NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Thay Đổi Quan Niệm Sống - Hòa thượng Giác Toàn

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Núi xanh không trở ngại mây trắng bay

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 393 . Ngày đăng: 07/06/2017In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TẮC THỨ 12: NÚI XANH KHÔNG TRỞ NGẠI MÂY TRẮNG BAY

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông là một môn đệ thư hương họ Hà xuất thân tại Lô Giang. Vì thế, thừ nho đã đọc được nhiều sách Thánh hiền, viết nhiều thi trù ca phú, mở miệng là chi hồ giả dã. Lúc Ngài mười tuổi, Phụ thân vào kinh dự thi, hội thi Tam Trường tiến sĩ tức đệ. Ngay lập tức có một văn bằng điều quan của Sử bộ, phụ thân liền lên ngựa đến nhậm chức ở huyện Nam An - Tuyền Châu - Linh Trung (Phúc Kiến). Sợ để Ngài ở lại quê nhà không ai quản thúc, bỏ bê việc học tập, phụ thân sai một người nô bộc về dẫn Ngài đến Tuyền Nam học tập. Ai ngờ, lần đi này của Ngài không phải đi vào học đường mà đi vào Phật đường – xuất gia làm chú tiểu.

Hôm đó, Phụ thân vì đến nơi bình an nên dẫn Ngài đến chùa dâng hương hoàn nguyện. Quan Phụ mẫu đến thăm, Hoà thượng trú trì đương nhiên rất lịch sự, đã phá lệ cho phép cha con họ tham gia khoá tụng hằng ngày của Tăng chúng. Họ theo sau một đám Tăng nhân đi vào điện Phật yên lặng đứng một hồi lâu bên bàn thờ Phật – yên tĩnh.

Một thiếu niên trẻ tuổi như Ngài, chưa từng có cảm giác yên tĩnh như thế này, không những sự uyên náo của thế giới bên ngoài ngừng lại mà ngay sự náo loạn của nội tâm cũng hoàn toàn bình lặng trở lại. Mà thứ yên tĩnh này không phải là chết lặng, không phải là ngưng trệ, không phải là sự đông cứng, mà tràn đầy sức sống. Lúc này, tâm của bạn rõ ràng có thể cảm nhận được, có một mạch nước ngầm đang lặng lẽ vận hành, lặng lẽ tích tụ. Trong sự tịch mặc tiềm ẩn tiếng sấm cuồn cuộn, nó dường như lúc nào cũng có thể nổ tung.

“Beng!”

Tiếng khánh lớn vang lên, tiếp đó, một âm thanh tự nhiên phá thinh không mà đến – “Nam – Mô”

Tiếng này giống như là tiếng vang gọi đến từ trung tâm của vũ trụ; tiếng này như tiếng líu ríu phát ra từ nơi linh hồn sâu thẳm; tiếng này dường như Ngài đã chờ đợi nó từ rất lâu, rất lâu, dường như từ lúc mới ra đời Ngài đã đang đợi nó đến … Ngài dường như bỗng nhiên nhận được dòng điện kích thích mãnh liệt vậy, làm cho sững sờ, đờ đẫn, ngẩn ngơ – Nhưng mà, Ngài lại có thể cảm nhận được một cách rõ ràng, một luồng khí từ trong những đốt xương sống xông lên phía trên, xuyên thẳng qua não tuỷ, xuyên ra ngoài vỏ não, cùng với thanh âm khát vọng từ trăm ngàn năm này hợp thành một thể…

Lúc đó, ngài ngổn ngang trăm mối, nước mắt dàn dụa, bất giác quỳ xuống…

Hôm đó, Ngài không đi theo phụ thân về nhà, bởi vì từ thời khắc đó trở đi, ngài đã hiểu rõ ở đây mới thật sự là nhà của mình. Ngài giống như kẻ du tử lưu lạc nhiều năm, nay đã trở về nhà của mình, tức không thể rời được nữa.

Thế là, học đường rộn rã tiếng đọc sách đã vắng đi một chỗ, trong chùa lại thêm một Sa di đuổi quạ nhỏ tuổi pháp danh là “Đạo Thông”.

Lúc đó, Mã Tổ Đạo Nhất gào thét xuất thế - tại núi Phật Tích ở Kiến Châu (nay là Kiến Dương) tỉnh Phúc Kiến khởi công xây dựng Tòng Lâm.

Tiểu Đạo Thông được chuyển đến chỗ của Mã Tổ, cùng với những hạt châu lớn nổi tiếng trong lịch sử của thiền tông như Huệ Hải, Chí Hiền,… ngài đã trở thành những người đệ tử đầu tiên của Mã Tổ. Hơn nữa, Đạo Thông lại luôn luôn đi theo bên cạnh Sư phụ, từ Phúc Kiến đến Giang Tây, từ núi Tây Lý ở Lâm Xuyên (nay thuộc Phủ Châu tỉnh Giang Tây) đến núi Cung Công ở Nam Khang (nay thuộc huyện Nam Khang tỉnh Giang Tây). Đi theo Sư phụ suốt ba bốn mươi năm, vì thế, công lực của Thiền sư Đạo Thông được tích luỹ sâu dày và rộng lớn thể tính kể được.

Lúc ngài gần năm mươi tuổi mới bắt đầu ra ngoài vân du. Lúc sắp đi, Mã Tổ Đạo Nhất bảo với ngài rằng: “Có một nơi, núi sông đẹp đẽ, cây cối tốt tươi. Nham thạch giống như viên ngọc đẹp màu tím ấm nhuần, rất có ích cho đạo nghiệp của con. Lúc nào gặp được nơi này, con có thể ở lại đó”.

Thiền sư Đạo Thông suốt đường cứ đi đi mãi, đầu thiền trượng gánh trăng sáng của Giang Nam, nón lá rách lợn lờ nơi khói mây Nam Nhạc, trong tay nải gói ghém sóng nước Giang Hán; dưới giày cỏ đầy hương hoa ở Kinh Lạc,…

Ngài giống như một đám mây trắng nhẹ nhàng, núi xanh không giữ lại được, cây xanh không thể ngăn trở, phiêu du tự do tự tại trong không gian vô cùng. Mùa thu năm nọ, lúc sương sớm ở Bắc phương chuyển những lá phong trở thành vàng rực, từ núi đồi khắp đến đồng hoang, Thiền sư Đạo Thông từ Lạc Dương đến Đường Châu, trong lúc bất giác ngoái đầu, nhìn thấy một toà núi cao ở phía Tây. Núi hiên ngang giữa trời, vẹt đất mà lên. Bốn bề vách núi cheo leo, núi cao hiểm trở dị thường, cỏ cây xinh tươi, vô cùng đẹp đẽ. Ngài hỏi thăm mọi người, mọi người nói với ngài đây là núi Tử Ngọc. Thiền sư Đạo Thông không ngăn được trống ngực liên hồi, vội vã leo lên núi. Ngài leo lên đến đỉnh núi, bỗng nhiên phát hiện trên đỉnh núi có một tảng đá to, vuông vắn, toả ra sắc tím óng ánh xuyên suốt!

“Đây là núi Ngọc tím!”.

Thiền sư Đạo Thông kinh ngạc la lên một tiếng, đương nhiên cũng đã hiểu rõ, ở đây toà núi Ngọc tím này chính là nơi Mã Tổ đã dự liệu huyền ký. Thế là, Ngài bèn ở lại nơi này, phát cây chặt gai, sắp đá làm tường, xây cất thiền xá. Không lâu sau, Thiền tăng nghe tiếng vân tập đến. Núi Ngọc tím ngày xưa hoang vu nay trở thành đạo tràng lớn đào tạo Long Tượng Thiền Môn.

Núi, nhờ người mà hưng thịnh, người nhờ núi mà được tiếng. Từ đó, Thiền sư Đạo Thông được tôn xưng là “Tử Ngọc” (Ngọc Tím).

Đương thời, Châu trưởng Tương Dương là Vu Thuần không tin Phật pháp, hạ lệnh ở trong phạm vi quản lý của ông ta, không cho phép Tăng Ni hành cước. Mỗi khi có vị Tăng vân du không biết điều lệ nhập cảnh, sẽ bị bắt đánh đập nặng nề, chỉ cần có thể tìm ra một tội cỏn con không đáng gì, liền bị chém đầu không tha.

Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông sau khi nghe được chuyện, muốn tìm đến cửa quan để hoá giải tai nạn này.

Lúc vừa xuất phát, có đến mười người hùng dũng oai phong đi theo Thiền sư Đạo Thông. Một đoàn trượng phu khí phái ung dung đi làm việc nghĩa, kiên cường bất khuất vì nghĩa lớn. Thế mà vừa đến địa giới Tương Dương, mấy người kia lại mỗi mỗi tìm ra các lý do khác nhau, kiếm cớ không đi nữa.

Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông mỉm cười, một mình bước vào con đường Tương Dương đầy nguy hiểm.

Ngài vừa mới nhập cảnh, đã bị một đám quân binh bắt lại, một cái gông dùng cho phạm nhân tử tội, đột nhiên bị đeo lên trên cổ của Ngài. Thiền sư Tử Ngọc bị áp giải đến thành Tương Dương, đưa vào trong nha phủ, áp giải đến trước mặt Vu Tướng Công.

Vu Địch uy phong lẫm lẫm ngồi trên toà cao, một tay đè chuôi kiếm, hét lớn: “Ê đồ lừa, lẽ nào nhà ngươi không biết ta nắm quyền sanh sát trong tay ta sao?”

Thiền sư Tử Ngọc cười ha hả, nói: “Ngươi có biết Pháp vương không sợ sống chết không?”.

Trên đời, sức uy hiếp lớn nhất đối với con người đương nhiên là sự sống chết, tồn vong. Nhưng mà đối với một người không còn sợ sống chết mà nói, nếu lấy cái chết mà uy hiếp thì không ăn nhằm gì.

Sắc mặt Vu Tướng Công hơi ôn hoà một tí, hỏi rằng: “Hoà thượng, trên đầu ông vẫn có lỗ tai đấy chứ?”

Ý của ông ta là: Lẽ nào ông chưa từng nghe tiếng ta là người chuyên môn đối địch với Tăng nhân sao?

Thiền sư Tử Ngọc nói: “Lông mày không che khuất tầm mắt, Bần Tăng và Tướng Công gặp nhau, lẽ nào có gì chướng ngại sao?”.

Tay của Vu Tướng Công cuối cùng cũng buông chuôi kiếm ra. Ông ta liếc nhìn rồi hỏi: “Trong kinh Phật (phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa), nói: ‘Gió đen thổi thuyền của nó trôi vào nước La Sát’. Câu nói này phải chăng là thật? Đại Hoà thượng, ngươi đã là cao tăng đắc đạo, xin ông hãy cho tôi xem thế nào là ‘trôi vào nước Quỷ La Sát?’”.

La Sát (tiếng Phạn là raks! asa), là tên gọi chung cho tất cả ác quỷ thuộc ác ma trong thần thoại Ấn Độ. Mặt mũi của nó hung dữ đáng sợ, bẩm tánh rất tàn ác, chuyên ăn máu thịt người. Đã là thần thoại, làm sao có thể biến hiện? Vu Tướng Công dùng vấn đề này, đặt Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông vào giữa hai cái khó. Đúng vậy, nếu ngươi không thể xem thần thoại hư vô huyền ảo biến thành cảnh tượng chân thật, thì không có cách gì khiến cho người ta có cảm giác được sự tồn tại của nó, như vậy chứng tỏ những điều kinh Phật nói đều không phải là chân lý!

Thiền sư Tử Ngọc hai mắt khép nhẹ, im lặng không nói.

Vu Tướng Công thấy Ngài không đối đáp gì, trên mặt lộ vẻ vừa chế nhạo, vừa cười đắc ý…

Nhưng mà, ngay lúc ông ta đắc ý quên hình, bỗng nhiên nghe một tiếng hét của Thiền sư Tử Ngọc, hung dữ quát mắng: “Vu Địch, ông là kẻ ngốc nghếch vô tri, ngu xuẩn nhất trong thiên hạ, hỏi việc này để làm gì?”

Vu Tướng Công vô cớ bị mắng chửi làm nhục, đương nhiên lửa giận bốc lên, phẫn nộ biến sắc. Chỉ thấy bộ mặt ông ta biến dạng, hai mắt lộ vẻ hung dữ, bặm môi, nghiến răng, tức giận vô cùng, sát khí đằng đằng đứng phắt dậy. Soạt một tiếng, lưỡi kiếm dài lạnh toát được rút ra, từng bước, từng bước tiến dần đến Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông… Thiền sư Tử Ngọc lại một mực bình tĩnh, lấy tay chỉ ông ta, cười nói: “Tướng Công, ông xem, đây chính là ‘trôi vào nước Quỷ La Sát’”.

Vu Tướng Công không khỏi giật mình, dừng bước. Đúng vậy, sắc mặt của mình hung dữ, ánh mắt tàn ác, không phải chính là quỷ la sát hay sao? Nghĩ đến đó, thanh kiếm trong tay ông ta liền nhẹ bỗng vô lực rơi xuống.

Là người, là quỷ, tất cả đều tại lòng người. Một niệm ôn hoà lương thiện tức là thế giới cực lạc; Một niệm tà ác sân hận, đoạ vào nước quỷ la sát!

Vu tướng Công không cam tâm, đã là quỷ phải làm khó cho Tử Ngọc ngươi mới được, thế là ông liền hỏi: “Thế nào là Phật?”. Không ngờ, Thiền sư Tử Ngọc liền gọi: “Vu Tướng Công!”

Vu Tướng Công chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ đáp theo bản năng. Thiền sư Tử Ngọc liền nói tiếp: “Không cần tìm cầu đâu khác”.

Cái gì, ta chính là Phật? Lẽ nào, ta thật sự có thể thành Phật? Lẽ nào, ta thật sự là Phật?

Vu Tướng Công dường như suy nghĩ, dường như có chút tỏ ngộ, lo lắng hốt hoảng, trong lòng rỗng rang, sáng suốt….

Từ đó, ông ta đổi khuôn mặt La sát thành lòng dạ Bồ tát, chính thức lễ bái dưới toà Thiền sư Tử Ngọc, học Phật, tham thiền, dần dần ngộ đạo, hết lòng hộ trì Phật giáo.

Đệ tử của Tổ sư Thạch Đầu Hy Thiên - Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm sau khi biết được việc này không tiếc nuối than rằng: “Aí chà, đáng tiếc, hán tử họ Vu sống vùi trong núi Tử Ngọc rồi!”.

Vu Tướng Công nghe câu này, lập tức từ Hồ Bắc đi ngược xuống Hồ Nam, lên núi Dược Sơn, đến bái kiến Đại sư Duy Nghiễm. Dược Sơn Duy nghiễm hỏi: “Nghe nói Tướng Công làm Phật sự lớn ở núi Tử Ngọc, phải không?”

Vu Tướng Công khiêm tốn nói: “Không dám!”, rồi nói tiếp: “Nghe nói, Ngài có lời cứu độ cho con, hôm nay con đặc biệt đến tham bái”.

Dược Sơn Duy Nghiễm nói: “Ông có nghi hoặc gì đều có thể hỏi tất?”

Vu Tướng Công hỏi lại câu cũ: “Thế nào là Phật?”

Dược Sơn hét lớn: “Vu Địch!”

Vu Tướng Công lanh lẹ, máy móc trả lời: “Có!”.

Dược Sơn nhanh như chớp hỏi tiếp: “Là cái gì?”

Vu Tướng Công đột nhiên đại triệt đại ngộ!

Ông ta trở về núi Tử Ngọc sám hối với Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông rằng: “Đại Hoà thượng từ bi vô hạn, đã nhiều lần chỉ thị cho con tức tâm tức Phật, chỉ do con trước nay không dám thừa nhận”.

Thiền sư Tử Ngọc đi xuống pháp toà, khoác tay ông ta cười lớn: “Trượng phu tự có chí xung thiên, khói mây trong tam giới đợi rảnh để xem”.

Có một vị Thiền tăng thông minh liền hỏi: “Thế nào là ra khỏi được Tam giới?”.

Tam giới, tức là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Ba giới này là thế giới qua lại của sanh tử, ra khỏi ba cõi tự nhiên đạt được giải thoát triệt để. Nhưng mà, từ góc độ thiền mà nói, tam giới vốn là không, vốn không có người, thì ra khỏi cái gì? Vì vậy, Thiền sư Tử Ngọc hỏi lại: “Ông ở trong tam giới bao lâu rồi?”.

Vị Tăng kia mơ hồ chưa ngộ, hỏi tiếp: “Rốt cuộc thì làm sao ra khỏi?”

Thiền sư Tử Ngọc nói ra một câu tuyệt xuất thiên cổ:

“Núi xanh không ngăn mây trắng bay!”.

Liên quan đến thiền cơ: Hư Vân Giáo Hoá Căn Nguyên.

Thiền sư Tử Ngọc dùng trí tuệ và cơ trí của thiền giả để nhiếp phục Thái thú Tương Dương Vu Địch Tướng Công cường bạo hung ác, dường như có phần mang sắc thái truyền kì. Nếu nói, thời gian ngàn năm ngăn cách sự giao lưu trực tiếp giữa chúng ta và người xưa, vậy thì câu chuyện Đại sư Hư Vân cao tăng thời cận đại giáo hoá dẫn dắt tướng quân Căn Nguyên, có thể khiến chúng ta tai nghe mắt thấy phong thái truyền thừa liền một mạch từ xưa đến nay của các Thiền sư.

Cuối triều nhà Minh, xã hội rối ren, phong khí ngày càng xuống dốc, trong cửa Phật tự nhiên cũng long xà hỗn tạp, cho nên khó tránh khỏi có một số người giới luật lỏng lẻo, hành vi bại hoại. Một viên phân chuột cũng đủ làm thối một nồi canh ngon. Vì thế, sau khi dân quốc kiến lập, khắp nơi trong cả nước sự tình đuổi Tăng phá chùa thỉnh thoảng xảy ra.

Lúc đó, tướng quân Lý Căn Nguyên nhậm chức Tổng trưởng quân chính kiêm Tham Nghị Viện, Viện Trưởng tỉnh Vân Nam hận tận xương cốt những hành vi trái pháp của Tăng đồ, bèn đưa ra tên gọi “Túc Thanh Xã Hội”, khai đao với toàn bộ Tăng Ni, Tự viện trong toàn tỉnh. Đương thời, lão Hoà thượng Hư Vân đang trú trì tại chùa Chúc Thánh ở núi Kê Túc, Tân Xuyên tỉnh Vân Nam. Tướng quân Lý Căn Nguyên nghe nói vị Hoà thượng nầy rất có tiếng tăm trong cả nước cho đến toàn vùng Đông Nam Á. Quốc Vương, Vương Hậu Thái Lan từng quy y với Ngài, ngay Từ Hy Thái Hậu, Hoàng Đế Quang Tự cũng đã từng quỳ lạy Ngài, Ngài còn được triều đình nhà Thanh sắc phong. Ngay tên gọi chùa Chúc Thánh ngôi chùa Ngài trú trì cũng do Hoàng Đế nhà Thanh ngự ban. Ông ta nghĩ: Một Hoà thượng nghèo hèn vì sao lại có ảnh hưởng lớn như vậy? Trong đó nhất định có trò ma quỷ gì đây! Thế là, ông ta đích thân dẫn quân đội, sát khí đằng đằng, từ Côn Minh tiến trẳng về núi Kê Túc.

Các vị tăng ở núi Kê Túc, tay không tấc sắt, thân không có gan giết lấy con gà, chỉ có thể chiến đấu không tới một ngày. Chúngđệ tử khuyên lão Hoà thượng Hư Vân nhanh chóng chạy trốn, lão Hoà thượng lại hỏi: “Có thể chạy thoát sanh tử không?”

Tháng tám, quân đoàn hổ lang của Lý Căn Nguyên bắt đầu đến núi Kê Túc, tiến đóng ở chùa Tất Đàn, bắt đầu những hành động điên cuồng trước nay chưa hề có: Đuổi hết Tăng nhân, phá bỏ chùa chiền, chặt phá tượng Phật, thiêu đốt kinh sách,… Trong tình hình khẩn cấp như vậy, lão Hoà thượng Hư Vân một mình đi đến chùa Tất Đàn nơi Lý Căn Nguyên chiếm đóng, đi thẳng đến Vạn Thọ điện nơi ông ta lấy làm bộ chỉ huy. Lúc đó, tướng quân Lý Căn Nguyên đang hội kiến với Án Sát sứ Tứ Xuyên trước đây là Triệu Phiên. Triệu Phiên và Hoà thượng Hư Vân là chỗ thâm giao, nên vội vàng đứng dậy, lịch sự thưa hỏi lão Hoà thượng đến đây có việc gì? Hoà thượng Hư Vân nhân cơ hội đó nói rõ mục đich đến. Trước mặt Triệu Phiên, Lý Căn Nguyên không tiện lập tức hạ lệnh bắt Hoà thượng Hư Vân, bèn đạp bàn giận dữ: “Phật giáo các ông có ích gì cho bá tánh? Có ích gì cho xã hội?”

Lão Hoà thượng Hư Vân không lo lắng, từ tốn nói: “Từ bi của Phật giáo là tấm lòng, phương pháp tế thế lợi dân của Phật giáo là giáo hoá lòng người, bỏ ác hướng thiện. Tâm là cái gốc của vạn sự vạn vật. Cái gốc được nay thẳng tức vạn sự được thuận tiện hanh thông, vạn vật được an ổn; Tiến đến làm cho thói dân hiền hoà, xã hội an ninh, thiên hạ thái bình”. Lý Căn Nguyên nghe những lời này, khẩu khí có phần hơi ôn hoà, chỉ vào tượng Phật trong đại điện, nói: “Cần những pho tượng xi măng, gỗ chạm, đồng đúc này để làm gì? Lãng phí tiền tài của xã hội”.

Thiền sư Hư vân nói: “Vốn dĩ Thiền tông chúng tôi, lúc Mã Tổ Đạo Nhất sáng lập tùng lâm không xây dựng điện Phật. tức tâm tức Phật, tâm là Phật; Tâm, Phật và chúng sanh ba thứ này đều không sai khác. Sở dĩ sau này trong tòng lâm xây dựng đại điện hùng vĩ, thờ phụng tượng Phật trang nghiêm cũng vì để đáp ứng cho xã hội, giáo hoá dân chúng”.

“Câu này giải thích như thế nào?”

“Tướng để biểu thị cho Pháp; Tượng Phật cao lớn trang nghiêm có thể khiến cho người ta phát tâm cung kính, nể sợ. Con người nếu không có sự kính sợ, chắc chắn chẳng có việc ác nào mà không dám làm! Thói đời, tất nhiên mỗi ngày mỗi đi xuống! Hơn nữa, theo lễ nghi thế tục mà nói, tượng Phật và Bồ tát này cùng với sự thờ cúng bài vị Tổ tiên, tượng vẽ Thánh Diện cũng có thể làm cho chúng ta không thể quên đi quá khứ, khiến cho tâm chúng ta có chỗ trở về, công hiệu của nó không thể nghĩ bàn. Ngay nơi bản thân Phật giáo của chúng ta mà nói, Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đích thân nói ra trong ‘kinh Kim Cang’ rằng: “Tất cả những gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng không phải là tướng tức là thấy Như Lại!”

Lý Căn Nguyên bất giác gật gật đầu, mời Hoà thượng Hư Vân ngồi xuống, bảo binh lính dâng trà. Sau đó, ông ta lại hỏi: “Nhưng, vì sao có những vị Hoà thượng làm việc rất tốt, ngược lại còn làm rất nhiều việc xấu, trở thành ký sinh trùng của dân chúng, phế vật của nước nhà?”.

Lão Hoà thượng Hư Vân không khỏi mỉm cười, nói: “Xưa nay đều có rất nhiều tú tài chẳng ra gì, nhưng hoàn toàn không thể vì đó mà mắng chửi Khổng Tử, càng không thể vì thế mà trừng phạt tất cả những kẻ ăn học. Còn nữa, Lý tướng quân, ông rất ngay thẳng, đúng đắn, quân đội do ông thống lĩnh tuy nhiên có kỷ luật nghiêm minh, nhưng tuyệt đối không thể không có những binh lính cá biệt có những hành vi hung ác, ức hiếp bá tánh, lẽ nào lại vì đó mà giải tán quân đội, chém giết tướng quân? Cũng vậy, Tăng đoàn cũng là hiền ác không đều, không thể vì những Tăng nhân phạm pháp mà phế bỏ toàn bộ Tăng chúng. Biển không chê cá, tôm, do nó dung chứa tất cả mà thành biển lớn; Đất không chê nhơ bẩn vì nó bao chứa tất cả mà thành dày sâu. Lý tướng quân có cho là như vậy không?”

Trên mặt Lý tướng quân mây vẹt sương tan.

Ngày hôm sau, ông ta đích thân đến Thiền tự Chúc Thánh, nơi ở của lão Hoà thượng Hư Vân để thăm viếng, và theo chúng tăng tụng kinh ăn chay, tham thiền và còn bái Hoà thượng Hư Vân làm Thầy, khẩn cầu Đại sư truyền Tam quy cho ông ta (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng), trở thành một vị cư sĩ thành tín. Lúc sắp xuống núi, tướng quân Lý Căn Nguyên làm một bài thơ tặng ân sư:

“Lau bay ngày mưa mát,

Đá vang đêm gió mây,

Sách xưa ngàn vạn quyển,

Cổ tích mực bao vây.”

(Lô phi thanh trú vũ,

Thạch hưởng dạ đằng phong.

Tàn thư thiên vạn quyển,

Cổ tích mặc oanh oanh.)

Lão Hoà thượng Hư Vân cũng có một bài kệ tặng lại:

“Ba cõi bất an là hầm lửa

Ở đâu an ổn để an cư

Như Lai thị ngã nghĩa chân thật

Ma ma Phật Phật đều như nhau”.

(Tam giới vô an thị hỏa trạch,

Cánh vu hà xứ khả an cư.

Như Lai thị ngã chân thật nghĩa,

Ma dã như liệt Phật giả như).

BÀI LIÊN QUAN

Tranh chăn trâu Thiền tông  ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao dịch , 281 xem)

Vừa quay đầu nhìn Linh Quang chợt hiện  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 483 xem)

Thực hành thiền, ứng dụng và phổ biến phương pháp giáo dục Phật giáo trong xã hội hiện đại  ( Sư cô Tiến sĩHằng Liên , 396 xem)

Quy Tông Chém Rắn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 656 xem)

Khế Ngộ Tự Ngã  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 928 xem)

Vô Thanh Sắc Tướng  ( Lê Huy Trứ , 26308 xem)

Hạt Giống Nảy Mầm-Thiền  ( Nguyễn Trường Giang , 27680 xem)

Vấn đáp Thiền và Phật pháp  ( Hòa thượng Thích Duy Lực , 1378 xem)

Thiền - Giấc ngủ an lành  ( Trần Quê Hương , 1317 xem)

Duy Chính đấu với Nam Tuyền  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 1140 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC