| ||||||
|
|
CHÚ LĂNG
NGHIÊM GIẢNG GIẢI
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o- TẬP 01 Tôn chỉ dịch Chú Phiên dịch Kinh, Chú gồm có bốn cách : Phương pháp phiên dịch Kinh Chú có bốn nguyên tắc. Thứ nhất : ‘’ Âm chữ đều dịch, như Kinh văn vậy.’’ Âm cũng dịch, chữ cũng dịch, tức là hết thảy tất cả Kinh văn. Thứ hai : ‘’ Âm chữ đều không dịch, Kinh sách bằng tiếng Phạn.’’ Âm là Phạn âm, chữ là chữ Phạn, tức là Kinh điển bằng Phạn văn. Thứ ba :‘’ Dịch âm không dịch chữ, chữ vạn vậy.’’ Như chữ vạn chỉ dịch âm của nó.
Thứ
tư : ‘’ Dịch chữ không dịch âm, các Chú ngữ
vậy.’’ Dịch chữ thành văn tiếng Trung Hoa,
nhưng âm là âm tiếng Phạn. Tất cả các Chú
đều là một loại này, dịch sang tiếng Anh
cũng giống nhau, chữ là chữ Anh văn, nhưng
âm là âm tiếng Phạn. ‘’ Kim Cang đệ tứ.’’
Bây giờ nói là loại thứ tư này, dịch chữ
không dịch âm. 2. ‘’ Ða hàm Bạt Già lục nghĩa.‘’ Một câu bao hàm rất nhiều ý nghĩa cho nên không dịch. Như ‘’ Bát nhã ‘’ gồm có văn tự bát nhã, quán chiếu bát nhã, thực tướng bát nhã, có ba ý nghĩa cho nên không dịch. Lại như Bạt Già Phạm có sáu nghĩa cho nên không dịch. Sáu nghĩa là : Thứ nhất : Tự tại, tức là không nói dối. Khi nói dối thì tâm theo đuổi bên ngoài cho nên không được tự tại.
Thứ
hai : Xí thạnh tức là quang minh xí thạnh,
không phải là ngũ uẩn xí thạnh. 4. ‘’ Thuận cổ. Như A nậu đa la tam miểu tam bồ đề.’’ Tức là cổ nhân dịch ra không sai. A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nghĩa là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tôn trọng cổ nhân phí nhiều tâm huyết dịch ra. Chúng ta không tiêu tân lập dị làm ra cái mới, nói tôi giỏi hơn cổ nhân.
5.
‘’ Sinh thiện. Bát nhã tôn trọng.’’ Hay sinh
ra đủ thứ pháp lành, cho nên cũng không
dịch. Bát nhã cũng sinh thiện, cũng không
dịch. ‘’ Kim thuộc đệ nhất.’’ Hiện thuộc đệ
nhất bí mật không dịch. 1. Lý pháp lực.’’ Dùng một chữ bao hàm vô biên diệu lý, như nguyên hưởng lợi trinh. 2. Oai đức lực. Tam bảo thần Thánh gọi là đức lực lớn, như thanh thế của vua thần. 3. ‘’Thực ngữ lực.’’ : Mật Chú có ba thứ lực. A. Lý pháp lực : Ðạo lý không có bờ mé, cho nên trong một chữ bao hàm vô lượng vô biên đạo lý vi diệu. Như Kinh Dịch có nói ‘’ Nguyên hưởng lợi trinh.’’ Bốn chữ, tức bao quát trong bát quái có rất nhiều nghĩa lý. B. Oai đức lực : Sợ oai đức đại chúng. Phật Pháp Tăng Tam Bảo thần Thánh, gọi là xưng phổ văn, công đức cũng lớn, lực lượng cũng lớn, đủ đại oai đức. Giống như quốc vương đại thần đủ thanh thế lớn. C. Thực ngữ lực.
‘’
Chân ngôn chú nguyện. Siêu phàm nhập Thánh.
Như chiếu sắc kế cực.’’ Chúng ta niệm chân
ngôn chú nguyện cho người, nói nguyện cho
bạn được hết thảy cát tường, bình an. Vì ở
đây không có vọng ngôn nên gọi là chân ngôn.
Giống như chân ngôn trong bốn mươi hai Thủ
Nhãn đều là chú nguyện, như nguyện cho bạn
siêu phàm nhập Thánh, sớm thành Thánh quả.
Chân ngôn lại như chiếu thư hoặc sắc ngữ của
hoàng đế, kêu bạn làm gì thì bạn làm cái đó.
"Kế cực" tức là thừa kế ngôi vua làm hoàng
đế. 1.‘’ Chư Phật mật ngữ, dư Thánh nan thông.’’ Những lời chư Phật nói, ngoài Thánh hiền ra, đều không ai hiểu được. 2. ‘’Chư Phật mật ấn, như vương ấn tín.’’ Tâm ấn bí mật của chư Phật giống như ấn tín của vua. 3. ‘’ Tổng trì pháp môn, Bà Già lục nghĩa.’’ Hay tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa, tức going như Bạt Già có sáu nghĩa. 4.‘’Quỷ thần vương danh, Hồ sắc tự hộ.’’ Tên của quỷ thần vương, kêu chúng đến thủ hộ gia trì.
5.
‘’ Bất tư nghì lực, xá tội thọ thức.’’ Tội
nghiệp đều xá miễn, gọi chúng đến nhận chút
chức vụ, làm việc. ‘’ Tự cô nhân sư, đa hữu di thuyết, Thiên Thai hội chi, bất xuất tứ tất.’’ Tất cả các pháp sư thời xưa đều thuyết pháp không giống nhau. Tông Thiên Thai tổng quát lại những sự thuyết pháp không ra ngoài bốn tất đàn. ‘’ Nhất vân Chú giả, quỷ thần vương danh. Xưng kỳ vương hiệu, bộ lạc kính chủ, bất cảm vi phi, thử thế giới hoan hỷ ích dã.’’ Trong Chú có tên các vua quỷ thần, như trong Chú Lăng Nghiêm có nhiều tên các vua quỷ thần, như Cưu Bàn Trà, Tỳ Xá Già. Bạn xưng tên đại quỷ vương thì tiểu quỷ vì cung kính quỷ vương, cho nên không dám làm càn, đều giữ quy cụ. Ðây là thế giới tất đàn. Khiến cho hết thảy mọi người trên thế gian đều được ích lợi vui vẻ. ‘’ Nhị vân Chú giả, như quân trung mật hiệu, tương ưng vô sở ha vấn, không tương ưng tức chấp trị, thị vi nhân sinh thiện ích dã.’’ Lại như trong quân đội, mỗi ngày đều có mệnh lệnh, từ lệnh của quan phát ra, binh lính ở dưới đều biết. Ban đêm trên đường trở về, nếu gặp nhau người không nhận ra liền hỏi mệnh lệnh. Hoặc đáp ‘’ thiên ‘’ hoặc đáp ‘’ địa.’’ Nếu đáp đúng thì chẳng có việc gì. Nếu trả lời sai thì sẽ có chuyện. Bạn không thể hỏi kẻ khác mệnh lệnh là gì. Nếu bạn đáp đúng thì không trách phạt bạn. Nếu đáp không tương ưng, thì bắt bạn để trị tội. Ðây là vì sinh thiện ích vậy.
‘’
Tam vân Chú giả, mật mặt già ác, dư vô thức
giả, như tiện nhân bôn tha quốc. Tác xưng
vương tử, thê dĩ công chủ, đa sân nan sự,
nhân lai phẩu minh, giả nhất kệ ngôn, mặc
nhiên tự hiết, tức đối ác trị phá ác ích
vậy.’’ Bí mật của Chú hay tiêu trừ tội
nghiệp, nhưng người không biết, giống như kẻ
địch trốn ra nước khác, lường gạt người nói
tôi là thái tử của nước nọ. Vua tin lời, bèn
gả công chúa cho y, y là kẻ bần cùng bỗng
nhiên giàu có, ra vẻ ta đây, rất là sân hận,
cái này cũng không đúng, cái kia cũng không
đúng. Khắp thân đều nóng giận, rất khó phục
dịch. Có một người biết lai lịch của y. Bèn
giả mượn một bài kệ nói y. Bài kệ này trước
đã nói qua, nhưng mọi người đều quên mất,
tôi làm lại một bài kệ : ‘’ Vu Khê vân, sơ viết. Quỷ thần vương danh như Tỳ Xá Già, Cưu Bàn Trà,Yết La Ha Ðẳng. Hựu sơ hội Bà già đế đẳng. Giai chư Phật Bồ Tát danh. Thử xử văn giả cảm kỳ ân. Hựu sơ hội mạt Bạt Xà La, Thương yết la chế bà đẳng. Giai Kim Cang mật tích hiệu. Thử xử văn giả, úy kỳ oai, giai hoan hỷ ích, hựu mỗi hội mạc, hoặc như quân trung mật lệnh, hoặc như mật mặc già ác, hoặc thị chư Phật mật ngữ, vô phi dục linh văn trì tụng giả. Hoan hỷ sinh thiện, diệt ác nhập lý nhi dĩ. Cố hiển mật thuyết, nghĩa lợi nhất dã.’’ Vu Khê Pháp Sư nói, tên của các vua quỷ thần : Tỳ Xá Già, Cưu Bàn Trà tức là quỷ ứng hình, Yết La Ha .v.v., đợi khi giảng đến Chú thì sẽ nói rõ. Lại đầu sơ hội Bà già bà đế .v.v., đều là danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát, khiến cho người nghe đến cảm kích thâm ân của Phật Bồ Tát. Lại cuối sơ hội Bạt đồ la, Thương yết la chế bà .vv., đều là tên của Kim Cang Mật Tích. Khiến cho hết thảy thiên ma ngoại đạo, li mị nghe đến thì sanh tâm kinh sợ, đó đều là những sự hoan hỷ ích lợi. Lại cuối mỗi hội, hoặc như mật lệnh trong quân đội, hoặc trong sự tịch mặc che lấp sự xấu ác, hoặc là lời bí mật của chư Phật, đâu chẳng phải là muốn cho người nghe Chú Lăng Nghiêm, người trì tụng Chú Lăng Nghiêm hoan hỷ sinh thiện, tiêu trừ ác nghiệp, khôi phục lại bản thể thiên lý. Cho nên hoặc hiển nói hoặc mật nói đều lợi ích chúng sinh như nhau.
‘’
Trường Thủy diệc viết. Ðát Ðiệt Tha tiền.
‘’Hựu ngũ bất phiên. Bạt già, phiên Thánh tôn, Diêm phù, phiên thắng kim. A nậu bồ đề, phiên vô thượng giác. Bát nhã, phiên trí huệ. Tích mật bất phiên, kim hà năng tri. Chí vu bí mật chư Chú. Ðường, kim cang trí Tam Tạng, lược xuất niệm tụng trung. Phiên thích Chú ngữ, bất không thượng sư, nhân vương bát nhã lý thú thích. Tống. Tam Tạng cầu ra. Thích thần Chú tứ thập bát danh. Hiền Thủ quốc sư, giải Bát Nhã Chú. Tây thổ Long Thọ Bồ Tát, trì minh tạng trung, thích Chuẩn Ðề Chú cập chư mật ngữ. Thủ hộ quốc chủ Ðà la ni Kinh. Ðại Bi không trí. Nhứt tự đẳng Kinh. Phật dữ Bồ Tát. Thân miệng tán thích tự chủng Chú ngữ. Niết bàn bát nhã. Hoa Nghiêm Kinh trung. Phật dữ Ca Diếp, thiện hiện, chúng nghệ tri thức, giải thích tứ thập nhị tự mẫu nghĩa, tắc tri chư bộ bí mật chân ngôn, diệc y mật tạng, khả phiên giải dã.’’ Lại trong năm thứ không dịch. Bạt Già Phạm dịch là Thánh tôn, A nậu bồ đề dịch là vô thượng giác, Bát nhã dịch là trí huệ, Diêm Phù dịch là thắng kim. Trước không dịch bây giờ sao lại dịch ? Cho đến bí mật của các Chú vào đời Ðường có vị Tam Tạng Kim Cang Trí lược ra có phiên dịch Chú ngữ trong niệm tụng nghĩa quy. Bất Không thượng sư trong Nhân Vương Bát Nhã Lý Thú Thích cũng giải thích qua Chú ngữ. Lưu Tống Tam Tạng Cầu Na tôn giả cũng phiên dịch thần Chú tứ thập bát danh. Quốc sư Hiền Thủ cũng giải thích Chú Bát Nhã. Bồ Tát Long Thọ trong Trì Minh Tạng cũng giải thích Chú Chuẩn Ðề và những bí mật của Chú. Trong Kinh Thủ Hộ Quốc Chủ Ðà La Ni, Ðại Bi Không Trí .v.v., Phật và Bồ Tát tán thán và giải thích loại chữ của Chú và lời lẽ ý nghĩa. Trong Kinh Niết Bàn, Kinh Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Phật và Tổ Sư Ca Diếp, Tu Bồ Ðề tôn giả, chúng thế thiện tri thức cũng giải thích nghĩa lý bốn mươi hai tự mẫu Hoa Nghiêm. Do đó biết rằng các bộ mật ngữ chân ngôn y chiếu theo đạo lý mật tạng cũng có thể dịch. ‘’Kim Lăng Nghiêm Chú. Ðát Ðiệt dĩ tiền. Ngũ hội chân ngôn. Án tự dĩ hậu, tài thị tâm Chú. Tịnh y Ðường Tuần Châu Hoài dịch thích. Xuất đại tạng thâm tự hàm.’’ Cho nên bây giờ Chú Lăng Nghiêm cũng có phiên dịch. Chú Lăng Nghiêm trước ‘’Ðát Ðiệt Tha‘’ là chân ngôn năm hội (năm đệ). Từ sau chữ Án mới là tâm Chú. Bây giờ y chiếu vào sự phiên dịch và giải thích của pháp sư Tuần Châu Hoài vào đời Ðường. Ðây là xuất từ thâm tự hàm trong đại tạng Kinh. ‘’ Thượng minh cổ thế nguyên phiên, hạ hiển dịch thành đa ích. Nhược khai phiên ích, lược liệt có nhị thập tứ.’’ Trước đã nói rõ dụng ý đời xưa vốn không dịch. Sau nói rõ chỗ ích lợi của sự phiên dịch đại khái có hai mươi bốn thứ. 1. ‘’Tri chư Phật hiệu, xưng thường tắc kiến Phật thân’’ : Biết được hết thảy danh hiệu của chư Phật. Như trước có một đoạn đều là danh hiệu của chư Phật. Xưng tức thường thấy thân Phật. Nếu bạn thường tụng Chú Lăng Nghiêm thì thường thấy được pháp thân của chư Phật. 2. ‘’Tri bổn Tam Bảo, trượng bằng oai đức gia trì’’ : Biết được Phật Pháp Tăng Tam Bảo. Nhờ oai đức để gia trì cho chúng ta. 3. ‘’Tri Kim Cang Tướng, tà ma tân lai quy hàng’’ : Biết Kim Cang Tướng như Bạt Ðồ La, Thương Yết La .v.v. Tất cả tà ma ngoại đạo đều đến quy hàng. 4. ‘’Tri quỷ thần vương, Bộ đảng hồi hộ vô ương’’ : Vì bạn biết vua quỷ thần thì bộ đảng dưới quyền của chúng sẽ cung kính bạn. 5. ‘’Tri Phật Chú, ngũ bộ đệ nhất tôn thắng’’ : Biết năm bộ, chính giữa là Phật bộ, Phật Tỳ Lô Giá Na là chủ. Phương nam là Bảo bộ, Phật Bảo Sinh là chủ. Phương đông là Kim Cang bộ, cũng là A Súc bộ, Phật A Súc, cũng là Phật Dược Sư là chủ. Phương tây Liên Hoa bộ, Phật Di Ðà là chủ. Phương Bắc là Yết Ma bộ, Phật Thành Tựu là chủ. Biết năm bộ Phật Chú là đệ nhất Tôn Thánh, là tối diệu. 6. ‘’Tri đảnh Chú, niệm thời chư Phật quán đảnh’’. Biết đây là Phật đảnh quang minh Ma Ha Tát Ðát Ða Bát Ðát La Vô Thượng Thần Chú. Bạn niệm Chú Lăng Nghiêm thì mười phương chư Phật đều đến quán đảnh cho bạn. 7. ‘’Thần Chú linh thông cảm ứng nan tư’’ : Linh thông cảm ứng không thể nghĩ bàn. 8. ’’Minh Chú sinh đại trí huệ quang minh’’ : Biết Chú thì sinh đại trí huệ, lại phóng đại quang minh. 9. ‘’Tri Chú vương nhứt thiết Chú trung tổng vương’’ : Biết Chú Lăng Nghiêm là vua trong tất cả các Chú. 10. ‘’Tri Chú tâm, tụng tức kiến tính minh tâm’’ : Biết đoạn đó là tâm Chú, thường thường tụng niệm lại chuyên nhất thì sẽ minh tâm kiến tánh, khai đại trí huệ. 11. ‘’Chú Ấn. Ấn tín phú quý vô vi’’ : Biết Chú ấn, tam pháp ấn, tụng trì Chú Lăng Nghiêm thì ít nhất trong bảy đời đều là người giàu có nhất trên đời. 12. ’’Chú quyết. Biến hóa vạn vật mạc trắc.’’ : Chú còn dịch là quyết. Thần thông của Chú biến hóa khó dò. Có người nói tôi tụng Chú không phải vì cầu giàu có, bạn cầu thần thông thì được thần thông, cầu khai ngộ thì được khai ngộ, cầu trí huệ thì được trí huệ, tùy ý bạn. Không phải muốn dạy bạn nhất định cầu phú quý. 13. ‘’Chú nguyện. Nhân quả tùy nguyện viên thành’’ : Muốn cầu gì, phát nguyện gì đều sẽ thành tựu. 14. ‘’Chú trớ, tương yếu họa phước vô sai’’ : Bạn niệm Chú, nguyện khiến cho kẻ khác được phước thì người đó liền được phước. Nguyện người đó gặp họa thì liền gặp họa, bất quá đừng có tâm làm hại kẻ khác. Niệm Chú nguyện cho kẻ khác gặp họa thì không đúng.
15.
‘’Chú chúc. Kỳ đảo Phật thiên như hưởng’’ :
Bạn cầu gì thì như tiếng vang tùy tâm mãn
nguyện không khác. 17. ‘’Tri tự bổn. Tam tạng văn tự căn bổn’’ : Biết nguồn gốc tiếng Phạn, đây là căn bản tam tạng văn tự. Tam tạng là do Phạn văn phiên dịch ra. 18. ‘’Tri tự mẫu. Hiển mật Thánh hiền tùng sinh’’ : Biết hết thảy Thánh hiền hiển giáo và mật giáo đều từ tự mẫu sinh ra. 19. ‘’Tự nghĩa. Hàm nhiếp vô biên lý thú’’ : Nghĩa lý của chữ là bao hàm nghĩa thú vô biên. 20. ‘’Tự chủng. Nguyên vì chư Phật trí chủng’’ : Chữ Phạn nguyên là (hạt) giống trí tuệ của chư Phật. 21. ‘’Tri Phạn âm. Phật thiên tối tiên truyền xuất’’ : Biết âm của Chú là do Phật trời truyền ra trước nhất. 22. ‘’Tri tổng trì nhứt thiết pháp nghĩa tổng cai’’ : Hết thảy nghĩa lý của pháp đều nhiếp hết thảy. 23. ‘’Tri chân ngôn. Như sở thuyết bất khi’’ : Biết chân ngôn đều như sở nói, đều là chân thật, không có một câu vọng ngữ.
24.
‘’Tri mật ngữ. Quân lệnh Thánh chỉ vô duệ.’’
: Biết Chú ngữ giống như mệnh lệnh trong
quân đội, lại như Thánh chỉ của hoàng đế
không khác, không thể nói cho người khác
biết.
1.
‘’Nhứt tự hàm đa pháp nghĩa.’’ : Một chữ bao
hàm rất nhiều nghĩa lý, lực lượng vô cùng vô
tận, oai đức vô lượng vô biên. 2.’’Hoa Phạn âm tự viên thông.’’ : Chữ, âm đều phiên dịch thành Hoa văn (Hán ngữ), lại có Phạn văn, đều biết cả hai, hổ tương ứng dụng, viên thông vô ngại. 3. ‘’Biểu hiển tam tạng tam thập tâm.’’ : Tam tạng là Kinh, Luật và Luận. 4. ‘’Thị cai tam hiền địa đẳng diệu.’’ : Tam hiền tức là thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng. Ðịa tức là thập địa, đẳng tức là đẳng giác, diệu tức là diệu giác. 5. ‘’Hồi quy tam thập thất Thánh.’’ : Tức là đã nói quả vị ở trước.
6.
‘’Kinh vĩ nhất thiết tự mẫu.’’ Tự mẫu Phạn
văn có ngang có dọc. .‘’Hựu đà la ni môn chư bộ yếu mục vân. Du già hội thuyết ngũ bộ. 1. Phật Bộ, Tỳ Lô vi chủ. 2. Kim Cang Bộ, A Súc vi chủ. 3. Bảo Bộ, Bảo Sinh Phật vi chủ. 4. Liên Hoa Bộ, Di Ðà vi chủ. 5. Yết Ma Bộ, Thành Tựu vi chủ’’ : Chính giữa, Phật Tỳ Lô Giá Na là bộ chủ. Chính giữa thuộc về thổ, thạnh vượng bốn mùa. Cho nên Phật là khắp cùng pháp giới. Phương đông, Kim Cang Bộ tức là Mật Tích Kim Cang, Phật A Súc là bộ chủ, tức Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. Phương nam, Bảo Bộ, Phật Bảo Sinh là bộ chủ. Phương tây, Liên Hoa Bộ, Phật Di Ðà là bộ chủ. Phương bắc, Yết Ma Bộ, Phật Thành Tựu là bộ chủ. ‘’Ngũ bí mật tu hành niệm tụng nghĩa vân. Ngũ bộ. Tức ngũ mật du già pháp môn, vị tiêu tai, tăng ích, hàng phục, quân triệu, kính ái pháp dã. Kim thuộc Phật bộ. Tăng ích xuất thế pháp môn’’ : Có một quyển sách gọi là bí mật tu hành niệm tụng nghĩa thức, tức là năm pháp môn Du già bí mật. Trong năm pháp môn, có một môn thuộc Phật Bộ tức là tăng ích xuất thế pháp môn.
‘’ Tô Tất Ðịa Kinh
vân. Phiến Ðể Ca. Tiêu tai pháp. Bổ sắt
chưng ca. Tăng ích pháp. A tỳ giá lỗ ca.
Hàng phục pháp. Thử tam bộ. Các hữu tam đẳng
chân ngôn. 1. Thánh giả thuyết. Chư Phật. Bồ
Tát. Duyên giác. Thanh văn. Các vi Thánh giả
chân ngôn. 2. Chư thiên thuyết. Tùng tịnh cư
thiên, nãi chí tam thập tam thiên, thị vi
chư thiên chân ngôn. 3. Ðịa cư thiên thuyết,
Bát bộ thần vương, danh vi địa cư thiên chân
ngôn. Kim đương Phật Thánh, tăng ích bộ dã’’
: Trong Kinh Tô Tất Ðịa nói Phiến Ðể Ca tức
tiêu tai pháp môn. Bổ Sắt Chưng Ca tức tăng
ích pháp môn. A Tỳ Giá Lỗ Ca tức hàng phục
pháp môn. Ba bộ này hợp lại có tam đẳng chơn
ngôn. 2. Chư thiên nói chân ngôn, bao quát từ trời Tịnh Cư cho đến trời Tam Thập Tam.
3. Ðịa Cư thiên
chân ngôn, nhân gian cũng thuộc về địa cư
thiên, đây là bao quát tám bộ vua quỷ thần,
thuộc về Phật bộ tăng ích pháp môn. ‘’ Thượng pháp hựu tam. Vị hạnh nghi, quán pháp, nghiêm sở. Tam phẩm pháp dã. Thông dĩ vô thượng bồ đề tâm vi chủ ’’ : Bất cứ tu pháp gì đều phải lấy bồ đề đạo tâm làm chủ, đại từ đại bi, đại hỷ đại xả. Không thể dùng đạo lực để áp bức bất cứ ai hoặc bất cứ yêu ma quỷ quái. ‘’ Nhược vô sư truyền. Tắc danh đạo pháp.’’ : Pháp phải có thầy truyền cho bạn. Nếu không có thầy truyền pháp tức gọi là ăn trộm pháp. ‘’Nhược vi hạnh nghi, tắc chiêu ác báo.’’ Nếu bạn không tìm cách để tu pháp này thì thiện thần hộ Chú sẽ không vui vẻ.
‘’Nhược phạm
nghiêm sở chiếp dĩ công hiệu. Hướng tha nhân
thuyết. Tịnh Phật bất tư nghì tứ tất ích’’ :
Nếu bạn thường nói với kẻ khác rằng bạn trì
Chú có linh cảm hiệu lực gì, niệm Chú Ðại Bi
trị được bệnh gì, niệm Chú Lăng Nghiêm lại
đắc được cảm ứng gì. Ðó cũng giống như bán
thuốc cao, đây gọi là rao bán sự tu hành,
không đúng. Nếu như thế thì sẽ gặp tai họa.
cũng không đắc được sự lợi ích không nghĩ
bàn của bốn tất ích. ‘’ Hựu trì tụng giả, bất đắc tâm duyên dị cảnh, dữ nhân tạp ngữ. Tụng nhược gián đoạn. Tất địa bất thành ’’ : Trong tâm đừng khởi vọng tưởng, nghĩ tưởng viễn vông, mơ những điều không thể có hoặc là nói chuyện với người. Nếu bạn tụng Chú gián đoạn thì tất địa không thành. Tất địa tức là tam muội. ‘’ Hựu trì tụng bất y nghi pháp, hoặc bất trì giới, hoặc bất thanh tịnh, phi duy pháp bất thành tựu diệt đương chiêu tổn ’’ : Nếu bạn không giữ quy cụ, không giữ giới luật, hoặc trong tâm cứ khởi vọng tưởng nhiễm ô thì không những tu pháp không thể thành tựu, mà còn có họa của nó. Cho nên tu pháp Lăng Nghiêm phải đặc biệt chú ý. Thân miệng ý ba nghiệp phải thanh tịnh mới tương ưng, không để tùy tiện nói thị phi, hoặc khiến cho những người ở trong đạo tràng không được an lạc. Ðó là những điều không thể được. Nhất định phải quản thúc hành vi của mình, đi đứng nằm ngồi không rời khỏi nhà (tâm). Ðừng giặt đồ dơ thế người khác, phải từ từ chiếu cứ chính mình. ‘’ Bỉ Bộ minh vương. Giai Phật Bồ Tát. Chung bất sân hại. Sở hữu đãi tùng thiên long. Mãnh độc quỷ thần. Kiến kỳ quá cố. Tiện tức tổn hại ’’ : Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Kim Cang Bộ, Bảo Bộ, Yết Ma Bộ. Bộ chủ đều là minh vương, tức là Phật hoặc Bồ Tát. Các bậc ấy có tâm đại từ bi, không tổn hại chúng sinh. Nhưng đó đều là hộ pháp, thiên long, mãnh độc quỷ thần đều rất nóng giận. Mãnh quỷ ác thần thấy người tu pháp có lỗi lầm, liền cho họ một chút tai hại, hoặc là cho họ nhiều sự phiền não. 2.‘’ Kim Cang Ðảnh Du Già giáo giả, tu cụ trí huệ, minh liễu tam muội, cập chân ngôn pháp. Trụ Bồ Tát giới, phát bồ đề tâm. Như thị công đức. Hứa nhập niệm tong ’’ : Phàm là người tu Chú này phải có đủ trí huệ, thấu rõ tất cả định và pháp nghiêm mật trong Chú. Pháp ngôn ngữ trong Chú cũng phải biết. Nhất định phải giữ giới Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng, phát tâm bồ đề. Như thế thì có công đức trì giới và có công đức phát bồ đề tâm, mới cho phép bạn tu pháp này. 3. ‘’ Bồ Tát thiện giới Kinh vân. Thọ trì thần Chú, ngũ bất đắc vi. 1. Thực nhục. 2. Ẩm tửu. 3. Ngũ tân. 4. Dâm sự. 5. Tại bất tịnh gia ẩm thực. Cụ thử ngũ giới. Năng đại lợi ích Chúng sinh. Năng trị ác thần độc bệnh’’ : Thọ trì tất cả thần Chú có năm thứ không thể phạm. Ngũ tân tức là hành, hành tây, hẹ, tỏi, nén. Bất tịnh gia tức là nhà đĩ điếm hoặc là gia đình làm chuyện nhiễm ô. Nếu giữ được năm giới này thì tu pháp nhất định được lợi ích lớn và còn lợi ích chúng sinh. Nếu giữ năm giới này ăn nhầm nấm độc thì cũng không sao. Cho nên vị cư sĩ Tiêu ăn nhầm nấm độc, chúng ta cầu cho y, Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiển thần thông chữa khỏi. Ðó là sự chứng minh.
4. ‘’ Pháp Uyển
vân, đạo tục tụng trì, vô công hiệu giả, tự
vô chí thành. Báng ngô vô chưng hoặc văn tự
ngụy thế, hoặc âm vận bất điển, hoặc ẩm tửu
đạm nhục, hoặc tạp thực huân tân, hoặc xúc
thủ ô uế, hoặc lãng đàm tục ngữ, hoặc y phục
bất tịnh, hoặc xứ sở bất nghiêm. Bát chủng
pháp giới. Chí linh quỷ thần đắc tiện, phiên
thọ kỳ ương ’’ : Trong Pháp Uyển Châu Lâm
nói là tại sao người xuất gia và người tại
gia tụng trì Kinh Chú không công hiệu ? Vì
tâm không chí thành khẩn thiết. Tu mệt, tu
mà cảm thấy không có cảm ứng gì, liền bắt
đầu phỉ báng, nói không có gì chứng minh,
chẳng có linh nghiệm gì, nói Chú này là giả,
Kinh này là giả. Thực ra nguyên nhân trì Chú
không linh là do văn tự ngụy tạo thay thế,
hoặc âm vần niệm sai, hoặc uống rượu ăn
thịt, hoặc ăn ngũ tân, hoặc đi đại tiểu tiện
không rửa tay rồi cầm Kinh Chú, hoặc nói
những lời thế tục, không giữ quy cụ, nói
chuyện thị phi, hoặc mặc y phục không sạch
sẽ, hoặc ở chỗ không nghiêm tịnh, phạm tám
thứ giới pháp nói trên, khiến cho quỷ thần
không cung kính, không những không có công
đức, ngược lại có lỗi lầm. 2. Du già trì tụng pháp. Tưởng trong tâm có một vầng trăng, trong ngoài phân minh, chữ Phạn theo thứ lớp từ trước hướng vòng qua bên phải, khắp hết một vòng rồi bắt đầu trở lại. 3. Kim Cang trì tụng pháp, niệm thầm trong miệng, nói không có âm thanh nhưng lại nghe được, nói có âm thanh nhưng tựa như không có.
4.
Vi thanh trì tụng pháp.
Âm thanh rất nhỏ,
mỗi chữ đều niệm rõ ràng, trong tai chính
mình cũng nghe rõ ràng, không phải niệm vội
vàng lên xuống, chính mình cũng không biết
niệm hay không.
‘’ Như ý bảo Kinh
trung, Diệu trụ Bồ Tát vấn, trì thử tổng trì
vương chương cú, hà nhân bất kiến tam thế
chư Phật. Phật ngôn. Dĩ vãng nghiệp cố ’’ :
định nghiệp đã tạo trong quá khứ nặng. |
|
| ||||||