NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Nhạc Niệm Phật -

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Sa Di cao thọ giới

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 402 . Ngày đăng: 27/01/2018In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TẮC THỨ 21: SA DI CAO THỌ GIỚI.

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

Sa di Cao bẩm sanh dường như là một nhân vật huyền bí, trước nay chưa có ai biết ông từ đâu đến, sẽ đi về đâu, càng không ai biết quê hương của ông ở đâu, sư phụ là ai. Thậm chí, ngay đến pháp hiệu của ông, bạn bè cùng tham học với ông đều không biết được - mọi người chỉ biết ông họ Cao, nên gọi ông là “Sa di Cao”. Quanh năm suốt tháng ông vân du tham vấn khắp trong các tòng lâm, đến nỗi bàn chân sinh bệnh, bước đi tập tễnh. Thế là, con đường mây nước ngàn dặm dưới chân ông không có được một bước bằng phẳng - cuộc đời hành cước của ông từ đó luôn trở ngại vô cùng.

Năm nọ, ông từ Nam Nhạc Hằng Sơn xuống, bước thấp bước cao đi lên phía Tây Bắc cực kỳ gian nan. Ông phải đi đến Giang Lăng xa xôi hơn hai ngàn dặm để thọ giới.

Thọ giới, là một việc quan trọng nhất của một Tăng nhân. Nói một cách nghiêm túc, chỉ có thọ 250 giới điều cụ túc, mới có thể xem là một vị Tăng chính thức, mới có tư cách ra ngoài tham học.

Vốn dĩ, từ Hằng Sơn đến Giang Lăng có thể đi thuyền qua sông Tương xuôi dòng mà xuống đi ngang qua Hồ Động Đình 800 dặm, vào Trường Giang ngược dòng mà lên, tất có thể đến. Thế nhưng, chiếc thuyền tiền của này, một người xuất gia không có đồng tiền trong lưng há có thể thuê được sao! Vì thế, Sa di Cao vẫn phải dùng đôi chân chậm chạp của ông bước thấp bước cao, từng bước từng bước, để lần dò trên con đường vạn dặm kia. Ông qua sông Liên, vượt qua sông Tư, chẳng phải ngày một ngày hai mà từ trên đỉnh Nam Nhạc bên bờ sông Tương đến được dưới chân Dược Sơn ở Cảnh Nội - Vũ Lăng ( nay là Thường Đức) bên bờ sông Nguyên. Ông đang men theo một con suối nhỏ quanh co uốn lượn, tràn ngập ánh sáng thâm u và vang lên khúc nhạc thanh tĩnh, bỗng nhiên, trong con suối nhỏ phía trước truyền lại một giọng ngâm:

 Vũ Lăng dòng sông hẹp

Thuyền chèo vào rừng hoa

Chớ bảo trong suối thẳm

Thần tiên biết bao xa

Nước về gặp chướng xanh

Mây qua suối xanh râm

Ngồi đây nghe vượn hú

Tâm bỏ ngoài trần lao.

Một lão ông, chèo một chiếc xuồng con, xuôi dòng mà trôi. Người trong núi hoang mà có thể thuận miệng xướng lên một bài thơ “Vũ Lăng Phiếm Thuyền” của Mạnh Hạo Nhiên, hơn nữa, tình này cảnh này, không những phù hợp với ý của bài thơ, mà còn xảo diệu hơn là khế hợp với thiền ý ở trong thơ! Do đó chúng ta có thể thấy, lão ông này chẳng bình thường chút nào. Điều làm cho ta bất ngờ hơn đó là, ông lại hướng con thuyền nhỏ chèo đến chỗ Sa di Cao, dừng lại trước mặt Sa di, hỏi: “Nạp tử đi đâu vậy?”.

Tăng nhân thân mặt áo bá nạp (áo vá chắp) cho nên gọi là “Tăng nạp, nạp tử” Sa di Cao chào ông lão thần bí rồi nói mình muốn đến Giang Lăng thọ giới. Ông lão nói: ‘nạp tử hà tất phải bôn tẩu ngược xuôi, ở đây có nhục thân Bồ Tát xuất thế, có thể lên núi lễ bái?”

“A, thật sao?” Sa di Cao vội vàng hỏi dồn: “Nhục thân Bồ Tát mà ông nói, ở trên ngọn núi nào?”

Ông lão hỏi ngược lại: “Ngọn núi nào không ở được?”

Sa di Cao bỗng nhiên cảm nhận thiền ý cuồn cuộn táp vào mặt, ông bất giác sửng sờ: Đúng vậy, Bồ Tát ứng cơ mà hiển hiện, không ở đâu, và cũng không đâu mà không ở:

Đợi ông bình tĩnh lại, ở đó chỉ còn hình bóng của ông lão! Ông lão và ngay cả chiếc xuồng con cũng thế, đều như huyễn hóa, mất tiêu không còn tông tích. Thế nhưng, Sa di Cao dường như lại nghe được một chuỗi âm thanh ngâm tụng như có như không:

Một cọng cỏ giữa núi

Lập tức thành thuốc hay

Cứu người và giết người

Đều là thiền trọng yếu…

Bồ tát Văn Thù bảo Thiện Tài Đồng Tử đi hái thuốc, Thiện Tài lại về tay không, nói: “Theo con thấy, đồi núi mênh mông đều là thuốc, Bồ Tát bảo con hái cái gì?” Bồ Tát Văn Thù nói, là thuốc thì ngươi cứ hái về. Thiện Tài Đồng Tử tùy tiện hái một bó cỏ hoang, Bồ Tát Văn Thù đưa cỏ hoang lên nói: “Thuốc này cũng có thể giết người, cũng có thể cứu người.”

Sa di Cao bỗng nhiên hiểu rõ, núi này tên là Dược Sơn, nhục thân Bồ Tát mà ông lão thần bí nói đó chắc chắn ở trên núi này. Thế là, ông rẽ lên núi, đến đạo tràng của Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm, tại phương trượng Sa di Cao theo qui cũ, tham bái đường đầu Đại Hòa Thượng. Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm thoáng nhìn ông một cái ra vẻ rất bình thường hỏi: “Từ đâu đến?”

Sa di Cao nói mình từ Nam Nhạc đến. Đại sư Dược Sơn lại hỏi: “Đi đến đâu?”

Sa di Cao thưa: “Con đến Giang Lăng thọ giới.”

Đại sư Dược Sơn bỗng nhiên nổi sóng gió, hỏi: “Thọ giới để làm gì?”

Sa di Cao trả lời rất hay: “Để khỏi sống chết.”

Đại sư Dược Sơn lại không chấp nhận, nói một cách nghiêm nghị sắc bén hơn: “Có một người không thọ giới, cũng không có sanh tử để tránh. Ngươi có biết được không?”

Sa di Cao không lãnh hội được thiền cơ của Đai sư Dược Sơn, nên hỏi lại theo lẽ thường tình: “Nói như vậy, thì đầu tiên đức Phật Thích Ca Mâu Ni chế định những giới luật này có tác dụng gì?” Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm cười ha hả, chỉ vào đầu ông ta nói: “Sa di này chỉ được nhất thời nhanh miệng, nhưng lại chỉ nhặt nhãnh những lời thừa thãi của người ta mà thôi!”

Câu nói này, giống như một mũi tên bén, bắn trúng căn bệnh của Sa di Cao. Ông thình lình tỉnh ngộ, lễ bái mà lui.

Ông vừa chân trước bước ra, đệ tử lớn của Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm - Đạo Ngô Tông Trí đã chân sau bước vào phương trượng, đứng hầu bên cạnh sư phụ. Dược Sơn hỏi ông ta: “Gặp Sa di cà thọt vừa mới tới đây không?” thấy Đạo Ngô lắc lắc đầu, ngài nói tiếp: “Đáng tiếc, ngươi không gặp được, Sa di này tuy tuổi trẻ, nhưng lại rất có chí khí.”

Đạo Ngô biết sư phụ đang khen ngợi việc ngộ ra chân tánh của Sa di kia. Nhưng ông là một người vô cùng nghiêm khắc, ngay cả sư đệ của mình là Vân Nham Đàm Thành cũng không dễ dàng bỏ qua, vì sao lại có thể tùy tiện chấp nhận một Sa di nhỏ tuổi? Cho nên, ông thưa với Sư Phụ: “Không thể hoàn toàn chấp nhận được, còn phải khảo nghiệm lại mới có thể khẳng định.”

Tối hôm đó, Dược Sơn Duy Nghiễm lên pháp đường, gọi: “Sa di đến sáng sớm hôm nay đâu rồi?”

Sa di Cao nghe gọi, từ trong đại chúng đi ra, đứng ngay ngắn trước mặt Đại sư Dược Sơn. Đại sư Dược Sơn hỏi: “Ta nghe nói trong thành Trường An rất náo nhiệt, ngươi có biết hay không?”

Sa di Cao đương nhiên biết rõ, sư phụ không phải nói đến hoàng thành Trường An mà đang nói đến thế giới nội tâm. Vì thế, ông trả lời: “đất nước ta vẫn như vậy”.

Hay thay cho câu nước ta vẫn như vậy, hình tượng để nói rõ, thế giới nội tâm của ông rất ôn hòa, rất điềm tĩnh, rất an lành.

Đại sư Dược Sơn tiến thêm bước nữa: “Tâm bình lặng này của ngươi là nhờ đọc kinh mà có, hay là do tham vấn cao tăng mà được?”

Sa di Cao kiên quyết phủ định: “ Không phải nhờ đọc kinh mà có, cũng không phải do tham học mà được.”

Dược Sơn dần dần thắt chặt, hỏi dồn: “Nhưng, có lúc nhiều người không đọc kinh, không tham học. Vì sao họ không đạt được tâm bình lặng như ngươi?”

Đại sư Dược Sơn bốp chát ép người, thật ra là đang hướng dẫn một cách cao minh, ngài đem những con đường rẽ bốn phương tám hướng chặt hết, lấp hết, chỉ để lại cho bạn một con đường hướng thượng vượt thẳng lên ngàn dặm - con đường của Thiền ngộ. Ngộ và không ngộ phải xem nơi công lực và cơ duyên của bạn. Dưới sự bức bách kích thích chặt chẽ nghiêm mật của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, Sa di Cao lập tức khế nhập thiền cơ,trong tự tánh phát ra ánh sáng trí tuệ vô cùng đẹp đẽ: “Không thể nói họ không đạt được, chỉ là không chịu thừa nhận ngay lúc đó!”

Câu trả lời về Thiền yếu trong lúc bức bách này, khiến cho Dược Sơn Duy Nghiễm ngầm liên tiếp gật đầu. Ông quay đầu nhìn hai đệ tử lớn là Đạo Ngô, Vân Nham nói: “Không ngờ chứ gì? Sa di cũng có thể ngộ đạo.” Sau khi Sa di Cao khai ngộ không đi Giang Lăng thọ giới nữa, đặt hành lý xuống, ở lại Dược Sơn. Ông theo bên cạnh sư phụ, ngày đêm tham vấn tu tập, rèn luyện thiền đạo.

Một hôm lúc ngọ trai, không ngờ Đại Tông Sư Dược Sơn Duy Nghiễm là người chỉ đạo trăm ngàn thiền tăng tu tập lại đích thân đánh trống độ trai ( ăn cơm trưa). Thấy tình cảnh đó, tuy rất nhiều người hiểu rõ sư phụ đưa ra thiền ý lớn, nhưng lại không thể đối đáp. Họ đứng ngay ngắn bên ngoài nhà ăn, tiến thối lưỡng nan, không biết như thế nào mới phải. Sa di Cao đi đến, nhìn thấy sư phụ đánh trống, bèn tiện tay đưa bát cơm lên, co một chân nhảy lò cò, ông theo tiếng trống của sư phụ, vừa nhảy vừa đi vào trai đường. Đại sư Dược Sơn hiểu ý cười, rồi ném dùi trống xuống, ngớ ngẩn hỏi: “Là hòa thứ mấy?”

Sa di Cao đáp: “Hòa lần thứ hai.”

Đại sư Dược Sơn lại hỏi: “Thế nào là hòa lần thứ nhất?”

Hòa lần thứ nhất, là cảnh giới tuyệt đối của thiền, há có thể dùng ngôn ngữ trả lời sao!

Thế rồi, Sa di Cao múc một vá cơm trong thùng, đi ra trai đường - đói liền ăn cơm, mệt ngủ liền, chính là thiền yếu tự nhiên nhất.

Một hôm, Sa di Cao đi đến phương trượng cáo biệt sư phụ Dược Sơn. Đại sư Dược Sơn hỏi ông đi đến nơi nào?

Sa di Cao thưa: “Con chân tay chậm chạp, ở đây, lúc kinh hành (đi tản bộ trong lúc ngồi thiền) sẽ trở ngại cho đại chúng, không thể xuống ruộng lao động là liên lụy đến đại chúng. Cho nên, con thà đến bên đường dưới núi dựng một am cỏ, tiếp đãi nước trà cho những thiền khách qua lại, lên xuống trên núi.”

Dược Sơn sợ sự chứng ngộ của Sa di còn chưa hoàn toàn bước lên thật địa, nên khảo nghiệm thêm: “Việc lớn sanh tử, vì sao ngươi không đi thọ giới?”

Sa di Cao trả lời rất khí khái: “Biết được tự tánh này là xong rồi, còn gọi thọ giới gì nữa?”

Giới luật, tác dụng của nó là ngăn ngừa điều sai quấy. Người đã khai ngộ, trí tuệ thông suốt trời đất, mắt pháp nhìn suốt ba đời, tất cả hành vi cử chỉ đều sẽ tuân theo sự thật chắc chắn trong vũ trụ nhân sinh một cách tự nhiên như vậy, không cho cái gốc đi ngược với nhân duyên, lúc đó còn đi thọ giới thì có tác dụng gì?

Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm biết chân của Sa di đã thật sự chạm thật địa, nên dặn dò rất tha thiết: “Ngươi đã rõ đạo lý như vậy, đừng rời ta xa quá, ta cần gặp ngươi thường xuyên.” Sa di rời chùa, dựng một am cỏ trên đường rẽ xuống núi, làm một bếp trà, tùy duyên tiếp đãi người đi đường. Một thời gian sau, ông lên núi thăm sư phụ, giữa đường bỗng nhiên gặp trời mưa to, ông bị ướt như chuột lột. Dược Sơn thấy đồ đệ yêu quí của mình đến, vui vẻ nói: “Ngươi đến rồi.”

Sa di Cao đáp lại một tiếng dạ, rồi chào hỏi hai sư huynh Đạo Ngô và Vân Nham, đứng chung với họ, cùng hầu hạ hai bên sư phụ. Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm đột nhiên cơ phong sắc hỏi Sa di Cao: “bị ướt sao?”

Xem ra Đại sư Dược Sơn đang nói áo quàng của Sa di Cao ướt hết, nhưng thực ra Ngài đang hỏi thăm “cái kia” - tự tánh phải chăng cũng thấm ướt - bị cảnh duyên bên ngoài làm ô nhiễm, thay đổi theo cảnh bên ngoài.

Sa di Cao trả lời rằng: “Không đánh cái trống địch này.”

Thiền sư Vân Nham cũng có cảm hứng về Thiền, liền nói: “Da cũng không, đánh trống gì?”

Đại sư huynh Đạo Ngô làm sao chịu bỏ qua thiền cơ quí hóa này; đem cơ phong như điện chớp xán lạn đánh lại càng đẹp hơn: “Trống cũng không, đánh da gì?”

Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm tâm hoa nở rộ, vô cùng vui mừng, nói: “Hôm nay, có một làn điệu hay quá!”

Phong thái của thiền giả, hứng thú của thầy trò, đa dạng của cơ phong, hoạt bát của tòng lâm, từ đây có thể thấy một dấu chấm mới.

Liên quan đến thiền cơ: Thuyết giới

Phật giáo vốn dĩ không có giới luật, theo sự thành lập, phát triển, bành trướng của Tăng Đoàn mà cá rồng lẫn lộn, phàm thánh ở chung, mà có một số còn chưa ngộ pháp đắc đạo, tập khí chưa sửa đổi được, làm ra những việc trái ngược với thanh tịnh và tu hành thanh tịnh. Thế là, để ngăn ngừa và cấm chỉ những việc ác, đạo Phật đã tùy lúc, tùy nơi, tùy người, tùy việc, dần dần ban bố nhiều điều giới luật.

Đức Phật ở giữa hai cây Sa La ngoài thành Câu Thi La, quay đầu về phía Bắc, mặt hướng về phía Tây, nằm nghiêng bên phải, chuẩn bị nhập Niết Bàn. Lúc đó, thị giả A Nan đại diện cho toàn thể Tăng chúng thưa hỏi: “Lúc Đức Phật còn ở đời, chúng con lấy Phật làm Thầy. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, chúng con lấy ai làm Thầy?”

“Lấy giới làm Thầy.”

Đức Phật dạy, sau đó Ngài ngồi dậy với thanh âm trang trọng Ngài dạy tất cả mọi người: “Này các Tỳ kheo, sau khi ta nhập Niết Bàn, các ngươi phải tôn trọng giới luật như người trong đêm tối gặp đèn, như người nghèo được của báu. Bởi vì, giới luật chính là Thầy của các ngươi, giống như khi ta còn sống vậy. Giới luật là căn bản của sự giải thoát; giới luật, có thể sanh ra các loại thiền định, dẫn đến phát sanh trí tuệ giác ngộ. Này các Tỳ kheo, các ngươi nên giữ gìn giới luật một cách nghiêm khắc, chớ nên trái phạm. Chỉ cần giới luật còn trì giữ thì thiện pháp sẽ tự sanh; nếu như không giữ giới luật tức không thể sanh ra các công đức thiện: Vì thế, các ngươi nên rõ, giới, là công đức bậc nhất!”

Lấy giới làm Thầy, là lời di giáo của đức Phật.

Thế nhưng, trong lịch sử, có rất nhiều người lấy đấy làm lý do, khư khư bảo thủ, nói: “Giới Phật đã chế, không thể sửa đổi; giới Phật chưa chế không thể tăng thêm.” Những kiểu như thế, càng làm xuyên tạc bản hoài chế giới ban đầu của Đức Phật.

Lúc mới thành lập Tăng đoàn, để khuyến khích các Tỳ kheo giữ gìn cuộc sống thanh bần, đam bạc, chuyên tâm tu tập, Đức Phật đã quy định mỗi người chỉ có thể có một bộ y Ca Sa (bao gồm 3 chiếc: Ngũ y - y dùng thường ngày, Thất y - trang phục trong khóa tụng, Cửu y - trang phục đi ra ngoài). Một hôm, đức Phật bảo đại đệ tử ANa Luật đến một địa phương tìm hiểu tình hình tu tập của Tăng nhân ở đó. Thế mà ANa Luật một mực từ chối không chút do dự. Đức Phật biết trong số 10 vị đệ tử lớn của mình, ANa Luật là người trì giới nghiêm cẩn được coi là số một về truyền giới, sở dĩ ông ta từ chối mạng lệnh của mình, chắc chắn là có nguyên do. Đức Phật hỏi ông vì sao vậy? A Na Luật thưa: “Hiện nay là mùa mưa, thời tiết biến đổi thất thường giữa đường thường gặp mưa ướt. Con chỉ có một bộ Ca Sa, mưa ướt rồi không có y phục khô để thay. Mà y áo ướt sũng mặc trên người, không những rất khó chịu mà còn dễ dàng bị cảm lạnh. Ngài muốn con đến nơi xa xôi xem xét, đi về phải mất mấy ngày đường. Con sợ mưa ướt sinh bệnh, cho nên không muốn đi.”

Đức Phật cảm thấy A Na Luật nói rất có lý, liền quyết định: “Từ nay về sau, mỗi Tỳ kheo có thể có hai bộ y Ca Sa, dùng để thay đổi.

Chính vì Đức Phật sửa đổi giới luật một cách linh hoạt, thiện xảo như vậy mà làm cho giới luật càng thêm hợp lý, càng thêm phù hợp với tình hình mới. Vì mục đích của giới luật là để cho việc tu hành tốt hơn, giác ngộ nhanh hơn, không thể biến nó thành giáo điều đã thành lập là không thể sửa đổi.

Vì thế Sa di Cao sau khi khai ngộ, không đi thọ giới nữa - căn bản ông không phạm giới nữa, hà tất phải chạy theo hình thức?

Chính vì bắt nguồn từ tinh thần này, Phật giáo sau khi truyền vào Trung Quốc, các Tổ sư căn cứ trên tình hình Trung Quốc, sửa đổi một số giới luật tương ứng. Đặc biệt là sự thành lập “Bách Trượng Thanh Qui” của Đại sư Bách Trượng Hoài Hải, không những là tiêu chí để Trung Quốc hóa Phật giáo Ấn Độ, mà còn đặt cơ sở vững chắc cho bão táp đột tiến của Thiền Tông sau này.

Có một người thưa với Đức Phật rằng: “Con rất muốn xuất gia, nhưng nghe nói Tỳ kheo phải tuân giữ 250 điều giới luật (giới luật của Tỳ kheo Ni càng nhiều hơn, đến 348 giới), nhớ thì không nhớ được, sợ rằng bản thân không cẩn thận sẽ phạm giới, cho nên…”

Đức Phật bảo: “Nếu như ông thật sự muốn xuất gia, thì điều kiện rất đơn giản, không cần phí công để nhớ 250 điều giới luật kia, mà chỉ cần giữ 3 điều là được rồi.”

Người kia vô cùng vui sướng, vội hỏi ba điều đó là gì? Đức Phật bảo: “Thứ nhất, thân không làm điều xấu, hai là miệng không nói lời xấu, ba là tâm không nghĩ điều ác.”

Người kia nghe rồi cảm thấy chỉ giản đơn vậy sao! Liền vui vẻ xuất gia.

250 điều giới luật, thực ra nói chung chỉ là sự chia nhỏ của ba điều này mà thôi. Chỉ cần thân hành động đoan nghiêm, lời nói tốt đẹp, tâm ý chánh niệm, thì sẽ không trái với các giới luật khác.

Ba điều này còn có thể đơn giản hóa thành một câu nói: Chớ làm các điều ác. Nếu thêm một câu khác nữa thì đó là: Làm các việc lành, bạn chính là một vị đại Bồ Tát rồi.

Chớ làm các điều ác

Gắng làm các việc lành

Giữ tâm ý trong sạch

Đó là lời Phật dạy.

BÀI LIÊN QUAN

Tay mắt khắp thân  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 336 xem)

Trăng tròn rồi khuyết  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 332 xem)

Hạt huyết trong lò lửa  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 308 xem)

Rồng rắn lẫn lộn, Phàm Thánh ở chung  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 352 xem)

Lợi ích của Thiền hành  ( Bình Anson dịch , 319 xem)

Con Trâu Đất - Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung  ( Thượng tọa Thích Đức Thắng , 328 xem)

Văn Hỷ và Văn Thù  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 456 xem)

Người Trong Giếng  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 344 xem)

Khi ngày tận thế đến gần  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 355 xem)

Nói một trượng không bằng làm một thước  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 491 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC