NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Thay Đổi Quan Niệm Sống - Hòa thượng Giác Toàn

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Người Trong Giếng

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 74 . Ngày đăng: 05/12/2017In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TẮC THỨ 16: NGƯỜI TRONG GIẾNG

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch một trong những người sáng lập ra tông Quy Sơn, ngài bẩm tánh rất kiên cường và có ý chí. Để tỏ rõ lòng quyết tâm xuất gia đối với cha mẹ mình, ngài đã không chút do dự cầm dao thái rau chặt hai đầu ngón tay. Ngài tuổi trẻ, lúc còn là một Sa di nhỏ, đã trèo đèo lội suối, trăm cay ngàn đắng đi tham học khắp nơi trong chốn tòng lâm.

Các Thiền tăng xưa vân du Bắc Nam sông lớn, trong ngoài Trường thành, vào hang sâu lên núi cao đều nhờ hai bàn chân. Những gian nan hiểm trở có thể nghĩ đến mà biết được. Một đôi giày cỏ, trải qua ngàn dặm quan san. Một bình bát đựng đầy buồn vui tuổi trẻ. Đầu gậy treo trời trăng, ca sa đắp sương gió, bụng đói hái cỏ hoa, núi sông làm bạn lữ…

Huệ Tịch rốt cuộc tuổi vẫn còn rất trẻ, vì nhiều năm bôn ba quá lao nhọc, khiến chân ngài đã bị tàn tật, thành một Sa di bị cà thọt. Nhưng ngài vẫn không chịu nghỉ ngơi, vẫn kéo lê chân đau, đạp trên ngàn dặm trường. Năm đó, ngài từ Quảng đông đi đến Hồ Nam leo lên núi Thạch Tương ở Đàm Châu.

Núi Thạch còn gọi là núi Sương Hoa, nằm cách huyện Lưu Dương Hồ Nam về phía Tây Nam 46km, phía Nam giáp Lễ Lăng, phía Bắc giáp Động Dương. Chùa Sùng Thắng trên núi, là một tổ đình Thiền Tông nổi tiếng. Đời nhà Đường, Thiền sư Khánh Gia dừng lại đó hai mươi năm hoằng dương pháp thiền. Năm Bảo Nguyên thứ hai niên hiệu Nhân Tông đời Bắc Tống( 1039 Tây lịch) Sở Viên Thiền hoằng dương tông phong Lâm Tế ở núi này, khai mở ra thời kỳ toàn thịnh của tông Lâm Tế. Môn hạ của Ngài lại phát triển thành hai phái Hoàng Long và Dương Kỳ, và cuối cùng đã hoàn thành cơ cấu Ngũ Gia Thất Tông của thiền tông Trung Quốc.

 Huệ Tịch đến núi Thạch Sương còn sớm hơn Đại sư Kháng Gia mấy mươi năm. Lúc đó chùa Sùng Thắng vừa mới sáng lập, Thiền sư Tánh Không đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải lần đầu tiên đem hạt giống thiền gieo rắc trên mảnh đất thần kỳ này. Thiền sư Tánh Không vừa gặp Huệ Tịch đã rất coi trọng, bảo làm thị giả cho mình để tiện ngày đêm rèn luyện.

Một hôm một vị Tăng vân du lên núi, hỏi Thiền sư Tánh Không rằng: “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây Trúc đến?”

Thiền sư Tánh Không trả lời: “Giả như có một người rơi vào giếng khô sâu đến ngàn trượng, không thể nhờ công cụ như dây thừng, mà có thể đem người nay ra khỏi giếng, lúc đó ta sẽ nói cho anh ta ý của Tổ sư từ Tây Trúc đến”.

Đáng tiếc, vị Tăng này không khế nhập Thiền yếu trong lời khai thị của Thiền sư Tánh Không, ông ta nghĩ rằng: đưa ra vấn đề tai quái xảo trá như thế, chẳng qua cũng chỉ có ý kéo lằng nhằng, có dính dáng gì đến thiền đâu. Thế là , mặt lộ vẻ giận dỗi, nên chẳng khách khí nói rằng: “Gần đây, Hồ Nam có một vị Hoà thượng thông suốt xuất thế, cũng kéo đông kéo tây vô cùng vô tận như Ngài vậy”.

Thiền sư Tánh Không quay đầu lại, nói với Huệ Tịch: “Tiểu Sa di, kéo xác chết này đi đi!”

Một người, nếu như không có trí tuệ thì giống như một cái xác biết đi không có linh hồn!

Tuy Huệ Tịch kéo vị Tăng dốt nát từ trong phương trượng ra ngoài, nhưng bản thân lại rơi vào trong giếng – Ông cũng không hiểu gì cả, không biết ý chỉ của công án “Người trong giếng” của Thiền sư Tánh Không. Ông cảm thấy nghi ngờ, suy nghĩ mãi mà không hiểu được, vừa như rơi vào trong giếng khô sâu thẳm vậy. Từ đó về sau, Huệ Tịch thật giống như người sống sờ sờ lại bị nhốt trong giếng khô vậy, ông quên ăn, mất ngủ, ngày suy đêm nghĩ khổ công tham cứu, làm thế nào để có thể thoát từ trong giếng ra….

Huệ Tịch lại lên đường, vốn dĩ ông chỉ bị thọt một chân nhưng hiện tại lại mang thêm một mối nghi hoặc lớn – làm sao trong tình huống không dùng dây thừng mà có thể ra khỏi giếng sâu ngàn trượng?

Ông nghe nói, Thiền sư Đam Nguyên làm thị giả cho Quốc sư Huệ Trung nhiều năm, đạt được pháp yếu của Quốc sư, ông còn đã từng thân cận với Mã Tổ Đạo Nhất, sự sắc sảo của ông làm cho Mã Tổ rất khen ngợi. Thế là, lúc bái yết Đam Nguyên, ông không vội vàng trần thuật lại công án “người trong giếng”, mà hỏi rằng: “Không dùng công cụ, làm thế nào mới có thể cứu người ra khỏi giếng?”.

Thiền sư Đam Nguyên chẳng nói lời nào, đứng dậy đi ra ngoài.

Kỳ thực, sự không trả lời của Thiền sư Đam Nguyên đã là câu trả lời tốt nhất. Nếu đem ba cõi sáu đường trong luân hồi sanh tử ví với giếng sâu ngàn trượng. Vậy thì ba cõi vốn không, sáu đường cũng không thực có, có gì phải ra hay không ra khỏi? Cho nên, Thiền sư Đam Nguyên lấy việc thong dong tự tại đi ra ngoài để biểu thị cho Thiền cơ tinh diệu.

Nhưng, Tiểu Huệ Tịch chưa lãnh ngộ, cảm thấy nghi ngờ không hiểu cử chỉ của Thiền sư Đam Nguyên bèn đi theo sau lưng Thiền sư hỏi thêm lần nữa. Thiền sư Đam Nguyên quay đầu lại, la mắng: “Nhỏ ngốc này, ai ở trong giếng?”.

Lời mắng như sét nổ ngang tai, như một chùm sánh sáng mạnh, bỗng nhiên chiếu đến chỗ đáy sâu của giếng, nhưng tâm linh Huệ Tịch vẫn rơi vào nơi thâm sâu trong phân biệt đối lập như cũ, chẳng thể nào nương theo tia sáng mà lên.

Ông cáo biệt Thiền sư Đam Nguyên, đi về núi Đại Quy.

Đương thời, Tổ sư Linh Hựu ngồi ngay ngắn trên đỉnh núi Đại Quy, hoằng dương thanh âm Bát Nhã của cành thứ nhất trong “Nhất Hoa Ngũ Diệp” của Thiền tông Trung Quốc. Huệ Tịch đến kịp thời, hai thầy trò họ cuối cùng đã cùng nhau sáng tạo ra tông phái thứ nhất của Thiền tông Trung Quốc. Hôm đó, Huệ Tịch ở lại núi Đại Quy lập tức đến phương trượng thỉnh giáo Quy Sơn Lão Nhân: “Như thế nào mới có thể đem người trong giếng ra?”.

Đại sư Quy Sơn Linh Hựu đột nhiên hét một tiếng lớn: “Huệ Tịch”.

Tiếng hét này kinh thiên động địa, khiến người ta bất ngờ không kịp đề phòng, toàn thân Huệ Tịch lanh lợi, chợt rùng mình trả lời bằng bản năng: “Dạ”. Đại sư Quy Sơn Linh Hựu vỗ tay cười lớn, lấy ngón tay chỉ Huệ Tịch, nói: “Người trong giếng ra rồi!”

Huệ Tịch hốt nhiên đại ngộ! Người tu thiền, luôn muốn lìa mê được ngộ, nó gấp rút như bị nhốt trong giếng khô sâu ngàn trượng vậy. Kỳ thực, tâm nhạy bén không mê muội của chúng ta chưa từng bị mê mờ, cần gì phải ngộ! Cho nên, không cần phương tiện (dây thừng) liền có thể thoát khỏi sanh tử (giếng khô). Huệ Tịch, sau khi khai ngộ, hành vi cử chỉ khác trước rất nhiều. Một hôm, Hoà thượng thủ tòa đưa phất trần lên nói với chúng tăng: “Ai có thể nói ra được đạo lý, ta cho người đó phất trần?”

Huệ Tịch đi đến, thưa rằng: “Con có thể nói ra được đạo lý, đưa nó cho con được không?”

Thủ tòa nói: “chỉ cần ngươi nói ra được đạo lý thì có thể được phất trần”. Huệ Tịch chẳng nói câu nào, đưa tay ra đoạt lấy phất trần – đây chính là “đạo lý” của ông ta!

Có hai thiền khách cũng từ cũng Thạch Sương vân du mà đến. Tuy Huệ Tịch chưa từng gặp mặt họ nhưng luôn cảm thấy khá thân thiết, nhiệt tình sắp đặt cho họ ở lại.

Đại sư Linh Hựu Quy Sơn cũng giống như Sư phụ Bách Trượng Hoài Hải của họ, cho rằng lao động tức là Phật sự, công tác tức là tu thiền, cho nên chỉ sắp xếp cho họ giữ bò, làm ruộng mà thôi. Thế là hai vị Thiền khách nói: “Ở đây chẳng có ai biết Thiền”.

Lúc đó, mọi người đang chở củi, hai vị thiền khách chỉ muốn tu thiền, không đồng ý làm việc, tránh qua một bên nghỉ ngơi. Huệ Tịch đưa một đoạn củi đến trước mặt họ, hỏi một cách đầy thiền ý: “là gì?”

Là củi, nhưng lại không thể nói là củi, hai vị thiền khách lén nhìn nhau, không lời đối đáp. Từ nay về sau, tốt nhất chớ nói những gì là chẳng ai biết Thiền! Huệ Tịch ném que củi xuống, cũng ném cho họ sự khó xử lớn lao rồi nhẹ nhàng bỏ đi.

Huệ Tịch thường cùng Sư phụ khảo nghiệm. Một hôm, ông hỏi Đại sư Linh Hựu: “Ý của Tổ sư từ Tây Trúc đến là gì?”.

Đại sư Linh Hựu chỉ lồng đèn đáp chẳng dính dáng gì đến câu hỏi: “Một lồng đèn đẹp”.

Lồng đèn có thể đem lại ánh sáng, Lục Tổ từng nói, một ngọn đèn có thể phá tan cái tối ngàn năm, một người trí có thể dẫn dắt vạn kiếp ngu. Cho nên lồng đèn cũng ẩn chứa chân đế của Thiền. Huệ Tịch cũng chỉ lồng đèn, hỏi lại: “Chẳng lẽ cái này chính là ý từ Tây Trúc đến?”.

Thiền tâm linh động, không chút trở ngại, tuy đèn lồng ẩn hàm thiền ý, nhưng nếu đem nó làm thành chân đế của Thiền, thì sai lầm ngàn dặm. Đại sư Quy Sơn Linh Hựu đương nhiên hiểu rõ cạm bẫy của đệ tử, tương kế tựu kế, phản kích Thiền cơ mãnh liệt: “Cái này mà ngươi nói là gì?”.

Cái này, chỉ cho chân như, tự tánh, Tây lai ý, mà những cái này há có thể nói được sao! Huệ Tịch, sau khi ngộ đạo, giống như hồ lô trôi trên nước, không thể lấy được, vừa đụng tới liền lưu chuyển. Ông lặng lẽ quay người, liền nhẹ nhàng gỡ xuống gánh nặng ngàn cân mà Sư phụ đã đè lên cho ông – Ngài chỉ đèn lồng nói: “Một cái lồng đèn đẹp”.

Sau khi Huệ Tịch rời núi Đại Quy, đến hoằng hóa ở Ngưỡng Sơn Viên Châu, xiển dương Thiền phong riêng có của mình, vì vậy, hậu thế gọi tông phái do Ngài và Sư phụ Quy Sơn Linh Hựu cùng sáng lập gọi là “Tông Quy Ngưỡng”.

Có một vị Thiền tăng từ núi Đại Quy đến, mang đến cho Ngưỡng Sơn Huệ Tịch một bức thư thăm hỏi, và một tấm kính thủy tinh trân quý của Sư phụ. Ngưỡng Sơn Huệ Tịch cầm kính đến Pháp đường, đưa lên hỏi các Thiền tăng: “Các ngươi nói xem, đây là kính của Quy Sơn hay là kính của Huệ Tịch ta? Nếu nói là của Huệ Tịch nhưng lại do Quy Sơn đem tặng, nếu nói là của Quy Sơn mà nó ở trong tay Huệ Tịch ta. Các ngươi có thể nói được thì giữ kính lại, nếu như nói không được, ta liền đập vỡ nó”. Mọi người đều không trả lời – Người trong tâm mơ hồ, không biết trả lời như thế nào. Người tâm sáng như gương thì không cần miếng kính bên ngoài, lại muốn khách quan xem xem Đại Hoà thượng xử trí như thế nào. Huệ Tịch ném tấm kính xuống, ra khỏi pháp đường, trở về phương trượng.

Ngài thường đưa ra công án “Người ở trong giếng” cho các đệ tử, và luôn luôn khảng khái nói: “Ta được tên tuổi ở chỗ Thiền sư Đam Nguyên, được nơi chốn nơi chỗ Sư phụ Quy Sơn”.

Liên quan đến thiền cơ: Đại Nghi Đại Ngộ

Tổ sư Thiền tông có một câu danh ngôn: “Nghi ít ngộ ít, nghi nhiều ngộ nhiều, không nghi không ngộ”.

Nghi, là điều kiện tiên quyết để ngộ. Nếu như Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch không trải qua quá trình nghi ngờ chất vấn như rơi vào giếng khô ngàn trượng, vậy thì làm thế nào có thể có được sự rộng mở trong sáng, đại triệt đại ngộ sau này?

Sư phụ của Đại sư Quốc Học đương đại Nam Hoài Cẩn là Viên Hoán Tiên , phong độ tinh nhanh, học hành uyên bác. Có một lần, ông đến Thiền viện nói chuyện thiền với một vị Lão Hoà thượng. Lão Hoà thượng rất bất cần, nói: “Trong cảnh giới này, cư sĩ nhà ngươi chẳng thể lãnh hội!” Nói xong, phẩy tay áo mà đi.

Viên Hoán Tiên cảm thấy nghi hoặc: cảnh giới gì là cảnh giới ta không thể lãnh hội? Lại nhiều lần thưa hỏi Lão Hoà thượng chỉ cho pháp môn nhập thiền. Cuối cùng, Lão Hoà thượng nói: “Ngươi biết công án Đức Sơn ngồi thiền không đáp chuyện không? Đợi ngươi tham thấu vì sao Đức Sơn không đáp lời, ta sẽ nói cho ngươi”.

Viên Hoán Tiên đọc thuộc lòng kinh điển Thiền tông, đương nhiên biết công án này. Hơn 1200 năm trước, Thiền tông Trung Quốc sản sanh ra một nhân vật đặc sắc rực rỡ, ông cầm một cây gậy trắng đứng một mình trên tuyệt đỉnh Đức Sơn, khua trời đánh đất, đánh gió vờn mây, Phật đến đánh Phật, ma đến đánh ma, đánh hết tất cả những kẻ kỳ quái trong thiên hạ. Ngài chính là chủ nhân của “Đức Sơn bổng” (gậy Đức Sơn) trong bốn môn phong lớn của Thiền tông - Đại sư Tuyên Giám. Đức Sơn Tuyên Giám dùng thiền đạo nhanh như tên bắn, làm chấn động Nam Bắc tòng lâm. Một đêm nọ, lúc tiểu tham, Đức Sơn Tuyên Giám lại nói với đệ tử rằng: “Hôm nay ngồi thiền không trả lời. Nếu người nào có lời muốn hỏi sẽ ăn ba mươi gậy!” Quy cũ của tòng lâm Thiền tông, Đại Hoà thượng đường đầu mỗi buổi sáng khai thị thuyết pháp tại pháp đường cho đại chúng, cũng chính là ‘phổ giảng’; Buổi tối, xem xét tình trạng tu tập của mỗi người mà có sự dạy dỗ chỉ thị riêng biệt, thường gọi là ‘tiểu tham’. Vì sao đêm nay tiểu tham lại không được đáp lời. Vì sao hỏi lại bị đánh ba mươi gậy? Một khối nghi hoặc dày đặc như sương mù đoanh vây tâm trí chúng đệ tử của Đại sư Tuyên Giám…

Mối mê mờ này vượt không gian thời gian một nghìn năm cũng bao phủ tâm trí Viên Hoán Tiên. Ngài sáng suy chiều nghĩ, nhưng tư duy mãi cũng không hiểu được ý nghĩa của nó. Mối nghi ngờ này càng không xuyên qua được mà càng ngày càng dày đặc hơn. Càng dày đặc thì sức hấp dẫn của nó càng lớn. Toàn thân tâm Viên Hoán Tiên bị bao bọc trong khối nghi này, giống như con cá cắn cái bánh dầy nóng hổi, nhả lại nhả không được, nuốt lại nuốt không xuống; lại giống như xương cá ở trong cổ họng, nuốt không xuống, nhả không ra,…..

Ông nước cơm không thiết, quên ăn bỏ ngủ, tóc rối mặt dơ, tựa hồ như dần dần đi vào trạng thái tinh thần nửa ngớ ngẩn nửa say sưa - trừ mối nghi hoặc kia ra ông đã quên hết toàn bộ thế giới kể cả bản thân mình!

Sư hương đèn coi sóc trong đại điện tự viện, thấy ông từ một người học hành đàng hoàng trở thành một người nửa điên nửa dại như thế rất đau lòng, bèn đốt hương cầu nguyện trước tượng Quán Thế Âm, khẩn cầu Bồ tát đại từ đại bi giúp đỡ cho ông ta. Vừa ngay lúc đó, Viên Hoán Tiên cũng đến đại điện, một tiếng mở cửa trong vô tình, đột nhiên phá tan mối nghi bao vây ông ta lâu ngày – “Bùng” – ông ta dường như từ trong một thùng dầu hắc không đầu không mối, không bờ không mé thoát ra, trước mắt là một vùng ánh sáng chói lòa…. Kỳ thực, không chỉ tham thiền mới như vậy, chúng ta cũng thế, học tập cũng thế, công việc cũng như thế: không bức bách không đi vào, không kích thích không phấn phát, không gợi ý không phát hiện, không nghi ngờ không ngộ nhập.

Ái Nhân Tư Thản ngày đầu tiên học lớp tiểu học, thầy giáo dạy cho ông ta: một cộng một bằng hai. Ái Nhân Tư Thản nhỏ bé lại hoài nghi: vì sao một cộng một bằng hai? Một cộng một không phải cũng bằng một sao? Một lát sau nó đưa tay lên, đứng dậy thưa: “một cộng một cũng có thể bằng một”.

Trong lớp rộ lên cười, ngay đứa trẻ ngốc nghếch nhất cũng cho rằng, người đưa ra kết luận này chắc chắn ngu còn hơn lợn. Tiểu Ái Nhân Tư Thản lại không chút hoang mang, lấy từ trong cặp sách ra hai miếng sôcôla, dùng sức vắt nó lại với nhau, sau đó nói với mọi người: “Các bạn xem, một cộng một chẳng phải bằng một sao?’’

Thầy giáo bảo: “Hai miếng sôcôla vắt lại một, tuy trở thành một miếng, nhưng là miếng lớn mà!”

Ái Nhân Tư Thản nói: “Một miếng lớn cũng là một miếng vậy!”

Năm 1895, Ái Nhân Tư Thản bắt đầu suy nghĩ về vấn đề này: Nếu dùng tốc độ ánh sáng để lần theo dấu vết một tia sáng khác chúng ta sẽ nhìn thấy cái gì? Mối nghi đặc biệt này luôn không gọi mà đến, xua chẳng chịu đi, thời thời khắc khắc xuất hiện trong đầu óc mười sáu tuổi của ông lúc đó. Ông từng làm các tưởng tượng nhưng đều không có đáp án mỹ mãn. Càng mờ mịt không đầu mối, ông càng không muốn từ bỏ. Thế là, từ ý niệm nghi ngờ “truy tìm ánh sáng” đơn giản dần dần ông cảm thấy hoài nghi đối với tất cả các lãnh vực ứng dụng lý luận lực học Newton đã thống trị thế giới khoa học mấy trăm năm.

Trên thế giới, tốc độ ánh sáng là tốc độ nhanh nhất, mà cái nhanh hơn tốc độ ánh sáng lại là tư duy của con người, tư tưởng của con người. Mối nghi to lớn này, dẫn dắt, chỉ đạo sự tưởng tượng của Ái Nhân Tư Thản ngao du trong thái không vũ trụ mênh mông…

Vì kế mưu sinh ông đến làm một cán sự nhỏ ở cục bản quyền sáng chế phát minh Thụy Sĩ, ông vẫn không vứt bỏ cách nghĩ đó. Lúc ông lập gia đình có con, khi đẩy xe đưa con đi tản bộ trên đường phố Bá Nhĩ Ni, thường chẳng biết tại sao lại dừng bước, đứng thừ người ra - mối nghi hoặc kia lại dẫn ông vào trong suy tư tưởng tượng mờ mịt lao khổ…

Một hôm, lúc ông ở trong nhà leo lên một cái ghế cao để treo bức tranh sơn dầu, lại rơi vào mối nghi không mời mà tự đến đó. Thế là, ông suy nghĩ rất chuyên chú, quên mất thân mình đang ở đâu, bỗng nhiên từ trên ghế cao ngã xuống. Ông nằm bất động trên đất – tuy mông đau đớn, nhưng lại không thương tổn gân cốt. Ông không phải không đứng dậy được mà là không đứng dậy – Ông đang suy nghĩ, vì sao ta bị rơi thẳng xuống đất? Đau đớn khiến ông ta lập tức nghĩ ra: vật thể luôn vận động theo lộ trình có trở lực nhỏ nhất!

Việc té ngã này đã đưa ra một gợi ý rất quan trọng đối với sự suy nghĩ và nghiên cứu của Ái Nhân Tư Thản. Cuối cùng, trải qua thời gian mười năm, cơ duyên thành thục. Vào một ngày trong năm 1905, Ái Nhân Tư Thản đột nhiên nghĩ ra: đối với một người quán sát mà nói thì hai sự kiện cùng một lúc, đối với người quán sát khác mà nói thì không nhất định là cùng một lúc. Từ đó, trong đầu óc ông liền hình thành khái niệm về tính đồng thời tương đối , dẫn đến sự sáng lập nghĩa hợp tương đối luận.

Ái Nhân Tư Thản nhớ lại rằng: Một ngày tháng sáu năm nọ, tôi đang nằm trên giường, đối với câu đố đang dày vò tôi, trong lòng tràn đầy cảm giác chẳng chút hy vọng giải đáp. Trước mắt tôi, tợ hồ như không có một chút ánh sáng. Nhưng đột nhiên, trong bóng tối lóe ra một tia sáng, linh cảm như thủy triều đang trào lên, đáp án rõ ràng xuất hiện…. Ông phấn chấn vung bút nhanh chóng viết sách, quyển luận văn đầu tiên về thuyết tương đối trên thế giới – “Điện Động Lực Học Của Luận Động Thể” ra đời. Nó như một vầng thái dương mới mẽ trong giới khoa học đã nhô lên.

Ái Nhân Tư Thản nói: “Mấy tuần lễ đó, tôi quan sát được các loại hiện tượng thất thường trên thân thể mình, tôi dường như đang ở trong trạng thái cuồng loạn vậy”. – Quá trình này tất giống với quá trình nhiều Thiền sư tham thiền khai ngộ.

Ái Nhân Tư Thản đã nói: “Đưa ra một vấn đề, luôn quan trọng hơn giải quyết vấn đề đó. Bởi vì giải quyết vấn đề có lẽ chỉ là kỹ xảo trên phương diện toán học hay là thực nghiệm mà thôi, còn đưa ra một vấn đề mới, tính khả năng mới, từ góc độ mới mẽ đó nhìn vấn đề cũ, lại cần phải có sức tưởng tượng sáng tạo, và còn tiêu chí đúng đắn tiến bộ của khoa học”. Mà tất cả những điều này, cho đến tất cả các sáng tạo mới mẽ đều được xây dựng trên cơ sở nghi vấn.

BÀI LIÊN QUAN

Khi ngày tận thế đến gần  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 83 xem)

Nói một trượng không bằng làm một thước  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 131 xem)

Ẩn cư trong núi sâu nơi càng sâu hơn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 347 xem)

Thiền điện thoại  ( Làng Mai , 144 xem)

Núi xanh không trở ngại mây trắng bay  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 427 xem)

Tranh chăn trâu Thiền tông  ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao dịch , 313 xem)

Vừa quay đầu nhìn Linh Quang chợt hiện  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 523 xem)

Thực hành thiền, ứng dụng và phổ biến phương pháp giáo dục Phật giáo trong xã hội hiện đại  ( Sư cô Tiến sĩHằng Liên , 412 xem)

Quy Tông Chém Rắn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 708 xem)

Khế Ngộ Tự Ngã  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 972 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC