NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Lễ lạy chính mình

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 210 . Ngày đăng: 02/10/2018In ấn

 

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

LỄ LẠY CHÍNH MÌNH

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

Thiền sư Long Hoa Linh Chiếu (870 – 947), nguyên là người Cao Lệ – Hải Đông. Cuộc đời mênh mang như biển lớn, đầy dẫy những điều chưa biết và nghi ngờ. Chính những nghi hoặc câu sanh này, thúc dục ngài bước lên một con thuyền gỗ mưa gió lênh đênh, trải qua sóng to gió lớn, chín phần chết một phần sống, con thuyền mới đến được đại Đường. Ngài du phương đến vùng đất giữa Mân và Việt, hành cước trong chốn tòng lâm, tham vấn cao tăng thạc đức, tìm hiểu sự thật của cuộc đời. Bấy giờ, Đại sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn như trăng trung thu trong sáng, cao cao giữa bầu trời Mân Nam. Ngài ngưỡng mộ tiếng tăm của đại sư liền lên núi Tượng Cốt. Đại sư Tuyết Phong thấy ngài đạo tâm kiên cố, cho phép vào trượng thất. Thiền của ngài Tuyết Phong, ánh sáng trí tuệ lấp lánh rực rỡ, chiếu khắp mọi nơi. Thiền sư Linh Chiếu sống ở đó rất lâu, hun đúc đào luyện, dần dần trong ngoài đều thấu triệt, một sáng khế cơ, hoát nhiên lãnh ngộ được yếu chỉ huyền diệu.

Lúc ngộ rồi cũng giống như khi chưa ngộ vậy. Thiền sư Linh Chiếu giấu tài tự giữ mình thản nhiên, lẫn mình vào tăng chúng bình thường. Từ đông sang hạ chỉ có một chiếc y bá nạp; chẳng kể xuân thu. Khổ cực siêng năng làm việc chúng. Ở đất Mân tăng, tục đều gọi ngài là “Chiếu bố nạp”. Một đêm thu trời trong như nước, nửa vầng trăng sáng trôi trên bầu trời xanh, trời đất một vùng trong sáng. Thiền sư Linh Chiếu chỉ nửa vầng trăng trên bầu trời đêm hỏi sư đệ đồng môn Thượng toạ Bồ (Thùy Long Đạo Bồ): “Nửa kia đi đâu rồi?”

Thượng toạ Bồ nói: “Chớ vọng tưởng”

Thiền sư Linh Chiếu nói đầy thiền cơ: “Mất đi một nữa rồi!”

Sau này, Thiền sư Linh Chiếu lại không che giấu được ánh sáng trí tuệ chiếu khắp trời của Ngài, được quan dân đất Việt cung thỉnh xuất thế, hoằng pháp độ sanh. Ban đầu, ngài trú tại núi Tề Vân ở Vụ Châu (nay là vùng Kim Hoa tỉnh Triết Giang), sau dời đến thiền viện Kính Thanh ở Việt Châu (nay là Thiệu Hưng). Thái thú Tiền Công rất ngưỡng mộ thiền phong của ngài, xây dựng cho ngài thiền viện Báo Từ có qui mô to lớn tai Tây Quan Hàng Châu. Sau đó, danh tiếng của Ngài kinh động đến vua Tiền Trung Hiến nước Ngô Việt. Tiền vương xây dựng chùa Long Hoa tại Hàng Châu, thờ linh cốt, xá lợi của Phó đại sĩ Kim Hoa, mời Thiền sư Linh Chiếu trú trì.

Ngài trú trì chùa Linh Hoa ở Hàng Châu, lúc ở pháp đường lần đầu tiên khai thị Phật pháp, có vị tăng hỏi: “Hội Hoa Long này, có gì khác với pháp hội Linh Sơn của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni?”

Thiền sư Linh Chiếu kiên quyết nói: “Đều là hóa thành thôi!”

Gọi là hóa thành, tức là thành thị do hóa hiện mà có. Kinh Pháp Hoa có chép: một đoàn người muốn đến một nơi xa xôi, nhưng đường đi rất xa, gian nan hiểm trở, người dẫn đường sợ người đi mệt mỏi muốn trở về, liền biến hóa ra một thành quách ở trên đường, cho mọi người được nghỉ ngơi ở thành này, bồi dưỡng sức lực, để đi đến kho báu. Ý của ví dụ này là: Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni muốn cho tất cả chúng sanh đều đắc đạo thành Phật, nhưng chúng sanh tâm tính khiếp nhược, không dám đảm đương. Vì vậy, đầu tiên đức Phật nói Phật Pháp tiểu thừa, dùng cảnh tốt đẹp trước mắt hoàn toàn dễ thực hiện, khiến chúng sanh phát khởi tâm, sau đó tiến đến Phật pháp đại thừa, tiến thẳng vào kho báu chơn chánh. Hoá thành chỉ là phương tiện, không phải là mục đích cuối cùng.

“Thế thì cần gì phải ngưỡng mộ lẫn nhau?” thiền tăng hỏi.

Thiền sư Linh Chiếu nói: “Tuy là hóa thành nhưng không phải lập ra một cách uổng phí. Cho nên, những lời nói trước đây cũng hoàn toàn không phải là nói suông”.

Hóa thành, tự có diệu dụng đặc thù của nó; lời nói tuy không phải là chơn đế của thiền, nhưng chơn đế của thiền cũng không tách rời lời nói để diễn đạt.

Thiền tăng lại đem cơ phong đẩy lên một tầng mới, hỏi thiền sư Linh Chiếu: “Không biết lúc đầu trên pháp hội Linh Sơn, Phật tổ Thích Ca Mâu Ni nói pháp gì?”

Pháp hội Linh Sơn, đã trải qua 1500 năm. Nhưng Thiền sư Linh Chiếu lại dám đảm đương. Ngài đáp: “ Phật Tổ không nói gì, Ca Diếp cũng không nghe gì.”

1500 năm trước, trên pháp hội Linh Sơn, đức Phật đưa cành hoa lên, Ca Diếp mỉm cười - tâm nhạy bén một điểm liền thông suốt, tất cả đều không ở trong lời nói - Thiền vi diệu thần kì, từ đây mà sanh ra!

Trong đại điện Thầy hương đăng đang quét những bụi bặm trên tượng Phật, Thiền sư Linh Chiếu đi đến hỏi rằng: Đã là Phật, thanh tịnh không ô nhiễm, tại sao lại còn bụi bám?”

Thầy hương đăng không đáp được lời nào. Thiền sư Linh Chiếu đáp thay ông ta: “KHÔNG thấy nói sao, mạt vàng tuy quý?”

Năm đó, Thiền sư Hưng Thiện Duy Khoan nói với Bạch Cư Dị: “Mạt vàng tuy quý, vào mắt thành nhặm mắt”, thầy hương đăng cũng là người linh lợi, lập tức ngộ được Thiền cơ, chất vấn rằng: “Mạt vàng tuy quý, lúc đặt vào trong mắt không được thì như thế nào?”

Thiền sư Linh Chiếu đáp: “Đặt không được còn đặt làm gì?”

Đúng vậy, suy nghĩ “Đặt không được” ấy, còn đặt làm gì? Cũng chính là nói, cái kia đã thanh tịnh, sao còn phải để ý giữ gìn? Cảnh giới thanh tịnh, cũng là một cảnh giới! Thiền tâm không ở trong ô nhiễm, cũng không ở trong thanh tịnh!

Thầy hương đăng hoát nhiên ngộ ra, dập đầu lễ bái.

Tại Pháp đường, Thiền sư Linh Chiếu im lặng hồi lâu, rồi nói: “Một người nói dối, vạn người nói thật”.

Nói dối một vạn lần, trở thành sự thật.

Một người đệ tử rất nhạy bén, lập tức nắm bắt thiền cơ, hỏi rằng: búp bê làm bằng cỏ có thể ca múa, không biết bây giờ còn loại búp bê cỏ ấy không?

Thiền sư Linh Chiếu từ pháp tòa đi xuống nhảy múa trước mặt đại chúng, ngài vừa nhảy vừa hỏi: “Lãnh hội không”?

Người đệ tử lắc lắc đầu giống như trống Hóa Lang.

Thiền sư Linh Chiếu trách rằng: “Sơn Tăng nhảy múa, ngươi cũng không lãnh hội à?”

Thiền, hoàn toàn không kì lạ gì. Con rối (búp bê) nhảy, có dây điều khiển; con người nhảy múa,tánh ở chỗ tác dụng - mỗi cử chỉ của người đều là diệu dụng của tự tánh, tại sao còn nói không lãnh hội?

Một thiền tăng khác nói: “Người xưa dạy: Luyện đơn một hạt, luyện sắt thành vàng, đạt ý một lời, chuyển phàm thành Thánh”. Xin thầy chỉ giáo”.

Con người luôn như vậy, thời thời khắc khắc vọng tưởng khế hợp vọng tưởng. Cho nên ngày xưa, các loại linh đơn, diệu dược xuất hiện dẫy đầy, thời hiện đại, lời hay ý đẹp cũng đầy trong sách!

Thiền sư Linh Chiếu trả lời như thế nào? Ngài nói: ngươi có biết lão Tăng có thể luyện vàng thành sắt không?

Thiền Tăng mê mờ không hiểu, vẫn cứ huyễn tưởng: Luyện vàng thành sắt, trước nay chưa hề nghe. Đạt lý một lời, xin sư phụ không tiếc lời chỉ dạy.

Thiền sư Linh Chiếu: “Nếu ta nói ra điều ấy, ngươi cũng không thể lãnh hội, thế thì hối hận không kịp à!”

Có vị Tăng cũng từng hỏi sư đệ của ông - Thiền sư Thúy Nham Linh Tham- cùng một câu hỏi như thế: “Luyện đơn một hạt, luyện sắt thành vàng; đạt lý một lời, chuyển phàm thành Thánh. Người học đã đến, xin Thầy chỉ giáo”. Thiền sư Thúy Nham Linh Tham kiên quyết cự tuyệt nói: “Không dạy”.

Thiền Tăng hỏi vì sao không dạy? Ngài đáp: “Sợ ngươi rơi vào kiến chấp Phàm, Thánh!”

Một vị Tăng vân du đến hỏi rằng: “Bổn phận của người học là gì?”

Bổn phận của Thiền Tăng còn có thể là gì? Sở dĩ anh ta hiểu rõ mà cố hỏi, chẳng phải muốn tìm được tin tức gì từ lời nói của sư phụ sao? Thiền sư Linh Chiếu liền cho anh ta vài tin tức, những tin tức này đều ngờ nghệnh: “Sơn Tăng chẳng tiếc lời nói”.

Vị du Tăng đổi sang một góc độ khác nói: “Xin Sư phụ gọt giũa”.

Tục ngữ nói: Ngọc không giũa không thành đồ trang sức. Thời cổ đại, Thiền Tăng trong tòng lâm giống như những viên ngọc chưa mài giũa. Dưới sự gọt giũa khéo léo của Thiền sư, họ từ thô trở thành đẹp, từ ngụy thành chân, hiển bày ánh sáng tự tánh. Vì vậy, vị Tăng vân du thành khẩn xin Thiền sư Linh Chiếu gọt giũa cho mình. Ngài Linh Chiếu lập tức chỉ anh ta nói: “Tám phần”.

Du Tăng ngu si không hiểu: hoàn toàn tốt đẹp mới là viên mãn. Tại sao chỉ có tám, mà không là mười?

Đây chính là phương thức tư duy độc đáo của Thiền: bất kì sự việc gì của thế gian, đều không có thể đạt đến “thập toàn thập mỹ”. Quá truy cầu viên mãn, giống như lấy bảo bối bỏ vào trong mắt, ngược lại sẽ bị hại rất lớn.

Thiền sư Linh Chiếu bỗng nhiên hỏi một vị Tăng: “Nhớ không?”, “Gì mà nhớ”, “Nhớ gì”? Vị Tăng kia lại trả lời: “Nhớ”.

Linh Chiếu cười: “Nói gì”?

Vị Tăng kia không hiểu nói theo: “Nói gì”?

Thiền sư Linh Chiếu nói: “Đứa bé Chuẩn Nam vào chùa”.

Cơ phong như vậy, giống như tiếng cung tên lướt trong không trung, chỉ nghe tiếng mà không thấy dấu vết. Thế là liền có một vị Tăng hỏi: “Là gì mà ngay cả diều hâu, ngựa giỏi cũng không đuổi kịp?”

Linh Chiếu nói: “Ngươi hãy hỏi khác, Sơn tăng sẽ đáp khác”.

Vị Tăng kia giật mình, không dám hỏi câu mới, trực tiếp chất vấn: “Thế thì xin Sư phụ đáp câu khác”.

Thiền sư Linh Chiếu chuyển thân mình: “Mười dặm dài, người đi còn cách một đoạn”.

Có vị Tăng hỏi: “Dưới cây Bồ đề độ chúng sanh, như thế nào là cây Bồ đề?”

Cây Bồ đề, là cây giác ngộ của Phật đà, vừa thần thánh lại thần kì. Nhưng Thiền sư Linh Chiếu lại nói: “Gần giống như cây xoan”

Trời ơi! cây Bồ đề tinh khiết cao quý như bậc Thánh, vì sao lại giống cây xoan bình thường thấp kém? Linh Chiếu đáp: “Nếu như ngựa hiền dùng roi làm gì?”

Đúng vậy, nếy không phải tuấn mã tính tình tốt, ngươi có cầm roi nhịp nhịp, nó cũng sẽ không vì cái ảnh của roi mà ruổi rong.

Một vị tăng dáng vẻ phong trần, áo vá đến phương trượng, thiền sư Linh Chiếu hỏi ông ta từ đâu đến?”. Ông ta nói: “Từ Ngũ Phong đến.”

Thiền sư Linh Chiếu hỏi ông đến làm gì? Ông nói: “lễ bái Hòa thượng.”

Thiền sư Linh Chiếu như đất bằng dậy sóng, nghiêm nghị nói: “Tại sao không lễ bái chính mình?”

Thiền tăng nói: “Lễ rồi”

Thiền sư Linh Chiếu nói: “Soi hồ nước cạn”

Hồ nước trong gương, là sâu hay cạn? Ngươi không cảm nhận sự kì diệu của thiền cơ à?

Liên quan đến thiền cơ: Kêu Gọi Tự Ngã

Thiền sư Thoại Nham Sư Ngạn, là cháu của Đức Sơn, là đệ tử của Nham Đầu, sư huynh của La Sơn. Lần đầu tiên, khi Ngài đến bái kiến đại sư Nham Đầu, đã hỏi: “Thế nào là đạo lý bình thường?”

Nham Đầu hét lớn rằng: “Động à!”

Thiền sư Thoại Nham Sư Ngạn lấy làm lạ: theo lý lẽ bình thường làm sao lại động?

Người nhạy bén như Ngài liền hiểu thấu thiền cơ ngay trong câu nói bình thường đó, nhanh chóng chất vấn: “Khi động như thế nào?”

Nhan Đầu cười nói: “Không phải là lý bình thường”.

Người bình thường quen đem sự vật phân làm hai bên, như động và không động, thường và vô thường. Thực ra, lòng bàn tay, mu bàn tay đều là bàn tay, một thể mà hai mặt không tách rời nhau. Để phá trừ kiến chấp nhị biên này, thiền sư thời xưa quen dùng thủ thuật: Ngươi hỏi thường, ông ta đáp vô thường; ngươi hỏi vô thường ông ta đáp thường.

Câu trả lời đầy mâu thuẫn của Nham Đầu, khiến Thoại Nham Sư Ngạn không còn tự chủ, rơi vào hố sâu tư duy, ông im lặng, im lặng rất lâu. Nham Đầu lại tưới dầu vào lửa, tiến thêm một bước chất vấn rằng: “lời nói khẳng định, tức chưa thoát căn trần; không khẳng định thì mãi mãi đắm chìm nơi sanh tử”.

Thoại Nham Sư Ngạn liền lãnh ngộ, giập đầu bái tạ.

Sau này, Thiền sư Sư Ngạn được mời đến núi Thoại Nham ở Đan Khâu, trú trì chùa núi. Có vị Tăng hỏi: “lúc trên đầu hiện bảo cái, dưới chân sanh mây là thế nào?”

Trên đầu bảo cái đẹp đẽ, dưới chân mây ngũ sắc bồng bềnh, không phải Thần tiên, cũng là Hiền thánh. Nhưng mà Thiền sư Thoại Nham lại nói: “Chẳng qua cũng là anh chàng mang gông xiềng!”

Thiền tăng lại hỏi: “lúc trên đầu không bảo cái, dưới chân không sanh mây là thế nào?”

Không phải cái này tức là cái kia, đã không phải ‘cỡi mây, đạp gió’, thế thì không có bảo cái che đầu, cũng không có mây lành vây quanh, như vậy cũng có thể chứ? Ai ngờ Thoại Nham Sư Ngạn, vẫn một mực phủ định: “gông xiềng tuy bỏ rồi, nhưng lại mang còng tay!”

Cái này không được cái kia cũng không thể, Thiền tăng bị ép đến đường cùng rốt cuộc thì như thế nào?”

Mãi đến lúc này, Thiền sư Thoại Nham nhẹ nhàng giật tung ra thông tin chân thật: sau bữa cơm chay, liền sẽ khó khăn”.

Khó khăn sau một bữa cơm chay ngon! Không sùng bái Hiền thánh, không ngưỡng mộ Thần tiên, tự nhiên mà được, tùy tánh mà làm, không miễn cưỡng, lại càng không tạo tác, một ngườảcõ ràng chân thật, chính là tinh thần chân chánh của thiền!

“Phật là gì?”, người đệ tử hỏi. Thoại Nham bất ngờ đáp: “Trâu đá”

Cái gì ? trâu tạc bằng đá là Phật thật sao? Phật là trâu đá? Người đệ tử không thể nào tin được, liền hỏi câu khác: “Pháp là gì?” Thiền sư Thoại Nham nói: “Con do trâu đá sanh ra”.

Trâu đá lại có thể sanh con à! Con của trâu đá tự nhiên không phải là trâu đá, mà là Phật và Pháp, không hai không khác. Thế là, đệ tử suy nghĩ: “Lời như vậy là không giống nhau rồi”

Thoại Nham nói: “Trộn lẫn không được”.

Đệ tử chất vấn: “Tại sao trộn lẫn không được?”

Thoại Nham nhạy bén chuyển thân: “không giống có thể giống, trộn lẫn cái gì?”

Một hôm, có một lão bà đến chùa lễ bái Thiền sư Thoại Nham. Thiền sư nói: “Bà lễ lạy tôi, chẳng bằng nhanh về nhà đi, có mấy ngàn tánh mạng cần bà cứu giúp đó”.

Lão bà nhanh chóng trở về nhà, vừa lúc gặp người con dâu mang ốc trở về. Lão bà liền bưng cái sọt đầy ốc kia thả trở lại ao nước.

Điều thần kỳ hơn là, vào một ngày lễ quan trọng, các cư sĩ tranh nhau thỉnh thiền sư Thoại Nham đến nhà mình thọ trai. Ngài cũng không từ chối, đều nhận lời từng người một. Đến ngày kia, cùng một thời gian, tất cả nhà cư sĩ điều có một Thiền sư Thoại Nham xuất hiện như đã hứa…

Học trò của đại sư Tuyết Phong - thiền sư Kính Thanh - đến tham vấn: “Trời không thể che, đất không thể chở, há không phải sao?”

Trời đất không thể che chở, đương nhiên là tự tánh. Nhưng mà tự tánh sáng suốt, lại không hình không tướng, nói giống một vật tức không đúng, do đó Thoại Nham nói: “nếu đúng tức được che chở rồi”.

Kính Thanh cảm động nói: “Nếu không phải là Thiền sư Thoại Nham thì gần như bị lừa rồi!”

Thoại Nham lại tự gọi mình rằng: “Sư Ngạn”

Thoại Nham tự xưng, có ý rất sâu sắc. Ngài thường một mình ngồi trên tảng đá, suốt ngày như ngây như dại, mỗi mỗi tự kêu “chủ nhân ông” sau đó tự mình đáp lại, đồng thời dặn dò chính mình: “Tỉnh tỉnh, ngày sau chớ bị người ta lừa dối”.

Về sau, có một vị tăng sĩ đến tham vấn đại sư Huyền Sa Sư Bị, Huyền Sa hỏi ông vừa từ nơi nào đến đây? Thiền tăng trả lời: Thoại Nham. Huyền Sa lại hỏi: “Sư huynh Thoại Nham có câu khai thị gì cho đệ tử không?”. Thiền tăng nói về công án “chủ nhân ông”. Huyền Sa khen rằng: “cùng là luyện tinh thần, chỉ có Thoại Nham thật kỳ quái”.

Sau đó Ngài hỏi Thiền tăng: “Tại sao ngươi không tiếp tục tham thiền với sư huynh Thoại Nham?”

Thiền tăng nói thiền sư Thoại Nham đã viên tịch rồi. Huyền Sa nói: “Bây giờ còn gọi được không?”

Thiền tăng không có lời nào để đáp.

Từ thiền sư Linh Chiếu bảo học tăng tự lễ lạy chính mình, đến việc tự xưng, tự gọi, tự dặn dò mình của thiền sư Thoại Nham Sư Ngạn, đã xuyên suốt một thứ tinh thần của Thiền: thức tỉnh tự mình, tôn trọng bản thân, thực hiện tự ngã, siêu việt tự ngã.

Tương truyền, lúc Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni vừa mới đản sanh ở đời, liền đi bảy bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất nói: “Trên trời dưới đất chỉ có Ngã độc tôn”. Đây mặc dầu là một truyền thuyết thần thoại, nhưng cũng phản ánh sự xem trọng cái “ngã” của Phật giáo,

Cao tăng phái Lâm Tế Thiền sư Tánh Không Diệu Phổ khai thị: “gặp người thì vui, thấy Phật không lễ lạy”.

Đệ tử không hiểu: một người đệ tử Phật tại sao thấy Phật không lễ bái? Thế mà câu hỏi của anh ta được thưởng cho một cái bạt tai, lại thêm bị trách mắng: “Một nhà không có hai chủ”

Tự mình là chủ nhân ông của chính mình. Có Phật tánh của chính mình, đương nhiên không thể để làm nô lệ cho người khác.

Một vị nhân sĩ thành công rất có tiếng tăm, nói với một vị Hòa thượng Thiền tông đầy khiêu khích rằng: “nay tôi không mê tín, ma quỷ, Thần tiên, Thượng đế, Phật, Bồ tát, tôi đều hoàn toàn không tin, tôi chỉ tin chính tôi thôi.”

Vị đại Hòa thượng đưa ngón tay cái ra, thật lòng khen ngợi ông ta: “Tốt, ông nói tốt quá!”

Điều quan trọng là, ông thật sự có thể tìm được chính mình không? Có thể tìm được tự ngã chân thật không?

Chớ đem cái riêng tư làm tự ngã, chớ đem ngoại vật làm tự ngã, chớ đem chấp trước làm tự ngã, chớ đem tập khí làm tự ngã…cái gọi là chân ngã, chính là chủ nhân ông của mỗi người - tự tánh suốt. Chủ nhân ông này mãi mãi không bị mê muội, tỉnh tỉnh vắng lặng, thường biết sẽ không bị bất cứ thánh sắc nào lừa dối. Cũng chính là nói thân xác đần độn, tâm trạng chuyển động theo cảnh bên ngoài, tuyệt đối chẳng phải cái tôi chân thật. Do đó, thiền sư Thoại Nham thức tỉnh chúng ta: “Chủ nhân ông, tỉnh táo, ngày sau chớ bị lừa dối”.

 

---oo0oo---

BÀI LIÊN QUAN

Giặc là người thân  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 92 xem)

Tư tưởng yếu chỉ của Thiền tông  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 108 xem)

Ba phương pháp hành thiền chủ yếu  ( Giáo sư Minh Chi , 127 xem)

Thỏng Tay vào Chợ  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 112 xem)

Vài suy nghĩ về thiền tông Việt Nam  ( Trần Hồng Liên , 1963 xem)

Thiền  ( J.Krishnamurti - Minh Tâm dịch , 184 xem)

Tư tưởng thiền học qua chí nguyện lập đạo và hoằng hóa của Tổ sư Minh Đăng Quang  ( Hòa thượng Giác Toàn , 2884 xem)

Ngồi rách bồ đoàn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 464 xem)

Thiền ngộ (Phần 3)  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 192 xem)

Không ai biết ông ta  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 712 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC