Triệt Ngộ Đại
Sư
Thích
Thiền Tâm
Hán: 1
Nhứt cú Di Đà
Ngã Phật tâm yếu
Thụ triệt Ngũ thời
Hoàng cai Bát giáo
Việt: 1
Một câu A Di Đà
Tâm yếu của Phật ta.
Dọc năm thời thấu suốt
Ngang tám giáo trùm xa.
Lược giải:
Một câu niệm Phật là tâm yếu của đức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni. Tâm yếu, cũng gọi là tông, là yếu chỉ tức
sắc tức không của cảnh giới chân tâm, không thể dùng
lời nói và tư tưởng để luận bàn suy nghĩ được. Năm
thời là: Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, và
thời Pháp Hoa. Tám giáo là: Tạng, Thông, Biệt, Viên,
Đốn, Tiệm, Bí mật và Bất định giáo. Dọc là chỉ cho
chiều cao thuộc thời gian. Ngang chỉ cho chiều rộng
thuộc không gian. Ý nói câu niệm Phật rất mầu nhiệm,
về nghĩa lý bao trùm Năm thời Tám Giáo, về cao rộng
suốt cả Thời gian, Không gian.
Hán 2:
Nhứt cú Di Đà
Ý chỉ như hà?
Bạn tri âm thường ít
Mộc nhĩ thiên đa!
Việt 2:
Một câu A Di Đà
Ý chỉ diệu bao nhiêu?
Bạn tri âm thường ít
Kẻ tai gỗ riêng nhiều !
Lược giải:
Như bài kệ trên đã dẫn, ta thấy đại khái ý chỉ của
câu niệm Phật cao diệu như thế nào! Cho nên Thành
Thời Đại Sư đã nói trong một Đề Từ: " Mà trong A Di
hồng danh thâm. Nghìn muôn khôn tìm ra tri âm! Thiên
Như lòng từ soi chân đăng. Đưa người mau ra vòng mê
lầm...Ôi câu hồng danh mầu thâm xa. Sâu cùng chư
tông làng thiền na. Buông ra thâu vào đều như như.
Tương tư mơ đầy trời Liên hoa !" Điệu đàn niệm Phật
cao siêu mầu nhiệm như thế, trừ ra bậc tri âm, chớ
kẻ tai gỗ làm sao nghe thấu? Vì thế nhiều kẻ đã lầm
đánh giá Niệm Phật là pháp thấp kém chỉ để cho kẻ
ngu dốt, hạng người già cả tu hành. Thất đáng cảm
xót vì cảnh ít tri âm, như lời một bậc tiền bối đã
than
Nga nga hồi chí tại cao sơn
Dương dương hồ ý tại lưu thủy
Đàn bá nha ít kẻ tri âm
Những nghe qua xót trộm lại đau thầm
Chung Kỳ mất đập cầm không muốn khảy!
Hán 3:
Nhứt cú Di Đà
Đại ý phân minh
Xà sanh cung ảnh
Dược xuất kim bình.
Việt 3:
Một câu A Di Đà
Đại ý thật phân minh
Rắn sanh từ cung ảnh
Thuốc lấy ở kim bình.
Lược giải:
Một người tới nhà bạn thân chơi, cố giao rót trà ra
chén mời uống. Lúc ấy vào khoảng đầu đêm, ánh đèn
chấp chóa in bóng cung treo gần bên vào chén giống
như con rắn đang lăn quăn chao động. Trong lúc không
kịp suy nghĩ, người ấy uống vội hết chén trà, rồi
chợt sanh lòng nghi là mình đã nuốt con rắn nhỏ vào
bụng, nhưng không dám nói. Về đền nhà anh lo sợ, rồi
phát bịnh. Sau bạn đến thăm, hỏi biết duyên cớ, mời
đến nhà để dĩa đèn và chén trà chỗ cũ, chỉ cây cung
treo gần bên, người ấy mới dứt hết mối nghi và lành
bịnh. Thuở xưa người Ấn Độ khi luyện thuốc quí,
thường dùng gương dầy hoặc ngọc thủy tinh tụ ánh
sáng mặt trăng để lấy nước. Luyện xong lại cất thuốc
vào bình bạc hoặc bình vàng, cho tăng thêm hiệu lực
linh nghiệm. Đây ý nói câu niệm Phật rõ ràng là pháp
viên đốn đi thẳng vào chân tâm, ngay lúc niệm Phật
tức đã thể hiện Phật tánh, ví như thuốc quí lấy ra
từ bình vàng. Kẻ không biết lầm hiểu niệm Phật là
pháp Quyền giáo để dứt trừ vọng tưởng, hoặc pháp
Tiệm giáo để gieo lần thiện căn. Như thế có khác gì
anh chàng lờ lạc nghi ngờ lầm bóng cung là rắn đâu ?
Hán 4:
Nhứt cú Di Đà
Danh dị phương tiện
Phổ nhiếp quần cơ
Bàng thông nhất tuyến.
Việt 4:
Một câu A Di Đà
Phương tiện cực mầu lạ
Nhiếp khắp hết căn cơ
Rẽ thông vào Bát nhã.
Lược giải:
Ấn Quang Đại sư nói: "Tu các môn khác phải nhiều đời
mới thoát luân hồi, và theo như Khởi Tín Luận thì
phải trải qua một muôn đại kiếp tu hành liên tục mới
vượt lên ngôi Bất thối chuyển. Ví như quan chức phải
từ phẩm bậc nhỏ lần lượt thăng đến ngôi Tể tướng.
Riêng môn Niệm Phật là phương tiệm mầu lạ để mau
thành Phật một đời được đới nghiệp vãng sanh thoát
khỏi luân hồi, một kiếp đã bước lên ngôi Bất thối
chuyển. Ví như Thái tử khi mới sanh ra, đã tôn qúi
vượt hẳn quần thần "Môn Niệm Phật lại nhiếp tất cả
căn cơ, dưới từ loài qủy súc, hạng ngu tốt dốt nát
tật nguyền, trên đến bậc Đẳng giác Bồ Tát như Văn
Thù Phổ Hiền cũng có lời nguyện cầu sanh Tịnh độ.
Chữ "Nhất tuyến" đây là chỉ cho môn thiền Trực chỉ,
tức đường lối thẳng vào Bát nhã chân tâm. Ngài Triệt
Ngộ dùng từ ngữ này, bởi ngài là một "đại thiền sư".
Lại "Nhất tuyến" cũng hàm chỉ cho đường lối đặc sắc
nhiệm mầu của môn Tịnh Độ.
Hán 5:
Nhứt cú Di Đà
Khai vãng sanh môn.
Thị đa phước đức
Phi thiểu thiện căn.
Việt 5:
Một câu A Di Đà
Mở đường lối vãng sanh
Đó là nhiều phước đức
Chẳng phải ít căn lành.
Lược giải:
Từ khi Vi Đề Hy phu nhân chán cõi đời trược ác, cầu
sanh về thế giới đẹp an vui, đức Thích Tôn mới nói
ra môn Tịnh độ mở đường lối vãng sanh, để hành giả
được dễ dàng thuận tiến trên bước đường giải thoát.
Muốn làm một bậc thượng thiện nhân cao quý ở cõi đẹp
mầu như thế giới Cực Lạc, phải là người có nhiều
phước đức căn lành. Theo kinh Vô Lượng Thọ: Chúng
sanh nào đời này nghe nói Phật A Di Đà và cõi Cực
Lạc, phát lòng tín nguyện, chí thiết niệm Phật cầu
vãng sanh. Những chúng sanh đó trong tiền kiếp đã
từng gặp nhiều đức Phật, và gieo trồng nhiều phước
đức căn lành rồi.
Hán 6:
Nhứt cú Di Đà
Lâm chung Phật hiện
Tứ biện thân tuyên
Lục phương cộng tán.
Việt 6:
Một Câu A Di Đà
Khi lâm chung Phật hiện
Tứ biện khó thân tuyên
Sáu phương đồng khen ngợi.
Lược giải:
Liên Trì Đại Sư nói: "Một câu A Di Đà gồm: Đại thiện
căn, đại phương tiện, đại phước đức, đại trí huệ,
đại giải thoát, đại từ bi. Câu niệm Phật đã có nhiều
công đức lớn như thế, nên người niệm Phật mau diệt
nhiều tội chướng, mau sanh nhiều phước huệ, khi lâm
chung quyết định Phật sẽ hiện thân tiếp dẫn sanh về
Cực Lạc. Cho nên chư Phật sáu phương hiện ra tướng
lưỡi rộng dài, tiêu biểu cho sự tuyên thuyết pháp
môn tối thượng thừa, mà ngợi khen công đức không thể
nghĩ bàn của Tịnh độ. Đã là pháp môn công đức không
thể nghĩ bàn; thì đức Thích Ca Mâu Ni và chư Phật dù
đã dùng Tứ biện tài là: Từ vô ngại biện, Nghĩa vô
ngại biện, Pháp vô ngại biện và Lạc thuyết vô ngại
biện, cũng không thể tuyên dương ngợi khen cho hết
được.
Hán 7:
Nhứt cú Di Đà
Thành Phật tiêu chuẩn
Dĩ niệm Phật tâm
Nhập Vô sanh nhẫn
Việt 7:
Một câu A Di Đà
Là thành Phật tiêu chuẩn
Dùng tâm hạnh niệm Phật
Chứng vào Vô sanh nhẫn.
Lược giải:
Niệm Phật chẳng riêng khi lâm chung được sanh về cõi
Phật mà thôi. Trong hiện tại nếu hành giả nhiếp cả
sáu căn , giữ cho tịnh niệm nối luôn, và có thể ngay
đời này được ngộ đạo, chứng vào Vô sanh pháp nhẫn.
Cho nên gọi: Niệm Phật là tiêu chuẩn thành Phật.
Hán 8:
Nhứt cú Di Đà
Chứng tam bất thối
Chỉ thử nhất sanh
Tiện bổ Phật vị
Việt 8:
Một câu A Di Đà
Chứng ba ngôi Bất thối
Chỉ trong một đời này
Được bổ lên Phật vị
Lược giải:
Ba ngôi bất thối chuyển là: Vị bất thối, Hạnh bất
thối, và Niệm bất thối. Cứ theo Thiên Thai Giáo,
chứng được đệ nhất bất thối tâm trụ, mới lên ngôi vị
bất thối. Chứng thập hồi hướng, lên ngôi hạnh bất
thối. Và chứng sơ địa mới vào ngôi niệm bất thối.
Nhưng ước theo đường lối phổ thông của Đại thừa giáo
thì: Phá được kiến tư hoặc mới lên ngôi vị Bất thối.
Phục đoạn Trần sa hoặc, lên ngôi hạnh bất thối. Và
tiến phá vô minh hoặc mới vào ngôi niệm bất thối.
Như thế chứng được ba ngôi bất thối thật không phải
dễ! Theo các giáo môn khác, tất phải tu tập trải A
Tăng kỳ số kiếp mới chứng nhập được. Với pháp môn
tịnh độ, khi được vãng sanh kể như vĩnh viễn không
còn bị thối chuyển nữa. Điều này, theo kinh giáo,
gọi là Xứ bất thối. Từ Xứ bất thối, địa vị tam bất
thối là cầm chắc trong tay, lần lượt sẽ tiến lên
Phật qủa. Cho nên kinh Di Đà nói: là bậc A bệ bạt
trí (Bất thối chuyển)". Chư thiện nhơn ở Cực lạc
sống lâu vô lượng vô biên A Tằng kỳ kiếp, chỉ trong
một kiếp sanh về nơi đó đã dư thời gian chứng lên
ngôi Nhứt sanh bổ sứ, được bổ và Phật vị rồi.
Hán 9:
Nhứt cú Di Đà
Mãn thập đại nguyện
Khởi đắc Phổ Hiền
Thác giáo liễu biện!
Việt 9:
Một câu A Di Đà
Tròn đầy mười thập nguyện
Đâu phải đức Phổ Hiền
Dạy lầm cho xong chuyện!
Lược giải:
Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Bất Tư Nghì Giải
Thoát Cảnh Giới, sau khi đức Phổ Hiền nói mười đại
Nguyện vương, ngài liền tự phát thệ và khuyên Thiện
Tài đồng tử cùng hải chúng Bồ Tát trong biển thế
giới Hoa Tạng, đều nên niệm Phật hồi hướng về Cực
lạc. Lời phát thệ như sau:
Tôi nguyện khi lúc sắp mạng chung
Dứt trừ tất cả điều chướng ngại
Diện kiến đức Phật A Di Đà
Liền được sanh về Cõi An Lạc.
Tại sao thế? Vì muốn vào cảnh giới Bất tư nghì giải
thoát, muốn thành tựu các công đức, muốn chứng Phật
qủa phải thật hành mười đại nguyện vương, và muốn
không bị nhiều chướng duyên làm cho thối chuyển,
muốn sớm mau hoàn mãn mười Đại nguyện vương ấy, tất
phải cầu sanh Cực Lạc! Cho nên lời đức Phổ Hiền
khuyên dạy chư Bồ Tát niệm Phật cầu về Cực Lạc không
phải là điều dạy bảo cạn cợt lạc lầm, nói suông rồi
cho xong chuyện! Mà chính đó là lời khuyên dạy tối
quan yếu, bao gồm ý vị rất sâu sắc, phải suy gẫm
nhiều mới thấu hiểu!
Hán 10:
Nhứt cú Di Đà
Bạch ngưu giá cảnh
Kỳ tật như phong
Hành bộ bình chánh
Việt 10:
Một câu A Di Đà
Xe gác ách trâu trắng
Chạy lẹ như gió bay
Bước đi thật bằng vững.
Lược giải:
Câu niệm Phật, đối với bậc cao, thì có niệm đồng với
không niệm. Và mặc dù không nghĩ rằng mình là người
hay niệm, đức Phật là vị được niệm, tâm niệm hằng
rỗng không, nhưng cũng chẳng ngại gì câu niệm Phật
thường hiển lộ rành rẻ rõ ràng. Như chư Bồ Tát, Tổ
sư vẫn đi đứng, nằm ngồi, vẫn ăn cơm mặc áo, vẫn
thuyết pháp tụng kinh, mà không thấy có các tướng
ấy. Các ngài làm pháp hữu vi mà tâm vô vi, tâm tuy
vô vi vi song vẫn làm tất cả pháp hữu vi. Như thế
mới chẳng đọa vào lỗi "không và có", tiến lên cảnh
giới Đại thừa. Cho nên đức Lục Tổ đã bảo:
Không niệm, niệm mới chánh
Có niệm, niệm thành tà
Có, không đều chẳng tưởng
Ngồi được Bạch ngưu xa.
Cần nhận rõ: Không và Có trên đây, chẳng phải là
không niệm Phật tụng kinh. Đây chính là niệm Phật đi
vào cảnh giới chân không, chẳng tưởng nghĩ rằng mình
có niệm hay không niệm. Với bậc kém hơn, tuy chưa
thể ứng dụng được như thế, nhưng biết niệm Phật tức
là đã tiến lên đường tu bằng phẳng, bước đi an ổn
vững vàng, lần siêu vào cảnh giới Đại thừa. Như đã
ngồi trên xe bạch ngưu, bước đi của nó thật bằng
vững, không còn lo ngại chi nữa !
Hán 11:
Nhứt cú Di Đà
Như Lai tạng tâm
Thủy ngoại vô lãng
Khí nguyên thị kim
Việt 11:
Một câu A Di Đà
Là tâm tạng Như Lai
Ngoài nước đâu có sóng
Xuyến, vàng vốn chẳng hai!
Lược giải:
Có một tu sĩ hỏi vị thượng tọa: "Niệm Phật để làm
gì?". Ngài đáp: "Niệm Phật để thành Phật!" Tu sĩ ấy
mỉm cười lui về, ý không công nhân. Tu sĩ đó không
công nhận, vì ông chưa hiểu, và chưa ứng dụng được
hạnh niệm Phật đi ngay vào Phật cảnh, tức vào tâm
tạng của Như Lai. Theo trí phân biệt, ông chỉ chấp
nhận và chỉ có thể ứng dụng câu niệm Phật để trừ
vọng tưởng, lần lần chứng vào chân như mà thôi. Nếu
theo tâm chấp tướng phân biệt, người ta thấy sóng
với nước, xuyến cùng vàng khác nhau. Nhưng thật ra,
các thứ đó chẳng phải một, cũng chẳng phải hai. Nếu
các hành giả niệm Phật từ thí dụ này để tìm hiểu,
tất sẽ xóa tan niệm phân biệt, dung hòa tâm với
cảnh, thể nhập pháp môn bất nhị, đi ngay vào tạng
tánh Phật, đại khái ý nghĩa như thế. Thuở xưa, một
hành giả khi chứng ngộ vào cảnh giới này đã có bài
kệ:
Bước đường vô vị đã cùng rồi
Thấy sóng là đâu chỉ nước thôi
Ông Triệu siêu quần chi lắm đó
Mặt mày trông cũng thế mà thôi.
Hán 12:
Nhứt cú Di Đà
Diệu chân như tánh
Xuân tại hoa chi
Tượng hàm cổ cảnh.
Việt 12:
Một câu A Di Đà
Lộ tánh diệu chân như
Sắc xuân nơi hoa sáng
Muôn tượng ẩn gương xưa.
Lược giải:
Thuở xưa, một vị Tăng tụng kinh Pháp Hoa đến câu:
"Chư pháp tùng bản lai. Thường tịch diệt tướng" (Các
pháp từ xưa nay. Tự tướng thường tịch diệt), bỗng
sanh nghi không hiểu. Sau mấy năm tham thiền, ông
chợt tỏ ngộ, liền viết tiếp thêm hai câu: "Xuân đáo
bách hoa khai. Hoàng Oanh đề liễu thượng" (Xuân đến
trăm hoa nở, Oanh vàng kêu liễu biếc!). Câu niệm
Phật đã thuần, hành giả sẽ thấy tánh chân như mầu
nhiệm lồ lộ hiện bày, không thể dùng lời nói luận
bàn, dùng tâm tư nghĩ suy phân biệt được. Cảnh trạng
ấy sự sắc xuân hiện nơi trăm hoa đua nở sáng tươi,
như oanh vàng kêu hót líu lo trên cành liễu sanh
biết, chỉ dùng tâm thiên nhiên mới thể hợp được cảnh
thiên nhiên. Nếu nghĩ suy phân biệt, tức là phiền
não vọng động rồi, đâu còn chi là sáng suốt, trong
đó in cảnh non nước trời mây, gương cùng cảnh tượng
dung nhập nhau không nghĩ là đây là kia, là một là
khác. Người niệm Phật khi ngộ vào tánh diệu chân như
cũng như thế. Thời cận đại ở Trung Hoa, một đêm Hư
Vân thượng nhân đang ngồi tịnh ngoài trời dưới ánh
trăng sáng, vị Thiền sư đồng tham bước đến ướm hỏi
thử:
Mắt cá vẫn nhiều, châu khó nhận
Móng mây dễ lẩn ráng tươi hồng!
Thượng nhân liền đáp:
Gương hàm muôn tượng không kim cổ
Chẳng thuộc âm dương sáng đại đồng.
Thiền sư nghe xong, gật đầu mỉm cười rồi bỏ đi.
Hán 13:
Nhứt cú Di Đà
Thanh tịnh thật tướng
Tuyệt nghị, tuyệt tư
Nan danh, nan trạng.
Việt 13:
Một câu A Di Đà
Cảnh thật tướng sạch trong
Tuyệt bàn, tuyệt suy nghĩ
Khó nói, khó hình dung.
Lược giải:
Lập lại ý trên, hành giả niệm Phật khi đi sâu vào
tam muội, thể thật tướng của chân tâm lồ lộ hiện
bày. Cảnh giới này chỉ đem tâm thanh tịnh khế hợp,
không thể dùng lời nói diễn tả, dùng tâm niệm phân
biệt để nghĩ ngợi phan duyên. Bởi thế nên khi Thủy
Lão Hòa Thượng đến tham khấu với ý niệm cầu hỏi về
chân tâm, vừa mới cúi lạy đã bị đức Mã Tổ đạp cho té
lăn tròn. Thế mà Hòa Thượng tỏ ngộ, vỗ tay cười ha
hả. Sự tỏ ngộ ấy chỉ đương nhân tự hiểu, như người
uống nước lạnh nóng riêng mình biết lấy mà thôi.
Cũng với y chỉ này, thuở xưa một vị tôn đức đem bài
kệ như sau ướm hỏi các môn nhân:
Có pháp không sau trước
Vô hình vốn lặng trang
Hay làm chủ muôn vật
Chẳng theo bốn mùa tàn.
Một đệ tử nghe xong, vội ứng tiếng thưa: "Đó là chân
tâm!" Liền bị tôn đức rầy quở bác phá.
Hán 14:
Nhứt cú Di Đà
Viên dung pháp giới
Thục thể toàn chân
Giao la vô ngại.
Việt 14:
Một câu A Di Đà
Dụng thông tròn pháp giới
Soi lặng thể toàn chân
Xen giăng khắp vô ngại.
Lược giải:
Như trên đã nói, khi hành giả chứng Niệm Phật tam
muội, căn trần dứt bặt tự tánh Di Đà dung thông tròn
sáng khắp pháp giới. Cảnh tượng ấy lặng lẽ mà chiếu
soi, chiếu soi mà lặng lẽ, toàn thể đâu đâu cũng là
chân thật. Trong chân thể ấy, hằng sa vô biên thế
giới xen giăng nhau, như vô số hạt châu nơi các mắt
lưới của trời Đế Thích. Chân cảnh này rất đỗi sâu
mầu, trong tứ pháp giới, thuộc về Sự sự vô ngại pháp
giới, trong Thập huyền môn, thuộc về Nhân đà la võng
cảnh giới môn.
Hán 15:
Nhứt cú Di Đà
Đại viên trí cảnh
Thân độ ảnh hàm
Trùng trùng yêm ánh.
Việt 15:
Một câu A Di Đà
Gương Đại Viên trí cảnh
Thân độ bóng hàm nhau
Lớp lớp mầu lập lánh.
Lược giải:
Đây là nói tiếp về công hạnh niệm Phật của hành giả
khi chứng cùng cực chân cảnh tự tánh Di Đà. Chân
cảnh này như thể gương tròn sáng không ngằn mé, bao
gồm muôn tượng sum la, gọi là Đại Viên cảnh trí.
Trong thể Đại viên ấy, "Thân" thuộc về phần Chân như
tịch chiếu môn. "Độ" thuộc về phần thế giới sanh
diệt môn, đều hàm chứa hình bóng lẫn nhau. Sự hàm
ảnh đó như mỗi hạt châu nơi mắt lưới của trời Đế
Thích, đều ngậm chứa hình bóng của vô số hạt châu
khác. Cảnh hàm ảnh giữa Không với Không, Sắc cùng
Sắc, Sắc và Không xen lẫn ngậm bóng nhau ấy, thật là
lớp lớp tầng tầng, lấp lánh vô ngại nhiệm mầu khó bề
diễn tả.
Hán 16:
Nhứt cú Di Đà
Không Như Lai tạng
Vạn pháp vị hình
Nhất chân tuyệt tướng.
Việt 16:
Một câu A Di Đà
Là không Như Lai Tạng
Vạn pháp dứt hình dung
Nhất chân tuyệt sắc tướng.
Lược giải:
Tiếp theo ý nghĩa trên, cảnh giới tuy nhiên sum la
như thế, song hành giả phải một tâm lặng lẽ thể nhập
vào Không Như Lai Tạng. Tâm cảnh này dứt cả muôn
pháp, tuyệt cả sắc tướng, chỉ là một thể nhất chân
không còn phân biệt.
Hán 17:
Nhứt cú Di Đà
Viên mãn Bồ Đề
Thiên cảnh vô thượng
Vân biết dữ tề.
Việt 17:
Một câu A Di Đà
Tròn đủ Bồ Đề đạo
Ráng mây đều ở thấp
Lại không có trời cao.
Lược giải:
Khi hành giả đã thể nhập Không Như Lai Tạng, thì đạo
Bồ đề tròn đủ, con đường giác ngộ đến mức cao tuyệt
rồi. Cảnh giới ấy như trạng thái của người: "Một
mình nằm nghỉ trên đỉnh non cao". Khi xưa ông Khấu
Chuẩn đời nhà Tống, thuở bé theo cha lên núi Thái
Sơn, đã đắc ý đọc lên bốn câu thi cũng mường tượng
như hai câu sau của bài kệ trên:
Bất dữ quần phong ngũ
Cảnh vô sơn dữ tề
Cử đầu hồng nhật cận
Hồi thủ bạch vân đề.
Tạm dịch:
Chẳng cùng muôn đảnh đồng bạn
Lại không một núi dám qua
Ngước mắt vầng hồng kề cận
Cúi đầu mây bạc thấp xa!
Nhưng đó chỉ là khẩu khí của một vị Tể tướng, vì
trên còn có vầng hồng, còn có Thiên Tử. Chưa bằng
vua Hồng Võ đời nhà Minh lúc du ngoạn núi này, cũng
tức cảnh hai câu:
Nhứt thượng, nhứt thượng, cánh nhứt thượng
Vô hạn yên vân nhãn để thâu!
Tạm dịch:
Lên cao càng lúc càng cao tít
Vô hạn trời mây dưới mắt nhìn.
Đây mới thật là khẩu khí của một bậc Thiên Tử, đứng
trên muôn dân. Có thể mượn hai câu sau này để tạm
hình dùng cảnh tượng giác ngộ tròn đầy cao tuyệt của
một vị Pháp Vương đứng trên vạn pháp.
Hán 18:
Nhứt cú Di Đà
Đại bát niết bàn
Nhất luân minh nguyệt
Vạn lý không hàn!
Việt 18:
Một câu A Di Đà
Là cảnh Đại tịch diệt
Muôn niệm trống thanh lương
Chỉ một vầng minh nguyệt!
Lược giải:
Khi đã vào thể nhiệm mầu cao tuyệt của Không Như Lai
tạng, hành giả niệm Phật ở cảnh giới mà nhà Thiền
gọi là "Chẳng cùng muôn pháp làm bạn" (Bất dữ vạn
pháp vi lữ). Cảnh giới này như vầng trăng tròn sáng,
chiếu soi muôn dặm, vắng lặng thanh thanh lương, là
cảnh Đại tịch diệt hay Đại Bát Niết Bàn vậy. Đây
cũng gọi là cảnh "Song vong", người chăn và trâu đều
mất, phiền não cùng pháp trừ phiền não không còn.
Như lời xưa đã diễn tả:
Soi lại người, trâu dã mất tung
Dặm ngàn vắng lạnh nguyệt linh lung!
Ý hay đoan bích như ai hỏi
Cỏ biếc hoa tư tươi tự thắm hồng!
Hán 19:
Nhứt cú Di Đà
Khai Bát nhã môn
Thập hư vạn pháp
Nhứt khẩu bình thôn.
Việt 19:
Một câu A Di Đà
Mở toang cửa bát nhã
Muôn pháp cõi thập hư
Một miếng nuốt tả cả.
Lược giải:
Bát nhã là trí huệ. Thập hư có nghĩa: cõi hư không ở
mười phương. Một câu Phật hiệu, nếu niệm cùng cực,
tất mở toang được trí huệ và bao hàm muôn pháp ở
mười phương hư không. Muốn một tiếng nuốt trọn muôn
pháp cõi thập hư, bên trong hành giả phải tiêu trừ
bốn đại năm uẩn thuộc ngã chấp, bênngoài xả bỏ sáu
trần cùng thời gian, không gian thuộc pháp chấp. Khi
chuyên giữ một câu Phật hiệu, xả trừ quan niệm chấp
thân tâm và thế giới như thế, đến lúc sức cực công
thuần, tam của đương nhân bỗng mở rỗng rang, bao
trùm muôn pháp khắp mười phương, như bọt nước hòa
tan đồng sức hàm chứa cùng biển rộng. Đó gọi là một
miếng nuốt tất cả. Thuở xưa cư sĩ Bàng Uẩn đếm tham
khấu đức Mã Tổ hỏi: "Thế nào là ý của Tổ Sư Đạt Ma
từ Tây phương đến?". Mã Tổ đạp: "Đợi khi nào ông
uống một hớp hết nước sông tây giang, ta sẽ nói cho
biết!". Cư sĩ nghe xong bỗng đại ngộ. Hành giả niệm
Phật nên theo dõi bước đại ngộ này, đừng quan thiệp
vào lý giải.
Hán 20:
Nhứt cú Di Đà
Hỏa ốc môn khai
Tùng giả lý nhập
Khoái tùy ngã lai.
Việt 20:
Một câu A Di Đà
Mở cửa nhà đẹp cao
Gọi các hàng tùng giả
Mau theo ta đi vào.
Lược giải:
Hoa ốc đây, chỉ cho cảnh trang nghiêm của thế giới
Hoa Tạng. Khi hành giả chứng được Niệm Phật tam muội
rồi, tâm cảnh rỗng rang, lần lần đi sâu vào biển thế
giới Hoa Tạng, gồm vô biên quốc độ mầu đẹp trang
nghiêm. Tự mình giác ngộ chứng được đức trí, lại
dùng vô lượng phương tiện khuyên dẫn kẻ hữu duyên
đồng bước theo vào nơi hoa ốc để thật hiện đức
Bi...Đây là bản nguyện cao cả của người học đạo.
nghĩ bàn của môn Niệm Phật, khuyên chúng sanh nên
phát nguyện cầu sanh về Cực lạc. Từ xưa đến nay, chư
Tổ cũng đã dẫn kinh viết luận rất nhiều, để tán
dương môn Tịnh độ. Tâm xót thương sâu rộng, lời khổ
thiết khuyên răn của chư Phật, Bồ tát, Tổ sư như
thế, thật đã hết lòng hết sức. Ví như người đẩy
thuyền chở nặng muôn hộc, giương cung cứng mạnh ngàn
cân, sự dùng tâm vận lực đã đến mức điểm cuối cùng
vậy.
Hán 21:
Nhứt cú Di Đà
Nhập vương tam muội
Tợ địa quân kinh
Như thiên phổ cái.
Việt 21:
Một câu A Di Đà
Vào tam muội Bảo vương
Như đất đều nâng đỡ
Tợ trời che khắp miền.
Lược giải:
Niệm Phật tam muội cũng gọi là Bảo Vương tam muội.
Khi chứng được tam muội này, diệt vô lượng tội
chướng, tăng vô biên phước huệ, độ vô số chúng sanh,
đức hóa lan rộng khắp mọi nơi như trời che đất chở.
Từ nơi Niệm Phật Bảo Vương tam muội này, Bồ tát rưới
vô lượng mưa pháp độ khắp chúng sanh. Như trong kinh
Hoa Nghiêm, Đức Vân Bồ tát đã bảo Thiện Tài đồng tử:
"Thiện nam tử! Chư đại Bồ tát có vô biên hành môn
trí huệ thanh tịnh. Đó là: Môn Trí Quang Phổ Chiếu
Niệm Phật, thường thấy các thứ cung điện nghiêm sạch
nơi tất cả quốc độ của chư Phật. Môn Linh Nhứt Thiết
Chúng Sanh Niệm Phật, tùy nơi tâm ưa thích của các
chúng sanh, đều khiến cho được thấy Phật và được
thanh tịnh. Môn Lĩnh An Trụ Lực Niệm Phật, khiến cho
được vào mười lực của Như Lai. Môn Linh An Trụ Pháp
Niệm Phật, khiến cho thấy vô lượng chư Phật được
nghe pháp mầu. Môn Chiếu Diệu Chư Phương Niệm Phật,
thấy trong tất cả thế giới, các Phật hải đều đồng
nhau không sai khác. Môn Nhập Bất Khả Kiến Xứ Niệm
Phật, thấy tất cả cảnh vi tế trong các việc thần
thông tự tại của chư Phật. Môn Trụ Ư Chư Kiếp Niệm
Phật, trong tất cả kiếp thường thấy các việc làm của
Như Lai không tạm mất. Môn Trụ Nhứt Thiết Thời Niệm
Phật, trong tất cả thời thường thấy Như Lai đồng ở
gần bên không xa lìa. Một Trụ Nhứt Thiết Sát Niệm
Phật, trong các quốc độ đều thấy thân Phật vượt hơn
tất cả không chi sánh bằng. Môn Trụ Nhứt Thiết Thế
Niệm Phật, tùy nơi tâm mình ưa thích, thấy khắp chư
Như Lai trong ba đời. Môn Trụ Nhứt Thiết Cảnh Niệm
Phật, khắp trong tất cả cảnh giới, thấy chư Như lai
lần lượt hiện thân. Môn Trụ Tịch Diệt Niệm Phật,
trong một niệm thấy chư Phật trong tất cả cõi thị
hiện vào Niết bàn. Môn Viễn Ly Niệm Phật, trong một
niệm thấy tất cả Phật từ chỗ mình ở đi ra. Môn Trụ
Quảng Đại Niệm Phật, tâm thường quán sát mỗi mỗi
thân Phật đầy khắp tất cả các pháp giới. Môn Trụ Vi
Tế Niệm Phật, khoảng một đầu lông có bất khả thuyết
Như Lai xuất hiện, đều đến tận nơi mà thừa sự. Môn
Trụ Trang nghiêm Niệm Phật, trong một niệm thấy tất
cả cõi đều có chư Phật thành Đẳng chánh giác hiện
sức thần biến. Môn Trụ Năng Sự Niệm Phật, thấy tất
cả Phật hiện ra nơi đời phóng ánh sáng trí huệ,
chuyển bánh xe pháp. Một Trụ Tự Tại Tâm Niệm Phật,
tùy tâm mình ưa thích, tất cả chư Phật đều biết và
hiện ảnh tượng. Môn Trụ Tự Nghiệp Niệm Phật, biết
tùy theo nghiệp lành chứa nhóm của chúng sanh, hiện
ra ảnh tượng khiến cho giác ngộ. Môn Trụ Thần Biến
Niệm Phật, thấy Phật ngồi trên hoa sen tươi nở rộng
lớn đầy khắp pháp giới. Môn Trụ Hư Không Niệm Phật,
quán sát Như Lai có nhiều thân như mây, trang nghiêm
pháp giới và hư không giới...".
Môn Niệm Phật xuất sanh nhiều tam muội và lợi ích
khắp chúng sanh như thế, nên gọi là Vương tam muội,
và như trời che đất chở.
Hán 22:
Nhứt cú Di Đà
Đắc Đại tổng trì
Chuyển nhứt thiết vật
Sử thập nhị thì.
Việt 22:
Một câu A Di Đà
Khiến được Đại tổng trì
Chuyển hết tất cả vật
Sử dụng mười hai thì.
Lược giải:
Đại Tổng Trì là sự thông suốt nắm giữ tất cả pháp
với tầm mức lớn lao rộng rãi. "Muốn được tất cả,
phải bỏ tất cả". Ví như tấm gương sáng lớn mà đem
vật gì che áng ở trước, dù là một bình hoa đẹp, tất
chỗ đó mất sự chiếu soi tự tại. Chơn tâm của chúng
ta là tấm gương Đại viên cảnh trí, nếu chấp giữ một
pháp nào, dù đó là Phật lý cao siêu mầu nhiệm, tất
cũng sẽ bị kém mất sức chiếu soi tự tại, sự thông
suốt tất cả pháp. Như thế làm sao được Đại tổng trì?
Kinh nói: "Thấy biết mà giữ sự thấy biết là gốc vô
minh. thấy biết không giữ sự thấy biết, đó mới chính
Niết bàn". (Tri kiến lập tri, tức vô minh bản. Tri
kiến vô kiến, tư tức niết bàn). Cho nên chuyên nhứt
câu niệm phật, xả bỏ tất cả, hành giả quyết sẽ được
Đại tổng trì, Đại tam muội.
Kinh Lăng Nhgiêm nói: "Nếu chuyển được vật, tức đồng
với Như Lai". (Nhược năng chuyển vật, tức đồng Như
Lai). Chúng sanh tâm thường hướng ngoại, không biết
các pháp là huyễn, cho nên bị cảnh lục trần xoay
chuyển, như con trâu lâm cảnh xỏ vàm dắt đi, hằng
chịu sự phiền não buộc ràng không được tự tại. Nếu
quán xét các pháp là huyễn, giữ một câu Phật hiệu
xoay chiếu vào trong, thì tâm lần lần thanh tịnh tự
tại, sẽ làm chủ được các pháp, không còn bị các pháp
sai sử làm chủ nữa. Đó gọi là "chuyển vật" là đồng
với Như lai. Trái lại, tức là bị vật chuyển, đồng
với chúng sanh vậy.
Ấn Quang pháp sư bảo: "Một lòng không trụ, muôn cảnh
đều nhàn!" (Nhứt tâm vô trụ, vạn cảnh câu nhàn). Khi
tâm trụ nơi các pháp, thì thấy thời gian có lâu mau,
bị cảnh giới làm cho loạn động, sanh niệm ưa, chán,
ghét, thương, khổ, vui, cùng vô lượng phiền não. Như
trên, khi hành giả giữ câu niệm phật thanh tịnh,
không để cho vật chuyển, thì trong mười hai thời của
ngày đêm, hằng được nhàn nhã tự tại, tùy ý sử dụng
mọi sự, việc nào đáng làm trước hoặc làm sau đều
theo tuần tự, chẳng khác vị đông y sĩ tùy nghi sử
dụng các hộc thuốc của mình.
Tóm lại, nếu khéo biết tu hành, thì cách tự tại sử
dụng trong mười hai thời, sự làm chủ xoay chuyển các
pháp, cho đến chứng đắc cảnh giới Đại tổng trì, then
chốt đều do ở nơi câu niệm Phật.
Hán 23:
Nhứt cú Di Đà
Tánh bản tự không
Tinh day cung Bắc
Thủy tận triều Đông.
Việt 23:
Một câu A Di Đà
Tánh thể vốn tự không
Các sao chầu Bắc đẩu
Muôn nước chảy về Đông.
Lược giải:
Một tín nữ đến thuật lại với bút giả: "Có vị Sư cô
bảo con bỏ hết đừng nên niệm Phật nữa, hãy để lòng
yên lặng cho tâm không cảnh không, mới mau ngộ
đạo!". Bút giả nói: "Các pháp đều như huyễn, câu
niệm Phật cũng như huyễn, tự thể của nó đã là không
rồi, cần gì phải bỏ? Nếu muốn chứng được tâm không
cảnh không, mà còn ngại câu niệm Phật, còn bác bỏ sự
tướng, thì đó chính là thiên không hay ngoan không
(cái không thiên lệch, trống rỗng, cứng chắc) của
ngoại đạo, chớ chẳng phải ý nghĩa chân không của
Phật pháp. Ý nghĩa chân không chân chánh của đạo
Phật ở ngay nơi tất cả cái có thuộc mọi sự tướng, mà
không chấp thấy là có (Chân không bất không, diệu
hữu phi hữu). Chẳng phải riêng Sư cô ấy lạc lầm,
trong hiện tại có rất nhiều vị tu học Phật pháp đã
sa vào hầm hố đó. Thật là điều không may và đáng
thương cảm!". Nay nhân tiện xin tạm mượn sự việc
trên để giải thích về ý nghĩa "Tự không" của câu
niệm Phật.
Theo quan niệm địa dư xưa, người Trung Hoa cho rằng
vùng đất của loài người ở là một châu lớn, chỗ họ cư
trú thuộc trung quốc. Phía Đông của châu ấy là biển
cả, muôn dòng nước ở lục địa đều chảy ra đó. Người
Việt Nam hấp thụ văn hóa Trung Hoa, cũng đồng với
quan điểm ấy. Bởi thế cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có
câu: "Hồng Nhật đông thăng tri đại hải. Bạch Vân tây
vọng thị thần châu". Và theo thiên văn học xưa,
người Trung Hoa bảo rằng các vì sao đều chầu hướng
về ngôi Bắc đẩu. Để dẫn giải cho Phật pháp, Triệt
Ngộ đại sư cũng phương tiện mượn quan niệm thế gian
ấy mà làm thí dụ. Bởi tất cả pháp đều từ nơi biển
chân không lưu xuất, và đều tan về chân không. Bên
tông tịnh độ gọi thể chân không đó là Tự tánh Di Đà.
Bài kệ trên đại ý: Câu niệm Phật tánh vốn tu tiến
chứng thể tánh ấy một cách viên mãn, sẽ thức ngộ
muôn pháp từ nơi đó mà lưu xuất, lại cũng qui nhập
về nơi đó. Như sao Bắc đẩu làm chủ muôn sao, muôn
sao chầu về Bắc đẩu, biển Đông dâng nước vào các
sông ngòi, nước sông ngòi đều đổ về biển Đông vậy.
Hán 24:
Nhứt cú Di Đà
Pháp giới duyên khởi
Tịnh nghiệp chánh nhân
Bồ đề chủng tử.
Việt 24:
Một câu A Di Đà
Là duyên khởi pháp giới
Chánh nhân của tịnh nghiệp
Và chủng tử Bồ đề.
Lược giải:
Phật Pháp chia thành hai hệ: Không tông và Hữu tông.
Không tông đề ra thuyết Chân như duyên khởi; Hữu
tông đề ra thuyết A lại da duyên khởi. Dung nhập vào
trung đạo, tức Nhứt chân pháp giới, thì Không và Hữu
chẳng khác, Chân như tức A lại da. Đây ý nói câu
niệm Phật là huyễn hữu, cũng lại là chân không,
duyên khởi điểm của nó từ nơi pháp giới. Vậy câu
niệm phật là Pháp giới duyên khởi, gồm Chân như cùng
Lại da duyên khởi, dung nhiếp cả Hữu Không. Bởi thế
nên niệm Phật là chánh nhân của tịnh nghiệp. Tịnh
nghiệp đây gồm bốn Tịnh độ mà tiêu điểm cuối cùng là
cõi Thường Tịch Quang. Và niệm Phật cũng là hạt
giống Bồ đề đưa đến sự toàn giác, gồm giác ngộ mình,
giác ngộ chúng sanh, hạnh giác ngộ đầy đủ.
Hán 25:
Nhứt cú Di Đà
Như cảnh chiếu cảnh.
Uyển chuyển hỗ hàm.
Trùng điệp giao ánh.
Việt 25:
Một câu A Di Đà
Như gương chiếu các gương.
Uyển chuyển ngậm bóng nhau
Điệp trùng giao chói sáng.
Lược giải:
Đời Đường, Hiền Thủ đại sư khi giảng kinh Hoa Nghiêm
đến nghĩa: "Vô tận pháp giới trùng trùng Đế võng".
Ngài phương tiện dùng mười mặt gương tròn lớn, để
tám hướng và trên dưới mỗi chỗ một tấm, cách nhau độ
hơn trượng và đều cùng đối diện. Chính giữa lại an
bài cốt Phật, rồi thắp một ngọn đèn sáng để soi. Lúc
ấy học chúng đều thấy trong mỗi mặt gương nổi hiện
lớp lớp tượng Phật và ánh sáng. Nhân đó tất cả đều
hiểu ý nghĩa: Biển quốc độ giao chiếu xen lẫn nhau
lớp lớp điệp trùng, không cùng tận, không ngằn mé.
Đây là cảnh tượng tang nghiêm của Hoa Tạng thế giới
hải. Bài kệ trên ý nói: Câu niệm Phật sẽ đưa hành
giả vào cảnh đại trang nghiêm không cùng tận đó. Cho
nên niệm Phật chẳng phải là pháp thấp kém thông
thường. Đã có bài kệ khen ngợi.
Niệm Phật vào tướng thật
Chứng biết Phật với Phật.
Cảnh vô tận trang nghiêm
Môn Đại ba la mật!
Hán 26:
Nhứt cú Di Đà
Tợ không hợp không.
Liễu vô ngân phùng
Khước hữu Tây Đông.
Việt 26:
Một câu A Di Đà
Như không hợp hư không.
Tuyệt không chút lằn dấu
Nhưng vẫn có Tây Đông.
Lược giải:
Đem một ly nước đổ vào chậu nước thì nước cùng nước
dung hòa nhau, không làm sao tìm thấy lằn dấu. Khi
trút nước ra, khoảng hư không trong ly hợp với hư
không bên ngoài, cũng tuyệt không lằn dấu. Hành giả
niệm Phật, nếu trong quên thân tâm, ngoài quên cảnh
giới, chẳng thấy mình là người hay niệm, Phật là vị
được niệm, thì tâm rỗng rang hồn nhiên, dung họp với
thể tánh chân không. Tâm cảnh ấy chẳng phải vào
ngoan không có chi, vì như thế là lạc vào ngoan
không của ngoại đạo. Trái lại, hiện tượng chân không
ấy sáng suốt vô tận bao hàm muôn pháp, vẫn có đầy đủ
màu sắc của cỏ cây, sông, núi, trời mây, vẫn có các
phương hướng, cho đến cõi Ta bà thuộc phương Đông,
cõi Cực lạc ở phương Tây. Đó mới đích xác tánh không
chân chánh, cũng gọi là Như Lai nhứt thật cảnh giới.
Thuở xưa có vị cư sĩ đến hỏi đạo một cao Tăng ở chốn
sơn lâm. Bậc thượng nhân này không đáp duy trỏ mây
trên trời cùng cái bình đựng nước của mình. Tuy
nhiên tuệ căn đã sẵn, vị cư sĩ liền nghộ vào thể
đạo, tức thật tánh chân không, liền làm bài kệ,
trình lên rằng:
Luyện được thân hình tợ hạc hình
Ngàn thông tươi tốt mấy pho kinh.
Ta nay hỏi đạo không chi khác
Mây ở trời xanh, nước ở bình!
Niệm Phật đến chỗ vô niệm, sẽ dung hợp với tánh
không bao la, tìm không thấy mối mang dấu vết, mà
vẫn đầy đủ tất cả, không thêm bớt là như thế.
Hán 27:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng kinh
Tung hoành giao thái
Tuyệt đãi u linh.
Việt 27:
Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng kinh
Dọc ngang giao chói sáng
Tuyệt đối, thể u linh.
Lược giải:
Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm,
tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn
nhiên viết ra bài kệ sau:
Vi trần phẩu xuất đại thiên kinh
Nghĩ giải thiên kinh không dịch hình!
Vô lượng nghĩa tâm toàn thể lộ
Lưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.
Bài kệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra
tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Đại thiên thế giới.
Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi không tâm
diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm
hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã
sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng
lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành
cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng
lặng ấy!
Câu niệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên
nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Đại tạng kinh?
Gọi một Đại tạng kinh chỉ là lời nói ước lược mà
thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào
chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm, thì ánh sáng tự tâm
phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy
dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn
tả!
Hán 28:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng luật.
Miết nhỉ tịnh tâm
Giới ba la mật.
Việt 28:
Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng luật.
Chớp mắt vào tịnh tâm
Đủ Giới ba la mật.
Lược giải:
Câu niệm Phật đã bao hàm đầy đủ nghĩa lý của một Đại
tạng kinh, thì đối với một Đại tạng luật nó cũng như
thế. Vì luật chẳng ngoài nhiếp giữ thân, khẩu, ý cho
trong sạch. Và thân, khẩu, ý lại không ngoài tâm,
nếu tâm thanh tịnh thì ba nghiệp cũng đều trang
nghiêm thanh tịnh. Luật nói: "Phật chế tất cả giới,
mục đích để trị tất cả vọng tâm. Nếu không có tất cả
vọng tâm, thì cần chi dùng tất cả giới?" (Phật chế
nhứt thiết giới, vi trị nhứt thiết tâm. Nhược vô
nhứt thiết tâm, hà dụng nhứt thiết giới?)
Cho nên khi niệm Phật, thoáng chốc dứt hết vọng
tưởng đi vào tịnh tâm, tức đã đầy đủ Giới ba la mật
rồi. Ba la mật là "Bờ bên kia", là nơi giải thoát
rốt ráo. Niệm Phật thanh tịnh, tức đã đầy đủ sự giữ
giới đến bờ cứu cánh giải thoát vậy.
Hán 29:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng luận.
Đương niệm tâm khai
Huệ quang như phúng.
Việt 29:
Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng luận.
Đương niệm tâm mở thông
Ánh huệ tuôn vô tận.
Lược giải:
Như trên, câu niệm Phật đã bao hàm Kinh, Luật, tất
nhiên đối với Luận cũng như thế. Kinh Viên Giác nói:
"Trí tuệ sáng sạch vô ngại, đều từ nơi thiền định mà
sanh". Niệm Phật thanh tịnh chính là thiền định, từ
định phát sanh trí huệ. Đã có trí huệ thì nguồn biện
luận sẽ vô cùng. Tứ vô ngại biện cũng từ nơi niệm
Phật thanh tịnh tâm cảnh mở sáng, mà tuôn trào như
suối chảy.
Hán 30:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt tạng bí mật.
Phát bản thần thông
Cụ đại uy lực.
Việt 30:
Một câu A Di Đà
Là một tạng bí mật.
Phát nguồn cội thần thông
Đầy đủ uy lực lớn.
Lược giải:
Câu niệm Phật đã gồm ba tạng của Hiển giáo lại cũng
đủ thần thông uy lực của bí tạng Mật giáo. "Bản thần
thông" là thần thông sẵn có, phát sanh từ nguồn gốc
chân tâm, không phải do tập luyện mà được. Niệm Phật
công thuần đến mức thanh tịnh, cũng như người có sẵn
tiền muốn mua món gì cũng được. Dùng công đức niệm
Phật để cầu an, cầu siêu, trừ tai nạn, trị đau bịnh,
hàng tà ma, sám tội chướng, cầu phước huệ duyên
lành, nguyện sanh lên cung trời hoặc về cõi Phật,
cho đến cầu Đại Niết bàn cũng đều thành tựu. Tất cả
uy lực thần thông cũng từ câu niệm Phật mà phát
sanh. Như thuở xưa, Thiện Đạo đại sư khi niệm Phật,
mỗi câu đều có một luồng ánh sáng phóng ra. Một Đại
sư về Tịnh tông bên Nhật Bản, mỗi câu niệm hồng
danh, trong miệng bay ra một vị Phật. Liên Trì đại
sư lúc dân chúng nhờ đảo võ, ngài chỉ ra ngoài đồng
gõ mõ niệm Phật, đi tới đâu mưa rơi đến đó. Niệm
Phật tùy ý phát ra thần thông uy lực là như thế.
Hán 31:
Nhứt cú Di Đà
Hồn toàn Đại tạng
Giới, định, huệ quang
Lưu xuất vô lượng!
Việt 31:
Một câu A Di Đà
Gồm toàn cả Đại tạng.
Giới, định, huệ ánh mầu
Tuôn ra không hạn lượng!
Lược giải:
Bài kệ trên nói tổng quát về sự bao hàm các Đại tạng
của câu niệm Phật. Các Đại tạng đây, gồm Kinh tạng,
Luật tạng, Luận tạng, Tạp tập tạng và Bí mật tạng.
Tạp tập tạng nói về các pháp Đại thừa cũng gọi Bồ
tát tạng. Bí mật tạng gồm các phương thức đàn, ấn,
chú, mở một lối tu đặc biệt, gọi là Kim cang thừa.
Đường lối chứng lên thánh đạo không ngoài căn bản
giới, định, huệ, nhưng chỉ một câu niệm Phật đã gồm
đủ. Niệm Phật nhiếp thân, khẩu, ý trong sạch là
Giới. Niệm Phật thanh tịnh lòng không loạn động là
Định. Niệm Phật sáng suốt dứt hết vọng tưởng điên
đảo là Huệ. Hành trì như thế, công càng dày, niệm
càng sâu, thì ánh nhiệm mầu của giới, định, huệ,
càng sáng tỏ và chiếu xa đến nơi vô cùng tận!
Hán 32:
Nhứt cú Di Đà
Thằng bản thị ma.
Nại hà bất hội
Phiên nghi tác xà?
Việt 32:
Một câu A Di Đà
Dây gốc vốn là gai.
Tại sao không thể nhận?
Nghi là rắn lầm thay!
Lược giải:
Duy Thức Luận có đoạn thí dụ: Người nọ đi trong cảnh
trời nhá nhem tối, chợt thấy một sợi dây to nằm uốn
lượn, tưởng là con rắn, vội nhảy tránh la hoảng lên.
Đến chừng nhìn kỹ lại mới biết mình lầm, vì đó chỉ
là đoạn dây. Nếu người ấy thể nhận sâu thêm, sẽ thấy
dây kia cũng không thật, vì do những tơ gai nhỏ kết
hợp thành.
Lầm dây là rắn, Duy thức học thí dụ cho tánh Biến kế
sở chấp thuộc Phi lượng, tức chấp trước mọi sự và
lượng định một cách sai lạc. Nhận ra là dây, thí dụ
cho tánh Y tha khởi thuộc về Tỷ lượng. Y tha khởi là
tánh chất nương nơi cái khác khởi hiện, như sợi dây
nương nơi cái khác khởi hiện, như sợi dây nương nơi
tơ gai mà có. Tỷ lượng là sự lượng định tương tợ của
ý thức so sánh, như thấy dây tương tợ như rắn. Thể
nhận sâu thêm, thấy dây cũng giả, chỉ do tơ gai kết
hợp thành, thí cụ cho tánh Viên thành thật thuộc
Hiện lượng. Viên thành thật là tánh bao la sáng suốt
tròn đầy xác thật. Hiện lượng là tâm lượng của trực
giác không phân biệt. Đây mới là tánh lượng xác thật
rốt ráo của chân tâm.
Sự ứng dụng về niệm Phật cũng thế. Nếu cho câu hồng
danh là một pháp lành, dùng nó để tu cầu phước báu
hư huyễn của cõi Nhơn thiên, đó thuộc về tánh Biến
kế sở chấp và Phi lượng. Có người dùng câu niệm Phật
như một thoại đầu hay phương tiện để dứt trừ vọng
tưởng trở lại chân tâm, cũng còn thuộc về tánh Y tha
khởi là Tỷ lượng. Như thể nhận niệm Phật tức là
Phật, ngay câu hồng danh là phước, là huệ, là thật
tướng, là chân tâm và Bồ đề Niết bàn, đó mới là tánh
Viên thành thật thuộc Hiện lượng. Ứng dụng niệm Phật
như thế mới đúng mức. Dùng với hai cách trước còn là
khuyết điểm sai lầm. Bài kệ trên, Triệt Ngộ thiền sư
muốn nêu cao sự diệu dụng về niệm Phật, để phá lối
nhận thức sai lạc của một số người đối với pháp môn
này.
Hán 33:
Nhứt cú Di Đà
Hản văn hản đổ.
Ảnh hiện cảnh lâm
Hưởng tuyên thiên cổ.
Việt 33:
Một câu A Di Đà
Rất ít nghe ít thấy.
Gương hiện bóng rừng cây
Trống trời tiếng vang dậy.
Lược giải:
Nơi cõi trời Đao Lợi có chiếc thiên cổ do Bồ tát hóa
hiện. Khi chư Thiên mê say theo ngũ dục, trống ấy
nổi lên tiếng ầm ầm để cảnh giác, và nói ra các
pháp: Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã. Thiên chúng
nghe xong như chợt tỉnh, liền bỏ các thú vui, cùng
nhau tụ họp lại Thiện pháp đường để giảng luận về
đạo đức. Niệm Phật cũng có tác dụng giống như thế.
Bởi công đức câu hồng danh, do sự nhiếp tâm xưng
niệm, hành giả sẽ được tiêu trừ nghiệp chướng, lần
lần đi đến chỗ giác ngộ.
Lại như tấm gương tròn sáng vẫn lặng lẽ không phân
biệt, mà hiện rõ bóng hoa cỏ, rừng cây với đầy đủ
chi tiết. Hành giả niệm Phật đến mức tịch tĩnh vô
phân biệt, thì tấm gương lòng tức Đại viên cảnh trí
sẽ lần lần hiện ra sáng suốt lan rộng. Trong ấy cảnh
y báo và chánh báo của mười phương đều ảnh hiện,
đương nhơn có thể nhận biết rõ từng số điểm hạt mưa
trong tam thiên thế giới. Như Di Lặc Bồ tát đã khai
thị cho Hư Vân thiền sư: "Gương đại trí trang
nghiêm. Hiện cảnh giới sum la. Trời người và phàm
thánh. Thiện ác đều an lạc".
Công đức câu hồng danh rất ít nghe ít thấy như thế,
song tiếc thay cũng rất ít người am hiểu suốt thông!
Hán 34:
Nhứt cú Di Đà
Vô khả thí dụ!
Cổ cảnh đương đài
Thủy ngân đọa địa.
Việt 34:
Một câu A Di Đà
Không thể thí dụ tất!
Gương xưa nơi đài cao
Thủy ngân rơi xuống đất.
Lược giải:
Công năng niệm Phật rất mầu nghiệm, không thể nào
dùng thí dụ mà nói ra cho hết được! Về thể, thì niệm
phật sẽ phát hiện Đại viên cảnh trí, ảnh hiện mọi
cảnh giới: như tấm gương xưa để nơi đài cao chiếu rõ
và in bóng cảnh vật một cách không phân biệt. Đã vô
phân biệt thì làm sao dùng lời nói mà diễn tả thí
dụ? Về dụng, câu niệm Phật viên dung không ngại, như
hạt thủy ngân rơi xuống mặt đất liền lăn tròn. Sự
trì niệm hồng danh có đủ Thiền, Giáo, Luật, Mật, một
ngàn bảy trăm công án, tám muôn tư pháp tạng. Nói
rộng ra, lục độ vạn hạnh, tất cả hành môn đều dung
thông hàm chứa trong câu niệm Phật.
Hán 35:
Nhứt cú Di Đà
Lão bà tâm khổ!
Vận vạn hộc chu
Phát thiên quân nổ.
Việt 35:
Một câu A Di Đà
Lòng thương xót khổ tân!
Đẩy thuyền nặng muôn hộc
Kéo cung mạnh ngàn cân.
Lược giải:
Vì lòng đại từ đại bi, đức Thích Tôn cùng hằng hà sa
số chư Phật ở sáu phương, đều hiện tướng lưỡi rộng
dài, khen nói công đức không thể nghĩ bàn của môn
Niệm Phật, khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu
sanh về Cực lạc. Từ xưa đến nay, chư Tổ cũng đã dẫn
kinh viết luận rất nhiều, để tán dương môn Tịnh độ.
Tâm xót thương sâu rộng, lời khổ thiết khuyên răn
của chư Phật, Bồ tát, Tổ sư như thế, thật đã hết
lòng hết sức. Ví như người đẩy thuyền chở nặng muôn
hộc, giương cung cứng mạnh ngàn cân, sự dùng tâm vận
lực đã đến mức điểm cuối cùng vậy.
Hán 36:
Nhứt cú Di Đà
Minh minh thị hữu
Tứ biện Bát âm
Bà tâm khổ khẩu!
Việt 36:
Một câu A Di Đà
Rõ ràng chính là có.
Dùng Tứ biện Bát âm
Khổ lời thương giải tỏa!
Lược giải:
Trong cảnh giới Nhứt chân, chẳng phải rỗng không,
cũng chẳng phải thật có các pháp. cho nên tâm kinh
nói: "Này Xá Lợi Tử! Huyễn sắc chẳng khác chân
không, chân không chẳng khác huyễn sắc. Huyễn sắc
chính là chân không, chân không chính là huyễn sắc".
Tóm lại, chân không chẳng phải cái không trống rỗng,
mà chính nó ở ngay nơi hiện tượng huyễn hữu. Có một
số người tu về Không môn, như thiền tông chẳng hạn,
chưa hiểu chân lý này, lầm nhận chân tâm là một từ
thể sáng suốt rỗng không. Chư Cao đức bên tông môn
cũng bác lối tu theo nhận thức sai lạc ấy, cho đó là
Hư đầu thiền. Bởi hiểu biết sai lạc như thế, nên họ
rất ngại niệm Phật, cho tu Tịnh độ còn có cái chướng
của tướng có, như cát lẫn vào cơm. Hoặc họ cũng nhận
niệm Phật là có công đức, nhưng còn thuộc về pháp
hữu vi. Vì vậy các vị ấy có người đã mượn câu nói
của Cổ đức để thí dụ: "Mạt vàng tuy là quí, nhưng
rơi vào mắt thì xốn xang thành bịnh!". Kỳ thật cổ
nhơn cũng có lời ấy, song nói với một ý khác về bên
Thiền khi hành giả hỏi, chớ không phải thuộc bên
Tịnh. Các vị ấy cũng không hiểu: Pháp vô vi dung
thông bao uát, đâu riêng có ngoài pháp hữu vi?
Thuở xưa Ni cô Đạo Càn đến chùa quốc Thanh ở non
Thiên Thai để phỏng đạo, có hỏi Bảo Lâm Trân thiền
sư: "Bạch tôn đức! Thế nào là tướng đại nhơn?". Trân
công đáp: "Đợi khi nào ngươi trừ hết ngũ chướng, đến
đây ta sẽ nói cho!". Ni cô thưa: "Thế thì Hòa thượng
đã bị che lầm rồi đấy!". Ngũ chướng là thân tướng
người nữ. Ý Đạo Càn muốn nói chân tánh không có
tướng nam nữ, nếu y cứ nơi hình tướng để tìm chân
tánh là sai lầm. Ngài Bảo Lâm Trâm nghe nói biết chỗ
tu của Ni cô còn lạc vào lối chấp thiên không, nên
quát bảo: "Ngươi học ở đâu được cái hư đầu thiền như
thế?". Đạo Càn bị quở, bất giác xuất hạn dầm mình,
chợt tỏ ngộ, liền cúi xuống đảnh lễ. Trân công gạn
hỏi lại: "Thế nào là tướng đại nhơn?". Ni cô liền
đứng chẩm hẩm dang đôi chân, giăng hai tay ra. Đây
là hành động biểu thị tướng đại trượng phu, cũng
ngầm nêu rõ tánh chân không ở ngay trong tướng có.
Ngài Bảo Lâm Trân thấy thế biết cô đã lãnh ngộ, liền
gật đầu ấn khả.
Bài kệ trên của tổ Triệt Ngộ, nhấn rõ lý chân không
ở ngay nơi hình thức diệu hữu của một câu A Di Đà,
nên mới nói: "Rõ ràng chính là có". Tứ biện tài như
tập trước đã dẫn giải. Còn Bát âm là tám giọng nói
của Phật, gồm có: 1. Âm thanh rất trong tốt. 2. Âm
thanh cực dịu dàng. 3. Âm thanh hòa nhã thích ý. 4.
Âm thanh tôn trọng sáng suốt. 5. Âm thanh không pha
lẫn giọng nữ. 6. Âm thanh giác ngộ không mê lầm. 7.
Âm thanh rất sâu xa. 8. Âm thanh sang sảng tuôn trào
bất tận. Vì thương xót muốn cho chúng sanh giác ngộ,
chư Phật đã dùng bốn thứ vô ngại biện tài, tám điệu
âm thanh, khổ thiết tỏ bày dẫn đủ phương tiện chỉ rõ
lý chân không ở ngay trong diệu hữu. Và chư Tổ sư
trước nay cũng đã thương xót nói đến đắng miệng cạn
lời để giải thích lý này.
Hán 37:
Nhứt cú Di Đà
Đích đích thị vô.
Dung tha vạn tượng
Nhập ngã hồng lô.
Việt 37:
Một câu A Di Đà
Đích xác chính là không
Nếu tiêu muôn vật tượng
Tan vào một lò hồng.
Lược giải:
Như trên đã nói sáu chữ hồng danh nguyên là diệu
hữu, bài kệ này khai thị một câu A Di Đà chính thật
chân không. Với mục đích nêu rõ ý này, xin tạm mượn
một việc đã qua để giải thích:
Nhớ lại độ nọ, có vị Sư cô tu thiền đến nói với bút
giả: "Gần đây một cư sĩ niệm Phật hơn ba mươi năm,
sau khi nghe lý thiền, muốn thể nhập vào cảnh chân
không, cảm thấy mình bị trói buộc chướng ngại. Sở dĩ
như thế, do vì niệm Phật đã lâu năm, dù muốn xả bỏ
tất cả, câu niệm Phật trong tàng thức vẫn cứ hiện ra
tiếp tục mãi, không làm sao dứt thoát được!". Biết
cô muốn bác rằng: Niệm Phật còn sự chướng ngại về
sắc tướng, bút giả đáp.
Lý tánh chân không vẫn ở ngay nơi các pháp có, nên
Bát Nhã tâm kinh đã nói: "Thị chư pháp không tướng".
Nếu vị cư sĩ ấy muốn thể nhập vào chân không, thì
cái không đó là ngoan không của ngoại đạo, chớ chẳng
phải chân không. Tôi xin dẫn ra đây một ít bằng
chứng:
1. Thuở xưa, đức Thế Tôn chỉ dạy nhiều vị Sa môn
thật hành môn Bất tịnh quán để dứt trừ nhiễm dục. Và
đã có vô số chư Tỳ kheo tu theo pháp này nên được
chứng quả A la hán Bất tịnh vốn tướng nhơ ác mà Phật
còn bảo quán tưởng, huống chi câu hồng danh là tướng
của công đức lành? Lại nếu như sắc tướng gây chướng
ngại cho việc chứng lý chân không, thì làm sao các
vị Sa môn kia đắc quả A la hán?
2. Từ trước đến nay, năm chi phái về Thiền tông như:
Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn,
đều dùng câu thoại đầu làm công phu hạ thủ. Chẳng
hạn như các thiền giả tham cứu câu: "Muôn pháp về
một, một về chỗ nào?" (Vạn pháp qui nhứt, nhứt qui
hà xứ?). Hoặc có vị chỉ tham đơn độc một chữ Vô hay
tham tưởng chữ A theo Phạn ngữ. Sự tham cứu như thế
đều nương nơi tướng có, nào khác chi hành trì câu
niệm Phật? Nếu tham thoại đầu chẳng thể nhập được
vào chân không, thì làm sao các thiền sư xưa nay đắc
ngộ cho đến chứng quả? Và nếu niệm Phật chẳng có
công hiệu tương tợ, thì tại sao nhiều bậc tôn đức
như Nhứt Nguyên thiền sư, Minh Bản đại sư chỉ trì
niệm một câu hồng danh mà được đại ngộ, đi sâu vào
tam muội?
3. Nếu cho rằng hình tướng của văn tự ngôn âm gây
chướng ngại đến lý tánh chân không, thì tại sao các
bậc Tôn đức khi xưa, sau khi đại ngộ rồi, trở lại
niệm Phật, trì chú, tụng kinh, cho đến phiên duyệt
Tam tạng kinh điển? Trong số ấy, chẳng hạn như ngài
Vĩnh Minh và Thủ Sơn Niệm thiền sư trọn đời trì tụng
kinh Pháp Hoa. Phổ Am tổ sư trì tụng kinh Hoa
Nghiêm, Khuê Phong Định Huệ thiền sư trì tụng kinh
Viên Giác, Kim Hoa Câu Chi thiền sư trì tụng chú
Chuẩn Đề. Minh Giáo Tung thiền sư, chuyên niệm danh
hiệu đức Quán thế Âm. Cho đến như Phần Châu Vô
Nghiệp thiền sư sau khi đại ngộ, ba lần duyệt xem
qua Đại tạng kinh điển?
Cho nên vị cư sĩ đó nếu muốn thể nhập vào chân
không, hãy bỏ sự nhận thức sai lầm ấy đi, đừng nghĩ
rằng niệm Phật là chướng ngại mà tự thành chướng
ngại. Vị đó cần chuyên nhứt niệm Phật hơn nữa, lâu
ngày sẽ thấy tự thể câu hồng danh chính là chân
không. Niệm như thế, chẳng những câu hồng danh là
không, mà cho đến muôn vật tượng ở thế gian cũng do
nhờ niệm Phật, được tan biến dung hòa vào lò chân
không to rộng bao la khắp mười phương nữa!
Hán 38:
Nhứt cú Di Đà
Diệc vô diệc hữu.
Mộng lý sơn xuyên
Cảnh trung hoa liễu.
Việt 38:
Một câu A Di Đà
Cũng không cũng có tướng
Non sông nơi giấc mộng
Hoa liễu ở trong gương.
Lược giải:
Bài kệ trên nêu rõ ý: Câu niệm Phật nói không cũng
đưọc, nói có cũng được. Ví như bóng cành hoa cội
liễu lộ trong gương sáng, cảnh non cao sông rộng
hiện giữa giấc mơ. Trường hợp ấy, nói không cũng
được vì đó chỉ là hình bóng, là cảnh mơ; nói có cũng
được, bởi nó vẫn có ảnh tượng của cảnh vật vậy.
Hán 39:
Nhứt cú Di Đà
Phi hữu phi vô.
Nại trước tiện chuyển
Thủy thượng hồ lô.
Việt 39:
Một câu A Di Đà
Chẳng có chẳng hư vô.
Chạm đến liền lăn chuyển
Trên nước chiếc hồ lô.
Lược giải:
Trong bốn bài kệ liên tiếp, bài đầu nói về lý Có,
bài thứ hai nói lý Không, bài thứ ba nói lý Cũng có
cũng không, và bài thứ sau sau này nói lý Chẳng phải
có chẳng phải không của câu niệm Phật. Thật ra câu
hồng danh tuy không rời bốn lý trên, nhưng cũng
chẳng thuộc riêng vào một thứ nào trong bốn lý ấy. Ý
nghĩa đích thật của câu niệm Phật là "Viên dung tự
tại chẳng thể nghĩ bàn!". Nếu hiểu ý này, hành giả
có thể tùy duyên ứng phó với mọi hoàn cảnh trong mọi
trường hợp: hoặc có, hoặc không, cũng có cũng không,
cho đến chẳng phải có chẳng phải không, một cách
dung thông tự tại, không bị nó làm dính mắc chướng
ngại. Ví như chiếc hồ lô thả nổi trên mặt nước, chạm
đến liền tùy tiện lăn chuyển, không nằm hẳn một về
nào. Bài kệ tiếp sau đây, sẽ nói rõ thêm về thật
nghĩa của câu niệm Phật.
Hán 40:
Nhứt cú Di Đà
Đệ nhứt nghĩa đế.
Thượng siêu Bách phi
Khởi lạc Tứ cú!
Việt 40:
Một câu A Di Đà
Là Đệ nhứt nghĩa đế.
Còn vượt khỏi Bách phi
Huống rơi vào Tứ cú!
Lược giải:
Trước tiên xin giải qua về Tứ cú, Bách phi. Tứ cú là
bốn câu gồm: Có, không, cũng có cũng không, và chẳng
phải có chẳng phải không. Bách phi: Bách là ước số
lấy một trăm làm giới hạn. Phi là chẳng phải, tiêu
biểu cho nghĩa bác phá. Đây nói chân lý vốn phi hữu,
phi vô, phi thường, phi đoạn, phi sanh, phi diệt,
phi nhứt, phi dị, phi lai, phi khứ, phi hữu biên,
phi vô biên v.v... cho đến cả một trăm thứ phi. Tại
sao thế? Bởi lý tánh ấy tuyệt ngôn luận, dứt tâm tư,
chẳng thể dùng lời nói và sự suy nghĩ mà vịn đến và
diễn tả được.
Còn Đệ nhứt nghĩa đế là thế nào? Đây là nghĩa chân
thật bậc nhứt, bên Tông mệnh danh là: Một bước trên
đầu sào trăm trượng, bên Giáo gọi là: Bất nhị pháp
môn hay Thánh đế. Xin mượn lời vấn đáp của vua Lương
Võ hỏi tổ Đạt Ma để tạm giải thích: Hỏi: "Bạch ngài!
Sao gọi là Đệ nhứt nghĩa đế hay Thánh đế?". Đáp:
"Rỗng rang không thánh!".
Quy kết lại, ý bài kệ trên nói: Một câu A Di Đà, nếu
vận dụng đến mức cùng tột, hành giả sẽ lìa tứ cú,
vượt khỏi Bách phi, đi ngay vào Đệ nhứt nghĩa môn,
tức thể nhập chân tâm vậy.
Qua năm bài kệ liên quan nhau nói trên, từ diễn dịch
cho đến quy nạp, ở điểm nào câu niệm Phật cũng dung
thông không ngại. Nhưng luận về phần căn bản, các
lối chấp của nhà tu học Phật pháp xưa nay chẳng
ngoài hai điểm: Có và Không. Bước đầu tiên vào đạo,
và cũng thuộc phần đa số, người tu Phật thường hay
chấp Có. Khi làm các công đức lành, họ sanh niệm
trước tướng, đôi khi dẫn đến sự tự mãn khoe khoang.
Lối chấp này gây trở ngại cho bước ngộ đạo, tiến
trình đến cảnh giới giải thoát.
Sau khi đi sâu thêm vào biển Phật pháp, xem đến kinh
Kim Cang, Pháp Bảo Đàn, hoặc nghiên cứu về thiên lý
cao siêu, hầu hết lại rơi vào lối chấp Không. Do đó,
có nhiều kẻ đã không xem trọng điểm ăn chay giữ
giới, bác bỏ sự niệm Phật tụng kinh, cùng các việc
làm lành, cho là thấp kém trước tướng, chẳng hợp với
trình độ cao siêu của lý Không. Họ đâu hiểu lý Không
của Đại thừa, là làm tất cả công đức hữu vi mà không
chấp thấy có tướng làm. Chẳng hạn như kinh Kim Cang
bảo Bồ tát bố thí chẳng nên trụ tuớng, là không chấp
thấy mình là người thí cho, đây là vật trao giúp,
kia là kẻ được ân huệ nhận lảnh. Bố thí như thế công
đức mới vô hạn lượng, rộng lớn như hư không. Trong
ấy cũng nói về tụng kinh này sẽ được công đức như
thế nào? Vậy thì kinh Kim Cang, một áo điển diễn đạt
về lý Không của Đại thừa: Đâu từng bác bỏ việc tụng
kinh, bố thí?
Trong hai lối chấp trên, chấp Có hãy còn gốc luân
hồi, song chấp với những việc lành, cũng sẽ được
phước báu cõi Nhơn Thiên. Đến như chấp Không, bác
phá tất cả xự tướng, thì quả thật là tai hại. Kinh
Phật gọi đó là tội phá chánh kiến, bởi vì bài bác
nhân quả. Nó gây sự lầm lạc cho mình và người hủy
hoại Phật pháp, khiến cho đương nhơn dễ sa vào địa
ngục! Đây là hiện tượng mà các bậc thiện tri thức
gọi là nhức đầu đau tim (thống tâm tật thủ) vì nó
gây tổn thương rất nhiều cho Phật giáo. Chấp Không
như thế lại dễ khiến cho loài không ma dựa vào tác
hại, làm hành giả đảo điên. Bút giả đã gặp một
Thượng tọa thuật lại câu chuyện như sau:
Theo ý tôi, vị Thượng tọa ấy nói, việc tham thiền
chỉ thích hợp riêng cho một số ít người bậc thượng
căn. Thời nay, phần đông hàng Tăng tục khi tu, nên
lấy niệm Phật làm phần chánh, tụng kinh hoặc trì chú
làm phụ. Bởi tham thiền mà chưa thể thường nhiếp tâm
vào định, hoặc hiểu sai lầm rồi trụ tâm nói cái
ngoan không ám muội, tất sẽ bị loài không ma dựa
vào. Chính tôi đã mục kích vài ba người trong trường
hợp này. Độ nọ, có một sư cô đến gặp tôi đảnh lễ
trình thưa rằng: "Huynh đệ con hơn mười người, trước
kia đã thọ giáo với một vị tự sưng là Khán Không
thiền sư. Vị này bảo phải gạt hết tướng có, trụ tâm
vào nơi không. Huynh đệ con thật hành theo một thời
gian, về sau tất cả đều bị loài ma ám nhập, nói việc
vị lai quá khứ, luận thuyết toàn là lý không. Riêng
phần con, nó đã dựa vào hơn mười năm. Hiện thời khi
gặp tượng hay kinh Phật, nó giục bảo phải đập phá xé
bỏ. Gặp hàng Tăng Ni, lại giục bảo phải chửi mắng
nói những lời thô tục. Con tự kềm hãm chống trả lại,
tìm nhiều bậc Pháp sư cầu cứu, song họ đều nói con
ma này uy lực cao không thể trục xuất ra được. Nay
con đến đây đảnh lễ cầu xin thầy có phương pháp chi
giải thoát dùm con!". Tôi nghe nói, bảo Sư cô ấy tạm
nằm nơi ghế dựa, rồi ngồi phía sau để tay kiết ấn
nơi đảnh mà trì chú Chuẩn Đề. Tụng một lát, cô ấy
chuyển lời nói con ma năn nỉ xin tha, vì nó ra ngoài
bơ bơ không nơi nương tựa. Tôi không chấp thuận,
tiếp tục trì chú mãi. Ban sơ Sư cô nghiêng trở dằn
vật mình, kế tiếp lần lần thở gấp gần như đứt hơi.
Tôi thấy thế liền dừng lại, vì biết nếu cứ trì tụng
tiếp, nó có thể liều chết giết người bịnh trước, phó
mặc cho sự thể ra sao thì ra. Đã có vài vị Pháp sư
bị cảnh ma giết người bịnh trong trường hợp này.
Tối hôm ấy, tôi trì chú cầu nguyện xin chư Thần giúp
đỡ. Hơn một giờ đêm, trong giấc mơ tôi thấy có hai
vị Kim Cang sứ giả. Một vị thân màu đen như sắt,
khôi giáp toàn trắng; vị kia thân trắng như bạc,
khôi giáp toàn đen. Trước tiên, Thiết sứ giả lấy ra
một binh khí lạ dường như xa luân múa lên. Giây
phút, từ binh khí ấy phát tiếng kêu vo vo, phóng ánh
sáng lạ mắt. Kế tiếp vị Ngân sứ giả đưa tay ra ngăn
lại bảo: "Hãy từ từ xem nó có chịu cải hối hay không
đã!". Tới đây, cảnh tượng đều ẩn mất. Thức tỉnh, tôi
ngẫm nghĩ biết chư vị mách bảo: Nên khuyến hóa hơn
là dùng uy lực gây oan trái. Sáng ra tôi thuyết giáo
chỉ rõ lối chấp sai lầm không lợi ích cho con ma
nghe, nó xin sẽ chuyển hướng tu theo chánh pháp.
Riêng phần Sư cô nọ, tôi bảo vì loài ma đã dựa vào
quá lâu, nên thể phách của nó có phần dính liền với
thể xác. Nếu vội trục xuất, e cho thân của người
bịnh sẽ bị tổn. Tôi truyền ấn và chú Chuẩn Đề bảo cô
nên hằng ngày trì tụng. Với uy lực của chú, ma sẽ từ
từ xuất ra. Sư cô ấy vâng lời.
Nói xong vị Thượng tọa kết luận: Sự nhận thức cùng
tu tập sai lầm, gây nên tổn hại và cứu gỡ khó khăn
là như thế.
Hán 41:
Nhứt cú Di Đà
Diệu viên Tam đế.
Tối thanh lương trì
Đại mãnh hỏa tụ.
Việt 41:
Một câu A Di Đà
Mầu tròn Tam đế lý.
Như ao rất thanh lương
Tợ lửa to thiêu hủy.
Lược giải:
Tam đế là ba lý chắc thật: Không, Giả, Trung. không
đế hiển công dụng phá tình chấp. Giả đế hiển công
dụng lập các pháp. Trung đế hiển công năng dứt đối
đãi. Trung quán Luận có bài kệ:
Các pháp nhân duyên sanh
Ta nói tức là Không.
Cũng gọi là Giả danh.
Cũng là nghĩa Trung đạo.
Các pháp vì hư huyễn chẳng có thật thể, nên gọi là
Không. Vì sanh diệt vô thường nên gọi là Giả. Vì tự
tướng lồ lộ hiện bày, chẳng thể nói riêng là Không,
là Giả, dứt ngôn thuyết tâm tư, nên gọi là Trung.
Kinh Pháp Hoa nói: "Các pháp từ xưa nay. Tự tướng
hằng tịch diệt" chính là nghĩa này. Trong ba đế,
Không bao hàm cả Giả, Trung. Giả và Trung cũng đều
lại như thế, nên gọi là mầu tròn, cũng gọi là Tam đế
tương tức.
Dùng trí tuệ quán chiếu, các pháp đã như thế, thì
câu hồng danh cũng đủ lý Tam đế nhiệm mầu tròn thông
như vậy. Hiểu được lý này, tất có thể ứng dụng hạnh
niệm Phật siêu vào cảnh giới đại tịch diệt, như đống
lửa lớn cháy hừng đốt tiêu tất cả rác rến trần cấu,
như ao to mát mẻ dứt trừ tất cả hơi nóng của não
phiền. Hành giả sẽ lần lần chứng vào chân cảnh tịnh
Bảo Nguyệt quang Minh tam muội vậy.
Hán 42:
Nhứt cú Di Đà
Đắc Đại tự tại.
Chuyển biến thánh phàm
Dung thông thế giới.
Việt 42:
Một câu A Di Đà
Chứng được Đại tự tại.
Hay chuyển thánh siêu phàm
Dung thông mười giới hải.
Lược giải:
Với câu niệm Phật, nếu hành giả ngộ suốt lý Tam đế
như trên, sẽ vượt Thánh siêu phàm chứng vào chân tâm
tuyệt đối. Cảnh trí này không còn giới hạn giữa tự
cùng tha, nhơn với pháp, chúng sanh và Phật, nên gọi
là Đại Tự Tại tam muội. Ánh sáng chân tâm sẽ từ đó
lan rộng ra, chiếu suốt vô biên thế giới ở mười
phương. Trong ánh đại quang minh, biển thế giới mười
phương đều lung linh như huyễn, tròn trặn nhiệm mầu,
dung thông vào một chân cảnh.
Hán 43:
Nhứt cú Di Đà
Hữu công giả thưởng.
Vương thiện dinh tiền
Kế châu tại chưởng.
Việt 43:
Một câu A Di Đà
Thưởng kẻ có công hay
Yến tiệc vua đầy trước
Châu mái tóc nơi tay.
Lược giải:
Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật có thí dụ đại khái:
"Như vua Chuyển luân đem quân dẹp giặc, thấy những
binh tướng có công, đều tùy phần mà thưởng, hoặc cho
y phục, châu báu, chí đến thành ấp tụ lạc. Duy hạt
minh châu nơi mái tóc chẳng đem cho, vì riêng trên
đảnh vua chỉ có một viên bảo châu ấy thôi. Nếu vua
thấy vị nào có công lớn, mới đem hạt ma ni vô giá để
từ lâu nơi mái tóc ra cho. Đức Như Lai cũng như thế,
nếu thấy hàng đệ tử y theo các kinh khác dứt trừ ba
độc năm ấm, liền ban cho các pháp thiền định, giải
thoát, chí đến thành Niết bàn, bảo rằng đã diệt độ.
Nhưng riêng kinh Pháp Hoa lại không nói ra, vì kinh
này rất sâu khó tin, quí báu bậc nhứt. Nếu hàng đệ
tử nào có công lớn phá các vô minh phiền não, vượt
ra ba cõi, phát tâm Đại thừa, mới đem kinh Pháp Hoa
là tạng bí mật, từ lâu hằng nghiêm cẩn giữ gìn, ngày
nay tuyên thuyết".
Môn niệm Phật cũng như thế, là Bí mật tạng chỉ
thưởng riêng cho những kẻ có công tin nhận diệu pháp
thành Phật này. Tin tưởng và thật hành theo môn Niệm
Phật tức như người đã có trước mặt yến tiệc đầy đủ
sơn hào hải vị của vua ban, đã cầm vào tay viên minh
châu nơi mái tóc của Chuyển luân vương vậy.
Hán 44:
Nhứt cú Di Đà
Lý nhân vi mỹ.
Cư bốc lai quy
Khô thung phi quỉ.
Việt 43:
Một câu A Di Đà
Xóm nhân là tốt quí.
Lựa chỗ ở nương về
Cây khô không phải quỉ.
Lược giải:
Thuở thầy Mạnh Tử còn bé, nhà ở xóm có hàng thịt.
Khi ông cùng lũ trẻ nô đùa, thường họp nhau nắn đất
thành hình súc vật, rồi bày ra trò giết heo dê. Bà
mẹ thấy thế e con mình về sau thành kẻ đồ tể, liền
dời nhà đi nơi khác. Chỗ ở kế lại không may gặp nhằm
xóm có một nhóm người chuyên nghề ma chay chôn cất.
Hằng ngày Mạnh tử lại cùng đám trẻ bắt chước đào
huyệt, nắn đất thành hòm, giả trang sức đồ tang, bày
trò chơi khóc than tẩn táng. Thấy vậy bà mẹ không
ưng, tìm chỗ tản cư. Lần sau này, nhà ở gần trường
học. Mạnh Tử lại cùng lũ trẻ bắt chước lời nói khiêm
nhường lễ nghĩa, học dáng điệu cung kính chào thưa,
cùng ê a đọc sách. Bà mẹ trông thấy mừng thầm, yên
lòng không dời đi đâu nữa. Cũng như thế, người gặp
pháp giải thoát của môn Niệm Phật, có khác nào kẻ
tìm chỗ ở, được may mắn gặp nhằm xóm nhân đức hiền
lương. Gia đình kẻ ấy sẽ lần lần tập nhiễm hạnh lành
tánh tốt vậy.
Một người đi đem bất ngờ gặp trụ cây khô, lầm tưởng
là quỉ nên thảng thốt kinh hoảng. Nhưng quan sát kỹ,
đó chỉ là cây khô không làm sao có tác dụng của ma
quỉ được, nên lại yên tâm ngẫm nghĩ buồn cười cho
mình. "Trụ cây khô" còn tiêu biểu cho pháp chân như
bất biến. Cổ đức có câu: "Cây khô xơ xác tựa rừng
đông. Mấy độ xuân sang chẳng đổi lòng!". (Tồi tàn
khô mọc ỷ hàn lâm. Kỷ độ phòng xuân bất biến tâm).
Pháp Niệm Phật là viên ngọc ma ni, là con thuyền
giải thoát, mà kẻ không biết giá trị xem thường như
đất sạn, khác nào anh chàng thảng thốt kia nhìn cây
khô, tưởng là ma quỉ đâu!
Hán 45:
Nhứt cú Di Đà
Phi nan phi dị.
Cửu phẩm liên hoa
Nhứt sanh tâm lực.
Việt 45:
Một câu A Di Đà
Chẳng khó, nhưng không dễ.
Được về chín phẩm sen
Một đời dùng tâm lực.
Lược giải:
Môn Niệm Phật quả dễ thật hành, câu hồng danh niệm
ra không phải khó. Tuy nhiên, niệm với tâm tín
nguyện chắc thật, niệm với hạnh bền bỉ lâu dài, niệm
với y dứt tuyệt trần duyên, lại là điều không phải
dễ. Với ba điều kiện vừa kể trên, trong muôn ngàn
người khó tìm được một. Cho nên cũng đừng vội xem
thường hạnh niệm Phật. Muốn được dự vào chín phẩm
sen ở cõi Tây phương, người tu tịnh nghiệp phải đem
hết năng lực của thân và tâm, chẳng nài khổ nhọc
thật hành suốt một đời, mới mong đạt được kết quả.
Hán 46:
Nhứt cú Di Đà
Tự lộ hoàn gia.
Khả tích si nhơn
Khí kim đảm ma!
Việt 46:
Một câu A Di Đà
Theo đường trở lại nhà.
Tiếc cho kẻ khờ dại
Bỏ vàng gánh vỏ gai!
Lược giải:
Trong kinh có đoạn thí dụ về điểm cố chấp của kẻ khờ
dại: Hai người nọ vào rừng róc lột vỏ gai để lấy tơ
dệt vải bố. Trên lối về với đôi gánh vỏ gai oằn oại
nơi vai, cả hai gặp một đống tơ gai của ai bỏ sót
trên đường. Một người mừng rỡ bảo: "Chúng ta đem vỏ
gai về, chẳng qua để đập rồi ngâm lấy tơ. Nay đã có
sẵn, tơ gai ở đây, nên bỏ thứ vỏ nặng nề này, lấy tơ
đem về!". Nói xong liền thật hành theo ý định. Kẻ
kia chấp mê rằng mình đã ra công gánh vỏ gai trải
qua một quãng đường rồi, nên không chịu bỏ. Đi thêm
đoạn nữa, cả hai bỗng gặp mấy xấp vải bố của một
chiếc xe tải làm rơi rớt ngổn ngang. Người gánh tơ
lại mừng nói: "Vỏ gai hay tơ gai dù đem về cũng chỉ
dùng để dệt vải bố. Nay đã có thứ này ở đây, chúng
ta phải bỏ hết cái cũ mà chọn lấy vải là quí hơn!".
Nói đoạn vội bỏ tơ gai, chất vải bố đầy gánh. Kẻ kia
cũng chấp rằng mình gánh vỏ gai quá xa, nên không
chịu bỏ. Đi thêm một đoạn đường, cả hai dừng lại
ngồi nghỉ, chợt thấy một hốc dưới gốc cây khô nằm la
liệt mấy hũ vàng, có lẽ của ai đã chôn giấu từ lâu.
Người gánh vải quá mừng, vội vất lại thứ cũ, chọn
lấy hai hũ vàng đem về, vì vải không làm sao bằng
vàng được. Còn kẻ si mê kia vẫn cố chấp mình đã ra
công quá nhọc, thà chịu gánh vỏ gai chớ không lấy
vàng.
Môn niệm Phật là pháp viên đốn, là đường lối thẳng
tắt để trở lại nhà. Người đã gặp môn tối thượng mau
thành phật này, mà còn tham cầu phước báu nhơn
thiên, còn mê chấp lối tu tà ngoại, còn giữ theo
những hành môn quanh co khó bảo đảm cho sự giải
thoát. Tổ Triệt Ngộ cho đó là một lối si chấp, như
kẻ thà cam gánh vỏ gai không chịu chọn lấy vàng vậy.
Hán 47:
Nhứt cú Di Đà
Hoành xuất Ta bà.
Nhữ tín bất cập
Ngô mạc như hà?
Việt 47:
Một câu A Di Đà
Vượt ngang thoát Ta bà.
Người tin không thấu đáo
Ta biết làm sao mà?
Lược giải:
Có hai lối tu để thoát vòng luân hồi trong Tam giới.
Đó là lối thụ xuất, vượt ra theo chiều dọc. Và Hoành
xuất, vượt ra theo chiều ngang. Kẻ tu đường lối
Thánh đạo, dùng sức giới, định, huệ lần lượt dứt trừ
Kiến hoặc cùng Tư hoặc của Dục giới, Sắc giới và Vô
Sắc giới, thoát ra ba cõi, gọi là Thụ xuất. Ví như
con ong muốn ra khỏi cây tre, dùng sức khó nhọc đục
từng mắt tre theo chiều đứng, mà tìm lối thoát. Còn
người tu theo đường lối vãng sanh, tuy chưa dứt trừ
hoặc nghiệp, nhưng biết dùng sức tín, nguyện, hạnh
của mình và nương theo sức bản thệ nhiếp thọ của
Phật, cũng được vượt thoát ba cõi Ta Bà, sanh ngang
về Lạc quốc. Đã về cõi ấy rồi, tất không còn bị luân
hồi, lần lượt chứng lên các Thánh phẩm, cho đến khi
thành phật. Đây gọi là lối tu Hoành xuất. Ví như con
ong biết dùng phương tiện đục ngang cây tre mà thoát
ra, đã dễ dàng lại ít nhọc công phí sức.
Pháp môn Tịnh độ là lối tu Hoành xuất tam giới, là
phương tiện nhiệm mầu để mau thoát luân hồi, chứng
lên quả Phật. Trong nhiều kinh luận, chư Phật và chư
Tổ đã tuyên dương khen ngợi rộng về môn này. Song
tiếc thay những kẻ kém duyên sức tin chưa thấu đáo,
thì lòng từ bi của các Ngài dù trải ra vô lượng vô
biên, nhưng kết cuộc cũng không biết làm sao mà cứu
vớt được!
Hán 48:
Nhứt cú Di Đà
Quy nguyên tiệp kính.
Khẩn yếu tư lương
Duy Tín, Nguyện, Hạnh.
Việt 48:
Một câu A Di Đà
Là đường tắt về nguồn.
Những tư lương cần thiết
Tín, Nguyện, Hạnh gọn suông.
Lược giải:
Câu niệm Phật là con đường thẳng tắt để trở lại
nguồn tâm. Như người đi xa cần dự bị cho đủ tư lương
là: tiền nong, đồ phục dụng và thức ăn uống. Tư
lương cần thiết đi về Tịnh độ cũng thế, chỉ suông
gọn trong ba điểm: Tín, Nguyện, Hạnh mà sau đây sẽ
nói.
Hán 49:
Nhứt cú Di Đà
Yếu tại Tín thâm
Liên hoa cửu phẩm
Sưu tại thử tâm.
Việt 49:
Một câu A Di Đà
Cần ở điểm Tin sâu.
Mầm hoa sen chín phẩm
Từ tâm đây nhô đầu.
Lược giải:
Lòng Tin là phần tư lương trước tiên của môn Niệm
Phật. Hoa sen chín phẩm ở Tịnh độ cũng từ lòng Tin
này mà nẩy mầm nhô đầu lộ mọc lên. Nhưng Tin cần
phải sâu chắc, có thể tóm gọn trong ba điểm:
Một là tin cõi Cực lạc trang nghiêm tốt đẹp kia vẫn
thật có, không phải chuyện hư huyễn hay thí dụ. Vì
đức Phật Thích Ca không bao giờ nói dối, Ngài đã
diễn tả rành rẽ từng chi tiết của cảnh ấy trong ba
kinh Tịnh độ. Vì đã có rất nhiều người niệm Phật
trong đời hiện tại, do tâm thanh tịnh, từng chứng
kiến cảnh giới này.
Hai là tin sự vãng sanh về cõi kia cũng hiện thật.
Vì đức A Di Đà Thế Tôn không bao giờ nguyện suông,
nói mà chẳng thật hành. Vì từ xưa đến nay có rất
nhiều người niệm Phật, khi lâm chung hiện ra điềm
lành, được Tây phương Tam Thánh hiện thân tiếp dẫn
sanh về Cực Lạc.
Ba là tin mình dù còn phiền hoặc, dù nghiệp chướng
nặng nề đến đâu, nếu chí tâm niệm Phật cầu nguyện
vãng sanh tất sẽ được tiếp dẫn. Vì trong kinh Vô
Lượng thọ đã nói, kẻ tạo nghiệp ngũ nghịch thập ác
khi lâm chung dùng mười niệm cũng được vãng sanh. Vì
trong truyện ký đã có ghi, những kẻ tạo ác nhiều như
Hùng tuấn, Duy Cung, nhờ biết hồi tâm niệm Phật đều
được sự tiếp dẫn.
Hán 50:
Nhứt cú Di Đà
Yếu tại Nguyện thiết.
Thốn tâm dục phần
Song mục lưu huyết.
Việt 50:
Một câu A Di Đà
Cần ở nơi Nguyện thiết
Lòng về tơ lửa nung
Mắt thương khóc ra huyết.
Lược giải:
Nguyện là phần tư lương thứ hai của môn Niệm Phật.
Nhưng Nguyện phải tha thiết, không tham luyến trần
cảnh, gia tư, quyến thuộc, không mong cầu hưởng sự
vui phước báu nhơn thiên nơi đời sau. Chỉ nguyện mau
sanh về Cực Lạc, để thoát khỏi nỗi khổ luân hồi, để
sớm thấy Phật và chứng kiến cảnh trang nghiêm của
Liên bang, để độ thoát mình, kẻ oan người thân và vô
lượng chúng sanh trong vòng chìm đắm. chí nguyện cầu
sanh ấy nung nấu như lửa đốt lòng, đôi mắt thương
cảm tha thiết trông về hầu như tuôn ra huyết lệ.
Hán 51:
Nhứt cú Di Đà
Yếu tại Hạnh chuyên
Đơn đề nhứt niệm
Trảm đoạn vạn duyên.
Việt 51:
Một câu A Di Đà
Cần ở chỗ Hạnh chuyên.
Chỉ nêu cao một niệm
Dứt sạch cả muôn duyên.
Lược giải:
Sau rốt, Hạnh là phần tư lương thứ ba của môn Niệm
Phật. Song Hạnh cần phải tinh chuyên. Điều này có
thể tóm lại trong hai câu: "Rủ sạch muôn duyên. Một
lòng niệm Phật". Muốn rủ sạch muôn duyên, phải thấu
đáo cảnh Ta bà là khổ, mọi sự vật đều vô thường, như
huyễn mộng, mà không còn niềm tham luyến. Muốn một
lòng Niệm Phật, phải hâm mộ cảnh Cực lạc y báo chánh
báo vui đẹp trang nghiêm, mong mỏi cầu về như con
thơ nhớ mẹ, như lữ khách tưởng nghĩ trở lại quê xưa.
Ba điểm Tín, Nguyện, Hạnh trên tuy giải thích riêng
từng phần, song thật ra cả ba đều liên quan hỗ trợ
lẫn nhau. Như cái đảnh có ba chân, nếu thiếu một
phải sụp đổ tất cả vậy.
Hán 52:
Nhứt cú Di Đà
Thệ thành phiến đoạn.
Bản thử nhứt sanh
Tác cá nhàn hán.
Việt 52:
Một câu A Di Đà
Thề niệm thành một khối.
Liều tu mãn kiếp này
Được làm người nhàn rỗi.
Lược giải:
Người tu tịnh nghiệp do ý thức nỗi khổ sống chết
luân hồi là việc lớn cần phải giải quyết, nên phát
tâm Bồ đề. Từ nơi điểm này dùng lòng tin nguyện sâu
thiết, hành trì câu hồng danh thề niệm thành một
khối, không để phiền não xen vào. Trong đời này phải
liều mình hết sức tu hành như thế, để bảo đảm cho sự
vãng sanh lúc lâm chung. Khi đã được về Cực lạc rồi,
chừng đó mới thoát vòng sống chết, làm người an nhàn
tự tại, không còn lo bị luân hồi sa đọa nữa.
Hán 53:
Nhứt cú Di Đà
Chỉ nhẫm ma niệm.
Bách bát luân châu
Tuyết đoạn trùng hoán.
Việt 53:
Một câu A Di Đà
Nên niệm như thế này.
Chuỗi lần trăm lẻ tám
Dây đứt lại đổi dây.
Lược giải:
Kẻ sức yếu lúc lên non, muốn được vững vàng, phải
nương cây gậy. Cũng như thế, người tu tịnh nghiệp
khi niệm lực chưa thuần, cần nương nơi tràng chuỗi
giữ chắc định số mỗi ngày để phòng ngừa sự biếng
trễ. Cứ niệm mãi như vậy, chuỗi đứt lại đổi dây
khác, khi nào đến cảnh giới "không niệm tự niệm",
chừng đó muốn lần chuỗi hay không cũng được. Đừng
nghĩ rằng lần chuỗi sẽ mất sự tự tại. Cổ đức đã
trình thuật lại kinh nghiệm lần chuỗi vẫn được viên
dung vô ngại như sau: "Nắm lấy chuỗi tràng trần niệm
dứt. Nghiễm nhiên thành Phật đã từ lâu!". (Niết khởi
sổ châu thằng sách đoạn. Thể hương phạn thục dĩ đa
thời).
Còn phương pháp niệm Phật như thế nào, dưới đây sẽ
lần lượt chỉ rõ.
Hán 54:
Nhứt cú Di Đà
Bất cấp bất huỡn
Tâm khẩu nhứt như
Lịch lịch nhi chuyển.
Việt 54:
Một câu A Di Đà
Chẳng gấp cũng chẳng huỡn.
Lòng miệng ứng hợp nhau
Rành rõ mà chuyển niệm.
Lược giải:
Cách niệm Phật không nên gấp hoặc huỡn lắm. Niệm gấp
tất khó rành rõ, có hại cho sự huân tập câu hồng
danh, ngày kia cảnh giới "không niệm tự niệm" phát
hiện, câu Phật hiệu cũng không được rành rõ. Niệm
huỡn thì vọng tưởng dễ xen lẫn vào. Lại quá dùng sức
niệm mau gấp, hư hỏa sẽ bốc lên, thần kinh căng
thẳng, tất sanh bịnh nám mặt đau đầu. Niệm huỡn đãi
lơ là thì tâm ý buông lơi, sẽ sanh lỗi hôn trầm
biếng trễ.
Khi niệm phải tiếng nương nơi tâm, tâm duyên theo
tiếng, lòng và miệng ứng hợp nhau, cứ niệm đều đều
ngoài ra không tưởng nghĩ chi khác.
Hán 55:
Nhứt cú Di Đà
Dũ đa dũ hảo.
Như nhơn học xạ
Cữu tập tắc xảo.
Việt 55:
Một câu A Di Đà
Niệm càng nghiều càng hay
Ví như người học bắn
Tập lâu thì khéo tay.
Lược giải:
Người học bắn, càng tập lâu tất nghề càng tinh xảo.
Câu hồng danh là sự kết tụ vô biên phước huệ của
Phật, niệm càng nhiều thì căn lành càng thuần, công
đức càng to rộng, phẩm sen lại càng cao. Ngẫu ích
đại sư đã nói: "Được vãng sanh cùng không, là do nơi
Tín, Nguyện. Phẩm sen cao hoặc thấp, toàn bởi sự
Hành trì!".
Hán 56:
Nhứt cú Di Đà
Nhiếp tâm mật trì.
Như nhơn ẩm thủy
Lãnh noãn tự tri.
Việt 56:
Một câu A Di Đà
Mật niệm hằng nhiếp tâm.
Ví như người uống nước
Nóng lạnh tự biết thầm.
Lược giải:
Kinh nói: "Chí tâm niệm một câu A Di Đà, tiêu được
tội nặng trong tám mươi ức kiếp sống chết". Một kiếp
sống chết là một quãng đời trong nẻo luân hồi. Liên
Trì đại sư cũng bảo: "Câu niệm Phật là đại phước,
đại đức, đại trí, đại huệ, đại thánh, đại hiền!". Về
phước thì câu hồng danh cảm hiện nhạc trời, hương
lạ, ao báu, đất vàng, cho đến vô lượng cảnh tướng
tốt đẹp trang nghiêm. Về huệ thì câu Phật hiệu sẽ
khiến cho hành giả tiêu trừ tội chướng, lần lần đi
sâu vào cảnh giới giác ngộ, chứng lên Thánh quả.
Tiến trình chứng ngộ phước và huệ thấp hoặc cao ấy,
duy đương nhơn tự biết; như người uống nước lạnh,
nóng chỉ mình hay, không thể diễn tả ra được!
Hán 57:
Nhứt cú Di Đà
Thí du quật tỉnh.
Tựu hạ cận nê
Giá liêm công tỉnh.
Việt 57:
Một câu A Di Đà
Như đào giếng lấy nước.
Lần sâu thấy gần bùn
Giá hời công kiệm ước.
Lược giải:
Kinh Pháp Hoa có thí dụ: "Như người đào giếng, trước
tiên duy thấy đất cát khô ráo, biết mực nước hãy còn
xa. Lần lần thấy đất ướt và bùn, biết đã gần tới mực
nước. Người tu Phật cũng thế, khi chưa nghe hiểu
kinh Pháp Hoa, kẻ ấy hãy còn xa đạo Vô thượng Bồ đề.
Lúc đã nghe hiểu kinh này, tất biết người ấy đối với
đạo Vô thượng Bồ đề không còn xa nữa...".
Với môn Tịnh độ cũng lại như thế, người nào đã biết
và tu pháp Niệm Phật, tất kẻ đó đã gần đạo Vô thượng
Bồ đề. Chẳng những ngần ấy mà thôi, với pháp môn này
chỉ cần dụng công trong một đời, khi được vãng sanh,
tức đã bước lên ngôi Bất thối chuyển, không còn bị
lui sụt nơi Phật quả nữa. sự dùng công phu ít nhưng
thành đạo quả cao như thế, há chẳng giống kẻ đào
giếng với giá hời, hoặc may mắn ra công sức chưa bao
lâu mà đã thấy lộ bùn gần mực nước đó ư!
Hán 58:
Nhứt cú Di Đà
Loại như toản hỏa
Mộc noản yên sanh
Tạm đình bất khả.
Việt 58:
Một câu A Di Đà
Như cọ gỗ lấy lửa
Gỗ nóng khói phát sanh
Chớ tạm dừng lần lựa.
Lược giải:
Thời xưa ở ấn Độ, khi muốn lấy lửa người ta cọ hai
thanh gỗ khô vào nhau. Cọ đến khi nào gỗ nóng phát
sanh ra khói, mới để đồ dẫn hỏa vào, tự nhiên lửa
bắt phừng cháy. Nếu cọ nửa chừng, hoặc đến lúc đã
nổi khói mà bỏ dở tạm dừng, thì gỗ sẽ lần lần nguội
đi không phát ra lửa được.
Sự hành trì câu A Di Đà cũng như thế. Khi chúng sanh
ở Ta bà phát tâm niệm Phật cầu về Cực lạc, thì nơi
ao báu ở Tây phương đã nở hiện một búp sen. Nếu hành
giả mỗi ngày đều tinh tấn trì niệm, hoa sen ấy sẽ
lần lần to lớn. Như nửa chừng bỏ dở, hoa sen cũng
lần khô héo rồi tàn. Bởi đóa sen chín phẩm nơi liên
trì, đều do công đức của hành giả mà thành tựu. Ngày
kia công hạnh thành, báo thân mãn, thần thức của
đương nhơn sẽ gởi vào thai sen đó mà hóa sanh. Cho
nên người tu tịnh nghiệp chớ nên niệm Phật nửa chừng
rồi bỏ dở, hoặc biếng trễ lần lựa tạm dừng. Vì trễ
sót như thế tất nhiên thai sen sẽ hỏng.
Viết đến đây, bút giả nhớ lại độ trước có được cô
Diệu Thuần ở quận Ba Tri tỉnh Bến Tre, thuật lại cho
nghe điềm mộng như sau:
Bạch thầy! con nằm mơ thấy đến một ngôi chùa, trước
chùa có ao to rộng, nước trong suốt, các đóa hoa sen
nhiều sắc, hoặc lớn hoặc nhỏ đua nhau tươi nở. Gần
bờ ao có một hoa sen to lớn độ bằng chiếc mâm thau
tròn. Nhưng đóa hoa ấy lại bị cái chụp úp lên. Con
lại gần dở cái chụp, thì hoa sen tan rã từng cánh
rồi tàn rụng. Lúc ấy, giữa hư không bỗng có tiếng
nói: "Hoa sen đó là của liên hữu Minh Phúc!". Sau
khi tỉnh giấc, sáng ra con đem điềm mộng thuật lại
cho đạo hữu Minh Phúc ở tiệm vàng tại bản quận nghe.
Đạo hữu tỏ sắc lo sợ bảo: "Chết nỗi! Thầy dặn tôi
mỗi ngày niệm Phật tối thiểu phải một ngàn câu. Tôi
tinh tấn đã được vài năm, nhưng gần đây vì công việc
quá bề bộn, nên suốt ba tháng nay biếng trễ không
niệm một câu nào. Bây giờ chị thấy hoa sen héo rụng,
và chư vị đã mách bảo như thế, tôi phải sám hối gắng
tinh tấn lại mới được!". Thưa thầy! Con đã biết hoa
héo rụng là do Minh Phúc giải đãi, nhưng chưa rõ tại
sao lại có cái chụp ấy?.
Bút giả đáp: Chiếc chụp tượng trưng cho Ngũ cái nói
về phương diện chung, hoặc Ngũ dục về phương diện
riêng. Ngũ cái là: tham, sân, si, nghi, hối. Ngũ dục
là: sắc đẹp, tiền của, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ.
Chúng sanh thường bị những điều trên che đậy, làm
cho tham đắm si mê, không biết tỉnh ngộ tu hành.
Minh Phúc tất bị một hoặc nhiều phần trong các điều
ấy che mờ, nên mới biếng trễ không niệm Phật, khiến
cho hoa sen công đức phải héo tàn. Nhưng từ đây biết
giác ngộ gắng tu, thì đóa hoa sen khác sẽ tiếp tục
mọc lên, thay cho đóa hoa trước. Đừng nên e ngại
rằng nó tàn rồi mất hẳn, mà phế bỏ sự tu trì. Khi
xưa cô thị nữ của bà Kinh Dương phu nhơn, trước tiên
cũng giải đãi nên hoa sen héo tàn, sau giác ngộ tinh
tấn, hoa lại mọc lên tươi tốt. Kết cuộc cô được vãng
sanh Cực lạc, cô trở về báo mộng cho phu nhơn biết.
Hán 59:
Nhứt cú Di Đà
Toàn thân đảnh đái
Nhơn mạng vô thường
Quang âm bất tái!
Việt 59:
Một câu A Di Đà
Đem toàn thân đội trải
Mạng người rất vô thường
Tháng ngày không trở lại.
Lược giải:
Cổ nhơn đã bảo: Trên đường tiến tu đạo giải thoát,
có bốn điều khó:
Điếu thứ nhất là: thân người rất khó được. Khi xưa
đức Phật đã nói với ngài A Nan: "Chúng sanh được
thân trời, người ít như đất nơi móng tay. Đọa bốn ác
thú nhiều như đất miền đại địa". Đọa vào các nẻo
như: Tu la, bàng sanh, ngạ quỉ, địa ngục, bị nhiều
nỗi thống khổ và nghiệp ác làm chướng ngại đường tu
đã đành, nhưng sanh lên cõi trời cũng bị sự vui
khiến cho mê đắm khó tu nữa! Thế nên duy có thân
người mới dễ tiến tu đạo giải thoát mà thôi. Người
xưa đã từng diễn tả sự khó được của thân người qua
mấy câu thi như:
Ngàn năm cây sắt đơm hoa dễ
Một mất thân người khó lại sanh!
(Thiên niên thiết thọ khai hoa dị
Nhứt thất nhơn thân tái phục nan!)
Hoặc:
Tam đồ một đọa trăm ngàn kiếp
Lại cõi nhơn thiên chẳng hẹn ngày!
(Tam đồ nhứt đọa bá thiên kiếp
Tái xuất đầu lai hữu kỷ thời!)
Thân người đã khó được như thế, nhưng làm thân người
mà không tàn tật, không sanh nơi biên địa, được ở
nơi trung tâm văn hóa đạo đức cũng là điều khó. Và
đây là cái khó thứ hai.
Dù được ở miền trung quốc có văn hóa đạo đức, nhưng
không dễ gì được gặp và nghe hiểu Phật pháp. Bởi
chánh pháp như hoa Ưu đàm bát la, rất lâu mới nở
hiện nơi cõi đời. Đây là điều khó thứ ba.
Lại tuy được gặp và nghe hiểu Phật pháp để tu hành,
nhưng còn điều thứ tư rất khó là không dễ gì thoát
khỏi tam giới, dứt hẳn nổi khổ sống chết luân hồi.
Bởi nhân loại phần đông nghiệp nặng căn tối, chướng
duyên rất nhiều, kiếp sống lại vô thường ngắn ngủi,
mới vừa thấy đó, bỗng lại mất đi.
Nay chúng ta hân hạnh được thân người, lại rất may
mắn gặp môn Tịnh độ là pháp cực nhiệm mầu, một đời
có thể đới nghiệp vãng sanh thoát vòng sống chết,
thì phải đem toàn thân mà gánh vác thọ trì, đừng nên
lần lựa hẹn chờ, hoặc thờ ơ biếng trễ. Tại sao thế.
Vì bóng quang âm thấp thoáng như thoi đưa, tuổi xuân
không trở lại, mạng người thoạt còn thoạt mất không
biết đâu mà lường. Khi xưa có thiền sinh hỏi một vị
tôn đức: "Bạch ngài! thế nào là sự tiến tu của hành
giả?" Vị tôn đức đáp: "Thấy nói Kinh Kha xưa dõng
mãnh. Một đi thà chết chẳng quay về!". (Kiến thuyết
Kinh Kha lữ. Nhứt hành cánh bất hồi).
Hành giả đem toàn thân trải đội một câu A Di Đà,
cũng phải như thế.
Hán 60:
Nhứt cú Di Đà
Như cứu đầu nhiên
Tận thập phần lực
Kỳ thượng phẩm liên.
Việt 60:
Một câu A Di Đà
Như cứu lửa cháy đầu
Giốc mười phần công lực
Cầu thượng phẩm sen mầu.
Lược giải:
Hành nhơn khi xưa đã cho biết: "Học đạo như dong
thuyền nước ngược, không tiến nổi trôi lui" (Học đạo
như nghịch thủy hành chu, bất tiến tắc thối). Bởi
trên đường tu, hành giả gặp nhiều chướng duyên trong
và ngoài, nếu không mạnh mẽ cố gắng tự chủ trương,
tất không làm sao tiến triển nổi. Mà muốn làm chủ
thân tâm cùng ngoại cảnh, thắng dẹp muôn duyên để
tiến đạo, phải dùng hết mười phần năng lực mới mong
đạt được kết quả. Về môn Tịnh độ, nếu muốn cầu phẩm
sen bậc thượng, dĩ nhiên cũng phải như thế. Trong
bức thơ gởi cho một Phật tử hỏi đạo, Ấn Quang pháp
sư nói: "Theo kinh nghiệm xưa nay, nhiều hành giả
chỉ mong cầu bậc thượng, nhưng phần nhiều chỉ được
trung, cầu bậc trung lại rớt xuống bậc hạ. Nếu ngươi
không phát tâm thẳng tiến, tu hành lơ là, hy vọng
mình dự vào Hạ hạ phẩm, cũng tốt, thì làm sao bảo
đảm sự vãng sanh?
Trên đây cũng là điểm suy nghĩ chung cho hàng liên
hữu vậy.
Hán 61:
Nhứt cú Di Đà
Diệu viên chỉ quán
Tịch tịch tĩnh tĩnh
Vô tạp vô gián.
Việt 61:
Một câu A Di Đà
Môn chỉ quán mầu tròn
Lặng lặng tĩnh tĩnh niệm
Không xen tạp nối luôn.
Lược giải:
Người mới tu lúc niệm Phật lắng nghe vào trong, dứt
các tạp vọng, gọi là Chỉ. Khi phát khởi trì câu hồng
danh với các tâm trạng khác nhau tạm gọi là Quán.
Những tâm trạng khác nhau ấy như thế nào? Có lúc trì
câu hồng danh với ý tha thiết, như con nhớ mẹ, như
lữ khách lâu năm hoài vọng cố hương. Đây gọi là Chí
thiết niệm. Có lúc trì câu hồng danh với ý sám hối,
bởi nghĩ mình từ vô thỉ kiếp đến giờ vì mê lầm tạo
nhiều tội chướng, nay hết sức hổ thẹn ăn năn. Đây
gọi là Sám hối niệm. Có lúc trì câu hồng danh với ý
thương cảm, vì nghĩ mình nghiệp chướng sâu dày chìm
đắm trong vũng bùn lầy ngũ dục ác nhơ, nay cầu mong
sự cứu vớt nơi đấng đại từ bi. Đây gọi là Bi cảm
niệm. Có lúc trì câu hồng danh với ý lo sợ, bởi nếu
rời Phật lực tức sớm muộn cũng sẽ bị đọa vào ba
đường ác, chịu vô lượng nỗi khổ sống chết luân hồi.
Đây gọi Bố tâm niệm. Có lúc trì câu hồng danh với ý
phân phát tự trách hờn, như một nho sinh sẵn đủ trí
huệ tài ba, thi văn mẫn tiệp, bởi cậy tài nên khinh
suất mãi thi rớt, cam chịu cảnh nghèo hèn. Đây gọi
là Phát phẩn niệm. Có lúc trì câu hồng danh với ý
nhàm chán lẻ loi, như bậc cao sĩ sống giữa cảnh xung
quanh các đồng nhơn tranh đua sắc tài danh lợi, phi
thị hơn thua, gièm pha phỉ báng giết hại lẫn nhau,
riêng mình chỉ còn biết nương gần với Phật, bởi cõi
trần man mác, ấy ai là bạn tri âm? Đây gọi là Cô
tịch niệm.
Niệm Phật với các tâm cảnh như trên, tuy tạm gọi là
có Chỉ có Quán, nhưng chưa được xưng là Diệu Viên
bởi chưa đến mức tròn trặn nhiệm mầu. Hành giả dụng
công lâu ngày, tâm niệm vắng lặng dứt hết muôn
duyên, nơi câu Phật hiệu gồm đủ phước, huệ, hạnh,
nguyện, giải thoát, sáu ba la mật, không và sắc dung
thông, mới gọi là Diệu. Trong bặt thân tâm, ngoài
dứt trần giới, chẳng thấy mình là kẻ hay niệm, Phật
là vị được niệm, không còn lằn mức cách biệt giữa
chúng sanh và phật, giữa cảnh cùng người, tất cả đều
dung hợp rộng rãi, bao la, mới gọi là Viên. Nơi tâm
cảnh ấy, điểm thanh tịnh lặng lặng không tán loạn là
Chỉ, điểm sáng suốt tĩnh tĩnh không hôn trầm là
Quán. Niệm như thế không xen tạp, hằng nối tiếp
nhau, gọi là Diệu Viên Chỉ Quán.
Hán 62:
Nhứt cú Di Đà
Hiển lộ chỉ bình
Trực để bảo sở
Bất trụ hóa thành.
Việt 62:
Một câu A Di Đà
Lối hiểm đều san bằng
Thắng về nơi bảo sở
Không trụ cảnh hóa thành.
Lược giải:
Trong kinh Pháp Hoa, nơi phẩm Hoá Thành Dụ, đức Thế
Tôn có nói đại khái như sau:
"Một vị đạo sư hướng dẫn đoàn người vượt qua đoạn
đường hiểm trở xa độ năm trăm do tuần, để đến nơi
Bảo sở là chỗ có nhiều châu báu. Nhưng giữa đường
đoàn người ấy mỏi mệt thối tâm, xin muốn lui bước
trở về. Đạo sư nghe nói thương xót, dùng phương tiện
biến ra một Hóa thánh cách đó ba trăm do tuần và
bảo: "Các ông hãy cố gắng đến thành ấy tạm nghỉ sẽ
hết nhọc mệt!". Đoàn người vui mừng tiến tới Hóa
thành, cho rằng mình đã đến nơi, đã được chỗ an ổn.
Khi đạo sư thấy họ đã nghỉ ngơi xong, liền diệt mất
Hoá thành và bảo: "Vừa rồi là Hóa thành không phải
cảnh thật. Ta vì thấy các ông mỏi mệt bỏ dở công khó
muốn lui trở về, nên thương xót phương tiện hóa hiện
ra. Nay đã sắp gần tới Bảo sở các ông nên cố gắng
gia công tiến bước..."
Theo thí dụ trên, Đạo sư chỉ cho đức Như lai. Đoàn
người chỉ cho hành giả tiến tu theo chánh pháp.
Đường năm trăm do tuần, chỉ cho sự hiểm nguy khổ nạn
trong Ngũ thú luân hồi là: Thiên, nhơn, bàng sanh,
ngạ quỉ, địa ngục. Trông đây không kể A tu la và
thần tiên, vì hai đạo này nhiếp vào các nẻo kia. Như
A tu la thì có thiên A tu la, nhơn A tu la, quỉ A tu
la, súc A tu la. Tiên thì có thiên tiên, quỉ tiên
cho đến súc tiên, chẳng hạn như hồ tiên cho đến long
tiên v.v... Nếu phối hợp với các thừa, thì năm trăm
do tuần là sự trải vượt qua năm thừa gồm: Nhơn thừa,
Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát
thừa. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát còn kể trong
giai đoạn hiểm nguy, vì nếu không nhờ sức Phật gia
bị, tất bị u trệ, khó nỗi tiến lên Phật quả. Nhưng
đây là luận rộng thêm đó thôi, thật ra đường hiểm
năm trăm do tuần chỉ cho Ngũ thú thì thiết cận hơn.
Tiếp tục theo lời dụ, Bảo sở chỉ cho Phật quả Vô
thượng đẳng giác. Cách ba trăm do tuần, chỉ cho sự
vượt khỏi Tam giới. Hóa thành chỉ cho quả vị giải
thoát phiền hoặc ba cõi của hàng Nhị thừa Thanh văn,
Duyên giác. Tổng kết đại ý, đức Thế Tôn muốn nói
trong giáo pháp của Ngài, chỉ duy một Phật thừa,
không có sự chia riêng hai thừa như Tiểu thừa và Đại
thừa, hoặc ba thừa như
Thanh văn, Duyên giác, Bố tát thừa. Những thừa trên
đều toàn giả lập, quả vị Thanh văn, Duyên giác, chỉ
là Hóa thành huyễn tạm mà thôi.
Đối với pháp Tịnh độ, có người không hiểu rõ môn
này, lầm cho Cực lạc là Hóa thành, chẳng phải Bảo
sở. thật ra Hóa thành cùng Bảo sở là cảnh giới tu
chứng của tự tâm, không cuộc hạn nơi quốc độ. xin
nói rõ lại, Hóa thành là cảnh giới Thanh văn, Duyên
giác; Bảo sở là cảnh giới Phật. Môn niệm Phật đưa
chúng sanh về Cực lạc, để mau tiến lên cảnh giới
Phật, chứng thành Phật quả. Đó là đường lối thẳng
tắt tiến về Bảo sở; chớ đâu phải trụ nơi Hóa thành.
Đúng ra Ta bà và Cực lạc đều là huyễn cảnh, nhưng Ta
bà có vô lượng khổ nạn chướng duyên. Cực lạc đủ vô
lượng duyên lành tiến đạo. Bởi thế chư Phật đều
khuyên nên cầu vãng sanh để dễ tiến tu, không còn
thuộc giới phàm phu đầy đủ nghiệp lực mà cho cực lạc
là Hóa thành, cam ở cảnh ta bà vô lượng chướng duyên
hiểm nạn, rất khó được giải thoát, đó là Bảo sở đấy
ư? Thật là lầm lạc và đáng buồn cười lắm vậy!
Câu "Lối hiểm đều san bằng" hàm ý nghĩa: Khi công
phu niệm Phật thuần thục, từ cõi Phàm thánh đồng cư
nơi Cực lạc, thì đã thoát khỏi sự luân hồi trong
đường hiểm Ngũ thú thuộc Tam giới, lại thường được
gần gũi Phật cùng chư Bồ tát, không còn bị chướng
ngại và bị thối chuyển trên đường Vô thượng Bồ đề.
Tóm lại một câu niệm Phật có công năng mầu nhiệm san
bằng tất cả hiểm nạn trên đường tu, đưa hành giả
tiến mau bề Bảo sở, nên Triệt Ngộ thiền sư mới tỏ
bày khen ngợi!
Hán 63:
Nhứt cú Di Đà
Như thủy thanh châu
Phân vân tạp niệm
Bất đoạn tự vô.
Việt 63:
Một câu A Di Đà
Như ngọc lắng trong nước
Ngàn muôn tạp niệm rối
Chẳng dứt tự thành không.
Lược giải:
Hạt châu Thủy thanh có công năng lóng nước đục thành
trong. Câu niệm Phật cũng thế, không luận vọng niệm
nhiều ít, hành giả cứ chuyên chú giữ chắc sáu chữ
hồng danh lâu ngày, tạp niệm tự nhiên tan mất. Điểm
đáng lưu ý trong đây là không nên khởi tâm dứt trừ
vọng niệm. Vì vọng niệm vốn như huyễn, cố tình muốn
dẹp, nó lại càng tăng. Một nhà hiền triết đã nói
kinh nghiệm này qua câu: "Càng muốn đè nén, chính là
cố tâm làm cho nó thêm phát khởi" (Tương dục án chi,
tất cố hưng chi).
Khi xưa có một Tú tài đến phỏng đạo nơi bậc cao đức,
vị Thiền sư này hỏi: Cư sĩ tên họ chi?". Tú tài đáp:
"Thưa, đệ tử nhủ danh Trương Chuyết". Chữ Chuyết có
nghĩa là vụng về. Thiền sư nghe xong bảo: Với đạo
khéo còn chẳng có, huống chi đến vụng!". Tú tài nghe
qua liền ngộ vào Bất nhị pháp môn, làm kệ trình lên
rằng:
Ánh linh lặng chiếu khắp hằng sa
Phàm thánh nguyên lai bản tánh ta
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị mây lòa
Dứt trừ phiền não càng thêm bịnh
Tìm tới chân như cũng vẫn tà
Tùy thuận các duyên không trở ngại
Niết bàn sanh tử tợ không hoa.
Theo ý hai câu luận bài kệ trên, phiền não vốn là
không là huyễn, cứ mặc nhiên giữ chánh niệm, nó sẽ
tự tiêu tan. Nếu khởi ý dứt trừ, thì phiền vọng lại
hóa thành có. Chân như là thể tánh tự nhiên, biết
lặng lẽ dung hợp với tự nhiên, tánh chân như sẽ hiển
lộ. Nếu khởi tâm tìm tòi xu hướng, tức có niệm phân
biệt, trái với thể bản nhiên, đó chính là tà vọng.
Để bổ túc ý trên, xin ghi thêm lời của Đàm Hư đại
sư, một bậc cao Tăng cận đại thuộc giáo phái Thiên
Thai bên Trung Quốc.
Đây Phật Tổ quê hương
Xứ xứ hiện phong quang
Nước non miền đất rộng
Ưng tự có biên cương
Động vật tùy sanh trưởng
Thực vật tự phô trương
Nắng mưa tùy đổi tiết
Tháng năm tự đoản trường
Vinh hư muôn tượng hiện
Là tự thể chân thường
Nếu cố ý cầu toàn
Trở lại bị tổn thương!
Hán 64:
Nhứt cú Di Đà
Đốn nhập thử môn
Kim xí phích hải
Trực thủ long thôn.
Việt 64:
Một câu A Di Đà
Ngộ vào đủ công năng
Kim xí rẽ nước biển
Bắt thẳng lấy rồng ăn.
Lược giải:
Trong kinh Khởi Thế Nhân Bản có đoạn nói:
"Đại bàng kim xí điểu là giống chim ăn thịt loài
rồng. Khi muốn thọ thực, chim này tùy theo khả năng
của loại thai, noãn, thấp, hóa, dùng cánh quạt nước
biển sâu nhiều ngàn do tuần, bắt lấy các loài rồng
thuộc thai, noãn, thấp, hóa mà ăn thịt. Kim xí là
loại chim cao nhứt trong hàng phi cầm, có sức thần
thông biến hóa. Rồng là sanh vật tối linh trong biển
cả, cũng có nhiều uy lực thần thông".
Trên đây ví hiệu năng môn Niệm Phật như thần thông
của Kim xí điểu. Các công đức mà môn này thu được
như thủ đắc loài rồng là sinh vật tối linh. Kinh Hoa
Nghiêm có nói đến môn tam muội gọi là Vô Biên Hải
Tạng Môn. Liên Trì đại sư đã so sánh bảo: "Niệm Phật
tam muội cũng thế, ngộ vào môn này tức sẽ đắc vô
lượng Vô Biên Hải Tạng Môn, sẽ thủ đắc vô lượng tam
muội". Vì thế Tổ Triệt Ngộ mới trình thuật lại ý
nghĩa ấy qua bài kệ trên.
Hán 65:
Nhứt cú Di Đà
Trần duyên tự đoạn
Sư tử du hành
Dã can kinh tán!
Việt 65:
Một câu A Di Đà
Sạch trần duyên phiền não
Như sư tử dạo chơi
Kinh rã bầy chồn cáo!
Lược giải:
Chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay, vì mê chân tánh
khởi tham sân si, đắm sâu trong vũng bùn lầy duyên
phiền não, kết thành sức nghiệp tự ràng buộc lấy
mình. Một hiền giả đã than: "Tâm đắm nhiễm của con
người như vực sâu không đáy, như biển rộng mênh
mông. Đem dâng hết sắc đẹp trong thiên hạ cũng không
vừa đủ lòng dục. Hiến khắp hết tiền của trong thiên
hạ cũng không vừa đủ lòng tham!". Bởi thế tuy gặp
thắng duyên bước lên đường tu, nhưng nghiệp tham sân
si trong muôn kiếp không dễ gì trừ dứt. Nhưng nếu
hành giả chí tâm giữ một câu Phật hiệu, dù chẳng
khởi niệm dứt trừ nghiệp hoặc, trần duyên phiền não
cũng sẽ tự tiêu trừ.
Tại sao thế? Bởi phiền não là vọng niệm hư huyễn,
Phật hiệu là chánh niệm chân thật. Vọng niệm như
chồn cáo, chánh niệm như sư tử. Chánh niệm khởi lên,
vọng niệm tự diệt, như sư tử ra khỏi hang, các loài
chồn cáo đều kinh hãi tan rã bỏ chạy. Vọng niệm như
nhà tối muôn năm, chánh niệm như ngọn đèn to sáng,
diệt ngay tất cả sự tăm tối. Cho nên nếu nhiếp tâm
nơi chánh niệm, tất vọng niệm tự trừ. Ngoài điều ấy
ra, sáu chữ hồng danh là kết tinh công đức phước huệ
của Phật A Di Đà đã tu từ vô lượng A tăng kỳ kiếp.
Cho nên, Phật hiệu có công năng diệt nghiệp rất mau
chóng.
Trong Trí Độ Luận, Long Thọ Bồ tát đã khai thị: "Môn
Niệm Phật tam muội hay dứt trừ tất cả phiền não
nghiệp chướng đời này cùng đời trước. Các tam muội
khác, có môn trừ được nghiệp dâm, mà không thể trừ
nghiệp sân. Có môn trừ được nghiệp sân, si mà không
thể trừ nghiệp tham, dâm. Có môn trừ được tham, sân,
si, nhưng chẳng thể trừ những tội nghiệp đời trước.
Niệm Phật tam muội có thể trừ sạch nghiệp tham, sân,
si, cùng tất cả trần duyên phiền não và tội chướng
đời trước.
Lại nữa, Niệm Phật tam muội hay sanh trí huệ phước
đức rộng lớn, có thể độ chúng sanh. Chư Bồ tát nếu
muốn độ sanh mà tu các môn tam muội khác, tất kết
quả rất chậm kém. Bởi các môn tam muội khác, phước
đức không bằng Niệm Phật tam muội. Tai sao thế? Vì
Phật là đấng Pháp Vương, phước huệ đều viên mãn, nên
vô lượng phước đức trí huệ của hành giả, tất phải từ
nơi Phật mà tăng trưởng và thành tựu mau chóng.
Lại nữa, do vì niệm Phật luôn, tâm không rời Phật,
nên hành giả thường được gặp chư Phật...".
Những lời khuyên dạy trên, chứng tỏ niệm Phật hay
trừ sạch trần duyên phiền não.
Hán 66:
Nhứt cú Di Đà
Khiên trực niệm quá
Nhứt đạp đáo để
Hương tượng độ hà.
Việt 66:
Một câu A Di Đà
Thẳng chắc niệm nơi lòng
Một phen đạp tận đáy
Như hương tượng qua sông.
Lược giải:
Trong kinh, đức Phật có thí dụ một đoạn như sau:
"Do chỗ bị động, nên bầy dã thú tìm đoạn sông cạn để
lội sang khu rừng khác. Khi vượt sông, các loài thú
nhỏ như chồn thỏ chỉ bơi khơi khơi trên mặt nước.
Những thứ bậc trung như hươu nai lúc lội sang, chân
đạp được nửa chừng mực nước. Còn loài voi cao lớn là
hương tượng, thì chân bước đạp tận đáy để vượt qua
sông. Chúng sanh tu theo ba thừa của ta hóa đạo cũng
lại như thế, tùy theo căn cơ của mình mà vượt biển
sanh tử sang đến bờ Niết bàn. Hành giả tu theo pháp
Tiểu thừa như loài thú nhỏ. Tu theo pháp Trung thừa
như loài bậc trung. Tu theo pháp Đại thừa như loài
thú cao lớn là hương tượng đạp tận đáy sông, nghĩa
là đạp thấu suốt chiều sâu của ly tánh mà vượt qua
biển luân hồi sống chết...".
Dẫn thí dụ trên để so sánh, Tổ Triệt Ngộ cho môn
Niệm Phật là pháp Đại thừa. Nếu hành giả trì câu
hồng danh một cách thẳng chắc, dứt tất cả phiền não,
không còn phân biệt năng sở trong ngoài, tức sẽ khế
hợp với lý tánh, đi sâu vào Thật Tướng Niệm Phật. Kẻ
ấy như con hương tượng chân đạp tận đáy, vượt sông
một cách vững vàng chắc chắn.
Hán 67:
Nhứt cú di Đà
Vô tướng tâm Phật
Quốc độ trang nghiêm
Cảnh phi ngoại vật.
Việt 67:
Một câu A Di Đà
Cảnh Vô tướng tâm Phật
Cõi nước đẹp trang nghiêm
Không phải là ngoại vật.
Lược giải:
Hành giả tu Tịnh độ do chuyên trì câu hồng danh, lâu
ngày nghiệp chướng tiêu trừ, sẽ chứng vào Niệm Phật
tam muội. Đây là cảnh Vô tướng tâm Phật. Vô tướng
không phải trống rỗng chẳng hàm tướng trạng chi, mà
chính vì các tướng sanh diệt như huyễn không có tự
thể chắc thật, nên gọi là Vô. Tâm Kinh nói: "Huyễn
sắc tức chân không, chân không tức huyễn sắc", chính
là ý này. Tâm Phật có nghĩa: Tâm tức Phật, Phật tức
Tâm, chân tâm là Phật cảnh, Phật cảnh là chân tâm.
Thế thì cảnh chánh báo y báo trang nghiêm ở cõi Cực
lạc, cùng tất cả quốc độ khắp mười phương, đều chính
là cảnh giới của chân tâm, của tâm mình, không phải
vật chi ngoài khác. Cho nên những kẻ bảo: "Niệm A Di
Đà, nguyện sang Cực lạc, là tìm cầu bên ngoài, chẳng
hướng về tự tâm", đó là quan niệm sai lầm, chưa hiểu
rõ chân tâm, cũng như pháp môn Tịnh độ.
Hán 68:
Nhứt cú Di Đà
Vô vi đại Pháp
Nhựt dụng đơn đề
Kiếm ly bảo hạp.
Việt 68:
Một câu A Di Đà
Pháp vô vi đại bảo
Hằng ngày một niệm chuyên
Gươm linh rời hộp báu.
Lược giải:
Trong danh từ Vô vi, chữ Vi có nghĩa: khởi làm hay
tác động. Vì các tướng động chuyển trong mười phương
thế giới đều sanh diệt như mộng huyễn, như bọt bóng,
không có thật thể, nên gọi Vô vi. Đừng lầm hiểu Vô
vi là rỗng không, chẳng có tướng trạng hay tác động
chi cả mà sai lạc. Cho nên trong kinh nói: "Bồ tát
tuy thị hiện vô biên quyến thuộc, mà tâm hằng không
quyến thuộc. Tuy thật hành sáu độ cùng tất cả việc
lành, mà không thấy mình hay làm và có các pháp để
tu. Tuy độ vộ lượng chúng sanh, mà không thấy mình
là người hóa độ và những chúng sanh được độ". Đó là
hạnh Vô vi. Hạnh Vô vi như thế mới gọi là đại pháp
lớn rộng và quí báu.
Nơi đây Triệt Ngộ đại sư dạy: "Người tu tịnh độ khi
niệm Phật không thấy mình là kẻ hay niệm, Phật là vị
được niệm, câu hồng danh là pháp tu niệm; dứt tất cả
phiền não vọng tưởng, trong quên thân tâm, ngoài tan
ngoại cảnh. Hằng ngày đề khởi chuyên niệm như thế,
sử dụng câu hồng danh như bậc kiếm sĩ rút gươm
thiêng sắc bén ra khỏi vỏ hộp báu, vật chi xúc phạm
dến đều bị chém đứt tan. Hành trì như thế tất sẽ
chứng vào pháp giới Vô vi rộng lớn, nhập Không Huệ
đà ra ni vậy".
Hán 69:
Nhứt cú Di Đà
Vô lậu chân Tăng
Tuyết sơn dược thọ
Hiểm đạo minh đăng.
Việt 69:
Một câu A Di Đà
Thành vô lậu chân Tăng
Cây thuốc nơi non Tuyết
Đường hiểm ngọn minh đăng.
Lược giải:
Kinh nói: "Trong dãy Tuyết sơn có cây thuốc tên là
Dược Vương. Người đau bịnh ôm thân cây liền lành
mạnh. Nếu uống được chút ít chất nhựa cây thì trọn
đời không bịnh". Lại ở Tuyết sơn có nhiều thứ thuốc
quí lạ. Theo kinh Hiền Ngu, khi xưa đức Thế Tôn đã
dùng gió thổi đưa chất thuốc tiên nơi non Tuyết vào
mắt của năm trăm người mù, khiến cho họ đều được
sáng tỏ. Trong quyển Lục Đạo Luân Hồi Tập có dẫn sự
việc một người đi ngang qua núi Tuyết, nhân đói ăn
thứ dược thảo lạ, bỗng nói và hiểu được sáu môn thổ
ngữ của dân chúng và các xứ quanh vùng. Chẳng riêng
gì núi Tuyết, mà ở các danh sơn khác cũng có nhiều
thứ thuốc tiên. Một độ, bút giả đọc quyển Nam Nhạc
Kỳ, thấy nói một đạo sĩ vào núi này hái thuố, chợt
thấy một bàn tay trắng đẹp sáng mịn mọc ra từ vách
đá. Biết đó là thứ tiên dược, đạo sĩ liền cắt lấy để
vào giỏ. Đi một đoạn, ông ta bỗng nghĩ: "Loại thuốc
tiên này biến hóa, nếu không ăn liền nó sẽ ẩn mất!".
Quả nhiên khi xem lại thì bàn tay ấy đã không còn.
Trong đây, Tổ Triệt Ngộ so sánh sáu chữ hồng danh
như thuốc tiên ở Tuyết sơn, như ngọn đèn sáng nơi
khoảng đường tối tăm nguy hiểm. Thuốc tiên ngoài
công năng trị lành các bịnh, còn có thể khiến cho
người đổi xác phàm phu thăng thành tiên thánh. Ngọn
đèn sáng nơi đường hiểm, ngoài công dụng soi tỏ để
hành khách khỏi lạc lối, còn có thể khiến cho họ
khỏi sa hầm sụp hố, tránh những tai nạn chết người.
Câu Phật hiệu lại cao siêu hơn, có thể khiến cho
hành giả trở thành bậc chân Tăng vô lậu, thoát vòng
luân hồi, chứng ngôi Vô thượng Đẳng giác. Chữ "Lậu"
có nghĩa: sa lọt, là biệt danh của nghiệp vào vòng
sống chết luân hồi trong ba cõi. Vô lậu chỉ cho thể
tánh sáng suốt, dứt hết phiền não, không hệ lụy vào
nẻo luân hồi. chứng được thể tánh này mới gọi là bậc
chân Tăng. Mà muốn chóng thành bậc Vô lậu chân tăng
tất phải niệm Phật.
Hán 70:
Nhứt cú Di Đà
Mãn Bàn na độ
Liệt phá xan nang
Hân phiên bảo tụ.
Việt 70:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ Bố thí độ
Phá toang túi sẻn tham
Tuôn cho đống châu báu.
Lược giải:
Chúng sanh sở dĩ không bố thí được để tạo duyên
phước, là vì còn nghiệp bỏn sẻn tham lam. Khi chuyên
niệm Phật, nghiệp ấy sẽ tiêu trừ, hành nhơn được
tròn đầy hạnh thí xả, cả bên trong lẫn bên ngoài.
Bên ngoài là thí xả mọi thứ tiền bạc của cải, lần
lượt cho đến đầu, mắt, tay, chân, như đức Thích Tôn
khi còn tu Bồ tát hạnh. Bố thí như thế mới tròn đủ
Đàn ba la mật.
Hán 71:
Nhứt cú Di Đà
Mãn thi la độ
Độ nhiếp lục căn
Viên tịnh Tam tụ.
Việt 71:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ Trì giới độ
Nhiếp hết cả sáu căn
Tròn sạch đủ Tam tụ.
Lược giải:
Cổ đức bảo: "Phật chế tất cả giới để trị tất cả tâm.
Nếu không tất cả tâm, cần chi tất cả giới?". Qua lời
trên, giới luật chỉ là phương tiện để ngăn trừ
nghiệp hạnh xấu ác của chúng sanh. Mà sở dĩ có
nghiệp hạnh xấu ác là do còn tâm phiền não nhiễm ô.
Nếu nhiếp cả sáu căn chuyên trì Phật hiệu, thì
nghiệp chướng bên trong sẽ lần lần tiêu tan, hạnh
xấu ác bên ngoài lần lần được dứt. Và hành giả cũng
sẽ lần lần được trong sạch thân tâm, tròn đầy cả Tam
tụ tịnh giới. Tam tụ tịnh giới là: Nhiếp luật nghi
giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình
giới. Nhiếp luật nghi giới có công năng đưa người tu
vào khuôn mẫu luật hạnh, trừ những điều lỗi lầm tội
ác của ba nghiệp thân, khẩu, ý. Nhiếp thiện pháp
giới khuyến tấn hành giả làm tất cả điều lành. Nhiêu
ích hữu tình giới khiến cho người con Phật được tròn
đủ hạnh nguyện cứu độ chúng sanh. Đủ ba tụ trên, Thi
ba la mật mới được viên mãn. Môn niệm Phật là nhân
nhiệm mầu để mau thành tựu Giới độ ấy.
Hán 72:
Nhứt cú Di Đà
Mãn Sằn đề độ
Nhị ngã tướng không
Vô sanh nhẫn ngộ.
Việt 72:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ nhẫn nhục độ
Tướng Nhị ngã không còn
Pháp Vô sanh được ngộ.
Lược giải:
Sở dĩ hạnh Nhẫn nhục khó được thành tựu, vì chúng
sanh còn có tướng Nhị ngã. Nhị ngã tướng là Nhơn ngã
tướng và Pháp ngã tướng, tức mối chấp có Ta và Pháp.
Nếu chuyên niệm Phật, nghiệp chướng mau tiêu trừ,
lần lần hành giả sẽ được tâm không, thấy Ta, Người
và Pháp đều như huyễn, chẳng thật có. Khi ấy đâu còn
chấp có người cùng pháp là nguyên nhân gây nên sự
bức não, và ta là kẻ hay nhẫn, bởi hành giả đã thoát
khởi ranh giới của Ngã, Pháp; chân tâm dung hợp khắp
mọi nơi. Chừng ấy đương nhơn sẽ chứng ngộ vào Vô
sanh pháp nhẫn, tròn đầy Sằn đề ba la mật.
Hán 73:
Nhứt cú Di Đà
Mãn Tỳ lê độ
Bất nhiễm tiêm trần
Trực đạp huyền lộ.
Việt 73:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ tinh tấn độ
Lòng không nhiễm mảy trần
Bước thẳng lên huyền lộ.
Lược giải:
Khi tu hành mà còn thấy mình có tinh tấn, tức chưa
đạt đến mức cứu cánh của tinh tấn, vì còn chấp ngã
và pháp. Muốn tròn đầy Tỳ lê da ba la mật, phải
thoát ly quan niệm đó, tuy hằng tinh tấn không gián
đoạn mà chẳng thấy mình có tinh tấn. Hai vị đại sĩ
đã đạt đến cảnh giới này, nên được tôn hiệu là
Thường Tinh tấn và Bất Hưu Tức Bồ tát.
Khi hành giả niệm Phật đến mức tâm trong sạch rỗng
rang, không còn nhiễm một mảy trần, tức đã đặt bước
lên con đường huyền vi, vào cảnh giới cứu cánh của
Tinh tấn độ vậy.
Hán 74:
Nhứt cú Di Đà
Mãn thiền na độ
Hiện chư oai nghi
Tang thậm khô thọ?
Việt 74:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ thiền độ lý
Hiện trong các oai nghi
Cây khô có gì quí?
Lược giải:
Liên trì đại sư đã bảo: "Niệm Phật và tham thiền chỉ
là một, không khác nhau!". Tại sao thế? Bởi Thiền na
có nghĩa: Tĩnh lự. "Tĩnh" thuộc về Định, về Chỉ, về
Tịch, thể hiện công đức vắng lặng. "Lự" thuộc về
Huệ, về Quán, về Chiếu, thể hiện công đức sáng soi.
Khi hành giả niệm Phật đến mức dứt bặt muôn duyên,
tâm yên lặng sáng suốt, thể hiện công năng tịch
chiếu, trong ấy đã bao gồm thiền định rồi. Đó cũng
gọi thật hành. Thiền na ba la mật, nghĩa là đương
nhơn đã tiến bước vào cảnh giới chân thật của thiền
định.
Thuở xưa đã có bà lão cất ngôi tịnh thất cho một nhà
sư ở để tham thiền, thường cung cấp cho bốn sự cúng
dường đầy đủ. Sau hai mươi năm, muốn thử xem trình
độ sự tu hành đã đến mức nào, bà lão dặn cô con gái
lúc đem cơm nước đến dâng, hãy thình lình ôm lấy vị
sư và hỏi: "Hiện thời tâm của thầy ra so?". Cô gái
thật hành y như lời mẹ dặn, được nhà sư đáp: "Tâm
của tôi lúc này như cây khô nương gộp đá lạnh trong
ba tháng mùa đông, không một chút hơi nóng động nào
cả!". (Khô mộc ỷ hàn nham. Tam đông vô noản khí). Bà
lão nghe cô gái thuật lại lời ấy liền than: "Uổng
công ta khó nhọc trong hai mươi năm, kết cuộc chỉ
cúng dường cho một kẻ phàm phu!". Rồi đốt thất, đuổi
nhà sư đi.
Trong bài kệ trên ý Tổ sư muốn nói: "Lúc tu Tịnh độ
đến mức tâm yên lặng sáng suốt, thì dù khi hiện các
oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, mặc áo, niệm
Phật, tụng kinh; trong ấy đã đầy đủ Thiền định độ.
Như thế còn hơn hạng khô thiền bám chặt lấy cảnh
giới thiên không, như cây chết khô chẳng có chi là
siêu xuất cả!".
Hán 75:
Nhứt cú Di Đà
Mãn Bát nhã độ
Cảnh tịch tâm không
Vân khai nguyệt lộ.
Việt 75:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ Bát nhã độ
Cảnh thanh vắng lòng không
Mây tan vầng nguyệt lộ.
Lược giải:
Ấn Quang pháp sư nói: "Với câu niệm Phật, nếu có một
phần kính thành, thì tiêu một phần tội nghiệp, sanh
một phần phước huệ". Được mười phần kính thành, sẽ
tiêu mười phần tội nghiệp, sanh mười phần phước huệ.
Cho nên khi niệm Phật, hành giả sẽ tùy tâm mà được
tiêu trừ nghiệp chướng, phát huy trí huệ của công
đức Bát nhã. Hành trì lâu ngày, người ấy sẽ tiến đến
mức tâm cảnh rỗng không sáng lặng, và sẽ lần lần đầy
đủ Bát nhã độ. Hiện tượng ấy ví như mây tan hiện ra
vầng trăng trong sáng chiếu rạng khắp nơi, cảnh và
ánh trăng đều lặng lẽ trong trạng thái dung hàm
không còn phân biệt.
Hán 76:
Nhứt cú Di Đà
Tưởng tịch tư chuyên
Vị ly Nhẫn độ
Dĩ tọa bảo liên.
Việt 76:
Một câu A Di Đà
Tâm lặng tưởng nhớ chuyên
Tuy chưa lìa Nhẫn độ
Đã ngồi tọa bảo liên.
Lược giải:
Bài kệ trên, hai câu trước ý nghĩa đã rõ ràng, duy
hai câu sau, riêng một số độc giả chưa khỏi có điều
nghi vấn. Theo Ấn Quang pháp sư, tác dụng nghiệp
thức của chúng sanh không thể nghĩ bàn! Có người tuy
còn ở Ta bà, mà một phần thần thức đã hiện thân ngồi
nơi hoa sen cõi Tịnh độ. Có người đang còn sống mà
nghiệp thức đã hiện thân thọ tội nơi địa ngục dưới
Âm ty. Chuyện Cửu Pháp Hoa và Kinh Dương phu nhơn
trong tịnh Độ Thánh Hiền Lục, thân chơi cực lạc,
thấy trước Dương Kiệt, Từ đạo cô, Tôn Trung, đã ngồi
nơi hoa sen, là điều chứng minh cho hai câu: "Tuy
chưa lìa Nhẫn độ. Đã ngồi tọa bảo liên" vậy. Nhẫn độ
chính là cõi Ta bà, vì Ta bà có nghĩa "Kham Nhẫn".
chúng sanh ở cõi này phải có sức nhẫn nại mới chịu
đựng nổi với những cảnh chướng ác xung quanh.
Hán 77:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Duy tâm chi diệu
Pháp chỉ như nhiên.
Việt 77:
Một câu A Di Đà
Là một đóa bảo liên
Lý duy tâm mầu nhiệm
Pháp hợp lẽ thiên nhiên.
Lược giải:
Câu hồng danh mà chúng ta đang hành trì, là kết tinh
công đức của Phất A Di Đà đã tu từ vô lượng vô biên
kiếp về trước. Cho nên khi chúng sanh khởi tâm niệm
một câu Phật hiệu, theo nhân quả của lý "các pháp do
tâm tạo", trong vô hình tự nhiên có ánh sáng và hoa
sen phát hiện, mà mắt phàm thường không thể nhìn
thấy. Tuy nhiên cũng có vài trường hợp do tâm chí
thành nên hoa sen hiện rõ, có thể mục kích được với
đôi mắt thường. Bởi thế hành giả mới chứng biết được
lý ấy.
Nhắc tới điều này, bút giả bỗng nhớ lại chuyện thầy
Thiện Lộc, thân phụ Sư cô Diệu Châu, ở ngôi am sau
chùa Vạn Đức tại Thủ Đức, đã thuật lại cho các liên
lữu biết. Một đêm nọ vào khoảng tám giờ tối, thầy
đang quì chí tâm niệm Phật theo thời khóa đầu hôm,
bỗng thấy từ cạnh bàn Phật ở ngay trước mặt mọc ra
một búp hoa sen đỏ to bằng cái tách. Vừa trì niệm
vừa nhìn kỹ từng chi tiết, thầy thấy cuống hoa uốn
lượn cong, búp sen ngửa lên, rồi lần lần theo tiếng
Phật hiệu nở to ra bằng đĩa bàn. Độ mười lăm phút
sau, đóa hoa ấy biến mất. Đây là một trong nhiều
chuyện hiện thật, mà chư liên hữu ở khắp mọi nơi đã
mục kích và trần thuật lại.
Để nói rộng thêm, câu niệm Phật chẳng những có công
đức hiện ra tướng hoa sen, mà còn hiện đủ các tướng
thuộc chánh báo, y báo ở Cực lạc. Trong các truyện
vãng sanh, có vị trước giờ phút thọ chung, đại chúng
bỗng thây mặt đất xung quanh bỗng hóa thành ra vàng
ròng. Có vị đang nằm bịnh, tràng phan, lầu các hiện
trong tảng băng để gần bên giường. Có vị đang niệm
Phật, thân tướng trang nghiêm của đức A Di Đà hoặc
chư Bồ tát hiện giữa hư không, bay trên ngọn đèn lưu
ly. Có vị trong khi trì niệm, chợt nghe mùi hương lạ
bay thơm cùng khắp. Công đức trang nghiêm thanh tịnh
của câu niệm Phật tùy tâm hiển hiện, đại khái là như
thế.
Hán 78:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Phàm tình bất tín
Diệt như kỳ nhiên.
Việt 78:
Một câu A Di Đà
Là một đoá bảo liên
Phàm tình không tin tưởng
Cũng là lẽ tất nhiên.
Lược giải:
Như trên đã nói: Do công đức của câu Phật hiệu, theo
lý duy tâm tạo, tự nhiên có hoa sen, ánh sáng hoặc
các tướng đẹp lạ khác phát hiện. Nhưng các điều ấy
tiếc thay, phần đông phàm phu không tin hiểu và công
nhận. Sở dĩ như thế, vì sự thấy biết của họ còn
thuộc hạn trong tâm lượng cạn hẹp của phàm tình. Âu
đó cũng là lẽ tất nhiên.
Hán 79:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Quyết định bất tín
Chân cá khả liên
Việt 79:
Một câu A Di Đà
Là một đóa bảo liên
Nếu quyết không tin nhận
Đáng thương thật kém duyên!
Lược giải:
Trong các kinh luận về Tịnh độ, nhiều nơi Phật và
chư Tổ đã nói công đức niệm Phật hay trừ tội chướng,
sanh phước huệ, hiện ra hoa sen, ánh sáng. Từ xưa
đến nay các hành giả tu tịnh nghiệp, lúc thức tỉnh
hay trong giấc mơ, đã thấy hiển hiện điều này, và
cũng đã thuật lại rất nhiều. Đó là lý chiêu cảm của
nhân lành quả lành, kẻ chưa tin phải theo lời giải
thích và điều minh chứng mà phát lòng tin. Nếu còn
quyết định không tin nhận, thì thật đáng thương kẻ
ấy quá nông cạn, nhiều nghiệp chướng, kém phước
duyên, cam chịu khổ mãi trong vòng luân hồi sáu nẻo.
Hán 80:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Trực nhiêu bất tín
Dĩ nhiễm thức điền.
Việt 80:
Một câu A Di Đà
Là một đóa bảo liên
Dù cho không tin tưởng
Cũng đã nhiễm thức điền.
Lược giải:
Tiếp theo ý trên, dù cho những kẻ chưa hiểu biết,
hoặc đã nghe giải thích và chứng minh rõ ràng về
công đức niệm Phật mà còn cố chấp không tin nhận thì
câu Phật hiệu cũng đã ghi vào ruộng Tàng thức của kẻ
ấy rồi! Khi hạt giống câu hồng danh đã nhiễm vào Hàm
tàng thức, ngày kia trong một hoàn cảnh nào đó nó sẽ
phát hiện. Và nhân đó đương nhơn sẽ được độ thoát,
bất quá phải chịu khổ luân chuyển trong thời kiếp
lâu xa mà thôi. Về điểm này, một bậc tôn đức đã bảo:
"Khen chê cũng nhờ độ thoát. Tin nghi đều đến Liên
bang". (Tán báng câu mông giải thoát. Nghi tín cộng
nhập Liên bang).
Thuở Phật còn tại thế, có ông lão đúng trăm tuổi mới
đến chư Tăng xin xuất gia. Các hàng Trưởng lão từ
ngài Ca Diếp, Xá Lợi Phất, đến chư Đại đức khác đều
không thâu nhận, vì các vị nhận định xét thấy ông
không có căn lành. Khi đức Thế Tôn đi khất thực trở
về thấy ông lão khóc, Ngài quán biết liền chấp thuận
cho xuất gia. Chư Tỳ kheo hỏi duyên cớ, Phật đáp:
"Đạo nhãn bậc A la hán của các ông chỉ thấy biết sự
việc trong vòng tám muôn bốn ngàn kiếp về trước và
về sau mà thôi. Nhưng trước khoảng thời gian đó lâu
xa, ông lão này là kẻ tiều phu đi đốn củi, bị cọp
rượt, sợ hãi leo lên cây phát thanh niệm một câu
"Nam mô Phật". Do chủng tử nhân lành đó, ngày nay
ông mới gặp ta hóa độ và sẽ được giải thoát". Ông
lão là Phước Tăng tỳ kheo, Phật giao cho ngài Mục
Kiền Liên thâu làm đệ tử, không bao lâu chứng được
quả A la hán.
Tóm lại, ảnh hưởng của câu Phật hiệu rất nhiệm mầu
sâu rộng, chẳng những kẻ nghe danh hiệu Phật sanh
lòng vui mừng, tin nhận, khen ngợi và thật hành đều
được giải thoát, mà người nghi ngờ kinh báng nhái
giọng niệm theo để chê bai, khi thọ ác báo rồi cũng
nhờ chủng tử công đức ấy gây nhân duyên đắc độ về
sau. Cho nên bài kệ: "Thà ở cõi Địa ngục. Được nghe
hồng danh Phật. Không mong sanh Thiên giới. Chẳng
biết hiệu Như Lai", như trong kinh nói rất là xác
đáng.
Hán 81:
Nhứt cú Di Đà
Hoằng thông cảm đọa
Nhập Đại bi thất
Tọa pháp không tòa.
Việt 81:
Một câu A Di Đà
Sốt sắng gắng hoằng thông
Nguyện vào Đại bi thất
Ngồi yên tòa Pháp không.
Lược giải:
Trong kinh Pháp Hoa, đức Thế Tôn đã từng khuyên các
học nhơn: "Nếu muốn kham sống trong cõi đời ngũ
trược để độ mình cùng độ sanh, thì phải mặc áo giáp
Nhẫn nhục, vào nhà Đại Bi, và ngồi tòa Pháp không".
Tại sao thế? Bởi nơi cõi Ta bà những nghiệp tham,
sân, si, khinh mạn, nghi ngờ cùng ác kiến của chúng
sanh tất mạnh mẽ lẫy lừng. Các phiền nghiệp ấy ví
như những mũi tên lửa, dễ làm tổn não người, nếu
không mặc áo giáp Nhẫn nhục nhu hoà, tất khó thể
chịu đựng nổi. Song như thế cũng chưa đủ, vì nếu
nhẫn nhục mà không có lòng đại bi thương xót tha thứ
sự mê lầm tội lỗi của chúng sanh, thì chẳng thể
hoằng pháp độ người. Cho nên hành giả phải nối gót
Như Lai vào nhà đại Từ bi của Phật. Tuy nhiên, như
thế vẫn chưa được trọn vẹn. Bởi dù có tâm Từ bi,
Nhẫn nhục, nhưng nếu chưa thấu suốt tất cả pháp đều
không, mà vào nơi Vô sở trụ như kinh Kim Cang đã chỉ
dạy, tức nhiên tướng Nhơn ngã chấp và Pháp ngã chấp
hãy còn. Đã còn tác tướng ấy thì dù có Nhẫn nhục
cũng chưa dứt hết gốc giận hờn, dù có niệm Từ bi
cũng chưa tuyệt lòng ái luyến. Cho nên hành giả lại
phải cần an trụ nơi tòa Nhứt thiết pháp không. Đạo
lý này rất uyên thâm, như diễn rộng ra sáu trăm
quyển Đại Bát Nhã cũng nói chưa cùng tận. Song nếu
tóm tắt lại, có thể gồm trong một lời kệ của kinh
Hoa Nhgiêm: "Vô trước vô y trí huệ lực", nghĩa là
sức trí huệ không nương tựa dính mắc vào đâu.
Đại ý bài kệ trên, ngài Triệt Ngộ muốn nói: "Chư Như
Lai từ trong nhân hạnh cho đến khi đắc quả, vì bi
nguyện độ sanh nên đã mặc áo giáp Nhu hòa nhẫn nhục,
vào nhà đại Từ bi, ngồi tòa Nhứt thiết pháp không mà
tu học cùng nói ra pháp môn niệm Phật này". Các hành
giả muốn độ mình một cách chắc chắn và rộng độ chúng
sanh, cần phải siêng năng noi theo gương ấy.
Hán 82:
Nhứt cú Di Đà
Vô tận bảo tạng
Bát tự đả khai
Phổ đồng cúng dường.
Việt 82:
Một Câu A Di Đà
Là kho báu vô tận
Tám chữ mở toan ra
Khắp cho không tiếc lẫn.
Lược giải:
Tám chữ trên đây, là "Đại từ đại bi A Di Đà Phật".
Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có thuật chuyện một
hành giả niệm Phật, khi lâm chung thấy tám chữ ấy
hiện ra giữa hư không to lớn, sắc như vàng ròng. Tám
chữ ấy hàm ý tiêu biểu cho bốn mươi tám bi nguyện độ
sanh rộng lớn của đức A Di Đà Thế Tôn. Song về sự
trì niệm, thì yếu ước lại chỉ có sáu chữ "Nam mô A
Di Đà Phật". Sao gọi là tám chữ, hay sáu chữ mở kho
báu vô tận?
Theo Hiển Giáo, sáu chữ ấy tiêu biểu cho sự nương về
kho Vô lượng thọ mạng, Vô lượng quang minh, Vô lượng
công đức.
Theo Mật giáo, về quyển Thánh Tài Tập, sáu chữ đó là
chủng tử của năm đức Phật. Hai chữ Nam Mô có nghĩa
là quy mạng. Mạng là Thọ thường trú, tức chỉ cho đức
Tỳ Lô Giá Na Như lai. Còn bốn chữ kia, theo thứ tự
là chủng tử của năm đức Phật. Hai chữ Nam Mô có
nghĩa là quy mạng. Mạng là Thọ thường trú, tức chỉ
cho đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Còn bốn chữ kia, theo
thứ tự là chủng tử của bốn đức Phật: A Súc Bệ, Bảo
Sanh, A Di Đà, và Bất Không Thành Tựu. Cho nên sáu
chữ hồng danh là kho bí mật, gồm thâu tất cả chánh
báo, y báo khắp mười phương.
Theo Tâm giáo, sáu chữ này là kho chân tâm, gồm
nhiếp tất cả nhân quả, tánh tướng, phước huệ, sự lý.
Vì thế nên gọi: "Một câu A Di Đà, Là kho báu vô
tận".
Về điểm dùng tám chữ hay yếu ước lại sáu chữ, để mở
kho báu vô tận, cổ nhơn đã có câu: "Lục tự đã khai
vô tận tạng. Thâu lai phóng khứ chỉ như nhiên". Hai
câu này có ý nghĩa: (Niệm sáu chữ hồng danh có thể
mở toang kho báu vô tận như trên đã nói. Và khi đã
thể nhập vào kho chân tâm, thì niệm tức là vô niệm,
vô niệm tức là niệm, buông ra thâu vào đều ở trong
trạng thái như như).
Chư Phật Thế Tôn, chư Bồ tát, chư Tổ, vì lòng bi
nguyện, đã đem tám chữ hay sáu chữ nầy mà phổ thí
cúng dường khắp tất cả loài hữu tình, để cho chúng
sanh mở được cửa và thọ dụng kho báu vô tận ấy.
Hán 83:
Nhứt cú Di Đà
Đoạn chư phiền não
Toàn Phật toàn tâm
Nhứt liễu bá liễu.
Việt 83:
Một câu A Di Đà
Dứt phiền não rộn ràng
Tâm Phật toàn dung hợp
Rõ một, rõ trăm ngàn.
Lược giải:
Ý nghĩa bài kệ trên rất hàm súc, muốn hiểu thấu đáo,
chỉ nên dùng hạnh thể nhập hơn là theo phần lý giải.
Tuy nhiên, để tùy thuận sở cầu cho người mới học
đạo, xin tạm giải thích như sau:
Lúc hành giả chuyên tâm niệm Phật, thì nghiệp tham,
sân, si cùng tất cả phiền não đều dừng lặng. Khi
công phu lâu năm trì niệm chuyên thành như thế đến
mức cùng tận, ngày kia đương nhơn chợt thấy tâm niệm
rỗng rang như chiếc thùng lọt đáy, ngộ được tánh bản
lai của mình. Chừng ấy toàn câu niệm Phật, toàn thể
đức A Di Đà cùng chánh báo, y báo thế giới cực lạc
của Ngài, chính là toàn thể chân tâm diệu cảnh. Và
các pháp không ngoài tâm đã ngộ được nhứt chân tâm,
tất rõ được tất cả trăm ngàn muôn pháp.
Hán 84:
Nhứt cú Di Đà
Diệt trừ định nghiệp
Hích nhật khinh sương
Hồng lô phiến tuyết.
Việt 84:
Một câu A Di Đà
Dứt trừ được định nghiệp
Nhật rạng phá sương thưa
Lô hồng tan điểm tuyết.
Lược giải:
Trong kinh có lời dạy: "Chí thành xưng một câu A Di
Đà, diệt được tội nặng trong tám mươi ức kiếp sống
chết, xung quanh hành nhơn mỗi bề ánh sáng phát ra
rộng đến bốn mươi dặm.
Chí tâm xưng một câu hồng danh, ảnh hưởng còn được
như thế huống chi chuyên thành niệm Phật nhiều năm,
thì định nghiệp nào mà không dứt trừ? Công năng diệt
nghiệp của sự trì danh, ví như vầng nhật chói rạng
phá tan mau màn sương thưa, như lò lửa to dễ làm
tiêu mảnh tuyết. Tổ sư đã mượn hai thí dụ trên để
nêu rõ công đức niệm Phật, và khuyến tấn hành giả
gắng sức tu trì.
Hán 85:
Nhứt cú Di Đà
Năng không khổ báo
Thế giới, căn thân
Tức thô nhi diệu.
Việt 85:
Một câu A Di Đà
Hay tiêu quả báo khổ
Chuyển thế giới, căn thân
Tức thô thành tế diệu.
Lược giải:
Các sự khổ đều do sức nghiệp làm chủ động, niệm Phật
đã có công năng diệt nghiệp, tất nỗi khổ cũng lần
lần tiêu trừ. Nhưng "một câu Di Đà làm cho khổ báo
trở thành không", hàm ý nói về phần tánh nhiều hơn
phần tướng. Bởi tất cả sự khổ từ lớn đến nhỏ, đều do
tâm ta bị căn thân bên trong và thế giới bên ngoài
chi phối. Nếu hành nhơn ngộ lý các pháp đều như
huyễn, biết an trụ nơi tự tánh Di Đà mà niệm Phật,
thì tâm trở nên vắng lặng, thoát khỏi sự chi phối
của thân và cảnh. Như thế dù thời tiết nóng lạnh,
cảnh ngộ an nguy, sự đói khát cùng mỏi mệt yếu đau
cũng không làm cho đương nhơn cảm thấy khổ? Tại sao?
Vì hành nhơn đã an trụ nơi định tâm, thoát ly cả hai
sự chi phối trong và ngoài ấy.
Khi xưa, một thiền sư tu ở sơn tự bị chứng thương
hàn, do thiếu thuốc thang điều dưỡng, nên bịnh càng
trở nặng sắp lâm nguy. Một vài đệ tử thấy thế, xin
phép đi xuống núi để rước y sư và tìm thuốc đem lên.
Thiền sư ngăn lại bảo: "Căn bịnh đã nhập lý, chỉ nên
dùng đạo pháp để điều trị, chớ không thể dùng thuốc
cứu chữa kịp thời được!". Thế rồi ông xả hết muôn
duyên, ngồi trụ tâm vào tịnh cảnh không ăn uống luôn
trong bảy ngày. Đến khi xuất định, bịnh chứng tiêu
tan, sức khoẻ lần lần bình phục. Lại một vị Tăng tu
Tịnh độ, lúc sắp vãng sanh, túc nghiệp phát hiện làm
cho cả thân mình đều phù thủng, còn thêm nhiều chứng
bịnh khác. ông nói với hàng đệ tử: "Nếu thầy không
nhờ mấy mươi năm công phu niệm Phật, tất không thể
chịu nổi sự mỏi mệt nhức đau". Cho nên một bậc tôn
túc đã nói câu: "Lão tăng có pháp an nhàn. dù cho
tám khổ cháy lan ngại gì!". (Lão tăng tự hữu an nhàn
pháp. Bát khổ giao tiên tổng bất phòng).
Về ý nghĩa hai câu sau của bài kệ, có thể dẫn giải
tóm tắt: thế giới, căn thân đều như huyễn. Nếu tâm
chúng sanh còn đầy nghiệp chướng phiền não, dù sống
nơi cảnh mầu đẹp ở thiên đường, cũng cảm thấy buồn
khổ. Với bậc hành giả đã đắc định, thì riêng có một
thiên đường, tuy ở cảnh ác trược, cũng thấy mầu
nhiệm an vui. Kinh Duy Ma bảo: "Tùy nơi tâm thanh
tịnh, tức cõi Phật thanh tịnh". Kinh Viên Giác nói:
"Địa ngục, thiên cung đều là Tịnh độ". Ý nghĩa của
hai câu kinh ấy, đều chỉ cho cảnh giới trên.
Hán 86:
Nhứt cú Di Đà
Viên chuyển tam chướng
Tức Hoặc, Nghiệp, Khổ
Thành Bí mật tạng.
Việt 86:
Một câu A Di Đà
Chuyển tròn cả ba chướng
Tức nơi Hoặc, Nghiệp, Khổ
Trở thành Bí mật tạng.
Lược giải:
Ba chướng chỉ cho: Hoặc, Nghiệp, Khổ. "Hoặc" thuộc
về Phiền não chướng. "Nghiệp" thuộc về Nghiệp
chướng. "Khổ" thuộc về Báo chướng. Ba chướng này như
chùm trái Ác xoa, có liên quan tương thông lẫn nhau,
một tức là ba, ba tức là một.
Đại ý của bài kệ sau này cũng tương tự như bài kệ
trước, nếu suy ra sẽ tự hiểu. Như các lượn sóng ở
đại dương là biến tướng của nước, cho nên toàn thể
sóng là nước. Cũng như thế, vọng giác từ nơi chánh
giác mà thiên lưu, cho nên đi sâu vào, toàn thể vô
minh vọng giác tức là chánh giác viên minh. Hành giả
nếu đi sâu vào Niệm Phật tam muội, sẽ ngộ được Hoặc,
Nghiệp, Khổ chính là Bí mật tạng vậy.
Hán 87:
Nhứt cú Di Đà
Giải nạn giải oan
Từ quang cộng ngưỡng
Pháp hỷ quân triêm.
Việt 87:
Một câu A Di Đà
Giải tai nạn trái oan
Quy ngưỡng ánh từ quang
Thắm nhuầm niềm pháp hỷ.
Lược giải:
Bài kệ trên đều là những lời nói trắng rõ ràng,
không có ẩn ý sâu kín nào khác. Công đức niệm Phật
có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tai nạn, tà ma, giải
những oan trái đời này cùng đời trước. Công đức ấy
cũng khiến cho sanh phước đức trí huệ, độ thoát
chính mình cho đến kẻ oan người thân. Các điểm vừa
nói đã thể hiện rất nhiều đối với những hành giả
niệm Phật từ xưa đến nay. Trong Mấy Điệu Sen Thanh
đã có nhiều sự tích trần thuật, độc giả duyệt kỹ sẽ
tự thấy, khỏi phiền dẫn chứng thêm nhiều.
Hành giả tu môn niệm Phật đều thọ hưởng được sự lợi
ích an vui của pháp này, nên gọi là Pháp hỷ. Bởi
thế, chẳng những riêng nơi cõi Ta bà, mà ở khắp hằng
hà sa quốc độ trong mười phương, vô số chúng sanh
cũng tu môn Niệm Phật và đều cùng hướng về ánh sáng
từ bi của đức Giáo chủ Tây phương cực lạc thế giới.
Hán 88:
Nhứt cú Di Đà
Báo vị báo ân
Liệt Triền miên võng
Nhập Giải thoát môn.
Việt 88:
Một câu A Di Đà
Đáp ân nặng chưa tròn
Cắt đứt Triền miên võng
Chứng vào Giải thoát môn.
Lược giải:
Người học đạo có bốn trọng ân là: 1. Ân chư Phật,
chư Bồ tát. 2. Ân thầy lành bạn tốt và các thiện tri
thức. 3. Ân cha mẹ cùng thân quyến phù trợ. 4. Ân
đàn na tín cúng và tất cả chúng sanh. Chúng ta nếu
có đền trả bốn ân thì cũng chỉ một phần nào thôi,
chớ thật sự chưa làm tròn, đại khái có thể gọi là
chưa báo đáp. Muốn mau tròn bổn phận đền trả tứ ân,
phải tu môn Niệm Phật để sớm thành đạo quả, tế độ
khắp kẻ oan thân cùng tất cả loài hàm thức.
Lại nữa, chúng ta sống trong lưới nghiệp dây dưa, nợ
này chưa xong đã vay mối khác, nhứt là các nghiệp
oan cừu, ân ái. Lưới nghiệp ấy vây quần kéo dài mãi
không dứt, nên gọi là Triền miên võng. Chư Bồ tát đã
do tu pháp Niệm Phật, mà cắt được lưới Triền miên
võng của nghiệp lực, chứng vào Vô lượng giải thoát
môn. chẳng hạn như: Không Huệ Tam Muội Giải thoát
Môn, thần Thông Du Hý Tam Muội Giải Thoát Môn, Giải
Nhứt Thiết Chúng Sanh Ngữ Ngôn Tam Muội Giải Thoát
Môn, Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội Giải Thoát Môn v.v...
Tổ Triệt Ngộ khuyên chúng ta nên đi theo con đường
ấy.
Hán 89:
Nhứt cú Di Đà
Không chư ác thú
Vạn đức hồng danh
Na dung tư nghị
Việt 89:
Một câu A Di Đà
Hay trống không ác đạo
Ức muôn đức hồng danh
Khó nghĩ bàn kỳ ảo!
Lược giải:
Trong Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục có ghi một sự
tích công đức Niệm Phật. Xin mượn nêu ra, để giải
thích bài kệ trên với tánh cách chứng thật.
Một vị Bà la môn ở nước a Du Sa xứ Thiên Trúc có cô
vợ rất đẹp. Vì tình si mê ái nhiễm sâu nặng, ông ta
gần gũi mãi cũng không thấy chán đủ. Người vợ lại là
một tín đồ Phật giáo; muốn nhân cơ hội đó hóa độ
chồng, mới đặt điều kiện: "Nếu khi sắp gần gũi, phải
gõ chiếc trống đồng, cả hai cùng niệm hồng danh A Di
Đà một lúc lâu cô mới chấp thuận". Ông chồng bất đắc
dĩ phải tuân theo.
Ba năm sau, vị Bà la môn bị bạo bịnh tắt hơi, chỉ
nơi ngực mãi còn nóng ấm, nên người nhà chưa dám
thiêu hóa. Trải qua năm ngày, ông chợt sống lại, gọi
vợ khóc bảo rằng: "Tôi chết do nghiệp nặng bị đọa
vào địa ngục Phất Thang. Khi quỉ tốt dùng đinh ba
vít tội nhơn vào vạc dầu sôi, chỉa sắt đụng thành
vạc đánh keng một tiếng. Lúc ấy tôi đang kinh hồn
lạc phách, chợt nhớ tới việc bà bảo gõ trống đồng
niệm Phật, nên bất giác lớn tiếng niệm Nam mô a Di
Đà Phật. Lạ thay, ngay lúc ấy vạc dầu sôi liền biến
thành ao sen nước trong mát, các tội nhơn đều hiện
tướng tốt ngồi trên đài sen, rồi cùng bay về Tịnh
độ. Diêm Vương nghe báo sanh lòng hoan hỷ, thả cho
tôi trở về!".
Truyện ký trên, chứng minh công năng niệm Phật có
thể làm tiêu tan trống không cảnh Địa ngục. Lẽ dĩ
nhiên, đối với các ác đạo khác như Ngạ quỉ, Súc
sanh, Tu la, cũng lại như thế. Câu Nam
Mô A Di Đà Phật là kết tinh phước huệ của vô lượng
công đức lành, khi Phật còn tu Bồ tát đạo, nên mới
gọi Vạn Đức Hồng Danh. Bởi thế, hồng danh này có
công năng rộng lớn kỳ diệu chẳng thể nghĩ bàn! Trong
kinh gọi đó là Vô tác thần lực, nghĩa là sức thần
thông đương nhiên, không phải do Phật tác ý khởi
niệm xui khiến nên. Đại khai, bài kệ trên tán dương
và nêu rõ công đức của câu hồng danh, khiến cho hành
giả tăng thêm phần tín, hạnh, nguyện.
Hán 90:
Nhứt cú Di Đà
Cơ đậu nhơn thiên
Sâm si tam bối
Yên ánh cửu liên!
Việt 90:
Một câu A Di Đà
Hợp cơ cả trời, người
Ba căn tánh cao thấp
Chín phẩm sen rạng ngời!
Lược giải:
"Tam bối" trong bài kệ là chỉ cho ba hạng người:
Thượng căn, Trung căn, Hạ căn. "Cửu liên" tức chín
phẩm sen, cũng phân ra ba cấp thượng trung hạ, mỗi
cấp lại có ba bậc thượng trung hạ nữa, nên thành ra
chín. Đó là các phẩm: Thượng thượng, Thượng trung,
Thượng hạ. Trung thượng, Trung trung, Trung hạ. Hạ
thượng, Hạ trung, Hạ hạ.
Ấn Quang đại sư nói: "Phật pháp tùy cơ, có khó dễ
thấp cao. Đối với pháp cao khó, thì bậc hạ căn không
kham tu. Với pháp thấp dễ, bậc thượng căn lại chẳng
cần tu. Riêng môn Tịnh độ có đặc điểm rất mực nhiệm
mầu, vừa cao siêu vừa thuận dễ, thích ứng cả ba căn,
hạng nào cũng thấy cần thiết và có thể tu tập được.
Nói về phần cao siêu thì nơi hội Hoa Nghiêm, mười
phương hải hội Bồ tát trong năm mươi mốt vị: Thập
tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hướng, Thập địa và
Đẳng giác, đều theo lời khuyên của Phổ hiền đại sĩ
tu tập môn này. Bàn đến chỗ thuận dễ, thì những
chúng sanh nhiều tội chướng, cho đến tạo nghiệp Ngũ
nghịch, Thập ác, cũng có thể niệm Phật sanh về cực
lạc. Cho nên kẻ chê pháp tịnh độ là thấp kém, tức
chưa hiểu chi về môn này, và cũng phạm lỗi khinh
báng các bậc Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh,
Long Thọ đó!"
Điều dẫn giải trên cho ta thấy, pháp môn Tịnh độ
thích hợp với tất cả căn tánh thượng trung hạ của
hàng nhơn thiên. Ba căn tánh ấy tuy có cao thấp so
le, song nếu tu môn niệm Phật, tất sẽ tùy theo công
hạnh, đều được nêu danh nơi chín phẩm sen sáng đẹp
rạng ngời ở cõi Tây phương Cực lạc.
Hán 91:
Nhứt cú Di Đà
Hóa kiêm tiểu Thánh
Hồi hiệp liệt tâm
Hướng Vô thượng thừa.
Việt 91:
Một câu A Di Đà
Các quả vị tiểu thánh
Chuyển tâm hẹp gồm đưa
Hướng về Vô thượng thừa.
Lược giải:
Tiểu thánh tức là các quả thanh văn, Duyên giác gồm:
Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích Chi
Phật. Hàng tiểu thừa lấy cảnh Sanh không Niết bàn
làm quả vị cứu cánh, chỉ cầu mong cho mau thoát ly
nỗi khổ sống chết luân hồi trong ba cõi. Các vị này
không phát thệ nguyện rộng lớn, trên cầu Phật quả vô
thượng dưới độ tất cả chúng sanh, như những bậc Bồ
tát, cho nên đức Thế Tôn chê là tâm nhỏ hẹp.
Môn Niệm Phật là pháp Đại thừa, nên có thể chuyển
tâm nhỏ hẹp của hàng Tiểu thừa, đưa các quả vị Thanh
văn, Duyên giác hướng về Vô thượng của Phật đạo.
Hán 92:
Nhứt cú Di Đà
Siêu nhiên vô ngại
Văn Thù, Phổ Hiền
Đại nhơn cảnh giới.
Việt 92:
Một câu A Di Đà
Thật vô ngại siêu nhiên
Như Văn Thù, Phổ Hiền
Là cảnh bậc đại nhơn.
Lược giải:
Môn niệm Phật đi sâu vào bốn pháp giới, cùng tột là
Sự sự vô ngại pháp giới. Cổ đức cũng nói: "Niệm Phật
có thể khiến cho hành nhơn vào cảnh giới Vô ngại
giải thoát".
Trên đây, Triệt Ngộ đại sư muốn nói: "Niệm Phật
không phải pháp thấp kém tầm thường mà chính là cảnh
giới của các bậc Bồ tát đại nhơn như Văn Thù, Phổ
Hiền vậy".
Hán 93:
Nhứt cú Di Đà
Vi diệu nan tư
Duy Phật dữ Phật
Nãi năng tri chỉ.
Việt 93:
Một câu A Di Đà
Mầu nhiệm khó nghĩ bàn
Chỉ có Phật với Phật
Mới rõ biết tận cùng.
Lược giải:
Trên đã nói Niệm Phật tam muội là cảnh giới của bậc
đại Bồ tát, Nơi đây Tổ Triệt Ngộ lại nhắn rõ thêm:
Niệm Phật tam muội tuy chư đại Bồ tát cũng thâm
nhập, nhưng thật ra chưa được cùng tận. Duy có Phật
với Phật mới rõ biết được hết, vì đó là Phật tam
muội, là cảnh giới của chư phật.
Điều này càng khẳng định rõ ràng hơn tánh cách cao
thâm của pháp môn Tịnh độ.
Hán 94:
Nhứt cú Di Đà
Liệt Tổ phụng hành
Mã Minh tạo luận
Long Thọ vãng sanh.
Việt 94:
Một câu A Di Đà
Chư Tổ đều phụng hành
Tổ Mã minh viết luận
Tổ Long Thọ vãng sanh.
Lược giải:
Môn Niệm Phật vì là pháp môn Tối thượng thừa cao
siêu, nên chư Tổ đều phụng hành, bằng cách hoặc viết
luận khen ngợi khuyên tu, hoặc niệm Phật cầu về Cực
lạc. Chẳng hạn như hai vị Bồ tát Mã Minh, Thế Thân
đã viết Đại Thừa Khởi Tín Luận và Vãng Sanh Luận để
xưng tán, chỉ đường Tịnh độ. Và Long Thọ Bồ tát
chứng Sơ Hoan Hỷ địa đã niệm Phật vãng sanh về An
dưỡng. Các vị Bồ tát trên đều là chư tổ bên thiền
tông.
Nơi đây Triệt Ngộ đại sư lại nêu ra một chứng liệu
để minh xác điểm cao siêu của pháp môn Niệm Phật.
Điều này, Đại sư muốn cảnh tỉnh phá tan sự nhận thức
sai lầm của một số người từ trước đến nay nghĩ rằng:
"Môn Tịnh độ là pháp thấp kém, chỉ dành cho hạng ông
già bà cả quê dốt tu hành".
Hán 95:
Nhứt cú Di Đà
Nhân duyên thời tiết
Dị hương thường văn
Liên xã sang kiết.
Việt 95:
Một câu A Di Đà
Hợp thời tiết nhân duyên
Hương lạ hằng thanh thoảng
Liên xã lập nhiều miền.
Lược giải:
Pháp môn Tịnh độ sở sĩ càng lúc càng được thạnh
hành, bởi có nhiều lý do:
Về phần nhân duyên: Điều thứ nhứt đức A Di Đà có
pháp duyên rất lớn với chúng sanh ở Ta bà, bằng
chứng là các chùa đều có thời khóa Tịnh độ, và hàng
Phật tử khi gặp nhau thường chào với câu "A Di Đà
Phật". Điều thứ hai, đức Di Đà Thế Tôn có bốn mươi
tám bi nguyện độ sanh rộng lớn, rất thích ứng với
cảnh ngộ cần cứu cấp nơi cõi ngũ trược này.
Về phần thời tiết, như lời Phật đã huyền ký. Bắt đầu
từ thời mạt pháp trở về sau, muốn chắc chắn được
giải thoát, chỉ có pháp môn niệm Phật.
Bởi những nguyên nhân ấy, nên chư thiện tri thức xưa
nay đã sáng lập ra Liên xã khắp nơi để hướng dẫn
người tu hành. Và các hành giả niệm Phật cũng cảm
được nhiều điềm thoại ứng như: thấy sen lành, nghe
hương lạ.
Hán 96:
Nhứt cú Di Đà
Lợi đại long, tượng
Vĩnh Minh thiền bá
Trí Giả giáo tông.
Việt 96:
Một câu A Di Đà
Lợi bậc đại tượng, long
Như Vĩnh Minh thiền bá
Cùng trí Giả giáo tông.
Lược giải:
Long, tượng là rồng và voi. Hai loại này là hạng cao
quí trong loài thú. Đại long, tượng tức rồng cùng
voi lớn, lại còn cao quí hơn. Người xưa đã đem biểu
tướng rồng, voi mà thí dụ cho những bậc cao siêu
kiệt xuất trong hàng Tăng Ni. Vì thế mới có danh từ
Pháp môn long tượng, nghĩa là hạng rồng voi trong
cửa chánh pháp.
Môn niệm Phật chẳng những nhiếp hóa lớp trung, hạ
căn, mà còn làm lợi ích luôn cho cả bậc thượng
thượng căn nữa. Như Vĩnh Minh đại sư, một bậc thiền
bá trong tông môn, ngộ suốt huyền cơ, viết một trăm
quyển Tông Cảnh Lục để xương minh thiền đạo, nhưng
cũng niệm mười muôn câu Phật hiệu mỗi ngày. Và Trí
Giả đại sư, bậc giáo tông sáng lập ra Thiên Thai
giáo, bình thời vẫn niệm Phật, khi lâm chung khen
ngợi kinh Pháp Hoa cùng Vô Lượng thọ, bảo với đại
chúng rằng Tây phương Tam Thánh với các đồng bạn của
ngài đã sanh về Tây phương, nay hiện thân đến tiếp
dẫn.
Sự kiện này, người học đạo nên để tâm suy nghĩ.
Hán 97:
Nhứt cú Di Đà
Cảm ứng phi khinh
Thiếu Khang hóa Phật
Thiện Đạo quang minh.
Việt 97:
Một câu A Di Đà
Cảm ứng chớ xem khinh
Thiếu Khang hiện hóa Phật
Thiện Đạo phóng quang minh.
Lược giải:
Thiếu Khang đại sư niệm một câu hồng danh, trong
miệng bay ra một vị hóa Phật. Thiện Đạo Hòa thượng
niệm mỗi câu Phật hiệu, nơi miệng phóng ra một đạo
quang minh. Hai điều trên chứng minh cho công đức
niệm câu hồng danh A Di Đà thật lớn lao, và sự cảm
ứng cưa Phật hiệu như thế đã đến mức cùng diệu. Và
điều trên đây cũng nhắc cho người học đạo nên thức
ngộ, đừng xem môn Niệm Phật là dung thường.
Trong mấy bài kệ liên tiếp, Triệt Ngộ đại sư đã dẫn
chứng trên từ chư Phật Thế Tô, nói rộng ra là các
đức Như Lai ở sáu phương như kinh A Di Đà đã thuyết
minh, đều khen ngợi khuyên tu Tịnh độ, và chỉ riêng
các ngài mới biết cùng tận pháp này. Kế đến chư đại
Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, các bậc đại Tổ sư như
Mã Minh, Long Thọ các bậc đại Tổ sư như Mã Minh,
Long Thọ những vị đại long tượng về bên Tông như
ngài Vĩnh Minh, về bên Giáo như ngài Trí Giả và sau
cùng chính chư Tổ bên Tịnh độ như Thiện Đạo, Thiếu
Khang. Những vị trên tuy cũng suốt thông các pháp
môn khác, song vẫn quy hướng về Tịnh độ. Tại sao Tổ
Triệt Ngộ lại nhiều phen dẫn chứng như thế? Trong
đây có hai nguyên nhân rất quan trọng.
Điều thứ nhứt: Các vị học thức xưa nay "bút giả dùng
danh từ học thức chớ không nói trí thức, vì học thức
là một việc, trí thức lại là việc khác", khi mới tìm
đạo, đều ưa thích những lý luận cao siêu huyền diệu.
Sự ưa thích đó không phải là điều lỗi. Nhưng phần
nhiều họ lầm lạc chấp theo thiên không, chưa dung
hội được giữa không và có, bài bác nhân quả sự
tướng, nên hầu như thành một căn bịnh trong khi học
đạo. Đối với môn Tịnh độ, họ chưa thấu đáo được sự
cao diệu của pháp này, nên khi thấy những kẻ tối
dốt, hạng bình dân cũng tu hành được, lại xem thường
cho là pháp thấp kém. Chư đại thiện tri thức thấy sự
lầm lạc tà kiến đó, mới thẳng thắn bác phá chỉ bày.
Vì thế Tổ Triệt Ngộ đã dẫn những chứng minh trên để
cảnh giác, ngụ ý bảo: "Nếu Tịnh độ là thấp kém, tại
sao từ chư Phật, Bố tát, cho đến chư Tổ, các bậc đại
long tượng bên Tông lẫn bên Giáo đều ngợi khen
khuyến khích, hoặc thân thiết phụng hành?"
Điều thứ hai: Các vị thông minh kiến thức trên, khi
luận đạo thường nói những lý luận siêu huyền, để tỏ
ra mình là những người hiểu rộng tu cao. Nhưng họ
lại không tự xét rằng: Về phần thật hành, mình có
làm được môt phần nào đối với những lời nói đó
chăng? Nhứt là buổi đi sâu vào thời mạt pháp này,
người tu căn cơ non kém, nghiệp chướng nặng nề, dùng
những hình thức dễ làm như niệm Phật tụng kinh, mà
kẻ hành đạo tại gia lẫn xuất gia còn vọng niệm rối
ren, nay chầy mai trễ, huống chi là sự nhiếp tâm nơi
định trong tất cả thời, tất cả hành động nói năng?
Bút giả từng nghe một vài vị tu học về Thiền, khi
luận đến sự hành trì, thường dẫn lới của những chư
Tổ hoặc các bậc tôn túc thời xưa mà trạng huống cho
lối tu của mình và còn ra vẻ đắc ý. Chẳng hạn như
câu: "Viên bảo tử quy thanh chướng lý. Điểu hàm hoa
lạc bích nham thiền!". (Vượn ôm con chuyền về rặng
núi xanh. Chim ngậm hoa sa trước gộp đá biếc). Hoặc
như: "Nhập lâm bất động thảo. Nhập thủy bất đạp ba".
(Vào rừng mà không làm động đến ngọn cỏ. Xuống nước
nhưng chẳng đạp sóng nước). Các vị đó không xét lại
hai câu trước là tâm cảnh của ngài Giáp sơn, chớ
chẳng phải cảnh giới của mình. Thỉnh thoảng có việc
chi xúc động, thì các vị liền tỏ vẻ phiền hà tức
giận. Thế là cỏ cây đã động, chân đã đạp sóng nước
rồi đấy! Trước tệ trạng lạc lầm lạc rộng đó, chư
thiện tri thức vì xót thương, vì muốn cứu vãn đạo
pháp, nên mới thẳng lời phê trích, cho hành động ấy
là cuồng thiền. Và các ngài còn nói đến hạng cuồng
Mật nữa, mà nếu có dịp, sau này bút giả sẽ dẫn giải.
Để kết luận, cần nhấn rõ thêm là những điều nói
trên, tuyệt không có ý bài bác Thiền, Mật. Thiền và
Mật là hai pháp môn cao siêu, và thật ra Thiền, Mật,
Tịnh cả ba đều có đặc điểm riêng, cần tu học để hỗ
trợ cho nhau. Chẳng hạn như khi trì chú theo của
chân ngôn, Phật hiệu huân sâu vào tạng thức, kích
động cho phiền não nổi dậy, phương pháp làm lắng
động hữu hiệu nhứt, không chi hơn Thiền. Trong lúc
tham thiền hoặc niệm Phật, ma chướng trong ngoài
khuấy rối, cách hàng phục kiến hiệu mau lẹ nhứt,
không chi hơn Mật. Và muốn giải quyết việc lớn là
sống chết luân hồi một cách thẳng tắt chắc chắn
nhứt, lại không chi hơn Tịnh. Luận cho cùng mỗi môn
tự hàm đủ công năng của ba, song đó là ứng dụng của
bậc trình độ cao siêu. Còn với bậc sơ cơ non kém,
thật ra vẫn có sự sai biệt. Ví như bậc Tổ sư về võ,
dù sử dụng côn, chùy, kiếm, sự lợi hại vẫn đồng như
nhau. Nhưng với hạng võ nghệ thông thường, thì tác
dụng của ba môn binh khí kia lại có sai biệt. Nếu
chẳng thế, trong võ lâm cần chi bày ra ba môn ấy cho
thêm phiền!
Cho nên trong thời mạt pháp, theo thiển ý, nên lấy
Tịnh độ làm chánh yếu, Thiền, Mật làm phụ trợ. Hoặc
nếu có tu Thiền hay Mật cũng nên niệm Phật nhiều ít
hồi hướng về cõi Cực lạc ở Tây phương.
Hán 98:
Nhứt cú Di Đà
Hữu giáo vô loại
Hùng Tuấn nhập minh
Duy Cung diệt tội.
Việt 98:
Một câu A Di Đà
Hóa độ kẻ vô loại
Hùng Tuấn vào minh ty
Duy Cung trừ chướng tội.
Lược giải:
Môn niệm Phật chẳng những làm lợi ích cho các bậc
Thượng thượng căn như trên, lại còn hóa độ đến cả
hàng vô loại như Hùng Tuấn, Duy Cung, mà trong Mấy
Điệu Sen Thanh đã trích dẫn.
Bài kệ trên đại ý chỉ rõ: Pháp Tịnh độ gồm thâu lợi
độn, giúp ích khắp ba căn.
Hán 99:
Nhứt cú Di Đà
Thị Vô thượng thiền
Nhứt sanh sự biện
Khoáng kiếp công viên.
Việt 99:
Một câu A Di Đà
Là môn thiền Vô thượng
Việc lớn một đời xong
Công tu nhiều kiếp trọn.
Lược giải:
Triệt Ngộ đại sư tuy được đời sau tôn làm vị tổ
hoằng dương Tịnh độ, nhưng thuở đương thời ngài
chính thật là một thiền bá. Bởi duyên Đại sư đã tham
thiền chứng ngộ và viết ra quyển Triệt Ngộ Ngữ Lục
để xương minh thiền đạo. Một bậc đại triệt đại ngộ
về thiền, mà nói iệm Phật là môn thiền Vô thượng, đó
là điều chứng minh xác đáng rồi, không cần phải bàn
luận chi thêm nữa.
Việc lớn một đời của người tu Phật, là phải làm thế
nào để giải quyết sự sống chết luân hồi ngay trong
kiếp hiện tại. Bởi nếu còn luân hồi, tất đời sau dễ
bị mê lạc rồi sẽ sa đọa nữa. Khi đã thoát khỏi sự
sống chết luân hồi, lại còn phải hiện thân tu Bồ tát
hạnh trong vô số kiếp, công đức viên mãn, mới thành
đạo Vô thượng Chánh giác. Pháp môn niệm Phật có thể
giải thoát luân hồi ngay trong hiện đời, và khi được
sanh về Tây phương, thì sự tiến tu để thành Phật
không còn bị thối chuyển, kể như đã nắm chắc trong
tầm tay rồi.
Hán 100:
Nhứt cú Di Đà
Lý phi dị hội
Bách kệ nga thành
Tam tôn gia bị.
Việt 100:
Một câu A Di Đà
Lý mầu chưa dễ hiểu
Thoáng chốc trăm kệ xong
Tam tôn thầm gia bị.
Lược giải:
Từ lúc sơ khởi đến đây, Triệt Ngộ đại sư đã viết ra
một trăm bài kệ để tuyên dương Tịnh độ. Song Đại sư
vẫn tự thấy còn chưa nói ra hết điểm huyền diệu của
pháp môn này. Vì như chư Cổ đức đã nói: "Lý tịnh độ
là bí mật tạng. Sự Tịnh độ là đại nhân duyên" thì
người học Phật dễ gì thấu đáo?
Tuy nhiên, Đại sư cũng nguyện cầu Tam Bảo gia bị cho
lời mình trên hợp ý Phật, dưới lợi quần sanh, khiến
người đọc được thấu hiểu phần nào để tiến tu trên
đường giải thoát. Và ngài cũng cảm ân Tam Bảo thầm
gia bị khiến cho tâm đại linh thông, nên trong
thoáng chốt đã viết xong một trăm bài kệ này.