KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Việt dịch:  Thích Trí Tịnh

--- o0o --- 

 

XLVIII

PHÁP HỘI

THẮNG MAN PHU NHƠN

THỨ BỐN MƯƠI TÁM

 

Hán dịch: Nhà Đường, Tam Tạng Pháp Sư Bồ đề Lưu Chi

Việt dịch:  Việt Nam Tỳ kheo Thích Trí Tịnh 

Như vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc. 

Bấy giờ vua nước Xá Vệ là Ba Tư Nặc Vương và Mạc Lợi phu nhơn mới chứng đạo pháp xong cùng bảo nhau rằng : Con gái chúng ta là Thắng Man sáng suốt từ ái đa văn trí huệ, nếu nó được thấy đức Như Lai thì ở nơi pháp thậm thâm sẽ có thể mau thấu hiểu, không còn các sự nghi hoặc. Chúng ta nên sai người giỏi khuyến dụ đến phát khởi lòng thành kính của nó . 

Bàn luận xong, vua và phu nhơn viết thư khen ngợi công đức chơn  thiệt của Như Lai, sai quan Chơn Ðề La làm sứ mang thư đến thành Vô Ðấu trao cho Thắng Man phu nhơn.

Sau khi xem thơ của cha mẹ, Thắng Man phu nhơn vui mừng đảnh thọ, hướng Chơn Ðề La mà nói kệ rằng : 

Tôi nghe tiếng Như Lai

Thế gian khó được gặp

Lời nầy nếu chơn thiệt

Sẽ ban người y phục

Nếu đức Phật Thế Tôn

Vì lợi thế gian hiện

Tất phải được xót thương

Cho tôi thấy chơn tướng. 

Thắng Man phu nhơn nghĩ tưởng đến Phật mà nói ra lời ấy, trong giây lát sau đức Phật hiện thân tướng bất tư nghì tại hư không phóng quang minh chiếu khắp thế giới. 

Thắng Man phu nhơn cùng quyến thuộc đều hợp đến chiêm ngưỡng chắp tay đảnh lễ Phật nói kệ khen rằng : 

Như Lai thân sắc đẹp

Thế gian không ai bằng

Không sanh chẳng nghĩ bàn

Thế nên nay kính lạy

Thân Như Lai vô tận

Trí huệ cũng như vậy

Tất cả pháp thường trụ

Vì thế tôi quy y

Khéo điều tâm lìa lỗi

Ðiều thân khẩu cũng vậy

Ðều đến bất tư nghị

Thế nên tôi kính lạy

Biết các pháp sở tri

Thân và trí vô ngại

Nơi pháp không quên mất

Vì thế tôi kính lạy

Cúi lạy đấng Vô Lượng

Cúi lạy đấng Vô Ðẳng

Cúi lạy đấng Pháp Vương

Cúi lạy đấng Nan Tư

Mong thương gia hộ tôi

Cho giống pháp thêm lớn

Mãi đến thân rốt sau

Thường ở tại trước Phật

Bao nhiêu phước tôi tu

Ðời nầy và đời khác

Do sức căn lành nầy

Mong Phật luôn nhiếp thọ. 

Nói kệ xong, Thắng Man phu nhơn cùng quyến thuộc và tất cả đại chúng đảnh lễ chưn Phật. 

Bấy giờ đức Thế Tôn vì Thắng Man phu nhơn mà nói kệ rằng: 

Xưa ta vỉ Bồ đề

Ðã từng khai thị ngươi

Nay ngươi lại gặp ta

Ðến đời sau cũng vậy 

Nói kệ xong, đức Phật ở giữa chúng hội thọ ký Vô thượng Chánh Ðẳng Giác cho Thắng Man rằng : « Nay ngươi ca ngợi công đức thù thắng của Như Lai, do căn lành nầy, ngươi sẽ ở trong a tăng kỳ kiếp làm vua tự tại trong hàng trời người đầy đủ đồ thọ dụng. Ngươi sanh tại chỗ nào cũng thường được gặp Phật cúng dường khen ngợi như nay không khác. Ngươi còn sẽ cúng dường vô lượng vô số chư Phật Thế Tôn. Quá hai vạn a tăng kỳ kiếp ngươi sẽ thành Phật hiệu Phổ Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, quốc độ của Phật Phổ Quang ấy không có các ác đạo suy già bệnh khổ, cũng không có danh từ bất thiện ác nghiệp đạo, chúng sanh cõi ấy hình sắc đoan nghiêm, đủ cảnh đẹp cõi trời, thuần thọ hưởng vui sướng hơn cả Trời Tha Hóa Tự Tại. Chúng sanh cõi ấy đều hướng về Ðại Thừa, ai học Ðại Thừa như vậy đều sanh về quốc độ ấy ». 

Khi Thắng Man phu nhơn được thọ ký xong, có vô lượng trời người sanh lòng vui mừng hớn hở đều nguyện sanh về thế giới của Phật Phổ Quang. Ðức Thế Tôn đều thọ ký cho họ sẽ được sanh cõi nước ấy. 

Ðược nghe đức Phật thọ ký xong, Thắng Man phu nhơn chắp tay đứng trước Phật phát mười hoằng thệ : « Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng sanh tâm niệm phạm nơi giới đã được thọ . 

Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày Bồ đề, tôi chẳng sanh lòng kiêu mạn đối với các bực Sư Trưởng. 

Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng lòng giận hờn đối với các chúng sanh. 

Bạch dức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng sanh lòng đố kỵ với người hơn mình và sự hơn mình. 

Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng sanh lòng bỏn xẻn dầu chỉ có ít thức ăn. 

Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi chẳng vì mình mà nhận chứa của cải. Nếu có nhận chứa thì chỉ vì cứu tế loài hữu tình nghèo khổ. 

Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi hành tứ nhiếp sự mà chẳng cầu ân báo, không lòng tham lợi, không lòng nhàm đủ, không lòng hạn ngại, luôn nhiếp thọ chúng sanh.

Bạch đức thế Tôn ! từ nay đến ngày thành Bồ đề, thấy có chúng sanh nào không chỗ nương tựa, bị giam cầm trói buộc bịnh tật khổ não các thứ nguy ách, thì tôi trọn chẳng bỏ lìa họ, quyết mong cho họ được an ổn đem lợi ích lành cho họ. 

Bạch dức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, nếu tôi thấy có ai hủy phạm cấm giới thanh tịnh của đức Như Lai, nếu thuộc về thành ấp tụ lạc của tôi quản nhiếp, kẻ đáng điều phục tôi sẽ điều phục, kẻ đáng nhiếp thọ tôi sẽ nhiếp thọ. Tại sao ? Vì điều phục nhiếp thọ kẻ phá giới thì làm cho chánh pháp được còn lâu, chánh pháp còn lâu thì trời người đông đúc, mà ác đạo giảm ít có thể làm cho pháp luân của Như Lai được thường chuyển. 

Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, tôi nhiếp thọ chánh pháp không để quên mất. Nếu quên mất Ðại thừa thì quên Ba la mật, nếu quên Ba la mật thì quên Ðại thừa. Nếu chư Bồ Tát chẳng quyết định nơi Ðại thừa thì nhiếp thọ chánh pháp không được bền vững thì chẳng kham siêu việt bực phàm phu, là mất mát lớn. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hiện tại và vị lai chư Bồ Tát nhiếp thọ chánh pháp phát hoằng thệ nầy thì đầy đủ vô biên lợi ích rộng lớn. 

Ðức Thế Tôn dầu là chứng biết mà các loài hữu tình căn lành kém mỏng hoặc phát khởi lưới nghi, do đây nên mười hoằng thệ khó thành tựu được, họ sẽ mãi mãi chứa hợp các pháp bất thiện, thọ những khổ não. Vì lợi ích cho các chúng sanh ấy nên nay tôi ở trước đức Phật phát thệ thành thiệt. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi phát mười hoằng thệ ấy nếu là chơn thiệt chẳng hư luống thì trên đại chúng sẽ mưa hoa trời phát âm thanh cõi trời ». 

Thắng Man phu nhơn ở trước đức Phật nói vùa dứt lời, trên hư không liền mưa hoa trời và phát ra  âm thanh trời rằng : « Lành thay, lành thay ! Như lời thệ  cúa Thắng Man phu nhơn chơn thiệt không sai khác ». 

Bấy giờ chúng hộì thấy cảnh lành nầy dứt lòng nghi hoặc rất đỗi vui mừng đồng thanh xướng rằng : « Nguyện cùng Thắng Man phu nhơn sanh nơi nào đều đồng một nguyện hạnh ». 

Ðức Phật thọ ký cho tất cả đại chúng ấy đều mãn sở nguyện. 

Thắng Man phu nhơn lại ở trước Phật phát ba hoằng nguyện, do nguyện lực nầy mà lợi ích vô biên loài hữu tình. 

Ðiều nguyện thứ nhứt : Tôi do căn lành trong tất cả đời được chánh pháp trí. 

Ðiều nguyện thứ hai : Chỗ tôi sanh nếu tôi được chánh trí rồi vì các chúng sanh diễn thuyết không hề mỏi. 

Ðiều thứ ba : Tôi vì nhiếp thọ hộ trì chánh pháp nên đối với thân thể không tiếc sanh mạng. 

Ðức Phật nghe ba điều nguyện xong, bảo Thắng Man phu nhơn rằng :  « Như tất cả hình sắc đều nhập vào không giới, hằng sa điều nguyện của Bồ Tát đều nhập vào ba nguyện ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đại ». 

Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi sẽ nương sức oai thần biện tài của đức Phật muốn nói đại nguyện, mong đức Thế Tôn thương mà hứa khả cho ». 

Ðức Phật dạy : « Nầy Thắng Man ! Cho phép ngươi nói ». 

Thắng Man phu nhơn nói :“ Bồ Tát có hằng sa điều nguyện, tất cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp như vậy chơn thiệt quảng đại ». 

Ðức Phật bảo : « Lành thay, nầy Thắng Man ! Ngươi từ lâu tu tập trí huệ phương tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu rõ ý nghĩa của ngươi nói, người nầy đã vun trồng cội lành từ lâu. 

Nầy Thắng Man !  Nhiếp thọ chánh pháp như ngươi đã nói, đều là quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ nói, nay nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng nhiều thứ tướng để nói nhiếp thọ chánh pháp. Ca ngợi nhiếp thọ chánh pháp như vậy được công đức không ngằn mé. Như Lai trí huệ cũng không nguyện của Bồ Tát đêu nhập vào ba nguyện ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đạỉ. 

Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng :“ Bạch đức Thế Tôn nay tôi sẽ nương sức oai thần biện tài của đức Phật muốn nói đại nguyện, mong đức Thế² Tôn thương mà hứa khả cho ’’. 

Ðức Phật dạy :“ Nầy Thắng Man cho ! Cho phép ngươi nói ’’. 

Thắng Man phu nhơn nói :“ Bồ Tát có hằng sa điều nguyện, tất cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là nhiếp thọ chánh pháp.Nhiếp thọ chánh pháp như vậy chơn thiệt quảng đại’’. 

Ðức Phật bảo :“Lành thay, ngươi từ lâu tu tập trí huệ phương tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu rõ ý nghĩa của ngươi nói, người nầy đã vun trồng cội lành từ lâu. 

Nầy Thắng Man ! Nhiếp thọ chánh pháp do ngươi đã nói, đều là quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ nói, nay nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng nhiều thứ tướng để nói nhiếp thọ chánh pháp như vậy được công đức không ngằn mé. Như Lai trí huệ cũng không ngằn mé, Tại sao ? Vì nhiếp thọ chánh pháp đây có đại công đức có đại lợi ích’’. 

Thắng Man phu nhơn bạch rằng :“ Bạch đức Thế Tôn ! tôi sẽ nương thần lực của đức Phật mà nói nghĩa nhiếp thọ chánh pháp quảng đại’’. 

Ðức Phật dạy :“ Nầy Thắng Man ! Cho phép ngươi nói’’. 

Thắng Man phu nhơn nói :“ Nghĩa nhiếp thọ chánh pháp quảng đại là vì được vô lượng tất cả Phật pháp nhẫn đến hay nhiếp tám vạn hành môn. 

Ví như kiếp sơ nổi lên các sắc mây mưa các trận mưa báu. Cũng vậy, mây thiện căn nhiếp thọ chánh pháp hay mưa các trận mưa vô lượng phước báu. 

Ví như kiếp sơ trong đại thủyhay sanh tam thiên Ðại Thiên giới tạng và bốn trăm ức các thứ loại lục địa. Cũng vậy, nhiếp thọ chánh pháp xuất sanh Ðại thừa vô lượng giới tạng cùng các thứ thần thông lực các thứ pháp môn của Bồ Tát, thế gian và xuất thế gian đầy đủ an lạc mà tất cả thiên nhơn chưa hề có. 

Ví như đại địa mang nặng bốn gánh nặng : Ðó là biển cả, núi non, cây cỏ và chúng sanh. Cũng vậy, thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp thì có thể kham được bốn trọng  nhiệm hơn đại dịa kia : Ðó là đối với  các loài hữu tình rời lìa thiện hữu không nghe pháp phạm các tội lỗi thì dùng căn lành trời người để thành thục họ, với kẻ cầu Thanh Văn dạy họ Thanh Văn thừa, với kẻ cầu Duyên Giác dạy họ Duyên Giác thừa và với kẻ cầu Ðại thừa dạy họ Ðại thừa. 

Bạch đức Thế Tôn ! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp như vậy thì kham được bốn trọng nhiệm hơn cả đại địa, khắp vì chúng sanh làm bạn lành chẳng chờ mời, đại bi thương xót làm lợi ích cho các loài hữu tình, là mẹ pháp của thế gian. 

Ví như đại địa là chỗ sản sanh bốn thứ báu : Ðó là các báu vô giá, thượng giá, trung giá và hạ giá. Cũng vậy, thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp, các hữu tình gặp rồi thì được bốn báu lớn thù thắng nhứt trong các thứ báu, đó là các hữu tình gặp bạn lành nầy rồi thì hoặc được căn lành trời người, hoặc chứng Thanh Văn, chứng Bích Chi Phật và hoặc được thiện căn công đức Vô thượng thừa. 

Bạch đức Thế Tôn ! Xuất sanh báu lớn ấy thì gọi là chơn thiệt nhiếp thọ chánh pháp. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nói nhiếp thọ chánh  pháp là chánh pháp vô dị biệt, nhiếp thọ chánh pháp vô dị biệt là nhiếp thọ chánh pháp. 

Bạch đức Thế Tôn ! Ba la mật vô dị biệt nhiếp thọ Ba la mật vô dị biệt là nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp là Ba la mật. Tại sao ? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp, nếu đáng dùng bố thí để thành thục thì dùng bố thí nhẫn đến xả thân mạng tùy thuận ý họ để thành thục họ cho họ an trụ nơi chánh pháp, đây gọi là Bố thí Ba la mật. 

Nếu đáng dùng giới luật để thành thục thì thủ hộ sáu căn tịnh thân ngữ ý nhẫn đến oai nghi tùy thuận ý họ mà thành thục họ cho hữu tình ấy an trụ chánh pháp, đây gọi là Giới Ba la mật. 

Nếu người đáng dùng nhẫn nhục để thành thục, thì hoặc có bị người ấy mắng chửi hủy nhục chê bai não loạn liền dùng lòng không giận hờn và lòng làm lợi ích cùng sức nhẫn tối thượng nhẫn đến nhan sắc cũng chẳng đổi khác tùy thuận ý người ấy để thành thục họ cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Nhẫn Ba la mật. 

Nếu người đáng dùng tinh tỉến để thành thục thì đối với người ấy chẳng sanh lòng giải đải hạ liệt mà khởi lòng thích muốn tinh tiến tối thượng, trong bốn oai nghi tùy thuận ý người ấy mà thành thục họ cho họ an trụ chánh pháp, đây là Tinh tiến Ba la mật. 

Nếu người dùng tĩnh lự để thành thục thì dùng tâm không tán loạn thành thục chánh niệm, việc đã làm trọn chẳng quên mất tùy thuận ý họ mà thành thục họ cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Tĩnh lự Ba la mật. 

Nếu người đáng dùng trí huệ để thành thục, người ấy vì lợi ích mà hỏi các pháp nghĩa thì dùng lòng không mỏi chán mà vì họ diễn nói tất cả các luận tất cả minh xứ nhẫn đến các thứ công xảo xứ cho được cứu cánh, tùy thuận ý người ấy mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Trí huệ Ba la mật. 

Bạch đức Thế Tôn ! Thế nên Ba la mật không dị biệt, nhiếp thọ chánh pháp không dị biệt, nhiếp thọ chánh pháp tức là Ba la mật”. 

Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi nương sức oai thần biện tài của đức Phật sẽ nói về đại nghĩa. Mong đức Thế Tôn hứa khả”. 

Ðức Phật dạy : “ Nầy Thắng Man ! Ta cho phép ngươi nói ». 

Thắng Man phu nhơn nói : « Bạch đức Thế Tôn ! Nhiếp thọ chánh pháp là nhiếp thọ chánh pháp không dị biệt. Nhiếp thọ chánh pháp không dị biệt là nhiếp thọ chánh pháp. Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phải nhiếp thọ chánh pháp như vậy. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp vì chánh pháp mà xả bỏ thân mạng tài sản. Do xả bỏ thân thể nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu lìa xa già bịnh dược pháp thân Như Lai chẳng hư hoại thường hằng không biến đổi cứu cánh tịch tĩnh chẳng thể nghĩ bàn. Do xả bỏ sanh mạng nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu lìa hẳn sự chết được vô biên thường trụ, thành tựu các công đức lành, chẳng thể nghĩ bàn, an trụ nơi tất cả Phật pháp thần biến, do xả bỏ tài sản nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu vượt qua khỏi hữu tình không cùng tận không tổn giảm quả báo viên mãn có đủ công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, được các loài hữu tình tôn trọng cúng dường. 

Bạch đức Thế Tôn ! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn nhiếp thọ chánh pháp xả bỏ thân mạng tài được chư Như Lai thọ ký. 

Bạch đức Thế Tôn !Lúc chánh pháp sắp diệt, có hàng Tỳ kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di kết bè kết đảng phát khởi những tranh tụng, nếu nam tử, thiện nữ nhơn dùng lòng chẳng siểm khúc chẳng khi dối mến thích chánh pháp nhiếp thọ chánh pháp mà vào trong nhóm bạn lành, người vào nhóm bạn lành nầy tất được chư Phật thọ ký. 

Bạch đức Thế Tôn ! Tôi thấy người nhiếp thọ chánh pháp có sức mạnh lớn như vậy, đức Như Lai dùng làm con mắt dùng làm cội gốc pháp, dùng làm pháp dẫn đạo, dùng làm pháp thông đạt ». 

Ðức Thế Tôn nghe Thắng Man phu nhơn nói về nhiếp thọ chánh pháp có đại oai lực thì khen rằng : « Ðúng như vậy, đúng như vậy, lành thay ! Nầy Thắng Man đúng như lời ngươi nói nhiếp thọ chánh pháp có oai lực lớn. 

Như đại lực sĩ hơi chạm chà bóp ai thì người ấy đau đớn khổ lắm còn thêm bịnh nặng. Cũng vậy, giả sử chút phần nhiếp thọ chánh pháp cũng làm cho ma Ba Tuần dau đớn sầu não khóc rên than thở. 

Nầy Thắng Man ! Ta thường chẳng thấy một thiện pháp nào khác làm cho ma sầu não hằng nhiếp thọ chánh pháp một ít phần. 

Nầy Thắng Man ! Ví như ngưu vương hình sắc đoan chánh thân lượng đặc biệt lạ hơn hẳn các loài ngưu khác. Cũng vậy, người tu Ðại thừa nếu ít phần nhiếp thọ chánh pháp thì hơn hẳn tất cả pháp lành của hàng Thanh Văn, Duyên Giác. 

Lại như núi Tu Di cao rộng trang nghiêm xinh đẹp hơn các núi khác, cũng vậy, người mới đến Ðại thừa dùng lòng lợi ích chẳng đoái thân mạng mà nhiếp thọ chánh pháp thì có thể vượt hơn tất cả thiện căn của người ở lâu nơi Ðại thừa mà đoái thân mạng. 

Nầy Thắng Man ! Thế nên phải dùng nhiếp thọ chánh pháp mà khai hóa tất cả hữu tình. Nhiếp thọ chánh pháp được phước lợi lớn và đại quả báo. 

Nầy Thắng Man ! Trong vô số a tăng kỳ kiếp ta ca ngợi nhiếp thọ chánh pháp như vậy được công đức vô lượng vô biên. Nhiếp thọ chánh pháp thì thành tựu vô lượng công đức như vậy”. 

Ðức Phật bảo Thắng Man phu nhơn : “Nay ngươi lại nên diễn tả nhiếp thọ chánh pháp đã được ta nói mà tất cả chư Phật đồng ưa thích”. 

Thắng Man phu nhơn bạch rằng : “Lành thay, bạch đức Thế Tôn ! Nhiếp thọ chánh pháp thì gọi là Ðại Thừa. Tại sao ? Vì Ðại thừa xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên giác thế gian và xuất thế gian.

 Như ao A Nậu Ðạt phát xuất tám sông lớn, cũng vậy, Ðại thừa xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác. 

Lại như tất cả cây cỏ lùm rừng đều nương đại địa mà được sanh trưởng, cũng vậy, tất cả pháp lành của Thanh Văn, Duyên Giác đều nương Ðại thừa mà được sanh trưởng. Vì thế nên an trụ Ðại thừa nhiếp thọ Ðại thừa tức là trụ và nhiếp bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác thế gian và xuất thế gian. 

Như đức Phật Thế Tôn đã nói sáu xứ : Ðó là chánh pháp trụ, chánh pháp diệt, biệt giải thoát, tỳ nại gia, chánh xuất gia, thọ cụ túc. Vì Ðại thừa mà đức Phật nói sáu xứ ấy. Tại sao ? Vì chánh pháp trụ là vì đại thừa mà nói, Ðại thừa trụ thì chánh pháp trụ. Chánh pháp diệt là vì Ðại thừa mà nói, Ðại thừa diệt thì chánh pháp diệt. Biệt giải thoát và Tỳ Nại gia, hai pháp nầy tên khác mà nghĩa một. Tỳ nại gia là Ðại thừa, tại sao, vì Phật mà xuất gia mà thọ cụ túc, thế nên khối giới Ðại thừa là Tỳ nại gia , là chánh xuất gia, là thọ cụ túc. 

Bạch Thế Tôn ! A La Hán không có xuất gia không thọ cụ túc, tại sao, vì A La Hán chẳng vì Như Lai mà xuất gia thọ cụ túc, A La Hán có ý tưởng bố úy mà quy y Như Lai, tại sao, vì đối với tất cả hành A La Hán có tưởng bố úy coi như người cầm kiếm muốn đến hại mình, do đây nên A La Hán chẳng chứng được giải thoát an lạc cứu cánh. 

Bạch đức Thế Tôn ! Quy y nơi chằng cầu quy y, như các chúng sanh không chỗ quy y, chúng nó sợ hải nên tìm nơi quy y để được an ổn. Cũng vậy, vì có bố úy mà A La Hán quy y nơi Như Lai. 

Vì thế nên hàng A La Hán Bích Chi Phật còn có sanh pháp, chưa lập phạm hạnh, chỗ làm chưa xong, sẽ còn có chỗ dứt diệt vì chưa cứu cánh vậy. Họ còn cách xa Niết bàn. Tại sao ? Vì chỉ có Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác chứng được Niết bàn thành tựu vô lượng vô biên công đức chẳng thể nghĩ bàn, chỗ đáng dứt đã dứt hết cứu cánh thanh tịnh, được các loài hữu tình chiêm ngưỡng, vượt quá cảnh giới của nhị thừa và Bồ Tát. Còn hàng A La Hán thì chẳng phải như vậy. Nói rằng A La Hán được Niết bàn đó chỉ là phương tiện của Phật thôi. Thế nên A La Hán cách Niết bàn rất xa. 

Ðức Thế Tôn nói A La Hán và Bích Chi Phật quán sát giải thoát bốn trí cứu cánh được rồi xong đó, đều là lời tùy tha ý và thuyết bất liễu nghĩa của Như Lai. Tại sao vậy ? Có hai thứ tử : một là phần đoạn, hai là biến dịch. Phần đoạn tử là hữu tình tương tục, biến dịch tử là A La Hán và Bích Chi Phật cùng bực tự tại Bồ Tát được ý sanh thân nhẫn đến Bồ đề.Trong hai thứ tử ấy đem phần đoạn tử nói về A La Hán và Bich Chi Phật là sanh nơi trí ngã sanh đã hết. Vì đã chứng được quả hữu dư y nên sanh nơi trí phạm hạnh đã lập. Vì tất cả ngu phu chẳng làm được, bảy hàng học nhơn chưa làm xong và tương tục phiền não đã dứt rốt ráo, nên sanh nơi trí việc làm đã xong. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nói rằng sanh chẳng thọ lấy thân sau, người trí bảo là A La Hán và Bích Chi Phật chẳng dứt được tất cả phiền não, trí họ chẳng biết rõ tất cả thọ sanh. Tại sao ? Vì A La Hán và Bích Chi Phật còn có thừa phiền não chẳng dứt hết nên chẳng biết rõ được tất cả thọ sanh vậy. 

Phiền não có hai loại, đó là trụ địa phiền não và  khởi phiền não.

 Trụ địa phiền não có bốn thứ, đó là kiến nhứt xứ trụ địa phiền não, dục ái trụ địa phiền não, sắc ái trụ địa phiền não và hữu ái trụ địa phiền não. 

Bạch đức Thế Tôn ! Bốn thứ trụ địa ấy hay sanh tất cả biến khởi phiền não. Khởi phiền não ấy sát na sát na cùng tương ưng với tâm. 

Bạch đức Thế Tôn ! Vô minh trụ địa từ vô thỉ đến nay chẳng tương ưng với tâm. 

Bạch đức Thế Tôn ! Sức lực của bốn trụ địa phiền não làm sở y cho biến khởi phiền não sánh với vô minh trụ địa  thì toán số thí dụ chẳng bằng được. 

Ðúng vậy, đối với hữu ái trụ địa phiền não thì sức lực của vô minh trụ địa rất lớn. 

Ví như Ma Vương và chúng quyến thuộc sắc lực oai đức hơn hẳn bốn trụ địa hơn hẳn chư Thiên Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, vô minh trụ địa hơn hẳn bốn trụ địa hơn số hằng hà sa lần, nó làm sở y cho phiền não và cũng làm cho bốn thứ phiền não còn mãi. Trí của Thanh Văn và Duyên Giác chẳng dứt được vô minh trụ địa, chỉ có trí của Như Lai là dứt hết được nó. 

Bạch đức Thế Tôn ! Ðúng vậy, đúng vậy sức lực của vô minh trụ địa rất lớn. 

Như thủ chi làm duyên hữu lậu nghiệp nhơn mà sanh ra ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc, cũng vậy, vô minh trụ địa làm duyên vô lậu nghiệp nhơn hay sanh A La Hán, Bích Chi Phật và đại lực Bồ Tát tùy ý sanh thân và vô lậu nghiệp đều lấy vô minh trụ địa làm chỗ sở y, dầu là sở duyên mà cũng hay làm duyên. Thế nên tùy ý  sanh thân và vô lậu nghiệp đều dùng vô minh trụ địa làm duyên đồng như hữu ái trụ địa phiền não. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hữu ái trụ địa chẳng đồng nghiệp vời vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa khác bốn trụ địa. Khác bốn trụ địa đây chỉ có Phật dứt được hết. Tại sao ? Vì A La Hán và Bích Chi Phật dứt bốn trụ địa mà đối với lậu tận lực chẳng được tự tại chẳng hiện chứng được. Thế nên A La Hán, Bích Chi Phật nhẫn đến chư Bồ Tát tối hậu hữu vì bị vô minh trụ địa nó che lấp nên ở nơi các pháp ấy chẳng biết chẳng thấy nên đáng dứt chẳng dứt đáng hết chẳng hết. Vì ở nơi các pháp ấy chẳng dứt chẳng hết nên được hữu dư giải thoát mà chẳng phải nhứt thiết giải thoát được hữu dư thanh tịnh mà chẳng phải nhứt thiết thanh tịnh, được hữu dư công đức mà chẳng phải nhứt thiết công đức. 

Bạch đức Thế Tôn ! Vì được hữu dư nên ở nơi Thánh đế, các bực ấy biết khổ hữu dư, dứt tập hữu dư, chứng diệt hữu dư và tu đạo hữu dư.

 Nếu còn là biết hữu dư khổ dứt, hữu dư tập chứng, hữu dư diệt và tu hữu dư đạo, thì là chút phần diệt độ chúng, chút phần Niết bàn giới. 

Nếu biết tất cả khổ dứt, tất cả tập chứng, tất cả diệt và tu tất cả đạo, bực nầy ở nơi thế gian vô thường, bại hoại chứng được Niết bàn thường tịch thanh tịnh, bực nầy ở nơi thế gian không giúp không nương làm chỗ giúp chỗ nương. 

Tại sao ? Vì người ở nơi các pháp mà thấy có cao thấp thì chẳng chứng được Niết bàn. Người trí bình đẳng, giải thoát bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng mới chứng được Niết bàn. Vì thế nên Niết bàn gọi là bình đẳng nhứt vị, đó là vị giải thoát vậy. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nếu vô minh trụ địa chẳng dứt chẳng hết thì chẳng chứng được Niết bàn nhứt vị bình đẳng. Tại sao ? Vì vô minh trụ địa chẳng dứt chẳng hết thì hơn số hằng hà sa những pháp sai lầm đáng dứt còn chằng dứt, đáng hết còn chẳng hết. Vì còn hơn số hằng hà sa những pháp sai lầm chẳng dứt chẳng hết nên quá hằng hà sa số các pháp công đức chẳng trọn chẳng chứng được. Thế nên vô minh trụ địa là nơi sanh ra các tùy phiền não tất cả pháp lỗi lầm đáng dứt đáng hết. Từ đó sanh ra phiền não chướng tâm, phiền não chướng chỉ, phiền não chướng quán, phiền não chướng tịnh lự, nhẫn đến chướng tam ma đề gia hạnh trí quả chứng thập lực tứ vô sở úy 

Hơn cả số hằng hà sa các phiền não, các khởi phiền não mà trí kim cương Ðẳng Chánh Giác của Như Lai hay dứt diệt, tất cả đều nương nơi vô minh trụ địa, vì vô minh trụ địa làm nhơn duyên vậy. 

Bạch đức Thế Tôn ! Khởi phiền não đây sát na sát na cùng tương ưng với tâm. Từ vô thỉ đến nay vô minh trụ địa chẳng tương ưng với tâm. 

Bạch đức Thế Tôn ! Ví như tất cả giống của cây cỏ đều nương nơi đại địa mà sanh trưởng, nếu đại địa hoại hư thì chúng nó cũng hoại hư. 

Cũng vậy, hơn số hằng hà sa các pháp đáng được dứt diệt bởi trí kim cương Ðẳng Chánh Giác của đức Như Lai đều nương nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng, nếu vô minh trụ địa dứt hết thì các pháp phiền não ấy cũng dứt hết. Vì hơn số hằng hà sa các pháp đáng dứt diệt cùng tất cả phiền não và khởi phiền não đã dứt diệt hết nên chứng được quá số hằng hà sa các pháp chư Phật bất khả tư nghị, ở nơi các pháp chứng được vô ngại thần thông, được các trí kiến, rời lìa tất cả sai lầm, được tất cả công đức, làm Ðại Pháp Vương tự tạI nơi tất cả pháp chứng bực nhứt thiết pháp tự tại, chánh sư tử hống rằng : Ngã sanh đã hết phạm hạnh đã lập việc làm đã xong chẳng còn thọ thân sau. Do đó đức Thế Tôn dùng sư tử hống y nơi liễu nghĩa một mực ghi nhận như vậy. 

Bạch đức Thế Tôn ! Trí chẳng thọ thân sau ấy có hai thứ : 

Một là chư Phật Như Lai dùng sức điều ngự xô dẹp bốn ma siêu việt các thế gian được các loài hữu tình chiêm ngưỡng, chứng pháp thân thanh tịnh chẳng nghĩ bàn, nơi bực sở tri được pháp tự tại tối thắng vô thượng, không còn phải làm, chẳng thấy còn có bực nào phải được chứng nữa, đầy đủ mười trí lực lên bực tối thắng vô úy, nơi tất cả pháp quan sát vô ngại chánh sư tử hống chẳng thọ thân sau. 

Hai là A La Hán và Bích Chi Phật được khỏi vô lượng sanh tử bố úy, thọ vui giải thoát, tự nghĩ rằng : Nay ta đã rời lìa sanh tử bố úy chẳng thọ các sự khổ. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hàng A La Hán và Bích Chi Phật quan sát như vậy rồi chẳng thọ thân sau, họ chẳng chứng được Niết bàn tịch diệt đệ nhứt, vì họ ở nơi các bực chưa chứng chẳng gặp được pháp để có thể hiểu biết rằng nay ta chứng được bực Hữu dư y quyết định sẽ chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác. 

Tại sao ? Vì Thanh Văn và Duyên Giác đều nhập vào Ðại thừa, mà Ðại thừa là Phật thừa, thế nên Tam thừa tức là Nhứt thừa. Người chứng Nhứt thừa thì được Vô thượng Bồ đề. Vô thượng Bồ đề tức là Niết bàn. Nói Niết bàn đây tức là Pháp thân thanh tịnh của Như Lai. Người chứng Pháp thân tức là Nhứt thừa không có Như Lai khác, không có Pháp thân khác. Nói Như Lai ấy tức là Pháp thân. Người chứng Pháp thân cứu cánh là cứu cánh Nhứt thừa. Người cứu cánh Nhứt thừa tức là rời lìa tương tục. 

Tại sao ? Bạch đức Thế Tôn ! Vì Như Lai thường trụ không có hạn lượng bằng với hậu tế ! Như Lai hay dùng đại bi vô hạn, thệ nguyện vô hạn đem lợi ích lại cho các thế gian. Người nói như trên đây thì gọi là lời nói phải. 

Nếu lại nói rằng Như Lai là thường là pháp vô tận chỗ y tựa cứu cánh của tất cả thế gian thì cũng gọi là lời nói phải. 

Vì thế nên Như Lai ở nơi thế gian không được giúp đỡ không chỗ y tựa làm chỗ quy y vô tận, chỗ quy y thường trụ, chỗ quy y cứu cánh mãi đến hậu tế.

 Nói rằng pháp Như Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác ấy là đạo nhứt thừa. Tăng đó là chúng tam thừa, hai chỗ quy y nầy chẳng phải là cứu cánh quy y mà gọi là thiểu phần quy y. 

Tại sao ? Vì nói đạo nhứt thừa, chứng pháp thân cứu cánh rồi sau đó không còn nói đạo nhứt thừa. Chúng tam thừa vì có khủng bố nên quy y Như Lai cầu xuất gia tu học, vì có sở tác, vì hướng đến Vô thượng Bồ đề. Thế nên Pháp và Tăng chẳng phải chỗ quy y cứu cánh, là chỗ quy y hữu hạn. 

Nếu các hữu tình được Như Lai điều phục quy y nơi Như Lai được pháp thấm nhuần do lòng tin ưa mà quy y nơi Pháp và Tỳ Kheo Tăng. Hai sự quy y nầy do pháp thấm nhuần mà tín nhập quy y. 

Như Lai ấy chẳng phải pháp thấm nhuần tín nhập quy y. Nói Như Lai ấy là chơn thiệt quy y. 

Hai sự quy y kia cứ nơi nghĩa chơn thiệt thì gọi là cứu cánh quy y Như Lai Tại sao ? Vì Như Lai chẳng khác với hai sự quy y ấy, thế nên Như Lai tức là tam quy y. 

Tại sao ? Vì nói đạo nhứt thừa, Như Lai tối thắng đủ tứ sở úy chánh sư tử hống. 

Nếu chư Như Lai tùy theo sở dục của người mà dùng phương tiện nói pháp nhị thừa tức là Ðại thừa. Bởi đệ nhứt nghĩa không có nhị thừa. Nhị thừa ấy đồng vào nhứt thừa. Nhứt thừa ấy tức là thắng nghĩa thừa. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hàng Thanh Văn và Duyên Giác lúc mới đầu chứng Thánh đế chẳng phải dùng nhứt trí mà dứt các trụ địa phiền não, cũng chẳng phải dùng nhứt trí chứng các công đức như tứ biến tri v.v... cũng chẳng phải dùng pháp hay khéo biết rõ nghĩa bốn pháp nầy. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nơi trí xuất thế không có bốn trí tuần tự đến tuần tự duyên . Trí xuất thế không có pháp lần lượt đến như kim cương dụ. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hàng Thanh Văn và Duyên Giác dùng các thứ trí Thánh đế để dứt các trụ địa , họ thấy có trí xuất thế đệ nhứt nghĩa. 

Chỉ có đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác dùng trí bất tư nghị không tánh phá được vỏ của các phiền não. Trí phá vỏ phiền não cứu cánh ấy gọi là trí xuất thế đệ nhứt nghĩa, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác Trí Thánh đế sơ khởi chẳng phải trí cứu cánh, mà là trí hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 Bạch đức Thế Tôn ! Chơn Thánh đế nghĩa ấy thì chẳng phải thuộc về nhị thừa. Tại sao ? Vì hàng Thanh Văn và Duyên Giác chỉ thành tựu được chút phần công đức mà gọi là Thánh. 

Nói rằng Thánh đế ấy, chẳng phải là đế của hàng Thanh Văn, Duyên Giác và công đức của họ. 

Mà Thánh đế nầy, chỉ có đức Như Lai biết rõ rồi đem diễn nói khai thị cho thế gian chúng sanh bị nhốt trong vỏ vô minh, do đây mà gọi là Thánh đế. 

Bạch đức Thế Tôn ! Thánh đế nầy rất sâu rất vi diệu khó thấy khó rõ, chẳng thể phân biệt chẳng phải cảnh giới suy lường, tất cả thế gian chẳng tin hiểu được chỉ có đức Như Lai là biết rõ. Tại sao ? Vì Thánh đế nầy nói về Như Lai tạng thậm thâm, mà Như Lai tạng là cảnh giới Phật, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn, Duyên Giác. 

Cứ nơi Như Lai tạng mà nói Thánh đế nghĩa, Như Lai tạng nầy rất sâu vi diệu, Thánh đế được nói ra ấy cũng rất sâu vi diệu. Khó thấy khó rõ chẳng thể phân biệt chẳng phải cảnh tư lương, tất cả thế gian khó tin hiểu, chỉ có đức Như Lai biết rõ. 

Nếu ở nơi Như Lai tạng bị triền phược bởi vô lượng phiền não mà chẳng nghi hoặc thì đối với Như Lai pháp thân tạng ra khỏi tất cả phiền não cũng không nghi hoặc. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nếu có ai ở trong tạng Như Lai nầy và ở nơi Phật pháp thân cảnh giới bí mật bất tư nghị của Phật mà tâm được cứu cánh, thì đối với hai nghĩa Thánh đế đã nói kia hay tin hay rõ hay sanh thắng giải. 

Những gì là hai nghĩa Thánh đế ? Ðó là hữu tác Thánh đế và vô tác Thánh đế. 

Hữu tác Thánh đế là nghĩa tứ Thánh đế chẳng viên mãn. Tại sao ? Vì y hộ nơi tha mà chẳng biết được tất cả khổ, dứt tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo. Do đó nên chẳng biết hữu vi và Niết bàn. 

Vô tác Thánh đế là nói nghĩa tứ Thánh đế viên mãn. Tại sao ? Vì tự y hộ nên biết tất cả khổ, dứt tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo. 

Tám nghĩa Thánh đế đã nói như vậy, đức Như Lai chỉ đem tứ Thánh đế ra nói. Nơi nghĩa vô tác tu Thánh đế nầy chỉ có đức Như Lai là hoàn thành cứu cánh, chẳng phải sức lực của A La Hán và Bích Chi Phật đến được. Tại sao ? Vì chẳng phải các pháp thắng liệt hạ trung thượng mà có thể chứng được Niết bàn. 

Thế nào là đức Như Lai đối với vô tác Thánh đế được hoàn thành cứu cánh ? Chư Như Lai biết khắp tất cả khổ, dứt hẳn khổ tập bị nhiếp bởi tất cả phiền não và khởi phiền não, chứng được khổ diệt, sở hữu của tất cả khối ý sanh thân và tu tất cả đạo khổ diệt. 

Bạch đức Thế Tôn ! Chẳng phải hoại mất pháp mà gọi là khổ diệt. Nói khổ diệt là vô thỉ vô tác vô khởi vô tận thường trụ bất động bổn tánh thanh tịnh ra khỏi vỏ phiền não. 

Bạch đức Thế Tôn ! Chư Phật Như Lai thành tựu quá số hằng hà sa pháp bất tư nghị đủ trí giải thoát gọi là pháp thân. Pháp thân nầy chẳng rời lìa phiền não thì gọi là Như Lai tạng. Như Lai tạng đây là trí Như Lai không tánh mả tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác chưa hề thấy chưa hề được, chỉ có Phật thấy biết rõ và chứng được. 

Bạch đức Thế Tôn ! Trí không tánh Như Lai tạng nầy lại có hai thứ : đó là không và bất không Như Lai tạng. Không Như Lai tạng là Như Lai tạng rời lìa nơi trí chẳng giải thoát tất cà phiền não. Bất không Như Lai tạng là Như Lai tạng có đủ quá số hằng hà sa pháp bất tư nghị trí Phật giải thoát. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hai thứ không trí nầy các đại Thanh Văn do tin mà được vào. Trí không tánh của tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác như vậy đối với cảnh tứ điên đảo luôn phan duyên mà chuyển hiện. Do đó nên đối với tất cả khổ diệt ấy, tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác chưa hề thấy chưa hề chứng, chỉ có Phật hiện chứng, đoạn hoại các phiền não, tu tất cả đạo khổ diệt. 

Bạch đức Thế Tôn ! Trong bốn Thánh đế, ba vô thường một thường trụ. Vì ba đế vào trong tướng hữu vi, tướng hữu vi là vô thường . Nói rằng vô thường ấy là pháp phá hoại, pháp phá hoại thì chẳng phải đế chẳng phải thường chẳng phải chỗ quy y. Do đệ nhứt nghĩa nên ba đế ấy chẳng phải đế chẳng phải thường chẳng phải chỗ quy y. 

Bạch đức Thế Tôn ! Một đế khổ diệt rời lìa tướng hữu vi, lìa tướng hữu vi thì tánh thường trụ, tánh thường trụ chẳng phải pháp phá hoại, chẳng phải pháp phá hoại thì là đế, là thường, là chỗ quy y. Do thắng nghĩa nên khổ diệt đế là đế, là thường, là chổ quy y. 

Khổ diệt đế nầy là bất tư nghị, quá cảnh giới tâm thức của hữu tình, cũng chẳng phải trí của hàng Thanh Văn và Duyên Giác kịp được. 

Ví như người sanh manh chẳng thấy được các màu sắc, trẻ sơ sanh bảy ngày chẳng thấy mặt trời. Cũng vậy, khổ diệt đế chẳng phải cảnh duyên của tâm thức hàng phàm phu, mà cũng chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác. 

Tâm thức hàng phàm phu là hai biên kiến. Trí của hàng Thanh Văn Dưyên Giác thì gọi là tịnh trí. 

Nói rằng biên kiến đó là đối với ngũ thủ uẩn chấp nắm làm ngã rồi sanh ra phân biệt sai khác, đó là thường kiến và đoạn kiến hai thứ kiến chấp. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nếu lại có ai thấy sanh tử vô thường, Niết bàn là thường, thì chẳng phải kiến chấp đoạn thường mà gọi là chánh kiến.

 Tại sao ? Vì kẻ kế đạt ấy thấy các thân căn và nào thọ nào tư hiện hành diệt hoại, với thân tương tục họ chẳng biết được, là kẻ mù không mắt trí huệ nên phát khởi đoạn kiến, với tâm tương tục sát na diệt hoại, họ ngu tối chẳng biết cảnh giới ý thức nên phát khởi thường kiến. 

Nhưng những nghĩa ấy quá các phân biệt và quá kiến thức hạ liệt, do hàng ngu phu vọng sanh ý tưởng dị biệt rồi điên đảo chấp trước cho là đoạn là thường. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hàng hữu tình điên đảo đối ngũ thủ uẩn vô thường tưởng là thường, khổ tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh. 

Hàng Thanh Văn và Duyên Giác có tịnh trí, đối với cảnh giới và pháp thân của Phật chưa hề thấy được hoặc vì tin Như Lai nên đối với Như Lai sanh ra ý tưởng là thường, là lạc là ngã, là tịnh, đây chẳng phải kiến chấp điên đảo mà là chánh kiến. Tại sao ? Vì Như Lai pháp thân là Thường Ba la mật, là Lạc Ba la mật, là Ngã Ba la mật, là Tịnh Ba la mật vậy. 

Nếu các hữu tình có ý tưởng như trên đây thì gọi là chơn Phật tử từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp hóa sanh được Phật pháp phần.  

Bạch đức Thế Tôn ! Nói rằng tịnh trí ấy là Trí Ba la mật của hàng Thanh Văn và Duyên Giác. Tịnh trí nầy đối với khổ diệt đế còn chẳng phải cảnh giới, huống khổ diệt đế là sở hành của bốn trí nhập lưu. Tại sao ? Vì hàng tam thừa sơ nghiệp, người chẳng ngu pháp, có thể ở nơi nghĩa ấy sẽ chứng sẽ tỏ. 

Bạch đức Thế Tôn ! Do nghĩa gì mà nói bốn nhập lưu ? 

Bạch đức Thế Tôn ! Bốn nhập lưu nầy là pháp thế gian. Chỉ có một nhập lưu đối với các nhập lưu là hơn hết là trên hết, bởi đệ nhứt nghĩa là nhập lưu là khổ diệt đế. 

Bạch đức Thế Tôn ! Sanh tử ấy y tựa Như Lai tạng. Do Như Lai tạng nên nói rằng tiền tế chẳng biết được. 

Bạch đức Thế Tôn ! Do có Như Lai tạng nên được có sanh tử , đây là lời nói phải. 

Bạch đức Thế Tôn ! Sanh tử ấy, các thọ căn diệt vô gián tương tục thọ căn kế khởi, gọi là sanh tử. 

Bạch đức Thế Tôn ! Hai pháp sanh tử là Như Lai tạng, nơi pháp thế tục gọi đó là sanh tử. 

Bạch đức Thế Tôn !  Nói rằng tử là nói thọ căn diệt và sanh là các thọ căn khởi. Như Lai tạng thì chẳng sanh chẳng tử chẳng thăng chẳng trụy rời lìa tướng hữu vi. 

Bạch đức Thế Tôn ! Như Lai tạng ấy thường hằng  chẳng hoại , nên Như Lai tạng là y là trì là kiến lập cho tạng trí chẳng lìa giải thoát và cũng là y trì kiến lập cho các pháp hữu vi trí rời lìa chẳng giải thoát. 

Bạch đức Thế Tôn ! Nếu không có Như Lai tạng thì không có chán khổ vui cầu Niết bàn. Tại sao ? Vì ở nơi sáu thức nầy và cảnh sở tri, bảy pháp như vậy sát na không dừng chẳng nhận chịu các khổ chẳng kham nhàm lìa nguyện cầu Niết bàn. Như Lai tạng ấy không có tiền tế không sanh không diệt pháp nhĩ nhận chịu các khổ, nó là nhàm khổ nguyện cầu Niết bàn. 

Bạch đức Thế Tôn ! Như Lai tạng ấy chẳng phải là có ngã nhơn chúng sanh thọ giả. Như Lai tạng ấy chẳng phải là cảnh sở hành của các hữu tình thân kiến, điên đảo và không kiến. 

Bạch đức Thế Tôn ! Như Lai tạng ấy là tạng pháp giới, tạng pháp th      ân, tạng xuất thế gian, tạng tánh thanh tịnh, là bổn tánh thanh tịnh. 

Như chỗ tôi hiểu thì Như Lai tạng ấy dầu bị khách trần phiền não làm ô nhiễm vẫn còn là cảnh giới Như Lai bất khả tư nghị. Tại sao ? Vì sát na sát na tâm bất thiện tâm thiện cùng khách trần phiền não chẳng ô nhiễm được Như Lai tạng. Tại sao ? Vì phiền não chẳng chạm đến tâm, mà tâm cũng chẳng chạm đến phiền não. Pháp  chẳng chạm xúc làm sao có thể nhiễm được tâm. 

Bạch đức Thế Tôn ! Vì có phiền não nên có tâm tùy nhiễm. Tùy theo phiền não nhiễm ấy khó hiểu khó rõ. Chỉ có đức Phật Thế Tôn là mắt, là trí, là cội rễ pháp, là tôn thượng, là Ðạo Sư, là chỗ y tựa của chánh pháp mới như thiệt thấy biết thôi ». 

Bấy giờ đức Thế Tôn khen ngợi Thắng Man phu nhơn : « Lành thay, lành thay ! Ðúng như lời ngươi vừa nói. Tánh thanh tịnh tâm theo phiền não khó rõ biết được. 

Nầy Thắng Man !  Còn có hai thứ pháp khó rõ biết được : đó là tánh thanh tịnh tâm khó rõ biết được và tâm ấy bị phiền não ô nhiễm cũng khó rõ biết được. Hai pháp nầy, ngươi và Bồ Tát thành tựu đại pháp mới có thể nghe hiểu nhận lãnh. Các hàng Thanh Văn do tín tâm mả hiểu được. 

Nầy Thắng Man ! Nếu các đệ tử ta, người có tăng thượng tín tâm tùy thuận pháp trí, ở nơi pháp nầy mà được cứu cánh. 

Thuận pháp trí là quán sát tâm thức và cảnh, quán sát nghiệp báo, quán sát A La Hán ngủ, quán sát tâm tự tại ưa thích thiền duyệt, quán sát thánh thần thông biến của Thanh Văn Duyên Giác, do thành tựu  năm pháp quán sát thiện xảo nầy nên hiện tại và vị lai các hàng Thanh Văn đệ tử do nơi tăng thượng tín tâm tùy thuận pháp trí khéo hiễu rõ được tánh thanh tịnh tâm bị phiền não ô nhiễm mà được cứu cánh. 

Nầy Thắng Man ! Cứu cánh nầy là nhơn của Ðại thừa, nay ngươi nên biết, ngươi tin Như Lai thì đối với pháp thậm thâm chẳng sanh lòng phỉ báng”. 

Thắng Man phu nhơn bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Còn có các nghĩa hay đem lại nhiều lợi ích, tôi sẽ thừa sức oai thần của đức Phật diễn nói các sự ấy”. 

Ðức Phật bảo : “Lành thay ! Nay cho phép ngươi nói”. 

Thắng Man phu nhơn nói :“ Có ba hạng thiện nam tử, thiện nữ nhơn đối pháp thậm thâm rời lìa sự tự phá hại sanh nhiều công đức vào đạo Ðại thừa : Một là người thành tựu thậm thâm pháp trí, hai là người tùy thuận pháp trí, ba là người đối với pháp thậm thâm nầy chẳng hiểu rõ được mà kính tôn đức Như Lai chỉ có đức Phật biết được chẳng phải cảnh giới của tôi. 

Trừ ba hạng người nầy, các hữu tình khác đối với pháp thậm thâm tùy theo chỗ mình nắm lấy mà chấp trước vọng thuyết, chống trái chánh pháp, huân tập chủng tử hủ bạI các ngoại đạo. Dầu họ có ở phương khác cũng phải đến đó trừ diệt những kẻ hủ bại ấy. Tất cả nhơn thiên cũng phải cùng nhau xô dẹp họ’’. 

Nói lời ấy xong, Thắng Man phu nhơn và các quyến thuộc đảnh lễ chưn Phật. 

Ðức Phật khen rằng : “Lành thay ! Thắng Man ở nơi pháp thậm thâm phương tiện thủ hộ hàng phục oán địch, khéo có thể thông đạt.

 Ngươi đã gần gũi muôn ngàn cu chi chư Phật Như Lai nên có thể nói được nghĩa ấy”. 

Bấy giờ đức Thế Tôn phóng quang minh thù thắng chiếu khắp đại chúng, hiện thân lên hư không cao bảy cây đa la, dùng sức thần thông chưn bước trên hư không trở về thành Xá Vệ. 

Thắng Man phu nhơn và các quyến thuộc chiêm ngưỡng đức Như Lai mắt không tạm rời. Quá tầm mắt rồi tất cả vui mừng hớn hở cùng nhau thay phiên ca ngợi công đức của Như Lai và đồng nhứt tâm niệm Phật, trở về thành Vô Ðấu khuyên vua Hữu Xưng kiến lập Ðại thừa. Nữ nhơn trong thành từ bảy tuổi trở lên, Thắng Man phu nhơn đem Ðại thừa giáo hóa. Vua Hữu Xưng cũng đem Ðại thừa giáo hóa các nam tử từ bảy tuổi trở lên. Nhơn dân trong nước không ai là chẳng học Ðại thừa pháp. 

Bấy giờ đức Thế Tôn vào rừng Thệ Ða gọi Tôn giả A Nan và nghĩ đến Thiên Ðế. Ứng theo tâm nghĩ của Phật, Thiên Ðế Thích cùng quyến thuộc chư Thiên đến chỗ đức Phật. 

Ðức Thế Tôn bảo Thiên Ðế Thích : Nầy Kiều Thi Ca ! Ngài nên thọ trì kinh nầy rồi diễn thuyết khai thị cho chư Thiên cõi Ðao Lợi để họ được an lạc” 

Ðức Thế Tôn lại bảo Tôn giả A Nan : “Ông cũng thọ trì vì hàng tứ chúng là phân biệt diễn thưyết’’. 

Thiên Ðế Thích bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Kinh nầy sẽ đặt tên là gì và phụng trì thế nào ?”.

 Ðức Phật dạy : “ Nầy Kiều Thi Ca ! Kinh nầy thành tựu vô biên công đức lực của Thanh Văn và Duyên Giác không đến được huống là các hữu tình khác. Nên biết rằng kinh nầy là khối đại công đức thậm thâm vi diệu. Nay sẽ vì Ngài mà nói lược tên kinh. 

Lắng nghe lắng nghe khéo suy nghĩ nhớ lấy !”. 

Thiên Ðế Thích và Tôn giả A Nan đồng bạch rằng : “ Lành thay đức Thế Tôn ! Kính vâng thọ giáo”. 

Ðức Phật dạy : “Kinh nầy tán thán Như Lai chơn thiệt công đức, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói mười điều hoằng thệ bất tư nghị, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy dùng một đại nguyện nhiếp tất cả nguyện, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói nhiếp thọ chánh pháp bất tư nghị, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói nhập nhứt thừa, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói vô biên tế, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói Như Lai tạng, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói Phật pháp thân, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói không tánh nghĩa che ẩn chơn thiệt, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói nghĩa một Thánh Ðế, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói một sở y thường trụ bất động tịch tĩnh, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói điên đảo chơn thiệt, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói tự tánh thanh tịnh tâm bị phiền não che ẩn, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói chơn Phật tử, phải thọ trì như vậy. Kinh nầy nói Thắng Man phu nhơn chánh sư tử hống, phải thọ trì như vậy. 

Lại nầy Kiều Thi Ca ! Chỗ nói của kinh nầy dứt tất cả nghi hoặc quyết định liễu nghĩa nhập vào đạo Nhứt thừa. 

Nầy Kiều Thi Ca ! Nay đem kinh Thắng Man phu nhơn sư tử hống đã được nói đây giao phó cho Ngài mãi đến thời gian chánh pháp còn. Ngài nên đem diễn thuyết khai thị khắp mười phương’’. 

Thiên Ðế Thích bạch rằng : “ Lành thay đức Thế Tôn ! Kính vâng thọ giáo”. 

Bấy giờ Thiên Ðế Thích, Tôn giả A Nan và các chúng trong đại hội, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà v.v... nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.

PHÁP HỘI THẮNG MAN PHU NHƠN

THỨ BỐN MƯƠI TÁM

HẾT

 

XLIX

PHÁP HỘI

QUẢNG BÁC TIÊN NHƠN

THƯ BỐN MƯƠI CHÍN

Hán dịch: Nhà Ðường Pháp Sư Bồ Ðề Lưu Chí

Việt dịch: Việt Nam Tỳ Kheo Thich Trí Tịnh 

Như vậy tôi nghe, một lúc Phật ở tại thành Vô Cấu Chiến trên bờ sông Hằng, có vô lượng chúng Tỳ Kheo như các Tôn giả A Nan, Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Bạc Câu La, Ly Bà Ða, A Nhã Kiều Trần Như v.v... Các Tôn giả nầy việc được làm đã xong, rời các trần nhiễm, phiền não đã hết, chẳng còn thối chuyển. Các Tôn giả luôn tọa thiền tụng niệm kinh hành không tạm lười nghỉ,  hoặc như bầy nai đi đứng yên lặng, hoặc ở trong rừng thường nhập thiền định. Các Tôn giả nầy an trụ nơi giáo pháp sáng suốt  của đức Như Lai, điều phục sáu căn được vô sở úy. 

Bấy giờ rừng Ta La nhánh lá rậm rợp, hoa thơm trải đất. Những chim câu chỉ la, chim ca lăng tần già, nga vương, bầy ong bay đậu kêu hót hòa nhã có thể làm cho các chúng sanh rời lìa hôn trầm giải đãi. 

Lúc đó đức Như Lai bảo các Tỳ Kheo : “ Nầy chư Tỳ kheo ! Các thầy phải siêng thật hành việc được làm, lấy giới luật oai nghi để tự ấp che”. 

Liền lúc ấy phương Tây bỗng nhiên chói sáng như ánh sáng mặt trời.

 Vì chưa ly dục nên Tôn giả A Nan bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Ánh sáng nầy là tướng gì ?”. 

Ðức Phật dạy : “ Nầy A Nan ! Ðây là pháp tử của Hắc Hương bực tối thắng thượng ngũ thông tiên, tên là Quảng Bác. Tiên nhơn nầy tiết thực xấu gầy thân thể không nhuần sáng cùng chung với năm trăm người đồng hành như là tiên Bất Bạch, tiên Thiên Nhơn, tiên Chiêm Ba Dã Na, tiên đơn Trà Dã Na, tiên Ca Ma Dã Na, tiên Mê Khư Na Tư, tiên Nghi Vị, tiên Ðộ La v.v...  trước sau vây quanh sẽ đến chỗ ta”. 

Bấy giờ, Quảng Bác tiên nhơn từ xa thấy đức Thế Tôn thân tâm tịch tĩnh ở tại rừng rậm được chư Tỳ Kheo hầu hạ, liền tự nghĩ rằng : Lạ thay bực tôn quí Nhứt thiết trí thân tướng đầy đủ, bỏ ngôi vua Chuyển Luân cùng các quan và sáu vạn cung nữ, như bỏ món ăn độc, mà tu khổ hạnh nơi núi rừng, lìa những dục lạc, tiếng đồn khắp nơi thiệt chẳng hư dối. 

Trong chúng ấy có một tiên nhơn tên Na Thích Ðà từ xa nhìn đức Thế Tôn sanh lòng vui mừng liền nói kệ rằng : 

Nhìn kia hoa xanh dưới rừng cây

Như khối vàng tía là người nào

Bửu châu Di Lâu chiếu sáng ngời

Cũng như trăng thu không mây khuất. 

Các tiên đều vui sướng chắp tay cung kính đi  lần đến chỗ đức Phật. 

Ðức Thế Tôn bảo chư Tỳ Kheo : “ Các thầy xem kia các tiên trong châu Diêm Phù, tóc xỏa tung lên, ở rừng hoang, thoa tro, tịch cốc, hoặc một tháng hoặc nửa tháng nhịn ăn gầy xấu, mặc da nai vỏ cây, tóc móng không cạo không cắt, ngồi xổm trên đất trống, nhan sắc như khói than ong đen, chú thuật cúng thờ lửa cho là cát tường, ở ngoài trống hay dưới cây, hoặc té từ gộp đá cao, hoặc nhảy xuống vực sâu, dùng lửa đốt thân hay phơi nắng cho phỏng đau, ỷ thị dòng họ lìa xa trí huệ vô thượng. 

Các thầy Tỳ kheo nên biết các tiên nhơn nầy kiến thức chằng thanh tịnh mê say ba cõi luân hồi sanh tử chẳng ra khỏi được”. 

Các Tỳ kheo nghe đức Phật Thế Tôn dạy bảo như vậy rồi liền đồng thanh bạch rằng : “Nay chúng tôi nương đức Như Lai mà siêng tu phạm hạnh, với ba cõi sẽ được ra khỏi hẳn”. 

Quảng Bác tiên nhơn cùng các tiên lần đến chỗ đức Phật, thấy các A La Hán oai đức tôn nghiêm liền có lòng e sợ. Họ khom mình ngó xuống đều tự cột tóc xõa, thân đeo dây trắng. Dung nhan họ đen tối, hai mắt xanh vàng, đầu tóc khô khan thân hình xấu xí, tay cầm ba khúc cây to, hoặc đi trên hư không, hoặc đàm luận sách thế tục. 

Quảng Bác tiên nhơn đến trước đức Phật thưa rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Nay chúng hội nầy xin đức Phật biết cho’’. 

Ðức Phật phán dạy : “Nầy Quảng Bác ! Ta đã biết rõ sự thọ sanh trong các cõi hữu lậu và tự tánh”. 

Tôn giả A Nan bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Ðây là tiên nhơn nào được chư tiên bao quanh, trí sáng lời hay, đầu tóc tung lên”. 

Ðức Phật dạy : “Nầy A Nan ! Ðây là Quảng Bác tiên nhơn, người sáng tác sách Vi Ðà phụng trì tu tập theo Xa  yết La Giáo làm ra các thứ văn tự thế tục’’. 

Chư A La Hán cùng bảo nhau : «  Tiên nhơn nầy có sở đắc gì mà khổ hạnh như vậy nhưng vẫn không giải thoát được sanh tử”. 

Các A La Hán lại tự nghĩ rằng các tiên nhơn nầy nay đến chỗ đức Phật sẽ thưa hỏi điều gì, hỏi nhơn duyên hay hỏi vô ngã ? 

Quảng Bác tiên nhơn chắp tay hướng về đức Phật bạch  rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Ðức Phật xuất hiện khó, pháp hội Thánh chúng cũng khó. Nay tôi có chút ít điều nghi muốn hỏi, xin đức Phật thương dạy cho”. 

Ðức Phật bảo : “ Nầy Ðại Tiên ! Cho ông hỏi, ta sẽ giải bày’’. 

Quảng Bác tiên nhơn hỏi : “ Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là bố thí ? Gì là nghĩa bố thí ? Thế nào là thí chủ ? Thí chủ có nghĩa là gì ? Thế nào là người bố thí chẳng gọi là thí chủ ? Thế nào là thí chủ chẳng gọi là người bố thí ? Bố thí thế nào để được phước báu nơi người thọ lãnh ? Thế nào bố thí rồi, hoặc hiện đời hoặc đời sau phước bố thí đi theo làm chứa làm nhóm ? 

Bạch đức Thế Tôn ! Sau khi đức Phật nhập diệt, cúng dường tháp miếu thì ai là người nhận thọ để được phước báu ? ». 

Ðức Phật bảo : «  Nầy Ðại Tiên ! Những điều ông hỏi rất là hi hữu, đó là ông muốn giác ngộ hàng mới phát tâm ». 

Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất ở trong đại chúng, tóc bạc mặt nhăn, lấy tay mặt đỡ lông mày nhìn hồi lâu rồi nói rằng : « Xưa kia tôi từng nghe người đời khen ngợi Quảng Bác tiên nhơn, sao hôm nay chẳng biết hỏi han như trẻ nít. Sao không hỏi những nghĩa thâm diệu về nhơn duyên vô ngã, mà lại hỏi quả báo của sự bố thí ». 

Tôn giả A Nan đến lạy chơn đức Phật bạch rằng : «  Bạch đức Thế Tôn ! Tiên nhơn ấy ham thích nơi bố thí, tôi xin được giải nói nghĩa bố thí cho ông ấy ». 

Ðức Phật phán dạy : «  Nầy A Nan ! Nếu hỏi nơi đức Như Lai mà hàng Thanh Văn giải đáp thì chẳng phải là lời dạy của Như Lai ». 

Tôn giả Xá Lợi Phất lại bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Nay tiên nhơn nầy có điều nghi ngờ ấy, tôi xin giải đáp ». 

Ðức Phật phán dạy : « Không được, trong hàng Thanh Văn ông là bực thượng thủ nhứt, nếu ở trước ta mà ông giải đáp sẽ khiến các chúng sanh phải sa đọa ác thú, vì họ sẽ hủy báng rằng đức Như Lai chẳng phải bực có trí huệ quyết định, hoặc cho rằng đức Như Lai giác ngộ trọn vẹn rồi mà còn có ngã mạn’’. 

Chư Tỳ Kheo nghe đức Phật nói như vậy rồi đều sanh lòng tin thanh tịnh bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Quảng Bác tiên nhơn có chỗ nghi hỏi, xin đức Phật giải đáp cho ». 

Ðức Phật hỏi Quảng Bác tiên nhơn : « Ðại tiên nay lắng nghe quả báo của bố thí và nghiệp nhơn sai khác. 

Nếu người thọ có thể khiến thí chủ sanh được quả báo đó là nghĩa của bố thí. Nếu có chúng sanh nào tâm thanh tịnh đem của cải mình giao cho người chấp sự đem ra bố thí, người chủ của cãi gọi là thí chủ, còn người chấp sự gọi là người bố thí.Nếu có người tâm thanh tịnh tự đem của cải ra bố thí, người nầy gọi là thí chủ mà cũng gọi là người bố thí. 

Lại nầy Ðại tiên ! Có ba mươi hai hạng bố thí chẳng thanh tịnh, nay ông nên lắng nghe : 

Nếu có người thấy biết điên đảo mà bố thí thì chẳng gọi là tịnh thí. Bố thí vì báo ơn, bố thí chẳng có lòng thương, bố thí vì sắc dục, đều chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc bố thí trong lửa, bố thí trong nước cũng chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc đe dọa mà bố thí, bố thí cho năm nhà, đem món độc bố thí, đem dao gậy binh khí bố thí, giết hại mà bố thí, đều chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc để nhiếp phục người mà bố thí, vì khen ngợi mà bố thí, vì xướng kỹ mà bố thí, vì xem tướng mà bố thí, cầu trang sức đẹp mà bố thí, vì kết bằng hữu mà bố thí, đều chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc chim thú vào nhà ăn mà chủ nhà không vui lòng thì chẳng gọi là tịnh thí. Vì học nghề mà bố thí, vì bịnh mà bố thí cho thầy thuốc, trước đánh mắng sau đem của cải bố thí, đều chẳng gọi là tịnh thí. Bố thí mà nghi ngờ được báo hay không được báo thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc bố thí rồi mà trong lòng bực bội hối tiếc thì chẳng gọi là tịnh thí. Bố thí mà nói ngưởi thọ lãnh sau sẽ làm trâu ngựa súc vật cho tôi thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc bố thí mà nói phước báu đây tôi tự thọ lấy thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc người trẻ mạnh không lòng tin thanh tịnh, lúc sau bị bịnh khổ, hoặc sắp phải chết, thân thể đau khổ tay chưn rời rã, sứ Diêm La Vương đùa cợt trước mặt, quyến thuộc nhìn ngó khóc than, bấy giờ mới bố thí thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc bố thí mà nghĩ rằng khiến các thành ấp khác biết tôi bố thí thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc có lòng ganh ghét ngạo nghễ mà bố thí thì chẳng gọi là tịnh thí. Ham mộ nhà giàu sang vì cầu hôn nhơn nên đem vàng bạc lụa là bố thí thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc cầu con trai con gái và các duyên tạp khác mà bố thí thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc suy nghĩ nay tôi bố thí đời sau sẽ được phước báu thì chẳng gọi là tịnh thí. Thấy người nghèo củng chẳng thương xót, trái lại đem tiền của bố thí người giàu sang thì chẳng gọi là tịnh thí. Hoặc tham hoa quả mà bố thí cho thì chẳng gọi là tịnh thí. 

Nầy Ðại Tiên ! Ba mươi hai loại bố thí ái nhiễm ấy, dường như có người đem hạt giống tốt gieo trồng trên ruộng hoang xấu, nương nơi đất gặp mưa ướt chắc chắn sẽ nẩy mầm lên cây, nhưng thu hoạch ít về bông trái ». 

Quảng Bác tiên nhơn lại bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là bố thí cho người trì giới người phá giới mà chẳng hư mất ? ».

 Ðức Phật phán : « Nầy Ðại Tiên ! Nếu có người tịnh tín nhân quả phát lòng vui mừng vì các chúng sanh mà bố thí không hề hối tiếc cũng chẳng phân biệt là trì giới hay phá giới. 

Lại nữa nầy Ðại Tiên ! Có năm loại bố thí gọi là bố thí lớn. Ðó là bố thí đúng lúc, bố thí cho người hành đạo, người bịnh và người khán bịnh, người giảng thuyết chánh pháp, người đến nước khác. 

Còn có năm loại, đó là bố thí chánh pháp, bố thí món ăn, chỗ ở, đèn sáng, hương hoa ». 

Quảng Bác tiên nhơn lại thưa : « Bạch đức Thế Tôn ! Những gì là thanh tịnh ? ». 

Ðức Phật phán : « Nầy Ðại Tiên ! Nếu người phát lòng tin vì các chúng sanh có lòng thương xót hồi hướng vô thượng Bồ đề khắp thanh tịnh giải thoát thì được gọi là thanh tịnh. 

Còn có năm loại bố thí vô thượng, đó là bố thí nơi đức Như Lai, nơi chúng Tăng, nơi người thuyết chánh pháp, nơi cha, nơi mẹ. Bố thí năm nơi ấy đều gọi là bố thí vô thượng. 

Còn có các loại bố thí gọi là bố thí lớn, đó là bố thí cho quốc vương mất ngôi, người bị quan quyền bức bách không nơi nương cậy, người bị bịnh tật đau khổ, đều gọi là bố thí lớn. 

Nếu gặp người bị tội sắp hành hình và người bị nạn nguy đến tánh mạng mà chịu bỏ mạng mình để cứu mạng sống cho kia, đều gọi là bố thí lớn. 

Hoặc nơi người tật bịnh mà bố thí thuốc men thì cũng gọi là bố thí lớn. 

Hoặc nơi chúng Tăng đủ giới mà bố thí đúng lúc cũng gọi là bố thí lớn. 

Hoặc bố thí cho người cầu trí huệ cũng gọi là bố thí lớn. 

Hoặc bố thí cho súc sanh, chim thú, các loài ếch nhái cũng gọi là bố thí lớn. 

Hoặc bố thí cho kẻ thiếu kém khiến cho họ được no đủ cũng gọi là bố thí lớn. 

Hoặc khuyên người khác bố thí thanh tịnh cùng tùy hỉ cũng gọi là bố thí lớn. 

Lại nầy Ðại Tiên ! Trước đây ông có hỏi sau khi đức Phật diệt độ, gieo trồng thế nào mà được phước báu ? 

Nầy Ðại Tiên ! Chư Phật Như Lai đều là pháp thân mà chẳng phải sắc thân, hoặc Phật ở tại thế gian hay sau khi diệt độ, nếu có người cúng dường thì phước báu không khác. 

Như Chuyển Luân Vương truyền lịnh khắp cõi nước chẳng cho giết hại các chúng sanh chẳng cho vọng ngữ. Người trong nước hoặc chưa được thấy vua cũng chưa từng hầu gần, họ chỉ nghe lịnh vua truyền mà tuân hành, nhà vua đối với những người nầy ắt có lòng vui mừng nên được sanh lên cõi trời. Còn những kẻ trái lịnh vua truyền thì đọa vào ác thú. 

Nầy Ðại Tiên ! Có người dầu thấy thân ta mà họ chẳng giữ giới của ta dạy thì có lợi ích gì. Như Ðề Bà Ðạt Ða dầu gặp được Phật mà ông ấy vẫn phải đọa địa ngục. 

Trong đời sau, có người siêng thật hành đúng giáo pháp của Phật, người nầy rất hi hữu như đã được thấy Phật không khác. 

Nầy Ðại Tiên ! Như ông đã hỏi phước đức nhơn duyên theo thí chủ làm chứa làm nhóm thế nào ? 

Nầy Ðại Tiên ! Như bó lau sậy vì đốt cháy mà có lửa sáng, ngọn lửa sáng ấy không thể nói là chứa nhóm trong bó lau sậy. Cũng vậy, thí chủ chứa họp phước đức như bóng theo hình, không thể thấy được. 

Như trái nho, cây mía lúc chưa ép thì không thấy được nước mật của nó, nhưng nước mật của nó không phải có ở nơi khác. Cũng vậy, quả báo phước đức chẳng thấy ở trong thân trong tay trong tâm của thí chủ, nhưng nó không rời lìa thí chủ. 

Như hột ni câu luật đà lúc chưa già chín thì không thấy có mộng mầm. 

Như người buôn mang hàng đến bán nơi ấp thành lớn được lời lãi nhiều, phước đức của thí chủ cũng vậy. 

Như bầy ong lấy mật hoa, như mây trùm trên không, nào có thấy có chứa có nhóm, mà lúc kết quả thì thành mật ngon, mưa nhuần phước đức quả báo của thí chủ cũng vậy ». 

Quảng Bác bạch Phật :  «  Nghĩa sai biệt của sự bố thí tôi đã được nghe đức Thế Tôn giải. 

Bạch đức Thế Tôn ! Ở trong thân người, thần thức mến luyến như thế nào ? ». 

Ðức Phật dạy : « Nầy Ðại Tiên ! Như Quốc Vương ở trong thành lớn sợ có quân địch đến, nên lo đào hào đắp lũy tích tụ lương thực nuôi dạy quân tướng, dựng bày cờ xí tập luyện voi ngựa, dàn quân bày trận truyền lịnh dự bị chiến đấu, mặc giáp dày cầm dao bén nghiêm hờ. Ví phước Quốc Vương hết nên thế giặc mạnh sẽ bị bại vong. Cũng vậy, thần thức ở trong thân người thấy sáu căn bị vô thường xâm hại, nên khởi tín tâm phát chánh niệm hành chánh pháp điều luyện ý tưởng tuyên cáo rằng : nay có quân mạnh vô thường đến hại phải gấp mặc giáp bố thí, cầm gươm trí huệ, mang cung tàm quý dựng lũy cấm giới phòng ngăn. Quân mạnh vô thường lần lần bức bách sáu căn, thần thức ấy phải bỏ thân, như Quốc Vương hết phước phải bỏ thành đến ở thành khác ». 

Quảng Bác bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Làm thế nào biết là thành phước đức là thành chẳng phải phước đức mà tôi phải bỏ đi ? ». 

Ðức Phật phán dạy : « Nầy Ðại Tiên ! Như có người đi thuyền lớn tốt để qua đại hải, dầu gặp cuồng phong sóng to, cá kình hung dữ nhưng nhờ thuyền vững nên đến được bờ kia. Ðã an ổn rồi, người ấy tế tự đi nhiễu thuyền ba vòng cung kính xướng rằng : Lành thay tôi nhờ thuyền nầy mà vượt được đại hải. 

Nầy Ðại Tiên ! Cũng vậy, người có phước đức sau khi mạng chung tự suy nghĩ rằng : nay tôi được sanh lên cõi trời, thân người trước kia thiệt là chẳng uổng, nhờ thân người ấy mà tôi được khỏi đọa vào ác thú, lành thay thân trước rất đáng kính yêu. 

Nầy Ðại Tiên ! Như người đi thuyền xấu hư để qua biển lớn, ở giữa biển bị chìm bị lật, người ấy giận ghét nguyền rủa thuyền xấu. Cũng vậy, người tạo nghiệp ác không phước đức sau khi chết phải đọa ác thú, giận ghét mắng nhiếc thân trước, uổng công nuôi nấng nay phải khổ thế nầy, như đội cỏ dơ khô, như tằm làm kén tự vấn lấy thân tự chuốc lấy họa. 

Nầy Ðại Tiên ! Người tạo phước đức ở thân kế sau, thần thức ở thai mẹ vừa được bảy ngày liền có thể nghĩ biết tôi từ nơi kia sanh vào đây. Vì có thiện nghiệp nên lòng vui mừng hay làm cho mẹ hiện ra ba tướng lành : mặt mẹ luôn vui vẻ tươi đẹp, chưn phải giẫm đất mạnh vững hơn trước, tay thường xoa hông phải, thích mặc y phục sạch sẽ thêm vẻ xinh đẹp. 

Thần thức người gây nghiệp ác cũng ở trong thai bảy ngày tự nhớ nghĩ tôi từ nơi kia đã từng tạo tội ác, nghĩ rồi sanh lòng sầu não hay làm cho mẹ có các hiện tượng xấu, như thân thể hôi dơ gầy gò vàng bủng, như thường buồn bực choáng váng ói mửa, tai họa cả nhà hoạn nạn bức khổ, như lúc sanh nở hoặc mẹ chết hoặc con yểu ». 

Quảng Bác lại bạch Phật : « Bạch đức Thế Tôn ! Lúc thần thức mới nhập thai nếu có trí huệ thì nghĩ nhớ biết những gì ? ». 

Ðức Phật phán dạy : « Nầy Ðại Tiên ! Thần thức ấy lúc mới nhập thai thấy châu Diêm Phù có nhiều cung điện ao hồ vườn tược rừng cây nơi nơi xinh đẹp, thân tộc tụ họp rất là vui vẻ. Nếu có trí huệ cõi trời thì tùy niệm nhớ biết vô lượng trăm ngàn đời trước. Chỗ đó tôi sanh ra, người ấy là mẹ cả trăm lần sanh tôi, cả trăm đời nuôi nấng tôi, nghĩ như vậy rồi sanh lòng nhàm lìa, khổ thay, chết đi sống lại ở thế gian nầy như vậy đã đủ rồi, các cõi cực nhọc luôn được vĩnh viễn thoát khỏi ». 

Quảng Bác hỏi đức Phật : « Thần thức ấy có quan niệm nhàm lìa mong thoát ly như vậy, há lại chẳng ra khỏi vòng sanh tử ư ? ».

 Ðức Phật phán dạy : «  Nầy Ðại Tiên ! Không thể được Thần thức ấy không có tướng xuất ly mà được giải thoát thì không bao giờ có. Dầu thần thức ấy ở trong sanh tử có quan niệm nhàm chán mong xa lìa ; nhưng nó vẫn thọ sanh. Nếu không như vậy thí lẽ ra người tạo phước đức cùng kẻ tạo ác, tất cả đều hướng đến quả Niết bàn. 

Nầy Ðại Tiên ! Như lời ông nói về thần thức suy nghĩ nhớ biết đó, là thức hiện hành chớ chẳng phải trí hiện hành. Thức thì hay phân biệt, trí thì hay biết rõ. Thức cùng trí hòa hiệp nhau thì mới có khả năng như lời ông nói. 

Muốn tuyên lại nghĩa nầy đức Phật nói kệ rằng :  

Hay ngừa các tội ác

Hoặc chứa nhiều phiền não

Biết là trí không trí

Là huệ hay ngu si

Thấy kiêu mạn vô minh

Thấy biết tất cả đó

Không bao giờ rời trí

Do trí nên biết rõ

Thức trí chẳng rời nhau

Phật thường nói hòa họp

Một bánh chẳng thành xe

Hai bánh cũng chẳng thành

Cũng chẳng ngoài bánh xe

Cần có người và trâu

Gồm đủ căm và trục

Cũng đủ hai càng gọng

Vòng ách và dây cương

Mới được gọi là xe

Thân thể cũng như vậy

Các giới hòa hợp sanh

Các căn đều đầy đủ

Do thức hay kéo dắt

Lóng đốt dính liền nhau

Gân mạch luôn khắp đủ

Sọ đầu trùm da tóc

Ruột phổi và tim gan

Tì vị hòa hợp nhau

Xây dựng nên thân giả

Vua thức ở trong đó

Ngự trị điều khiển thân

Rõ biết các thể tánh

Gọi là thức trí chung 

Nầy Ðại Tiên ! Thức ấy vi tế không thể do hình sắc thấy được, không có các căn chẳng lìa các căn. Nếu có người khiếp nhược hoặc hoảng sợ hoặc suy tưởng ngẫm nghĩ, đều là thức hiện hành chẳng phải tác dụng của trí ». 

Quảng Bác bạch Phật : « Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào quan sát chúng sanh từ loài địa ngục sanh nơi loài người, nhẫn đến loài trời đến sanh loài người ? Có những nghiệp nhơn sai khác gì mà sanh loài trời, loài muông thú, loài ngạ quỉ và sanh loài địa ngục ? ». 

Ðức Phật phán : « Nầy Tiên Nhơn ! Bổn tánh của chúng sanh chết đây sanh kia chỉ có Phật là thấy rõ, chẳng phải hàng ngũ thông tiên nhơn biết được, cũng chẳng phải hàng Người, hàng Trời, Phạm Vương, Ma Vương hoặc bực Thanh Văn, Duyên Giác biết được. 

Nầy Ðại Tiên ! Nếu người nào lúc ở nơi pháp của Phật lìa được tham sân si phân biệt chứng sơ quả, cảnh giới của người nầy còn chẳng phải hàng Ðế Thích, hàng Trời Na La Diên cùng hàng ngũ thông tiên nhơn như các ông biết rõ được ». 

Nghe đức Phật nói lời nầy, Quảng Bác tiên nhơn tự nghĩ rằng Thánh Trí biết rõ nghiệp báo trong vòng luân hồi thiệt ta chưa từng có. 

Quảng Bác lạy chưn đúc Phật bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi già suy quên lãng chẳng thể đến được đạo quả, không có khả năng đảm nhiệm gánh nặng Bồ đề, kể từ nay tôi và chúng đệ tử của tôi và hàng quyến thuộc quy y Phật Pháp Tăng. Ngưỡng mong đức Thế Tôn chỉ dạy cho được lợi ích vui mừng, do mặt nhựt thánh trí thường ở thế gian trừ bỏ mê mờ phiền não. Lành thay đức Thế Tôn ! Xin đức Phật diễn nói về tất cả chúng sanh sanh về cõi trời ». 

Ðức Phật phán dạy : « Ðại Tiên lắng nghe ! Nay ta sẽ nói về việc ấy. 

Nếu có chúng sanh nào bền vững trọn nên công hạnh bố thí tràn hoa thơm xinh, người ấy ắt sanh về cõi Trời Trì Man. Lúc lâm chung, thân thể người nầy phát ra mùi thơm vi diệu và cảm hiện hoa tươi, lại tự thấy các thứ hoa nhiều màu rải trên thân mình, hoặc lại có thấy đền đài cung điện treo nhiều linh, lục lạc, châu báu, trang sức với các thứ hoa đẹp, trăm ngàn Thiên nữ ở trong ấy. Sau khi chết, người ấy thấy cha và mẹ Trời Trì Man hòa hiệp như người Diêm Phù Ðề, do ái phong thổi người ấy vào thai tạng. Bấy giờ mẹ Trời Trì Man ấy mang thai bảy ngày, ở dưới nách phải sanh ra con trai. Vừa sanh xong, trước ngực con trai ấy có hoa duyệt ý cõi trời tự nhiên kết thành tràng đủ bảy màu, đó là những màu trắng đen, vàng, đỏ, xanh biếc, hồng và đồng đỏ. Tràng hoa ấy có ánh sáng chói lòa, mùi thơm của hoa do gió đưa lan khắp một do tuần, vì thế nên trời ấy gọi là Trời Trì Man. Trong cung có cây, nước mật nó thơm ngon như chất cam lộ. Trái cây trong vườn đủ tám mùi vị phẩm cao. Trời ấy toàn ăn thứ trái đó, không vật thực nào khác. Lúc cảm thấy đói, trái chín tự hiện ra trên cây. Mặt đất không có gai góc sạn sỏi, toàn là cỏ mềm hoa tươi trải khắp sạch sẽ. Hoặc có cung điện như khối hoa trắng, hoặc có cung điện vàng ròng dựng lên. Thiên nữ xinh đẹp cùng đùa vui dưới mái hiên. Trời Trì Man thọ hai trăm năm cõi trời. Lúc trời ấy sắp mạng chung hiện ra hai hiện tượng : cây trong vườn nhà lá thì héo úa cành thì rũ xuống bông hoa mất mùi thơm, tràng hoa trên thân bỗng nhiên héo vàng gió mát biến thành gió nóng độc, muốn bỏ cung điện nguy nga mà đi. Bấy giờ các Thiên nữ thấy hiện tượng xấu nầy, cùng nhau vây quanh trời ấy mà kêu khóc rằng : khổ thay cho vô thường không chút xót thương nơi người mà chúng tôi yêu quí bắt lấy chẳng cho tự do, giây lát đây sẽ bỏ lìa chúng tôi. Lúc ấy Thiên Tử Trì Man đó lần bị bịnh nhiệt tăng cả thân hiện ánh lửa, dầu vậy nhưng nội tâm không cảm thấy nóng bức mà vẫn khoái lạc, rời cõi trời sanh vào nhơn gian. Ở trong thai thần thức ấy có thể làm cho mẹ thích tràng hoa thơm và các thứ trái ngọt, thường chiêm bao thấy thành ấp chợ búa trang nghiêm đông đúc, khắp nơi giăng rũ chuỗi hoa. Khi đã sanh ra, thân hình sáng đẹp ưa thích y phục sạch sẽ và tràng hoa xinh tươi, thích đến thân thuộc bạn bè, say mê dục lạc mến yêu nữ sắc, những món y phục quí vườn hoa bông trái không gì chẳng ham, thấy người giàu sang lại càng vui mừng. 

Lại nầy Ðại Tiên ! Người xu hướng về Trời Tứ Thiên Vương thì như sau đây : Nếu có người thấy kẻ nghèo cùng người bịnh tật, bố thí cho ăn uống y phục, thuốc men, hoặc đào ao giếng để bố thí. Lúc lâm chung, thân người ấy không ốm gầy không thay đổi sắc, mình không hôi dơ, tiếng không khàn tắt, không đái dầm ỉa són, các căn không hư tổn có thể thấy tự mình ở trong chúng trời. Sau khi mạng chung thi thể màu hoa sen hồng, miệng thoảng mùi thơm, lại còn có gió mát thổi hoa thơm phất trên thi thể. Lúc ấy thần thức thấy Trời Tứ Thiên Vương cha mẹ vui vầy giao du say đắm tình ái, thiên phụ dùng bàn tay phải xoa lưng thiên mẫu, liền thọ thai vào nơi vế mẹ, sau bảy ngày thì sanh thân trời đầy đủ các thứ trang sức. 

Nầy Ðại Tiên ! Ðịa xứ của Trời Tứ Thiên Vương ngang rộng tám vạn bốn ngàn do tuần, hoàng kim, bạch ngân, lưu ly, pha lê xen lẫn trang sức, trong cung điện Trời Tứ Thiên Vương có hàng trăm ngàn Thiên nữ, trăm ngàn thứ bông trái lớn như hình tượng người đầy trong các khu vườn, ánh sáng ma ni trời thường chiếu sáng cõi ấy, cành nhánh rừng cây rũ y phục kiếp ba và lụa hàng vi diệu. Những cây ấy đều bóng nhuần ai xem cũng thích, nơi các đền điện treo đầy nhạc cụ, tiếng tiêu tiếng sáo tự nhiên phát ra. Các thiên đồng tử chỉ có một việc là vò vắt món ăn. Cơm ấy thơm ngon, màu như hoa sen hồng, vị hơn chất cam lộ, bát đĩa đựng toàn bằng hai chất : hoàng kim và bạch ngân, tùy ý thích ưa món ăn đẹp thơm ngon ngọt tự nhiên hiện ra trong ấy, Còn có rượu trời tên là hoa tửu thơm lạnh đặc biệt, nếu có ai ngửi cũng tự nhiên say. Mỗi Thiên Tử Trời Tứ Thiên Vương đều có tẩm điện riêng tên là Sơ Thu, có cả ngàn cây sa lan kê hiệp trùm che kín phía trên. Khắp nơi thòng rũ những dây hoa vàng bạc châu báu, còn có các loại giường ghế màn thảm sáng đẹp mịn nhuyễn, có sáu vạn Thiên nữ dung nhan xinh đẹp y phục sáng bóng tiếng nói lảnh lót âm vận hiệp với Thiên nhạc, các Thiên nữ nầy được  các nhạc thần  chỉ dạy nên lúc ca lúc vũ khi nói cười khi đi đứng có thể làm cho người thấy phải luyến ái. Trước cung điện có dựng cột phướn trang nghiêm với những vàng bạc gấm lụa, treo phan báu phất phơ theo gió. 

Cõi ấy có bốn Thiên Vương là Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương và Ða Văn Thiên Vương. Bốn Thiên Vương ở cõi trời ấy thường tụ họp các Thiên Tử yến ẩm vui vầy. Các Thiên Tử cõi trời Tứ Thiên Vương thọ năm trăm tuổi, tính theo năm cõi trời, không có ai yểu giữa chừng. 

Nầy Ðại Tiên ! Lúc Thiên Tử cõi trời Tứ Thiên Vương mãn tuổi thọ sắp chết thì có ba hiện tượng : một là mất ánh sáng nơi thân, hai là tràng hoa đeo không còn mùi thơm, ba là chẳng thích nghe các Thiên nữ hòa tấu kỹ nhạc, cũng không thích dạo chơi trong vườn hoa, trên thân thì y phục dơ bẩn, tràng hoa héo úa, mồ hôi rịn chảy, hai mắt khô rát nhìn lại các món thường ngày thích ngắm nhìn càng thêm mê muội, như cá dưới nước bắt để trên đất nắng mùa hạ, bị nóng bức quá nên lăn lộn trên đất. Các Thiên nữ thấy Thiên Tử ấy sầu khổ như vậy cùng đến vây quanh đồng nhau than khóc : khổ thay, khổ thay ! Người mà chúng ta mến yêu sao lại đến thế nầy, trước kia vui sướng nay thành sầu khổ, ngày nay sao đành bỏ ta cùng những chỗ vui chơi. 

Các Thiên nữ nói kệ than rằng : 

Mọi món vật trang nghiêm

Chỗ của Ngài vui chơi

Cung thành phước đức lớn

Lâu đài khắp bốn mặt

Thìên nữ thường đông đúc

Vườn rừng luôn sum suê

Sao Ngài đành vứt bỏ

Khổ thay cho vô thường. 

Các Thiên nữ nói kệ xong nhìn nhau nghẹn ngào, tay mặt cầm hoa tươi rải lên mình Thiên Tử ấy mà nói rằng : Ngài có đủ phước sẽ sanh nhơn gian, nơi ấy là phước địa phải có lòng tin gieo lấy giống lành. 

Bấy giờ Thiên Tử ấy thấy các Thiên nữ đều xa bỏ mình nên lòng càng thêm bức rứt, thân tâm nóng bức như nhiễu giọt dầu lên sắt nóng đỏ vụt tự tiêu diệt còn thừa chút khói tro lại bị gió nghiệp thổi tan, như lân hư trần chia làm ngàn ức  phần không còn thấy được. Thần thức của Thiên Tử ấy từ cõi trời giáng xuống nhơn gian thấy cha mẹ hòa hiệp sanh lòng vui thích liền nhập vào thai tạng. Vừa có thai mẹ liền có những hiện tượng : ăn uống thêm nhiều chẳng ăn món máu thịt, ưa mặc y phục bông hoa và thích nơi tụ hội đông người, đối với hàng thân thuộc bạn bè thì thương mến hơn trước. Dầu bụng mang thai con mà không hề khó chịu, miệng không chảy nước dãi, thân không nặng nhọc. Sau khi sanh ra, đứa trai ấy tướng người đoan nghiêm, mắt nó xanh biếc như thanh bửu cõi trời, ai thấy nó đều thích. Nghe nói những sự việc Trời Tứ Thiên Vương ở cõi trên thì nó vui mừng lắm. Nó thường ưa bố thí, ưa mặc y phục thơm tho, tánh ưa thường thường ăn uống, thích ca múa cùng lưu luyến vườn rừng nữ sắc. 

Nầy Ðại Tiên ! Nếu có người nào do lòng tin thanh tịnh mà xa rời sự sát hại và trộm cướp, mang món ăn uống đồ dùng tốt, mang những y phục và của tiền châu báu để cúng dường bố thí, thành kính mang hoa hương cúng dường tháp Phật, người nầy lúc lâm chung thân không bịnh khổ không dơ không hôi, chánh niệm không quên, sắc mặt như màu hoàng kim, sóng mũi chẳng xẹp gãy, tâm không nhiệt não, cổ họng không bế tắc cũng không khò khè, chẳng bị gió nghiệp bức bách, tiếng nói chẳng khàn chẳng ngọng, ngủ ăn bình thường. 

Ðại Tiên nên biết người lành trên đây thì các thứ độc không hại được, ăn uống tiêu hóa cùng những sự tổn thương yểu vong cùng tai nạn đều đã xa lìa. 

Lúc chết thần thức người nầy vì là thần thức cõi trời nên thấy lầu đài Trời Tam Thập Tam hình tượng cá ma kiệt bằng hoàng kim trang nghiêm các cột cổng nhà, mặt đất là chiên đàn tốt, nước thơm rưới lên, đất ấy mềm dịu sạch sẽ trắng hơn sương tuyết sạch như chuổi ngọc. Cây hương huỳnh đàn đèn đuốc bằng châu báu trời bày hàng xen lẫn. Các Thiên nữ Thiên Tử vui đùa trong các khu vườn. 

Thấy cảnh trời trên đây, thần thức sanh lòng vui thích liền nhập vào tay Thiên nữ mẹ làm thành thai tạng. Lúc ấy bàn tay mẹ do đó mà sanh ra hoa cầm đưa Thiên phụ coi cùng nhau vui mừng. Thiên mẫu lại lấy hai tay xoa nâng bông hoa ấy, Thiên Tử liền sanh ra. Thiên mẫu nói với Thiên phụ nay tôi sanh ra một Thiên Tử làm cho giống lành càng thêm mạnh. Bèn tụ hội chư Thiên để làm lễ khánh hạ. 

Sau khi sanh được bảy ngày, Thiên đồng tử ấy có đủ tướng người cõi trời Tam Thập Tam, nhớ biết đời trước từ chỗ đó chết sanh đến nơi đây, người đó là cha ta, người đó là mẹ ta, ta đã từng làm điều thiện đó, nghĩ nhớ như vậy rồi sanh lòng vui mừng liền ở nơi ngũ dục sanh lòng say đắm ưa thích, cung điện vườn rừng cõi trời tự nhiên hiện ra. Cánh tay của Thiên đồng tử ấy suông như vòi voi, ngực cao đầy như ngực sư tử, hai vế tròn trịa như thân cây chuối, da thịt sáng bóng sạch sẽ không có tàn nhang, không có nốt ruồi đen, không có lông mọc tạp, không có chút hôi dơ, toàn thân thoảng ra mùi thơm vi diệu. Tất cả y phục nhẹ kín chuỗi ngọc tràng hoa cõi trời đều chẳng cần tìm nơi ngoài, nó tự nhiên hiện đủ trên thân. Bấy giờ trong cung điện ấy không có Thiên Tử, chỉ có những Thiên nữ, họ thấy Thiên đồng tử liền đến vây quanh đồng nói rằng : lành thay Ngài đến đây rất tốt, cung điện nầy thuộc về Ngài, chúng Thiên nữ các em đây trước nay không nơi nương tựa xin được theo hầu Ngài. Các Thiên nữ nầy đều hàng thanh niên vú như bình hoàng kim, gương mặt như hoa sen hồng. Sáu vạn Thiên nữ như vậy đưa Thiên đồng tử vào vườn toàn cây câu tỳ la cõi trời sum sê tươi tốt, các thứ nhạc trời, tiếng tiêu tiếng sáo, tiếng trống tiếng đờn tự nhiên phát ra, âm thanh vi diệu người nghe khoan khoái. Lại có tòa sư tử  nghiêm sức với các tràng chuỗi ngọc châu lót bằng gấm lụa. Thiên đồng tử thấy những cảnh nghiêm trang xinh đẹp nầy liền lên ngồi trên tòa sư tử như vua quán đảnh. 

Lúc Thiên Tử ngồi xong thì các món trân ngoạn tự nhiên phát ra tiếng rằng : người lành nầy từ châu Diêm Phù Ðề do làm phước trời nên sanh nơi đây, mọi người đều nên đến hầu hạ Ngài, đờn hát ca múa làm cho Ngài vui vẻ không chán.

 Âm thanh ấy phát ra rồi thì trong vườn rừng cung điện tất cả sáu vạn Thiên nữ tay cấm hoa trời, mình mặc y phục trời, hơi thơm từ thân Thiên nữ phát ra như mùi rượu nho, rượu mật, rượu họa, ngửi mùi hương ấy làm cho người phải say mê. Các Thiên nữ đồng thanh nói : Ngài đã có chứa phước trời, chúng em xin được phụng sự Ngài. 

Bấy giờ Thiên Tử cùng hàng Thiên nữ dạo chơi trong các khu rừng hoan hỉ, rừng tạp hoa, rừng viêm ngọc, rừng cực quang nghiêm, rừng nhựt cung viên, cũng dạo chơi nơi các khu vườn tiếng suối reo, vườn tiếng âm nhạc. Các rừng các vườn ấy mát mẻ xinh tươi, không có gió xấu, mùi hoa ngào ngạt, chiếu sáng khắp nơi bằng châu ma ni bửu xanh, có những điểu vương hót tiếng vi diệu, lông chim ấy chiếu rực như khối châu báu, mỏ chim bằng phệ lưu ly cõi trời, các chim bay liệng đầy khắp vườn rừng. 

Nầy Ðại Tiên ! Cõi trời Tam Thập Tam có ao nước đủ tám công đức theo tháng mà đầy vơi. Nước ao không hề bẩn, luôn trong sạch mát mẻ. Trong ao có những cây hoa thơm bá diệp. Bờ ao có cây ngay hàng, đầy những hoa đẹp. Những ao nước nầy là nơi mà các Thiên nữ thường đến tắm rửa vui đùa. 

Ðến giờ ăn thì những bát đĩa bằng châu báu tự nhiên xuất hiện tùy theo ý muốn, các món ăn màu sắc đẹp thơm như hoa câu ma, trắng hơn ngọc tuyết, có tên là thiên cam lộ. Món ăn ấy đủ mùi thơm ngon cũng dễ tiêu hóa, không hề có vị cay chua đắng chát . 

Nầy Ðại Tiên ! Có hạng trời báo chằng được thuần nên dầu là đồng trong một bát ăn mà hoặc tự cảm thấy màu xanh màu đỏ, hoặc thấy cả màu vàng màu đen hoặc nhiều màu lẫn lộn. Thân hình trời thì không khác nhau mà món ăn có sai khác. Nên biết những hạng trời nầy đời trước ở nhơn gian dầu là bố thí, nhưng sau khi bố thí rồi lại ăn năn có lòng hối tiếc nên cảm báo như vậy. 

Nầy Ðại Tiên ! Cõi trời Tam Thập Tam lại còn có những khu vườn tên là hiệp hôn, cây trái trong đó luôn sum sê. Nơi ấy là chỗ ở của các hàng ly dục tịch tĩnh. Những Thiên Tử cùng Thiên nữ mà vào vườn ấy đều chẳng phải vì thích ưa dục lạc. 

Nầy Ðại Tiên ! Ðệ tử của ta bực Thanh Văn cao nhứt là Kiều Phạn Bát Ðề hiện tại ở tại vườn hiệp hôn ấy, Kiều Phạn Bát Ðề là con trai dòng Bà La Môn thanh tịnh, trụ trong thiền định từ bi, dùng từ tam muội mở mắt từ bi, mỗi lần nhập định là bảy ngày làm hạn mới hiện có hơi thở ra thở vào. Lúc ông ấy nhập định theo ý muốn có gió mát thổi đến. Giả sử có kiếp hỏa đốt cháy đại địa thành một khối lửa lớn, nhưng với thân nhập thiền định của ông ấy chẳng thể làm tổn hại được phần nhỏ như hột cải. Thân thể nhập thiền định của Kiều Phạn Bát Ðề thường vững vàng như tòa núi Di Lâu. 

Nan Ðà Long Vương và Bạt Nan Ðà Long Vương có oai lực lớn phun hơi rất mãnh liệt có thể làm cho núi Di Lâu lay động khua ra tiếng, nước bốn đại hải biến làm vị mặn. Giả sử hai Long Vương nầy dùng hết thế lực mình có cũng không thể làm nhiễu loạn được Kiều Phạn Bát Ðề lúc ông nầy nhập thiền định. 

Nầy Ðại Tiên ! Kiều Phạn Bát Ðề, đệ tử của ta, ở rừng hiệp hôn, các Thiên nữ dầu say ái dục mà khi thấy Tôn giả nầy liền sanh lòng thanh tịnh, đem hoa mạn đà la và những hoa sen đến cúng dường chắp tay cung kính. Các Thiên Tử trời Tam Thập Tam cũng đến vây quanh  mang thiên cam lộ đến dâng cúng. Tôn giả Kiều Phạn Bát Ðề ở rừng hiệp hôn nói những khế kinh, như trường hàng, kệ, trùng tụng, vị tằng hữu, vô vấn tự thuyết, bổn sanh, bổn sự, nhơn duyên, luận nghị, phương quảng, thí dụ và thọ ký, Hàng Thiên Tử và Thiên nữ ấy nghe Tôn giả thuyết pháp không ai là chẳng ân cần cung kính tôn trọng. 

Còn nữa, nầy Ðại Tiên ! Trời Tam Thập Tam có nhà tụ hội. Nhà ấy có bốn vạn tám ngàn cột, toàn làm bằng những hoàng kim bạch ngân, ngọc xa cừ, ngọc mã não cùng với lõi cây chiên đàn, treo linh thòng lạc vang ra tiếng vi diệu. Trải khắp thiên y, dựng những tràng phan, tiếng nhạc như tiếng tiêu, tiếng sáo, tiếng không hầu, tiếng đờn cầm đờn sắc, tiếng loa tiếng trống, tiếng chiêng tiếng phèn la, các âm thanh vi diệu tự nhiên phát ra làm vui đẹp người nghe. Các Thiên Tử, Thiên nữ yêu kính nhau vui mừng gặp gỡ thường tụ họp nơi hội đường ấy. Trong hội đường dùng châu ma ni bửu để trang sức, mặt đất lót bằng lưu ly trong sáng nhuần bóng sạch sẽ trơn láng như gương, những hương xoa hương bột cùng các thứ hoa đẹp rải khắp mọi nơi, ở trong ấy không có ai hôn mê ngủ gật, cũng không có ý tưởng biếng lười, gió nhẹ thơm mát phảng phất khắp nơi. 

Nầy Ðại Tiên ! Trời Tam Thập Tam ấy khắp nơi đều có lâu các bằng châu báu gỗ quý chiên đàn giăng màn lưới báu, treo nhiều chuỗi ngọc châu trải khắp hoa thơm.Có trăm ngàn Thiên nữ dầu say mê ái dục mà không hề tật đố, không ghen hờn không cãi không giành, thường hòa thuận nhau. Thiên nữ ấy diện mạo xinh đẹp như trăng tròn sáng, tràng hoa và châu báu nghiêm sức trên đầu trên thân, giọng nói thanh tịnh tiếng ca vi diệu qua lại không ngớt. 

Lại nầy Ðại Tiên ! Hội đường của trời Tam Thập Tam ngay ngắn rộng rãi. Hiên đài rộng cao mát như bóng mây. Bốn phía hội đường còn có vườn đều rộng trăm do tuần, trong vườn nhiều hoa sen tươi màu hoàng  kim, trong hoa vang ra tiếng ca vi diệu làm  người nghe đếu vui đẹp. Ngoài vườn có lùm rừng toàn những cây cõi trời như những cây câu ca na đà, những cây ba lợi dã đa, những cây câu tỳ đà la.

 Nầy Ðại Tiên ! Hội đường thiện pháp ấy, tất cả những vật trang sức trân ngoạn đều là những khối hoàng kim bạch ngân, những khối ngọc lưu ly, ngọc pha lê, ngọc xa cừ, ngọc mã não và ngọc xích chơn châu. Ðền đài cũng là khối bảy thứ báu ấy. Kho tàng thì đầy những trân kỳ bửu vật. 

Các cung điện đến số trăm ngàn.Vườn tược rừng cây trang sức châu báu liên tiếp xa gần.

 Cõi ấy thường nghe sự an vui không hề có sầu khổ bịnh tật cũng không có họa hoạn. 

Các Thiên Tử và Thiên nữ trời Tam Thập Tam vui chơi nơi các khu vườn rùng ấy xong thì họp nhau tại hội đường thiện pháp ấy để cùng hưởng vui sướng. 

Lại nầy Ðại Tiên ! Trời Tam Thập Tam còn có cung điện riêng tên là Thiện Kiến.Hội đường Thiện Kiến nầy sáng như giữa ban ngày, sạch trong dường gương sáng, vòng quanh bốn phía nhà dùng dây châu báu giăng treo trang sức. 

Trong hội trường nầy có một ngàn Thiên nữ, trên mão trang sức bằng những hoa thất bửu, chuỗi châu ngọc chiếu rực rỡ, the chỉ hoàng kim bao trùm. 

Ðền Thiện Kiến ấy có sáu vạn cột, trính kèo chói sáng lẫn nhau, trùng trùng điệp điệp những trân kỳ xen lẫn để trang sức. Sơn phết thì màu đỏ thắm, rải đất thì dùng nước chiên đàn nước trầm hương cùng hương tô hiệp mùi thơm ngào ngạt. 

Nơi ấy voi ngựa xe cộ qua lại tung bay bụi hoàng kim làm cho nơi nơi thành màu hoàng kim.

 Thiên Ðế Thích Ðề Hoàn Nhơn tay cầm chày kim cương, có trăm ngàn Thiên nữ theo hầu, đến vào đền báu ấy cùng thưởng ngoạn vui chơi. 

Nầy Ðại Tiên ! Phải biết trong cõi trời Tam Thập Tam có Thiên Vương tên Nhơn Ðà La, có sức dũng kiện địch nổi chín ngàn voi lớn. Thiên Vương ấy cánh tay thòng xuống đẹp như vòi voi trời, thân thể như vàng hoàng kim sạch bóng. Gân thịt kín đáo rắn dẻo, xương cốt và mạch máu không lộ bày, ngực tròn như ngực sư tử chúa, bụng chẳng vun cao, eo lưng bó nhỏ. Trên đầu trang sức với những châu báu ngọc quý xỏ bằng chỉ hoàng kim lòng thòng chiếu sáng. Y phục thì dài nhuyễn nhẹ, tiếng nói trong trẻo, từ lâu đã thông thuộc và soạn tác những sách luận, khi ăn thì thuần là món thiên cam lộ, khi đi thì ngồi voi y bạt la. 

Nầy Ðại Tiên ! Sắc thân đẹp  mạnh của Thiên Vương Nhơn Ðà La ấy chẳng phải là xương thịt thường, mà thuần là hoa báu hợp thành, giọng nói trong tốt, hơi người thoát ra mùi thơm kỳ lạ. Giả sử như voi say cuồng ngửi được hơi thơm nơi thân Thiên Vương ấy thoảng ra thì nó tự điều thiện. Thiên Vương ấy hình mạo đoan nghiêm như thân Phật, màu sắc cùng ánh sáng ấy có thể làm cho khối hoàng kim  để gần phải mất cả màu sáng ».

 Quảng Bác nói : «  Bạch đức Thế Tôn ! Như Lai hôm nay khen ngợi Thiên Ðế thật là hi hữu ». 

Ðức Phật nói : « Nầy Ðại Tiên ! Thân của Thiên Ðế ấy là thân vô thường, là thân hạ liệt nào đáng  ngợi khen. Thân ấy như món kết bằng cỏ bở, như hoa nhờ kéo hớt, như hình tranh của họa sĩ, cũng như tượng gỗ của thợ điêu khắc, lại cũng như kết hoa làm tràng nào còn được lâu. 

Nầy Ðại Tiên ! Ðệ tử có thần thông của Phật như ông A Na Luật, chỉ cứ noi thân do cha mẹ sanh ra, lấy sức mạnh nơi mỗi lóng đốt so với Thiên Ðế còn hơn gấp bội phần ». 

Bấy giờ Tôn giả A Na Luật hiện đang ngồi trong pháp hội nghe lời đức Phật phán như vậy thì tự nghĩ rằng nay đức Thế Tôn có ý giác ngộ tôi. Nghĩ xong, Tôn giả liền nhập tam muội, thân Ngài chiếu sáng như hoàng kim cõi trời, đội mão thù thắng ánh sáng châu ngọc rực rỡ, mặt Ngài nhuần bóng hơn thoa đề hồ, cặp mắt xanh biếc như ngọc phệ lưu ly. Cánh tay trang sức với châu ma ni châu mã não và châu nhựt quang. Ánh sáng và hơi thơm nơi thân Ngài chiếu lan khắp nơi. 

Quảng Bác Tiên nhơn thấy thân tướng nầy lòng rất kinh ngạc liền đứng dậy chắp tay cung kính chiêm ngưỡng cho là ít có, to tiếng xướng lên rằng : « Lạ thay, lành thay ! Tôi được thân người thiệt là chẳng uổng. Nay gặp đức Thế Tôn phát huy tụ hội xưa chưa từng thấy mà nay được nghe thấy ». 

Ðức Phật phán hỏi : « Nầy Ðại Tiên ! Thân Thiên Ðế ấy cùng thân của A Na Luật so sánh nhau hơn kém thế nào ? ». 

Quảng Bác nói : « Bạch đức Thế Tôn ! Ðem so với thân của Tôn giả A Na Luật đây thì thân Thiên Ðế ấy không bằng một phần trăm cũng không bằng một phần ngàn ». 

Ðức Phật phán dạy : « Nầy Ðại Tiên ! Với thân thể nầy chẳng đủ cho là hi hữu. Vì người đã có phước đức thì tùy ý mình muốn đều được thành tựu thân thể theo sở nguyện cả ». 

Lúc bấy giờ chúng hội sanh lòng hi hữu vui mừng bạch đức Phật : « Bạch đức Thế Tôn ! Xin Phật vì chúng tôi mà lại giảng  nói về cõi trời ». 

Ðức Phật phán dạy : « Nầy Ðại Tiên ! Trời Tam Thập Tam ấy, Thiên Ðế có bà phu nhơn tên là Xá Chi. Bà ấy ở vườn hoan hỉ có trăm ngàn Thiên nữ hầu hạ. Bà phu nhơn ấy dung nhan đẹp lạ như bông hoa nở, má như cánh sen hồng, mặt như màu hoàng kim. Bà ấy mặc y phục mịn nhuyễn tươi sáng, hoa báu vi diệu trời trang sức trên đầu, thòng những chuỗi châu báu những bội ngọc quý khi lúc lay động khua vang tiếng vi diệu. Trán bà ấy rộng bằng ngay thẳng rũ the lượt hoàng kim, cặp mắt dài nhọn như hoa sắp nở, thân hình bà ấy chẳng mập chẳng ốm chẳng cao chẳng thấp, thể chất thơm sạch không có dơ xấu. Thường có gió đưa hoa đẹp đến kết thành lọng che. Ðối với Thiên Ðế, bà ấy một lòng chơn thành vững chắc không hề hờn giận tranh cãi. Bà ấy cũng không có sự lo về thai nghén. 

Ðại Tiên nên biết bà phu nhơn Xá Chi ấy say mê ân ái nặng hơn các Thiên nử khác, bà ấy chí ý kiêu căng còn hơn núi Di Lâu, núi Mạn Ðà rậm rạp khó ngước nhìn. Dầu vậy, mà bà phu nhơn ấy hay phát huy chủng tánh Phật. 

Nầy Ðại Tiên ! Trời Tam Thập Tam không có những khổ nạn xen tạp, chỉ thuần vui sướng chơi đùa trong các cung điện vườn rừng . 

Nầy Ðại Tiên ! Thọ mạng của trời Tam Thập Tam là một ngàn tuổi tính theo năm của trời ấy. Lúc người trời ấy sắp lâm chung có năm hiện tượng xấu. 

Nơi ao hồ trong mát làm người tắm vui thích, gió nhẹ thổi các hoa đẹp thơm tươi sáng lung lay tỏa hương thơm, mà nay đối với vị trời ấy lúc sắp sửa tắm rửa liền biến thành mỡ nhớt. Vị trời ấy thấy vậy kinh sợ nhảy lên khỏi nước dơ chạy vào rừng, các Thiên nữ theo hầu thấy Thiên Tử ấy hoảng sợ như vậy cũng cùng nhau chạy đuổi theo. Vị trời ấy dừng ở dưới cội cây buồn rầu nghẹn ngào. Chúng Thiên nữ đồng tiếng nói sao Ngài lại vội rời bỏ chúng em mà đứng một mình ở đây ? 

Vị Thiên Tử ấy tiếng nói càng lúc càng thảm thiết bảo các Thiên nữ rằng : « Từ nào đến giờ chưa tửng có chất nhờn dơ hiện ra trên thân ta. Vừa nói lời trên xong thì hai nách vị trời ấy bỗng nhiên chảy mồ hôi. Chúng Thiên nữ thấy hiện tượng xấu dơ ấy liền dang ra xa. Ðây là tướng suy xấu thứ nhất. 

Vị Thiên Tử nầy thấy chúng Thiên nữ lánh xa mình thì rầu rĩ buồn khổ trong lòng thêm nhiệt não. Tràng hoa trên đầu bỗng nhiên úa héo, y phục trời đang mặc cũng thình lình dơ bẩn, không còn thích những trân ngoạn giường ghế báu quý trước. Các Thiên nữ thấy tướng xấu ấy biết là hiện tượng sắp chết vì gớm hơi hôi dơ, nên đều dang ra xa, chỉ có vói nhìn Thiên Tử ấy phát tiếng kêu khóc luyến tiếc nghẹn ngào than rằng : « Thân trời mịn nhuyễn thơm lành trước kia cùng chúng tôi vui chơi yến ẩm dạo đi trong vườn rừng, cũng cùng chúng tôi tắm lội trong ao hồ mát trong, cũng cùng chúng tôi hội họp nơi nhà thiện pháp như nga vương, cũng cùng chúng tôi vui đùa trong vườn hoan hỉ như chim ca lan, cùng chúng tôi dạo đi trên sông mạn đà như hương tượng, cùng chúng ở vườn ba gia và vườn câu la như phong vương, cùng chúng tôi ở rừng tạp thọ như mão trời quý đẹp, nay sao lại hiện năm tướng suy sẽ rời bỏ chúng tôi mà đi. Ðây là tướng suy xấu thứ hai hiện ra. 

Bấy giờ vị Thiên Tử ấy nghe tiếng than khóc của chúng Thiên nữ nên càng thêm tức giận, lòng sanh sợ hãi, bèn bị bịnh nhiệt thiêu đốt cả thân mình khô héo, đôi mắt kinh hoàng như nhà đi buôn bị lạc mất đoàn buôn, như ghe thuyền hư bể giữa biển lớn, như người đánh mất châu như ý, như cội cây mục trên gành núi cao bị ngọn gió lớn thổi lay, như rồng con bị chim kim sí bắt ngậm nơi miệng. Vị Thiên Tử ấy sợ hãi hoàng chắp tay vói nói với chúng Thiên nữ rằng : Các nàng đến đây, xin được tay các nàng xoa bóp cho tôi được sống thêm chốc lát. Dầu nghe vị Thiên Tử ấy nói như vậy nhưng chúng Thiên nữ không ai dám đến gần vì gớm mùi hôi dơ, chỉ có đứng xa nhìn mà kêu khóc. Chúng Thiên nữ ấy đều cầm các thứ hoa vói ném mà nói rằng : Phước trời của Ngài đã hết Ngài mau sanh vào Diêm Phù Ðề. 

Nghe lời nói của chúng Thiên nữ, vị Thiên Tử ấy biết là họ đã xa bỏ mình nên phát thanh thán oán rằng : Lạ thay tại sao từ lâu trong lâu đài các thứ ngoạn cụ cùng vườn tược nầy, chúng Thiên nữ ấy cùng tôi sum họp hưởng lạc, mà nay họ lại đứng dang ra xa bảo vói với tôi là Ngài nên mau sanh vào Diêm Phù Ðề. 

Than nói lời trên rồi, nhìn lại cảnh tượng đang ở và các khu vườn trang nghiêm xinh đẹp mà mình đã từng dạo chơi hằng ngày, trong lòng luyến ái buồn thương, vị Thiên Tử ấy cất tiếng nói lớn rằng : Than ôi nào là hội đường thiện pháp, than ôi nào là vườn hoan hỉ, vườn tạp thọ, vườn hoàng viêm thạch, vườn ba lộ sa, vườn ba lê gia, vườn quan thắng, than ôi nào là sông mạn đà, ao thanh lương, than ôi nào là cung ngọc đền vàng lầu châu các báu, nay tôi đều không còn thọ hưởng được, từ đây phải đọa lạc. Than nói chưa xong, lại thấy chúng Thiên nữ kinh hoàng đi qua đi lại, tay thì lau nước mắt sụt sùi than thở lộ vẻ lo sợ, bèn than rằng : Than ôi nào người thân nào người yêu, tại sao họ thấy tôi sắp chết mà họ không chuyện trò với tôi, tôi đang sắp sửa vĩnh biệt mà họ không chịu tiếp cận tôi để giã biệt, tôi cùng chúng nó sẽ không còn thấy lại nhau. Nay tôi phước trời đã hết nên tự thấy chỗ ở nầy tối om trống vắng. Than ôi nhạc trời có lẽ không hòa tấu chăng, tại sao tôi không còn nghe. Trong cõi trời nầy sự vui sướng cao độ nhứt, tất cả hàng Thiên Tử cùng chúng Càn Thát Bà chư Thần phục vụ tôi, cùng thần tướng sắc đẹp mạnh mẽ cầm chày kim cương, thần tướng ngàn mắt, than ôi nay tôi không còn được thấy được hưởng. Than ôi cho các thứ hoa trời, nào là hoa ba lợi gia, hoa câu tỳ la ở trên đầu tôi sao nó lại héo úa. 

Chúng Thiên Tử, Thiên nữ thấy vị Thiên Tử ấy buồn rầu như vậy thảy đều lo sầu. 

Bấy giờ, Thiên Ðế Thích Ðề Hoàn Nhơn và Xá Chi phu nhơn cùng trăm ngàn chúng Thiên Tử, Thiên nữ, Thần Càn Thát Bà tấu âm nhạc trời vầy đoàn du hành, thấy vị Thiên Tử ấy hiện năm tướng suy xấu sắp chết đều sanh lòng thương xót mà đồng than rằng : Than ôi ! Lạ thay cho vô thường kia không chút tình thương rất hung bạo độc hại. 

Thiên Ðế Thích Ðề Hoàn Nhơn dùng phạm âm thanh bảo vị Thiên Tử ấy rằng : Thôi đi Thiên Tử, người chớ quá sầu não, chúng ta rồi đây cũng sẽ như thế nầy thôi. Ngươi chớ sanh lòng luyến ái mà phải đọa vào ác thú. 

Chúng Thiên Tử cũng đồng bảo rằng : Ngài nên siêng năng làm đủ các điều thiện sanh vào nhơn gian, nơi mà tất cả chúng sanh tu tạo nghiệp phước đức.

 Vị Thiên Tử ấy nghe lời khuyên bảo của Thiên Ðế và chúng Thiên Tử bèn tự nghĩ rằng nay tôi quyết chắc sẽ đọa lạc. Nghĩ rồi chắp tay hướng về chúng Thiên Tử mà nói rằng : Các Ngài an ủi tôi cho tôi vui mừng, nhưng thời gian tôi đọa lạc đã đến. 

Nói xong, vị Thiên Tử ấy than thở ngắm nhìn, bấy giờ lại hiện ra thêm hai hiện tượng suy xấu : Một là đôi mắt ngầu đỏ như xích liên hoa, hai là các món trang sức trên thân bỗng ẩn mất. 

Chúng Thiên Tử, Thiên nữ thấy hiện tượng nầy đồng đem hoa trời rải lên mình vị Thiên Tử ấy và cũng tấu thiên nhạc lên. 

Vị Thiên Tử ấy thấy chúng Thiên Tử, Thiên nữ rải hoa tấu nhạc để tiển đưa mình liền sanh lòng thích muốn sanh vào Diêm Phù Ðề, tự buồn than rơi lệ từ giã cõi trời Tam Thập Tam sanh  vào Diêm Phù Ðề, khi đã nhập thai làm cho mẹ phát hiện các tướng tốt, thường ca múa cười vui, thích dục lạc, luôn vui vẻ, ưa những nơi vườn rừng cây hoa quả, ưa mặc các thứ y phục nhiều màu tươi đẹp, thích thường ăn uống, dầu mang thai mà mẹ vẫn không hề cảm thấy khó chịu, chẳng ưa tà dục, thích tràng hoa đẹp xinh và các thứ hương thơm lành, lúc ngủ thì chiêm bao thấy cảnh tốt điều lành không bao giờ thấy sự điên đảo. 

Nầy Ðại Tiên ! Thiên Tử trời Tam Thập Tam sanh xuống Diêm Phù Ðề, lúc còn ở thai tạng có thể làm cho mẹ phát sanh những hiện tượng như vậy. 

Ðại Tiên nên biết trong thời gian mang thai ấy, mẹ được khỏi tất cả bịnh hoạn về nội tạng, sau khi sanh luôn khỏe mạnh. 

Khi đã sanh ra, trẻ đồng tử ấy thân thể ngay ngắn, chỉ tay đậm rõ những nét tốt đáng mừng, tay chưn nhu nhuyến, răng đều kín, eo lưng đẹp, toàn thân dịu dàng, lòng ưa những sự công đức lành thù thắng, tánh thích dục lạc tốt, y phục thì thích món nhẹ sạch, thích dạo chơi trong vườn rừng. Thân thể thoát ra hơi thơm dịu, dòng họ sang quý giàu có lớn đầy đủ vàng ngọc châu báu, thường làm những việc giữ giới hạnh và bố thí cúng dường. 

Ðại Tiên nên biết nếu vị Thiên Tử ấy mà lòng dục quá nặng nhiều thì sẽ sanh vào nhà nghèo, nhưng thân hình vẫn là đoan chánh đầy đủ các căn, không lùn không cao, không đen không quá trắng, tay chưn đều ngay ngắn, ai thấy cũng sanh lòng yêu kính. Tánh người nầy thích luận nghị, tâm luôn hòa dịu ít giận hờn, ưa gần vợ người, đối với vợ nhà chẳng có lòng yêu thích, với bạn bè anh chị em cùng quyến thuộc cũng chẳng thương luyến. 

Ðại Tiên nên biết, các vị Thiên Tử trời Tam Thập Tam sanh xuống nhơn gian, có những sự tướng như vậy ». 

Nghe đức Phật phán dạy xong, Quảng Bác tiên nhơn cùng tất cả chúng tiên đều vui mừng đồng tiếng khen rằng lành thay.

 

PHÁP HỘI QUẢNG BÁC TIÊN NHƠN

THỨ BỐN MƯƠI CHÍN

HẾT

 

--- o0o ---

Mục Lục Tổng quát Kinh Đại Bửu Tích

--- o0o ---

Mục Lục tập 7 | Phần 41-42-43 | Phần 44 | Phần 45-46

Phần 47 | Phần 48-49 | Phần 50 | Phần 51