| ||||||
|
|
ĐẠI BI CHÚ GIẢNG GIẢI Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng giải Tỳ Kheo Thích Minh Định Việt dịch -o0o- Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Thần Chú Nam mô hắc la đát na đa la dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bác ra da, bồ đề tát đoả bà da, ma ha tát đoả bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát toả.
Chú Ðại Bi giảng giải
Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng vào năm 1969 tại Phật
Giáo Giảng Ðường tại Tam Phan Thị (San Francisco)
Chú Ðại Bi, vốn chẳng có cách gì giảng được, vì Chú
là mật ngữ bí mật. Nếu muốn biết ý nghĩa của Chú Ðại
Bi thì trước hết tôi nói một bài kệ. Bài kệ này nói
về Chú Ðại Bi :
"Nhất bách nhất thiên thập vương hoan" : Mỗi ngày
bạn tụng 108 biến, tụng một ngàn ngày ; một năm có
365 ngày, một ngàn ngày tức khoảng ba năm. Bạn tụng
ba năm mà mỗi ngày tụng chẳng gián đoạn. Mỗi ngày
lúc nào bạn tụng Chú Ðại Bi thì nhất định tụng vào
lúc đó, dù bận thế nào bạn cũng tụng 108 biến. "Thập
vương" là mười ông vua ở dưới địa ngục, còn gọi là
Thập Ðiện Diêm Vương, các vị ấy đều vui mừng, đó gọi
là "Nhất bách nhất thiên thập vương hoan".
"Ðại từ đại bi năng khử bệnh" : Vì sao Chú Ðại Bi
gọi là Chú Ðại Bi ? Vì "bi hay cứu khổ", hay cứu tất
cả khổ nạn của chúng sinh ; đó là "cứu khổ ban vui",
cho nên gọi là Chú Ðại Bi. Cứu khổ ban vui, chủ yếu
là có thể trị bệnh ; bất cứ có bệnh gì, bạn tụng Chú
Ðại Bi thì bệnh đều khỏi hẳn. Có người nói :"Tôi
tụng Chú Ðại Bi sao bệnh không khỏi hẳn ?" Vì bạn
chẳng thành tâm ; nếu bạn thành tâm, thì nhất định
sẽ có cảm ứng của Chú Ðại Bi.
"Nghiệt kính nhất chiếu biển cao huyền" : Mỗi ngày
bạn tụng 108 biến mà tụng một ngàn ngày, tức cũng
khoảng thời gian ba năm, thì mười ông vua Diêm Vương
đều vui mừng, bệnh gì cũng đều có thể trị được. Lúc
đó bạn lập được rất nhiều công ; vì trong thời gian
ba năm, hằng ngày bạn đều tụng Chú, chẳng tạo
nghiệp. Dưới địa ngục có một tấm gương gọi là
"nghiệt kính đài", bất cứ bạn tạo tội nghiệp gì thì
đều hiển hiện ra ở trong tấm gương đó, giống như màn
ảnh truyền hình. Một đời bạn làm gì, như bạn giết
người thì trong tấm gương đó sẽ hiện ra tình hình
bạn giết người ; bạn trộm cắp vật của người thì
trong tấm gương đó sẽ hiện ra cảnh tượng bạn trộm
cắp ; nếu bạn đi đốt nhà phóng lửa thì trong tấm
gương đó sẽ hiện ra nghiệp bạn đã làm. Nếu bạn chẳng
có nghiệp gì thì sao ? Thì trong tấm gương đó chẳng
có cảnh giới gì để hiện ra. Cho nên trong ba năm bạn
tụng Chú Ðại Bi, nếu chẳng uống rượu, chẳng ăn thịt,
chẳng ăn ngũ tân (hành, hành tây, hẹ, tỏi, nén) thì
khi tấm gương "nghiệt kính đài" chiếu lên thì bạn
chẳng có nghiệp chướng gì ; ở dưới địa ngục cho bạn
mang tấm bảng nói rằng : "Người đó tụng trì Chú Ðại
Bi, đã tiêu trừ nghiệp của họ, tất cả quỷ thần dưới
địa ngục thấy người đó đều cúi đầu đảnh lễ cung kính
như chư Phật ba đời và đều bảo hộ người đó như bảo
hộ tất cả chư Phật, và cũng đi khắp nơi nói với các
quỷ thần khác rằng thấy người đó đừng có nhiễu loạn
họ". Cho nên Chú Ðại Bi có oai lực như thế, thật là
không thể nghĩ bàn. Bây giờ giảng về Chú Ðại Bi.
"Nam Mô" là tiếng Phạn, dịch ra nghĩa là "quy y",
cũng là "quy mạng kính đầu". Quy mạng là đem mạng
sống của mình giao cho Phật, mình chẳng cần ; Phật
kêu ta sống thì ta sống, kêu ta chết thì ta chết,
nghe sự chỉ đạo của Phật. Kính là cung kính ; đầu là
nương tựa. Kính đầu tức là cung kính nương tựa vào
Phật. Chúng ta quy mạng tức là thân của chúng ta
cũng quy y cho Phật, tâm cũng quy y cho Phật ; thân
tâm đều quy y cho Phật.
"Hắc La Ðát Na Ða La Dạ Gia": Nói tổng quát tức là
mười phương vô lượng vô tận Tam Bảo, trên hình vẽ
nói là bổn thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Tuy là bổn
thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, tức cũng là quy y mười
phương chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai.
Niệm câu Chú này ra chẳng phải chỉ kêu ta quy y mười
phương vô tận thường trụ Tam Bảo, mà cũng khiến cho
tất cả chúng sinh nghe được câu mật ngữ này thì đều
quy mạng nương tựa vào mười phương ba đời vô tận vô
tận thường trụ Tam Bảo. Tam Bảo như bạn đã biết là
Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Bạn phải biết, trên
thế gian cao quý nhất là Phật Bảo, cao quý nhất là
Pháp Bảo, cao quý nhất cũng là Tăng Bảo. Chẳng có gì
cao quý hơn bằng Tam Bảo. Chẳng những trong thế
gian, mà dù xuất thế gian cho đến cõi trời Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ cũng chẳng cao quý bằng Phật, Pháp,
Tăng, Tam Bảo. Cho nên trong mười pháp giới thì pháp
giới của Phật là cao nhất. Cao nhất là Tam Bảo, nên
chúng ta phải quy y, phải cung kính, phải tin nhận,
đừng có tơ hào tâm hoài nghi; phải sinh tâm tin sâu
sắc.
Quy
y Tam Bảo có lợi ích gì ? Quy y Phật thì chẳng đọa
địa ngục; quy y Pháp thì chẳng đọa làm ngạ quỷ; quy
y Tăng thì chẳng đọa làm súc sinh. Ðó là nói sơ về
quy y Tam Bảo.
Song, bạn quy y thì phải làm các điều lành mới được,
nếu bạn vẫn giống như trước, sát sinh giết người,
phóng lửa, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu,
chẳng có gì mà chẳng làm thì bạn chẳng tránh khỏi ba
đường ác. Vì trong Phật pháp chẳng nói gì đến nhân
tình. Chẳng phải nói :"Bạn đã quy y Phật, đã quy y
Pháp, đã quy y Tăng. Quy y Phật thì chẳng đọa vào
địa ngục ; quy y Pháp thì chẳng đọa làm ngạ quỷ ;
quy y Tăng thì chẳng đọa làm súc sinh. Vậy thì bạn
cứ tùy tiện muốn làm gì thì làm", chẳng phải vậy.
Bạn phải cải ác hướng thiện, vĩnh viễn không làm
việc xấu nữa mới được. Nếu bạn vẫn làm việc xấu thì
vẫn đọa địa ngục như nhau. Chẳng giống như các ngoại
đạo khác nói :"Chỉ cần bạn tin Chúa thì dù bạn tạo
tội nghiệp cũng được lên Thiên đàng ; nếu bạn chẳng
tin Chúa, thì dù bạn làm công đức cũng đọa địa
ngục". Chẳng phải đạo lý như thế. Dù bạn tin Phật,
nếu bạn tạo tội nghiệp thì nhất định cũng đọa địa
ngục như nhau ; dù bạn chẳng tin Phật, nhưng nếu bạn
làm công đức, cũng được sinh về cõi trời như nhau.
Phật pháp chẳng phải là một thứ đạo lý mê hoặc lòng
người, nói : "Ngươi phải tin ta thì muốn gì cũng đều
được", chẳng phải như thế. Bạn tin Phật cũng phải
đừng tạo tội nghiệp mới được ; nếu bạn tạo tội
nghiệp thì vẫn bị đọa địa ngục như thường. Tức nhiên
đọa địa ngục như nhau, vậy tại sao còn phải quy y
Tam Bảo ? Quy y Tam Bảo thì bạn phải cải ác hướng
thiện, sửa đổi lỗi lầm, làm con người mới, từ nay về
sau chỉ làm việc lành, chẳng làm việc xấu nữa, như
thế thì mới được lợi ích. Cho nên câu này là quy y
mười phương vô tận vô tận Tam Bảo.
Bạn
niệm câu Chú này thì bạn cũng được tiêu tai. Bạn có
tai nạn gì, mà thường niệm "Nam Mô Hắc La Ðát Na Ða
La Dạ Gia" thì tai nạn của bạn sẽ được giải trừ, tai
nạn lớn thì sẽ biến thành tai nạn nhỏ, tai nạn nhỏ
thì sẽ biến thành chẳng có tai nạn. Cho nên đây là "
pháp tiêu tai ".
"Nam Mô Hắc La Ðát Na Ða La Dạ Gia" còn là " pháp
tăng ích ". Pháp tăng ích tức là bạn vốn đã có căn
lành rồi mà bạn niệm Chú này thì căn lành của bạn
càng tăng thêm, đắc được lợi ích càng nhiều, cho nên
gọi là pháp tăng ích.
Bạn
thường niệm Chú Ðại Bi, niệm riêng một câu "Nam Mô
Hắc La Ðát Na Ða La Dạ Gia", thì bất cứ bạn muốn gì,
mong cầu gì, bạn sẽ được sở cầu như ý, sở nguyện
toại tâm, đây là "pháp thành tựu ". Bạn cầu gì cũng
đều sẽ thành công. Ví như chẳng có con, muốn cầu con
thì bạn niệm "Nam Mô Hắc La Ðát Na Ða La Dạ Gia" thì
sẽ được con. Chẳng có bạn trăm năm mà bạn muốn tìm
một người bạn tốt thì bạn niệm "Nam Mô Hắc La Ðát Na
Ða La Dạ Gia" thì cũng sẽ được người bạn tốt. Song,
bạn phải thành tâm, chẳng phải niệm một ngày, hai
ngày, mà ít nhất bạn phải niệm ba năm. Nếu bạn niệm
hết toàn bài Chú thì càng tốt, nếu không niệm hết
thì niệm một câu "Nam Mô Hắc La Ðát Na Ða La Dạ Gia"
cũng thành tựu công đức không thể nghĩ bàn.
Giống như tại Ðông Bắc bên Trung Quốc, có một thứ
ngoại đạo gọi là ‘Lý môn’. Chúng chẳng niệm gì khác,
chỉ niệm một câu này. Vị lãnh tụ tối cao ngồi ở đó
thọ người lễ lạy, ai ai cũng đều cuối đầu lạy anh
ta. Trong tâm anh ta chỉ chuyên môn niệm "Nam Mô Hắc
La Ðát Na Ða La Dạ Gia", đó là pháp linh cảm của Lý
môn. Một vị ngồi kế bên anh ta gọi là ‘lãnh chánh’,
còn vị nữa gọi là ‘bang chánh’, ba người ngồi ở tại
đó, giống như là ‘phóng diệm khẩu’(chẩn tế cô hồn).
Ðó tức là Lý môn. Nếu có ai đi "tại lý" thì anh ta
truyền một câu mật ngữ. Câu mật ngữ này kêu bạn duỗi
tay ra, tức là "Quán, Thế, Âm, Bồ, Tát", chỉ mấy chữ
; tại lý xong rồi thì coi như đã "triện thượng",
triện thượng rồi thì về sau chẳng cần mở miệng niệm;
phải niệm ở trong tâm :"Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế
Âm Bồ Tát", chẳng niệm ra lời. Câu pháp này "phụ tử
bất qua, thê tử bất truyền", giữa cha và con cũng
không thể truyền, dù vợ chồng cũng không được nói.
Ðắc được năm chữ này rồi thì gọi là "ngũ tự chân
ngôn". Sau đó lại bảo bạn "tại lý", không niệm như
vậy nữa mà phải "bế khẩu tàng thiệt", câm miệng,
lưỡi thì ẩn náu đi ; "thiệt tiêm đình thượng ngạc",
"khí khác tâm niệm", niệm ở trong tâm; "ý căn pháp
hiện". Ðây nói thật là hảo diệu, hảo thần mật. Tại
phương bắc có một cái hội gọi là "giới yên tửu hội",
hội này chủ yếu là không uống rượu, không hút thuốc,
tức gọi "tại lý công sở". Ở Trung Quốc gần hơn một
trăm năm đến nay "công sở đạo" rất là thịnh hành, họ
nương vào câu Chú này. Làm Pháp sư ngồi tại chánh
tòa "tòa lý" niệm "Nam Mô Hắc La Ðát Na Ða La Dạ
Gia". Vì trước kia những nơi này tôi đều đã đi qua
cho nên tôi đều biết.
Câu
Chú này cũng là " pháp hàng phục ", hay hàng phục
thiên ma, chế các ngoại đạo. Tất cả thiên ma ngoại
đạo nghe thấy câu Chú này thì đều bỏ chạy, Song,
chẳng phải là " pháp câu triệu "; pháp câu triệu tức
là một khi niệm câu Chú này thì bắt thiên ma quỷ
quái lại. Cho nên câu Chú "Nam Mô Hắc La Ðát Na Ða
La Dạ Gia" này có công năng không thể nghĩ bàn; nếu
nói ra nhiều thì vô cùng vô tận.
"Nam Mô Hắc La Ðát Na Ða La Dạ Gia" : Nam Mô : Là
"quy mạng kính đầu", Hắc La Ðát Na : Là "Bảo"; Ða La
Dạ : Là "Tam"; Gia : Là "lễ". Hợp lại nghĩa là nói
dùng thân tâm tính mạng của chúng ta quy y cho mười
phương ba đời vô tận vô tận Tam Bảo, chúng ta cúi
đầu đảnh lễ Tam Bảo. Vô tận là gì ? Chư Phật quá khứ chẳng cùng tận, chư Phật hiện tại chẳng cùng tận, chư Phật vị lai cũng chẳng cùng tận; đó gọi là vô tận Tam Bảo.
"A Lợi Gia": ‘A Lợi’ dịch là "bậc Thánh"; Bậc Thánh còn có một ý nghĩa là "xa lìa tất cả pháp ác bất thiện". Pháp ác bất thiện là đủ thứ các điều ác. "Gia" vẫn là "lễ". Kính lễ bậc Thánh, đó là ý nghĩa "A Lợi Gia".
"Thước Bát La Gia": Nghĩa là "tự tại", câu này hợp
lại là "Quán Tự Tại", cũng là Bồ Tát Quán Tự Tại.
"Tát Ðỏa": Tức là "độ". Bồ Ðề Tát Ðỏa nói đơn giản
là "Bồ Tát", tức là chúng sinh tự giác tự độ; tự
mình giác ngộ, tự mình độ mình.
"Bà
Gia": Là "đảnh lễ"; "Gia": Nghĩa là cúi đầu đảnh lễ.
Cúi đầu đảnh lễ ai ? Cúi đầu đảnh lễ Bồ Tát tự giác
tự độ". Câu này nói về "Bất Không La Tác Bồ Tát áp
đại binh". Khi bạn tụng câu Chú này thì Bồ Tát Bất
Không La Tác mang thiên binh thiên tướng đến để bảo
vệ bạn.
"Tát Ðỏa": "Tát Ðỏa" ở đây với Tát Ðỏa ở trước nghĩa
chẳng giống nhau. "Tát Ðỏa" ở trước nghĩa là "độ";
"Tát Ðỏa" ở đây nghĩa là "bậc dũng mãnh", tức cũng
là ‘bậc tinh tấn’, chúng sinh tu hành rất dụng công
tinh tấn.
"Bà
Gia": Tức là "hướng về Ngài đảnh lễ". Tôi hướng về
vị Bồ Tát phát bồ đề tâm đó, vị dũng mãnh tinh tấn
đó để cúi đầu đảnh lễ. Ðây là ý nghĩa mấy đoạn Chú ở
trên đây, tức là nói về Bồ Tát hay tự mình giác ngộ
rồi, chúng sinh tự mình độ mình và còn giác ngộ kẻ
khác, độ tất cả chúng sinh khác.
Thứ
nhất là "tự".
Thứ
hai là "cú", tức là Kinh điển hoặc là Chú, từng câu
từng câu.
Thứ
ba là "quán", quán xem; bạn dùng sự quán sát để tu
hành. Thứ tư là "trí", trí huệ; dùng kiếm trí huệ chặt đứt tất cả phiền não. "Trí" là Bát
Nhã
Ba La Mật môn, "quán" tức cũng là thiền Ba La Mật
môn.
Thứ
năm là "hành", tu hành; chiếu theo pháp này để tu
hành.
Thứ
sáu là "nguyện", bạn phải phát nguyện chiếu theo
pháp này để tu hành.
Thứ
bảy là phải "y giáo tu hành" ; y chiếu theo Phật
Giáo để tu hành. Nếu bạn chẳng y chiếu theo Phật
Giáo để tu hành thì dù bạn tu hành trải qua số kiếp
nhiều như cát như bụi, cũng giống như nấu cát muốn
thành cơm, chẳng khi nào thành tựu. Nếu bạn muốn y
giáo tu hành thì phải minh bạch giáo lý.
Thứ
tám là "lý", đạo lý; nếu bạn hợp với diệu lý Phật
pháp thì mới minh bạch. Nếu bạn chẳng hợp với diệu
lý Phật pháp thì bạn như người mù luyện đui, tu đến
lúc nào cũng chẳng ích gì, cũng không thể thành tựu.
Thứ
chín là "nhân"; bạn còn phải trồng nhân tốt, trồng
nhân lành, trồng nhân thù thắng, trồng nhân thanh
tịnh thì tương lai mới có kết quả tốt.
Thứ
mười là "quả"; tức là kết diệu quả, kết Thánh quả,
kết quả giác cứu kính.
Còn
có lối phiên dịch khác, tức là "diệu thắng, thắng
thân". Diệu thắng này là thắng vi diệu, thắng thân
là một pháp.
Còn
có lối phiên dịch khác gọi là "tối thượng thừa địa".
Sẽ đắc được cảnh giới thập địa tối thượng thừa này
về sau.
Ở
trước, "Tát Bàn La" là Phật Bảo, "Số Ðát Na" là Pháp
Bảo, "Ðát Tỏa" là Tăng Bảo; đây cũng là Tam Bảo, tức
là thỉnh mời hết Tam Bảo đến gia hộ cho bạn, ai tụng
trì Chú này thì thỉnh nguyện Tam Bảo đến bảo hộ cho
người đó. "Ðát Tỏa": Tức là dùng giáo lý để sai khiến tất cả quỷ thần, tức cũng là dùng câu Chú này để sai bảo tất cả quỷ thần, tức có hai ý nghĩa.
"Ðỏa Y Mông": Nghĩa là gì ? Tức
là "ta"; kêu bạn hoàn toàn đảnh lễ bạn. Cái
"ta" ở đây là "ta" chẳng phải ta (vô ngã), chẳng
phải ta "có cái ngã". Sao chẳng có bạn ? Tức là họ
đánh bạn, bạn cũng chẳng biết đau; họ mắng bạn, bạn
cũng vẫn tự nhiên, cũng giống như chẳng có việc gì
xảy ra, không nhất định phải nhẫn, nếu bạn dùng
"nhẫn nhục" thì đã rơi vào ‘đệ nhị nghĩa’; cho dù
nhẫn cũng chẳng cần, căn bản chẳng có nhẫn để nhẫn,
đó gọi là ta chẳng phải ta.
"A
Lợi Gia": Ở trước đã giảng qua, tức là "Bậc Thánh";
nghĩa là phải hoàn toàn đảnh lễ Bậc Thánh của ta,
tức là tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, tất cả Thiên Long
Bát Bộ. Nghĩa là phải đảnh lễ Bậc Thánh của ta chẳng
phải ta. Bậc Thánh đó rất nhiều, là ai ? Sẽ nói với
bạn ở sau.
"Lăng Ðà Bà": Dịch là "hải đảo", tức là nơi trụ xứ
của Bồ Tát Quán Thế Âm, tức cũng là "Phổ Ðà Sơn" ở
Trung Quốc.
Phổ
Ðà Sơn dịch là "Tiểu Bạch Hoa Sơn", vì trên núi đó
có loài hoa tiểu bạch nở. Nơi đây có một tảng đá tạo
cung điện gọi là "cung từ ái", tức là cung điện chỗ
ở của Bồ Tát Quán Thế Âm, ở bên trong thánh diệu
trang nghiêm giống như ở thiên cung, làm bằng bảy
báu, song, không dễ gì đến được nơi đó. Những gì nói ở trước là ‘người từ bi’, "Lăng Ðà Bà" ở sau tức là ‘cung từ bi’; cung điện từ bi, là cung điện trụ xứ của Bồ Tát Quán Thế Âm.
"Nam Mô": Ở đây vẫn là "quy mạng kính đầu". "Na La"
dịch là "hiền"; "Cẩn Trì" dịch là "ái". Ðây gọi là
người tu hành hiền ái thiện hộ. Hiền ái thiện hộ tức
cũng là đại từ bi tâm, tức cũng là tâm cung kính,
tức cũng như ở trước có nói về vô thượng bồ đề tâm. Na La Cẩn Trì : Là đại từ bi tâm, Na La Cẩn Trì cũng là tâm cung kính, Na La Cẩn Trì còn là vô thượng bồ đề tâm. Ý nghĩa câu này đại biểu cho ba thứ tâm.
"Ma
Ha Bàn Ða Sa Mế". "Ma Ha" : Ý nghĩa vẫn là ‘đại’
(lớn). "Bàn Ða Sa Mế": Nghĩa như thế nào ? Tôi không
nói ra thì chắc chắn bạn chẳng biết, cho nên tôi nói
ra thì bạn mới biết. Một khi tôi nói ra thì bạn nói
: "Ồ ! Thì ra là thế". Bạn sẽ biết ngay. Ðại gì ?
Ðại quang minh. Còn có lối dịch khác nữa, nghĩa là
gì ? Chữ "Ma Ha" đại này cũng có thể dịch thành chữ
"trường", trường chiếu minh, luôn luôn chiếu sáng.
Có
người nói : "Ðại quang minh này, tôi đã nghe giảng
Kinh rất nhiều lần". Song, trong Chú Ðại Bi có ý
nghĩa này, nếu tôi không giảng thì bạn đâu có biết.
Tôi nói cho các bạn biết, Chú Ðại Bi chẳng dễ gì gặp
được người giảng cho các bạn nghe. Thật tình mà nói,
vốn cũng chẳng có ai giảng được, chẳng ai biết Chú
Ðại Bi cứu kính như thế nào. Có người nói :"Vậy sao
Hòa Thượng lại biết ?" Bạn đừng hỏi tôi, vì tôi
chẳng hỏi bạn thì bạn không thể hỏi tôi sao tôi lại
biết ? Tự nhiên tôi biết, nếu tôi không biết thì tôi
đâu có giảng cho bạn nghe ? Bạn đừng có hỏi tôi sao
tôi lại biết mà bạn phải hỏi chính bạn, sao bạn lại
không biết ? Nếu bạn biết sao bạn lại không biết thì
bạn sẽ biết sao tôi lại biết; nếu bạn không biết vì
sao bạn lại không biết thì bạn cũng chẳng biết vì
sao tôi lại biết, chỗ diệu là tại chỗ này.
Giống như có một người hỏi tôi :"Vì sao Hòa Thượng
đi xuất gia ?" Tôi chẳng đáp tại sao tôi xuất gia mà
tôi hỏi anh ta :"Vì sao anh không xuất gia ?" Nếu
anh biết tại sao anh không xuất gia thì anh biết tại
sao tôi xuất gia, cũng đồng đạo lý ấy. Bạn hỏi tôi
sao tôi lại hiểu, bạn hãy tự hỏi bạn vì sao bạn
không hiểu ? Thì bạn sẽ biết vì sao tôi hiểu.
Bây
giờ các bạn gặp được sự giảng giải Chú Ðại Bi, đều
là người có căn lành lớn, cho nên các bạn phải tự
mình bảo hộ căn lành của mình, tự mình thương tiếc
căn lành của mình, tự mình lợi dụng căn lành cố hữu
của bạn để học tập Phật pháp.
Hiện nay chúng ta sinh vào thời đại mạt pháp, tất cả
chư Phật rất ít đến thế giới nầy, tất cả Bồ Tát cũng
rất ít đến thế giới nầy. Vào thời đại mạt pháp, pháp
đã đến đoạn cuối, chẳng dễ gì gặp được chánh pháp,
cũng chẳng dễ gì gặp bậc tu hành. Cho nên lần này
tôi nghĩ ở Ðài Loan có Chùa mở đại giới đàn bèn gởi
năm người (năm vị đệ tử người Mỹ đầu tiên) đến Ðài
Loan thọ giới. Năm người này sau khi thọ giới xong
trở về nói :"Có rất nhiều người kêu họ đừng tu
hành". Bạn nghĩ xem, chúng ta là chúng sinh, không
tu hành thì làm sao có thể thành Phật đặng ? Làm sao
không tu hành mà có thể liễu đạo được ? Nếu bạn
chẳng tu hành mà có thể thành Phật, có thể liễu đạo
được thì lúc ban sơ Phật cũng chẳng cần tu khổ hạnh,
tham thiền đả tọa sáu năm ở tại núi Tuyết, sau đó
đến dưới cội bồ đề ngồi bốn mươi chín ngày, ban đêm
thấy sao mai mộc mà ngộ đạo. Ðức Phật còn phải tu
hành mới có thể thành Phật; chúng ta chúng sinh nếu
không tu hành thì làm sao có thể thành Phật ? Ai ai
cũng biết tu hành mới có thể thành Phật, song, người
tu hành thì rất ít; ai ai cũng biết không tu hành
thì sẽ đọa địa ngục, song, người chẳng tu hành thì
không biết bao nhiêu mà nói. Thời đại mạt pháp, nếu
chúng ta nghe thấy Phật pháp thì hãy dũng mãnh tinh
tấn, từng giờ từng phút, đừng nên lười biếng, tinh
tấn dụng công tiến về trước, mới có thể có sự thành
tựu. Nếu chẳng dũng mãnh tinh tấn mà muốn thành tựu,
thì không bao giờ có được. Cho nên mọi người đừng sợ
khổ, đừng sợ khó khăn, trong sự bận rộn, phấn chấn
tinh thần lên, phải hăng hái tu hành, dũng mãnh dụng
công tiến về trước để nỗ lực học Phật pháp.
Phật pháp mà tôi nói rất diệu, song, nếu bạn chẳng
tin thì đối với bạn cũng chẳng có ích lợi. Phật pháp
mà tôi nói, nói đến nỗi chẳng có ý nghĩa gì hết, mà
bạn thật tâm tu hành thì đối với bạn cũng là diệu
pháp; diệu pháp mà tôi nói nếu bạn chẳng thực hành
thì đối với bạn cũng chẳng phải là diệu pháp. Cho
nên chúng ta tu hành phải từng giờ từng phút tinh
tấn tiến về trước, đừng lùi về sau, đừng sinh tâm
lười biếng, đây là điều quan trọng nhất. Nếu từng
giờ từng phút bạn tinh tấn tiến về trước thì chắc
chắn có một ngày bạn sẽ nhận ra bộ mặt thật của bạn.
Vào
thời vua Lương Võ Ðế, Thiền Sư Chí Công là bậc tu
hành có đức hạnh, chẳng có ai biết cha mẹ của Ngài
là ai. Một ngày nọ, có một phụ nữ nghe tiếng trẻ con
khóc ở trên cây, bèn trèo lên cây thì thấy đứa bé
nằm trong tổ chim ưng, bà ta bồng em bé về nhà nuôi
dưỡng. Em bé này tướng mạo tựa như hình người ,
song, tay chân tựa như móng chim ưng. Lớn lên rồi
xuất gia tu đạo, khai ngộ đắc ngũ nhãn lục thông. Vì
chẳng có ai biết cha mẹ của Ngài là ai, lượm Ngài từ
tổ chim ưng, cho nên một số người đều cho rằng Ngài
từ trứng chim nở ra.
Vào
thời đó, vua Lương Võ Ðế rất tin tưởng Thiền Sư Chí
Công, mà một số người khác cũng rất tin Ngài, bất cứ
trường hợp gì, nào sinh đẻ, bạn bè chết, đám cưới,
tang lễ .v.v., họ đều thỉnh mời Thiền Sư Chí Công đi
tụng Kinh. Một lần nọ, có một gia đình giàu có thỉnh
Thiền Sư Chí Công đến tụng Kinh cho cuộc hôn nhân và
thỉnh Ngài trong cuộc hôn lễ nói vài câu cát tường,
khiến cho cuộc hôn nhân thuận lợi tốt đẹp.
Thiền Sư Chí Công đến đó, vừa thấy chú rể và cô dâu
bèn nói :"Cổ cổ quái, quái quái cổ, tôn tử thú tổ
mẫu". Nghĩa là sự việc này xưa nay chẳng có, đây là
sự việc chẳng tầm thường, việc rất kỳ quái, ai đời
cháu lại cưới bà ngoại. Trên thế giới này, mọi người
làm vợ chồng với nhau, làm cha con với nhau, làm mẹ
con với nhau. Nếu bạn chẳng biết nhân duyên trong
đời quá khứ thì bạn chẳng hiểu rõ tại sao ông nội
của bạn trong kiếp trước, đời nay đến kết hôn với
bạn ? hoặc là bà ngoại của bạn lại đầu thai làm con
của bạn ? Ðây hoàn toàn không nhất định.
Sự
việc "cháu cưới bà ngoại" này, là vì trước khi bà
ngoại qua đời, bà ta nói với mọi người :"Cháu của ta
chẳng còn cha mẹ của nó, tương lai ai sẽ săn sóc cho
nó ? Vợ tương lai của nó có tốt với nó chăng ? Tôi
thật rất lo cho nó lắm !".
Ngài Chí Công tại sao biết được? Vì Ngài Chí Công có
ngũ nhãn lục thông, khi Ngài vừa gặp cô dâu chú rể
thì cô dâu vốn là bà ngoại, vì bà ta một niệm buông
xả chẳng đặng, cho nên phải trở lại làm vợ của người
cháu.
Thiền Sư Chí Công lại nhìn mọi người thì thấy có một
cô con gái cầm miếng thịt ăn, Ngài lại nói :"Con ăn
thịt mẹ". Miếng thịt mà cô con gái đang ăn, vốn là
thịt của mẹ cô đầu thai làm dê, bây giờ con dê này
bị giết, cô ta cầm thịt dê này lên ăn.
Ngài liền nhìn người đánh trống bèn nói :"Con đánh
trống cha". Da trống này chính là cha của anh ta đầu
thai làm lừa, con lừa này bị giết, lấy da bịt làm
trống.
"Lục thân nấu trong nồi", thân tộc bên cha, thân tộc
bên mẹ, thân tộc bên anh bên em, tất cả bạn bè, thân
hữu trước kia ăn thịt heo, thịt dê, bây giờ đều biến
thành heo, dê, lại bị họ giết bỏ vào nồi nấu.
"Mọi người đến chúc mừng". Mọi người đến đó, thấy
anh ta cưới cô dâu đều nói :"Chúc mừng anh !" Người
này đến chúc mừng, người kia đến chúc mừng, cảnh
trạng như thế, "tôi thấy đó là khổ", tôi thấy cảnh
trạng như thế, tức là tạo nghiệp; tạo nghiệp nghĩa
tức là khổ.
Do
Ngài Chí Công nhìn thấu nhân quả của gia đình đó.
Gia đình đó thì như thế, còn những gia đình khác,
làm sao mà biết chẳng phải như thế ? Cho nên người
tu đạo thì phải cẩn thận; lúc trồng nhân không cẩn
thận thì khi hết quả phải gánh lấy. Vậy con người
tại sao lại làm người ? Chúng ta làm người là đến để
trả nợ. Trả nợ gì ? Trả nợ luân thường, trả nợ nhân
quả thế gian. Bạn còn món nợ này thì phải trả món nợ
này, bạn không trả thì không được, cũng như chúng ta
mượn tiền của người thì phải trả tiền cho người; bạn
không trả thì nợ không dứt được. Con người trên thế
gian cũng như thế.
Tôi
lại nhớ đến một câu chuyện. Có một gia đình nọ nuôi
một con lừa, hằng ngày bắt con lừa chuyên chở nặng
nề. Anh ta thấy con lừa đi chậm thì hằng ngày đều
dùng cây chổi tre đánh con lừa, ngày nào cũng đánh,
kêu nó làm cho anh ta. Một đời làm xong rồi thì con
lừa đó tái sinh làm người đàn ông; còn người đàn ông
đánh con lừa đó thì tái sinh làm người đàn bà. Hai
người này kết hôn với nhau. Kết hôn rồi bạn nói xảy
ra chuyện gì ? Người đàn ông này suốt ngày cứ đánh
người đàn bà này, bất cứ cầm cái gì thì đánh cái đó,
hoặc là cầm đũa ăn cơm thì lấy đũa đánh, suốt ngày
đánh chưởi nói cô ta làm gì cũng không đúng.
Quả
nhiên cô ta dẹp hết đồ đạc lại, chồng của cô ta về
cũng chẳng nói năng gì thì muốn đánh cô ta, đi tìm
đồ để đánh thì chẳng thấy, chỉ thấy phất trần bằng
đuôi ngựa bèn lấy đánh. Trước kia anh ta đánh thì cô
ta chạy, song, lần này đánh thì cô ta ngồi tại chỗ
chịu đánh. Khi anh ta đánh xong rồi thì anh ta hỏi
:"Sao lúc trước tôi đánh thì bà bỏ chạy, còn hôm nay
tôi đánh thì bà sao chẳng bỏ chạy ?" Cô ta nói :"Ông
không biết đâu, sở dĩ ông đánh tôi là có tiền nhân
hậu quả. Hôm nay Thiền Sư Chí Công đến đây, tôi
thỉnh giáo Ngài, tại sao ngày nào ông cũng đánh tôi
? Thì Ngài nói với tôi, kiếp trước ông là một con
lừa, còn tôi là một người đàn ông, nuôi con lừa đó
dùng để chở đồ, vì con lừa đi chậm nên hằng ngày tôi
đều đánh con lừa đó; kiếp này ông đầu thai làm người
đàn ông, còn tôi biến thành người đàn bà, hai người
kết hôn, cho nên hằng ngày ông đều đánh tôi. Ngài
dạy tôi để cây phất trần ở đó, đợi ông về đánh tôi
thì tôi đừng bỏ chạy. Hôm nay ông đánh xong rồi thì
sự tình của chúng ta chẳng còn nữa, về sau chẳng còn
đánh nữa". Người chồng nghĩ :"Thì ra là như thế, từ
nay về sau tôi không đánh nữa, nếu ngày nay tôi đánh
bà thì ngày sau bà sẽ đánh tôi". Từ đó về sau hai vợ
chồng chẳng còn đánh nhau nữa.
Từ
đó có thể thấy, trên thế gian này ai với ai có duyên
hoặc không có duyên, ai với ai là vợ chồng, cha con,
anh em thì trong quá khứ đều có nhân quả, cho nên
đời này mới làm quyến thuộc. Nếu chúng ta minh bạch
nhân quả thì hãy sửa đổi nhân quả; phải làm việc
tốt, đừng làm việc xấu.
Lúc
trước tôi có nói Thiền Sư Chí Công mỗi ngày ăn hai
con bồ câu, ngày nào cũng đều ăn như thế. Người làm
bếp nghĩ rằng thịt bồ câu chắc rất là ngon, một ngày
nọ trong sự "hữu ý vô ý". Hữu ý vô ý là gì ? Nghĩa
là muốn thưởng thức, ở đây có hai ý nghĩa : Một là
không biết hôm nay nấu như thế nào ? Hai là cho rằng
Thiền Sư Chí Công ngày nào cũng ăn bồ câu, chắc chắn
là rất ngon. Do đó, bèn thưởng thức rồi mới mang đến
cho Ngài Chí Công. Ngài Chí Công ăn con bồ câu này
bèn hỏi :"Hôm nay ai ăn lén bồ câu của ta ?". Người
làm bếp nói :"Chẳng có ai ăn lén đâu". "Chẳng có ai
ăn lén ? Chắc chắn là ngươi ăn lén". Người nấu bếp
chẳng chịu nhận, nói :"Tôi không ăn". Ngài Chí Công
nói :"Ngươi chẳng ăn ? Ta chứng cứ cho ngươi xem thử
ngươi có ăn hay chăng ?" Ngài bèn hả miệng ra thì
phun ra hai con bồ câu, có một con bay được, còn một
con chẳng có cánh, bay không được. Ngài nói :" Ngươi
xem đi, nếu ngươi chẳng ăn lén cánh bồ câu thì sao
con bồ câu này bay không được ? Vậy cánh của nó
đâu?". Người làm bếp từ đó mới biết Ngài Chí Công
chẳng phải là người tầm thường, là Bồ Tát hóa thân.
Cho nên ăn bồ câu nấu chín rồi mà vẫn có thể biến
thành bồ câu sống. Nếu chẳng phải cảnh giới của Bồ
Tát thì sao lại có cảnh trạng này ?
Ngài Thiền Sư Chí Công vẫn thường thường ăn một loại
cá, thứ cá này gọi là ‘huệ ngư’. Ngài ăn cá này,
cũng đã nấu chín ăn vào bụng, sau đó vẫn có thể phun
ra biến thành cá sống. Ðó là cảnh giới của bậc Bồ
Tát, đó đều là việc rất bình thường. Giống như Ngài
Chí Công Thiền Sư là Bồ Tát chân chánh. Song, Thiền
Sư Chí Công vốn chẳng nói với ai rằng :"Bạn biết tôi
chăng ? Tôi là Bồ Tát, tôi muốn làm gì thì làm".
Ngài chẳng bao giờ nói như thế. Cho nên chúng ta
phàm phu thấy được Bồ Tát cũng chẳng nhất định biết
rõ. Việc Bồ Tát làm với mọi người đều giống nhau,
chỉ khác một chỗ là đa số mọi người làm chỉ biết lợi
mình, chẳng giúp đỡ người khác; còn Bồ Tát thì lợi
ích cho kẻ khác. Cho nên Bồ Tát khác với phàm phu là
ở chỗ này. Bồ Tát thì tự lợi lợi tha, tự giác giác
tha, tự độ độ tha. Chúng ta giảng Chú Ðại Bi, ý
nghĩa trong Chú cũng đều là đạo lý này.
"Tát Bà" : là tiếng Phạn, dịch là "tất cả". Tất cả ở
đây nghĩa là "bình đẳng", do đó "Tát Bà" tức là nói
"tâm bình đẳng".
"A
Tha Ðậu" : Cũng là tiếng Phạn, dịch là "giàu sướng
không nghèo". Giàu là giàu có, sướng là sung sướng.
Tại sao giàu có sung sướng ? Vì không nghèo. Ðó là
một lối dịch. Còn có một lối dịch khác là "như ý bất
diệt". Như ý tức là bạn nghĩ gì thì theo ý của bạn
mà thành tựu; bất diệt, nghĩa là thành tựu theo như
ý, vĩnh viễn không tiêu diệt. Ở trong mười thứ tâm
này, là nói về "tâm vô vi". Tâm vô vi này tức là
giàu sướng không nghèo, cũng là như ý bất diệt.
"Du
Bằng": Cũng là tiếng Phạn, dịch ra là "nghiêm tịnh
vô ưu". Nghiêm tức là trang nghiêm; tịnh là thanh
tịnh. Tức trang nghiêm lại thanh tịnh, thanh tịnh
lại trang nghiêm, cho nên chẳng có ưu sầu. Nghĩa là
nói về "tâm vô kiến thủ", kiến thủ là thuộc về một
trong năm lợi sử, bạn nhìn thấy thì trong tâm có sự
thủ trước nên gọi là tâm kiến thủ.
Trong Tâm Kinh có phải có "Vô Ðẳng Ðẳng Chú" chăng ? Vô đẳng tức là chẳng có gì có thể bình đẳng được với Ngài, Ngài là ai ? là "Bà Già". Bà Già cũng là tiếng Phạn, dịch là "Thế Tôn", tức cũng là mười phương chư Phật.
"Án" : Ở trên đã giảng rồi. Bạn đọc chữ Án này thì
tất cả quỷ thần đều chắp tay cung kính, nghe hiệu
lệnh của bạn. Chữ Án này sinh ra những ý nghĩa dưới
đây. Quán âm là gì ? Tức là quán âm thanh thế gian. Dùng gì để quán ? Ngài dùng trí huệ để quán sát tất cả âm thanh thế gian. Âm thanh thế gian có rất nhiều thứ, Bồ Tát Quán Âm quán âm thanh khổ của thế gian, âm thanh bi của thế gian, âm thanh thọ nạn của mọi người ở thế gian, cho nên gọi là Quán Âm.
Câu
Chú này của Bồ Tát Quán Thế Âm, "định huệ không hai,
định huệ đều đủ, vạn hạnh nghiêm thân". Ðịnh cũng
đủ, huệ cũng đủ. Huệ đủ thì định đủ, định đủ thì huệ
đủ. Vì có định mới phát huệ, có trí huệ mới tu định.
Nếu chẳng có định thì chẳng có huệ, chẳng có huệ thì
cũng chẳng có định.
Vị
Bồ Tát này, Ngài "chẳng bỏ một pháp nào", dù một
pháp Ngài cũng không dễ dàng bỏ qua, bất cứ việc
thiện lớn hay nhỏ đều làm hết. Cho nên có câu :
Bạn
có "bảo ấn" này thì chư thiên trên trời đều nghe
hiệu lệnh của bạn, quỷ vương dưới địa ngục cũng đều
nghe hiệu lệnh của bạn; bạn kêu họ như thế nào thì
họ như thế ấy. Bạn kêu họ thả người có tội ra thì họ
lập tức phải thả họ ra. Tại sao ? Vì bạn có mạng
lệnh này. Bảo ấn này cũng giống như ngọc tỷ của
hoàng đế; ấn ngọc tỷ của hoàng đế in vào trong chiếu
thư, phổ cáo thiên hạ, đến đâu thì mọi người đều
phải chiếu theo chiếu thư mà hành sự, chẳng có ai
dám phản đối. Bạn có Bảo Ấn Thủ này thì có thể lợi
ích tất cả chúng sinh; bạn kêu tất cả chúng sinh
được lợi ích gì thì họ sẽ được lợi ích đó, cho nên
dịch ra nghĩa là "lợi ích tất cả".
Người Trung Quốc hầu như đều có nghe rằng thần tiên
thời xưa có một cái ấn gọi là "phiên thiên ấn".
Huỳnh Thành Tử có phiên thiên ấn tức là cái ấn này;
Ðạo giáo gọi là phiên thiên ấn, ở tại Bồ Tát Quán
Thế Âm gọi là Bảo Ấn Thủ. Bạn dùng Bảo Ấn Thủ này tu
hành thì tu sẽ thành công; bạn mang theo bảo ấn này
dù người nào chết, hoặc sắp chết thì vua Diêm Vương
chẳng dám kêu họ chết, có diệu dụng có thể cải tử
hồi sinh. Song, bạn phải tu hành, nếu không tu hành
thì chẳng có ích lợi gì. Tu hành thành công thì
giống như bạn đi học, bắt đầu học từ tiểu học, trung
học sau đó lên đại học, đậu bằng bác sĩ. Bạn tu Bảo
Ấn Thủ thành công thì cũng giống như đậu được bằng
bác sĩ, song còn cao hơn nhiều.
Cho
nên "Tát Bà Tát Bà" tức là "lợi lạc tất cả", hay trợ
giúp tất cả chúng sinh, lợi ích tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh đều được khoái lạc. Bạn
thấy có diệu chăng ! Cho nên gọi là Bảo Ấn Thủ. Nếu
bạn muốn dùng Bảo Ấn Thủ này tu Bốn Mươi Hai Thủ
Nhãn (tay và mắt) thì "Tát Bà Tát Bà" là một Thủ
Nhãn trong Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn, ngoài ra còn có
bốn mươi mốt Thủ Nhãn nữa.
Có
người nghe tôi giảng Bảo Ấn Thủ có đại dụng như thế,
anh ta bèn nghĩ :"Tôi phải mau tu Bảo Ấn Thủ này; tu
xong rồi, tất cả mọi người sắp chết thì tôi đều
khiến cho họ đừng chết." Có thể được ! Bất quá bạn
đừng kêu người khác chết hoặc là thọ mạng đến lúc
chết thì không có ai có thể dùng ấn này được nữa.
Tại
sao anh ta muốn chặt cánh tay ? Vì mẹ của anh ta
bệnh nặng. Mẹ của anh ta bình thường hay hút nha
phiến, bệnh nặng đến độ chẳng hút nha phiến được
nữa. Nha phiến đã không thể hút được nữa thì đương
nhiên cũng chẳng ăn cơm được, chẳng uống nước được
nữa. Lưỡi cũng đã biến thành màu đen. Trung y, bác
sĩ Trung Quốc, bác sĩ ngoại quốc đều bó tay. Anh ta
nói :" Bồ Tát là linh cảm nhất, bây giờ tôi đến Chùa
Tam Duyên, chặt cánh tay của tôi xuống để cúng dường
Phật; dùng tâm thành này để cầu Phật gia hộ cho mẹ
của tôi khỏi bệnh". Ðến chùa rồi mở đao trong giấy
báo ra, tự mình duỗi cánh tay ra, còn tay kia thì
cầm đao muốn chặt tay; từ phía sau có người đến giữ
thanh đao của anh ta lại, nói :"Ê ! Anh làm gì thế ?
Ðừng có tự sát, tại đây không nên tự mình giết mình
!" Anh ta nói :"Tôi vì mẹ của tôi bệnh nặng, tôi
phải chặt cánh tay của tôi xuống để cúng Phật, Thầy
đừng cản trở tôi, đừng làm tôi không chặt được !"
Người đó cũng chẳng chịu buông đao ra, bèn đi báo
cáo với Hòa Thượng phương trượng (Thầy trụ trì), Hòa
Thượng phương trượng cũng chẳng có biện pháp. Ðương
lúc đó có vị cư sĩ tên là Lý Cảnh Hoa là hộ pháp đắc
lực nhất của Hòa Thượng phương trượng. Hòa Thượng
bèn sai Lý Cảnh Hoa đi tìm tôi nói:"Thầy ơi Thầy !
Có người đến muốn chặt cánh tay, vì mẹ của anh ta
bệnh nặng, Thầy hãy tìm cách giúp anh ta".
Lúc
đó tôi làm thủ tòa ở trong Chùa, ngoài Hoà Thượng
phương trượng ra tức là tôi. Lúc đó tôi còn là Sa
Di, chẳng phải như Sa Di hay ăn, Sa di hay ngủ, Sa
Di hay uống, chẳng phải như thế. Lúc tôi làm Sa Di
thì mọi người chẳng dậy thì tôi dậy; chẳng phải đợi
mọi người dậy mà mình thì chưa dậy. Việc người khác
không làm thì tôi làm.
Tìm
tôi rồi, tôi bèn nói với Hòa Thượng :"Họ đến tìm
Ngài, Ngài lại thêm phiền phức đến con, Ngài chẳng
lo mà kêu con lo". Hòa Thượng phương trượng nói
:"Con hãy từ bi, giúp anh ta".
Tuy
nhiên tôi chẳng muốn lo việc ấy nhưng Hòa Thượng đã
nói lời đó làm cho tôi rất cao hứng.
Tôi
nói :"Tốt, con đi đây". Tôi lại nói với anh muốn
chặt tay là Cao Ðức Phước :"Anh hãy về đi". Anh ta
leo lên xe đạp về nhà, anh ta đi xe phải đi đường
lớn, tôi thì đi đường nhỏ. Lúc đó mặt trời đã lặn
sớm khoảng năm giờ chiều, tôi nói :"Anh đi trước".
Anh ta nói :"Thầy có biết đường chăng ?". Tôi nói
:"Anh đừng lo cho tôi, anh hãy đi trước thì tốt
rồi".
Cách mười tám dặm đường, anh ta đạp xe đạp đi trước,
tôi thì cũng đi theo con đường nhỏ. Tôi đến nhà anh
ta mà anh ta chưa về tới ! Anh ta về đến nhà thì
thấy tôi nói : "Ồ ! Lạ quá, sao Thầy lại đến trước
con ?". Tôi nói :"Chắc trên đường đi anh ham chơi,
hoặc đá cầu, cho nên anh mới về nhà trễ". Anh ta nói
:"Không đâu ! Con đạp xe rất nhanh để về sớm mà !".
Tôi nói :"Hoặc là xe của anh chẳng nhanh bằng xe của
tôi, cho nên tôi đến trước".
Tôi
đi xem bệnh nhân, thật chẳng có cách nào sống lại
được, thử xem sao ! Ðến sáng sớm ngày thứ hai thì
dậy.
Mẹ
của anh ta vốn đã bảy tám ngày chẳng biết gì, cũng
chẳng nói, cũng chẳng nhận ra ai, gần như đã chết.
Ngày thứ hai thì bà ta ngồi dậy gọi tên con trai
lớn, ở nhà thường gọi anh Cao Ðức Phước :"Tụ ơi, Tụ
ơi, có cháo không, bây giờ mẹ muốn ăn cháo". Anh con
trai lớn cũng đã bảy tám ngày chẳng nghe mẹ của anh
ta gọi, bây giờ đột nhiên ngồi dậy được để gọi anh
ta, anh ta rất đỗi vui mừng. Anh ta chạy lại nói
:"Mẹ, mẹ bệnh trầm trọng đã nhiều ngày không nói
được, bây giờ mẹ có khỏe không ?". Mẹ của anh ta nói
:"Mẹ cũng chẳng biết bao nhiêu ngày rồi, mỗi ngày
đều ở trong chỗ tối tăm u ám, cũng chẳng có ánh sáng
mặt trời, mặt trăng, cũng chẳng có đèn lửa gì hết !
Chạy khắp nơi tìm chẳng được nhà, chạy đã rất nhiều
ngày khổ nhọc, kêu ai cũng chẳng có ai. Tối hôm qua,
mẹ nhìn thấy một vị Hòa Thượng nghèo, trên thân mặc
áo rách rưới, ông ta đưa mẹ về, cho nên hôm nay mẹ
muốn ăn cháo". Con của bà ta nghe mẹ nói như thế bèn
nói :"Hòa Thượng đó như thế nào ?". Bà ta nói :"Ông
ta rất cao, nếu nhìn thấy chắc sẽ nhận ra ngay". Lúc
đó tôi đang nằm trên cái bục ngủ, anh ta đi đến chỗ
của tôi ngủ chỉ nói :"Mẹ có biết vị Thầy này
chăng?". Bà ta nhìn chăm chăm nói :"Phải rồi, mẹ
thấy ông ta, ông ta đưa mẹ về".
Lại
thêm nhiều sự rắc rối ! Cả gia đình hơn mười người
đều đến quỳ ở trước tôi nói :"Thầy đã cứu mạng mẹ
của chúng con, cả gia đình chúng con lớn nhỏ đều xin
quy y với Thầy, sau này bất cứ Thầy có việc gì kêu
chúng con làm, chúng con đều hoan hỉ làm hết mình".
Ðó là tôi đã dùng qua một lần. Dùng qua một lần thì
bệnh khỏi, bạn nói như thế nào ? Sao lại nói nhiều
sự rắc rối đến ? Cả nhà đều đến lạy, về sau ở trong
làng đó, người này cũng nói có bệnh, người kia cũng
nói có bệnh, rất là nhiều bệnh nhân. Vì có nhân
duyên này nên tôi nói :"Các vị những người có bệnh
đều phải đánh". Lúc đó tôi cầm cây phất trần đánh
mỗi người ba cái, sau đó tôi hỏi những bệnh nhân
:"Các vị có còn bệnh chăng ?". Họ trả lời :"Hết đau
rồi, khỏi rồi". Tôi nói :"Các vị đều là bệnh đánh
đòn, để tôi đánh thì hết bệnh". Ðó là việc rắc rối
phiền phức ở tại Ðông Bắc (Manchuria) bên Trung
Quốc.
Còn
ở Hương Cảng là ai ? Tức là cha của cô Madelena Lew.
Cha của cô ta khoảng 79 tuổi, coi bói, xem tướng đều
nói ông ta nhất định phải chết, do đó ông ta bèn đến
ghi danh quy y. Khi quy y thì ông ta hỏi tôi :"Sư
Phụ, Ngài có thể làm tôi không chết chăng ?". Tôi
nói :" Ông thích không chết chăng ? Tốt, có thể
được, tôi để cho ông sống tới mười hai năm nữa được
không ?" Ông ta nói :"Ðương nhiên là tốt !", tôi
cũng làm cho ông ta việc này, về sau quả nhiên ông
ta sống thêm mười hai năm nữa. Song, vừa mới nói, dù bạn có pháp này cũng không thể dùng cho người chết. Nếu bạn cứu họ lại, không để cho họ chết thì tức là biến thành đối đầu với vua Diêm Vương. Vua Diêm Vương sẽ nói với bạn rằng :"Tốt ! Ông không để cho họ chết thì bây giờ tôi kêu ông chết trước". Khi bạn chết thì chẳng có ai thay bạn dùng ấn đó. Bạn nói :"Chính tôi dùng ấn đó cho tôi". Vậy thì không được. Tại sao ? Giống như một thanh đao, đây là bề lưỡi, kia là bề sống đao; đao của chính bạn không thể chặt bề sống đao . Dù bạn có pháp thuật, nếu chính bạn có việc gì tức cũng như Bồ Tát bằng đất sét đi qua biển, khó bảo vệ được thân mình, bạn bảo vệ cho mình chẳng được. Cho nên nếu có được pháp này còn phải tự mình tu hành. Vì vậy, cho nên hiện tại tôi chẳng lo việc nhàn rỗi, muốn chết thì chết, tôi chẳng lo, tôi sợ Bồ Tát bằng đất sét đi qua biển, thân mình khó giữ đặng.
Cho nên Thủ Nhãn này là Thủ Nhãn Châu Như Ý. Nếu bạn muốn phát tài thì bạn hãy tu Thủ Nhãn này. Nếu tu Thủ Nhãn này thành công rồi thì bạn muốn dùng gì cũng có, chẳng còn lo nghèo khổ nữa, luôn luôn đều giàu có. Trí huệ của bạn vô lượng vô biên, phước báu của bạn cũng vô lượng vô biên. Cho nên tăng trưởng phước huệ, cát tường như ý, tùy tâm như ý, bạn thấy nhiều sự diệu dụng vô cùng! Do đó trong 42 Thủ Nhãn thì Châu Như Ý liệt vào Thủ Nhãn hạng nhất; bảo châu như ý diệu không thể tả.
"Rị Ðà Dựng" là ‘Thanh Liên Hoa Thủ’, dịch ra là "liên hoa tâm". Nếu bạn tu Liên Hoa Thủ này thành công thì sẽ có hương thơm thanh liên hoa (hoa sen xanh), hay đến khen ngợi mười phương chư Phật, cũng rất vi diệu, không thể nghĩ bàn; thật có thể nói là : "Diệu pháp thâm sâu vô thượng, trăm ngàn ức kiếp khó gặp được".
Hiện tại chúng ta ở vào thời đại mạt pháp, cho rằng
chỉ đọc Chú Ðại Bi thì đắc được Phật pháp, kỳ thật
chẳng phải. Chú Ðại Bi là vì pháp 42 Thủ Nhãn mà
nói. Chỗ diệu của Chú Ðại Bi là 42 Thủ Nhãn, 42 Thủ
Nhãn cũng là toàn thể của Chú Ðại Bi. Nếu bạn chỉ
đọc Chú Ðại Bi mà chẳng tu 42 Thủ Nhãn thì cũng
giống như một người chỉ có tay mà chẳng có chân,
không thể đi được. Nếu bạn chỉ tu 42 Thủ Nhãn mà
chẳng tu Chú Ðại Bi thì đây cũng giống như người chỉ
có chân mà chẳng có tay, không thể cầm gì đặng, cũng
chẳng có dụng gì. Cho nên phải thông đạt 42 Thủ
Nhãn, sau đó bạn hãy tụng trì Chú Ðại Bi, thì sẽ
thật sự hiểu rõ diệu pháp của Phật.
Chú
Ðại Bi cũng chẳng phải chỉ nghe vị Thầy giảng thì
cho rằng :"Ta biết câu Chú đó như thế nào". Như vậy
cũng chẳng ích gì, giống như bạn chẳng có tay, chẳng
có chân, bạn chỉ có thân thể thì cũng vô dụng. Do đó
phải vừa có chân, vừa có thân thể này. Như thế mới
trợ giúp với nhau, hỗ tương thành tựu công đức của
bạn.
Bảo
Loa Thủ Nhãn này tức là tác pháp. Khi tác pháp thì
phải thổi loa. Một khi thổi thì ở trên trời cũng
nghe được, cho nên nơi nào nghe được thì nơi đó đều
kiết giới. Nơi nào nghe được âm thanh này thì đều là
phạm vi của ta, những yêu ma quỷ quái chẳng vào
được, đó gọi là kiết giới. Còn gọi là "tát ý trang
nghiêm", dùng loa này thổi, khi âm thanh của bảo loa
vang ra thì trời đất đều biến vàng làm đất, bảy báu
trang nghiêm, cho nên rất là vi diệu.
Có
người nói, tôi tin rằng gần ba trăm năm nay chẳng có
ai gặp được 42 Thủ Nhãn này, cho nên Phật pháp cũng
chẳng hưng thịnh, cũng chẳng có ai minh bạch. Bây
giờ chúng ta biết Chú Ðại Bi như thế, chúng ta phải
chuyên tâm nỗ lực để tu 42 Thủ Nhãn mới hữu dụng.
"Yết Mông" cũng là tiếng Phạn, đây là tiếng Phạn của
Ðại Phạm Thiên, chứ chẳng phải tiếng Phạn Ấn Ðộ, vì
văn Ấn Ðộ cũng căn cứ Phạm văn của Ðại Phạm Thiên.
Tiếng Phạn gọi là Yết Mông, dịch ra là nghĩa gì ?
Tức gọi là "biện sự". Biện là biện lý, sự là tất cả
mọi sự việc. Còn có lối dịch khác là "công đức".
Biện sự gì ? Tức làm việc công đức, làm việc công
đức này là việc công đức lợi ích cho người. Lợi ích
cho người cũng là lợi ích chính mình, cũng là việc
của Bồ Tát tự lợi lợi tha, tự giác giác tha. Làm các
việc công đức, các công đức tức là hết thảy tất cả
lục độ vạn hạnh đều bao quát ở trong đó. Dùng gì để
tu lục độ vạn hạnh ? Tức là dùng Bạch Liên Hoa Thủ
Nhãn.
Bạn
thường đọc Chú Ðại Bi, hoặc tu pháp 42 Thủ Nhãn thì
có thể làm các việc công đức, như thế thì tu lục độ
vạn hạnh mới có thể viên mãn, do đó mới thành tựu vi
diệu không thể nghĩ bàn, không thể tả. Nói thì nói,
cũng chẳng cách chi nói hết được sự diệu của nó, nếu
có thể nói hết chỗ diệu thì chẳng còn diệu nữa.
Không diệu thì có bờ mé, có thủy chung, còn diệu thì
chẳng có bờ mé, chẳng có thủy chung. Cho nên câu Chú
"Yết Mông" này có thể làm các việc công đức.
"Phạt Xà Gia Ðế". Ðây là Bàng Bài Thủ. Phạt Xà Gia
Ðế là tiếng Phạn, dịch ra nghĩa là "quảng bác nghiêm
tịnh", tức là vừa quảng bác vừa nghiêm tịnh. Còn có
lối dịch khác nghĩa là "quảng đại". Lại có lối dịch
khác nữa, nghĩa là "độ sinh tử". Nếu bạn tu Bàng Bài
Thủ thì có thể độ sinh tử; bạn chẳng tu Bàng Bài Thủ
thì không thể độ sinh tử. Cho nên có Bàng Bài Thủ
thì bạn có thể qua được biển khổ sinh tử, xuyên qua
dòng phiền não, đạt đến bờ Niết Bàn bên kia.
Ðây
là Thủ Nhãn gì ? Là Bảo Kích Thủ. Bảo Kích Thủ hay
hàng phục thiên ma, chế các ngoại đạo, có rất nhiều
dụng đồ. Hết thảy tất cả nghịch tặc mà bạn dùng Thủ
Nhãn này thì bảo hộ được quốc gia. Nếu nước khác
muốn xâm lược nước của bạn mà bạn tu pháp này thì có
thể trong vô hình làm cho kẻ địch thối lui.
Ðà
La Ðà La là Tịnh Bình Thủ, trong tịnh bình chứa nước
cam lồ. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng nhành dương liễu vẩy
nước cam lồ để đượm nhuần tất cả chúng sinh. Bất cứ
bạn có bệnh gì, nếu được Bồ Tát Quán Thế Âm rưới cho
bạn một giọt nước cam lồ thì mao bệnh của bạn sẽ
khỏi. Ðà La Ðà La dịch ra là "năng tổng ấn trì". Nghĩa là hay tổng ấn trì tất cả tâm chúng sinh. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng Cam Lồ Thủ Nhãn, Dương Chi Thủ và Tịnh Bình Thủ hợp lại để cứu độ khắp tất cả chúng sinh.
Thủ
Nhãn này là gì ? Gọi là Câu Thi Thiết Câu Thủ, gọi
tắt là Thiết Câu Thủ. Thiết Câu Thủ này hay sai
khiến tất cả quỷ thần, câu triệu tất cả quỷ thần.
Câu Thi Thiết Câu Thủ còn có thể sai khiến tất cả
các quỷ thần, trời rồng đều đến ủng hộ bạn. Bạn tu
pháp này thì bạn kêu rồng mưa thì rồng sẽ mưa; kêu
nổi gió thì sẽ nổi gió, kêu đừng mưa thì không mưa,
kêu không nổi gió thì không nổi gió. Có người nói
:"Ðiều này tôi không tin". Tôi giảng cho bạn nghe,
tức cũng là muốn kêu bạn không tin. Tại sao ? Vì tôi
kêu bạn không tin, tức là vì điều này.
Họ
nói :"Làm sao để trời có thể không mưa ?". Tôi nói
:"Bạn hãy thử xem, tôi có thể kêu trời đừng mưa
xuống". Gọi điện thoại xong thì trời hết mưa, cho
nên họ cảm thấy rất là kỳ lạ. Ðây là nhờ sức của Câu
Thi Thiết Câu thủ. Bạn giơ Câu Thi Thiết Câu Thủ ra
nói :" Này Long Vương, không cho phép các ông mưa
xuống". Thì rồng chẳng mưa xuống, tuyệt đối tuân
lệnh của bạn. Song bạn phải minh bạch Câu Thi Thiết
Câu Thủ và thường tu pháp này. Cho nên nếu rồng
không tuân lệnh, mà tiếp tục mưa xuống nữa thì bạn
có thể dùng Thiết Câu Thủ để móc rồng lại thì rồng
chẳng dám mưa xuống. Các bạn nghe điều này, giống như nói chuyện cười với các bạn. Các bạn nghe là chuyện cười cũng được, nghe là chuyện thật cũng được. Hiện tại tôi giảng Kinh cho các bạn là nói lời thật, đây chẳng phải là nói chuyện tiếu.
Còn có một ý nghĩa dịch ra nữa gọi là "hỏa diệm quang". Hỏa diệm quang cũng là hỏa quang. Hỏa quang là gì ? Hỏa này chẳng phải là lửa giận dữ, chẳng phải sinh lửa phiền não, chẳng phải lửa "Oh, I have too much temper". Phải do nước trí huệ sinh ra để thu phục lửa vô minh. Nước trí huệ hay hàng phục lửa vô minh, hiện ra trí huệ chân chính, đây gọi là "hỏa diệm quang". Bạn niệm "Thất Phật La Gia" tức sẽ phóng quang. Song nếu tự tại mới phóng quang, nếu bạn chẳng tự tại thì không thể phóng quang, bạn nên nhớ ở điểm này. Ðây là Thủ Nhãn gì ? Tức là Nhật Tinh Ma Ni Thủ Nhãn. Thủ Nhãn này có thể trị bệnh. Trị bệnh gì ? Trị bệnh mù mắt, mắt chẳng thấy được nữa, bạn có thể dùng Nhật Tinh Ma Ni Thủ Nhãn để trị, cho nên đây gọi là phóng quang.
Thủ Nhãn này gọi là gì ? Gọi là "Bảo Ðạc Thủ", tức là tay cầm cái chuông báu lắc, đây là Thủ Nhãn thứ ba mươi. Bảo Ðạc Thủ là một thứ âm nhạc, cầm lắc thì âm thanh "kẻng, kẻng, kẻng" vang ra. Tiếng vang này chấn động đến ba ngàn thế giới, đều "kẻng kẻng" lên. Bạn nghĩ muốn làm gì thì tất cả trời, người, quỷ thần, yêu ma đều phải nghe mệnh lệnh của bạn, đều phải giữ quy cụ. Giống như sắp động đất mà bạn lắc chuông báu lên thì khắp nơi đều phát ra hiệu lệnh :"Không được động đất !" thì không thể động đất. Sự diệu dụng của Bảo Ðạc Thủ rất lớn. Nếu muốn âm thanh ca hát hay thì cũng phải dùng Bảo Ðạc Thủ này. Tu Bảo Ðạc Thủ đến nơi rồi thì âm thanh của bạn rất hay giống như âm thanh của đại hồng chung, nói ra lời nói như âm thanh của tiếng đại hồng chung.
Thủ
Nhãn này gọi là "Bạch Phất Thủ". Ở Trung Quốc Ðạo
lão và các vị Hòa Thượng đều có cái phất trần, tức
là vật dùng để đuổi ruồi, song mỗi khi Pháp sư
thượng đường thuyết pháp đều cầm. Tôi cũng có một
cái phất trần do họ mang đến tặng, cái phất trần này
rất là cổ xưa, có từ vào thời nhà Hán. Phất trần này
dự bị để làm gì ? Có thể trừ tất cả chướng nạn ở
trên thân. Tất cả nghiệp chướng, bệnh tật của bạn mà
dùng phất trần quét một cái thì đều khỏi ngay. Dụng
đồ của phất trần rất lớn, song người biết dùng rất
ít.
"Phạt Ma La": Câu này là "hàng ma kim cang", trong
tay cầm một cái kim luân, vì đây là một vị Kim Cang,
thân có thể biến lớn như núi Tu Di. Phạt Ma La là tiếng Phạn, dịch ra nghĩa là "tối thắng ly cấu", tối thù thắng lại lìa khỏi nhơ bẩn. Còn có một nghĩa nữa gọi là "vô tỉ", không có gì sánh bằng, còn có một nghĩa nữa gọi là "như ý", toại tâm như ý. Ðây là Hóa Cung Ðiện Thủ Nhãn, có dụng đồ như thế nào ? Nếu bạn tu pháp Thủ Nhãn này thì có thể đời đời kiếp kiếp ở trong một cung điện với Phật, không thọ sinh thai, noãn, thấp hóa.
"Mục Ðế Lệ" cũng là tiếng Phạn, dịch ra nghĩa là
"giải thoát". Giải thoát cái gì ? Giải thoát tất cả
khổ nạn, giải thoát tất cả bệnh tật, giải thoát tất
cả việc bất như ý. Cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm dùng
nhành dương liễu để giải thoát mọi bệnh tật của
chúng sinh, giải thoát những hoạn nạn của chúng
sinh, giải thoát những việc bất như ý của chúng
sinh.
Thủ
Nhãn này, bên trong có vẻ giống như chẳng quan trọng
lắm, song nếu bạn tu thành công thì nhành dương liễu
này chẳng những giải thoát được bệnh tật, hoạn nạn,
việc bất như ý mà cũng có thể hàng phục được thiên
ma, khống chế các ngoại đạo. Tất cả thiên ma ngoại
đạo mà đắc được nước cam lồ của bạn thì họ tự nhiên
sẽ hồi tâm hướng thiện, cũng đều y giáo phụng hành.
Cho nên Thủ Nhãn này nói ra thì vô cùng vô tận, cũng
không thể nghĩ bàn.
Nước cam lồ của Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng những giải
trừ được hoạn nạn mà còn chữa khỏi tất cả bệnh tật
và giải thoát tất cả những việc bất như ý. Thậm chí
lúc bạn sắp chết, nếu bạn đắc được nước cam lồ của
Bồ Tát Quán Thế Âm thì có thể sống lại. Tất cả cây
khô, nếu dùng nước cam lồ rưới lên thì có thể sống
lại.
Trên họa đồ thì câu Chú này thuộc về Ma Hê Thủ La
Thiên Vương. Ma Hê Thủ La Thiên Vương là ma vương
của ngoại đạo, bổn lai y cho rằng y lớn nhất, chẳng
ai lớn bằng y; song y nghe đến câu Chú này thì phải
chắp tay lại y giáo phụng hành, nếu y chẳng y giáo
phụng hành thì không được. Cho nên bạn niệm câu chú
"Y Hê Di Hê" này thì Ma Hê Thủ La Thiên Vương sẽ
đến, lúc này, trong tâm của bạn nghĩ làm việc gì,
kêu y đi làm thì y có thể lập tức y giáo phụng hành.
"Ðộc Lâu Trượng" là gì ? Ðộc Lâu tức là cái đầu lâu
của con người. Bồ Tát Quán Thế Âm dụng câu Chú này
để gia trì tu luyện cái đầu lâu; tu luyện thành rồi
thì gọi là Ðộc Lâu Trượng. Một khi cầm Ðộc Lâu
Trượng lên thì tất cả quỷ thần đều phải nghe mệnh
lệnh, nghe gọi đến; nếu không nghe mệnh lệnh thì
phải bị phạt. Do đó sức lực câu Chú này không thể
nghĩ bàn.
Ðại
trí huệ này là Bảo Kính Thủ Nhãn ở trong 42 Thủ
Nhãn. Bảo Kính là gương báu, cũng là ví dụ ‘đại viên
cảnh trí’ của Phật. Ðại viên cảnh trí của Phật cũng
giống như Bảo Kính Thủ. Do đó dịch ra ý nghĩa gọi là
đại trí huệ. Còn gọi là hoằng thệ nguyện. Hoằng cũng
là lớn.
Ðại
trí huệ là gì ? Chúng sinh thì khởi vọng tưởng, còn
Phật thì không có vọng tưởng. Sự nghĩ của Phật là do
trí huệ phát ra, là trí huệ Bát Nhã chân chánh. Trí
Bát Nhã là một thứ trí đại quang minh, một thứ đại
quang minh. Vì sao có đại quang minh ? Vì có trí huệ
chân chánh. Nếu chúng ta có trí huệ chân chánh thì
có quang minh, nếu người ngu si thì họ sẽ đen tối.
Quang minh tức là ánh sáng mặt trời, đen tối tức là
âm khí. Vì sao bạn ngu si ? Vì bạn âm khí quá thạnh.
Vì sao bạn thông minh ? Vì bạn thạnh ánh sáng mặt
trời. Cho nên đại trí huệ này chẳng giống như tư
tưởng của một số người; mà biện rõ được thị phi,
chẳng cần hỏi ai, thấy thì biết ngay :"Như thế này
thì không đúng, như thế kia thì đúng". Ðường không
đúng thì không đi, đường đúng thì tiến bước tu hành.
Tu
hành trước hết phải có đại trí huệ, có đại trí huệ
thì biện rõ được thị phi, biết "phải đạo thì tiến,
trái đạo thì lùi". Bạn không thể biết rõ đây là việc
không đúng mà bạn vẫn muốn làm. Bạn biết rõ là phạm
giới mà bạn vẫn muốn thử xem có phạm hay không phạm,
đó là ngu si nhất, chẳng có trí huệ. Bạn nói :"Chẳng
phải ! tôi có trí huệ, song lúc đó lỡ làm sai". Lúc
đó bạn làm sai thì lúc đó là ngu si, tức là chẳng có
trí huệ; người có đại trí huệ thì chẳng nghĩ tưởng
điên đảo. Cho nên Ngài A Nan mới nói :"Tiêu ngã ức
kiếp điên đảo tưởng, bất lịch tăng kỳ hoạch pháp
thân." Nghĩa là :"Tiêu diệt nghĩ tưởng điên đảo của
con trong ức kiếp, chẳng trải qua số kiếp A tăng kỳ
mà đắc được pháp thân". Ức kiếp ở đây chẳng phải là
một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, năm kiếp hoặc là một
trăm kiếp, một ngàn kiếp, một vạn kiếp mà nói không
ra bao nhiêu đại kiếp.
Tại
sao trong tâm của chúng ta có nhiều vọng tưởng? Vọng
tưởng trước diệt thì vọng tưởng sau sinh ra, vọng
tưởng sau diệt thì vọng tưởng sau nữa lại sinh ra,
giống như sóng biển. Sóng ở trong biển tức là vọng
tưởng của con người; vọng tưởng của chúng ta tức
cũng là sóng ở trong biển. Bạn thấy biển thì cho
rằng nó là vật chết, phải chăng? Biển không ra khỏi
tâm của chúng ta, chúng sinh đều ở trong tâm của
chúng sinh. Bạn thấy sóng trong biển không ngừng,
vọng tưởng của chúng ta cũng giống như sóng, cái này
diệt thì cái khác đến, cái khác nữa lại đến, vô cùng
vô tận, nối tiếp không ngừng, cái sau theo cái
trước, ai cũng chẳng lạc về sau, đều nghĩ chạy về
phía trước, đó là vọng tưởng.
Tại
sao lại có vọng tưởng? Vì chẳng có trí huệ. Nếu bạn
có trí huệ thì sóng cũng chẳng có, "sóng yên, gió
lặng", trong biển chẳng có sóng cũng giống như người
tu hành đắc được định lực. Một khi đắc được định lực
thì nước trí huệ sẽ hiện tiền, chẳng có sóng, chẳng
có vọng tưởng. Lúc đó mới thật là thanh tịnh, thật
là chẳng nhiễm một bụi trần, vạn tư lự đều không, đó
là biểu hiện đại trí huệ hiện tiền. Người có đại trí
huệ thì làm việc gì cũng đều thành công; còn người
chẳng có trí huệ thì làm việc gì cũng đều thất bại,
cho nên trí huệ là quan trọng nhất.
Song do vô minh làm ra việc sai mà mình còn không
thừa nhận là vô minh, họ nói "I know ! Tôi biết".
Biết mà còn làm sai ? Bạn thấy có kỳ quái chăng ? Ðó
tức là người ngu si ! Chẳng có đại viên cảnh trí tức
cũng chẳng tu Bảo Kính Thủ Nhãn. Nếu bạn có Bảo Kính
Thủ Nhãn thì không ngu si. Bất cứ những gì đến, ma
đến thì chém ma, Phật đến thì chém Phật, giống như
bạn cầm một thanh kiếm bén, bất cứ việc gì đến thì
thanh kiếm đều chặt đứt. Ðại trí huệ cũng giống như
thanh kiếm báu.
Có
người nói thanh kiếm trí huệ rất nặng, chẳng dễ gì
cầm lên. Bạn không cầm, chứ nếu bạn cầm thì chẳng
phí sức; bạn không cầm thì nhẹ cũng là nặng; bạn cầm
lên thì nặng cũng là nhẹ. Tại sao? Bạn cầm lên thì
nặng cũng biến thành nhẹ. Nếu bạn cầm thanh kiếm trí
huệ lên thì tất cả cảnh giới đến đều chém sạch, việc
gì cũng chẳng có vấn đề. Cho nên tôi thường nói
:"Everything’s ok", tức cũng là đạo lý này. Nếu bạn
không thể nào everything's ok thì bạn chẳng có thanh
kiếm trí huệ, cho nên bạn không thể okay được. Nếu
bạn có thanh kiếm trí huệ thì việc gì cũng chẳng có
vấn đề. Bạn thấy bất cứ vấn đề gì mà gì cũng đều
chẳng có vấn đề, đó là chỗ diệu.
Trên thế giới này, hết thảy tất cả sơn hà đại địa,
nhà cửa, y báo, chánh báo đều không ra ngoài một tâm
niệm hiện tiền của chúng ta. Y báo là gì ? Tức là
sơn hà đại địa, nhà cửa phòng ốc. Chánh báo là gì ?
Tức là thân thể của chúng ta đang thọ quả báo ở đây.
Nếu bạn minh bạch thì tức cũng chẳng có vô minh;
chẳng có vô minh tức là có đại trí huệ. Cũng giống
như tấm gương, "vật đến thì chiếu", cảnh vật gì đến
đều hiện ra; "vật đi thì lặng", cảnh vật đi rồi thì
chẳng còn nữa.
Người có trí huệ thì biết được tất cả mọi vật đều ở
trong tâm của mình, cho nên cũng chẳng có tâm tham,
chẳng có tâm sân, chẳng có tâm si, chẳng có tâm ngã
mạn, chẳng có tâm hoài nghi. Tại sao? Ðó đều là duy
tâm sở hiện ! Ở trong tâm vốn có mọi vật, bất cứ vật
tốt cũng chẳng có vấn đề, vật xấu cũng chẳng có vấn
đề, tất cả đều chẳng có vấn đề.
Song, cảnh giới này nói ra rất là dễ dàng, khi làm
cũng phải dùng một chút công phu mới có thể đắc
được. Cảnh giới này nếu người chẳng có công phu thì
sẽ nói :"Ðối với tất cả mọi việc tôi cũng chẳng có
vấn đề gì". Bên ngoài chẳng có vấn đề, song bên
trong phát sinh vấn đề, ở bên trong của bạn với bạn
đánh nhau. Do đó người có trí huệ chân chánh rất là
ít.
Hơn
nữa, nếu người đó có đại trí huệ thì hãy xem là trí
huệ thế gian hay là trí huệ xuất thế gian. Trí huệ
thế gian tức là thế trí biện thông, họ rất khéo ăn
khéo nói, chẳng có đạo lý, họ cũng nói rất có đạo
lý. Người chẳng có trí huệ nghe thì cho rằng :"Họ
nói rất có đạo lý, không sai ! Lời họ nói rất hay".
Kỳ thật, nếu người có trí huệ chân chánh thì chẳng
nghe những lời của kẻ ngu nói. Họ nói đạo lý ngu si
thì không thể ở trong ngu si của bạn, đây gọi là
"trong dương có âm", trong trí huệ có ngu si, là
"trong âm cũng có dương", trong ngu si cũng có trí
huệ. Ví như người nào đó, bạn thấy ông ta chẳng nói
nhiều, cũng là một người rất bình thường, song ông
ta làm việc gì cũng đều hợp đạo lý; thấy ông ta có
vẻ rất ngu si, dốt nát song ông ta làm gì cũng rất
chánh đáng. Có rất nhiều trường hợp như thế, cho nên
bạn quán sát người thì hãy xem bạn có trí huệ chân
chánh chăng ! Nếu bạn có trí huệ chân chánh thì
không nghe lời kẻ ngu nói, còn nếu bạn chẳng có trí
huệ chân chánh thì sẽ bị người làm cho ngu. Trí huệ
là như thế, những thứ khác cũng như thế.
Trí
huệ và ngu si có mối quan hệ với nhau. Bạn chẳng có
ngu si tức là trí huệ, nếu không có trí huệ thì tức
là ngu si. Ngu si tức là trí huệ, trí huệ tức là ngu
si. Trí huệ và ngu si là một, bạn dùng được tức là
trí huệ; không dùng được tức là ngu si. Giống như
bạn vốn có kiếm trí huệ này, bạn cầm lên tức là trí
huệ, buông xuống tức là ngu si, chẳng phải hai mà là
một. Do đó bạn đừng nói rằng :"Ði tìm trí huệ, xua
đuổi ngu si đi". Chẳng phải, mà là biến. Ví như lòng
bàn tay là trí huệ, mặt trái bàn tay là ngu si. Nếu
bạn dùng mặt trái bàn tay cầm đồ thì không cầm được;
song bạn dùng lòng bàn tay cầm đồ thì cầm được. Cầm
đồ lên không được là ngu si, cầm đồ lên được là trí
huệ.
Ai
ai cũng đều dùng bàn tay, trí huệ cũng giống như
thế; nó là một, song là hai bên, xem bạn dùng bên
nào. Bây giờ bạn đã hiểu chăng? Có người nói :"Tôi
đã hiểu Phật pháp, trí huệ và ngu si tức là bàn
tay". Sai rồi! Ðó là tôi ví dụ bàn tay, bạn đừng cho
rằng trí huệ và ngu si tức là bàn tay; cũng giống
như ngón tay chỉ mặt trăng, bạn đừng cho rằng đầu
ngón tay là mặt trăng.
Bây
giờ giảng về đại trí và hoằng thệ. Hoằng cũng là đại
(lớn). Thệ là thệ nguyện, tức là ta phát thệ nguyện,
nghĩ muốn làm gì. Giống như Phật A Di Ðà trước khi
chưa thành Phật, làm Tỳ Kheo Pháp Tạng phát ra 48
lời thệ nguyện, đó là thệ nguyện của Phật A Di Ðà.
Bồ
Tát Phổ Hiền phát ra ‘mười đại nguyện vương’ rằng
:"Một là lễ kính chư Phật, hai là khen ngợi Như Lai,
ba là rộng tu cúng dường, bốn là sám hối nghiệp
chướng, năm là tùy hỉ công đức, sáu là thỉnh Phật
chuyển pháp luân, bảy là thỉnh Phật ở lại đời, tám
là thường theo Phật tu học, chín là luôn luôn thuận
theo chúng sinh, mười là hồi hướng công đức đến khắp
hết thảy chúng sinh. Bồ Tát Quán Thế Âm cũng phát nhiều thệ nguyện. Các vị Tổ Sư khác cũng phát nhiều thệ nguyện. Chúng ta bây giờ học Phật pháp, mỗi người cũng nên phát nguyện của mình. Tôi nói với các bạn, bất quá phát hay không là do các bạn, chẳng phải tôi ép các bạn phát nguyện, phải do các bạn tự phát nguyện. Vì các bạn chẳng hiểu nên tôi khuyên. Bạn phát nguyện càng lớn thì càng tốt, nguyện lực của bạn lớn thì thành Phật cũng rất lớn. Bạn thấy Phật A Di Ðà phát 48 lời nguyện, nguyện nào cũng đều độ chúng sinh, nguyện nào cũng trang nghiêm cõi nước. Cho nên chúng ta tại nhân địa học Phật pháp đều nên phát nguyện. Mỗi người có thể biên lời nguyện của mình ra, bạn phát ra bao nhiêu lời nguyện thì biên ra rõ ràng, đừng cẩu thả bừa bãi, nói như vầy :"Tôi phát nguyện độ chúng sinh". Ðộ như thế nào ? Bạn suốt ngày đến tối cứ nghĩ muốn ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà tốt, đi độ chúng sinh này chăng ? Kết quả là độ chúng sinh của chính mình, độ cái bụng chúng sinh của mình, độ chúng sinh thân thể của mình, như thế thì không được. Bạn phải nói rõ ràng lời nguyện của bạn phát ra, tương lai như thế nào ? Hiện tại ra sao ? Quá khứ, hoặc là có dụng công, chẳng dụng công, có tu hành, chẳng tu hành, đây chẳng thành vấn đề, chỉ hỏi bạn tương lai phải như thế nào ? Bạn phát nguyện càng lớn thì quả vị tương lai cũng lớn.
Thủ
Nhãn này là "Chưởng Thượng Hóa Phật Thủ Nhãn". Bạn
tu pháp này thì đời đời kiếp kiếp đều luôn luôn theo
chư Phật tu học, luôn luôn sinh vào chỗ của chư
Phật.
Ở
Ðài Loan cũng có vị Pháp sư nào đó giảng Chú Ðại Bi,
mỗi một Thủ Nhãn ông ta đều giảng thành một vị Bồ
Tát. Ví như "Chưởng Thượng Hóa Phật Thủ Nhãn" thì
ông ta nói là "Chưởng Thượng Hóa Phật Bồ Tát Thủ
Nhãn". Ðó là sai một ly đi một dặm. Tại sao? Vì vốn
chẳng có tên vị Bồ Tát này ! Bạn hãy mở toàn bộ Ðại
Tạng Kinh ra, từ đầu đến cuối chẳng có một Bồ Tát
nào gọi là "Chưởng Thượng Hóa Phật Bồ Tát", chẳng
có. Bạn có thể nói như vầy :"Bồ Tát tu Chưởng Thượng
Hóa Phật Thủ Nhãn"; ý nghĩa này khác nhau. Bạn đem
tên của Thủ Nhãn làm tên cho Bồ Tát, như thế thì
chẳng có căn cứ, chẳng có căn cứ thì bạn tìm không
ra tên của Bồ Tát này.
Giống như câu này ông ta cũng nói :"Như Ý Châu Bồ
Tát Thủ Nhãn". Như ý châu là tên của hạt châu, hoặc
là có một vị Bồ Tát cũng gọi tên đó, song 42 Thủ
Nhãn chẳng phải là tên của 42 vị Bồ Tát, chẳng phải.
Ở đây chỉ có thể nói "Bồ Tát tu Như Ý Châu Thủ
Nhãn", không thể nói :"Như Ý Châu Bồ Tát Thủ Nhãn".
Bạn nói như thế thì đã sai lại càng sai, bạn cũng
không thể nói :"Bảo Bát Bồ Tát Thủ Nhãn", chỉ có thể
nói :"Bồ Tát tu Bảo Bát Thủ Nhãn", chẳng phải Bảo
Bát là tên của Bồ Tát. Tôi thấy họ ở Hương Cảng
giảng lại quyển "Ðại Bi Kinh giảng nghĩa" cũng giảng
như thế, biến 42 Thủ Nhãn thành 42 tên của Bồ Tát,
đó là sai lầm.
Bốn
Mươi Hai Thủ Nhãn này đều là sở tu của Bồ Tát, chứ
chẳng phải là tên của 42 vị Bồ Tát, chỗ này, chúng
ta học Phật pháp phải nên biết. Giảng Phật pháp nhất
định phải có căn cứ, chẳng có căn cứ mà giảng Phật
pháp thì không chánh quyết. Cho nên "A La Sâm" là
Chưởng Thượng Hóa Phật Thủ Nhãn, là sở tu của Bồ
Tát. Vị Bồ Tát nào? Vị Bồ Tát này không nhất định.
Ai tu 42 Thủ Nhãn thì người đó là vị Bồ Tát đó, ai
không tu thì người đó chẳng phải là vị Bồ Tát đó.
Bạn tu 42 Thủ Nhãn thành công rồi thì bạn sẽ chứng
đắc quả vị Bồ Tát.
"Phật La Xá Lị" là Tiếng Phạn, dịch ra nghĩa là
"giác thân tử". Các bạn còn nhớ Xá Lợi Phất còn gọi
là "Xá Lợi Tử" chăng ? Dịch ra nghĩa là "thân tử",
tức là "xá lợi".
"Phật La Xá Lị" là ‘giác thân tử,’ đây là Sổ Châu
Thủ Nhãn sở tu của Bồ Tát; sổ châu cũng là niệm
châu. Bồ Tát tu Sổ Châu Thủ Nhãn thì có thể đắc được
mười phương chư Phật cấp tốc đến nhiếp thọ, mười
phương chư Phật tiếp dẫn vị đó đến mười phương thế
giới thành Phật. Trong 42 Thủ Nhãn thì câu Chú này thuộc về "Bảo Cung Thủ Nhãn", ai tu Thủ Nhãn này, nếu là người tại gia thì có thể làm quan lớn, nếu là người xuất gia thì có thể chứng quả A La Hán.
Câu
Chú "Phật La Xá Gia" này là nói bổn thân của Phật A
Di Ðà. Phật A Di Ðà là sư phụ của Bồ Tát Quán Thế
Âm; vì Bồ Tát Quán Thế Âm nơi nơi đều cung kính sư
phụ của Ngài, cho nên Ngài nói Chú Ðại Bi cũng là
tôn trọng sư phụ của Ngài. Câu Chú này là Phật A Di
Ðà phóng quang để chiếu đến người trì Chú. Câu Chú
này tức cũng là "Tử Liên Hoa Thủ". Trong 42 Thủ Nhãn
có Bạch Liên Hoa Thủ, Thanh Liên Hoa Thủ, Tử Liên
Hoa Thủ, Hồng Liên Hoa Thủ. Tu Tử Liên Hoa Thủ Nhãn
có thể gặp được mười phương chư Phật, do đó Tử Liên
Hoa Thủ này rất là quan trọng.
"Tố
pháp mạc ly ngã", "tố pháp" tức là tu hành, tức là
chính mình phải tu hành, chứ chẳng phải kêu người
khác tu hành. Cho nên tu pháp này thì pháp này chẳng
lìa ta, ta cũng chẳng lìa pháp này, "ta, pháp", biến
thành một. Tức nhiên biến thành một, cũng chẳng có
pháp, cũng chẳng có ta; ta và pháp hai chấp đều
không; cũng chẳng có pháp chấp, cũng chẳng có ngã
chấp, đây gọi là "mạc ly ngã". Tu Kim Chạc Ngọc Hoàn
Thủ Nhãn hay khiến cho tất cả chúng sinh đều nghe sự
giáo hóa của bạn; bạn giáo hóa họ tu hành pháp gì
thì họ tu pháp đó.
Câu
Chú này là "Bảo Bát Thủ", là Thủ Nhãn thứ ba trong
42 Thủ Nhãn. Bảo Bát Thủ có công năng gì? Hay giải
trừ tất cả bệnh đau của chúng sinh. Giống như bây
giờ một số người xuất gia rất tin Chú Ðại Bi, bèn
gia trì ‘nước Chú Ðại Bi’. Nếu ai có bệnh thì gia
trì một ly ‘nước đại bi’ cho họ uống. Uống vào có
khi bệnh khỏi, có khi bệnh không khỏi, đó là xem
nhân duyên của bạn. Nhân duyên của bạn uống ‘nước
Chú Ðại Bi’ khỏi bệnh thì bạn sinh niềm tin, tin Bồ
Tát Quán Thế Âm; có khi bệnh không khỏi thì bạn
chẳng tin, chẳng tin Bồ Tát Quán Thế Âm.
Kỳ
thật, có khi cũng không khỏi, có khi mau khỏi, đó là
xem nhân duyên của bạn với bệnh nhân. Nếu bạn và y
có duyên thì y uống ‘nước đại bi’ của bạn sẽ khỏi
bệnh; nếu chẳng có duyên mà uống ‘nước đại bi’ thì y
cũng chẳng có niềm tin, bệnh cũng chẳng khỏi. Nói
tóm lại, có đủ thứ nhân duyên mới có thể giúp thành
pháp duyên này. Nếu bạn có sự tu hành thì đối phương
mới có tâm thành. Song bạn có sự tu hành mà đối
phương chẳng thành tâm uống ‘nước đại bi’, hoặc là
không khỏi bệnh. Hoặc bạn chẳng có sự tu hành mà đối
phương có tâm thành, uống ‘nước đại bi’ thì cũng sẽ
khỏi bệnh. Ở đây có đủ thứ quan hệ, có khi người này
nghiệp chướng nặng, và ‘nước đại bi’ của bạn không
có công lực lớn mấy, cho nên y uống vào thì bệnh
cũng chẳng hết. Có khi người đó nghiệp chướng nhẹ,
và ‘nước đại bi’ của bạn rất có công phu. Gì gọi là
có công phu ? Tức là bạn luôn luôn trì Chú Ðại Bi
thì có một sức lực cảm ứng đạo giao, cho nên bệnh
của người đó được lành. Do đó, bất cứ việc gì cũng
đều có đủ thứ nhân duyên ở trong đó để hỗ trợ, có đủ
thứ trợ duyên mới thành tựu. Bạn đừng cho rằng tôi
tu "Bảo Bát Thủ", tôi gia trì ‘nước đại bi’, sao
chẳng có chút công hiệu nào ? Phải chăng ‘nước đại
bi’ chẳng có công hiệu, là vì công phu của bạn không
đủ, cho nên công hiệu cũng giảm bớt.
Vì
vậy, có những kẻ ngoại đạo cũng dùng ‘nước đại bi’
cho bệnh nhân uống, rất linh nghiệm, rất có công
lực. Tại sao? Vì có những kẻ ngoại đạo có thiên ma
đến trợ giúp họ. Thiên ma trợ giúp người tu hành đó
khiến cho một số người tin họ thì họ dễ dàng dẫn
những người đó đi vào trong thiên ma ngoại đạo. Cho
nên cùng tu một pháp môn mà có nhiều sự việc khác
nhau.
Chúng ta muốn dùng ‘nước đại bi’ để cho bệnh nhân
uống, đó cũng là một trong những hạnh của Bồ Tát
đạo, song bạn phải hành Bồ Tát đạo, trước hết tu Bồ
Tát hạnh. Bạn phải tồn tâm chẳng có tướng người,
tướng ta, tướng thọ mạng, tướng chúng sinh.
Bạn
đừng cho rằng : Tôi hay trị lành bệnh cho mọi người,
tôi niệm Chú Ðại Bi rất có cảm ứng. Ðừng có tâm niệm
như thế, tại sao ? Vì bạn có tâm niệm như vậy là có
sở chấp trước, có chấp trước thì có ma chướng. Nếu
bạn chẳng có tâm niệm như thế thì vẫn có ma chướng.
Vì một số người có mao bệnh hoặc là nghiệp, hoặc là
ma. Nếu bị nghiệp chướng mà bạn chữa khỏi thì chẳng
có vấn đề gì, nếu họ bệnh về ma chướng, có ma mà bạn
nghĩ muốn cho họ hết bệnh, thì con ma sẽ nghĩ muốn
tìm bạn để đấu tranh. Nếu đạo lực của bạn không đủ
thì sẽ nhập vào cảnh giới ma vương. Dù bạn có đạo
lực cũng sẽ kết oán với con ma đó. Kết oán thì con
ma sẽ muốn tìm cơ hội để đấu tranh với bạn. Trong
quá khứ, tôi rất thích trị bệnh cho người, ai có
bệnh thì tôi nhất định nghĩ cách trị cho khỏi, song
về sau tôi gặp ma chướng rất lớn.
Tôi
đã từng nói qua, lúc tôi ở tại Ðông Bắc bên Trung
Quốc thì quái vật ở trong nước muốn dùng nước giết
chết tôi, song chẳng giết chết tôi được, chúng giết
chết khoảng năm sáu chục người, nhà cửa bị sập đổ
khoảng tám chín trăm căn nhà. Về sau khi tôi từ
Thiên Tân đến Thượng Hải, đi bằng đường biển thì
quái vật ở trong biển lại muốn làm lật thuyền của
tôi đi, cho nên cũng sém làm mồi cho cá. Từ đó về
sau, tôi đến nội địa rất ít chữa bệnh cho người. Việc chữa bệnh rất dễ kết oán, lại rất dễ kết duyên. Nếu bạn chữa bệnh cho người khỏi hẳn thì người đó sẽ biến phương pháp để cúng dường bạn, hoặc là cho bạn ăn vật ngon, hoặc là cho bạn đồ tốt, hoặc là cúng dường chút tiền cho bạn. Ðó cũng rất dễ hóa duyên, song cũng rất dễ kết oán, cho nên vấn đề nầy cũng có tốt cũng có xấu. Nếu bạn chẳng còn tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, bốn tướng thì có thể làm. Nếu bốn tướng chưa phá được thì rất dễ bị ma chướng. Muốn kết duyên chữa bệnh cho người nên có đủ thứ quan hệ như thế.
Câu
Chú này là "Kim Kang Xử Thủ", tức cũng là "Bảo Xử
Thủ". Bảo Xử Thủ này hay phá tan tất cả ma oán, cho
nên gọi là ‘sức kiên cố’.
1.
Là "dũng mãnh", giống như tác chiến chỉ có thắng,
chứ không thể bại.
2.
Là "thù thắng", rất là đặc biệt, tức cũng chỉ có
thắng lợi chứ không thể thất bại.
3.
Là "cát tường". Vì bạn dũng mãnh mới thắng lợi; bạn
thắng lợi mới cát tường. Ðây là "Hợp Chưởng Thủ", có
thể khiến cho tất cả quỷ thần, rồng rắn hổ báo sư
tử, người, chẳng phải người đều cung kính. Song,
phải thắng lợi, cát tường, phải có tâm dũng mãnh,
chẳng phải miệng nói suông mà nhất định phải thực
hành.
Hai
câu Chú này là "Bất Thối Kim Luân Thủ Nhãn". Bất
Thối Kim Luân tức là tâm bồ đề vĩnh viễn không thối
chuyển.
Từ
nay cho đến khi thành Phật, tâm bồ đề đã phát ra
phải càng ngày càng tinh tấn, vĩnh viễn không thể
thối chuyển. Vì tâm bồ đề không thối chuyển, cho nên
bạn sớm sẽ thành tựu quả vị Phật, nếu bạn thối thất
tâm bồ đề thì thành Phật chậm một chút. Chúng ta là
người học Phật pháp nên ngày càng tinh tấn, ngày
càng phát tâm đại bồ đề, đừng thối thất tâm bồ đề.
Giống như luôn luôn đến Phật đường để nghe giảng
Kinh, phải có tư tưởng rất khó khăn mới nghe được
Kinh, vì pháp hội này chẳng dễ gì gặp được. Bạn thấy
pháp hội của chúng ta rất đơn giản, song hiện nay
trên thế giới này bạn tìm pháp hội tinh tấn như
chúng ta, hằng ngày giảng Kinh, hằng ngày thuyết
pháp, giống như nước sông chảy hằng ngày, không
ngừng, có thể nói là không có. Trên thế gian này,
chúng ta gặp được pháp hội như thế này, bất cứ chúng
ta như thế nào cũng ở trong sự bận rộn mà đến nghe
Kinh, nghe pháp; mỗi khi có người giảng Kinh thì bạn
nên đến tùy hỷ đạo tràng, ủng hộ đạo tràng. Chúng ta
ở đây mỗi buổi tối đều có giảng Kinh, cho nên mỗi
buổi tối đều nên đến ủng hộ pháp hội. Chúng ta đừng
có phân biệt nói : Tối hôm là người nào giảng, người
đó giảng không hay lắm, tôi không đi nghe. Ðừng có
tâm như thế ! Bạn nghe lâu rồi thì bất cứ ai giảng
cũng đều có chân lý, đều có chỗ phát minh. Cho nên
nếu người nào có thời gian đều nên tùy hỉ pháp hội,
đừng lười biếng. Vì pháp môn này trăm ngàn vạn kiếp
khó gặp được. Hiện nay chúng ta đã gặp thì hãy dũng
mãnh tinh tấn. Bạn dũng mãnh tinh tấn thì không thối
thất tâm bồ đề. Không thối lùi có ba thứ : Vị không
thối lùi, niệm không thối lùi và hành không thối
lùi.
Vị
không thối lùi : Nếu bạn đã chứng quả thì không thối
lùi về phàm phu. Nếu bạn chứng được quả Bồ Tát thì
không thối lùi về A La Hán; nếu bạn chứng được Phật
quả thì không còn thối lùi về quả vị Bồ Tát, trừ khi
bạn hoan hỉ nói tôi chứng được quả vị Phật, song tôi
còn hiện thân Tỳ Kheo để giáo hóa chúng sinh. Hành không thối lùi : Hành là tu hành, tu hành càng ngày càng tiến bộ, ngày càng dụng công. Dũng mãnh tinh tấn phát tâm đại dũng mãnh để tu đạo, đó là hành không thối lùi.
Bạn
tu "Bất Thối Kim Luân Tử" thì đời này cho đến khi
thành Phật, tâm bồ đề của bạn vĩnh viễn không thối
lùi, cần nhất bạn phải tu hành.
Ðây
là "Ðỉnh Thượng Hóa Phật Thủ Nhãn". Hóa Phật ở trên
đỉnh, Hóa Phật Thủ tức là Giác Giả (Bậc Giác Ngộ).
Trí và giác vốn chẳng khác mấy. Trí là biết, là một
giai đoạn ở trước sự giác ngộ; giác, tức là đã giác
ngộ, tức là biết sự việc về sau. Cho nên khi trên
đỉnh của bạn có hóa Phật, thành tựu Thủ Nhãn này thì
lúc đó bạn là người có trí huệ chân chánh, tức cũng
là Bậc Giác Ngộ. Bạn tu Thủ Nhãn này thì có thể được
mười phương chư Phật cấp tốc đến rờ đầu thọ ký.
Chúng ta người tu đạo, đều có một sự cảm giác; hoặc
là bạn niệm Phật, hoặc trì Chú hoặc tu thiền định.
Có khi ở trên đầu cảm thấy giống như có vật gì đang
đi, hoặc giống như có con gì bò đi bò lại, cảm thấy
như có vật gì ở trên đỉnh đầu, bạn lấy tay rờ thì
chẳng có gì hết. Tôi nói cho bạn biết, lúc đó là
mười phương chư Phật đến rờ đầu thọ ký cho bạn, bất
quá bạn chẳng đắc được thiên nhĩ thông nên bạn chẳng
nghe được; bạn chẳng đắc được thiên nhãn thông nên
bạn cũng chẳng thấy được. Song mười phương chư Phật
hết lòng đến rờ đầu thọ ký cho bạn.
Cho
nên nếu có tình hình này là bạn tu hành có sự cảm
ứng, song đừng sinh tâm vui mừng, cũng đừng sinh tâm
kiêu ngạo, đừng cho rằng Phật đích thân đến rờ đầu
tôi, Phật đến gia trì cho tôi. Gia trì tức là dùng
tay để rờ đầu bạn. Nếu bạn có tâm vui mừng, có tâm
kiêu ngạo đều là một thứ chấp trước. Ðã là chấp
trước thì dù cảnh giới tốt cũng sẽ biến thành không
tốt. Giống như trong Kinh Lăng Nghiêm có đủ thứ cảnh
giới, bạn vốn tu hành có cảm ứng, song nếu bạn cho
rằng là bạn đắc được cảnh giới tốt, tức nhập vào
đường tà, bị ma chướng. Cho nên tu hành phải như như
bất động, Bất cứ là cảnh giới tốt, cảnh giới không
tốt, cảnh giới lành, cảnh giới ác, đều không lay
động. Nếu bạn không lay động thì có định lực; bạn có
định lực thì sau đó sẽ sinh ra huệ lực chân chánh ;
sinh ra huệ lực chân chánh thì bạn là bậc trí huệ,
thì bạn là bậc giác ngộ.
Thủ
Nhãn này là "Tích Trượng Thủ Nhãn". Trên tích trượng
có ba bộ phận và chín cái khoen. Trước kia người
xuất gia đều mang tích trượng, mỗi khi đi đường cây
tích trượng phát ra âm thanh, tức khiến cho súc sinh
ở dưới đất nghe tiếng động thì bỏ chạy, khiến cho
bạn không đạp chết chúng. Tích trượng là một thứ
pháp bảo ở trong Phật giáo. Bạn thấy Bồ Tát Ðịa Tạng
luôn luôn cầm cây tích trượng dùng để mở cửa địa
ngục, đó là chìa khoá mở cửa địa ngục. Cho nên tu
Thủ Nhãn này thì có thể dưỡng tâm của bạn thành tâm
đại từ bi để cứu hộ tất cả chúng sinh.
Thủ
Nhãn này gọi là "Bảo Bình Thủ Nhãn", còn gọi là
"Tịnh Bình Thủ Nhãn", còn gọi là "Hồ Bình", tức cũng
ở trong Cam Lồ Thủ Nhãn của Bồ Tát Quán Thế Âm, tịnh
bình đựng nước cam lồ. Tịnh bình này có thể trừ khử
tất cả ô uế của thế gian, vì trừ khử tất cả ô uế nên
cũng bao quát hay giải trừ tất cả bệnh tật của chúng
sinh, cho nên gọi là thiên hộ, thiên đỉnh. Bồ Tát tu
Thủ Nhãn này cũng khéo hộ niệm tất cả chúng sinh,
cho nên nếu tu Bảo Bình Thủ này thành công thì cũng
có thể trợ giúp tất cả chúng sinh, giải trừ tai nạn
của tất cả chúng sinh.
Ðây
là "Bảo Kiếm Thủ Nhãn". Bảo Kiếm Thủ Nhãn này có tác
dụng gì ? Trước kia khi tôi dạy Bốn Mươi Hai Thủ
Nhãn đã có nói qua.
Bảo
Kiếm Thủ Nhãn hàng phục được tất cả lị mị, vọng
lượng, quỷ thần, v.v... Bạn tu Thủ Nhãn này thành
công thì tất cả thiên ma ngọai đạo, lị mị, vọng
lượng đều lão thực, vì chúng sợ bảo kiếm này của
bạn. Thủ Nhãn này rất là lợi hại, hay phá tan tất cả
thiên ma ngọai đạo, hàng phục tất cả thiên ma ngoại
đạo. Bất cứ thiên ma ngoại đạo nào nếu không nghe
bạn giáo hóa thì bạn có thể dùng bảo kiếm này chém
chúng, cho nên Thủ Nhãn này lợi hại vô cùng.
Thủ
Nhãn này gọi là "Bảo Tiễn Thủ Nhãn". Bạn tu Thủ Nhãn
này thì có thể khiến cho bạn mau gặp được tất cả bạn
bè tốt.
Sáu
ý nghĩa là : Ý nghĩa thứ nhất là "thành tựu". Bạn
niệm Chú này thì tất cả mọi sở cầu, mọi sự hy vọng
đều sẽ thành tựu. Nếu không thành tựu thì bạn chẳng
thành tâm, nếu bạn thành tâm thì sẽ thành tựu. Nếu
bạn có chút nghi ngờ trong Chú này thì sẽ không
thành tựu; bạn phải có tâm tin chân thật thì sẽ
thành tựu.
Ý
nghĩa thứ hai là "cát tường". Bạn tụng Chú này thì
tất cả sự việc không cát tường đều sẽ cát tường,
song bạn phải có tâm tin chân thật; nếu bạn chẳng có
tín tâm thì không thể cát tường được. Khi bạn tụng
Chú tin hay không tin Bồ Tát đều biết, hoặc bạn có
niềm tin chân thật hoặc nửa tin nửa ngờ, hoặc nghi
nhiều hơn tin, Bồ Tát đều biết. Bạn muốn đắc được
thành tựu này thì phải có tín tâm. Bạn muốn cát
tường thì phải có tín tâm. Bạn cầu việc gì, ví như
cha bị bệnh, bạn muốn cho cha hết bệnh, bạn tụng
Chú, song bạn phải có tâm tin chân thật thì tụng mới
có cảm ứng. Hoặc bạn có người bạn tốt nhất, rất lâu
chưa gặp lại, bạn hy vọng gặp lại người bạn đó mà
bạn tụng Chú này một cách thành tâm thì cũng sẽ được
gặp lại. Hoặc là bạn chẳng có bạn trăm năm, bạn muốn
có người bạn trăm năm tốt thì bạn cũng phải có tín
tâm tụng trì Chú này, tụng lâu thì cũng sẽ được một
người bạn tốt. Thậm chí bạn muốn được vị thiện tri
thức cũng sẽ thành tựu. Còn có một ý nghĩa nữa gọi là "viên tịch". Khi vị Tỳ Kheo vãng sinh, Niết Bàn gọi là viên tịch, song viên tịch ở đây chẳng phải là chết. Vậy nếu tôi niệm Chú này tức là niệm chết, nghĩa là "Ta Bà Ha, Ta Bà Ha...!" Viên tịch, viên tịch tức là chết. Vậy tôi niệm có ý nghĩa gì ? Ai ai cũng chẳng muốn chết, tôi biết.
Chẳng phải như thế. Viên tịch ở đây là "công vô bất
viên", công của bạn viên mãn; "đức vô bất tịch", đức
hạnh cũng đến cực điểm, chẳng phải một số người biết
được, chỉ có Phật Bồ Tát biết được đức hạnh của bạn.
Ý
nghĩa thứ tư là "tiêu tai", tiêu trừ tai nạn.
Ý
nghĩa thứ năm là "tăng ích": Tăng thêm lợi ích của
bạn. Bạn niệm "Ta Bà Ha" thì lợi ích của bạn sẽ tăng
thêm, đặc biệt có ích lợi đối với bạn.
Ý
nghĩa thứ sáu tôi tin các bạn chẳng có ai biết. Nếu
có người biết thì nói. Tại sao chẳng có ai biết ? Vì
"Ta Bà Ha" này trước kia tôi chẳng nói qua, bây giờ
bắt đầu giảng. Kỳ thật, tôi cũng đã giảng qua cho
các vị nghe rồi, bất quá các vị chẳng biết ở chỗ
nào. Gọi là gì ? Gọi là "vô trụ", tức là "vô sở
trụ", vô sở trụ ở trong "ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ
tâm" của Kinh Kim Cang. Vô sở trụ là gì ? Tức là
chẳng trụ vào bất cứ cái gì, tức như thế nào cũng
đều được. Ðây là pháp vô vi. Vô vi mà vô bất vi ; vô
trụ cũng là vô vi, vô vi cũng là vô trụ. Song vô trụ
thân tâm, thân tâm cần phải vô trụ, đừng trụ ở nơi
phiền não, đừng trụ ở nơi vô minh, đừng trụ ở nơi
tâm tham. Chẳng phải trụ ở trong tâm sân, đừng trụ ở
trong tâm si, đừng trụ ở trong tâm kiêu mạn, đừng
trụ ở trong tâm nghi hoặc. Vô trụ là kêu bạn nếu có
những thứ tâm này phải mau hàng phục nó. Hàng phục
rồi tức là vô trụ. Dùng gì để hàng phục ? Tức dùng
Bảo Kiếm Thủ Nhãn vừa mới giảng. Bạn có thể nói như
vầy: Bạn nói bạn có tâm tham chăng? Tôi giết con ma
tâm tham; có tâm sân chăng? Tôi chém con ma tâm sân;
có ma tâm si chăng? Tôi giết con ma tâm si. Dùng kim
cang vương bảo kiếm, tức cũng là kiếm trí huệ, hàng
phục hết mọi thiên ma ngoại đạo này. Bạn muốn hàng
phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết phải hàng phục
vọng tưởng của chính bạn. Nếu bạn hàng phục được
vọng tưởng của bạn thì cũng sẽ hàng phục được thiên
ma ngoại đạo. Nếu bạn không có vọng tưởng thì thiên
ma ngoại đạo sẽ không đến; dù nó có đến cũng chẳng
làm gì được. Ðây là ý nghĩa thứ sáu của "Ta Bà Ha".
"Thành tựu đốn cát" là gì ? Vì chúng ta nhờ sức lực
của Chú này nên thành tựu vui mừng tất cả mọi việc;
bạn vui mừng hoan hỉ điều gì thì sẽ được điều đó. Có
người nói : "Vậy tôi cũng niệm Chú Ðại Bi này, tại
sao tức khắc chẳng được ?". Niệm ở đây phải cần công
phu tương ưng. Công phu của bạn chẳng tương ưng, cho
nên chẳng thành tựu, nếu tương ưng thì sở cầu của
bạn sẽ như ý, sở nguyện toại tâm. Cho nên gọi là
"thành tựu đốn cát". Còn gọi là "thành biện", bạn
làm việc gì thì sẽ được kết quả viên mãn. Còn gọi là
"thành lợi", hay thành tựu lợi ích của bạn. Còn gọi
là "thành nhất thiết nghĩa", bất cứ việc gì đều có
thể thành tựu. Còn "sở cung tán thán" là mọi người
đều đến khen ngợi, đều nói bạn tốt. Ðây là ý nghĩa
"Tất Ðà Dạ Ta Bà Ha".
Câu
thứ hai "Ma Ha Tất Ðà Dạ Ta Bà Ha". "Ma Ha": Chúng
ta đều biết là "đại" (lớn). Ý nghĩa câu Chú này hay
thành tựu những sự nghiệp lớn của bạn, thành tựu
những công đức lớn, thành tựu đạo nghiệp lớn; hết
thẩy mọi việc gì cũng đếu thành tựu rất lớn.
Hai
câu Chú này hợp lại gọi là "Bảo Kinh Thủ Nhãn"; bảo
Kinh tức là một bộ Kinh điển quý báu, tức cũng là
Pháp bảo. Bạn tu Bảo Kinh Thủ Nhãn sẽ đắc được lợi
ích vô cùng vô tận. Bảo Kinh Thủ Nhãn này là Thủ
Nhãn thứ ba mươi bảy trong Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn.
Bạn tu Bảo Kinh Thủ Nhãn thì tương lai trí huệ của
bạn có một sức trí nhớ đặc biệt tốt vô cùng.
Nếu
bạn tu Bảo Kinh Thủ Nhãn thì sẽ nghe rộng nhớ tốt,
cũng là quảng học đa văn. Ngài A Nan là người đa văn
bậc nhất. Chắc chắn Tôn Giả A Nan đã tu Bảo Kinh Thủ
Nhãn này rất viên mãn trong vô lượng kiếp trong quá
khứ, cho nên một khi lọt qua tai thì vĩnh viễn không
quên, thậm chí chẳng lọt qua tai mà Ngài đều có thể
nghĩ lại. Tôn Giả A Nan sinh ra cùng ngày Ðức Phật
thành đạo, hai mươi tuổi xuất gia, vậy hai mươi năm
trước khi Tôn Giả chưa xuất gia, Ðức Phật thuyết
pháp, Tôn Giả A Nan không có nghe qua, tại sao Ngài
lại kết tập tất cả Kinh điển? Vì những Kinh điển
trước kia Ngài chưa nghe qua thì chính Ðức Phật
thuật lại cho Tôn Giả nghe, cho nên Tôn Giả hoàn
toàn nhớ hết Kinh điển của Phật nói. Sở dĩ Tôn Giả
có sức nhớ rất tốt, chắc chắn Tôn Giả đã từng tu Bảo
Kinh Thủ Nhãn này viên mãn mới có trí nhớ tốt như
thế.
Có
người hỏi tôi :" Làm thế nào có sức trí nhớ ?". "Bạn
phải tu Bảo Kinh Thủ Nhãn này, nếu bạn tu Bảo Kinh
Thủ Nhãn thì sẽ có sức trí nhớ, thì sẽ có năng lực
đa văn".
Chúng ta ai nhớ Kinh này rất rõ ràng thì đại khái
đều có duyên với Bảo Kinh Thủ Nhãn này.
Trong họa đồ thì thấy trong tay Bồ Tát phóng quang
cầm cây cờ, bạn thấy toàn thân Bồ Tát đều phóng đại
quang minh. Phóng quang cũng là biểu thị bạn khai mở
đại trí huệ, trí nhớ của bạn rất tốt, đa văn, học
rộng.
"Thất Bà La Dạ" dịch ra nghĩa là "tự tại". Ðây là
"Bảo Khiếp Thủ Nhãn", là Thủ Nhãn thứ hai mươi hai.
Ý nghĩa của câu Chú này là trong tự tính lý thể của
bạn tự tại thành tựu tất cả công đức.
Ðây
là "Quyên Tố Thủ Nhãn", nếu có chuyện gì không an
thì có thể khiến cho bạn được bình an. Không an là
gì ? Ví như có bệnh, hoặc có chuyện gì không an, có
chướng ngại gì, đó là những chuyện không an.
Quyên Tố Thủ này có rất nhiều hữu dụng. Ở trong Phật
giáo gọi là Quyên Tố Thủ Nhãn, ở trong Ðạo giáo gọi
là "khổn tiên thừng" dùng chỉ ngũ sắc làm sợi dây
thừng. Bạn tu Thủ Nhãn này thành công, bạn phóng dây
thừng ra thì yêu ma quỷ quái, lị mị vọng lượng đều
bị trói chặt; bị trói không thể đi được thì chúng
phải đầu hàng bạn.
"Ta
Bà Ha" cũng giống như nghĩa đã giảng ở trên.
"Việt Phủ Thủ Nhãn", hay lìa khỏi tất cả hoạn nạn
trong hoàng cung. Bạn tu pháp này thì không bị vương
pháp câu thúc, mọi thời mọi nơi đều lìa khỏi hoạn
nạn hoàng cung, chẳng có tai nạn ngục tù. Tai nạn
ngục tù tức là phạm pháp bị ở tù. Có phải tu pháp
này thì phạm pháp cũng không ngồi tù chăng ? Không
phải, căn bản thì bạn sẽ không phạm pháp. Vì bạn tu
pháp này thì bạn minh bạch Phật pháp, bạn đâu có
phạm pháp. Cho nên bạn không phạm pháp thì đương
nhiên chẳng có hoạn nạn hoàng cung. Vậy có người
không phạm pháp cũng có hoạn nạn hoàng cung, đó là
vì chẳng tu "Việt Phủ Thủ Nhãn" này.
Kham nhẫn, ý nói chúng ta chúng sinh hay kham nhẫn
chịu đựng thống khổ của thế giới Ta Bà. Sự khổ ở thế
giới Ta Bà này quá nhiều, hay nhẫn khổ mà sinh ra
tâm thương yêu. ‘Thiện thuyết, thiện đáo’ : Ý nói
bạn cho thế giới Ta Bà này quá tốt, vẫn đến thế giới
Ta Bà để làm người.
"Ma
Ha": Là pháp đại thừa; pháp đại thừa là pháp Bồ Tát.
"A
Tất Ðà Dạ" dịch ra nghĩa là "vô lượng thành tựu",
thành tựu chẳng có số lượng. Nghĩa là nói pháp Bồ
Tát đại thừa cứu kính đạt đến bờ bên kia, vô lượng
sự thành tựu.
Thủ
Nhãn này là gì ? Là "Bồ Ðào Thủ Nhãn". Nếu bạn tu
thành tựu Bồ Ðào Thủ Nhãn này thì trong miệng của
bạn luôn luôn có vị ngọt giống như ăn bồ đào (nho),
thậm chí còn ngọt hơn nho, hơn đường. Khi bạn tu
pháp này thì bạn sẽ cảm giác trong miệng có một mùi
vị ngọt, đây là sự tương ưng đầu tiên có cảm giác
này. Nếu bạn trồng tất cả rau cỏ ngũ cốc, hết thảy
các thứ thực vật trong vườn, nếu bạn tu Bồ Ðào Thủ
thì tất cả sâu bọ sẽ không ăn hoặc phá hoại mùa màng
của bạn làm. Bạn tu Thủ Nhãn này thì sâu bọ sẽ bỏ
chạy đi. Bạn tu pháp này thì những cây ăn trái mà
bạn trồng như táo, lê, mận, ổi... đặc biệt trái rất
mau chín, cũng có một vị ngọt đặc biệt. Cho nên Bồ
Ðào Thủ này cũng rất hữu dụng, vô lượng pháp đại
thừa đều sẽ thành tựu.
Pháp này gọi là "Bạt Triết La Thủ", Bạt Triết La Thủ
Nhãn dùng kim cang luân này hàng phục được tất cả
thiên ma ngoại đạo và lị mị vọng lượng. Bất cứ ma
quỷ gì, bạn dùng kim cang luân này tát pháp thì
chúng đều lão thực, đều cúi đầu đảnh lễ bạn, nói :"
Hay lắm, tôi sẽ giữ gìn quy cụ, tôi không dám phạm
quy cụ nữa", chúng sẽ đầu hàng bạn. Ðây là Bạt Triết
La Thủ, chẳng những hàng phục được mà còn có âm
thanh. Ở trong Ðạo giáo thì có "ngũ lôi oanh đỉnh".
Song trong Ðạo lão họ có ‘chưởng tâm lôi’. Nếu
chưởng tâm lôi, dùng tay để chưởng thì có thể có
tiếng sấm xuất hiện, tiếng sấm này có thể chấn giữ
thiên ma ngoại đạo. Thậm chí tiếng lôi này đến thân
thể thì bổ nát thân thể ra. Lúc tôi giảng Kinh Lăng
Nghiêm, tôi có nói tôi có người bạn có chưởng tâm
lôi, chưởng tay này có tiếng sấm. Ðây là pháp thuật
ở trong Ðạo giáo. Trong Phật giáo cũng có, tức là
Bạt Triết La Thủ Nhãn này, đây là chưởng tâm lôi của
Phật giáo. Bạn tu thành Thủ Nhãn này, tu pháp này
thành công thì có tiếng sấm, hàng phục được tất cả
oán ma. "Yết La Gia" dịch là "sinh tính", và dịch là "bổn tính". Ý nói bổn lai tự tính của tất cả chúng sinh đều có đại anh hùng đức hạnh. Ðại anh hùng đức hạnh tức là "Tổng Nhiếp Thiên Trí Thủ Nhãn". Thủ Nhãn này hàng phục được tất cả ma oán trong ba ngàn đại thiên thế giới, chẳng những hàng phục được ma oán ở thế giới này của chúng ta mà còn hàng phục được ma oán trong ba ngàn thế giới.
"Nam Mô" là "quy y". Quy y Tam Bảo. "Hắc La Ðát Na"
là "Bảo". "Ða La Dạ" là "Tam". Tức là thân tâm tính
mạng của ta đều quy y Tam Bảo. Người tại gia phải
quy y Tam Bảo, tức là quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng. Quy y Tam Bảo là tôi muốn đem thân tâm tính
mạng đều quy y tận hư không biến pháp giới mười
phương ba đời tất cả chư Phật, quy y tận hư không
biến pháp giới mười phương ba đời tất cả Hiền Thánh
Tăng.
Tận
hư không, hư không đều cùng tận. Biến pháp giới tức
là hết thảy pháp giới đều bao quát bên trong, tức là
mười pháp giới. Mười pháp giới là pháp giới của
Phật, pháp giới của Bồ Tát, pháp giới của Thanh Văn,
pháp giới của Duyên Giác, pháp giới của Trời, pháp
giới của người, pháp giới của A tu la, pháp giới của
súc sinh, pháp giới của ngạ quỷ, pháp giới của địa
ngục.
Mười phương là đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây
nam, đông bắc, tây bắc; trên và dưới cộng lại là
mười phương. Ba đời là đời quá khứ, đời hiện tại,
đời vị lai. Quy y mười phương ba đời tận hư không
biến pháp giới tất cả Phật Bảo.
"Tất", là thành tựu ; "Ðiện Ðô"
là "ngã giới", thành tựu ngã giới, thành tựu sự kiết
giới của tôi. Chỗ tôi kiết giới vuông tròn tám trăm
do tuần. Ở trong phạm vi tám trăm do tuần của tôi
đều bình an vô sự, đây là kiết giới lớn, kiết giới
vừa khoảng sáu trăm do tuần. Kiết giới nhỏ khoảng
bốn trăm do tuần. Ở trong phạm vi tám trăm do tuần
của tôi tất cả mọi người đều bình an vô sự, thành
tựu tất cả công đức chỗ tôi kiết giới, tức cũng là
tất cả nguyện vọng. Ví như tại Tam Phan Thị (San
Francisco) tôi kiết thượng giới, ở trong sự kiết
giới cuả tôi, không cho phép động đất, không cho
phép có tai nạn lớn. Vì ở trong chỗ tôi kiết giới,
hộ pháp thiện thần đều phải thành tựu nguyện lực của
tôi.
Vậy tôi kiết giới ở tại Tam Phan
Thị (San Francisco) rộng lớn cỡ nào ? Lớn cỡ một hạt
bụi. Song một hạt bụi của tôi cũng bao quát vô lượng
hạt bụi ; vô lượng hạt bụi tức cũng là một hạt bụi.
Cho nên nếu hạt bụi này hư hoại, thì tất cả hạt bụi
cũng hư hoại, nếu hạt bụi này không hư hoại thì tất
cả những hạt bụi kia cũng không hư hoại, đó là chỗ
tôi kiết giới.
Ðã giảng xong Kinh Ðại Bi Ðà La
Ni và Chú Ðại Bi, đến đây chấm dứt. Phần sau 42 Thủ
Nhãn của Kinh Ðại Bi Ðà La Ni đã giảng rồi lúc
trước, không cần phải giảng nữa. Phần sau là khoa
hạnh nghi, đó là phương pháp tu hành cũng không cần
giảng lại.
-----ooOoo----- Xem bản dịch của thầy Thích Nhuận Châu |
|
| ||||||