NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Thay Đổi Quan Niệm Sống - Hòa thượng Giác Toàn

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Khi ngày tận thế đến gần

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 85 . Ngày đăng: 05/12/2017In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TẮC THỨ 15: KHI NGÀY TẬN THẾ ĐẾN GẦN

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân, họ Vương, quê quán ở Tứ Châu, Tứ Xuyên (nay là vùng giáp ranh giữa huyện Diêm Đình và huyện Tam Đài). Ngài đồng chân vào đạo. Sau khi thọ giới cụ túc, cũng như các bậc tiền bối của ngài vậy, qua sông đi vân du qua phía Đông, xuống Hạ Giang hành cước tham học, tìm Thầy học đạo. Ngài đã từng bái yết qua các vị: Dược Sơn, Đạo Ngô, Vân Nham, Động Sơn,… tổng cộng hơn sáu mươi vị đại Thiền sư, còn hơn cả Bồ Tài Đồng Tử nổi tiếng trong kinh Hoa Nghiêm hơn năm mươi ba lần tham yết. Sau này, Ngài đến núi Quy Sơn ở Đàm Châu (nay là Trường Sa). Đương thời, Đại sư Linh Hựu người sáng lập ra tông Quy Ngưỡng đã viên tịch, người kế nhiệm Quy Sơn trượng tịch là Đệ tử của Đại sư Linh Hựu – Thiền sư Trường Khánh Đại An.

(Thiền sư ngày xưa thường lấy đạo tràng mình trú trì để tự xưng. Thời kỳ này, Thiền sư Đại An cũng lấy Quy Sơn để tự xưng và vì thế Đại An Quy Sơn không phải là Linh Hựu Quy Sơn. Chính vì như vậy, rất nhiều trước tác sau này, bao gồm cả “Thiền Học Tuỳ Bút Như Đằng Ỷ Thọ” của Tiến sĩ Linh Mộc Đại Chuyết đều bị nhầm lẫn, thấy hai chữ Quy Sơn liền cho rằng là ngài Linh Hựu. Trên thực tế, người mà Thiền sư Đại Toại Pháp Chân lúc đó đến núi Đại Quy tham kiến là người kế nhiệm trượng tịch Quy Sơn – Thiền sư Đại An, xem Tùng Thư “Thiền Đông Thiền Tây, Đại An Mục Ngưu”).

Thiền sư Pháp Chơn đảm nhiệm làm đầu bếp ở Quy Sơn - một vị Tăng khổ hạnh đốt lửa nấu cơm. Trong mấy năm, Ngài ăn không cầu no, ngủ không cầu ấm, việc không từ mệt nhọc, khí tiết không giống người phàm tục, ngài thân làm Thiền tăng nhưng lại không thấy ngài tham thiền hỏi đạo, thậm chí ngài chưa một lần hỏi đường đầu Hoà thượng những câu hỏi về Phật, về Thiền.

Thiền sư Đại An mắt lanh liếc qua đã biết rõ: Pháp Chân này tu hành tinh tấn, công hạnh thuần nhất, tuyệt đối không phải là kẻ dốt nát, nhưng ngài thường chẳng mở lời, không biết kiến địa của ngài rốt cuộc như thế nào?

Một hôm, Thiền sư Đại An thong thả đi đến nhà bếp khói lửa mù mịt, Pháp Chân hoàn toàn không vì sự có mặt của Sư phụ mà ngừng công việc đang làm, gật đầu chào, sau đó đến bếp lò đốt lửa đỏ rực – ái chà, xem ra muốn bảo ông ta chủ động mở lời còn khó hơn cả lên trời. Thế là, Thiền sư Đại An đành tự hỏi: “Pháp Chân à, ngươi đến đây đã được mấy năm rồi, vì sao chưa từng hỏi một câu Thiền nào?”.

Thiền sư Pháp Chân thưa: “Bảo con hỏi gì đây?”.

Câu nói gọn lỏn ngớ ngẩn này, chút nữa làm Sư phụ Đại An tức chết đi được. Thế mà Đại An tâm sáng như gương, ngài biết rõ câu nói tuồng như ngốc nghếch của Pháp Chân là cố ý giả vờ ngớ ngẩn, và trong đó dường như ẩn chứa thiền cơ dào dạt. Thiền sư Đại An từ bi vô hạn, không tiếc kéo bùn xách nước, dấn thân thảo khấu, tiếp tục đáp: “Vì sao ngươi không hỏi xem hế nào là Phật?

Thế nào là Phật ? thế nào là Thiền? thế nào là ý của Tổ sư từ Tây Trúc đến? thế nào là đại ý của Phật pháp?.... ngàn vạn năm nay, hình như mỗi thiền giả đều không chỉ một lần hỏi qua các bậc Sư Trưởng những câu hỏi như vậy. Mọi người đều muốn được một đáp án đầy đủ từ miệng Sư phụ, còn Thiền sư Pháp Chân thì sao?

Thiền sư Pháp Chân nghe Sư phụ nói ra lời này, ném que khều lò trong tay xuống, hai tay to lớn đen sạm bưng miệng Thiền sư Đại An lại – Chân Đế của Phật pháp, há có thể nói sao? Cho nên, lão Hoà thượng ngài còn phải mở lời quý sao!

Đại An bị đệ tử của mình bôi tro than đầy miệng, lại vui mừng đến nổi dường như ăn được thứ trân quý ngon ngọt nhất trên đời. Ngài liên hồi vỗ về lên vai Pháp Chân, vui vẻ nói: “Ngươi thật đã lãnh ngộ tinh túy của Thiền”.

Đại An, có thể là vị đại tông sư dạy dỗ cả một ngàn năm trăm người, câu nói này của ngài đủ để khiến cho Pháp Chân tiếng tăm lừng lẫy. Vì thế, Thiền tăng xa gần tìm đến cửa, tìm đến bếp lửa khói bay mù mịt để thỉnh giáo pháp yếu Thiền với Thiền sư Pháp Chân. Pháp Chân buông cây khều lò xuống đất, không còn tông tích nữa.

Sau này, đúng ba năm khắp nơi trên cả nước, phía Nam Bắc sông lớn tất cả tòng lâm thiền tông đều chưa phát hiện ra hình bóng của Thiền sư Pháp Chân. Lẽ nào, ông ta đã từ trái đất bốc thành hơi rồi sao?.

Một người đoan chánh như thế, đương nhiên sẽ không mất đi một cách vô cớ như vậy. Nói là mất tông tích, chẳng qua chỉ là ông cố ý ẩn tánh mai danh mà thôi. Điều này chẳng phải núi Đại Quy ở Hồ Nam thiếu đi một người đầu bếp nhóm lửa nấu cơm, dưới núi Bằng Khẩu ở Thiên Bành Tứ Xuyên thêm một người tốt bụng pha trà dâng nước – ông chính là Thiền sư Pháp Chân. Trên núi Bằng Khẩu có một ngôi chùa Long Hoài quy mô rộng lớn, Pháp Chân không ở trong chùa mà dựng một gian nhà cỏ đầu đường dưới núi, cung cấp nước, nhà trọ những lữ khách qua lại, những khách hành hương lên chùa lễ Phật.

Nước trà đậm ngon! Bếp trà bên đường này, Thiền sư Pháp Chân vừa nấu đó mà đã được ba năm. Một lần nọ, ngài vào trong núi sâu hái trà hoang, vô ý phát hiện ra một ngôi chùa cổ - chùa Đại Tuỳ. Ở đây, dãy núi bao quanh, các núi khoe sắc, rừng sâu rậm rạp, nước suối trong mát, thật là một đạo tràng tĩnh tu tuyệt hảo.

Mây núi mấy ngàn trùng điệp điệp

Hang sâu đường xa chẳng bóng người

Suối trong xanh nhiều thắng cảnh

Đến đây chim hót hợp lòng người.

(Chùa Hàn Sơn)

Càng thần kỳ hơn đó là trong chùa có một cây cổ thụ, chu vi đến bốn trượng, thân cây nghiêng về phía Nam có một miệng hang, vừa vặn như một con đường tự nhiên hình thành một cửa nhỏ, trong lỗ trống của cây, rộng rãi bằng phẳng, không phải giả tu sức, mà là chỗ ở kỳ diệu tự nhiên hình thành. Thiền sư Pháp Chân dời đến ở đó, tên nó là: “Mộc Thiền Am”. Từ đó, pháp hiệu của Ngài cũng tự nhiên đổi thành “Đại Tuỳ Pháp Chân”.

Đại Tuỳ Pháp Chân ở trong hang cây mười năm, chưa từng đi nơi khác, tuy hình bóng Ngài không xuất hiện xuống núi, nhưng tiếng tăm vang xa. Đương thời, quan viên địa phương Tứ Xuyên nhiều lần đến thỉnh ngài xuống thành đô phồn hoa cúng dường, ngài đều lấy lý do tuổi già sức yếu, khéo léo từ chối. Ngài có thể cự tuyệt không xuống núi, nhưng không có cách gì để ngăn chặn dòng người học thiền bốn phương đổ về. Họ từ ngàn dặm xa xôi về đây truy tìm tông tích, đua nhau đến học thiền. Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân chẳng còn cách nào đành khai đàn thuyết pháp:

“Tánh này vốn thanh tịnh đầy đủ vạn đức, nhưng do hai duyên nhiễm ô và thanh tịnh mà có sai khác, cho nên chư thánh ngộ được điều đó luôn dùng thanh tịnh mà trở thành giác ngộ chánh đạo. Phàm phu mê muội, cứ dùng nhiễm ô, chìm đắm luân hồi. Thể của nó không hai, cho nên kinh Bát Nhã nói: “Không hai không chia hai, không khác không chia lìa vậy”.

Quan điểm này có thể nói là tinh tuý của Thiền tông. Tất cả chúng sanh tự tánh không có chút sai khác nào, một niệm thanh tịnh hoát nhiên đốn ngộ, chúng sanh thành Phật; Một niệm mê lầm, linh khiếu nhiễm ô, Phật tức chúng sanh.

Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân ẩn tu nhiều năm, công hạnh thâm sâu, lãnh ngộ triệt để, vì thế ngài giảng kinh thuyết pháp, nói rõ ngàn dặm như gang tấc, nhấc Thái Sơn nhẹ tựa lông hồng. Thiền thâm sâu khó hiểu đến miệng ngài, tay ngài trở thành sống động, thú vị dạt dào.

Am cây của ngài nghiêng về bên bờ, thường có một con rùa đến ẩn hiện, đệ tử chỉ rùa đen hỏi: “Tất cả chúng sanh đều là da bọc xương, chúng sanh này tại sao lại là xương bọc da?”.

Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân thuận tay cởi chiếc giày cỏ dưới chân, che trên lưng rùa. Đệ tử không thể đối đáp được nữa.

Có một vị hành giả nghe nói rất có công phu tu tập. Một hôm, ông ta dẫn rất nhiều Thiền nhân ngưỡng mộ ông đến tham vấn. Thiền sư Đại Tuỳ hỏi: “Người tham thiền gọi phía đông là gì?”.

Hành giả nói: “Không thể gọi là phía đông”.

Thiền sư Đại Tuỳ mắng: “Con lừa thối, không gọi là phía đông, gọi là gì?”

Lúc hành giả nói: “Không gọi là đông”, ông ta đã đúng, vì vũ trụ mênh mômg, hoàn toàn không có phương hướng cố định. Nhưng lúc hành giả nói “phía đông không gọi là phía đông”, Thiền sư Đại Tuỳ chỉ ông ta là con lừa thối, Thiền sư Đại Tuỳ cũng đúng. Bởi vì Phật pháp không trái thế gian pháp, phía đông nếu như không gọi là phía đông thì gọi là gì? Nói theo thói quen thông thường của chúng ta, phía đông là phía đông, phía tây là phía tây. Điều này, từ khi văn minh bắt đầu đã trở thành nhận thức chung, nếu phía đông lại không phải là phía đông, phía tây không phải là phía tây, thì tất cả há chẳng phải loạn lên hết sao?

Hành giả không đáp, những người đi theo ông thấy như vậy đều tản ra hết.

Thiền, quý ở chỗ chất phác, cứ nói xa xôi huyền diệu thì càng xa với thiền.

Một vị Tăng vân du cát bụi dặm trường, từ phương xa đến, tự nhiên có điều muốn hỏi: “Thế nào là pháp yếu của chư Phật?”

Đại Tuỳ đưa cao phất trần, sau đó hỏi rằng: “lãnh hội không?”.

Tăng vân du không có cách gì để lãnh hội thiền ý trong đó, cứ lắc đầu mãi. Thiền sư Đại Tuỳ nói: “Đây chẳng phải là cây phất trần làm bằng đuôi hươu sao?”.

Tăng vân du tự nhiên có chút lãnh ngộ: trúc xanh, chẳng có gì không phải là pháp thân; hoa vàng đều là Bát Nhã. Pháp yếu của Phật chẳng phải cái gì bí mật cả, phất trần đuôi hươu cũng là thể hiện của pháp Phật!

Có Thiền tăng hỏi Thiền sư Đại Tuỳ: “Tự ngã của ta là gì?”.

Đại Tuỳ chỉ lỗ mũi mình trả lời: “chính là ta đây này!”.

Thiền tăng giống như một con cá chép hoạt bát, đột nhiên phát hiện long môn động mở. Thế là, nó cố sức nhảy lên trên.

 “Vậy thì, bản thân Hoà thượng là gì?”.

Tay của Thiền sư Đại Tuỳ bỗng nhiên chỉ vào đầu Thiền tăng: “Chính là bản thân ngươi”.

Chỉ bạn nói là tôi, chỉ tôi nói là bạn, thế nào là chính mình? Lúc đối diện không nói!

Một vị đệ tử đứng bên cạnh nghe được, tâm hoa rộ nở, từ trong đại chúng bước ra, chắp tay lễ bái, thưa rằng: “Thế nào là việc của Đại Tuỳ?”.

Trên thực tế, ông ta đang biến tướng để hỏi thế nào là thiền yếu của Đại Tuỳ?.

Câu trả lời của Thiền sư Đại Tuỳ là: “Đông Tây Nam Bắc”.

Hỏi một nơi mà trả lời một nẻo, bốn tức là một, một tức là bốn, Đông Tây Nam Bắc đều là Thiền.

Đệ tử hỏi thêm: “Đây chính là nói Phật pháp biến khắp nơi, vậy thì bảo con phải dừng chân ở chỗ nào?”

Đại Tuỳ cười ha hả, ngâm một câu lưu danh thiên cổ:

“Cá nhảy từ biển lớn,

Trường không mặc chim bay”.

Đệ tử nghe được lời này, ngửa mặt lên trời hét một tiếng dài, phẩy bụi mà đi!

Đúng vậy, Phật pháp biến khắp nơi, đối với ta có chướng ngại gì? Chỉ cần không chấp trước Phật pháp, đừng trói bản thân vào trong đó, cũng giống như cá lội trong biển, chim bay giữa trường không: Sóng xanh mênh mông đưa ta bơi lội ra ngàn dặm; gió mạnh thổi bay nhờ sức gió đưa ta lên tận mây xanh!

Một vị Thiền tăng đến cáo biệt, Đại Tuỳ hỏi ông ta: “Đi đâu vậy?”.

Thiền tăng thưa: “Đến tĩnh tu ở núi phía tây”.

Đại Tuỳ tự nhiên nổi phong ba, bỗng nhiên run rẩy đưa ra thiền cơ sắc lạnh: “Ta đến núi Đông kêu gọi ông, ông có thể đến đó được không?”.

Người ta cư trú ở núi tây, ông lại đến phía đông mà gọi, tự nhiên chẳng cách gì nghe được, cũng chính vì không thể nghe tiếng mà đến cho nên Thiền tăng trả lời “không thể”.

Đại Tuỳ lắc đầu nói: “Ông chưa đủ tư cách ở trong am”.

Đông và Tây, thực ra có bản chất khác biệt, tương phản nhau sao? Một trái dưa hấu tròn, bổ ra một nhát, phân thành nửa nọ và nửa kia, hai nửa đối lập sao?.

Cổ nhân nói, chưa phá vỡ được tham ái vốn có, chưa thể ở núi, còn chưa khai ngộ chưa thể khế nhập cảnh giới động tĩnh nhất như, mọi vật và bản thân bình đẳng, sai biệt không còn, tâm lý của bạn huyên náo như chợ đông, làm sao có thể tĩnh tu trong núi sâu tịch mặc được! trong đô thị hiện đại, rất nhiều người hướng đến cuộc sống tịch tĩnh trên núi, nhưng giả như, thực sự đem họ vào trong núi sâu không có một bóng người, thì chưa tới một tháng họ đã phát điên lên rồi!

Một vị đệ tử khác cũng đến mộc am để từ biệt ra đi, Thiền sư Đại Tuỳ hỏi ông ta đi vân du nơi nào?

Đệ tử thưa: “Đến núi Nga Mi để bái Bồ tát Phổ Hiền”.

Núi Nga Mi ở mé phía Tây Nam Bồn Địa Tứ Xuyên, vì đứng xa nhìn hai núi đối nhau như lòng mày cao (Nga Mi), nên gọi là Nga Mi. Cũng có người nói: núi này mây bao quanh xanh biếc, nhìn xa như tóc đen trang sức, thật giống như lông mi con ve sầu, nhỏ mà dài, rất đẹp, cho nên gọi là núi Nga Mi. Trong bộ kinh nổi tiếng của Phật giáo ‘kinh Hoa Nghiêm’ nói: “Phương Tây Nam có một ngọn núi nổi tiếng sáng rỡ, từ xưa đến nay, chư Bồ tát ở trên đó, hiện có Bồ tát Hiền Thắng (Phổ Hiền) và quyến thuộc của Ngài (các Đệ tử) 3000 vị thường ở trong đó thuyết pháp. Núi Nga Mi nửa đêm có ngọn đèn thánh thần kỳ, ban ngày có Phật quang thần thánh, một vùng đầy ánh sáng, vì thế giáo đồ Phật giáo cho rằng núi Nga Mi chính là núi quang minh trong kinh Hoa Nghiêm, và tự nhiên cũng chính là đạo tràng của Bồ tát Phổ Hiền. Nga Mi và Ngũ Đài, Phổ Đà, Cửu Hoa được gọi chung là Tứ Đại Danh Sơn của Phật giáo.

Thiền sư Đại Tuỳ nghe nói ông ta muốn đi lễ bái Bồ tát Phổ Hiền, liền đưa phất trần lên nói: “Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền đều ở nơi đây”.

Hai vị đại Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền là trợ thủ đắc lực của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni, làm sao đều chạy đến chỗ phất trần của Thiền sư Đại Tuỳ được? Quốc sư Huệ Trung đệ tử của Lục Tổ nói: “Lão Tăng nhổ một cây cỏ làm kim thân một trượng sáu của Phật, lấy kim thân một trượng sáu làm một cây cỏ”. Lão Hoà thượng Hư Vân một Cao Tăng trong thời cận đại, sau khi khai ngộ, nói: “Sơn hà đại địa là Như Lai”. – Đây chính là cảnh giới của Thiền giả.

Vị Tăng này lãnh hội, dùng tay vẽ trong không trung một vòng tròn, ném ra sau lưng rồi lễ bái Sư phụ.

Tướng hình vòng tròn, tượng trưng cho tròn đầy, nhưng mà trong tâm ông không còn gì ngăn ngại, cả sự tròn đầy cũng không nhận, cũng phải ném đi, đức Phật thường dạy chúng ta: Phật pháp là chiếc thuyền để qua sông, đến bờ kia rồi kịp thời bỏ đi. Kinh Kim Cang dạy: “Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức là thấy Như Lai” .

Đại sư Đại Tuỳ thầm chấp nhận, gọi thị giả đến bảo: “Đi lấy một tách trà, cho sư Tăng này uống”.

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Đại Tuỳ: “Bạch Hoà thượng, sau khi Ngài 100 tuổi, sẽ truyền pháp cho người nào?”.

Đại Tuỳ cười, nói: “Cột trụ lồi (cột trụ ở trong phòng bày ra bên ngoài), lò lửa”.

Thiền tăng ngạc nhiên hỏi: “Lò lửa, cột trụ lồi”.

Có đệ tử hỏi: “đến lúc sống, chết thì như thế nào?”.

Thiền sư Đại Tuỳ trả lời: “Gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm”.

Chết, chắc chắn là sự phủ định triệt để nhất, đả kích lớn nhất đối với người thường lấy “Ngã” làm trung tâm. Vì thế, đệ tử còn có thói quen chấp ngã kia bèn hỏi tiếp: “Uống trà ăn cơm, ai nhận cúng dường?”.

Thiền sư Đại Tuỳ trả lời rất vi diệu: “Thích hợp lấy bình bát, chai lọ”.

Công án này khai thị cho chúng ta một vấn đề lớn lao của đời người. Chết là vấn đề mà mỗi người đều phải đối diện. Một người, bất luận là sáng suốt như thế nào cũng không thể tránh được cái chết đến gần. Cũng vậy, một người dù ngu xuẩn thế nào cũng không the ngu đến nổi không biết làm sao chết. Lúc thần chết đến gần, Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân dạy cho chúng ta thái độ là: “Gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm”. Kiểu tuỳ duyên mà an nhàn này không phải là cố làm ra vẻ giải thoát, càng không thể tê liệt bất nhân, mà là vì trong tâm Thiền sư ngộ đạo lúc nào cũng sáng suốt không mê lầm, có thể làm chủ mọi nơi, cho nên có thể cười ngạo với sanh tử.

Một Thiền tăng hỏi: “Kiếp hoả đang cháy, đại thiên thế giới đều hư hoại, không biết ‘cái này’ có hư hay không?”.

Trong vũ trụ quan của Phật giáo, quá trình thành lập, tiếp tục, tan hoại thế giới rồi chuyển biến thành một thế giới khác, có thể chia ra thành bốn thời kỳ: thành, trụ, hoại, không gọi là bốn kiếp. Kiếp hoại (tiếng Phạn gọi là Sam! Vaita- kalpa) - Thời kỳ thế giới huỷ hoại, đầu tiên xuất hiện là do vì mặt trời bạo phát mà dẫn đến hoả tai, trời Sơ thiền của cõi Sắc giới trở xuống đều nóng chảy trở thành tro bụi. Đây chính là Kiếp Hoả (quan điểm về Kiếp Hoả này và giới khoa học suy luận cho rằng hành tinh như mặt trời biến thành siêu tân tinh rất giống nhau).

“Cái này” mà Thiền tăng nói đến chỉ cho tự tánh. Trong kinh Phật nói: tự tánh không sanh diệt, không dao động. Cho nên, ông ta lại hỏi đại thiên thế giới đều huỷ hoại, tự tánh có huỷ hoại không?

Thiền sư Đại Tuỳ đáp: “Hư hoại”.

Thiền tăng thưa: “Đã là như vậy thì đi theo ông ta đi”.

Thiền sư Đại Tuỳ đáp: “Đi theo ông ta”.

Vị Tăng này căn cứ theo ý nghĩa trong kinh dạy mà hỏi, ông không hiểu ý của Đại Tuỳ, cho rằng không phù hợp với kinh dạy, cho nên nghênh ngang bỏ đi. Đúng vậy, trong kinh Phật từng nói: khi vũ trụ đến gần kiếp hoại, đại thiên đều huỷ hoại. Thế mà, ông ta chưa lãnh hội ý thú ở trong đó nên cho rằng ngoài thế giới vật chất (hiện tượng) có một thế giới bản thể (tự tánh) thuần tuý, hai thế giới này tách rời nhau, cho nên ngoài sanh diệt, có một thứ không sanh không diệt; cũng chính là ngoài sự sống chết của con người, còn có sự tồn tại của Niết bàn. Đây là một kiến giải mà chúng ta thường nảy sinh ngộ nhận.

Nên biết, Sắc (vạn sự vạn vật) chẳng khác không (chân đế), không chẳng khác sắc, sanh tử tức Niết bàn.

Vị Tăng này tuy chưa khế ngộ tông chỉ của Thiền sư Đại Tuỳ nhưng tinh thần cầu đạo của ông rất tha thiết, trong tâm lúc nào cũng chứa đầy những vấn đề khó hiểu này, đi thỉnh giáo khắp các Thiền sư Nam Bắc trong tòng lâm, ông phải chạy đến mấy ngàn dặm đến núi Đầu Tử ở An Huy (nay là huyện Đồng Thành). Thiền sư Đầu Tử Đại Đồng là đại tông sư nổi tiếng trong thiên hạ (xem tùng thư ‘Thiền Sơn Thiền Thuỷ’ tắc thứ bảy). Ông hỏi vị Tăng mới đến: “Ông từ đâu đến?”

Thiền tăng trả lời: “Đại Tuỳ ở Tứ Xuyên”.

Thiền sư Đầu Tử Đại Đồng lại hỏi: “Thiền sư Đại Tuỳ có lời thiền gì chăng?”.

Thiền tăng đem công án “kiếp hoả” này nói cho Thiền sư Đầu Tử nghe, Thiền sư Đầu Tử Đại Đồng nghe xong, từ thiền sàng đứng dậy, trịnh trọng đốt hương hướng về Tứ Xuyên lễ bái, rất cảm khái, nói: “Tứ Xuyên có cổ Phật xuất thế”. Sau đó, ông nói với vị Tăng kia: “Ngươi mau về Tứ Xuyên, sám hối Thiền sư Đại Tuỳ đi”.

Thế mà, đợi đến lúc Thiền tăng kia ngược dòng Trường Giang mà lên, về đến Tứ Xuyên thì Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân đã viên tịch rồi. Ông lần nữa đi về phía Đông mấy ngàn dặm, lần thứ hai đến núi Đầu Sơn, Tổ sư Đại Đồng cũng đã thiên hoá. Đến đến đi đi một chuyến vô ích!

Mấy trăm năm sau, Cao Tăng Vân Môn Tuyết Đậu lại ngâm tụng công án rằng:

Lập mối nghi trong ánh lửa kiếp hoả,

Nạp Tăng do đắm hai cửa lớn,

Đáng tiếc một câu theo ông ta,

Vạn dặm xa xôi về một mình”.

Liên quan đến thiền cơ: Thành Trụ Hoại Không.

Ngược dòng lịch sử về mười lăm tỷ năm về trước, vũ trụ là một kỳ điểm ‘không vô’ thể tích bằng không, mật độ to lớn vô hạn, nhiệt độ nóng vô cùng. Do vì siêu chặt và siêu nóng, kỳ điểm ‘không vô’ phát ra tiếng nổ và không ngừng bành trướng hình thành nên vũ trụ hiện tại. Quá trìng bành trướng này tương lai ắt sẽ xảy ra sự chuyển động ngược lại, dần dần thu nhỏ. Trong quá trình ‘đại nén nhỏ’ này một lần nữa lại phát ra tiếng nổ như thế, vũ trụ lại biến thành kỳ điểm không có thể tích.

Đây chính là phân tích về vũ trụ của một nhà khoa học thiên tài Giáo sư Tư Đế Phần Hoắc Kim ở trường Đại học Kiếm Kiều Anh Quốc. Giả thuyết này được giới khoa học ngày nay công nhận (bởi vì chân đế của khoa học đều là tương đối).

Phật giáo cho rằng vũ trụ vô biên không ngằn mé, không đầu không cuối. Lấy quan điểm suy luận này cho rằng đại nén nhỏ không thể là chuyển động ngược của quá trình tiếng nổ xưa kia, mà phải là tiếng nổ ra ngoài hiện nay chính là đang hướng đến sự nén nhỏ, cũng chính là nói hiện tại đang trong quá trình nén chặt rồi!

Nói chính xác hơn, từ giờ khắc tiếng nổ lớn kia xảy ra, đã bắt đầu tiến trình thu nhỏ. Đạo lý này rất giản đơn, như sinh mạng của một con người vậy, từ khi sinh ra đã bắt đầu đi đến cái chết.

Người viết không hiểu thiên văn cho nên đưa ra lời lẽ sai lầm này, muốn mượn vấn đề này để trình bày phương thức tư duy của Thiền.

Lúc một hạt giống nảy mầm chúng ta thường sẽ vui vẻ nói: nó đang lớn. Lúc nó sanh thành thực vật rồi trở thành khô héo, chúng ta sẽ buồn bã nói: nó đã chết rồi. Từ góc độ tư duy của Thiền thì quá trình nảy mầm, trưởng thành của hạt giống cũng là hướng đến quá trình chết. Vì thế, lúc nó vừa nảy mầm cũng chính có thể nói nó đang chết. Mà cái chết của nó cũng chính là bắt đầu tái sanh (hạt giống sanh thành của nó), cho nên cũng có thể nói: chính vì chết nên mới có cơ hội làm cho nó được tiến hoá, mới mẽ. Chính vì như thế, sự vật mới có thể phát sanh, xã hội mới có thể tiến bộ, vạn vật mới có thể tiến hoá, vũ trụ mới có thể diễn biến.

Phương thức tư duy này có điểm gì tốt?

Lúc chúng ta đắc ý, có thể hiểu rõ ràng rằng vui đến tột đỉnh sẽ có nguy cơ suy tàn, không thể quên đi điều đó mà phải nắm chắc sự thật tự nhiên, thuận theo quy luật phát triển, cần câu trăm thước tiến bộ trở lại; Lúc chúng ta đối diện với khó khăn nghịch cảnh, có thể phát hiện sanh cơ mới trong đó, từ đó mà phấn chấn tinh thần, làm cho tâm lý và hành vi của chính mình càng thêm hợp lý. Suy luận như vậy, cuộc sống của chúng ta càng thêm thoải mái tự tại, cuộc đời của chúng ta có thể giải thoát một phần, vui vẻ một tí, thậm chí nhờ tư duy này mà chúng ta có thể cười với bệnh tật, ngạo nghễ nhìn sanh tử.

Hơn 1000 năm trước, Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân là tấm gương cho chúng ta. Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân lúc về già, có một hôm, khi đệ tử đến tham yết, ngài cố ý méo miệng, mặt mày nhăn nhó, giả bộ trúng gió. Sau đó, ngài hỏi đệ tử: “Còn có ai có thể trị cái miệng cho ta không?”.

Chúng Tăng rất lo lắng, tranh nhau đi mời thầy thuốc. Trong vòng một trăm dặm, những vị thầy thuốc giỏi kia đều được mời đến chẩn mạch cho Đại sư Đại Tùy, Đại sư Đại Tuỳ Pháp Chân lại một mực cự tuyệt. Bảy ngày sau, Ngài tự vả vào miệng mình mấy cái, sửa cho miệng ngay lại, khôi phục diện mạo ban đầu. Ngài mượn việc này để khai thị cho đệ tử rằng: “Như nhiều lúc vỗ hai miếng da này, đến nay chưa có ai trị được”.

Nói xong Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chân cười một cái, nhẹ nhàng vẫy tay,đoan tọa mà ra đi. 

BÀI LIÊN QUAN

Nói một trượng không bằng làm một thước  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 131 xem)

Ẩn cư trong núi sâu nơi càng sâu hơn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 347 xem)

Thiền điện thoại  ( Làng Mai , 144 xem)

Núi xanh không trở ngại mây trắng bay  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 427 xem)

Tranh chăn trâu Thiền tông  ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao dịch , 313 xem)

Vừa quay đầu nhìn Linh Quang chợt hiện  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 523 xem)

Thực hành thiền, ứng dụng và phổ biến phương pháp giáo dục Phật giáo trong xã hội hiện đại  ( Sư cô Tiến sĩHằng Liên , 412 xem)

Quy Tông Chém Rắn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 708 xem)

Khế Ngộ Tự Ngã  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 972 xem)

Vô Thanh Sắc Tướng  ( Lê Huy Trứ , 26352 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC