu sao mà còn dẫn lời của ngoại
đạo Mạt-già-Lê nói: thân này chết rồi hoàn
tòan diệt mất?
Vua cùng
đại chúng nghe Phật dạy rồi, đều biết rằng:
người chết rồi, là tâm bỏ thân này thọ thân
khác, không phải mất hẳn. Ai nấy đều hớn hở
vui mừng vì đặng lợi ích chưa từng có.
LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật chỉ thấy không già trẻ, sanh
diệt đó là Tâm

Bài Thứ Tư
I.- A-Nan
cầu Phật chỉ cái "điên đảo"
II.- Phật dẫn tỷ dụ để chỉ rõ cái "điên
đảo".
III.- Phật chỉ ngay cái "điên đảo".
IV.- Phật dạy: vì mê nên có thế giới và
chúng sanh.
V.-A-Nan đã hiểu được chơn tâm song chưa dám
nhận.
VI.- Phật chỉ tâm lần thứ tư.
VII.- A-Nan còn nghi hỏi Phật .
VIII.- Phật chỉ tâm lần thứ năm.
IX.-Phật dạy thêm, cái thấy là tâm chớ không
phải vật.
X.-A-Nan nghi cái thấy có lớn, nhỏ, đứt,
nối.
XI.-Phật dạy: Trần cảnh có lớn nhỏ, cái thấy
không có lớn nhỏ
I.-A-NAN
CẦU PHẬT CHỈ CÁI "ĐIÊN- ĐẢO".
Khi ấy
A-Nan đứng dậy lạy Phật, kính cẩn bạch rằng:
Nếu cái
thấy, nghe, không sanh diệt này là "Tâm" của
chúng con, tại sao trước kia đức Thế Tôn lại
quở chúng con "bỏ mất chơn tâm, làm việc
điên đảo"?
Cúi xin đức
Như Lai mở rộng lòng từ bi chỉ dạy cho chúng
con biết cái "Điên đảo" ở chỗ nào.
II.-PHẬT
DẪN TỶ DỤ ĐỂ CHỈ RÕ CÁI "ĐIÊN ĐẢO".
Khi đó Phật
xuôi cánh tay chỉ xuống đất, hỏi ông A-Nan
rằng:
Ông thấy
cánh tay của ta như thế này, là xuôi hay
ngược?
A-Nan thưa:
-Các người trong thế gian cho như thế là
ngược; còn con thì không biết là ngược hay
xuôi.
Phật lại
hỏi ông A-Nan: -Các người trong thế gian cho
như thế là ngược, thì họ cho như thế nào mới
là xuôi?
A-Nan thưa:
-Đức Như Lai đưa cánh tay lên, năm ngón chỉ
thẳng lên hư không, như thế là xuôi.
Phật liền
đưa tay lên, rồi kêu A-Nan mà bảo rằng:
-Cũng một cánh tay này chứ không chi khác,
chẳng qua chỉ đổi đầu làm đuôi, đổi đuôi làm
đầu mà thôi, thế mà người thế gian, chấp thế
này là ngược và thế kia là xuôi; điên đảo là
đấy! Đấy là điên đảo.
Đem một
cánh tay này mà so sánh, để chỉ rõ thêm ra:
Thân Như Lai gọi là thân Phật (giác ngộ),
thân các ông gọi là thân điên đảo (chúng
sanh). Vậy ông nên chính chắn xem xét:
thân ông và thân Phật, cái "Điên đảo" (chúng
sanh) ở chỗ nào?
LƯỢC GIẢI
Ý Phật chỉ: Đồng một thể tánh chơn tâm, vì
vô minh vọng động, chấp đây thật là Phật,
kia thật là chúng sanh. Đó là "điên đảo".
III.-PHẬT
CHỈ NGAY CÁI "ĐIÊN- ĐẢO"
Khi ấy
A-Nan và đại chúng nhìn Phật sửng sốt, đôi
mắt không nháy, vì không biết ở nơi thân này
và tâm này, cái "điên đảo" ở chỗ nào!
Phật thấy
vậy thương xót mới dạy tiếp:
Ta thường
nói: "Các pháp đều duy tâm biến hiện, cho
đến thân và tâm ông ngày nay, cũng đều là
vật ở trong chơn tâm hiện ra ". Tại sao các
ông lại bỏ cái bản thể chơn tâm đi. Các ông
vẫn ở trong ngộ (chơn tâm) làm mình (điên
đảo là đó), thật đáng buồn thương!
IV.-PHẬT
DẠY: VÌ MÊ NÊN CÓ THẾ -GIỚI VÀ CHÚNG- SANH.
-Này A-Nan,
bởi vô minh vọng động nên biến hiện ra có hư
không, thế giới và chúng sanh. Trong thân
chúng sanh vì có vọng tưởng lẫn lộn, nên nó
vọng động leo chuyền bên trong (như vượn,
như ngựa); khi các giác quan mở ra, thì
nó rong ruổi theo trần cảnh bên ngoài (như
vượn sút xiềng, ngựa tông chuồng). Rồi
các ông chấp cái tướng vọng tưởng lăng xăng
bên trong đó, cho là tâm tánh của mình. Một
phen chấp nó làm tâm, thì không sao khỏi mê
lầm cho rằng "tâm ở trong thân".
Chứ đâu
biết rằng: thân này, tâm này, cho đến núi,
sông, thế giới và hư không đều là vật trong
chơn tâm hiện ra cả.
LƯỢC GIẢI
Như
người đương thức (dụ chơn tâm) bỗng chốc
buồn ngủ (dụ vô minh). Khi ngủ chiêm bao
thấy có hư không, thế giới, chúng sanh và
mình (dụ vô minh sanh ra thế giới và chúng
sanh), rồi chấp cái thân và tâm trong chiêm
bao kia là mình, mà bỏ cả cảnh thức tỉnh
rộng lớn này đi v.v...(dụ như vì mê muội nên
nhận cái vọng thân vọng tâm này làm mình,
cảnh này là thật, mà bỏ cái toàn thể chơn
tâm sáng suốt rộng lớn kia).
* * *
Cái chơn
tâm rộng lớn như vậy, các ông lại bỏ đi
không nhận, trở lại chấp cái vọng thân, vọng
tâm này cho là thật của mình. Cũng như toàn
thể bể cả rộng khơi trong trẻo kia không
nhận, trở lại chấp hòn bọt nhỏ nhen cho là
toàn thể bể cả, thật là điên đảo! Các ông là
một trong vô số người mê muội, thật đáng
thương xót !
Như, cũng
một cánh tay của ta, mà chấp thế này là
ngược, thế kia là xuôi, cũng đồng một loại
điên đảo!
V.-
A-NAN ĐÃ HIỂU ĐƯỢC "CHƠN TÂM" SONG CHƯA DÁM
NHẬN.
Ông A-Nan
vì thấy lòng từ bi tha thiết của Phật thương
xót hết sức nồng hậu, chỉ dạy rất thâm trầm,
nên cảm động rơi nước mắt, kính cẩn bạch
Phật rằng:
-Con tuy
nhờ Phật chỉ dạy cho hiểu được chơn tâm,
nhưng hiện nay con vẫn còn dùng "cái tâm
phân biệt" (vọng tâm) nghe lời Phật
nói, rồi ngộ suông cái chơn tâm này mà thôi,
nên chưa dám nhận chắc là tâm con. Vậy xin
Phật thương xót chỉ dạy cho con hết nghi
ngờ, để trở về với đạo vô thượng.
Phật dạy:
Nếu các ông lấy vọng tâm nghe chánh pháp (chơn
tâm) thì chánh pháp này cũng trở thành
ra vọng, không thể nghe đặng chánh pháp.
Các ông nên
biết: ta cũng như người dùng ngón tay chỉ
mặt trăng, các ngươi phải nhơn ngón tay mà
xem mặt trăng. Nếu chấp ngón tay cho là mặt
trăng, thì chẳng những không thấy được mặt
trăng, mà cũng không biết luôn cả ngón tay.
Vì cho ngón tay là mặt trăng, thì không
những không biết ngón tay là gì, mà cũng
không biết thế nào là tối và sáng. Vì mê
chấp ngón tay là mặt trăng, thì tối và sáng
làm sao rõ được.
Nay nếu các
ông chấp cái "phân biệt" (vọng) làm
tâm của mình, thì cái tâm này, khi rời tiếng
nói pháp của ta, cũng vẫn còn phân biệt, thế
mới phải thật là tâm của các ông (chủ).
Nếu rời tiếng nói pháp của ta ra, mà các ông
không còn phân biệt nữa, thì đó là vọng (khách)
chớ không phải thật tâm (chủ) của các
ông rồi.
Cũng như
người khách, chỉ ngủ nhờ rồi đi, chớ không ở
lại được. Nếu thật là chủ nhà, thì ở luôn
chớ không còn đi đâu nữa.
Cũng thế,
nếu thật là tâm của ông, thì không đi đâu
cả. Tại sao khi rời tiếng nói pháp của ta,
thì ông không còn phân biệt nữa?
Không những
cái "phân biệt" về tiếng, cho dến cái "phân
biệt" về sắc, hương ,vị , xúc và pháp, nếu
rời sáu trần cảnh ra, thì nó đều không còn
phân biệt nữa. Thế thì cái tâm của ông đồng
là khách, có chỗ trả về. Vậy cái nào là
"chủ", thật là tâm của ông?
A-Nan hỏi
Phật: -Nếu cái tâm của con có chỗ trả về (trần
cảnh qua thì tâm phân biệt hết) thì tại
sao đức Như Lai lại nói: "Cái chơn tâm của
con không trả về đâu cả?". Xin Phật mở lòng
từ bi chỉ dạy cho.
IV.-PHẬT
CHỈ TÂM LẦN THỨ TƯ
Phật dạy:
-Này A-Nan, tất cả cảnh vật trong thế gian
không ngoài: sáng, tối, trống, bít, trong,
đục v. v...Nay ta đem các vật này, cái nào
trả về cho bản nguyên của cái nấy.
Như ánh
sáng thì trả về cho mặt nhựt, vì không mặt
nhựt thì không sáng; còn tối thì trả về cho
ban đêm, thông trả về cho trống, bít trả về
cho vách, trong trả về cho tịnh, đục trả về
cho bụi v.v...Cái nào trả về cho cái nấy
rồi; còn cái "thấy" của ông thấy các cảnh
vật đó, ông muốn nó trở về đâu? Nếu trả về
cho cái sáng, thì khi tối đến đáng lẽ ông
không thấy tối. Nếu trả nó về cho tối, thì
khi sáng đến ông cũng phải không thấy sáng;
còn trả về cho trống, bít v.v...cũng thế.
Rõ ràng các
cảnh vật tuy có thiên sai vạn biệt, mà "cái
thấy" của ông thật không sai khác. Như vậy,
cái nào có thể trả được, thì cái đó là
khách, tự nhiên không phải là ông rồi; còn
cái nào ông không trả về được, thì cái đó là
chủ, quyết định của ông chớ ai?
Cái tâm của
ông mầu nhiệm sáng suốt và sẵn sàng như vậy,
tại sao ông lại tự mê muội đi, trở lại nhận
cái vọng làm mình, đành chịu nổi chìm trong
biển khổ sanh tử, thật đáng thương xót !
LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật phân tách các trần tướng, cái
nào trả về cái nấy, để cho rõ "cái thấy"
không trả về đâu được. Đó là cái "chủ", là
"tâm" của chúng ta vậy.
***
VII.-
A-NAN CÒN NGHI HỎI PHẬT
A-Nan thưa:
Bạch thế tôn, con tuy biết cái "thấy" này,
không trả về đâu được, nhưng làm sao biết
chắc nó là "chơn tâm" của con?
VIII.-PHẬT
CHỈ TÂM LẦN THỨ NĂM
Phật dạy
rằng: Này A-Nan, ông thử xem trước mắt, tất
cả các cảnh vật sum la vạn tượng, nào là núi
sông, đất nước v.v...Ông nên lựa riêng ra
cái nào thuộc về cảnh vật, còn cái nào là
tâm ông.
Này A-Nan,
cùng tột tầm mắt thấy của ông, ngó lên thì
thấy mặt trời, mặt trăng, đó là vật chớ
không phải là ông; xem rộng ra, núi, sông,
cây cối, cỏ hoa, người thú; cho đến gió bụi,
chim chóc, cũng đều là vật chớ không phải
ông.
A-Nan, tất
cả các cảnh vật, mặc dù có cao thấp, xa gần,
ngàn sai muôn khác, song cũng đều là "vật bị
thấy" của ông cả. Các vật loại tuy có sai
khác, mà cái thấy của ông không khác. Thế
thì cái "hấy" này chính là "tâm" của ông chứ
không phải vật.
LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật chỉ tâm rất rõ ràng.
***
IX.-PHẬT
DẠY THÊM CÁI "THẤY" LÀ TÂM CHỨ KHÔNG PHẢI
VẬT
Nếu cái
"thấy" này là vật, thì ông cũng có thể thấy
được cái "thấy" của ta.
Nếu ông
cùng ta đồng thấy một vật, (bị thấy)
mà ông cho là thấy được "cái thấy" của ta,
thời khi ta không thấy, sao ông chẳng thấy
được cái "không thấy" của ta? (vì cái
thấy không phải vật nên chẳng thấy được nó).
Nếu ông
nói: thấy được cái "không thấy" của ta, thì
ông thấy cái gì đó, chớ quyết định không
phải là thấy cái "không thấy" (tâm)
của ta. Nếu ông không thấy được cái "không
thấy" của ta, thì quyết định nó là "tâm",
đương nhiên không phải là vật rồi.
Lại nữa,
nếu cái thấy là vật, thì khi ông thấy nó, nó
cũng phải thấy được ông. Như vậy thời tâm,
vật lộn lạo; và trong thế gian này, không
thể phân biệt được loài hữu tình (tâm),
và loài vô tình (vật).
LƯỢC GIẢI
Đại ý đoạn
này Phật nói vật thì bị thấy, còn tâm thì
không bị thấy. Bởi cái thấy là tâm, nên
không thể thấy được nó.
***
Này A-Nan,
khi ông thấy các cảnh vật, cái thấy của ông
khắp giáp tất cả, cái thấy đó không phải của
ta và của người khác, thì quyết định của ông
chớ ai?
Rất rõ ràng
như thế, tại ông còn nghi "chơn tâm" của
ông? Cái "chơn tâm" của ông như vậy, sao ông
không tự nhận lấy, lại đi cầu ta chỉ "chơn
tâm" cho nữa?
LƯỢC GIẢI
Đoạn này, Phật chỉ tâm rõ ràng hơn hết.
***
X.-ANAN
NGHI "CÁI THẤY" CÓ LỚN NHỎ, ĐỨT NỐI.
A-Nan thưa
Phật: -Bạch Thế Tôn, nếu cái "thấy" này
quyết định là tâm của con, chớ không phải
của ai, thì khi con xem vũ trụ bao la, thấy
mặt trời, mặt trăng...lúc bấy giờ cái thấy
của con rộng lớn khắp giáp cả hư không. Khi
con trở vào trong nhà, thì chỉ thấy nội
trong nhà thôi.
Vậy cái
thấy này nó phải rút nhỏ lại, chui vào nhà,
hay là khi vào nhà, nó bị tường vách cắt
đứt, nên còn nhỏ như thế? Chúng con không
biết nghĩa này thế nào, xin Phật từ bi chỉ
dạy.
XI.-
PHẬT DẠY: TRẦN CẢNH CÓ LỚN NHỎ, CÁI "THẤY"
KHÔNG LỚN NHỎ
Phật dạy:
Này A-Nan, trong thế gian tất cả cảnh vật có
lớn nhỏ trong ngoài, tốt xấu v.v...đều thuộc
về trần cảnh hiện tiền cả, chớ không phải
cái thấy của ông có lớn nhỏ, tóp lại hay nới
ra.
Cũng như
trong cái hộp vuông, thì thấy hư-không
vuông, trong cái chén tròn thấy hư không
tròn. Vì chén tròn, hộp vuông, nên thấy hư
không có vuông và tròn, chớ không phải cái
hư không thật có tướng vuông tròn.
Nếu hư
không quyết định là vuông, thì khi để cái
chén tròn, đáng lẽ không thấy hư không tròn.
Trái lại,
Nếu hư không quyết định là tròn, thì khi để
hộp vuông, đáng lẽ không thấy nó vuông.
Vậy nên
biết: vuông, tròn là tại đồ vật, chớ không
phải hư không có vuông, tròn. Nếu phá hết
các đồ vuông, tròn thì ông sẽ thấy hư không
không có tướng vuông, tròn. Không phải bỏ hư
không vuông mà có hư không tròn, hay trừ hư
không tròn mà có hư không vuông.
Cái "thấy"
của ông cũng thế, không có vuông tròn hay
lớn nhỏ, mà lớn nhỏ, vuông tròn là tại cảnh
vật.
Nếu ông có
khi vào nhà, cái "thấy" quyết định phải tóp
nhỏ lại, thì ông ra ngoài sân xem mặt nhựt,
ông phải kéo giản cái thấy quyết định phải
tóp nhỏ lại, thì ông ra ngoài sân xem mặt
nhựt, ông phải kéo giản cái "thấy" ra đến
mặt nhựt hay sao?
Lại nữa,
khi vào nhà, nếu ông cho cái thấy bị cắt đứt
đi, thì khi xoi vách trống ra một lổ, thấy
được bên ngoài, sao cái thấy của ông không
có đầu nối?
Nghĩa đó
rất rõ ràng như vậy, chớ có chi lạ mà ông
nói không biết.
A-Nan, tất
cả chúng sanh từ vô thỉ đến giờ vì mê mình (tâm)
làm vật, bỏ mất chơn tâm của mình, bị cảnh
vật xoay chuyển (chi phối) nên thấy
có lớn nhỏ, rộng hẹp, tốt xấu v.v...Nếu ai
chuyển xoay được cảnh vật, thân tâm định
sáng suốt viên mãn, thì đồng với chư Phật.
Lúc bấy giờ không rời nơi đạo tràng (chỗ
nầy) mà ở trên đầu một mảy lông, có thể
chứa đựng khắp cả mười phương thế giới.
LƯỢC GIẢI
Từ nơi thể tánh chơn tâm, vì vô minh vọng
động, sanh ra có hư không thế giới, chúng
sanh cùng các cảnh vật, nên gọi "mê mình là
vật".
Khi có cảnh vật rồi, cứ theo đó mà phân biệt
xấu tốt, lớn nhỏ, mừng giận v.v...nên nói
"bị vật chuyển xoay".
Đến khi hết vô minh vọng động, trở lại với
thể tánh chơn tâm, thì các cảnh vật ấy không
còn; như người thức giấc chiêm bao, thì cảnh
chiêm bao kia hết, nên nói "xoay chuyển vật"
là thế.
Lúc bấy giờ, một sợi lông hay mười phương
thế giới cũng đều là chơn tâm cả. Đã đồng là
chơn tâm, thì không còn thấy thế giới lớn
hơn sợi lông, hay sợi lông nhỏ hơn thế giới,
vì đồng một thể tánh, nên nói: "Trên đầu một
sợi lông, có thể chứa đựng mười phương thế
giới".
Đoạn này lý thâm, phải suy nghĩ nhiều mới
hiểu.
Bài Thứ Năm
I.- A-Nan
nghi: nếu "cái thấy" là mình, thì tâm này là
ai?
II.- Cái thấy rời tất cả cái tướng.
III.- Cái thấy tức tất cả các pháp.
IV.- Phật trấn tĩnh đại chúng.
V.- Ngài Văn Thù đứng lên thưa hỏi.
VI.- Phật dạy: Cái thấy không có "thị" và
"phi thị".
VII.- A-Nan nghi: Chơn tâm đồng với thuyết
tự nhiên ngoại đạo.
VIII.- Phật bác cái chấp "tâm tự nhiên mà
có".
IX.- A-Nan nghi: Tâm do nhơn duyên sanh.
X.- Phật bác cái chấp: "nhơn duyên sanh".
XI.- Phật dạy: Chơn tâm không thể dùng tâm
suy nghĩ hay lời nói luận bàn được
XII.- A-Nan trở lại nghĩ "nhơn duyên sanh".
XIII.- Phật gạn lại hỏi "cái thấy" để chỉ rõ
chơn tâm.
XIV.- Phật chỉ cái "thấy" không phải vọng,
song chưa phải là chơn tâm.
XV.- Phật chỉ tâm lần thứ sáu.
I.-
A-NAN NGHI: NẾU CÁI "THẤY" LÀ MÌNH THÌ THÂN
TÂM NÀY LÀ AI?
A-Nan thưa
Phật: -Bạch thế tôn! Nếu cái "thấy" này thật
là "tâm" con, thì thân tâm của con hiện nay
đây là ai? Và nếu cái "thấy" thật của con,
thì nó phải hiện ở trước, khiến cho con thấy
được nó.
Lại nữa,
thân tâm, của con hiện nay đây, biết phân
biệt được nó (cái thấy), còn nó không
biết phân biệt được thân tâm con. Xin đức
Thế Tôn mở lòng đại bi chỉ dạy cho kẻ chưa
ngộ này.
II.-CÁI
THẤY (TÂM) RỜI TẤT CẢ HÌNH TƯỚNG
Phật dạy
A-Nan: Ông nói "cái thấy phải ở trước mặt để
ông thấy nó", nói như vậy không phải, vì nếu
cái "thấy" thật ở trước mặt ông, ông thấy
được nó, thì cái "thấy" đó ở chỗ nào phải có
nhất định và phải chỉ ra được .
Nay ông
ngồi trong rừng Kỳ đà, xem các cảnh vật, đưa
tay chỉ ra từng món: chỗ im mát kia là rừng
cây, cái sáng chiếu nọ là mặt nhựt, nơi ngăn
ngại này là vách, chỗ trống đó là hư không;
cho đến cỏ cây hoa lá, các vật lớn nhỏ tuy
khác, song đều có hình tướng, có thể chỉ ra
được cả. Còn cái "thấy" nếu có ở trước mặt
ông, thì ông nên lấy tay chỉ chắc chắn, cái
nào là cái "thấy". Nếu hư không là cái
"thấy" thì cái gì là hư không? Còn nếu cảnh
vật là cái "thấy", thì cái gì là cảnh vật?
Đối với các cảnh vật sum la vạn tượng, ông
nên chính chắn phân tích rõ ràng, rồi chỉ
cho ta xem, cái nào là cái "thấy"cũng như
chỉ các vật, không có lầm lộn.
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn! Con mở tầm con mắt và đưa tay
chỉ khắp tất cả, thì đều là "vật" chớ không
có cái nào là "thấy". Dù cho bực Bồ tát cũng
không thể phân tích ở nơi muôn vật để chỉ
riêng cái "thấy" ra được; huống chi chúng
con là bậc sơ học thinh văn, làm sao chỉ
được .
Phật dạy:
Phải lắm!
LƯỢC GIẢI
Tâm không phải cái hình tướng, cũng như vàng
không phải là vòng, kiềng, xoa, xuyến v.v
...
III. CÁI
THẤY (TÂM) TỨC TẤT CẢ PHÁP
Phật dạy
rằng: Này A-Nan ! Như lời ông nói: "trong
các cảnh vật, không thể chỉ riêng cái "thấy"
ra được "; vậy nay ông đứng trước cảnh vật
chỉ lại coi, cái nào không phải là cái
"thấy"?
A-Nan thưa:
Con hiện đang xem tất cả các cảnh vật, không
biết cái nào không phải cái "thấy". Nếu rừng
cây kia không phải cái "thấy", thì làm sao
thấy được rừng cây. Còn rừng cây là cái
"thấy", thì sao gọi là rừng cây. Lại nữa, hư
không nếu không phải là cái "thấy", thì làm
sao thấy được hư không . Còn nếu hư không
tức là cái "thấy", thì sao lại gọi là hư
không. Con chính chắn suy nghĩ: cái nào cũng
là cái "thấy" cả.
Phật dạy:
phải lắm!
Khi đó đại
chúng nghe lời Phật nói như vậy, tất cả đều
hoang mang lo sợ, vì không biết nghĩa ấy thế
nào.
LƯỢC GIẢI
Tâm đã sanh ra các pháp, thì pháp nào cũng
là tâm cả:
Cũng như vàng đã làm ra các đồ trang sức thì
món nào cũng là vàng cả.
***
IV. PHẬT
TRẤN TĨNH ĐẠI CHÚNG
Phật dạy
A-Nan và đại chúng hoang mang, sợ hãi, nên
sanh tâm thương xót, liền an ủi A-Nan và đại
chúng rằng:
Như-Lai nói
chơn thật, chẳng dối trá, không phải như
chúng ngoại đạo Mạc-già-lê, nói năng rối
loạn không nhất định đâu. Các ông nên bình
tĩnh và chín chắn suy xét lại, chớ để cho
Như Lai thêm lòng thương xót.
V.- NGÀI
VĂN THÙ ĐÚNG LÊN THƯA HỎI
Khi ấy Ngài
Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương tử thương cả bốn
chúng, nên đứng dậy lạy Phật , cung kính
chắp tay và thưa rằng:
- Bạch Thế
Tôn! Trong đại chúng đay chưa hiểu cái
nghĩa: các cảnh vật là cái "thấy" hay không
phải cái "thấy"?
Bạch Thế
Tôn! Các cảnh vật hiện tiền đây, nếu là cái
"thấy", thì phải chỉ ra được; còn nếu không
phải cái "thấy", thì đáng lẽ không thể thấy
được. Vì trong đại chúng không hiểu nghĩa
này thế nào, cho nên mới sợ hãi, hoang mang.
Cúi xin đức Như Lai duỗi lòng từ bi chỉ dạy
cho biết: Các cảnh vật hiện tiền đây, cùng
với cái "thấy" này, nguyên là gì? Trong đây
không có cái "phải" và cái "không phải".
LƯỢC GIẢI
Đoạn này lý thâm, nên ngài Văn-Thù mới đứng
lên thưa hỏi: người học phải suy xét nhiều
mới hiểu được.
Nói cảnh
vật và cái thấy, tức là chỉ cả vật chất với
tinh thần đồng một thể tánh chơn tâm. Vì
chơn tâm thì không thể suy nghĩ và bàn luận
được, phải tự ngộ mà thôi, nên nói, "nguyên
nó là cái gì?" (vì không thể nói ra được).
Bởi nó rời đối đãi thị phi, nên nói "trong
đó không có cái phải và cái không phải".
***
VI.-
PHẬP DẠY: CÁI "THẤY" KHÔNG CÓ "PHẢI" VÀ
"KHÔNG PHẢI" (THỊ, PHI THỊ)
Phật kêu
ngài Văn-Thù và Đại chúng, dạy rằng:
- Mười
phương các đức Phật và các vị Đại Bồ tát an
trụ trong chơn tâm rồi, thời không còn thấy
thật có các cảnh vật là căn, trần, thức nữa.
Cái thấy cùng với cảnh vật bị thấy, nguyên
là "chơn tâm". Đã là chơn tâm, thì đâu còn
có "phải" hay "không phải" nữa. Như ông là
Văn Thù, vậy có thể nói ông là "thật" Văn
Thù hay "không thật" Văn Thù được không?
Văn-Thù
thưa: -Bạch Thế Tôn! Chính như thế đó, con
là Văn-Thù rồi, thì không thể nói "thật
Văn-Thù" được; vì nếu nói "thật Văn-Thù",
thì phải nói ông Văn-Thù giả (thứ hai).
Song con nay đã là Văn-Thù rồi, thì không
thể nói "thật" hay "không thật" được.
LƯỢC GIẢI
Chơn tâm không hai, nên không còn thị và phi
đối đãi; không thể nói "quấy" đã đành, mà
nói "phải" cũng không trúng. Bởi vì nó ngoài
vòng đối đãi, cũng như ông Văn-Thù là
Văn-Thù, không thể nói: "thật" hay "không
thật" được .
***
Phật dạy:
Cái thấy cùng với cảnh vật bị thấy cũng lại
như vậy, đều là thể tánh chơn tâm, vì vọng
động mà có ra: thấy nghe và các cảnh vật. Nó
cũng như mặt trăng thứ hai, đâu có gì mà nói
"phải" hay "không phải". Nghĩa là chỉ có một
mặt trăng chánh, (chơn tâm) trong đó
không có cái "phải" mặt trăng hay "không
phải" mặt trăng.
Nay ông
thấy có cái "thấy" và "cảnh vật bị thấy" đó
là vọng tưởng; còn đối với thể tánh chơn
tâm, thì không còn nói phải hay không phải
được. Bởi thế nên chơn tâm nói ra ngoài cái
phạm vi "chỉ bày" và "không chỉ bày" của ông
rồi.
LƯỢC GIẢI
Suy nghĩ không tới nói năng không nhấm. Đại
ý đoạn này nói: chỉ có một chơn tâm, không
thể nói phải hay không phải, nó vượt ra
ngoài sự đối đãi và nói năng phân biệt.
Vì vọng động mà sanh ra các vật chất (cảnh)
và tinh thần (tâm). Cũng như chỉ có một mặt
trăng chánh, không thể nói phải mặt trăng
hay không phải mặt trăng; vì lòa mà thấy in
tuồng có mặt trăng thứ hai.
***
VII.-
A-NAN NGHI "CHƠN TÂM" ĐỔNG VỚI THUYẾT "TỰ
NHIÊN" CỦA NGOẠI ĐAO.
A-Nan thưa:
-Bạch Thế Tôn! Ngày trước Phật ở tại núi
Lăng Già, có dạy cho ông Đại Huệ Bồ Tát
v.v...rằng: "các chúng ngoại đạo kia thường
chủ trương thuyết "tự nhiên sanh", còn ta
thời nói "các pháp do nhơn duyên sanh", nên
không đồng với thuyết của các ngoại đạo
kia".
Hôm nay
nghe lời Phật dạy, thì con hiểu cái "chơn
tâm" này in như tự nhiên mà có; chớ không
phải "nhơn duyên sanh", vì nó rời tất cả các
vọng tưởng điên đảo, không sanh, không diệt.
Cúi xin Phật từ bi chỉ dạy cho con ngộ được
chơn tâm thường trụ này, mà không lạc vào
thuyết "tự nhiên" của các tà đạo.
LƯỢC GIẢI
Cái chơn tâm này, nó tuyệt đối đãi, ngoài
thị và phi. Nếu còn chấp có, không, thị và
phi, nhơn duyên hay tự nhiên v.v...Đều không
trúng cả. Song chúng sanh vì cái mê chấp
nhiều đời, cũng như cây chuối nhiều bẹ, lột
hết bẹ này, thì nó bày ra bẹ khác. Phật vừa
bác xong thị và phi, thì ông A-Nan liền chấp
nhơn duyên và tự nhiên v.v...than ôi! Lưới
mê nhiều đời chồng chập, thật khó trong một
lúc vẫy vùng ra khỏi!
VIII.-
PHẬT BÁC CÁI CHẤP "TÂM TỰ NHIÊN MÀ CÓ"
Phật dạy
rằng: Ta đã dùng nhiều phương tiện và thành
thật chỉ dạy cho tường tất như thế, mà ông
cũng chưa hiểu ngộ, lại còn mê muội chấp là
tự nhiên nữa.
A-Nan nếu
thật tự nhiên, thì ông phải chỉ rõ cái
"thấy" này, lấy gì làm cái thể tự nhiên của
nó? Lấy cái "sáng" làm tự nhiên hay lấy cái
"tối" làm tự nhiên? Lấy cái "trống không"
làm tự nhiên hay lấy cái "ngăn bít"
v.v...làm tự nhiên?
A-Nan, nếu
lấy cái "sáng" cho là tự nhiên cái thể của
nó như vậy, thì khi tối lại, đáng lẽ ông
không thấy được tối. Cho đến lấy cái "tối"
v.v...làm thể tự nhiên của nó, thì khi sáng
đến, cái thấy của ông phải mất, làm sao thấy
được cái sáng v.v...
IX.-
A-NAN LẠI NGHI TÂM DO "NHƠN DUYÊN SANH"
A-Nan thưa:
Bạch Thế Tôn, cái thấy này nếu không phải tự
nhiên mà có, thì chắc do nhơn duyên sanh.
Con hiểu như vậy chẳng biết có phải không?
Xin đức Thế Tôn từ bi chỉ dạy.
X.- PHẬT
BÁC CÁI CHẤP "NHƠN DUYÊN SANH"
Phật bác
rằng: Ông nói "nhơn duyên sanh". Vậy nay ta
hỏi ông: Cái thấy này là nhơn duyên cái sáng
mà có, hay nhơn duyên cái tối mà có? Nhơn
duyên cái trống không mà có, hay nhơn duyên
cái ngăn bít v.v...mà có?
A-Nan, nếu
nhơn duyên cái sáng mà có, thì khi tối đến,
ông phải không thấy được cái tối; còn nhơn
duyên cái tối, cái trống, cái bít v.v...cũng
vậy.
XI.-
PHẬT DẠY: CHƠN TÂM KHÔNG THỂ SUY NGHĨ VÀ
LUẬN BÀN ĐƯỢC.
Phật dạy:
A-Nan! Ông phải biết: Cái thấy (tâm)
này không phải "nhơn", không phải "duyên",
không phải "tự nhiên", và cũng không phải
"không tự nhiên", không phải "phi", không
phải "bất phi", không phải "thị", không phải
"phi thị", nó rời tất cả tướng, mà chính là
tất cả pháp. Như thế thời ông làm sao để tâm
suy nghĩ cho tới, dùng lời nói luận bàn cho
kịp và gọi nó bằng thứ gì được. (ly ngôn
thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, ly danh tự
tướng).
Nếu ông để
tâm suy nghĩ và dùng lời nói luận bàn, thì
cũng như người quơ tay chụp bắt hư không;
chỉ thêm mệt nhọc, chớ làm sao mà chụp bắt
hư không cho được.
LƯỢC GIẢI
Đến chỗ cao siêu tuyệt diệu, thì không còn
suy nghĩ, luận bàn được; nếu còn suy nghĩ
luận bàn được thì không phải là cao siêu
tuyệt diệu.
Bởi thế nên Đức Thích Ca đóng cửa thất tại
nước Ma-Kiệt, ông Duy-Ma-Cật ngậm miệng tại
thành Tỳ-Da, tổ Đạt-Ma ngồi tại chùa Thiếu
Lâm, day mặt vô vách chín năm, không nói một
lời, đều vì cái lý cao siêu, không thể luận
bàn được.
***
XII.-
A-NAN TRỞ LẠI NGHI "NHƠN DUYÊN SANH"
A-Nan thưa
Phật: Bạch Thế Tôn! Cái "thấy" này nếu không
phải "nhơn" không phải "duyên", tại sao đức
Thế Tôn thường cùng với các thầy Tỳ-kheo
nói: "cái thấy phải đủ bốn duyên mới sanh";
như nhơn hư không, ánh sáng, tâm và con mắt
mới sanh. Vậy nghĩa này thế nào?
Phật dạy
rằng: Này A-Nan, ta nói thuyết nhơn duyên,
là đứng về phần sự tướng (hiện tượng),
chỉ các pháp trong thế gian mà nói, chớ
không phải chỉ cho lý tánh tuyệt đối (bản
thể) vậy.
LƯỢC GIẢI
Về
phương diện pháp tướng (mượn danh từ triết
học nói cho dễ hiểu, gọi là phần hiện tượng)
nói về "thức", thì Phật nói có căn, trần,
thức và nhơn duyên v.v...Còn đứng về phương
diện pháp tánh (mượn danh từ triết học nói
cho dễ hiểu, gọi là phần bản thể) thì không
còn danh tướng, nói năng kêu gọi hay suy
nghĩ được.
Bởi thế nên trong kinh, Phật nói: "Đạo ta
cao siêu không thể suy nghĩ và luận bàn
được". Kinh này là nói về phần lý tánh tuyệt
đối.
***
XIII.-
PHẬT GẠN HỎI LẠI CÁI "THẤY" ĐỄ CHỈ RÕ
CHƠN TÂM
Phật hỏi:
Này A-Nan! Bây giờ ta hỏi ông: người đời
thường nói "tôi thấy". Vậy thế nào là "thấy"
và thế nào là không "thấy"?
A-Nan thưa:
Người đời nhơn có ánh sáng mới thấy được cái
vật, thì gọi là "thấy"; còn không có ánh
sáng, chẳng thấy các vật, thì bảo rằng
"không thấy"
Phật dạy:
Nếu không có ánh sáng mà bảo là không thấy,
thì khi tối đến đáng lẽ ông cũng không thấy
được cái "tối"? Còn như ông thấy được cái
"tối", thì khi đó chẳng qua không có ánh
sáng mà thôi, chớ sao lại nói "không thấy"?
Lại nữa,
nếu khi tối ông không thấy được cái "sáng",
mà ông cho cho là thấy, thì khi sáng ông
không thấy được cái "tối", đáng lẽ cũng phải
bảo là không thấy mới phải. Như vậy, thìi
"tối" vá "sáng" cả hai đều phải bảo là
"không thấy" hết.
Bởi thế,
ông nên biết: "tối" và "sáng" hai món trần
tướng nó tự thay đổi với nhau, còn cái
"thấy" của ông lúc nào cũng có. Vậy thì thấy
"tối" và "sáng" đều gọi là thấy cả, tại sao
khi thấy tối, ông nói "không thấy"?
XIV.-
PHẬT CHỈ THẤY CÁI KHÔNG PHẢI VỌNG, SONG CHƯA
PHẢI LÀ CHƠN TÂM
(Đoạn
này nguyên ở trước, nay dịch giả đem lại đây
cho thuận nghĩa).
Phật dạy
A-Nan rằng: -Cái "thấy" của ông đó, hông
phải là vọng, song chưa phải là "chơn tâm".
Nó cũng như mặt trăng thứ hai (do lòa con
mắt mà có) tuy không phải bóng mặt trăng
dưới nước, nhưng chưa phải là mặt trăng
chánh.
LƯỢC GIẢI
Mặt trăng chánh là dụ cho chơn tâm, mặt
trăng thứ hai là dụ cho cái thấy, nghe
v.v...các giác quan về phần trực giác. Bóng
mặt trăng là dụ cho vọng tưởng phân biệt.
Đại ý đọan này nói cái "thấy" không phải
vọng tâm, nhưng cũng chưa phải là chơn tâm,
nghĩa là nó gần với chơn tâm mà thôi. Cũng
như mặt trăng thứ hai do lòa con mắt mà có;
nó không phải bóng mặt trăng dưới nước,
nhưng cũng chưa phải là mặt trăng chánh.
***
Phật dạy:
A-Nan, ông phải biết: Khi ông thấy sáng, thì
cái "thấy" của ông không phải là cái "sáng";
khi ông thấy tối, cái "thấy" của ông không
phả là cái "tối"; khi ông thấy trống không,
cái thấy của ông không phải là cái "trống
không"; khi ông thấy ngăn bít cái "thấy" của
ông không phải là cái "ngăn bít".
LƯỢC GIẢI
Nói cái "thấy" chớ kỳ thực là chỉ chung cho
cả cái "nghe, hay, biết". Nói "sáng, tối,
trống, bít" là chỉ chung cho các cảnh vật.
Đại ý bài này nói: Khi thấy các cảnh vật,
thì cái "thấy" không phải là cảnh vật.
***
XV. -PHẬT
CHỈ CHƠN TÂM LẦN THỨ SÁU.
Phật dạy:
-Ông đã hiểu rõ bốn nghĩa này rồi; ông nên
hiểu thêm lên một từng nữa: Khi "chơn tâm đã
khởi ra cái "thấy" (cái giác quan),
thì cái "thấy" không phải là "chơn tâm"; cái
"thấy" còn cách biệt với chơn tâm, (vì
còn một lớp mê), cái "thấy" không thể bì
kịp với "Chơn tâm" (đoạn này Phật mới chỉ
chính xác cái chơn tâm)
LƯỢC GIẢI
Mượn
danh từ triết học nói cho dễ hiểu: khi bản
thể (tâm) khởi ra hiện tượng (các giác quan)
thì hiện tượng không phải là bản thể, hiện
tượng còn cách biệt với bản thể, hiện tượng
không thể bì kịp bản thể. Cũng như khi nước
đã biến thành sóng, thì sóng không phải hoàn
toàn là nước, sóng còn xa biệt với nước (vì
bị gió xao động), sóng không thể bì kịp
nước.
Đành rằng "tâm" cùng với cái "thấy"
v.v...không hai, nhưng vì mê nên tâm biến ra
các giác quan thấy nghe hay biết. Lúc bấy
giờ cái thấy nghe ấy biết, không phải là
chơn tâm. Ngộ rồi thì cái thấy nghe hay biết
mới gọi là "chơn tâm". Song khi chưa ngộ thì
không thể nói cái thấy, nghe v.v...Các giác
quan là chơn tâm được.
Cũng như
nước với sóng không khác, nhưng vì gió động
nên nước biến thành sóng; lúc bấy giờ sóng
không phải là nước, nước cách biệt với sóng.
Đến khi hết gió xao động thì sóng trở lại
thành nước. Nhưng khi còn động thì không thể
nói sóng đó là nước. Như thế thời ông làm
sao lại nói là "nhơn duyên, tự nhiên, hòa
hợp, và phi hòa hợp"được. Các ông là hàng
Thinh văn, trí thức hẹp hòi, không thông
hiểu được thập tướng (chơn tâm). Ta đã chỉ
dạy nhiều lần rồi, vậy các ông nên khôn khéo
suy nghĩ và cố gắng tiến lên tu hành, chớ
nên giải đãi trên con đường bồ đề.
******
Bài Thứ Sáu
XIII. -NƯỚC
TỪ CHƠN TÂM BIẾN HIỆN
A-Nan ,
tánh nước không tịnh, đứng chảy chẳng
thường. Như trong thành Thất La, các vị đại
huyễn sư, như ông Ca-tỳ-la-tiên,
Chiết-ca-la-tiên, Bác-đầu-ma và Ha-tát-đa
v.v...Các vị này thường lấy nước mặt trăng
hòa với thuốc. Họ chờ đêm nào trăng sáng
trong, cầm hột châu phương chư hứng mặt
trăng, thì có nước chảy ra ở thau.
Vậy nước ấy
từ hột châu sanh? Hay từ hư không ra? Hay từ
mặt trăng đến?
A-Nan, nếu
từ mặt trăng đến, nó làm cho hột châu ra
nước; vậy thì từ phương xa đến đây, trong
khi trải qua cây cối các cảnh vật, nó phải
đều làm cho ngập ướt cả; nếu thế thì cần gì
phải có hột châu phương chư (hột châu lấy
nước)? Song sự thật các cảnh vật không
ngập ướt, thì rõ ràng nước ấy không phải từ
mặt trăng đến.
Còn nói
"nước từ hạt châu ra", thì hột châu nếu đã
chảy ra được nước, đáng lẽ lúc nào nó cũng
tự chảy ra được nước, cần gì phải chờ nữa
đêm hứng mặt trăng sáng mới có nước?
Còn nói
"nước từ hư không sanh" thì hư không vô
biên, nước cũng phải vô biên; vậy thì từ
nhơn gian cho đến thiên thượng, tất cả cỏ
cây, đất đai đều bị ngập lụt cả.
Ông nên
chín chắn xem xét: Mặt trăng ở trên trời,
hột châu ở tay người cầm, cái thau hứng nước
lại để dưới đất. Mặt trăng với hột châu để
cách xa nhau, không phải hòa cũng không phải
hiệp, vậy nước đó từ đâu mà đến? Không lẽ
không nhơn đâu mà nó tự có.
Ông không
biết trong chơn tâm, tánh (bản thể)
của nước (tâm) thật không; tánh (bản
thể) của không (tâm) thật nước,
vốn sẵn thanh tịnh khắp giáp cả pháp giới,
tùy tâm của chúng sanh phân biệt như thế
nào, thì nó hiện ứng như thế nấy. Một người
cầm hột châu lấy nước, thì một chỗ đó có
nước. Nếu tất cả người trong thế gian đều
cầm hột châu lấy nước, thì khắp cả trong thế
gian đều có nước. Nước tùy theo nghiệp
chướng trong chúng sanh mà phát hiện ra; nó
không có phương hướng sứ sở gì. Người trong
thế gian không biết, lầm chấp nhơn duyên
sanh, hoặc tự nhiên có, đều do thức tâm vọng
chấp, phân biệt cả. Phàm có nói năng, luận
bàn thế nào, cũng đều không đúng cả.
XIV.-GIÓ
TỪ CHƠN TÂM BIẾN HIỆN
A-Nan, tánh
gió không tịnh, động và tịnh chẳng thường.
Như ông thường đắp y đi vào đại chúng, cái
chéo y của ông phất qua người gần bên, thì
có một chút gió quạt đến mặt người. Vậy gió
này từ chéo y bay ra, hay từ hư không bay
đến, hay từ nơi mặt người sanh?
A-Nan, nếu
gió này từ cái y bay ra, thì cái y đã thành
gió, vậy nó phải bay bổng rời khỏi thân ông,
và ông đắp y thành ra đắp gió hay sao? Ta
hay xổ cái y ra, ông hãy thử xem coi gió ở
chổ nào? chẳng lẽ trong y có chổ cất (để)
gió.
Nếu gió từ
hư không sanh, vậy thời khi ông không động
cái y, sao chẳng có gió? Và hư không thường
còn, thì gió cũng phải thường sanh, nếu khi
nào không có gió, thì hư không phải diệt.
Song thật ra gió có thể diệt (hết)
chớ không làm sao diệt được.
Nếu hư
không có sanh diệt, thời không gọi là hư
không; còn gọi là hư không thời làm sao lại
sanh ra gió được.
Còn ông nói
"gió từ nơi mặt người bị phất sanh"; nếu
thật thế, thì gió phải phất đến mặt ông mới
phải, tại sao nó lại phất ngược trở lại mặt
người bị phất.
Ông nên
chính chắn xem xét: Cái y là ở nơi ông, cái
mặt là thuộc về người kia (bị phất),
còn hư không thì tự yên lặng; gió (động)
với hư không (lặng) tánh khác nhau,
không hòa không hiệp, vậy gió từ nơi đâu mà
phát động đến đây? Không lẽ không từ nơi đâu
mà tự có.
Các ông
không biết trong chơn tâm, tánh (bản thể)
của gió (tâm) là thật gió, vốn sẵn
thanh tịnh, khắp giáp cả pháp giới, tùy tâm
chúng sanh phân biệt như thế nào, thời nó
hiện ra như thế nấy. Một người phất y, thời
có một chút gió sanh ra. Nếu tất cả mọi
người trong thế giới đều phất y, thì cả thế
giới đều có gió, theo nghiệp của chúng sanh
mà phát hiện, không có phương hướng, xứ sở
gì. Thế gian không biết, khởi thức tâm phân
biệt so đo, lầm chấp là nhơn duyên sanh,
hoặc tự nhiên có v.v...đều không đúng cả.
Bài Thứ Bảy
I-Hư không
từ chơn tâm biến thiện
II-Các giác quan từ chơn tâm biến thiện
III-Thức (phân biệt) từ chơn tâm biến thiện
IV-A-Nan ngộ được chơn tâm, đứng dậy phát
nguyện rộng lớn.
I.-HƯ
KHÔNG TỪ CHƠN TÂM BIẾN THIỆN
A-Nan, hư
không vô hình, nhơn các hình sắc mà hiện bày
ra. Như ở trong thành Thất la này, khi dân
chúng mới cất nhà, thì họ đào giếng để múc
nước. Đào một thước đất, thì thấy có một
thước hư không hiện ra, đào xuống mười thước
thì thấy có mười thước hư không hiện ra; hư
không cạn không hay sâu là tùy người đào
nhiều hay ít. Vậy hư không này là do đất
sanh, do đào mà có, hay không do đâu mà tự
sanh?
A-Nan, hư
không này, nếu không do đâu mà tự sanh, thì
khi chưa đào sao không thấy có hư không, mà
chỉ thấy đất đặc? Còn cái hư không do đào mà
có; thì khi quăng đất ra, đáng lẽ phải thấy
hư không vào. Nếu quăng đất ra trước mà
không thấy hư không vào, thời sao lại nói hư
không do đào đất mà có?. Nếu hư không không
ra vào, thời đáng lẽ nó cùng với đất không
khác; nếu không khác thời đồng với đất. Vậy
khi quăng đất ra, sao chẳng thấy hư không
ra? Nếu nói hư không do đào đất mới có, thời
khi đào, đáng lẽ phải ra hư không chớ sao
lại ra đất? Còn nói hư không chẳng do đào mà
ra thì khi đào ra đất, tại sao thấy có hư
không?
Các ông nên
chính chắn quan sát: đào là từ nơi tay người
tùy theo chỗ mà đào. Còn đất cục là nhơn chỗ
đất cái dời đi. Đào là việc thật, còn hư
không thì trống không, hai cái không dính
líu gì với nhau, không hòa không hiệp. Vậy
hư không từ nơi đâu mà ra không lẽ không
nhơn đâu mà hư không tự có.
Các ông
biết trong chơn tâm tánh (bản thể)
của hư không (tâm) là chơn giác (tâm);
tánh (bản thể) của giác (tâm)
là chơn không, vốn sẵn thanh tịnh, khắp giáp
cả pháp giới, tùy theo tâm chúng sanh thế
nào, thì nó hiện ra thế ấy. Một chỗ đào
giếng, thì một chỗ có hư không, khắp cả
trong thế gian đều đào giếng, thì khắp cả
thế gian có hư không; tùy theo nghiệp của
chúng sanh mà hiện ra, không có phương hướng
xứ sở gì. Người trong thế gian không biết,
khởi tâm phân biệt so đo, chấp là nhơn duyên
sanh hoặc tự nhiên có v.v...đều không đúng
cả.
A-Nan, ông
nên biết: hiện tiền tính của năm đại: đất,
nước, gió, lửa và hư không vốn viên dung
khắp giáp, không lay động, đều là chơn tâm
cả, không có sanh và diệt. Chỉ tại các ông
mê muội không biết mà thôi.
LƯỢC GIẢI
Đất,
nước, gió, lửa và hư không, năm đại này
thuộc về phần vật chất, đại diện cho các
cảnh vật. Hai đại diện sau (kiến và thức) là
thuộc về phần tinh thần, đại diện cho các
thức.
II.-CÁC
GIÁC QUAN TỪ CHƠN TÂM BIẾN HIỆN
A-Nan, cái
thấy không tự thể, nhơn đối với cảnh vật và
hư không mà có, như ông ngày nay ngồi trong
rừng Kỳ đà, sớm mai thấy sáng, chiều lại
thấy tối, đêm không trăng trời thấy tối, có
trăng lại thấy sáng. Nhơn có tối và sáng,
nên ông mới thấy có phân biệt.
Vậy cái
thấy này cùng với tối, sáng và hư không là
một thể hay không phải một thể? Đồng hay
khác?
Này A-Nan,
khi tối thì không có sáng, khi sáng không có
tối. Nếu cái thấy này cùng với tối đồng một
thể thì khi sáng đến, cái thấy phải mất. Còn
cái thấy này cùng với cái sáng đồng một thể,
thì khi tối lại, cái thấy diệt. Nếu cái thấy
diệt, thời làm sao thấy tối và thấy sáng.
Lại nữa, tối và sáng khác nhau, còn cái thấy
lại không sinh diệt, như thế thời làm sao
nói đồng một thể được.
Nếu nói cái
thấy cùng với tối, sáng và hư không chẳng
phải một thể, thì rời tối, sáng và hư không,
ông hãy chia riêng cái thấy của ông ra xem
thử hình tướng của nó thế nào. Nếu trời tối,
sáng và hư không thì cái thấy của ông như
lông rùa, sừng thỏ; nghĩa là không có. Khi
phân tách ra tối, sáng và hư không, ba cái
đều khác, thì cái thấy của ông ở chỗ nào?
Lại nữa,
tối sáng trái nhau, thế nào nói đồng được?
Rời tối, sáng và hư không ra, không có cái
thấy, thì làm sao nói khác được? Không thể
chia ra đây là hư không, kia là cái thấy
được, thời làm sao lại nói không đồng, tối,
sáng chẳng đồng, còn cái thấy không biến đổi
thì sao lại nói không khác?
Ông nên
chính chắn suy xét: cái sáng là từ nơi mặt
nhựt, cái tối thuộc ban đêm, chỗ trống thuộc
hư không, nơi bít là thuộc về đất; cái
"thấy" có biết còn hư không không biết,
không phải hòa không phải hiệp. Vậy cái
"thấy" từ nơi đâu mà sanh, không phải tự
nhiên có?
Các ông
không biết: trong chơn tâm, cái tánh của
"thấy" là tâm (giác minh) tâm là tánh
của thấy; vốn sẵn thanh tịnh khắp cả pháp
giới, tùy tâm của chúng sanh phân biệt thế
nào, thì hiện ra theo sự hiểu biết của chúng
sanh như thế ấy. Như một con mắt là một cái
thấy. Cho đến tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm,
thân xúc, ý biết, sáu giác quan cũng vậy,
đều khắp cả pháp giới, tùy theo nghiệp của
chúng sanh mà hiện ra, không có phương hướng
xứ sở gì.
LƯỢC GIẢI
Như điện, vào đèn thì đèn cháy, vào quạt
quạt lại quay v.v...điện không có phương
hướng xứ sở gì, chỉ tùy duyên phát hiện. Còn
tâm cũng thế, tâm vẫn là một, nếu đến mắt
thì thấy, còn đến tai thì nghe v.v...tùy
duyên phát hiện.
***
Thấy, nghe,
hay, biết sáu giác quan kể là một, cùng với
hư không và bốn đại, thành ra sáu đại, tính
có viên dung vốn không lay động, đồng một
thể chơn tâm, không sanh không diệt, thế
gian vì mê lầm không biết, sanh tâm phân
biệt, chấp cho nhân duyên sanh, hoặc tự
nhiên có đều không đúng cả.
III.-THỨC
(PHÂN BIỆT) TỪ CHƠN TÂM ĐẾN THIỆN
-Này A-Nan,
cái "thức" (phân biệt) không có căn
nguyên, nhơn sáu căn và sáu trần mà vọng
hiện. Ông nay dùng mắt xem khắp trong hội
này, thì con mắt của ông chẳng khác nào như
cái kiếng chiếu cảnh, không có phân biệt gì
riêng khác. Rồi cái "thức" của ông mới khởi
lên, tuần tự phân biệt: đây là ông Văn thù,
kia là ông Phú-Lâu-Na, đó là ông
Mục-kiền-liên, nọ là ông Tu-Bồ-Đề v.v...vậy
cái thức hiểu biết phân biệt này, từ cái
thấy sanh, hay từ nơi cảnh vật sanh? Từ hư
ra, hay không do đâu mà tự xuất hiện?
A-Nan, nếu
nói "cái thức của ông từ nơi cái thấy sanh",
mà không có tối, sáng, cảnh vật và hư không
bốn món, thì cái "thấy" của ông không có.
Cái thấy còn không có, thời cái thức phân
biệt kia làm sao từ nơi cái thấy mà sanh
được.
Còn nói
"thức phân biệt này từ cảnh vật sanh, chớ
không phải từ nơi cái thấy". Nếu không có
cái thấy để thấy tối, sáng, cảnh vật và hư
không các tướng, thời cái "thức" của ông từ
nơi đâu mà sanh được.
Còn nói
"thức từ hư không sanh, không phải từ nơi
cảnh vật và cái thấy". Nếu không có cái
"thấy" thời không thấy được sáng, tối, cảnh
vật và hư không. Còn nếu không có các cảnh
vật thì thấy, nghe, hay, biết không từ nơi
đâu mà có.
Nếu nói
"thức không phải từ cảnh vật và cái thấy
sanh", như thế thì nó đồng với cái không.
Còn nói "nó có mà không phải đồng cảnh vật",
thì dầu cho cái thức của ông có phát sanh ra
nữa, cũng không thể phân biệt cái gì được.
Nếu nói
"thức không nhân đâu, thoạt nhiên xuất
hiện", thì sao khi ban ngày, ông không thể
phân biệt được mặt trăng?
Ông nên
chính chắn suy xét: cái thấy thì nó gá nơi
con mắt của ông, còn các hình tướng là ở nơi
cảnh vật. Những gì có hình tướng thời có,
còn không hình tướng là không. Cái "thức"
thì động (có phân biệt), còn cái thấy
lại yên lặng (không phân biệt), không
phải hòa không phải hiệp. Vậy thì cái thức
phân biệt của ông từ đâu sanh ra? Không lẽ
không do đâu mà tự có?
Các ông
không biết trong chơn tâm, tánh của thức là
tâm, tâm mới thật là thức (chơn thức),
nó nhiệm mầu yên lặng, sáng suốt, khắp giáp
cả pháp giới , hàm chứa và sanh ra mười
phương hư không thế giới, chỉ tùy theo
nghiệp của chúng sanh mà hiện ra, không có
phương hướng xứ sở. Thế gian không biết,
khởi thức tâm phân biệt chấp trước, cho là
nhân duyên sanh hoặc tự nhiên có v.v...đều
không đúng cả.
Các ông nên
biết: đất, nước, gió, lửa hư không, cái thấy
và thức tâm gọi chung là bảy đại, tánh của
nó đều là chơn tâm viên mãn khắp giáp tất
cả, vốn không sanh diệt. Các ông vì mê muội
nên không biết.
LƯỢC GIẢI
Chúng ta nên phân biệt rõ ràng: "thức" và
cái "thấy".
Cái "thấy" là thuộc các giác quan, về phần
trực giác. Nó cũng như cái kiếng chiếu cảnh,
không có phân biệt tính toán. Còn "thức thì
có phân biệt tốt, xấu, hay, dở v.v...so theo
Duy thức tông, để nói cho dễ hiểu: trong đây
nói "thức" là chỉ cho thức thứ Sáu; còn nói
cái "thấy" là chỉ về năm thức trước.
Tóm lại, nói đất, nước, gió, lửa, hư không,
cái thấy và thức, cộng là bảy đại, gồm cả
vật chất cả tinh thần.
Đất, nước, gió, lửa, hư không là thuộc về
vật chất, còn thấy các thức là thuộc về phần
tinh thần. Trong vũ trụ tuy có thiên hình
vạn trạng, nhưng tóm lại thì không ngoài vật
chất và tinh thần.
Đoạn này
là cả nói về vật chất lẫn tinh thần đều từ
nơi chơn tâm, tùy theo nghiệp của chúng sanh
mà hiện ra như thế này, hoặc như thế kia,
ngàn sai muôn khác. Như người chiêm bao thấy
hiện ra các cảnh vật (đất, nước v.v...)
Về bản
thể (tâm) của bảy đại thì chơn, không có
sanh diệt. Còn về hiện tượng (các hình
tướng) thì vọng. Vì chúng sanh mê muội không
biết, chấp thế này hoặc thế kia, (như người
đương chiêm bao chấp các cảnh chiêm bao là
thật). Một phen ngộ được chơn tâm, thì bảy
đại này đều trở về thể tánh chơn tâm (như
người thức giấc, thì cảnh chiêm bao liền
hết; lúc bấy giờ mới biết các cảnh vật trong
chiêm bao đó, đều do tâm chiêm bao hiện ra).
IV.-
A-NAN VÌ NGỘ ĐƯỢC CHƠN TÂM NÊN ĐỨNG DẬY PHÁT
LỜI THỀ NGUYỆN RỘNG LỚN
Khi ấy
A-Nan và đại chúng nhờ Phật chỉ dạy rất cặn
kẽ, nên mỗi người đều ngộ được chơn tâm của
mình rộng lớn khắp cả mười phương hư không.
Lúc bấy giờ ông lại thấy cả mười phương thế
giới rất nhỏ hẹp và rõ ràng cũng như một lá
cây cầm trong tay. Tất cả các cảnh vật
sum-la vạn-tượng trong thế gian này, đều ở
trong chơn tâm; chơn tâm bao trùm khắp giáp
cả mười phương thế giới. Khi ấy ông xem trở
lại cái thân do cha mẹ sanh đây, thật nhỏ
nhen làm sao! Như một hạt bụi nhỏ ở trong
mười phương hư-không, dù còn, dù mất cũng
không thấm vào đâu và cũng như một hòn bọt
nhỏ, nổi ở trong bể cả rộng khơi, dầu sanh
dầu diệt cũng không nhằm gì.
Vì ông
A-Nan hiểu lộ được chơn tâm của mình còn
không diệt và rộng lớn như vậy, nên ông đứng
trước Phật chắp tay kính lạy, và xứng theo
chơn tâm rộng lớn, mà nói bài kệ phát nguyện
như vầy:
NGUYÊN VĂN
CHỮ HÁN
Diệu trạm,
Tổng trì, Bất động tôn
Thủ
Lăng-Nghiêm vương, thế hi-hữu,
Tiêu ngã ức
kiếp điên đảo tưởng,
Bất lịch
tăng-kỳ hoạch pháp thân.
Nguyện kim đắc
quả thành bảo vương,
Hườn độ như
thị hằng sa chúng,
Tương thử thâm
tâm phụng trần sát,
Thị tắc danh
vi báo Phật ân.
Phục chỉnh
Thế-Tôn vị chứng minh:
Ngũ trược ác
thế hệ tiên nhập,
Như nhất chúng
sanh vị thành Phật,
Chung bất ư
thử thủ Nê-hoàn.
Đại hùng, đại
lực, đại từ bi,
Hi cánh thẩm
trừ vi tế hoặc,
Lĩnh ngã tảo
đăng vô thượng giác,
Ư thập phương
giới tọa đạo tràng
Thuấn-nhã-da
tánh khả tiêu vong,
Thước-ca-ra
tâm vô động chuyển.
DỊCH NGHĨA
Kính lạy
Pháp thân, Báo-thân, Hóa-thân Phật, và kinh
Thủ-Lăng-Nghiêm vương là ngôi Pháp-bảo rất
hi hữu trên đời. Tiêu trừ cho con các vọng
tưởng điên đảo từ ức kiếp, khiến con chẳng
cần trải qua vô số kiếp tu hành mà vẫn đặng
pháp-thân Phật.
Hôm nay con
nguyên mau đặng thành quả Phật, để trở lại
độ chúng sanh nhiều như hằng sa. Con nguyện
đem thân-tâm này, phụng sự các Đức Phật
nhiều như vi trần. Thế mới gọi là đền ơn chư
Phật.
Cúi xin Đức
Thế-Tôn chứng minh cho lời nguyện của con:
"trong đời ngũ trược tội ác này, con thề vào
trước để cứu khổ chúng sanh ". Nếu còn một
chúng sanh nào chưa được thành Phật, thì con
thề chẳng lãnh quả vui Niết-bàn.
Phật là
đấng Đại-lực và Đại-từ-bi. Cúi xin Ngài tiêu
trừ các điều mê lầm vì tế cho con, khiến cho
con sớm đặng thành quả Phật, để hóa độ chúng
sanh khắp cả mười phương thế giới. Giả sử hư
không kia có thể tiêu diệt hết, chớ chí
nguyện của con đây chẳng hề lay động.
LƯỢC GIẢI
Ngài A-Nan vì ngộ được chơn tâm của mình
rộng lớn bao hàm cả vũ trụ: vô biên thế giới
vô tận chúng sanh đều ở trong chơn tâm cả.
Lúc bấy giờ, Ngài thấy mười phương thế giới
rất rõ ràng và rất nhỏ hẹp cũng như cái lá
cây nằm ở trong tay, còn thân này nhỏ nhen
như hạt bụi bay trong hư không, dầu còn dầu
mất cũng chẳng thấm vào đâu.
Bởi Ngài ngộ được chơn tâm rộng lớn, cùng
với chúng sanh đồng một thể không hai, cho
nên Ngài mới xứng theo chơn tâm rộng lớn,
khởi ra đồng thể đại bi, phát lời thề nguyện
rộng sâu như thế.
Xem như câu:
Trong đời ngũ trược tội ác này, con thề vào
trước để cứu khổ chúng sanh. Nếu còn một
chúng sanh nào chưa thành Phật, thì con thề
chẳng lãnh quả Niết-bàn ...
Và câu:
Giả sử hư không kia có thể tiêu hết, mà chí
nguyện của con đây chẳng hề lay động.
Trong kinh nói:"thế giới vô biên, chúng sanh
vô tận", biết bao giờ độ cho hết tất cả
chúng sanh, mà Ngài lại thề nguyện xung
phong vào đời ngũ trược tội ác trước hết, để
cứu độ chúng sanh. Nếu còn một chúng sanh
nào chưa thành Phật, thì Ngài chẳng chịu an
vui ở cảnh Niết-bàn.
Thật là lòng từ bi rộng lớn vô cùng, chí
nguyện cao thượng huyền diệu sinh độ đời của
Ngài như thế, đáng cho chúng ta trọn đời bái
phục...
Trông lên Ngài rồi ngó lại ta...thấy rõ tâm
chí và hành vi của mình, thật cũng quá ư hẹp
hòi và thấp thỏi!