Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
Hòa Thượng Tuyên Hóa Giảng Thuật
Chương Ðại Thế Chí Niệm Phật Viên ThôngNam Mô Quán Thế Âm
Bồ Tát
Nam Mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
Nam Mô Ðại Thế Chí Bồ Tát
Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, bảy chữ
này là tựa đề của kinh. Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm
Phật Viên Thông Chương là tựa đề của một chương
trong bộ kinh ấy. Hôm nay vì thời gian có hạn
cho nên tôi không giải thích tựa Kinh Lăng
Nghiêm. Chỉ đơn thuần giải thích tựa kinh cũng
đòi hỏi rất nhiều thời giờ, vì vậy tôi chỉ giảng
sơ lược mà thôi.
Bộ Kinh Lăng Nghiêm này gồm có Chú Lăng
Nghiêm. Hai chữ "Lăng Nghiêm" có nghĩa là "Cứu
cánh kiên cố." Tại Trung Quốc bộ kinh này có tầm
quan trọng đặc biệt, nên có câu:
Thành Phật có Pháp Hoa
Khai tuệ có Lăng Nghiêm
Tôi rất hoan hỷ giảng Kinh Lăng Nghiêm và
Kinh Pháp Hoa, vì hai bộ kinh này giúp khai mở
trí tuệ và giúp thành Phật. Chẳng những tôi hoan
hỷ mà còn mong muốn mỗi Phật tử đều nghiên cứu
để am tường đạo lý trong Kinh, đặc biệt là Kinh
Lăng Nghiêm.
Nói đến Kinh Lăng Nghiêm, tôi nhớ tại Trung
Qưốc có một vị Trí Giả Ðại Sư bình sanh chỉ nghe
tên bộ Kinh này là liền ao ước được trì tụng.
Hằng ngày, Ngài hướng về Ấn Ðộ rập đầu lễ bái,
hy vọng có thể thấy tận mắt bộ kinh này. Ngài lễ
bái suốt mười tám năm mà vẫn chưa thấy được bộ
kinh. Trí tuệ của Trí Giả Ðại Sư rất vượt bực,
và biện tài của Ngài rất là vô ngại, nhưng Ngài
vẫn hết sức thành kính lễ bái bộ Kinh Thủ Lăng
Nghiêm. Như vậy đủ chứng tỏ tầm quan trọng của
bộ Kinh này.
Kinh Lăng Nghiêm còn lưu hành trên thế gian,
thì thiên ma ngoại đạo đều không dám xuất hiện.
Bất hạnh thay, vào thời Mạt-pháp Kinh Lăng
Nghiêm sẽ là bộ kinh bị mất trước tiên. Một khi
bộ Kinh Lăng Nghiêm này không còn trên thế gian
nữa, thiên ma ngoại đạo sẽ mặc sức lộng hành.
Thậm chí hiện nay có một số người tự xưng là
chuyên gia về Phật học mạo nhận là học giả từng
nghiên cứu Phật-pháp, hoặc là giáo sư khoa học
Phật học của một trường đại học nào đó, và công
nhiên đề xướng rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả, do
người Trung Quốc ngụy tạo. Quý vị hãy nghĩ xem
tuy rằng có rất nhiều thánh nhơn xuất hiện ở
Trung Quốc nhưng tôi tin chắc rằng sẽ chẳng bao
giờ tìm thấy được vị thánh nhân đã tạo ra Kinh
Lăng Nghiêm đó. Cho nên tôi tuyệt đối tin rằng
bộ Kinh Lăng Nghiêm này là thật, là chính xác,
và là một bộ kinh khả dĩ hàng phục thiên ma, chế
ngự ngoại đạo. Vì trong Chú Lăng Nghiêm toàn là
những câu thần chú dùng để hàng phục thiên ma,
chế ngự ngoại đạo. Từ câu chú đầu tiên đến câu
chú cuối cùng, mỗi câu đều có một sự diệu dụng
và uy lực bất khả tư nghì của nó. Cho nên, Phật
vì Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm.
Trước kia, tại Hương Cảng, có người đã phiên
dịch Kinh Lăng Nghiêm ra Anh văn, nhưng lại xén
bỏ đoạn Kinh văn về nghi quy thiết lập "Lăng
Nghiêm Ðàn," ngay cả Chú Lăng Nghiêm cũng bị
loại bỏ. Vị dịch giả ấy nói rằng người Tây
phương chẳng ai tin Chú Lăng Nghiêm và cũng
chẳng ai tụng Chú này, bởi họ cho rằng Chú là
những gì mê tín và không tin ở công dụng của
Chú. Cho nên trong bản dịch Anh ngữ ấy không có
đoạn nói về cách "thiết đàn" và cách tu trì
"Lăng Nghiêm Ðại Pháp."
Từ khi tôi đến các quốc gia Tây phương, nhất
là qua kinh nghiệm bản thân ở Mỹ, tôi nhận thấy
rất nhiều người Tây phương thích trì tụng Chú
Lăng Nghiêm, và chẳng những hoan hỷ trì tụng mà
còn học thuộc lòng nữa.
Tại Kim Sơn Thánh Tự tôi có một đệ tử vào hai
thời công phu sáng tối đều cùng chúng tôi trì
tụng Chú Lăng Nghiêm và chỉ tụng mỗi ngày hai
thời như thế mà trong hai mươi sáu ngày là y đã
thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm!
Tại Mỹ Quốc môn học tôi đưa ra khảo hạch
trước tiên là khi học thuộc lòng Chú Lăng
Nghiêm; ai trả bài thông suốt thì đậu; ai không
thuộc thì tạm thời bị đánh rớt. Ðó là quy định
của khóa tu mùa hè năm 1968. Bấy giờ, có một
người học thuộc trong hai mươi sáu ngày, và có
một người trong hai mươi tám ngày. Cho nên hiện
nay có rất nhiều Phật giáo đồ Tây phương biết
đến Chú Lăng Nghiêm.
Quý Phật tử hãy nghĩ xem, vì sao những kẻ mạo
nhận là chuyên gia Phật học, những kẻ tự xưng là
học giả, hoặc khoe khoang mình là giáo sư của
trường đại học nào đó, lại chủ trương Kinh Lăng
Nghiêm là giả? Chỉ vì những gì nói trong Kinh
Lăng Nghiêm đều có đề cập đến khuyết điểm cùng
những sai lầm của họ. Như trong Kinh có dạy rõ
rằng: "Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" (bốn điều
răn dạy về tánh thanh tịnh), là không được phỉ
báng. Những kẻ này chẳng muốn dứt bỏ khuyết điểm
của họ nên mới chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là do
người Trung Quốc tạo ra.
Vậy, ban đầu do ai chủ trương như thế? Là do
người Nhật. Thế người Nhật nói là ai nói với họ?
Truy nguyên ra là một vị Pháp-sư Trung Quốc đã
mách họ, bảo rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả. Tôi
chẳng rõ vị Pháp-sư này có hiểu Kinh Lăng Nghiêm
chăng? Tôi không cần phải nêu danh tánh vị
Pháp-sư này ra vì chuyện đã xưa rồi. Như vậy, do
"cái sai loan truyền cái sai" mà nói rằng Kinh
Lăng Nghiêm là giả.
Việc này đủ chứng minh rằng Phật-pháp đang
suy tàn, là do người trong hàng ngũ Phật giáo
tạo ra tin đồn này, từng bước từng bước khiến
cho người ta sinh ra hoài nghi, rồi dần dần
không tin nữa. Vì hồ nghi không tin nên bộ Kinh
này được xếp cất trên gác cao. Xếp lên xó gác
thì chẳng khác gì hủy diệt. Vì chẳng còn ai
nghiên cứu hoặc quan tâm đến nữa, thì lâu dần
Kinh tất bị hủy diệt. Chẳng phải vì Kinh không
có chữ, hoặc vì khan hiếm giấy, mà là vì dần dà
người ta quên hẳn nó đi.
Vì sao có người đề xướng Kinh Lăng Nghiêm là
giả? Chỉ vì họ không muốn tuân theo quy củ.
Trong Kinh nói rằng 50 ấm ma có vô số phép thần
thông song đều không đáng kể. Bởi vậy khi họ có
đôi chút thần thông, thì họ cho là nếu có thần
thông thì cũng bị xem là giả thôi. Cho nên những
kẻ mưu cầu thần thông đều không thích kinh này.
Tôi nghe nói hiện nay tại Nhật Bản có một vị
có thần thông, dùng tay chỉ ngọn nến thì ngọn
nến bốc cháy, không hiểu có đúng như vậy hay
không? Ngày 14 sắp tới tôi sẽ đi Nhật Bản và có
thể sẽ viếng thăm vị này. Từ lâu ông ta hy vọng
được gặp tôi. Lần này gặp mặt chúng tôi có thể
cùng nhau trao đổi ý kiến.
Tầm quan trọng của Kinh Lăng Nghiêm và Chú
Lăng Nghiêm không thể nào nói cho hết được, và
tương lai cũng không nói hết được sự diệu dụng,
cho nên nói rằng bất khả tư nghì.
Hôm nay tôi thành thật trình bày với quý vị
tầm mức diệu dụng của Chú Lăng Nghiêm này.
Khi xưa lúc tôi ở tại Ðông Bắc, mỗi khi gặp
người có bệnh tôi nhất định làm cho họ lành
bịnh. Tôi lấy oai lực gì làm cho họ khỏi bịnh.
Ðó là oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Trong Chú Lăng Nghiêm có tất cả năm bộ:
Ðông Phương có:
A Súc Phật - Kim Cang Bộ
Nam Phương có:
Bảo Sinh Phật - Bảo Sanh Bộ
Trung Ương có:
Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Bộ
Tây Phương có:
A Di Ðà Phật - Liên Hoa Bộ
Bắc Phương có:
Thành Tựu Phật - Yết Ma Bộ
Phương Ðông có A Súc Phật, A Súc Phật tức là
Kim Cang Bộ; Phương Nam có Bảo Sanh Phật, tức là
Bảo Sanh Bộ; Trung Ương là Phật Bộ; Phương Bắc
là Yết Ma Bộ; tất cả gồm năm bộ. Năm bộ này cai
quản năm đại ma quân ở năm phương trên thế giới,
cho nên khi trì tụng Chú Lăng Nghiêm thì năm đại
ma quân có năm phương đều cúi đầu phủ phục,
không dám cưỡng lại oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Công năng của Chú Lăng Nghiêm gồm có:
1. Tức tai Pháp
2. Hàng phục Pháp
3. Tăng ích Pháp
4. Thành tựu Pháp
5. Câu triệu Pháp.
1. Tức tai Pháp (Pháp giải trừ tai ương). Một
khi chúng ta trì Chú lăng Nghiêm thì hết thảy
tai ương đều được giải trừ.
2. Hàng phục Pháp (Pháp làm cho hàng phục).
Bất luận đối phương là thứ thiên ma ngoại đạo gì
chăng nữa, một khi chúng ta trì Chú Lăng Nghiêm
thì pháp lực của chúng ma liền bị phá vỡ, chúng
sẽ bị hàng phục dễ dàng.
3. Tăng ích Pháp (Pháp giúp tăng trưởng lợi
ích). Thí dụ chúng ta tu đạo, Chú Lăng Nghiêm sẽ
giúp chúng ta tăng trưởng trí tuệ, tăng trưởng
bồ đề tâm, tăng trưởng nguyện lựcỦmọi thứ đều
tăng trưởng. Ðó là pháp làm gia tăng sự lợi ích.
4. Thành tựu Pháp (Pháp giúp cho được thành
tựu). Chúng ta trì Chú Lăng Nghiêm, thì bất luận
chúng ta tu pháp môn gì, chú này cũng sẽ giúp
chúng ta được thành tựu.
5. Lại còn một loại nữa là Câu triệu Pháp
(Pháp thâu tóm về). Pháp này có thể dùng khi
chúng ta gặp thiên ma ngoại đạo và muốn bắt
chúng, cũng như trên thế gian cảnh sát bắt kẻ
phạm tội vậy. Bất luận là thiên ma hay ngoại
đạo, nếu chúng ta muốn bắt giữ chúng thì hết
thảy Hộ Pháp Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, và
tám muôn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát tức khắc
bắt giữ chúng. Ðó là Câu Triệu Pháp.
Chú Lăng Nghiêm gồm năm hội, và được phân ra
trên ba mươi bộ pháp. Lúc tôi ở Ðông Bắc tôi nhờ
vào công lực của Chú Lăng Nghiêm để trị bịnh.
Nhưng chẳng phải ai ai cũng tùy tiện sử dụng Chú
Lăng Nghiêm được, nếu có dùng chú này chăng nữa
thì cũng không sử dụng được toàn bộ, vì chú này
bao gồm trên ba mươi bộ pháp.
Khi nghe tôi nói như vậy thì có một số giáo
sư đại học ở Mỹ không hiểu Phật-pháp nói rằng
"A! Hóa ra Chú Lăng Nghiêm là do nhiều bài chú
nhỏ chắp nối lại mà thành!" Qúy Phật tử nghĩ
xem, đúng là làm trò cười cho thiên hạ! Chính họ
cũng chẳng hiểu ất giáp gì cả, nên mới lấy bộ óc
chứa đầy kiến thức khoa học của một giáo sư đại
học mà suy đoán tầm mức bất khả tư nghị của Chú
Lăng Nghiêm.
Vì sao tôi lại nhắc đến Chú Lăng Nghiêm? Vì
Phật do Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng
Nghiêm. Nếu chẳng có Chú Lăng Nghiêm thì căn bản
chẳng có Kinh Lăng Nghiêm.
Do đó vị phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm sang Anh
ngữ nói trên đã bỏ Chú Lăng Nghiêm và cũng không
dịch phần nghi quy kết đàn. Như vậy, có thể nói
rằng bản dịch Anh ngữ ấy chẳng khác gì người mất
đầu. Một người không có đầu thì còn chi hữu dụng
nữa? Cho nên người phiên dịch Kinh điển không
được tự mình phán đoán, không được dùng cái trí
tuệ hoặc cái tri kiến nông cạn, hạn hẹp của mình
mà cắt câu lấy nghĩa, tự tiện thêm bớt, làm sai
lệch ý văn. Người có thái độ như vậy đối với
Kinh điển thì không thể chấp nhận được.
Hiện nay tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta đang
thực hiện công tác phiên dịch Kinh điển. Phàm
những lời trong Kinh phải tuyệt đối lưu giữ,
không được "bỏ đầu xén chân." Lại cũng không thể
như vị giáo sư nào đó đã phiên dịch "lưỡng túc
tôn" đấng đầy đủ cả hai, nghĩa là phước huệ là
"đấng hai chân." Ông đã dịch: "Quy y Phật, đấng
hai chân."
Dịch như vậy không thể nói là chẳng đúng, tuy
nhiên ít nhiều cũng có lệch lạc không tương hợp
với ý chính của Kinh. Bởi vậy, tại Kim Sơn Thánh
Tự chúng ta phải hết sức cẩn thận trong công tác
phiên dịch Kinh điển, không được tùy tiện "thủ
tiêu" bất cứ một đoạn nào trong Kinh. Hôm nay
giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi nhân tiện trình bày
cho quý Phật tử rõ.
Chương Ðại Thế Chí
Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
Ðại: Ðại là gì? Ðại là trái với tiểu, nhưng ở
đây "đại" mà "vô ngoại," nghĩa là chẳng có gì
lớn hơn nữa. "Ðại" ở đây là thể của pháp, đồng
thời cũng là Phật tánh của chúng sanh. Ðó là
"đại nhi vô ngoại," "tiểu nhi vô nội," bao trùm
tận thư không gồm hết pháp giới.
Do đó nói rằng Ðại Thế Chí Bồ Tát làm một
động tác như đưa tay lên hoặc bước tới một bước,
thì thập phương thế giới đều rúng động. Uy lực
của Ngài vô cùng lớn lao, cho nên gọi là "Ðại
Thế Chí." Bởi vậy khi Ngài di động, cả mười
phương thế giới đều rúng động. Có người thắc
mắc: "Ngài thường đi đây đi đó hay không?"
Quý Phật tử chớ nên bận tâm về việc này, vì
một khi Ngài Ðại Thế Chí di chuyển thì thập
phương thế giới thường chấn động, do đó Ngài
thường ở trong đại định. Tuy nhiên, mặc dù Ngài
nhập định nhưng Ngài vẫn có mặt cùng khắp, hào
quang của Ngài chiếu sáng cùng khắp, trí tuệ của
Ngài cũng ở cùng khắp.
Quý Phật tử cũng chẳng nên nghĩ rằng: "Oh!"
"Ngài Ðại Thế Chí Bồ Tát nhất định là một vị rất
quê mùa, thô lổ. Nếu không như thế thì bước chân
của Ngài đâu có thể làm chấn động thập phương
thế giới? Nhất định bước chân của Ngài rất nặng
nề."
Chẳng phải như thế đâu. Không phải bước chân
của Ngài nặng nề như quý vị suy đoán. Quý vị
không nên lấy cái tri kiến của phàm phu mà suy
đoán Thánh nhơn. Chẳng qua là oai đức của Ngài
làm chấn động thập phương thế giới. Không những
Ngài có oai đức to tát như vậy mà Ngài còn có
thể dùng năng lực của mình để khiến cho thập
phương thế giới được bình an vô sự, chẳng có mảy
may chấn động. Cho nên mặc dù Ngài có năng lực
như vậy nhưng chưa hẳn Ngài mang quyền lực này
ra sử dụng, đó là Ðại Thế Chí Bồ Tát.
Vừa qua tôi đã giảng nghĩa ba chữ "Ðại Thế
Chí." "Bồ-tát" là gì? "Bồ-tát" là "bồ dã, giác
dã, tình dã." Tức là giác hữu tình. Nói đầy đủ
là Bồ Ðề Tát Ðỏa, phạn ngữ là Bodhisattva.
Bồ-tát là bậc giác ngộ trong số chúng sanh, cũng
có thể nói rằng Bồ-tát là chúng sanh đã giác
ngộ.
Làm sao có thể nói Bồ-tát là bậc giác ngộ từ
trong chúng sanh? Bồ-tát vốn cũng là chúng sanh
như quý vị, như tôi. Chẳng qua là Bồ-tát nguyện
phát bồ đề tâm, dũng mãnh tinh tấn, hành Bồ-tát
đạo, Ồxả những gì mà người khác không thể xả bỏ
được, nhẫn những gì mà người khác không thể nhẫn
được, làm những gì mà người khác không thể làm
được, và đem lại lợi ích cho hết thảy chúng
sanh. Vì Bồ-tát làm lợi ích cho hết thảy chúng
sanh cho nên mới được giác ngộ, và là một bậc
giác ngộ trong số chúng sanh chúng ta.
Bồ-tát vốn chẳng khác gì chúng ta. Chẳng
những Bồ-tát giống như chúng ta, mà ngay cả Phật
Thích Ca Mâu Ni khi còn sanh đi sanh lại nhiều
kiếp ở nhân địa, thì Ngài cũng là chúng sanh như
quý vị, như tôi. Hiện giờ tôi, quý vị và hết
thảy chúng sanh đều là chư Phật trong vị lai,
cho nên Phật xem hết thảy chúng sanh đều là cha
mẹ trong quá khứ, đều là chư Phật trong vị lai.
Quán sát như vậy nên Ngài xem hết thảy chúng
sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, do đó đối với
mỗi chúng sanh Ngài đều có tâm hiếu thuận. Ngài
xem mỗi chúng sanh đều là Phật trong vị lai, do
đó Ngài có lòng cung kính đối với mỗi chúng
sanh. Ðối với tất cả chúng sanh Ngài vừa có tâm
cung kính vừa có tâm hiếu thuận.
Cho nên Ngài đối xử với hết thảy chúng sanh
rất bình đẳng, nhìn chúng sanh với đôi mắt từ
bi, và cũng trên phương diện này, Bồ-tát là bậc
giác ngộ trong chúng sanh. Lại nữa, Ngài mang
đạo lý mà Ngài giác ngộ được ra giáo hóa chúng
sanh, khiến hết thảy chúng sanh cũng đều giác
ngộ như Ngài để được lợi ích, cho nên gọi đó là
"tự lợi, lợi tha." Vừa qua tôi đã giải thích đại
khái về Bồ-tát.
"Niệm Phật." Tôi xin quý vị hãy nhận thức rõ
ràng hai chữ "Niệm Phật" trong chương "Ðại Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông." Ý nghĩa của
Kinh văn chẳng phải là Ngài Ðại Thế Chí Bồ Tát
được thỉnh cầu niệm Phật, mà là Ðại Thế Chí Bồ
Tát hiện thân thuyết pháp, dạy chúng ta và hết
thảy chúng sanh rằng: "Tôi nhờ pháp môn Niệm
Phật mà đắc viên thông. Nếu người nào y theo
phương pháp này tu hành thì khả dĩ cũng đắc viên
thông." Ngài đã đắc viên thông, Ngài muốn hết
thảy chúng sanh đều đắc viên thông như Ngài.
Cho nên "Niệm Phật" ở đây chẳng phải chính
Ngài Ðại Thế Chí niệm Phật, vì Ngài đã "Niệm vô
sở niệm," Ồchẳng niệm mà niệm, niệm mà không
niệm. Ngài đã đạt mức viên thông này và nhiều
kinh nghiệm về pháp môn niệm Phật. Cho nên Ngài
dạy chúng ta và hết thảy chúng sanh rằng: "Quý
vị có biết chăng? Tôi từ con đường Niệm Phật mà
đến. Phương pháp này giúp tôi đắc viên thông,
nay tôi truyền cho quý vị, quý vị có thể dùng
pháp môn Niệm Phật này mà đắc viên thông."
Niệm Phật có bốn phương pháp:
1. Trì danh niệm Phật
2. Quán tượng niệm Phật
3. Quán tưởng niệm Phật
4. Thực tướng niệm Phật
1. Trì danh niệm Phật:
Trì danh niệm Phật là thường thường chuyên
niệm sáu tiếng "Nam Mô A Di Ðà Phật." Lúc tôi ở
tại Ðài Bắc tôi gặp một người rất bướng bỉnh.
Tôi bảo y niệm Phật, y trả lời: "Niệm Phật nào
có lợi ích gì? Thay vì niệm Phật thì để tôi niệm
tôi hay hơn." Tôi đáp: "Cũng vậy thôi, nếu ông
niệm ông, mà có thể thành Phật được thì cũng
được thôi." Chúng ta niệm Phật là vì đức Phật A
Di Ðà lúc còn ở nhân địa đã phát bốn mươi tám
đại nguyện.
Một trong bốn mươi tám đại nguyện ấy là: "Tất
cả chúng sanh trong thập phương thế giới, nếu có
người nào xưng danh hiệu tôi thì người đó nhất
định thành Phật; nếu người đó không thành Phật
thì tôi thề không thành Chánh giác, tôi cũng
chẳng thành Phật."
Căn cứ vào lời đại nguyện này, chúng ta chẳng
khác gì được đi trên một chiếc thuyền để đến bờ
bên kia. Nguyện lực của Phật A Di Ðà chính là
bản hợp đồng mà trong quá khứ Ngài đã cùng chúng
ta và chúng sanh trong thập phương ký kết với
nhau. Cho nên, nếu chúng ta niệm Phật mà chẳng
được sanh về thế giới Cực Lạc thì đức Phật A Di
Ðà cũng thiếu tư cách để thành Phật. Vì mối quan
hệ này cho nên mỗi chúng ta nên thành tâm thực
hành pháp môn niệm Phật.
Pháp môn niệm Phật là một pháp môn đơn giản
nhất, viên dung nhất, một pháp môn đi tắt chóng
thành Phật nhất. Pháp môn này cũng chẳng đòi hỏi
nhiều thời gian, chẳng phải hao tốn tiền bạc.
Người già cả cũng có thể niệm Phật, người trẻ
tuổi cũng có thể niệm Phật, kẻ tráng niên cũng
có thể niệm Phật, người bịnh cũng như người khỏe
mạnh đều có thể niệm Phật. Theo pháp môn Niệm
Phật này thì:
Tam căn phổ bị
Lợi độn kiêm thu
Tam căn phổ bị: Ba căn là thượng, trung, hạ
tức là kẻ có trí tuệ, người bình thường, kẻ ngu
đần. Cả ba hạng người này đều có thể niệm Phật
để được sanh về thế giới Cực Lạc.
Lợi độn kiêm thu: Là bao gồm cả hạng người
thông minh nhất (như Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, hai Ngài đều phát nguyện vãng sanh
Tịnh Ðộ) lẫn hạng người ngu đần nhất. Ngay cả
loài súc sanh như chim anh võ, chim bát ca,
chúng đều niệm Phật và cũng được vãng sanh về
thế giới Cực Lạc, hà huống là "vạn vật chi linh,
như loài người chúng ta" mỗi người niệm Phật đều
có hy vọng vãng sanh thế giới Tây Phương
Cực-Lạc. Vì Ðức Phật A Di Ðà và chúng ta có ký
kết hợp đồng, không lý Ngài đã ký kết rồi bỏ qua
hay sao? Cho nên chúng ta dựa vào hiệu lực của
hợp đồng này nhất quyết có thể vãng sanh về thế
giới Tây Phương Cực-Lạc vậy.
2. Quán Tượng Niệm Phật:
Quán tượng tức là thỉnh một bức tượng Phật A
Di Ðà, rồi vừa niệm Phật vừa quán tưởng tướng
hảo trang nghiêm của Phật A Di Ðà, nhất là ánh
hào quang tướng bạch hào giữa hai mắt. Thường
thường quán tượng để niệm Phật rất dễ đắc Niệm
Phật Tam muội, đạt tới nhất tâm bất loạn. Chủ
yếu trong việc niệm Phật là đạt tới nhất tâm bất
loạn, đắc Niệm Phật Tam muội. Nếu quý vị đắc
Niệm Phật Tam muội thì dù có mưa to gió lớn cũng
không lay chuyển. Bất luận quý vị đi, đứng,
ngồi, hay nằm, nhứt nhứt đều ở trong Tam muội,
đi cũng Di Ðà, ngồi cũng Di Ðà; đi cũng Phật,
ngồi cũng Phật. Quý vị ở trong Tam muội thì sẽ
được thấm nhuần nước trí tuệ. Ðạt tới Niệm Phật
Tam muội, nhất tâm bất loạn, thì nhất định sẽ
được vãng sanh.
3. Quán Tưởng Niệm Phật:
Quán tưởng tức chỉ đơn thuần quán tưởng,
không cần phải có tượng phật trước mặt. Quán
tưởng:
A Di Ðà Phật thân kim sắc,
tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
cám mục trừng thanh tứ đại hải,
quang trung hóa Phật vô số ức,
hóa Bồ-tát chúng diệc vô biên,
tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,
cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Quán tưởng bài kệ tán Phật này cũng có thể
đắc Niệm Phật Tam muội.
4. Thực Tướng Niệm Phật:
Thực tướng niệm Phật tức niệm mà không niệm,
không niệm mà niệm, lúc đó hành giả đi vào tham
thiền. Cho nên người hiểu rõ niệm Phật chân
chính không phản đối tham thiền; người hiểu rõ
tham thiền chân chính cũng chẳng phản đối niệm
Phật. Chẳng những không phản đối niệm Phật mà
cũng chẳng phản đối Giáo Tông, Mật Tông, Luật,
Mật, Tịnh nhưng hợp lại thì "nhất tông bất lập,"
một tông cũng chẳng có, tất cả đều hổ trợ lẫn
nhau, tông này cùng tông nọ đều có mối tương
quan với nhau.
Chúng ta là chúng sanh chẳng nên tự sanh tâm
phân biệt, chẳng nên "đầu thượng an đầu" trên
đầu còn đặt thêm đầu nữa, nói rằng: "Thiền tông
là Thiền tông, Mật tông là Mật tông, chẳng có
tương quan gì cả." Không phải như vậy! Tất cả
các tông vốn là một, vốn chẳng có phân biệt quá
nhiều như vậy, chỉ vì chúng sanh không có việc
chi làm, muốn tìm cái gì để làm, cho nên phân ra
đây một tông, đó một tông; nam một tông; bắc một
tông; đông một tông; tây một tông, trên một
tông, dưới một tông, rốt cuộc chẳng biết tôi
thuộc tông nào, ông thuộc tông nào.
Tại Mỹ thường có người hỏi tôi: "Chẳng hay
thầy thuộc tông nào?" Tôi đáp: "Chẳng tông nào
cả. Nếu tôi thuộc một tông thì tôi đang ở trong
một phạm vi hạn hẹp; tôi chẳng thuộc tông nào
thì tận hư không, cùng khắp pháp giới đều là của
tôi, bao trùm tất cả. Tại sao tôi lại tự vẽ cho
mình một phạm vi nhỏ bé, tạo ra một giới hạn
chật hẹp, nói rằng mình thuộc một tông nào đó?
Tôi thuộc Phật giáo, không có tông mà cũng chẳng
có phái lại cũng chẳng có môn mà cũng không có
hộ. Tôi với tông nào cũng là một." Tôi thường
nói thế này:
Chân nhận tự kỷ thác,
Mạc luận tha nhân phi,
Tha phi tức ngã phi,
Ðồng thể danh Ðại Bi.
(Thành thật nhận lỗi mình,
Chớ bàn luận lỗi người,
Lỗi người tức lỗi mình,
Ðồng thể tức Ðại Bi.)
Hãy nhìn nhận một cách thành thật lỗi lầm của
mình, không nên bàn luận lỗi lầm của người khác,
kẻ khác có lỗi lầm tức mình có lỗi lầm, lỗi lầm
của họ cũng là lỗi lầm của mình, phải tìm cách
tự sửa sai mới đúng. Chớ nên bất cứ lúc nào
miệng cũng luôn nói: "Không đúng, không đúng,
không đúng, không đúng!" Thử hỏi như vậy có ích
lợi chi? Cho nên có câu: "Ðồng thể danh Ðại Bi,"
vì tất cả đều là một thể, đó là đại bi tâm. Quý
vị đi đâu để tìm đại bi tâm? Quý vị tìm nó từ
bản thân của quý vị, chẳng cần đi tìm cầu bên
ngoài.
Như vậy thực tướng niệm Phật tức là tham
thiền. Do đó quý vị Thiện tri thức chớ nên làm
một đệ tử bất hiếu của Phật Thích Ca Mâu Ni, chớ
nên luôn quấy nhiễu, chớ nên gây tổn thương tình
ruột thịt, chớ nên tự tạo rắc rối cho mình. Ðó
là kỳ vọng của tôi đối với Phật giáo hiện đại.
Bấy giờ, thời gian không cho phép chúng ta
tiếp tục. Quý vị Phật tử cần về nghỉ ngơi để
ngày mai kẻ đi làm, người bận việc khác, ép buộc
tinh tấn thái quá cũng chẳng tốt. Mong quý vị về
nhà nếu trằn trọc chưa ngủ được thì hãy niệm
Phật. Chúc quý vị Phật tử một đêm an lành.
Bây giờ chúng ta cùng Quy Y Thập Phương
Thường Trụ Tam Bảo.
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Kinh Ðại Bảo Tích nói: "Vào thời Mạt pháp,
một ức người tu hành chỉ một người đắc đạo cũng
rất là hiếm, duy có nương vào niệm Phật mà đắc
độ." Tu hành vào thời mạt pháp không dễ gì đắc
đạo, duy có nương vào pháp môn niệm Phật mới dễ
thành tựu đạo nghiệp.
Ðại Thế Chí Bồ Tát là một trong Tam Thánh ở
cõi Tây Phương mà đức giáo chủ là Phật A Di Ðà.
Ðức Quán Thế Âm và Ðức Ðại Thế Chí cùng đến giúp
Ngài tiếp dẫn chúng sanh về cõi Cực Lạc. Cho nên
pháp môn niệm Phật rất được các Ngài đề cao.
Chúng ta niệm Phật cần niệm đến mức nhất tâm
bất loạn, đạt tới niệm Phật Tam muội. Muốn đạt
tới trình độ này thì phải làm thế nào? Trước
tiên phải chuyên nhất, luôn giữ chánh niệm mà
trì danh niệm Phật. Cách đây hơn hai mươi năm
tôi có viết một bài kệ về niệm Phật, nay xin đọc
lại cho quý vị nghe.
Kệ rằng:
Niệm Phật năng niệm vô gián đoạn,
Khẩu niệm Di Ðà đả thành phiến,
Tạp niệm bất sanh đắc Tam muội,
Vãng sanh Tịnh Ðộ định hữu phần,
Chung nhật yếm phiền Ta-bà khổ,
Tài tương hồng trần tâm niệm đoạn,
Cầu sanh Cực Lạc ý niệm trọng,
Phóng hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm.
Niệm Phật niệm hoài không gián đoạn,
Hồng danh đồng khởi tại tâm can,
Tạp niệm không sanh tam muội được,
Vãng sanh Tịnh độ có phần sang,
Trọn ngày chán nản Ta bà khổ,
Tâm niệm hồng trần dứt sạch quang,
Cầu sanh Cực Lạc luôn trong ý,
Nhiễm niệm dứt trừ, tịnh niệm toàn.
"Niệm Phật năng niệm vô gián đoạn" tức là quý
Phật tử có thể niệm Phật đến độ không gián đoạn.
"Khẩu niệm Di Ðà đả thành phiến," tức quý vị
luôn niệm sáu tiếng hồng danh, "Nam Mô A Di Ðà
Phật," niệm cho đến gió thổi chẳng lọt, mưa tuôn
không thấm. Lúc đó mới thực sự đạt tới cảnh giới
Niệm Phật Tam muội, cho nên mới nói rằng miệng
niệm Di Ðà khư khư chẳng rời.
"Tạp niệm bất sanh đắc Tam-muội," tức là hết
thảy tạp niệm đều không nảy sanh, cho nên nói
rằng:
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện,
Lục căn thoáng động bị mây che.
Quý vị có thể niệm cho đến một niệm cũng
chẳng sanh, thì tạp niệm gì cũng chẳng còn, như
vậy ắt đắc niệm Phật Tam muội.
"Vãng sanh Tịnh Ðộ định hữu phần." Một khi
đạt tới Niệm Phật Tam muội rồi thì nhất định
được sanh về cõi Tịnh Ðộ. Quý vị nhất định có hy
vọng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc bốn câu
trước đã giải thích qua, sau đây là bốn câu còn
lại:
"Chung nhật yếm phiền Ta-bà khổ," tức là Ngày
ngày đều cảm thấy cõi Ta bà đầy khổ não, thế
giới Cực Lạc rất an vui, cho nên mình hãy luôn
nhàm chán cõi khổ Ta bà.
"Tài tương hồng trần tâm niệm đoạn," tức tâm
niệm hồng trần mới diệt được. Vì mình chán ghét
cái khổ nên muốn được an lạc, hễ muốn có an lạc
thì hãy từ bỏ những thú vui vật chất tạm bợ trên
thế gian.
"Cầu sanh Cực Lạc ý niệm trọng." Ðiều rất
quan trọng là có tâm mong cầu vãng sanh về thế
giới Cực Lạc.
"Phóng hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm," nghĩa là
mình có thể rời bỏ ý niệm nhiễm ô thì là lúc
Tịnh Ðộ đã chín muồi. Trái lại, nếu vẫn còn níu
kéo cái ý niệm ô nhiễm kia thì nhứt quyết chẳng
thể nào vui hưởng sự an lạc thanh tịnh của Thế
Giới Cực Lạc được.
Bài kệ tám câu này tuy rất ngắn gọn nhưng nếu
ta suy ngẫm kỹ thì rất lợi lạc cho ai tu pháp
môn Tịnh Ðộ.
Ðại Thế Chí Bồ Tát đắc niệm Phật "Viên
thông": Viên là viên dung vô ngại; thông là
thông đạt. Niệm Phật tới mức vừa viên dung lại
vừa thông đạt, tức là niệm Phật đến viên mãn,
niệm đến thành tựu, đồng thời cũng chứng đắc sự
và lý đều viên dung vô ngại. Ðạt được cảnh giới
này thì gọi là viên thông.
"Chương" tức là chương của "Hai Mươi Lăm Viên
Thông" trong Kinh Lăng Nghiêm. Nếu quý vị muốn
hiểu đầy đủ hai mươi lăm viên thông xin nghiên
cứu Kinh Lăng Nghiêm.
Trung Thiên Trúc Sa Môn
Bát Lặc Mật Ðế dịch
"Trung Thiên Trúc" là một quốc gia tại Ấn Ðộ.
Ấn Ðộ phân ra: Ðông, Tây, Nam, Bắc và Trung Ấn.
Trong mỗi khu lại có rất nhiều quốc gia. Sa Môn
Bát Lặc Mật Ðế là người xứ Trung Thiên Trúc.
"Sa Môn," Phạn ngữ dịch ra tiếng Trung Hoa là
"Cần Tức," nghĩa là chuyên cần tu giới, định,
huệ, dập tắt tham, sân, si. "Cần tu" là không
giải đãi, không thối chuyển, thời thời khắc khắc
luôn tinh tấn dõng mãnh, cứ hướng về phía trước
bước tới, chẳng thối chuyển, không lười biếng.
Không lười biếng ở đây chẳng phải là chỉ một
ngày không lười biếng mà là bất cứ ngày nào cũng
không lười biếng; chẳng phải hôm nay tinh tấn,
hôm sau giải đãi. Tinh tấn một ngày, giải đãi
mười ngày thì không kể là tinh tấn, phải tinh
tấn trọn đời, chuyên cần trì giới trọn đời.
Giới là:
Không làm điều ác
Làm mọi điều thiện
Không làm điều ác tức là làm mọi điều lành;
nếu có thể làm tất cả mọi điều lành tức là chẳng
làm các điều ác. Cho nên trì giới cần tinh
nghiêm, "nghiêm tịnh tỳ ni, hoằng phạm tam
giới," phải lấy chính mình làm mẩu mực, tự mình
nêu gương tốt. Ðó mới là trì giới.
Lại nữa phải tu định. Ðịnh là một thứ công
phu của thiền định. Thiền định cần tu luyện
thường xuyên thì mới sanh định. Do giới mà sanh
định. Nếu quý vị muốn có định thì việc trước
tiên là phải trì giới. Nếu thiếu trì giới tâm sẽ
tán loạn, không thể nào có định được. Không có
định, cố nhiên sẽ không sanh tuệ. Cho nên do
định mà phát tuệ. Ðó gọi là Tam vô lậu học. Nếu
mình cần mẫn tu giới định tuệ thì sẽ siêu xuất
tam giới. Diệt được tham sân si thì chẳng bị đọa
tam ác đạo.
Vì sao từ vô lượng kiếp đến nay mà chúng ta
vẫn không thành Phật? Vẫn là chúng sanh? Vẫn đi
ra vào mãi trong lục đạo luân hồi? Chỉ vì tham
sân si tam độc làm cho chúng ta say đến mức mất
hết giác ngộ. Chúng ta bị tham sân si tam độc
làm cho mê mê hồ hồ, điên điên đảo đảo khiến cho
chúng ta chẳng thể lội ngược dòng sanh tử, chỉ
có cách thuận theo dòng lục trần phàm phu. Từ vô
lượng kiếp đến nay, chỉ vì tham sân si nó che
lấp cái ánh sáng tự tánh của chính mình.
Tham, tức là chẳng biết chán. Sân, là do tham
mà chẳng được nên nổi sân; chỉ vì tham chẳng
biết chán nên khi chẳng được gì cả bèn sanh sân
hận. Sanh sân hận rồi, sau đó mới tiến đến cảnh
giới ngu si, đi vào con đường ngu si. Sân là
ngọn lửa vô minh, vô minh tức là có nóng giận.
Một khi lửa vô minh bùng cháy thì theo đó cơn
sân bốc lên.
Vì sao có vô minh? Chỉ vì tiền kiếp mình tạo
tội quá nặng. Do đó, tục ngữ có câu: "Lửa vô
minh chẳng khác gì thần hổ, đó là do nghiệp căn
từ tiền kiếp." Lửa vô minh là gốc rễ của nghiệp
từ tiền kiếp.
Thế nào gọi là ngu si? Người ngu si toàn khởi
những vọng tưởng ngông cuồng. Thí dụ con ếch
muốn ăn thịt con ngỗng, đó là ngu si bởi vì con
ếch làm sao mà ăn ngỗng được? Lại nữa, không đi
học mà muốn có mảnh bằng tiến sĩ, mạo nhận ta là
học giả với phong độ của một tri thức, sống có
vẻ như ta là một tiến sĩ. Chẳng đi học gì cả mà
muốn có bằng tiến sĩ. Ðó mới là ngu si. Lại có
người chẳng hề mua vé số mà muốn trúng độc đắc,
không vốn muốn sinh lời, thì đó cũng là hạng
người ngu si vậy. Không làm ruộng, nhưng vào mùa
thu trông thấy người ta gặt lúa thì cũng muốn có
thu hoạch hoa lợi như họ, đó là việc tuyệt đối
chẳng thể có được.
Cho nên Ông Hồ Ðại Xuyên có làm bài thơ Huyễn
Tưởng Thi diễn tả ý nghĩ của người ngu si như
sau:
Háo hoa thường linh triều triều diễm,
Minh nguyệt hà phương dạ dạ viên,
Ðại địa hữu tuyền giai hóa tửu,
Trường lâm vô thọ bất dao tiền.
"Háo hoa thường linh triều triều diễm." Người
tham sắc muốn hoa ngày ngày tươi đẹp, chẳng bao
giờ tàn. Cho nên họ ao ước hoa luôn tươi thắm,
thậm chí muốn vợ mình chẳng bao giờ già, cứ trẻ
đẹp mãi. Ðó là ý nghĩ của người tham sắc.
Còn người thích du ngoạn thì nghĩ gì? "Minh
nguyệt hà phương dạ dạ viên." Vào ngày rằm trăng
tròn và sáng, qua rằm thì trăng khuyết một ít và
càng ngày càng khuyết nhiều hơn. Người thích
thưởng trăng bèn nghĩ rằng: "Nếu đêm nào trăng
cũng tròn như thế này thì hay biết mấy!"
Người thích uống rượu, vì hiện nay rượu quá
đắt, tốn kém nhiều, bèn nghĩ rằng: "Ngày ngày
mình uống rượu, phải chi tất cả dòng suối trên
mặt đất biến thành rượu, đến nơi nào cũng có
rượu uống, chẳng tốn tiền mua rượu mà vẫn có thể
say sưa. Như vậy thì hay biết mấy!" Khởi vọng
tưởng như thế thì thật là ngu muội.
Còn người bị đồng tiền mê hoặc thì sao? Người
này cũng khởi vọng tưởng chẳng kém. Hắn nghĩ
bụng: "Tiền! Hiện nay mình phải làm lụng vất vả
mới kiếm được tiền. Ước gì tất cả cây trong rừng
đều biến thành tiền, chỉ đến lắc nhẹ là tiền rơi
xuống tha hồ tiêu xài. Cây ở hai bên lề đường
cũng thế. Quả là tốt lắm ư!"
Quý Phật tử nghĩ xem, trên đây là những thí
dụ về vọng tưởng ngu si, làm không được mà cũng
cố nặn óc nghĩ ra. Như vậy người sa môn thì sao?
Người sa môn chẳng có tâm si mê vọng tưởng, nhất
tâm tu đạo. Sa Môn có bốn hạng:
1. Thắng Ðạo Sa MônỐBậc Sa Môn tu đạo chứng
quả, gia nhập hàng ngũ Thánh nhân, được gọi là
"thắng đạo sa môn."
2. Thuyết Ðạo Sa MônỐBậc Sa Môn giảng kinh
thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh, được gọi là
"thuyết đạo sa môn.
3. Hoạt Ðạo Sa MônỐBậc Sa Môn lấy pháp làm lẽ
sống, lấy đạo làm lẽ sống. Trong Phật giáo hàng
sa môn này có thể tu đạo lại vừa phát bồ đề tâm.
4. Ô Ðạo Sa MônỐÔ là dơ bẩn. Ðây là hạng Sa
Môn chẳng giữ giới luật, chẳng tu giới định huệ,
Chẳng đoạn trừ thâm sân si. Tuy cũng được gọi là
sa môn, nhưng hàng sa môn này nên sanh tâm hổ
thẹn, cần tự vấn lương tâm.
"Bát Lặc Mật Ðế," là tên vị dịch giả bằng
Phạn ngữ, dịch ra Hán Văn là "Cực Lượng," nghĩa
là lượng của Ngài rất lớn, có thể nói: Kiến thức
của Ngài bao trùm cả trời đất, tâm của Ngài
trong sáng như mặt trời mặt trăng.
Lại có thể nói tâm Ngài bao trùm hư không,
lượng của Ngài trải khắp thế giới nhiều như cát
sông Hằng, cho nên gọi là cực lượng.
Vị Sa môn này rất thông minh, có trí tuệ.
Ngài mang "Kinh Lăng Nghiêm" truyền sang Trung
Quốc. "Kinh Lăng Nghiêm" vốn chẳng dễ gì truyền
ra nước ngoài. Lần đầu tiên Ngài có ý định mang
bộ Kinh này sang Trung Quốc, nhưng đến cửa ải
thì bị tra xét, và chẳng những nhà cầm quyền cấm
mang bộ Kinh ra khỏi nước mà chính ngay cả Ngài
cũng bị cấm xuất dương. Lần thứ hai, Ngài bèn
chép bộ Kinh trên lụa rất mỏng với nét chữ cực
nhỏ. Rồi Ngài tự rạch bắp tay đặt kinh vào rồi
kéo da phủ kín vết thương, thoa thuốc cao lên,
và bằng cách này Ngài đã thành công mang bộ Kinh
Lăng Nghiêm ra khỏi nước.
Ðối với người Trung Hoa Kinh Lăng Nghiêm rất
lợi ích. Ngày xưa có nhiều vị tổ sư xuất gia
cũng như cư sĩ, nhờ đọc tụng Kinh Lăng Nghiêm mà
khai ngộ. Trong quá khứ, Kinh Lăng Nghiêm đã
mang nhiều lợi ích đến cho rất nhiều người. Do
đó công tác dịch Kinh Lăng Nghiêm của Ngài đối
với chúng ta hiện tại và tương lai sẽ giúp ích
rất nhiều. Cho nên những người nghiên cứu Kinh
Lăng Nghiêm đều nên biết đến vị Sa-môn dịch giả
này.
Vị Sa môn này thuộc ba hạng sa môn nói trên
và không thuộc vào hạng thứ tư. Ngài đến Trung
Quốc vào đời nhà Ðường, Sau khi Võ Tắc Thiên
thoái vị. Ngài khởi sự dịch bộ Kinh này vào ngày
23 tháng 5 khi Ngài tới Quảng Châu.
Ðối với Phật-pháp và Phật giáo, Kinh Lăng
Nghiêm có tác dụng và uy lực rất lớn. Cho nên
người nghiên cứu Phật-pháp trước tiên cần hiểu
rõ đạo lý trong Kinh Lăng Nghiêm.
Ngày nay, chúng ta phải hộ trì bộ Kinh này,
đừng để kinh bị mai một.
Nếu chúng ta không sinh vào thời điểm này thì
chúng ta chẳng có trách nhiệm gì cả. Chúng ta
hiện ở trong đời này, vậy bổn phận chúng ta là
phải dùng toàn lực và mọi khả năng để hộ trì bộ
kinh này.
Khảo xét quá trình lịch sử Phật giáo, bộ Kinh
Lăng Nghiêm vốn xuất xứ từ Long Cung. Ngài Long
Thọ Bồ Tát đã đọc bộ Long Tạng tại Long Cung.
Lúc xem đến bộ Kinh này, Ngài dùng trí nhớ của
Ngài ghi lại toàn bộ Kinh, do đó trên thế gian
mới có bộ Kinh Lăng Nghiêm này. Nước Thiên Trúc
xem bộ Kinh Lăng Nghiêm là quốc bảo, cấm truyền
ra nước ngoài. Vì người Trung Hoa có nhân duyên
lớn với Phật giáo, nên mới được một vị Thắng Ðạo
Sa Môn chẳng tiếc thân mạng mang bộ kinh này
sang Trung Quốc. Hiện nay ai có thiện duyên xem
được bộ Kinh Lăng Nghiêm đều nên đảnh lễ vị Sa
môn này.
Trí Giả Ðại Sư lúc chưa thấy bộ Kinh Lăng
Nghiêm đã từng hướng về nước Ấn Ðộ ở phương tây
rập đầu lạy tên bộ Kinh này. Ngài lạy như vậy
trong mười tám năm, nhưng rất tiếc Ngài vẫn chưa
được trông thấy tận mặt bộ Kinh. Như vậy chúng
ta may mắn có thiện duyên hơn Trí Giả Ðại Sư,
chẳng cần lễ bái nhiều năm mà đã gặp được Kinh
Lăng Nghiêm. Quý vị nghĩ xem, có phải nhân duyên
của chúng ta hơn Trí Giả Ðại Sư chăng?
Chánh Văn:
Ðại Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân,
ngũ thập nhị Bồ-tát, tức tùng tọa khởi, đảnh lễ
Phật túc, nhi bạch Phật ngôn: Ngã ức vãng tích,
Hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Vô
Lượng Quang, thập nhị Như Lai, tương kế nhất
kiếp. Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt
Quang. Bỉ Phật giáo ngã niệm Phật tam muội. Tỷ
như hữu nhân, nhất chuyên vi ức, nhất nhơn
chuyên vọng. Như thị nhị nhơn, nhược phùng bất
phùng, hoặc kiến phi kiến. Nhị nhơn tương ức,
nhị ức niệm thâm. Như thị nãi chí, tùng sanh chí
sanh, đồng ư hình ảnh, bất tương thừa di. Thập
phương Như Lai, lân niệm chúng sanh, như mẫu ức
tử, nhược tử đào thệ, tuy ức hà vi? Tử nhược ức
mẫu, như mẫu ức thời, mẫu tử lịch sanh, bất
tương vi viễn. Nhược chúng sanh tâm, ức Phật
niệm Phật, hiện tiền đương lai tất định kiến
Phật. Khứ Phật bất viễn, bất giả phương tiện, tự
đắc tâm khai. Như nhiễm hương nhơn, thân hữu
hương khí, thử tắc danh viết, hương quang trang
nghiêm. Ngã bản nhân địa, dĩ niệm Phật tâm, nhập
vô sanh nhẫn, kim ư thủ giới, nhiếp niệm Phật
nhơn, quy ư Tịnh Ðộ. Phật vấn Viên Thông, ngã vô
tuyển trạch, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương
kế, đắc Tam Ma Ðịa, tư vi đệ nhất.
(Ngài Ðại-thế-chí Pháp-vương-tử cùng với năm
mươi hai vị Bồ-tát đồng tu một pháp môn, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật mà bạch
Phật rằng: "Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có
đức Phật ra đời, tên là Vô Lượng Quang; lúc ấy
mười hai đức Như-lai kế nhau thành trong một
kiếp, đức Phật sau hết, hiệu là Siêu Nhật Nguyệt
Quang, dạy con pháp Niệm Phật Tam-muội. Ví như
có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên
quên, thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là
gặp, dầu thấy cũng là không thấy; nếu cả hai đều
nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu vào tâm
niệm, thì đồng như hình với bóng, cho đến từ đời
này sang đời khác, không bao giờ cách xa nhau.
Thập phương Như-lai thương tưởng chúng sinh như
mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh, thì tuy nhớ, nào
có ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì
đời đời mẹ con không cách xa nhau. Nếu tâm chúng
sanh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về
sau, nhất định thấy Phật; cách Phật không xa thì
không cần phương tiện, tâm tự khai ngộ như người
ướp hương thì thân thể có mùi thơm, ấy gọi là
hương-quang trang-nghiêm. Bản nhân của con là
dùng tâm niệm Phật mà vào Vô-sinh-nhẫn, nay ở
cõi này tiếp dẫn những người niệm Phật về cõi
Tịnh-độ. Phật hỏi về Viên thông, con thu nhiếp
tất cả sáu căn, không có lựa chọn, tịnh niệm kế
tiếp, được vào Tam-ma-đề, đó là thứ nhất".)
Lược giải:
Ðại Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân,
ngũ thập nhị Bồ-tát, tức tùng tọa khởi, đảnh lễ
Phật túc, nhi bạch Phật ngôn:
"Ðại Thế Chí" tức là vị đại Bồ-tát có uy lực
lớn. Ngài còn có tên là "Vô Biên Quang Xí Thân
Bồ Tát" vì hào quang của Ngài tỏa khắp mười
phương quốc độ. "Pháp Vương Tử": Phật là pháp
vương, là vua các pháp. Quốc gia thì có quốc
vương, trên trời thì có Ngọc Hoàng, tức là Thiên
Vương. Phật là Pháp Vương, còn Bồ-tát thì sao?
Bồ-tát là đệ tử của Pháp Vương, cho nên Pháp
Vương Tử có nghĩa là đệ tử của Pháp Vương. Do đó
có câu rằng: "Phật là Pháp Vương, tự tại nơi
pháp."
Bồ-tát là người học Phật-pháp, cho nên là đệ
tử của Pháp Vương. Vị Ðại Thế Chí Bồ Tát này là
đệ tử của Pháp Vương. Chẳng những chỉ có Ngài mà
còn có "dữ kỳ đồng luân, ngũ thập nhị Bồ-tát."
"Dữ kỳ đồng luân" tức cũng là Bồ-tát như Ngài.
"Luân" có nghĩa là loại, nghĩa là cũng y như
Ngài. Tuy nói là Bồ-tát như Ngài nhưng ít nhiều
cũng có điểm khác nhau, vì có Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Ðiạ, tất cả
là năm mươi vị. Lại có thêm Ðẳng Giác và Diệu
Giác Bồ Tát, cộng tất cả là năm mươi hai vị. Năm
mươi hai vị Bồ-tát tức là năm mươi hai quả vị,
và số Bồ-tát trong năm mươi hai quả vị thì vô
lượng vô biên.
Cho nên Ngài Ðại Thế Chí Bồ Tát cùng với năm
mươi hai vị Bồ-tát "tức tùng tòa khởi." Lúc nói
Viên Thông thứ hai mươi ba xong thì những vị
Bồ-tát bèn từ chỗ ngồi của mình đứng dậy. Mỗi vị
Bồ-tát đều có chỗ ngồi riêng của mình. Bồ-tát có
ý kiến cần phát huy, muốn trình bày cái viên
thông sở đắc của mình nên mới từ chỗ ngồi đứng
dậy. Ðó cũng biểu thị:
Pháp chẳng tự khởi,
Theo cảnh mà sanh;
Ðạo chẳng hư dối,
Gặp duyên tất ứng.
"Tức tùng tòa khởi" cũng ám chỉ rằng Phật sắp
nói pháp, và đồng thời cũng ám chỉ Bồ-tát cũng
sẽ nói về đạo lý viên thông mà Ngài chứng đắc.
"Ðảnh lễ Phật túc," đây muốn nói đảnh lễ bằng
cách gieo năm vóc chạm mặt đất, biểu lộ hết lòng
cung kính. Lúc đảnh lễ Phật nên có một sự quán
tưởng. Quán tưởng gì? Hãy quán tưởng rằng: "Năng
lễ sở tánh không tịch," tức người lạy và người
được lạy tự tánh cả hai đều rỗng lặng. "Cảm ứng
đạo giao nan tư nghì," tức là tuy rằng rỗng lặng
nhưng lại có một thứ cảm ứng đạo giao, một thứ
cảnh giới khó thể nghĩ bàn hiện ra. Quý vị lễ
bái một vị Bồ-tát, hoặc một vị tôn Phật đều phải
quán tưởng vị Phật hoặc vị Bồ-tát đó.
Như vậy Ngài Ðại Thế Chí Bồ Tất và các vị
Bồ-tát theo Ngài đều đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu
Ni, gieo năm vóc thân thể xuống đất, cúi đầu sát
đất, hai tay chạm chân Phật để biểu lộ sự tôn
kính tột độ.
"Nhi bạch Phật ngôn." Rồi mới thưa với Phật.
Những câu Kinh văn nói trên là những lời lẽ được
thêm vào lúc kết tập Kinh Tạng.
Ngã ức vãng tích, hằng hà sa kiếp, hữu Phật
xuất thế, danh vô Lượng Quang, Thập nhị Như Lai,
tương kế nhất kiếp.
Ðại Thế Chí Bồ Tát thưa rằng: Ngã ức vãng
tích tức là Ngài nhớ lại vào thời kỳ xa xưa
trước kia, lúc Ngài mới bắt đầu phát tâm. Bồ-tát
sơ phát tâm không nhất định thành công. Quan
trọng nhất là sau khi sơ phát tâm phải "niệm
luôn không thối chuyển" thì mới có thể thành tựu
Phật quả. Nếu mình phát bồ đề tâm rồi sau đó lại
thối chuyển thì chẳng thể nào chứng được Phật
quả. Mình vẫn có thể chứng được Phật quả nếu
trong tương lai mình phát bồ đề tâm trở lại. Cho
nên có bài kệ như sau:
Ngư tử am-ma-la
Bồ-tát sơ phát tâm
Tam sự nhân trung đa
Cập kỳ kết quả thiểu.
Ngư tử tức là trứng của con cá. Cá đẻ rất
nhiều trứng, nhưng không nhất định mỗi cái trứng
đều trở thành cá. Cây am-ma-la cũng vậy, trổ
bông thì sum sê mà đậu quả thì chẳng bao nhiêu.
Sơ phát tâm Bồ-tát thì cũng y như vậy; số người
sơ phát Bồ-tát tâm rất nhiều, nhưng thực sự
chứng đắc quả vị Bồ-tát thì rất ít. Sau đây là ý
nghĩa của bốn câu trên: Trứng cá chẳng khác gì
hoa am-ma-la và kẻ sơ phát tâm Bồ-tát: nhiều
không thể kể xiết nhưng kết quả lại chẳng có là
bao.
Vị Ðại Thế Chí Bồ Tát này chẳng hề thối thất
bồ đề tâm, cho nên Ngài nhớ được quá khứ, những
việc từ xa xưa.
"Hằng hà sa kiếp:" Hằng hà tức sông Hằng ở Ấn
Ðộ, chảy qua nước Xá Vệ, nơi Phật thuyết pháp.
Ai ai cũng biết đến con sông này, vì vậy khi nói
đến một con số to tát, Phật thường đề cập tới số
cát sông Hằng. Ngài Ðại Thế Chí cũng dùng danh
từ này để diễn tả thời gian lâu dài. "Kiếp,"
Phạn ngữ, gọi là "Kiếp ba" (kalpa), còn gọi là
"trường thời phân" tức là một thời gian lâu dài.
"Hữu Phật xuất thế:" Thời đó có một vị Phật
xuất thế. "Danh Vô Lượng Quang:" đức Phật xuất
thế này danh hiệu là Vô Lượng Quang. Lại còn có
các đức Phật Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô
Xưng Quang v.v...tổng cộng mười hai vị Như Lai,
cho nên gọi là "Thập Nhị Như Lai."
"Tương Kế Nhứt Kiếp:" Trong đại kiếp ấy, liên
tục trong một thời gian cực kỳ lâu dài như vậy,
có 12 đức Như Lai kế tiếp nhau xuất thế.
Bây giờ còn một ít thời gian, tôi xin kể lại
một chuyến hành hương lên Ðại Tiên Tự ngày hôm
nay, thăm Ngài "Bất Thị Lão Hòa Thượng." Ngài là
một vị hòa thượng không già.
Vị Hòa thượng này là ai? Là "Khai Thiền Bất
Thị Lão Hòa Thượng." Vì sao tôi gọi Ngài là
chẳng phải lão hòa thượng?" Vì Ngài tuy tuổi
trên tám mươi nhưng rất hăng say làm việc, thân
thể tráng kiện, tay chân vẫn còn bắp thịt, có vẻ
đầy sức lực. Thấy Ngài như vậy cho nên tôi mới
cho Ngài cái tên "Bất Thị Lão Hòa Thượng" (chẳng
phải lão hòa thượng). Tôi hy vọng Ngài mãi mãi
không già.
Vị lão hòa thượng này rất vui tính, có thể
nói Ngài có đại trí tuệ, biện tài vô ngại; Ngài
thích nói những câu ẩn ý, và dùng trượng đánh
phủ đầu. Ngài có một bài kệ như sau:
Thủy lưu bình địa bổn vô thanh,
Dạ hữu cao đê nhi hữu thanh,
Ðại đạo vô ngôn chu Pháp Giới,
Nhân tham sân si nhi hữu tranh.
Nước chảy trên đất vốn không ra
tiếng,
Ðất có cao thấp mới có tiếng,
Ðại đạo không lời trong Pháp Giới
Bởi tham sân si mà có tranh.
Ngài vừa nói xong thì có người lập tức lấy
bút giấy ghi lại. Nhưng tôi nói với Ngài: "Bài
kệ này vốn chẳng phải của Ngài. Tôi đã biết từ
lâu và Ngài hãy nghe tôi đọc đây. Ngài đã đọc
bài kệ này tôi." Tôi liền đọc bài kệ ấy, Ngài tỏ
vẻ như hết sức kinh ngạc. Ngưng một lúc Ngài
hỏi: "Như vậy Ngài đã sớm biết bài kệ này ư?
Tôi đáp: "Dĩ nhiên tôi đã biết từ lâu. Nếu
không, thì tại sao Ngài vừa thốt ra tôi liền nhớ
được ngay?"
Sau đó tôi và Ngài đàm đạo rất lâu. Trước khi
kiếu từ tôi đến ngồi trên ghế của Ngài, rồi ngồi
trên giường của Ngài một lúc. Rồi nói: "Bây giờ
tôi không về nữa. Ngài hãy rời khỏi nơi đây,
Ngài chẳng thể ở đây được."
Ngài nói: "Vậy, tôi ra phía ngoài ở." Tôi
nói: "Ngài cũng không được phép ở bên ngoài."
Vị hòa thượng này rất vui tánh. Ðã ba phen
tôi có ý định ra về, và ba phen tôi quay trở
lại. Tôi bèn nói: "Tôi rất thích túp lều tranh
này. Trên thế gian này không có gì hơn nó được,
chẳng những nó đứng hạng nhứt trên thế gian mà
ngay trên trời cũng chẳng tìm ra. Cho nên lần
này tôi nhất định muốn có túp lều tranh này. Vậy
xin Ngài hãy rời nơi đây ngay!" Tôi muốn dời
chăn mền của Ngài, nhưng Ngài vẫn không đi, rốt
cuộc tôi phải ra về.
Tôi nói: "Tôi sẽ trở lại thiêu rụi túp lều
này, thử xem Ngài sẽ ở đâu?"
Tôi và Ngài tranh luận rất lâu mà tôi vẫn
không làm thế nào khiến Ngài rời khỏi túp lều
tranh này được. Tôi muốn đón Ngài sang Mỹ. Tôi
nói: "Ngài hãy mau sang Mỹ, chẳng nên ở đây."
Vừa rồi là những gì đã xảy ra cho tôi hôm
nay.
Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang.
Bỉ Phật giáo ngã niệm Phật tam muội. Tỷ như hữu
nhân, nhất chuyên vi ức, nhất nhơn chuyên vọng.
Như thị nhị nhơn, nhược phùng bất phùng, hoặc
kiến phi kiến. Nhị nhơn tương ức, nhị ức niệm
thâm. Như thị nãi chí, tùng sanh chí sanh, đồng
ư hình ảnh, bất tương thừa di.
"Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt
Quang." Ðại Thế Chí Bồ Tát gặp mười hai vị Như
Lai, đó là Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô
Ngại Quang, Vô Ðối Quang, Diệm Vương Quang,
Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỷ Quang, Trí Huệ Quang,
Nan Tư Quang, Bất Ðoạn Quang, Vô Xưng Quang, và
Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ðức Phật ban sơ có danh
hiệu là Vô Lượng Quang. Phật A Di Ðà cũng có
danh hiệu là Vô Lượng Quang; nhưng 12 đức Như
Lai này là kế tiếp nhau xuất thế trong một kiếp,
cho nên tôi tin rằng đó là một vị cổ Di Ðà.
Thích Ca Mâu Ni Phật có cổ Thích Ca, kim Thích
Ca. Ðức Phật Vô Lượng Quang này có thể là cổ Di
Ðà. Như vậy đức Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhật
Quang, hào quang của Ngài sáng hơn ánh sáng của
mặt trời và mặt trăng cả trăm ngàn lần.
"Bỉ Phật giáo ngã niệm Phật Tam muội." khởi
đầu từ thời Ðức Phật Vô Lượng Quang, và cho đến
Ðức Phật sau cùng là Siêu Nhật Nguyệt Quang Như
Lai, tôi đều ở chốn nhân địa tu tập pháp môn
Niệm Phật. Tôi đã từng theo học pháp môn Niệm
Phật với mười hai đức Phật này, cho nên tôi nói
rằng những đức Phật đó đã dạy tôi niệm Phật Tam
muội. "Bỉ Phật" tức là chỉ mười hai đức Phật kể
trên. Ðại Thế Chí Bồ Tát tu pháp môn Niệm Phật
đã phải trải qua một thời gian lâu dài đến một
kiếp để học tập pháp môn Niệm Phật Tam muội. Tam
muội là Phạn ngữ, phiên dịch ra Hán văn là
"Chánh định" và "Chánh thọ."
Pháp môn niệm Phật tu tập như thế nào? Trước
tiên đơn cử một thí dụ. "Tỷ như hữu nhơn, nhất
chuyên vi ức, nhất nhân chuyên vong." Thí dụ có
hai người, một người luôn luôn nhớ còn người kia
thì chuyên quên. Hai người này hoặc là bè bạn,
hoặc là cha con, hoặc là có quan hệ thân thuộc
với nhau. Nhưng hai người này thì một người luôn
nhớ người nọ, thí dụ ta nói ông A luôn nhớ ông
B. Còn ông B thì sao? Ông B thì chuyên quên,
chẳng nhớ gì đến ông A gắn bó với mình, ngay cả
quên hẳn ông A là ai.
"Như thị nhị nhơn" Như hai kẻ này, ông A luôn
nhớ, ông B lại chẳng hề nhớ chi cả, "nhược phùng
bất phùng," tức là nếu có gặp nhau thì y như
chẳng gặp, vì ông A thì nhớ, ông B thì quên mất.
Trong trường hợp ông A gặp ông B thì ông vẫn nhớ
rõ ông B. Rất tiếc ông A chẳng gặp ông B. Nếu
ông B thấy ông A thì y như chẳng thấy vì ông
chẳng nhớ chi cả, không biết đó là cha, bạn bè
hay thân quyến của mình. Vì không còn nhớ nên
nói có gặp như chẳng gặp.
"Hoặc kiến phi kiến" Hoặc thấy, thì cũng như
chẳng thấy. Vì chỉ có một người nhớ còn kẻ kia
lại chẳng nhớ, chẳng khác gì xòe một bàn tay vỗ
trên hư không thì không phát ra tiếng, phải cần
đủ hai món nhân duyên phối hợp mới thành tựu
được. Cho nên, hai người này dù có thấy nhau
cũng như chẳng thấy.
"Nhị nhơn tương ức, nhị ức niệm thâm." Thí dụ
hai người đều nhớ nhau, chẳng quên nhau -- Ông A
nhớ ông B và ngược lại, người này gắn bó với
người kia, thì là hai mối nhớ nhung thâm sâu,
ghi đậm vào tâm trí. "Như thị nãi chí, tùng sanh
chí sanh." Như vậy, từ đời này sang đời khác hai
kẻ này vẫn nhớ nhau sau, ghi đậm vào tâm trí mãi
mãi. Cũng như Phật nghĩ đến chúng sanh và ngược
lại. Trong thí dụ trên, Phật hằng nhớ đến chúng
sanh, còn kẻ chuyên quên kia tức là những chúng
sanh chẳng hề nhớ đến Phật. Tuy Phật hằng nghĩ
đến chúng sanh, chúng sanh trái lại không nghĩ
đến Phật, cho nên hào quang không hòa hợp được.
Hào quang không hòa hợp, dĩ nhiên chẳng thể có
sự cảm ứng.
Như vậy nếu hai người đều nhớ đến nhau, như
Phật hằng nhớ đến chúng sanh và ngược lại, tâm
niệm sâu đậm và thành khẩn, thì trọn kiếp này
hoặc từ kiếp này đến kiếp sau, hoặc trong rất
nhiều kiếp, hoặc trong nhiều đại kiếp, họ vẫn
không xa rời. "Ðồng ư hình ảnh, bất tương thừa
dị." Vì nỗi nhớ nhung sâu đậm giữa hai nguời cho
nên họ y như hình với bóng. Thân chẳng rời bóng,
bóng chẳng xa thân, như vậy cả hai chẳng thể nào
không thấy nhau.
Thập phương Như Lai, lân niệm chúng sanh, như
mẫu ức tử. Nhược tử đào thệ, tuy ức hà vi?
"Thập phương Như Lai." Chắc quý Phật tử đều
biết rõ "thập phương," tức là đông, tây, nam,
bắc thêm vào đó là đông nam, tây nam, đông bắc,
tây bắc đó là tám phương thêm thượng phương, hạ
phương, tổng cộng là mười phương. Thập phương
thế giới đều có Như Lai, đều có Phật. "Lân niệm
chúng sanh, như mẫu ức tử," tức là chẳng khác gì
tình cảnh mẹ nhớ con. "Nhược tử đào thệ." Nhưng
nếu con lại chẳng nhớ mẹ, bỏ mẹ mà chạy chơi nô
đùa, thì "Tuy ức hà vi:" Tuy nhớ nhưng làm gì
được? Lúc đứa con chạy ra bên ngoài, mẹ có nhớ
con cách mấy chăng nữa, đứa con cũng không trở
về với mẹ.
Tử nhược ức mẫu, như mẫu ức thời. Mẫu tử lịch
sanh, bất tương vi viễn.
"Tử nhược ức mẫu, như mẫu ức thời" Nếu con mà
cũng nhớ mẹ một cách chí tình giống như mẹ nhớ
con vậy, thì:
"Mẫu tử lịch sanh, bất tương vi viễn" tức là
đời này qua đời khác mẹ và con chẳng xa lìa
nhau.
Ðoạn kinh văn này ngụ ý nếu chúng sanh chúng
ta nhớ nghĩ đến Phật cũng chân thành như Phật
tưởng nhớ chúng sanh, thì nhứt định Phật sẽ tiếp
dẫn chúng sanh chúng ta. Tiếc thay, Phật nhớ
chúng sanh nhưng chúng sanh lại chẳng nhớ Phật,
quên niệm Phật, quên nghĩ tới Phật, cũng chẳng
khác gì mẹ nhớ con, song chỉ có mẹ nhớ con chứ
con lại không tưởng nhớ mẹ, cho nên mẹ và con
khó gặp nhau được. Nếu con cũng nhớ đến mẹ thì
luôn luôn mẹ và con đều chẳng xa lìa, con không
trốn mẹ chạy đi chơi. Vậy, nên chúng sanh chúng
ta hằng niệm Phật thì sẽ chóng về được cõi
Thường Tịnh Ðộ, tức là về cõi Phật.
Nhược chúng sanh tâm, ức Phật niệm Phật, hiện
tiền đương lai tất định kiến Phật. Khứ Phật bất
viễn, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai.
"Nhược chúng sanh tâm" "Nhược" nghĩa là giả
sử. Giả sử tâm chúng sanh; "chúng sanh," đây bao
gồm quý vị, tôi, người khác, chúng sanh trong
quá khứ, chúng sanh trong hiện tại, chúng sanh
trong vị lai, tất cả đều ở trong hai chữ chúng
sanh. Cho nên với câu Kinh này mình chớ nên nghĩ
rằng đó là nói về một chúng sanh nào khác, mà
phải thẳng thắn thừa nhận rằng chúng sanh đó
chính là mình chớ không ai khác, một chúng sanh
yếu hèn, một chúng sanh chẳng làm nên trò trống
gì, một chúng sanh chẳng biết báo ơn Phật, một
chúng sanh quên Phật. Nếu mình cứ hằng nghĩ như
vậy tất phải sanh tâm hổ thẹn. Phật đầy lòng từ
bi thiết tha đến giáo hóa mình mà mình bỏ ngoài
tai, chẳng ưng nghe lời dạy của Phật, như vậy
tức là trong tâm ta chẳng có Phật, ngay cả một
chữ "Phật" cũng chẳng có.
Quý Phật tử nghĩ xem tại Ðài Loan nơi Phật
Giáo đang thịnh hành, có thể mọi người đều biết
Phật, biết lễ Phật, nhưng trên thế giới số nguời
biết Phật, lễ Phật được bao nhiêu? Hãy cho rằng
số người biết Phật rất nhiều và biết lễ bái cũng
không ít, tuy nhiên lại phân ra nào lễ bái theo
Phật giáo, nào là lễ bái của ngoại đạo, nào là
lễ bái của bàng môn tả đạo. Cho nên hiện nay
chúng ta chẳng hiểu pháp môn niệm Phật, có khi
chúng ta còn bảo người khác đừng niệm Phật, đừng
tin Phật, như thế có phải là điên đảo hay không?
Niệm Phật một câu, tuy đơn giản như vậy nhưng
không phải dễ dàng, chớ tưởng rằng bất cứ ai
cũng có thể niệm Phật được. Nếu nghiệp chướng
nặng nề thì muốn niệm Phật niệm cũng chẳng ra.
Quý Phật tử từng xem hát, có lẽ cũng biết về
một tấn tuồng tên Phong Ma Tảo Tần. Nội dung vở
tuồng nói về Ðịa Tạng Vương Bồ Tát muốn giáo hóa
Thừa Tướng Tần Cối ở nước Nam Tống.
Thuở xua Tần Cối rất hiếu thảo với cha mẹ. Vì
hiếu thảo với cha mẹ nên ông tạo được một ít
công đức. Do đó đời này ông được giàu sang.
Nhưng được giàu sang rồi ông không biết tiếp tục
tạo căn lành như trước để vun bồi quả tốt cho
tương lai và, ông ta đã tạo rất nhiều tội lỗi.
Có lẽ vào một đời nào đó trong quá khứ, Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát có quan hệ bạn bè với Tần Cối,
cho nên Ngài nghĩ rằng người này nên được cứu
độ. Nguyện lực của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát rất
lớn. Ngài bèn phát tâm độ ông Tần Cối này.
Ngài độ ông Tần Cối bằng cách nào? Ngài hóa
thân làm một vị Tỳ-Khưu, viết chữ "Phật" trong
lòng bàn tay rồi đến đưa cho Tần Cối xem. Chỉ
cần Tần Cối nhận ra chữ này và nói đó là chữ
Phật, thì tất cả tội lỗi mà Tần Cối đã tạo từ
trước Ngài sẽ giúp được xá miễn. Ðịa Tạng Bồ Tát
dùng phương tiện thiện xảo này để độ Tần Cối.
Nhưng khi Tần Cối gặp Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, ông
chẳng sanh tâm cung kính. Vì ông không sanh tâm
cung kính nên Ðịa Tạng Vương Bồ Tát dùng đại oai
thần lực, lấy phất trần phủi một cái khiến ông
tự động quỳ xuống, muốn đứng dậy cũng chẳng
được. Ðịa Tạng Vương Bồ Tát chìa tay ra và hỏi
ông rằng: "Ông hãy xem chữ gì trong lòng bàn tay
tôi."
Tần Cối liếc qua rồi nói: "Tôi đậu Trạng
Nguyên, nay làm Tể Tướng, văn tự các nước tôi
đều thông, văn tự các nước mang đến xứ này đều
qua tay tôi duyệt, hà huống chỉ có một chữ trong
lòng bàn tay Ngài? Ngài cho rằng tôi không biết
chữ đó hay sao? "Biết thì tôi biết đấy, nhưng
tôi không muốn đọc cho Ngài nghe!"
Quý Phật tử nghĩ xem! Ðịa Tạng Vương Bồ Tát
đầy lòng từ bi, muốn ông Tần Cối chỉ đọc một chữ
"Phật" mà thôi. Ông ta biết chữ "Phật" đó nhưng
chẳng thốt ra tiếng được, lại còn nói: "Tôi biết
nhưng tôi không đọc cho Ngài nghe." Kết quả
nghiệp chướng của y chẳng được tiêu trừ mà lại
còn bị đọa địa ngục. Câu chuyện này đủ chứng
minh niệm Phật chẳng phải là việc dễ dàng.
Nói về cái tâm chúng sanh, mình bảo họ nhớ
Phật niệm Phật cũng chẳng phải là việc dễ dàng.
Cho nên mới nói là "Nhược" tức là giả sử. Ðoạn
Kinh văn này chỉ là giả thuyết từ. Giả sử cái
tâm chúng sanh của mình "ức Phật niệm Phật," nhớ
Phật niệm Phật. Tâm luôn tưởng nhớ Phật, miệng
luôn niệm Phật, thì hiện tiền và trong tương lai
nhất định sẽ được thấy Phật. Mình nhớ Phật, niệm
Phật, hễ chuyên nhất tất sẽ có linh ứng, tâm
phân tán thời linh ứng khó hiển hiện. Tâm niệm
được chuyên nhất, niệm Phật một cách khẩn thiết,
chí thành, đến nỗi nước chảy cũng là niệm Phật,
gió thổi cũng là niệm Phật, niệm cho đến độ mọi
âm thanh chung quanh đều là "A Di Ðà Phật," như
vậy mới gọi là "nhớ Phật niệm Phật."
"Hiện tiền đương lai." Hiện tiền là ngay
trong đời này; đương lai tức tương lai hoặc là
đời sau của chúng ta.
"Tất định kiến Phật." Mình nhất định có thể
thấy được Phật, vì thệ nguyện lực của Phật là
chỉ cần mình niệm Phật thì Phật nhất định nhiếp
thọ mình. Cho nên "Khứ Phật bất viễn," tức là
không còn xa Phật.
"Bất giả phương tiện." Mình chẳng cần tìm
những pháp môn phương tiện đâu đâu xa xôi để tu
trì pháp môn niệm Phật này. Niệm Phật là con
đường tắt trong những con đường tắt, phương tiện
trong những phương tiện, một pháp môn viên đốn
nhứt, đơn giản nhứt, dễ dàng nhứt. Cho nên không
cần tìm kiếm một pháp môn hay phương tiện nào
khác. Pháp môn niệm Phật là phương pháp hay
nhứt.
"Tự đắc tâm khai." Tâm khai tức đã giác ngộ,
đã thấu hiểu thì khoát nhiên tâm liền khai ngộ,
khoát nhiên thông suốt, khoát nhiên đắc niệm
Phật Tam muội, do đó tự đắc tâm khai.
Như nhiễm hương nhơn, thân hữu hương khí, thử
tắc danh viết hương quang trang nghiêm. Ngã bản
nhân địa, dĩ niệm Phật tâm, nhập vô sanh nhẫn,
kim ư thủ giới, nhiếp niệm Phật nhơn, quy ư Tịnh
Ðộ.
"Như nhiễm hương nhơn." Cũng như người nào có
thấm nhiễm hương thì "thân hữu hương khí" tức
thân kẻ này toát ra mùi thơm như hương. Vì có
mùi thơm nên: "Thử tắc danh viết hương quang
trang nghiêm" cảnh giới này gọi là "hương quang
trang nghiêm."
"Ngã bản nhân địa." Ðại Thế Chí Bồ Tát tự
xưng là "vô ngã chi ngã." Cái tôi vô ngã. Bồ-tát
vốn vô ngã, nhưng Ngài đối với chúng sanh thuyết
pháp nên nói có ngã. Ngã bản nhân địa nghĩa là
lúc tôi còn ở tại nhân địa.
"Dĩ niệm Phật tâm" tức dùng cái tâm nguyện
niệm Phật để "Nhập vô sanh nhẫn" tức chứng đắc
vô sanh pháp nhẫn.
"Kim ư thử giới, nhiếp niệm Phật nhơn" Tôi
hiện ở tại thế gian này, tức là thế giới Ta bà
của chúng ta, để nhiếp thọ, tất cả những người
niệm Phật. Kẻ nào niệm Phật thì tôi giúp đỡ
người đó, kẻ nào niệm Phật thì tôi tiếp dẫn
người đó. Chỉ cần kẻ đó niệm Phật, tôi liền tiếp
dẫn kẻ đó vãng sanh thế giới Tây Phương Cực-Lạc.
Người niệm Phật chẳng khác gì miếng sắt, tôi y
như cục nam châm để hút sắt. Chỉ cần chịu niệm
Phật thì tôi hút về thế giới Tây Phương Cực-Lạc.
"Nhiếp niệm Phật nhơn, quy ư Tịnh Ðộ" Tôi
nhiếp thọ những kẻ niệm Phật đều được sanh về
thế giới Tây Phương Cực-Lạc, về cõi Thường Tịch
Quang Tịnh Ðộ của đức Phật A Di Ðà.
Phật vấn Viên Thông, ngã vô tuyển trạch, đô
nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc Tam Ma
Ðịa, tư vi đệ nhất.
"Phật vấn Viên Thông" Trong Kinh Lăng Nghiêm,
Phật hỏi tất cả đệ tử rằng sau khi nghe qua thập
bát giới, theo sự nhận thức của họ thì pháp môn
nào viên dung vô ngại nhứt, viên mãn nhứt, hợp
căn cơ của họ nhứt? Do đó Ðại Thế Chí Bồ Tát mới
nói "Phật Vấn Viên Thông." Phần trước của Kinh,
Phật có hỏi các vị đệ tử của Ngài về pháp môn mà
họ đã chứng đắc để thành tựu đạo quả viên thông,
cho nên Ðại Thế Chí Bồ Tát mới nói:
"Ngã vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn," tức
tôi không có tuyển chọn như thế, rằng xem pháp
môn nào là đệ nhứt? là viên thông? Nhưng tự mình
cảm thấy pháp môn niệm Phật đều thâu nhiếp lục
căn, vì rằng:
Nhứt niệm Di Ðà nhứt niệm Phật,
Niệm niệm Di Ðà niệm niệm Phật.
Mình lấy cái tâm niệm Phật để cầu sanh Tịnh
Ðộ, và chận đứng mọi vọng tưởng tạp niệm, không
để chúng dấy khởi. Nếu có thể dùng một niệm của
cái tâm niệm Phật để "đô nhiếp lục căn," thì cả
sáu căn đều nghe theo lời mình, không làm nghịch
ý mình, tức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý
không bị cảnh giới của sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, làm dao động. Cho nên nói rằng: "lấy
niệm phật để chuyển hóa hết thảy các cảnh," lấy
niệm Phật để không bị hết thảy các cảnh chuyển
hóa mình. Mình chỉ cần niệm sáu chữ "Nam Mô A Di
Ðà Phật" thì sẽ thâu nhiếp sáu căn dễ dàng, rồi
sáu căn này sẽ chịu nghe theo và phục tùng mệnh
lệnh, không dẫn dắt mình đến pháp nhiễm ô. Cho
nên, "đô nhiếp lục căn" tức là một pháp môn tổng
trì (Dharani - Ðà la ni), cũng là tổng nhất
thiết pháp, trì vô lượng nghĩa vậy!
"Tịnh niệm tương kế." "Tịnh" là gì? Không còn
tạp niệm, không còn vọng tưởng, gọi là tịnh.
Niệm là gì? Nhứt niệm Phật tức là niệm niệm
Phật, niệm niệm Phật tức là nhứt niệm Phật, một
niệm cũng không gián đoạn thì ngay trong một
niệm này, nhứt định được vãng sanh về thế giới
Cực-Lạc. Cho nên nói rằng tịnh niệm tương kế.
Hai chữ "tương kế" này rất hệ trọng, chẳng phải
niệm niệm là không niệm. Mình phải:
Niệm mà không niệm
Không niệm mà niệm.
Hãy niệm một cách tự nhiên, dù cho mình không
muốn niệm Phật cũng không được, tâm mình vẫn tự
niệm. Cho nên nói rằng muốn dứt cũng không dứt
được, muốn tiếng niệm Phật ngưng hẳn cũng không
thể nào làm cho nó ngưng được. Chẳng khác gì
uống rượu say, niệm Phật đến say, muốn không
niệm cũng không được, chỉ còn lại một cái tâm
niệm Phật.
Bởi vậy mới nói là "tịnh niệm tương kế".
Tương kế là kế tục, không gián đoạn. Niệm Phật
phải liên tục, không gián đoạn, ngày này qua
ngày nọ, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm
nọ, đời đời kiếp kiếp không lúc nào ngưng nghỉ.
Nếu mình phát tâm được như vậy thì đó gọi là
tịnh niệm tương kế.
"Ðắc Tam Ma Ðịa" Tam-ma-địa là "đẳng trì," có
người dịch là "đẳng trị." Có người cho rằng
tam-ma-địa là tam muội, thực ra tam-ma-địa là
định huệ viên dung, định huệ không hai. Ðược như
vậy gọi là đắc tam-ma-địa.
"Tư vi đệ nhứt" Ðại Thế Chí Bồ Tát nói "Nếu
đứng trên cương vị của tôi, với kinh nghiệm tu
hành và sở đắc của bản thân tôi từ vô lượng kiếp
cho đến nay và nếu ai hỏi tôi pháp môn nào là
hạng nhất thì tôi xin thưa rằng tôi không chú ý
đến các pháp môn khác, chỉ pháp môn thâu nhiếp
lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc tam-ma-địa, là
đệ nhất."
Kệ Hồi
Hướng
Nguyện đem
công đức này
Trang
nghiêm cõi Phật-tịnh
Trên báo
bốn trọng ân
Dưới cứu
ba đường khổ
Nếu có ai
nghe thấy
Tất phát
bồ-đề tâm
Ðến khi
mạng này hết
Ðồng sanh
Cực Lạc Quốc.
Nam Mô
Hộ Pháp Vi Ðà Tôn Thiên Bồ Tát