QUAN ĐIỂM VỀ ĂN CHAY CỦA ĐẠO PHẬT
Biên Soạn: Tâm Diệu
---o0o---
QUAN ĐIỂM VỀ ĂN CHAY
CỦA ĐẠO PHẬT
Trong phần
đầu quyển sách chúng tôi đã lần lượt trình bầy quan
điểm về ăn chay của người Hoa Kỳ nói riêng và của
người Tây phương nói chung. Trong phần kế tiếp, chúng tôi
sẽ trình bầy về quan điểm của những người Phật giáo
thuộc hai truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa
về vấn đề này.
Trước
tiên phải nói rằng có rất nhiều quan điểm khác biệt
về vấn đề ăn chay giữa những người Phật giáo từ
xưa cho đến nay và thật khó mà san bằng những dị biệt
vì truyền thống của mỗi trường phái khác nhau và tập
quán của mỗi cá nhân khác nhau. Vì thế chúng tôi cố
gắng trình bầy những lý lẽ hay là quan điểm của những
ai tin rằng ăn chay là điều cần thiết cho người Phật tử
và những ai tin rằng không cần thiết để mỗi người tùy
vị trí riêng của mình, tùy sự hiểu biết của mình mà
có thể nhận định đúng hay sai và chọn cho mình một hướng
đi.
Ngày nay ai
cũng nói rằng những người Phật giáo Đại Thừa ăn
chay và những người Phật giáo Nguyên Thủy ăn thịt. Điều
nhận định này hoàn toàn không đúng hẳn. Thông thường
Phật Giáo Nguyên Thủy không có những cấm đoán về ăn
thịt cá mặc dầu vẫn có những vị sư và cư sĩ Phật tử
ở Tích Lan ăn chay thuần túy (strict vegetarians) và có những
người khác không ăn thịt nhưng ăn cá. Tại Việt Nam có
nhiều vị sư danh tiếng thuộc truyền thống Nguyên Thủy, như
Hòa Thượng Thích Minh Châu suốt đời dùng chay.
Người
viết, nhân dịp tham dự lễ khánh thành Thích Ca Thiền Viện
ở thành phố Riverside, California, một tu viện Việt Nam thuộc
Phật Giáo Nguyên Thủy, đã chứng kiến khoảng hơn năm
trăm cư sĩ Phật tử thuộc cả hai trường phái Đại Thừa
và Nguyên Thủy thọ trai bằng cơm chay và quý thầy Tỳ
kheo thọ trai bằng cơm mặn do ban tổ chức thiết đãi và
cúng dường.
Những
tu sĩ Phật Giáo Đại Thừa Trung Hoa và Việt Nam đều ăn
chay thuần túy và nhiều cư sĩ Phật tử cũng cố gắng
theo gương họ mặc dầu cũng có một số không ăn chay.
Dầu
là Đại Thừa Phật Giáo, một số tu sĩ Nhật Bản và Tây
Tạng cũng không ăn chay. Có dư luận cho là dưới thời
Minh Trị Thiên Hoàng, do sức ép của nhà vua, một số tu sĩ
đã phải hoàn tục và sinh sống như dân thường, có gia
đình và không còn ăn chay nữa, mặc dầu vẫn trụ trì
chùa.
Còn
Tây Tạng thì do điều kiện thiên nhiên ác nghiệt quanh năm
sống trên đỉnh núi đá cao, ít đất đai trồng trọt, lại
cần nhiều nhiệt lượng, nên thói quen ăn thịt không từ
bỏ được. Đấy là những nguồn dư luận nên cũng xin
viết ra đây, tùy ý độc giả thẩm định.
QUAN
ĐIỂM VỀ ĂN CHAY CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
Trước hết
phải nói rằng trong giới luật thuộc truyền thống Nguyên
Thủy, không có giới cấm ăn thịt cá, mặc dầu có giới
cấm sát sanh.
Phật
giáo Nguyên Thủy quan niệm rằng ăn cách nào cũng
được, [1] tùy duyên mà ăn cho có đủ sức khỏe để
hành trì giáo pháp, ăn chay mà thân thể yếu đuối xanh
xao, tinh thần bạc nhược thì rất tai hại, đường tu đạo
đã không được tiến hóa mà còn trở ngại cho sự tu
hành. Họ cho rằng sự ăn chay không có mặt trong thời
kỳ bắt đầu của Phật Giáo và chính Đức Phật cũng
không phải là người ăn chay, [2][3] ăn chay là một nét
đặc thù của Phật Giáo Đại Thừa Trung Hoa, bắt đầu từ
triều đại nhà Minh, tức thời Hòa Thượng Vân Thê Châu
Hoằng (1565-1615) và dĩ nhiên truyền mạnh qua Phật giáo Bắc
Tông Việt Nam. Trước đó Phật Giáo Trung Hoa cũng không
đặt vấn đề ăn chay mặn là việc quan trọng cho sự tu
hành. [4]
Phật
giáo Nguyên Thủy cho rằng chính Phật không đặt thành vấn
đề ăn chay mặn, sự giải thoát không phải do nơi ăn,
mà là do nơi thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý, ăn chay mà
thân khẩu không lành, ý chứa gươm đao, giới luật không
giữ thì đâu gọi là chay. Đức Phật cùng các đệ tử
của Ngài đều ăn theo truyền thống khất thực, "ă?
để mà sống để hành đạo", chứ không phải "sống
để mà ăn để thụ hưởng".
Tất
cả chư Tăng Nam Tông, tính có hàng triệu người, ở các
quốc gia Phật giáo như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cao
Miên, Ai Lao và một phần Việt Nam đều tiếp tục duy trì
truyền thống này. Họ cho rằng bản thân họ không tự mình
sát sinh, không khích lệ người khác sát sanh, không tùy
hỷ sự sát sanh và do đó không phạm giới sát sinh.
Trong
Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật dạy hàng Tỳ Kheo, nếu hành
đầy đủ ba pháp "Tự mình từ bỏ sát sanh, khích
lệ người khác từ bỏ sát sinh, tùy hỷ sự từ bỏ
sát sanh sẽ được sanh lên cảnh trời, không bị rơi vào
địa ngục. [5]
Trong
Tăng-Hàm, quyển 37, khi luận bàn về vấn đề sát sanh, có
nói như sau:
"Tôi muốn sống, không muốn chết, muốn được sung sướng, không muốn phải đau khổ. Nếu có kẻ nào cướp đi sự sống của tôi, tôi có vui vẻ không? Nếu tôi không vui vẻ, thì kẻ khác cũng không vui vẻ khi tôi cướp đi của họ sự sống và sự sung sướng ấy. Không những thế, phàm cái gì mình không ưa thích thì kẻ khác cũng không thích. Nếu thế thì tại sao ta lại làm cho những kẻ khác những điều mà ta không ưa thích?" (Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Kimura Taiken, Hán dịch: Thích Diễn Bồi, Việt dịch: Thích Quảng Độ)
Thật ra mục
đích căn bản của đạo Phật về mặt giới luật là tránh
làm mọi điều ác, làm tất cả việc lành và giữ tâm
được trong sạch. Sự giác ngộ giải thoát chẳng phải
do việc ăn chay hay ăn thịt, mà là do sự trong sạch của
thân khẩu ý. [6] Phàm tất cả những việc gì có hại đối
với thân tâm, gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại,
cho đến tất cả chúng sinh hữu tình, đều bị chi phối bởi
năm giới luật căn bản, mà giới cấm sát sanh là giới
cấm đầu tiên của Đạo Phật.
Trong
kinh điển Nguyên Thủy, Đức Phật sau khi nghe lời thỉnh cầu
của Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) xin ban hành giới cấm không
cho hàng Tỳ kheo ăn thịt cá, Đức Phật không chấp thuận
và Ngài dạy rằng. "Sự ăn thịt cá có thể coi như
trong sạch trong ba trường hợp (tam tịnh nhục) là người
ăn không thấy, không nghe, không có lòng hoài nghi rằng
con vật bị giết riêng biệt cho mình." [7]
Chúng ta nên
nhớ rằng, thời Đức Phật còn tại thế, hàng tỳ kheo
đi khất thực, bữa ăn hàng ngày tùy thuộc vào những
gì mà lòng hảo tâm của thập phương bá tánh đặt vào
bình bát, các thầy lặng lẽ nhận với một tâm không
phân biệt, ngoại trừ những thức ăn không được
Đức Phật cho phép ăn như nói ở trên.
Theo
luật tắc của tu viện thời Đức Phật, quý thầy Tỳ
kheo không được phép đòi hỏi món này hay món khác,
quý thầy nhận với tâm bình thản và không phân biệt
bất luận thứ gì mà người Phật tử hoan hỷ cúng dường.
Thực phẩm chỉ để nuôi mạng sống.
Ngày
nay tại các quốc gia mà các thầy tỳ kheo không thể đi
khất thực được, việc ăn uống tùy thuộc hoàn toàn
vào các nhóm cư sĩ Phật tử hoan hỷ hỗ trợ các thầy.
Quý Phật tử tự ý đi chợ mua sắm rồi nấu nướng dâng
đến các thầy thọ trai. [8]
Trên đây là tóm lược quan điểm của Phật Giáo Nguyên Thủy về vấn đề ăn chay. Họ có những lý do tin là việc ăn chay hay không ăn chay không phải là điều quan trọng trong việc hành trì Phật Pháp. Họ tin rằng việc dính mắc hay không dính mắc trong tâm tưởng mới là điều quan yếu, khi tâm quá dính mắc vào các ý niệm thiện ác hay ăn chay mặn là mang vào mình sự bất an vì e sợ không biết hành động của mình có sai, có tạo nên ác nghiệp không? Chẳng hạn khi quét nhà lo sợ kiến chết hay khi đi lo sợ dẫm lên làm chết côn trùng hay làm hại cây cỏ. Họ cũng thường trích dẫn bài kinh Amagandha mà Đức Phật giảng cho Jivaka nghe rằng "phẩm hạnh xấu xa của người làm tội bằng nhiều cách khác nhau, còn tệ hại hơn là ăn thịt cá nhiều."
Họ
nghĩ rằng những điều làm cho con người bất tịnh chẳng
phải là ở nơi ăn thịt cá, mà là ở nơi lòng oán hận,
mê tín, gian xảo, tật đố kiêu căng, và xu hướng theo
đường bất chánh.
Nói tóm
lại, Phật giáo Nguyên Thủy tin tưởng rằng, không có một
giới luật khắt khe nào trong Phật giáo nói là tín đồ
của Đức Phật không nên ăn thịt cá và bắt tất cả
người Phật tử phải ăn chay. Họ cũng tin rằng, Đức
Phật chỉ khuyên là không nên liên quan vào việc sát
sanh có dụng ý hoặc không nên yêu cầu người khác giết
bất cứ chúng sanh nào cho mình ăn.
Thế
nhưng còn nhiều nghi vấn đặt ra về phương diện đạo
đức như là thịt cá bày bán ở ngoài chợ có phải
giết đặc biệt cho chúng ta ăn không? Có phải ăn thịt
cá là một thứ "ủy nhiệm sát sinh" không?
(killing by proxy). Ngoài ra còn nhiều nghi vấn, sẽ được những
người Phật Giáo khác trả lời như là làm sáng tỏ
quan điểm ăn chay của họ.
QUAN ĐIỂM VỀ ĂN CHAY CỦA PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
Trước tiên
phải nói ngay rằng ăn chay không phải là nét đặc thù
hay là sản phẩm riêng của Phật Giáo Đại Thừa nói
chung và của Phật Giáo Đại Thừa Trung Hoa nói riêng, nhất
là không phải từ thời Hòa Thượng Vân Thê Châu Hoằng,
bởi vì ăn chay đã có trong thời kỳ Phật còn tại thế
và được phát triển mạnh mẽ vào thời đại Asoka, vị
Hoàng Đế Ấn Độ trị vì từ năm 274 đến năm 232 trước
Thiên Chúa giáng sinh, tức thế kỷ thứ ba trước Tây lịch.
Trong
thời gian này và cho đến giữa thế kỷ thứ hai sau Tây
lịch, Phật Giáo Đại Thừa vẫn chưa được thiết lập.
Trong
suốt thời gian trị vì vương quốc Ấn Độ, Asoka đã trở
nên một đại quân vương Phật tử, lấy những tinh hoa của
Phật giáo và những lời giảng dạy của Đức Phật làm
thành chính sách trị nước của ông. Mọi nơi, Ngài ra lệnh
xây các bia đá "pillars of life" ghi lại giới
luật của Phật. Trên các bia này, Ngài đặc biệt nhấn
mạnh đến lòng từ bi và tính cách bất khả xâm phạm
của đời sống, cả con người lẫn súc vật. Ngài đã
đối xử với tất cả muôn loài chúng sinh bằng lòng từ
bi không phân biệt. Ngài cho xây cất không chỉ những bệnh
viện để săn sóc cho người đau ốm mà còn xây bệnh
viện săn sóc cho thú vật. Trong một bia đá có khắc những
hàng chữ sau: "Không nên lấy sự sống nuôi sự
sống. Cho đến rơm rạ, nếu còn côn trùng trong ấy, cũng
không nên đốt".
Không
những Ngài ăn chay trường mà còn cổ võ mọi người
ăn chay như Ngài. Trong Chỉ dụ số 1 khắc trên đá (tức
sắc lệnh bây giờ), Ngài ngăn cấm tất cả mọi hành động
giết thú vật để tế lễ thần linh. Một sắc lệnh khác,
Ngài ngăn cấm mọi hành động có thể làm đau đớn đến
thú vật. Tất cả việc săn bắn trên bộ, trên không và
dưới nước bị tuyệt đối ngăn cấm.
Về trường
hợp Phật Giáo Trung Hoa, đạo Phật được truyền qua xứ
này từ thế kỷ thứ nhất, lẽ dĩ nhiên việc ăn chay cũng
được mang theo và thăng trầm theo sự thăng trầm của
Phật Giáo.
Trong
những thời kỳ mạnh mẽ nhất phải nói tới triều đại
nhà Lương (502-549 A.D.), vua Lương đã cấm tất cả các thức
ăn thịt cá tại các buổi tiệc trong hoàng cung và yêu cầu
dân chúng ăn chay. Ngài cũng ngăn cấm việc giết thú vật
để tế lễ thần linh của Đạo giáo (Taoism) và cũng cấm
không cho dùng thú vật như tắc kè, rắn, nai, hổ, cọp,
v..v.. làm thuốc.
Đến
triều đại nhà Đường việc ăn chay còn mạnh hơn nữa,
chỉ riêng thủ đô Tràng An, kinh đô của Trung Hoa thời bấy
giờ có khoảng hai triệu dân mà có ít nhất là phân nửa
dân số ăn chay. [1]
Từ
sau triều đại nhà Đường, Phật giáo suy thoái và việc
ăn chay cũng ảnh hưởng theo mãi cho đến triều đại nhà
Minh, Phật giáo Trung Hoa mới được phục hưng lại và Hòa
Thượng Vân Thê Châu Hoằng (1565-1615) là người cổ võ
mạnh mẽ nhất, không những cho việc ăn chay mà còn phóng
sinh nữa. [2]
Như
vậy rõ ràng ăn chay đã có từ thời kỳ ban đầu của
đạo Phật và không phải là nét đặc thù hay là sản
phẩm riêng của Phật Giáo Đại Thừa, nhất là Phật Giáo
Đại Thừa Trung Hoa.
Thật
ra ăn chay là một phần của việc thực hành giáo pháp,
thực hành giới luật cấm sát sinh và thực hành hạnh
từ bi, một trong những tinh lý thiết yếu và quan trọng
của cả hai trường phái Nguyên Thủy và Đại Thừa.
Mỗi
sáng sớm tại các tu viện Phật Giáo Nguyên Thủy và một
số tu viện Phật Giáo Đại Thừa đều có đọc tụng Kinh
Từ Bi, [3] một bài kinh ngắn thuộc kinh hệ Nguyên Thủy và
sau đó, có nơi lấy nội dung bài kinh làm đề mục tham
thiền.
Thật
là khó hiểu khi mà hàng ngày vừa đọc tụng Kinh Từ
Bi và thực hành từ bi quán, lại vừa ăn thịt chúng
sinh!
Có
những quan điểm khác nhau giải thích sự kiện mâu thuẫn
kể trên. Ngài Philip Kapleau, một Thiền Sư nổi tiếng
tại Hoa Kỳ đã trình bầy trong quyển sách Cherish All Life
[4]rằng Ngài tin tưởng Đức Phật không thể nào cho phép
hàng tăng lữ ăn thịt. Thiền Sư cho rằng sở dĩ có việc
cho phép ăn thịt trong kinh hệ Pali là kết quả của việc
hiệu chỉnh kinh tạng trong các thời kỳ kết tập kinh điển
do những vị sư hay do những hệ phái bảo vệ quan điểm của
hệ phái mình hay cho chính cá nhân mình.
Tuy nhiên, các học giả Phật Giáo không tìm thấy kinh Jivaka Sutta, Majjhima Nikaya 55, bản tiếng Hoa trong tạng kinh Madhyama Agama, Majjhima Nikaya của Phật Giáo Trung Hoa và tỏ ý nghi ngờ Phật Giáo Trung Hoa đã cố ý bỏ sót kinh này. Điều này cũng được Hòa Thượng Thích Minh Châu nói đến trong quyển The Chinese Madhyma Agama And Pali Majjhima Nikaya: A Comparative Study [5]
Tưởng cũng
nên biết qua về những lời của Đức Phật được ghi
chép vào kinh tạng.
Sau
khi thiết lập tăng đoàn (sangha), Đức Phật có ban hành
những giới luật (vinaya) để sự sinh hoạt của tăng đoàn
có tổ chức quy củ. Phần còn lại của những lời Ngài
dạy qua hình thức pháp thoại và vấn đáp được gọi
là pháp hay kinh (dharma, dhamma).
Ba
tháng sau khi Đức Phật nhập diệt, các đại đệ tử của
Ngài, gồm năm trăm vị A-la-hán, nhóm họp tại thành Vương
Xá (Ràjagaha) để trùng tuyên lại những lời dạy của
Ngài. Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất này không
có một giới luật nào được đưa thêm vào và không
có một giới luật nào Đức Phật đặt ra cần sửa đổi.
Cũng tại kỳ kết tập này, kinh điển được phân chia ra
thành hai phần riêng biệt là Luật của Giáo hội (vinaya)
và Pháp thoại của đức Phật (sutta), và mỗi phần
được giao cho một vị trưởng lão cùng các môn đồ ghi
nhớ. Kinh luật như vậy được truyền miệng từ thầy đến
trò.
Một
trăm năm sau, vào năm 383 trước Tây lịch, kỳ kết tập
thứ nhì được tổ chức tại Phệ Xá Li (Vesali), gồm bẩy
trăm vị Thượng tọa, để kiết tập lại kinh điển và
thảo luận về vấn đề "Thập Sự Phi Pháp"
hay là mười điểm canh tân giới luật. Một số thầy tỳ
kheo không đồng ý thay đổi, một số khác cho rằng thay đổi
những giới luật nhỏ là cần thiết. Cuối cùng một nhóm
đã rời khỏi hội nghị ra thành lập Đại Chúng Bộ (Mahasanghika).
[6]
Từ
đây giáo đoàn đạo Phật chia thành hai bộ phái là Thượng
Tọa Bộ (Theravàda) và Đại Chúng Bộ. Trên đại thể, Thượng
Tọa Bộ là phái tuân thủ truyền thống, có khuynh hướng
bảo thủ, còn Đại Chúng Bộ là phái đổi mới, có
khuynh hướng cấp tiến.
Mãi
thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch tức vào thời A Dục Vương
(Asoka), kỳ kết tập thứ ba mới được triệu tập để
thảo luận về những quan điểm khác biệt của những vị
tỳ kheo thuộc các bộ phái khác nhau. Vào cuối kỳ hội
nghị, ngài Moggaliputta Tissa chủ tọa hội nghị đã đúc kết
cuốn Katha vatthu bác bỏ những lý thuyết và quan điểm
sai lầm hoặc không đúng của một vài bộ phái. Kỳ này
tam tạng kinh điển được chính thức viết bằng tiếng
Pali dựa theo ngôn ngữ Magadhi mà Đức Phật nói.
Đại
Chúng Bộ đã phát triển vào khoảng đầu Công nguyên,
và chuyển mình thành tông phái Đại Thừa và phát triển
mạnh trong thế kỷ thứ hai, thời đại vua Kaniska.
Như
vậy, sau một trăm năm Phật Niết bàn, giáo đoàn nguyên
thủy chia thành hai bộ Thượng Tọa và Đại Chúng; đến
khoảng hai trăm năm sau Phật Niết bàn thì từ trong Đại
Chúng Bộ lại chia thành tám phái; rồi đến khoảng từ
ba trăm đến bốn trăm năm sau Phật Niết bàn, từ trong
Thượng Tọa Bộ lại phát sinh ra mười phái, tổng cộng
có 18 phái, và hợp cả hai bộ chính lại thành 20 bộ phái.
Như
thế, sau khi Đức Phật nhập diệt, ba hội đồng kết tập
kinh điển đã được tổ chức trong vòng nhiều trăm năm
để thiết lập tạng kinh. Nhà nghiên cứu Phật học Edward
Conze trong quyển sách Ba
Mươi Năm Nghiên Cứu Phật giáo
đã lưu ý chúng ta rằng Đức Phật không nói bằng tiếng
Pali mà bằng ngôn ngữ Magadhi và ông nói rằng, giống như
Jesus, có thể đã thất lạc hết tư liệu nguyên thủy.
Trong kỳ hội nghị kết tập kinh điển lần thứ ba có ít
nhất mười tám hệ phái khác nhau và mỗi hệ phái đều
có riêng tư liệu và đều cho rằng hệ phái mình có thẩm
quyền.
Trở lại những điều khoản mà Đức Phật cho phép ăn ba thứ thịt, các học giả Phật giáo cho biết họ không tìm thấy trong bộ kinh cổ nhất The Mahasanghika Vinaya [7] mà chỉ tìm thấy trong kinh Jivaka Sutta, Majjhima Nikaya 55. Đây cũng là một nghi vấn của nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo.
Gạt bỏ những
lối nghiên cứu lịch sử của các học giả về khía cạnh
chính thống hay không chính thống của văn tự chữ nghĩa,
chúng ta hãy tìm hiểu quan điểm thực của người Phật
Giáo về vấn đề không ăn thịt cá này qua giới luật,
đặc biệt là giới cấm sát sinh.
Như
trên đã nói, ăn chay là chính sách dinh dưỡng nhằm bảo
tồn sức khỏe, thức ăn chỉ là những chất dinh dưỡng,
là những thuốc bổ để nuôi cơ thể, đồng thời ăn
chay cũng là chính sách thực hành giáo pháp, thực hành
giới luật cấm sát sinh và do đó tâm từ bi được phát
triển.
Như
vậy ăn chay có liên hệ mật thiết với giới cấm sát
sinh và vì thế khi nói đến ăn chay mà không nói đến
giới cấm này là một việc thiếu sót hay cố tình tách
rời hai vấn đề như là khác nhau!
Theo
Trường Bộ Kinh và Trường A Hàm, thì Giới là một
trong tam học của đạo Phật: Giới Học, Định Học và Tuệ
Học và là bước đầu tiên của tiến trình năm bước
dẫn đến giải thoát: Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và
Giải Thoát Tri Kiến.
Giới
là bước đi căn bản, do giới mà có thiền định và do
thiền định mà phát sinh trí tuệ. Nếu bước đi đầu không
vững vàng hay sai trái thì không thể nào đi được các
bước kế tiếp.
Trong
suốt bốn mươi chín năm hoằng pháp, Đức Phật đã để
lại không biết bao nhiêu là kinh điển, nhưng không ngoài
ba điều, mà hai điều đầu tiên thu nhiếp tất cả về giới
luật: không làm các điều ác, làm các việc lành và
giữ tâm ý thanh tịnh (chư ác mạc tác, chúng thiện
phụng hành, tự tịnh kỳ ý).
Phật
tử tại gia giữ 5 giới: không sát sinh, không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Nếu giữ
thêm 3 giới nữa là không nằm giường cao, không ướp
hoa, xoa phấn, và không ăn trái giờ, được gọi là bát
quan trai giới. Nếu là xuất gia, Sa di và Sa di ni giữ 10 giới,
Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni giữ 348 giới, Bồ Tát
giới, xuất gia hay tại gia giữ 10 giới trọng và 48 giới
khinh.
Căn cứ theo từng giới cấm một, cũng như toàn thể giới bổn, thì năm giới căn bản áp dụng chung cho cả hai hàng xuất gia và tại gia, áp dụng cho tất cả mọi người muốn được sống an lạc hạnh phúc cho mình và cho chúng sinh ở hiện tại cũng như tương lai.
Trên ý nghĩa
cơ bản, giới được đặt trên nền tảng từ bi thương
sót đến tất cả muôn loài chúng sinh, là không làm các
điều ác và làm các việc tốt lành hay nói một cách
khác, không làm những gì có hại cho mình, cho chúng sinh,
hoặc hại cả hai, và tích cực làm những gì về cả ba
phương diện thân, khẩu và ý mà có lợi cho mình và
cho chúng sinh.
Giới
không sát sinh là giới thứ nhất, không phải là những
điều răn dạy hay cấm đoán trong nền tảng luân lý thông
thường mà được đặt trên cơ sở bình đẳng Phật tánh
nơi mỗi chúng sinh, nơi lòng từ bi của con người và nơi
định luật nhân quả của vũ trụ vạn vật.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn dạy: Tất cả chúng sinh đều có
Phật tánh, nhưng vì bị vô lượng phiền não che phủ nên
chúng sinh chẳng nhận thấy được. [9]
Đối
tượng chúng sinh trong giới cấm thứ nhất của đạo
Phật là hữu tình chúng sinh, tức là những chúng sinh
có hệ thần kinh, có tình cảm, biết cảm giác, biết đau
đớn và vui sướng.. Chúng sinh ấy bao gồm từ người
cho tới các loài động vật trên bộ, trên không và dưới
nước, từ những con vật lớn như voi tượng, như cá ông
cho đến các con vật nhỏ bé như kiến, như sâu trùng.
Do
nghĩa trên mỗi cá thể chúng sinh đều đồng có Phật tánh,
đều có khả năng thành Phật nên có đặc tính bình đẳng,
do đó người Phật tử chúng ta không những không dám
sát hại chúng sinh mà còn phải tôn trọng và bảo vệ
chúng sinh.
Bản chất
của chúng sinh, dù loài nào, cũng đều ham sống sợ chết.
Giết hại chúng sinh tức là gây cho chúng sinh một sự
đau đớn về thân thể và một sự tuyệt vọng khi lòng
ham sống bị đe dọa và xâm phạm. Hơn nữa, cái chết của
một chúng sinh luôn luôn đồng nghĩa với sự chia lìa thân
quyến. Khi một chúng sinh bị đe dọa đến mạng sống, chúng
cũng có những phản ứng tự vệ, ít nhất là phát ra
những nỗi oán hờn thù hận đến những ai định tâm sát
hại chúng. Tại sao chúng ta làm đau đớn hay hủy mạng sống
của chúng trong khi chúng ta muốn sống và không muốn ai hành
hạ chúng ta?
Không sát sinh tức là không tước đoạt sự sống, hay tôn trọng sự sống chính là nền tảng căn bản của nếp sống an lạc cho cá nhân và hoà bình cho xã hội. Sát sanh là nguyên nhân của chiến tranh tàn phá. Con người giết thú vật một cách si mê ngu muội, đâu biết rằng niềm oán hận không thể nào xóa bỏ cứ chồng chất theo năm tháng khó mà cản ngăn nỗi thù sâu oán trả.
Đạo
Phật chủ trương cấm sát sinh, thể hiện qua việc ăn chay,
như là một chính sách dinh dưỡng tốt và cần thiết cho
sự hành trì Phật pháp của mỗi cá nhân, ổn định cho
gia đình, xã hội, và tận diệt nguồn gốc của chiến
tranh.
Căn cứ vào
đời sống gương mẫu của Phật, chúng ta hiểu rằng khi đặt
ra giới cấm này, Phật không chỉ giới hạn vào việc tôn
trọng và bảo vệ sự sống của con người, mà còn là
tôn trọng và bảo vệ sự sống của tất cả mọi sinh vật.
Ngay cả đến cỏ cây hoa lá, dù không phải là hữu tình
chúng sinh, không có tình cảm khổ vui, Ngài cũng dạy rằng
nên tôn trọng. Đó là thói quen tốt của người Phật tử,
không bao giờ sử dụng bạo lực. Chúng ta hãy xem quan điểm
của Hòa Thượng Thích Minh Châu, nguyên Viện Trưởng Viện
Đại Học Vạn Hạnh:
"Trong
vũ trụ bao la, hành tinh chúng ta cực kỳ nhỏ bé, sự sống
mong manh, trước đe dọa của một thảm họa hạch nhân. Do
vậy chúng ta sống trên hành tinh này, phải tôn trọng và
bảo vệ hành tinh chúng ta, tôn trọng và bảo vệ sự sống
còn của con người, tôn trọng và bảo vệ sự sống của
sinh vật, tôn trọng và bảo vệ sự sống của cỏ cây
hoa lá. Sự sống tự nó là thiêng liêng, đòi hỏi chúng
ta phải tôn trọng và bảo vệ, dầu là sự sống động
vật hay thực vật. Hủy hoại đời sống người khác, các
loài hữu tình khác để duy trì đời sống của mình, không
những trái với đạo lý con người, mà còn nghịch lại
với luật thiên nhiên.
Tôn
trọng và bảo vệ đời sống của con người, của mọi
loài, là động lực hay nhất và thiết thực nhất để
bảo vệ và tôn trọng đời sống của chính bản thân mình.
Bảo
vệ sự sống ở nơi đây còn có nghĩa bảo vệ môi trường
sống, bảo vệ sự dinh dưỡng trong lành của đất, nước,
cỏ cây hoa lá, bảo vệ sự trong sạch của bầu khí quyển
khỏi bị ô nhim, để nuôi dưỡng sự sống con người. Chỉ
bằng cách bảo vệ hữu hiệu môi trường sống mới có
khả năng bảo đảm sự sống của muôn loài và sự sống
còn của chúng ta.
Nguyên
lý này đặt trên nền móng, trên lời khuyên của Đức
Phật, chớ có sát sinh, chớ có khuyến khích sát sanh, chớ
có chấp nhận sát sanh, chớ có làm hại các sinh vật
nhỏ bé trong nước, thậm chí chớ có đạp trên cỏ xanh.
Đối với Đức Phật, từ bỏ sát sanh có nghĩa là bố
thí không sợ hãi, bố thí không hận thù, bố thí không
làm hại cho vô lượng chúng sanh. Đây là bố thí đệ
nhất, bố thí tối thượng, bố thí vượt ngoài thời
gian, bố thí được tồn tại lâu dài.
Ỏ
đây lời dạy của Đức Phật về lòng từ, về tôn trọng
sự sống, về không sát sanh sẽ đi rất xa trong sự nghiệp
thay đổi tâm trí của nhân loại. Chúng ta phải tu tập lòng
từ (metta) để nhiếp phục lòng sân và bất mãn. Chúng
ta cần phải tu tập lòng bi (karunà) để gìn giữ không làm
hại một ai, một sinh vật nào. Chúng ta cần phải tu tập
lòng hỷ (mudita) để hoan hỷ trước sự thành công của
người khác. Chúng ta phải tu tập lòng xả (upekkhà) để
diệt nỗi căm thù và oán hận."
[10]
Không những
giới không sát sanh được đặt trên căn bản bình đẳng
và chúng sinh đồng thể đại bi mà còn được đặt trên
căn bản là tất cả chúng sinh hữu tình đều đã từng
là bà con quyến thuộc của nhau, là cha mẹ, anh chị em, chồng
vợ, con cái của nhau trong muôn vàn kiếp trước, hiện tại
hay tương lai trong vòng luân hồi nhân quả trùng trùng.
Đức
Phật đã thấy tất cả chúng sinh hữu tình đều trải qua
những vòng sinh tử luân hồi và thấy rõ những mối
liên hệ với nhau qua nhiều dạng thể khác nhau. Bây giờ
một số chúng sinh đang sống dưới hình thức những con
vật thấp kém nhưng trước đây họ có thể đã mang dạng
thể con người. Có thể chúng đã có lúc cùng một loại
với chúng ta. Vì lòng từ bi vô bờ bến Ngài không muốn
chúng ta ăn thịt lẫn nhau nên Ngài đã ban hành giới cấm
đầu tiên là giới không sát sanh.
Ngài
nói: "Tất cả chúng sinh vì tâm tưởng khác nhau,
do vậy có sự xoay vần trong các thú."
[11]
Ngài nói rõ thêm "Hữu tình luân hồi thọ
sanh trong sáu đường như bánh xe quay không có đầu mối
trước sau, hoặc làm cha mẹ, hoặc làm con cái, đời
đời kiếp kiếp mang ân lẫn nhau. Với kẻ nam, người nữ
thấy đồng như cha mẹ, do vì chẳng chứng Thánh trí nên
không làm sao biết được. Hết thảy người nam là cha ta,
hết thảy người nữ là mẹ ta, tại sao chưa báo đền cái
ân đời trước, mà trở lại sanh ý nghĩ xấu để thành
oán hận." [12]
Nói về giới
không sát sanh này, Ngài Trần Thái Tông, vị vua khai sáng
ra triều đại nhà Trần, cũng đã viết trong Khóa Hư Lục
như sau: "Phàm các loài sinh từ trứng, thai, ẩm, hóa,
tính vẫn đồng, thấy nghe hiểu biết đâu khác. Chỉ do tạo
nghiệp kết oán, nên thọ tên khác hiệu khác. Ngày trước
vốn loài người, nay sanh đàn giống khác nhau. Hoặc là
bạn bè, hoặc là anh em. Thay đổi áo xiêm đai mũ, biến
làm mai vẩy cánh lông. Vợ quên chồng, chồng quên vợ,
con trái cha, cha trái con. Đã thấy đổi đầu khác mặt,
lôi về mổ bụng chặt chân. Luống lo tham sống sợ chết,
lại không một lời kêu đau khổ. Ngươi giết nó, nó giết
ngươi, hắn ăn mày, mày ăn lại hắn, hằng không ngày dứt,
mãi tạo oan trái. Kiếp kiếp trả nhau, đời đời thù
nhau.
Người
quay đầu liền đến quê nhà, kẻ phóng tâm hằng chìm
địa ngục. Sách Nho dạy: "Thi ân bố đức". Kinh Đạo
dạy: "Ái vật háo sanh". Phật chỉ cấm sát là giữ
giới, ngươi phải để ý tuân hành chớ phạm".
[13]
Nói
một cách khác, giới không sát sanh được đặt trên
định luật nhân quả, của tác động và phản động, đây
là định luật thiên nhiên. Nhân là nguyên nhân gây nên
và quả là kết quả. Như trồng hạt lúa thì có cây lúa,
trồng cam thì có cây cam. Định luật nhân quả chi phối tất
cả chúng sinh hữu tình lẫn vô tình. Tất cả hành động
của chúng ta bao gồm thân làm, miệng nói và tâm ý mà
đạo Phật gọi là ba nghiệp thân khẩu ý. Nghiệp là hành
động sẽ đưa đến kết quả tốt hay xấu. Do đó nếu chúng
ta làm những điều ác dữ thì chúng ta sẽ bị quả xấu
mà thường hay gọi là nghiệp báo.
Những
tai họa, tật nguyền hay dạng thể của chúng sanh khác nhau
đều có nguyên nhân nếu không kiếp này thì kiếp trước
hay những kiếp trước nữa chúng ta đã tạo nghiệp. Do sức
mạnh của nghiệp, nghiệp lực thúc đẩy những hành động
thiện hay bất thiện đã tồn trữ nhiều đời nhiều kiếp
trong quá khứ hiện hành dưới dạng thể khác.
Như
Ngài Trần Thái Tông nhắc nhở người
cư sĩ tại gia
trong bài văn giới
sát sanh trên; "ngày nay chúng ta là anh em, bạn bè,
có người làm thiện, có người làm ác. Sau kiếp này,
khi sanh trở lại, chúng ta hoặc làm người hay làm súc
sanh, hay các loài khác hoàn toàn không biết nhau nên mổ
bụng chặt chân không chút xót thương. Rồi thù oán nhau
mãi không có ngày thôi dứt nên oan trái chập trùng.
Giết nhau để được ăn ngon mặc đẹp, kiếp sau nó cũng
giết lại mình để trả thù và được ăn ngon mặc đẹp".
Nói tóm lại,
sát sanh nghĩa là giết hại sinh vật, cưỡng đoạt sự sống
nối tiếp, đi ngược lại ước muốn của chúng sinh. Nếu
có ý dẫn đến thực hiện thì tất cả hành động sát
sanh, bất luận loại nào, tuy có nặng nhẹ khác nhau, cũng
đều phạm tội sát sanh.
Đó
là quan điểm của Phật Giáo Đại Thừa về giới không
sát sanh và vấn đế ăn chay. Thật ra người Phật Giáo
Đại Thừa không cho rằng quan điểm nêu trên là của họ
mà là quan điểm chung của Phật Giáo. Điều này không
sai vì như trên chúng tôi đã trích dẫn những lời giảng
của Hòa Thượng Thích Minh Châu, một vị cao tăng thuộc
Phật Giáo Nguyên Thủy. Tâm tư của ngài là tâm tư của
những người con Phật không mang cặp kính mầu. Lòng từ
bi của ngài cũng giống như của tất cả mọi người, không
thêm không bớt, chỉ khác chăng là làn mây ô nhiễm mỏng
dày của mỗi người che phủ.
Trong phần kế tiếp chúng tôi trích dẫn những lời dạy của Đức Phật trong các kinh điển Đại Thừa như Kinh Lăng Gìa, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Lăng Nghiêm nói về vấn đề cấm không ăn thịt của Đức Phật.
Trong Kinh Phạm
Võng đức Phật dạy: "Tất cả nam tử là cha ta, tất
cả nữ nhân là mẹ ta. Từ nhiều đời ta đều thác
sanh nơi đó. Vì lẽ ấy nên chúng sanh trong lục đạo đều
là cha mẹ ta. Nếu giết chúng để ăn thịt, thời chính là
giết cha mẹ ta, mà cũng là giết thân cũ của ta. Tất cả
chất tứ đại đều là bổn thân bổn thể của ta, cho nên
phải thường làm việc phóng sanh và khuyên bảo người
khác làm. Nếu lúc thấy người đời sát sanh, nên tìm
cách cứu hộ cho chúng được thoát khỏi nạn khổ."
[1]
Vì
thế, là Phật tử, chúng ta không những ăn chay để tránh
sát sanh, để nuôi dưỡng lòng từ bi, thể hiện tâm bình
đẳng với muôn loài, không nỡ thấy những chúng sinh bị
đâm giết, quằn quại đau thương trong vũng máu, mà chúng
ta còn phải thể hiện tích cực hơn nữa là phóng sanh.
Phóng
sanh là giải phóng những sinh vật khỏi bị giam tù trong lồng
chậu, cởi trói cho những ai bị oan ức tù đầy.
Phóng
sanh mang hai ý nghĩa quan trọng, là cứu mạng sống và trả
lại quyền tự do cho chúng sinh, trong đó bao gồm cả con người
và con vật. Hai tác động này sẽ mang lại hai quả báo tốt
đẹp cho những ai thực hiện phóng sinh, là mạng sống
được dài lâu, khoẻ mạnh, và hưởng đời sống tự
do qua quá trình nhân quả.
Đó
là chưa kể đến phó sản tức là kết quả phụ của việc
phóng sanh, như thường trở nên giầu có vì bỏ tiền riêng
ra chuộc người hay mua súc vật sắp bị giết làm thịt để
phóng sinh. Tiêu dùng tiền của vào những việc này thì
sẽ được quả báo giầu có trở lại. Gieo một hạt cam
còn được hái cả ngàn trái huống chi cứu một con vật
khỏi bị giết. Kết quả của công đức phóng sanh thật
khó mà lường được.
Có
những tai nạn máy bay rớt, xe lật mà đôi khi chỉ còn
một người sống sót. Ai có thể giải thích được điều
này?
Có
những cuộc tàn sát tập thể dã man, lớn như cuộc tàn
sát "hollocus" người Do Thái, vừa vừa như
"killing fields" ở Cao Miên và tết Mậu Thân ở
Huế, Việt Nam và nhỏ như những vụ bắn giết học sinh tại
Arkansas, Oregon, Mississippi..v..v..Họ bắn giết nhau một cách
si mê. Ai có thể giải thích được điều này?
Phật
giáo cho rằng đó là kết quả của nghiệp sát sanh và
không phóng sanh. Nguồn gốc sâu xa của các trận chiến
tranh tàn sát, chính là nghiệp sát sanh. Con người giết
thú vật như điên dại, chỉ riêng ở Bắc Mỹ Châu cứ
mỗi giây đồng hồ là có hơn 250 con vật bị giết làm thịt
tại các lò sát sanh, tức hơn 8 ngàn triệu (tám tỷ) con
bị giết hàng năm. Họ đâu biết rằng niềm oán hận ngập
trời khó thể nào nguôi được. Đến khi chúng đền hết
tội trở lại làm người, đó là lúc ân đền oán trả.
Thuở
xưa ở thành Ca Tỳ La bên xứ Ấn Độ, có một làng đánh
cá, gần làng có hồ rộng mênh mông, gặp lúc hạn hán
mất mùa, bao nhiêu tôm cá trong hồ đều bị dân làng bắt
ăn, đến con cá cuối cùng lớn nhất cũng bị làm thịt,
chỉ có một đứa bé không hề thích ăn cá, đùa nghịch
gõ lên đầu con cá lớn kia đến ba cái.
Đến
thời Phật Thích Ca, vua Ba Tư Nặc là người sùng mộ đạo
Phật, cưới một cô con gái dòng họ Thích Ca sinh ra một
thái tử tên là Lưu Ly. Thuở ấu thơ, Lưu Ly thường hay
qua bên thành Ca Tỳ La chơi. Một hôm vì đùa nghịch nơi tòa
thuyết pháp của đức Phật, bị người gác mắng và đuổi
ra ngoài, Lưu Ly nuôi hận trong lòng, đến khi lên ngôi vua,
đem đại quân tấn công thành Ca Tỳ La, giết sạch cư dân
trong thành, trong thời gian này đức Phật nhức đầu hết
ba ngày, các vị đại đệ tử đến cầu xin Phật giải cứu.
Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần thông lấy bình bát
thâu năm trăm người họ Thích Ca bay lên không, cho rằng
đã cứu được họ, nhưng đến khi đổ ra, thì chỉ thấy
toàn máu. Các vị đệ tử hỏi Phật nguyên do vì đâu.
Đức
Phật bèn đem câu chuyện tiền kiếp thôn dân ăn cá kể
lại, con cá lớn kia nay là vua Lưu ly, còn binh tướng theo
Lưu Ly là bầy tôm cá trong hồ khi xưa, dân cư thành Ca Tỳ
la bị giết chính là thôn dân ngày nọ, còn đứa nhỏ gõ
đầu cá mà không ăn cá chính là đức Phật ngày nay
chịu quả báo nhức đầu ba ngày là do hồi ấy gõ đầu
con cá ba lần. Nghiệp khó chuyển nên bấy giờ họ Thích
Ca năm trăm người, tuy được Mục Kiền Liên cứu ra,
song vẫn không toàn tính mạng. Về sau vua Lưu Ly bị đọa vào
địa ngục. Oan oan tương báo khó có ngày dứt.
Đó
là câu chuyện nhân quả điển hình, có ghi trong sử sách
Phật giáo, và vì thế, ngày nào con người còn tạo
nghiệp sát sanh, còn thích ăn thịt cá, còn làm súng, còn
săn bắn, còn giam giữ người và vật vô tội ngày đó
còn có những cuộc tàn sát chiến tranh.
Là
Phật tử, chúng ta nên thực hành lời Phật dạy nêu
trên là không giết hại chúng sinh và nên phóng sinh.
Không
giết hại chúng sinh, (thể hệ qua việc thực hành ăn chay)
và phóng sinh là hai điều vô cùng hệ trọng, không những
nghiêm trì đệ nhất giới luật của đạo Phật trong tiến
trình tu tập tự thân, mà còn thể hiện sự báo hiếu
chân thật vào cao quý nhất đối với cha mẹ nhiều đời
trong quá khứ, bởi vì như đức Phật dạy, chúng sanh từ
đời này sang đời khác thay phiên lần lượt làm cha mẹ
con cái của nhau. Ăn thịt chúng sinh tức là ăn thịt cha
mẹ mình, là tội bất hiếu lớn nhất trong các tội bất
hiếu.
Ngoài ra, theo kinh nghiệm, người ăn chay và hay phóng sinh thường có thân thể mạnh khỏe, ít tật bệnh, ít gặp tai nạn và thường được sống những nơi an ổn không thù hận và không chiến tranh.
ĂN CHAY TRONG KINH ĐIỂN
PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
Bây giờ chúng ta hãy
đọc kinh điển Đại Thừa xem Đức Phật nói như thế nào
về việc Ngài cho phép hay không cho phép ăn thịt động vật.
Phải
nói ngay rằng trong tất cả kinh điển Đại Thừa, không có
một kinh nào Đức Phật cho phép ăn thịt. Không những vậy
Đức Phật còn nói rõ việc ngăn cấm ăn thịt. Điều này
cũng dễ hiểu thôi, bởi vì chính từ kinh điển Đại Thừa,
Đức Phật công bố rõ ràng rằng tất cả chúng sinh đều
bình đẳng, vì đều có Phật tánh (tức là tính giác) và
đều sẽ giác ngộ trong tương lai: "Ta là Phật đã thành,
và chúng sinh là Phật sẽ thành."
Chúng
ta hãy xem một đoạn nói về sự ăn thịt trong Kinh Lăng
Già (Lankavatara): Ngài bảo: "Có thể có một số tín
đồ của Ta còn u tối sau khi ta nhập diệt, không biết
được lời dạy và sự dạy của Ta và có thể kết luận
sai lầm rằng Ta cho phép họ ăn thịt và rằng chính Ta cũng
ăn thịt. Điều này hẳn là sai lầm. Vì làm sao mà những
người đang trú trong một cái tâm từ bi, tu tập khổ hạnh
và cố gắng theo con đường Đại Thừa lại có thể bảo
những người khác ăn thịt thú vật? Quả thực, Ta đã
từng đưa ra những luật tắc về sự ăn chứ không về
sự ăn thịt, mười điều phải tránh và ba điều được
chấp nhận. Nhưng trong Lăng Già này cũng như trong các
kinh Tượng Nhiếp (Hastikashiya), Bảo Vân, Niết Bàn (Nirvàna)
và Chỉ Man (Angulimàlika), ăn thịt là tuyệt đối bị cấm.
Không phải chỉ trong quá khứ mà cả trong tương lai và
hiện tại, tất cả các tín đồ của Ta phải kiêng thịt
thú vật dù thịt ấy đã được làm bằng bất cứ cách
nào. Nếu có ai tố cáo rằng chính Ta đã ăn thịt và cho
phép những kẻ khác ăn thịt thì kẻ ấy chắc chắn phải
bị sinh vào cõi khổ. Những người thánh thiện từ chối
mà không ăn cả đến thức ăn của người bình thường
huống chi là ăn thịt! Thức ăn của chư vị ấy là thức
ăn chân lý (Dharmàhàra - Pháp thực); Pháp thân của Như
Lai được phù trợ bằng thức ăn ấy."
Sau đây là
những lý do không ăn thịt được Đức Phật nói ra
trong kinh này:
1.
"Tất cả chúng sinh từ
xưa đến nay, lần lượt theo nhân duyên làm lục thân
quyến thuộc với nhau, suy nghĩ thịt này là người thân
kiếp trước của mình, do đó không nên ăn thịt.
2.
Thịt lừa, la, lạc đà,
chồn, chó, trâu, ngựa, người, thú v.v.. vì nhiều hàng
thịt bán lẫn lộn, do đó không nên ăn thịt.
3.
Như thợ săn, đồ tể,
cầm thú ngửi mùi họ liền sanh kinh sợ, chó thấy oán
ghét sủa vang, do đó không nên ăn thịt.
4.
Vì khiến người tu hành
chẳng sanh khởi từ tâm, do đó không nên ăn thịt. Phàm
phu ham thích hôi thúi bất tịnh, có tiếng tăm xấu xa, do
đó không nên ăn thịt. Vì khiến người trì chú chẳng
thành tựu, do đó không nên ăn thịt.
5.
Vì người sát sanh thấy
hình súc sinh khởi thức phân biệt, ham đắm mùi vị, do
đó không nên ăn thịt. Kẻ ăn thịt bị chư Thiên chê bỏ,
do đó không nên ăn thịt. Vì khiến miệng hôi hám, do đó
không nên ăn thịt. Vì khiến người có nhiều ác mộng,
do đó không nên ăn thịt.
6.
Vì đến chỗ rừng hoang
vắng lặng, cọp sói ngửi được mùi hương gây sự
nguy hiểm, do đó không nên ăn thịt. Vì làm cho ăn uống
thất thường, do đó không nên ăn thịt. Vì khiến người
tu hành chẳng sanh chán lìa, do đó không nên ăn thịt. Ta
thường nói rằng: Khi muốn ăn uống, nên nghĩ đây là
thịt của con mình hoặc nghĩ là thuốc độc, do đó không
nên ăn thịt. Cho Phật tử ăn thịt là không có chỗ đúng.
7.
Lại nữa, Đại Huệ ! Xưa
kia có vua tên Sư Tử Đô Đà Ta, ăn đủ thứ thịt, dần
dần cho đến ăn thịt người, dân chúng chịu không nổi,
tụ tập mưu phản, vua liền bị lật đổ, người ăn thịt
có lỗi như thế, do đó không nên ăn thịt.
8.
Lại nữa, Đại Huệ: Những
người sát sanh vì ham tài lợi mà sát sanh buôn bán cá
thịt, bọn ngu si ăn thịt chúng sanh; dùng tiền làm lưới
mà bắt lấy các thứ thịt. Người sát sanh ăn thịt, hoặc
dùng tài vật, hoặc dùng câu lưới bắt lấy những chúng
sanh bay trên trời, lội dưới nước và đi trên bờ, đủ
thứ giết hại, mua bán cầu lợi, gieo nhân chịu quả, sẽ
thọ ác báo. Đại Huệ ! Ta dạy Phật tử nên dùng Pháp
thực, không dạy ăn thịt, cho đến không mong cầu, không
nghĩ tưởng đến những cá thịt, do nghĩa này không nên
ăn thịt.
9. Đại Huệ ! Ta có khi phương tiện nói Giá Pháp, cho ăn năm thứ tịnh nhục hoặc là mười thứ, nay ở Kinh này xoá bỏ tất cả phương tiện, bất cứ lúc nào, chủng loại nào, phàm thuộc loài thịt chúng sanh, thảy đều đoạn dứt. Đại Huệ ! Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác còn chẳng ăn phi thời và tạp thực, huống là ăn thịt cá ư ? Tự không ăn cũng chẳng bảo người khác ăn. Dùng tâm Đại Bi dẫn đầu, xem tất cả chúng sanh như con một của mình, do đó chẳng ăn thịt con". [1]
Theo như trên,
hẳn là Đức Phật đã dùng pháp phương tiện cho phép tín
đồ Phật giáo ăn thịt nếu như họ không thấy không nghe
con vật bị giết và không bị đặc biệt giết để cho họ
ăn. Trong kinh này Phật đã xác nhận điều đó và hủy
bỏ mọi pháp phương tiện đã ban hành từ trước.
Cũng
trong kinh Lăng Nghiêm, Phật lại một lần nữa nói lên
việc ngăn cấm ăn thịt. Chúng ta hãy nghe lời Ngài:
"Người tu chánh định, cốt để ra khỏi trần lao, nếu
tâm sát hại chẳng trừ, thì chẳng thể ra khỏi, dẫu có
nhiều trí thiền định hiện tiền, mà chẳng dứt sát hại,
ắt phải lạc vào đạo qủy thần. Hạng trên thành tựu
đại lực qủy, hạng giữa thành phi hành dạ xoa và các
loại qủy soái, hạng dưới thành địa hành la sát. Các
loài qủy thần kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi đều xưng
đã thành đạo vô thượng, sau khi ta diệt độ, trong
đời mạt pháp, loại qủy thần này sôi nổi trên thế
gian, tự nói ăn thịt cũng được đạo Bồ Đề....
".....Các
ngươi nên biết, những người ăn thịt, dù được khai
ngộ tựa như Tam Ma Địa, nhưng đều là giống La Sát, khi
hết phước báu, ắt phải chìm đắm trong biển khổ, chẳng
phải đệ tử Phật. Những người như thế, giết nhau nuốt
nhau, ăn nhau không thôi, làm sao ra được khỏi luân hồi.
"Ngươi
dạy người đời tu Tam Ma Địa, phải dứt trừ sát sanh,
ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết
định thứ hai của chư Phật !
"A
Nan ! Nếu chẳng dứt sát hại mà tu thiền định, cũng như
có người tự bịt lỗ tai, lớn tiếng kêu to mà mong người
khác chẳng nghe, bọn này gọi là muốn giấu mà càng lộ.
Hàng Tỳ Kheo trong sạch và chư Bồ Tát, đi trong đường
tẻ còn chẳng dẫm lên cỏ, huống là nhổ cỏ. Làm sao người
có lòng đại bi lại ăn thịt chúng sanh ?
"Nếu
Tỳ Kheo chẳng mặc tơ lụa, chẳng mang dày dép da cừu, chẳng
ăn những tô lạc đề hồ.. thuộc bộ phận thân thể của
chúng sanh, thì Tỳ Kheo nầy nơi thế gian gọi là chơn giải
thoát, khi nợ xưa trả sạch thì chẳng sanh vào ba cõi. Tại
sao ? Vì những bộ phận thân thể của chúng sanh để ăn
mặc, thì phải trả nợ chúng sanh. Như người ăn lúa thóc
từ đất mọc thì chân chẳng lìa đất. Cũng vậy, người
mà đối với thân thể của chúng sinh đều chẳng ăn chẳng
mặc, ta nói người này là chơn giải thoát." [2]
Trước khi
Phật Niết Bàn, Ngài cũng nói: "Này Ca Diếp ! Bắt đầu
từ ngày nay trở đi, Như Lai không cho phép hàng Thanh Văn
đệ tử ăn thịt, nếu đàn việt đem đến dưng thí, phải
xem thịt ấy như thịt con mình. Như Lai cấm các đệ tử không
được ăn tất cả các thứ thịt". [3]
NGHI VẤN VỀ NGUYÊN DO ĐỨC PHẬT NIẾT BÀN
Đây có
thể là thắc mắc của nhiều người Phật tử hay không
phải Phật tử, đặc biệt là những người nghiên cứu
đạo Phật qua sách vở biên soạn bởi các nhà học Phật
Tây phương.
Trước
tiên phải nói đến vị cư sĩ, tên là Thuần Đà người
đã thỉnh cầu Đức Phật và hàng Tỳ kheo nhận phần cúng
dường bữa cơm cuối cùng vào ngày hôm sau. Đức Phật
nhận lời sau khi đã giảng một thời pháp cho Thuần Đà
cùng với mười lăm người bạn đồng nghiệp của ông
ta.
Ngày
hôm sau Đức Phật và hàng Tỳ kheo đến nhà ông Thuần
Đà. Sau khi Phật và tăng chúng an tọa, Thuần Đà cung kính
dâng lên cúng Phật bát canh nấm Chiên Đàn mà ông đã
nấu riêng để dành đặc biệt cho Phật. Khi Đức Phật
nhận bát canh nấm từ tay Thuần Đà, Ngài có nói với
Thuần Đà rằng, đừng đem thứ canh nấm còn dư này cúng
dường cho các vị Tăng khác, Thuần Đà vâng lời rồi
lui ra. [1]
Từ
ngữ Chiên Đàn mà chữ Pali là sukara-maddava được
các nhà học giả Tây phương dịch là truffles.
Truffles có bốn nghĩa: (1) một loại thức ăn mềm cho heo,
(2) một loại thức ăn mà heo rất ưa thích, (3) thịt heo mềm,
và (4) bột thịt heo khô xay nhuyễn (pig-pound).
Từ
sukara-maddava được kết hợp bởi hai từ sukara có nghĩa
là con heo và maddava có nghĩa là phơi khô. Do nghĩa này mà
một số người Tây phương đã cho rằng Thuần Đà đã
dâng bát canh thịt heo phơi khô nấu nhuyễn cúng dường
Phật, và đức Phật đã vì ăn bát canh thịt heo ấy mà
ngộ độc. Tuy nhiên theo những nhà học giả khác thì chữ
maddava có nghĩa là ngon, một thức ăn mà giống heo rừng
rất thích ăn.
Gạt bỏ mọi
sự tranh luận của các học giả, chúng ta cần phải hiểu
rằng: (1) Thuần Đà là một vị cư sĩ Phật tử đã theo
Phật và đã biết rằng Phật quen dùng các món ăn chay
và Ngài rất nhạy cảm đến nỗi khổ đau của chúng sinh
nỡ nào lại cúng dường Phật bát canh thịt heo nấu nhuyễn,
(2) Tại sao Phật dặn Thuần Đà đừng cúng dường cho các
vị Tăng khác phần còn dư của món canh nấm. Có phải Phật
đã biết bát canh nấm độc là cơ duyên để Phật Niết
Bàn nên không cho chư tăng khác ăn? (3) Nếu là thịt heo
khô tán nhuyn nấu canh thì đâu có thể xem là quý mà chỉ
dâng một mình Phật ăn. Cho nên rất có thể đây là món
canh nấm, vì loại nấm này rất quí, một loại nấm chỉ mọc
ở dưới gốc cây chiên đàn và chỉ có heo rừng mới
tìm ra được mà thôi.
Đó
là những nghi vấn và ý kiến khác nhau, chúng tôi cũng
xin trình bày ra đây để tùy ý quý độc giả thẩm định.
Pháp theo
tiếng Bắc Phạn là Dharma, tiếng Nam Phạn là Dhamma có nghĩa
là dù ở hoàn cảnh nào cũng vẫn giữ được tự tánh
bản chất và tùy theo hoàn cảnh để hòa hợp nhưng không
thay đổi bản chất. Tất cả kinh điển của Phật nói ra
được gọi là Pháp, với mục đích chỉ dạy chúng sinh
theo đó mà tu hành sẽ được giác ngộ, giải thoát khỏi
vòng sinh tử luân hồi.
Người
đời nhiều bệnh, các bệnh lại không giống nhau nên thầy
thuốc phải tùy bệnh mà cho thuốc. Đức Phật là Đại Y
Vương nên Ngài cũng tùy theo cơ duyên, căn tánh, trình
độ của từng chủng loại chúng sinh cao thấp không đều
và tùy thời tiết nhân duyên mà thuyết pháp để mọi
chúng sinh đều được giác ngộ.
Trong
thời kỳ bắt đầu của đạo Phật, do nội dung cách mạng
và giải phóng triệt để hầu xóa tan biên giới giai cấp
cùng cách phân biệt đối xử rất khắc nghiệt của xã
hội Ấn Độ thời ấy, nên nhiều thế lực đã tìm cách
phá hoại uy tín của Đức Phật. Cũng do điều kiện khách
quan còn nhiều khó khăn, chưa thể hoạt động thật mạnh
mẽ ở tất cả mọi phương diện, nên Đức Phật đã phải
tùy nghi phương tiện, uyển chuyển cải cách, để vừa hoằng
pháp, vừa phát triển, lại vừa sinh tồn.
Vì
nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải được
giản dị, thực phẩm phải được xem như là dược thực,
vì thế tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thực.
Khất thực là chính sách thực hành giáo pháp. Các thầy
Tỳ kheo phải giữ tâm bình đẳng mà đi khất thực từng
nhà, không phân biệt giầu nghèo sang hèn để tạo cho đủ
mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ duyên thực hành
hạnh bố thí cầu phước, nhân dịp đó quý thầy nói pháp
khuyên dạy mọi người tu hành.
Pháp
khất thực cũng vừa có mục đích phá trừ ngã chấp,
vừa tự độ vừa độ tha, lợi mình lợi người lại
khỏi mất thời gian mua và nấu nướng thực phẩm. Khi ăn
thì phải trộn các món ăn với nhau để không còn phân
biệt món này với món khác, món ngon món dở và không
phân biệt mùi vị. Mục đích để không còn luyến ái mùi
vị thơm ngon, mà chỉ cần ăn để nuôi sống xác thân mà
tu hành giải thoát.
Trong
hoàn cảnh xứ Ấn Độ hai ngàn năm trăm năm trước đây,
dân chúng thì nghèo mà tăng đoàn của Phật thì lại đông,
mỗi khi đi khất thực có đến cả ngàn tỳ kheo, làm sao
mà có thể có đủ thực phẩm chay. Lại nữa, đã gọi
là trải ruộng phước cho mọi người gieo trồng, làm sao
có thể từ chối vật thực cúng dường, tạo sân hận
cho người có lòng cúng dường. Cho nên sự việc tăng
đoàn thọ nhận vật thực cúng dường, dù cho có lẫn
thịt cá, hoàn toàn là tình cờ, chư Tăng không hề quan
tâm đến món ăn, chỉ cốt có thực phẩm để nuôi dưỡng
cơ thể có đủ sức tu hành hoàn thành đạo quả.
Do
hoàn cảnh khó khăn kể trên, Phật không đòi hỏi mọi
người một cách khắt khe, nhưng nhờ Giới Không Sát
Sanh do Ngài ban hành sẽ thấm nhuần từ từ khiến cho mọi
Phật tử sẽ ngừng tay chém giết súc sinh, thay thế thực
phẩm bằng các thực vật rau đậu, chừng đó họ sẽ cúng
dường rau đậu trái cây.
Ngày
nay, hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua, đời sống toàn
thế giới đã tương đối sung túc hơn thời cổ đại. Các
vùng sa mạc nay cũng có thể trồng được hoa mầu. Lương
thực không còn thiếu thốn như xưa. Dù nghèo, mọi người
muốn cúng dường chư Tăng đều có thể thực hiện
được vì thực phẩm rau đậu đâu đâu cũng có, vừa
tinh khiết lại nhiều chất bổ dưỡng.
Nên
nhớ là chư Tăng hoan hỷ nhận lãnh bất cứ gì người
Phật tử tại gia vui lòng hiến dâng. Việc ăn thịt cá
trong ba trường hợp mà Đức Phật cho phép không còn đúng
cho ngày nay, đó chỉ là pháp phương tiện mà Đức Phật
uyển chuyển ban hành trong thời kỳ khó khăn nói trên.
Chúng sinh có bệnh, Phật cho thuốc cũng phải tùy bệnh,
tùy hoàn cảnh, thời đại, cơ duyên, có lúc thuốc phải
nhẹ nhàng để thấm từ từ, có lúc bệnh nhân đủ sức
chịu đựng thì Phật cho uống liều mạnh để khỏi bệnh
luôn, cho nên là Phật tử, chúng ta đọc kinh phải hiểu
ý Phật, ý kinh. Đức Phật đã dạy cho chúng ta phải y cứ
theo bốn điều: (1) y pháp bất y nhân, (2) y trí bất y thức,
(3) y nghĩa bất y ngữ, và (4) y liễu nghĩa kinh,
bất y bất liễu nghĩa kinh.
Hay
nói một cách khác, tất cả lời Phật đều là pháp phương
tiện giáo hóa chúng sinh, pháp đó hợp với lý chân
thật của vạn sự vạn vật, nhưng do hoàn cảnh không gian
và thời gian sai khác, nên pháp đó có thể phù hợp
hay áp dụng được ở một quãng thời gian hay không gian
nào đó cho một số chủng loại chúng sinh nào đó, nhưng
cũng có thể không phù hợp hay không áp dụng được
cho một thời kỳ nào khác hay nơi chốn nào khác cho chủng
loại chúng sinh khác.
Ý
của Phật có thể ví như là bản chất tự tánh của nước
là ẩm ướt, tùy theo nhân duyên hoàn cảnh, dù nước
đổ vào bình tròn hóa ra tròn, dù đổ vào bình vuông
hóa ra vuông và dù biến thành hơi bay lờ lững trên trời,
thì bản chất tự tánh của nước vẫn không thay đổi.
Trong suốt bốn mươi chín năm hóa độ chúng sinh, Ngài chỉ khuyên chúng ta tự hy sinh bản thân để cứu chúng sinh. Trong kinh Phật, không hề có một lời nào khuyến khích bạo lực, trả thù v..v.. Người Phật tử chỉ có một con đường, nếu muốn là Phật tử chân chính, đó là "cứu vớt chúng sinh và không ăn thịt chúng sinh".
Từ
lúc đạo Phật có mặt trên quả địa cầu này đến nay,
đạo Phật chưa bao giờ dấy khởi chiến tranh, bởi giới
luật đầu tiên của Phật là Không Sát Sanh - chẳng những
không giết người mà còn trân qúy và bảo vệ sự sống
của muôn loài chúng sinh hữu tình lẫn vô tình. Ngài nói
rất rõ trong tất cả các kinh điển Nguyên Thủy cũng như
Đại Thừa là, "chớ có sát sinh, chớ có khuyến
khích sát sanh, chớ có chấp nhận sát sanh, chớ có làm
hại các sinh vật nhỏ bé trong nước, thậm chí chớ có
đạp trên cỏ xanh." [1]
Do
những lý lẽ trình bầy trên, chúng ta tuyệt đối không
nên cúng dường qúy thầy, qúy sư những thực phẩm không
phải là chay, những thực phẩm hay đồ dùng có nguồn gốc
từ việc giết hại chúng sinh như thịt cá tôm cua sò ốc,
da đồi mồi, da cá sấu, áo lông thú, dày da bò, da trâu,
cao hổ cốt và vải lụa dệt bằng tơ tằm.
Nếu như chúng ta cứ cố ý làm như vậy rồi viện lẽ Phật cho phép, tức là chúng ta đã không mang ơn Phật mà còn hủy báng Phật và chúng ta tự hủy hoại hạt giống từ bi trong chính chúng ta, chúng ta tự tạo tội cho chính chúng ta. Mua thịt cá ngoài chợ, dù là mua cho mình hay mua cho người khác cũng đồng nghĩa sát sinh như nhau.
Đừng
ngụy biện nói rằng "Tôi không giết, không nghe,
không thấy. Họ bán thì tôi mua. Đó là tịnh nhục".
Không !! Đừng tự lừa dối mình !! Thời nay không còn
tịnh nhục. Thịt cá bán ngoài super market có đối tượng
rõ ràng, đó là người mua. Vậy có người mua nên mới
có kẻ bán. Người mua là lý do thúc đẩy kẻ bán giết
con vật, làm sao còn gọi là tịnh nhục được, làm sao có
thể nói được là tôi không giết. Hành động mua thịt
cá ngoài chợ được xem là một thứ "ủy nhiệm sát
sanh" (killing by proxy) cũng đồng nghĩa như sát sanh.
Có
một số người còn cho rằng Giới Không Sát Sinh trong năm
giới dành cho cư sĩ Phật tử là "giới bất sát
nhân" tức "không giết người, "có nghĩa
là vẫn được giết các sinh vật khác, trừ người
". Quả là một sai lầm vô cùng lớn lao và tai hại.
Họ đã hiểu sai, không những chữ mà còn ý của Phật
nữa. Chữ "sinh" trong "Giới Không Sát
Sinh" có nghĩa là sinh vật hay chúng sinh (sentient
being). Chúng sinh, theo Ngài Trần Thái Tông dạy rất rõ
cho hàng Phật tử tại gia là hữu tình chúng sinh, tức
là tứ sinh nói trong Khóa Hư Lục, nghĩa là sinh vật sinh
từ trứng, từ thai bào, từ ẩm ướt và từ hóa
sinh.
Còn
giới Sát Sinh của Bồ Tát Giới thì quý Phật tử nào
đã thọ thì biết, chỉ khởi lên "ý niệm" ăn thịt
hay ý niệm sát hại đã là phạm giới chứ không phải
chỉ khi ăn thịt chúng sinh mới là phạm giới.
Trong đời sống tương đối này, chúng ta ai ai cũng bị chi phối bởi luật nhân quả. Không nhân nào mà không ra quả, chỉ chờ duyên thôi. Cho nên nếu bất đắc dĩ phải làm những nghề liên quan đến sát sinh dù là trực tiếp hay gián tiếp như làm nghề chài lưới, săn bắn, giết heo, mổ gà, mổ bò, bán súng, thì chắc chắn sẽ có ngày lãnh hậu quả, có thể đời nay, hay những kiếp sau. Nên Đức Phật khuyên trong Bát Chánh Đạo hãy chọn một nghề sinh sống không làm tổn hại đến chúng sinh. Đức Phật thương xót đến cả côn trùng không nỡ dẫm lên chúng. Nếu như chúng ta có vì vô tình mà không tránh được việc dẫm lên các con vật nhỏ bé thì chúng ta cũng nên tránh các nghề sát hại chúng sinh như nói ở trên.
---o0o---
Chương 3 | Chương 4 | Chương 5
---o0o---