NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Tư tưởng yếu chỉ của Thiền tông

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 106 . Ngày đăng: 24/09/2018In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TƯ TƯỞNG YẾU CHỈ CỦA THIỀN TÔNG

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

I. Thế Giới Quan Tự Tánh là Bản Thể của Vũ Trụ:

Xem tinh thần thực thể tức “Chân Như” (hoặc các nghĩa tương đương Phật tánh, pháp tánh, pháp giới, thực tế…) là bản thể vũ trụ, là sự tồn tại tối cao của vũ trụ, là bản nguyên, là đệ nhất tánh, và xem thế giới vũ trụ khách quan được chân như sản sinh ra, biến hiện ra là đệ nhị tánh, đây là thế giới quan và bản thể luận vũ trụ của thiền tông trong tất cả các tông phái Phật giáo. “Chân như” là từ được dịch ý từ tiếng Phạn, nó bao hàm ý nghĩa chỉ cho sự tồn tại vĩnh hằng thường còn không thay đổi và chân thật không hư dối, chân lý vĩnh hằng không sanh diệt, không biến đổi. Điều mà thiền tông coi trọng cũng chính là loại “Chân như” thần diệu này. Trong “Đàn Kinh” Lục Tổ Huệ Năng trình bày một cách rõ ràng rằng:

Từ tâm liền hiện ra bản tánh chân như

Nói các pháp là không nghĩ, không nhớ, không chấp trước, không khởi cuồng vọng tức là tánh chân như.

Chân như là thể của niệm, niệm là dụng của chân như.

Chân như tịnh tánh là chân Phật

Vì suy nghĩ sai lầm mà chân như bị che lấp.

“Chân như”, “Chân như tánh”, “Chân như tịnh tánh” đều chỉ cho bản thể chân như. “Chân như là thể của niệm” tức nói rõ chân như là bản thể.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn, chân như tức là sự tồn tại cao nhất, cũng chính là nói rõ Thiền tông coi “chân như” là thể của vũ trụ. nói “Vạn vật biến hiện từ trong tự tánh” rõ ràng xem vạn pháp chính là vạn vật trong vũ trụ, thế giới khách quan là sản vật được sản sanh do biến hiện của chân như, tự tánh chân như là bản nguyên, là đệ nhất tánh, vạn vật từ tự tánh mà sanh mà hiện. “Vạn pháp” là đệ nhị tánh là thứ được sản sanh. Nhưng, tinh thần thực thể chân như này được tuyên dương trong Thiền Tông tồn tại ở đâu ? Nó hoàn toàn không tồn tại ngoài tâm của con người, mà tồn tại trong tâm con người, nó chính là tự tánh của con người. Từ giải thoát quan chủ yếu của Thiền Tông là “minh tâm kiến tánh”, “hiện chân như bản tánh từ tự tâm” mà nhận xét thì “tự tánh” tức là “chân như” là tông chỉ mà Thiền Tông tuyên dương mãi. Trong kinh Pháp Bảo Đàn những trình bày suy luận “tự tánh” tức là “chân như” rất nhiều. Như : “vạn pháp nơi tự tánh”, “vạn pháp đều hiện từ trong tự tánh, tất cả cái pháp nơi tự tánh, gọi là pháp thân thanh tịnh”, “tự tánh pháp thân”, “tự tánh thường thanh tịnh”, “Bát Nhã luôn tồn tại, không lìa tự tánh”, “Phật là tự tánh làm”. “Tự tánh” lại đồng nghĩa với “tự tâm”, “bản tâm”. Như : “tự biết bản tâm”, lập tức rỗng rang, trở lại đạt được bản tâm. “Tất cả vạn vật, đều ở trong tâm”, “Bản tâm”, cách nói khác nhau nhưng thực ra đều chỉ cho “chân như”, “Phật tánh”. Tự tánh tức là chân như, vậy thì, tự tánh tự tâm chủ quan của con người cũng chính là bản nguyên của vũ trụ, sự tồn tại cao nhất, là bản tâm chủ quan của con người sản sanh biến hiện ra thế giới vũ trụ khách quan. Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Tâm lượng rộng lớn, giống như hư không… hư không có thể dung chứa tất cả mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đất đai sông núi, tất cả cỏ cây…”, “tự tánh thường thanh tịnh, mặt trời mặt trăng thường chiếu sáng, do mây mù che phủ mà trên sáng dưới tối, không thể thấy mặt trời, mặt trăng, tinh tú. Bỗng một cơn gió mạnh thổi đến, cuốn hết mây mù, sâm la vạn tượng, cùng lúc hiển bày ra. Con người tánh thanh tịnh, giống như trời xanh, tuệ như mặt trời, trí như mặt trăng, trí tuệ thường sáng. Do đắm trước cảnh bên ngoài, mây mù vọng niệm che phủ, tự tánh không thể sáng. Cho nên gặp được bậc thiện tri thức chỉ rõ pháp đúng đắn, thổi đi mê vọng, trong ngoài đều thấu triệt, từ trong tự tánh, vạn pháp đều hiển bày. Tất cả các pháp tại nơi tâm, gọi là pháp thân thanh tịnh. Đây chính là nhận định một cách rõ ràng đúng đắn vũ trụ vạn vật, sâm la vạn tượng, thế giới khách quan, tất cả đều trong tự tâm tự tánh của con người, đây là quan điểm cho rằng vạn vật đều do tâm con người sản sanh biến hiện, dựa theo lý lẽ thì đây là duy tâm luận chủ quan triệt để. Nhưng điều cần chú ý là tự tánh, chân như và vạn pháp được đề cập trong thiền tông chỉ là một thứ. Tức bản thân của vũ trụ vạn vật cũng chính là pháp tánh, tự tánh hoặc tự tâm của con người. Mà tự tánh thường thanh tịnh, chân như Phật tánh cho đến vạn sự vạn vật có nguồn gốc tồn tại từ trong tâm trong con người đều thường trong sáng thanh tịnh. Chỉ vì “mây mù vọng niệm” che phủ mà con người “đắm trước cảnh bên ngoài” mới sanh vọng niệm, sự che phủ của vô minh vọng niệm này mới làm cho chân như, Phật tánh cũng chính là vạn pháp không thể hiển hiện. Sau khi sáng tâm thấy tánh, vạn pháp liền hiển hiện sâm la vạn tượng. Vậy thì, tự tánh, chân như, chân thật trong thiền tông chính là tinh thần thực thể tuyệt đối vĩnh hằng mà ai ai cũng có đủ, tự tánh này hiển hiện vạn vật bao trùm vạn vật vẫn là một quan điểm duy tâm luận khách quan. Quan điểm này thống nhất nhân tâm Phật tánh và vũ trụ vạn vật thành một tư tưởng nhất thể tức là giáo nghĩa cơ bản đặc thù của thiền tông, là tông chỉ căn bản của thiền. Chính việc lấy tự tánh làm chân như Phật tánh, làm thế giới quan cơ bản của bản thể vũ trụ đã quyết định phương pháp tu hành của thiền tông là minh tâm kiến tánh, là tự tánh tự độ, là đốn ngộ

II. Phương pháp tu hành minh tâm kiến tánh

Thiền Tông lấy chân như Phật tánh làm bản thể vũ trụ, lại cho rằng bản tánh chân như tức là tự tánh của con người. Chủ trương rằng mọi người đều có tự tánh, Phật tánh, tức là mọi người đều có bản thể chân như. Vì vậy, việc ngộ đạo của Thiền tông, cần được giải thoát chính là yêu cầu con người tìm cầu Phật tánh, tìm cầu chân như ngay trong tâm mình tức cho rằng “tự tâm đốn hiện chân như bản tánh”. Vì vậy “minh tâm kiến tánh” tức là phương pháp ngộ đạo, phương pháp giải thoát cơ bản của Thiền tông. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, ngài Huệ Năng đã nhiều lần lặp đi lặp lại trình bày rõ ràng vấn đề này.

Tất cả vạn pháp, đều tại trong tự tâm, không có cái gì là không từ tự tâm đốn hiện chân như tự tánh.

Bản tánh con người tự thanh tịnh, vạn pháp đều ở nơi tự tánh, suy nghĩ tất cả các điều ác, liền làm theo các điều ác; suy nghĩ tất cả các điều thiện, liền tu tập theo điều thiện. Như vậy tất cả các pháp đều ở nơi tự tánh.

Vì trần thế có tám vạn bốn ngàn trần lao; nếu không có trần lao, Bát nhã thường hiện hữu, không rời tự tánh. Người hiểu được điều này, chính là không suy nghĩ, không nhớ lại, không chấp trước, không khởi cuồng vọng, chính là tánh chân như, dùng trí tuệ quán chiến, đối với tất cả các pháp không chấp thủ không xả bỏ, tức là kiến tánh thành Phật đạo.

Vì sao nghe pháp mà không ngộ? Do vì tà kiến trở ngại nhiều, gốc phiền não thâm sâu, như đám mây lớn, che mất mặt trời. Không nhờ gió thổi, mắt không thể nhìn thấy… có thể diệt trừ tám chấp trước, thông đạt vô ngại. Có thể tu tập được điều này, tức là vốn không có gì sai khác so với kinh Bát nhã Ba la mật đa. Cho nên biết chưa ngộ, Phật là chúng sanh. Nếu một niệm đã ngộ thì chúng sanh tức là Phật…. biết tâm thấy tánh, tự thành Phật đạo! Kinh Duy Ma Cật viết : “Tức thời rỗng rang, trở lại đạt được tâm vốn có.”

Bậc thiện tri thức thấy được nội tâm, liền được giải thoát.

Nhưng tự trừ bỏ phi tâm, phá tan phiền não.

Nếu thấy được bản tâm, tức là giải thoát chính mình

Người học đạo có thể tự quán xét, tức cũng giống với người đã ngộ

 Có thể thanh tịnh là đức Thích Ca, bình lặng chánh trực là bậc Di Lặc. Ta người là tu di, tâm tà là biển lớn, phiền não là sóng gió, tâm ác là rồng dữ, trần lao là con ba ba, hư vọng tức là quỷ thần, tham sân si chính là địa ngục, ngu si chính là súc sanh,… diệt trừ tâm sai quấy, nước biển liền khô; phiền não không còn, sóng gió đều mất, độc hại đã trừ, cá rồng đều diệt, tự trong tâm địa là giác tánh Như Lai, phóng đại quang minh trí tuệ.

Những điều được nói ở trên đều là muốn nói chỉ cần minh tâm kiến tánh tức có thể thành Phật, liền hiển bày chân như tự tánh, đạt được giải thoát. Thiền tông nhấn mạnh rằng mọi người đều có Phật tánh, bản tánh vốn thanh tịnh, đều đầy đủ trí tuệ bồ đề, chỉ vì bị mây mờ vọng niệm che khuất, tự tánh bị mê mờ khuất lấp, là tự tánh đã bị mê lầm, Phật liền thành phàm tình chúng sanh. Nếu được cao nhân thiện tri thức hướng dẫn giúp đỡ, làm phát sanh trí tuệ bồ đề, diệt trừ vọng niệm, trong ngoài đều thấu triệt rõ ràng, thì sẽ thấy chân như bản tánh, tự thành Phật đạo. Đây chính là điều mà chúng ta gọi là ngộ tự tánh, chúng sanh tức là Phật. Trừ bỏ vọng tưởng tâm được trong sáng chính là yếu chỉ và phương pháp căn bản của việc ngộ đạo trong Thiền tông.

Ở trên đã dẫn đoạn luận cho rằng: “Gió trí tuệ thổi tan mây mù, sâm la vạn tượng nhất thời đều hiển bày”, “thổi đi mê vọng”, “trừ bỏ tâm chấp trước, thông đạt vô ngại”, “trừ bỏ tâm sai lầm, phá tan phiền não”, “trừ bỏ tâm sai quấy”… tức đều là giảng về những điều để minh tâm kiến tánh, dẹp trừ mê vọng, trở lại với sự sáng suốt, tự quay lại quán xét trong tâm, thấy rõ chân nguyên. Minh tâm kiến tánh là tông chỉ căn bản của Thiền tông, cũng chính là nội dung tu tập chính yếu hay duy nhất của Thiền tông. Đây là việc cần làm của mỗi người học thiền, người bước vào cửa Phật chính là để minh tâm kiến tánh tu hành thành Phật. Đây là tông chỉ mà Lục Tổ Huệ Năng đã nhiều lần nêu rõ, cũng là tông chỉ của tất cả các chi phái Thiền Tông. Không chỉ thế, Lục Tổ Huệ Năng còn tiến thêm bước nữa, nói rõ làm thế nào mới có thể dẹp trừ hư vọng, sáng tâm tỏ tánh, đưa ra thiền pháp nổi tiếng lấy “vô niệm làm Tông.” Nói lấy vô niệm làm Tông, thực ra cũng chính là nói lấy việc sáng tâm tỏ tánh làm Tông. Bởi vì, cho rằng “vô niệm là Tông” chính là phương pháp thiền trừ bỏ vô minh vọng niệm.

Kinh Phật Bảo Đàn dạy: “Bậc thiện tri thức; pháp môn này của ta, từ trước đến nay đốn tu tiệm tu đều lập vô niệm làm Tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc.

Vô tướng là gì? Vô tướng là từ có tướng mà lìa tướng; Vô niệm là ngay nơi suy nghĩ mà không suy nghĩ; Vô trụ là, vì bản tánh của con người luôn luôn suy nghĩ không ngừng. Niệm trước, niệm hiện tại, niệm sau, niệm niệm liên tục, không gián đoạn. Nếu một niệm ngưng dứt, pháp thân liền lìa sắc thân. Trong từng niệm niệm, không trụ vào tất cả các pháp, nếu một niệm trụ vào thì niệm niệm liền trụ, gọi là trói buộc. Đối với tất cả các pháp niệm niệm đều không trụ, tức là không trói buộc vậy. Đây gọi là lấy vô trụ làm gốc. Bậc thiện tri thức, chỉ lìa tất cả các tướng là vô tướng; chỉ có thể lìa tướng tánh thể mới thanh tịnh. Đây là lấy vô tướng làm thể. Không đắm nhiễm tất cả trần cảnh gọi là vô niệm; từ niệm mà lìa cảnh, đối với các pháp không khởi niệm. Nếu không suy nghĩ về các pháp, tức là dẹp trừ hoàn toàn niệm tưởng, một niệm đã đoạn tức là hết, không còn thọ sanh vào chỗ khác. Dụng tâm của người học đạo, luôn suy nghĩ về ý trong các pháp. Tự mình sai đã đành còn khuyên người khác mê lầm theo đó là hủy báng kinh pháp, nên lấy vô niệm làm Tông. Cho dù duyên theo những suy nghĩ về cảnh của người mê, niệm đó liền phát sanh cái thấy tà vọng, không sanh khởi niệm, nếu không có niệm, thì vô niệm cũng không thành lập. Vô là vô cái gì? Niệm là niệm vật gì? Vô tức là xa lìa hai tướng của trần lao. Chân như là thể của niệm, niệm là dụng của chân như. Tự tánh khởi niệm, cho dù thấy nghe tri giác cũng không nhiễm ô trước các cảnh mà luôn tự tại. “Kinh Bung Ma Cật” trình bày: “Bên ngoài có thể phân biệt rõ ràng tông của các pháp, bên trong thì luôn là đệ nhất nghĩa, mà không dao động.”

Phương pháp “Tam Vô” này chính là phương pháp tu tập diệt trừ mê vọng sáng tâm tỏ tánh do Lục Tổ Huệ Năng đề ra. “Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc” gọi phương pháp này là: “Vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc, vô niệm làm Tông là phương pháp tu tập do kinh Phật Bảo Đàn truyền lại.” Chỉ rõ “Tam vô” là phương pháp tu tập, nhưng điều càng rõ ràng hơn đó là: phương pháp tu tập này lại là phương pháp để “sáng tâm tỏ tánh diệt trừ hư vọng”, tức là nói “lấy vô niệm làm tông” và “minh tâm kiến tánh” thực ra chỉ là một nội dung. Lấy vô niệm làm Tông, thực hành “tam vô”, chính là “minh tâm kiến tánh”. Sở dĩ cho rằng phương pháp tu tập căn bản “Tam vô” chính là để “minh tâm kiến tánh”, để có sức mạnh triệt để trừ bỏ vọng niệm. Nói rằng “Vô niệm” là chỉ ra “Ngay nơi niệm mà không suy nghĩ chấp trước.”, cũng chính là toàn tâm toàn ý đặt vào chánh niệm của “chân như bản tánh.”, không suy nghĩ tạp niệm vọng niệm, xa lìa tạp niệm vọng niệm. Như trong Phẩm Quán Chúng Sanh của kinh Duy Ma đã trình bày:

“Lại hỏi: Muốn trừ phiền não, nên làm những gì?

Đáp rằng: Nên thực hành chánh niệm.”

Vì thế, “Vô niệm” hoàn toàn không phải là “không suy nghĩ gì cả” mà là bài trừ vọng niệm, tạp niệm. Chúng ta có thể thấy rằng: lấy vô niệm làm Tông, mục đích căn bản là “Sáng tâm trừ vọng”, “minh tâm kiến tánh”, “lấy vô trụ làm gốc “là chỉ ra” không trụ vào tất cả các pháp”, nói tất cả các pháp là chỉ cho vạn sự vạn vật trong vũ trụ, không trụ vào tất cả các pháp, chính là không dính mắc vào bất cứ vật gì bên ngoài, không bị vật bên ngoài trói buộc, vì vậy mà tư duy phải niệm niệm không trụ vào, niệm niệm tiếp tục, nếu một niệm trụ vào, thì liền bị dính chặt, đó chính là bị “trói buộc”, mà niệm niệm không trụ tức không bị trói buộc. Không dính mắc vào bất cứ ngoại vật nào như vậy, cũng chính là có thể sáng tâm tỏ tánh. Nói “Vô tướng làm thể” là chỉ cho “vô tướng là ngay nơi tướng mà lìa tướng”, tức là sau khi tiếp xúc với ngoại vật không đắm nhiễm sắc tướng, “lìa tất cả các tướng bên ngoài”, trong tâm sẽ không tồn tại bất cứ một biểu tượng ngoại vật nào. Thực hành được “Tam Vô”, tự nhiên sẽ làm cho tâm không bị tạp nhiễm, hoàn toàn không bị đình trệ chướng ngại, và có thể minh tâm kiến tánh, quán xét trở lại tự tâm, thấy rõ chân nguyên. Có thể thấy rằng, “Tam vô” chính là phương pháp minh tâm kiến tánh chủ yếu do Ngài Huệ Năng đề ra. Phương pháp căn bản này cũng đã trở thành phương pháp truyền thống được truyền thừa, xiển dương trong các phái của Thiền Tông sau này. Nhiều phương pháp của các vị sáng lập ra Ngũ Gia Thất Tông như “Tứ Tân Chủ”, “Tứ Liệu Giản”, “Ngũ Vị Quân Thần”, “Tam Chủng Sanh”, “Vân Môn Tam Cú”, “Công Án”, “Thiền Cơ”, “Khán Thoại”, “Mặc Chiếu” bất kể là biến hóa thế nào thì cũng đều có mục đích là đạt được mục tiêu sáng tâm tỏ tánh, diệt trừ mê vọng, giải trừ trói buộc, quán xét tự tâm, thấy rõ chân nguyên. Các thiền pháp này chẳng qua đều là kế thừa và phát triển thiền pháp minh tâm “Tam vô của Ngài Huệ Năng”. Ví dụ, pháp “Ngũ chấp”, “pháp chấp” của tông Lâm Tế nó là phương pháp “đoạt nhân đoạt cảnh”, thực chất đó chẳng phải là những phương pháp tương thông với “vô niệm”, “vô tướng”, “vô trụ” sao ? Do đó chúng ta có thể thấy, minh tâm kiến tánh đích thực là truyền thống kiên trì nhất quán của các thế hệ thiền tông.

Thực chất của phương pháp tu tập “minh tâm kiến tánh” cũng chính là phương pháp thể nghiệm trực giác của thần mật, là trực giác thấy rõ Chân Như Phật Tánh của phi lý tính. Dứt trừ mê vọng sáng tâm tỏ tánh, lấy tâm truyền tâm, trở lại quán xét tự tâm, và các thiền pháp tu tập cụ thể đều cùng lấy phủ định tri giải làm tiêu bảng. Vì thế, không lập văn tự tự nhiên trở thành tông chỉ trọng yếu của thiền. Đây là phương pháp mà Thiền tông cần phải phủ định để kiên trì minh tâm kiến tánh trực giác thể ngộ . Phương pháp dùng văn tự để hiểu rõ về Phật tánh chân như cũng thường thấy. Cho rằng phương pháp mượn kinh điển để truyền thừa Thiền tông, những giáo pháp truyền thống của việc tụng kinh niệm Phật thực ra chính là mượn văn tự để truyền giáo. Ngọn cờ Thiền tông đề xướng truyền ngoài giáo pháp, lấy tâm truyền tâm, minh tâm kiến tánh, tự nhiên cũng chính là đưa ra tông chỉ “không dùng văn tự”. Không dùng văn tự và minh tâm kiến tánh, chính là một mặt phải mặt trái, có lập có phá. Dưới đây sẽ nói về vấn đề này.

III. “Không Dùng Văn Tự” lại là “không lìa văn tự”.

“Không dùng văn tự” là một trong những tông chỉ căn bản của Thiền tông. Nhưng Thiền tông cho rằng “không dùng văn tự” rốt cuộc có nội hàm như thế nào? Có gì đặc sắc? Cần phải đi vào lý giải một cách toàn diện chứ không thể đơn giản hóa được.

Thiền tông nêu ra không dùng văn tự hoàn toàn không phải là khai sáng ra mà do nó tự có. Nó là sự kế thừa truyền thống của nhà Phật, và đã có sự phát triển một cách to lớn. “Thuyết không dùng văn tự” trong kinh Phật truyền thống có rất nhiều. Như “Kinh Đại Phương Quảng Bảo Khiếp” quyển thượng có trình bày : “Không chấp trước văn tự. Mục thứ ba phẩm Thanh Văn trong kinh Thuyết Vô Cấu Xưng viết: pháp không có văn tự, lời lẽ làm cho nó bị mất. Pháp không có thí dụ để trình bày, nên xa lìa tất cả làn sóng tư duy vậy. Các bậc trí giả không nên chấp trước văn tự, cũng không lo sợ. Tất cả lời lẽ đều xa lìa tánh tướng.” Quyển thứ 106 kinh Bồ Tát Hỏi Về Trừ Cái Chướng viết: “Pháp này chỉ được chứng ở trong tâm, không có văn tự lời lẽ nào có thể trình bày được, nó siêu việt tất cả cảnh giới của ngôn ngữ”. Phẩm Nhân Quả trong kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết nói một cách trực tiếp thẳng thắn rằng: “Tất cả ngôn ngữ làm cho đạo bị đoạn mất, tâm hành bị diệt.” Mục thứ 9 trong phẩm Nhân Bất Nhị Pháp Môn của kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, cũng viết: “Không có văn tự ngôn ngữ là pháp môn không hai của con người.” Có thể thấy, không dùng văn tự đúng là chủ trương chung của các Tông phái Phật giáo. Nhưng Thiền Tông nói “truyền ngoài giáo pháp” so với thuyết “không dùng văn tự” lại càng có ý nghĩa hoằng dương to lớn hơn, là nét đặc sắc của phái này. Tương truyền cho rằng Sơ tổ của Thiền tông là Tổ Bồ Đề Đạt Ma bẩm thừa phương pháp ấn tâm “Phật tổ đưa cành hoa lên, Ca Diếp mỉm cười” vào Đông Độ truyền giáo, ngồi quay mặt vào tường chín năm có lẽ là do hậu thế của Thiền tông hư cấu, nhưng Thiền tông luôn tuyên dương một cách xuất sắc pháp môn không lập văn tự lại rõ ràng là sự thật. Cho nên trong “bài minh Tín Tâm” của Tam Tổ Thiền tông có nói “lời lẽ càng nhiều thì càng hư ngụy, chuyển không tương ứng, dứt hẳn lời lẽ, hư vọng liền dứt, thông khắp tất cả.” Truyền Pháp Bảo Ký có ghi: Tứ Tổ Đạo Tín đề xướng “Không đọc kinh, không nói với người khác, làm được như vậy, lâu dần có thể dùng được”. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn lại nói: “Im miệng đối với chuyện đúng sai, hướng tâm nơi cảnh không, có.”, “Không chú ý đến văn tự mà nghĩa thì phù hợp với chân lý huyền diệu”. Sau đời Ngũ Tổ chia ra làm hai tông Nam, Bắc. Tổ sư Thần Tú người khai sáng Bắc tông cũng là “đèn Thiền ngầm chiếu, ngôn ngữ làm mất đạo, tâm hành xứ diệt, không viết ra văn tự.” Còn như chủ trương “không dùng văn tự” của Lục Tổ Huệ Năng người chính thức khai sáng ra Thiền tông lại càng hùng hồn hơn: “Lý của Phật tánh, không liên quan đến văn tự. Có thể hiểu được, nay ta không biết chữ cũng chẳng là gì?” Ngài nói với mọi người, mình không biết chữ, trả lời những câu hỏi không hiểu Phật lý, tức thuyết minh một cách rõ ràng Phật lý không thể dùng văn tự để biểu đạt.

Lý luận không dùng văn tự của các vị khai sáng các tông phái Thiền Tông sau này nhiều không kể xiết. Hơn nữa do vì kiên quyết phủ định tác dụng của văn tự cho nên phát triển đến độ trách Phật, mắng tổ, hủy báng kinh Phật. Như Thiền Sư Nghĩa Tồn nói : “Ba đời chư Phật là thằng cắt cỏ, 10 bộ kinh 5 bộ luận là cái cọc buộc lừa, 18 bộ “kinh Hoa Nghiêm” là 18 bó rơm rác, chỉ là thức ăn ngôn ngữ, 12 phần giáo là thứ trong miệng cóc nhái.” (Sách Đường Đại Phật giáo, của Phạm Văn Lan, tr.72) Ngài Đức Sơn Tuyên Giám chửi rủa còn thậm tệ hơn: “Đạt Ma là lão mọi rợ thối tha, Thích Ca là que phân khô, Văn Thù Phổ Hiền là những kẻ gánh phân, Đẳng Giác Diệu Giác là phàm phu phá chấp, Bồ Đề Niết Bàn là cọc buộc lừa, 12 phần giáo là sổ sách của quỷ thần là giấy lau mụt ghẻ”. Lại nói: “Tông của Ta không có ngôn ngữ”. Trong “Ngũ Đàn Hội Nguyên”, quyển thứ 7, thiền sư Nghĩa Huyền vị sáng lập ra tông Lâm Tế nói: “Cầu Phật cầu pháp là tạo nghiệp địa ngục, cầu Bồ Tát cũng là tạo nghiệp, xem kinh điển cũng là tạo nghiệp”. Sự hủy báng kinh điển không kiêng nể gì như thế ở trong “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” cũng chính là “không dùng văn tự”, kiên quyết phủ nhận tác dụng trình bày rõ ràng của văn tự ngôn ngữ. Tư tưởng không dùng văn tự đến Thiền tông thực sự đã phát triển đến cực điểm.

Lý do mà các vị khai sáng ra các tông phái Thiền tông không dùng văn tự thì mọi người cũng đã biết rõ. Chủ yếu là cho rằng: văn tự ngôn ngữ khộng thể giải thích bản thể tuyệt đối vô cùng huyền diệu của “Phật tánh”, “Chân Như”. Ngôn ngữ là tương đối, phiến diện, tính hạn chế rất lớn. Ngôn ngữ văn tự thuộc tư duy lý tính chủ quan, thuộc tư tưởng có thể hiểu biết. Ngôn ngữ văn tự biểu đạt tư duy này bản thân nó là một thứ thuộc vọng niệm vô minh ô trược, bản thân nó là một loại trần cấu làm phương hại cho người học trong quá trình minh tâm kiến tánh, nên phải dẹp bỏ. Dùng thứ tương đối, hư huyễn không thật này tuyệt đối không thể giải thích được chân như Phật tánh. “Chân Như” “Phật tánh” hay được gọi là “Thắng nghĩa”, “Đệ Nhất Nghĩa”. “Thiền Sư Tây Lai Ý”, “Phật pháp” là sự tuyệt đối vô cùng vĩ đại, thần kỳ vi diệu siêu tuyệt, bao hàm tất cả, sự tuyệt đối này không thể bàn luận được, “nói nó là một vật gì đó liền sai”, ngôn ngữ văn tự phiến diện tự nhiên càng phải vứt bỏ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói nhiều lời lẽ chân thật như vậy, nhưng Ngài lại cho rằng ngôn ngữ không thể giải thích Phật tánh, cho nên Ngài nhấn mạnh: “Bắt đầu từ vườn Lộc Uyển đến cuối cùng ở sông Bạt Đề, trong vòng 50 năm, Ta chưa từng nói một chữ.” Kinh Kim Cang càng nói rõ ràng hơn, Chân Như Phật Tánh chính là sở đắc của bậc thánh Trí tự giác, chẳng phải là cảnh giới của ngôn ngữ vọng tưởng. Vì thế lời lẽ không thể hiển bày Đệ Nhất Nghĩa. Lời lẽ ngôn ngữ sanh diệt dao động biến chuyển dựa theo sự tự chứng ở bên trong”. “Thắng Nghĩa không thể bàn luận”. Tất cả những điều đó đều nhằm nhấn mạnh Phật tánh không thể dùng lời lẽ miêu tả bàn luận được. Thể nhận của Phật tánh dựa vào nội chứng, không dựa vào ngôn ngữ văn tự, cần phải vứt bỏ ngôn ngữ văn tự. Phật tánh cần được nội chứng tự giác, cũng chính nhờ vào minh tâm kiến tánh, nhờ vào trực giác thể nghiệm, là lãnh ngộ, diệu ngộ, đốn ngộ phi lý tính không thể dùng ngôn ngữ văn tự để hiểu được. Sở dĩ họ chửi Phật mắng tổ, hủy báng kinh điển nguyên nhân cũng do đó là ra vậy. Đây là cách nhìn căn bản của Thiền tông đối với tính hạn chế và nguy hại của ngôn ngữ văn tự; là căn cứ xác đáng để Thiền tông không dùng văn tự, và phủ định tác dụng của ngôn ngữ văn tự. Quan điểm này của Thiền tông và quan điểm “lời không nói hết ý” của Lão Trang đều tương đồng vậy. Nói rằng lời không hết ý là nói “đạo” của Lão Trang, không thể dùng ngôn ngữ để luận bàn, cũng không thể nói hết ý được. Tuy Lão Trang đưa ra tư tưởng này, nhưng lại không hoàn toàn triệt để, mà lời nói và hành động trái ngược nhau, tức là rốt cuộc không thể nói lão Trang là người lập ra lý luận không dùng văn tự. Chỉ có thiền tông mới quán triệt một cách kiên quyết nhất triệt để nhất chủ trương này.

Nhưng mà, nói Thiền Tông quán triệt tông chỉ không dùng văn tự một cách kiên trì triệt để dường như cũng rất khó để thành lập. Tuy Thiền tông nêu ra không dùng văn tự, nhưng không phải cũng lời nói và hành động trái ngược nhau như Lão Trang chứ? Thiền tông chẳng phải cũng dùng văn tự, phát triển đến mức từ “không dùng văn tự” đến “không tách rời văn tự” sao? Đến đời nhà Tống chẳng phải cũng soạn ra văn tự thiền một cách rầm rộ hay sao? Thiền tông không dùng văn tự, chẳng phải cũng viết thành quyển, lập thành sách nào là “Ngữ lục”, “Đăng lục” đó sao? Thiền tông cũng không hoàn toàn kiên trì triệt để. Nhưng, đối với vấn đề vận dụng văn tự của Thiền tông cũng tuyệt đối không thể chỉ là đưa ra những phán đoán một cách hời hợt , ở đây cũng cần phải phân tích một cách rõ ràng nghiêm túc và thiết thực vậy, tức là phải có lý giải một cách chính xác về đặc điểm và thực chất của việc không lìa văn tự, thì mới có thể càng thấy rõ sự trác việt trong khi quán xét ngôn ngữ của thiền tông. Nhìn thấu được “không lìa văn tự” của thiền tông thì việc lập ra văn tự thiền trên căn bản hoàn toàn không trái ngược với tông chỉ “không dùng văn tự”, điều đó chứng tỏ Thiền tông đã thể hiện một cách tuyệt vời việc “không lìa văn tự” dựa trên “không dùng văn tự”, tuy nhiên mục đích lập ra văn tự thiền vẫn chỉ là phủ định tác dụng lý giải của văn tự, mà chỉ lấy văn tự làm công cụ để hướng dẫn, lấy văn tự làm phương tiện để đạt đến mục tiêu diệt trừ vô minh, ô trược, trở lại quán xét nội tâm trực giác Chân Như Phật tánh. Chính việc “không lìa văn tự” này đã khắc phục một cách rõ rệt tính hạn chế của văn tự, phát triển công năng của ngôn ngữ văn tự. Đây là sự sáng tạo của Thiền, thuyết minh rõ ràng Thiền tông phủ nhận tác dụng và giá trị của ngôn ngữ văn tự không phải là tuyệt đối, phiến diện, cứng nhắc mà là có tính sáng tạo tích cực. “Không dùng văn tự”, là kiên quyết phủ nhận tác dụng thuyết minh, giải thích, lý giải của văn tự; phủ nhận công năng nhận thức và công năng biểu ý của ngôn ngữ văn tự đã được mọi người khoa trương quá mức, khiến cho mọi người không chấp trước vào ngôn ngữ văn tự. Bởi vì chính theo sự biểu thị bản thể Chân Như Phật tánh mà nói thì chữ viết ngôn ngữ không có giá trị bất hũ vĩnh hằng, tuyệt đối không thể mê tín chấp trước, năng lực nhận thức của con người chỉ tương đối, hữu hạn, công năng biểu ý của chữ viết lời nói cũng cùng hạn chế, ít ỏi. Cách phủ nhận phá trừ sự chấp trước vào ngôn ngữ chữ viết này chỉ có thể nói là một phương pháp khoa học, không thể nghĩ bàn.

Nhưng, Thiền tông lại không phế bỏ văn tự, tức là vẫn thấy rõ giá trị của văn tự, tức nhìn thấy được văn tự có thể có giá trị như là một thứ công cụ, như một phương tiện khái niệm, một cách thức hướng dẫn. Do đó, Thiền Tông lại rất lợi dụng văn tự đặc biệt là thơ. Bất luận vận dụng phương diện công năng ngôn ngữ này như thế nào thì sức sáng tạo của Thiền tông vẫn rất đáng nể, thậm chí làm cho người ta kinh ngạc, cũng rất đáng để khẳng định, đặc biệt là trên phương diện nghệ thuật thi ca. Thiền tông vận dụng văn tự làm biểu thức hướng dẫn, nội dung sáng tạo của nó vô cùng phong phú, biểu hiện cụ thể ở nhiều phương diện. Nhưng trọng tâm của nó được thể hiện trên sự vận dụng trác việt trong việc đạt ý mà quên lời. Rõ ràng Thiền tông hấp thu tư tưởng đạt ý quên lời của lão Trang. Nhưng sự phi phàm trác việt trong phương thức vận dụng của Thiền tông lại vượt xa Lão Trang. Dưới đây thử phân tích một vài biện pháp cụ thể trong biểu thức đạt ý quên lời, để xem Thiền tông vận dụng như thế nào, mới có thể chứng thực rõ ràng.

Thiền tông phát triển rõ rệt thuyết ‘đạt ý quên lời’ của Lão Trang, tức sửa đổi thuyết ‘đạt ý quên lời’ hay ‘được cá quên nơm’ thành một thuyết nổi tiếng ‘ngón tay chỉ mặt trăng’. Tức cái dụng của văn tự như ngón tay để chỉ, nhờ ngón tay mà thấy trăng, ngón tay không phải là trăng, chấp vào ngón tay tức không thể thấy trăng, ngón tay có tác dụng chỉ cho người ta thấy trăng, văn tự ngôn ngữ không thể nói rõ Phật tánh, nhưng ngôn ngữ văn tự có thể chỉ dẫn gợi ý cho con người ngộ Phật tánh Chân Như. Như kinh Viên Giác có trình bày: Kinh giáo, như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu không thấy trăng mà chỉ biết ngón tay chỉ trăng, cuối cùng không phải là trăng, tất cả những lời lẽ của Như lai, khai thị cho Bồ Tát cũng lại như thế. Điều này cũng chính là nói lên rằng, kinh điển Phật giáo, lời dạy của Chư Tổ, ba tạng kinh luật luận 12 bộ kinh giáo cho đến ngàn vạn cuốn ngữ lục của Thiền tông chẳng qua cũng chỉ là công cụ để khởi ngộ, là biện pháp, phương tiện. Tác dụng của nó đều là vì mục tiêu gợi ý khai thị, bản thân nó hoàn toàn không phải là Chân Như Phật tánh, nhưng có thể nhờ mục tiêu này dẫn đến giác ngộ Chân Như Phật tánh. Từ trên tác dụng này mà nhìn ngôn ngữ văn tự và kinh điển Phật giáo thì không thể hủy báng kinh điển. Vì thế trong kinh điển Pháp Bảo Đàn, ngài Huệ Năng đã phê bình những người hủy báng kinh rằng: “Người chấp không hủy báng kinh điển, lời nói ngay thẳng không dùng văn tự, đã nói không dùng văn tự, thì con người cũng không cần đến ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ này lại là tướng của văn tự.” Lại nói: “Đạo chân thật không dùng văn tự, cho dù không dùng văn tự, cũng nhờ văn tự mới biết được người ta muốn nói gì, cho dù hủy báng người khác dùng ngôn ngữ văn tự, các ngươi nên biết, tự mê như thế lại còn hủy báng kinh Phật. Không nên hủy báng kinh vì như vậy tội chướng vô cùng. Trong quyển “Tổ Đình Sự Uyển” cũng viết: “Chư Tổ truyền Pháp, ban đầu lấy ba tạng kinh, luật, luận làm chỗ nương tựa thực hành theo, sau này Tổ sư Đạt Ma chỉ truyền tâm ấn, phá chấp để xiển dương Thiền tông, gọi là truyền ngoài giáo pháp, không dùng văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Nhưng không dùng văn tự, người không được như ý thì nhiều, luôn luôn nói là dẹp bỏ văn tự, cho ngồi yên lặng là Thiền, đây thật là loài dê câm trong Phật giáo chúng ta. Vả lại vạn pháp phức tạp như thế, làm sao có thể không dùng văn tự được. Không biết nhờ ngôn ngữ mới thông hiểu được các pháp, lại cố chấp nơi trở ngại cho nên nói do văn tự ngôn ngữ mà không thể nắm bắt được. Văn tự đã như vậy thì các pháp khác cũng như vậy thôi, cho nên thấy tánh thành Phật há có thể để lại sau sao”. Đây chính là từ việc tạo ra phương pháp dẫn dắt mà phản đối sự lý giải phiến diện về việc không lập văn tự, rồi chủ trương không thể phế bỏ văn tự, không thể hủy báng lời dạy của Phật tổ, và châm biếm việc ngồi thiền yên lặng quán chiếu, chửi là con dê câm.

Vậy thì, làm thế nào để khiến cho văn tự ngôn ngữ đạt đến tác dụng chỉ mặt trăng? Công án, cơ phong, khán thoại thiền, văn tự thiền càng cụ thể được ba điều chủ yếu (Tam huyền tam yếu) của yêu cầu ngôn ngữ, đã có thể nói là phát huy công năng chỉ mặt trăng của văn tự từ nhiều phương diện có tính sáng tạo, trác việt. Nói chung, bất luận là công án hay là cơ phong hay là khán thoại thiền, văn tự thiền có một điểm chung là dùng phương thức biểu hiện mơ hồ mông lung, phi lý tính không thể hiểu của văn tự ngôn ngữ phát huy công năng hướng dẫn của nó. Phần lớn ngữ lục, công án, thoại đầu, câu thơ của Thiền tông đều lấy sự không thể hiểu không thể giải thích làm nét đặc sắc. Những câu đối đáp hoang đường không liên quan gì với nhau đầy dẫy trong “Đăng Lục”, tính không liên tục, không nhân quả ở giữa các câu nói làm cho người ta như rơi vào mây mù dày đặc, trố mắt đờ đẫn, suy nghĩ mãi cũng không hiểu được, bộ “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, bộ “Ngũ Đăng Hội Nguyên” đúng là những quyển sách thần bí vĩnh viễn không thể đọc hiểu được, thậm chí văn sĩ kinh luận đầy bụng cũng hoang mang lúng túng, tự thẹn không thể hiểu được. Kỳ thực, chỉ cần hiểu rõ đặc điểm vận dụng ngôn ngữ của Thiền tông, biết được cách làm này chỉ là cố ý làm cho nó hoang đường, vốn là làm cho người ta không hiểu, vốn là vận dụng phương thức không thể hiểu biết để giải thích, cho dù là bản thân Thiền sư cũng không hiểu, chúng ta lại suy nghĩ một cách đờ đẫn thì làm sao có thể hiểu được ? Chính vận dụng một cách tài tình hình thức ngôn ngữ này, dùng tính hoang đường phi lý, không thể hiểu biết giải thích của nó mà làm cho người học không có cách nào hiểu được, mới khiến họ không vướng mắc vào ngôn ngữ văn tự, mà có thể vượt qua ngôn ngữ để trở lại quán xét tự tâm, minh tâm kiến tánh. Gọi Tam Huyền Tam Yếu của ngôn ngữ, đấu cơ phong, khán thoại đầu, tất cả đều là phát huy tác dụng gợi ý này. Giống như cái được gọi là “khán thoại đầu” người tham thiền cho là những “lời không có ý nghĩa”, “những lời không thể hiểu được” trong công án của bậc cổ đức. Theo khán thoại thiền mà nói, tuyệt đối không phải để cho người học hiểu được ý nghĩa của những “lời không có ý nghĩa” này, bởi vì nó vốn là “lời không thể hiểu”, không thể giải thích được. Vậy thì, tại sao phải như vậy?

Vốn dĩ, những thoại đầu được dùng để đưa ra tham cứu và giác ngộ, chẳng qua chỉ là một cách thức để minh tâm kiến tánh, lấy nó làm vũ khí trừ bỏ vô minh vọng niệm, cuối cùng đạt đến mục đích là trở lại quán xét tự tâm thấy rõ cội nguồn của tâm. Đứng trên phương diện khán thoại đầu mà nói thì kiểu lợi dụng thoại đầu để đạt được diệu ngộ này so với hình thức cho là ngồi yên suy nghĩ kiểu dê câm thì càng cao minh hơn, ngồi yên lặng thầm suy tư kiểu dê câm không thể diệt trừ vô minh vọng tưởng, mà nghiền ngẫm thoại đầu lại có thể khử trừ vọng niệm. Vốn dĩ, tác dụng của thoại đầu chỉ khi tập trung đưa nó ra mới có thể giải trừ những dính mắc trói buộc, trừ bỏ vọng tưởng tạp nhiễm, để đạt đến minh tâm kiến tánh. Đây chính là tính sáng tạo của Thiền tông nhằm phát huy công năng chỉ mặt trăng hay công năng dẫn dắt của văn tự, đây chính là phương thức đạt ý quên lời được thiền tông vận dụng. Điều này căn bản giống với quan điểm đạt ý quên lời của Lão Trang và Vương Bật. Khác biệt căn bản của nó là trong Thiền tông đạt ý quên lời mang tính chất phi lý tính triệt để, là đạt lý quên lời hoàn toàn không thể hiểu được. Sự đạt ý quên lời của hình thức chỉ trăng này và tông chỉ không dùng văn tự của Thiền tông hoàn toàn nhất trí. Phương thức này tuy dùng văn tự, hoặc lập văn tự, không rời văn tự nhưng sự vận dụng văn tự không thể hiểu này và tông chỉ Phật tánh không thể dùng lời để nói hoàn toàn phù hợp. Từ đây có thể thấy, không dùng văn tự, không phế bỏ văn tự hay dùng văn tự của Thiền tông thật sự vẫn biểu hiện sự quán triệt kiên quyết triệt để đối với tông chỉ không dùng văn tự , mà trước sau hoàn toàn không trái ngược. Quan điểm không rời văn tự, dùng văn tự của Thiền tông trên thực tế vẫn là kiên quyết phá trừ công năng giải thích của ngôn ngữ văn tự, lập chính là phá, tùy duyên mà lập, tùy duyên mà phá, hoàn toàn không phải muốn phát huy công năng giải thích của ngôn ngữ. Đương nhiên, đây chỉ là dựa trên tổng thể, dựa trên Phật tánh chủ yếu, dựa trên tông chỉ cơ bản của năm phái bảy tông trong các Tông phái nổi tiếng của Thiền tông để nói. Còn như, có một số thiền sư vẫn tiếp nhận tư tưởng lời có thể diễn đạt hết ý, rồi thực thi văn tự thiền, dùng logic thông thường, dùng thơ tùy hứng đối đáp đơn giản mà hiểu Phật lý, chứ không thể chân chánh duy trì tông chỉ không dùng văn tự cũng là một hiện tượng tồn tại thực tế. Bởi vì tư tưởng lời có thể trình bày hết ý, nên lấy phương thức biểu hiện chủ đề hình tượng luôn trôi chảy là điều thông thường được vận dụng , là truyền thống lịch sử vững chắc, không thể không tiếp tục ảnh hưởng đến mọi người bao gồm cả thiền sư ở trong đó. Nhưng khuynh hướng chung của Thiền tông là tình hình được trình bày ở trên, nói Thiền tông kiên quyết, kiên trì quán triệt “thuyết lời không trình bày hết ý”, “thuyết không dùng văn tự” vẫn là điều có thể thành lập được. Trên đây chính là nội hàm và đặc sắc của tông chỉ không dùng văn tự của Thiền tông. Liên hệ nó với phương pháp minh tâm kiến tánh dược trình bày ở trên mà xem xét chúng ta có thể thấy được không dùng văn tự là phá trừ, là làm tiêu trừ trần lao ô trược có hại cho việc minh tâm kiến tánh, phá trừ chấp trước đối với văn tự, cũng chính là cởi bỏ những trói buộc dính mắc. Mà không bỏ văn tự tức là lấy văn tự làm phương thức cởi bỏ những trói buộc chấp trước, điểm quay về vẫn là đạt đến minh tâm kiến tánh. Từ ý nghĩa này mà quán xét cách làm không dùng văn tự lại không lìa văn tự thực tế cũng có thể nói giống như “Tam Vô” vậy, nó là một phương pháp minh tâm kiến tánh. Tóm lại, từ đây chúng ta có thể thấy rằng, gọi là” không dùng văn tự, truyền ngoài kinh điển, lấy tâm truyền tâm, minh tâm kiến tánh”, thật sự là tông chỉ chặt chẽ của Thiền Tông.

IV. Tư Lực Tự Độ :

Thiền Tông cho rằng tự tánh tức là chân như Phật tánh, tự tâm của mọi người đều có Phật tánh, Phật tánh của mọi người đều bình đẳng. “Tự tánh mê Phật tức là chúng sanh, tự tánh ngộ chúng sanh tức là Phật.” Vì thế, tu hành ngộ đạo của Thiền Tông nhấn mạnh tự lực tự độ, phương pháp tu hành tự lực tự độ này cũng là nét đặc sắc chủ yếu của Thiền tông. Trong kinh Pháp Bảo Đàn ngài Huệ Năng đã giải thích rõ ràng về vấn đề này

Người ngộ đốn tu, tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh.

Tự tu tự tạo thành pháp thân tự tánh, tự thực hành theo hạnh của Phật tự tác thành Phật đạo.

Không phải Huệ Năng độ, này các thiện tri thức, trong tâm chúng sanh, ai nấy đều tự thân tự tánh tự độ. Tự tánh tự độ là gì? Tự trong sắc thân, tà kiến phiền não, ngu si mê vọng, tự có tánh vốn sáng suốt đem cái thấy chân chánh mà độ, đã ngộ chánh kiến, trí huệ Bát Nhã thì trừ được ngu si mê vọng, như vậy là chúng sanh ai nấy tự độ.

Nhưng đối với tự tâm, làm cho tự bản tánh thường khởi lên chánh kiến, các chúng sanh phiền não trần lao lúc đó đều ngộ hết, giống như biển cả, các dòng sông đều chảy về, sông lớn sông nhỏ, hợp thành một thể, chính là thấy tánh.

Cho nên biết tất cả các pháp, đều ở trong tự thân, có cái gì không từ tự tâm mà thoạt hiện chân như bản tánh.

Ai tự giác ngộ được, thì không cần phải nhờ thiện tri thức bên ngoài. Ai nhận sự giúp đỡ của bậc thiện tri thức bên ngoài mà mong được giải thoát, thì không thể có việc đo. Biết được thiện tri thức bên trong tự tâm tức liền giải thoát. Nếu tự tâm mê vọng sái quấy, vọng niệm điên đảo, thiện tri thức bên ngoài tức là có người dạy dỗ truyền trao. Nhưng cầu vẫn không đạt được. Nếu ngươi không thể tự ngộ, nên khởi trí tuệ quán chiếu, ngay lúc đó tất cả vọng niệm đều diệt, tức là tự mình là bậc chân chánh thiện tri thức, vừa ngộ liền được như Phật vậy.

Những lời bàn luận này đều là nhấn mạnh sự tu hành ngộ đạo, giải thoát thành Phật hoàn toàn nhờ vào bản thân của mỗi người, chứ không phải nhờ vào thiện tri thức bên ngoài. Dựa vào người khác để cầu mong giải thoát là “điều không thể có”, “cầu không thể được”. Chỉ có dựa vào sự minh tâm kiến tánh của bản thân để loại bỏ vọng niệm dẹp trừ trần lao mới là con đường giải thoát duy nhất. Nhấn mạnh tự lực tự độ là vì Thiền tông không mê tín vào kinh, Phật, “Chư Phật trong ba đời, 12 bộ kinh, cũng có đầy đủ trong tự tánh của mỗi người”. Chính tự tánh có Phật, có kinh, nên không cần phải dựa vào Phật, nương vào kinh mà chỉ cần dựa vào bản thân. Như vậy, phát triển đến cực đoan chửi Phật, mắng Tổ, hủy báng kinh điển, lìa kinh trái với đạo cũng là điều tất nhiên. Đả phá sự sùng bái tượng cốt, mới có thể chân chánh phát huy tự lực. Nguyên tắc này do Huệ Năng đưa ra cũng được các tông phái sau này kế thừa, phát huy và quán triệt. Trong “Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn” ngài Huệ Hải đã trình bày một cách rõ ràng :

Chúng sanh tự độ, Phật không thể độ. Nếu khi Phật có thể độ chúng sanh, thì chư Phật trong quá khứ nhiều như vi trần, tất cả chúng sanh đã được độ hết. Làm sao chúng ta đến ngày nay vẫn còn luân hồi sanh tử, chưa được thành Phật! Nên biết chúng sanh tự độ, Phật không thể độ. Siêng năng nổ lực, tự tu, chớ dựa và Phật lực bên ngoài.

Tư tưởng Phật không thể độ, chúng sanh đành phải tự dựa vào bản thân này Hoàng Bá Hi Thiên cũng nhấn mạnh rằng: “Ở đâu có Phật độ chúng sanh? Ở đâu có chúng sanh được Phật độ?”, “Thật không có chúng sanh được Như lai độ.” Ngài hoàn toàn không tin Phật có thể độ chúng sanh, lấy lý do rất xác đáng để phủ định khả năng Phật độ chúng sanh, nhấn mạnh rõ ràng “chúng sanh tự độ, Phật không thể độ, nỗ lực tự tu, chớ nương tựa vào Phật lực.” Thiền tông thời kỳ sau lại càng như vậy, càng kiên quyết không tựa vào Phật, không cầu Phật, mà nhờ vào chính mình. “Thà vĩnh kiếp phải chịu trầm luân. Cũng không cầu giải thoát từ chư Thánh.”, “Cầu Phật liền bị Phật ma lôi kéo, cầu tổ tiên liền bị Tổ ma lôi kéo”. Đả phá hoàn toàn triệt để việc sùng bái tượng cốt, vượt qua cả Phật tổ, kiên định tin tưởng vào sức mình, biểu hiện mạnh mẽ tính tự tin tưởng, tự tôn trọng vào bản thân.

Thiền tông tuyên dương và nhấn mạnh một cách đặc sắc tinh thần tự lực tự độ, phát huy cao độ tính năng động chủ quan của con người, làm nổi bật tính chủ thể của con người. Đem tư tưởng này đối chiếu rõ ràng với tư tưởng nhờ vào Phật lực, Bồ tát siêu độ của tông Tịnh Độ, trên phương diện này cũng thể hiện nét đặc sắc độc đáo. Tư tưởng tự nhờ vào chính mình này rõ ràng có ý nghĩa tích cực.

V. Đốn Ngộ.

Chủ trương đốn ngộ cũng là một tông chỉ rõ ràng của Thiền tông. Đốn ngộ thành Phật là một phương pháp tu tập của Thiền tông có nét khác biệt, nổi bật, đặc sắc so với nhiều tông phái Phật giáo khác, đặc biệt là chủ trương cơ bản của Thiền tông Nam tông chánh thống, là tiêu chí chủ yếu để phân biệt Nam tông Bắc tông trong nội bộ thiền tông. Gọi “Nam đốn Bắc tiệm”, chính quan điểm này mà làm cho hai tông “đệ tử của phái đốn tu và phái niệm tu, nhìn nhau như kẻ thù; trong Nam Tông và Bắc tông, đối địch nhau như Sở với Hán”. Tư tưởng đốn ngộ thành Phật, ngài Huệ Năng cũng nêu tỉ mỉ trong kinh Pháp Bảo Đàn :

Nghe đốn giáo này, không tu theo bên ngoài.

Một niệm nếu ngộ, chúng sanh liền thành Phật.

Sao không từ nơi tự tâm đốn hiện chân như bản tánh.

Nếu ngươi không tự ngộ được, nên khởi trí tuệ quán chiếu, ngay lúc đó, vọng niệm đều diệt, tức là bậc thiện tri thức chân chánh, vừa ngộ liền được như Phật vậy.

Người ngộ vô niệm hiểu được Pháp, đến được quả vị Phật tín.

Nếu gặp pháp đốn giáo của Đại thừa, thành kính chắp tay chí tâm cầu nguyện.

Đại sư truyền trao đốn giáo cho họ, mong người học cũng đồng một thể

Chỉ thực hành trực tâm, đến như gảy móng tay.

Nếu ngộ pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong nháy mắt. Không ngộ giáo pháp đại thừa, con đường niệm Phật vãng sanh xa xôi như vậy làm sao đạt được?

Nếu học pháp đốn giáo, người ngu không thể mê.

Nhưng đốn giáo này cũng gọi là đại thừa, mê từ vô số kiếp, ngộ tức trong sát na.

Ngộ pháp này, một niệm tâm khai mở.

Đời nay nếu ngộ pháp môn đốn giáo, ngộ tức là Thế Tôn ngay hiện tiền.

Gọi là đốn ngộ tức là nhấn mạnh một đao xông thẳng, khai ngộ trong nháy mắt. Nó khác với ngộ trong tiệm tu- tức là rỗng rang đại ngộ sau khi đã trải qua hết nhiều giai đoạn, trải qua sự khổ tu chứng lý. Đốn ngộ tức là ngộ ngay trong một niệm, ngộ ngay trong khoảng sát na. “Ngộ trong sát na”, “trong một niệm tâm liền khai mở”. Ngay trong mỗi niệm tâm đốn hiện chân như bản tánh. Loại ngộ này và tu tập trải qua các giai đoạn tiệm tu thứ lớp, tức lấy tiệm tu thứ lớp làm sự khác biệt cơ bản, tức quyết định ở chỗ không cần tu thứ lớp, then chốt là ở chỗ ngộ hay không ngộ. Nếu ngộ tức ngay trong khoảnh khắc liền ngộ, không ngộ dần dần tu tập theo thứ lớp cũng không thể ngộ, cho nên nói “Như Lai Thiền có tu có chứng, Tổ sư Thiền không đối không tu”, là nói rõ sự khác nhau căn bản giữa đốn tu và tiệm tu. “Không cần phải tu tập” chính là nét đặc sắc chủ yếu của đốn ngộ, nhưng “không cần phải tu tập” có thể đốn ngộ thành Phật sao ? không cần phải tu tập, đốn ngộ thành Phật y cứ vào cái gì? Thần Hội Hà Trạch được gọi là người thuộc phái chính truyền bình luận và phân tích rất rõ ràng về sự đốn ngộ của ngài Huệ Năng. Trong lúc Thần Hội đang trả lời câu hỏi của đệ tử Vô Hành : “Phiền não của chúng sanh vô lượng vô biên, chư Phật Như Lai, đại Bồ tát trải qua nhiều kiếp tu hành, vẫn không thể chứng đắc vì sao Long Nữ phát tâm trong một sát na, liền thành chánh giác” rằng: Phát tâm có đốn tiệm, mê ngộ có chậm nhanh. Nếu mê tức từ vô số kiếp, ngộ liền trong phút chốc. Nghĩa này khó hiểu được, trước hết ta cho ngươi một ví dụ, sau mới rõ nghĩa này, hoặc có thể nhân đó mà hiểu ra… Thí như một bó tơ, số nhiều vô lượng, nếu kết thành một sợi dây thừng, treo ở trên cây, dùng kiếm sắc chém một nhát, liền đứt tất cả. Số tơ tuy nhiều nhưng không hơn kiếm sắc; Phát tâm Bồ đề cũng giống như vậy, ở đây nói số sợi dây tơ tuy nhiều, nhưng không chịu nổi một nhát kiếm, phiền não của chúng sanh tuy nhiều, nếu ngộ được lý vô sanh, tức tất cả phiền não vọng niệm nhất thời đều dứt sạch. Phiền não vọng niệm đều dứt sạch, cho nên chân thật thành Phật là điều rõ ràng. (Hà Trạch Thần Hội Thiền Sư Ngữ Lục)

Đây là ví dụ nổi tiếng về việc lấy “Kiếm sắc chặt bó tơ” để ví dụ cho việc đốn ngộ, thông qua ví dụ bằng hình tượng rõ ràng để nói rõ lý đốn ngộ. Cuộc đối đáp giữa Thần Hội và Hòa Thượng Trí Viên càng thuyết minh rõ ràng lý do đốn ngộ mà “không cần tu tập”.

Hòa thượng Trí Viên hỏi : “ Tất cả chúng sanh đều nói tu đạo, không biết người tu đạo suốt đời có thành Phật được không?

Hòa thượng Thần Hội đáp: “Có thể được”

Lại hỏi : “Làm sao tu tập trong sát na liền có thể thành Phật ? Xin giải thích nghi ngờ này cho tôi”.

Đáp : “Nói tu tập tức là các pháp hữu vi, đều thuộc vô thường, các pháp vô thường lìa sanh diệt”

Lại hỏi : “Hết thảy chư Phật, đều tu tập hạnh quả viên mãn, chứng thành Phật đạo; Nay tại sao lại nói không cần phải tu tập?”

Đáp : “Phàm gọi là tín hạnh tu tập đều không lìa trí giác. Đã có trí giác, tức có tác dụng chiến sáng. Như vậy nhân quả giống nhau, sanh diệt vốn là không có, cần gì tu tập?”

Lại hỏi : “Chư Phật thành đạo, đều nhờ trí giác. Nay lìa trí giác, thì đạo là gì?”

Đáp : “Thể của đạo chẳng có vật gì… cũng không có tên, không có tướng, không suy nghĩ, kẻ trí cũng chưa thấu được. Người chưa chứng đắc, tánh của đạo đều không thể nắm bắt được.” (giống trên)

Đây chính là luận lý y cứ của quan điểm đốn ngộ thành Phật không cần tu tập. Thần Hội đã phát huy đầy đủ phương pháp tu tập thể nghiệm trực giác, minh tâm kiến tánh của ngài Huệ Năng, chỉ rõ lý đốn ngộ chủ yếu ở nơi “thể của đạo không có vật gì” không có tên gọi, không có tướng trạng, không suy, không nghĩ, là thứ không thể lý giải được. Mà tu tập tiệm tu là pháp tri giải, là pháp hữu vi. Dựa vào phương pháp tiệm tu hữu vi, không thể đạt đạo được. Chỉ có nhờ vào việc trên trừ vọng niệm, đạt đến thấu triệt được bên trong bên ngoài, không tướng trạng, không suy, không nghĩ, minh tâm kiến tánh, liền có thể thành Phật, mà vọng niệm là thứ có thể đoạn trừ ngay.

 Trong cuốn “Đốn ngộ Nhân Đạo Yếu Môn Luận” của ngài Huệ Hải cũng thừa hưởng và phát huy tư tưởng “vô niệm vô tông”, “minh tâm kiến tánh” của ngài Huệ Năng để thuyết minh lý đốn ngộ. Ngài cho rằng “ đốn tức là lập tức trừ vọng niệm, ngộ là ngộ cái không thể đạt được”, mà tông của “pháp môn đốn ngộ” chính là lấy “ vô niệm làm tông, vọng tâm không khởi làm ý chỉ”. Thiền sư Hi Vận cũng phát huy tư tưởng “li tướng vô niệm” của ngài Huệ Năng để giải thích đốn ngộ, nói đốn ngộ là: “ngay lúc đó chính là, khởi niệm là sai, sau đó vốn là Phật”, “đốn ngộ ngay hiện tiền, tự tâm vốn là Phật, không có pháp nào không đạt được, không có hạnh nào là không thể tu, đây là chân như Phật”. Và cho rằng tu hành căn bản nhất là làm được “tâm chớ chấp trước một vật gì” chỉ cần “vô tâm” tức có thể thành Phật, “cúng dường chư Phật trong 10 phương, không bằng cúng đường một người tu tập vô tâm”, Nhiều kiếp tu tập hoàn toàn không nhất định sẽ thành Phật, nhưng có thể ‘vô tâm’ liền có thể đốn ngộ. “Tánh chính là tâm , tâm chính là Phật, Phật chính là pháp”. “Không thể lấy tâm để cầu nơi tâm, không thể Phật để cầu Phật, không thể lấy pháp mà cầu pháp, cho nên người học đạo thẳng thắn vô tâm, âm thầm khế nhập mà thôi” (Truyền Pháp Tâm Yếu).

Tất cả những lời thuyết pháp này, tổng kết lại có thể thấy được cái gọi là đốn ngộ cũng chính là các được gọi là diệu ngộ, là sự thể nghiệm nắm bắt bằng trực giác đối với chân như Phật tánh. Sự thể nghiệm này không cần văn tự, không dựa vào lý giải, là một loại nắm bắt chỉnh thể của trực giác. Chỉ cần hoàn toàn trừ bỏ vọng tâm trần cảnh, đạt đến “vô tâm”, “sáng tâm”, tức có thể kiến tánh thành Phật. Phương pháp thần diệu này tự nhiên có thể “không cần tu tập”, mà hoàn toàn trực tiếp đốn ngộ.

Từ sự giới thiệu trên, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng Thiền tông Phật giáo Trung Quốc là Tông phái Phật giáo mang đậm nét độc đáo của Trung Quốc, đã phát triển một cách đặc sắc nhất trong Phật giáo Đại thừa của Ấn Độ. Phương pháp dạy thiền, học thiền của Thiền tông chính là sự phát triển to lớn đối với phương pháp tu tập của Phật giáo, chư vị đại sư của Thiền Tông tạo ra nhiều phương pháp tu tập trác việt, thể hiện rõ nét trí tuệ cao tột của các Tăng nhân Trung Quốc. Trí tuệ của Thiền tông chính là sự thể hiện tập trung trí tuệ của Phật giáo, các hạng mục nội dung được chọn trong quyển sách này thể hiện trí tuệ Thiền tông Phật giáo, phần lớn đều là nội dung đại trí tuệ của Thiền tông.

BÀI LIÊN QUAN

Ba phương pháp hành thiền chủ yếu  ( Giáo sư Minh Chi , 123 xem)

Thỏng Tay vào Chợ  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 112 xem)

Vài suy nghĩ về thiền tông Việt Nam  ( Trần Hồng Liên , 1963 xem)

Thiền  ( J.Krishnamurti - Minh Tâm dịch , 180 xem)

Tư tưởng thiền học qua chí nguyện lập đạo và hoằng hóa của Tổ sư Minh Đăng Quang  ( Hòa thượng Giác Toàn , 2884 xem)

Ngồi rách bồ đoàn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 464 xem)

Thiền ngộ (Phần 3)  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 192 xem)

Không ai biết ông ta  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 712 xem)

Sa Di cao thọ giới  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 864 xem)

Tay mắt khắp thân  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 536 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC