NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Vĩnh Liên tân viên tịch

NT. Vĩnh Liên, Giáo phẩm Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Viện chủ tịnh xá Ngọc Chơn (Q. Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh) do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 16 giờ 20 phút, ngày 09 tháng 07 năm 2017 (nhằm ngày 16 tháng 06 năm Định Dậu)

Thông báo ôn thi

Học Viện PGVN tại Tp. Hồ Chí Minh sẽ tổ chức kỳ thi Tuyển Sinh vào Học viện khóa XII (2017- 2021) vào ngày mùng 9- 10/ 5 AL (nhằm ngày 3- 4/ 6/ 2017). Tổ đình Tx Ngọc Phương sẽ tổ chức ôn thi cho các vị Tăng Ni sinh có nhu cầu ôn tập trong thời gian 1 tháng rưỡi

Thông báo Kỳ thi nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 30 Ni trưởng Đệ Nhất

Thư mời dự Lễ tưởng niệm

Thư mời viết bài Đuốc Sen số 28 - Phật Đản

VIDEO HÔM NAY

Cư trần bất nhiễm Bồ đề Địa - Hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Miêu tả chân ngã

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 71413 . Ngày đăng: 27/01/2015In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TẮC THỨ BA : MIÊU TẢ CHÂN NGÃ

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

Sau khi Lục Tổ Huệ Năng trú trì chùa Bảo Lâm, Ngài xây dựng mở rộng chùa chiền, tiếp dẫn học tăng, suốt ngày bận rộn tối mắt tối mũi. Một hôm, Ngài phát hiện y ca sa Tổ truyền lại bị nhăn nheo, dính đầy bụi đất. Thế là Ngài tranh thủ thời gian đem y ca sa ra khỏi chùa, định đến bờ Tào Khê giặt.

Nước Tào Khê uốn lượn quanh co khúc khuỷu, một đoá hoa rừng lãng mạn đang trôi theo dòng nước lượn lờ. Trời xanh mây trắng đang phản chiếu xuống dòng sông, tạo ra một vòng cung tự nhiên khoáng đạt trước chùa Bảo Lâm, sau đó tan ra, reo vui bay về phương xa.

Bên bờ suối, có mấy Sa di nhỏ tuổi đang giặt áo quần. Họ cũng rất chăm chỉ, ngay cả áo quần trên người cũng đem giặt hết - Bạn chà áo, tôi tạt nước, kết quả, toàn thân mọi người đều là nước, ướt như chuột lột. Bọn họ không lo không buồn, dường như còn vui vẻ, hoạt bát hơn cả dòng nước Tào Khê trong mát, những hòn đá cuội lớn nhỏ dường như được kết thành từ những tiếng cười khanh khách của đám Tiểu Sa di.

Sông Tào Khê, như dây đàn, như móc câu

Như tiếng đàn ngâm khúc Bồ đề

 Như câu không được làn mây trắng

Âm vang của thiền xanh thăm thẳm.

Lục Tổ Huệ Năng lặng lẽ bỏ đi. Một là Ngài không muốn vì sự hiện diện của mình mà làm cho tiếng cười đùa của họ biến mất; Hai là, Ngài nghĩ, áo ca sa này là vật thần thánh do Tổ sư Đạt Ma đem từ Ấn Độ sang, ngộ nhỡ nước suối từ trên nguồn chảy xuống cũng có người đang giặt rửa ở phía trên, dơ bẩn theo dòng mà chảy xuống, há không phải là coi thường ca sa sao?

Đại sư Huệ Năng quay người, tay cầm thiền trượng – cũng gọi là tích trượng, đi về hướng núi sâu ở sau chùa.

Đi rồi nghỉ, nghỉ rồi đi, không ngớt tìm kiếm, Đại sư Huệ Năng vừa đi vừa quan sát, bất giác đã đi được bốn, năm dặm đường, Ngài đi đến một nơi đều tĩnh, cây cối um tùm ở trong rừng.

Ở đây, những cây cổ thụ cao chọc trời, bóng cây che khắp mặt đất, cỏ thơm như tấm thảm, không khí trong lành bao quanh. Chẳng biết tại sao nữa mà Lục Tổ Huệ Năng lại mỉm cười. Với dáng vẻ trang trọng, Ngài đứng giữa một khoảng đất trống, nhắm mắt trầm tĩnh trong giây lát, sau đó dộng tích trượng xuống đất một cái rồi chọc thẳng xuống đất.

Dường như Ngài không dùng lực, nhưng toàn cây tích trượng đã chôn vào lòng đất sâu. Điều thần diệu hơn nữa là khi Ngài nhổ cây tích trượng lên, một dòng nước xanh trong ào ào phun lên. Trong khoảnh khắc, nước đã tụ lại thành một hồ nước trong xanh– Đây chính là ‘suối Trác Tích’ rất nổi tiếng.

Sau đó vài trăm năm, một nhà văn hoá lớn đời nhà Tống là Tô Thức đã hai lần đến tham bái chân thân của Lục tổ. Ở bên suối Trác Tích lời văn của ông cũng đã tuôn trào bất tận như dòng suối, ông đã múa viết ra bài: ‘Trác Tích Truyền Minh’. Đây là một câu cuối cùng của bài Minh.

Lục Tổ vốc một ngụm nước suối lên nếm thử, nước suối mát lạnh tinh khiết, làm cho tinh thần người ta chấn động. Ngài quỳ xuống cẩn thận giặt y ca sa….

“A Di Đà Phật”, sau lưng Ngài bỗng nhiên có tiếng niệm Phật vẳng lại. Lục Tổ quay người, một Tỳ kheo trẻ tuổi chắp tay cúi chào, rồi thưa Ngài rằng: “Xin hỏi Pháp sư, đến chùa Bảo Lâm phải đi như thế nào?”

Lục Tổ nhìn dáng vẻ lặn lội đường xa, cát bụi dặm trường của anh ta nên xách ca sa ướt đứng dậy hỏi: “Ngươi từ đâu đến?”

Nào ngờ, vị tăng kia vừa thấy ca sa trong tay Huệ Năng liền thất kinh la lên, quỳ sụp xuống đất, cảm động thốt lên rằng: “Đệ tử Phương Biện xin bái kiến Lục Tổ Đại sư”.

Lục Tổ ngạc nhiên hỏi lại rằng: “Phương Biện? Ông tên là Phương Biện à? Chúng ta từng gặp nhau sao?

Dạ không, chưa từng gặp qua, đây là lần đầu tiên đệ tử được yết kiến Hoà thượng.”

“Vậy làm sao ông lại quen biết ta?”. Ngài hỏi.

Phương Biện trả lời: “Đệ tử là người nước Tây Thục, vì muốn cầu phương pháp cao siêu nên đã du hành đến Ấn Độ - quê hương của đức Phật - đã từ bao năm nay. Tại nơi đây, đệ tử gặp được một vị cao tăng thần kỳ. Đệ tử thỉnh cầu Ngài truyền thọ Phật pháp, Ngài bảo rằng: “Chánh pháp nhãn tạng do đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni truyền lại cùng với ca sa được truyền cho các đời Tổ sư đã sớm đến Trung Quốc rồi. Tính đến nay đã truyền được sáu đời, hiện nay Lục Tổ Huệ Năng đang ở núi Lãnh Nam Tào Khê truyền dạy pháp thiền. Ngài dạy đệ tử khi về nước thì đầu tiên phải đến Tào Khê cầu pháp. Cho nên, đệ tử vừa thấy thần lực oai nghiêm thanh khiết của ca sa liền nhận ra ngay Ngài chính là Lục Tổ Đại sư. Đại sư, xin Ngài cho con được chiêm ngưỡng chiếc ca sa kỹ hơn một chút được không ạ?”

“Tất nhiên là được rồi” Đại sư Huệ Năng giũ giũ y ca sa, những hạt nước vải tung xống như những hạt trân châu lấp lánh, đúng lúc đó dường như ca sa phóng ra hào quang thần kỳ…

Phương Biện đâu kịp chiêm ngưỡng gì, chỉ biết năm vóc gieo sát đất, dập đầu lia lịa như gà mổ thóc…

Lục Tổ Huệ Năng mỉm cười, nói: “Phương Biện! Trên đất có thóc hay sao vậy? Phương Biện giật mình, nhìn quanh, thưa: “Dạ không!”

Lục Tổ nói: “Không có thóc, tại sao dáng vẻ ngươi giống như gà con ăn thóc vậy?”

Phương Biện biết Lục Tổ đang nói đùa, nên xấu hổ đứng dậy. Lục Tổ dường như có suy nghĩ gì, bèn hỏi: “Phương Biện, ngươi xem trọng y ca sa này như thế, vậy trước đây ngươi làm nghề gì?”

Phương Biện không hiểu dụng ý của Lục Tổ, nên nói theo sự thật: “Đệ tử làm nghề kỹ nghệ đắp nặn do Tổ tông truyền lại. Khi con chưa xuất gia, con lấy nghề đắp nặn tượng thần để sinh sống. Sau khi đã xuất gia, con cũng đã từng đắp tượng Phật và Bồ tát cho thiện tín”.

“Thảo nào ngươi không ngừng lễ bái pháp y ca sa như vậy?” Lục Tổ nói, “Vậy thì, Phương Biện hãy đắp cho ta một tượng xem xem.”

Thực ra, bổn ý của Lục Tổ là, thật Phật vô hình, thật tướng vô tướng, một người làm sao có thể đắp nặn được hình tướng chân thật của Phật! Phương Biện không hiểu thiền cơ trong câu nói, nên vài ngày sau đem đến một pho tượng đắp về hình tướng của Lục Tổ Huệ Năng. Tượng cao khoảng bảy tấc, hình tượng rất giống, thật là kỳ diệu, tái hiện giống như thật nét mặt tươi cười của Lục Tổ Huệ Năng, có thể nói là rất tuyệt diệu. Thật không biết là Lục Tổ Huệ Năng thu nhỏ thành bức tượng hay bức tượng phóng to thành Lục Tổ Huệ Năng?

Lục Tổ Huệ Năng cầm bức tượng của chính mình, ngắm nhìn rồi cười. Tiếp đó Ngài nói với Phương Biện: “Phương Biện, tuy ngươi nắm bắt được kỹ xảo đúc tượng rất sống động, nhưng lại không hiểu Phật tánh chân thật. Lục Tổ thấy anh ta hoang mang bèn gợi ý rằng: “Trong kinh Kim Cang đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy: ‘phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng’, điều này muốn nói đức Phật chân thật chính là vô tướng. Người học Phật không thể chấp trước hình tướng bên ngoài mà quên mất tự tâm, cái chúng ta cần lễ bái là đức Phật thiên chân tự tánh vốn có, chứ không phải là những hình tượng khắc bằng gỗ, nặn bằng bùn đất này”.

Dường như Phương Biện đã hiểu ra được điều gì, Lục Tổ xoa xoa trên đầu anh ta và nói rằng: “Phương Biện! Ngươi xuất gia làm tăng, mong rằng ngươi luôn luôn là tấm gương cho hàng trời người, là ruộng phước của thế nhân”.

Giống như được tưới nước đề hồ lên đỉnh đầu, những cảm giác từ trước tới nay chưa từng thể nghiệm này từ trên đỉnh từ từ chảy vào ruộng tâm của Phương Biện, giống như chủng tử Bồ đề ở trong tâm của Phương Biện đang nở một đoá hoa sen mát mẽ, linh diệu. Lục Tổ Huệ Năng giải tấm y ca sa đang đắp trên mình xuống trân trọng tặng cho Phương Biện. Phương Biện đón lấy y ca sa, cảm động quá nên chẳng biết làm thế nào nữa, hai hàng nước mắt nóng hổi như dòng suối nhỏ tuôn trào vì sung sướng, biết ơn. Phương Biện đi ra khỏi phương trượng đi lên đại điện, dùng giới đao (con dao nhỏ các vị Tăng mang theo) cắt y ca sa mà Lục tổ cho thành ba phần: một phần đắp lên tượng của Ngài Huệ Năng, một phần dấu vào trong người, còn một phần dùng vỏ cây cọ, cẩn thận nghiêm túc bọc lại rồi chôn sâu xuống đất. Sau đó, anh ta chắp tay quỳ xuống chỗ đất đó ngước mặt lên trời phát nguyện: “Sau này nếu có ai đào được y ca sa này, người đó chính là tái sanh của Ta, Ta sẽ trú trì chùa Bảo Lâm này, trùng hưng chùa chiền, hoằng truyền chánh pháp”.

Nhiều năm sau, vào năm thứ tám niên hiệu Gia Hộ triều đại nhà Tống, có một vị Thiền sư tên là Duy Quang, trú trì chùa Bảo Lâm . Để trùng tu đại điện, lúc đào móng làm chùa, đã đào được y Tổ truyền lại vẫn còn mới như in…

Liên quan đến thiền cơ: Vẽ Ma

Có một vị hoạ sĩ làm nghề vẽ tượng. Nếu như đem việc “cửa có thể bủa lưới bắt chim được” (vắng vẻ ít khách) để hình dùng việc buôn bán của anh ta thì thật là chính xác. Bởi vì cửa nhà anh ta có nhiều chim đậu – không có khách đến quấy nhiễu, chỉ có chim sẻ đến kiếm ăn. Anh ta suy đi nghĩ lại, cuối cùng nghĩ ra được một chủ ý: đem ảnh của hai vợ chồng mình dán lên trên cửa làm bảng hiệu quảng cáo để mời chào buôn bán.

Một hôm, nhạc phụ đến nhà anh ta chơi, chưa vào đến cửa, ông đã chỉ hình người con gái đứng trên tấm biểu treo ở cửa, nói: “Người con gái này là ai vậy?”

Người hoạ sĩ chau mày, kinh ngạc nói: “Con gái của bố mà!”

Nhạc phụ càng chau mày hơn cả anh ta, giọng điệu cũng rất kinh ngạc: “Đã là con gái của ta, vì sao nó lại ngồi với một người con trai lạ hoắc như vậy?”

Hoạ sĩ lỡ khóc lỡ cười, lúng ta lúng túng, lập tức chuyển đề tài, hỏi bố đến làm gì? Nhạc phụ nói đến nhờ anh ta vẽ một bức ảnh chân dung cho Tổ tiên, treo trong từ đường để thờ phụng.

Cũng có thể coi là có người đến cậy anh ta hoạ hình rồi! Hoạ sĩ vui mừng hoa tay múa chân, nhanh chóng chuẩn bị dụng cụ vẽ. Nhưng vừa chuẩn bị xong, lại không biết bắt đầu vẽ từ đâu – vì anh ta chẳng hề biết đến hình dáng tổ tiên của nhạc phụ.

Nhạc phụ nói: “Đã là tổ tiên, có lẽ sẽ gần giống với hình dáng của ta thôi”.

Thế là, hoạ sĩ liền dựa theo hình dáng của nhạc phụ mà vẽ. Một tiếng đồng hồ sau, anh ta bảo đã vẽ xong rồi. Nhạc phụ vừa nhìn thoáng qua đã phẫn nộ, nói: “Bức hoạ con vẽ là một con ma hả?!”

Hoạ sĩ huyênh hoang không chút ngượng mồm mà trả lời rằng: “Tổ tiên của bố qua đời đã lâu lắm rồi, vốn dĩ đã là một con ma mà?”

“Vậy thì anh đem bán cho quỷ đi!”. Nhạc phụ phẩy tay áo bỏ đi.

Người hoạ sĩ chợt nghĩ ra: Hình dáng của con người ai ai cũng quen thuộc, khác đi một chút người ta có thể nhận ra ngay, nhưng ma là vật vô hình, chưa ai từng thấy nó, giống hay không giống cũng chẳng thể biết được. Từ đó trở về sau, anh ta thực sự không vẽ hình người nữa mà chuyên vẽ ma, nên buôn bán ngày càng phát đạt.

Nhưng, bức vẽ của annh ta có thật là ma không? Ma có thật là có dáng vẻ như anh ta vẽ không?

Có bài tụng rằng:

Vẽ tiên, vẽ quỷ, khó vẽ người,

Vẽ dung, vẽ mạo, vẽ sao được thần,

Phật tánh không tướng làm sao vẽ?

Nặn bùn khắc gỗ há là chân!

BÀI LIÊN QUAN

Bẻ gãy ngạo mạn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 2417 xem)

Nam Đốn Bắc Tiệm  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 2766 xem)

Diệu lý của Chư Phật và tự tâm tự độ  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 11788 xem)

Thiền Ngộ  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 4414 xem)

Giác Ngộ  ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao , 1838 xem)

Ba mươi ba vị Tổ Ấn Hoa  ( Hòa thượng Thích Thanh Từ , 1876 xem)

Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông  ( Tuệ Liên , 72810 xem)

Thiền tông Trung Quốc qua các giai đoạn phát triển quan trọng  ( Tuệ Liên , 72965 xem)

Thiền là gì?  ( Nhật Huy , 28708 xem)

Bạn và Thiền  ( Viên Đạo , 14490 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC