Những Dòng Sữa Mẹ
Tập 2
HT Thích Huyền Vi
---o0o---
Phần I
Trong buổi khai thị hôm nay, Thầy sẽ giảng về bốn chữ : Linh-Sơn Hội Thượng. Đề tài này đã được giảng nhiều lần, nhưng trong đại chúng ở đây, có người đã nghe và cũng có nhiều người chưa nghe. Vị nào đã nghe, có thêm tri kiến để thâm nhập diệu lý của bốn chữ Linh-Sơn Hội Thượng; vị nào chưa nghe, hãy nên chăm chú để nhận ra cái ý nghĩa vi diệu của hai chữ Linh-Sơn, không phải chỉ trên văn tự mà phải hiểu hai chữ Linh-Sơn là để chỉ cái gì và Linh-Sơn Hội Thượng có ý nghĩa gì khi quý vị, hàng ngày, đọc tụng ‘Nam mô Linh-Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát’.
Linh-Sơn Hội Thượng, theo văn tự là nói đến những pháp hội mà Đức Phật thuyết pháp trên đỉnh núi LinhThứu, bên Ấn Độ. Linh-Sơn là tên một ngọn núi, mà tiếng Phạn là Grdhrakuta. Tiếng Trung Hoa dịch là Linh Thứu Sơn, gọi tắt là Linh Sơn.
Đây là nơi Đức Phật lưu trú rất lâu và cũng nơi đây nhiều bộ Kinh quan trọng đã được thuyết giảng như:Kinh Diệu Pháp Liên Hoa suốt 8 năm, Kinh Đại Quang Minh, Kinh Đại Tập Phương Đẳng v.v... và cũng tại đây, vô lượng vô biên chúng sanh trong các hàng Trời, Người, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác đã được hóa độ sang bờ giải thoát.
Một điều quan trọng nữa là nguồn Thiền và nguồn Tịnh Độ, cũng được trao truyền tại Linh-Sơn Hội Thượng. Vì thế nên khi thành lập Giáo Hội Linh-Sơn, Thầy đã chủ trương Thiền Tịnh Song Tu. Đó là căn cứ vào nguồn Thiền và nguồn Tịnh Độ đã được chính Đức Phật trao truyền và giáo huấn tại pháp hội Linh-Sơn. Vì sự quan trọng của pháp hội với lịch sử truyền thừa chánh pháp nhãn tạng của thiền tông và đạo lý vi diệu của pháp môn niệm Phật trong Tịnh Độ tông mà câu "Nam Mô Linh-Sơn Hội Thượng Phật" đã trở thành câu Kinh nhật tụng.
Nguyên văn tiếng Phạn của câu Kinh là:
Namo Gridhrakutagiriuttara Bouddha ça Mahàbodhisattva ca.
Hôm nay, Thầy sẽ nói về những điểm chính như cảnh trí, lịch sử, truyền thừa, giáo lý, văn hóa, nguồn thiền và nguồn tịnh của Linh Sơn.
1. Cảnh Trí Linh-Sơn
Hiện nay, ngọn núi Linh Thứu vẫn còn tồn tại với những di tích lịch sử được kiến tạo từ trên 25 thế kỷ. Những kiến trúc như đền tháp, lâu đài, phòng ốc đã bị băng hoại qua thời gian, nhưng những chân tường, nền móng của kiến trúc vẫn còn và được tu bổ sơ sài để bảo tồn di tích cổ xưa.
Linh-Sơn thuộc tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Trước đây, tiểu bang này có tên là Bihar Vihara. Vihara, tiếng Ấn là chùa tháp, vì tiểu bang này có rất nhiều chùa tháp. Quý vị nào đã từng đi chiêm bái Phật quốc, đến tiểu bang này đều thấy còn rất nhiều dấu tích của chùa tháp và Phật tích. Tiểu Bang Bihar thuộc vùng Trung Ấn.
Trong một số Kinh Điển Đại Thừa, các Tổ Trung Hoa còn dịch tên núi là Kê Túc Sơn (núi chân gà), có chỗ còn gọi là Kỳ Xà Quật Sơn theo âm chữ Phạn là Grdhrakuta. Nhưng tên phổ thông hơn cả là Linh Thứu Sơn, vì tại núi này, ngày xưa, là nơi cư ngụ của giống chim Thứu (Pisuna Mara) Hiện nay, trên đỉnh Linh Sơn vẫn còn tồn tại những chân tường của căn phòng mà Đức Phật thường cư ngụ. Bên cạnh là căn phòng nhỏ hơn của Ngài A Nan, thị giả của Đức Phật.
Từ chân núi lên đến đỉnh, có một con đường mà ngày nay được mang tên là Bimbisara Road (con đường mang tên Vua Bimbisara -Tần Bà Sa La) vì ngày xưa, Vua Tần Bà Sa La thường dùng con đường này để lên đỉnh núi học đạo với đức Phật. Hai bên đường, thỉnh thoảng còn di tích của những trú phòng để Vua tạm nghỉ chân. Nói về cảnh trí Linh-Sơn, trong Kinh có một bài kệ như sau :
Linh-Sơn Hội Thượng niêm hoa nhựt,
Ca Diếp thâm truyền hướng thượng ky (cơ),
Tùng thử huệ đăng quang hiển hích,
Phổ thiên đại địa mãn trường huy.
Bài kệ này nói về một sự tích : Đó là có một ngày kia, trên pháp hội Linh-Sơn, Đức Phật đang thuyết pháp; bỗng dưng Ngài ngừng nói và cầm một bông sen giơ lên. Trong pháp hội chỉ có Ngài Ma Ha Ca Diếp, trịnh trọng đứng lên, cũng không nói một lời mà chỉ nhìn thẳng vào Đức Phật và mỉm một nụ cười (phá nhan vi tiếu). Nhờ hành động này mà được Đức Phật trao truyền Chánh Pháp Nhãn Tạng cho Ngài.
Từ đó, yến sáng trí tuệ của chánh pháp được đời đời truyền thừa và chiếu soi khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tất cả mọi thế giới, không riêng quả địa cầu này mà tất cả các thế giới khác (ngoài trái đất hay thế giới Ta Bà (Saha) này đều nhận được đạo lý vi diệu của chánh pháp. Nhớ ân đức của Phật đã để lại cái chân lý nhiệm mầu để cứu khổ cho chúng sanh, mà di tích của Pháp Hội còn tồn tại cho đến ngày nay.
Giáo Hội Nhựt Liên Tôn của Nhật Bản đã đề nghị xây dựng một cái tháp để cúng dường Phật tại đỉnh núi Linh Thứu, nhưng đề nghị này không được chính phủ Ấn Độ chấp thuận vì tính chất thiêng liêng của Linh-Sơn và để bảo tồn cổ tích. Tuy thế họ cũng đã chấp thuận cho Giáo Hội Nhựt Liên Tôn được dựng một cái tháp trên đỉnh núi bên cạnh, cũng nằm trong khu vực của thành Vương Xá xưa.
Trong thành Vương Xá xưa có năm ngọn núi thì Linh-Sơn là một, ngọn núi có tháp và ngôi chùa Nhật Bản là một ngọn núi bên cạnh. Ngôi tháp của Nhật Bản xây dựng có đường kính tại chân tháp là 100 thước và chiều cao tới đỉnh tháp là 150 thước.
Khi Thầy còn tu học tại Ấn Độ cũng được Giáo Hội Nhựt Liên Tôn mời dự lễ khánh thành ngôi tháp. Việc quản trị ngôi tháp nay đã được trao cho chính phủ Ấn Độ như một bảo vật cúng dường để nhớ Phật ân đức. Riêng ngọn Linh-Sơn và những di tích như tòa Kim Cang là nơi Đức Phật ngồi thuyết pháp cũng như những phòng xá của Ngài và của Ngài Thị Giả A Nan, mặc dù bây giờ chỉ còn có chân tường. Tuy vậy chính phủ Ấn Độ cũng từ chối đề nghị trùng tu, trang hoàng của các quốc gia như Miến Điện, Thái Lan v.v..., mà chỉ tu bổ sơ sài để cố bảo tồn tính chất nguyên thủy được kiến thiết từ hồi Đức Phật tại thế. Đến đây, Thầy muốn mở một dấu ngoặc để nói tới cái vi diệu trong sự giáo hóa chúng sanh, có liên quan tới cảnh trí Linh-Sơn.
Như các kinh điển đã nói:Tại đỉnh Linh-Sơn, Đức Phật thuyết pháp và hóa độ cho vô lượng vô biên chúng sanh trong các hàng Thánh, Bồ Tát, Thanh Văn,Trời, Người, các loài phi nhơn, Thiên Long Bát Bộ v.v... Quý vị đã từng đi chiêm bái Linh Thứu Sơn, đã chụp nhiều hình ảnh của núi Linh Thứu, chắc nhiều vị cũng đặt vấn đề : Tòa Kim Cang của Đức Phật ngồi thuyết pháp trên đỉnh Linh-Sơn chỉ là một cái bệ nhỏ, ngang dọc mỗi bề khoảng 2 thước tây, chung quanh tòa Kim Cang là sườn núi dốc, có chỗ dốc nhiều, có chỗ dốc thoai thoải. Theo kinh điển thì Đức Phật, mỗi lần thuyết pháp, có 1250 đệ tử đến nghe, chưa kể các Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di và các hàng chúng sanh khác.
Theo con mắt phàm phu, chúng ta thấy thì chung quanh tòa Kim Cang chỉ có thể chứa nổi một hai trăm người; làm thế nào mà có thể có vô lượng chúng sinh đến nghe Pháp ? Đây chính là chỗ vi diệu của Pháp Hội Linh-Sơn.
Trong Kinh thường nói, trước khi Phật nói những bài pháp quan trọng hay giảng giáo lý vi diệu, Ngài thường nhập định Tam Muội, rồi từ tướng bạch hào (sợi lông trắng trong suốt loăn xoăn trên trán) phóng ra vô lượng luồng hào quang chiếu soi tới các cõi Phật trong mười phương, rồi âm thanh sáu điệu vang lên, rung động cả Phổ Thiên Đại Địa. Mỗi lần những hiện tượng đó xuất hiện thì chư Đại Bồ Tát, các hàng thiên nhân trong cõi Trời Phạm Thiên, Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ v.v... đều vân tập về tham dự pháp hội. Tự nhiên, do thần lực của Phật, chung quanh ngọn Linh Thứu dường như rộng dài hơn. Mỗi mỗi đại chúng nhất là các đệ tử vẫn thường theo Phật, bất luận là ngồi gần hay xa, đều nghe rõ ràng những lời thuyết pháp và người nào cũng cảm thấy lời thuyết pháp của Phật dường như chỉ để nói riêng với mình. Vì vậy nên trong mỗi Kinh, đều có người đứng lên hỏi Phật và xin Phật giảng giải những mối nghi của họ hay của chúng sanh.
Thí dụ như trong Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận, Đức Phật giảng những mối nghi của Ngài Văn Thù Sư Lợi. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật giảng cho Ngài Xá Lợi Phất và trong Kinh Kim Cang thì Ngài giảng cho Tôn Giả Tu Bồ Đề, còn Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì các Bồ Tát, Thanh Văn, đệ tử của Đức Phật thay nhau đứng lên bạch Phật những kiến giải và những mối nghi của mình v.v...
Mấy ngàn năm về trước, làm gì có những phương tiện tối tân về âm thanh như ngày nay. Vậy mà khi Đức Phật thuyết pháp thì tất cả chúng sanh Bồ Tát, Hiền Thánh, Trời, Thần và người phàm phu như các đệ tử của Ngài đều nghe rõ ràng. Đó là sự vi diệu của Tâm. Tâm Phật là tâm thanh tịnh, bao trùm khắp hư không, pháp giới, là tâm đại từ, đại bi với tứ hoằng thệ nguyện, nên âm thanh từ tâm ấy phát ra không bị chướng ngại ngăn che, không chỗ nào là không tới được. Người nghe pháp cũng nhất tâm nhất đức nghe bằng cái tâm thanh tịnh, liền nhận được làn sóng âm thanh vi diệu từ tâm Phật in ngay vào tâm mình. Đây chính là chỗ bất khả thuyết, bất khả luận của cái mà ngôn ngữ thế gian tạm gọi là tâm truyền tâm hay tâm tâm tương ấn.
Vì vậy, khi quý vị có cái phước duyên đi chiêm bái Phật tích, phải dùng cái tâm thanh tịnh để chiêm bái thì sẽ nhận được cái vi diệu bất khả tư nghì đó. Nhiều người đến chiêm bái đã cảm nhận được cái vi diệu của tâm Phật liên quan đến cảnh trí Linh-Sơn, mà nhận ra sự hiện hữu thường hằng của Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na nên không mấy người cầm được những giọt lệ cảm hoài. Như Tổ Tĩnh Am, khi thuyết giảng về "Phát Bồ Đề Tâm", đã nói lên hai mối cảm hoài : Ngài buồn vì mình phước mỏng nghiệp dày nên không được sanh ra trong thời Đức Phật còn tại thế để được nhìn thấy kim thân Phật; nhưng Ngài lại cảm thấy hoan hỉ vì đã cảm nhận được Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na Phật thường hằng và còn có phước duyên được nghe chánh pháp. Khi cảm nhận được cái lý đạo vi diệu đó thì sẽ nhận thấy Phật nhập niết bàn tại Rừng Câu Thi Na (Kushinagara), Phật đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) chỉ là sự thị hiện để cứu độ chúng sanh mà thôi.
Thâm nhập được lý đạo vi diệu đó thì sẽ nhận ra rằng chơn thân của chư Phật ba đời không hề sanh ra và không hề nhập diệt. Tâm của chư Phật vẫn hằng hữu trong thế gian hiện tượng này, ngay bây giờ và ở đây, ngay trong tâm của mỗi chúng sanh. Vì vậy, câu Kinh ‘Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát’ có nghĩa là tại Pháp Hội Linh-Sơn, tâm Phật, tâm Bồ Tát và tâm chúng sanh đã trở nên thanh tịnh, nhất như và nhập vào biển tâm của pháp giới. Cũng không có thời gian nào, thực sự, gọi là Chánh Pháp, Tượng Pháp và Mạt Pháp mà chỉ có phật pháp vĩnh hằng với Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na mà thôi.
Đó là cái ý của Thầy khi nói với quý vị về cảnh trí Linh-Sơn. Nếu quý vị vẫn chưa thâm nhập được cái lý đạo vi diệu đó thì Linh-Sơn chỉ là tên một ngọn núi như tên của trăm nghìn ngọn núi khác, rồi cũng sẽ hao mòn và hoại diệt cùng thời gian.
2. Lịch sử
Nói tới lịch sử của Linh-Sơn, là nói tới khoảng thời gian mà Đức Phật cư trú và hoằng pháp tại Linh Thứu Sơn. Tại đây, Ngài đã đặc biệt thuyết giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa liên tiếp 8 năm trường và cuối cùng Ngài nói Kinh Đại Bát Niết Bàn trong một ngày một đêm rồi nhập diệt. Vì vậy đời sau có làm một bài kệ nói về 49 năm hoằng pháp độ sanh của Đức Phật, trong đó có câu ‘Pháp Hoa, Niết Bàn cộng bát niên’ để chỉ cho thời gian này. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, Đức Phật còn nói nhiều Kinh quan trọng khác.
Đến đây, Thầy lại muốn mở một dấu ngoặc để nói với quý vị về tâm ý của Thầy khi sáng lập Giáo Hội Linh-Sơn. Thầy ước mong có đủ thời gian để dịch sang Việt ngữ tất cả những bộ Kinh mà Đức Phật đã thuyết giảng tại Linh-Sơn. Tất cả những Bộ Kinh này đều được ghi chép trong Đại Tạng Kinh. Với mục đích phát huy Phật học cũng như bảo tồn nền Văn Hóa Linh-Sơn nên Thầy muốn dịch những bộ Kinh đó, để dành lại cho đời sau như một Pháp Bảo Linh-Sơn. Chắc chắn rằng trong cuộc đời của Thầy, ước nguyện đó không thể thành tựu được. Thầy tha thiết mong các vị đệ tử của Thầy sẽ cố gắng nối tiếp công cuộc bảo tồn nền Văn Hóa Linh-Sơn này.
Thí dụ như trong thời gian cư trú tại Linh Sơn, Đức Phật đã thuyết giảng Bộ Đại Tập Phương Đẳng tới 60 tập, mà trong khi Bộ Pháp Hoa chỉ có 7 quyển. Thầy mới dịch được 2,3 tập của Bộ Đại Tập Phương Đẳng, rồi vì bận rộn về Phật sự nên Thầy đã phải tạm ngưng. Một lần nữa Thầy mong quý vị sẽ tiếp nối công việc của Thầy.
Trở lại lịch sử Linh-Sơn. Đạo Phật tồn tại cho tới ngày nay, đã được khởi truyền từ Đức Phật cho Ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa) tại Pháp Hội Linh-Sơn. Rồi Chánh Pháp được tiếp tục trao truyền cho các đại đệ tử khác như Ngài A Nan (Ananda) là Tổ Thiền Tông đời thứ hai, ngài Thương Na Hòa Tu (Sanakanasa) là Tổ đời thứ ba v.v... cho đến Ngài Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) là Tổ đời thứ 28 Thiền Tông Ấn Độ.
Theo lời phó chúc của Tổ đời thứ 27 là Tổ Bát-Nhã Đa-La (Prajnadala), khi thấy Phật Giáo bắt đầu suy đồi tại Ấn Độ, đã khuyến khích Ngài Bồ Đề Đạt Ma hàng hải nhi lai Đông độ (vượt biển qua phương Đông) để truyền bá Giáo Pháp của Đức Phật. Ngài Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa truyền pháp và trở thành Sơ Tổ (Tổ thứ nhất) của Phật Giáo tại Trung Hoa. Lịch sử hoằng truyền Giáo Pháp Linh-Sơn được đúc kết trong một bài kệ như sau :
"Lục niên khổ hạnh Thích Ca Tôn,
Ca Diếp hân hoan diệu lý chơn,
Tùng thử Linh Sơn đăng bỉ ngạn,
Nhứt chi ngũ diệp lợi Nhơn Thiên".
Nói đến lịch sử của Linh Sơn là nói đến lịch sử của Phật Giáo và công cuộc tu hành, giáo hóa của Đức Phật, từ khi Ngài rời bỏ cung vàng điện ngọc đi tìm chân lý giải thoát cho mình và cho chúng sanh (tự lợi, lợi tha).
Câu đầu của bài kệ : ‘Lục niên khổ hạnh Thích Ca Tôn’ là ca ngợi, tán thán sự tu tập khổ nhọc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong rừng già (sau này, để kỷ niệm cho sự khổ nhọc đó mà khu rừng này được gọi là Khổ Hạnh Lâm nghĩa là Rừng Khổ Hạnh). Theo quan niệm của Tôn Giáo thời đó, cái Thân là nguồn gốc của vô minh và phiền não, nên người đi tu phải hành hạ cái thân để diệt trừ bản ngã. Chúng ta ngày nay thì lại quý cái thân giả tạo này quá mức, suốt ngày chỉ tìm cách làm cho thân được lợi dưỡng, được sung sướng, nên không có một hy vọng gì dẹp được bản ngã giả dối cũng như đoạn được vô tận phiền não.
Trong thời gian tu khổ hạnh, mỗi ngày, Đức Phật chỉ dùng một ít hạt mè (vừng), đến nỗi thân thể bị sa sút, chỉ còn da bọc xương, thân thể khô héo như ngọn lửa sắp tàn vì không còn chất đốt. Khi thân thể suy yếu đến cùng cực, Ngài mới ngộ ra rằng, sự hành hạ xác thân đến cùng cực như thế không giúp gì được cho sự giác ngộ. Vì đến lúc mà mạng sống suy giảm đến mức sắp tiêu vong mà Ngài vẫn chưa đạt được chân lý (Đạo). Ngay lúc đó, có hai chị em nàng Du Già Ta (Sujata) đến dâng cho Ngài một bát sữa bột.
Ngài tiếp thọ bát sữa và phát một lời nguyện rằng: ‘Nếu đường lối tu hành của tôi mà đúng thì chiếc bát này sẽ trôi ngược dòng nước’. Nguyện xong, Ngài thả chiếc bát xuống dòng sông Ni Liên Thiền (Neranjara). Kỳ diệu thay ! chiếc bát trôi ngược dòng nước đang tuôn chảy. Biết được rằng minh đang làm đúng trên con đường tu hành, Ngài vạch ra một con đường tu hành cho chính mình và sau này là kim chỉ nam cho những người tu Phật: ‘Con đường Trung Đạo’ (Majjhimà Patipadà). Ngài đã thấy rằng, muốn đạt được một tinh thần dõng mãnh để phát huy Trí Tuệ, phải có một thân căn khỏe mạnh.
Do đó, Ngài lại tiếp tục ăn uống để gìn giữ thân thể khỏe mạnh mà tiếp tục tu tập, nhưng cũng không cung ứng quá đầy đủ cho thân thể e tâm sẽ móng khởi tham luyến sự lợi dưỡng. Con đường trung đạo, sau này được những người tu Phật áp dụng trong tất cả pháp môn tu hành: Không quá cứng rắn, nghiệt ngã (chấp thủ) nhưng cũng không buông lung, phóng dật (giải đãi).
Câu kệ thứ hai : ‘Ca Diếp hân hoan diệu lý chơn’ là để nói lên giờ phút thiêng liêng trong lịch sử truyền thừa Chánh Pháp.
Trong cả một pháp hội có vô lượng chúng sanh tham dự, khi bỗng nhiên Đức Phật ngưng thuyết pháp, lặng lẽ cầm một hoa sen đưa lên; cả pháp hội ngẩn ngơ, không hiểu ý tứ của Phật. Riêng có Ngài Ma Ha Ca Diếp đứng dậy, nét mặt hớn hở (phá nhan), mắt nhìn thẳng vào mắt Phật, mà mỉm một nụ cười. Đức Phật cũng nhìn Ngài Ca Diếp và nói rằng: ‘Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng trao truyền cho Ông’.
Câu ‘Ca Diếp hân hoan diệu lý chơn’ diễn tả lại cái ‘sát na’ lịch sử đó. Sự hân hoan của Ngài Ca Diếp, khi 4 mắt nhìn nhau, mà nhận được tâm ấn của Phật giao trọng trách truyền thừa Chánh Pháp cho mình. Vì trọng trách này mà 90 ngày sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài Ma Ha Ca Diếp đã tổ chức kết tập Kinh Tạng lần thứ nhất tại hang động Pippala, gần thành Vương Xá (Rajagrha).
Câu kệ thứ ba : ‘Tùng thử Linh Sơn đăng bỉ ngạn’ để nói lên cái diệu dụng, diệu lý của những pháp hội tại Linh-Sơn. Hiểu theo văn tự, nhờ Pháp Hội Linh-Sơn mà người nghe pháp qua được bờ bên kia (bờ Giác). Hiểu theo lý đạo thì tại Linh-Sơn, Đức Phật đã khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật cho vô lượng chúng sanh khi Ngài nói Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa để phá tất cả những chấp trước về Tứ Diệu Đế, về Thập Nhị Nhân Duyên, về tu Thập Thiện của hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát v.v... mà chỉ thẳng cho chúng sanh cái tâm chơn thật, cái đệ nhất tối thắng của chúng sanh. Nhờ đó mà các vị Hiền Thánh xả bỏ được những kết quả tu hành của hàng Nhị Thừa và tiến lên quả vị Nhất Thừa là quả vị Phật. Từ đó, nói tới Linh-Sơn, người tu Phật phải hiểu ngay Linh-Sơn chỉ cho cái tâm chơn thật, cái Phật tánh, chân như.
Quý vị có hiểu như vậy thì mới có thể hiểu được những bài kệ của chư Tổ mà Thầy sẽ nói tới trong những phần sau của buổi Khai Thị hôm nay.
Câu kệ cuối : ‘Nhứt chi ngũ diệp lợi Nhân, Thiên’. Đọc câu này thì người ta thấy ngay bài kệ này là của một vị Tổ người Trung Hoa. Bài kệ tóm lược lịch sử truyền thừa Chánh Pháp từ Linh Thứu Sơn bên Ấn Độ sang tới Trung Hoa và một nhánh (nhất chi) mà truyền tới năm lá (ngũ diệp) là nói tới lịch sử truyền thừa Phật pháp tại Trung Hoa.
Từ tổ Bồ Đề Đạt Ma, người Ấn, được tôn làm Sơ Tổ truyền cho vị tổ Trung Hoa đầu tiên, được tôn làm Nhị Tổ là Ngài Huệ Khả, rồi Tổ Huệ Khả truyền y bát cho Tam Tổ Tăng Xán và cứ thế Tổ Tổ tương truyền cho Tổ thứ Tư Đạo Tín, Tổ thứ Năm Hoằng Nhẫn và Tổ thứ Sáu Huệ Năng.
Từ Tổ Huệ Năng, Đạo Phật tại Trung Hoa không còn được truyền theo lối cũ là truyền y bát cho một người, để tránh sự tranh đoan, có hại cho chánh pháp, mà được truyền rộng rãi cho những vị Cao Tăng đắc đạo bằng cách thiết lập giới đàn để truyền pháp. Phương pháp truyền thừa này đã đưa Phật giáo lên đến cực thịnh và phổ biến ra đến năm châu bốn biển cho tới ngày nay.
3. Truyền thừa
Vì thì giờ giới hạn của buổi khai thị hôm nay, nên trong phần nói về truyền thừa, Thầy chỉ nói tới một bài tán thán sự truyền thừa và một bài kệ nói về Chánh Pháp được truyền thừa. Lịch sử truyền thừa đã vừa được giảng cho quý vị trong phần lịch sử Linh-Sơn ở trên rồi.
Bài tán thứ nhất là bài khen ngợi sự truyền thừa kể từ Tổ Ma Ha Ca Diếp, như sau :
Niêm Hoa ngộ chỉ,
Tổ Đạo Sơ hưng,
Miên diên tứ thất diễn chơn thừa,
Lục đại diễn truyền đăng,
Diệc diệp tương thừa,
Chánh pháp vĩnh xương minh.
Nam mô Độ Nhân Sư Bồ Tát.
Giảng : ‘Niêm hoa ngộ chỉ’: Trong pháp hội Linh Sơn, Đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên, (Ngài Ma Ha Ca Diếp) liền hiểu ngay được ý chỉ của Phật.
‘Tổ Đạo sơ hưng’ : Từ đó Ngài trở thành Sơ Tổ của Phật Giáo và Thiền Tông để tiếp tục làm cho chánh pháp được hưng thịnh.
‘Miên diên tứ thất diễn chơn thừa’: Tứ thất ở đây là 4 x 7 = 28, nói rằng từ Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp, chân lý được soi sáng, diễn giảng suốt qua 28 đời Tổ tại Ấn Độ. Đến Ngài Bồ Đề Đạt Ma là Tổ thứ 28, bắt đầu đem chánh pháp vượt biển sang miền Đông (hàng hải nhi lai Đông độ) và Phật giáo bắt đầu được truyền bá tại Trung Hoa.
‘Lục Đại truyền đăng, diệc diệp tương thừa’ : Tại Trung Hoa, ngọn đèn nhiệm mầu của đạo được truyền qua 6 đời Tổ, nối tiếp trọng trách truyền thừa bắt đầu từ Tổ Ca Diếp tại Ấn Độ.
‘Chánh Pháp vĩnh xương minh’ : Cũng từ Ngài Ca Diếp, Chánh Pháp đã trở thành một ngọn đèn sáng soi bất diệt.
‘Nam mô Độ Nhân Sư Bồ Tát’ : Câu Kinh này để tán thán vị Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp, vị Thầy độ cho chúng sanh (loài người) trong cõi Ta Bà này.
Đó là bài kệ tán thán cho sự truyền thừa. Từ sự ngộ được ý chỉ Phật của Ngài Ca Diếp, yến sáng của đạo mầu được truyền qua 28 đời Tổ tại Ấn Độ, sau đó lại truyền thêm 6 đời Tổ nữa tại Trung Hoa. Tất cả là 33 vị Tổ được trao truyền y bát.
Sang đến bài kệ thứ hai, nói về chánh pháp hay nói về cái pháp vi diệu độ sanh được Đức Phật truyền cho Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp. Khi Ngài Ca Diếp, tại Pháp Hội Linh-Sơn, đứng lên và mỉm cười, thì Đức Phật hiểu ngay là Ngài Ca Diếp đã cảm nhận được ý chỉ của Phật nên đã nói lên bài kệ như sau : ‘Ta có...
Chánh Pháp Nhãn Tạng,
Niết Bàn Diệu tâm,
Thật tướng vô tướng,
Vi diệu pháp môn,
.....nay trao lại cho Ông’.
Khi nói bài kệ trên, Đức Phật đã mang cái tâm nhiệm mầu, bất sanh, bất diệt, cái tâm chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh mà in ấn vào cái tâm thanh tịnh của Tôn Giả Ca Diếp vì Đức Phật biết rằng Ngài Ca Diếp đã tiếp nhận được Phật Tri Kiến. Thật tướng của phật tri kiến vốn không hình không tướng, vì hữu hình tất hữu hoại. Cái mà Đức Phật trao truyền và phó chúc cho Ngài Ma Ha Ca Diếp là cái pháp tu tập để đạt được cái tâm chân thật của chư Phật, là cái cửa đạo nhiệm mầu bất sanh bất diệt, để giáo hóa chúng sanh. Pháp môn được trao truyền là một cái không hình không tướng và chỉ có thể dùng cái tâm thanh tịnh (thường được nói trong Kinh Điển: Chỉ có Phật với Phật mới hiểu) để thọ nhận mà thôi.
Vì sự truyền trao một ‘cái ấn’ không hình không tướng đó nên, khi muốn truyền trao, Đức Phật cũng không thể dùng ngôn ngữ thế gian mà diễn tả cái ý muốn tìm một đệ tử xứng đáng để phó chúc, Ngài đã phải dùng đến một phương tiện thiện xảo là giơ một cành sen trắng lên, may ra có vị đệ tử nào hiểu được ý của Ngài lúc đó muốn phó chúc cái Tâm Pháp Vi Diệu hầu truyền thừa cho hậu thế chăng? Rất may cho chúng sanh đời vị lai là Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp đã hiểu được ý chỉ của Đức Phật và cũng bằng một phương tiện thiện xảo ‘không lời’ là đứng dậy với nét mặt hân hoan mà mỉm cười. Chỉ có bằng ánh mắt mà Ngài Ca Diếp đã nhận lãnh sứ mạng của Đức Phật muốn trao phó. Cũng bằng ánh mắt ấy, Đức Phật đã nhận ra Ngài Ma Ha Ca Diếp có đầy đủ phước và trí, xứng đáng để nhận lãnh trách nhiệm truyền thừa cái ‘Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thật tướng vô tướng, Vi diệu pháp môn’ của chư Phật. Chỉ sau khi thấy được sự triệt ngộ của Ngài Ma Ha Ca Diếp, Đức Phật mới tuyên bố lời phó chúc long trọng bằng bốn câu kệ như trên.
Ngay trong pháp hội đó, chắc chắn có sự hiện diện của vị đại đệ tử trí tuệ bậc nhất là Ngài Xá Lợi Phất, người đã được trao phó trọng trách hướng dẫn Tăng đoàn, và Ngài A Nan, vừa là em vừa là thị giả, lại là người đa văn đệ nhất. Vậy mà cả hai vị đều không hiểu được ý chỉ của Phật thì chúng ta có thể thấy cái thiện xảo tìm người phó chúc trách nhiệm truyền thừa đó vi diệu đến chừng nào ! Đó là sơ lược về sự truyền thừa Đạo Pháp.
4. Giáo Lý Linh-Sơn
Giáo lý là những bài pháp dài, ngắn, những bộ Kinh do Phật nói ra hay những lời giải những nghi vấn của người nghe pháp. Vì Đức Phật lưu trú tại Linh-Sơn một thời gian khá dài nên kinh điển Ngài nói trong các pháp hội tại Linh-Sơn rất nhiều. Tất cả đều được ghi chép lại trong Đại Tạng Kinh. Đặc biệt là những bộ kinh quan trọng như bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, gồm 7 quyển. Kinh Pháp Hoa được coi là bộ kinh quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng đại thừa Phật giáo.
Trong bản Kinh xưa bằng tiếng Sanskri, bộ Kinh này có 27 phẩm. Khi đem sang Trung Hoa, các Tổ sắp đặt lại và chia ra thêm một phẩm Đề Bà Đạt Đa, nên Bộ Kinh Pháp Hoa mà chúng ta thường tụng ngày nay là theo bản dịch từ tiếng Sanskri sang tiếng Trung Hoa của Ngài Cưu Ma La Thập và được Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Việt, gồm 28 phẩm. Người ta thường cho rằng Kinh Pháp Hoa là Vua của các Kinh vì Đức Phật đã chỉ thẳng cho chúng sanh cái Pundarika tức là cái Bạch Liên Hoa (Hoa Sen Trắng).
Bạch Liên Hoa tượng trưng cho cái chân tâm không thể bị ô nhiễm (bất cấu bất tịnh) thường hằng trong mỗi chúng sanh. Cái tâm Bạch Liên Hoa của chúng sanh và của chư Phật đồng thể trùm khắp, tròn đầy như thái hư, mà kinh điển gọi là Phật tánh hay Phật Tri Kiến (Kinh Pháp Hoa). Toàn bộ Kinh Pháp Hoa chỉ nói tới cái tâm này. Cũng nhân đây, Thầy muốn nói để giúp quý vị đương thọ trì đọc tụng hay đương nghiên cứu Kinh Pháp Hoa, về phương pháp mà Đức Phật đã dùng để chỉ thẳng cái chân tâm của mỗi chúng sanh trong Kinh. Hãy tạm bỏ qua phẩm Tựa là phẩm nói một cách tổng quát về ý nghĩa của toàn bộ Kinh.
Từ phẩm thứ hai đến phẩm thứ 12, Phật dùng phương pháp ‘Khai’ tức là mở cho chúng sanh thấy Phật Tri Kiến hay Phật Tánh nằm ở đâu.
Phẩm 13 (Phẩm Hiện Bửu Tháp), Đức Phật dùng phương pháp ‘Thị’ là Phật chỉ cho chúng sanh Phật Tri Kiến hay phật tánh là gì ?
Từ phẩm thứ 14 đến phẩm thứ 23, Phật chỉ cho cách ‘Ngộ’ Phật Tri Kiến hay là cách thấu triệt Phật Tri Kiến như thế nào.
Từ phẩm 24 đến phẩm chót (28), Đức Phật dạy chúng sanh cách ‘Nhập’ Phật Tri Kiến hay nói một cách khác là ‘thật hành’ Phật Tri Kiến, để sống với cái Thấy và cái Biết chân thật (như thị) của chư Phật và áp dụng cái thấy biết như thị đó vào công phu tu tập hàng ngày mà đạt được quả vị Phật, quả vị Nhất Thừa của Đạo.
Ngoài Bộ Kinh Pháp Hoa, cũng tại Linh-Sơn (còn gọi là Núi Kỳ Xà Quật), Đức Phật cũng giảng thêm các Kinh như Bộ Lăng Nghiêm (10 quyển), Bộ Đại Tập Phương Đẳng (60 quyển), Bộ Kim Quang Minh (4 quyển), Bộ Chuyển Nữ Tánh Kinh, Kinh Tiêu Tai Duyên Thọ, Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu v.v... và còn rất nhiều Kinh khác mà trong buổi khai thị hôm nay, Thầy không có đủ thời giờ để nói cho hết. Quý vị muốn nghiên cứu thêm về Giáo Lý Linh-Sơn, có thể tham khảo trong Đại Tạng Kinh. Tóm lại, hầu hết những Kinh quan trọng trong hệ thống tư tưởng Bát Nhã và Đại Thừa đều được Đức Phật thuyết tại Linh-Sơn.
Trong thời gian đầu đi hoằng pháp, giáo hóa chúng sanh, Đức Phật nhận thấy căn cơ của người Ấn Độ và ngoại đạo (Bà La Môn, Sát Đế Lợi), Thần giáo còn quá chấp trước và mê tín vào thần linh, nên Đức Phật, sau 21 ngày giảng Kinh Hoa Nghiêm mà chúng sanh không hiểu gì cả, mới chú trọng đến sự hướng dẫn những phương pháp tu hành để đạt những Thánh Vị Nhị Thừa Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Bích Chi Phật để gỡ cho chúng sanh khỏi những mê tín về thần, quỷ v.v... Thời gian cuối cùng tại Linh Sơn, căn cơ của các đệ tử, chúng sanh đã mở mang, Đức Phật mới chú trọng tới cứu kính của sự tu hành mà nói những kinh điển thuộc hệ thống tư tưởng đại thừa để độ cho chúng sanh tiến lên quả vị rốt ráo là quả vị Phật. Đức Phật đã giảng rất kỹ lưỡng và chỉ thẳng cho chúng sanh về cái chân tâm, Phật tánh sẵn có trong mỗi người mà ai cũng có thể thành Phật nếu nhận ra và sống được với cái phật tánh đó. Do đó, giáo lý Linh Sơn được coi như tinh túy của Đạo Phật, tư tưởng Linh Sơn là hệ thống tư tưởng quan trọng nhất trong 5 thời Thuyết Giáo của Đức Phật.
5. Văn Hóa Linh Sơn
Trong cuộc đời hành đạo của Đức Phật, ngoại trừ vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) là nơi Đức Phật đản sanh và rừng Câu Thi Na (Kushinagara) là nơi Ngài nhập niết bàn, có hai địa danh mà người đương thời và vị lai hằng ca ngợi trong những áng văn, thơ, nhạc, kịch làm tiêu biểu cho sự khai sáng của Phật Giáo là Linh Thứu Sơn hay núi Kỳ Xà Quật và Trúc Lâm Tịnh Xá. Trúc Lâm Tịnh Xá là nơi Đức Phật chế ra giới luật cho Tăng Ni đệ tử và cũng là nơi Ngài thường cư trú. Nhưng quan trọng hơn hết là Linh-Sơn là nơi Đức Phật đã thuyết giảng cái cốt tủy của Đạo Phật.
Nói đến Linh Thứu Sơn là nói đến tinh túy của đạo và sự hưng thịnh của Phật giáo ngay trong khi Phật tại thế mà người ta thường gọi là thời Chánh Pháp, mười người tu thì mười người chứng. Khi Ngài bắt đầu giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì Đạo Phật với giáo lý vi diệu của Phật đã thâu hút được những vị hiền triết, Thánh Tăng, lãnh tụ của ngoại đạo như Ngài Ma Ha Ca Diếp, Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên, trưởng giả Cấp Cô Độc, Vua Tần Bà Sa La v.v...
Một điểm rất đặc biệt là đạo Phật đã phá vỡ hệ thống giai cấp đã từng ăn sâu vào tâm hồn, đời sống và văn hóa xã hội của người Ấn Độ. Khi người thợ cạo cùng đinh Ưu Bà Li được Phật đối xử bình đẳng và được các nhà quyền quý như Vua Chúa kính trọng ngang với các lãnh tụ Thần giáo hay các nhà hiền triết như các Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na v.v... và khi người phụ nữ được phép gia nhập tăng đoàn đã là một thách thức lớn cho truyền thống xã hội Ấn Độ. Cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa đó đã nâng cao nền minh triết Ấn Độ nên những áng thơ, văn ca tụng Văn Hóa Linh-Sơn đã được phổ biến rộng rãi. Các nhà hiền triết như Tagore, Krisnamurti đã để lại nhiều tác phẩm siêu văn hóa ca tụng tư tưởng giải thoát siêu việt của đại thừa Phật Giáo. Trong các vị Tổ được trao truyền y bát, có hai nhà hiền triết người Ấn là Tổ Mã Minh (Asvaghosa) và Long Thọ (Nagarjuna) cũng đã để lại những bài luận giải có tính chất siêu văn hóa để ca ngợi cái ánh sáng của đạo lý Linh-Sơn.
Tóm lại, hiện nay những thơ, văn, kịch, nhạc, luận về Linh-Sơn vẫn còn lưu truyền và vẫn tiếp tục được sáng tác. Thầy mong quý vị có thời giờ hãy tìm đọc trong những bộ sách, những tập thơ nói về nền minh triết của Ấn Độ sau thời đức Phật nhập niết bàn. Trong khuôn khổ của thời pháp khai thị hôm nay, Thầy muốn đề cập tới một bài kệ tuyệt tác của một vị Tổ người Trung Hoa. Không những bài kệ này, trên phương diện nghệ thuật được coi là tuyệt phẩm, mà mỗi câu kệ hàm chứa một lý đạo xâu xa :
Phật tại Linh-Sơn mạc viễn cầu,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu,
Nhơn nhơn hữu cá Linh-Sơn tháp,
Đạt đáo Linh-Sơn giải hận sầu.
Đại cương, ý nghĩa của bài kệ này như sau : ‘Cái ông Phật ở Linh- Sơn đó không cần tìm ở nơi xa xôi nào cả. Cái Linh-Sơn đó ở tại đầu trái tim của ông. Mỗi người đều có cái bửu tháp Linh-Sơn. Tới được Linh-Sơn là mọi phiền não đều được giải toả’.
Sự tuyệt diệu của bài kệ này là trong mỗi câu đều có hai chữ Linh-Sơn, nhưng mỗi chữ Linh-Sơn lại mang một ý nghĩa khác nhau và cả 4 câu kệ đó lại chỉ thẳng cho cái giáo lý rốt ráo của đạo mà đức Phật đã phải nói ròng rã suốt 8 năm.
Câu đầu : ‘Phật tại Linh-Sơn mạc viễn cầu’. Hai chữ Linh-Sơn này nói tới ngọn núi Linh Thứu bên Ấn Độ, nơi có Phật Thích Ca thuyết pháp. Tất cả những người phàm phu hay những vị tu hành thường ước ao được gặp Ngài hay được giác ngộ như Ngài. Nhưng cầu giác ngộ thành Phật như Ông Phật tại núi Linh-Sơn xa xôi ấy là cầu Ông Phật ở bên ngoài mà Phật thường quở là ngoại đạo.
Câu hai : ‘Linh-Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu’. Hai chữ Linh-Sơn trong câu này lại không nói về địa danh mà nói về cái mà Linh-Sơn tiêu biểu : tâm (chân tâm). Linh-Sơn là chân tâm, lúc nào cũng nằm trong tâm của mỗi người.
Câu ba : ‘Nhơn nhơn hữu cá Linh-Sơn tháp’. Linh-Sơn ở đây chỉ cho cái tháp báu như tháp Đa Bảo trong Kinh Pháp Hoa. Mỗi chúng sanh đều có sẵn cái của báu đó giống như chàng cùng tử vốn là con nhà giàu có, nhưng đã rời nhà, bỏ cha ra đi lang thang mà xin ăn như Đức Phật giảng trong Kinh Pháp Hoa. Vốn là người giàu có mà không biết rằng mình vẫn giàu có.
Câu bốn : ‘Đạt đáo Linh-Sơn giải hận sầu’. Hai chữ Linh-Sơn này lại nói tới cái vi diệu của Chân Tâm và cứu kính rốt ráo của Đạo.
Cả bốn câu kệ này muốn nói cho chúng ta biết Linh-Sơn là cái chân tâm hằng có trong mỗi chúng ta. Không cần phải đi tới nơi nào xa xôi như Ấn Độ, mới nhìn thấy Linh-Sơn hoặc không cần phải đi cầu những ông Phật bên ngoài, chúng ta mới có thể thành Phật. Ngộ được cái Linh-Sơn (chân Tâm) bên trong chúng ta là bao nhiêu phiền não (hận sầu) đều được giải tỏa.
Như Thầy đã nói, quý vị phải thâm nhập được ý nghĩa hàm chứa trong hai chữ Linh-Sơn thì mới có thể thấu triệt diệu lý Siêu Văn Hóa Linh Sơn.
6. Nguồn Thiền
Như trên Thầy đã nói, cái tinh túy, cốt lõi của giáo lý Phật giáo được Đức Phật giảng rộng bằng những bài thuyết pháp hay kinh điển trong thời gian Ngài lưu trú tại Linh Sơn. Ta có thể nói, trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời thị hiện của Đức Phật, Ngài đã nói rõ cái lý do tại sao Ngài phải giáng trần: Vì thương xót chúng sinh mãi đắm chìm trong mê lầm, không hề biết tới cái Phật tánh sẵn có trong mình mà cứ mãi mê chạy theo những dục lạc giả dối của vọng tình, vọng tưởng để phải chịu không biết bao nhiêu nỗi khổ đau và luân hồi trong sáu nẻo. Vì vô minh mà chúng sanh không biết rằng ngoài cái thế giới đầy đau khổ và phiền não này, còn có một thế giới an lạc vĩnh cửu của chư Phật mà Phật tạm gọi là niết bàn.
Tại Linh-Sơn, khi giảng về cái cốt lõi, tinh túy đó, Ngài đã thuyết về giáo lý vi diệu của Pundarika (bông sen trắng), một loài hoa tượng trưng cho sự thanh tịnh của chân tâm, vốn nằm rất sâu trong tạng thức của mỗi chúng sanh. Muốn vào được cảnh giới thanh tịnh đó hay muốn làm cho chân tâm hiển lộ, người tu Phật phải tinh tấn tu thiền định, dùng trí tuệ bát nhã để quán chiếu sâu xa đến tự tánh của các Pháp trong thế giới hiện tượng này. Trí tuệ đó gọi là Phật Tri Kiến. Trong cuộc đời của Đức Thích Ca với cái thân thị hiện là cái thân phàm phu, đức Phật đã chỉ cho chúng sanh một phương pháp tu tập của Ngài dưới gốc cây bồ đề để chứng được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là phương pháp thiền định.
Khi thấy cuộc hoằng pháp tại trần gian đã đến thời kỳ viên mãn, Ngài đã dùng phương tiện thiện xảo mà truyền trao giáo lý vi diệu cũng như phương pháp tu tập cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, rồi từ đó, giáo lý và pháp môn tu tập phát triển Phật Tri Kiến được đời đời tiếp nối. Cho nên Linh-Sơn được coi là nguồn gốc của sự truyền thừa Phật giáo và Thiền tông.
Các tông phái tu thiền được phát triển cho tới ngày nay qua sự nối tiếp của Lịch Đại Tổ Sư từ Ấn Độ qua Trung Hoa (hệ Đại Thừa), Tích Lan (hệ Tiểu Thừa) và phát triển khắp năm châu bốn biển, đã bắt đầu từ Tổ Ma Ha Ca Diếp truyền bá cho tới đời Tổ Bồ Đề Đạt Ma tại Ấn Độ là 28 đời. Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã chuyển giòng truyền thừa sang phía Đông (Đông độ) là Trung Hoa. Tại Trung Hoa lại theo truyền thống trao truyền y bát thêm 5 đời nữa cho đến đời Tổ Huệ Năng thì Thiền Tông và Phật Giáo đã được khai triển rộng rãi để hóa độ cho các hàng chúng sanh trong cõi trời và người.
Khi tới Trung Hoa, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã nói một bài kệ như sau :
Ngô bổn lai tư độ,
Truyền pháp cứu mê tình,
Nhất hoa khai ngũ diệp,
Kết quả tự nhiên thành.
Ý của bài kệ trên là nói tới yếu chỉ của Tổ: Tại sao Ngài đến Đông độ? Mục đích Đông độ là để truyền thừa một giáo pháp cứu vớt chúng sinh khỏi mê muội và để phát triển nguồn Thiền Linh Sơn.
7. Nguồn Tịnh.
Pháp môn Tịnh độ cũng được đức Phật phát khởi tại Linh Sơn vì lời khẩn nguyện của Bà Thái Hậu Vi Đề Hy (Videhiràji), mẹ của Vua A Xà Thế (Ajatusatra). Trong thời Đức Phật tại thế, Vua A Xà Thế nghe lời xúi dục của ông Đề Bà Đạt Đa và soán ngôi và hạ ngục Vua cha là Vua Bình Sa Vương (Bimbisaraj). Không những đã soán ngôi và hạ ngục Vua Cha, Vua A Xà Thế còn dùng cực hình để hành hạ Vua Cha cho đến nỗi phải chết vì không chịu nổi.
Trong thời gian Vua Bình Sa Vương bị cầm tù và hành hạ, nhiều khi bị bỏ đói thì Hoàng Hậu là Bà Vi Đề Hy phải dùng đủ mọi cách lén thăm nuôi và săn sóc. Khi biết được Vua Cha vẫn được Mẹ thăm nuôi săn sóc, A Xà Thế lại cầm tù luôn cả Mẹ và hạ lệnh giết chết Vua Cha trong ngục tối. Trong khi bị hạ ngục, Hoàng Hậu Vi Đề Hy đã ngày ngày khẩn nguyện Đức Phật chỉ cho Bà một thế giới nào không có :
1) Ba đường ác (Súc sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục).
2) Những đứa con ngỗ nghịch hay chỉ có những người hiền lành (thượng thiện nhân) và,
3) Người nữ và sự sanh nở trần tục.
Lời khẩn nguyện của Bà Vi Đề Hy trong ngục đã cảm ứng tới Đức Phật đang ở trên Linh-Sơn Hội Thượng. Đức Phật đã dùng thần lực làm hiển lộ các thế giới của chư Phật mười phương, trong đó có Thế Giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, là nơi thù thắng hơn cả và dễ được về vì nguyện lực độ chúng sanh của Đức Phật A Di Đà. Đức Phật đã dạy cho Bà Vi Đề Hy pháp môn Niệm Hồng Danh của Đức Phật A Di Đà và phát nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Khi Ngài nói về pháp môn niệm hồng danh đức Phật A Di Đà và phát nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thì pháp môn Niệm Phật và phát nguyện vãng sanh đều được chư Phật các thế giới khác đồng tán thán và hộ niệm. Từ đó, pháp môn Tịnh Độ được ban truyền và cũng có nguồn gốc từ Linh Sơn.
Quý Vị Tăng Ni và Phật Tử ! Thầy vừa giảng cho quý vị cái ý nghĩa sâu xa của bốn chữ Linh-Sơn Hội Thượng và sự quan trọng trong nguồn gốc tu tập Thiền và Tịnh. Đó cũng là lý do mà Giáo Hội Phật Giáo Linh-Sơn Thế Giới chủ trương thiền tịnh song tu, là vì muốn duy trì truyền thống và phương pháp giáo hóa của Đức Phật đã được truyền thừa từ trên 2500 năm về trước.
Để kết luận cho buổi khai thị hôm nay, nói tới Linh-Sơn là nói tới sự viên dung cả sự và lý trong đạo Phật. Linh-Sơn tượng trưng cho giáo lý vi diệu của Phật giáo và được truyền thừa và phát triển rộng rãi ra khắp năm châu nhờ ân đức và giới hạnh của Lịch Đại Tổ Sư cho tới ngày nay. Sự truyền thừa phải được quý vị Tăng Ni, Phật tử làm cho ngọn đèn trí tuệ, mà Đức Phật và chư Tổ đã dày công khai sáng cho chúng ta, được đời đời tiếp nối (tục diệm truyền đăng) để cứu vớt chúng sanh khỏi mê tình. Thầy đã đúc kết cái lý thâm sâu của Đạo và ước nguyện của Thầy, mong cho tiền đồ Phật giáo mãi mãi xương minh, bằng hai bài kệ dưới đây :
‘Linh-Sơn Phật thuyết đạo mầu,
Linh-Sơn các Tổ đồng cầu chân như,
Linh-Sơn đại sự thừa tư,
Linh-Sơn hóa độ muôn người thành công.
Linh-Sơn chỉ Tánh bên trong,
Linh-Sơn vi diệu cõi lòng từ xưa,
Linh-Sơn bản tánh nhất thừa,
Linh-Sơn ta ngộ mới vừa công tu.
Linh Linh thường chiếu, Sơn Sơn thường tịch.
Linh-Sơn chiếu tịch, Phật quả viên thành.’
và
Linh-Sơn đèn tuệ thắp cùng nơi,
Chiếu tỏa đông tây bốn góc trời.
Hoằng Pháp sáng soi người trí thức,
Thuyền từ cứu vớt kẻ chơi vơi.
Trong bài kệ thứ hai, ý nguyện của Thầy là mong mỏi quý vị tiếp tay với Thầy trong công cuộc hoằng dương chánh pháp, phổ biến đạo mầu của Phật Tổ tới các xứ sở Âu, Mỹ, Phi, Úc, làm con thuyền từ bi cho người người nương theo mà trở về được với cái tâm thánh thiện sẵn có để chúng sanh muôn loài trong thế giới này có thể sống chung một cách Hòa Bình, đem tình thương xóa bỏ hận thù.
Nam Mô Linh-Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát
Trong dịp Thầy về thăm quý vị tại Tùng Lâm hôm nay, Thầy muốn nói mấy lời nhắc nhở quý vị về hành trình tu hành của quý vị. Hành trình đó gọi là Tiến Tu Đạo Nghiệp.
Thế nào gọi là tiến tu? Tiến nghĩa là đi tới trước, đi xa hơn, hướng lên mức độ cao siêu hơn. Ngày hôm nay, phải thấy công năng tu hành của mình đạt được trình độ hơn ngày hôm qua. Trình độ hôm nay phải được dùng như một nấc thang để ngày mai mình có thể leo lên một nấc cao hơn nữa. Những việc lành đã làm cho đến hôm nay phải được quên đi để ngày mai, ngày mốt còn thấy có những việc lành khác cần phải làm. Những sự thanh lọc thân tâm mà quý vị đạt được hôm nay, phải được coi là những lớp bùn nhơ để giờ sau, ngày sau tìm cách lau bùn, chùi bụi cho cái tâm của mình sáng hơn, thanh tịnh hơn nữa.
Các vị Thánh Tăng, Tổ Sư suốt một đời giữ gìn giới hạnh, hoằng truyền chánh pháp của Đức Như Lai, đến khi gần dứt duyên đời, đều ân hận là chưa làm được mảy may việc lành, chưa báo đền được mảy may công đức của Phật. Quý vị phải có cái tâm không bao giờ thấy đủ, thấy nhàm chán trong việc gìn giữ giới hạnh, thanh tịnh thân tâm, hoằng truyền Phật pháp mà học hỏi thêm nữa, học mãi cho đến khi thành Phật mới thôi. Như thế mới gọi là có tinh thần tiến tu.
Thế nào gọi là đạo nghiệp? Trước hết, Thầy nói về chữ đạo cho quý vị hiểu rõ hơn.
Đạo có nhiều nghĩa:Thứ nhất, đạo là con đường, là phương hướng dẫn tới giác ngộ chân lý mà Đức Phật Thích Ca và chư Phật trong quá khứ, hiện tại đã biết, đã tu (đi qua) và đã chứng. Chư Phật trong đời vị lai cũng sẽ phải đi qua con đường ấy để đạt được giác ngộ.
Nghĩa thứ hai của đạo là sự thực hành, thực sự đặt những bước chân lên con đường mà chư Phật đã đi, nhắm thẳng vào một phương hướng dẫn tới giác ngộ mà chư Phật đã chỉ. Biết được ‘con đường’, biết được ‘phương hướng’ mà không thực sự đặt bước lên con đường đó thì chưa phải là biết đạo.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật Thích Ca đã dạy: "Này các Thầy Tỳ Kheo, các Thầy phải là bó đuốc soi đường mình đi. Các Đấng Như Lai chỉ là người chỉ đường". Quý vị đang mặc áo Như Lai, nhưng thực sự quý vị đã bước được bước nào trên ‘con đường’ ấy chưa thì chỉ có quý vị tự thấy, tự biết, tự hiểu mà thôi.
Nghĩa thứ ba của đạo là sự chứng đắc. Giáo pháp của Đức Phật ví như những trận mưa lớn, tưới tẩm xuống tất cả cỏ cây trên mặt đất. Các loài cỏ cây cũng tùy theo khả năng của chúng mà nhận những giọt cam lồ quý báu ấy. Có loại nhận được nhiều, có loại nhận được ít nhưng tất cả đều có nhận và có được kết quả nên cây cỏ nào cũng xanh tươi hơn và đâm chồi, nẩy lộc. Quý vị cũng ví như cỏ cây trên mặt đất, đã được ‘Pháp vũ’ của Đức Phật tưới tẩm, hàng ngày được nghe Phật pháp, được thọ trì đọc tụng Kinh điển mà không có thành quả gì, há chẳng đáng thẹn cùng loài cây cỏ hay sao?
Đó là ba ý nghĩa của chữ đạo. Quý vị hãy để tâm lóng nghe cho kỹ lưỡng, suy nghĩ cho cùng để làm tăng trưởng tín tâm vào chánh pháp. Sau khi đã kiên cố tin vào chánh pháp, vào ‘con đường’, vào ‘phương hướng’ mà chư Phật đã chỉ, thì hãy thực sự dấn thân, dõng mãnh tiến bước, không suy nghĩ thêm gì nữa, trên con đường ấy cho đến khi đạt thành đạo quả, nghĩa là thành Phật. Đó là quý vị đã thực hành đúng phương pháp tu tập văn, tư và tu, và như thế mới gọi là hiểu đạo.
Nghiệp là gì? Nghiệp là những hành động được việc làm được lập đi, lập lại nhiều lần và trở thành thói quen; đó là luyện tập thân nghiệp. Những lời nói ra lúc nào cũng là pháp lành, hướng về chân lý, không chen lẫn những lời nói xàm, nói bậy, tạp ngôn, chỉ nói những lời có ích lợi cho mình và cho người, không nói những lời chê bai, chỉ trích; đó là luyện tập khẩu nghiệp. Trong tư tưởng, không lúc nào gián đoạn suy nghĩ về lý tưởng giải thoát, giác ngộ, không bận tâm tới những ý tưởng tranh đua, yêu ghét, không màng tới việc thị phi, phải trái; đó là luyện tập ý nghiệp.
Cả thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp đều hướng về chân, thiện, mỹ, hướng về một nếp sống đạo đức, cao thượng, thánh thiện thì gọi đó là đạo nghiệp, hay là bản hoài của Chư Phật, cũng là mục đích tu hành, hay gọi đó là chứng ngộ nhân giải thoát. Con đường tiến tu đạo nghiệp không phải là con đường bằng phẳng, dễ dàng, mà ngược lại, có rất nhiều chướng ngại. Càng tu càng gặp nhiều chướng ngại. Người thực sự quyết tu thì không thấy những chướng ngại đó là hầm hố ngăn chặn bước đường tiến tu của mình, mà phải thấy đó là những thử thách đối với quyết tâm đạt thành đạo quả. Vì những chướng ngại chông gai đó nên trong đời, hàng ngàn, hàng vạn người mới có một người thực sự muốn tu. Trong số hàng ngàn, hàng vạn người thực sự muốn tu, mới có một người chứng đắc. Quý vị phải hằng ôm ấp cái tâm muốn trở thành cái ‘một người’ ấy, mới có thể gọi là tiến tu vì muốn hoàn thành đạo nghiệp.
Vì vậy, muốn thực sự tu hành, muốn thực sự chứng đắc, quý vị phải tinh cần chuyên luyện cái khả năng vượt qua những ma chướng trên hành trình quý vị đang đi.
Trong đạo Phật, ma chướng là để chỉ cho những chướng duyên, nghịch cảnh làm cho người tu hành thối chí, bỏ đạo và sa đọa. Có nhiều ma chướng, nhưng chúng ta hãy tạm thời xếp chúng vào bốn loại chính :
1) Tử Ma.
2) Thiên Ma.
3) Phiền Não Ma
4) Ngũ Ấm Ma.
Những loại ma này luôn luôn xuất hiện dưới hình trạng khác nhau, cản trở bước đường tiến tu của chúng ta. Xưa kia, khi Thái Tử Tất Đạt Đa tu tập dưới gốc bồ đề, các loại ma này cũng đều xuất hiện để ngăn chận, dụ dỗ Thái Tử lìa bỏ con đường tu hành để đi theo chúng hưởng lợi dưỡng thế gian. Ngài đã dõng mãnh chiến đấu với chúng và cuối cùng đã thắng được chúng chỉ bằng một cái tâm thanh tịnh và một ý chí tinh tấn. Cho đến nay, chưa có một phương pháp nào khác hữu hiệu hơn, dù cho là phương pháp của những bậc được gọi là thần linh, là Thượng Đế, là tạo hóa, có thể làm khí giới bén nhọn chống lại được những ma chướng đó. Muốn chống lại và diệt trừ chúng, ta phải tìm hiểu nguồn gốc và thực thể của các loại ma chướng, như Thầy vừa nói ở trên.
1. Tử ma : Tử ma là thần thức của những người đã chết, chưa được đi tái sanh hoặc chưa siêu thoát. Chúng ta thường gọi là vong hồn hay cô hồn. Loại ma này thường ít gây ảnh hưởng cho người tu hành có tín tâm kiên cố vào Phật pháp. Nhưng đối với những người sơ cơ, mới phát tâm tu hành, đầu óc còn bị ô nhiễm bởi những lời nói huyền hoặc hay những giới cấm phi lý của ngoại đạo, mà tinh thần trở nên yếu ớt, sợ sệt và thường tự chiêu cảm thấy những hình thù quái dị. Thầy không muốn nói với quý vị có nên tin hay không tin. Nhưng dù có tin hay không tin thì đối với quý vị đã quy y Tam Bảo, Phật, Pháp, Tăng, loại ma này dù có thật cũng chẳng làm gì được quý vị và chúng ta cũng không có lý do gì phải sợ sệt vì những suy luận như sau :
a. Thiện ma : Người ta sống trên đời, cũng có người lành, kẻ ác. Người lành là những người thường biết tôn trọng lẽ phải, tôn trọng người khác. Khi chết, vì nghiệp lành hay tánh lành, cũng sẽ là những vong hồn lành hay ma lành. Dĩ nhiên, loại ma lành này không bao giờ muốn quấy phá ai và cũng không bao giờ muốn làm người khác phải sợ hãi vì dù là ma, họ vẫn tiếp tục muốn tu nhân tích đức để được tái sanh vào một kiếp sống tốt hơn kiếp sống vừa mãn.
b. Ác ma : Kẻ ác, khi còn sống thường hay xâm phạm người khác. Khi chết cũng do ác nghiệp chiêu cảm mà trở thành ác ma và tiếp tục quấy phá người khác. Nhưng đối với người tu hành có tín tâm kiên cố vào chánh pháp; đã tin có thần quỷ ma hay sách nhiễu người thì cũng phải tin có Long Thần Hộ Pháp hằng bảo vệ người nương theo Phật pháp. Đất già lam đều là Thánh địa có tàng trữ Kinh điển, có thuyết giảng chánh pháp của chư Phật, có trì tụng kim ngôn của Đức Phật, nên đều được sự bảo hộ của Long Thần Hộ Pháp. Quý vị tu hành trong chùa, nương tựa vào oai thần của chư Phật, làm sao ác ma dám héo lánh tới Thánh địa để tác oai, tác quái với quý vị được !
c. Tâm thanh tịnh : Nếu quý vị còn có ý sợ sệt thì điều đó chứng tỏ rằng quý vị chưa hiểu đạo, chưa vững tâm tin tưởng vào Tam Bảo và tâm của quý vị đã bị ô nhiễm bởi ma vọng tưởng. Muốn diệt trừ các loại ác ma này, quý vị cũng không cần cầu xin nơi sự bảo hộ của Long Thần Hộ Pháp, mà phải tinh tấn tu tập làm tâm được thanh tịnh, vững lòng tin vào kim ngôn của Đức Phật:
"Chỉ có Ta làm cho Ta bị ô nhiễm, chỉ có Ta làm cho Ta thanh tịnh. Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta, không ai có thể làm cho người khác trở nên ô nhiễm hay trong sạch". Đó là lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú.
Đức Phật đã chứng minh lẽ thật này khi Ngài một mình chiến thắng tất cả các loại ma, chỉ bằng một cái tâm thanh tịnh, không có sự hỗ trợ nào khác từ bên ngoài.
d. Từ bi tâm : Như ta đã suy luận và đã biết, tử ma gồm có thiện ma và ác ma. Thiện ma luôn luôn ủng hộ và tán thán pháp lành. Ác ma, sau khi đã rời khỏi đời sống thế gian, chiêu cảm những hình phạt của cảnh giới địa ngục, nhận được quả báo về tội lỗi do chính mình đã gây ra, nay cũng có thể cảm thấy ăn năn hối hận, muốn quay về nương tựa nơi chánh pháp. Trong khi chờ đợi nhân duyên tái sanh, nhiều khi hóa hình quái dị đến gần nơi già lam, mong cầu được thính Pháp, nghe Kinh, quy y Tam Bảo chớ không có ý xấu. Chỉ vì hai thế giới âm dương không đồng nên hình thù cũng đổi khác. Người tu hành có tâm từ bi, vững lòng tin chánh pháp, thấy những hình thù đó, không nên sanh lòng sợ hãi mà tìm phương diệt trừ hay xua đuổi. Ngược lại, nên dùng tâm thanh tịnh mà chuyển hóa, chú nguyện cho vong linh cô hồn được quy y Tam Bảo; dùng câu niệm Phật để nhiếp tâm sợ sệt của mình đồng thời hóa độ tử ma.
Tóm lại, tử ma không phải là một ma chướng nếu ta có tín tâm kiên cố vào chánh pháp và biết trải tâm từ bi đến chúng sanh muôn loài, vô hình hay hữu hình, vô tình cũng như hữu tình. Hàng ngày, quý vị đọc tụng Kinh Mông Sơn Thí Thực, chính là hành động dùng từ bi tâm để hóa độ tử ma.
2. Thiên ma : Thiên ma là một loại chúng sanh ỏ trên cõi Trời Lục Dục (Lục Dục Thiên) của Dục giới. Loại ma này có khả năng xâm nhập vào tâm thức người tu hành dưới hình thức vọng tưởng. Người xuất gia có ý mong cầu chứng đắc thần thông vì lòng tham dục muốn chứng tỏ năng lực phi thường của mình, rất dễ bị loại Thiên ma này xâm nhập và sai sử. Vì tham luyến những năng lực phi thường hay thần thông mà quên đi cứu cánh của sự tu hành là giải thoát, dễ trở thành thân quyến và tay sai của tà ma ngoại đạo. Trường hợp điển hình cho sự xâm nhập của Thiên ma rồi trở nên sa đọa là trường hợp của Đề Bà Đạt Đa. Ngay trong thời Đức Phật còn tại thế, dù Ngài có từ bi tâm rộng lớn, nhưng cũng không cứu vớt nổi một đệ tử, tự mình, không có ý muốn thanh tịnh hóa bản tâm. Người nào đã bị loại Thiên ma này sai sử, sẽ không thể tiến xa trên con đường tu hành chân chính mà còn dễ lạc vào con đường tà của thần quỷ. Người tu hành biết chuyển hóa vọng tưởng tức là chế ngự được ảnh hưởng của Thiên ma.
Trong khi Đức Phật tu hành khổ hạnh, tất cả những loại ma này đã hiện đến để quấy phá, dụ dỗ Ngài từ bỏ ý chí tu hành khổ hạnh, quay về đời sống lợi dưỡng và làm tay sai cho Ma Vương. Bằng một ý chí đanh thép trên con đường tiến tu đạo nghiệp, Đức Phật đã trả lời :
"Này Namuci (tên của Ma Vương)! thân thể ta càng hao mòn thì tâm ta càng thanh tịnh. Tâm càng thanh tịnh, càng an trụ, càng sáng suốt thì định lực càng vững chắc. Này Namuci! Ta đã biết rõ đạo binh của ngươi gồm Tham Dục, Bất Mãn, Đói Khát, Ái Dục, Hôn Trầm, Sợ Hãi, Hoài Nghi, Phỉ Báng, Cố Chấp, Lợi Lộc, Tán Dương, Vinh Dự, Danh Tiếng bất chính, Kiêu Căng và Khinh Rẻ người khác. Này Namuci! Đó là quân đội của ngươi! Đó là ‘Khách’ luôn luôn trú ngụ bên trong hạng người xấu xa quỷ quái. Người ươn hèn thì không thắng nổi ngươi, nhưng ai chế ngự được đạo binh ấy của ngươi là tìm ra hạnh phúc chơn thật và vĩnh cửu. Namuci! Ta thà chết trên chiến trường còn hơn sống mà thất bại".
Với ý chí cương quyết và cái tâm thanh tịnh ấy, Đức Phật đã chiến thắng Thiên ma.
3. Phiền não ma : Đây là một loại ma chướng nguy hiểm, rất khó diệt trừ. Loại ma chướng này đã ẩn tàng rất thâm sâu trong tâm thức của chúng ta và luôn luôn xuất hiện dưới trạng thái tâm phiền não. Đó là những chướng ngại được tạo ra bởi tâm sở mà ta thường gọi là căn bản phiền não, gồm có : Tham, sân, si, mạn, nghi và 5 ác kiến (thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến). Nhà Phật còn gọi chúng là Thập Kiết Sử nghĩa là 10 món trói buộc và chi phối mọi hành động, lời nói và tư tưởng của chúng ta, dẫn dắt chúng ta luân lưu trong sáu nẻo luân hồi.
Yếu tố căn bản cấu tạo những ma chướng này là sự tiếp xúc của sáu căn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với sáu hiện tượng ngoài thân, thường gọi là sáu trần hay sáu cảnh : Sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Sự tiếp xúc của căn và trần tác dụng trên nhận thức và hiểu biết của sáu thức, chi phối mọi hành động và ý nghĩ mà sinh ra phiền não. Quý vị được tu hành tại Tùng Lâm là nơi chốn thanh vắng, tịch tĩnh; sự tiếp xúc với các trần và cảnh ngoài đời cũng giới hạn hơn là tại Tự Viện gần phố xá, nên sự tiến tu cũng dễ dàng hơn. Chúng ở đây cũng ít, nên động lực phát sanh phiền não cũng giảm thiểu. Tuy nhiên, nếu quý vị không biết kiểm soát thân tâm, thu liễm lục căn, thì dù chỉ có hai, ba người, cái tâm tánh chúng sanh của quý vị cũng vẫn gây ma chướng phiền não như ở trong chỗ có chúng đông đảo. Thầy muốn nhắc nhở quý vị phải cố gắng gìn giữ tinh thần lục hòa mà Đức Phật đã thường nhắc nhở và khuyến khích trong Tăng đoàn.
Đức Phật cũng hiểu rõ, dù có đạt được những quả vị Thánh như Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm, ma chướng phiền não cũng chưa được tận diệt. Phải chờ đến khi đắc quả A La Hán, ma phiền não mới hoàn toàn chịu rút lui. Huống chi, quý vị chưa tu được đến các quả vị Thánh, phiền não ma vẫn gây nhiều trở ngại lớn lao trên đường tiến tu đạo nghiệp. Người đã phát nguyện xuất gia, theo đúng nghĩa, là phát nguyện từ bỏ mọi liên hệ với đời sống thế gian như gia đình, xã hội, quốc gia, nhà cửa, tài sản; từ bỏ những suy nghĩ cho những lợi ích riêng mình, những tình cảm cá nhân đối với chúng sinh, để tìm cầu một cuộc sống phẩm hạnh có giá trị cao thượng, phục vụ trong tinh thần bình đẳng cho chúng sanh mọi loài, cho cái đại ngã hay chân ngã.
Tâm hồn, tư tưởng chỉ hướng về mục tiêu lợi mình (là giải thoát), lợi người (là cứu khổ ban vui). Khi đã hiểu ý nghĩa của sự xuất gia rồi thì tinh thần hòa hợp Tăng phải nên phát triển, con đường tiến tu mới có thể đi tới mục tiêu sau cùng là giải thoát.
Nếu quý vị còn mang theo trong thân những sự tích tụ của cải, quần áo dư thừa, đồ đạc xa hoa, mang theo trong tâm những tư tưởng tranh đua, yêu ghét nặng nề, ô trược thì làm sao có sự khinh an để giải thoát? Muốn giải thoát thì phải cố gắng tu luyện cho cái tâm được ‘Không’, cho cái bản ngã được diệt trừ; cho nên Thầy thường nhắc nhở quý vị tu hành tại Tùng Lâm, đã có hoàn cảnh thuận duyên là sự u tịch, thanh nhã, xa đời sống thế gian, phải biết lợi dụng mà tu luyện cho tâm được thanh tịnh. Tuy nhiên, đằng sau cái thuận duyên này lại có những nghịch duyên làm chướng ngại. Cái nghịch duyên đó là những ma chướng thuộc ngũ ấm ma.
4. Ngũ ấm ma : Ngũ ấm, còn được gọi là ngũ uẩn : Sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Ngũ ấm hay ngũ uẩn là thành phần vật chất (sắc) và tinh thần (thọ, tưởng, hành, thức) do nhân duyên tạm hòa hợp để hình thành con người. Một cách nói khác, sắc ấm là thân ; Thọ ấm, Tưởng ấm, Hành ấm và Thức ấm là Tâm. Vì vô minh mà con người phàm phu mê muội chấp cái thân này là thật, là thường còn, nên cứ mải mê cung cấp cho những đòi hỏi của nó. Bắt tâm phải làm nô lệ cho cái thân giả tạm. Khí giới của ngũ ấm ma là năm món dục lạc thế gian : Tài, Sắc, Danh, Thực và Thùy.
Vì cái tâm, thay vì làm chủ cái thân, lại bị ma ngũ ấm chi phối, đi làm nô lệ cho thân nên con người bị đắm chìm trong ngũ dục lạc, tạo nghiệp và không thể tiến tu trên con đường giải thoát. Quý vị mới phát tâm tu hành, người mới được 5, 7 tháng, kẻ được đôi ba năm, vẫn còn mang tâm tánh chúng sanh nên khó tránh những cám dỗ, tham luyến, cạm bẫy vi tế của ngũ dục lạc.
Quý vị đều biết ngũ dục lạc là ma, là hầm hố trên đường tiến tu đạo nghiệp, là những chướng ngại mình phải vượt qua; vậy mà hàng ngày, hầu như không ngày nào Thầy không nghe những thưa kiện, thị phi về những hành động, lời nói, phẩm hạnh của quý vị. Vì vậy, mỗi buổi sáng, Thầy thường đem đạo lý tiến tu đạo nghiệp để nhắc nhở quý vị. Thầy cũng biết, sách có câu ‘Giáo đa thành oán’, nhưng việc giáo dưỡng đệ tử là bổn phận và nhiệm vụ của Thầy.
Thời còn tại thế, Đức Phật hàng ngày vẫn phải nhắc nhở chúng đệ tử về giới hạnh của người tu hành, mặc dầu các đệ tử của Phật đã được liệt vào hàng Thánh chúng, nhưng cũng còn nhiều vị vẫn sống với tâm tánh phàm phu, thí dụ như Ngài Nan-Đà, Đề Bà Đạt Đa v.v... Quý vị thì lúc nào cũng chấp cái tâm tánh phàm phu là đường lối tu hành của mình thì Thầy tránh sao cho khỏi phải giáo hóa, nhắc nhở quý vị hàng ngày ! Cũng vì có sự vi phạm lầm lỗi trong đời sống phẩm hạnh mà Đức Phật phải chế ra Giới Luật và đến khi sắp nhập Niết Bàn, Ngài còn phải ân cần dặn dò: "Này các Thầy! Sau khi Như Lai nhập Niết Bàn, các Thầy hãy lấy Giới Luật làm thầy". Xem như thế đủ biết Đức Phật quan tâm đến giá trị cao thượng của đời sống xuất gia đến chừng nào !
Thầy muốn đem ra đây vài thí dụ điển hình mà Thầy, hàng ngày, thường phải xử, thường phải nghe về đời sống tu hành của quý vị, đã chạy theo ngũ dục lạc thế gian như thế nào. Quý vị nào không vi phạm thì đó là việc tốt, cần phải phát triển sự tinh tấn tu hành thêm nữa. Vị nào tự quán sát thấy mình có vi phạm vào lỗi lầm tương tự thì nên cố gắng tu sửa :
1. Về tiền tài :
Trong khi Đức Phật, vì lòng thương xót chúng sanh, muốn tìm ra chân lý để giáo hóa chúng sanh mà phải từ bỏ tất cả cung vàng điện ngọc, địa vị Quân Vương, từ bỏ sự giàu sang, trở thành một đạo sĩ không nhà cửa, không tiền bạc, cả đến cái bình bát để đi xin cơm ăn cũng không có, thì chúng ta, một số đông những người tu hành lại lo tích tụ tiền bạc để làm lợi riêng cho mình, dùng của cúng dường Tam Bảo mua sắm những tiện nghi lợi dưỡng cho thân tâm mình.
Có người thưa mách với Thầy là thầy này, cô kia đã chạy theo o bế các Phật Tử, hoặc kể lể sự thiếu thốn của mình để đòi hỏi cúng dường hoặc vay mượn của Phật tử dưới danh nghĩa làm Phật sự như mua xe hơi, xây cốc, thăm viếng Phật tích v.v... Nếu trong số quý vị quy y với Thầy, vị nào đã lợi dụng danh nghĩa Phật sự khuyên khéo Phật tử cúng dường, quyên góp tịnh tài của Phật tử để dùng vào việc lợi dưỡng cho mình thì Thầy nhắc nhở quý vị ấy hãy coi chừng về nghiệp báo, nhân quả sẽ đến với mình trong đời này hay đời sau. Trong Kinh Trường A Hàm có một câu chuyện của Ngài A Nan như sau:
"Một ngày kia, Ngài A Nan nằm mộng thấy có một cái hầm sâu, trên miệng hầm có một chiếc cầu gỗ bắc ngang và có nhiều người đang hoan hỷ đi qua đi lại trên cầu. Dưới hầm thì có nhiều tiếng kêu khóc thảm thiết. Ngài A-Nan bước tới dòm xuống hầm thì toát mồ hôi vì dưới hầm, đang kêu khóc, toàn là Tỳ Kheo. Hôm sau Ngài A-Nan đem giấc mộng đó trình lên Đức Phật, và xin Ngài giải thích.
Đức Phật dạy: ‘Này Thầy A Nan! Như Lai không thích nói chuyện mộng mị, nhưng Thầy đã hỏi thì Như Lai cũng vì Thầy và vì chúng sanh mà nói. Những Tỳ Kheo dưới hố sâu là những hạng Tỳ Kheo sa đọa, thường lợi dụng sự cúng dường của đàn na tín thí để sống lợi dưỡng, dù có xuất gia tu hành cũng không tránh khỏi nhân quả, nghiệp báo, bị đọa vào những cảnh giới tội lỗi, xấu xa. Những người đi qua đi lại trên cầu là những đàn na tín thí đang hưởng phước đức vì đã phát tâm hộ trì, cúng dường Tam Bảo’.
Trong Giới Luật Sa Di cũng như Giới Luật Tỳ Kheo, người xuất gia không được phép cất giữ vàng bạc châu báu. Trong thời đại hiện tại, quý vị cũng có thể tùy duyên có chút ít tiền bạc đủ để dùng vào việc di chuyển. Nếu tích tụ nhiều sẽ sanh tâm tham luyến tiền tài, rất trở ngại cho sự tiến tu đạo nghiệp và là đầu mối phiền não vì sự bất bình đẳng.
2. Về sắc :
Tham luyến sắc đẹp là điều tai hại nhất trong cuộc đời kẻ xuất gia. Vì sắc đẹp mà nhiều người đã bỏ đạo hay phạm giới dâm dục, là một trọng giới. Cũng vì sắc đẹp mà trong chúng có nảy sinh những hiện tượng yêu ghét và nảy sinh những tình cảm bất chính. Ngày xưa, Tôn Giả A Nan Đà, vì ham muốn cưới được các Thiên nữ làm vợ mà đi tu, nhưng với cái tâm lúc nào cũng tưởng nhớ đến sắc đẹp của Thiên nữ nên sự tu hành không thể nào có kết quả và luôn luôn bị các bạn đồng tu chế diễu. Mãi đến khi thấm nhuần được sự giáo huấn của Đức Phật và xin Đức Phật hủy bỏ lời hứa của Ngài là sẽ cho cưới các Thiên nữ sau khi đắc đạo, gạt bỏ được hình bóng của Thiên nữ trong tâm, A Nan Đà mới đắc được quả A La Hán. Tôn Giả A Nan cũng vì động tâm trước sắc đẹp của cô gái Ma Đăng Già mà suýt nữa táng thân, mất huệ mạng. Quý vị học Kinh điển, phải nhớ những gương tu hành của các vị tiền bối làm những bài học cho sự tiến tu của mình.
3. Về danh :
Đây là một địa hạt mà một số lớn người xuất gia dễ phạm nhất. Thầy đã nghe một số Phật tử phàn nàn và thưa mách với Thầy là thầy này, cô kia đã có thái độ khinh rẻ Phật tử, thường tự xưng Thầy, xưng Sư, xưng Cô với đàn na tín thí đến chùa và tỏ vẻ thiếu lịch sự hoặc hống hách bắt bẻ Phật tử đã không theo luật lệ riêng của chùa.
Thậm chí, có vị tự xưng Thầy, xưng Cô với cả các huynh đệ đồng tu. Đây là một điểm quan yếu vừa làm quý vị tổn đức vừa là ma chướng lớn trên bước đường tiến tu đạo nghiệp. Quý vị không nên thấy Thầy tự xưng Thầy với quý vị mà bắt chước. Thầy đối với quý vị có liên hệ Sư Phụ và Đệ Tử, trong khi quý vị đối với huynh đệ không có cái liên hệ ấy, cũng như đối với các Phật Tử, quý vị không phải là Truyền Giới Sư thì không thể xưng Thầy, xưng Cô với người ta được.
Chữ ‘Thầy’ trong đạo, khác rất xa với chữ ‘Thầy’ ngoài đời. Chữ Thầy ngoài đời là để chỉ những người làm nghề dạy học. Họ chỉ được gọi là Thầy trong phạm vi lớp học, hoặc chỉ được phép xưng Thầy với những người tự nhận là học trò của họ. Có thế thôi !
Trong đạo, danh vị Thầy, Cô mang một ý nghĩa và trách nhiệm quan trọng hơn nhiều. Người được tôn làm Thầy, không chỉ có trách nhiệm giáo dục chánh pháp, mà còn có trách nhiệm giáo dục về nhân cách, lo lắng về hành vi và sự an sinh của đệ tử sống trong chùa hay hoạt động trong Giáo Hội.
Đối với Phật tử tại gia, Thầy và Cô có trách nhiệm truyền giới, giáo hóa, hướng dẫn họ xây dựng một đời sống phẩm hạnh, có khả năng thâu nhận đệ tử xin quy y và chính mình phải có đạo đức, giới hạnh xứng đáng làm một ‘Đạo Sư’. Công ơn của đàn na tín thí và của chúng sanh (thí chủ), đối với người tu hành, là một trong Tứ Trọng Ân (bốn ơn nặng). Ăn một miếng cơm, uống một chén nước, phải nhớ tới công ơn của Phật Tử đã có hành động ‘bố thí’ để hộ trì cho Phật Pháp được trường tồn.
Người xuất gia phải luôn luôn tự quán xét xem công hạnh của mình có xứng đáng thọ nhận của ‘cúng dường’ không? Nếu thấy mình chưa đủ công hạnh, phải phát nguyện tinh tấn, trau dồi đạo hạnh cho xứng đáng làm bậc ‘ứng cúng’. Đức ‘khiêm cung’ và ‘diệt bản ngã’ là những đức tính hàng đầu người xuất gia phải trau dồi.
Trong 49 năm hoằng Đạo, Đức Phật, không một lúc nào không nhắc nhở đệ tử về đời sống phẩm hạnh của người xuất gia. Khi thâu nhận đệ tử mới, trong những năm đầu, Đức Phật đích thân giáo hóa về nhân thừa, tức là dạy cách sống thế nào cho ra một người có đạo hạnh, trong đó đức khiêm cung và sự chân thật với mình và với người được chú trọng. Hãy nghe lời Đức Phật dạy Ngài La Hầu La, khi Ngài còn là Sa Di, trong Kinh Trung A Hàm :
(Đức Phật đổ hết nước đựng trong cái chậu mà La Hầu La đem đến cho Ngài rửa chân, rồi lật úp cái chậu xuống và dạy)
"Này La Hầu La! Đời Sa Di quả thật như bỏ đi (như nước dơ, không còn dùng được nữa) nếu còn nói dối mà không biết hổ thẹn".
"Này La Hầu La! Đời Sa Di quả thật bị đảo lộn (như cái chậu bị úp xuống) nếu còn nói dối mà không biết hổ thẹn".
"...Với người nói dối không biết hổ thẹn, Như Lai nói, không có điều tội lỗi xấu xa nào mà người ấy không dám làm..."
"Này La Hầu La! Bất luận điều gì con muốn làm, con đều phải suy ngẫm: Hành động này có hại cho ta hay có hại cho kẻ khác. Vậy thì hành động này là bất thiện, đem lại phiền não và đau khổ. Hành động này, con phải tránh, không nên làm. Nếu sau khi suy ngẫm, Con nhận định rằng: Bây giờ hành động ta đã làm là bất thiện! Con phải sám hối, phải thưa lại với Thầy Giáo Thọ hay với các Thiện Trí Thức (tiền bối), hay với các bạn đồng tu trong Tăng Đoàn. Đã sám hối, Con phải chừa trong tương lai, không nên tái phạm".
Quý vị đã thấy những lời Đức Phật dạy Ngài La Hầu La, khi còn là Sa Di, không có gì khác hơn là giới hạnh của một cuộc sống đạo đức (đạo làm người hay Nhân Thừa Giáo Pháp).
Trong Kinh Báo Ân Phụ Mẫu, khi Tôn Giả A Nan hỏi Đức Phật tại sao Đức Thế Tôn cao quý như thế, mà lại đi lễ lạy đống xương khô? Đức Phật đã dạy Ngài A Nan : ‘Trong đống xương khô này, từ nhiều đời nhiều kiếp, không có người nào chưa từng là cha mẹ ta, hoặc chưa từng là con cái, hoặc chưa từng là anh em, thân bằng quyến thuộc của Như Lai’.
Một vị Đạo Sư của Trời, người như Đức Phật mà có hành động, tư tưởng khiêm hạ như vậy, tưởng trong quá khứ, hiện tại và vị lai, không người nào còn có thể khiêm hạ hơn. Vì cái gương khiêm cung của Đức Phật mà các đệ tử lớn như Ngài Xá Lợi Phất, mặc dầu phụ trách vai trò thượng thủ Giáo Hội, khi nói chuyện hoặc chấn chỉnh tác phong của các Tỳ Kheo khác, Ngài vẫn một điều gọi người đó là Sư Huynh, hai điều vẫn thưa Sư Huynh. Các bậc Tôn Túc, đạo cao đức trọng, khi hoằng truyền chánh pháp, còn biết e sợ, trong thính chúng, có thể có các vị Bồ Tát hóa thân phàm phu để hóa độ chúng sinh, đến nghe pháp nên lời lẽ của các Ngài rất ư lễ độ với thính chúng, khiêm hạ với đàn na tín thí. Thử hỏi công hạnh quý vị được bao nhiêu mà dám ngang nhiên xưng Thầy, xưng Cô với Phật tử hay với huynh đệ?
Tổ Quy Sơn đã thức tỉnh chúng ta trong Quy Sơn Cảnh Sách : ‘Hà nãi tải đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị Tỳ Kheo. Đàn việt sở tu, khiết dụng thường trú, bất giải thổn tư lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hiệp cúng. Khiết liễu tụ đầu huyên huyên, đản thuyết nhân gian tạp thoại...’ (Dịch : Sao lại mới bước lên phẩm bực của giới pháp, mà đã tự thị ta đây là vị Tỳ Kheo. Dùng của thí chủ, ăn của thường trú, không biết xét kỹ vì sao mà có của ấy, lại bảo rằng lẽ tự nhiên là phải hiến cúng. Ăn rồi xúm đầu huyên náo, chỉ nói toàn chuyện tạp của thế gian..).
Quý vị chưa học hết Nhân Thừa Giáo Pháp, nay tự vỗ ngực tự xưng ta đang tu đạo Thượng Thừa, bỏ qua những nền tảng đạo đức căn bản, thật không khác gì xây nhà lầu cao mà lại không xây từng thứ nhất. Thật không còn gì đáng gọi là mê muội hơn! Đáng thương thay! Quý vị vi phạm lỗi này, bởi vì quý vị đã không có cái tâm thành thực xuất gia cầu đạo giải thoát, mà chỉ xuất gia để cầu danh (làm Thầy) và lợi dưỡng (thọ của cúng dường) mà thôi.
Thầy thấy cần phải nhắc quý vị thêm một lời của Đức Thế Tôn than thở cùng Ngài A Nan, khi sắp nhập diệt :
"Này A Nan, Sau khi Như Lai nhập Niết Bàn thì 500 năm sau, giáo pháp của Như Lai bắt đầu bị phá hoại. Những kẻ phá hoại chánh pháp, chẳng phải là ngoại đạo mà chính là những kẻ xuất gia trong Giáo Hội Tăng Già".
Thầy nhắc nhở quý vị vì Thầy không muốn các đệ tử xuất gia của Giáo Hội Linh Sơn đóng góp một bàn tay vào sự phá hoại chánh pháp của Đấng Từ Tôn. Thầy thiết tha mong quý vị hãy tự xem xét mình và tinh tấn trau dồi phẩm hạnh, lấy phẩm hạnh làm nấc thang căn bản cho sự Tiến Tu Đạo Nghiệp.
4) Về thực :
Thực là sự ăn uống. Ăn uống là để nuôi dưỡng cái thân giả tạm này có đủ sức dinh dưỡng, có sức mà tu hành. Trong khi nuôi dưỡng thân, lại phải hằng quán niệm nó là nguồn gốc của khổ đau và vì nó mà đời sống tâm linh, tinh thần cao thượng không thể phát huy đến mức cùng tột. Do quan điểm này, các vị Sa Môn thời xưa lấy pháp tu khổ hạnh (đầu đà) làm pháp môn căn bản để diệt trừ bản ngã.
Sau khi Đức Phật tìm ra con đường trung đạo, thì lối tu khổ hạnh cũng được Đức Phật chế giảm. Tuy có sự chế giảm của Đức Phật, nhưng trong số đại đệ tử của Ngài, Tôn Giả Đại Ca Diếp lại vẫn duy trì pháp môn đầu đà để phát triển trí tuệ và trau dồi giới đức. Quả nhiên, Ngài Đại Ca Diếp, với trí tuệ và giới đức đầy đủ, đã được Đức Phật phó chúc trách nhiệm truyền thừa Chánh Pháp Nhãn Tạng. Chánh pháp mà chúng ta được thọ trì hôm nay là nhờ ở nỗ lực bảo vệ và hoằng truyền của Tôn Giả Đại Ca Diếp.
Ở nước ta, Vua Trần Nhân Tôn cũng nương theo pháp tu khổ hạnh mà đắc đạo và trở nên Thiền Tông Sơ Tổ của Thiền Tông Việt Nam với pháp hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà. Trên phương diện Sinh Lý Học, ăn uống thái quá sẽ làm con người trở nên nặng nề, dễ buồn ngủ, tinh thần không được minh mẫn và phát triển lòng ham muốn khoái lạc tình dục.
Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Cú : "Những người chỉ muốn sống trong khoái lạc, không chịu nhiếp hộ các căn, ăn uống vô độ, biếng nhác, chẳng tinh cần. Họ thật là người dễ bị ma nhiếp phục như cành mềm trước cơn gió lốc".
"Những người nguyện ở trong cảnh không khoái lạc, khôn khéo nhiếp hộ các căn, ăn uống tiết độ, vững tin và siêng năng, ma không dễ gì thắng họ, như gió thổi núi đá".
Trong Giới Pháp, Phật dạy các đệ tử chỉ được đi khất thực vừa đủ để ăn một bữa trong một ngày và không được dành dụm thức ăn cũng như nước uống.
Trong thời Mạt Pháp hiện nay, người xuất gia phải coi thức ăn như loại thuốc chữa bệnh khô gầy, không được sanh tâm ham muốn ăn ngon, ăn nhiều. Buổi chiều, nếu đói, có thể ăn chút ít thức ăn nhẹ, nhưng phải có tâm hổ thẹn (vì không đủ nghị lực kiểm soát được sự đói). Muốn phát triển trí tuệ và tiến tu, quý vị phải theo gương Thầy, Tổ mà điều độ ăn uống, lấy đời sống Tam Thường Bất Túc (ba sự ăn, mặc, ngủ không được quá đầy đủ) làm phương châm tu hành, để tinh thần được phát triển sáng suốt.
5) Về ngủ, nghỉ :
Ngủ nghỉ là kẻ thù trực tiếp của tinh tấn và kẻ thù gián tiếp của trí tuệ. Khi xưa, trong khi Đức Phật giảng pháp, một vị đệ tử lớn là Tôn Giả A Na Luật (Anuruddha), vì quá mệt mỏi mà ngủ gật. Đức Phật quở rằng : "Này Thầy A Na Luật ! Con ốc cuộn mình ngủ suốt ngày trong cái vỏ nên không bao giờ giải thoát được kiếp làm ốc". Tôn giả A Na Luật biết lỗi hôn trầm của mình nên xin sám hối và phát nguyện sẽ không bao giờ nhắm mắt ngủ nữa. Tôn Giả đã thực hiện lời nguyện đến nỗi bị mù cả hai mắt vì thiếu ngủ. Trước khi bị mù, mặc dầu Đức Phật có khuyên Tôn Giả nên dành chút thì giờ để ngủ nghỉ, nhưng vì cảm thấy hổ thẹn và có lỗi với Đức Phật nên Tôn Giả nhất định không nhắm mắt. Sau khi Tôn Giả bị mù, Đức Phật đã đem pháp Kim Quang Minh truyền dạy cho Tôn Giả, nhờ vậy mà Tôn Giả đắc được Thiên Nhãn Thông.
Quý vị tu hành tại Tùng Lâm, chỉ có mấy huynh đệ, thầy trụ trì lại để quý vị tự do tu hành theo ý mình, ngoài hai khoá lễ. Quý vị có rất nhiều thì giờ rảnh rỗi nên rất dễ bị cám dỗ bởi ma chướng ham muốn ăn uống ngủ nghỉ. Thầy khuyên quý vị nên tự mình làm một Thời Khoá Biểu, làm sao sử dụng phần lớn thì giờ vào công việc tu hành, học hỏi, chấp tác; giảm bớt thì giờ ăn uống ngủ nghỉ thì sự tu hành mới có thể tiến bộ.
Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ Sư nhắc nhở chúng ta về huấn dụ của Đức Phật như sau: ‘... Đạo Sư hữu sắc, giới húc Tỳ Kheo, tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc...’ (Dịch: Đạo Sư có huấn dụ, khuyên dạy các vị Tỳ Kheo, hãy lấy tiến tu đạo nghiệp, trang nghiêm thân thể, còn ăn, mặc, ngủ nghỉ, cả ba thứ ấy không lúc nào nên hưởng dụng sung túc). Tu hành ở nơi vắng vẻ, u tịch có cái lợi là không bị những sự ồn ào, náo nhiệt hay trần cảnh của thế gian cám dỗ nhưng cũng có cái hại là rất dễ sanh vọng tưởng và giải đãi.
Gần đây Thầy nhận được mấy bài thơ của một trong quý vị. Ý tứ của mấy bài thơ, phần lớn nói lên lòng biết ơn sâu xa đối với sự giáo huấn của Thầy và một phần nói lên kết quả tu hành nhờ sự giáo huấn đó. Thầy có cho đọc mấy bài thơ trước chúng và hỏi quý vị có thấy cái lý đạo của mấy bài thơ đó chăng? Thầy thấy quý vị, người vỗ tay, kẻ khen hay, người giữ im lặng, kẻ tỏ vẻ không đồng ý v.v... nhưng không người nào nói lên, hoặc không muốn nói lên cái lý đạo trong mấy bài thơ, cũng như tâm ý của Thầy khi đem mấy bài thơ đó đọc trước chúng. Nhân dịp này, Thầy nói về lý đạo để quý vị suy ngẫm và giải tỏa những thắc mắc, nếu có, của quý vị.
Việc biết ân đức Phật, công ơn giáo dưỡng của Thầy, của Tổ là một việc tốt, nhưng đem những công ơn đó gò ép thành những lời có ý tâng bốc là một công việc hoàn toàn vô ích, không giúp gì cho ‘mục đích tu hành là Giải Thoát’ hay khai mở trí tuệ.
Ngày xưa, khi Đức Phật, còn vài ngày nữa thì nhập Niết Bàn, tất cả các đệ tử, hàng ngày, đều đến vấn an Phật. Chỉ có một vị đệ tử, chưa đắc quả Thánh, đã không đến mà suốt ngày đêm ngồi thiền tọa trong hang động, tiếp tục tu hành như thường lệ. Các đệ tử khác thấy vậy thì bắt đầu bàn tán và việc đó đến tai Phật.
Mặc dầu Phật đã biết rõ tâm ý của vị đệ tử kia, nhưng vẫn cho vời vị ấy đến để giải thích hành động của mình trước chúng. Vị đệ tử đó chắp tay thưa: ‘Bạch Thế Tôn! Thế Tôn sắp sửa rời bỏ chúng con. Từ nay chúng con sẽ không nhận được những sự giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con muốn báo đền ân đức của Thế Tôn mà không biết nói lời gì cho xứng đáng. Con nghĩ, chỉ có tinh tấn tu hành làm sao cho được chút kết quả gì trước khi Thế Tôn thực sự rời bỏ chúng con, mới gọi là báo đáp phần nào công ơn giáo dưỡng của Thế Tôn; cho nên con tinh tấn tu hành, không còn thì giờ đến vấn an Thế Tôn, ngưỡng mong Thế Tôn tha tội’.
Đức Phật hoan hỷ mỉm cười và nói: ‘Lành thay! lành thay! Này các Thầy Tỳ Kheo! Báo đáp công ơn của Như Lai, không phải nói ra vài lời tán tụng là đủ, mà phải tinh tấn thực hành những lời Như Lai đã dạy để phát triển khả năng hoằng truyền Chánh Pháp của Như Lai mà cứu độ chúng sanh và tìm sự giải thoát sanh tử cho mình. Này các Thầy! Các Thầy hãy lấy hành động của Thầy Tỳ Kheo này làm gương, nên bắt chước mà tinh cần tu học, Như Lai sẽ rất hoan hỷ’.
Thầy chứng minh lòng biết ơn Thầy trong mấy bài thơ nhưng Thầy khuyên vị đó nên dành thời giờ gò ép những vần thơ tán tụng Thầy, vào công việc tu học, dùng thời giờ đó chia xẻ với các huynh đệ đồng tu đang chấp tác ngoài vườn, ngoài sân hay trong quá đường. Đó mới là những hành động hữu ích trong tinh thần tiến tu và tinh thần của Lục Hòa : Giới hoà đồng tu. Đó là lý Đạo.
Trong ý tứ của mấy bài thơ, vị đệ tử này cũng muốn nói đến kết quả tu hành của mình, cũng muốn nói đến ‘cái thấy’ của mình. Thầy muốn nói ngay để quý vị cùng biết:‘Cái thấy’ mà quý vị tưởng là mình đã có, chỉ là sản phẩm của ma tưởng ấm, không phải là ‘Cái thấy chơn thật’.
‘Cái thấy chơn thật’ không thể nói ra được vì ngôn ngữ hạn cuộc của thế gian. Nếu nói ra được thì cái thấy đó chỉ là vọng tưởng. Tổ Lâm Tế đã nói cho các đệ tử học Thiền về cái Thấy như sau : ‘Phùng Phật sát Phật, phùng Ma sát Ma’. Cái thấy những hình ảnh Phật xoa đầu hay những cảnh giới xa lạ trong khi tọa thiền đều là những tưởng tượng của vọng tâm. Nếu chấp rằng những cảnh giới mình thấy trong lúc tọa thiền là thật, thì sẽ khởi tâm tham luyến và lúc tọa thiền chỉ mong được thấy lại hay mơ màng sống trong cảnh giới tưởng tượng đó. Lúc đó là lúc đã bị Thiên Ma Ba Tuần hay Ma Tưởng Ấm dẫn dắt chớ chẳng phải là đã đạt được Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền hay Tứ Thiền gì hết. Cái "thấy" mà nói ra được không phải là cái "thấy của Minh Tâm Kiến Tánh". Đó là lý đạo.
Giả dụ rằng, vị đệ tử đó có được vài sự hiểu biết sáng suốt, thì cái ‘hiểu biết sáng suốt’ ấy cần được tư duy, quán xét xem có ích lợi gì mình và cho mọi người không ? Có giúp gì cho việc cứu độ chúng sinh không (lợi người)? Có giúp gì cho cứu cánh giải thoát không (lợi mình)?
Xưa kia, Tôn Giả Tu Bồ Đề chỉ đi khất thực nơi các nhà giàu vì Tôn Giả cho rằng, người giàu có mới có khả năng ‘bố thí’; người nghèo khó đã không có đủ ăn thì lấy gì mà ‘bố thí’ và bắt người ta nhịn ăn để bố thí là một điều không nên làm. Trong khi đó, Tôn Giả Ca Diếp thì lại làm ngược lại, chỉ đi khất thực nơi nhà nghèo.
Một hôm, trước chúng, Tôn Giả Tu Bồ Đề đem ý kiến của mình ra trình bày và thỉnh vấn Tôn Giả Ca Diếp : ‘Thưa Sư Huynh, hiển nhiên là phương pháp khất thực của Sư Huynh và của tôi thật là trái ngược. Sự hiểu biết của tôi, tôi đã trình bày, kính mong Sư Huynh chỉ giáo cho tôi về phương pháp khất thực của Sư Huynh, may ra tôi được mở mắt thấy được những thiếu sót của tôi chăng?’ Tôn Giả Ca Diếp trình bày quan điểm khất thực nhà nghèo của mình. Ngài cho rằng, những người giàu có, đã được nhiều phước đức tích tụ từ những tiền kiếp nên kiếp này mới được giàu có. Người nghèo khó vì phước đức tiền kiếp không đủ nên kiếp này phải chịu cảnh nghèo nàn. Ngài tới với người nghèo để tạo cho họ cơ hội gieo trồng thêm phước đức cúng dường, mong kiếp sau họ sẽ được hưởng sự giàu có.
Việc này đến tai Đức Phật. Đức Thế Tôn, trước chúng, quở trách cả hai vị như sau : "Này Thầy Ca Diếp và Thầy Tu Bồ Đề! Tâm Từ (Metta) là ý nguyện đem an vui, hạnh phúc đến với tất cả mọi chúng sanh, không phân biệt giai cấp, chủng tộc, tôn giáo, nam nữ v.v... Các Thầy không nên sanh tâm phân biệt người giàu, người nghèo. Tâm của các Thầy phải như thửa ruộng, ai cũng có thể gieo trồng phước đức trên ruộng ấy. Từ nay các Thầy nên lần lượt khất thực mà đừng nên phân biệt người giàu có, kẻ nghèo khó".
Cái hiểu biết của mình nhiều khi mình tưởng là đúng và chấp chặt lấy nó; cho ý kiến của mình là đúng, chê bai ý kiến của người khác là nuôi dưỡng ‘bản ngã’. Nếu cho rằng cái hiểu biết của mình là đúng đắn, có lợi ích cho chúng sanh, cũng nên đem cái ý kiến đó tham khảo với các bạn đồng tu, nhờ họ suy ngẫm và chỉ vẽ cho mình những điều mình chưa thấy hay không thấy. Như vậy là phát triển cái tâm học hỏi nơi thiện tri thức và là phương pháp hữu hiệu nhất để diệt trừ ‘bản ngã’ và tánh ‘kiêu mạn’. Nếu chưa thỏa mãn với sự chỉ vẽ của thiện trí thức thì xin trình bầy lại ý kiến của mình trước chúng và mong cầu được học hỏi. Đó là tinh thần "Kiến hòa đồng giải" và "Ý hòa đồng duyệt". Đó là lý Đạo.
Một sự việc khác cũng đã đến tai Thầy. Trong thời khóa lễ hàng ngày, có vị viện lý do này hay lý do khác, nhất là lý do đau yếu, bịnh hoạn mà thật sự là vì giải đãi, lười biếng, ngủ quên, bất hòa với Duy Na hay Duyệt Chúng hoặc không tin tưởng ở pháp môn Niệm Phật nên không tham dự khóa lễ. Xưa có một vị Tăng đến vấn đạo với Lục Tổ Huệ Năng và hỏi : ‘Có nên tụng Kinh không?’ Tổ hỏi lại : ‘Tụng Kinh có lỗi gì?’ Vị Tăng đáp không được, cúi đầu lễ lạy và lui ra.
Thầy muốn nói để quý vị cùng biết sự quan trọng của các thời khóa lễ. Hai thời công phu, đối với người xuất gia, là cơ hội quý báu để thanh tịnh ba nghiệp:Thân, miệng, ý và tạo chủng tử thiện pháp, chuyển hóa chủng tử tội lỗi đã, từ vô thỉ, chất chứa trong A Lại Da thức của chúng ta. Chính những chủng tử tội lỗi này là nguyên nhân tạo nên nghiệp lực, dẫn dắt chúng ta ra vào sinh tử. Kinh có câu : "Tam Nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây Phương".
Hai thời công phu hàng ngày có công năng thanh tịnh hóa ba nghiệp mà quý vị không biết lợi dụng thì người bị thiệt thòi sẽ là ai? Làm cho tâm được thanh tịnh, gieo trồng chủng tử pháp lành thì phước báo đó, quý vị được hưởng hay Thầy được hưởng?
Nếu hiểu một cách cạn cợt rằng, không tham dự hai thời công phu, nhưng sẽ tụng Kinh Niệm Phật lúc khác để bù lại, thì quý vị đã không hiểu gì về tội lỗi mình đã tạo ra từ muôn ngàn kiếp trước, không biết gì về nhân quả nghiệp báo. Mặc áo Như Lai mà không biết những điều ấy, khác gì hủy báng Chư Phật? Chư Phật dạy : "Đừng thấy việc lành nhỏ mà không làm". Câu nói này, Đức Phật đã dùng để giáo huấn các vị đệ tử hỏi Ngài khi Ngài luồn kim vá áo cho một vị đệ tử mắt kém.
Người xuất gia chúng ta, lúc nào cũng phải thấy mình đức mỏng nghiệp dày nên không lúc nào chẳng quan tâm đến cơ hội thực hiện các pháp lành. Khi tham dự các thời khóa công phu, thân không thể làm việc ác, khẩu đọc tụng Kinh kệ, ý tập trung hướng về chư Phật đều là những pháp lành để thanh tịnh hóa ba nghiệp. Tại sao quý vị lại bỏ lỡ cơ hội làm pháp lành? Phước đức quý vị đã tích tụ được bao nhiêu? Và bao nhiêu phước đức thì đủ để quý vị thay thế những chủng tử ác pháp đang được tàng trữ trong A Lại Da thức của quý vị mà tiến đến quả Vô Sanh?
Nhân đây, Thầy cũng giảng qua về hai chữ thanh tịnh trong đạo. Quý vị có thể nghĩ rằng, tuy tôi không làm việc lành, nhưng cũng không tạo nghiệp ác, như vậy là thanh tịnh rồi. Thanh tịnh mà được hiểu như vậy là chỉ hiểu cái ‘danh’ của thanh tịnh, chưa hiểu được ‘tự tánh’ của thanh tịnh.
Chư Phật, chư Bồ Tát làm một việc gì, việc đó phải có mục đích lợi lạc cho chúng sanh; nói một lời gì, lời đó phải có mục đích giáo hóa chúng sanh; suy nghĩ một điều gì, ý đó phải có mục đích cứu vớt chúng sanh ra khỏi khổ hải. Ở nơi các Ngài, không còn có ‘đối đãi’ tốt xấu, thiện ác; tất cả chỉ có một cái tâm: Lợi lạc cho chúng sanh muôn loài (nhiêu ích hữu tình). Tâm như vậy là tâm thanh tịnh, vượt ngoài ba cõi, ba nghiệp đều hướng về hạnh phúc của chúng sanh, như vậy là ba nghiệp Thanh Tịnh. Nhờ đó, các Ngài thị hiện vào ngũ trược ác thế mà không bị ô nhiễm vì uế trược. Xuống địa ngục mà không bị ô nhiễm bởi tội lỗi.
Nói tóm lại, những hành động của thân, lời nói từ miệng, tư tưởng của ý, nếu không vì lợi lạc cho chúng sanh thì hành động đó là hành động đã bị ô nhiễm, lời nói đó là lời nói đã bị ô nhiễm, và tư tưởng đó là tư tưởng đã bị ô nhiễm. Tâm không có hai dụng, không phát tâm bồ đề (giác ngộ) tức là phát tâm chúng sanh. Tâm chúng sanh không phát thiện thì phát ác.
Thí dụ trong một phòng tối, ta bật đèn lên. Khi đèn cháy sáng, lập tức bóng tối biến mất, không thể có cảnh nửa tối nửa sáng, hoặc vừa tối vừa sáng. Cũng như thế, trong một niệm, không thể có vừa thiện vừa ác, hoặc vừa không thiện vừa không ác. Tâm Thanh Tịnh ví như ánh sáng đèn; khi đèn sáng thì ánh sáng không thể bị bóng tối làm nhiễm ô. Người xuất gia, niệm niệm gìn giữ tâm thanh tịnh thì vọng tưởng không thể chen vào. Cho nên Thầy nhắc nhở quý vị cố gắng gìn giữ tâm cho thanh tịnh, đừng để bị ô nhiễm vì tám gió (lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc).
Có một vị Tăng hỏi Tổ Sư : "Làm thế nào biết sự tu hành có tiến bộ?" Tổ Sư đáp : "Lấy tám gió làm thước đo lường". Mỗi kh vọng tưởng hay phiền não tới, hãy dùng câu niệm Phật để thu nhiếp ý căn, nương vào thần lực của Lục Tự Chân Ngôn Nam Mô A Di Đà Phật mà thanh tịnh hóa ba nghiệp. Trong tâm thanh tịnh của chư Phật, chư Bồ Tát chỉ có chúng sinh; trong chúng sinh cũng có ta. Hóa độ chúng sinh nghĩa là hóa độ cả ta. Do đó mà không có sự phân biệt giữa ta và người, giữa tâm và cảnh. Tu hành như thế gọi là Tiến Tu Đạo Nghiệp.
Thầy chỉ cho quý vị một phương pháp giản dị để thanh tịnh hóa ba nghiệp, giải trừ ma chướng. Mỗi khi tâm quý vị khởi lên một ý tưởng phiền não hay bất như ý, muốn thưa kiện hay tranh luận; quý vị hãy khoan có hành động và lời nói và hãy quán chiếu như thế này : Phiền não này, sự bất như ý này, sự thưa kiện này, sự tranh luận này có giúp gì cho mục đích giải thoát của mình chăng? Có tăng thêm chút ít phước đức nào cho mình chăng? Nếu sau khi quán chiếu, thấy chúng có lợi cho cứu cánh giải thoát, có tăng thêm phước đức thì quý vị cứ thưa kiện, cứ tranh luận. Nếu thấy chúng không giúp gì cho mục đích giải thoát, không làm tăng thêm phước đức cho mình thì quý vị phải biết ngay là mình đang bị ma chướng của ngũ ấm ma hay phiền não ma sai sử.
Hãy lập tức quay về tâm thanh tịnh của mình, nương theo sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật mà niệm cho đến khi mình thoát khỏi ám chướng của ma. Quý vị hãy thực tập phương pháp quán chiếu này một thời gian cho đến khi thuần thục, như chư Tổ, chư Thánh đã quán chiếu thấy tất cả sự vật ‘Đương Thể Tức Không’. Như thế là Tiến Tu Đạo Nghiệp.
Kết luận cho thời pháp hôm nay, Thầy, một lần nữa, nhắc nhở quý vị hãy giữ gìn giới hạnh của người xuất gia, bởi đó là bước căn bản của đạo nghiệp. Thầy dẫn lời Đức Phật trong Kinh Pháp Cú để quý vị suy ngẫm:
"Mặc áo ca-sa mà không rời bỏ những điều uế trược, không thành thật khắc kỷ, thà chẳng mặc còn hơn". (Câu 9).
"Rời bỏ những điều uế trược, giữ gìn giới luật tinh nghiêm, khắc kỷ và chân thành, người như thế đáng mặc ca-sa".
Mong quý vị tinh tấn trên bước đường Tiến Tu Đạo Nghiệp.
Cùng toàn thể Chư Tăng Ni và quý Phật Tử hiện diện :
Hôm nay là thời Khai Thị đầu tiên của Khóa Hạ năm 2000, Phật Lịch 2544. Thời Đức Phật còn tại thế, Ngài chế ra một hình thức tu tập cho chư Tăng trong giáo đoàn, gọi là An Cư Kiết Hạ. Hàng năm, vào mùa Hạ, chư Tăng từ các nơi trở về tinh xá của Phật để tự mình kiểm điểm kết quả tu chứng và nghe Đức Phật giảng dạy thêm về giáo lý. Ngoài cái hình thức về Sự Tướng là tránh cho chư Tăng tạo nghiệp sát sanh trong mùa mưa, mùa côn trùng sinh trưởng; ba tháng An Cư Kiết Hạ còn là một pháp môn tu tập vi diệu, mà trong thời pháp hôm nay, Thầy sẽ giảng giải cho quý vị hiểu rõ thêm.
Hai câu đầu tiên trong bài An Cư Kiết Hạ như sau :
Vậy thì khoá An Cư Kiết Hạ năm nay, cũng như mọi năm, được tổ chức tại Tùng Lâm cho các Phật tử tại gia và xuất gia, nhất là hàng xuất gia, từ mọi nơi về để học hỏi thêm đạo pháp. Về ý nghĩa an cư thì trong những khoá hạ trước Thầy đã giảng rồi. Đạo Lý An Cư thì Thầy cũng đã khai thị rồi và đã được ghi lại trong tập "Những dòng sữa Mẹ". Quý vị, mỗi người nên có một cuốn, để đọc và học hỏi thêm ý nghĩa của các thời pháp mà Thầy đã khai thị trong các khoá hạ trước.
Hôm nay, Thầy sẽ khai thị đặc biệt về Nghĩa Thú An Cư. Nghĩa là nghĩa lý, Thú là thú hướng. Đây là nói về phần "Sự Lý Dung Thông" của An Cư Kiết Hạ nên gọi là Nghĩa Thú An Cư.
Điểm chính yếu hay nghĩa của An Cư là ở yên hay cũng có nghĩa là an tâm. Như vậy, mục đích của sự tu trì trong thời gian này là luôn luôn giữ cho tâm được an tịnh. Hễ tâm được an rồi, thì mình sẽ thành tựu những gì mình muốn thành tựu được trên đường giải thoát. Sở dĩ chúng sinh quằn quại đau khổ ở cõi trần này, hay có những chúng sinh, tuy không bị quằn quại, nhưng lại bị cái đau khổ dằn vặt từng giờ, từng ngày, là tại đâu? Đó là tại tâm chưa được an. Tâm không an, thì mình cứ lăng xăng chạy theo hết cảnh này đến cảnh khác, hết phiền não này đến phiền não nọ. Có nhiều người suy nghĩ đến tột độ mà vẫn bị trần cảnh bức bách phải suy nghĩ, đến nỗi trở thành điên khùng, cuồng loạn.
Vì vậy, trọng điểm hay lý đạo của An Cư Kiết Hạ chính là làm sao cho người tu có được cái tâm an ổn. Nếu tâm ai được an ổn rồi thì phải tu tập thêm cho đến chỗ không thấy mình cần phải an tâm nữa thì đạo quả mới viên thành. Nếu thấy tâm còn phải an, còn có điều mình chưa rành rẽ, thì còn phải tinh tấn tu tập thêm, còn phải tìm hiểu thêm cái đạo lý bên trong những công việc mà mình làm hàng ngày trong suốt thời gian kiết hạ. Cho đến khi nào quý vị làm công việc nào cũng thấy rằng việc đó là Phật sự và lúc nào mình cũng vui vẻ làm với một cái tâm an ổn; làm mà không thấy mình phải so đo, suy nghĩ, tính toán gì cả.
Lúc đó quý vị mới mong đạt được nghĩa thú thâm sâu của An Cư Kiết Hạ. Đó cũng là ý nghĩa của câu :
Khi ở Tự-Viện hay tại trụ xứ của quý vị, hàng ngày quý vị cũng tu tập đều đặn, nhưng không giống như sự tu tập trong khi nhập Hạ. Trong Khoá Hạ, quý vị luôn luôn giữ tâm được an tịnh để hành trì tu tập cho đúng giờ khắc, đúng sự tướng, đúng từng đường đi nước bước của từng thời khoá tu niệm. Mọi thời, mọi lúc, tâm phải được an trú trong sự an ổn, thanh tịnh. Nhờ vậy, mọi phiền não mới được giải tỏa.
Tháng đầu, quý vị mới được giao phó trách nhiệm trong các Ban Điều Hành, thời khắc, nhân sự chưa quen nên cái tâm làm việc hãy còn lăng xăng, chưa hiểu được lý đạo trong công việc mình đảm nhiệm.
Qua tháng thứ hai, thâm nhập lý đạo, tâm mới bắt đầu an tịnh và đến tháng thứ ba, tâm đã thuần thục thì mới mong được cụ túc viên mãn. Chúng sanh tác Phật lâu lâu thấm nhuần, chính là như vậy.
Trong thời pháp hôm nay, quý vị phải nhất tâm, nhất đức, lắng lòng nghe với tinh thần trừng tâm đế thính, thì lý đạo mới thâm nhập được vào như lai tạng tánh. Quý vị phải nghe bằng cái tánh nghe (của Chân Tâm), thì mới có lợi lạc. Đức Phật dạy : Chân tâm của mình, trong cuộc sống hàng ngày, thỉnh thoảng có lưu lộ ra trong cái Kiến, Văn, Giác, Tri (cái thấy, nghe, hiểu, biết) của mình, nhưng nó vừa mới lưu lộ ra thì lại bị cái "vọng" khỏa lấp đi nên chân tâm không hiển lộ được. Vì vậy, phải có một cái tâm an ổn thì mới trực nhận được sự lưu lộ của chân tâm.
Trong khi nghe lời Thầy nói ở đây, quý vị phải ngồi trong tư thế tọa thiền và chăm chú vào từng câu, từng chữ, gọi là "Cú cú tùng tự tâm lưu xuất, tự tự tùng tự tâm lưu nhập" thì mới hiểu được cái lý đạo cao siêu của nghĩa thú an cư.
Đến đây, Thầy sẽ giảng cho quý vị hai bài kệ của chư Tổ về Nghĩa Thú An Cư như sau :
Cấm túc cửu tuần Tâm hoan lạc,
Sách tấn tu trì chiếm khôi giáp.
Hai bài kệ này nói về nghĩa thú của ba tháng kiết Hạ và về đạo quả mà người tu trì đứng đắn sẽ đạt được sau ba tháng an cư.
Thời Phật còn tại thế, sau ba tháng Hạ, các vị Tỳ Kheo đều đắc A La Hán quả, và từ đó, vị nào giữ được Phật tâm thì nhập được chân nguyên, đạt được quả vị Phật ngay chớ không phải chờ đợi lâu xa gì hết.
Bây giờ, Thầy sẽ giải nghĩa từng câu của bài kệ thứ nhất:
1. - Phật chế An Cư vi diệu pháp.
Người ta thường nói rằng : Vì ba tháng Hạ là thời kỳ sanh sản và trưởng dưỡng của côn trùng nên Phật gọi chư Tăng về tinh xá để chư Tăng bớt tạo sát nghiệp dẫm đạp lên côn trùng; hoặc cũng còn nói : Chư Tăng, sau chín tháng hoằng Pháp khắp nơi, phải trở về tinh xá một thời gian để trau dồi giới đức, thúc liễm thân tâm, kiểm chứng lại kết quả tu trì của mình. Đó cũng chỉ là một lời giải thích theo sự tướng mà thôi. Thật ra, lối giải thích đó chưa phải là ý nghĩa chân thật của Kiết Hạ An Cư.
Phật dạy pháp An Cư thậm thâm vi diệu để sau ba tháng, mỗi vị đều có thể tinh tấn tu trì, đạt được lý Đạo mà thành Phật, thành Bồ Tát. Nếu chúng ta nhận ra cái Nghĩa Thú này thì chắc không còn ai dám thờ ơ hay lãng quên Kiết Hạ, vì đó chính là kết quả tu chứng, hành trì để có thể trở lại nguồn chơn (chân nguyên) của mình.
Suốt trong 3 tháng Hạ, tuy công việc tại Tùng Lâm có chia ra nhiều lãnh vực khác nhau, nhưng nếu quý vị xem những công việc ấy đều là Phật sự, hành trì trong chánh niệm, dù có rửa chén, trồng hoa, niệm Phật, kinh hành v.v... tất cả đều được thực hành một cách nhất tâm, thì cái tâm của mình lúc nào cũng sẽ được yên ổn, tĩnh lặng. Đã nhất tâm thì dù mình có ở chỗ động, tâm mình vẫn tịnh, như Lục Tổ đã nói : "Khi Tâm đã tịnh, thì dù giữa chốn ba quân, mình cũng vẫn Tịnh". Chẳng cần phải đi tìm một chỗ hoàn toàn yên tĩnh, chung quanh không có bóng người hay tiếng động, Tâm mới tịnh được.
Trong ba tháng Hạ, quý vị phải đặc biệt chú ý đến chữ an; lúc nào cũng giữ chánh niệm trong những công việc mình làm, đừng để bất cứ một phiền não gì dấy khởi lên. Phiền não đó là cái gì? Đó là lòng tham lam, giận dữ và si mê. Cũng đừng để những vọng tình thế gian là hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục chen vào tâm mình. Quý vị phải luôn luôn tỉnh thức, đề phòng sự xâm lấn của vọng tình. Tỉnh thức là giác, mà tâm giác là tâm Phật. Nếu một lúc nào đó, vọng tình khởi lên thì tâm giác sẽ giúp mình nhận diện được nó ngay, đồng thời cũng giúp mình quán sát nó để có thể tránh được nó mà trở về với cái tâm yên ổn. Xúc cảnh mà không sanh tâm (vọng tưởng) thì gọi là an.
Đức Phật cũng chế ra những hình tướng trong khi hành trì Kiết Hạ như kiết giới, tác bạch, chỉ bày nội tướng, ngoại tướng v.v...Đó chỉ là phương tiện bên ngoài. Lý đạo bên trong những hình tướng đó nằm trong cái pháp thậm thâm vi diệu với mục đích làm cho tâm được yên. Khi Tâm đã yên rồi thì con đường giải thoát sẽ thênh thang, không còn rắc rối gì nữa.
Thầy muốn nhắc nhở quý vị nên cố gắng chỉ sống với cái tâm Phật, cố gắng lìa những vọng tri, vọng kiến, thì sau ba tháng, chắc chắn quý vị sẽ đạt được đạo quả. Cái vi tế trong Lý Đạo An Cư là "chúng sanh tác Phật". Phật cũng từ chúng sanh mà thành. Các bậc thượng căn, thượng trí thì chỉ cần nghe một câu, làm một việc, là "hoát nhiên ngộ đạo", nhưng đại chúng ở đây, có vị thuộc hàng trung căn trung trí nhưng phần lớn thuộc hàng hạ căn, hạ trí nên phải kiên nhẫn mà tu tập và phải tu tập bằng cách giữ gìn lục căn thanh tịnh. Lục căn có thanh tịnh thì mới thâm nhập được cái vi diệu của Pháp An Tâm hay Pháp An Cư. Đó là ý nghĩa của câu "Chúng sanh tác Phật lâu lâu thấm nhuần" trong bài Sám An Cư mà quý vị tụng hàng ngày.
2. - Kiết Hạ tam kỳ đăng bửu tháp
Tam kỳ ở đây là chỉ cho thời kỳ đầu, thời kỳ giữa và thời kỳ cuối hay nói cách khác là tháng đầu, tháng thứ hai và tháng thứ ba Kiết Hạ. Bửu tháp ở đây cũng đồng nghĩa với chữ tháp Đa Bảo trong Kinh Pháp Hoa, tức là cái tháp chứa đựng nhiều của báu.
Ngày xưa, tháp được xây dựng để chứa đựng xá lợi của chư Phật và chư Đại Bồ Tát. Bửu tháp ở đây dụ cho cái sáng suốt của Phật tâm trong chúng ta. Mặc dầu, chúng ta sẵn có cái tâm quý báu như ngọc Ma Ni, nhưng vì không biết sử dụng hay không biết giữ gìn cho nó luôn luôn sáng, nên không đáng được để trong bửu tháp. Trong ba tháng Hạ, chúng ta phải tu tập thế nào để mỗi ngày tâm được trong sáng mà lên bửu tháp. Đôi khi, người ta thường dùng ngôi chùa (thay vì dùng bửu tháp) để nói lên giá trị của trạng thái an nhiên tự tại của tâm Phật. Người ta dùng hình ảnh của ngôi chùa để nói lên cái giá trị quý báu đó vì trong chùa có ngôi Tam Bảo.
Theo lý, trong con người chúng ta, ai ai cũng có đầy đủ tam bảo : Phật Bảo là tánh giác ngộ, sáng suốt mình sẵn có. Pháp Bảo là tánh bình đẳng, lợi tha mình sẵn có và Tăng Bảo là tánh thanh tịnh, nhu nhuyến, hòa hợp mình cũng sẵn có. Đức Phật luôn luôn nhắc nhở cho mọi người biết là mình sẵn có tất cả cái thanh tịnh quý báu đó.
3. - Cửu tuần cấm túc tâm hoan lạc
Trong chín tuần cấm túc, quý vị phải cố gắng xa lánh những chuyện thế gian, phải xa lánh bà con, thân thuộc, xa lánh những vọng tình có thể đem phiền não đến cho mình, nhất tâm làm Phật sự, tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền v.v...để giữ cho tâm thanh tịnh, luôn luôn sống với cái tâm Phật an nhiên tự tại của mình thì quý vị sẽ có một niềm hoan lạc mà quý vị không thể có trong một hoàn cảnh hay nơi chốn nào khác. Đó cũng là ý nghĩa của bài Sám mà quý vị đọc tụng hàng ngày :
4 - Sách tấn tu trì chiếm khôi giáp.
Trong khi tu trì, mình phải sống cùng đại chúng, tu cùng đại chúng, làm việc cùng đại chúng. Quý vị phải khai triển tinh thần lục hòa mà Phật đã chế ra cho Tăng đoàn của Ngài. Quý vị phải gìn giữ và cư xử với nhau một cách hòa nhã. "Chúng đức như hải" nghĩa là công đức của chúng đối với mình rộng lớn như biển cả. Phải luôn luôn coi các bạn đồng tu là các bậc thiện trí thức của mình. Phải có tinh thần học hỏi lẫn nhau, khuyên bảo lẫn nhau, khuyến khích lẫn nhau cùng hướng thượng trên đường giác ngộ. Tất nhiên quý vị đều có hy vọng thấy tên mình ghi trên bảng vàng đắc đạo. Đó là chiếm được khôi giáp.
Quý vị đọc những câu Sám An Cư này hàng ngày, Thầy mong quý vị thâm thấu và tinh tấn tu trì cho tròn giống trí và cùng bước lên tòa sen.
Sang đến bài kệ thứ hai :
1 - Nhất nguyệt diệt thô ngộ quả tiên.
Trong tháng thứ nhất, nếu quý vị giữ được sự tu trì đứng đắn và chuyên cần, quý vị sẽ diệt được các nghiệp thô phù, nghĩa là diệt được những mê mờ về kiến hoặc, tức là về sự. Không còn mê mờ về sự nữa là quý vị đạt được sơ quả trong hàng thánh tức là quả vị Tu Đà Hoàn. Thế nào là nghiệp thô phù hay là mê mờ về sự? Nếu quý vị không nhìn thấy những công việc mình làm hàng ngày đều là Phật sự hay nếu quý vị làm bằng cái tâm lăng xăng, so đo hơn thiệt, thì quý vị chưa dứt được phiền não. Chỉ khi nào quý vị thực hành công tác với một cái tâm tỉnh thức, an nhiên, làm việc gì ra việc đó một cách đúng đắn thì cái thấy của quý vị mới được gọi là chánh kiến, mới diệt được kiến hoặc. Diệt được kiến hoặc là đắc được quả Tu Đà Hoàn.
2 - Nhị nguyệt tẩy phiền chứng đạo hiền.
Sang đến tháng thứ hai, hãy cố gắng diệt tư hoặc hay giải tỏa những mê mờ về lý. Làm thế nào cho mọi phiền não thế gian không còn sanh khởi nữa. Luôn luôn gìn giữ cái tâm Phật bằng các Pháp vị như tụng kinh, niệm Phật, tham thiền v.v... Phiền não thế gian mà diệt được hết thì quý vị sẽ đắc được đạo quả Tư Đà Hàm hay là Nhất Lai. Chỉ cần tái sanh một lần nữa thôi là đắc quả giải thoát, A La Hớn.
3 - Tam nguyệt đoạn trần đăng Thánh Vị.
Trần ở đây là nói đến trần sa hoặc, nghĩa là những mê lầm nhỏ nhưng dày đặc như cát, bụi. Tu đến tháng thứ ba này, quý vị đã thuần thục, phiền não đã diệt và sẵn sàng bước vào Thánh vị A Na Hàm hay A La Hớn. Còn bao nhiêu mê lầm nhỏ thì trong tháng này phải rũ bỏ cho hết, đạt được tâm an nhiên tự tại và hiểu rõ ràng, tường tận về nhân quả, nghiệp báo. Quý vị đắc được quả A La Hớn thì không còn phải tái sanh trong cõi ngũ trược ác thế này nữa. Nếu có tái sanh thì đó cũng do nguyện lực để độ chúng sanh mà thôi.
4 - Vô minh trừ tận nhập chân nguyên.
Khi quý vị không còn phiền não, không còn bị lôi cuốn theo những vọng tình thế gian, hiểu rõ tất cả lý và sự về nhân quả và nghiệp báo thì chắc chắn quý vị sẽ thể nhập được cái chân tánh sáng suốt sẵn có của mình. Chỉ cần tu trì đúng mức trong ba tháng Hạ là đắc quả viên mãn, hiện đời thành Phật.
Vì cái Pháp An Cư của Đức Phật vi diệu như thế nên từ năm 1976, khi ra nước ngoài, riêng thầy chưa từng dám lơ là, giải đãi trong vấn đề tổ chức Kiết Hạ cho quý Tăng Ni và Phật tử cùng tu. An Cư Kiết Hạ thuần thục rồi thì tòa sen đó, thầy mời quý vị cùng thầy bước lên.
Thầy xin tóm tắt lại bài Pháp vi diệu "Nghĩa Thú An Cư". Thật ra, cái vi diệu nói ở đây chỉ là làm sao giữ cho được cái tâm bình thường, an nhiên tự tại trong mọi hoạt động hàng ngày. Hoạt động nào cũng là công phu hành trì Phật pháp. Lặt rau, cuốc đất, rửa chén, quét nhà, niệm Phật, kinh hành, tọa thiền đều là Phật sự và đều phải được thực hành với cái tâm tỉnh thức, an nhiên tự tại. Sống trong chúng, tuy đông người, mà không thấy có Ta có người, không thấy năng mà cũng không thấy sở; mọi thời, mọi lúc chỉ biết hướng về nguồn chơn mà mình sẵn có. Sự tu tập không nên căng thẳng như dây đờn quá căng hay giải đãi, buông lung như dây đờn quá chùng.
Không cần phải có những hành động mới lạ, xuất chúng mà chỉ cần giữ cho tâm được bình thường. Cái "bình thường" mà Phật dạy trong Kinh: "Tâm bình thường là đắc đạo"
Thầy mong toàn thể quý vị lưu tâm tối đa.
Cùng toàn thể Tăng Ni và quý vị Phật Tử thân mến:
Mục đích của chúng ta, những người tu hành và tu Phật tại gia, là nương theo giáo pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni để tìm một con đường giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi trong thế giới Ta Bà đầy khổ đau và uế trược này, hoặc trong khi còn phải mang cái thân ngũ uẩn, cũng có thể sống một cách cao thượng và thánh thiện, gột bỏ được những phiền não xâu xé, dày vò chúng ta từng giờ, từng phút.
Trong thời pháp khai thị hôm nay, Thầy sẽ nói rõ cho quý vị, nhất là với Tăng Ni, con đường nào là con đường dẫn chúng ta đi vào sanh tử luân hồi, trôi lăn trong sông mê bể khổ; con đường nào là con đường dẫn dắt chúng ta đến các quả vị Thánh, thoát khỏi vòng luân chuyển của lục đạo nan đương.
Có hai con đường, hay nói cho đúng hơn, có hai cách sống để quý vị lựa chọn :
Cách sống thứ nhất:Là sống bằng Thức hay sống với Thức. Đó là cách quý vị đang sống; Cách sống này là cách sống tầm thường của hạng phàm phu. Cách sống này chắc chắn sẽ hướng dẫn quý vị tiếp tục tạo nghiệp, để rồi khi từ bỏ cái báo thân này, sẽ lại bị nghiệp dẫn trở lại lặn lội trong sáu nẻo luân hồi.
Cách sống thứ hai:Là sống bằng trí hay sống với Trí. Sống theo cách này, quý vị sẽ dứt bỏ được mọi phiền não trong đời sống hiện tại, gieo trồng chủng tử cho quả vị Thánh, Phật và rốt ráo, sẽ giúp quý vị giải thoát sanh tử, đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác. Cách sống này là con đường chư Phật, chư Bồ Tát đã lựa chọn, đã thực hành, đã chứng, và đã đạt được mục đích tối hậu : Thành Phật, thành Bồ Tát, ra khỏi vòng Sanh Diệt.
Do đó, hôm nay Thầy sẽ giảng về hai chữ Thức (Vijnàna) và Trí (PrajĐàna ca), để quý vị tùy nghi ứng dụng trong mục đích tiến tu đạo nghiệp. Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm. Quý vị hãy tự mình lựa chọn, tự mình tu hành, không ai có thể sống giùm hay tu giùm cho quý vị. Vậy Thức và Trí là gì? Trí và Thức là một hay là hai? Trí và Thức từ đâu mà có ?
Giải thích một cách đơn giản, Trí và Thức đều chỉ cho cái ‘khả năng hiểu biết và phân biệt’ của mọi loài chúng sanh hữu tình. Thực ra, Trí và Thức chỉ là một. Nếu cần phải thí dụ cho dễ hiểu hơn thì Trí được ví như nước, và Thức được ví như Sóng. Con mắt phàm phu thì thấy có hai, vì nước có tướng yên tĩnh lặng lẽ và sóng thì chuyển động, ồn ào. Nhưng cả hai đều có một thể tánh giống nhau. Đó là Tánh ƯỚT. Nước cũng ướt mà sóng cũng ướt. Ướt vì nước hay ướt vì sóng cũng chỉ là ướt, không có gì khác nhau, nên nói nước và sóng chỉ là một. Lìa nước không có sóng và ngược lại, lìa sóng cũng không có nước.
Như vậy, tại sao lại có phân biệt giữa Thức và Trí? Bởi vì có Thánh có Phàm nên có phân biệt. Chư Phật, chư Bồ Tát dùng sự hiểu biết của mình để thương xót chúng sanh, đang chịu luân hồi lục đạo nan đương, không biết tìm đường nào ra khỏi, nên các Ngài thị hiện để cứu vớt, giáo hóa chúng sanh. Các Ngài làm việc gì, nói lời gì, cũng vì lợi ích cho chúng sanh, hướng dẫn chúng sanh sống một cuộc sống có hạnh phúc chơn thật, sống một cuộc đời thánh thiện. Do đó mà nói là hàng Thánh giả sống với sự hiểu biết của trí tuệ.
Kẻ phàm phu dùng sự hiểu biết của mình để so đo hơn thiệt, để thương, để ghét, để ganh tỵ, làm việc gì, nói lời gì cũng chỉ muốn lợi ích riêng cho mình, thậm chí còn sanh tâm ác độc muốn hại sinh mạng của chúng sanh khác để thỏa mãn dục vọng thấp hèn của mình; chỉ bo bo ôm lấy cuộc đời nay vui mai khổ mà cho là chơn thật, hạnh phúc; từng giây, từng phút, tạo không biết bao nhiêu ác nghiệp. Sống như vậy thì khi nào thành Thánh được? Do đó mà nói hạng phàm phu sống với thức.
Trong Kinh Văn, thức được định nghĩa là ‘Minh liễu phân biệt’, nghĩa là sự hiểu biết có khả năng phân biệt rõ ràng, rốt ráo mọi sự mọi vật, nhưng vì vô minh mà khả năng phân biệt rốt ráo đó bị che lấp đi nên con người phàm phu của chúng sanh chỉ có thể nhìn thấy những sự vật trong cái giả tướng giả danh của nó, rồi cho rằng cái giả tướng giả danh đó là thật.
Nói cách khác,thức chỉ có thể nhận thức được những hiện tượng hiện hữu trong thế gian (pháp hữu lậu). Thức cũng có khả năng hướng dẫn con người thực hiện những phát minh vĩ đại về khoa học và kỹ thuật như kỹ thuật khám phá không gian như chế tạo phi thuyền Liên Hành Tinh, khoa học kỹ thuật về thông tin như Kỹ Thuật Điện Toán tinh vi, kỹ thuật phân tách sự cấu tạo của vật chất trong vũ trụ v.v... Những khám phá đó, dưới lăng kính Phật giáo, chỉ là những kiến thức hữu lậu, nghĩa là còn nằm trong phạm trù của sanh diệt. Những khám phá hay văn minh khoa học kỹ thuật, cơ khí, dù có tiến bộ vĩ đại tới mức nào cũng chỉ nhằm mục đích vị kỷ, phục vụ cho dục vọng vật chất thấp hèn của con người mà không biết rằng con người, ngoài phần vật chất còn có phần tâm linh và chính phần tâm linh mới là chủ tể của những hành động, những cảm thọ và tư tưởng của con người.
Cũng vì cái mục đích vị kỷ đó mà thức, không những đã không thể đem đến cho con người một đời sống thánh thiện, cao thượng trong tinh thần đại từ đại bi, biết tôn trọng sự sống của các loài chúng sanh hữu tình khác như động vật, hoặc của các loài chúng sanh vô tình như thực vật hay khoáng vật; mà nhiều khi còn là động lực phát khởi lòng tham dục của con người, là nguồn gốc của những cuộc chiến tranh sát hại nhân loại và môi sinh thiên nhiên.
Trong đời sống con người, thức có thể làm cho con người trở nên các nhà thông thái, đại trí thức nhưng cũng có thể biến các nhà đại trí thức đó thành ác quỷ. Thức có khả năng xúi giục con người hành động tàn ác nhứt, vì Thức là Quả của Nhân Vô Minh và Hành trong lý Thập Nhị Nhân Duyên.
Con người, nếu chỉ biết sống bằng thức hay sống với thức sẽ không có hy vọng gì chuyển được cái nghiệp đã tạo từ nhiều đời nhiều kiếp để tiến tới giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Dù đã biết rằng Thức sẽ xô đẩy chúng ta vào những trạng huống đáng sợ như vậy mà mấy ai trong chúng ta đủ hiểu biết rời bỏ cái Thức? Thầy sẽ triển khai thêm những tai hại của Thức trong đời sống tu hành của quý vị khi giảng tới Tám Thức của chúng sanh hữu tình trong phần sau.
Trí hay nói cho đủ là trí tuệ (PrajĐàna) được nhà Phật định nghĩa là ‘Giác Ngộ Trí Năng’ nghĩa là sự hiểu biết sáng suốt (không còn một mảy mê mờ) của năng lực trí tuệ. Muốn bước vào địa hạt tâm linh hay địa hạt của thế giới vô hình (cõi Vô Sắc) hay cao hơn nữa là vào cảnh giới xuất thế gian (trạng thái Niết Bàn, Vô Sanh), con người phải biết sử dụng đến tận mức khả năng của trí tuệ (Ba La Mật). Chư Tổ Sư đạt được Đạo, Chư Bồ Tát, chư Phật phát được đại nguyện độ tận chúng sanh cũng do phát triển được tận mức năng lực trí tuệ.
Trong pháp tu Lục Độ, Trí Tuệ Ba La Mật là pháp môn cuối cùng phải vượt qua để bước lên quả vị Bồ Tát. Quý vị Tăng Ni và Phật tử thọ giới Bồ Tát, không có nghĩa là quý vị có thể trở thành Bồ Tát. Đó chỉ là sự hứa nguyện sẽ thực hiện các hạnh Bồ Tát để gieo nhân giải thoát mà thôi, bởi vì quý vị còn thiếu trí tuệ của Bồ Tát. Phát huy được Trí Tuệ Ba La Mật để bước lên quả vị Bồ Tát còn tùy thuộc vào công năng tu tập hàng phút, hàng giờ, hàng ngày, nghĩa là quý vị phải đem cái trí tuệ vào trong cách sống của quý vị trong từng sát na. Trong khi thức là sự hiểu biết hữu lậu thì trí tuệ được coi là sự hiểu biết vô lậu. Chỉ có cách sống bằng trí tuệ vô lậu mới có khả năng đưa chúng ta ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Thức do đâu mà có, và chúng sanh hữu tình có mấy thức?
Sau khi tọa thiền dưới cội Bồ Đề 49 ngày, Ngài chứng được Nhất Thiết Trí, biết được luật Nhân Quả và Lý Thập Nhị Nhân Duyên của nhân sanh và vũ trụ.
Giáo lý nhà Phật nói rất rõ ràng:Không có một sự vật nào trong thế gian này lại ngẫu nhiên hay tự nhiên mà có. Cũng không có một nhân vật thần linh siêu thế nào tạo tác ra các hiện tượng (pháp). Các pháp dầu hữu hình hay vô hình, dầu to lớn như sơn hà đại địa hay nhỏ như lân hư trần đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra. Con người và những gì liên quan đến con người (phần vật chất và phần tinh thần) cũng không ngoài cái luật thiên nhiên đó. Thập Nhị Nhân Duyên là 12 nhân duyên như sau
1) Vô minh. 2) Hành. 3) Thức. 4) Danh sắc. 5) Lục Nhập. 6) Xúc. 7) Thọ. 8) Ái. 9) Thủ. 10) Hữu. 11) Sanh và 12) Lão tử.
Như quý vị đã thấy thức là nhân duyên sanh ra ba trong chuỗi 12 Nhân Duyên. Chuỗi 12 nhân duyên ví như một sợi dây xích có 12 mắt xích.
Mắt thứ nhất là nhân để hòa hợp với các điều kiện cần thiết (Duyên) mà sanh ra mắt thứ hai, nên nói mắt thứ hai là Quả (kết quả của sự hòa hợp của nhân và duyên).
Mắt thứ hai lại là nhân cho quả ở mắt thứ ba và cứ như thế... Luật Nhân Quả và Nhân Duyên vận hành tuần tự cho đến mắt xích thứ 12; rồi nếu con người không tự giải phóng mình ra khỏi vòng sanh tử luân hồi thì Thập Nhị Nhân Duyên lại bắt đầu chu kỳ tạo tác mới của loài hữu tình.
Thức là Quả của mắt xích Vô Minh và Hành nên khi thức được sanh, trong thức đã có chủng tử (Nhân) của Vô Minh. Vô Minh là sự tối tăm mờ mịt, mê muội nên Thức (nghiệp thức) lại dẫn con người tiếp tục tạo nghiệp bằng thân, miệng và ý trong cuộc đời hiện hữu, để khi rời bỏ cái báo thân hiện tại, lại bị nghiệp dẫn dắt trở về luân chuyển trong sáu nẻo luân hồi. Vì thức là quả của cái nhân hữu lậu nên thức không thể đưa con người ra khỏi luân hồi. Muốn ra khỏi luân hồi, thì thức hữu lậu phải được chuyển thành thức vô lậu. Khi Thức đã trở thành vô lậu thì không còn được gọi là thức mà được gọi là trí tuệ vô lậu. Thầy sẽ nói rõ hơn về cách chuyển từ thức hữu lậu thành trí vô lậu trong phần sau.
Thức có mấy thứ ? Trong Duy Thức Học, Bồ Tát Thế Thân đã phân tách rồi đúc kết thành 8 Thức, gồm có :
1) Nhãn Thức, là sự hiểu biết của mắt.
2) Nhĩ Thức, là sự hiểu biết của tai.
3) Tỷ Thức, là sự hiểu biết của mũi.
4) Thiệt Thức, là sự hiểu biết của lưỡi.
5) Thân Thức, là sự hiểu biết của thân.
6) Ý Thức, là sự hiểu biết của ý.
7) Mạt Na Thức, là sự hiểu biết của thức mạt na.
8) A lại Da Thức hay Tàng Thức, là sự hiểu biết của thức A lại Da.
Năm thức đầu, Duy Thức Học gọi là tiền ngũ thức, (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, và Thân) nương vào 5 giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, làm căn cứ phát sanh sự hiểu biết, nên những giác quan này được gọi là Căn. Những căn này vì hiển hiện ra ngoài nên Duy Thức Học gọi là Phù Trần Căn.
Ba Thức sau, Ý, Mạt Na và A Lại Da không có hình tướng làm Căn. Theo Duy Thức Học, thì thức thứ sáu (Ý thức) nương theo thức thứ bảy (Mạt Na thức) làm Căn, nên Mạt Na thức còn được gọi là Ý Căn.
Thức thứ bảy (Mạt Na Thức) lại dùng kiến phần (sự hiểu biết) của thức thứ tám (A Lại Da) làm căn để chấp Ngã, chấp Pháp.
Thức thứ tám (A Lại Da thức) được người Trung Hoa dịch là Tạng Thức hay Tàng Thức, nghĩa là cái kho để chứa nhóm những chủng tử do Mạt Na Thức (còn gọi là Truyền Tống Thức) huân tập vào. Người ta ví A Lại Da thức như một ông chủ, vì thức này giữ quyền thâu vào và phát ra những chủng tử của 7 thức trước.
Trong Thập Nhị Nhân Duyên, Thức là nhân và duyên của Danh Sắc (mắt xích thứ tư). Danh là phần tinh thần hay cũng gọi là tâm. Cũng như thức, tâm là ‘cái hiểu biết phân biệt’ của con người. Tâm chỉ có tên, nên gọi là danh. Tâm không có hình tướng dài, ngắn, vuông, tròn hay màu sắc xanh, đỏ, trắng, vàng, nên không thể dùng mắt mà ‘thấy’ được tâm, không thể dùng tai mà ‘nghe’ được tâm, cũng không thể dùng chân tay mà rờ đụng được tâm; chỉ thấy cái tác dụng của nó nên biết có tâm. Vì các thức cũng là ‘cái hiểu biết phân biệt’ như tâm nên Duy Thức Học gọi tám thức này là Bát Thức Tâm Vương. Đức Phật dạy : Vì tám thức này mà sanh ra vạn Pháp (Kinh văn : Tam giới duy Tâm, Vạn Pháp duy Thức), nên gọi tám thức này là Vương (Vua). Thức còn được gọi là vọng tâm vì chỉ hiểu biết những chuyện không thiệt.
Để nói lên cái công dụng của tám thức, Duy Thức Học có một bài kệ như sau :
Thầy tạm dịch xuôi nghĩa bài kệ này trước, và sẽ giảng từng câu trong bài kệ sau :
Bây giờ, Thầy sẽ giảng từng câu :
Câu thứ nhất : ‘Trong tám anh em có một người u mê nhất’.
Tám anh em là nói tới tám thức. Một người u mê nhất, là để chỉ thức thứ bảy, Mạt Na Thức. Tại sao lại là u mê nhất? Bởi vì cái hiểu biết của thức này không có môn gì khác hơn là chấp ngã. Bất cứ chuyện gì tới, thức này cũng nhận đó là ta, của ta rồi đưa vào (truyền tống) A-Lại-Da Thức để tàng trữ, không cần suy luận gì hơn, hay nếu có suy luận thì cũng chỉ suy nghĩ làm sao cho có lợi cho mình (Ta) mà thôi. Vì chỉ biết một chiều, bất cần tới người khác nên rất mê muội mà chẳng biết phải trái, miễn sao có lợi cho mình là nó giữ chặt lấy để cho đó là mình. Thức này là gốc của 4 căn bản phiền não : ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái.
Ngã si là tự mình mê muội mà không biết nhường nhịn, phải quấy. Chính vì sự mê muội này mà chúng ta tạo nghiệp và bị dẫn dắt vào sanh tử luân hồi.
Ngã kiến là chấp chặt, bảo thủ ý kiến của mình mới là đúng, mới là hay hơn hết. Sự cố chấp này dễ dàng đưa chúng ta tới những chuyện tranh cãi không có lối thoát, nếu tất cả mọi người đều chấp chặt ý kiến của mình. Ngã kiến là một chướng ngại rất khó vượt qua và cản trở bước đường học hành, tiến tu đạo nghiệp.
Ngã mạn là sự kiêu căng, tự đắc, ganh ghét với mọi người chung quanh và luôn luôn cho rằng không ai bằng mình, không ai đáng để cho mình học hỏi. Ngã mạn sẽ sinh lòng tham lam và là nguồn gốc cho những tranh đoan trong đạo tràng, trong xã hội, trong quốc gia và trong cộng đồng quốc tế và là động lực gây nên những cuộc chiến tranh sát hại sinh linh.
Ngã ái là chấp cái thân này là thiệt nên lúc nào cũng thương mến nó, cho nó là thường còn và sanh ra tham luyến thân này, đời này. Không lúc nào là không lo lắng cho cái thân này được đầy đủ những cái nó muốn, thỏa mãn những cái nó đòi, không cần phân biệt chơn giả. Để thỏa mãn những đòi hỏi của thân, dù có phải làm những công việc bại hoại, độc ác cũng không từ nan.
Trong tám thức thì Mạt Na Thức, tuy là suy yếu và u mê nhứt (vì chỉ biết suy nghĩ một chiều) nhưng lại gây nên nhiều tai hại nhứt. Vì chúng sanh, như chúng ta, hiện nay từng giờ, từng phút chỉ biết sống với cái ta của Mạt-Na-Thức. Chúng ta tạo nên nghiệp ác, cũng vì bị chi phối, điều khiển bởi thức này. Chừng nào chúng ta chưa chuyển được thức này, ngày đó chúng ta còn tạo thêm nghiệp dữ và luôn luôn bị bao vây bởi phiền não.
Câu thứ hai : ‘Chỉ có một người cực kỳ lanh lợi’ . Câu này chỉ cho Thức thứ sáu, ý thức. Thức này được coi như vị chỉ huy của tiền ngũ thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), vì thức này, ngay khi nhận được tín hiệu ‘sự hiểu biết của tiền ngũ thức’, nó liền suy nghĩ rất lanh lẹ, suy tính rất mau và liền khởi tâm thương ghét, phân biệt hay dở và tác ý hành động. Những hành động thiện lành được thực hiện cũng do thức này tác ý nên Duy Thức Học cho nó là ‘Công vi thủ’, nghĩa có công đầu trong những hành động thiện lành. Nhưng đối với những tính toán để tạo tác những hành động tàn ác, hại người, hại vật cũng lại do thức này phát khởi, nên Duy Thức Học lại kết tội nó là ‘Tội vi khôi’, nghĩa là nếu có hành động ác độc thì thức này cũng là chánh phạm. Vì lấy Mạt Na Thức làm căn cho sự hiểu biết và tác ý nên Thức này cũng chấp ngã để phân biệt mà sanh tâm yêu ghét. Con người, nếu không biết tu tập, sẽ càng ngày càng trở nên bại hoại, càng ngày càng chất chồng đau khổ, phiền não chỉ vì hằng sống với ý thức và Mạt Na thức và để cho hai thức này làm chủ cái tâm của mình.
Câu thứ ba : ‘Năm người trước cửa làm việc mua bán’. Câu này chỉ cho năm thức trước (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân).
Năm thức này lấy năm giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi và thân làm căn cứ để tiếp xúc, giao dịch với cảnh (hay cũng gọi là Trần) bên ngoài thân. Năm thức này chỉ có nhiệm vụ hiểu biết trạng thái của cảnh :
Nhãn thức hiểu biết về hình tướng, màu sắc của cảnh.
Nhĩ thức hiểu biết về âm thanh của cảnh.
Tỷ thức hiểu biết về mùi hương của cảnh.
Thiệt thức hiểu biết về mùi vị của vật khi tiếp xúc với lưỡi.
Thân thức hiểu biết về trạng thái cứng mềm, nóng lạnh v.v...của vật khi đụng chạm với vật.
Mỗi thức có một nhiệm vụ hiểu biết riêng biệt; không thể thay thế cho nhau được. Thí dụ nhãn thức không thể nhìn thấy âm thanh hay ngược lại, nhĩ thức không thể nghe thấy màu sắc. Năm thức trước chỉ có nhiệm vụ hiểu biết đối tượng của nó trong cái sát na có sự tiếp xúc mà không có khả năng phát khởi sự phân biệt thương, ghét, hay, dở như thức thứ sáu (Ý Thức) và thức thứ bảy (Mạt Na Thức). Nhưng ngay sau cái sát na tiếp xúc, thì ý thức đã xen vào và khởi tâm phân biệt, mang theo cái chấp ngã vào trong sự hiểu biết phân biệt đó.
Thí dụ như con mắt vừa tiếp xúc với hai bông hoa, một màu trắng và một màu hồng, ngay trong sát na kế tiếp, ý thức đã can thiệp vào sự hiểu biết của nhãn thức và khởi tâm phân biệt cái hoa màu trắng đẹp hơn cái hoa mầu hồng, rồi đem cái chấp ngã vào sự phân biệt để sanh tâm yêu hoa màu trắng, ghét hoa màu hồng. Sau khi đã có tâm phân biệt yêu hoa màu trắng, liền sanh lòng tham lam, muốn chiếm hữu bông hoa màu trắng và loại bỏ bông hoa màu hồng. Quý vị nhìn thấy một người mà nảy sanh tâm ưa thích, muốn làm bạn; hay sanh tâm ganh ghét, không muốn gặp lại; hoặc nghe lời nói ngon ngọt thì thích, nghe lời nói chê bai thì không ưa, cũng do sự can thiệp của ý thức và mạt na thức chen vào sự hiểu biết của nhãn thức và nhĩ thức.
Câu thứ tư : ‘Trong nhà có một người làm ông chủ’. Câu này để chỉ thức thứ tám, A-Lại-Da thức. Thức này có công dụng thâu nhận những chủng tử của 7 thức trước do Mạt Na Thức chuyển vào, không cần biết thiện ác, xấu tốt, hay dở. Gìn giữ những chủng tử đó và sẽ là những nhân để phát sanh ra những quả theo luật Nhân Quả và lý Nghiệp Báo. Thức này được ví như ông chủ, có nhiệm vụ bảo vệ tài sản. Cái gì đưa cho ông, Ông cũng nhận hết và không bao giờ biết chán vì cái kho của ông không bao giờ hết chỗ chứa. Sự chứa đựng này (Duy Thức Học gọi là Tích tập của A-Lại-Da Thức hay Tạng Thức ) có 3 nghĩa :
1) Năng tàng : Là công dụng chứa đựng và gìn giữ chủng tử của các pháp.
2) Sở tàng : Là chủng tử của các pháp được chứa đựng trong Tạng thức.
3) Ngã ái chấp tàng : Được gọi tắt là ‘chấp tàng’ vì các chủng tử đều được huân tập vào qua sự truyền tống của Mạt Na Thức. Tàng thức nhận và gìn giữ, nhưng khi cần dùng tới để phân biệt, so sánh thì Mạt Na Thức lại lôi các chủng tử ra để ghép với cái Ngã (Ta) mà sanh luyến ái. Vì vậy nên Duy Thức Học nói, Mạt Na Thức dùng kiến phần của A-Lại-Da Thức làm ngã.
A-Lại-Da Thức giữ vai trò ông chủ vì nó rất quan trọng đến sự luân hồi của chúng sanh hữu tình. Hòa Thượng Hư Vân nói : Trong 8 thức thì A-Lại-Da thức mới đáng gọi là tâm vương vì nó có khả năng tàng trữ và phát khởi ra nghiệp lực để đưa chúng sanh lên cao (Thượng phẩm thượng sanh) hay xuống thấp (đọa vào 3 đường dữ: Súc sanh, Quỷ đói, Địa ngục).
Khi cái thân của chúng ta chết đi, A Lại Da thức sẽ mang các chủng tử, đã được nó tàng trữ, để đi tìm nơi đầu thai. Khi xác thân bắt đầu chết, các thức lần lượt bị hủy diệt cùng các căn. A Lại Da Thức sẽ là thức rời khỏi thân xác vào giờ phút cuối vì nó còn có nhiệm vụ thâu nhận những hành động, tư tưởng tạo nghiệp sau cùng, lúc thần thức lìa khỏi xác. Nhà Phật gọi những hành động, tư tưởng tạo nghiệp sau cùng này là cận tử nghiệp. Cận tử nghiệp đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc huân tập chủng tử lành hay dữ vào A Lại Da thức trước khi nó rời xác để đi tìm nơi đầu thai cho kiếp tới. Cũng vì sự đóng góp quan trọng vào sự tái sanh của cận tử nghiệp, nên Đức Phật A-Di-Đà vì tâm đại từ, đại bi, phát lời đại nguyện sẽ cứu vớt về thế giới Cực Lạc, những chúng sanh nào, trong giờ phút cận tử mà nhất tâm bất loạn, niệm được 10 câu hồng danh của ngài, dù chúng sanh đó còn mang ít nhiều nghiệp dữ. Thuật ngữ Phật giáo gọi là ‘đới Nghiệp vãng sanh’.
Khi đầu thai, thì A-Lại-Da thức (lúc này được coi là nghiệp thức) phải đến trước các thức khác. Không có nghiệp thức thì không có sanh. Nghiệp thức chính là cái mắt xích thứ ba (Thức) trong Thập Nhị Nhân Duyên.
Trong một bài tụng của Ngài Huyền Trang Pháp Sư về công năng của A Lại Da thức trong Duy Thức Học có câu như sau : ‘Khứ hậu, lai tiên, tác chủ ông’, nghĩa là ‘đi sau’ (trong lúc chết); ‘đến trước’ (khi người mẹ thọ thai); làm ông chủ (vì nó có khả năng hường dẫn sự đầu thai tùy theo nghiệp lực).
Duy Thức Học có ghi một bài kệ của Ngài Di Lặc nói về một kinh nghiệm, lúc A Lại Da thức lìa khỏi thân xác, để biết người chết sẽ được thăng lên cõi lành hay đọa xuống đường dữ, như sau :
Dịch nghĩa là :
Đó là những nơi trên cơ thể con người mà A Lại Da sẽ thoát ly thân xác. Sau 12 tiếng đồng hồ, A Lại Da thức rời khỏi từ nơi nào thì nơi ấy còn ấm nóng, trong khi toàn thân đã bị lạnh. Theo bốn câu kệ trên, do nơi chốn A Lại Da thức rời khỏi thân thể mà có thể nghiệm được cõi tái sanh của người vừa chết.
Ý nghĩa của bốn câu kệ là : Nếu A Lại Da thức rời thân thể người vừa chết, tại đỉnh đầu thì người chết sẽ được vãng sanh lên cõi Phật, Thánh. Nếu rời tại mắt thì tái sanh lên cõi Trời. Rời tại tim (thật ra là chỗ thoi thóp, bên phải của tim) thì tái sanh trở lại làm người. Rời tại bụng (rún) thì bị đọa vào đường quỷ đói. Rời tại đầu gối thì tái sanh làm súc sanh. Rời tại gót bàn chân thì đọa vào địa ngục.
Thật ra, bốn câu kệ này được nói lên để quý vị biết mà làm thí nghiệm đối với người thân thuộc thôi; không lợi ích gì cho cách sống hay sự tu hành của quý vị. Nếu quý vị tinh tấn tu hành, tạo nhiều việc thiện lành, lánh xa việc ác, sống bằng trí tuệ giác ngộ thì quý vị có thể yên chí là sẽ được tái sanh lên ba cõi lành : Cõi Thánh, cõi Trời và cõi người. Nếu quý vị tiếp tục mê muội, sống theo những hiểu biết chấp trước của thức mà tạo nghiệp ác, thì chắc chắn sẽ bị đọa vào ba nẻo dữ: súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục.
Trong phần dẫn nhập thời pháp hôm nay, Thầy đã nói Thức và Trí, thấy thì dường như có hai, thực ra chỉ có một. Vì mình là hàng phàm phu nên mới chỉ thấy Thức chớ chưa thấy Trí. Vậy làm thế nào để thấy được Trí ? Và có mấy thứ trí ?
Trí cũng là thức, nhưng là thức của các bậc đã giác ngộ, đã đạt đạo và ở các bậc này, thức được gọi là trí tuệ. Cũng là ‘cái hiểu biết’ nhưng là cái hiểu biết chơn thật; cái hiểu biết có lợi ích cho chúng sanh; cái hiểu biết của bốn tâm vô lượng:Từ, Bi, Hỷ, Xả; cái hiểu biết rộng lớn, bao trùm hư không, không mảy may phân biệt ta và người; cái hiểu biết siêu xuất thế gian.
Ngôn ngữ thế gian muốn nói thế nào, muốn dùng đến số giấy mực nhiều như số cát sông Hằng cũng không đủ để diễn tả hết cái diệu dụng của trí tuệ. Vì vậy, thức thì có thể học được bằng văn tự, bằng sách vở để phát triển sự hiểu biết hữu lậu. Trí tuệ thì không thể học được, mà phải tùy theo mức độ giác ngộ để thấy. Trí tuệ cũng như chân tâm, như Phật tánh v.v... thường hiện hữu trong mỗi chúng sanh, vì thức cũng là trí. Quý vị cũng biết thức là cái hiểu biết hữu lậu, nghĩa là cái hiểu biết không thiệt, luôn luôn mê muội vì bị vô minh che lấp. Hễ gạt bỏ được cái màn vô minh đó thì trí tuệ tự nhiên hiển lộ và chúng ta có thể sống với cái trí đó để trở nên bậc Giác Ngộ, Thánh giả.
Thầy lấy một thí dụ điển hình thế nào là sống với thức và thế nào là sống với trí để quý vị dễ hiểu :
Giả dụ như có một người nào đó, đến trước quý vị nói :’Tôi nghe Bà A nói Cô là người có tính hay nói đâm thọc làm cho người ta cãi nhau’. Quý vị sẽ có những hành động ứng xử như thế nào? Trước hết, quý vị sẽ nổi giận, mặt mày đỏ bừng trở nên khó coi và sẽ hỏi xem Bà A nào đó nói câu đó vào lúc nào? Quý vị sẽ hỏi cho ra cái lý do nào đã khiến Bà A phát ngôn như vậy, và đã nói câu đó với những ai? Quý vị bắt đầu phân trần là quý vị không bao giờ có tánh nói đâm thọc! Quý vị là một người luôn luôn hòa nhã, là một người tốt nhất trên đời này, khó có người nào tốt như quý vị, cái Bà A đó chỉ là hạng người ngu si, đáng khinh bỉ và chính Bà A đó mới là người có tánh nói đâm thọc v.v...! Rồi cả đêm hôm đó, quý vị sẽ không ngủ được vì quý vị cảm thấy phiền não, khó chịu ! Quý vị sẽ moi móc, nói xấu Bà A để trả thù và v.v... Đó là quý vị đã sống với thức, đã để cho ý thức và Mạt Na thức sai khiến; bởi vì cái Ta của quý vị đã bị đụng chạm. Quý vị bị phiền não và nếu quý vị tìm cách trả thù Bà A thì quý vị lại tạo thêm ác nghiệp: Khẩu Nghiệp (nếu nói xấu lại), Ý Nghiệp (nếu mưu tính phương cách trả thù) và Thân Nghiệp (nếu có hành động trả thù). Đã tạo nghiệp thì sẽ bị nghiệp dẫn dắt vào đường luân hồi, làm sao giải thoát sanh tử ? Quý vị tạo nghiệp chỉ vì lúc nào cũng sống với cái thức mê muội của kẻ phàm phu.
Trong cái thí dụ điển hình này, nếu quý vị vẫn tự cho mình là người đang tu hành cầu giải thoát, đã nguyện phát Bồ Đề Tâm thì quý vị nên ứng xử như thế nào?
Trước hết, khi nghe nói như vậy, quý vị phải quay trở về quán xét (phản quang tự kỷ) xem mình quả thật có cái tánh nết đó không? Từ trước đến nay mình có bao giờ nói lời đâm thọc với ai không? Nếu có, thì phải có tâm hổ thẹn (Duy Thức Học gọi là tâm tàm và tâm quý) và phát nguyện sửa đổi. Nếu không, thì quý vị hãy mỉm một nụ cười thoải mái và cảm ơn người đã cho mình biết như vậy rồi không cần có thêm phản ứng gì khác, không giải thích mà cũng không phân trần. Quý vị độ cho những lời nói đó vào ‘Vô dư Niết Bàn’ như Đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh Kim Cang, rồi không bao giờ nghĩ tới nó nữa (dùng tâm xả). Quý Vị vẫn tiếp tục tu hành như không hề nghe thấy câu nói đó. Như vậy là quý vị sống với trí.
Làm sao mà quý vị có thể làm như vậy được ? Bởi vì quý vị đã dụng công tu hành. Trong khi tu hành, quý vị đã thực tập cách quán sát các pháp và hiểu rằng : ‘Vạn pháp giai không’ và ‘Ngũ uẩn phi hữu’. Ngủ uẩn là Ta ! Nếu Ta đã là không rồi thì những lời nói đó là nói với cái có, chớ làm sao nói với cái Không được! Lời nói đó là pháp ! Pháp đã là không thì lời nói đó làm sao gọi là có thiệt được ! Nhờ trí tuệ mà quý vị có được cái hiểu biết như vậy. Vậy thì, trí tuệ hiển lộ được là do công năng tu hành để chuyển cái hiểu biết phàm phu thành cái hiểu biết của bậc Thánh giả, bậc Giác Ngộ.
Đó là Thầy nói đại cương, trong một thí dụ điển hình, về cách ứng xử với thực tại của một người hằng sống theo thức và của một người đang đi trên con đường của các bậc Giác Ngộ, biết sống theo trí tuệ được khai mở. Thầy sẽ trở lại, nói rõ hơn, trong phần chuyển thức thành trí. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu trí có mấy thứ và diệu dụng, công năng của mỗi Trí. Trí có bốn thứ :
1) Thành Sở Tác Trí
2) Diệu Quang Sát Trí
3) Bình Đẳng Tánh Trí
4) Đại Viên Cảnh Trí
Thành Sở Tác Trí là diệu dụng của tiền ngũ thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) có khả năng nhận xét sự vật, hiện tượng đúng như trong cái sát na thức tiếp xúc với cảnh hay với trần, không hề sai lầm.
Thí dụ : Mắt nhìn thấy hoa màu hồng thì biết ngay hoa màu hồng, không lầm lẫn với các màu khác. Mắt không khởi tâm ưa hay tâm ghét vì nhãn thức không có nhiệm vụ và khả năng đó. Trong tiền ngũ thức không có ngã.
Tai nghe tiếng chuông thì biết đó là tiếng chuông không thể lầm lẫn nhận tiếng chuông thành tiếng mõ hay tiếng khánh.
Mũi nhận ra mùi hương thơm của hoa lan, không thể lầm với hương thơm của hoa hồng.
Lưỡi nếm vị ngọt thì liền biết ngọt, không thể lầm lẫn với vị chua.
Thân chạm với vật cứng thì biết ngay vật đó cứng, không thể nhầm lẫn với trạng thái mềm được. Nhận xét, hiểu biết một cách rõ ràng, không nhầm lẫn, như thế gọi là thành (thành tựu). Cái công việc ‘hiểu biết, phân biệt’ đó gọi là Sở Tác.
Tóm lại, Thành Sở Tác Trí là trí tuệ hiểu biết ‘như thị’ trong cái sát na hiện tại, thức tiếp xúc với cảnh, một cách rõ ràng, quyết định (Minh liễu) và không nhầm lẫn (phân biệt). Lúc này những hiểu biết của thành sở tác trí chưa bị ý thức chen vào.
Diệu Quang Sát Trí là diệu dụng của Ý Thức. Ý Thức là thức rất lanh lợi, có khả năng hiểu biết tới tận cùng nguồn gốc phát sanh ra sự vật, hiểu biết được nhân duyên cấu tạo của vạn pháp, hiểu thấu những hoặc (Kiến hoặc, tư hoặc và trần sa hoặc), nhận rõ được sự vận hành và diệu dụng của luật Nhân Quả và nghiệp báo. Nói cách khác, không có sự vật, hiện tượng nào trong vũ trụ mà Diệu Quang Sát Trí không có khả năng quán sát để hiểu biết rõ ràng, nếu nó muốn.
Bình Đẳng Tánh Trí là diệu dụng của Mạt Na Thức, có khả năng nhìn rõ sự bình đẳng giữa các pháp, nhìn rõ tự tánh của mỗi pháp, nhận thức rõ ràng tánh đồng thể giữa các loài chúng sanh hữu tình và vô tình, giữa mê và ngộ, giữa phiền não và bồ đề, giữa thiện và ác, giữa pháp hữu vi và pháp vô vi, hữu lậu và vô lậu, giữa Thánh và Phàm v.v...
Đại Viên Cảnh Trí là diệu dụng của A Lại Da thức, có khả năng dung chứa các pháp mà không bị quải ngại, không bị nhiễm ô, nhận thức được chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh của trạng thái niết bàn mà không sanh tham luyến, phát khởi đại từ bi tâm tới bốn loại sanh (thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh). Xả được các pháp (hữu lậu và vô lậu) để luôn luôn chiếu rọi và rỗng lặng, như tấm gương tròn lớn (đại viên cảnh), dung chứa tất cả mà không giữ lại cái gì, lúc nào cũng trong sáng.
Thật ra công năng và diệu dụng của trí tuệ không thể dùng ngôn ngữ mà diễn tả cho hết được. Những khả năng mà Thầy đề cập tới ở trên chỉ là sơ lược mà thôi vì trí tuệ là Ba La Mật (đã giác ngộ), siêu xuất thế gian, bất khả tư nghì.
Thức là pháp hữu lậu của phàm phu. Muốn tiến lên quả vị Thánh, Phật thì phải dụng công chuyển được cái hiểu biết hữu lậu (còn mê muội) thành cái hiểu biết vô lậu (hết mê mờ).
Vì tám Thức có công năng khác nhau nên muốn chuyển thành trí cũng phải chuyển thành những loại trí có cùng một năng lực và diệu dụng. Thầy cũng đã nói tới cái diệu dụng tương đồng giữa thức và trí trong phần trên. Từ hàng phàm phu chuyển sang trí tuệ của một bậc Giác Ngộ, không phải là công việc một ngày một buổi, tuy có câu ‘Nhất Văn Thiên Ngộ’, nhưng Ngộ rồi thì phải dụng công tu tập để thực hành những điều mình đã ngộ, như thế gọi là ‘Tiệm Tu’.
Tiệm Tu là công năng tu tập. Quý Vị phải thường xuyên thực hành sự quán chiếu thâm sâu như Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát dùng trí tuệ vô lậu, thực hành sự quán chiếu thâm sâu vào năm uẩn mới thấy được cái tánh chân không của năm uẩn mà độ được tất cả mọi khổ nạn. Sau khi quán chiếu được chân Tánh của sự, vật, hiện tượng, bên trong con người của quý vị và bên ngoài liên quan tới con người của quý vị rồi, tức là quý vị đã sử dụng khả năng phân biệt rõ ràng (minh liễu phân biệt) của Thức. Giai đoạn tiếp theo là phải đưa cái hiểu biết rõ ràng của thức lên hàng hiểu biết của trí tuệ với tất cả năng lực và diệu dụng của Trí (Giác Ngộ Trí Năng). Sự quán chiếu và sự chuyển hóa này phải thường xuyên được áp dụng vào các sự việc xảy ra hàng ngày, chung quanh quý vị. Như thế gọi là tu và hành.
Tu không phải là chỉ biết ngồi tụng Kinh, niệm Phật trong mỗi thời khóa. Tu là chuyển cái thức phàm phu thành trí tuệ giác ngộ, từng sát na, từng phút, từng giờ để nó thâm nhập vào tạng thức, thanh tịnh hóa các chủng tử bất thiện đã được huân tập. Khi sự quán chiếu và chuyển hóa đã được thuần thục thì không cần phải dụng công mà các nhận thức, hiểu biết tự động chuyển. Lúc nào trí tuệ cũng hiển lộ, cũng sáng ngời và quý vị trở thành Thánh giả lúc nào cũng không hay nữa. Vậy quý vị phải chuyển như thế nào ?
1. Trước hết là chuyển:tiền ngũ thức thành "Thành Sở Tác Trí".
Quý vị phải hiểu công năng của mỗi thức và sử dụng công năng ấy đúng nhiệm vụ của nó. Thí dụ, quý vị nhìn thấy con cò màu trắng, con quạ màu đen thì biết ngay (trong cái sát na Nhãn thức tiếp xúc với con cò, con quạ) là con cò trắng, con quạ đen; dù có một triệu người nói cò đen, quạ trắng, quý vị cũng không chạy theo ý kiến của người khác. Như thế là cái hiểu biết, cái trí nhận thức của quý vị đã thành tựu với công việc của nhãn thức trong cái sát na hiện tại đó. Nếu quý vị nhìn thấy cò trắng quạ đen, rồi sau đó vì có nhiều người nói quạ trắng, cò đen, quý vị sanh tâm nghi ngờ sự nhận thức của mắt mình không biết có đúng hay không, rồi lại theo ý kiến của người khác, thì công việc nhận thức của nhãn thức trong cái sát na hiện tại chưa được thành tựu.
Thành Sở Tác Trí là nhìn cò trắng là cò trắng, quạ đen là quạ đen; nghe tiếng chuông là tiếng chuông, tiếng mõ là tiếng mõ; ngửi thấy hương thơm của hoa lan là hương thơm hoa lan, hương thơm hoa hồng là hương thơm hoa hồng; nếm vị ngọt của mía là vị ngọt của mía, vị ngọt của cam là vị ngọt của cam; chạm vật cứng thì biết đúng là vật cứng, chạm vật mềm thì biết là mềm; mới gọi là Thành Sở Tác Trí.
2. Kế đến chuyển thức thứ sáu:ý thức thành ‘Diệu Quan Sát Trí’ .
Diệu Quan Sát, nghĩa là sự quan sát vi diệu các sự vật. Vi diệu là để chỉ cho tánh chất hướng thượng, hướng thiện, hướng xuất thế gian, hướng thành tựu lâu dài, hướng lợi ích những người chung quanh v.v...
Nếu quý vị dùng sự quan sát, sự hiểu biết vào những việc làm có mục đích vị kỷ, thấp hèn, đi xuống, chỉ lo cho cái ngã nhỏ bé của mình thì sự quán sát và nhận thức này không đáng gọi là vi diệu và cũng không xứng đáng được gọi là trí tuệ.
Người đời gọi cái trí hướng về mục đích mưu cầu lợi lạc cho riêng mình, hướng về những ganh đua hơn thiệt, thấp hèn, là trí khôn phàm phu.
Trí khôn phàm phu thì không phải chỉ loài người mới có. Loài súc sanh như chó, mèo, ngựa, heo, khỉ v.v... cũng được coi là những loài có trí khôn phàm phu.
Nếu quý vị dùng cái sự hiểu biết của ý thức mà quán sát nguồn gốc của phiền não, nguồn gốc mọi đau khổ của chúng sanh, nhìn rõ sự mê lầm do kiến hoặc, Tư hoặc, hiểu biết các pháp thiện và bất thiện, rồi ứng dụng những hiểu biết đó vào sự tu hành của mình, lần lần bỏ pháp ác, từ thô đến tế, phát triển các pháp lành là quý vị đã chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quan Sát Trí của bậc Thánh hay bậc Giác Ngộ.
2. Giai đoạn thứ ba là chuyển:thức chấp ngã
là Mạt Na Thức thành "Bình Đẳng Tánh Trí".
Thức Mạt Na này còn được ý thức dùng làm căn nên sự liên quan giữa thức thứ sáu và thức thứ bảy rất chặt chẽ. Khả năng hiểu biết cũng gần giống nhau. Nhưng Mạt Na Thức thì luôn luôn chấp chặt lấy cái Ta nhỏ bé. Cái gì cũng có Ta trong đó và cái gì liên quan đến Ta đều là thiệt, cái gì liên quan đến người đều là giả. Muốn chuyển thành một cái trí tuệ bình đẳng thì phải nhờ tới sự quan sát vi diệu của Diệu Quan Sát Trí để thấy rằng của người cũng hay, cũng tốt như của Ta.
Quý vị đang sống trong thế giới hiện tượng, nghĩa là chung quanh quý vị còn có vô lượng hiện tượng hoặc hữu tình như người, động vật, hoặc vô tình như thực vật và khoáng vật. Những hiện tượng này sanh ra bởi nhân duyên hòa hợp theo luật thiên nhiên hay theo luật nhân quả nghiệp báo. Nói thực tế hơn là liên quan đến sự tu hành của quý vị. Để quý vị dễ hiểu là nói về loài người và loài động vật (bò, bay, máy, cựa), được gọi chung là chúng sinh hữu tình. Những loài này do vì bị nghiệp dẫn dắt nên có mặt trong cái thế giới hiện tượng này và đều mang một sứ mạng phải hoàn tất trong cái báo thân này. Cũng như quý vị đến trong đời này, mang theo một sứ mạng là để thọ dụng hay để trả nghiệp và đóng góp vào những tiến hóa của nhân loại. Họ có quyền hiện diện trên trái đất này và có quyền được thương yêu, tôn trọng cũng như quý vị. Họ cũng có những cảm giác tham sống sợ chết, giống như quý vị.
Cho nên quý vị và những người hay sinh vật chung quanh quý vị, đều cùng một thể tánh. Quý vị nên nhận thức được rằng cái đau khổ của người cũng giống như cái đau khổ của Ta, phiền não của người cũng là phiền não của Ta.
Quan sát như thế để dễ dàng phát triển và luôn luôn sống với tâm đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Làm việc gì cũng nghĩ đến lợi ích cho người cũng như lợi ích cho Ta. Cái gì mà ta không muốn thì người cũng chẳng ưa. Một nhà văn hào Tây phương đã làm một bài thơ về tánh bình đẳng giữa con người sống trên trái đất này, đã có những vần thơ ý nhị như sau :
Nhìn Anh tôi, qua ‘ống kính hiển vi của sự chỉ trích’,
Tôi thấy Anh tôi thật là thô lỗ.
Nhìn Anh tôi qua ‘ống kính viễn vọng của sự khinh bỉ’
Tôi thấy Anh tôi thật nhỏ bé, thấp hèn.
Bây giờ, nhìn vào ‘tấm gương chân lý’;
Thì ra Anh tôi giống hệt như tôi.
Khi quý vị không thể chịu đựng nổi hay không chịu tha thứ cho người, thì người ta cũng không chịu đựng nổi hay không thể tha thứ cho quý vị. Lục Tổ Huệ Năng cũng nói : ‘Nhìn Người thấy lỗi, nhìn Ta không lỗi, lỗi Ta còn quá hơn Người’. Đức Phật, khi xưa, được một người thuộc giai cấp Thủ Đà La cúng dường một bát sữa, nhưng vì thuộc giai cấp hạ tiện, nên người kia không dám tới gần Đức Phật. nói :’Cứ lại đây, ngươi và Như Lai, dòng máu đều cùng đỏ, nước mắt đều cùng mặn’. Ôi, một bậc Giác Ngộ cao quý như Đức Phật còn tôn trọng đức bình đẳng như thế, chẳng dám khinh người, sao chúng ta lại dám tự cho mình hơn người, mà đem lòng kiêu căng, ganh ghét?
Chừng nào quý vị sử dụng cái sự hiểu biết chân chính của mình mà thấy được Người và Ta cùng là một thành phần của cái đại thể là chân ngã, thì quý vị đã chuyển được Mạt Na Thức thành Bình Đẳng Tánh Trí.
Như Thầy đã giảng, ý thức và mạt na thức, một anh thì cực kỳ lanh lợi, một anh thì quá sức mê muội. Nhưng sự hợp tác của hai anh này cực kỳ quan trọng trong việc chuyển Thức thành Trí, chuyển tâm phàm phu thành tâm Thánh Hiền. Duy Thức Học có câu : ‘Lục, thất nhơn trung chuyển, Ngũ Bát quả thượng viên’, nghĩa là, trong con người chỉ cần chuyển được thức thứ sáu và thức thứ bảy, thì sự chuyển hóa của năm thức trước và thức thứ tám sẽ có kết quả viên mãn.
4. Sau cùng là chuyển thức A Lại Da thành "Đại Viên Cảnh Trí".
Giai đoạn này, quý vị không cần dụng nhiều công, vì như Duy Thức Học đã nói ở trên. Tạng Thức chỉ là cái kho để chứa đựng chủng tử do thức thứ bảy huân tập vào và khi cần thì lại lôi ra để phát khởi hành động. Trong khi quý vị chuyển 7 thức trước thành 3 trí rồi, quý vị đã chuyển tất cả mê lầm thành sáng suốt.
Chuyển những hành động có mục đích vị kỷ, thấp hèn thành những hành động với mục đích lợi ích chúng sanh, thánh thiện, cao thượng, chuyển tất cả những chủng tử ác chất chứa trong A Lại Da thành những chủng tử lành, thì lúc đó thức A Lại Da của quý vị cũng giống như viên ngọc Ma Ni, lâu nay bị chìm trong bùn lầy, nay được rửa sạch, mà đem treo trên tràng phan bảo cái, rạng rỡ chiếu soi mọi chỗ.
Tạng Thức (Tâm Vương) của quý vị được thanh tịnh (Bạch Tịnh Thức), rộng lớn bao trùm hư không vì không có cái tiểu ngã. Bồ đề tâm được viên mãn, từ bi tâm trải rộng tới muôn loài chúng sanh, không bị ô nhiễm bởi năng, bởi sở và bởi tham luyến chấp trước; lúc nào cũng tròn đầy như thái hư, chiếu soi vạn hữu mà không bị ngăn che. Đó là quý vị đã thành tựu chuyển hóa thức A Lại Da thành Đại Viên Cảnh Trí.
Đến giai đoạn này, quý vị đã đắc quả Thánh. Phàm làm việc gì cũng không còn phân biệt, so đo hơn thiệt, vì không còn thấy Ta, thấy người, thấy chúng sanh, thấy thọ giả. Trí tuệ của quý vị là trí tuệ vô lậu. Kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc đã được đoạn trừ và thoát ra ngoài tam giới, an nhiên tự tại mà hưởng sự an lạc của Thánh Vị A La Hớn. Ngay cả bốn trí mà quý vị vừa chuyển cũng không còn là bốn, mà chỉ là một. Tất cả đều được dung chứa trong Đại Viên Cảnh Trí.
Thế nhưng, đạt được cái trí như vậy (Đại Viên Cảnh Trí), quý vị cũng chưa chứng được cái trí tuệ của hàng Bồ Tát và của Chư Phật. Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã nói về trí tuệ của Ngài Xá Lợi Phất, đã đắc quả A La Hớn:’ Dù cho có đem một triệu người có trí tuệ như ông Xá Lợi Phất, ngồi lại cùng nhau để suy lường, cũng không thể hiểu lời của Như Lai. Chỉ có Phật với Phật mới hiểu được mà thôi’.
Cái trí tuệ của hàng Thanh Văn, dầu có đắc quả giải thoát, nhưng vẫn chưa đạt được cứu cánh rốt ráo trong mục đích tu hành của con người xuất thế gian; bởi vì vẫn còn thấy có niết bàn và thấy có pháp (Pháp Tứ Đế). Qua được bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) rồi nhưng vẫn vác cái bè trên vai. Như Thầy đã nói trong phần định nghĩa của trí tuệ. Trí tuệ là ‘Giác Ngộ Trí Năng’. Trí tuệ của hàng Thanh Văn vẫn cần được phát triển thêm nữa để tiến tới trí tuệ Ba La Mật, của các bậc Đại Giác Ngộ, thể nhập pháp giới.
Tất cả đều trở về với cái tánh Như Như của chân không, trở về được cái bản thể uyên nguyên của vạn pháp. Không thấy cái thân ngũ uẩn là cố định, không còn thấy sự phân biệt của căn, thức và trần. Chân lý tứ đế cũng là Không, Thập Nhị Nhân Duyên cũng Không, ngay cả trí tuệ và chứng đắc của trí tuệ cũng không, vì tất cả đã hòa nhập vào Pháp giới. Mọi hiện tượng hữu vi như sông, núi, cỏ, cây, mưa, gió, vô vi như niết bàn, như thường, lạc, ngã, tịnh, tất đều là Ta (chân ngã). Đạt đến đó thì Ta là chiếc lá, Ta là dòng sông, đám mây trắng đang bay lững lờ trên đỉnh Tuyết Sơn. Ngọn sóng vỗ trên biển cả là Ta, người là Ta, chim hót là Ta, phiền não cũng là Ta, bồ đề cũng là Ta. Ta là tất cả và tất cả đều trở về Ta.
Đó là ‘Nhất Thiết tức Nhất, Nhất tức Nhất Thiết’ của Thế Giới Hoa Nghiêm: Ta là Pháp giới, Pháp giới là Ta. Đó là Lý Lý Dung Thông, Sự Sự Vô Ngại và đó chính là lúc thánh trí bát nhã hoa khai, ung dung tự tại, du hí thần thông, ra vào sanh tử thị hiện độ tận chúng sanh. Độ chúng sanh cũng là độ cho Ta (Tự giác) và độ cho Ta cũng là độ khắp chúng sanh (Giác tha) và đó cũng là bản hoài của chư Phật thị hiện thế gian để khai mở thánh trí bát nhã, Như Lai tự tánh bình đẳng nhất như trong mỗi mỗi chúng sanh mọi loài.
Quý vị Tăng Ni và Phật tử:
Trong hơn một tiếng đồng hồ vừa qua, Thầy đã chỉ bày cho quý vị thấy rõ sự khác biệt trong hai con đường tu hành của quý vị:
Một con đường dẫn dắt quý vị, hết kiếp này qua kiếp khác, trôi lăn trong sanh tử luân hồi, ra vào sáu nẻo, thống khổ nan đương; sống một cuộc sống tầm thường, dẫy đầy lo sợ:Con đường sống với thức.
Một con đường khác, đưa quý vị từ hàng phàm phu lên hàng Thánh giả, sống một cuộc sống an nhiên tự tại của bậc Giác Ngộ, sống một cuộc sống Thánh thiện, hướng thượng vì lợi ích chúng sanh; đó là con đường chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ Sư đã sống : Con đường sống với trí.
Khi quý vị quy y Tam Bảo và nếu quý vị hiểu rõ cái lý đạo của sự quy y là quý vị đã sống với trí tuệ. Quý vị quy y Phật, cái lý đạo của sự phát tâm trở về với Phật không phải là trở về với pho tượng gỗ, tượng đồng trên bàn thờ. Những pho tượng này là những vật hữu hình. Phật dạy : Hữu hình tất hữu hoại. Vậy khi mấy pho tượng này bị hủy diệt thì quý vị quy y với ai ? Đức Phật đã dạy trong Kinh Kim Cang :
Nhược dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ âm thanh cầu ngã,
Thị nhân hành tà đạo,
Bất năng kiến Như Lai.
Căn cứ vào cái hình tướng của tượng Phật hay căn cứ vào những âm thanh của tiếng tụng kinh, của chuông mõ mà cầu thấy Phật thì làm sao mà thấy được Phật? Chữ Như Lai ở đây là chỉ cho cái như lai tạng tánh sẵn có trong quý vị. Đó mới là cái mà quý vị xin trở về. Như lai tạng tánh của quý vị tức là cái chân tâm sáng suốt. Chân tâm không có hình tướng nên nó mới thường còn, không thể bị nhiễm ô, không thể bị hủy hoại. Kinh luận thường gọi đó là ông Phật bên trong của quý vị.
Khi quý vị thâm nhập được cái lý đạo đó thì quý vị mới nhận thức được pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật vốn hằng hữu bên trong quý vị; quý vị mới có thể tự mình khai mở Bát Nhã Thánh Trí để thể nhập vào pháp giới tạng thân của Phật A Di Đà. Sự sáng suốt thường soi, thường chiếu của Đại Viên Cảnh Trí mới hòa nhập vào Vô Lượng Quang của Phật A Di Đà; pháp thân của quý vị vì đồng thể tánh với pháp thân của chư Phật, mới có thể trở nên Vô Lượng Thọ như Phật A Di Đà; đại từ bi tâm của quý vị mới được trải rộng tới muôn loài chúng sanh, chúng sanh cũng là quý vị, quý vị cũng là chúng sanh. Chúng sanh đau khổ, quý vị cũng đau khổ, chúng sanh phiền não, quý vị cũng phiền não. Quý vị hóa độ cái đau khổ, cái phiền não của quý vị tức là quý vị hóa độ cái đau khổ, cái phiền não của muôn loài chúng sanh; do đó quý vị mới làm được cái vô lượng công đức của Phật A Di Đà.
Quy y pháp là trở về với pháp tánh sẵn có của mình. Khi đức Phật nói :’Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành’, Ngài muốn chỉ cho chúng sanh hữu tình biết rằng trong chúng ta, Phật Tánh (cũng là Pháp Tánh) vốn đầy đủ tất cả mà các Đức Phật có. Trong Tâm ta vốn đủ các pháp từ bi, trí tuệ, bình đẳng, nhẫn nhục v.v... nhưng vì lâu nay vì bị vô minh che lấp nên chúng ta không thấy và không sống được với các đức tánh ấy. Nay chúng ta quy y, là chúng ta nguyện sẽ trở về với các đức tánh hay các pháp tánh của chúng ta mà thôi.
Đức Phật dạy chúng ta, khi quy y thì phải thọ ngũ giới và trì ngũ giới. Mục đích của ngũ giới là để quý vị bảo vệ tự do của quý vị, không sợ ai làm hại đến mình. Trước khi thọ ngũ giới, quý vị cũng đã biết ngũ giới dưới những tên khác và quý vị thường dùng ngũ giới để răn dạy con em hàng ngày. Đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của người đạo đức.
Không sát sanh là nhân, không trộm cắp là nghĩa, không tà dâm là lễ, không uống rượu là trí và không nói dối là tín. Pháp tu ngũ giới trong nhà Phật, là nhắc nhở chúng ta quay về với cái bổn tâm nhân chi sơ, tánh bổn thiện của chính mình thôi.
Quy y Tăng là trở về với ông Thầy sẵn có trong mình. Tăng là những người thay mặt cho Đức Phật để truyền bá giáo pháp của Ngài, mà giáo pháp ấy quý vị cũng đã sẵn có chính bên trong của quý vị, và nó cũng là một ông Thầy. Ông Thầy đó là lương tâm của quý vị. Khi quý vị làm điều lành, quý vị cảm thấy vui vẻ, hoan hỷ, khi quý vị làm điều ác độc, gian dối, quý vị ăn không ngon, ngủ không yên, vì bị lương tâm cắn rứt. Quý vị bị lương tâm cắn rứt vì quý vị đã không nghe theo lời dạy của ông thầy lương tâm của quý vị. Trong con người ‘Nhân chi sơ, tánh bổn thiện’ của quý vị, sẵn có những đức tánh mà Phật đòi hỏi ở các vị Tăng trước khi cho phép các Ngài nhập thế để hoằng dương chánh pháp : Tánh Hòa Hợp (tinh thần Lục Hòa), Tánh Nhu Nhuyến (đức khiêm hạ). Quý vị đã sẵn đủ các đức đó, nhưng lâu nay các vị bị người khác làm phiền não hay các vị gây phiền não cho người khác, chỉ vì quý vị đã sống với cái thức và bị nó dẫn dắt vào một cuộc sống thấp hèn và tầm thường.
Nếu quý vị thấu hiểu lý đạo của lời nguyện Quy Y Tam Bảo thì quý vị đã bắt đầu sống với trí tuệ rồi. Quý vị hàng ngày tụng kinh niệm Phật, hì hụp lễ tôn tượng chư Phật, đó là sự.
Lý đạo là gì? Lý là lý thuyết, là cái hiểu biết rõ ràng về cái đạo mà mình đang thực hành. Đạo là con đường, là pháp môn, là sự thực tập, thực hành cái lý mà mình đã thâm nhập, hoặc nếu chưa thâm nhập được lý thì đạo là phương pháp tu tập giúp mình ‘thấy’ được cái lý. Đạo là sự. Khi quý vị thấy được rồi thì Lý Sự Dung Thông, Hoa Khai Kiến Phật.
Khi sắp nhập niết bàn, Đức Phật dạy các đệ tử: ’Các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi’. Đuốc ở đây chính là ngọn đuốc trí tuệ, phải luôn luôn giữ cho nó sáng ngời, chiếu rọi. Thầy thường nhắc nhở quý vị phải luôn luôn thắp hai ngọn đèn cầy trên bàn thờ Phật, không bao giờ được để cho tắt. Đó là tuệ đăng thường chiếu, để nhắc nhở quý vị đến ngọn đuốc trí tuệ của quý vị. Hai ngọn đèn cầy, một ngọn là lý, một ngọn là sự. Trong đạo, lý sự phải viên thông. Chấp lý bỏ sự, thì không có Thành Tựu Viên Mãn, chấp sự bỏ lý, thì không đủ Phứớc Trí Nhị Nghiêm. Quý vị có thấy được cái lý đạo đó chăng ?
Để kết luận cho thời pháp hôm nay, Thầy đã khai ngộ cho quý vị hãy cố gắng sống với cái trí để có thể tiến lên trên con đường tu hành và trở nên bậc Thánh giả. Tiếp tục chạy theo cái tham dục tầm thường của cái thức, thực uổng cho những ngày tháng mà quý vị rời bỏ gia đình, rời bỏ sự nghiệp thế gian để tu hành cực khổ rồi chung cuộc chẳng được cái gì. Phàm phu vẫn hoàn phàm phu, lúc nào cũng mờ mờ mịt mịt lặn lội trong luân hồi lục đạo nan đương.
Thay cho lời kết, Thầy nhắc quý vị một bài kệ trong Kinh Văn :
Tâm Trí Tuệ thinh thinh rộng lớn,
Sáng trong ngần chẳng bợn mây trần,
Làu làu một tính thiên chân,
Bao trùm muôn loại chẳng phân Thánh Phàm
Sống được với trí thì quý vị sẽ tự chuyển mê khai ngộ, chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển tối tăm thành sáng suốt và chuyển sanh tử thành niết bàn.
Vận lòng Trí Tuệ linh thông,
Bờ kia mau đến Tâm không ngại gì !
Thầy mong toàn thể quý vị tư duy thâm nhập lời Thầy giảng trong thời pháp Khai Thị hôm nay để Ta cùng chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Nam Mô Trí Huệ Chiến Thắng Phật.
Muốn chứng quả vị Thập Tín, thì mỗi người phải thật hành nhơn địa Thập Tín. Mùa nhập Hạ năm nay, đây là lần đầu tiên Thầy khai thị cho đại chúng, một pháp môn rất là vi diệu. Đó là Nhơn Địa Thập Tín. Trong bài này có tất cả là mười (10) cái tâm. Nói là mười mà là một, một lại phải chia thành mười như sau:
1- Tín Tâm : Từ lâu chúng ta đã hiểu tín tâm là tin giáo pháp của Phật, tin nhân quả, tin luân hồi, tin Phật, Pháp, Tăng, nói chung là như vậy. Tin lời Chư Phật dạy không sai. Tin giáo Pháp là thuốc hay để trị lành tâm bệnh, tin Tăng là những vị chân chánh tu hành, nương theo các vị này để tu không sai đường hướng. Hiểu như vậy chỉ là mới hiểu được sự tướng ở bên ngoài. Còn muốn hiểu cho đúng thì phải tin chắc chắn không còn một chút nghi ngờ nào hết là:Mình có ông Phật hay là có Phật tánh ở trong người mình. Đã từ lâu chúng ta có nghe "Nhất thiết chúng sanh, giai hữu Phật tánh", (Tất cả chúng sanh, đều có tánh Phật). Ai cũng có thể biết điều ấy, nhưng trong hành động thì lại không thể nhập được Phật tri kiến, bởi vì từ lâu chúng ta bị vô minh che khuất nên Phật tánh hay phật tri kiến của mỗi người không thể hiển lộ được. Vậy nếu muốn hiển lộ được Phật tri kiến cần phải nhận định rõ :
a) Tin Phật là mình có tánh sáng suốt giác ngộ và giải thoát sẵn bên trong của mỗi chúng ta. Đó là tin Phật của mình.
b) Tin Pháp là mình có pháp tánh lợi tha bình đẳng, bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định ba la mật ở trong con người mình. Tại vì mình không chịu thực hiện, thực hành cho đúng mức nên pháp tánh khó mà hiển lộ .
c) Tin Tăng là tin chắc chắn mình có đức tính hòa hợp, đức tánh thanh tịnh, đức tánh nhu nhuyến (Nhu nhuyến là tánh có thể vuông hay tròn) có thể sống một cách dễ chịu, tương ưng để mà độ đời, phải hùng lực để thấy cái tự tánh của mình. Chư tăng, ni sống chung phải hòa hợp như nước hòa với sữa, như ánh sáng hòa với hư không, mình phải lấy đức tánh Tăng Bảo để mà sống, được như vậy đó mới gọi là hoàn toàn tín tâm, mới đạt vào tự tánh ở nơi Tăng Bảo.
2- Niệm Tâm : Tâm của mình luôn luôn ở vào chánh niệm đó là, niệm thí, niệm giới, niệm thiên. Thế nào là niệm thí ?
a) Niệm thí là đem cái tâm chân thật của mình ra làm việc bố thí, thì mới thấy bố thí ba la mật, còn đem vọng tâm ra làm việc bố thí thì không phải bố thí ba la mật. Thí dụ bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy, nhưng mà không còn thấy mình làm việc bố thí thì mới gọi đó là ba la mật, rốt ráo. Kế tiếp, thế nào là niệm giới ?
b) Niệm giới là lúc nào cũng nghĩ tới nhiêu ích hữu tình giới, nghĩa là giúp cho chúng sanh được lợi lạc và làm sao cho chúng sanh hiểu được họ có cái Phật tánh hay là linh quang, linh tánh, và đó cũng chính là Phật tâm. Khi mê thì còn đặt cho nhiều tên khi ngộ thì đó là phật tánh hay giác tánh. Phải làm sao cho chúng sanh hiểu rằng ai ai cũng đều có viên ngọc ma ni trong người, kể cả những vị đồng ấu xuất gia, hay bán thế xuất gia cũng vậy. Có hiểu được như thế mình mới đi hoằng truyền chánh pháp cho chúng hữu tình được. Sau đến thế nào là niệm thiên ?
c) Niệm thiên đây là luôn luôn sống trong tứ thiềnẠ bát định ở các cõi trời Sắc giới và Vô Sắc giới, nhưng ở cõi Dục nầy thì có Lục Dục thiênẠ Trên Lục Dục Thiên là 18 cõi trời Sắc giới do đắc thiền định mà thành tựu. Những gì là Lục Dục Thiên :
1/ Ly sanh hỷ lạc : Khởi đầu bằng tâm lý nhàm chán cái ô trược của cõi Dục, và mong cầu được xa lìa (ly) được cái ô trược của Dục giới thì ‘sanh vui mừng’ (sanh hỷ lạc). Đó là kết quả của giai đoạn tham thiền đầu tiên (sơ thiền).
2/ Định sanh hỷ lạc : Nhưng cái vui mừng nói trên, lại làm cho tâm giao động, cần phải dứt trừ, vì thế hành giả phải vào định. Khi định có kết quả cái vui mừng thô phù của Sơ thiền chấm dứt, và cái vui mừng vi tế ở trong định lại nẩy sanh. Vì thế cho nên gọi là Định Sanh Hỷ Lạc (nhị thiền).
3/ Ly hỷ diệu lạc : Cái vui mừng ở cõi Nhị thiền mặc dù vi tế nhưng vẫn còn làm cho tâm rung động, vì thế lại cần bỏ cái vui mừng ở cõi Nhị thiền. Khi bỏ được cái vui mừng nầy, thì một nỗi vui mầu nhiệm khác lại phát sanh, vì thế cho nên gọi ly hỷ diệu lạc (tam thiền).
Trong các kinh thường chép: Cõi Tam thiền là vui hơn hết (diệu lạc), vì ở các cõi dưới chỉ có cái vui thô động, còn ở các cõi trên thì chỉ là tịch tịnh, không còn vui nữa.
4/ Xả niệm thanh tịnh:Ở cõi Tam thiền, tuy đã hết cái vui thô động của Sơ thiền và Nhị thiền, nhưng vẫn còn cái vui mầu nhiệm. Nhưng hễ còn niệm vui, thì tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh. Hành giả lại phải còn tiến lên một bậc nữa, đi vào tâm thiền thứ tư, là xả luôn cả cái niệm vui, để tâm được hoàn toàn thanh tịnh, vì thế nên gọi là Xả niệm thanh tịnh. Và trên đây là mới chỉ là phần niệm thiên. Nếu tiến một tầng nữa thì sẽ lên Tứ Không Thiên (Vô Sắc Giới), đó là:
a) Không vô biên xứ thiên : Tâm đã được hoàn toàn thanh tịnh, nhưng vẫn còn thấy có sắc giới, có thân có cảnh và bị hình sắc trói buộc, nên sanh tâm nhàm chán để rời bỏ hình sắc, thân, cảnh, và rồi thể nhập vào (hư không vô biên) tức là rỗng không tự tại.
b) Thức vô biên xứ : Rời bỏ được sắc, thân và cảnh thì thấy được cái vô biên của hư không, nhưng vẫn còn giữ cái bản ngã hẹp hòi, vẫn còn thấy biên giới của tâm thức, để xóa bỏ cái biên giới của thức, cho nên khi thành tựu không có thần lực, nên gọi là thức vô biên.
c) Vô sở hữu xứ Định: Mặc dù không còn thấy biên giới, ngăn cách của thức, nhưng vẫn còn thấy có ngã, có tâm thức, có năng sở, mà hễ còn thấy có năng sở, tức còn thấy mình và người, còn thấy có sở hữu. Vì thế phải vượt lên một mức nữa, xa lìa sự chao động năng sở (ta và người) tức nhập định, chẳng dùng gì được cả nên mới gọi là vô sở hữu xứ.
d) Phi tưởng, phi phi tưởng xứ : Khi đã nhập định "vô sở hữu", không còn thấy nhân ngã, năng sở, nhưng vẫn còn vọng tưởng, mà còn tưởng thì còn vọng động. Làm sao phải tiến thêm một mức nữa để vào cõi Định không tưởng. Nghe nói không tưởng đừng nghĩ đây là vật vô tri vô giác, không phải cái không tưởng của đất đá, không tưởng mà vẫn sáng suốt như tấm gương, đó là ý nghĩa của cõi "Phi tưởng, phi phi tưởng xứ". Muốn như vậy tâm mình phải luôn luôn sống trong chánh niệm, ai được như vậy mới có cơ nhập ngộ được Thập Tín.
3- Tinh tấn tâm : Tâm mình luôn luôn tinh tấn dõng mãnh không giải đãi giờ phút nào cả, có 3 loại tâm tinh tấn là.
a) Bị giáp tinh tấn : Ví như người ra trận lúc nào cũng mặc áo giáp. Mặc áo giáp để bảo vệ thân mạng, coi như ngày nào cũng đánh giặc đó là giặc phiền não. Làm sao phải chiến thắng nó hàng ngày, hàng giờ, hàng phút mới ca khúc khải hoàn !
b) Gia hạnh tinh tấn : Gia công tấn hạnh là luôn luôn đừng cho bị cũ và còn gọi là "Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân". Có nghĩa là "Ngày mới, ngày mới, việc lại mới" không bao giờ bị thoái chuyển. Lúc nào trong thâm tâm cũng nghĩ làm lợi ích cho chúng sanh thì những ma chướng bên trong dần dần tiêu tan hết, làm Phật sự với tâm phàm phu, tâm tham lam, tâm đố kỵ, tâm cầu danh cầu lợi, những người như vậy không thể gọi là gia công tấn hạnh tinh tấn.
c) Vô hỷ túc tinh tấn : Nghĩa là tinh tấn không bao giờ vui mừng cho là đã đầy đủ. Dù cho xả bỏ thân này để chúng sanh được lợi lạc mình vẫn không bao giờ vui mừng cho là đầy đủ.
4- Huệ Tâm : Tâm của mình lúc nào cũng sống với cái trí tuệ chứ đừng sống với cái mê mờ mộng phiền não vô minh, huệ tâm này chia làm ba phần:
a) Vô phân biệt gia hạnh huệ : Mình luôn luôn làm với tâm không phân biệt và hành cho đúng với trí huệ sẵn có trong mỗi người chúng ta.
b) Vô phân biệt huệ : Những trí huệ mà mình tu mình tiến thì không còn phân biệt nữa, lúc nào cũng thấy thanh tịnh nhẹ nhàng, tinh tấn rốt ráo.
c) Vô phân biệt hậu đắc huệ : Tu cho đến khi nào không còn phân biệt huệ thì hiển lộ vô phân biệt hậu đắc huệ, chừng đó chúng ta mới ngừng nghỉ. Hiện tại nếu vị nào có sẵn căn bản trí của mình nhưng bị mê mờ vô minh che lấp, phải làm sao cố gắng chuyển hết những cái mê mờ đó thì hậu đắc trí huệ sẽ hiển lộ, giống như là giác ngộ sau khi tu tiến vậy.
5- Định tâm : Là tâm vô vi của mình. Có ba loại định tâm là :
a) An Trụ Định : Lúc nào cũng như lúc nào tâm trụ trong khinh an thiền duyệt, nghĩa là phải giữ cho tâm an định đừng cho nó xao xuyến náo loạn. Nếu chuyện phiền não gì đáng bỏ qua thì nên bỏ tức khắc. Chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ trở thành không, như vậy là ta có chơn tâm an trụ định.
b) Dẫn phát định : Nương theo trạng thái an trụ định nầy, hành giả phát sanh bát nhã thánh trí, cho nên được gọi là Dẫn Phát Định. Phải biết đây không phải là cái định như cây như đá, cái định khô khan. Chúng ta phải làm sao phát triển thánh trí bát nhã nầy, hay là cái tánh sáng suốt tròn đầy, mỗi ngày thêm rộng lớn.
c) Thành sở tác sự định : Trong mỗi việc mình làm, dù việc nhỏ hay việc lớn, phải đúng chân lý hợp sự thật, và tâm phải chú trọng vào việc mình làm, ngay cả trong lãnh vực văn hóa, kỷ thuật, mỹ thuật của nếp sống hiện tại. Tuy đó là chuyện thế gian nhưng mình phải phát triển tánh sáng suốt tròn đầy để chuyển nó thành xuất thế gian, ấy là hoàn thành sức định.
6. Bất thoái tâm : Tâm mình cần cố gắng đừng bao giờ cho thoái chuyển. Do đó có câu "Tâm bồ đề bất thoái, chí tu học vững bền". Nếu tâm chưa giác ngộ, thì nên nuôi hạt giống bồ đề cho mỗi ngày càng thêm cao lớn.
7. Hộ pháp tâm : Chúng ta luôn luôn gìn giữ chánh pháp tức là gìn giữ chánh tâm, chơn tâm. Khi chơn tâm nó khởi diệu dụng lưu lộ ra mình phải sử dụng cho đúng mức để bảo trì ngôi Tam Bảo tự tánh. Hộ Pháp Già Lam là những vị thần gìn giữ bảo hộ chùa, bảo hộ Tự Viện ; còn Hộ Pháp Tâm là vị nầy lúc nào cũng theo ủng hộ người xuất gia. Một khi chúng ta chuyên tâm lo bảo trì đạo pháp cho Tam Bảo tự tánh, tất cả những pháp này gọi là tâm pháp, tâm hộ chánh pháp.
8. Hồi hướng tâm : Bất cứ mình làm việc gì cho đạo pháp xong rồi coi như "Tâm như hư không, lượng châu sa giới":(Tâm như hư không, sự độ lượng trong người mình nó trải rộng ra khắp pháp giới); không nên nhắc tới nhắc lui, hoặc kể lể công lao cho người này nghe, cho người kia biết, phải đem công lao đó hồi hướng cho pháp giới chúng sanh đều trọn thành phật đạo. Hồi là gom góp lại, hướng là chia ra cho tất cả, tâm được bình đẳng, cho nên bên Đại Thừa giáo chia ra hồi hướng làm bốn (4) phần.
a) Hồi tự hướng tha : Đem những gì mình tu tập hàng ngày ra hồi hướng cho chúng sanh, đừng để cho riêng mình lãnh thọ.
b) Hồi nhân hướng quả : Nếu mình gieo những nhân duyên thiện, duyên tốt vô lậu của xuất thế gian cũng đừng bao giờ nghĩ đến là có, đem nhân này hồi hướng cho pháp giới hữu tình, đồng lên quả giác ngộ...
c) Hồi sự hướng lý : Mình làm tất cả những sự tướng cuối cùng đều qui về lý tánh đừng có kể sự tướng, nếu còn kể có sự tướng thì đó là thế gian bên ngoài. Nên cuộc đời tu của mình mà dù có xây được cả trăm ngôi chùa cũng đừng kể công lao cực nhọc, cứ xem như mình chưa làm gì cho chúng sanh cả, nếu ai làm phật sự mà vẫn còn nhắc nhở hoài thì công đức cũng tiêu mà phước đức cũng không còn, như vậy thì không bao giờ chứng ngộ quả vị Thập Tín được.
d) Hồi tướng hướng tánh : Tất cả những hình tướng hành sự gì xong rồi đều qui về bản tánh thanh tịnh của mình. Phật tánh chơn không, đừng nghĩ mình làm như thế là có phước đức thù thắng...
9- Giới tâm : Tâm luôn luôn thực hành Tam Tụ Tịnh Giới. Đó là :
a) Nguyện đoạn nhất thiết ác : Không nên làm việc ác, dù việc ác ấy rất nhỏ.
b) Nguyện tu nhất thiết thiện : Nên làm việc thiện, việc tốt dù cho việc thiện ấy nhỏ bằng hạt bụi cũng không nên bỏ.
c) Nguyện độ nhất thiết chúng sanh : Nguyện độ tất cả chúng sanh, còn một chúng sanh đau khổ mình cũng không bỏ, cố gắng tế độ vì chúng sanh đồng một Phật tánh với mình. Chẳng lẽ mình thành Phật thành Bồ Tát, rồi lên ngồi trên tòa sen một mình, trong khi đó còn không biết bao nhiêu chúng sanh đang lặn hụp nơi biển khổ sanh tử luân hồi này, như vậy là đâu có phải hạnh Bồ Tát, hạnh giác hữu tình.
10- Nguyện tâm : Tâm luôn luôn phát nguyện tu trì bốn loại nguyện tâm như là.
a) Nguyện tiêu ba chướngẠ : Phải phát nguyện dẹp những phiền não dần dần, những chuyện không đáng nói không đáng giận thì chúng ta nên thông qua. Đừng chấp chặt từ lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ từng hành động.
b) Nghiệp chướng : Muốn tiêu trừ các nghiệp chướng cho dễ dàng, thì nhờ đến huynh đệ đồng tu phụ giúp chỉ cho mình thấy những chứng hư tật xấu nghiệp chướng của mình. Thí dụ : Tới giờ tụng kinh mà con ma làm biếng nổi lên khiến cho ta không chịu đi hành trì, lúc đó cần nhờ thiện hữu tri thức nhắc nhở phải đánh đuổi những nghiệp chướng đó đi để vươn lên con đường tinh tấn vì thế mới có câu "Ăn cơm có canh, tu hành có bạn".
c) Báo chướng : Những nghiệp quả đời trước bây giờ quả chín muồi nó đến với chúng ta ở đời này. Thí dụ như ở đâu đó chúng ta có nghe tên một người nhưng chưa gặp mặt thì đã muốn liên lạc và muốn làm quen, còn có những người mình mới gặp có một lần chưa biết tánh tình họ ra sao nhưng đã sanh vọng tánh ganh ghét, không ưa lộ ra vẻ mặt. Nếu là một tu sĩ mình phải biết đó là báo chướng ở tiền kiếp mà ra, vậy đừng nên để báo chướng đó sanh sôi nảy nở mà hãy tìm cách giải tỏa liền. Đừng để ta và đối phương gây thêm nghiệp báo nữa. Đó mới đúng là hạnh xuất gia, là người con Phật.
d) Nguyện được trí tuệ hiểu rõ sự việc : Chúng ta phải phát nguyện như thế nào để trí tuệ càng ngày càng phát triển, từ giới sanh định, nhơn định phát huệ.
e) Khắp nguyện tội chướng đều tiêu trừ:Lúc nào mình cũng phải khấn nguyện trong lòng cho tội chướng được tiêu trừ. Nếu nhất tâm tụng niệm là sau một thời kinh, một thời niệm Phật tội chướng sẽ giảm bớt.
f) Mỗi thời thường làm theo con đường Bồ Tát:Luôn luôn thực hành con đường của Bồ Tát, Bồ Tát là giác ngộ cho chúng sanh. Đó là giác hữu tình, hữu tình giác, giác nhi hữu tình.
---o0o---
---o0o---