| ||||||
|
|
CHÚ LĂNG
NGHIÊM GIẢNG GIẢI
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 01PHƯƠNG TIỆN TRÌ CHÚ Trì tức là thọ trì, thọ nơi tâm, trì nơi thân. ‘’Trì‘’ cũng giống như dùng tay cầm vật gì. Trì niệm thần Chú thì đừng quên nó, đừng thiếu nó, phải niệm từ từ, thời thời phút phút tụng trì Chú này. Trì Chú nên có một đàn tràng, gọi là Chú đàn, cũng giống như truyền giới, cần có giới đàn. Chú đàn phải thanh tịnh, không cho người vào hỗn tạp, chỉ có người trì Chú, tu pháp ở trong đó. Nghi kiến lập đàn là phương tiện trước khi trì Chú, kiến lập đàn vốn có quy củ nhất định, trong Kinh Lăng Nghiêm có nói đến, đây là vì người tụng Kinh hành đạo, cầu hiện chứng mà thiết lập. Hiện chứng là đời này đắc được lợi ích của Chú. Nếu "truy tố" phát tâm tán trì. "Truy" là người xuất gia ; "tố" là người tại gia, tán trì tức là không có đàn tràng, như vậy phải chuyên nhất tâm ý kiền thành cung kính. Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói : ‘’Nếu có chúng sinh, tâm khởi tán loạn, thì chẳng phải là Tam Ma Ðịa (định lực). Tâm nhớ miệng trì là Kim Cang Vương, thường tùy tùng theo các người thiện nam, hà huống người quyết định phát đại tâm bồ đề.’’ ‘’ Tán tâm trì Chú không ở trong định, thì có tám vạn bốn ngàn Kim Cang Vương hộ pháp thường theo bạn, hà huống quyết định phát đại tâm bồ đề !‘’ Trong Kinh lại nói : ‘’ Nếu không làm đàn, không nhập đạo tràng, cũng không hành đạo, tụng trì Chú này, vẫn đồng công đức nhập đạo tràng không khác. Cho đến đọc tụng biên chép Chú này, có ở trong người, thì ở đâu cũng yên nhà cửa vườn tược, tích nghiệp như thế không lâu sẽ ngộ vô sinh nhẫn.’’
Chỉ nói đơn giản
chỗ chính yếu. Trì Chú phải "ba mật" tương
ưng mới đắc được cảm ứng. Ba mật tức là :
Miệng tụng thần Chú, tâm tưởng chữ Phạn, tay
kết ấn tướng, cũng gọi là ba đàn. Tại sao
gọi là thần Chú ? Vì diệu không thể tả. Tâm
tưởng chữ Phạn, là quán tưởng mặt sau tâm
Chú của mỗi chữ Phạn. Ba mật tương ưng tức
là phương tiện trước khi trì Chú. Thứ hai là :‘’ Tâm tưởng đàn.’’ Nghĩa là khi tụng tâm Chú, thì quán tưởng từng chữ Phạn. Nói đến chữ Phạn, có lúc sự tình không nhất định minh bạch, nếu minh bạch thì nhuệ khí, cảm thấy đã đủ rồi. Nếu không minh bạch, thì cảm thấy có chút ý nghĩa trong đó. Không minh bạch thì ví như ăn thức ăn, chưa ăn thì cảm thấy ngon, ăn rồi thì nếm qua : chua ngọt đắng cay, tâm tham ăn đã dừng lại, cảm thấy chẳng còn ngon nữa. Tu hành cũng như thế. Nếu bạn không biết ý nghĩa của Chú, ý nghĩa chữ Phạn thì cảm thấy diệu không thể tả. Tâm niệm luôn luôn nghĩ muốn biết, nếu bạn biết rồi thì không chú ý. Quán tưởng chữ Phạn cũng lại như thế, vì chữ Phạn chúng ta chưa học qua, nên không biết ý nghĩa của nó, không giống như chữ Tàu. Ðây là chữ ‘’ đại ‘’ kia là hai chữ ‘’ Bồ Tát.‘’ Quán tưởng chữ Phạn sẽ đắc được ngũ nhãn lục thông, phải quán tưởng từng chữ rõ ràng, mở mắt nhắm mắt đều thấy rõ ràng, lâu dần thì chỗ diệu dụng sẽ phát sinh, có thể khiến cho bạn khai mở ngũ nhãn lục thông, thông nhân đạt quả, là vì chúng ta không minh bạch chữ Phạn, thì có một sức lực thần diệu.
Quán tưởng chữ
Phạn cũng là phương pháp khóa tâm lại, chế
tâm tại một chỗ đừng cho khởi vọng tưởng, ấn
nhập từng chữ Phạn vào trong tâm, bất cứ mở
hoặc nhắm mắt đều rõ ràng. Như thế lâu dần
sẽ đắc được tam muội.
Kháp quyết niệm
Chú, tức là bạn phải tập trung tinh thần,
bạn làm động tác này, thì không nên khởi
vọng tưởng gì khác. Chẳng phải ý nghĩa gì
khác, chẳng phải nói một khi Kháp quyết thì
linh. Nếu bạn không có vọng tưởng gì khác,
không Kháp quyết cũng là ba mật tương ưng.
Nên biết chân lý, tại sao phải có ba mật
tương ưng ? Vì Chú ngữ đàn, quán tưởng đàn,
thủ ấn đàn, đều muốn bạn đừng khởi bất cứ
vọng tưởng gì. Cho nên chuyên nhất thì linh,
phân chia thì tán loạn.
"Tổng trì" là "tổng tất cả Pháp, trì vô lượng nghĩa". Tổng tất cả Pháp tức là bao quát hết thảy các Pháp. Trì vô lượng nghĩa, tức là thọ trì nghĩa vô lượng, đều bao quát ở trong đó. Cho nên ‘’diệu trạm‘’ là hiển mật viên dung. Tổng trì là tùy duyên phổ ứng, tất cả tận hư không biến pháp giới, cảnh giới có sự mong cầu, không thể không cảm ứng. Bổn thể thường trụ tức bất động, bổn thể là tịch nhiên bất động, cảm mà toại thông. Diệu trạm, Tổng trì và Bất động cả ba đều là diệu trạm, ba mà một. Cả ba đều là tổng trì, một mà ba. Cả ba đều là bất động, chẳng phải ba, chẳng phải một, cũng ba cũng một. Phân tích kỹ thì ý nghĩa trong mỗi một cái đều có ba ý nghĩa.
"Ðấng Bất Ðộng"
tức là danh hiệu chỉ cho Phật.
‘’ Không phải
trải qua số kiếp a tăng kỳ mà chứng được
pháp thân.’’ Ðức Phật tu hành trải qua ba
đại A tăng kỳ kiếp mới thành Phật. Cho nên :
"Trở lại độ chúng sinh nhiều như số cát sông Hằng". Tôi thành Phật không phải vì chính mình, còn phải trở lại thế giới Ta Bà, giáo hóa chúng sinh nhiều như số cát sông Hằng. Tất cả chúng sinh tôi đều phải giáo hóa. ‘’ Ðem thâm tâm này phụng sự chúng sinh, thân khắp các cõi nhiều như số hạt bụi.’’ Tâm tức trí huệ Bát nhã. ‘’ Phụng sự chúng sinh khắp các cõi nhiều như số hạt bụi.’’ Biến hóa đến mười phương thế giới để giáo hóa chúng sinh. Tôi dùng nguyện lực phổ biến khắp mười phương cõi nước, nhiều như số hạt bụi thế giới, để giáo hóa chúng sinh. ‘’ Ðó mới là báo ân Phật.’’ Dùng tâm chí thành khẩn thiết mới báo đáp được ân đức của Phật đối với tôi. ‘’ Lại thỉnh Ðức Thế Tôn chứng minh.’’ Lại kiền thành thỉnh cầu Thế Tôn chứng minh nguyện lực này của A Nan. ‘’ Vào đời ác năm trược con thề xin vào trước.’’ Chúng sinh trong đời ác năm trược rất khó độ, tôi phải độ trước. Năm trược là : Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, chúng sinh cang cường khó điều, khó phục. Tôi phải vào trước thế giới Ta Bà tội ác để độ chúng sinh.
‘’ Nếu còn một
chúng sinh chưa thành Phật, con sẽ không thủ
chứng quả vị Nê Hoàn.’’ Tôi thủy chung không
thể thủ chứng quả A La Hán. Sơ quả Tu Ðà
Hoàn, nhị quả Tư Ðà Hàm, tam quả A Na Hàm,
tứ quả A La Hán, cũng không thể thủ quả vị
Niết Bàn của Phật. Nếu còn chúng sinh chưa
thành Phật, thì tôi ở tại đây đợi để giáo
hóa họ, khiến cho họ đều thành Phật, rồi sau
tôi mới thủ chứng quả vị Nê Hoàn. Quả vị Nê
Hoàn của nhị thừa tức quả vị A La Hán, Phật
thì quả vị Niết Bàn, tức cũng là Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðây là sự phát nguyện
của Ngài A Nan, đến giúp Phật hoằng dương,
trợ giúp Phật Thích Ca Mâu Ni để giáo hóa
Chúng sinh. ‘’ Nguyện cầu trừ sạch hết hoặc vi tế’’. Ở trên đã thỉnh Phật ‘’ Tiêu diệt tưởng điên đảo của con, trong trăm ngàn ức kiếp‘’, là chỉ tiêu trừ kiến hoặc, tư hoặc bây giờ lại tiêu trừ trần sa hoặc. Trần sa hoặc là một thứ hoặc vi tế, chỗ mà bạn cảm giác không đến được, trầm ở dưới đáy tâm của bạn, vọng niệm vi tế, vô minh. Nguyện cầu đại hùng đại lực của Phật Thế Tôn trừ khử mê hoặc vi tế của tôi.
‘’ Khiến cho con
sớm thành vô thượng giác.’’ Khiến cho con
sớm thành Phật đạo.
‘’ Khiến ‘’ là sử
khiến cho Ngài sớm chứng được vô thượng
giác, sớm thành Phật đạo, tức cũng thỉnh
Phật giúp Ngài, Ngài phải độ hết chúng sinh.
Nói : ‘’ Nếu còn một chúng sinh chưa thành
Phật ‘’, là chỉ chúng sinh có duyên với
Ngài, Ngài đều phải độ hết. Nếu chúng sinh
không có pháp duyên với Ngài, thì đợi người
khác độ, không phải tôi là luật sư biện hộ
cho Ngài A Nan, chắc chắn là như thế. Nếu
hết thảy tất cả chúng sinh trên thế giới đợi
Ngài A Nan đi độ, thì các Bồ Tát khác làm gì
? Ðợi hương khói chăng ? Không có lý này.
Phật, Bồ Tát cũng phân công hợp tác, mỗi vị
tận hết khả năng, tùy duyên độ sanh. Giống
như chúng ta ở đây có nhiều người khách đến,
mọi người phân công hợp tác, bên đây lo
phòng xá, bên kia lo quét dọn, đằng kia thì
cắt cỏ. Ðây đều là ai lo việc nấy, là vì
thành tựu đạo tràng, là ý nghĩa này. Cho nên
bạn đừng cho rằng Ngài A Nan phát nguyện này
mâu thuẫn, bạn phê bình như thế cũng làm cho
Ngài A Nan một thân tội quá. Ngài A Nan muốn
độ bạn nhưng mà bạn lại phê bình Ngài, nói
Ngài mâu thuẫn. Ngài A Nan mâu thuẫn là việc
của Ngài, chính bạn không mâu thuẫn thì được
rồi. Các vị nghĩ xem, "đừng dùng tâm phàm
phu để dò Thánh trí, dùng tâm tiểu nhân để
đo bụng quân tử", chỉ loạn thêm, phê bình là
không thể được. ‘’ Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật ‘’. Quy y mười phương Tam Bảo rồi, lại quy y Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni theo tiếng Phạn dịch là "năng nhân tịch mặc", "năng nhân" là phổ độ chúng sinh, "tịch mặc" là tịch nhiên bất động. Năng nhân cũng là cảm mà toại thông. Hay dùng nhân từ thí cho chúng sinh. Ðây là động tĩnh không hai. Năng nhân là động, tịch mặc là tĩnh. Ðộng tĩnh nhất như. Trong động tức là tĩnh, trong tĩnh tức là động. Ðộng không ngại tĩnh, tĩnh không ngại động. Bạn tu đạo tu đến động tĩnh nhất như, thì tìm được bổn thể, càng không có vọng niệm gì. ‘’Nam mô Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm‘’. Lại quy y Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm đại định này. ‘’ Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. ‘’ Lại quy y Quán Thế Âm Bồ Tát. ‘’ Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát.’’ Lại quy y tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát. Niệm Chú Lăng Nghiêm thì có tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát thường bảo hộ bạn, theo hầu hai bên. Cho nên niệm Chú Lăng Nghiêm không phải là sự trồng căn lành một đời một kiếp, mà là đã trồng căn lành trong vô lượng trăm ngàn vạn ức kiếp về trước, mới có thể học và trì tụng Chú Lăng Nghiêm. Không phải trồng căn lành nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật mà đã trồng căn lành với vô lượng ngàn vạn đức Phật, mới gặp được Chú Lăng Nghiêm.
Có người nghĩ :
"Sư phụ, hôm qua Ngài nói, không minh bạch
là diệu. Vậy tại sao lại phải giảng cho
chúng con nghe "! Tôi giảng là việc của tôi,
bạn không nghe là việc của bạn. Bạn có thể
ngủ tại đó, đó lại càng diệu, nhập Tam ma
địa ngủ. Một khi ngủ thì đi gặp Chu Công.
Chu Công nói : ‘’ Hoan nghênh bạn đến ! Ðánh
một ván cờ với bạn ‘’, thì đánh cờ tại đó,
đợi giảng xong Chú Lăng Nghiêm thì bạn cũng
đánh cờ xong, nói : ‘’ Ồ, cái gì thế ? ‘’
tôi cũng không biết. ‘’ Ðức Thế Tôn ‘’, là thế, xuất thế, đều tôn kính. Lại không so sánh thì càng tôn quý, cao siêu tức là Phật. Lúc đó từ trên đỉnh nhục kế của Phật phóng ra trăm luồng quang minh báu, trong quang minh báu vọt ra hoa sen báu ngàn cánh. Trăm báu ở đây là biểu hiện bách giới. Hoa sen báu ngàn cánh là biểu hiện thiên như. Nói là nói như thế, thật ra không phải là biểu hiện bách giới thiên như mà là vô cùng vô tận, vô lượng vô biên. Có thể nói ba ngàn đại thiên thế giới, đâu chẳng phải từ trăm quang minh báu hóa thành. Trên hoa sen báu có hóa thân của Phật. Hóa thân là do không mà hóa có. Nói nó có, nó lại không có, nói nó không có, nó lại có. Hốt hiển, hốt ẩn, hốt có, hốt không. Ngước mặt xem ở trước, hốt nhiên lại ở sau. Hóa thân Như Lai, tức là Phật biến hóa thân, ngồi trên hoa sen báu ngàn cánh. Trên đầu hóa thân Như Lai, lại phóng ra mười luồng trăm quang minh báu. Mười luồng quang minh biểu hiện mười pháp giới. Mỗi mỗi quang minh đều phổ biến thị hiện Bồ Tát Kim Cang Mật Tích nhiều như số cát mười sông Hằng. Kim Cang Mật Tích cũng là Kim Cang Hộ Pháp, tức cũng là Hộ Pháp Kim Cang. Mật Tích tức là trầm mặc bảo hộ bạn. Niệm Chú có ít nhứt tám vạn bốn ngàn Kim Cang bảo hộ bạn. Thực ra không chỉ có chừng ấy, mà có nhiều như số cát mười sông Hằng, dùng máy điện toán cũng tính không được, số Hộ Pháp Kim Cang trong trầm mặc bảo hộ bạn. Bạn tự mình không nhìn thấy, nhưng có thật. Bồ Tát Kim Cang Tạng một tay bưng quả núi lớn, một tay cầm cái chùy báu lớn, xem lớn cỡ nào, đầy khắp hư không. "Ðại chúng đều chiêm ngưỡng quan sát, vừa sợ vừa thích, cầu Phật thương xót". Sợ sệt, trong tâm như có con thỏ đang nhảy nhót. Nói không dám nhìn, lại bỏ chẳng đặng, muốn nhìn lại sợ sệt, đầu tóc đều dựng đứng, toàn thân đều nổi da gà. "Vừa sợ vừa thích", vừa có sợ vừa có sự ưa thích. Hai thứ tâm tình, hai thứ tư tưởng.
‘’
Cầu Phật thương xót‘’. Lúc đó bèn cầu Phật
Thích Ca thương xót chúng ta. ‘’ Từ tướng vô kiến đảnh của Như Lai.‘’ Không thấy được tướng đảnh của Phật. Tướng vô kiến đảnh này nhìn tựa có như không có, nói không có lại như có. Tướng vô kiến đảnh là bạn nhìn không thấy, cũng là không chỗ nào mà chẳng thấy, chẳng nhìn chẳng thấy. ‘’ Phóng ra quang minh diễn nói thần Chú.’’ Tức là Như Lai biến hóa trên hoa sen báu lớn, trên tướng vô kiến đảnh của Ngài sinh ra trăm quang minh báu, trăm quang minh báu lại có hoa sen báu ngàn cánh. Trên hoa sen báu ngàn cánh lại có hóa thân Như Lai, lại phóng đại quang minh diễn nói thần Chú. Ðây là Phật hóa Phật tuyên thuyết thần Chú. Không phải một số người có thể nghe được. Ðương thời, đều là những vị pháp thân Ðại Sĩ, đại Bồ Tát mới có thể nghe được thần Chú. Bạn muốn nghe thì trước phải học Chú Lăng Nghiêm. Học xong rồi mới có thể nghe. |
|
| ||||||