NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Kỳ thi nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương sẽ tổ chức kỳ thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Trí tuệ tối cao

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 74 . Ngày đăng: 01/01/2019In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TẮC THỨ 32 : TRÍ TUỆ TỐI CAO.

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

 

Giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo là : đời người vô thường, đầy dẫy khổ đau, chỉ có tin tưởng Phật giáo, nỗ lực tu hành, mới có thể thoát khỏi khổ đau một cách triệt để, tiến vào cảnh giới Niết bàn. Học thuyết cơ bản của Phật giáo có: “Tứ đế”, “Bát Chánh Đạo”, “Ngũ Uẩn”, “Thập Nhị Nhân Duyên”, “Tam Pháp Ấn”, “Tam Học”… Mà Tam Học là con đường tu hành cơ bản của Phật giáo.

Tam học tức là Giới, Định, Tuệ.

Nguyên tắc chủ yếu của Giới học là ngăn ngừa các điều sai quấy, đình chỉ các việc ác. Đình chỉ các việc ác cũng gọi là luật nghi. Những nhà thuyết pháp chuyên môn chia giới thành giới hữu lậu thế gian và giới vô lậu xuất thế gian. Chủ yếu có 10 giới thiện là: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói ác, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không tham, không sân, không si… Mục đích của Giới học là để điều chỉnh thân tâm, làm phát sanh định tâm thống nhất.

Định là chỉ cho sự an định thống nhất trong tinh thần, nhưng tĩnh tâm là phương pháp có nhiều trình độ khác nhau, cái tĩnh trong dục giới của tâm định tĩnh thường ngày của người bình thường hoàn toàn không phải là thống nhất tinh thần chân chính, thống nhất tinh thần chân chính gọi là tĩnh căn bản. Mục đích chủ yếu của tu tâm thiền định là làm cho tâm thống nhất, từ đó có thể làm cho tâm trong sáng lắng đọng, quán sát thật tướng của các pháp, đạt được trí tuệ đúng đắn, làm cho tâm rỗng rang trong sáng, từ đó có thể chọn lựa được những phán đoán thích hợp, đưa ra những xử lý nhanh nhạy và chính xác. Mục đích của thiền định là nhờ định mà đạt được tuệ, và thêm những hoạt dụng của tuệ. Do vì người có định phát sanh trí tuệ mà vận dụng phương pháp tu tập quán sát Ngũ uẩn, quán Tứ đế…

Mục tiêu cao nhất của việc tu tập trong Phật giáo là đạt được trí tuệ giác ngộ, bất luận là Tam Học hay Thập Vô Học Pháp, Lục Ba La Mật đều đặt trí tuệ vào vị trí cao tột. Nhưng trí tuệ có nhiều loại; trí tuệ hữu lậu của dục giới, trí tuệ chứng ngộ của Sơ thiền; trí tuệ của hàng Thanh Văn, A la hán, trí tuệ của Bích Chi Phật (Duyên Giác), trí tuệ của các giai đoạn Bồ tát, trí tuệ tối cao của Phật… Trí, chủ yếu để hình dung trí tuệ giác ngộ. Tận Trí, Vô Sanh Trí, Chánh Trí… đều là trí tuệ của bậc A la hán; Trí ba la mật là trí tuệ của Bồ tát tối cao hàng thập địa; bốn trí (thành sở tác trí, diệu quan sát trí, bình đẳng tánh trí, đại viên cảnh trí). Cộng thêm năm trí của thể tánh pháp giới đều là trí tuệ giác ngộ của Bồ tát . Nhất thiết trí, đại chủng trí, nhất thiết chủng trí chia ra thành trí tuệ của Nhị thừa ( Thanh Văn và Duyên Giác), Phật và Bồ Tát. Những trí này đều là trí giác ngộ. Huệ tức là trí tuệ nghĩa rộng nhất. Bát nhã tức là trí tuệ. Nếu như thêm thuật ngữ Ba la mật tối cao hoàn toàn tức thành trí tuệ tối cao hoàn toàn. Trí tuệ lại có thể chia thành hai loại: Hữu phân biệt trí và Vô phân biệt trí. Hữu phân biệt trí chỉ “trí tuệ” nhận thức “đối tượng”, và tình hình đối lập với đối tượng được nhận thức ấy. Vô phân biệt trí là chỉ “trí tuệ” không nhận thức đối tượng, mà cùng nhất thể với đối tượng, đây là trí tuệ của sự chứng ngộ cao tột. Phật, Bồ Tát đạt được trí tuệ cao tột vô phân biệt này, nhưng không phải hoàn toàn dừng lại đây mà họ còn phải dùng trí tuệ này thực hành các hoạt động từ bi trí tuệ để cứu độ chúng sanh. Lúc này, trí tuệ cao tột này lại trở thành hữu phân biệt trí để quán sát cứu độ chúng sanh, nhưng trí tuệ này lại đạt được trí tuệ được sản sanh do trí tuệ cao tột vô phân biệt, nó khác với trí tuệ phân biệt của thế tục, cho nên gọi là hữu phân biệt hậu đắc trí. Nói theo sáu Ba la mật thì, Bát nhã Ba la mật lấy năm Ba la mật đầu là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định có tác dụng của hữu phân biệt đắc trí, cũng gọi là phương tiện, cho nên sáu Ba la mật lại có thể chia thành hai là Phương tiện và Bát nhã, Phương tiện chú trọng vào hoạt động từ bi của hữu phân biệt hậu đắc trí, Bát nhã đặt cơ sở trên hoạt động trí tuệ của vô phân biệt trí. Cái đầu có thể nói là lòng đại từ bi giáo hóa chúng sanh ở dưới, cái sau có thể nói là trên cầu được đại trí Bồ đề, đầy đủ hoạt động trí tuệ của đại trí đại bi này tức là lý tưởng của Phật giáo.

Nói tóm lại, dùng trí tuệ dẹp trừ phiền não, tức là mục tiêu tu hành của Phật giáo.

“Phiền não tức bồ đề” chính là mệnh đề của Phật giáo. “phiền não” đôi khi cũng dịch là “hoặc”. Phật giáo gọi tác dụng của tinh thần làm cho thân tâm chúng sanh nhiễu loạn, làm cho nó phát sanh mê hoặc, khổ não là “phiền não”, khi nó còn tiềm tàng chưa phát sanh tác dụng gọi “tùy miên”, khi nó đã phát sanh tác dụng trong thực tế thì gọi là “triền” hay “lậu”. Nhưng phiền não của Phật giáo không phải là loại phiền não trên ý nghĩa hạn hẹp như nhận thức thông thường, Phật giáo đại thừa cho rằng vũ trụ vô hình vô tướng, người bình thường không nhận thức được, thế giới vạn vật nhờ nhân duyên mà sanh (do tâm mà sanh), không có bản chất thuộc tính cố định không thay đổi, không phải là thứ mà người thường có thể nhận thức và nắm bắt được. Vì thế các loại tâm trạng và dục vọng, bao gồm tất cả hoạt động nhận thức của tư tưởng thế gian học đều là phiền não. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến là những thứ căn bản của tất cả phiền não, mà phiền não là cội nguồn của khổ não, là nguyên nhân chung của sanh tử luân hồi. Bồ đề, ý chính là “giác”, “trí” trong Phật giáo chỉ cho trí tuệ đã dứt trừ được phiền não thành tựu Niết Bàn, hoặc dịch là “đạo”, tức chỉ cho con đường đạt đến Niết Bàn, tức là trí tuệ thành Phật hay là giác ngộ đã đạt được. “Phiền não tức bồ đề”, vốn là hai khái niệm đối lập, nhưng Phật giáo đại thừa nhấn mạnh pháp môn không hai. Từ mối quan hệ của hai cái đó mà nói, hai cái tồn tại tương đối, không có phiền não cũng chính không có bồ đề. Từ trên ý nghĩa Phật pháp mà nói, chỉ vì chúng sanh có phiền não, mới cần trao truyền phương pháp hướng dẫn chúng sanh giác ngộ, để đoạn trừ phiền não đạt đến khai ngộ. Mệnh đề này cũng chính là nêu rõ Phật giáo truy cầu trí tuệ tối cao. Cho nên, Phật giáo cho rằng điều cao quý nhất của nhân sanh là trí tuệ, trí tuệ là mẹ của tất cả. Nhưng thứ mà nhân sanh thiếu hụt nhiều nhất cũng là trí tuệ, để tìm được trí tuệ cao tột, đạt đến giải thoát, Phật giáo đã cho nhân loại những cống hiến vĩ đại.

Từ thế kỷ I Tây lịch trở đi Phật giáo bắt đầu truyền vào Trung Quốc, trải qua thời nhà Ngụy, Ngô, Lưỡng Tấn cho đến Nam Bắc Triều, tất cả đã dịch được một phần lớn kinh điển Phật giáo. Đến thời Tùy Đường, Phật giáo phát triển nhanh chóng, tín đồ ngày một gia tăng, tự viện mọc lên khắp nơi trong toàn quốc. Phật giáo đồ Trung Quốc đồng thời với việc hấp thu tư tưởng Phật giáo Ấn Độ còn dung hòa với nhân tố văn hóa Trung Quốc, dần dần thành lập lên các tông phái Phật giáo mang đậm bản sắc văn hóa Trung Quốc. Đến thời nhà Đường, đã hình thành tám tông phái chủ yếu tức là Thiền Tông, Tam Luận Tông, Thiên Thai Tông, Hiền Thủ Tông (Hoa Nghiêm Tông), Từ Ân Tông (pháp tướng Duy Thức Tông), Luật Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Trong đó, Thiền Tông đã thể hiện đặc điểm Phật giáo Trung Quốc một cách rõ ràng nhất, nó được gọi là đại danh từ của Phật giáo Trung Quốc. Xét thấy địa vị của Thiền Tông như vậy, dưới đây sẽ giới thiệu khá tường tận về yếu chỉ tư tưởng và sự phát triển của Thiền Tông.

BÀI LIÊN QUAN

Bảo Phúc bốn lần lừa người  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 92 xem)

Thiền tăng và Thi tăng  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 100 xem)

Gọi cái gì là vạn tượng  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 100 xem)

Thiền Sư Huyền Quang và Bước Tiến Tâm-Linh  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 1822 xem)

Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm  ( Thích Thông Phương , 1615 xem)

Yếu Chỉ Tham Thiền  ( Thiền Sư Hư Vân - Thích Hồng Nhơn dịch , 128 xem)

Thiền Tăng và Thi Tăng  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 688 xem)

Bảo Phúc bốn lần lừa người  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 148 xem)

Lễ lạy chính mình  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 288 xem)

Giặc là người thân  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 152 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC