NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Tư tưởng thiền học qua chí nguyện lập đạo và hoằng hóa của Tổ sư Minh Đăng Quang

Tác giả: Hòa thượng Giác Toàn.  
Lượt xem: 2874 . Ngày đăng: 04/09/2018In ấn

 

Tư tưởng thiền học qua chí nguyện lập đạo và hoằng hóa của Tổ sư Minh Đăng Quang

 

HT. Giác Toàn

 

(Bài giảng Khóa tu thiền lần 4 tại Tịnh xá Mộc Chơn, Phú Mỹ, Tiền Giang từ ngày mùng 3 – 10/3 Tân Mão). 
I. TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC QUA CHÍ NGUYỆN LẬP ĐẠO CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG “NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP – ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM”
1. Giác ngộ cuộc đời vốn dĩ “Bất tịnh, vô thường, khổ não, vô ngã”
Đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni khi còn là Thái tử Tất Đạt Đa, trước khi quyết định đi xuất gia, ngài đã đi dạo bốn cửa thành, tự mình quan sát thấy rõ nỗi khổ, sự biến dịch của già, bệnh, chết và hình ảnh của vị đạo sĩ; tức ngài đã giác ngộ được chân tướng của sự sống vốn “Bất tịnh, vô thường, khổ não, vô ngã” và ngài quyết định đi xuất gia để tìm ra chân lý giải thoát lìa xa những nỗi thống khổ này.
2. Buông bỏ những gì đang có: ngai vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con yêu
Muốn đạt đến mục đích tối thượng của sự xuất gia thì việc đầu tiên là phải buông bỏ, ly xả những gì mình đang có và biết rõ nó không phải là của mình thì thân tâm mới được thanh thản để thực hiện lý tưởng xuất gia giải thoát.
3. Quyết chí xả thân tìm đạo tu tập, dấn thân hành đạo
Một khi chúng ta đã kiến tạo được nền tảng của việc xuất gia đúng nghĩa thì ý lực xả thân tìm đạo và dấn thân tu tập, hành đạo sẽ rất vững vàng. Mọi chướng ngại phía trước sẽ trở thành vô nghĩa và không gì có thể ngăn cản chí nguyện của hành giả xuất gia.
4. Vượt qua mọi thử thách của tự thân về tứ sự (ăn, mặc, ở, bệnh); những ngoại cảnh thiên nhiên chốn rừng già, núi cao, non thẳm và cả những thử thách của nội tâm
Thử thách đầu tiên Thái tử Tất Đạt Đa phải vượt qua chính là những thử thách của tự thân qua nếp quen của đời sống trong tứ sự: ăn, mặc, ở, bệnh.
Thử thách thứ hai là phải đối diện, chiến đấu với ngoại cảnh thiên nhiên, núi rừng u tịch, của ánh sáng ban ngày và bóng tối ban đêm; của các loài thú rừng và cả những ác quỷ ma vương của hữu hình và vô hình.
Thử thách thứ ba là phải đối diện và chiến đấu với chính mình. Những nghiệp thức tham, sân, si; những buồn vui, mừng giận; những ái dục nhiều đời, nhiều kiếp còn ẩn sâu trong tâm tánh của tự thân (những nàng ma nữ cợt trêu, ấy là dục vọng quẩn theo bên mình).
5. Quyết tâm thực hiện thành tựu sứ mạng tìm ra chân lý giải thoát khổ đau của chính mình và đem an lạc, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người
Tín - hạnh - nguyện rất quan trọng đối với người xuất gia. Qua gương hạnh của Tất Đạt Đa, đức Phật đã giáo huấn chúng ta đã là thầy Tỳ kheo thì điều cần yếu là phải có “Niềm tin nơi chánh pháp; phải phát đại nguyện dõng mãnh, kiên định trên đường tu và lập hạnh tinh tấn hành trì… chưa thành tựu không dừng nghỉ”.
Qua 5 điểm nền tảng căn bản trên, chúng ta thấy Tổ sư chủ trương “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp – Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam” là thọ nhận, nối kết, thừa hành những gì đức Phật đã thực hiện thành tựu và lưu lại… Ngày nay, chúng ta phải nỗ lực noi dấu làm theo để được thành tựu chớ không phải học, hiểu lý thuyết suông mà là bằng hành động tu tập, thân chứng.
II. Ý PHÁP TU TẬP THIỀN HỌC QUA LẬP TRƯỜNG & CÔNG HẠNH “NÊN TẬP SỐNG CHUNG TU HỌC”
“Tam tụ lục hòa” có thể nói đây là truyền thống đặc sắc của Giáo hội Tăng già từ chư Phật quá khứ đến đức Phật Thích Ca, và đến ngày nay cũng như mãi mãi về sau. Đặc điểm nổi bật là Tổ sư chúng ta đã tạo nên một nét riêng và nhấn mạnh truyền thống này bằng một ý pháp mới mà lại rất nề nếp “Nên tập sống chung tu học” và lập trường rất quen nầy được hướng dẫn cụ thể qua ba bước thực hành.
1. Cái sống là phải sống chung (nền tảng giới luật)
Đầu tiên, khi mới xuất gia vào đạo nếu chúng ta không nhận ra, không ý thức được quan điểm nầy thì chúng ta rất khó nép mình, hòa chúng để cùng học cùng tu trong tập thể Tăng già. Trong nhà Phật thường có câu:
“Mỗi người mỗi nước mỗi non

Bước vào cửa đạo như con một nhà”
Cho nên, trước khi xuất gia, dù mỗi người chúng ta xuất thân từ giai cấp nào trong xã hội, khi xuất gia vào đạo rồi thì cùng sống chung tu học trong ngôi nhà đạo đức, oai nghi phạm hạnh và giới luật như nhau. Nói một cách cụ thể là cùng sống chung tu học trong một đạo tràng Tịnh xá, trong một Giáo đoàn Du tăng, trong một Hệ phái Phật giáo, cùng Thầy, Tổ và rộng hơn là sống chung tu học trong lòng GHPGVN (về mặt xã hội thì sống chung trong một cộng đồng dân tộc hay cộng đồng nhân loại).
Trong xã hội ngày nay có những từ rất quen, rất gần gũi với ý tưởng nầy là “hội nhập”, “toàn cầu hóa”. Sở dĩ chư Tăng hay chư Ni có thể sống chung tu học với nhau trong một Đạo tràng, Tự viện, Tịnh xá dễ dàng là nhờ tinh thần giới luật, quy củ, phạm hạnh thiền môn và hương vị giải thoát, như trong biển cả chỉ có một vị mặn.
2. Cái biết là phải học chung (định hướng pháp bảo)
Cái biết của người tu, của người con Phật xuất gia nhất định không phải là cái biết của hạng phàm phu mà đương nhiên phải là cái biết của bậc Hiền thánh, là biết về Kinh, Luật, Luận và Giới - Định - Tuệ. Tất cả chúng ta đều biết nền tảng giáo lý đạo Phật về mặt tổng thể tập trung vào Tứ diệu đế (Bốn chân lý tối thượng), tức giáo lý nhân và quả của thế gian và xuất thế gian. Ngay từ buổi đầu tiên sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn đến với 5 anh em A Nhã Kiều Trần Như, ngài thuyết bài pháp đầu tiên để độ cả 5 vị và trở thành những vị đệ tử đầu tiên trong chánh pháp, thành lập Giáo hội Tăng già, cũng chính là “Tứ diệu đế”. Sau nầy, giáo pháp dù có lan rộng ra thì phần căn bản cũng không ngoài 37 phẩm trợ đạo hay bồ đề phần (Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát chánh đạo).
Như vậy, “Cái biết là phải học chung” đây chính là “Tứ diệu đế” và những phần giáo lý cơ bản (37 phần bồ đề) giúp hành giả nâng cao kiến thức về Phật pháp để tự mình có thể soi sáng thấy rõ tính nhân quả luân hồi của tự thân và các pháp, vạn vật xung quanh, chúng sanh; cùng thấy biết rõ con đường, pháp môn tu tập đưa đến đạo quả an vui Niết bàn miên viễn. Cụ thể hơn, muốn đạt đến sự hiểu biết chân chánh, trí tuệ siêu việt thì người tu chúng ta cần phải được sống chung trong nền tảng giới luật và học chung trong định hướng pháp bảo cao quý.
3. Cái linh là phải tu chung (tuệ giác hiển linh)
Trên thế gian này tất cả tứ đại, vạn vật chúng sanh và các pháp đều phải nương nhau để tồn tại và phát triển. Nhờ nền tảng giới luật, chúng ta biết sống chung tu học an vui, mỗi ngày nhờ định hướng giáo lý pháp bảo nuôi lớn, làm cho tăng trưởng giới thân huệ mạng; biết nương nhau trong học tập và thực hành công phu thiền định thì nhất định thời gian đưa đến thân chứng quả linh là điều tất yếu.
Thiền sư Viên Học thời Lý (1073 – 1136) đã từng nhấn mạnh “Lãng thần tịnh sát đắc thần thông” nghĩa là “Thần lười dứt sạch, thần thông hiển bày”. Trên bước đường tu tập, chúng ta thấy rất rõ nếu hành giả xuất gia lười học, lười tu, nhác học, nhác tu… thì rất khó thành tựu, rất khó an vui trong sự học, sự tu.
III. THIỀN TẬP - ỨNG DỤNG GIÁO LÝ CĂN BẢN ĐẠT ĐẾN THÂN CHỨNG
1. Đức Phật chuyển pháp luân khai thị cho 5 anh em A Nhã Kiều Trần Như
Với trí tuệ siêu việt, khi trở lại với 5 anh em A Nhã Kiều Trần Như, đức Phật đã thấy rõ muốn độ 5 người bạn nầy đi vào đạo quả A-la-hán trước nhất cần phải khai thị, phá vỡ kiến chấp (nếp quen bảo thủ của người phàm phu), khi con người đã phá vỡ được nghiệp thức vô minh của chính mình thì con người sẽ tự vượt lên trên, trở thành con người siêu việt. Trong kinh Chuyển Pháp Luân có ghi rõ về 2 kiến chấp:
Như vầy tôi nghe. Một thời đức Tôn Sư lưu trú tại Vườn Nai, trú xứ của các ẩn sĩ tiên nhân, ở thành Bàrànasì. Lúc ấy đức Tôn sư bảo nhóm năm Tỳ kheo:
Này các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành. Hai cực đoan ấy là gì? Một là tham đắm vào dục lạc, say mê vì dục vọng; việc này thật là hạ liệt, thô tục, là hành nghiệp của người tầm thường ngu si, không xứng đáng và không ích lợi. Hai là hành hạ bản thân, việc này gây khổ đau, không xứng đáng và không ích lợi. Bằng cách tránh xa hai cực đoan này, Như Lai đã chứng đức Trung đạo, con đường làm sinh khởi tri kiến, sinh khởi tri thức, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
Các Tỳ kheo, Trung đạo mà Như Lai đã chứng đắc, con đường làm sinh khởi tri kiến, sinh khởi tri thức, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn là gì? Chính thật là Thánh đạo tám ngành, tức là, Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Đây quả thật là Trung đạo mà Như Lai đã chứng đắc, con đường làm sinh khởi tri kiến, sinh khởi tri thức, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
Đây là Thánh đế về khổ. Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ (cũng vậy, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ). Gặp gỡ người ghét là khổ, chia lìa người thương là khổ, không đạt được ước nguyện là khổ. Tóm lại, ý hướng chấp thủ năm yếu tố hiện hữu là khổ.
Đây là Thánh đế về nguyên nhân của khổ. Chính là khát ái đưa đến tái sinh, kết hợp với hỷ và tham, tìm thấy hoan lạc nơi này nơi kia: tức là, khát ái dục vọng (dục ái), khát ái hiện hữu (hữu ái) và khát ái chấm dứt hiện hữu (phi hữu ái).
Đây là Thánh đế và sự diệt khổ. Chính là sự tận diệt, xả ly khát ái, đoạn trừ, giải thoát khát ái, không chấp thủ khát ái.
Đây là Thánh đế về con đường đưa đến diệt khổ. Chính thật là Thánh đạo tám ngành, tức là, Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
Với tư tưởng: “Đây là Thánh đế về khổ”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang về các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về khổ này cần được quán triệt”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về khổ này đã được quán triệt”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia.
Với tư tưởng: “Đây là Thánh đế về nguyên nhân của khổ”, đã sinh khởi trong ta về kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về khổ này cần được đoạn trừ”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về khổ này đã được đoạn trừ”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia.
Với tư tưởng: “Đây là Thánh đế về sự diệt khổ”, đã sinh khởi trong ta về kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về sự diệt khổ này cần được chứng ngộ”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về sự diệt khổ này đã được chứng ngộ”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia.
Với tư tưởng: “Đây là Thánh đế về con đường đưa đến diệt khổ”, đã sinh khởi trong ta về kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ này cần được tu tập”, đã sinh khởi trong ta kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia. Với tư tưởng: “Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ này đã được tu tập”, đã sinh khởi trong ta về kiến, trí, tuệ, minh, quang liên hệ các pháp mà ta chưa từng nghe trước kia.
Này các Tỳ kheo, bao lâu tri kiến của ta về thực tính của Tứ thánh đế này trong ba cấp độ mà mười hai hình tướng (tam chuyển thập nhị hành) chưa được hoàn toàn thanh tịnh, thì ta không thể tự gọi mình là người đã thực chứng tối thượng chánh đẳng giác ngộ giữa tất cả chúng sanh gồm các Thiên thần, Ma vương, các thần Phạm thiên, giữa các Sa môn, các Thiên thần và loài người. Tuy nhiên, từ khi tri kiến của ta về thực tính của Tứ thánh đế này trong ba cấp độ và mười hai hình tướng đã được hoàn toàn thanh tịnh, bây giờ ta có thể tự gọi mình là người đã thực chứng tối thượng chánh đẳng giác ngộ giữa tất cả chúng sanh… Và tri kiến đã sinh khởi trong ta: “Sự giải thoát của ta là bất động”. Đây là đời sống cuối cùng của ta. Do vậy, ta sẽ không còn tái sinh nữa.
Đức Tôn Sư nói như vậy. Năm vị Tỳ kheo đầy hỷ lạc và hân hoan về những lời dạy của đức Tôn Sư. Khi pháp thoại này được thuyết giảng, trong Tôn giả Kondanna (Kiều Trần Như) khởi lên nhãn quang thanh tịnh, không cấu uế thấy chân lý là bất cứ vật gì có bản tính sinh khởi (hiện hữu) đều có bản tính hoại diệt.
Khi đức Tôn Sư đã chuyển Pháp Luân, các vị thần ở cõi đất cất tiếng reo mừng: “Như vậy đức Tôn Sư tại Vườn Nai, chỗ cư ngụ của các ẩn sĩ, ở thành Bàrànasì, đã chuyển Pháp Luân vô thượng mà không ai ở đời, dù là Sa môn, Bà là môn, Thiên thần, Ma vương hay thần Phạm thiên có thể chuyển ngược lại”.
2. Soi sáng và thân chứng về Tập đế Mười hai Nhân duyên
Một thời đức Thế Tôn đang trú tại Uruvelà trên bờ sông Neranjarà dưới gốc cây bồ đề, sau khi ngài vừa chứng đắc giác ngộ.
Vào thời ấy, đức Thế Tôn ngồi chéo chân liên tục bảy ngày, hân hoan hưởng lạc giải thoát. Rồi đức Thế Tôn xuất định sau bảy ngày ấy trôi qua, trong canh giữa đêm ấy, đã quán sát (nguyên lý) Duyên khởi theo thứ tự thuận và nghịch. Đó là, từ vô minh các tâm hành sinh khởi, từ các tâm hành nhận thức sinh khởi, từ nhận thức danh sắc sinh khởi, từ danh sắc sáu giác quan (lục nhập) sinh khởi, từ sáu giác quan tiếp xúc sinh khởi, từ tiếp xúc cảm thọ sinh khởi, từ cảm thọ khát ái sinh khởi, từ khát ái chấp thử sinh khởi, từ chấp thủ hiện hữu sinh khởi, từ hiện hữu sinh sinh khởi, từ sinh già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Như vậy toàn thể khổ uẩn sinh khởi.
Tuy thế, nếu vô minh được đoạn tận do diệt trừ tham ái, các tâm hành được đoạn tận. Nếu các tâm hành được đoạn tận, nhận thức được đoạn tận. Nếu nhận thức được đoạn tận, danh sắc được đoạn tận. Nếu danh sắc được đoạn tận, sáu giác quan được đoạn tận. Nếu sáu giác quan được đoạn tận, tiếp xúc được đoạn tận. Nếu tiếp xúc được đoạn tận, cảm thọ được đoạn tận. Nếu cảm thọ được đoạn tận, khát ái được đoạn tận. Nếu khát ái được đoạn tận, chấp thủ được đoạn tận. Nếu chấp thủ được đoạn tận, hiện hữu được đoạn tận. Nếu hiện hữu được đoạn tận, sinh được đoạn tận. Nếu sinh được đoạn tận, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Như vậy là sự đoạn tận toàn thể khổ uẩn.
Ngay lúc ấy, đức Thế Tôn biết ý nghĩa ấy, liền nói lên vần kệ cảm hứng này: “Khi pháp của vạn vật trở nên rõ ràng đối với vị Bà la môn nhiệt tâm, thiền định, mọi nghi hoặc đều tiêu tan, vì vị ấy thấu hiểu sự đoạn diệt tất cả các nhân duyên”.
Đó là, từ vô minh các tâm hành sinh khởi, từ các tâm hành nhận thức sinh khởi, từ nhận thức danh sắc sinh khởi, từ danh sắc sáu giác quan (lục nhập) sinh khởi, từ sáu giác quan tiếp xúc sinh khởi, từ xúc cảm thọ sinh khởi, từ cảm thọ khát ái sinh khởi, từ khát ái chấp thủ sinh khởi, từ chấp thủ hiện hữu sinh khởi, từ hiện hữu sinh sinh khởi, từ sinh già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Như vậy toàn thể khổ uẩn sinh khởi.
Tuy thế, nếu vô minh được đoạn tận do diệt trừ tham ái, các tâm hành được đoạn tận. Nếu tâm hành được đoạn tận, nhận thức được đoạn tận. Nếu nhận thức được đoạn tận, danh sắc được đoạn tận. Nếu danh sắc được đoạn tận, sáu giác quan được đoạn tận. Nếu sáu giác quan được đoạn tận, tiếp xúc được đoạn tận. Nếu tiếp xúc được đoạn tận, cảm thọ được đoạn tận. Nếu cảm thọ được đoạn tận, khát ái được đoạn tận. Nếu khát ái được đoạn tận, chấp thủ được đoạn tận. Nếu chấp thủ được đoạn tận, hiện hữu được đoạn tận. Nếu hiện hữu được đoạn tận, sinh được đoạn tận. Nếu sinh được đoạn tận, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Như vậy là sự đoạn tận toàn thể khổ uẩn.
Ngay lúc ấy, đức Thế Tôn biết ý nghĩa ấy, liền nói lên vần kệ cảm hứng này: “Khi pháp của vạn vật trở nên rõ ràng đối với vị Bà la môn nhiệt tâm, thiền định, vị ấy phá tan các đạo quân của ác ma, như mặt trời chiếu sáng bầu trời”.
Phần văn xuôi của nguyên lý Duyên khởi vừa được trích dẫn trên đây được diễn tả như là sản phẩm kết quả do thiền định của đức Phật Gotama, chứ không phải chính tiến trình thiền định. Đoạn kinh sau đây từ Tương Ưng Bộ thuật lại tiến trình thiền định ấy đầy đủ hơn:
Trước khi ta đắc quả bồ đề, khi ta chưa được giác ngộ và còn là vị Bồ tát, ta đã tự nghĩ: “Thế giới này đã chìm đắm trong biết bao khổ não. Người đời sinh, già, bệnh, chết và tái sinh. Họ không biết giải thoát khổ đau. Họ không biết giải thoát già chết. Khi nào giải thoát khổ đau, giải thoát già chết mới được biết rõ?”
Thế rồi ta suy nghĩ: “Vì cái gì có mặt, (nên) già chết sinh khởi? Do nhân duyên gì, già chết xuất hiện?” Thế rồi chánh giác sinh khởi trong ta, do chánh giác ý và chánh trí tuệ: “Già chết xuất hiện vì có sự sinh (ra đời). Già chết do sự sinh tạo nhân duyên”.
Thế rồi ta suy nghĩ: “Vì cái gì có mặt, (nên) sự sinh, hiện hữu, chấp thủ, khát ái, cảm thọ, tiếp xúc, sáu giác quan, danh sắc, nhận thức, các tâm hành xuất hiện?” Thế rồi chánh giác sinh khởi trong ta, do chánh giác ý và chánh trí tuệ: “Vì vô minh có mặt, (nên) các tâm hành sinh khởi. Các tâm hành do vô minh tạo nhân duyên”.
Vì các tâm hành do vô minh tạo nhân duyên, vì nhận thức do các tâm hành tạo nhân duyên… (nên) toàn thể khổ uẩn này sinh khởi.
“Cái này sinh khởi. Cái này sinh khởi”. Do tư duy về pháp này chưa từng được nghe trước đây, nhãn quan khởi lên trong ta, thắng tri khởi lên trong ta, trí tuệ khởi lên trong ta, minh sát khởi lên trong ta, quang huy (ánh sáng) khởi lên trong ta”.
Thế rồi, này các Tỳ kheo, ta suy nghĩ: “Vì cái gì không có mặt, (nên) già chết không xuất hiện? Do cái gì đoạn diệt, (nên) già chết đoạn diệt?” Thế rồi chánh giác sinh khởi trong ta, do chánh tác ý và chánh trí tuệ: “Vì sinh không có mặt, (nên) già chết không xuất hiện. Do sinh đoạn diệt, (nên) già chết đoạn diệt”.
Thế rồi, này các Tỳ kheo, ta suy nghĩ: “Vì cái gì không có mặt, (nên) sinh… hiện hữu… chấp thủ… khát ái… cảm thọ… tiếp xúc… sáu giác quan… danh sắc… nhận thức… các tâm hành không xuất hiện? Do cái gì đoạn diệt, (nên) các tâm hành đoạn diệt?” Thế rồi chánh giác sinh khởi trong ta, do chánh tác ý và chánh trí tuệ: “Vì vô minh không có mặt, (nên) các tâm hành không xuất hiện. Do vô minh đoạn diệt, (nên) các tâm hành đoạn diệt”.
Như vậy do vô minh đoạn diệt, (nên) các tâm hành đoạn diệt, do các tâm hành đoạn diệt, (nên) nhận thức đoạn diệt… và như vậy toàn thể khổ uẩn này đoạn diệt.
“Cái này đoạn diệt. Cái này đoạn diệt” Do tư duy về pháp này chưa từng được nghe trước đây, kiến khởi lên trong ta, trí khởi lên trong ta, tuệ khởi lên trong ta, minh khởi lên trong ta, quang khởi lên trong ta”.
IV. KẾT LUẬN
1. Muốn thành tựu trong tu tập thiền định, người tu phải thường năng sám hối nghiệp chướng và xả nghiệp tự thân. Một khi thân đã nhẹ nghiệp, không còn nghiệp thì con đường tiến tu, thân chứng sẽ hanh thông. Trong Chơn lý “Tu và Nghiệp”, Tổ sư Minh Đăng Quang đã nhấn mạnh: “Người tu là vui trả những nghiệp quả cũ và không gây tạo nghiệp nhân mới; tức tu là dứt nghiệp, tu là đoạn nghiệp”.
2. Muốn thanh thản trong tu tập thiền định phải noi gương đức Phật, chư vị Bồ tát và lịch đại Tổ sư tiền hiền, luôn luôn thiền quán tâm “Đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả” với chúng sanh. Tất cả chúng sanh dù thuận hay nghịch, dù tốt hay xấu v.v… đều là quyến thuộc ông bà cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta. Trong nhiều kinh, đức Phật đều dạy “Hãy thương yêu chúng sanh như cha mẹ thương con”. Có trường hợp, ngài nhấn mạnh “Hãy thương như thương con một”.
Trong Giới Phật tử (Bồ tát giới), đức Phật đã dạy: “Hãy coi người nam như cha ta, người nữ như mẹ ta, muôn đời ta từ đó sinh ra”, thường nghĩ và khéo soi quán như vậy tâm không còn bị ngăn trệ, phiền não và nhất định dễ an trú trong “Thường, lạc, ngã, tịnh” của Niết-bàn.

Tịnh xá Mộc Chơn – Tiền Giang, 2/3 Tân Mão

---oOo---

Nguồn: Đạo Phật Khất Sĩ

BÀI LIÊN QUAN

Ngồi rách bồ đoàn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 464 xem)

Thiền ngộ (Phần 3)  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 188 xem)

Không ai biết ông ta  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 700 xem)

Sa Di cao thọ giới  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 860 xem)

Tay mắt khắp thân  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 536 xem)

Trăng tròn rồi khuyết  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 612 xem)

Hạt huyết trong lò lửa  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 496 xem)

Rồng rắn lẫn lộn, Phàm Thánh ở chung  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 576 xem)

Lợi ích của Thiền hành  ( Bình Anson dịch , 583 xem)

Con Trâu Đất - Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 568 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC