NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Vừa quay đầu nhìn Linh Quang chợt hiện

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 1101 . Ngày đăng: 24/05/2017In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

VỪA QUAY ĐẦU NHÌN LINH QUANG CHỢT HIỆN

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

Hơn 1200 năm trước, đang trong mùa hoa hồng liễu xanh, muôn chim ca hót. Một thư sinh khí thế oai hùng tràn đầy sức sống đang đi vào một trạm nghỉ trên đường ở Giang Nam.

Vị thanh niên tú tài này họ Tuyên, vốn là người dân của đất tỳ Lăng (nay thuộc vùng Giang Tô). Từ nhỏ anh ta đã học Nho, tu tập khoá thi cử, chuẩn bị cho việc thi đỗ Tiến sĩ trong tương lai để làm rạng danh tiên tổ. Tuyên Tú Tài bẩm tánh thông minh, lại siêng năng học tập, mười năm đèn sách không chút biếng lười, học đến nỗi kinh luận đầy đầu, văn phong hoa mỹ. Năm nay, đúng mùa thi lớn, anh ta ôm ấp chí hướng cao xa của mình, trên đầu mang kỳ vọng tha thiết của cha mẹ muốn đến kinh thành Trường An cho kịp thi cử.

Nhưng mà thời gian từ đây cho đến hội thi mùa thu vẫn còn sớm, vì sao mùa xuân anh ta đã vội vàng lên đường? Cổ nhân nói: “Đọc một vạn quyển sách đi một vạn dặm đường”. Trong bụng anh ta đã chứa đầy một vạn quyển sách, cho nên anh ta mượn cớ đi thi, để đi cho được vạn dặm đường – môn học thứ hai của học đường, đối với đời người dài đăng đẵng có lẽ càng quan trọng hơn.

Từ Giang Tô đến Trường An, đi dọc theo Hà Bắc lên là nhanh và tiện nhất. Nhưng anh ta đã muốn rèn luyện không ngại đi đường vòng, cho nên đi ngược theo dòng Trường Giang theo phía Tây mà đến. Suốt đường cưỡi ngựa xem hoa, vừa đi vừa nghỉ, không định rõ ngày đến Giang Châu. Anh ta định sau khi lên Lô Sơn tham quan một chuyến rồi quay trở lên phía Bắc vào kinh để dự thi. Dưới chân núi Lô sơn, anh ta tình cờ gặp một tú sĩ áo trắng phong độ nhanh nhẹn. Hai người vừa gặp mà như đã quen biết từ xưa, bèn kết bạn vui chơi thoả thích ở Khuôn Lư: Vọng Giang Đình. Sông lớn chảy về Đông, sóng đục cuộn trào, cốc cẩm tú hoa đỏ tợ như bó đuốc đang lên khói: suối tam điệp, ngân hà rơi xuống chín tầng mây; Cửa Hàm Phàn mặt nước sóng xanh mênh mông mờ mịt…

Lô Sơn cảnh đẹp lạ thường, đẹp không sao tả xiết, đôi bạn học rộng mới quen này tiếc là gặp nhau quá muộn. Nhưng hai người lại phải đi ngược với nhau. Người bạn mới quen của Tuyên Tú tài tuy học thông kim cổ nhưng không màng công danh, không giống như anh ta phải vào kinh theo đuổi việc thi cử, mà lại muốn đi xuống Hồng Châu ở phía Nam, đến tham bái Đại sư Mã Tổ Đạo Nhất. Vị Đại sư Mã Tổ này có điểm gì thần kỳ mà có thể khiến một vị thư sinh học rộng hiểu nhiều này lại bỏ Nho học Thiền? Mà bây giờ vừa đến thời tiết cuối xuân, cách hội thi mùa thu vẫn còn sớm, Hồng Châu cách Giang Châu này chẳng qua cũng chỉ là lộ trình ba trăm dặm, nên Tú Tài họ Tuyên mới quyết định cùng đi thăm sự hiếm hoi này.

Tại chùa Khai Nguyên ở Hồng Châu, Mã Tổ Đạo Nhất hỏi anh ta: “Tú Tài đi đâu vậy?”

Tuyên Tú Tài trả lời: “Vào kinh thi tuyển làm quan”.

“Phải đến Trường An, Tú Tài không sợ xa à?”

Tuyên Tú Tài nói đùa: “Xa nhưng cũng hết cách rồi, ở chỗ đại sư đây có trường thi khác không?”

Mã Tổ hỏi: “Hiện tại sợ điều gì?”

Tú Tài nói: “Ở chỗ Ngài có tuyển làm quan không?”

Mã Tổ Đạo Nhất hét một tiếng lớn: “không những Tú Tài mà ngay cả Phật cũng không làm”.

Trời ạ! Ngay cả Phật cũng không làm, đây là cảnh giới gì vậy? Tuyên Tú Tài bỗng nhiên có chút tỉnh ngộ, lập tức ném thùng sách xuống, xuất gia theo Mã Tổ, pháp danh là Linh Mặc. Mã Tổ vừa xuống tóc cho anh ta, vừa nói rằng: “Xuống tóc cho ngươi thì ta có thể, nhưng đại sự nhân duyên của ngươi lại không do nơi ta”.

Tuyên Tú Tài, không, trước mắt đã trở thành thiền tăng Linh Mặc, còn không tin tưởng sao? Tăng Nạp trong thiên hạ đều nói chỗ Mã Tổ này là trường tuyển Phật, mọi người không quản đường xa ngàn dặm đua nhau đến quy nạp, đại sự nhân duyên không phải kết thúc tại chỗ Ngài thì còn đến chỗ nào đây?

Linh Mặc liền ở lại dưới toà Mã Tổ, làm ruộng lao động, tham thiền tu tập. Sau khi thọ giới cụ túc, đã có tư cách để đi vân du, nhưng anh ta vẫn không nở rời bỏ ra đi. Nhưng mà, cứ mở mắt nhìn các huynh đệ lần lượt như cá chép vượt long môn, hoá thành phi long xuyên mây lướt gió mà đi, bản thân tuy siêng tu khổ luyện, lại lâu lắm rồi không thể thoát khỏi cửa thiền cuối cùng.

Một hôm, Thiền sư Linh Mặc và Bách Trượng Hoài Hải theo làm thị giả Mã Tổ Đạo Nhất đi du lãm trên núi. Một bầy vịt trờ kêu cáp cáp bay ngang trên đỉnh đầu. Mã Tổ ngớ ngẩn hỏi Bách Trượng Hoài Hải: “Là gì vậy?”.

Bách Trượng Hoài Hải ngước mắt nhìn nhìn: “Là vịt trời”.

Sở dĩ Mã Tổ biết rõ mà cứ hỏi là do tự có thiền cơ linh diệu của nó, là đang điểm hóa cho Hoài Hải cảm ngộ được tâm tánh có tác dụng mọi lúc của mình, nhưng tâm của Hoài Hải lại đuổi theo sự chuyển động của cảnh giới ở bên ngoài, chỉ có thể nhìn thấy vịt trời. Đợi đến lúc vịt trời mất tăm mất dạng trên bầu trời, Mã Tổ lại hỏi: “bay đi đâu rồi?”.

Tâm của Bách Trượng Hoài Hải vẫn ở trên cảnh tượng bên ngoài là bầy vịt này, nên thuận miệng nói: “Bay qua rồi!”.

Mã Tổ thấy Hoài Hải đối diện với khế cơ rất tốt nhưng lại không lãnh ngộ, bèn đau lòng xuống tay véo lỗ mũi Hoài Hải. Cứ vặn miết làm Hoài Hải đau đến nỗi cứ la oai oái. Mã Tổ hét một tiếng lớn: “Còn nói là bay đi rồi!”.

Bách Trượng Hoài Hải chịu đau, tự nhiên đại ngộ.

Linh Mặc tận mắt nhìn thấy toàn bộ quá trình này, vừa nóng vừa giận, vô cùng phẫn nộ, bất chấp tất cả xông vào Mã Tổ kêu gào: “Sư phụ, Ngài không công bằng! Ban đầu, con bỏ con đường tốt đẹp phía trước xuất gia theo Ngài, chẳng phải là vì hiểu rõ tâm địa, ngộ triệt mặt mũi xưa nay sao? Nhưng cho đến nay, con vẫn như còn dính chặt trong thùng dầu hắc vậy? Vừa rồi cơ duyên tốt như vậy vì sao Ngài chỉ điểm hoá riêng cho Thượng toạ Hoài Hải mà không dẫn dắt cho con?”.

Mã Tổ chỉ tay vào Linh Mặc cười ha hả. Linh Mặc bị cười lo quá, vội bước tới bịt miệng Sư phụ, nói: “Hôm nay Ngài phải nói rõ cho con!”.

Mã Tổ nói: “Được. Ngươi xem, đôi giày này của Hoài Hải đẹp biết bao! Bảo ông ta mở ra, mang vào chân ngươi”.

Linh Mặc không làm, bởi vì chân của mình to hơn chân của Hoài Hải nhiều.

“Sư phụ, giày của sư huynh nhỏ quá, đẹp nhưng con không thể mang được”.

Mã Tổ trừng mắt nhìn Linh Mặc, trách mắng một cách vô lý: “Vậy giày đẹp, vì sao để cho ông ta mang? Ngươi không biết lấy dao gọt bớt chân mình à?”

Linh Mặc đã rõ, Mã Tổ đang lấy đôi giày để ví dụ cho nhân duyên ngộ đạo vừa rồi. Mỗi người có mỗi cơ duyên, cũng như trị bệnh, phải theo bệnh mà cho thuốc. Linh Mặc bổ nhào xuống quỳ trên đất, cứ dập đầu như giã gạo, khóc lóc khẩn cầu rằng: “Thưa sư phụ! Xin ngài đại từ đại bi, chỉ cho con một con đường khai ngộ sáng suốt”.

Mã Tổ nghiêm túc nói: “Ta đã sớm nói cho ngươi rồi, sư phụ xuất gia của ngươi là Ta, ông thầy sáng tâm thấy tánh lại là một người khác. Nhưng ngươi không tin, lại muốn tìm con đường tắt nơi ta. Xem ngươi kìa, bộ dạng như vậy, lúc nào mới đi đây?”.

Vậy thì, xin Sư phụ chỉ cho con vị Tông sư có duyên với con đó đi!”

Mã Tổ gật gật đầu nói: “từ đây đi lên phía Tây bảy trăm dặm, liền đến Nam Nhạc Hằng Sơn. Trên một tảng đá lớn ở Hằng Sơn, có Hoà thượng Hy Thiên đang ở trên đó. Mọi người đều gọi Ngài là Đại sư Thạch Đầu. Ngươi đi tìm ông ta, nhất định có thu hoạch lớn”.

Linh Mặc như con tuấn mã được cởi dây cương, ngước mặt lên trời hét một tiếng lớn rồi phủi bụi mà đi.

Linh mặc đi suốt ngày đêm, năm ngày đã đi hết lộ trình bảy trăm dặm, đến được chân núi Hằng Sơn. Nhưng, trước khi tham bái Thạch Đầu Hy Thiên, anh ta tự nhủ: “Nếu như một lời tương khế, ta sẽ ở lại; Nếu như hai bên không khế hợp thì ta liền đi!”

Thiền sư ngày xưa chính vì có khí khái này nên việc khai ngộ kiến tánh không thể có chút khách khí. Linh Mặc chưa đặt hành lý xuống, giày cỏ vẫn chưa cởi, lên thẳng pháp đường – tiết kiệm thời gian để lúc cần đi khỏi phải phí sức. Anh ta lễ bái rồi, chẳng nói lời nào, lẳng lặng đứng qua một bên.

Đại sư Thạch Đầu liếc anh ta một cái, chỉ một cái là đủ rồi, biết anh ta là một đấng pháp khí khó mà có được. Chẳng qua, ngọc chưa mài chưa thành trang sức, thiền không kích thích thì không khế cơ. Đại sư Thạch Đầu nhìn xuống rồi nhẹ nhàng hỏi: “Từ đâu đến?”

“Giang Tây”. Linh Mặc đáp rất chính xác, nhưng đã lạc thiền cơ rất tốt.

Đại sư Thạch Đầu vẫn không đổi giọng: “Học ở đâu?”

Điều này còn phải hỏi sao? Tuyển Phật Trường của đại sư Mã Tổ ở Giang Tây rất hưng thịnh, tăng nạp trong thiên hạ đều như sông đổ về biển. Không học thiền theo Mã Tổ còn có thể học với ai đây? Linh Mặc không thèm trả lời, phủi áo mà đi – anh ta vẫn là người nói sao làm vậy. Nhưng mà lúc anh ta vừa đi ra đến cửa, đột nhiên nghe tiếng đại sư Thạch Đầu hét theo sau lưng: “Cao Tăng!”

Linh Mặc một chân còn ở trong cửa, một chân đã bước ra ngoài cửa, chợt quay đầu lại. Anh ta vừa quay đầu, Đại sư Thạch Đầu liền hét: “Từ sanh đến chết chỉ là cái này, quay đầu lại làm gì?”

Dưới sự kích phát của đại sư Thạch Đầu, Linh Mặc quay nhìn một cái, đã lãnh ngộ rõ ràng ‘cái này’ của mình xưa nay. Việc anh ta làm đầu tiên sau khi khai ngộ là lập tức bẻ gãy cây gậy mà mình dùng để đi hành cước - Từ đó không đi vân du tham vấn nữa, đạo tràng của Thiền sư Thạch Đầu chính là quê nhà tâm linh, chính là chỗ trở về nhà ngồi an ổn.

Năm đầu niên hiệu Trinh Nguyên đời nhà Đường (785 Tây lịch), Thiền sư Linh Mặc trú trì tại đạo tràng Bạch Sa gần núi Thiên Thai ở Triết Giang, sau này quan sát sứ ở Việt Châu bị sự sắc bén của Ngài thuyết phục nên cung thỉnh Ngài đến Ngũ Tiết Sơn ở Vụ Châu (nay là Kim Hoa) hoằng hoá. Trong sử gọi Ngài là “Ngũ Tiết Linh Mặc”.

Một hôm, tại pháp đường, một vị đệ tử hỏi rằng: “Cái gì lớn hơn trời đất?”.

Trên thực tế, đệ tử đang truy hỏi về tự tánh. Tổ sư có câu: “Trời không thể che, đất không thể chở. Điều nói đến đó chính là tự tánh. Nhưng mà tự tánh thì vô hình vô tướng, nói nó giống như một vật tức không trúng, cho nên câu trả lời của Thiền sư Ngũ Tiết Linh Mặc là: “Không ai biết được nó”.

Đệ tử lại hỏi tiếp: “Vậy có thể mài dũa không?”

Thiền sư Ngũ Tiết nói: “Ngươi ra tay thử xem”.

Tự tánh không có hình tướng, làm sao mà gọt dũa? Nhưng nếu như không thể gọt dũa làm sao toả ánh sáng chiếu soi khắp đại địa được? Vì thế, ở đây có thể ra tay thử một lần xem!

Một vị đệ tử khác ở dưới toà cảm nhận được thiền cơ tuyệt diệu, nghe đến nỗi trăm hoa nở rộ. Không nhịn được nữa, đứng dậy chắp tay thưa: “Pháp môn này, từ trước khi thế giới bắt đầu đến sau khi thế giới huỷ diệt là trạng thái gì vậy?”

Ngũ Tiết Linh Mặc không đáp mà hỏi ngược lại: “ngươi nói xem trạng thái trước mắt, đã hình thành bao lâu rồi?”

“Thưa sư phụ, đệ tử không hiểu”. Anh ta đang làm ra vẻ ngơ ngác sững sờ, có ý đồ dẫn dụ sư phụ lộ ra chút tin tức gì.

“Đi! Ở chỗ ta không có chỗ cho ngươi hỏi”.

Thiền sư Ngũ Tiêt mới là người không bị mắc lừa anh ta, bởi vì mặt tô son trét phấn thì không thấm nước mưa, bụng chứa đầy tức giận thì không thể ăn cơm được. Những thứ từ bên ngoài đến không phải là của quý trong nhà mình. Sự giác ngộ của sư phụ là của sư phụ, sư phụ không thể giải thoát thay cho bạn được.

Đệ tử ‘tặc tâm chưa dứt’: “lẽ nào Hoà thượng lại không có cách gì tiếp dẫn người sao?”

Thiền sư Ngũ tiết vốn có thủ thuật hàng long phục hổ, cho nên dám đặt thân vào đầm rồng, không sợ mất thân nơi miệng hổ, mà cố ý nói rằng: “Đợi ngươi yêu cầu dẫn dắt ta liền dẫn dắt cho ngươi”.

Câu nói này lại dường như là miếng mồi làm cho người cắn câu. Đệ tử quả nhiên vội vả cắn câu: “Bây giờ xin Hoà thượng dẫn dắt”.

Thiền sư Ngũ Tiết Linh Mặc hỏi rằng: “Ngươi thiếu cái gì?”

Sau khi Lục Tổ triệt ngộ nói: “Không ngờ tự tánh vốn đầy đủ, có thể sanh ra vạn vật”. Đức Phật sau khi thành đạo dưới cội Bồ đề, câu đầu tiên mà Ngài nói cũng là “Chúng sanh đều có đức tướng trí huệ của Như Lai. Đã là tự tánh ai ai đều có đủ, mỗi mỗi đều tròn đầy, vậy thì ngươi còn thiếu thứ gì? Ngươi có thể khiếm khuyết gì đây?” Đệ tử bỗng nhiên tỉnh ngộ.

Người đệ tử thứ ba công phu rất thâm sâu, thẳng thắn hỏi: “Làm sao để đạt được vô tâm tam muội?”

Thiền sư Ngũ Tiết khí phách như sông núi, “Núi đổ biển che vẫn bình tĩnh an nhiên, mặt đất rung động vẫn ngủ yên, há được mấy người?”

Trời ạ! Đây thật là một cảnh giới thần kỳ: Núi cao đổ xuống, biển lớn lại che ngược lên, nhưng khi Thiền sư khai ngộ nghe được, lại an nhiên chẳng phản ứng gì. Đại địa rung động, đất động núi lay, lại có thể điềm nhiên nằm ngủ, chẳng lo lắng gì!

Chúng ta thấy, ba vị Thiền tăng này giống như ba con cá chép vàng linh động hoạt bát tranh nhau nhảy vào long môn. Bởi vì họ dùng tâm thiền linh động của mình để cảm nhận được thiền cơ mà Thiền sư Ngũ Tiết đã từ bi thể hiện cho họ. Thiền tăng thứ nhất từ trên phương diện không gian mà hỏi; người thứ hai hỏi trên phương diện thời gian; Vị thứ ba trực tiếp hỏi như thế nào là vô tâm? Họ hỏi tuy từ những góc độ khác nhau, kỳ thực thì đều trở về một, đều chưa từng xa lìa tự tánh, tự tánh không phải một không phải khác, không gần không xa, không thiếu không thừa, không lay không động.

Ngày 23 tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ 13, Thiền sư Linh Mặc Ngũ Tiết tắm gội đốt hương, ngồi ngay ngắn trên thiền sàng, nói kệ cho đệ tử:

“Pháp thân viên tịch, thị hiện đến đi.

Ngàn Thánh cùng nguồn, vạn linh về một.

Ta nay còn mất, như giả hưng suy.

Vốn không nhọc tâm, chỉ giữ chánh niệm.

Nếu vâng lời ta, thật báo ân ta.

Cố chấp chống trái, chẳng phải con ta”.

Lúc đó có một Thiền tăng hỏi: “Hoà thượng đi về đâu vậy?”

Thiền sư Ngũ tiết nói: “Chẳng đi về đâu”

“Vì sao ta nhìn không thấy?”

“Không có mắt có thể nhìn thấy”.

Thiền sư ngũ Tiết nói xong, nhẹ nhàng ra đi.

Liên quan đến thiền cơ: Bỗng Nhiên Quay Đầu.

Đêm gió xuân trăm hoa đua nở, gió càng thổi hoa rơi như mưa, ngựa quý xe chạm trổ hương thơm ngào ngạt, ống tiêu véo von.

Bình ngọc lấp lánh xoay, suốt đêm cá rồng múa.

Đàn bướm đậu vàng trên cây liễu tuyết, cười nói rộn ràng thầm lấy hương đi. Tìm người trong đám đông tìm trăm ngàn lần, bỗng nhiên quay đầu.

Người kia lại đứng ngay đó, nơi đèn hoa sắp tàn.

Nhà văn học vĩ đại lao nhọc khéo léo dùng ngòi bút tài hoa của mình, trình hiện cho chúng ta một bức tranh về xem đèn tết Nguyên Tiêu đẹp đến nỗi khiến lòng người run sợ. Đặc biệt là ba câu cuối cùng, miêu tả một cách sinh động về ‘mỹ nhân’ - Cảnh giới tuyệt đối quan - Sự truy tìm lý tưởng “Tìm người trong đám đông tìm trăm ngàn lần” - Thật là vất vả, “Bỗng nhiên quay đầu” – Vì ngẫu nhiên mà càng thêm kinh ngạc vui mừng: “Người kia” – Người đẹp tuyệt đối; “Nơi đèn hoa sắp tàn” – nơi đèn đuốc mờ nhạt, thật là nơi khiến người ta chẳng chú ý tí nào.

Sau khi gian nan tuyệt vọng tìm kiếm, trong lúc vô ý ngẫu nhiên quay đầu lại. Trong lúc bỗng nhiên, tại nơi bình thường nhất lại phát hiện ra điều lý tưởng đang hiển hiện tại đó – Quá trình này và sự giác ngộ của Thiền sư Ngũ tiết linh Mặc có gì tương tợ?

 

Ở đây có một điểm then chốt - Chỉ có sau khi kéo cự ly thích hợp mới có thể trong lúc không chú ý, tại chỗ không chú ý, bỗng nhiên phát hiện ra. Ngày xưa, các Tổ sư Thiền tông thường sử dụng phương pháp này, sáng tạo ra loại khế cơ này, khiến cho Thiền tăng hốt nhiên đốn ngộ.

Quốc sư Vô Nghiệp ở Phần Dương, trời sanh có tướng khác thường, rất đỗi thông minh. Ngài chín tuổi đã xuất gia, bắt đầu học tập kinh điển Đại thừa như kinh Kim Cang, Pháp hoa, Hoa Nghiêm, Duy Ma, …

Ngài đọc một thực hành mười, liếc qua là thuộc lòng. Tuổi còn trẻ mà Ngài đã vinh dự là Đại Pháp sư khắp nơi. Sau này, Ngài nghe nói Thiền phong Hồng Châu của Mã Tổ nổi bật trong thiền lâm, Tăng nạp trong thiên hạ không ai không quy tâm. Thế là, với lòng hiếu kỳ, Ngài lặng lẽ ẩn vào trong đám đông Thiền tăng, đi vào chiêm lễ.

Hôm đó, Mã Tổ nhìn thấy Vô Nghiệp ở trong Tăng chúng, oai nghi đỉnh đạc, dáng vẻ cao lớn, bình tĩnh như núi nhạc, đi nhanh tợ gió, tiếng như chuông đồng. Trong lòng Mã Tổ không khỏi mừng thầm, nhưng miệng lại nói với Thiền sư Vô Nghiệp rằng: “Như toà nhà Phật, đáng tiếc trong không có Phật”.

Vô Nghiệp vừa nghe, liền giật mình: Đúng vậy, mình tuy giảng kinh thuyết pháp nhiều năm, nhưng chỉ là nghiên cứu trên bình diện tri thức, trong tâm hoàn toàn chưa thực sự chứng ngộ. Ngài vội vàng dập đầu trước Mã Tổ, thưa rằng: “Đối với kinh điển Tam thừa, con đều biết sơ qua về đại ý, thường nghe Thiền môn có câu: “tức tâm tức Phật”, đối với câu này con không hiểu lắm”.

Mã Tổ bảo: “Chỉ có cái tâm chưa hiểu đó chính là, ngươi nên thể hội ngay đó, chẳng nên tìm tòi đâu khác”.

Đáng tiếc, Vô Nghiệp tâm đang rong ruổi bên ngoài, không hồi quang phản chiếu ngay lúc đang là, cho nên bỏ lỡ thiền cơ quý báu của Mã Tổ, và ngược lại hỏi: “Ý của Tổ sư từ Tây Trúc đến là gì?”

‘Ý từ Tây Trúc đến’; Tây ý, nếu như lãnh ngộ ngay lúc đó, tức tâm tức Phật há chẳng phải là Tây lai ý sao? Cho nên, Mã Tổ nói: “Đại đức, tâm của ngươi như nước sôi sùng sục, đang huyên náo, chẳng yên tĩnh tí nào, ngươi tạm thời lui ra, hôm khác lại đến vậy”.

Vô Nghiệp hơi thất vọng, buồn rầu quay lưng, ấm ức chậm rãi đi ra bên ngoài… Ngay lúc Ngài sắp đến cửa pháp đường, đột nhiên một tiếng gọi lớn sau lưng: “Đại đức!”

Vô nghiệp với phản ứng bản năng ngoái đầu lại.

Mã Tổ vội hỏi tiếp: “Là gì vậy?”

Giống như sấm nổ giữa trời thanh, đoàng một tiếng. Vô Nghiệp đột nhiên đại triệt đại ngộ.

Mã Tổ đã rất tinh thông phương pháp này, vì sao không trực tiếp dùng ngay nơi thân Ngũ Tiết Linh Mặc, mà lại chỉ điểm Linh Mặc đi gặp Đại sư Thạch Đầu? – kéo xa một cự ly nhất định, mới có thể nảy sinh hiệu quả, bỗng nhiên quay đầu.

Phương pháp này truyền đến tay Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, Ngài lại đem nó phát triển thành một kiểu giáo pháp mang tính thông thường: Tại núi Bách Trượng, đến lúc thượng đường, mọi người vừa sắp xếp chỗ xong. Bách Trượng Hoài Hải không những không thuyết pháp ngược lại còn vung mạnh thiền trượng, đánh tứ tán mọi người. Lúc mọi người chạy đến cửa pháp đường, Ngài lại đột nhiên gọi mọi người, chúng Tăng bỗng nhiên quay đầu. Ngài lại nhanh chóng truy đuổi: “Là cái gì?”.

Đây, chính là “Câu nói vàng ngọc dưới pháp đường của Bách Trượng” đã nổi tiếng trong thiền lâm trăm ngàn năm nay, vô số Thiền tăng nhờ thiền đường áo diệu này mà khế nhập thiền. Thiền sư Ngũ Tiết Linh Mặc cũng tốt, Thiền sư Phần Dương Vô Nghiệp cũng tốt, cho đến ‘câu nói vàng ngọc dưới pháp đường’ của Bách Trượng cũng vậy, bỗng nhiên quay đầu, hoát nhiên đại ngộ, xem ra dường như không cần chút công phu nào. Kỳ thực, nếu không có cơ sở ‘từ trong đám đông tìm nàng trăm ngàn lần’, bạn cũng đã trăm ngàn lần quay đầu, ngoài tổn thương cổ bạn, thì chẳng được gì!

Trong quyển “Nhân Gian Từ Thoại” (Câu Nói Của Nhân Gian) của Vương Quốc Duy nói rằng: “Những kẻ đại học vấn thành sự nghiệp lớn từ xưa đến nay, ắt đã trải qua ba cảnh giới”:

Đêm qua, gió tây làm tàn lụi cây xanh, chỉ còn lầu cao trơ trọi, nhìn xa tận chân trời.

Áo đai dần rộng trọn không hối hận, vì ai hao gầy đến nỗi thân tiều tuỵ.

Tìm người từ trong đám đông từ trăm ngàn lần, bỗng nhiên quay đầu, người kia đang ở đó, nơi đèn hoa dần tắt.

BÀI LIÊN QUAN

Thiền ngộ (Phần 2)  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 464 xem)

Thực hành thiền, ứng dụng và phổ biến phương pháp giáo dục Phật giáo trong xã hội hiện đại  ( Sư cô Hằng Liên , 760 xem)

Quy Tông Chém Rắn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 1464 xem)

Khế Ngộ Tự Ngã  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 1480 xem)

Vô Thanh Sắc Tướng  ( Lê Huy Trứ , 26904 xem)

Hạt Giống Nảy Mầm-Thiền  ( Nguyễn Trường Giang , 28336 xem)

Vấn đáp Thiền và Phật pháp  ( Hòa thượng Thích Duy Lực , 1754 xem)

Thiền - Giấc ngủ an lành  ( Trần Quê Hương , 1825 xem)

Duy Chính đấu với Nam Tuyền  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 1512 xem)

Cuộc chiến trong Pháp  ( Thường Huyễn , 1781 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC