NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Thiền Tăng và Thi Tăng

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 606 . Ngày đăng: 19/10/2018In ấn

 

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

THIỀN TĂNG VÀ THI TĂNG

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

Trong lịch sử phát triển của Thiền tông Trung Quốc có một tập thể đặc thù như thế này. Họ tu thiền được chứng ngộ, lại đem ngọn gió mát mẻ, màu sắc của khói, khí chất măng non của thiền đi vào văn đàn thi ca: Họ không thích chốn phồn hoa, nhưng lại thường trở thành thượng khách của vua quan quí tộc, bạn bè sáng tác của văn nhân khách sĩ; họ xa lánh hư danh, ẩn cư nơi núi sâu, mà lại đạt được vinh dự to lớn ở trong triều đình và dân chúng, tiếng thơm lưu lại ngàn đời. Có thể nói như thế này, không có họ thì những thi nhân thời cỏ đại sáng rực như dãy Ngân Hà sẽ bị mờ nhạt, rơi rụng đi rất nhiều; thậm chí không có họ thì ngay cả thế giới thi ca thời thịnh Đường – thời đại vàng son của thi ca Trung Quốc – cũng sẽ mờ nhạt đi nhiều, họ là một dòng chảy to lớn trong sông dài của thi ca Trung Quốc. Họ phát ra ánh sáng kì diệu độc nhất vô nhị… họ chính là những nhà thơ Tăng sĩ.

Vương Phạm Chí, Tề Tỵ, Hàn Sơn, Thập Đắc… họ như những ngôi sao lấp lánh, nhấp nháy trong bầu trời thơ Đường. Và đại sư Kiểu Nhiên, lại đem những điểm lành mạnh, những vắng lặng giản đơn của Phật môn riêng có trong chốn tòng lâm ấy kết hợp với tâm hồn trong sáng, khai sáng ra dòng thi ca Thanh Cảnh trong thời thịnh Đường, ảnh hưởng đến toàn bộ một thời đại.

Trong lịch sử thiền tông còn có một vị đại sư Kiểu Nhiên, ông là đệ tử đắc pháp của thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, ông đã để lại cho đời sau không chỉ là tập thơ mà là một tắc công án kinh điển và ngữ lục vi diệu. Vì tên của ông giống với pháp hiệu của nhà thơ tăng sĩ Kiểu Nhiên, nên nhiều người đương thời thường lẫn lộn giữa hai người hoặc cho hai người chỉ là một.

Thiền tăng Kiểu Nhiên, sau khi khai ngộ thì trú trì tại chùa Phúc Châu ở núi Trường Sanh nên người đời gọi là “Trường Sanh Kiểu Nhiên”. Quê ngài ở Phúc Châu, tuổi nhỏ đã xuất gia rồi. Ngài đã từng chăm chỉ tu tập không hề sai phạm mảy may trong giáo nghĩa Giới luật, lại còn khắ khổ nghiên cứu uyên bác, tinh thâm Thiên Thai chỉ quán … thế nhưng tất cả những điều đó chưa giải quyết được những nghi hoặc trong tư tưởng và nghi hoặc vốn có của Ngài. Thế là, Ngài từ bỏ việc nghiên cứu giáo lý, bắt đầu vân du tham thiền.

Ở núi Tượng Cốt, âm hưởng thiền của Đại sư Tuyết Phong giống như tiếng chim Hạc hót trên chín tầng mây, mạnh mẽ lay tỉnh trái tim phiêu bạt của Kiểu Nhiên, Ngài đặt hành lý xuống ở lại bên cạnh Đại sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn một thời gian khá lâu để tham thiền ngộ đạo.

Một hôm, Ngài cùng với mấy vị Tăng sĩ đi đốn cây để làm phòng ốc. Sư phụ Tuyết Phong đi đến, xem họ đốn Bạch Trà nói: “Chặt đến tim cây mới dừng”. Thiền sư Trường Sanh Kiểu Nhiên bỗng nhiên nhận thấy thiền cơ dâng trào, kiên quyết nói rằng: “Chặt ngã luôn!”

Thiền sư các thời đại đều nói: “Tức tâm tức Phật, tự tâm là Phật, vì vậy Đại sư Tuyết Phong chỉ bày Ngài đến tâm liền dừng (trụ). Nhưng mà tâm thiền không có chỗ trụ, tâm cũng không thể chứng đắc, do đó Kiểu Nhiên nói: “Chặt ngã luôn”.

Đại sư Tuyết Phong thấy Ngài khế hợp thiền cơ, liền thêm bước nữa, khích lệ nói: “Người xưa dùng tâm truyền tâm, vì sao ngươi lại chặt đứt tâm?”

Trường Sanh Kiểu Nhiên hoát nhiên đại ngộ, ném rìu xuống, lớn tiếng la: “Truyền!”

Đại sư Tuyết Phong vui mừng thưởng cho Ngài một cây thiền trượng, cười ha ha rồi bỏ đi.

Có một vị Thiền tăng hỏi Tuyết Phong: “Thế nào là đệ nhất cú?”

Đệ nhất cú, tức là đệ nhất nghĩa đế. Cảnh giới tuyệt đối của Thiền, làm sao nói hết được? Vì vậy, Đại sư Tuyết Phong im lặng rất lâu. Vị Tăng này dốt nát, chưa hề ứng cơ, nghi ngờ không hiểu từ phương trượng đi ra, lại đến Thiền sư Kiểu Nhiên thỉnh giáo: “Sư phụ im lặng không nói, là nghĩa gì vậy?”

Trường Sanh Kiểu Nhiên nói: “Đây là đệ nhị cú”

Tuyết Phong nghe Kiểu Nhiên phủ định thiền cơ của mình, liền bảo vị Tăng kia đến hỏi: “Thế nào là đệ nhị cú?”

Thiền sư Trường Sanh Kiểu Nhiên nói: “Trời xanh! Trời xanh!”

Đỉnh cao kỳ diệu, không thể nghĩ bàn. Vì vậy, Kiểu Nhiên nói thiền cơ im lặng của Tuyết Phong là: ‘đệ nhị cú’, tự mình cũng không có ngôn từ để nói, chỉ có thể ngẫng đầu kêu: “Ông trời à! Ông trời à!”

Khi mọi người tập trung lao động xong, Đại sư Tuyết Phong hỏi: “Người xưa nói, ai ngờ dưới cái mũ nhẹ nhàng mát mẽ vốn là người lo lắng trong quá khứ. Các ông nói xem, ý của người xưa là gì?”

Trường Sanh Kiểu Nhiên cố ý đem cái nón nghiêng nghiêng đang đội trên đầu, đấu cơ với Đại sư Tuyết Phong: “Xin Sư phụ nói xem, đây là lời của người nào vậy?”

Tuyết Phong không đáp mà hỏi lại: “Người trì kinh có thể gánh vác Như Lai. Như thế nào mới gánh vác Như Lai?”

Trường Sanh Kiểu Nhiên không nói lời nào, ôm sư phụ Tuyết Phong đến đặt trên giường thiền – gánh vác Như Lai một cách chân chánh – chúng sanh giác ngộ tức là Phật, Đại sư Tuyết Phong cũng chính là Như Lai.

Chốn tòng lâm của Thiền tông, làm việc tức là tu thiền. Do vậy, ngày hôm sau, mọi người đều phổ thỉnh như thường lệ. Sở dĩ, Thiền tông tập trung lao động thì gọi là ‘phổ thỉnh’, nghĩa là: trên dưới quân bình sức lực, không có ngoại lệ, đều phải tham gia. Do đó, Đại sư Tuyết Phong mặc dầu là bậc đạo sư hướng dẫn 1500 người, rất được mọi người quý trọng, cũng theo lẽ thường tham gia ‘phổ thỉnh’. Ngài vác một bó củi, đi được nữa đường thì gặp một người đệ tử, liền vứt bó củi xuống. Người đệ tử đang lom khom nhặt bó củi lên, Tuyết Phong lạnh lùng đá anh ta một cái, anh ta ngã sấp trên đường. Về đến phương trượng, Tuyết Phong nói với Kiểu Nhiên: “Hôm nay ta đá ngã vị Tăng này, thật vui quá!”

Trường Sanh Kiểu Nhiên nói: “Đại hoà thượng, ngài nên vào Niết Bàn đường thay anh ta mới được”.

Niết Bàn đường là phòng bệnh dành cho những Tăng nhân ốm sắp chết ở. Trường Sanh Kiểu Nhiên lấy đó để phê bình sư phụ Tuyết Phong của mình: Chân của người đá đệ tử, mặc dầu muốn dẫn dắt anh ta khế nhập thiền cơ, nhưng lỗi ở tâm tha thiết, đã hiển lộ tông tích.

Một hôm, Tuyết Phong hỏi Kiểu Nhiên: “Cảnh tượng sáng rỡ thì đều biến mất, đây là vật gì?”

Trường Sanh Kiểu Nhiên nói: “Trước tiên xin sư phụ rộng lượng tha lỗi cho Kiểu Nhiên, Kiểu nhiên mới dám trả lời”.

Đại sư Tuyết Phong nói: “Ta thứ lỗi cho ngươi rồi, ngươi nói thế nào đi”.

“Kiểu Nhiên con cũng tha thứ lỗi của Đại Hoà thượng rồi!”

Anh sáng là trí nhanh nhạy, cảnh tượng là sự hiển hoá của ánh sáng tâm linh, hai cái đó đều bất khả đắc, cho nên còn có chân tâm sáng suốt nào đáng nói?

Một khi miễn cưỡng nói ra liền phạm lỗi. Cho nên Kiểu Nhiên trước tiên phải xin Tuyết Phong tha thứ. Cũng vậy lão hoà thượng Tuyết Phong, người không nên hỏi con làm gì, là không có việc mà kiếm chuyện, không có việc mà sanh quấy cũng là phạm lỗi rồi.

Trong lòng Tuyết Phong biết vị đệ tử này đại triệt đại ngộ rồi, tán thán sâu sắc rằng: “Tha cho ngươi hai mươi gậy”.

Trường Sanh Kiểu Nhiên hiểu rõ vị sư phụ này ấn chứng cảnh chứng ngộ của mình, thế là ngài năm vóc sát đất, đảnh lễ cung kính.

Không bao lâu, thiền sư Kiểu Nhiên liền được tín chúng mời đến chùa Phúc Châu núi Trường Sanh trú trì hoằng pháp.

Có vị Tăng hỏi: “Người xưa có dạy rằng: vô minh tức là Phật tánh, phiền não không cần trừ bỏ. Thế nào là vô minh tức Phật tánh?”

Phiền não tức Bồ đề, vô minh tức Phật tánh đó là chân lý chắc thật. Nhưng đây là cảnh giới khai ngộ của bậc đại sư, phàm phu tục tử quyết không thể thể hội được. Nếu tâm địa chưa thông, nội tâm chưa sáng, đem những lời nói này làm vật mua bán của tự thân thì sẽ bị ăn gậy chịu hét! Quả nhiên, thiền sư Trường Sanh Kiểu Nhiên sắc mặt phẫn nộ, đưa nắm đấm thật cao, hét thật lớn, nói: “Hôm nay ta phỉa tàn nhẫn đánh sư tăng nhà ngươi!”

Vị tăng này dám xả thân cầu pháp, không hề sợ hãi, tiếp tục hỏi: “ thế nào là phiền não không cần trừ diệt?”

Thiền sư Trường Sanh Kiểu Nhiên đưa tay gãi sau gáy nói: “Sư tăng nhà ngươi, làm sao ta giận ngươi được?”

Một thiền tăng khác thấy cơ phong của họ đấu rất mãnh liệt dạt dào, liền từ trong đại chúng bước ra hỏi: “Trên đường gặp được cao Tăng đã khai ngộ không dùng lời nói, im lặng, động, tĩnh để đối đáp, không biết nên lấy gì để đối đáp?”

Thiền sư Trường Sanh Kiểu Nhiên nói: “Văn tự viết ở trên giấy có thể làm gì?”

Thống soái đất Phúc Kiến bị sự chứng ngộ sâu rộng của Trường Sanh Kiểu Nhiên thuyết phục, nên xưng ngài là “thiền chủ Đại sư”.

Nhà thơ tăng sĩ Kiểu Nhiên (khoảng 720 – 793 Tây lịch), so với Trường Sanh Kiểu Nhiên thì sớm hơn 100 năm. Ngài gốc ở Hội Khể tỉnh Triết Giang (nay là Thiệu Hưng), có một thuyết nói là quê ở Hồ Châu (nay là huyện Trường Hưng, Triết Giang), dòng họ Tạ, tự Thanh Trú, là cháu đời thứ 10 của Tạ Linh Vận, thi nhân nổi tiếng thời Nam Triều. Người này xuất thân là một công tử danh môn vọng tộc, vào năm thứ nhất niên hiệu Thiên Bảo ông thi tiến sĩ nhưng không đỗ, hạ quyết tâm trốn vào chùa làm một thiền tăng vân du mây nước. Tu tập thiền đã làm rạng rỡ ánh sáng tự tánh của ông, sự chứng ngộ của thiền, càng khiến ông ở trên nền móng căn bản thể chứng chân đế của nhân sinh vũ trụ. Cho nên ông mới có thể thoải mái phóng bút, hứng thú linh hoạt, thầy xưa mà không lún bùn xưa, hợp với pháp mà không hạn chế nơi pháp, từ đó sáng tạo ra dòng thi ca “Thanh Cảnh” ảnh hưởng đến văn đàn thi ca cả hàng ngàn năm nay.

Sau niên hiệu Chí Đức đời nhà Đường, Kiểu Nhiên cư trú lâu dài ở chùa Diệu Hỷ núi Trữ ở Ngô Hưng (nay là ranh giới giữa Tây Bắc tỉnh Triết Giang và Nghi Hưng tỉnh Giang Tô), cùng với nhà thơ tăng sĩ Lĩnh Triệt, nhà đại thư pháp Nhan Chân Khanh, nhà đại văn học Vĩ Ưng Vật…xướng hoạ qua lại, kết thành bạn bè thi ca. Vì vậy, thiền sư Kiểu Nhiên để lại cho lịch sử, không chỉ là công án và ngữ lục truyền thống mà còn có 10 quyển thơ ý vị: “Trữ Sơn Tập” (cũng gọi là Kiểu Nhiên Tập), mang phong cách độc đáo, phong vận đặc biệt của ngài. Bình luận thơ của ngài có địa vị nổi bật trong lịch sử phê bình văn học của Trung Quốc đó là “hình thức thơ”, “nghị luận thơ”, “bình thơ”; trước đời Đường, nó là một trước tác có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử bình luận thơ.

 

Mưa lất phất mái hiên,

Ao nhuốm màu xanh ngắt.

Mịt mù qua ruộng lúa,

Xào xạc bên Sa Thành.

Yên tĩnh nhìn mai rụng,

Nhà tối tiếng trúc vào.

Buổi sáng ngắm không chán,

Ngâm nga gởi yên lành.

(Phiến vũ phất thiềm doanh,

Phiền khâm tứ toà thanh.

Phi vi quá mạch lũng,

Tiêu sắt bàng Sa Thành.

Tỉnh ái hoà mai lạc,

U gian nhập trúc thanh.

Triêu quán thú vô hạn,

Cao vịnh kí nhàn tình.)

 

Mùa hạ năm nọ, Kiểu Nhiên cùng bạn bè leo lên lầu Quán Nông, mưa bay mịt mù bao phủ cánh đồng hoang, cây cối lay động trong gió nhẹ, nếu thiền tâm không sáng suốt, làm sao có thể cảm nhận được cây mai khô lặng lẽ rơi rụng.

Dời nhà tuy đến thành,

Qua đêm ngủ giường dâu.

Gần hàng rào hoa cúc,

Thu đến chưa nở hoa.

Gõ cửa không tiếng chó,

Muốn đi hỏi nhà Tây.

Bảo đi vào trong núi,

Quay về lúc xế chiều.

(Di gia tuy đới quách,

Dạ kinh nhập tang sàng.

Cận chủng li biên cúc,

Th lai vị trước hoa.

Khiếu môn vô khuyển phệ,

Dục khứ vấn Tây gia.

Báo đạo sơn trung khứ,

Qui thời mỗi nhật tà.)

 

Kiểu Nhiên tràn đầy hứng thú tìm thăm người bạn là Lục Hồng Tiệm, nhưng thật không may, người bạn đi vắng, gặp phải cảnh nhà cửa đóng.

Thế mà chúng ta không những không cảm thấy sự thất vọng trong thơ của Ngài, mà ý cảnh trong thơ ngược lại, nhân thăm bạn không gặp mà càng tăng thêm vẻ thanh đạm u tĩnh, tái hiện sống động thiền hứng của tác giả trong cuộc sống ẩn dật sông núi.

 

Trăng lạnh bóng tùng như ngọc rơi,

Đá suối tiếng vang trôi lững lờ.

Sáng sớm nhẹ nhàng lướt trên sương,

Nguyện cùng sông núi đến tuổi già.

(Tùng nguyệt ảnh hàn sanh bích lạc,

Thạch tuyền thanh loạn phún sàn viên.

Minh triêu cánh nhiếp tầng tiêu khứ,

Thệ cộng yên hà đáo lão nhàn.)

 

Ai nói tăng sĩ thân như cây khô, tâm như tro tàn? Họ tự có tình cảm vừa đặc biệt vừa sâu sắc nữa. Đương nhiên tình cảm của họ mang đậm phong thái khí tiết của tùng trúc, trăng hoa mây núi. Thế là, dưới ngòi bút của Kiểu Nhiên, tùng cô lẻ nhưng cao ngạo, trúc già mà đầy khí tiết, trăng thanh mà lạnh lùng, mây trắng mà tinh khiết. Ngài kế thừa truyền thống thơ sơn thuỷ. Lại còn thêm linh hồn siêu nhiên của thiền, cuối cùng trở thành phong cách độc đáo của dòng thơ “Thanh Cảnh”. Anh hưởng đó kéo dài cho đến dòng thơ Giang Tây đời Tống.

Nhưng mà Kiểu Nhiên rốt cuộc vẫn là một Tăng sĩ, là Thiền sư, do đó trong thơ của Ngài càng có nhiều cảnh giới của Thiền, sự tu tập của Thiền. Cảnh giới Thiền như:

 

Xưa nay Hồ Thượng thắng nhân gian,

Xa ải phù vân tự trở về.

Trăng lẻ trời vắng thấy tâm địa,

Lơ thơ dòng nước chiều núi xanh.

(Tùng lai Hồ Thượng thắng nhân gian,

Viễn ái phù vân độc tự hoàn,

Cô nguyệt không thiên kiến tâm địa,

Liêu liêu nhất thuỷ kính trung sơn.)

(Tiễn Duy Kinh thượng nhân trở về Đỗng Đình)

Ý nào muốn về núi?

Đạo cao nhờ thắng cảnh.

Hoa rỗng ngộ tánh giác,

Trăng tàn biết chứng tâm.

Suốt đêm ngâm thơ thiền,

Vượn xanh tự tương ứng.

(Hà ý dục qui sơn?

Đạo cao do thắng cảnh.

Hoa không giác tánh liễu,

Nguyệt tận tri tâm chứng.

Vĩnh dạ xuất thiền ngâm,

Thanh viên tự tương ưng.)

(Tiễn Thanh Lương thượng nhân)

 

Có lẽ do hai bài thơ này đều viết cho hai vị cao Tăng tham thiền chứng ngộ, tâm linh sắc bén mà Kiểu Nhiên càng đề cập nhiều đến cảnh giới tu tập thiền. Trong thiền định treo vầng trăng tâm, sáng suốt rõ ràng như tấm gương trong, vắng lặng mà thường chiếu, chiếu sáng mà thường vắng lặng.

Mã Tổ Đạo Nhất nói: “Phàm thấy được sắc, đều là thấy tâm; tâm không phải từ tâm nhờ sắc mà có”. Chính vì thế, “hoa đốm hư không tức tánh giác”, “trăng tàn” mà biết “tâm chứng” – sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc.

 

Chùa cổ trên Hàn Sơn,

Chuông xa đưa theo gió.

Dư âm lay bóng nguyệt,

Vang đến tận hư không.

Thiền tăng suốt đêm dài,

An nhiên tâm trong cảnh.

(Cổ tự Hàn Sơn thượng,

Viễn chung dương hảo phong.

Thanh dư nguyệt thụ động,

Hưởng tận sương thiên không.

Vĩnh dạ nhất thiền tử,

Lãnh nhiên tâm cảnh trung.)

Liên quan đến thiền cơ: Thiền Và Thơ

 

Văn hoá truyền thống Trung Quốc, phát triển đến thời đại nhà Đường đã bước vào thời đại hoàng kim, từ thơ ca đến hội hoạ, từ âm nhạc đến điêu khắc đều đạt đến đỉnh cao trước đây chưa từng có. Lãnh vực nghệ thuật văn hoá này phát riển mạnh mẽ, hình thức thay đổi rõ ràng đều có liên hệ lớn lao đến sự truyền bá của Phật giáo, đặc biệt là sự hưng khởi và phồn thịnh của thiền tông.

Từ khi Phật giáo truyền từ Phương đông vào, nghệ thuật văn hoá Trung Quốc ngày càng chịu ảnh hưởng nhiều đến Phật giáo. Đặc biệt thời thịnh Đường, chính trị rõ ràng, tư tưởng phóng khoáng. Thiền tông vừa mới hưng thịnh, với hình thức tư duy độc đáo, thoải mái bay bổng siêu nhiên ngoại vật, trí tuệ uyên bác hiểu rõ trời đất, đã thay đổi cách nhìn của các văn nhân, sĩ phu.

Họ bàn luận thiền, tu tập thiền, trên tư tưởng đã có một khuynh hướng thiền lý hoá, tự nhiên dẫn đến sự thay đổi niềm vui trong cuộc sống của họ và cũng tự nhiên được phản ánh trong tác phẩm văn học nghệ thuật của họ. Họ đưa thiền vào thơ, đưa thiền vào hội hoạ, đưa thiền vào nhạc… tư duy nghệ thuật từ chỗ thô tháo nông cạn đã dần dần đạt đến trình độ tinh vi sâu rộng, hơn nữa đã tạo ra một bước nhảy kết thúc về chất, tiến vào một cảnh giới hoàn toàn mới lạ.

Sự phát triển của thơ ca đời Đường hoàn toàn không chỉ là sáng chế theo luật và chữ nghĩa quen thuộc. Sức mạnh thúc đẩy sự thay đổi về chất của nó chính là những nhà thơ biết tu tập thiền, đưa thiền vào thơ; thiền giả làm thơ, dùng thơ nói thiền, trong thiền có thơ, trong thơ có thiền.

Thiền sư Tri Không đã từng nói với một người bạn thơ văn rằng: “Nay Sơn tăng bình luận thơ cùng với cư sĩ, cư sĩ đàm luận thiền cùng với Sơn tăng. Tại sao vậy? Từ xưa trong tình thơ một nửa là thiền. Lấy thiền làm thơ, lấy thơ làm thiền, không gì là có thể hay không thể.

Sự thẩm thấu về thiền khiến hồn thơ càng có hồn hơn, thay đổi đến độ càng thêm sáng rỡ linh hoạt, nhẹ nhàng siêu thoát, đạt đến cảnh giới thẩm mỹ trước đây chưa từng có. Cho nên Nguyên Hảo hỏi rằng: “Thơ làm khách Thiền thêm ý chí, thiền là nhà thơ mài dao ngọc”.

Chính tu dưỡng thiền, thể nghiệm thiền và lãnh ngộ về thiền đã thành tựu rất nhiều thi nhân vĩ đại như: Vương Duy, Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên, Tô Đông Pha, Lưu Vũ Dương, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Vương An Thạch, Hoàng Đình Kiên, Lục Du… ở trong tác phẩm của họ, ý tưởng của thơ cùng ý cảnh của thiền song song tồn tại không phân cách, nước sữa hoà nhau, sản sanh một thứ mỹ cảm vô cùng độc đáo ý vị, cảnh và ta đều quên, từ đó đạt đến sự gột rửa ô nhiễm của thế tục, hướng đến giải thoát thanh cao, tinh khiết của nhân sanh.

Đồng thời, theo đà hưng thịnh của thiền tông, để trình bày và giải thích những điều thiền không thể nói, không thể bàn, các vị Tổ sư đã dùng nhiều bài kệ, thơ tụng để “đi đường vòng nói chuyện thiền”. Thế là, trong biển lớn thi ca sanh ra một đoá hoa kì lạ – thơ thiền. Thiền giả có khí khái dám chết dám sống, dám phá dám lập, đặc biệt có trí tụê lớn, “hạt cải chứa cả núi Tu di, một sợi lông hoá hiện cả đại thiên”. Hơn nữa sau khi thiền khai ngộ, trên tinh thần đạt đến tự do tuyệt đối, khí chất của họ chuyển biến thành nhẹ nhàng, thanh thoát, hào phóng gần với khí chất của thi nhân; điều chủ yếu hơn là phương thức tư duy thông thường của họ đã chuyển hoá thành tư duy linh cảm trực giác: “Tâm rỗng rang ngưng tư duy, suy nghĩ tinh vi mà thành lời, nhốt trời đất trong hình thể, nén vạn vật dưới đầu bút”, cho nên khong cần phải giống thi nhân “làm thơ mới nghiêng về nói chuyện sầu” như thế, tuỳ tay niêm luật, nên bài thơ rất hay:

 

Muốn biết đạo của ta

Không trái tính vạn vật

Biển lớn mặc cá bơi

Trời rộng tuỳ chim lượn.

 

Đầu tiên đề ra rõ ràng trạng thái thiền định và trạng thái tinh thần sáng tác thơ ca là tương tức tương dung. Đó là học trò của Kiểu Nhiên – nhà văn học lớn Lưu Vũ Dương.

Lưu Vũ Dương sinh ra đã có duyên với Phật, lúc bé ông đã từng học với nhà thơ tăng sĩ nổi tiếng – Kiểu Nhiên. Có thể nói, thầy giáo đầu tiên dạy ông sáng tác thơ ca chính là Kiểu Nhiên – người khai sáng ra phái Thanh Cảnh. Ông đã từng là thành viên chủ yếu của “Vĩnh Trinh Cách Tân” ( cuộc cách mạng Vĩnh Trinh), sau cuộc đàm phán chính trị thất bại, bị lưu đày 22 năm. Do đó, ông có một khoảng thời gian rảnh rỗi ngồi tham thiền. Trong một lần tĩnh tu, trong trạng thái thiền định sáng suốt không mê mờ, ông vô tình khám phá được một bí quyết lớn:

Thơ cảnh và thiền cảnh, gần gũi tương thông!

Ông miêu tả tỉ mĩ rằng: “Có thể xa lìa dục thì tâm vắng lặng yên tịnh (nhờ giới mà sanh định), tâm linh sáng suốt, yên tịnh thì sâm la vạn tượng chiếu vào (thiền định hiển bày trí tuệ), lúc này, hình thức từ ngữ thơ từ thì hay mà thâm thuý, thanh luật của thể phú, thì uyển chuyển mà linh động. Vì vậy từ xưa đến nay, có nhiều thiền Tăng nhờ thơ làm người ta kinh ngạc mà nổi tiếng trên đời. Nhờ thiền định mà đạt được ý cảnh của thơ, trí tuệ hiển bày nhờ thiền định, cho nên bất ngờ mà hay…”

Đến đời Tống, thiền tông như cuồng phong đột tiến, phổ biến đến các tầng lớp xã hội Trung Quốc, văn nhân sĩ đại phu tham thiền, bàn luận thiền trở thành trào lưu thịnh hành. Trong quá trình tham thiền tự nhiên họ phát hiện được tham thiền và làm thơ dường như có trạng thái tâm lý nhất trí, đây chính là “ngộ” – tham thiền phải ngộ cảnh giới thiền, học thơ phải ngộ cảnh giới thơ.

Nhà thiên tài bình thơ Nghiêm Vũ lần đầu tiên đã phát biểu: “Thơ – Thiền là một”, ông chỉ ra “con đường Thiền chỉ ở nơi sự chứng ngộ vi diệu, con đường thơ cũng tại nơi sự chứng ngộ vi diệu… không biết thiền, tất nhiên không biết thơ”.

Từ đó, thơ và thiền kết hợp với nhau càng chặt chẽ hơn:

 

Học thơ sẽ như thiền buổi đầu,

Chưa ngộ thì tham vấn mọi nơi.

Một sớm ngộ rồi mắt tuệ mở,

Tin rằng niêm luật sẽ thành chương.

(Hàn Câu tặng Triệu Bá Ngư)

Học thơ hoàn toàn giống tham thiền,

Giường tre bồ đoàn chẳng kể niên.

Trực tiếp tự mình đều hiểu được,

Thanh nhàn niêm luật mới siêu nhiên.

(Ngô Khải “Học làm thơ”)

Muốn xem luật giống tham thiền,

Lý thú không từ văn tự truyền.

Quan tâm thoáng chốc liền chứng ngộ,

Hiểu rồi câu chữ liền siêu nhiên.

(Tái Phúc Cổ “Luận Thơ Thập Tuyệt”)

Học thơ giống như học tham thiền,

Ngộ rồi mới biết “tuế” là “niên”.

Chút sắt thành vàng như hư vọng,

Núi cao nước chảy vẫn như nguyên.

(Cung Tương “Học Thơ”)

 

---oo0oo---

BÀI LIÊN QUAN

Bảo Phúc bốn lần lừa người  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 76 xem)

Lễ lạy chính mình  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 208 xem)

Giặc là người thân  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 92 xem)

Tư tưởng yếu chỉ của Thiền tông  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 104 xem)

Ba phương pháp hành thiền chủ yếu  ( Giáo sư Minh Chi , 123 xem)

Thỏng Tay vào Chợ  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 112 xem)

Vài suy nghĩ về thiền tông Việt Nam  ( Trần Hồng Liên , 1963 xem)

Thiền  ( J.Krishnamurti - Minh Tâm dịch , 180 xem)

Tư tưởng thiền học qua chí nguyện lập đạo và hoằng hóa của Tổ sư Minh Đăng Quang  ( Hòa thượng Giác Toàn , 2884 xem)

Ngồi rách bồ đoàn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 464 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC