NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Bạc Liêu: Lễ tưởng niệm Ni trưởng Thích nữ Châu Liên tại Tịnh xá Ngọc Lợi - TTTT PG Bạc Liêu

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Rồng rắn lẫn lộn, Phàm Thánh ở chung

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 602 . Ngày đăng: 30/12/2017In ấn

Thiền cơ liên tiếp: RỒNG RẮN LẪN LỘN, PHÀM THÁNH Ở CHUNG

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

Thiền sư Hoằng Bá Hy Vận là người Phúc Châu, tuổi nhỏ đã xuất gia làm một tiểu sa di. Sau khi thọ giới Ngài bắt đầu ra ngoài vân du. Mục tiêu thứ nhất của Ngài là núi Thiên thai ở Triết Giang.

Núi Thiên Thai là nơi Phật giáo sản sanh tông phái thứ nhất ở Trung Quốc – nơi đất lành phát sanh ra tông Thiên Thai. Đại sư Trí Khải (538 – 597) – đời xưng là Đại sư Trí Giả – tổ sư khai tông Tông Thiên Thai, từng ở nơi nay tu thiền, khế nhập Pháp Hoa tam muội, tâm khai đắc ngộ. Đại sư Trí Giả là một trong những Tăng nhân trước thuật phong phú nhất của Trung Quốc, viết tổng cộng được 29 bộ, 151 quyển. Chùa Quốc Thanh là tự viện quan trọng nhất của núi Thiên Thai vốn là chỗ tu thiền của Đại sư Trí Khải, năm thứ mười tám triều đại Khai Hoàng (598 TL) Phổ Vương Dương Quảng theo di nguyện của Đại sư Trí Khải mà kiến lập thuộc tổ đình của tông Thiên Thai.

Lúc đó, Hoàng Bá Hy Vận sở dĩ muốn hướng đến núi Thiên Thai là vì trong chùa Quốc Thanh có hai vị Tăng kỳ diệu: Hàn Sơn và Thập Đắc (xem tùng thư Thiền Cơ Đốn Sự tắc 24 đến 26). Suốt hành trình, ngài cứ đi mãi, không nghỉ, cuối cùng cũng đến được chân núi Thiên Thai.

Nhưng thấy trên núi thông tốt tươi đều đặn, cỏ cây um tùm, núi cao hùng tráng, cửa ngõ an lành, là thứ quý hiếm trong biển núi nghèo, đẹp đẽ tráng lệ, như cảnh tiên vậy. Hoa đỉnh phong nhô lên từ biển 1138 mét, các núi chụm lại với nhau, thế núi cao và dốc đứng cô lập, úp trong mây mù hư không như ẩn như hiện giống như một đang dãi mây vậy. Không biết rốt cuộc là nó có hay không, là rời rạc hay liên kết? Càng không thể biết nó có thông lên rơi thần tiên không hay là quê hương của mây trắng…

Người đời tìm đàng mây,

Đàng xa xôi không dấu,

Núi cao nhiều hiểm trở,

Khe rộng thiếu lung linh,

Trước ngọc trước và sau,

Mây trắng Tây và Đông,

Muốn biết con đường mây,

Đông mây tại hư không.

 (chùa Hàn Sơn)

Hoàng Bá Hy Vận cố gắng leo lên đỉnh Thiên Thai, xuyên qua rừng cây tươi tốt, rậm rạp dưới chân núi. Ngài gặp một người tướng mạo kỳ dị. Rời nhà vân du đến chân trời, Tăng nhân trong thiên hạ là một nhà. Nơi núi hoang gặp nhau tức là có duyên. Lúc chuyện trò bàn luận, hai người đều cảm thấy rất hoà hợp, dường như đôi bạn thân lâu ngày không gặp vậy. Duyên phận giữa người và người chính là kỳ quái như vậy, có một số người vừa gặp như đã quen lâu, thân mật không giới hạn. Mà có một số người gần nhau suốt đời lại như xa lạ. Hoàng Bá Hy Vận phát hiện hai mắt của vị Tăng kỳ lạ này tinh quang ánh lên, thu nhiếp hồn phách người ta. Có thể thấy công phu tu hành của ông ta không như người phàm.

Hai người nói chuyện thiền bàn luận đạo lý, vừa đi vừa nói, bất giác đã leo qua một ngọn núi cao, lồng lộn gào thét, chảy ngang thành sông. Sức nước lũ trong núi rất kinh người, đá lớn ngàn cân nó cuốn đi như viên nhỏ, huống hồ là người.

Hoàng Bá Hy Vận tự nhiên không muốn mạo hiểm lội qua, ông lấy gay trúc chống chóng trên đất, lấy nón trên đầu xuống, quán sát tình hình nước lũ. Vị Tăng kỳ lạ kia nói: “con khe nhỏ nhoi này sao đủ để ý”.

Hoàng Bá Hy Vận nói, nước trong khe núi thiên biến vạn hoá, nông sâu khó lường. Vị Tăng kia không hề để ý, nói rằng: “không ướt chân”.

Hoàng Bá bỗng nhiên cảm nhận được sự sắc sảo như núi cao dốc đứng, làn sóng trào dâng vậy: Lũ to bất ngờ, sóng trắng cuồn cuộn ngất trời, lại nói không ướt chân, thật là tràn đầy thiền ý! Đúng rồi, tự tánh của chúng ta không lay động, dù cho nước lũ (phiền não) bean ngoài cuồn cuộn, cũng không thể làm ướt nó nửa phân.

Thế là Hoàng Bá cũng dùng sự nhạy bén mà đối đáp: “Đã như thế thì, mời ông lội nước qua sông đi”.

Vị Tăng cười, tay xách ca sa, để lộ giày cỏ, đôi chân đạp trên bọt sóng nước, như đi trên đất bằng, từ từ đi qua bờ bên kia …

- Quả nhiên không ướt chân!

Vị Tăng qua đến bờ kia, quay đầu vẫy tay gọi Hoàng Bá: “Qua đây, qua đây!”

Hoàng Bá lại dừng chân, chửi: “Vốn dĩ ông là không ướt chân như vậy! Vốn dĩ ông là không ướt chân như vậy! Vốn dĩ ông chỉ là một kẻ chỉ biết độ cho riêng mình! Sớm biết như thế, ta đã chặt hai chân của ngươi rồi!”.

Vị Tăng kia nghe rồi, ngửa mặt lên trời than một tiếng dài: “Những ngày ta dạo chơi ở Trung Hoa rộng lớn, hôm nay gặp được một pháp khí đại thừa, tự than không được như thế, tự hổ không được như thế”.

Nói xong vị Tăng kia không còn thấy tăm hơi đâu nữa.

Năm thứ 24 niên hiệu Khai Nguyên của Đường Huyền Tông, chiếu lệnh các quận châu trong thiên hạ, mỗi nơi xây dựng một ngôi chùa lớn, liền lấy kỷ niên làm tên chùa, làm tên chùa chiền chính thức. Cho nên, những thành ở của Trung Quốc từ cấp vừa trở lên đều có một ngôi chùa Khai Nguyên. Chùa Đại Khai Nguyên ở Thuận Đức tỉnh Hà Bắc (nay là Hình Đài) chính là một trong những ngôi chùa Khai Nguyên xây dựng vào đời Đường.

Năm đó, chùa Khai Nguyên có một vị Tăng vân du, mọi người không biết ông ta từ đâu đến, càng không biết ông tu hành pháp gì, chỉ biết pháp hiệu của ông gọi là “Pháp Minh”. Kỳ thật nên gọi là “Pháp Âm”, bởi vì từ khi ông đến chùa Khai Nguyên ở lại, không hề giảng kinh, cũng không thuyết pháp, chỉ suốt ngày tụ tập với bọn rượu chè, cờ bạc chơi đến nổi phát cáu.

Lúc đó, ở ngay thời kỳ đất nước rất rối ren, xã hội bất an, lòng người lo sợ luôn cảm thấy giữ được buổi sớm không chắc giữ được buổi tối. Cho nên, có nhiều người sống qua ngày đoạn tháng, sống say chết mộng. Pháp Minh là một vị Thiền tăng, là một người xuất gia, một vị Hoà thượng trọc đầu, suốt ngày tụ tập với bọn người kia, thật giống con lừa từ trong chuồng cửu chạy ra, đương nhiên không được tín chúng hiểu. Hành vi cử chỉ của ông càng làm cho đồng đạo không đếm xỉa đến. Thiền sư Pháp Minh như ngây như dại, chẳng hề quan tâm đến ánh mắt lạnh lùng của mọi người, vẫn uống rượu, đánh bạc, vui chơi không mệt mỏi với bọn người kia. Như vậy, cổ nhân dạy: nơi rượu chè không có quân tử, nơi cờ bạc chẳng có ma tốt.

Nói ra cũng lạ, mặc dù Pháp Minh vừa dốt vừa biếng nhác, những người này lại rất nghe lời ông.

Cứ như thế mười mấy năm trôi qua, xã hội dần dần yên tĩnh lại. Một hôm, Pháp Minh nói với các Tăng nhân trong chùa: “Ngày mai ta phải đi rồi”.

Mọi người vốn dĩ rất ghét ông, càng không quan tâm ông sẽ đi về đâu, cho nên, những câu mọi người nói với ông đều chỉ cho qua chuyện thậm chí còn mừng thầm: ngươi đi càng sớm càng tốt.

Thế mà ngày hôm sau, chúng tăng vẫn không thấy ông chuan bị vân du hành cước. Ngay cả lũ bạn bè chó má sống vất vưởng bình thường giao du với ông đều đến đưa tiễn. Ong không những không thu dọn hành lý, ngược lại tắm giặt áo xống, kiết già đoan toạ. Đây lại là việc làm hiếm hoi nhiều năm nay chưa hề thấy. Pháp Minh nói với đại chúng: “Ta phải nói lời ca từ biệt với các ông rồi.”

Với tất cả mọi người lúc này mới rõ, ông ta tức là nhập diệt!

“Trước lúc gần đi, ta có mấy lời muốn nói với các Ông: “Thiền sư Pháp Minh dùng thần sắc trịnh trọng trước nay chưa hề có để nói với tất cả mọi người, liền đó ông ngâm tụng bốn câu kệ:

Bình sáng túng túng trong mê say

Mê say lại thây phân biết bày

Sáng nay tỉnh rượu nơi chốn ấy

Bên bờ dương liễu gió mai trăng tàn.

Dù thế nào nữa chúng ta cũng không ngờ rằng, ông suốt ngày say mèm, tự nhiên lại có thể xuất khẩu thành thơ, lại còn dự đoán đến việc chưa đến, từ trong khẩu khí của bài kệ, ông bình thường như say như dại, vậy mà đều là đóng kịch mà thôi! Kỳ thực, điều mà khiến người ta khó tin là mặt này Thiền sư Pháp Minh nở nụ cười ý vị sâu xa, thần bí, nhẹ nhàng ra đi!

Nếu không phải thường ngày co thể giờ giò phút phút làm chủ, làm sao có thể giải thoát như vậy!

Mãi đến lúc này, mọi người mới hiểu rõ , việc không chú ý ăn mặc, uống rượu đánh bạc của ông đều là du hí tam muội, Đặc biệt là những người bình thường cùng uống rượu đánh bạc với ông , bỗng nhiên nghĩ rằng, nhưng năm gần đây, trong số họ không có ai biến thành con ma rượu không có thuốc chữa, uống đến khi khuynh gia bại sản, không có con bạc nào đọa lạc thành kẻ không có việc ác gì mà không dám làm, thua đến vợ con ly tán. Những người này và sự ngang bằng chướng không thấy trong mờ ám của Thiền sư Pháp Minh, sẽ có biết bao nhiêu người nhiễm thói cờ bạc, thói xấu nát rượu, khó mà tự khống chế, không thể vượt qua, cuối cùng thì nhà tan cửa nát, thân tàn ma dại.

Đúng vậy, Người ta ngay sanh tử cũng đã nắm chắc, chúng ta có bản lĩnh đó không? Không có bản lãnh này mà cón dám lang thang trong sanh tử, sinh hoạt phóng đãng sao……..Đại cơ đại dụng của Thiền chính là bất khả tư nghĩ như thế. Vị tăng kì lạ này có thể đủ sức bay bổng lên trời cao, Đại sư Hoàng Bá lại không đáng nhìn, Bồ Tát Văn Thù thần thông hiển hóa, lại gặp phải gậy của Thiền sư Văn Hỉ đánh, Thiền sư Pháp Minh lộn xộn điên đảo, thanh danh bê bối, trong lòng lại rõ ràng, chuyển hóa được đại chúng vô hình.

BÀI LIÊN QUAN

Lợi ích của Thiền hành  ( Bình Anson dịch , 643 xem)

Con Trâu Đất - Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 612 xem)

Văn Hỷ và Văn Thù  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 1024 xem)

Người Trong Giếng  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 584 xem)

Khi ngày tận thế đến gần  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 615 xem)

Nói một trượng không bằng làm một thước  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 743 xem)

Ẩn cư trong núi sâu nơi càng sâu hơn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 3167 xem)

Thiền điện thoại  ( Làng Mai , 668 xem)

Núi xanh không trở ngại mây trắng bay  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 1167 xem)

Tranh chăn trâu Thiền tông  ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao dịch , 825 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC