CHÚ LĂNG
NGHIÊM GIẢNG GIẢI
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 02
55. Nam mô bà
già bà đế.
Kệ :
Chánh Đẳng Chánh
Giác Đại Đạo Sư
Tiếp dẫn hữu tình phó liên trì
Thân kiến Di Đà Quán Tự Tại
Thế Chí chiêu thủ khoái lai thời.
Tạm dịch :
Chánh đẳng chánh
giác đại Tôn Sư
Tiếp dẫn hữu tình phó Liên Trì
Thấy được Di Ðà, Quán Tự Tại
Thế Chí vẫy tay mau đến nơi.
Giảng giải : Bà Già Bà Ðế tức là "Bà Già
Phạm", Chánh đẳng chánh giác đại Tôn Sư. ‘’
Tiếp dẫn hữu tình phó Liên Trì.’’ Bồ Tát tức
là giác hữu tình hoặc gọi là hữu tình giác.
Phàm là có tình cảm đều là chúng sinh.
‘’ Thấy được Di Ðà, Quán Tự Tại.’’ Gặp được
Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Quang và Bồ
Tát Quán Tự Tại.
‘’Thế Chí vẫy tay mau đến nơi.’’ Bồ Tát Thế
Chí cũng tiếp dẫn tại đó nói hãy mau đến !
Mau đến !
56. Đế lị trà.
Kệ :
Kiên cố bất thoái
bồ đề tâm
Dũng mãnh tinh tấn chân lại chân
Phát nhạ trưởng đại đăng bỉ ngạn
Thổ chuyên ngoã thạch biến hoàng kim.
Tạm dịch :
Kiên cố không lùi
tâm bồ đề
Dũng mãnh tinh tấn lại chân thật
Nảy mầm lớn lên đến bờ kia
Ðất gạch ngói đá biến vàng thật.
Giảng giải : Ðế Lị Trà dịch là "kiên cố".
Ðây là đội cầm binh khí hộ vệ trên trời rất
trang nghiêm.
‘’ Dũng mãnh tinh tấn lại chân thật.’’ Dũng
mãnh tinh tấn trong chân thật lại càng chân
thật, một sợi tóc giả cũng chẳng có, chỉ có
bồ đề tâm mới nảy mầm lớn lên.
‘’ Ðất gạch ngói đá biến vàng thật.’’ Ðất
gạch ngói đá vốn chẳng dùng gì được, cuối
cùng biến thành vàng thật, nếu nói mà không
tu đạo thì cũng giống như đất gạch ngói đá,
nếu tu thành đạo rồi thì so với vàng thật
còn giá trị hơn. Bồ đề tâm tức là chẳng nóng
giận, chẳng có tâm tham, tâm sân, tâm si. Tu
đạo chủ yếu là phá vô minh phiền não, không
nóng giận thì cơ hội tu sẽ thành công.
57. Thâu la tây na.
Kệ :
Phá Ma La Võng
thắng ma quân
Vô đoan chánh giả thậm kinh tâm
Oai đức hàng phục thiên tặc chúng
Thiện nhãn diệu mục thị cổ kim.
Tạm dịch :
Phá lưới Ma La
thắng ma quân
Kẻ không đoan chánh, sanh tâm sợ
Oai đức hàng phục chúng thiên tặc
Mắt lành xem rõ thấu cổ kim.
Giảng giải : Thâu Na Tây Na dịch là "phá ma
quân", "phá lưới Ma La ". Ma vương có thần
thông diệu dụng của nó, phá ma vương rồi thì
sẽ thắng ma quân.
‘’ Kẻ không đoan
chánh, sanh tâm sợ.’’ Vô đoan chánh là ai ?
Vô đoan chánh tức là A Tu La. A Tu La cũng
phải sợ.
‘’ Oai đức hàng
phục chúng thiên tặc.’’ Phá ma quân có một
thứ oai đức, đủ để hàng phục chúng thiên tặc
A Tu La.
‘’ Mắt lành xem rõ
thấu cổ kim.’’ Ðây cũng có thể dịch là thiện
nhãn hoặc diệu mục. Thiện nhãn diệu mục
không thấy lỗi của chúng sinh, hết thảy
chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể
thành Phật, xem hết thảy chúng sinh đều như
nhau, không phân biệt.
58. Ba la ha la nô la xà gia.
Kệ :
Như ý tự tại vô
năng thắng
Tri túc nộ hống sư tử vương
Trang nghiêm kết man hương thù diệu
Năng trì bảo giới ngộ chân thường.
Tạm dịch :
Như ý tự tại không
ai bằng
Tri túc nộ hống sư tử vương
Kết man trang nghiêm hương thù diệu
Giữ gìn giới báu ngộ chân thường.
Giảng giải : Ba La nghĩa là "tự tại", cũng
có nghĩa là "như ý", cũng dịch là "vô năng
thắng", chẳng có người nào thắng hơn được.
Ha La dịch là "sư
tử", lại dịch là "kết hoa man".
Nô La dịch là
"năng trì".
Xà Gia dịch là
"thắng". Cho nên nói :‘’ Như ý tự tại không
ai bằng - Tri túc nộ hống sư tử vương.’’ Lại
có nghĩa là "tri túc" hoặc nghĩa là "đại
nộ", như sư tử hống.
‘’ Kết man trang
nghiêm hương thù diệu.’’ Kết hoa man có
nghĩa là trang nghiêm, lại có nghĩa là hương
thù diệu, hoa man có hương thù thắng vi
diệu, nếu giữ được vô thượng bảo giới thì sẽ
ngộ trí huệ chân thường.
59. Đa tha già đa gia.
Kệ :
Như Lai biến hoá
diệu vô phương
Thuyết pháp đàm Kinh độ mê manh
Tín thọ phụng hành giai ly khổ
Niệm Phật trì Chú kiến Giác Vương.
Tạm dịch :
Như Lai biến hóa
diệu vô cùng
Thuyết pháp giảng Kinh độ quần mê
Tin thọ phụng hành đều lìa khổ
Niệm Phật trì Chú thấy Giác Vương.
Giảng giải : Ða
Tha Già Ða Gia tức là "Như Lai", thần thông
biến hóa của Như lai diệu vô cùng, nói không
hết được.
‘’ Thuyết pháp giảng Kinh độ quần mê.’’ Phật
thuyết pháp để giáo hóa chúng sinh mê muội.
‘’Tin thọ phụng hành đều lìa khổ.’’ Nếu tin
thọ phụng hành giáo pháp của Phật thì sẽ ly
khổ đắc lạc.
‘’Niệm Phật trì Chú thấy Giác Vương.’’ Nếu
nhất tâm niệm Phật, nhất tâm trì Chú thì sẽ
thấy được Phật.
60. Nam mô bà già bà đế.
Kệ :
Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác Tôn
Như Lai Ứng Cúng thiên nhân trung
Minh Hạnh Thiện Thệ Thế Gian Giải
Chí tâm quy mạng lễ cung kính.
Tạm dịch :
Ðấng Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác
Như Lai Ứng Cúng trong trời người
Minh Hạnh Thiện Thệ Thế Gian Giải
Chí tâm quy mạng lễ cung kính.
Giảng giải : Phật tức là ‘’ Ðấng vô thượng
chánh đẳng chánh giác.’’ Chánh đẳng chánh
giác tức cũng là A nậu đa la tam miệu tam bồ
đề, Phật có mười hiệu.
"Như Lai Ứng Cúng
trong trời người - Minh Hạnh Thiện Thệ Thế
Gian Giải.’’ Ðó là một trong mười hiệu chúng
ta phải ‘’ Chí tâm quy mạng lễ cung kính.’’
Thành tâm, quy mạng lễ cung kính chư Phật.
61. Nam mô a di đa bà gia.
Kệ :
Quy đầu Tây Phương
Vô Lượng Giác
Trí huệ quang minh chúng tướng hảo
Y chánh thanh tịnh cập trang nghiêm
Hiền Thánh sung mãn tri đa thiểu.
Tạm dịch :
Quy mạng Tây
Phương Vô Lượng Giác
Trí huệ quang minh các tướng tốt
Y chánh thanh tịnh rất trang nghiêm
Thánh hiền đầy khắp vô lượng số.
Giảng giải : Ðây là Tây phương Phật A Di Ðà,
Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Quang. Cho
nên nói : ‘’ Quy mạng Tây Phương Vô Lượng
Giác.’’ Giác nghĩa là giác ngộ.
’’ Trí huệ quang
minh các tướng tốt.’’ Trí huệ, quang minh
tướng tốt của Ngài đều vô lượng.
‘’ Y chánh thanh
tịnh rất trang nghiêm.’’ Y báo chánh báo của
Ngài rất thanh tịnh và trang nghiêm. Y báo
tức là sơn hà đại địa, nhà cửa lâu đài.
Chánh báo tức là Phật, Bồ Tát, A la hán đều
vô lượng trang nghiêm.
‘’Thánh hiền đầy khắp vô lượng số.’’ Tại thế
giới Cực Lạc, Bồ Tát, A La Hán, Thánh, Hiền,
Tăng không biết số bao nhiêu, dùng máy điện
toán cũng tính chẳng được vì quá nhiều.
62. Đa tha già đa gia.
Kệ :
Phổ lễ Như Lai
chúng môn đồ
Nhất tâm cung kính đại trượng phu
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ
Thường vi ngã đẳng tác hộ phù.
Tạm dịch :
Lễ khắp Như Lai
chúng môn đồ
Một lòng cung kính đại trượng phu
Xin nguyện từ bi mà nhiếp thọ
Thường vì chúng con gia hộ trì.
Giảng giải : Ða Tha Già Ða Gia, tức là nói "
Lễ hết chủng tộc của Như lai". Môn đồ của
Như lai tức là đệ tử của Phật, nếu bạn là đệ
tử của Phật cũng bao quát trong đó, tôi là
đệ tử Phật cũng bao quát trong đó, người
khác là đệ tử của Phật cũng bao quát trong
đó. Cho nên đây chẳng phải nói người khác mà
là nói chính bạn.
‘’ Một lòng cung
kính đại trượng phu.’’ Ðồ đệ của Phật đều là
đại trượng phu, nam nữ đều gọi là đại trượng
phu. Cho nên khi xuất gia thì hỏi : Bạn có
phải là đại trượng phu chăng ? Bạn phát bồ
đề tâm chăng ? Nói như vậy thì thiên ma
ngoại đạo kinh sợ, thiên ma ngoại đạo kinh
sợ thì muốn đến chướng ngại sự tu hành của
bạn, vì sợ quyến thuộc của ma vương đến phá
cho nên ‘’Xin nguyện từ bi mà nhiếp thọ.’’
Chúng ta là đệ tử của Phật, chúng ta muốn đệ
tử của Phật phát đại từ bi thương xót nhiếp
thọ, vì chúng ta sống ở thế gian này làm rất
nhiều việc không giữ quy cụ, thật là điên
đảo, đáng thương xót. Ðệ tử của Phật thương
xót chúng ta, nhiếp thọ chúng ta.
‘’ Thường vì chúng
con gia hộ trì.’’ Hộ thân như cái linh phù
để bảo hộ chúng ta, khiến chúng ta có chỗ ký
thác, có chỗ nương tựa.
63. A la ha đế.
Kệ :
Ứng chân nhất
thiết chúng vương tộc
Sinh tôn quý gia túc duyên thục
Trợ Phật dương hoá hoằng chánh pháp
Chỉ dẫn ngoan ngu xuất tam đồ.
Tạm dịch :
Ứng chân tất cả
dòng dõi vua
Sinh nhà tôn quý duyên đời trước
Giúp Phật tuyên dương hoằng chánh pháp
Chỉ dẫn ương ngu thoát ba cõi.
Giảng giải : A La
Ha Ðế là "tất cả ứng chân chúng vương tộc".
Ứng Chân cũng là Phật, cũng là đệ tử của
Phật, chúng vương tộc là quyến thuộc của
vua.
‘’ Sinh nhà tôn
quý duyên đời trước.’’ Tại sao sinh ra trong
vương tộc ? Vua đây có thể nói là quốc
vương, cũng có thể nói là Pháp Vương, sinh
trong nhà Pháp Vương cũng là quý tộc. Duyên
đời trước, vì trong tiền kiếp có nhân duyên
với đấng Pháp Vương và quốc vương, cho nên
làm chủng tộc của Pháp Vương, chủng tộc của
quốc vương. Tại sao các vị ấy đến ? Vì đến
trợ giúp Phật hoằng dương chánh pháp. Khi
Phật xuất thế thì đồ chúng của Phật đều đến
hộ trì, đều đến trợ giúp, cho nên nói :
‘’Giúp Phật tuyên dương hoằng chánh pháp -
Chỉ dẫn ương ngu thoát ba cõi.’’ Ương tức là
chúng sinh cang cường, bạn giáo hóa họ thế
nào, họ cũng không nghe, dạy họ giữ giới, họ
không chịu giữ giới, kêu họ từ từ tu hành,
phát bồ đề tâm, họ không phát tâm bồ đề,
không giữ quy cụ, ba ngàn oai nghi, tám vạn
tế hạnh cũng không có, đó tức là ương, giống
như khúc gỗ, bạn nói với họ, họ không hiểu,
dạy họ lạy Phật, niệm Phật, tụng Kinh họ
cũng nghe không vào. Ngu tức là ngu si,
người ngu si và kẻ ương ngạnh luôn luôn đọa
vào ba đường ác, thường thường làm ngạ quỷ,
làm súc sanh, đọa địa ngục. Cho nên phải
giáo hóa chúng sinh trong ba cõi lìa khổ
được vui, chấm dứt sinh tử.
64. Tam miệu tam bồ đà gia.
Kệ :
Quy mạng chánh
giác hiền Thánh chúng
Cứu độ tam giới giai ứng cúng
Phổ nguyện hữu tình câu ly khổ
Thiên ma khủng bố địa chấn động.
Tạm dịch :
Quy mạng Chánh
Giác Thánh hiền chúng
Cứu độ ba cõi đều ứng cúng
Nguyện khắp hữu tình đều lìa khổ
Thiên ma kinh sợ đất chấn động.
Giảng giải : Tam Miệu Tam Bồ Ðà là "Chánh
đẳng chánh giác", là "hết thảy Thánh hiền",
bao quát Bồ Tát, Phật, A La Hán đều ở trong
đó, cho nên nói : ‘’ Quy mạng Chánh Giác
Thánh hiền chúng - Cứu độ ba cõi đều ứng
cúng ’’. Hết thảy bậc Chánh Giác đều cứu độ
hết thảy chúng sinh trong ba cõi, cho nên
trời người đều nên cúng dường những bậc ấy.
Các bậc Thánh hiền đó trong quá khứ đã phát
nguyện này, chúng ta cũng phát nguyện này,
tức là : ‘’ Nguyện khắp hữu tình đều lìa khổ
- Thiên ma kinh sợ đất chấn động.’’ Thánh
hiền chúng đến đâu thì thiên ma đều kinh sợ,
đại địa sáu thứ chấn động.
65. Nam mô bà già bà đế.
Kệ :
Cửu giới chúng
sinh từ bi phụ
Thập phương quốc độ Đại Giác Tôn
Kiến tướng văn danh quân đắc độ
Xuẩn động hàm linh tác y hỗ.
Tạm dịch :
Bậc cha lành chín
giới chúng sinh
Ðấng Ðại Giác mười phương cõi nước.
Thấy tướng nghe danh đều được độ
Bò bay máy cựa làm chỗ nương.
Giảng giải : ‘’ Bậc cha lành chín giới chúng
sinh.’’ Chín giới chúng sinh tức là : Bồ
Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người, A
tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Phật là
Từ Bi Phụ, cha lành của chín giới.
‘’ Ðấng Ðại Giác
mười phương cõi nước.’’ Ðây là những bậc
giác ngộ trong mười phương cõi nước.
‘’ Thấy tướng nghe
danh đều được độ.’’ Thấy được tượng phật,
nghe được danh hiệu Phật, thảy đều được độ.
‘’ Bò bay máy cựa
làm chỗ nương.’’ Tất cả chúng sinh rất nhỏ
bé cũng lấy Phật làm chỗ nương tựa của họ.
66. A sô ti gia.
Kệ :
Đông
phương bất động hoan hỉ quang
Hàng phục thiên ma nộ kim cang
Triết nhiếp nhị môn hoá quần chúng
Thuận nghịch hổ dụng diệu vô phương.
Tạm dịch :
Ðông phương Bất
Ðộng, Hoan Hỷ Quang
Hàng phục thiên ma nộ Kim Cang
Triết nhiếp hai môn độ quần chúng
Thuận nghịch đều dụng diệu vô cùng.
Giảng giải : Ðây là phương đông Phật A Súc,
tức cũng là Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật.
‘’ Ðông phương Bất
Ðộng Hoan Hỷ Quang.’’ Ðông phương Phật Bất
Ðộng tức là A Sô Ti, Hoan Hỷ Quang Phật.
‘’ Hàng phục thiên
ma nộ Kim Cang.’’ Kim Cang là nộ mục (trợn
mắt), Bồ Tát là từ mi (mắt hiền từ), Kim
Cang có sự nóng giận vì phải hàng phục ma,
nếu không có sự nóng giận thì ma liền muốn
khinh thường bạn.
‘’ Triết nhiếp hai môn độ quần chúng.’’ Nộ
mục Kim Cang dùng pháp triết phục, Bồ Tát từ
bi dùng pháp nhiếp thọ, nhìn thấy Bồ Tát từ
bi, thì trong tâm rất vui vẻ, nhưng khi nhìn
thấy Kim Cang, thì bạn không nghe cũng phải
nghe, vì vị Kim Cang có thế lực rất lớn, có
thể hàng phục bạn cho nên nói : ‘’ Hàng phục
thiên ma nộ Kim Cang - Triết nhiếp hai môn
độ quần chúng.’’ Dùng pháp triết phục và
pháp hàng phục hai cửa này để giáo hóa hết
thảy chúng sinh.
‘’ Thuận nghịch
đều diệu dụng vô cùng.’’ Nên dùng pháp triết
phục thì dùng pháp triết phục, nên dùng pháp
nhiếp thọ thì dùng pháp nhiếp thọ, có lúc
thuận thì Ngài khiến cho họ hoan hỷ, có lúc
không thể thuận họ thì phải dùng pháp triết
phục. Hai thứ pháp này phải dùng vừa vặn
đúng lúc, nếu dùng không đúng thì không
tương ưng, giống như đáng lý phải dùng pháp
triết phục thì bạn không dùng, mà dùng pháp
nhiếp thọ, hoặc nên dùng pháp nhiếp thọ thì
bạn không dùng, lại dùng pháp triết phục,
thì người quỷ thần đều xa lánh, thấy bạn thì
chạy xa mười vạn tám ngàn dặm. Cho nên dùng
đúng thì có thể hàng phục được đối phương,
biến đổi được tư tưởng và hành vi của họ.
67. Đa tha già đa gia.
Kệ :
Lễ kính chư Phật
yếu chí thành
Cảm ứng đạo giao mặc nhiên thong
Vi pháp tinh tấn thường bất thoái
Diện kiến Như Lai thần mộng trung.
Tạm dịch :
Lễ kính chư Phật
phải chí thành
Cảm ứng đạo giao tự nhiên thông
Vì pháp tinh tấn thường bất thoái
Thấy được Như Lai ở trong mộng.
Giảng giải : ‘’ Lễ kính chư Phật phải chí
thành.’’ Bạn lễ Phật thì phải khẩn thiết chí
thành, không thể lôi thôi diễn xướng theo
họ, họ lạy tôi cũng lạy theo, họ quỳ tôi
cũng quỳ theo, thật là không có tướng ta,
nhưng không phải như thế.
’’Cảm ứng đạo giao
tự nhiên thông.’’ Nếu thật có tâm chí thành
khẩn thiết thì lẳng lặng tự nhiên thông đạt,
Phật cũng biết bạn đang lễ Phật, bạn lễ Phật
sẽ có cảm ứng, có công đức.
‘’ Vì pháp tinh
tấn thường bất thoái.’’ Chẳng phải nói học
Phật pháp ba ngày, năm ngày, một năm hai năm
liền thành tựu, thành cái gì ? Một bước còn
chưa tiến được ! Bèn sinh hoài nghi với Phật
pháp, không tinh tấn, thì chẳng có ích gì,
phải luôn luôn không thoái chuyển bồ đề tâm.
‘’ Thấy được Như
Lai ở trong mộng.’’ Nếu thường thường không
thoái bồ đề tâm, ví như đả thiền thất, chẳng
phải nói đả một lần thì khai ngộ, đả hai lần
thì thành Phật, lần thứ ba thì không cần đả
nữa, không phải như thế, phải đả không biết
bao nhiêu lần thiền thất, tu hành bao nhiêu
đại kiếp, công phu mới thành tựu. Chẳng phải
nói bây giờ là thời đại khoa học, tôi xem
một cái xem thì hiểu rõ, ba tuần lễ liền
khai ngộ, trên đời chẳng có việc dễ dàng như
thế, ba tuần lễ bạn hút á phiện thì tức khắc
sinh ghiền, nhưng chờ đợi thì lại sinh
ghiền, tu hành không có giản đơn như thế !
Bạn nhìn từ xưa đến nay chư Phật, Bồ Tát tu
hành, đời đời kiếp kiếp đều tiếp tục không
ngừng dụng công phu, sau đó công phu thành
thục thì mới thành tựu, chẳng phải như chúng
ta tu hành, tu hai ngày rưỡi thì muốn thành
Phật. Nếu trên thế gian có việc dễ như thế
thì Phật nhiều hơn so với chúng sinh. Cho
nên các bạn đừng cho rằng mình thông minh,
thông minh ngược lại bị lầm thông minh. Câu
này nói thân tự gặp được Phật hoặc là trên
tinh thần, hoặc là trong mộng thấy được
Phật.
68. A la ha đế.
Kệ :
Phổ lễ ứng chân
chúng vương tộc
Chí tâm cung kính đãi duyên thục
Công viên quả mãn thành đại đạo
Dữ Phật đồng thất chứng như như.
Tạm dịch :
Khắp lễ ứng chân
chúng vương tộc
Chí tâm cung kính đợi duyên đến
Công tròn quả đầy thành đại đạo
Ðồng nhà với Phật chứng như như.
Giảng giải : Câu này vốn đã giảng qua rồi,
bất tất phải giảng lại, nhưng ý nghĩa của nó
vô cùng tận. Không ngại nói thêm, bất quá
nói thêm ít phần ý nghĩa của câu Chú, đừng
cho rằng bốn câu kệ thì hoàn toàn nói hết ý
nghĩa của một câu Chú. Vì oai lực và ý nghĩa
của một câu Chú vô cùng vô tận.
‘’ Khắp lễ ứng
chân chúng vương tộc ’’. Ứng chân tức là
Phật, phổ lễ chủng tộc của Phật.
‘’ Chí tâm cung
kính đợi duyên đến.’’ Người tu đạo phải chí
tâm tức là tâm phải chuyên nhất cung kính
Phật, cung kính chủng tộc của Pháp Vương,
đến khi cơ duyên thành thục thì :‘’ Công đầy
quả tròn thành đại đạo ’’. Tu đạo bất tất
phải hy vọng, bất tất đợi khai ngộ hoặc là
có gì thành tựu, ngày nào thành tựu ? Có
những thứ vọng tưởng như thế thì đó là một
thứ tâm tham. Ba ngàn oai nghi, tám vạn tế
hạnh, nhất cử nhất động đều phải có oai
nghi, không nên tùy tùy tiện tiện, cũng
không tùy tiện cười, cũng không tùy tiện
khóc, cũng không tùy tiện nổi giận. Tóm lại,
đều phải tự nhiên, không chỗ tạo tác, không
phải giả trang làm xuất gia, khi công đức
tròn, quả đầy thì sẽ thành bồ đề đại đạo.
‘’ Ðồng nhà với
Phật chứng như như.’’ Tức là ở cùng chỗ với
Phật, đồng nhà tức là chứng đắc quả vị Phật,
như như tức là bất động, không có một chút
tâm phân biệt, bất cứ gặp cảnh giới gì đều
không động, cảnh giới thiện cũng không giao
động, cảnh giới ác cũng không giao động.
Người tại trần, nhưng tâm xuất trần, như hoa
sen trong bùn không nhiễm trần, sẽ chứng
được như như bất động, như như tức là chân
như tự tại một thứ biểu thị, không vì tất cả
cảnh giới làm giao động, lúc đó không nghĩ
thiện không nghĩ ác. Như như tức cũng là
chứng được lý thể chân thật.
69. Tam miệu tam bồ đà gia.
Kệ :
Quy mạng chánh
giác Thiên Trung Thiên
Hư không pháp giới chứng Thánh hiền
Nguyện thuỳ từ bi ai nhiếp thọ
Hộ Vạn Phật Thành ức vạn niên.
Tạm dịch :
Quy mạng Chánh
Giác Thiên Trung Thiên
Hư không pháp giới các Thánh hiền
Xin nguyện từ bi mà nhiếp thọ
Hộ Vạn Phật Thành vạn ức niên.
Giảng giải : ‘’Quy mạng Chánh Giác Thiên
Trung Thiên.’’ Là quy mạng mười phương ba
đời tất cả chư Phật.
‘’ Hư không pháp
giới các Thánh hiền.’’ Với tận hư không biến
pháp giới tất cả Thánh hiền.
‘’ Xin nguyện từ
bi mà nhiếp thọ.’’ Nguyện Phật và Bồ Tát
thường thường có đại từ bi tâm đối với con,
thương xót con, nhiếp thọ con ! Ðừng bỏ con,
đừng quên con.
‘’ Hộ Vạn Phật
Thành vạn ức niên.’’ Cầu Phật và Bồ Tát hộ
trì Vạn Phật Thành, con thành Phật rồi cũng
hộ trì Vạn Phật Thành, bạn thành Phật rồi
cũng hộ trì Vạn Phật Thành, người khác Thành
Phật rồi cũng hộ trì Vạn Phật Thành. Vạn
Phật Thành cũng giống như trời đất vĩnh viễn
tồn tại, không bao giờ hủy diệt.
70. Nam mô bà già bà đế.
Kệ :
Thập phương tam
thế chư Như Lai
Bổn thể đồng cộng nhất pháp than
Bất tăng bất giảm bất cấu tịnh
Vĩnh tác chúng sinh đại minh đăng.
Tạm dịch :
Mười phương ba đời
các Như Lai
Bổn thể đều đồng một pháp thân
Không tăng không giảm không sạch dơ
Luôn làm đèn sáng cho chúng sinh.
Giảng giải : Mười phương tức là : Ðông, Tây,
Nam, Bắc, Ðông Bắc, Ðông Nam, Tây Nam, Tây
Bắc, trên và dưới cộng làm mười phương. Ba
đời tức là quá khứ, hiện tại và vị lai. Các
Như Lai là bao quát Phật quá khứ, Phật hiện
tại, Phật vị lai.
‘’ Bổn thể đều
đồng một pháp thân.’’ Tuy nhiên mỗi vị Phật
không đồng, nhưng pháp thân Phật là một,
quang minh của Phật cũng là một.
‘’ Không tăng
không giảm không sạch dơ.’’ Phật thì không
sinh không diệt, không sạch không dơ, không
thêm không bớt, nhập cứu kính Niết bàn.
‘’ Luôn làm đèn
sáng cho chúng sinh.’’ Phật giống như một
ngọn đèn sáng lớn, soi đường trước sau cho
chúng sinh, chỉ dẫn chúng sinh ra khỏi đường
mê, hướng về con đường giác ngộ.
71. Ti sa xà gia.
Kệ :
Đông phương Dược
Sư Lưu Ly Quang
Phổ độ hữu duyên nhập bỉ bang
Tăng phước tiêu tai diên trường thọ
Xưng danh lễ kính kiến Pháp Vương.
Tạm dịch :
Phương Ðông Dược
Sư Lưu Ly Quang
Ðộ kẻ có duyên vào nước Ngài
Tăng phước tiêu tai thêm sống lâu
Nghe danh lễ kính thấy Pháp Vương.
Giảng giải : Ti Sa Xà Gia là "Phật Dược Sư
Lưu Ly Quang". ‘’ Ðộ kẻ có duyên vào nước
Ngài.’’ Nhiếp thọ hết thảy chúng sinh có
duyên, sinh về phương đông thế giới Lưu Ly.
‘’ Tăng phước tiêu tai thêm sống lâu ’’, làm
cho chúng sinh tăng phước tiêu tai nạn sống
trường thọ.
‘’ Nghe danh lễ kính thấy Pháp Vương.’’ Niệm
danh hiệu hoặc lễ kính đều sẽ thấy được Pháp
Vương Phật và Phật đạo đồng, con người tại
sao làm người ? Vì con người có quá nhiều
tâm phân biệt, đây là tôi, đó là bạn, kia là
họ. Vì nhiều tâm phân biệt thì nhiều sự chấp
trước, cho nên làm người. Phật thì không có
sự chấp trước mới thành Phật, chúng ta muốn
thành Phật thì phải phá sự chấp trước về cái
ta, chấp trước về pháp, làm cho tâm cuồng
dừng lại, tức là bổn lai tự tánh thiên chân
Phật.
72. Câu lô phệ trụ lị gia.
Kệ :
Dược Sư Như Lai
thanh sắc bảo
Cụ túc trang nghiêm chúng tướng hảo
Trần sát hiện thân nhiếp quần loại
Duy vọng tốc phát bồ đề tảo.
Tạm dịch :
Ðức Phật Dược Sư
màu xanh báu
Trang nghiêm đầy đủ các tướng tốt
Hiện thân vô số nhiếp quần sinh
Nguyện họ sớm phát tâm bồ đề.
Giảng giải : Ðây là nói Phật Dược Sư màu
xanh báu, Phệ Trụ Lị Gia tức là "màu xanh
báu", Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật rất
trang nghiêm. Ngài có ba mươi hai tướng tốt,
tám mươi vẻ đẹp. Ngài hiện thân khắp các cõi
nước nhiều như hạt bụi, để thuyết pháp nhiếp
thọ hết thảy chúng sinh.
‘’ Nguyện họ sớm phát tâm bồ đề.’’ Phật Dược
Sư và Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Dược Thượng
hy vọng chúng ta và hết thảy chúng sinh sớm
phát bồ đề tâm, lìa khổ được vui.
73. Bát la bà la xà gia.
Kệ :
Đại tài Bát Nhã
trí huệ quang
Phổ chiếu pháp giới tánh trung vương
Bất động đạo tràng Quán Tự Tại
Tịch diệt vi lạc lộ đường đường.
Tạm dịch :
Ðại tài Bát Nhã
trí huệ quang
Chiếu khắp pháp giới tính trung vương
Bất động đạo tràng Quán Tự Tại
Tịch diệt là vui lộ đường đường.
Giảng giải : Bát La Bà tức là "trí huệ quang
minh". Ðây là nói :‘’ Ðại tài Bát Nhã trí
huệ quang - Chiếu khắp pháp giới tính trung
vương.’’ Tính trung vương tức là bổn thể của
Phật.
‘’ Bất động đạo tràng Quán Tự Tại.’’ Ðạo
tràng luôn luôn bất động, không động bổn tòa
mà giáo hóa mười phương rất tự tại.
‘’ Tịch diệt là vui lộ đường đường.’’ Phật
dùng tịch diệt làm vui, cho nên Kinh Niết
Bàn nói :
‘’ Các hành vô thường,
Là pháp sinh diệt,
Sinh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.’’
Lộ đường đường là lộ ra bổn thể tự tánh
quang minh.
74. Đa tha già đa gia.
Kệ :
Xưng tán Như Lai
lễ môn nhân
Quảng tu cúng dường biến sát trần
Sám hối nghiệp chướng hằng tinh tấn
Tuỳ hỉ công đức cánh ân cần.
Tạm dịch :
Khen ngợi Như Lai
lễ môn đồ
Rộng tu cúng dường khắp các cõi
Sám hối nghiệp chướng luôn tinh tấn
Tùy hỷ công đức không giải đãi.
Giảng giải : Ý nghĩa Ða Tha Già Ða Gia là
"đảnh lễ hết thảy môn nhân của Phật", tức
cũng là đệ tử của Phật. Vậy câu này cũng bao
quát bạn, tôi và tất cả hết thảy Phật giáo
đồ.
‘’ Khen ngợi Như Lai lễ môn đồ.’’ Chúng ta
lạy Phật kính Tăng. Tại sao phải cung kính
Tam Bảo ? Vì bạn tin Phật thì phải cung kính
Phật, cung kính Phật thì phải tu tập Phật
pháp, pháp nhờ Tăng truyền, Phật pháp nằm
trong tay người xuất gia, người xuất gia nắm
đạo lý Phật giáo, do đó phải cung kính Tam
Bảo, chúng ta bây giờ là người tin Phật, đều
phải xưng tán Như Lai lễ môn đồ của Như Lai.
Xưng tán tức là dùng những ngôn ngữ để tán
dương Phật, kính lễ môn đồ của Phật, đệ tử,
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni.
‘’ Rộng tu cúng dường khắp các cõi.’’ Rộng
tu cúng dường là một trong mười đại nguyện
vương của Bồ Tát Phổ Hiền. Thế nào gọi là
nguyện vương ? Là vua trong các lời nguyện.
Rộng tu cúng dường, không phải là cúng dường
một vị Phật, hai vị Phật, ba vị Phật mà là
cúng dường tất cả chư Phật, nhiều như số hạt
bụi trong pháp giới. Chúng ta đều phải cúng
dường, tất cả các đại Bồ Tát và đệ tử của
Phật. Rộng tu cúng dường khắp các cõi là
khắp hết các phương tận hư không biến pháp
giới, đều cúng dường không còn sót.
‘’ Sám hối nghiệp chướng luôn tinh tấn.’’
Rộng tu cúng dường rồi lại phải sám hối
nghiệp chướng, chúng ta sám hối tội nghiệt
và nghiệp chướng đã tạo ra trong quá khứ,
thường thường phải tinh tấn, không giải đãi
lười biếng.
‘’ Tùy hỷ công đức không giải đãi.’’ Phải
tùy hỷ hết thảy công đức, tùy hỷ hết thảy
công đức là vui vẻ hoan hỷ những việc tốt,
thiện, công đức mà người khác làm được, như
chính mình làm không khác, không sinh tâm đố
kỵ, không sinh tâm chướng ngại, phải tùy hỷ
những công đức mà người khác làm. Tức là tùy
hỷ tất cả công đức của chư Phật, tùy hỷ tất
cả công đức của các Bồ Tát, tùy hỷ công đức
của tất cả chúng sinh. Không giải đãi tức là
luôn luôn phải tùy hỷ. Bạn phải y chiếu mười
nguyện vương của Bồ Tát Phổ Hiền mà tu hành,
thì sớm sẽ thành Phật, y chiếu mười đại
nguyện vương tu hành thì không đi sai đường,
nhất định là đúng đắn.
75. Nam mô bà
già bà đế.
Kệ :
Cụ nhất thiết trí
viên mãn giác
Xuất quảng trường thiệt phá mê đảo
Thuyết thành thật ngôn tỉnh lung quý
Y giáo phụng hành tri đa thiểu.
Tạm dịch :
Hiện lưỡi rộng dài phá mê tối
Nói lời thành thật tỉnh mù điếc
Y giáo phụng hành biết bao nhiêu.
Giảng giải : Nam Mô Bà Già Bà Ðế vẫn ý nghĩa
là "Bạt Già Phạm". Bạt Già Phạm là một danh
từ riêng của Phật, đầy đủ tất cả trí huệ,
đắc được đại giác viên mãn, giác hạnh viên
mãn. Tu hành cũng tu viên mãn, trí huệ cũng
viên mãn, phước báu cũng viên mãn, hết thảy
hết thảy đều viên mãn.
‘’ Hiện lưỡi rộng dài phá mê tối.’’ Ngài
luôn luôn dùng lưỡi rộng dài phá tất cả điên
đảo chấp trước của chúng sinh. Mê tối của
chúng sinh không dễ gì phá. Thần thông của
chư Phật, Bồ Tát lớn như thế, muốn phá mê
tối của chúng sinh, có lúc cũng rất khó.
‘’ Nói lời thành thật tỉnh mù điếc.’’ Những
gì nói ra đều là lời thành thật. Chúng ta
giống như kẻ điếc, gì cũng không hiểu, hồ đồ
trong sự hồ đồ.
‘’ Y giáo phụng hành biết bao nhiêu.’’ Phật
từ bi giáo hóa chúng sinh, nhưng chân chánh
hiểu biết, y Phật phụng hành có được bao
nhiêu ? Mê thì nhiều, giác ngộ thì ít, nghe
thì nhiều, hành thì ít. Người nghe Phật pháp
thì nhiều nhưng người tu thì ít. Giống như
các bạn học Phật pháp tại đây, học đi học
lại vẫn điên đảo như thế, vẫn vô tri thức,
vẫn gây chuyện thị phi, khêu chọc ly gián,
tà tri tà kiến một chút cũng không hiểu. Như
vậy thì bạn biết đạo Phật giáo hóa chúng
sinh cũng là như thế, không dễ gì giáo hóa,
thật y giáo phụng hành rất ít lại ít. Cho
nên các bạn từ điểm này có thể hiểu nhân
loại không dễ gì giáo hóa. Bạn dạy họ đi
đường tà thì họ rất thích đi, bạn dạy họ đi
trên con đường chánh thì họ hoài nghi điều
này, hoài nghi điều kia, có thật hay chăng.
Ví như nói giả dối, khi bạn nói thì họ tin,
còn nói thật, thì dù bạn nói thế nào họ cũng
không tin, còn người thường là như thế, là
một loài động vật kỳ quái, nhưng qua rồi họ
lại hối hận, biết mình sai, thật là đáng
thương sót. Chúng ta nghe Phật pháp phải
cung hành thực tiễn, phải theo con đường
chánh mà làm, như thế mới có lợi ích. Bây
giờ nói về hai vị tam bộ nhất bái có thể nói
là rất khó được, nhưng bạn phải nghiên cứu
tử tế, hai vị đó thô cảm tuy nhiên đã đoạn,
nhưng tế cảm vẫn còn, trần sa hoặc không dễ
gì thu thập sạch sẽ được, cho nên tu hành
chẳng phải lôi thôi mà tu thành được, phải
nhận chân tu hành mới có thể thành tựu.
76. Tam bổ sư sắt đa.
Kệ :
Phổ biến nhất
thiết thù thắng quang
Thượng chí Hữu Đảnh hạ vô hương
Xuẩn động hàm linh quân mông độ
Phát bồ đề tâm kiến đạo tràng.
Tạm dịch :
Quang minh thù
thắng chiếu khắp cả
Trên đến Hữu Ðỉnh dưới địa ngục
Hết thảy hàm linh đều được độ
Phát tâm bồ đề lập đạo tràng.
Giảng giải : Tam Bổ tức là "khắp cả". Quang
minh thù thắng tức là quang minh của Phật
rất thù thắng, siêu quá tất cả quang minh
khác.
‘’ Quang minh thù thắng chiếu khắp cả.’’
Khắp cả tức là khắp pháp giới, không có một
nơi nào mà quang minh của Phật không chiếu
đến.
‘’ Trên đến Hữu Ðỉnh dưới địa ngục.’’ Trên
thì chiếu đến trời Hữu Ðỉnh, dưới thì chiếu
đến địa ngục vô gián.
‘’ Tất cả hàm linh đều được độ.’’ Hàm linh
có nhiều loài không có trí huệ, chỉ biết
chạy nhảy, một chút trí huệ, tri thức cũng
chẳng có, rất là ngu si. Hàm linh không nhất
định có linh tính, nhưng chúng có chút chút,
chỉ có một chút chút, ẩn chứa trong đó. Hàm
linh gọi là gì ? Ví dụ như gạo chúng ta ăn,
nhìn xem rất là sạch, chẳng có một sinh vật
nào trong đó, nhưng nếu bạn để vào nơi nào
đó không chú ý đến, hoặc có sự ẩm ướt, hoặc
có một chút nhân duyên nào đó thì gạo sẽ
sinh ra sâu mọt. Có sâu mọt sinh ra đó là
hàm linh. Trong gạo nhất định có hàm linh,
bất quá chúng không hiện ra, đến khi bạn nấu
chín rồi thì hàm linh đều chết hết, không
còn. Nhưng nếu bạn đem cơm chín để vào nơi
nào đó, thời gian lâu lại sinh ra một thứ
sinh vật, tế khuẩn, tiểu trùng. Lại ví như
khuẩn trà, khuẩn trà nguyên lai gì cũng
chẳng có, chỉ một khối khuẩn, nó lớn dần,
lại chua, đó là một thứ trùng phát triển lớn
dần trong đó. Ðó đều là hàm linh.
‘’ Hết thảy hàm linh đều được độ ’’, đều bị
quang minh chiếu đến, khiến cho nghiệp
chướng đều tiêu trừ, căn lành của họ sẽ tăng
trưởng, từ chúng sinh nhỏ đi làm chúng sinh
lớn, lại có thể tu hành, thì có thể sẽ thành
Phật, cho nên đều có thể độ, phát bồ đề tâm
kiến lập đạo tràng. Chúng ta là người hiểu
Phật pháp, cứ làm Phật sự như trăng dưới
nước, cũng giống như trăng sáng trong nước,
chỉ có bóng mà không có hình. Nhưng chúng ta
lập đạo tràng không nhất thiết phải có tâm
nói rằng tôi lập đạo tràng, có nhiều công
đức, đừng có tâm như thế, lập đạo tràng phát
bồ đề tâm, đây là bổn phận của mình, hành sở
vô sự đừng chấp trước hình tướn
77. Tát lân nại la lạt xà gia.
Kệ :
Nam Mô Sa La Thụ
Vương Phật
Kiên cố tinh chuyên lập công đức
Lục độ vạn hạnh viên mãn nhật
Năng sử tử giả biến thành hoạt.
Tạm dịch :
Nam Mô Sa La Thụ
Vương Phật
Kiên cố tinh chuyên lập công đức
Lục độ vạn hạnh được viên mãn
Sẽ khiến kẻ chết biến sống lại.
Giảng giải : Ðây là "Sa La Thụ Vương Phật"
cho nên nói Sa La Thụ Vương Phật. Sa La Thụ
dịch là "kiên cố", kiên cố thì không lay
chuyển, ngàn ma không đổi, vạn ma không lùi.
Tinh chuyên, tinh tức là tinh tế, chuyên là
chuyên nhất, lập công đức, phải làm đủ thứ
việc tốt.
‘’ Lục độ vạn hạnh được viên mãn.’’ Tu lục
độ, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí huệ. Vạn hạnh mà tu được
viên mãn, thì dù người chết, bạn muốn kêu họ
sống lại thì họ sống lại, đó là sự thần
thông diệu dụng, bạn nói sao thì được như
thế, vì bạn tu chưa thành, chưa thấy qua,
cho nên cho rằng không thể được, nếu bạn tu
thành tựu lục độ vạn hạnh viên mãn, thì
không những có việc này còn có thể toại tâm
như ý tất cả mọi sự việc.
78. Đa tha già
đa gia.
Kệ :
Kiền thành khẩn
thiết niệm niệm chân
Phổ lễ Như Lai chúng môn nhân
Chuyên nhất bất nhị cầu thâm nhập
Viên thành giác đạo hiện pháp thân.
Tạm dịch :
Kiền thành khẩn
thiết niệm niệm chân
Khắp lễ Như Lai chúng môn đồ
Chuyên nhất không hai cầu thâm nhập
Viên thành giác đạo hiện pháp thân.
Giảng giải : Ðây là "Phổ lễ tất cả môn đồ
của Phật", chúng ta nên lễ khắp các đức
Phật, chúng ta kính Phật thì phải trọng
Tăng. Người tin Phật không thể một bên tin
Phật, một bên tạo nghiệp, phải tinh thuần
lại tinh thuần. Về mặt tín ngưỡng phải chánh
tín, không mê tín, không tà tín, không tin
lệch lạc. Tà tín tức là không tin chánh pháp
mà tin bàn môn tả đạo. Tin lệch lạc tức là
tin một cách mơ hồ, nói lý luận không chánh
quyết, lệch lạc về một bên, ngoan cố không
sửa đổi, y nhận rằng y là đúng. Chánh tri
chánh kiến là không có tâm kiêu ngạo, không
có tâm cống cao ngã mạn. Tà tín, mê tín và
tin lệch lạc đều có tư tưởng cống cao ngã
mạn trong đó, hoặc có người nghe nói một chữ
‘’mật‘’ liền bị thu hút theo, cho rằng bí
mật nhất định là tốt, cho nên Phật giáo đại
thừa phải lễ khắp tất cả môn nhân của Như
Lai, tận hư không biến pháp giới tất cả đệ
tử đều đảnh lễ, chẳng phải nói chỉ lạy Phật,
còn đệ tử của Phật thì khinh khi, nên cung
kính đối với hết thảy đệ tử của Phật. Cho
nên nói kính Phật thì trọng Tăng. Ví dụ như
bạn nói tôi kính sư phụ, tin sư phụ, nhưng
không kính đồ đệ của sư phụ, nếu bạn không
cung kính đồ đệ của sư phụ, thì cũng như
không cung kính sư phụ. Nếu bạn cung kính sư
phụ thì cũng phải cung kính đệ tử của sư
phụ. Cho nên nói : ‘’ Chí thành khẩn thiết
niệm niệm chân.’’ Chí thành thì một chút giả
dối cũng không có, rất khẩn thiết thì tơ hào
cũng không lôi thôi, mỗi một niệm đều dùng
chân tâm, không dùng tâm hư ngụy, không dùng
tâm tà tri tà kiến, không dùng tâm lệch lạc,
không dùng tâm mê tín, niệm niệm đều dùng
chân tâm.
‘’ Khắp lễ Như Lai chúng môn đồ.’’ Ðảnh lễ
khắp hết thảy đệ tử của Phật, như vậy mới là
Phật tử chân chánh, mới là chân chánh cung
kính Tam bảo.
‘’ Chuyên nhất không hai cầu thâm nhập.’’
Tâm cung kính phải chuyên nhất không hai,
không có tâm thứ hai, phải một ngày so với
một ngày chân thật hơn.
‘’ Viên thành giác đạo hiện pháp thân.’’ Khi
bạn khai ngộ, chứng được bồ đề giác đạo thì
pháp thân sẽ hiện ra.
79. A la ha đế.
Kệ :
Chí thành chí
thành cánh chí thành
Cung kính cung kính phục cung kính
Phổ lễ ứng chân chúng vương tộc
Cứu kính Cực Lạc liên hoa sinh.
Tạm dịch :
Chí thành, chí
thành lại chí thành
Cung kính, cung kính lại cung kính
Lễ khắp ứng chân chúng vương tộc
Rốt ráo Cực Lạc hoa sen sinh.
Giảng giải : ‘’ Chí thành, chí thành lại chí
thành.’’ Phải chí thành, đừng có chút tâm
cầu danh lợi giả dối nào xen vào, hoặc muốn
cho người khác xem mình thành tâm ra sao,
xem mình là thật tu hành.
‘’ Cung kính, cung kính lại cung kính - Lễ
khắp ứng chân chúng vương tộc.‘’ ŨỨng chân
tức là hiện thân của Phật giáo hóa hết thảy
chúng sinh, hoặc hiện thân vua, lễ khắp tất
cả ứng chân vương tộc, lâu dần thì sẽ thành
tựu.
’’Rốt ráo Cực Lạc hoa sen sinh.’’ Sẽ đắc
được Cực Lạc cứu kính, sẽ hiện ra pháp thân
bổn thể với Phật không hai không khác.
Ðộ người cũng đừng dụng tâm thái quá, nếu
muốn độ người không có niềm tin không phải
dễ, sẽ gặp những người kỳ quái về tinh thần.
Như Tôn Giả Bạc Câu La trong tiền kiếp phát
nguyện độ mẹ của Ngài, khi Ngài sinh ra thì
ngồi kiết già, mẹ của Ngài cho rằng sinh ra
quái vật, liền muốn thiêu chết Ngài, nấu
chết Ngài, nhận nước chết Ngài, nhưng làm
cách nào cũng không chết, vì Ngài tiền kiếp
giữ giới không sát sinh, được quả báo năm
thứ không hại chết được.
80. Tam miệu tam bồ đà gia.
Kệ :
Quy mạng Chánh
Giác Phật Thế Tôn
Tam Bảo từ bi đại oai thần
Nhất thiết hiền Thánh giai cung kính
Công viên đức mãn chứng trí thông.
Tạm dịch :
Quy mạng Chánh
Giác Phật Thế Tôn
Tam Bảo từ bi đại oai thần
Tất cả hiền Thánh đều cung kính
Công đầy quả tròn chứng trí thông.
Giảng giải : Câu Chú này vẫn "quy mạng tất
cả Chánh Giác Phật Thế Tôn". Quy là tâm có
chỗ trở về, có chỗ nương tựa. Mạng tức là
mạng sống, đem mạng sống của chúng ta ký
thác cho Phật Chánh Giác. Chánh Giác thì
chẳng phải là tà giác. Tà giác cũng rất
thông minh, có chút trí huệ, nhưng đi vào
đường tà, đi vào con đường bàn môn tả đạo,
tà tri tà kiến, hành vi bất chánh. Chúng ta
quy y chánh giác Phật. Phật là do tự mình tu
thành, chẳng phải hoàng đế xưng Ngài là
Phật. Một số người vô tri thức, không hiểu
Phật pháp, khoa trương nói tự mình đã thành
Phật hoặc nói Ngọc Hoàng Ðại Ðế phong cho y
là Phật, mà ý nghĩa Phật đều không hiểu, sao
gọi là Phật ? Có những ngoại đạo công nhiên
nói họ cũng là Phật, không sai, Phật rất
nhiều, nhưng chẳng phải loại người đó có thể
thành Phật. Loại người đó cho rằng Phật là
nhờ người khác phong, đó đều là tà thuyết
ngoại đạo. Phật là nửa chữ Phạn ngữ, đầy đủ
gọi là Phật Ðà Gia vì người Tàu thích gọi
tắt cho nên chỉ gọi một chữ Phật. Dịch là
"giác giả", giác có ba loại là tự giác, giác
tha, giác hạnh viên mãn. Giác tha tức là
dùng những đạo lý mình đã hiểu, khiến cho kẻ
khác cũng hiểu. Tự giác trong Nho giáo là
minh minh đức, đem đức hạnh của mình hiện ra
quang minh, minh mà lại minh, bổn hữu trí
huệ quang minh lộ ra. Giác tha tức là dùng
đức hạnh minh minh đức của mình giáo hóa kẻ
khác, khiến cho họ cũng minh minh đức đạt
đến mức chí thiện. đến chí thiện rồi tức là
giác hạnh viên mãn. Cho nên Phật giáo và Nho
giáo danh từ tuy không giống nhau, nhưng
nghĩa lý là một, nhưng Nho giáo chỉ là lý
luận mà không có chứng đắc. Phật giáo không
những minh bạch nghĩa lý mà còn chứng đắc lý
thể thực tế. Trí huệ chân thật chẳng phải là
thiền ở đầu miệng, chẳng phải là một thứ lý
luận. Nho giáo là diễn thuyết gia, giảng rất
giỏi. Phật giáo là thực hành gia, cung hành
thực tiễn, làm một cách chân thật, không chú
trọng thiền ở đầu miệng. Ðây là chỗ khác
nhau giữa Nho giáo và Phật giáo, trên thực
tế quy nạp đạo lý lại với nhau thì là một.
Tự giác tức là A La Hán khác với phàm phu.
Phàm phu thì không giác, A La Hán là tự
giác, tự mình minh bạch, nhưng chỉ mình minh
bạch chứ không giáo hóa kẻ khác minh bạch.
Nếu đem đạo lý này giáo hóa kẻ khác thì gọi
là giác tha. Giác tha tức là Bồ Tát, Bồ Tát
chính mình tốt rồi, hoan hỷ người khác cũng
tốt, cho nên Bồ Tát không sợ phiền não, luôn
luôn đi giáo hóa kẻ khác. Bồ Tát giáo hóa kẻ
khác cũng có lúc viên mãn, cũng có lúc chưa
được viên mãn. Giống như bạn muốn đi đến Nữu
Uớc, bước thứ nhất bắt đầu là giác tha, đợi
khi nào bạn đến Nữu Ước, đi hết con đường
này thì là giác mãn. Giác cũng viên mãn,
hạnh cũng viên mãn. Giác hạnh viên mãn thì
thành Phật. Phật và hàng nhị thừa bất đồng,
nhị thừa chỉ tự giác, mà không giác tha.
Phật và Bồ Tát bất đồng. Bồ Tát chỉ giác tha
mà chưa được giác mãn. Phật thì giác hạnh
viên mãn, cho nên nói : ‘’Quy mạng chánh
giác Phật Thế Tôn.’’ Thế Tôn là tôn quý nhất
trong thế gian.
‘’ Tam Bảo từ bi đại oai thần.’’ Phật Pháp
Tăng gọi là Tam Bảo. Tam Bảo là tôn quý nhất
trong thế gian. Muốn học Phật pháp thì trước
phải hiểu Phật pháp, muốn hiểu Phật pháp thì
phải quy y Tăng, pháp nhờ Tăng truyền cho
nên phải quy y Tăng. Tam Bảo : Phật bảo,
Pháp bảo, Tăng bảo, công đức giống nhau, đều
tôn quý giống nhau, cho nên chú Lăng Nghiêm
bắt đầu là :‘’ Nam Mô Tát Ðát Tha, Tô Già Ða
Gia, A La Ha Ðế, Tam Miệu Tam Bồ Ðà Toả.’’
Ðây là quy mạng tận hư không biến pháp giới
mười phương ba đời vô tận thường trụ Tam bảo
Phật Pháp Tăng. Vì khi bạn xưng Phật Pháp
Tăng Tam Bảo thì trong hư không khắp pháp
giới quyến thuộc của Phật, quyến thuộc của
ma, quyến thuộc của chư thiên, quyến thuộc
của loài người đều một lòng cung kính phát
tâm đại bồ đề. Do đó tín ngưỡng Tam Bảo nên
nhớ đừng hủy báng Tam Bảo, hủy báng Tăng tức
là hủy báng Phật, hủy báng Pháp tức là hủy
báng Phật, tạo vô lượng vô biên tội nghiệp
trong cửa Phật, thiện ác xen tạp, biết tin
Phật là có căn lành, nhưng lại hủy báng Tăng
liền trồng xuống nhân địa ngục, tuyệt đường
bồ đề, mở cửa địa ngục.
Người học Phật bất cứ thế nào, không thể tùy
tiện hủy báng Tam Bảo. Tam Bảo từ bi, Phật
bảo từ bi, Pháp bảo từ bi, Tăng bảo từ bi,
hết thảy Thánh hiền không thấy lỗi lầm của
chúng sinh, nhưng bạn tạo tội nghiệp thì
chính bạn thọ quả báo, chứ không phải Tam
Bảo trừng trị tội của bạn, kêu bạn thọ quả
bào, mà là bạn ở trong Phật giáo cứ làm
những việc thiện ác hỗn tạp, lại gieo nhân
lành, lại trồng nhân ác, tại nhân địa không
chân thật thì quả chiêu lại sẽ cong vạy, cho
nên quả báo đến rất là thống khổ.
Ðại oai thần là nói Tam bảo đều từ bi, có
đại oai thần quay càn chuyển khôn, khởi tử
hồi sinh, dời núi lấp biển. Có thể đem thế
giới phương đông chuyển đến phương tây, đem
thế giới phương tây chuyển đến phương đông.
Chuyển thế giới phương nam đến phương bắc,
thế giới phương bắc chuyển đến phương nam,
có thể hổ tương di chuyển các thế giới nhiều
như số hạt bụi, bất quá người trong quả địa
cầu này giống như con kiến trên một chiếc
thuyền lớn, chẳng biết thuyền đi đến đâu.
Kiến ngồi trên thuyền trong biển phiêu lưu,
chẳng biết đến nơi nào. Con người ở trong hư
không cũng như con kiến ở trên thuyền. Quả
địa cầu của chúng ta tựa như chiếc thuyền ở
trong hư không, trôi lại trôi đi, chúng ta
gì cũng đều không biết. Bạn nói hiện tại
khoa học nghiên cứu gì cũng đều biết được,
tốt ! Tôi hỏi bạn có biết ăn bao nhiêu hạt
gạo chăng ? Có biết lông mi trên mắt có bao
nhiêu sợi chăng ? Có bao nhiêu sợi tóc ? Có
bao nhiêu lỗ chân lông ? Nếu bạn nói biết,
thì biết cũng là một thứ đại khái ước lượng
mà thôi. Ðại oai thần lực là không thể nghĩ
bàn. Cho nên người học Phật thấy tất cả hiền
Thánh đều cung kính, trồng phước trước cửa
Tam Bảo, tu phước cầu phước.
‘’Công tròn phước đầy chứng trí thân.’’ Công
thì phải lập, lập công chẳng phải nói bạn
nên làm thì đi làm, không nên làm thì không
làm, bất cứ việc thiện gì đều phải tận lực
đi làm mới là công, lập công lập nhiều rồi
thì thành đức, công đầy đức tròn, công cũng
không thiếu không thừa, đức cũng được tối
viên mãn thì sẽ chứng được thân trí huệ,
hiển lộ đại quang minh tạng, đắc được thân
trí huệ, tất cả đều là trí huệ, tất cả đều
là quang minh.
81. Nam Mô Bà Già Bà Ðế.
Kệ :
Bạt Già lục nghĩa
cố bất phiên
Diệu Giác Như Lai biến tam thiên
Tự tại cát tường du pháp giới
Kiến tướng văn danh tận siêu phàm.
Tạm dịch :
Bạt Già sáu nghĩa
nên không dịch
Diệu giác Như Lai khắp các cõi
Tự tại cát tường du pháp giới
Thấy tướng nghe danh tận siêu phàm.
Giảng giải : Bạt Già Phạm có sáu nghĩa nên
không dịch, vì người dịch không có danh từ
thích đáng, cho nên lưu giữ tiếng Phạn.
‘’Diệu giác Như Lai khắp các cõi.’’ Diệu
giác, Như Lai đều là danh từ chỉ cho đức
Phật. ‘’Biến tam thiên.’’ Ngài đi khắp cùng
pháp giới, vô tại vô bất tại, nơi nào có
chúng sinh thì nơi đó có Phật, nơi nào có
Phật thì nơi đó có chúng sinh. Phật thì khắp
cùng nhứt thiết xứ, cho nên nói là khắp tam
thiên.
Tam thiên tức là ba ngàn đại thiên thế giới.
Một núi Tu Di, một mặt trời, một mặt trăng
và bốn đại châu gọi là một thế giới, một
ngàn thế giới hợp lại gọi là tiểu thiên thế
giới, một ngàn tiểu thiên thế giới hợp lại
gọi là trung thiên thế giới, một ngàn trung
thiên thế giới hợp lại gọi là đại thiên thế
giới, đây gọi là tam thiên đại thiên thế
giới, cho nên tam thiên đại thiên thế giới
vẫn còn có số mục, phải nói lại thế giới là
vô lượng vô biên vô cùng vô tận, cho nên gọi
là khắp tam thiên.
‘’Tự tại cát tường du pháp giới.’’ Cũng đi
khắp cùng pháp giới.
‘’Thấy tướng nghe danh tận siêu phàm.’’ Thấy
được tướng của Phật hoặc nghe được danh hiệu
của Phật đều là gieo trồng căn lành, tương
lai nhất định sẽ siêu phàm nhập Thánh, Bồ
Tát bất thoái làm bạn lữ của bạn.
82. Xá kê dã mẫu na duệ.
Kệ :
Vạn mộc tùng trung
đại thụ lâm
Đống lương chi diệp âm chúng trân
Lương tài kham năng kình cự hạ
Xư lịch kinh cức phó bính đinh.
Tạm dịch :
Vạn đại thụ trong
đại tùng lâm
Rường cột cành lá che bóng mát
Lương tài dùng làm ngôi nhà lớn
Xư lịch kinh cức phó bính đinh.
Giảng giải: Xá Kê dịch là "rừng cây thẳng"
hoặc là "rừng cây lớn". Có rừng cây này
chăng ? Có thể nói có, khắp nơi đều có rừng
cây, đều có rừng cây lớn. Cũng có thể nói
không có, khắp nơi đều không có, đây là ví
dụ. Ví dụ Phật Thích Ca Mâu Ni đem theo
những vị đệ tử cũng giống như rừng đại thụ,
vậy cứu kính có chăng, cũng có thể nói có,
cũng có thể nói không.
‘’Vạn đại thụ trong đại tùng lâm.’’ Vạn là
một số mục nhiều, nhiều không cách chi hình
dung được, không nhất định là một vạn, hai
vạn, nói không chừng chín ngàn chín trăm,
nói không chừng là một vạn một trăm, rất
nhiều cây cối, không rõ lắm do đó nói là
vạn. Cây gì cũng đều bao quát trong đó, có
cây rừng, có cây bách, có cây cứng, có cây
mềm, có cây thẳng, có cây cong, nói tóm lại
đủ loại cây. Cho nên dùng chữ vạn để hình
dung nhiều loại cây. Tùng lâm hình dung rất
nhiều cây cối sống với nhau. Rừng đại thụ
cũng biểu thị chỗ của Phật ở, cho nên đạo
tràng gọi là tùng lâm, tức là rất nhiều
người xuất gia đều tụ hội lại một chỗ, người
xuất gia bốn phương tám hướng đều tụ hội với
nhau, đây tức là đồng như vạn cây.
‘’Lương tài kham năng kình cự hạ.’’ Lương
tài tức là tài đống lương, tài liệu tốt
nhất, tức là nói phải có tài liệu tốt, có
thiện trí thức thì Phật pháp tự nhiên sẽ tồn
tại lâu trên đời. Phật giáo cũng giống như
một ngôi nhà lớn. Ngôi nhà thì vĩnh viễn
không mục nát hư hoại, thường tồn tại đứng
sừng sững bất động, nhưng phải có lương tài,
nhân tài tốt tức là người tu đạo chân chính,
thiện trí thức chân chính.
Thiện tri thức chân chính phải làm cho Phật
giáo phát dương quang đại, chớ chẳng phải ai
cho người đó nhiệm vụ, gọi vị đó lại làm cho
Phật giáo phát dương quang đại, mà là thấy
rằng quang đại Phật giáo là trách nhiệm
chính mình, lấy Phật giáo làm nhiệm vụ của
mình. Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới thành lập
ra, làm hết thảy mọi việc đều là tự ý hoan
hỷ làm, chớ không có ai bức bách họ đi làm,
mà là tự ý phát tâm làm. Ai muốn phiên dịch
Kinh điển, biên văn chương, tam bộ nhất bái,
muốn làm gì thì làm, tơ hào cũng không thêm
miễn cưỡng, đều tự ý cảm thấy nên làm thì
tận lực đi làm, bất tất đợi người nói bạn
nên làm gì mới đi làm, tức là một phần tử
đại học pháp giới thì nên tận hết khả năng
của mình, làm gì được thì làm cái đó, làm
không được cũng không miễn cưỡng. Không nên
sợ cái này, sợ cái kia, sợ làm sai. Nếu bạn
muốn làm đúng thì làm gì có sai, trừ khi bạn
muốn làm sai.
‘’Xư lịch kinh cức phó bính đinh.’’ "Xư
lịch" tuy là cây gỗ nhưng cong vạy, dùng làm
củi đốt nhưng cũng chẳng tốt lành gì. "Kinh
cức" có bản sự rất lớn, giống như trong một
đoàn thể chuyên khuấy phá tạo ra sự bực dọc,
gặp được thứ cây này không dễ gì đối phó, đó
là thứ ngựa hại bầy, bất cứ trong trường hợp
nào đều có lời để nói, không nói thị thì nói
phi, đâm da người làm cho chảy máu. Thứ cây
này phải làm thế nào, phó cho Bính Ðinh.
Bính Ðinh tức là lửa.
83. Ða tha già đa gia.
Kệ :
Khán Phật kính
Tăng bồi tín căn
Tôn trọng đệ tử báo sư ân
Hiếu thuận nãi thị vụ đức bổn
Nhân thiện quả lương đạo tự sinh.
Tạm dịch :
Kính Phật trọng
Tăng thêm niềm tin
Tôn trọng đệ tử báo ân sư
Hiếu thuận mới là gốc công đức
Nhân lành quả tốt đạo tự sinh.
Giảng giải : Chúng ta không chỉ quy y Phật,
còn phải quy y tất cả đại đệ tử của Phật.
Người xuất gia là ruộng phước Tăng thanh
tịnh, thanh tịnh tức không có tiền, không có
vật gì hết, gì cũng không cần, tất cả đều
buông xả, thậm chí vọng tưởng cũng không có.
Tăng là người truyền Phật pháp, là người đảm
đang gia nghiệp của Như Lai, khiến cho Phật
giáo phát dương quang đại. Nếu muốn học Phật
pháp, thì phải học với người xuất gia. Pháp
là nhờ Tăng truyền. Do đó tin Phật thì phải
cung kính đệ tử của Phật. Ðây là bồi đắp tín
căn. Tin là nguồn đạo mẹ công đức, nhất định
trước phải có tín tâm, nếu không có tín tâm
thì dù Phật pháp có nói tốt như thế nào cũng
không thể tiếp thọ.
‘’Tôn trọng đệ tử báo ân sư.’’ Tôn trọng đệ
tử của Phật tức là báo ân thầy, tức là báo
ân Phật.
‘’Hiếu thuận mới là gốc công đức.’’ Hiếu
thuận là hiếu thuận cha mẹ, sư trưởng, đừng
có ở chỗ sư phụ nói gì thì trước mặt không
dám nói, nhưng khi ở chỗ khác thì nói sư phụ
cứ nói người, sư phụ nóng quá. Sư phụ vốn
không nóng giận. Tôi nói pháp thì chân tục
đều dụng, có lúc thì nói chút chân đế, có
lúc thì nói tục đế. Có vẻ làm người bực
mình, thực ra thì không phải vậy, tôi dùng
phương pháp này giáo hóa người, chỉ cần nhẫn
không được bạn phải nhẫn, nhường không được
bạn phải nhường. Bạn đi chỗ khác nói đâm
thọc, nói sư phụ hôm nay nóng giận khiến cho
tôi chịu không được, lời của tôi nói là vô
tâm, là đối cơ thuyết pháp. Các pháp từ
duyên sinh, các pháp từ duyên diệt, bạn muốn
tạo nghiệp thì tạo nghiệp, muốn tu phước thì
tu phước, muốn bồi tín căn thì bồi tín căn,
muốn tín căn vứt đi thì vứt đi.
‘’Nhân lành quả tốt đạo tự sinh.’’ Trồng
nhân tốt thì kết quả tốt, tu đạo tự nhiên sẽ
thành công.
84. A la ha đế.
Kệ :
Sinh quý trụ cư
Pháp Vương gia
Tam thân tứ trí diệu quán sát
Ngũ nhãn lục thông thành sở tác
Đại viên cảnh chiếu bình đẳng đạt.
Tạm dịch :
Sinh quý trụ ở nhà
Pháp Vương
Ba thân bốn trí diệu quán sát
Năm nhãn sáu thông thành sở tác
Ðại viên cảnh chiếu bình đẳng đạt.
Giảng giải : A La Ha Ðế tức là "Lễ khắp ứng
cúng tất cả vương tộc". Một câu Chú của Chú
Lăng Nghiêm nếu biên tả mấy ngàn câu, mấy
vạn câu, cũng nói không hết được, nhưng tâm
lượng của chúng ta có hạn, trí huệ cũng chưa
khai thông, hiện chỉ tả đơn giản mấy câu,
lược nói ý nghĩa của Chú, chỉ nói ít phần
của Chú, ứng chân tất cả vương tộc đều gọi
là quý tộc.
Trong Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Thập Trụ có "nhất
sinh quý trụ" là cảnh giới của Bồ Tát, sinh
quý trụ cũng có thể nói là vương tộc, cho
nên nói :‘’Sinh quý trụ ở nhà pháp vương.’’
Sinh trong nhà Phật chẳng phải ai ai cũng có
thể sinh, phải có sự tu hành.
‘’Ba thân bốn trí diệu quan sát.’’ Ba thân
là pháp thân, báo thân, hóa thân (còn gọi là
ứng thân). Pháp thân là thanh tịnh, biến
nhứt thiết xứ. Báo thân có ba mươi hai tướng
đại nhân, tám mươi vẻ đẹp. Hóa thân là thiên
biến vạn hóa, vô cùng vô tận, một là vô
lượng, vô lượng là một. Một chẳng phải một,
chẳng phải nhiều ; nhiều chẳng phải nhiều,
chẳng phải một. Một nhiều vô ngại, một nhiều
không hai. Ngoại đạo nói mình là Phật. Nếu
không có ba thân bốn trí thì không thể xưng
là Phật, giả mượn chứng quả ! Bốn trí là
thành sở tác trí, diệu quán sát trí, bình
đẳng tánh trí, đại viên cảnh trí. Người cũng
có thể quán sát nhưng không diệu, rất thô
thiển, nhìn được vật có hình tướng mà không
thể nhìn vật vô hình vô tướng. Diệu quán sát
trí, có hình hay vô hình đều thông suốt vô
ngại, trên biết vạn sự, dưới biết vạn vật.
Trước biết vô lượng kiếp, sau biết vô lượng
kiếp.
‘’Năm nhãn sáu thông thành sở tác.’’ Phật
lại có năm nhãn tức là Phật nhãn, pháp nhãn,
huệ nhãn, thiên nhãn, nhục nhãn, năm nhãn có
mấy bài kệ rằng :
‘’Thiên nhãn thông phi ngại.’’ Thiên nhãn
không chướng ngại, có thể thấy được quỷ
thần, cũng có thể thấy nhất cử nhất động
nhất ngôn nhất hạnh của chư thiên, so với
máy ‘’bế lộ điện thị’’ nhìn còn rõ hơn, bất
tất phải mượn duyên bên ngoài, bên trong đều
đầy đủ.
‘’Nhục nhãn ngại phi thông.’’ Nhục nhãn
chẳng phải nói cặp nhục nhãn của chúng ta,
mà là nhục nhãn riêng ngoài. Thiên nhãn nhìn
không thấy hữu hình hữu tướng, không thấy
người phàm chúng ta, nhưng mà thấy người
trời. Nhục nhãn ngại phi thông chứ chẳng
phải nói có chướng ngại nhìn không thấy vật,
mà là nói nhìn những thứ có hình có tướng,
cũng nhìn thấy được vô hình vô tướng, người
trong phòng cũng nhìn thấy được, người ngoài
phòng cũng nhìn thấy được, vách tường cũng
ngăn cản không được, còn diệu hơn máy bế lộ
điện thị.
‘’Pháp nhãn quán tục đế.’’ Phần đông tụng
Kinh thì phải mở mắt, mở Kinh ra để đọc. Nếu
đắc được pháp nhãn thông, chỉ cần mở pháp
nhãn thì khắp hư không biến pháp giới không
có một hạt bụi nào mà chẳng phải là Tam Tạng
mười hai bộ.
‘’Huệ nhãn rõ chân không.’’ Huệ nhãn tức là
mắt trí huệ, hiểu được lý chân không, đắc
được pháp hỷ sung mãn chân không.
‘’Phật nhãn như thiên nhựt.’’ Phật nhãn như
ngàn mặt trời.
‘’Chiếu dị thể hoàn đồng.’’ Chiếu những gì
bất đồng mà rõ ràng bổn thể là một, Phật
nhãn là viên mãn nhất, cao siêu nhất, siêu
hơn bốn nhãn kia. Lục thông tức là thiên
nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông,
túc mạng thông, thần túc thông, lậu tận
thông, đắc được lục thông thì biến hóa được,
phi hành tự tại, bạn muốn đến đâu thì không
cần đi máy bay, đi xe lửa, một niệm khắp tam
thiên đại thiên thế giới, tam thiên đại
thiên trong một niệm, đây là thành sở tác
trí làm nên.
‘’Ðại viên cảnh chiếu bình đẳng đạt.’’ Ðại
viên cảnh trí như gương soi, việc đến thì
ứng, việc đi thì lặng, niệm khởi thì giác,
giác tức là không. Bình đẳng đạt là gì, đạt
là thông đạt, bình đẳng thông đạt, lại có
thể nói là ‘’Ðạt Ma’’ tức là pháp bình đẳng.
85. Tam miệu tam bồ đà gia.
Kệ :
Bồ Tát La Hán giải
thoát Tăng
Như bần đắc bảo ám đắc đăng
Chỉ dẫn hữu tình hoạch chánh giác
Vĩnh xuất luân hồi ái dục khanh.
Tạm dịch :
Bồ Tát La Hán giải
thoát Tăng
Như nghèo được của, tối được đèn
Chỉ dẫn hữu tình chứng chánh giác
Vĩnh thoát luân hồi hố ái dục.
Giảng giải : ‘’ Bồ Tát La Hán giải thoát
Tăng’’. Bồ Tát là nữa chữ tiếng Phạn, đầy đủ
gọi là "Bồ đề tát đoả", dịch là "đại đạo tâm
chúng sinh", còn gọi là đại Khai Sĩ, hoặc
gọi là giác hữu tình. A La Hán cũng là tiếng
Phạn dịch là Ứng Cúng, hoặc gọi là "sát
tặc", hoặc dịch là "vô sinh".
Bồ Tát và La Hán đều là Thánh nhân. Giải
thoát Tăng và Thánh Tăng đã đắc được giải
thoát, giải thoát tức là vô quái vô ngại, vô
hình vô tướng, không chấp trước, không tốt
không xấu, không thiện không ác, hết thảy
đều bình đẳng, giải thoát gì cũng không ràng
buộc. Nếu người nào gặp được Thánh, Hiền thì
như người nghèo được của báu, được mỏ đá
quý, được mỏ vàng, lại như tối được đèn sáng
không khác.
‘’Chỉ dẫn hữu tình chứng chánh giác.’’ Dùng
tay chỉ dẫn chúng sinh khiến họ đi trên con
đường chánh giác.
‘’Vĩnh thoát luân hồi hố ái dục.’’ Luân hồi
tức là bánh xe tròn, chuyển lại chuyển đi,
luân hồi trong sáu đường, trời, người, A tu
la, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục ; khi thì
sanh lên trời, khi thì làm ngạ quỷ, khi thì
đoạ súc sinh, khi thì đầu thai làm người,
khi thì đầu thai làm trâu ngựa, chó, heo.
Tại sao chúng ta sinh vào thế giới này, đều
vì ái dục ! Ái ! Ái ! Thích thì muốn nó
sống, ghét thì muốn nó chết. Tôi nói đây là
kêu bạn giác ngộ, nhưng không dễ gì nhảy
khỏi hố này, hố sâu đến chín mười thước,
nhảy cũng không khỏi, nhảy lên lại rớt
xuống, nhảy khỏi một thước lại rớt xuống
lại. Nếu gặp hiền, Thánh, Tăng thì sẽ nhảy
khỏi hố ái dục. Hố ái dục lại gọi là hố sinh
tử, hố bệnh chết, hố già chết không dễ gì
nhảy khỏi. Chỉ có gặp được Phật pháp, hiểu
được thì mới nhảy khỏi, phá được cửa sinh
tử, nhảy khỏi vòng luân hồi, lúc này mới có
thể làm bạn lữ với Bồ Tát bất thoái.
86. Nam mô bà già bà đế.
Kệ :
Trí huệ quang minh
chiếu thế gian
Thần thông biến hoá tỉnh ngu ngoan
Ngã đẳng cần tu Ba la mật
Diệc chứng đại giác Bạt Già Phạm.
Tạm dịch :
Trí huệ quang minh
chiếu thế gian
Thần thông biến hóa tỉnh ngu ương
Mọi người siêng tu Ba La Mật
Cũng chứng đại giác Bạt Già Phạm.
Giảng giải : Bà Già Bà Ðế tức cũng là "Bạt
Già Phạm". Bạt Già Phạm có sáu nghĩa, bây
giờ hình dung Bạt Già Phạm.
‘’Trí huệ quang minh chiếu thế gian.’’ Trí
huệ quang minh của Phật chiếu khắp tất cả
thế gian, tất cả chúng sinh.
‘’Thần thông biến hóa tỉnh ngu ương.’’ Phật
có đại thần thông. Thứ thần thông này chẳng
phải là những thứ mà con người chúng ta
tưởng tượng được. Thần thông tại nhân gian
là một thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn. Tại
quỷ thần, Phật Bồ Tát là bổn phận các bậc ấy
chớ chẳng phải là việc kỳ quái. Lúc đức Phật
còn tại thế thì đệ tử của Phật, các vị đại A
La Hán đều có thần thông, đều có thể hiện
mười tám thứ biến hoá trong không trung,
trên thân ra lửa, dưới thân ra nước, tức là
thân thể này nước và lửa hổ tương vô ngại,
thân vọt lên hư không, đi khắp ba ngàn đại
thiên thế giới. Thứ thần thông diệu dụng này
chẳng phải nói như chúng ta nằm mộng thì có
thần thông, hoặc là uống chút thuốc mê hồn
thì có thần thông, cũng chẳng phải nói nhìn
thấy ánh sáng gì đó thì ghê gớm lắm, hoặc
thấy chữ gì đã cho là không thể nghĩ bàn, đó
đều là nhỏ nhoi không đáng kể.
Những gì chúng ta làm không được thì Phật Bồ
Tát đều làm được, đây đều là việc rất bình
thường, tại sao chúng ta không có thần thông
? Vì có dục niệm, nên vô minh che lấp thần
thông. Cho nên không có thần thông biến hóa,
phải phá sạch vô minh hiển pháp tính, không
còn dục niệm nữa thì sẽ có thần thông. Khi
Phật còn tại thế thì tất cả các vị A La Hán
đều có thần thông, sau khi Phật nhập Niết
Bàn thì Phật chế đệ tử không nên hiển thần
thông, chứ chẳng phải nói thần thông không
tốt hoặc khi lộ thần thông thì phạm tội.
Không phải. Vậy tại sao không hiển thần
thông ? Vì thần thông thì không thể tu được,
cũng chẳng phải ai cũng đều có, có thần
thông thì sẽ hiển, không có thần thông thì
làm sao hiển ? Cho nên Phật dạy người có
thần thông không nên hiển thần thông để lưu
lại bát cơm cho người không có thần thông.
Nếu như cho phép hiển thần thông thì người
xuất gia có thần thông sẽ có người cúng
dường, vì con người đều thích háo thắng, đều
là trên gấm thêm hoa, chẳng nghĩ đến giúp họ
lúc cần, người trên gấm thêm hoa nhìn thấy
người có thần thông thì giành đi cúng dường,
còn người xuất gia không có thần thông thì
chẳng có ai cúng dường, đói chết cũng chẳng
có ai đếm xỉa đến. Cho nên Phật kêu đệ tử về
sau không được hiển thần thông. Vì không nên
hiển thần thông cho nên người có thần thông
cũng không biết.
Người trồng phước cũng như gieo xuống đất,
đến mùa thu thì thu hoạch, có thiên tai hay
không hoặc là có sâu bọ hoặc mưa đá đủ thứ
tai nạn đều là chuyện khác. Phật dạy đệ tử
đừng hiển thần thông, chứ chẳng phải nói khi
bạn hiển thần thông thì phải đọa xuống mười
tám tầng địa ngục, không phải như thế, phàm
sự việc gì đều có một chân lý tồn tại, không
thể tùy tiện nói bậy, không thể nói trong
Phật giáo có thần thông thì có tội, nếu nói
thần thông là không đúng, thì tại sao mỗi bộ
Kinh điển Phật đều nói thần thông, đều nói
diệu dụng, tức nhiên là không đúng, tại sao
phải nói đến ? Nói để làm gì ? Chỉ Phật có
thể nói thần thông, còn người khác mặc dù xử
dụng thần thông cũng không thể được. Vậy đó
chẳng phải là chuyên chế ? Ðộc tài chăng ?
Các bạn, chúng ta phải nghiên cứu chân lý,
Phật nói không nên hiển thần thông, chỉ là
không nên, chứ không nhất định không thể
được, chỉ sợ bạn không có thần thông, bạn
muốn có thần thông thì có thể hiển, bạn xem
Ðạt Ma có một người bạn trẻ khi ngồi thiền
thì nhìn thấy lửa ở tại nông trường, anh ta
còn trẻ mà có được cảm ứng như thế, thứ thần
thông đó sao không thể hiển ? Thần thông thì
người không biết được, bạn biết được thì gọi
đó là thần thông. Vậy tôi cũng muốn tu thần
thông để làm gián điệp, đi khắp nơi tìm tòi
tình báo. Như thế thì chẳng đắc được thần
thông. Vậy tôi dùng máy "ra đa" đó cũng là
thần thông. Thần thông thì biến hóa. Biến
hóa là tự có hóa không, tự không hóa có,
không mà hốt có, có mà hốt không, biến hóa
vô cùng, biến hóa khó dò, không thể nghĩ
bàn. "Tỉnh ngu ương" tức là vì người ngu si,
không cho những người đó xem thấy một chút
linh nghiệm thì họ không tin, hiển chút thần
thông cho họ thấy thì họ liền tin. Ương tức
là tối ương không linh, không dễ gì giáo
hóa.
‘’ Mọi người siêng tu Ba La Mật.’’ Tất cả
mọi người nếu thường hồi quang phản chiếu,
luôn luôn không mất chánh niệm, chánh niệm
tương tục, tu pháp này đến được bờ kia thì
‘’Cũng chứng đại giác Bạt Già Phạm,’’ cũng
có thể chứng quả vị đại giác, quả vị Bạt Già
Phạm.
87. Lạt đát na kê đô la xà gia.
Kệ :
Bảo quang bảo
tràng bảo tinh Phật
Bảo Thắng Như Lai thiện hàng ma
Nhất thiết vương gia giai năng chiến
Bàng môn tả đạo tận chiết nhiếp.
Tạm dịch :
Bảo Quang Bảo
Tràng Bảo Tích Phật
Bảo Thắng Như Lai khéo hàng ma
Tất cả vương chúng đều tác chiến
Bàng môn tả đạo triết nhiếp sạch.
Giảng giải : Lạt Ðát Na dịch là "bảo". Kê Ðô
dịch là "tràng", La Xà Gia dịch là "vương"
(vua), dòng dõi vua chúa.
‘’Bảo quang bảo tràng Bảo Tích Phật.’’ Cũng
có thể nói là Bảo Quang Phật, cũng có thể
nói là Bảo Tràng Phật hoặc có thể nói là Bảo
Tích Phật. Các vị phải biết, Phật là chính
mình tu, chứ chẳng phải do Ngọc Hoàng đại đế
phong cho người nào làm Phật. Ngọc Hoàng đại
đế chỉ là một vị hộ pháp của Phật. Y không
có tư cách phong làm Phật ! Trong Phật giáo
chứ không phải như quốc vương hoặc là tổng
thống.
‘’Bảo Thắng Như Lai khéo hàng ma.’’ Bảo
Thắng Phật khéo hàng phục thiên ma, khống
chế ngoại đạo.
‘’Tất cả vương chúng đều tác chiến.’’ Ðiều
mà bàng môn tả đạo chẳng thấy được tông giáo
thiên, có một thứ pháp bí mật, đạo bí mật.
Lúc trước tại Trung Quốc thì thấy rất nhiều
bàng môn tả đạo có nói tôn giáo của chúng
tôi tương lai sẽ làm hoàng đế, hoặc nói tôn
giáo chúng tôi đây tương lai làm trời, làm
thiên chúa, địa chú, các vị phải theo ta thì
có thể sẽ thay phiên làm hoàng đế, khiến cho
con người sinh ra một thứ tâm tham, một thứ
tâm mê hoặc. Những bàng môn tả đạo có bao
nhiêu ? Ở Ấn Ðộ có chín mươi sáu thứ, tại
Trung Quốc có ba ngàn bàng môn tả đạo. Phật
thành chánh giác rồi : ‘’Bàng môn tả đạo
triết nhiếp sạch.’’ Triết tức là pháp môn
triết phục, nhiếp tức là pháp môn nhiếp thọ.
Những thứ bàng môn tả đạo, Phật đều triết
nhiếp giáo hóa họ trở về với chánh đạo.
Người ngoài lề trên thế giới này, chưa đáng
thương như thế, duy chỉ có đi vào đường tà,
bàng môn tả đạo, sinh tà tri kiến là việc
đáng thương sót nhất, tương lai sẽ đọa địa
ngục. Các bạn, Kinh điển chẳng phải của Phật
nói đừng nên xem, chẳng phải pháp của Phật
nói đừng tu hành.
88. Ða tha già đa gia.
Kệ :
Thường Trụ Tam Bảo
Phật Pháp Tăng
Nhất tâm cung kính yếu kiền thành
Như Lai đệ tử A la hán
Mạn mạn hắc dạ đại minh đăng.
Tạm dịch :
Thường trụ Tam Bảo
Phật Pháp Tăng
Một lòng cung kính phải kiền thành
Ðệ tử Như Lai A La Hán
Ðèn sáng lớn phá tan đêm tối.
Giảng giải : Ða Tha Già Ða Gia, đây là nói
"phổ lễ tất cả đệ tử của Như Lai". Ðệ tử của
Như Lai là ai ? Là hết thảy tất cả hiền
Thánh Tăng, cho nên nói : ‘’Thường trụ Tam
Bảo Phật Pháp Tăng.’’ Thường trụ tức là
thường trụ bất biến, đó là tận hư không biến
pháp giới, một thứ chánh khí, đạo phải có
Phật có Pháp có Tăng. Phật kể cả Phật quá
khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai, đây gọi là
tất cả chư Phật ba đời. Tam Bảo tức là Phật
Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Sao gọi là bảo ?
Vì rất ít có, chẳng phải lúc nào cũng có thể
thấy được. Tuy nhiên thường trụ nhưng nghiệp
chướng của chúng ta che lấp trí huệ của
mình, cho nên không thấy được Phật, không
nghe được Pháp, không thấy được Tăng.
Bây giờ chúng ta thấy Phật, nghe Pháp, gặp
Tăng, cho nên phải một lòng cung kính,
chuyên nhất kỳ tâm, tâm không có hai niệm.
Cung kính Tam Bảo phải kiền thành, chẳng
phải làm hình thức, biểu diễn bên ngoài,
phải cung kính chân thật, tâm thật không
hai, càng kiền thành càng tốt.
‘’Ðệ tử Như Lai A La Hán.’’ Ðệ tử của Phật
tức là tất cả đại A La Hán, đại Tỳ Kheo
Tăng, đêm dài tối tăm ở đây, thì A La Hán
hiền Thánh Tăng Tam Bảo là đèn sáng chỉ
đường cho chúng ta, cho nên ‘’Ðèn sáng lớn
phá tan đêm tối.’’ Ðèn sáng lớn, tức là
chánh khí, chánh pháp trụ thế. Những kẻ bác
vô nhân quả, làm nhất xiển đề cũng giống như
đêm dài tối tăm, không thấy quang minh. Phật
Pháp Tăng Tam Bảo, tức là đèn sáng lớn phá
đêm dài tối tăm.
89. A la ha đế.
Kệ :
Tự vô hoá hữu hữu
hoá vô
Ứng chân thị hiện Cực Lạc đồ
Quảng tu cúng dường hằng tinh tấn
Phổ lễ nhất thiết chúng vương tộc.
Tạm dịch :
Tự không hóa có,
có hóa không
Ứng chân thị hiện cõi Cực Lạc
Rộng tu cúng dường luôn tinh tấn
Lễ khắp tất cả chúng vương tộc.
Giảng giải : A La Ha Ðế là "lễ khắp ứng chân
tất cả vương tộc". Ứng là cảm ứng đạo giao.
Chân là chân thật thị hiện. Chúng ta đắc
được cảnh giới như thế thì đừng nửa tin nửa
ngờ. Ví như nằm mộng thấy Phật phóng quang
hoặc là thấy đến rờ đầu, sinh ra nửa tin nửa
ngờ, có thật hay chăng, như thế bèn giảm
sút. Tức là chân mà bạn không tin, do đó
biến thành giả, vì bạn không có tín tâm. Có
tín tâm tại sao phải hoài nghi ? Ðó là nhất
xiển đề. Nhất xiển đề thì niềm tin không đủ.
Cảnh giới ứng chân là có hóa thành không,
rất linh nghiệm. Phật, Bồ Tát, A La Hán,
trời, người, A tu la đều có thể thị hiện,
không chỗ nào mà không hiện thân, tự không
hóa có, biến hóa khó lường, diệu dụng vô
cùng.
‘’Ứng chân thị hiện cõi Cực Lạc.’’ Trên thế
giới này những người giác ngộ tất cả đều là
thị hiện, đều là giả. Tại sao thị hiện giả,
vì muốn kêu bạn mượn giả tu chân, hiểu rõ
cứu kính khoái lạc, chứ chẳng phải có hình
tướng, có sự chấp trước. Cho nên chúng ta
phải :‘’Rộng tu cúng dường luôn tinh tấn.’’
Từ từ hướng tới vô thượng đạo. Tại sao lễ
khắp tất cả chúng vương tộc ? Vì học vô
thượng đạo, trước hết phải trừ khử cống cao
ngã mạn, ngã chấp không thì pháp chấp mới
phá được. Ngã chấp không rồi, thì không còn
ngã tướng, còn có pháp chấp, phải phá cả hai
ngã và pháp chấp, cho đến "không" cũng chẳng
có, nếu "không" còn tồn tại thì còn chấp
"không", "không" cũng chẳng còn, mặc dù
‘’không còn’’ cũng chẳng có, bạn vẫn có cái
‘’không còn’’ tồn tại, nói tôi "không" cũng
chẳng còn, đó vẫn là có sự chấp trước. Các
bạn nghĩ xem, tu hành khó quá, chẳng phải
dễ, nếu dễ dàng thì ai ai cũng đều thành
Phật rồi, đâu có trôi nổi trong vòng sinh tử
luân hồi. Khai quật mỏ vàng cũng không dễ
dàng, nhưng nếu bạn không khai quật mỏ vàng
thì vĩnh viễn chẳng có được vàng, nhất định
phải bỏ ra công sức, khai quật mỏ vàng, sau
đó mới có được vàng, người tu hành cũng như
thế, trước khó mà sau được, bạn sẽ thành tựu
đạo nghiệp, đều là nhờ thiện trí thức giúp
đỡ. Giúp đỡ thế nào ? Tức là gặp nghịch cảnh
khiến bạn có thể triết phục mà thọ, mới chân
chánh hiểu rõ Phật pháp, phá ngã chấp rồi
thì pháp chấp cũng không. Chấp không cũng
chẳng còn, như thế thì tịch diệt là vui, các
hành vô thường, là pháp sinh diệt, sinh diệt
diệt rồi tịch diệt là vui, tức là đạo lý
này.
90. Tam miệu tam bồ đà gia.
Kệ :
Quy mạng chánh
giác Phật Đà Gia
Quy mạng chánh giác Đạt Ma Gia
Quy mạng chánh giác Tăng Già Gia
Quy mạng chánh giác Tam Bảo Gia.
Tạm dịch :
Quy mạng Ðức Phật
bậc giác ngộ
Quy mạng Pháp Bảo ngôi thứ hai
Quy mạng Tăng Già hoà hợp tu
Quy mạng cung kính ngôi Tam Bảo.
Giảng giải : Có một câu nói là : Niệm Chú
Ðại Bi, dám đấu với vua Diêm Vương. Niệm Chú
Ðại Bi thì quỷ thần không dám đấu. Nhưng bạn
phải thường niệm Chú Ðại Bi thì sẽ dám đấu
với lão Diêm Vương. Lão Diêm Vương chẳng có
biện pháp. Niệm Chú Ðại Bi thì quỷ thần
chẳng dám đấu. Quỷ thần đều sợ bạn. Sợ ở đây
chẳng phải là nóng giận mà là bạn có một sức
lực chân chánh, quyền lực chân chánh, đó gọi
là có đức hạnh.
Có đạo đức thì Diêm Vương cũng phải nể bạn,
quỷ thần cũng không dám nhiễu bạn, chứ chẳng
phải vì bạn quá nóng giận khiến người sợ
sệt, quỷ thần kính mà rời xa. Niệm Chú Ðại
Bi có được oai lực như thế. Còn niệm Chú
Lăng Nghiêm thì sao ? Không có oai lực như
thế ? Ðương nhiên là siêu việt hơn, học Chú
Lăng Nghiêm thiên chủ không dám đấu, mà
ngược lại học Chú Lăng Nghiêm dám đấu với
thiên chủ. Vậy, nói Chú Lăng Nghiêm này phải
chăng không giảng đạo lý ? Không phải ! Phải
chăng cường từ đoạt lý ? Chẳng phải ! Bạn
niệm Chú Lăng Nghiêm thì tương lai bảy đời
về sau đều giàu có như ông vua dầu hỏa của
Mỹ, bảy đời đều làm viên ngoại, viên ngoại
là người giàu có, nói tốt hơn như vậy tôi
phải mau học Chú Lăng Nghiêm, để đấu với
thiên chủ, làm bảy đời viên ngoại, đó là hy
vọng nhỏ nhen, vậy đừng học Chú Lăng Nghiêm
làm gì, bảy đời làm viên ngoại thời gian
cũng chỉ là một nháy mắt. Bạn đấu với thiên
chủ, đấu đi đấu lại vẫn lưu chuyển ở trong
lục đạo luân hồi. Vậy khi chưa niệm Chú Lăng
Nghiêm phải cầu mong gì ? Phải cầu mong cứu
kính làm Phật, đắc được Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác, Tam Miệu Tam Bồ Ðề, đừng cầu
cảnh giới nhỏ nhen như thế, mục đích nhỏ
nhen như thế.
Trên thực tế, học Chú Lăng Nghiêm tức là hóa
thân của Phật, không những là hóa thân của
Phật mà còn là hóa Phật trên đỉnh của Phật,
hóa Phật trong hóa Phật, đó là chỗ diệu
không thể nghĩ bàn của Chú Lăng Nghiêm. Có
người thật trì Chú Lăng Nghiêm thì chu vi
trong bốn mươi do tuần, không có tai nạn gì
hết. Cho nên trước câu Tam Miệu Tam Bồ Ðề
này là "quy mạng chánh giác, tất cả hiền
Thánh Tăng", kệ rằng : ‘’ Quy mạng Ðức Phật
bậc giác ngộ.’’ Chúng ta nhứt tâm quy mạng
Phật Thích Ca Mâu Ni.
‘’Quy mạng Pháp Bảo ngôi thứ hai.’’ Ðó là
quy mạng Tam Bảo. Cho nên nói ‘’ Quy mạng
cung kính ngôi Tam Bảo.’’ Tam Bảo là chúng
ta phải quy mạng. Bổn lai phía trước đã có
Tam Bảo, tại sao bây giờ lại nói, đây là lập
lại để cho mọi người đặc biệt chú ý.
91. Ðế biều.
Kệ :
Câu triệu tróc nã
chúng yêu ma
Quang minh biến chiếu tử giả hoạt
Tỳ Lô Giá Na quán đảnh chủ
Kim Cang Thượng Sư Phật hoá Phật.
Tạm dịch :
Câu triệu tróc nã
chúng yêu ma
Quang minh chiếu khắp chết sống lại
Tỳ Lô Giá Na chủ quán đảnh
Kim Cang Thượng Sư Phật hóa Phật.
Giảng giải : Chú Lăng Ngiêm từ câu Ðế Biều
này về sau một đoạn Chú là "pháp câu triệu".
Phần trước có "pháp tiêu tai" và "pháp hàng
phục". Pháp câu triệu này bao quát năm đại
tâm Chú trong đó. Năm đại tâm Chú này chuyên
môn phá Ma La võng, là chú thuật phá ma, là
pháp phá tà ma. Thiên ma ngoại đạo thần
thông biến hóa vô cùng. Khi bạn tụng năm đại
tâm Chú này thì chú của ma đều chẳng linh,
biến hóa của ma cũng không thể biến hóa
được. Cho nên chúng liền hiện nguyên hình,
lộ ra bản lai diện mục của chúng. Năm đại
tâm Chú này có oai lực lớn như thế. Cho nên
gọi là pháp câu triệu. Câu tức cũng như dùng
lưỡi câu, câu nó lại, giống như câu cá lại
vậy. Triệu tức là triệu (vời) lại, là ra
lệnh bạn phải lại, không lại không được !
Ðây là sự ra lệnh cũng giống như cảnh sát có
uy quyền, có thể tùy tiện bắt người. Câu
triệu cũng là bắt chúng lại cho nên gọi là
tróc nã. Tại sao phải giảng Chú Lăng Nghiêm
? Vì muốn biết ý nghĩa của Chú. Vậy một đoạn
Chú có công dụng gì ? Mỗi một đoạn Chú Lăng
Nghiêm đều có dụng đồ của nó. Bất quá chẳng
phải một sớm một chiều thì hiểu thấu được.
Cần phải từ chỗ này mà huân tập, cũng giống
như dùng khói hương để huân tập, lâu dần thì
sẽ hiểu. Mới học sẽ không hiểu, bất luận bạn
thông minh như thế nào, có trí huệ như thế
nào, có học vấn như thế nào ? Ðều không cách
chi thâm nhập đươc. Tại sao ? Vì chưa dùi
sâu vào, cho nên cảm thấy mới lạ trắc trở,
không thuận tai.
Câu Chú Ðế Biều này dịch là "Quang minh
chiếu khắp". Cho nên nói : ‘’Câu triệu tróc
nã chúng yêu ma - Quang minh chiếu khắp chết
sống lại.’’ Bạn muốn gặp được nhân duyên
lành này, đắc được quang minh chiếu khắp
này, thì người chết sẽ biến thành sống lại.
Chú Lăng Nghiêm này có đại oai lực như thế.
‘’Tỳ Lô Giá Na chủ quán đảnh.’’ Tỳ Lô Giá Na
là Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật.
Ngài là Bộ Chủ Bộ Kim Cang Quán Ðảnh, quán
đảnh khắp tất cả mọi nơi. Khi Phật muốn
thành Phật, thì phải thọ lễ quán đảnh vị,
thọ pháp quán đảnh rồi, mới làm Pháp Vương
tử, tức là sẽ thành Phật. Cho nên nói :
‘’Kim Cang Thượng Sư Phật hóa Phật.’’ Trong
Phật Giáo lại gọi là Kim Cang Thượng Sư, đây
là Phật hóa ra Phật để giáo hóa chúng sinh.
Pháp câu triệu này các bạn không thể tùy
tiện dùng, vì đức hạnh của các bạn chưa được
viên mãn, không thể khống chế chính mình,
không thể tùy tiện chi phối thiện thần hộ
Chú. Thiện thần hộ Chú cũng không bội phục
bạn, cho nên không những không có linh
nghiệm mà hãy còn chiêu họa. Cho nên Chú thì
không thể khinh phụng vọng dụng.
Người trong Vạn Phật Thành không nhất định
ai ai cũng đều tu hành, trong đó chỉ có một
phần nào hoặc chỉ là đến tham quan, hoặc là
đến đây để nghiên cứu. Người ở đây, không
biết bạn tu hay không, điều quan trọng nhất
là đừng làm cho ngưới khác thêm phiền não.
92. Nam mô tát yết lị đa.
Kệ :
Nhất tâm quy lễ
vãng lai thân
Triều cận Hằng sa đại Thánh nhân
Báo ân tăng phước tiêu tội nghiệp
Phản bổn hoàn nguyên chiếu cổ kim.
Tạm dịch :
Một lòng kính lễ
ứng thân Phật
Gần gũi vô số bậc Thánh nhân
Báo ân tăng phước tiêu tội nghiệp
Trở về nguồn cội chiếu cổ kim.
Giảng giải : Gần gũi Phật, gần gũi Pháp, gần
gũi Tăng. ‘’Một lòng kính lễ ứng thân
Phật.’’ Bất cứ đến nơi nào đều tin Phật, gần
gũi Tam Bảo.
‘’Gần gũi vô số bậc Thánh nhân.’’ Lễ bái chư
Phật, Bồ Tát, A La Hán nhiều như số cát sông
Hằng.
‘’Báo ân tăng phước tiêu tội nghiệp.’’ Người
tu hành phải báo ân, báo ân cha mẹ, báo ân
sư trưởng, báo ân quốc gia bảo hộ. Chúng ta
phải biết ai đối với chúng ta chỗ nào tốt,
chúng ta đều phải báo đáp. Tăng phước thì
bạn phải tu bố thí, làm đủ thứ công đức thì
tội nghiệp sẽ tiêu trừ.
‘’ Trở về nguồn cội chiếu cổ kim.’’ Thường
trở về nguồn cội thì cũng giống như Phật
chiếu soi cổ kim.
93. Ế đàm bà già bà đa.
Kệ :
Vô tỉ pháp tạng
ngã pháp không
Thuận thừa đại giáo hoá quần luân
Xảo thuyết chư pháp tam độc phá
Cát tường tôn quỶ Thánh sở tông.
Tạm dịch :
Tạng pháp không
lường ngã pháp không
Thuận thừa đại giáo độ chúng sinh
Khéo nói các pháp diệt ba độc
Cát tường tôn quý bậc Thánh tu.
Giảng giải : Mấy câu Chú này đều là Phật, Bồ
Tát, Hộ Pháp ủng hộ đạo tràng, ủng hộ người
trì Chú. Người trì Chú, khi tụng Chú này thì
thiên ma ngoại đạo đều hàng phục, lão thực.
Câu Ế Ðàm này dịch là "vô tỷ pháp tạng"
(tạng pháp không gì sánh bằng), không có
pháp nào có thể so sánh. Ngã, pháp đều
không, ngã cũng không, pháp cũng không.
‘’Thuận thừa đại giáo độ chúng sinh.’’
Ngưỡng thừa đại giáo của Phật nói để giáo
hóa quần sinh.
‘’Khéo nói các pháp diệt ba độc.’’ Bà Già Bà
Ða dịch là "khéo nói các pháp khiến tiêu
diệt ba độc".
‘’Cát tường tôn quý bậc Thánh tu.’’ Trong
Bạt Già Phạm lục nghĩa có cát tường, có tôn
quý, thứ pháp này đều là pháp của các bậc
Thánh hiền tu, noi theo.
94. Tát Ðát Tha Già Ðô Sắt Ni Sam.
Kệ :
Kính lễ bảo hoa
đại Phật đảnh
Tràng man phan cái chúng trang nghiêm
Phi cầm động thực thai thấp hoá
Đồng nhập liên bang vạn Phật đường.
Tạm dịch :
Kính lễ hoa báu
đại Phật đảnh
Tràng man phan lọng trang nghiêm đẹp
Phi tiềm động thực thai thấp hóa
Cùng vào liên bang vạn Phật điền.
Giảng giải : ‘’Kính lễ hoa báu đại Phật
đảnh.’’ Câu này là kính lễ đảnh lọng kết
hoa, tức cũng là quy kính đảnh lễ hoa báu
kết thành màn, lọng hoa, tràng phan, bảo cái
tất cả đều nghiêm đẹp.
Cho
nên nói : ‘’Tràng man phan lọng trang nghiêm
đẹp.’’ Tràng tức là tràng báu, man tức là
man báu, còn có phan báu, lọng báu đủ loại
trang nghiêm.
‘’Phi tiềm động thực thai noãn thấp hóa.’’
Phi tức là bay trên trời, tiềm là bơi trong
nước, động là chỉ tất cả động vật có huyết
khí, thực tức là tất cả hoa cỏ cây cối. Phi
tiềm động thực, noãn thai thấp hóa, hoặc có
sắt, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng
có tưởng, chẳng không tưởng, tất cả các loài
chúng sinh này ‘’Cùng vào liên bang vạn Phật
điền.’’ Ðều đến cõi nước hoa sen hóa sinh,
trồng vào vạn Phật điền. Chúng ta ở đây có
Vạn Phật Thành, thế giới Cực Lạc có vạn Phật
điền. Hoa sen đều ở trong hồ hoa vạn Phật,
hoa nở thấy Phật. Bạn đến thì bạn có phần,
tôi đến thì tôi có phần, họ đến thì họ có
phần, ai đến thì người đó có phần, mọi người
đều có phần, có phần gì ? Có phần thành
Phật, phần thành Bồ Tát.
95. Tát đát đa bát đát lam.
Kệ :
Bảo
tản hoa cái Tỳ Lô Phật
Nhất thiết Chú tâm hàng chúng ma
Dụng âm vạn đức hoạch tự tại
Thể nhuận quần cơ diễn Ma Ha.
Tạm
dịch :
Dù
báu lọng hoa Phật Tỳ Lô
Tất cả tâm Chú hàng chúng ma
Dùng che vạn đức được tự tại
Thể nhuận chúng sinh diễn đại thừa.
Giảng giải : Hai chữ ‘’ Ðát ’’ này, chữ trên
niệm đơn, chữ dưới niệm đạt. Tát Ðát Ða là
"dù báu". Bát Ðát Lam là "lọng hoa". Dù báu
lọng hoa che chở bảo hộ vạn vật, khiến ai
muốn gì thì được nấy, ai cũng có chỗ ngồi
cho nên nói : ‘’Dù báu lọng hoa Phật Tỳ
Lô.’’ Dù báu này vĩ đại vô cùng. Lọng hoa
tức là dùng hoa kết thành lọng báu. Câu Tát
Ðát Ða Bát Ðát Lam này là tâm Chú chính giữa
Phật bộ, pháp hội của Phật Tỳ Lô Giá Na.
Niệm câu tâm Chú này thì sẽ đắc được chư
Phật Bồ Tát phóng quang gia bị, cho nên nói
: ‘’Tất cả tâm Chú hàng chúng ma.’’
Câu Chú này là tâm Chú của tất cả các Chú,
hay hàng phục thiên ma, chế các ngoại đạo,
hết thảy đều đắc được cát tường như ý.
‘’Dùng che vạn đức được tự tại.’’ Niệm tâm
Chú này thì sẽ che chở tất cả những người có
đức hạnh, đều đắc được tự tại khoái lạc.
‘’Thể nhuận chúng sinh diễn đại thừa.’’ Oai
lực của câu Chú này là như thế, bổn thể của
nó làm thấm nhuần tất cả chúng sinh, khiến
cho hết thảy chúng sinh đều phát đại bồ đề
tâm, nghe diễn Ma Ha (đại thừa), thâm nhập
tạng Kinh, trí tuệ như biển.
96. Nam mô a bà la thị đam.
Kệ :
Ngã
lễ kim hội chư Thánh hiền
Phổ cầu chứng minh đại đạo nguyên
Gia bị hộ niệm thành Tam muội
Tốc đắc vô thắng Thiên Trung Thiên.
Tạm
dịch :
Con
nay kính lễ các Thánh hiền
Khắp cầu chứng minh nguồn đại đạo
Gia bị hộ niệm thành tam muội
Chóng được vô thắng Thiên Trung Thiên.
Giảng giải : ‘’Con nay kính lễ các Thánh
hiền.’’ Bây giờ con phải quy mạng đảnh lễ
pháp hội của tất cả Thánh hiền, vì phổ cầu
chứng minh nguồn đại đạo. Con cung cung kính
kính đảnh lễ khẩn thiết cầu hết thảy các
Thánh hiền trong pháp hội, thỉnh các Ngài
đến chứng minh. Chứng minh cái gì ? Chứng
minh đạo lý, vấn đề lớn căn bản, tu đạo như
thế nào ? Thành Phật như thế nào ?
‘’Gia bị hộ niệm thành Tam muội.’’ Gia bị
cho con, hộ niệm cho con, khiến con đắc được
sức lực tam muội chánh định chánh thọ.
‘’ Chóng được vô thắng Thiên Trung Thiên.’’
Khiến cho con sớm thành tựu vô năng thắng,
không có gì so sánh hơn được, Thiên Trung
Thiên tức cũng là thành Phật.
97. Bát la đế.
Kệ :
Tảo
đăng bỉ ngạn nễ ngã tha
Nhất thiết chúng sinh đáo chân gia
Phản bổn hoàn nguyên hoạch cứu kính
Tiêu dao tự tại lạc vô nhai.
Tạm
dịch :
Tất
cả sớm lên được bờ kia
Hết thảy chúng sinh đến nhà thật
Trở về nguồn cội được rốt ráo
Tiêu dao tự tại sướng vô ngần.
Giảng giải : Bát La Ðế tức là "Ba la mật
đa", dịch là "đáo bỉ ngạn" nghĩa là đến bờ
kia. Bờ kia là bờ như thế nào ? Bờ kia tức
là Niết bàn, tự tại, khoái lạc, bờ này tức
là vô minh, phiền não, không tự tại. Chúng
ta ở bờ sinh tử bên này qua dòng phiền não,
đạt đến bờ Niết Bàn bên kia.
‘’Tất cả sớm lên được bờ kia.’’ Tất cả chúng
sinh, bạn tôi và họ tức là mọi người đều bao
quát trong đó.
‘’Hết thảy chúng sinh đến nhà thật.’’ Nhà
của chúng ta bây giờ không phải là nhà thật.
Thân thể này chỉ là nhà trọ. Chúng ta ở tại
thế giới này cũng giống như đến các nơi du
lịch, đi đến đâu thì ở trọ nơi đó. Thân thể
cũng như nhà trọ, nhà trọ này chẳng phải là
chỗ rốt ráo, chỉ là ở nhờ tạm thời cho nên
nói : Thân người ví như một căn phòng, miệng
là cửa lớn, mắt là cửa sổ, tứ chi ví như bốn
cột trụ, tóc ví như cỏ tranh làm mái, muốn
phòng được tốt bền thì phải thường xuyên tu
bổ, đừng đợi đến lúc hư hoại mới tu bổ thì
quá muộn. Cỏ tranh tức dùng làm lều, cốc để
người tu đạo ở tu.
‘’Tất cả chúng sanh đến nhà thật.’’ Nhà thật
tức nhà Phật, đó là nhà chân chánh vốn có.
Nhà chân chánh thì không có phiền não, mà là
khoái lạc chân thật.
‘’ Trở về nguồn cội được rốt ráo.’’ Chúng ta
phải nhận thức bộ mặt thật của mình, sinh từ
đâu đến ? Và chết sẽ đi về đâu ? Sinh tử đều
minh bạch. Nguyên lai là ta đến du hành thế
giới này, nhà chân thật chẳng phải tại đây.
Tại thế giới này không bị tình lôi kéo thì
cũng bị vật chất cám dỗ, cái này buông xả
chẳng đặng, cái kia cũng không buông xả
không được, đều bị dính chặt cứng.
Nếu ‘’ Trở về nguồn cội được rốt ráo’’, thì
sẽ ‘’Tiêu dao tự tại sướng vô ngần.’’ Ai
cũng muốn tiêu dao tự tại, chỉ vì vào không
được cửa của nó, đều lẩn quẩn bên ngoài. Nếu
Trở về nguồn cội, thì sẽ tiêu dao tự tại
sướng vô ngần, bạn thấy thích chăng ! Thì
mọi người hãy mau mau tu hành ! Sớm chấm dứt
sanh tử, đoạn sạch phiền não, thì đạt được
Niết bàn bờ bên kia. Chớ đừng trôi nổi trong
biển sinh tử, không ra khỏi được.
98. Dương kì la.
Kệ :
Xuy
đại pháp loa kích pháp cổ
Thôi phục oán ma ly bệnh khổ
Phổ sử hữu tình đăng giác ngạn
Vi Đà thường cử kim cang chử.
Tạm
dịch :
Thổi
pháp loa lớn đánh trống pháp
Hàng phục oán ma dứt bệnh khổ
Ðộ các hữu tình lên bờ giác
Vi Ðà thường cầm chày Kim Cang.
Giảng giải : Dương Kì La dịch là "pháp loa",
cũng giống như "bảo loa thủ" trong Bốn Mươi
Hai Thủ Nhãn. Một khi thổi pháp loa thì
thiên ma ngoại đạo nghe thấy âm thanh pháp
loa đều bị hàng phục, đều cung kính nghe
theo pháp lệnh. Cho nên nói : ‘’Thổi pháp
loa lớn đánh trống pháp.’’ Ðánh trống pháp
tức cũng là giảng Kinh thuyết pháp, thụ đại
pháp tràng. Khi pháp loa vang ra tiếng thì
tất cả oán ma đýu bị điều phục, cho nên nói
: " Hàng phục oán ma dứt bệnh khổ.’’
Oán ma gọi là gì ?
Oán ma tức là có cừu oán. Bạn tu hành, cứ tu
pháp hàng ma, làm cho ma đều đầu hàng, đương
thời chúng không có pháp lực lớn như bạn,
cho nên nghe pháp lệnh của bạn, nhưng trong
tâm có khí oán độc. Khí oán độc này, khi
phát tác thì chúng sẽ gây ra tai nạn hại
bạn, khiến cho bạn sinh ra đủ thứ quái bệnh.
Một khi bạn thổi pháp loa thì oán ma tự
nhiên không oán. Cho nên chúng ta đối đãi
với chúng chẳng phải áp bức, mà là khiến cho
chúng cải ác hướng thiện, hồi tâm chuyển ý,
muốn đến đó đây kết oán, chẳng có ý nghĩa gì
hết, làm cho oán cừu đều giải khai được.
‘’Khiến các hữu tình lên bờ giác.’’ Khiến
cho hết thảy chúng sinh lìa khổ được vui,
cho nên : ‘’Biển khổ vô biên hồi đầu là
bờ.’’ Hồi đầu đồng lên bờ bên kia giác ngộ.
‘’Vi Ðà thường cầm chày Kim Cang.’’ Bồ Tát
Vi Ðà thường thường cầm chày Kim Cang bảo hộ
bạn.
99. Tát la bà.
Kệ :
Đại Phật tuyên vật
hoá quần luân
Nhất thiết mật bí chúng thần linh
Hộ trì chánh pháp thường trụ thế
Ma Ha Bát Nhã giác hữu tình.
Tạm dịch :
Thế Phật tuyên
dương hóa quần sinh
Tất cả bí mật chúng thần linh
Hộ trì chánh pháp thường trụ thế
Bát Nhã trí huệ giác hữu tình.
Giảng giải : Tát La Bà dịch là "tất cả", tất
cả các thần, tất cả Kim Cang Mật Tích Hộ
Pháp thiện thần. Những vị Hộ Pháp thiện thần
này, là hàng phục thiên ma ngoại đạo, cũng
là thế Phật tuyên dương Phật pháp, giáo hóa
tất cả chúng sinh. Cho nên nói : ‘’Thế Phật
tuyên dương hóa quần sinh.’’ Giáo hóa tất cả
quần sinh.
‘’Tất cả bí mật chúng thần linh.’’ Tất cả
Kim Cang Mật Tích, Hộ Pháp thần linh.
‘’Hộ trì chánh pháp thường trụ thế.’’ Bảo hộ
chánh pháp thường trụ ở thế gian.
‘’ Bát Nhã trí huệ giác hữu tình.’’ Dùng đại
trí huệ để giáo hóa tất cả chúng sinh, giác
ngộ tất cả hữu tình chúng sinh, khiến họ
đồng lên bờ kia, đắc được vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
100. Bộ đa yết la ha.
Kệ :
Đại thừa Phật đảnh
chủng tánh căn
Quảng độ hàm thức xuất khổ luân
Hư không hữu tận nguyện vô tận
Đồng đăng bỉ ngạn Bát Nhã thâm.
Tạm dịch :
Trồng căn tánh đại
thừa Phật đảnh
Rộng độ hàm thức thoát biển khổ
Hư không hữu tận nguyện vô tận
Ðồng lên bờ kia trí Bát Nhã.
Giảng giải : Bộ Ða là "đại Phật đảnh". Yết
La Ha là "chủng tính căn". Cho nên nói :
‘’Trồng căn tánh đại thừa Phật đảnh.’’ Ðây
là đại thừa, chẳng phải là tiểu thừa. Pháp
này là tối cao vô thượng, cho nên gọi là
Phật đảnh. Chủng tính căn cũng là căn cơ đại
thừa chủng tính.
‘’Rộng độ hàm thức thoát biển khổ.’’ Ðại
thừa là gì ? Ðại thừa tức là xả mình vì
người, quên mất chính mình để rộng độ tất
cả. Hàm thức tức là chúng sinh có huyết có
khí, làm cho họ thoát khỏi biển khổ trầm
luân.
‘’Hư không hữu tận nguyện vô tận.’’ Nguyện
của người đại thừa phát ra là hư không có
thể có bờ mé, chứ nguyện lực thì không bờ
mé, hư không có thể không còn, nhưng nguyện
lực giáo hóa chúng sinh thì không có lúc nào
cùng tận.
‘’Ðồng lên bờ kia trí Bát Nhã.’’ Nguyện cho
hết thảy chúng sinh đồng lên bờ Niết Bàn bên
kia, đắc được thâm Bát Nhã, đắc được trí huệ
Bát Nhã rốt ráo.
101. Ni yết la ha.
Kệ :
Lãnh tụ tam thừa
thú chân như
Chúng trung thượng thủ tuyển Phật đồ
Nhẫn nhục tinh tấn Thánh chủng tánh
Viên mãn bất thoái quả thành thục.
Tạm dịch :
Lãnh đạo ba thừa
hướng chân như
Thượng thủ trong chúng tuyển Phật trường
Nhẫn nhục tinh tấn trồng giống Thánh
Viên mãn không lùi quả thành thục.
Giảng giải : ‘’Lãnh đạo ba thừa hướng chân
như.’’ Ni dịch là ‘’ lãnh tụ ‘’ tức cũng là
Phật thừa, Bồ Tát thừa, Thanh Văn thừa, ba
thừa. Hướng chân như thì đều được cứu kính
thực tướng lý thể.
‘’ Thượng thủ trong chúng tuyển Phật
trường.’’ Ðây là lãnh tụ thượng thủ ở trong
đại chúng ba thừa, tuyển bạt Phật.
‘’ Nhẫn nhục tinh tấn trồng giống Thánh.’’
Nhẫn nhục và tinh tấn là Thánh chủng tính Bồ
Tát, có căn lành lớn.
‘’Viên mãn không lùi quả thành thục.’’ Các
bậc ấy công tròn quả đầy, được quả vị bất
thoái chuyển thì quả vị Phật sẽ thành thục.
Học Phật phải tu pháp môn căn bản, tức là
tài bồi căn lành, bồi nguyên cố bổn. Bồi
nguyên tức là bồi dưỡng nguyên khí. Cố bổn
tức là khiến cho gốc rễ kiên cố. Nguyên gọi
là gì ? Bổn gọi là gì ? Nguyên là nguyên
khí. Chúng ta ai ai cũng cần gốc. Gốc tức là
gốc rễ, tức là cha mẹ. Cha mẹ sinh chúng ta
ra, chúng ta phải hiếu thuận. Hiếu thuận cha
mẹ mới là người chân chánh tin Phật, không
hiếu thuận cha mẹ, chẳng phải là người tin
Phật. Trên thế giới này cần phải hiếu thuận
cha mẹ, nhất cử nhất động đều phải nghĩ đến
lợi ích cho thế giới, thì sẽ có một sức lực
ảnh hưởng. Nếu người hiếu thuận cha mẹ thì
chánh khí trời đất tồn tại, không hiếu thuân
cha mẹ thì trong trời đất tràn ngập tà khí.
Hiếu thuận cha mẹ phải thành tâm thành ý,
tất cung tất kính. Ðối với cha mẹ phải cung
cung kính kính, cha mẹ tức là Phật sống hiện
tiền. Cho nên chúng ta thường cúng dường cha
mẹ là một việc hạnh phúc và may mắn nhất.
Hiếu thuận cha mẹ phải dưỡng chí. Dưỡng chí
tức là việc mà cha mẹ hoan hỷ thì làm nhiều
một chút, việc mà cha mẹ không hoan hỷ thì
làm ít một chút. Ðừng làm cha mẹ buồn phiền
đau khổ, luôn luôn làm cho tâm của cha mẹ
vui vẻ. Tóm lại hiếu thuận cha mẹ là căn bản
của con người. Không biết hiếu thuận cha mẹ
là quên mất gốc rễ. Chúng ta bất cứ vị nào
cha mẹ còn sống thì nên hiếu thuận cha mẹ,
mỗi người đều phải hiếu thuận cha mẹ, như
vậy so với cuối đầu lạy sư phụ còn tốt hơn
nhiều.
Khi tôi ở tại Ðông Bắc nước Tàu (Manchuria)
làm Sa Di thì có rất nhiều người quy y với
tôi, tại sao họ quy y với tôi ? Vì thấy tôi
có vẻ không giống như người khác. Lúc đó có
nhiều sự việc buồn cười. Mùa Ðông thì tôi
không mang giày cũng không mang tất, đi trên
tuyết, chuyện hy kỳ như thế, lúc đó không
màn là trời lạnh hay không, chỉ mặc ba lớp
vải bố. Vì vậy cho nên phần đông nhìn thấy
thời tiết âm dưới -34, -35 độ C, cũng lạnh
không chết tôi, họ cảm thấy rất đặc biệt,
cho nên nhiều người quy y với tôi, nhưng quy
y với tôi có một điều kiện, phàm là đệ tử
quy y với tôi, mỗi ngày đều phải lạy cha mẹ.
Vì tôi là như thế, mười hai tuổi thì lạy cha
lạy mẹ, cung kính cha mẹ. Cho nên tôi hoan
hỷ nhất là ai ai cũng đều hiếu thuận với cha
mẹ. Ðừng đợi cha mẹ chết rồi, có muốn hiếu
thuận cũng chẳng còn kịp nữa ! Ðừng đợi đến
lúc :
‘’ Cây muốn đứng yên mà gió chẳng dừng,
Con muốn nuôi dưỡng mà cha mẹ không còn.’’
Cây muốn thanh tĩnh đứng yên, không giao
động, nhưng gió luôn luôn thổi, làm cho cây
giao động. Làm con muốn cúng dường phụng
dưỡng cha mẹ, nhưng cha mẹ đã qua đời rồi.
Các bạn, phàm là người còn cha mẹ, nên cung
kính đối với cha mẹ. Còn chúng ta là người
xuất gia, nói là không ở nhà, có cha mẹ
nhưng làm thế nào ? Chỉ cần bạn từ từ tu
hành, tu hành cho tốt thì là báo ân cha mẹ,
tức là hiếu thuận. Nếu không tu hành đó là
khinh thường cha mẹ, cho nên xuất gia tu đạo
tức cũng là hành hiếu đạo, tu hành cho tốt
tức là hiếu thuận cha mẹ, đừng làm việc ác,
không nói dối, đó đều là hiếu thuận cha mẹ
một khía cạnh. Làm một người con tốt cho cha
mẹ, trong vô hình cha mẹ đắc được cảm ứng
đạo giao, đó đều là biểu hiệu hiếu thuận cha
mẹ. Cho nên nói :
‘’ Trời đất trọng hiếu, hiếu làm đầu,
Một chữ hiếu cả nhà yên,
Hiếu thuận thì sinh con hiếu thuận,
Con cái hiếu thuận tất người hiền.’’
Người học Phật phải hiếu thuận với cha mẹ,
đây là một sức lực ảnh hưởng rất lớn, sức
lực ảnh hưởng lớn thì người tin Phật sẽ
nhiều. Bạn và người khác tin Phật chẳng có
gì khác biệt. Người khác ăn cơm, bạn cũng ăn
cơm, họ mặc đồ bạn cũng mặc đồ, họ ngủ bạn
cũng ngủ, với người khác đều giống nhau.
Chúng ta tin Phật chủ yếu là hiếu thuận cha
mẹ, hiếu thuận cha mẹ tức là hiếu thuận trời
Phật.
102. Yết ca la ha ni.
Kệ :
Ngũ thừa nhân
thiên đại chủng tánh
Vị cư thượng thủ hoá quần linh
Hữu tưởng vô tưởng giai đắc độ
Đồng nhập Tỳ Lô chứng vô sinh.
Tạm dịch :
Năm thừa trời
người giống tánh lớn
Hiện làm thượng thủ hóa quần sinh
Có tưởng không tưởng đều được độ
Cùng vào Tỳ Lô chứng vô sinh.
Giảng giải : Yết Ca La Ha Ni là "năm thừa".
Năm thừa tức là : Nhân thừa, thiên thừa,
Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát
thừa. Thượng thủ tức là lãnh tụ.
‘’ Năm thừa trời người giống tánh lớn.’’ Rất
nhiều Bồ Tát hóa thân lại làm thượng thủ năm
thừa chủng tính.
‘’ Hiện làm thượng thủ hóa quần sinh.’’ Làm
thượng thủ năm thừa, giáo hóa tất cả chúng
sinh, quần linh cũng là chúng sinh.
‘’ Có tưởng không tưởng đều được độ.’’ Có tư
tưởng hoặc không có tư tưởng đều được độ,
hữu tình vô tình đồng viên chủng trí.
‘’Cùng vào Tỳ Lô chứng vô sinh.’’ Ðồng nhập
vào thanh tịnh pháp thân, thanh tịnh pháp
tính Tỳ Lô Giá Na Phật, chứng đắc vô sinh
pháp nhẫn.
103. Bạt la bí địa gia.
Kệ :
Bát Nhã diệu trí
bồ đề quả
Hoá thành mạc đình đạt Bảo sở
Quán chiếu thật tướng minh thể dụng
Thành Chánh Đẳng Giác liên đoá đoá.
Tạm dịch :
Diệu trí Bát Nhã
quả bồ đề
Hóa thành không dừng đến Bảo Sở
Quán chiếu thực tướng rõ thể dụng
Thành đẳng chánh giác đóa đóa sen.
Giảng giải : Bạt La là "trí Bát Nhã". Bí Ðịa
Gia là "quả bồ đề" cho nên nói : ‘’ Diệu trí
Bát Nhã quả bồ đề.’’ Bạn có diệu trí Bát Nhã
mới đắc được quả giác bồ đề. Nếu không có
diệu trí Bát Nhã thì không đắc được quả
giác.
‘’ Hóa thành không dừng đến Bảo Sở.’’ Hóa
thành tức là thành biến hóa thị hiện ra,
chẳng phải thật. Hóa thành cũng rất trang
nghiêm mỹ lệ, nhưng chỉ là thành biến hóa
ra, chẳng phải thật, phải thẳng đến Bảo Sở
mới là cứu kính.
‘’ Quán chiếu thực tướng rõ thể dụng.’’ Quán
chiếu là dụng, thật tướng là thể, thật tướng
Bát Nhã là thể, quán chiếu Bát Nhã là dụng.
Dùng quán chiếu Bát Nhã đạt đến thực tướng
Bát Nhã, minh bạch thể và dụng.
‘’ Thành đẳng chánh giác đóa đóa sen.’’ Bạn
chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác
thì từng đóa từng đóa hoa sen sẽ sinh ra
dưới chân.
Tu Chú Lăng Nghiêm thì trước hết đừng có tâm
ích kỷ, tâm tự lợi. Phải có tâm đại công vô
tư, tâm phải chí trung không lệch, phải tồn
tâm xả mình vì người, phải tồn tâm phổ độ
hết thảy chúng sinh, nếu có tâm như nói ở
trên thì sớm sẽ thành tựu. Ðoạn Chú này đa
số là pháp câu triệu. Câu triệu là hàng phục
thiên ma ngoại đạo trong đạo tràng.
Chú Lăng Nghiêm có : pháp câu triệu, pháp
hàng phục, pháp tiêu tai, pháp tăng ích,
pháp thành tựu, pháp cát tường. Người Vạn
Phật Thành chúng ta phải khác với người thế
tục, tư tưởng hành vi đều phải khác nhau. Tư
tưởng chúng ta luôn luôn phải tồn tâm lợi
người, tâm giúp đỡ người. Nếu không có sức
lực thì chẳng có biện pháp. Khi có cơ hội
thì phải giúp đỡ kẻ khác. Bạn làm được như
thế thì chư thiên thiện thần tất cả hộ pháp
đều ủng hộ bạn. Nếu miệng thị tâm phi, lời
nói việc làm không giống nhau, thì tất cả hộ
pháp thiện thần, thiên long bát bộ đều bỏ
bạn mà đi, không hộ trì bạn. Cho nên người ở
trong Vạn Phật Thành đều có tư tưởng đạo
đức, tư tưởng đạo đức thì đừng hại người,
đừng đố kỵ người khác, đừng chướng ngại
người khác, đừng miệng thị tâm phi, cũng
đừng miệng phi tâm thị, mâu thuẫn với nhau.
‘’ Tâm thẳng là đạo tràng.’’ Chúng ta luôn
luôn dùng tâm ngay thẳng xử sự. Có người nói
Vạn Phật Thành người xuất gia thiên hạ đệ
nhất là sư phụ Trung Quốc, thứ hai là Tỳ
Kheo, thứ ba là Tỳ Kheo ni, thứ tư mới đến
cư sĩ, nói như thế tôi không hiểu là ý nghĩa
gì. Tại sao không hiểu ? Vạn Phật thành là
do Tỳ Kheo và Tỳ Kheo ni làm thành, có thể
nói là đổ huyết đổ mồ hôi, ngày đêm sáng tác
không ngừng, mới thành tựu ngày hôm nay. Vậy
hà tất nói đệ nhất là ai ? Thứ hai là ai ?
Thứ ba là ai ? Trước kia chẳng có vật gì thì
chẳng có ai lại tranh, bây giờ có nơi đây
rồi, thì chạy đến đây tranh quyền đoạt lợi,
đây là chuyện rất tức cười, là chuyện đáng
thương xót. Ðã vậy, bây giờ có những người
đó, ở tại đây chuyên môn tạo chuyện thị phi,
khiến cho mọi người không được an lạc, không
được bình an. Ðó là hành vi khi dối Vạn Phật
Thành, khi dối mọi người, khi dối chư Phật,
Bồ Tát. Ở tại đây làm thị làm phi, có người
đến Vạn Phật Thành nói Vạn Phật Thành là ý
trời, chẳng phải sức lực con người. Có Vạn
Phật Thành rồi thì nói là ý trời, khi không
có Vạn Phật Thành thì tại sao không nói là ý
trời, đây thật là mê tín, thật là hồ đồ. Ý
trời nhưng người phải làm, nếu người không
làm thì trời chẳng có ý. Cho nên chúng ta là
người ở trong Vạn Phật Thành phải trồng căn
cơ xuống cho thật vững chắc, đừng bị sóng
gió giao động. Chúng ta là một phần tử của
Vạn Phật Thành, chúng ta nhất cử nhất động,
nhất ngôn nhất hạnh phải hộ trì Vạn Phật
Thành, đừng phá hoại Vạn Phật Thành. Tôi ở
tại đây, tôi là một phần tử của Vạn Phật
Thành. Tôi khiến cho người có ấn tượng không
tốt đối với Vạn Phật Thành, tôi sẽ đắc được
gì ? Ðừng ngu si như thế, không nên không
việc đi tìm việc, như thế không những không
có công đức mà còn tạo tội không thể tránh
khỏi. Vì toàn thế giới, người thật tâm phát
tâm tu hành, đều có thể nói tụ hội ở lại
trong Vạn Phật Thành, đến từ bốn phương tám
hướng, đều nhẫn khổ chịu nhọc, đều là người
muốn vì Phật Giáo làm một chút việc. Vậy bạn
đến đây, trong vô hình đừng làm ảnh hưởng
mọi người, đó là việc tôi rất khổ tâm. Bất
cứ vị nào phạm mạo bệnh này, nên sửa đổi đi,
không phạm mao bệnh này thì phải chú ý cẩn
thận. Nơi đây của chúng ta là đạo tràng Lăng
Nghiêm, đạo tràng Hoa Nghiêm, đạo tràng Pháp
Hoa. Ðạo tràng này thiên long bát bộ, hộ
pháp thiện thần tùy thời đều hộ trì. Bạn ở
trong đạo tràng này tạo tội nghiệp, đó là
những điều Phật, Bồ Tát không cho phép.
104. Sất đà nễ.
Kệ :
Đoạn tha chú thuật
phá La Võng
Giải trừ hoạnh tử tiêu tai chướng
Cứu bạt nhất thiết oan khổ nghiệp
Thanh tịnh quang minh cánh cát tường.
Tạm dịch :
Ðoạn chú thuật ma
phá La Võng
Giải trừ hoạnh tử tiêu tai chướng
Cứu độ tất cả oan khổ nghiệp
Quang minh thanh tịnh diệu cát tường.
Giảng giải : Thiên ma ngoại đạo và tất cả
yêu ma quỷ quái cũng có chú thuật của chúng,
nhưng khi tụng Chú này thì sẽ phá tà chú của
chúng, cho nên nói ‘’ Ðoạn chú thuật ma phá
La Võng.’’ Phá La Võng của ma, phá tất cả
thần thông của ma vương.
‘’ Giải trừ hoạnh tử tiêu tai chướng.’’ Bổn
lai phải hoạnh tử, hoặc là có đại nạn gì,
như nạn tặc, nạn nước, nạn bệnh, tai nạn,
tất cả hoạnh tử như bị xe tông chết, bị máy
bay rớt xuống chết, hoặc là xe lửa bị lật,
tai nạn xe hơi bị chết, những hoạnh tử như
thế gọi là hoạn nạn. Một khi niệm Chú này
thì hoạn nạn chẳng có, có thể phá sạch. Cho
nên Chú này có thể phá tà chú, phá tất cả
tai chướng.
‘’ Phá trừ hoạnh tử tiêu tai chướng.’’ Tất
cả tai nạn đều có thể tiêu sạch.
‘’Cứu độ tất cả oan khổ nghiệp.’’ Oan
nghiệp, khổ nghiệp gì, Chú này đều có thể
cứu được.
‘’ Quang minh thanh tịnh diệu cát tường.’’
Tụng chú này thì sẽ đắc được quang minh
thanh tịnh diệu cát tường.
105. A ca la.
Kệ :
Vô thượng đại bi
tâm ấn văn
Tây Phương Liên Hoa bộ chúng thần
Cánh gia từ hỉ kiêm thí xả
Diệu vận xảo đoạt tạo hoá công.
Tạm dịch :
Vô thượng đại bi
tâm ấn văn
Tây Phương Liên Hoa bộ chúng thần
Từ bi hỷ xả vô lượng tâm
Diệu dụng khéo đoạt công tạo hóa.
Giảng giải : A Ca La tức là "vô thượng đại
bi tâm", "vô thượng Ðại Bi Chú".
‘’ Vô thượng đại bi tâm ấn văn.’’ Tâm ấn
diệu pháp này.
‘’ Tây Phương Liên Hoa bộ chúng thần.’’ Tây
Phương Liên Hoa bộ tất cả hộ pháp thiện
thần.
‘’ Từ bi hỷ xả vô lượng tâm.’’ Bạn phải dùng
tâm đại bi, tâm đại từ, tâm đại hỷ, tâm đại
xả, dùng bốn tâm vô lượng viên mãn thì :‘’
Diệu dụng khéo đoạt công tạo hóa.’’ Bạn phải
dùng vừa vặn đến chỗ diệu, thì có thể đoạt
được công năng tạo hóa của trời đất, khiến
cho người đáng chết nhưng không chết, người
đáng hư hỏng nhưng không hư hỏng, việc bất
như ý đều hóa thành cát tường. Ðó là khéo
đoạt được tạo hóa, công dụng này diệu vô
cùng. Cho nên các bạn phải biết, từ đây bắt
đầu là "năm đại tâm Chú ", rất là quan
trọng, rất là hữu dụng, quan trọng nhất
trong Chú Lăng Nghiêm.
106. Mật lị trụ.
Kệ :
Kình sơn trì xử
biến hư không
Đông phương Kim Cang trấn ma quân
Bát vạn tứ thiên thường ủng hộ
Năng sử hành nhân nhập đại trung.
Tạm dịch :
Bưng núi cầm chùy
khắp hư không
Ðông phương Kim Cang trấn ma quân
Tám vạn bốn ngàn thường ủng hộ
Hay khiến người hành nhập đại định.
Giảng giải : ‘’ Sất Ðà Nễ, A Ca La, Mật Lị
Trụ, Bát Lị Ðát La Gia, Ninh Yết Lị.’’ Năm
câu Chú này gọi là "năm đại tâm Chú", là năm
tâm Chú của Phật ở năm phương.
Năm tâm Chú này chuyên phá chú thuật của
thiên ma ngoại đạo. Bất cứ chúng có yêu chú
tà pháp gì, khi bạn tụng năm đại tâm Chú này
thì yêu thuật tà pháp của chúng đều bị phá
sạch. Không những phá yêu ma quỷ quái ở nhân
gian, mà còn phá thiên ma ngoại đạo ở trên
trời. Khi bạn gặp thiên ma ngoại đạo mà tụng
năm đại tâm Chú này thì chúng không thể não
loạn tâm của bạn. Bất cứ chúng có pháp thuật
gì cũng đều không linh nghiệm. Cho nên năm
đại tâm Chú này vô cùng quan trọng trong Chú
Lăng Nghiêm, vô cùng linh cảm, không thể
nghĩ bàn.
Mật Lị Trụ dịch là "Kim Cang" là một trong
108 Kim Cang. Ðây thuộc về phương đông Kim
Cang Bộ, là tâm Chú của Kim Cang Bộ, cho nên
nói : ‘’ Bưng núi cầm chùy khắp hư không.’’
Tám vạn bốn ngàn Kim Cang Bồ Tát này bưng
núi cầm chùy khắp cõi hư không.
‘’ Ðông phương Kim Cang trấn ma quân.’’ Kim
Cang Bộ thuộc phương đông, trấn phục tất cả
thiên ma ngoại đạo, thì tu hành dễ dàng
thanh tịnh, dễ dụng công tu hành. Cho nên tu
hành phải nội công ngoại đức, bên trong thì
phải có công, bên ngoài phải bồi đức, phải
tài bồi đức hạnh.
‘’ Tám vạn bốn ngàn thường ủng hộ.’’ Tám vạn
Kim Cang Tạng Bồ Tát thường ủng hộ bạn.
‘’ Hay khiến người hành nhập đại định.’’
Năng khiến người tu hành đắc được Lăng
Nghiêm đại định, thường thường sinh trí huệ
chân chánh.
107. Bát lị đát la gia.
Kệ :
Như ý luân bảo
diệu nan tư
Nam phương hoá sinh vô uỶ thí
Tâm Chú thọ trì nguyên hình hiện
Li Mị Vọng Lượng thiết hấp thạch.
Tạm dịch :
Như ý luân báu
diệu khó lường
Phương nam hóa sinh vô úy thí
Tâm Chú thọ trì hiện nguyên hình
Lị Mị Vọng Lượng sắt hút đá.
Giảng giải : ‘’ Như ý luân báu diệu khó
lường.’’ Ðây là diệu bảo tâm Chú, cũng giống
như hạt châu Như Ý không thể nghĩ bàn.
‘’ Phương nam hóa sinh vô úy thí.’’ Phương
nam Bảo Sinh Bộ biến hóa vô cùng. Có bố thí
vô úy, Như Ý bảo châu bố thí khắp cho tất cả
chúng sinh, khiến cho họ đều đắc được đủ thứ
của báu.
‘’Tâm chú thọ trì hiện nguyên hình.’’ Khi
niệm năm tâm Chú này thì bất cứ yêu ma quỷ
quái gì cũng đều hiện nguyên hình, thì bạn
sẽ biết chúng là những thứ gì.
‘’ Lị Mị Vọng Lượng sắt hút đá.’’ Bất cứ là
lị mị vọng lượng, hoặc là quái vật gì, khi
bạn niệm Chú này thì giống như hút sắt đá,
hút chúng vào thì chúng không thể biến hóa.
Ðây thật là :
‘’ Pháp vi diệu thâm sâu vô thượng,
Trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được,
Con nay nghe thấy được thọ trì,
Nguyện hiểu Tam muội nghĩa chân thật.’’
Tụng Kinh trì Chú, tu tất cả pháp môn đều
phải thành tâm, trai giới tắm rửa sạch sẽ,
thân tâm thanh tịnh, trừ khử tất cả vọng
tưởng để tu pháp môn này, mới đắc được cảm
ứng đạo giao, như tiếng ứng thanh. Nếu bạn
không thành tâm, thì dù Chú có linh ngiệm gì
cũng đều không linh. Cho nên nói :‘’Tâm
thành tắc linh‘’, nếu tâm không thành thì sẽ
không linh. Tâm thành là gì ? Tức là không
có tâm hoài nghi. Sức lực tin Chú chân chánh
không thể nghĩ bàn. Sức lực tin Chú chân
chánh, không thể không thành tựu. Nếu bạn có
tâm thành chân chánh, thì tu hành sẽ thành
tựu, không có tâm thành, thì chẳng thành
tựu. Có người tu hành trải qua thời gian lâu
dài cũng chẳng có cảm ứng gì. Phải chăng là
Phật pháp không linh ? Hoặc Kinh Chú không
có oai lực cảm ứng đạo giao ? Không phải !
Vì bạn không có tâm thành, luôn luôn cẩu thả
lơ là, không đem chân tâm ra. Cho nên chúng
ta học Chú Lăng Nghiêm phải đầy đủ tâm chân
thật, đó là quan trọng nhất.
Hỏi : Làm thế nào dùng Chú đối phó với lị mị
vọng lượng ?
Ðáp : Pháp thuật ngoại đạo, yêu ma quỷ quái,
có lúc hoặc làm bạn đau đầu, đau răng, đau
mắt, sây sẩm mặt mày, phát cuồng, nói bậy
bạ. Lúc này bạn tụng Chú này thì sẽ phá pháp
thuật của chúng, khiến cho pháp thuật của
chúng không linh. Chứ chẳng phải kêu bạn tự
nhiên đi đối phó với lị mị vọng lượng. Hàng
ngày trong tâm bạn có lị mị vọng lượng, thì
chẳng có lị mị vọng lượng, cũng tự chiêu
chúng đến. Trong tâm bạn gởi đi thiệp mời
nói : Ê ! Lị mị vọng lượng, mau đến, ta có
Chú đối phó với ngươi ! Ðây là đầu lại thêm
đầu. Nên biết, Chú này nói là ai gặp vấn đề
gì thì bạn có thể dùng Chú này để phá pháp
thuật, chứ chẳng phải hàng ngày kêu bạn đi
phá, vậy vọng lượng có nhiều như thế, hằng
ngày bạn phải phá. Bất cứ lị mị vọng lượng
gì, pháp thuật gì, khi gặp Chú này thì khí
của chúng đều tán mất bỏ chạy, đều vô dụng.
Trong tâm bạn trước thỉnh mời lị mị vọng
lượng đến, đương nhiên chúng tâm chú gì cũng
có. Tâm Chú, tâm Chú tức là trong tâm của
bạn phải có Chú, phải sạch sẽ, gì cũng chẳng
có, đến lúc dùng thì tự nhiên sẽ linh
nghiệm. Thọ trì chứ không phải vì hàng phục
yêu ma quỷ quái. Ðây cũng giống như tụng trì
Chú Ðại Bi tức là niệm, lâu dần không niệm
mà niệm, tự nhiên sẽ có một thứ lực của Chú
lại hộ trì bạn. Thậm chí đến thời, bạn tụng
Chú, không tụng Chú đều có cảm ứng, vì bạn
bình thường tu trì tốt cho nên cảnh giới đến
thì tự nhiên nghênh nhận mà giải, vấn đề gì
cũng đều không có.
108. Ninh yết lị.
Kệ :
Tối thượng tác
pháp kim cang tâm
Chuyển luân thành tựu bắc phương tôn
Trí huệ chánh định giới căn bổn
Đại viên mãn giác nhân thiên khâm.
Tạm dịch :
Tối thượng tác
pháp tâm kim cang
Chuyển luân thành tựu bắc phương tôn
Trí huệ chánh định giới là gốc
Giác ngộ viên mãn trời người kính.
Giảng giải : Ninh, dịch là "tối thượng". Yết
Lị, dịch là "tác pháp", cho nên nói : ‘’ Tối
thượng tác pháp tâm kim cang.’’ Tâm kim cang
trong mật Chú.
‘’ Chuyển luân thành tựu Bắc phương tôn.’’
Yết Lị còn dịch là "chuyển luân", là đại tâm
Chú. Ðây là thuộc về phương bắc bộ Thành
Tựu, Phật Thành Tựu cai quản.
‘’ Trí huệ chánh định giới là gốc.’’ Người
tu đạo phải có đại trí huệ, đại định lực.
Muốn có chánh định thì trước hết phải trì
giới. Giới là nền tảng căn bản nhất. Nếu
không có giới thì không có định, không có
huệ.
‘’ Giác ngộ viên mãn trời, người kính.’’ Bạn
thành Phật thì đắc được giác ngộ viên mãn,
trời người đều khâm phục bạn, cung kính bạn.
109. Tát la bà.
Kệ :
Giải oan thích oán
khánh hoà bình
Chiến tranh vĩnh tức hoá khang ninh
Nhất thiết cấm phược giai tiêu tán
Ngũ đại tâm Chú diệu vô cùng.
Tạm dịch :
Giải oan cởi oán
vui hòa bình
Chiến tranh vĩnh diệt hóa khang ninh
Hết thảy buộc ràng đều tiêu tán
Năm đại tâm Chú diệu vô cùng.
Giảng giải : Tát La Bà tức là "giải khai
phóng thích tất cả mọi ràng buộc". Ràng buộc
tức là bị người dùng chú để khống chế, hoặc
là trúng tà, hoặc là trúng đủ thứ pháp thuật
như độc trùng, bùa ngải. Năm đại tâm Chú này
đều có thể phá những thứ tà thuật đó. Tát La
Bà là giải khai phóng thích tất cả ràng
buộc, cho nên nói :‘’ Giải oan cởi oán vui
hòa bình.’’ Mọi người không chiến tranh.
‘’ Chiến tranh vĩnh diệt hóa khang ninh.’’
Chiến tranh cũng chẳng có, đó đây đều không
đấu tranh, đó đây đều kiện khang, rất yên
ổn.
‘’ Tất cả buộc ràng đều tiêu tán.’’ Kẻ khác
gây cho bạn những tai nạn gì cũng chẳng có,
đều tiêu tán hết.
‘’Năm đại tâm Chú diệu vô cùng’’ từ ‘’ Sất
Ðà Nễ đến Ninh Yết Lị ‘’, năm đại tâm Chú
này ảo diệu vô cùng, dù có nói nhiều cũng
không hết được.
Hỏi : Chúng ta phải niệm toàn bộ Chú Lăng
Nghiêm hay là năm đại tâm Chú này ?
Ðáp : Chú Lăng Nghiêm là Chú rất dài, nhưng
mỗi một câu Chú đều có diệu dụng và oai lực
của nó. Nếu bạn biết diệu dụng và oai lực
của nó, thì khi cảnh giới đến, có thể niệm
mấy câu này là đủ. Nếu bạn niệm từ đầu đến
đuôi thì thời gian phải dài. Năm đại tâm Chú
này hay phá tan Ma La võng, phá chú thuật
của Ma vương. La võng tức là chỉ phù và chú
thuật khiến cho trong tâm của bạn mê mất
chánh niệm. Như ở Nam Dương, Thái Lan đều có
độc trùng, bùa ngải các thứ tà thuật. Nếu
dùng năm đại tâm Chú này thì sẽ phá được.
Như trong Kinh Lăng Nghiêm, ngoại đạo Ma
Ðăng Già dùng chú Phạm thiên, cũng có sức
lực không thể nghĩ bàn, đó là tà pháp, chú
thuật thuộc về tự tư tự lợi, chẳng phải đại
công vô tư, cho nên phá được nó. Nếu là đại
công vô tư, không có chút tâm ích kỷ lợi
mình thì chẳng ai phá được, vì thuộc về
chánh.
Lúc tôi ở tại Mã Lai thì có một người trúng
cổ độc (vật độc làm hại người, những nơi mán
mọi nó hay cho vào đồ ăn uống, người nào ăn
phải thì sinh ra rồ dại mê man) khoảng mười
lăm năm. Y luôn luôn muốn tự sát, thường
nghe thấy có người nói chuyện, điên điên đảo
đảo. Y đến tìm tôi, tôi dùng gậy đánh y thì
y mửa ra hàng ngàn vô số côn trùng, rồi khỏi
bệnh. Ðó là cổ độc. Tại sao dùng gậy đánh
thì y hết bệnh. Vì trên cây gậy có rất nhiều
oai lực của Chú. Phải có đức hạnh mới có thể
chi phối thứ pháp này. Nếu bạn không có đức
hạnh, tuy cũng có chút linh cảm, nhưng cuối
cùng sẽ chiêu lại họa hoạn. Nếu giới luật
không thanh tịnh, không có đức hạnh, thì
thần hộ Chú sẽ không bội phục bạn. Tuy nhiên
đương thời có cảm ứng, nhưng thời gian lâu
dần, sẽ gặp tai họa. Do đó bất cứ tu pháp gì
đều phải chú trọng về đức hạnh, chú trọng về
đạo đức căn bản mới có thể xử dụng pháp này,
mới có oai lực, mới an toàn. Không có đạo
đức thì không nên dùng, bất cứ chú gì cũng
thế.
Năm đại tâm Chú này là trăm ngàn vạn kiếp
mới gặp được, cũng có thể trăm ngàn vạn kiếp
bạn đã gặp qua rồi, nhưng không thể biết rõ.
Năm đại tâm Chú này là tôn quý nhất, là Chú
hữu dụng nhất trong Phật giáo. Bất cứ là Chú
của thiên ma, Chú của ngoại đạo, Chú của quỷ
thần, Chú của yêu quái, Chú của bàng môn tả
đạo đều phá hết được. Tức là Chú hay phá tất
cả không thể phá. Chú phá thiên ma ngoại đạo
chứ chẳng phải có tâm muốn đối địch với
chúng, mà là giống như đánh thái cực quyền,
dùng lực nhu phá giải lực cang. Bất cứ Chú
gì, dùng tâm Chú này đều hóa giải được hết,
nhưng đừng tổn hại đối với đối phương.
Năm đại tâm Chú này, tại sao gọi là tâm Chú
? Tức là từ trong tâm từ bi chảy ra. Dùng
Chú này phải dùng tâm từ bi hỷ xả, nhiếp thọ
tất cả chúng sinh, chứ chẳng phải nói, tôi
niệm Chú này là muốn đánh bạn chết, giết bạn
hoặc là tiêu diệt bạn, mà là oai lực của Chú
hóa giải hết Chú thuật khác cũng như băng đá
gặp mặt trời, tự nhiên biến thành nước. Bổn
lai Chú của bàng môn ngoại đạo đều vì tâm
sân hận chi trì, bạn niệm Chú Lăng Nghiêm
này thì sẽ hóa thành cát tường, diệu là diệu
chỗ này. Chứ chẳng phải bạn niệm Chú này thì
đối phương thế nào chịu cũng không được, mà
là Chú Lăng Nghiêm phá giải hết oai lực của
Chú khác, chứ không hại người. Oai lực của
Chú là từ trong tâm của chư Phật, Bồ Tát và
người tụng Chú chảy ra một thứ tâm từ bi cho
nên hàng phục được tất cả thiên ma ngoại
đạo.
110. Bàn đà na.
Kệ :
Kiết giới thanh
tịnh thắng đạo tràng
Pháp hội trang nghiêm niệm Phật đường
Tán thán thường chuyển vô thượng luân
Chân đế lý thú phá hồng hoang.
Tạm dịch :
Kiết giới thanh
tịnh thắng đạo tràng
Pháp hội trang nghiêm niệm Phật Ðường
Khen ngợi thường chuyển pháp vô thượng
Chân lý vi diệu phá hồng hoang.
Giảng giải : Bàn Ðà Na tức là "kiết giới".
Sao gọi là kiết giới ? Phàm là kiến lập đạo
tràng, trước hết phải kiết giới. Vậy giới
bên ngoài là đời ác năm trược, giới bên
trong là đạo tràng thù thắng trang nghiêm
thanh tịnh. Kiết giới có khi dùng Chú Ðại
Bi, mặt hướng về tám phương, người chủ trì
pháp hội dùng sức lực quán tưởng, quán tưởng
xa bao nhiêu thì giới liền lớn bấy nhiêu.
Người chủ trì nếu tâm lượng lớn, thì tận hư
không biến pháp giới đều kiết giới ở trong
đó ; nếu tâm lượng nhỏ thì giới cũng nhỏ.
Câu Bàn Ðà Na này tức là kiết giới. Kiết
giới, giới quán tưởng xa bao nhiêu thì đắc
được thanh tịnh xa bấy nhiêu. Cho nên nói :
’’ Kiết giới thanh tịnh thắng đạo tràng.’’
Ðây là một đạo tràng thù thắng, đại chúng
dụng công tu hành.
‘’ Pháp hội trang nghiêm niệm Phật Ðường.’’
Pháp hội thì không thể cẩu thả được. Tụng
Kinh, trì Chú, lễ sám, lạy phật, giảng Kinh,
thuyết pháp đều phải thận trọng mọi việc,
tất cung tất kính, tơ hào không giải đãi
không cẩu thả. Trong pháp hội phải quán
tưởng chính mình đối trước Phật, đối trước
trời, đối trước sư phụ, đối diện với tất cả
tôn trưởng. Như thế thì không dám giải đãi
lười biếng, làm qua loa cẩu thả, mà rất
thành tâm tham gia pháp hội đạo tràng. Cho
nên nói ‘’ Pháp hội trang nghiêm niệm Phật
Ðường.’’ Niệm Phật Ðường không phải nhất
định niệm Phật mới gọi là Niệm Phật Ðường,
bạn thanh tịnh trang nghiêm thì là niệm
Phật, tức là niệm Phật tại đó.
‘’Khen ngợi thường chuyển pháp vô thượng .’’
Câu Chú này là là tán thán Phật chuyển pháp
luân vô thượng.
‘’Chân lý vi diệu phá hồng hoang.’’ Dùng
chân đế lý thể thực tế chân thật nhất phá
trừ tất cả vô minh phiền não. Hồng hoang như
đồng với trời đất chưa khai phá. Phải khai
thiên mở địa, tức cũng là nói phá vô minh,
hiển lộ tự tính pháp thân huệ mạng.
111. Mục xoa ni.
Kệ :
Tối thắng giải
thoát Đạt Ma bảo
Diệu cát huy kim thậm hy thiểu
Siêu việt nhất thiết chư khổ nạn
Tốc chứng bồ đề ly điên đảo.
Tạm dịch :
Pháp bảo giải
thoát tối thù thắng
Chiếu cổ soi kim rất ít có
Siêu việt tất cả các khổ nạn
Sớm chứng bồ đề hết đảo điên.
Giảng giải : Mục Xoa Ni dịch là "thắng giải
thoát". Gì gọi là thắng giải thoát ? Thắng
là thù thắng, khác với các giải thoát khác.
Ðó là dùng sức ít mà thành công cao, một thứ
pháp môn thù thắng nhất cho nên nói ‘’ Pháp
bảo giải thoát tối thù thắng.’’ Giải thoát
là pháp không quái ngại, cũng không chấp
pháp ; ngã, pháp đều quên. Ðạt Ma Bảo là
Pháp bảo.
‘’ Chiếu cổ soi kim rất ít có.’’ Pháp bảo
này chiếu cổ soi kim, sáng chói muôn đời,
nhưng cũng khó mà gặp được, càng không dễ gì
hiểu được.
‘’ Siêu việt tất cả các khổ nạn.’’ Ðây tức
là thực hành sâu vào trí huệ Ba La Mật thì
soi thấy năm uẩn đều không, độ tất cả khổ
ách, siêu việt tất cả khổ, tất cả ách nạn.
Cho nên nói ‘’ Sớm chứng bồ đề hết đảo
điên.’’ Câu này là nói xa lìa điên đảo vọng
tưởng, cứu kính Niết Bàn. Tất cả điên đảo
đều chẳng còn, chứng được trí huệ Bát Nhã
vốn có. Trí huệ này dùng không hết được.
Pháp này nếu không phải có căn lành, đại
nhân duyên trong quá khứ, thì không thể gặp
được.
112. Tát la bà.
Kệ :
Giải trừ khổ ách
đắc an lạc
Tiêu diệt nhiệt não đắc thanh lương
Chú trớ độc cổ chư tà thuật
Nhất thiết vô năng hại thân giả.
Tạm dịch :
Giải trừ khổ ách
được an lạc
Tiêu diệt nóng bức được mát mẻ
Chú trừ các độc và tà thuật
Tất cả không thể hại người trì.
Giảng giải : Tát La Bà tức là "giải trừ tất
cả khổ não", cho nên nói :‘’ Giải trừ khổ
ách được an lạc.’’ Phiền não không còn nữa
thì sẽ an lạc.
‘’ Tiêu diệt nóng bức được mát mẻ.’’ Niệm
câu Chú này thì tất cả nhiệt não nóng bức
đều chẳng còn, thì sẽ được mát mẻ tức là đắc
được tự tại.
‘’ Chú trừ các độc và tà thuật.’’ Chú trừ
được hết thảy, như niệm tà chú, bỏ cổ độc
.v.v… các loại tà thuật, pháp thuật không
chánh đáng.
113. Đột sắt trá.
Kệ :
Chướng não biệt
kiến giá tánh minh
Phú tàng phát lộ ám đắc đăng
Phản bổn quy nguyên quán tự tại
Phóng hạ phàm tình Phật tức thành.
Tạm dịch :
Chướng não biệt
kiến che quang minh
Che lấp phát lồ tối được đèn
Trở về nguồn cội quán tự tại
Buông bỏ phàm tình liền thành Phật.
Giảng giải : Ðột Sắc Trá dịch là "chướng
não", "biệt kiến". Chướng não, biệt kiến che
lấp tự tính quang minh. Tự mình sinh ra một
thứ chướng ngại, tà tri tà kiến, che lấp tự
tính quang minh.
‘’ Che lấp phát lồ tối được đèn.’’ Bạn bị
tội nghiệp che lấp, nếu phát lồ sám hối thì
giống như trong chỗ tối được đèn sáng.
‘’ Trở về nguồn cội quán tự tại.’’ Bạn trở
về nguồn cội thì sẽ nhận rõ bộ mặt thật của
bạn, sẽ luôn luôn quán tự tại, rất khoái
lạc.
‘’ Buông bỏ phàm tình liền thành Phật.’’
Buông bỏ phàm tình thì sớm sẽ thành Phật.
Hiện tại tôi giảng Chú Lăng Nghiêm cho các
bạn nghe. Chú Lăng Nghiêm này trăm vạn ngàn
kiếp cũng chẳng có ai giảng một lần nữa,
cũng không dễ giảng một lần nữa. Lúc tôi
giảng cho các bạn nghe, tôi biết chẳng ai
nghe hiểu được. Tức là có người tự cho là
hiểu được, cũng chẳng phải thật hiểu. Có
người tự cho là hiểu rồi, cho nên không chú
ý, vậy cũng giống như không hiểu.
Chú Lăng Nghiêm là linh văn giữ gìn trời đất
không bị hủy diệt. Chú Lăng Nghiêm là linh
văn giữ gìn thế giới không để cho đến mạc
nhựt (ngày cuối). Cho nên tôi thường nói :
"Nếu trên thế gian có người niệm Chú Lăng
Nghiêm thì thế giới này không thể hủy diệt,
pháp cũng không diệt. Khi nào trên thế gian
không có ai niệm Chú Lăng Nghiêm thì lúc đó
Phật pháp sẽ diệt vong". Bây giờ đã có những
thiên ma ngoại đạo, tạo ra những lời bịa đặt
nói Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm là
giả. Ðây là thiên ma ngoại đạo phái ma con
ma cháu đến, để tạo ra những lời bịa đặt như
thế, khiến cho chúng ta không tin Kinh Lăng
Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm. Cho đến ai ai
cũng không tin Chú Lăng Nghiêm, thì chẳng
còn ai niệm, thì thế giới này sớm sẽ hủy
diệt. Muốn thế giới không bị huỷ diệt, thì
hãy mau niệm Chú Lăng Nghiêm, đọc Kinh Lăng
Nghiêm. Nếu bạn mỗi ngày đọc tụng Chú Lăng
Nghiêm thì sự nguy hiểm của đạn nguyên tử,
đạn hạt nhân cũng không hại được bạn. Cho
nên bạn nên nhất tâm niệm Chú Lăng Nghiêm.
Nay tôi giảng Chú Lăng Nghiêm cho các bạn,
lúc này tuy chẳng có ai minh bạch, nhưng
mười năm, trăm năm, ngàn năm sau có người
thấy Chú giải này thì lúc đó sẽ hiểu rõ thâm
sâu Chú Lăng Nghiêm này. Các bạn nghe được
Chú Lăng Nghiêm đừng cho rằng thật là quá dễ
dàng. Bốn câu kệ này nhìn qua rất là đơn
giản, nhưng nó là từ trong tâm của tôi chảy
ra, chứ chẳng phải tìm chương chọn câu,
trích trong sách của người khác sao lại. Các
bạn học với tôi, chẳng màng là bài kệ hay
dở, đây là sự xét nghiệm thấy pháp của tôi,
hiểu rõ Chú Lăng Nghiêm mà diễn tả ra. Nếu
các bạn muốn hiểu thật Chú Lăng Nghiêm thì
nên cố gắng tu học, đừng để thời gian trống
không trôi qua.
Hỏi : Phật nhãn là gì ?
Ðáp : Phật nhãn chỉ là danh từ, chứ chẳng
phải chỉ riêng Phật mới có. Ngũ nhãn là năm
cái danh từ. Mỗi người đều có ngũ nhãn,
nhưng vì chẳng tu hành, cho nên không mở,
không biết dùng như thế nào. Người mở ngũ
nhãn thì nhìn sự vật bất tất phải dùng hai
con mắt phàm phu. Có thể nhắm hai con mắt
này lại, quán được khắp tất cả vạn sự vật
trong ba ngàn đại thiên thế giới.
114. Đột tất phạp.
Kệ :
Trừ diệt ác mộng
cập bất tường
Phiền não bồ đề hoá thanh lương
Phá tà hiển chánh hưng đại giáo
Bát vạn mao khổng phóng hào quang.
Tạm dịch :
Diệt trừ ác mộng
và hung ác
Phiền não bồ đề thành mát mẻ
Phá tà hiển chánh thịnh Phật giáo
Tám vạn lỗ lông phóng hào quang.
Giảng giải : Tụng niệm câu Chú này, thì sẽ
xa lìa điên đảo mộng tưởng, không gặp tất cả
ác mộng. Mộng lành thì có thể được, còn ác
mộng thì chẳng có. Tại sao lại có ác mộng ?
Vì bạn còn tồn tại tâm ác, đều muốn giết
người, phóng hỏa, nói dối, thích uống rượu,
thích đi làm những việc hại người, thì trong
mộng có những cảnh giới ác như thế, chẳng
phải mình bị người giết thì là mình đi giết
người. Tóm lại bạn giết tôi thì tôi giết
bạn, hoặc là mộng thấy bị tai nạn xe chết,
hoặc là bị lật xe lửa chết, bị tai nạn máy
bay mà chết. Trong mộng mình cũng sợ hồn phi
phách tán. Ðây là ác niệm trong tâm cảm được
ác mộng.
Có người trong tâm cũng không có ác niệm,
không nghĩ đi hại người. Vậy tại sao vẫn có
ác mộng ? Ðây có hai cách nói. Thứ nhất là
những ác nghiệp trong quá khứ theo bạn, đưa
đến có ác mộng, khiến cho bạn biết trong quá
khứ đã từng gieo trồng nhân ác, đời nay phải
sớm cải ác hướng thiện, sớm tu đạo. Thứ hai
là khiến cho bạn biết ác mộng là nghiệp cảm
không tốt, bèn phát bồ đề tâm, không làm
việc ác, cải ác hướng thiện. Cho nên gặp ác
mộng cũng có nhiều lý do. Cũng có thiện
trong ác, hoặc ác trong thiện, nghĩa là ở
trong mộng mị, bạn cũng phải giác ngộ. Khiến
bạn minh bạch đời người như một giấc mộng,
chẳng có gì là thật, chẳng có gì có thể lưu
luyến. Nói qua ác mộng này cũng có chỗ tốt.
Nếu bạn gặp ác mộng mà không cải ác hướng
thiện, thì khó thoát khỏi địa ngục, làm ngạ
quỷ, chuyển súc sinh cũng chẳng xa mấy. Vì
ác mộng này chẳng tốt.
Bạn niệm câu Chú ‘’ Ðột Tất Phạp ‘’ này thì
sẽ giải trừ ác mộng, trong sự bất tri bất
giác sẽ tiêu diệt, chẳng còn nữa.
‘’ Diệt trừ ác mộng và hung ác.’’ Hung ác
tức là không cát tường, không thuận lợi,
không may mắn. Tóm lại những việc không
thuận lợi đều tiêu sạch.
‘’ Phiền não bồ đề thành mát mẻ.’’ Phiền não
của con người chỉ cần bạn nhẫn nó, chuyển nó
qua thì là bồ đề. Phiền não chuyển thành bồ
đề, dễ như trở bàn tay. Nếu bạn biến phiền
não thành bồ đề, thì cũng biến thành thanh
lương, đắc được tự tại thọ dụng.
‘’ Phá tà hiển chánh thịnh Phật giáo.’’ Câu
Chú này có thể phá tà cũng có thể hiển
chánh. Trừ diệt ác mộng tức là phá tà. Hóa
thành mát mẻ, cát tường tức là hiển chánh.
‘’ Tám vạn lỗ lông phóng hào quang.’’ Nếu
bạn tu thành công rồi thì tám vạn lỗ chân
lông, mỗi lỗ chân lông đều phóng vô lượng vô
biên quang minh, chiếu khắp tam thiên đại
thiên thế giới.
115. Bát na nễ.
Kệ :
Trí huệ đệ nhất Xá
Lợi Phất
Biện tài vô ngại triển hồng đồ
Thử thị Bát Nhã đáo bỉ ngạn
Chúng trung thượng thủ chứng chân như.
Tạm dịch :
Trí huệ bậc nhất
Xá Lợi Phất
Biện tài vô ngại triển hồng đồ
Ðây là Bát Nhã đến bờ kia
Thượng thủ trong chúng chứng chân như.
Giảng giải : Bát Na Nễ tức là "trí huệ", tức
cũng là "Bát Nhã". Vậy sao lại nói ‘’ Bát Na
Nễ ‘’ ? Ðây là Chú. Ý nghĩa của Chú phần
đông không thể hiểu, mà quỷ thần nghe thì
hiểu liền, bèn tuân theo mạng lệnh của Chú
mà hành sự. Cho nên Chú tức là chú nguyện.
Chú nguyện tức là ta nguyện như thế nào thì
đều tùy tâm mãn nguyện. Câu Bát Na Nễ với
câu dưới Phạt La Ni đọc với nhau. Hai câu
này niệm với nhau thì khiến cho con người
khai mở đại trí huệ. Ðắc được đại trí huệ,
thì sẽ đắc được đại biện tài, đắc được đại
biện tài, thì sẽ đắc được đại thọ mạng, đắc
được đại thọ mạng, thì sẽ đắc được đại an
lạc. Ðây đều là có mối quan hệ tương quan.
‘’ Trí huệ bậc nhất Xá Lợi Phất.’’ Trong
hàng A La Hán, Ngài Xá Lợi Phất là trí huệ
bậc nhất. Vì Ngài trong quá khứ tu pháp môn
Bát Nhã. Xá Lợi Phất là tên, dịch là "Thu Lộ
Tử". Thu Lộ là tên loài chim. Vì mẹ của Ngài
tên là Xá Lợi. Phất tức là con, Ngài là một
người con của Xá Lợi. Lúc Ngài ở trong bụng
mẹ thì biện luận với cậu của Ngài. Người cậu
luôn luôn biện luận đều thua, biết là trong
bụng của người chị mình có người con trí
huệ, khiến cho chị mình thông minh hơn. Do
đó cậu của Ngài đi học nghị luận của ngoại
đạo, bất quá trở về biện luận vẫn không hơn
được mẹ của Ngài.
‘’ Biện tài vô ngại triển hồng đồ.’’ Ngài có
đại trí huệ, lại có đại biện tài. Triển hồng
đồ là phát triển hoài bảo và hy vọng của
Ngài. Là gì ? Tức là khiến Phật giáo phát
dương quang đại, trợ giúp Phật hoằng dương
chánh pháp.
‘’ Ðây là Bát Nhã đến bờ kia.’’ Tại sao Ngài
có đại trí huệ ? Vì trong quá khứ tu trí huệ
Bát Nhã cho nên đắc được quả báo. Bát Nhã là
pháp môn đến bờ kia.
‘’Thượng thủ trong chúng chứng chân như.’’
Ngài là người trí huệ đệ nhất trong hàng A
La Hán, thượng thủ trí huệ. Ngài chứng đắc
lý thể chân như, có đại trí huệ chân chánh,
biện tài vô ngại, đủ loại thần thông biến
hóa. Do đó muốn tu hành, muốn có trí huệ
chân chánh thì phải tu pháp môn Bát Nhã.
116. Phạt la ni.
Kệ :
Trí huệ ngu si vô
nhị tướng
Bồ Tát ngoại đạo bổn nhất như
Phàm phu phân biệt chủng chủng pháp
Học giả liễu ngộ ly ngôn thuyết.
Tạm dịch :
Trí huệ ngu si
chẳng hai tướng
Bồ Tát ngoại đạo vốn là một
Phàm phu phân biệt đủ thứ pháp
Người giác tỏ ngộ lìa ngôn ngữ.
Giảng giải : Trí huệ phải khai mở mới có,
không khai mở chứ chẳng phải không có, v à
không biết xử dụng. Giống như máy điện toán,
điện toán ví dụ cho trí huệ, nếu bạn không
học qua máy điện toán thì không thể xử dụng
nó, đó là ngu si. Nếu học qua rồi, dùng được
thì là trí huệ. Cho nên trí huệ và ngu si là
hai danh từ, mà gốc vốn là một. Bạn dùng
được tức là trí huệ, không dùng được tức là
ngu si. Máy điện toán là ví dụ tốt nhất.
Cũng giống như ăn cơm, bạn không ăn thì đói,
ăn rồi thì no. Trí huệ và ngu si cũng là một
dạng, xử dụng được thì trí huệ, không xử
dụng được thì ngu si, cho nên nói :‘’ Trí
huệ ngu si chẳng hai tướng.’’ Trí huệ và ngu
si chẳng hai dạng, tựa như trở bàn tay, trở
qua là trí huệ, trở lại là ngu si. Bạn không
biết dùng tay thì không thể cầm, nắm đồ vật,
dùng được thì cầm đồ vật. Ðây là ví dụ ngu
si và trí huệ. Vốn chẳng có hai, chỉ là danh
từ, nhưng danh từ làm cho con người bị mê
hoặc. Có người chấp trước trí huệ, có người
thì mê nơi ngu si. Mê tức là ngu si, ngộ tức
là trí huệ, mê ngộ đều là một. Có người nói
như vậy thì không đúng, mê ngộ sao là một ?
Mê thì không minh bạch, ngộ thì minh bạch.
Thực ra minh bạch và không minh bạch đều
chẳng phải hai thứ, cho nên nói trí huệ và
ngu si chẳng hai dạng.
‘’ Bồ Tát, ngoại đạo vốn là một.’’ Bồ Tát là
muốn tu hành Bồ Tát đạo lợi ích kẻ khác,
ngoại đạo cũng muốn đi trên con đường chánh.
Thiên Chúa Giáo và Gia Tô Giáo đều nhận rằng
giáo của mình không sai, có thể sinh về nước
Chúa. Vì trí huệ của họ chỉ nhiều như thế,
chỉ biết có nước Chúa, không biết có những
thế giới còn diệu hơn nước Chúa, trí lực của
họ không đạt đến được, đây là vấn đề trình
độ. Học sinh tiểu học, không thể so sánh với
học sinh đại học, cũng không thể so sánh với
học sinh trung học. Về phương diện khác là
vấn đề nghiệp. Quá khứ nghiệp tạo ra khiến
họ chỉ hiểu được nhiều như thế thôi. Cứu
kính họ đều muốn khai ngộ, bất quá có ngộ
sớm và ngộ trễ, mê ngộ có chậm trễ mà thôi.
Tu Bồ Tát đạo thì đắc được giác ngộ sớm một
chút. Tu pháp ngoại đạo thì chậm một chút.
Nhanh chậm chỉ là vấn đề thời gian, chứ
chẳng phải có tốt và không tốt, kết quả đều
là đắc quả bồ đề. Cho nên :
‘’ Về nguồn chẳng hai lối,
Phương tiện có nhiều cửa.’’
Không thể nói người khác không tốt, chỉ có
mình đúng, đừng có thứ biên kiến như thế.
‘’Phàm phu phân biệt đủ thứ pháp.’’ Phàm phu
chấp trước dính mắc tại cảnh giới, không
việc tìm việc làm, đầu lại thêm đầu. Giống
như con khỉ cầm vật bên đông, lại chạy qua
cầm vật khác bên tây. Cầm lên bỏ xuống, bỏ
xuống rồi lại cầm lên. Căn bản thì chẳng cần
mà nó muốn làm như thế. Cho nên nói :‘’Phân
biệt danh tướng không biết dừng.’’ Phân biệt
danh tướng không biết dừng lại. Cho nên
‘’Vào biển đếm cát tự nhọc mình.’’ Cũng
giống như đếm trong biển có bao nhiêu hạt
cát, cứu kính có bao nhiêu hạt, bạn đếm được
chăng ? Bây giờ có máy điện toán, dù tinh vi
đến đâu cũng đành bó tay.
‘’ Người giác tỏ ngộ lìa ngôn ngữ.’’ Khi
giác ngộ rồi thì sẽ minh bạch, lìa tướng
ngôn ngữ, lìa tâm duyên tướng, quét tất cả
pháp, lìa tất cả tướng, mới biết phân biệt
danh tướng là dư thừa. Nếu minh bạch tất cả
pháp bổn lai là như thế thì còn gì để nói ?
117. Giả đô la.
Kệ :
Nhân gian oán gia
Phật quốc ân
Tri thức độ ngã xuất trầm luân
Đề Bà Ưạt Ưa chân hộ pháp
Hàng phục sân khuể bất nhiễm trần.
Tạm dịch :
Nhân gian oán gia
Phật quốc ân
Tri thức độ ta thoát trầm luân
Ðề Bà Ðạt Ða chân hộ pháp
Hàng phục sân hận không nhiễm bụi.
Giảng giải : Giả Ðô La dịch là "oán gia".
Oán gia tức là có cừu oán, thường có tâm đố
kỵ sân hận, trong tâm không vui vẻ. Cừu nhân
của Phật quốc tức là ân nhân của nhân gian.
Cừu nhân oán gia của nhân gian tức là ân
nhân của Phật quốc. Nếu bạn không có oán
gia, thì không thể nhìn xuyên thủng tất cả.
Cảnh giới đến không thuận tâm thì quay đầu
lại mau phát bồ đề tâm, khiến cho bạn thức
tỉnh tất cả thế gian đều rất khổ. Nếu bạn
biết khổ thì sẽ đoạn tập, chứng diệt, tu
đạo. Bạn phát bồ đề tâm thì trước hết phải
đoạn phiền não. Phiền não đoạn rồi, thì tu
đạo về sau sẽ chứng quả đắc được Niết Bàn,
bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Cho nên nói
:‘’ Nhân gian oán gia Phật quốc ân - Tri
thức độ ta thoát trầm luân.’’ Thiện tri thức
tương phản chiều hướng lại giáo hóa ta.
Khiến cho ta sớm thoát khỏi sáu nẻo luân
hồi, liễu sinh thoát tử.
‘’ Ðề Bà Ðạt Ða chân hộ pháp.’’ Phật Thích
Ca Mâu Ni do ai giúp Ngài thành Phật ? Là Ðề
Bà Ðạt Ða. Ðề Bà Ðạt Ða đều đến chướng ngại
Ðức Phật tu hành. Kết quả Phật Thích Ca Mâu
Ni quay đầu lại, sớm phát bồ đề tâm mà thành
Phật.
‘’ Hàng phục sân hận không nhiễm bụi.’’
Người tu đạo phải hàng phục tâm, hàng phục
tâm gì ? Hàng phục tâm tham. Gì cũng không
tham, cũng không tham danh, cũng không tham
lợi, cũng không tham tài, cũng không tham
sắc, tiền tài sắc đẹp danh vọng ăn uống ngủ
nghỉ năm dục này đều không tham, đó là hàng
phục được tâm. Lại không sân hận, không ngu
si. Tóm lại hàng phục tâm tức là siêng tu
giới định huệ, tức diệt tham sân si. Có tham
sân si thì còn nhiễm ô, không còn tham sân
si thì nhiễm ô gì cũng chẳng còn, độc đều
tiêu sạch. Ba độc chẳng còn thì giới định
huệ liền hiện tiền. Tu đạo căn bản chẳng có
gì, tức là tất cả cảnh giới đều nhận thức rõ
ràng, đừng bị cảnh giới chuyển, mà chuyển
được cảnh giới. Cho nên người chuyển cảnh mà
cảnh không thể chuyển người. Ðó tức là có
công phu. Người có công phu thì :
‘’ Dù gặp đao bén vẫn thản nhiên
Uống nhầm thuốc độc vẫn ung dung.’’
Dù gặp đao kiếm đến mình cũng rất thản
nhiên, một chút cũng không lo lắng. Có người
bưng thuốc độc cho bạn uống cũng chẳng sợ.
Ðộc hại chết là độc hại chết, một chút cũng
chẳng có vấn đề gì. Nghĩ như thế thì còn có
phiền não gì, còn có vấn đề gì ? Vấn đề gì
cũng chẳng có, đó là giải thoát. Cho nên
chúng ta tu hành phải phá trừ tất cả mọi
chấp trước, thì sẽ đắc được giải thoát. Giải
thoát được thì tự tại, là tịch tĩnh khoái
lạc, tức là thường, lạc, ngã, tịnh.
118. Thất đế
nẩm.
Kệ :
Giải thoát tiêu
tai đại hoan hỉ
Thủ Lăng Nghiêm pháp thế vô tỉ
Nhất thiết chướng ngại cứu kính giác
Cách phàm siêu Thánh khế chân liễu.
Tạm dịch :
Giải thoát tiêu
tai đại hoan hỷ
Pháp Thủ Lăng Nghiêm không gì bằng
Tất cả chướng ngại cứu kính giác
Chuyển phàm thành Thánh hợp chân như.
Giảng giải : Câu Chú này nghĩa là "giải
thoát", "tiêu tai", "hoan hỷ". Cho nên nói
:‘’ Giải thoát tiêu tai đại hoan hỷ - Pháp
Thủ Lăng Nghiêm không gì bằng.’’ Pháp Thủ
Lăng Nghiêm này trên thế gian rất hiếm có,
chẳng có gì có thể so sánh được.
‘’ Tất cả chướng ngại cứu kính giác.’’ Nếu
tu pháp này thì gặp bất cứ chướng ngại gì,
đều sẽ qua được mà đắc được cứu kính giải
thoát.
‘’ Chuyển phàm thành Thánh hợp chân như.’’
Có thể đổi phàm siêu đến Thánh hiền. Khế hợp
chân lý, chân chánh liễu giải.
119. Yết la ha.
Kệ :
Hộ trì thiên giới
chúng thần binh
Oai phong lẫm lẫm quỷ ma kinh
Chư thiên chủng tộc tề hướng thiện
Yêu tà quyến thuộc các bôn đằng.
Tạm dịch :
Binh chúng thần hộ
trì ngàn cõi
Oai phong lẫm liệt quỷ ma sợ
Dòng dõi chư thiên đồng hướng thiện
Quyến thuộc yêu tà đều bỏ chạy.
Giảng giải : ‘’ Binh chúng thần hộ trì ngàn
cõi.’’ Ðây là binh thần trên trời bảo hộ ba
ngàn đại thiên thế giới.
‘’ Oai phong lẫm liệt ma quỷ sợ.’’ Ma quỷ
khi thấy chư thiên oai phong lẫm liệt thì
rất sợ hãi.
‘’ Dòng dõi chư thiên đồng hướng thiện.’’
Chủng tộc chư thiên đều dạy người hướng
thiện, chính họ cũng làm việc thiện.
‘’ Quyến thuộc yêu tà đều bỏ chạy.’’ Yêu ma
quỷ quái khi thấy họ thì chúng đều bỏ chạy
khắp nơi.
120. Sa ha tát la nhạ xà.
Kệ :
Nhẫn giới kiên cố
bất thoái chuyển
Dẫn lãnh quy vãng câu toả nã
Phổ tập thiện tín y Tam Bảo
Pháp hội cát tường Ma Ha Tát.
Tạm dịch :
Kham nhẫn kiên cố
không thối chuyển
Dùng móc hàng phục kẻ cang cường
Khắp khiến thiện tín nương Tam Bảo
Pháp hội cát tường Ma Ha Tát.
Giảng giải : Sa Ha tức cũng là "Sa Bà", tức
là thế giới Sa Bà. Sa Ha dịch là "kham
nhẫn", cũng gọi là "nhẫn giới". Sa Ha dịch
là "kiên cố". Chúng sinh hoặc chư Phật đều
kham năng nhẫn thọ sự khổ của thế giới Sa
Bà. Vậy biết rồi thì phải kiên cố không thối
chuyển phát bồ đề tâm.
‘’ Dùng móc hàng
phục kẻ cang cường.’’ Tức là nói tất cả
thiện thần trong ba ngàn đại thiên thế giới,
tất cả hộ pháp chúng thần, nếu gặp chúng
sinh không nghe lời thì dùng móc kéo họ trở
về.
‘’ Khắp khiến
thiện tín nương Tam Bảo.’’ Khiến tất cả
thiện nam tín nữ tụ tập lại với nhau quy y
Tam Bảo.
‘’ Pháp hội cát tường Ma Ha Tát.’’ Pháp hội
này rất cát tường, hương quang vòng chung
quanh, vân tập các đại Bồ Tát.
121. Tỳ đa băng
sa na yết lị.
Kệ :
Phá bình chướng
nạn hoặc ha khiển
Nhất thiết như Ỷ cánh an tường
Thiên giới thần lâm trừ ma hại
Phổ khiến khâm phục lễ Năng Nhân.
Tạm dịch :
Phá trừ chướng nạn
hoặc quát mắng
Hết thảy như ý và cát tường
Ngàn cõi thần đến trừ ma hại
Ðều khiến khâm phục lễ Năng Nhân.
Giảng giải : Tỳ Ða Băng Sa Na Yết Lị tức là
"phá trừ tất cả chướng nạn", khiến cho tất
cả chướng nạn đều được bình an, khiển trách
hoặc la mắng tất cả bất thiện.
‘’Hết thảy như ý
và cát tường.’’ Khiến cho tất cả sự việc
không lý tưởng đều được cát tường như ý.
‘’ Ngàn cõi thần lâm trừ ma hại.’’ Trừ khử
tất cả ma hại.
‘’ Ðều khiến khâm
phục lễ Năng Nhân.’’ Ðều khiến tất cả thiên
ma ngoại đạo không thiện quy y Tam Bảo, đảnh
lễ Thích Ca Mâu Ni Phật.
122. A sắt trá băng xá đế nẩm.
Kệ :
Hộ giới hộ pháp hộ
già lam
Vô lượng sắc quang chiếu đại thiên
Thành tựu diệu thủ đắc tự tại
Thường lạc ngã tịnh chứng Niết Bàn.
Tạm dịch :
Hộ giới hộ pháp hộ
già lam
Vô lượng quang minh chiếu ngàn cõi
Thành tựu diệu thủ được tự tại
Thường lạc ngã tịnh chứng Niết Bàn.
Giảng giải : A Sắt Trá Băng là "thần hộ
giới", "thần hộ pháp", "thần hộ già lam".
Già lam là đạo tràng.
‘’ Vô lượng sắc quang chiếu đại thiên.’’ Các
vị thần ấy phóng quang minh vô lượng, chiếu
khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Sắc cũng vô
lượng, quang cũng vô lượng, xanh, vàng, đỏ,
trắng, đen đều có.
‘’ Thành tựu diệu
thủ đắc tự tại.’’ Thành tựu là thành tựu đệ
nhất khiến người đắc được tự tại.
‘’ Thường lạc ngã
tịnh chứng Niết Bàn.’’ Khiến cho tất cả đắc
được thường lạc ngã tịnh Niết Bàn bốn đức.
123. Na xoa sát đát la nhã xà.
Kệ :
Câu toả tử diễm
sắc quang mang
Lực sĩ hình trạng đại Kim Cang
Giải ách chửng tai tiêu chư nạn
Nhiếp thọ chúng sinh yết Pháp Vương.
Tạm dịch :
Câu móc lửa tía
sáng nhấp nhoáng
Hình trạng lực sĩ đại Kim Cang
Giải ách tiêu tai trừ các nạn
Nhiếp thọ chúng sinh lễ Pháp Vương.
Giảng giải : Na Xoa dịch là "câu móc" hoặc
dịch là "ngọn lửa màu tía". Cho nên nói :‘’
Câu móc lửa tía sáng nhấp nhoáng.’’ Sắc
quang của nó sáng nhấp nhoáng hàng vạn
trượng.
‘’ Hình trạng lực
sĩ đại Kim Cang.’’ Sát Ðát La dịch là "lực
sĩ" hoặc là "hình trạng", tức là đại Kim
Cang thiện thần hộ pháp.
‘’ Giải ách tiêu
tai trừ các nạn.’’ Các vị thần ấy chuyên
giải trừ tất cả tai nạn khốn khổ.
‘’ Nhiếp thọ chúng
sinh lễ Pháp Vương.’’ Nhiếp thọ tất cả chúng
sinh đến chốn Phật lễ Phật. Ðây là giải
thích đơn giản, nếu giảng tỉ mỉ thì vô cùng
tận.
124. Ba la tát đà na yết lị.
Kệ :
Diệu pháp chuyên
tu đạt bỉ ngạn
Phát dũng mãnh tâm cầu bồ đề
Chiết phục thiên ma quy Tam Bảo
Thu nhiếp ngoại đạo ngộ bổn nguyên.
Tạm dịch :
Chuyên tu diệu
pháp đến bờ kia
Phát tâm dũng mãnh cầu bồ đề
Hàng phục thiên ma nương Tam Bảo
Thu nhiếp ngoại đạo ngộ nguồn gốc.
Giảng giải : Ba La dịch là "diệu pháp". Tát
Ðà Na dịch là "dũng mãnh", là nói ‘’ Chuyên
tu diệu pháp đến bờ kia.’’ Bạn phải y chiếu
diệu pháp tu hành, không giải đãi, không ngủ
gật khi nghe Kinh, thì nhất định sẽ đến bờ
bên kia. Nhất định đến nơi bình an nhất, đến
bờ bên bên kia Niết Bàn, đắc được thường lạc
ngã tịnh, khoái lạc Niết Bàn bốn đức. Nếu
bạn đắc được pháp môn không thể nghĩ bàn,
thì chắc chắn sẽ đạt đến bờ bên kia, tức là
bạn đạt được mục đích hy vọng, cõi Thường
Tịch Quang Tịnh Ðộ.
‘’ Phát tâm dũng
mãnh cầu bồ đề.’’ Chúng ta tu hành thì phải
phát tâm dũng mãnh, đừng có nửa tu hành, nửa
không tu ; một ngày nóng mười ngày lạnh. Cho
nên phải phát tâm dũng mãnh, cầu bồ đề cầu
giác ngộ. Bồ đề là giác đạo, như thế thì sẽ
‘’Hàng phục thiên ma nương Tam Bảo.’’ Thiên
ma có oai lực rất lớn, nhưng oai lực của
chúng lớn bao nhiêu, cũng chẳng bằng oai lực
của diệu pháp, đều hàng phục chúng được.
Hàng phục này chẳng phải dùng sức để đàn áp
chúng hàng phục. Vậy dùng gì ? Dùng đức hạnh
để cảm hóa chúng, khiến cho chúng triết
phục, quy y Tam Bảo, tức là quy y Phật, quy
y Pháp, quy y Tăng.
‘’ Thu nhiếp ngoại
đạo ngộ nguồn gốc.’’ Thu nhiếp là dùng lực
hấp dẫn để hấp thu, cũng giống như hút sắt
đá, làm cho ngoại đạo nhiếp phục. Nhiếp phục
ngoại đạo bạn làm thế nào ? Sẽ so sánh lớn
hơn chúng. Ðây chẳng phải nói khí lực so với
chúng lớn hơn, mà là lượng khí so với chúng
lớn hơn. Ðều bao quát chúng ở trong, cho nên
tôi thường nói với quý vị : Không màng là
tin Thiên Chúa Giáo, tin Gia Tô Giáo, tin Do
Thái Giáo, tin tôn giáo gì bất cứ, tôi đều
xem bạn là Phật Giáo, có người nói : Tôi
không tin. Tôi không màng bạn tin hay không
tin, đều kể bạn là tin. Bạn không tin Phật
đều kể bạn là Phật Giáo đồ, tôi không để bạn
đi bên ngoài Phật Giáo. Giống như Vạn Phật
Thành vậy, bạn không đến thì đợi bạn, đợi
bạn đến trong Vạn Phật Thành cùng nhau tu
hành. Tôi không để bạn đi bên ngoài, đều làm
cho bạn vào bên trong. Cho nên ‘’ Thu nhiếp
ngoại đạo bổn lai nguyên.’’ Bổn nguyên này
tức là minh bạch bổn lai như thế nào. Bổn
lai tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều
có thể thành Phật, nhưng vì hỗn hợp với trần
ai, làm cho trí huệ bị ô nhiễm, không nhận
thức được bộ mặt thật.
125. A sắt tra nẩm.
Kệ :
Kim Cang bảo thủ
pháp lực thâm
Bảo chưởng bảo quyền trấn ma quân
Công đức nguy nguy thần thông đại
Thân tâm thật tiễn xứ xứ chân.
Tạm dịch :
Kim Cang tay báu
pháp lực lớn
Chưởng báu quyền báu trấn ma quân
Công đức lồng lộng đại thần thông
Thân tâm thực tiễn nơi nơi chân.
Giảng giải : Câu Chú này diệu không thể tả.
Câu Chú này tức là "Kim Cang thủ", lại là
"Kim Cang chưởng", lại là "Kim Cang quyền".
Kim Cang quyền này có thể cách núi đánh yêu,
yêu ma quỷ quái cách một hòn núi, đều làm
cho chúng hàng phục. Bạn dùng pháp Kim Cang
quyền này thì chúng sẽ mau chóng hướng về
bạn cúi đầu đảnh lễ, phục tùng bạn. Tức là
không cần bạn phải dùng sức lực làm đè ngã
chúng, mà là dùng đức hạnh đạo lực để cảm
hóa, khiến cho chúng phục tùng bạn. Cho nên
nói :‘’ Kim Cang tay báu pháp lực lớn.’’ Thứ
pháp lực này không thể nghĩ bàn, chẳng phải
một số người có thể hiểu được.
‘’ Chưởng báu
quyền báu trấn ma quân.’’ Kim Cang chưởng
báu, Kim Cang quyền báu không dùng để đánh,
khi ma quỷ thấy thì sẽ lão thực quy thuận,
không dám tác quái.
‘’ Công đức lồng
lộng đại thần thông.’’ Công đức này rất lớn.
Lồng lộng là rất lớn vô cùng. Không những
công đức lớn mà thần thông cũng lớn, cho nên
:‘’ Thân tâm thực tiễn nơi nơi chân.’’ Tại
sao có công đức lớn như thế ? Vì khi tu hành
thì cung hành thực tiễn, lúc nào tu hành
cũng đều tu hạnh chân chánh, tu pháp chân
chánh. Không nói dối, không làm việc giả.
Bất cứ lúc nào cũng không đội mặt giả, đều
là bản lai diện mục (bộ mặt thật), chân mà
lại chân, thật mà lại thật. Tu pháp môn chân
thật thì một chút giả dối cũng không xen tạp
vào. Ðây là sức lực không thể nghĩ bàn của
Kim Cang chưởng, Kim Cang quyền và Kim Cang
thủ. Hôm nay bạn nghe được diệu pháp này đều
là do trong vô lượng kiếp quá khứ đã trồng
căn lành mới nghe thấy được. Nếu không muốn
nghe cũng nghe không được, đều có nhân duyên
chướng ngại bạn. Hôm nay nghe được là có căn
lành lớn trong quá khứ, mới nghe được hai
câu Chú này, hai câu diệu pháp này.
126. Ma ha yết la ha nhã xà.
Kệ :
Hộ ngũ phương thần
chúng tướng binh
Đại thừa chủng tánh hiển oai linh
Kim cang quang minh diệu thiên địa
Thủ bả nhật nguyệt hoán tinh anh.
Tạm dịch :
Chúng thần tướng
binh hộ năm phương
Giống tính đại thừa hiển oai linh
Kim Cang quang minh soi trời đất
Dùng tay dời đổi trời trăng sao.
Giảng giải : Ma Ha tức là nói "đại thừa
chủng tính". ‘’ Chúng thần tướng binh hộ năm
phương.’’ Rất nhiều vị thần tướng binh trong
những vị thần này đều hộ trì người trì Chú.
‘’ Ðại thừa giống
tính hiển oai linh.’’ Những vị đó đều đủ
giống tính đại thừa, đến ủng hộ pháp đại
thừa, hiển đủ loại thần thông.
’’ Kim Cang quang
minh soi trời đất.’’ Quang minh của Kim Cang
Thủ Bồ Tát chiếu soi trời đất.
‘’ Dùng tay dời
đổi trời trăng sao.’’ Các vị ấy có thể lấy
mặt trời xuống thay mặt trăng vào, hoặc thay
thế sao vào, có thần thông diệu dụng như
thế.
127. Tỳ đa băng tát na yết lị.
Kệ :
Đả phá chư hại bảo
bình an
Kim Cang thần tướng các tranh tiên
Chủng chủng ha trách hàng yêu quái
Trừ tà phù chánh mãn đại thiên.
Tạm dịch :
Ðánh phá các hại
bảo bình an
Kim Cang thần tướng tranh làm đầu
Ðủ thứ trách mắng hàng yêu quái
Trừ tà phù chánh đầy các cõi.
Giảng giải : ‘’ Ðánh phá các hại bảo bình
an.’’ Câu này nghĩa là "đánh phá các hại".
Tức là đánh phá hết tất cả những gì yêu ma
quỷ quái muốn làm hại người, khiến cho tất
cả những người tu hành đều được bình an.
‘’Kim Cang thần tướng tranh làm đầu.’’ Kim
Cang thần Kim Cang tướng đều đến bảo hộ
người tu đạo. Các vị ấy đều sợ thua sau, sợ
rơi vào sau người, không giống như chúng ta
việc gì cũng đẩy lùi từ chối. Kim Cang thần
tướng không bảo bạn đi bảo hộ, còn mình thì
không tận trách nhiệm, cứ nhường người khác
đi làm, mà là tôi dùng sức của tôi, bạn dùng
sức lực của bạn, bạn cũng bảo hộ, tôi cũng
bảo hộ.
‘’ Ðủ thứ trách
mắng hàng yêu quái.’’ Kim Cang thần tướng
dùng đủ thứ sự trách mắng, đủ thứ lời lẽ,
dùng các loại pháp để hàng phục yêu quái.
‘’ Trừ tà phù
chánh đầy các cõi.’’ Tông chỉ các vị ấy là
trừ khử tà, phù trì chánh pháp. Các vị ấy hộ
trì chánh pháp như thế, đầy khắp đại thiên
thế giới, đi các nơi bảo hộ người tu hành.
Cho nên tu trì pháp Chú Lăng Nghiêm, tùy
thời tùy lúc đều có tám vạn bốn ngàn Kim
Cang Tạng Bồ Tát đến bảo hộ bạn, khiến bạn
đều cát tường như ý.
Học pháp Chú Lăng Nghiêm, làm việc gì cũng
phải chánh, tu thân cũng phải chánh. Không
khởi những vọng tưởng không thanh tịnh,
không làm việc không thanh tịnh. Phải từ từ
tu hạnh môn thanh tịnh. Ngược lại, nếu bạn
không tồn chánh niệm, không hành chánh hạnh,
thì sẽ khiến cho Kim Cang Tạng Bồ Tát không
bội phục bạn, không bảo hộ bạn, thì bạn sẽ
phát sinh đủ thứ tai nạn, thọ đủ thứ quả
báo. Cho nên tơ hào cũng không thể xem
thường, đừng làm những việc không quang minh
lỗi lạc.
Pháp Lăng Nghiêm là pháp môn trăm ngàn vạn
kiếp khó gặp được. Chúng ta học được một
câu, hiểu được oai lực của một câu, thì nên
chiếu theo mà thực hành. Nếu mỗi câu đều
minh bạch hết, thì nên y theo mỗi câu mà tu
hành. Thọ trì đọc tụng Chú Lăng Nghiêm, vì
người khác nói công đức đều vô lượng. Nếu
một mặt tu pháp môn Chú Lăng Nghiêm, một mặt
không giữ quy cụ thì sẽ có những vấn đề to
lớn phát sinh. Ðiểm này mọi người nên minh
bạch. Ðừng có một bên thì tu pháp Chú Lăng
Nghiêm, một bên thì tạo tội nghiệp. Nếu như
vậy thì cuối cùng sẽ thọ quả báo, tội nghiệp
không dễ gì tránh khỏi. Học pháp Chú Lăng
Nghiêm có chư Phật trong năm phương quản hạt
ma quân trong năm phương. Nên phải tắm rửa
trai giới, trong tâm cũng phải thanh tịnh,
không khởi vọng tưởng ô nhiễm. Thân cũng
thanh tịnh, không làm việc nhiễm ô, luôn
luôn phải giữ cho thanh tịnh, không thể có
tơ hào hành vi không giữ quy cụ, nếu bạn có
những hành vi không giữ quy cụ thì tu pháp
này sẽ không có sức lực cảm ứng, chứ chẳng
phải Chú không linh, mà là vì bạn không giữ
quy cụ, cho nên hộ pháp thiện thần bỏ bạn mà
đi, có việc gì các vị ấy cũng không màng
đến. Do đó phàm là người đọc tụng Chú Lăng
Nghiêm, đừng có tâm quỷ quyệt, đừng có hành
vi cứ tạo tội nghiệp. Bất cứ lúc nào cũng
phải chánh đại quang minh, chỉ biết lợi
người, đừng biết lợi mình. Tồn tâm Bồ Tát
hành Bồ Tát hạnh. Tu pháp Lăng Nghiêm rất là
linh cảm, nhưng cũng không dễ dàng. Các vị
phải chú ý. Bạn nhất định phải giữ năm giới,
hành thập thiện. Ðó là quy tắc tối thiểu
phải giữ gìn.
Pháp môn Kim Cang
quyền của câu Chú : A Sắt Tra Nẩm đã nói ở
trên, nếu bạn thường thọ trì pháp này thì có
thể dùng sức bản thân của bạn để hàng phục
thiên ma, chế các ngoại đạo. Sức bổn thân
tức là oai lực của Chú. Oai lực của Chú biến
thành sức lực của bản thân bạn. Cho nên đừng
bỏ không qua, phải giữ quy cụ để hành pháp
môn này.
Tu hành tâm phải chuyển cảnh, cảnh không
chuyển tâm, phải như như bất động, liễu liễu
thường minh. Tu hành gặp những cảnh giới
nhỏ, thì đừng để cảnh chuyển, mà phải hóa nó
thành không.
‘’ Thấy có như không tâm tự an.’’
‘’Lưỡi động sinh thị phi,
Mở miệng thần khí tán.’’
Khi nói thì lạc vào cảnh giới, lời tiếu cũng
đừng nói.
128. Tát bà xá đô lô.
Kệ :
Nhất thiết thiện
pháp diệt chư ác
Diệu hỉ như Ỷ cứu trầm kha
Khu trừ bất tường đắc an lạc
Đại tai linh văn chân già đà.
Tạm dịch :
Tất cả pháp lành
diệt các ác
Vui vẻ như ý cứu trầm kha
Xua đuổi xấu uế được an lạc
Lành thay linh văn thật thuốc hay.
Giảng giải : ‘’ Tất cả pháp lành diệt các
ác.’’ Tát Bà dịch là "diệt tất cả các ác",
cho nên sinh tất cả thiện. Pháp lành mới
diệt được các ác. Bạn niệm câu Chú này thì
tất cả đều sẽ cát tường. Cho nên nói :‘’ Vui
vẻ như ý cứu trầm kha.’’ Bịnh gì cũng đều có
thể trị lành.
‘’ Xua đuổi xấu uế
được an lạc.’’ Những việc gì không tốt đều
đuổi đi hết.
‘’ Lành thay linh
văn thật thuốc hay. ’’ Oai lực của Chú lớn
vô cùng, bất cứ bệnh gì cũng đều chữa khỏi,
thật là ‘’Diệu dược hồi xuân.’’
129. Nễ bà la nhã xà.
Kệ :
Kim cang thủ chủ
trị oán ma
Não hại chúng sinh tức bộ tróc
Hoả độc lưu chú truyền nhiễm bệnh
Thọ trì độc tụng tử giả hoạt.
Tạm dịch :
Kim Cang thủ lãnh
trị oán ma
Não hại chúng sinh đều bắt hết
Lửa độc bệnh truyền nhiễm lan tràn
Thọ trì đọc tụng chết sống lại.
Giảng
giải : Nễ Bà La dịch là "Kim Cang thủ chủ",
tức là Kim Cang thủ lãnh. Vị ấy thượng thủ
trong Kim Cang. Bất cứ ma quỷ hại người có
oán có oan, Ngài đều có thể trị khỏi.
‘’ Não hại chúng sinh đều bắt hết.’’ Bất cứ
ma quỷ làm hại chúng sinh thì đều bị Kim
Cang thủ lãnh bắt đi.
‘’ Lửa
độc bệnh truyền nhiễm lan tràn.’’ Tất cả lửa
độc hoặc tất cả bệnh truyền nhiễm lan tràn,
tất cả bệnh nan y,
‘’ Thọ
trì đọc tụng chết sống lại.’’ Nếu thường thọ
trì pháp Chú Lăng Nghiêm thì đáng chết cũng
sẽ sống lại. Cho nên nói :
‘’ Phẫn nộ sinh hoan hỷ,
Kẻ chết biến thành sống,
Nếu nói đây là hư,
Chư Phật không nói dối.’’
Ðối với
Chú phải có tín tâm, không sinh tâm hoài
nghi, thì sẽ đắc được cảm ứng.
Mục
đích tu đạo là thành Phật, cho nên vì vô
thượng đạo, "ngàn ma không đổi vạn ma không
lùi". Do đó mà Bồ Tát có thể thành Phật,
song, còn ở lại giúp chúng ta dụng công tu
hành, không thủ chánh giác. Nguyện lực này
với tâm tư chúng ta khác biệt một trời một
vực. Chúng sinh chỉ biết nghĩ chính mình,
lợi ích chính mình, mà không biết nghĩ đến
người khác, không biết lợi ích kẻ khác. Tư
tưởng của Bồ Tát và chúng ta đều trái ngược.
Ai ai cũng không muốn thiệt thòi, không muốn
lợi ích kẻ khác. Bồ Tát thì muốn thiệt thòi,
muốn lợi ích kẻ khác. Ai nguyện sớm thành
Phật, thì Bồ Tát đều nguyện ý nhường cơ hội
cho họ thành Phật. Nguyện lực, tư tưởng,
hành vi như thế khác với chúng ta nhiều lắm.
Chúng ta nên sinh tâm hổ thẹn. Chúng ta nhất
cử nhất động đều vì lợi ích chính mình, cho
nên làm những gì cũng đều ích kỷ lợi mình.
Bồ Tát vì chúng sinh mà không thủ chánh
giác, thật không hổ là bậc Ðại Sĩ. Ðây thật
là quan trọng vô cùng, chúng ta hãy học theo
mô phạm của Bồ Tát.
Xem tiếp theo trang 02 (tập 02)