NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Nhạc Niệm Phật -

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Hạt huyết trong lò lửa

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 98 . Ngày đăng: 30/12/2017In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TẮC THỨ MƯỜI TÁM: HẠT HUYẾT TRONG LÒ LỬA

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

Thiền sư Trường Tư Khoáng ở Đàm Châu Hồ Nam (nay là Trường Sa), hành cước khắp nơi. Năm nọ, ông đến ở Tào Khê ở Thiền Châu lễ bái tháp nhục thân Lục Tổ Huệ Năng trở về, lúc đi qua Nam Nhạc, bỗng nhiên nghĩ đến đại sư Thạch Đầu kết am ở trên núi Hằng Sơn này chính là người đã tận mắt gặp Lục Tổ. Thế là ông sẽ lên núi, tham yết đại sư Thạch Đầu Hi Thiên. Đại sư Thạch Đầu nhìn thẳng ông một cái rồi hỏi một câu xem ra thật bình thường: “Ông từ đâu đến vậy?” Thiền sư Khoáng là người tham thiền đã lâu, cho nên ông có thể cảm nhận được thiền cơ Tổ sư dẫn dắt trong câu hỏi bình thường của đại sư Thạch Đầu Hi Thiên. Ông cũng không dao động trước thanh sắc thật thà trả lời: “ từ Lãnh Nam đến”.

Lãnh Nam là nguồn sữa thiền đốn ngộ của Lục Tổ, còn là quê hương của đại sư Thạch Đầu Hi Thiên, cho nên, câu trả lời của thiền sư Khoáng lại có thiền ý “ứng cơ”. Quả nhiên, đại sư Thạch Đầu khích lệ hỏi: “Một phần công đức trên dãy núi Đại Dữu, phải chăng đã thành tựu?”

Núi Đại Dữu là núi ranh giới giữa Hồ Nam, Giang Tây và Quảng Đông, là dãy núi phân chia dòng nước ra hai phía Nam Bắc. Nhưng mà, câu hỏi này của đại sư Thạch Đầu không hề liên quan đến địa lý. Thiền Khoáng đã từ Tào Khê Lĩnh Nam đến tất nhiên đi qua dãy Đại Dữu. Mà trên dãy Đại Dữu, Lục Tổ Huệ Năng đã từng điểm hóa cho thiền sư Huệ Minh đại triệt đại ngộ, tận mắt thấy bản lai diện mục của mình (xem Tùng thư “ Thiền Đông Thiền Tây Bản lai diện mục”) Chính vì như thế mà Thạch Đầu Hi Thiên mới hỏi như vậy?

Dưới sự khích phát của đại sư Thạch Đầu, thiền sư Khoáng hoát nhiên khế nhập tông chỉ thiền, lập tức đầy đủ khí khái nam tử hán đầu đội trời chân đạp đất, cho nên, ông trả lời rằng: “Thành tựu đã từ rất lâu rồi, chỉ thiếu điểm nhãn”.

Nói đến điểm nhãn, như vẽ rồng chấm thêm mắt, cá chép nhảy qua cửa rồng. Được ấn khả của sư phụ, trên có thể phun mây nhả mù, vút tận trời cao! Đại sư Thạch Đầu nói: “Thật muốn điểm nhãn sao?”

Thiền sư Khoáng cũng không khách khí: “Xin mời”

Đại sư Thạch Đầu Hi Thiên không trả lời mà thỏng một chân xuống

Năm đó, sư phụ của Thạch Đầu Hi Thiên – Thanh Nguyên Hành Tư, cũng thỏng một chân xuống để biểu thị sự chấp nhận đối với sự khai ngộ của Hi Thiên. Thiền sư Khoáng thấy tình cảnh này, vội năm vóc gieo sát đất, quỳ xuống đảnh lễ . Thế mà, Thiền sư Thạch Đầu vẫn chưa bỏ qua nói “Người lãnh ngộ được đạo lý gì mà lễ bái như vậy?”

Thiền sư Khoáng mỉm cười, nói: “Theo con thấy giống như hạt tuyết trong lò lửa”.

Câu trả lời cơ phong như thế, giống như con công múa trong ráng đỏ, chim tiên hót trên tầng mây , sáng đẹp, cao diệu nhưng lại tự nhiên không chê vào đâu được, giống như trời đất sinh ra vậy. Đại sư Thạch Đầu thỏng một chân xuống, vừa vặn giống như bánh ngon treo nơi đầm sâu, ý đang nhử rồng. Quả nhiên, người biết tự cắn câu, “Hạt tuyết trong lò lửa, công huân tuyệt diệu”.

Hạt tuyết trong lò lửa, vô cùng đẹp đẽ, vô cùng kì lạ, lại đem ý cảnh thiền; phong vận thiền nâng lên đến chỗ đến tột cùng! 1000 năm sau chúng ta vẫn có thể lãnh hội thiền ý linh động…

Hạt tuyết trong lò than,

Băng kết trong ngọn lửa.

Cá nhảy suối không nguồn,

Chim hót trên cây khô.

Tiều phu chặt mây xa,

Ngư ông câu trên đảo.

Giày tuyết đỉnh trơ đỉnh không trắng,

Mưa ướt măng đá măng phải sanh.

 Những lời lạ lùng như thế chỉ có thể xuất hiện nơi miệng Thiền sư. Nó nhờ ý tưởng siêu việt đẹp đẽ khác thường, sáng tạo ra ý cảnh ngược đơì nhưng lại hợp với tư duy của thiền, có sức hấp dẫn kì lạ nhiếp phục hồn phách người ta, khiến cho người không ngừng nảy sinh tư tưởng kì diệu, do không tự chủ mà sanh ý tưởng miên man.

Thiền sư Khoáng được Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên ấn khả rồi, trở về Đàm Châu, trú trì tại Trường Tư, xiển dương tông chỉ Thạch Đầu, thiền phong lừng lẫy, pháp đường cực thịnh.

Có một vị tăng đến tham yết, ông đến phương trượng, không lễ bái, mà đi quanh thiền sàng của thiền sư Khoáng một vòng rồi bỏ đi. Xem ra đây là một người tham thiền đã lâu, là người tự chủ. Thế mà cơ phong gặp nhau, người tự chủ cũng phải chia khách chủ. Thế là Thiền sư Khoáng nói: “nếu là pháp tịch của Thạch Đầu thì chẳng dùng được tí nào.”

Vị tăng này lại đi quanh thiền sàng một vòng, chỉ hiển thị bản thân là một người biết thiền. Thiền sư Khoáng cười nói: “lúc làm như thế này, thật khó để nói rõ chỗ đến”.

Ý của Thiền sư Khoáng là ông rất cứng nhắc, giáo điều, không hiểu lời người xưa. Vị tăng này không phục, tự cho rằng mình có sở đắc, bèn quay người đi ra ngoài. Thiền sư Khoáng kêu ông, ông không quay đầu, tiếp tục đi ra ngoài.

Ông làm như, vậy tự có đạo lí của ông. Ông cho rằng bản thân tham thiền có ngộ, cho nên phải tự đưa ra chủ trương. Thế mà tâm thiền linh động, không chấp mê mà cũng không chấp ngộ, không có gì đắc mà cũng không có gì không đắ. Vị tăng này chổi cùn cũng quí, đem cái ngộ được của mình dấu kỹ trong lòng, cho đến che đậy mà toát ra mùi hôi. Các vị tổ sư gọi tình huống này là “đảnh môn cang thiền” – không biết vận dụng linh hoạt, tùy nơi mà chuyển mình.

Thiền sư Khoáng mắt tuệ sáng rõ, nhìn đúng căn bệnh đang tồn tại của ông, áp dụng thủ thuật chêm khử chêm nên bảo rằng: “kẻ này khi còn nhỏ học ở đâu?”

Vị tăng này ngước mũi lên trời, làm sao chịu chấp nhận lời chế giễu lạnh lùng này?

Quả nhiên ông quay đầu lại nói: “có một người, không đạt từ người khác, không chịu học tập, không rơi vào giai cấp, Thiền sư có chấp nhận không?”

Cái ông chỉ là tự tánh ai ai cũng đầy đủ. Lục tổ từng nói, tự tánh vốn tự đầy đủ, tự tánh không dao động. Vì thế không phải đạt được từ bên ngoài, không cần dạy dỗ, cũng không rơi vào giai cấp. Thế mà, chấp trước chân lí, chân lí liền trở thành giáo điều; qua sông rồi mà còn vác thuyền, thuyền đưa người qua sông lại trở thành gánh nặng; bệnh lành rồi mà còn uống thuốc, thuốc hay lại trở thành thuốc độc! Cho nên, Thiền sư Khoáng nói: “gặp mà không gặp, gặp ắt có chuyện”.

Dùng chêm bỏ chêm, xà trên cửa bõng nhiên hạ xuống, của thiền mở toang. Vị tăng này hoát nhiên đại ngộ, vội lùi lại ba bước. Thiền sư Khoáng lại đi quanh thiền sàng một vòng, vị tăng kia nói: “không những tông nhãn rõ ràng mà truyền thừa của sư có căn cứ”. Câu này là ông tán dương Thiền sư Khoáng sau khi bản thân đã đại triệt đại ngộ, đồng thời cũng tự khen mình đã phá bỏ được thành lũy bịt lấp trong tâm. Thiền sư Khoáng đánh ông ta ba gậy, đánh dấu ông đã vượt qua long môn, biểu thị sự khen ngợi.

Lại có một vị tăng đến thăm, Thiền sư Khoáng hỏi ông ta từ đâu đến, ông trả lời: “núi Cửu Hoa đè am đá”.

Thiền sư Khoáng vẫn bình thản hỏi, am chủ của ông ta là ai. Thiền tăng trả lời: “đó là một tôn túc đức cao vọng trọng ở dưới trướng của Mã Tổ đạo Nhất”.

Thiền sư Khoáng hỏi vị tôn túc đó tên gì? Thiền tăng nói không biết pháp hiệu của ngài. Thiền sư Khoáng tự nhiên nổi cáu hỏi: “là ông ta không biết hay là ngươi không biết?”

Thiền tăng là một người hiểu ý, biến sấm sét vào vô hình, không đáp mà hỏi ngược lại: “mắt tôn túc ở đâu?”

Thiền sư Khoáng trả lời: “nếu là am chủ đích thân đến, hôm nay ắt phải ăn gậy”. Thiền tăng thi lễ thưa: “may mắn gặp được Hòa thượng, xin tha cho con đi.”

Thiền sư Khoáng thương cảm than: “trăm năm sau tìm kiếm một sư tăng hiểu ý cũng khó được.”

Lý Hành Bà đến tham vấn, Thiền sư Khoáng bèn hỏi bà: “còn nhớ chuyện lúc ở Giáng Châu không?”

Một người là người xuất gia, một người là đàn bà, thì lúc ở Giáng Châu có chuyện gì chứ? Nếu nghĩ thêu dệt khỏi phải ăn ba mươi gậy; nếu cho là không có việc gì, tất nhiên phải ăn ba mươi gậy. Thời xuân thu Giáng Châu từng là thủ đô của nước Tấn; Giáng Châu (nay là huyện Tân Giáng tỉnh Sơn Tây) cách Đàm Châu (nay là Trường Sa) mấy ngàn dặm mênh mông. Lý Hành Bà là người nữ, vào thời kì Trung Đường phương tiện giao thông rất sơ khai, không thể đi qua phương Bắc xa xôi. Vậy mà, Thiền sư Khoáng nói như vậy là có ý thú gì chứ?”

Lý Hành Bà lại đáp: “nếu không phải Hòa thượng nhắc đến thì tôi đã quên mất rồi”.

Trời ạ, lẽ nào bà ta, người đàn bà này thật tình đã đến Giáng Châu? Và tại Giáng Châu đã từng có chuyện gì đó với Thiền sư Khoáng? Thiền cơ vi diệu, không thể nghĩ bàn, thánh phàm khó lường, phàm phu không hiểu.

Thiền sư Khoáng nói: “già hư giả, non thực tế”.

Lý Hành Bà nói: “đại Hòa thượng, ông có gì kị húy sao?”

Thiền sư Khoáng nhấc thiền trượng trên tay, nói: “nghĩ ngươi là đàn bà, tha cho ngươi vài gậy.”

Lý Hành Bà lại không chịu để yên, lại đem cơ phong đẩy lên một mức cao độ hoàn toàn mới mẽ. Bà nói, cuối cùng tôi cũng không phát hiện ra ông có lỗi gì”.

Thiền sư Khoáng mới không chịu nhận lời khen “ chẳng mang ý tốt này”, ngài lập tức lấy thế thủ làm thế tấn công, hỏi rằng: “lỗi của lão tăng ở đâu?”

Lý hành Bà chỉ đợi có thế, hỏi lại: “Hòa thượng ngươi không có lỗi lầm, lão bà ta há có thể có lỗi lầm sao?”

Đúng vậy, nếu không lỗi lầm, ngươi quên đưa gậy lên, há không phải là người mù sao! Thiền sư Khoáng tự có bản lãnh giở nhiều thủ đoạn, trong nháy mắt lại trình hiện một cơ phong mới: “không có người lỗi lầm, lại sẽ thế nào đây?”

Lý Hành Bà là một người rất cừ bèn đưa thẳng nắm đấm nói: “như thế này, luôn thành điên đảo”.

Thiền sư Khoáng và Lý Hành Bà cùng cười ha hả. Cười xong Thiền sư Khoáng đem pháp chiến cơ phong của họ tổng kết thành “thật không có chỗ kị húy”.

Liên quan đến thiền cơ: Thiền Cơ Diệu Kì Không Thể Nói Được

Thiền sư Giản ở Cao Đình – Hoàn Dương, từ bờ Hán Giang Hồ Bắc đi thẳng xuống phía Nam, đến ven bờ sông Nguyên ở vũ Lăng – Hồ Nam (nay là Thường Đức). trong chốn thiền lâm thịnh hành câu truyền: “gậy Đức Sơn khua mất vía phàm Thánh ma quỷ”. Ông đến tham bái đại sư Tuyên Giám Đức Sơn.

Vừa may, ông vừa đến bên bờ sông lớn dưới chân núi Đức Sơn, đại sư Đức Sơn Tuyên Giám lại đúng lúc xuất hiện bên bờ sông bên bờ sông bên kia. Đại sư Đức Sơn không phải đến để qua sông, mà là dọc theo bờ đê bên kia sông đi xuống phía dưới dạo chơi. Thiền sư Giản nghĩ rằng, đợi mình qua đến bờ bên kia mới đuổi theo thì không kịp nữa. Thế là, ông liền đứng bên này sông gọi lớn: “đại Hòa thượng Đức Sơn, đại Hòa thượng Đức Sơn!”

Đức Sơn Tuyên Giám quay đầu nhìn sang bên này sông. Thiền sư Giản vội vã hỏi lớn: “con không biết nghĩa chân thật của thiền là gì? Xin ngài nói cho con.”

Đức Sơn Tuyên Giám không trả lời, phẩy phẩy cái quạt trong tay.

Nhưng mà chỉ bên kia sông phẩy phẩy quạt là đủ rồi, Thiền sư Giản khoát nhiên khai ngộ. Ông cũng không đuổi theo Đức Sơn làm gì nữa, không chút do dự, quay đầu bỏ đi, thậm chí chẳng thèm nhìn lại một cái.

Một phụ nữ xây dựng một căn nhà nhỏ tinh xảo đẹp đẽ nơi núi rừng thanh đều, non xanh nước biếc, một lòng muốn thành tựu một vị làm rường cột cho cửa Phật. Có một thiền tăng may mắn được chọn vào đây, ông được thí chủ thịnh tình mời vào am đóng cửa tu hành. Người phụ nữ rất kính trọng và tin tưởng. Hằng ngày bà đều dâng cúng, còn thiền tăng rất chịu khó yên tĩnh tu tập, suốt ngày chỉ ngồi thiền, không hề phan duyên với thế giới bên ngoài. Ráng mai xán lạng, hoa nở như gấm, mắt pháp đã đạt đến thanh tịnh địa, không bị nhiễm sắc hồng trần. Oanh ca yến múa, nước suối róc rách, thiền tâm rỗng rang khó gần vật, không theo ong bướm lên xuống điên cuồng.

Nháy mắt đã hai mươi năm trôi qua, người phụ nữ trở thành một bà lão. Một hôm, bà bảo đứa cháu gái mới mười sáu tuổi đi đưa cơm, và cúi xuống dặn dò bên tai chuyến này phải như thế.

Tiểu nữ đưa cơm đến cho Thiền tăng, ngay bản thân cũng cùng đưa đến cửa – cô ôm chặt vị Tăng, như lời bà nội đã dặn đi dặn lại hỏi: “ngay lúc này ông nghĩ như thế nào?”.

Vị tăng kia có định lực ung dung nói: “cây khô dựa núi lạnh, ba đông cũng chưa có hơi ấm”.

Om cô gái Diệu Linh nhưng lại giống như một khúc cây khô dựa trên tảng đá băng lạnh không hề khởi lửa dục. Thật đúng là ngồi lòng không loạn, rất đáng xưng là bậc đạo đức cao thượng.

Không ngờ bà lão nghe xong, than rằng: “ta hai mươi năm nay chẳng qua cũng chỉ là cúng dường cho một kẻ phàm tục!”

Thiếu nữ không hiểu, lúc da thịt nam nữ tiếp xúc với nhau, vị tăng kia lại an trú không hề dao động, chẳng phải là người tu hành thâm sâu, rất khó đạt được đó sao? Bà già nói: “hai câu nói kia chứng tỏ tâm ông ta vẫn còn phân biệt, đó là điều đại kỵ của Thiền giả.

Bà lão vội đuổi vị tăng nhân, lấy lửa đốt thiêu am cỏ.

Vị tăng bị đuổi đi rất xấu hổ, đau buồn vì bản thân đã nhận mười mấy năm cúng dường vô ích, lại không khai ngộ. Từ đó, ông phát tâm đại sám hối, dõng mãnh hành đạo, vừa khất thực ở trong thị trấn, vừa khắc khổ tu hành. Ba năm sau, ông lại đến nhà bà lão, khẩn cầu bà cho ông đóng cửa lại một lần nữa, thời gian chỉ ba năm. Gió xuân ba lượt, công đức viên mãn. So với sáu năm trước, cháu nội của bà lão đã là một đóa hoa mẫu đơn nở rộ kiều diễm, cô cũng làm y như lời bà dặn dò, bước lên ôm lấy Thiền tăng, bảo: “nói, nói mau!”

Thiền tăng nói với cô gái: “trời biết đất biết, cô biết tôi biết, chớ cho bà bà nhà cô biết!”

Chuyện giữa một người nam và một đại cô nương, trời biết đất biết, cô biết tôi biêt, lại không cho người ngoài biết, có thể có việc gì tốt? Thế mà, bà bà nghe lời cháu gái nói xong vui mừng khôn xiết, đi đến am tranh nơi thiền tăng đang đóng cửa, nói với ông ta: “vui thay! Vui thay! Chúc mừng Thiền sư đã đại triệt đại ngộ!”

BÀI LIÊN QUAN

Rồng rắn lẫn lộn, Phàm Thánh ở chung  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 140 xem)

Lợi ích của Thiền hành  ( Bình Anson dịch , 123 xem)

Con Trâu Đất - Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung  ( Thượng tọa Thích Đức Thắng , 112 xem)

Văn Hỷ và Văn Thù  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 160 xem)

Người Trong Giếng  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 144 xem)

Khi ngày tận thế đến gần  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 143 xem)

Nói một trượng không bằng làm một thước  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 195 xem)

Ẩn cư trong núi sâu nơi càng sâu hơn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 459 xem)

Thiền điện thoại  ( Làng Mai , 208 xem)

Núi xanh không trở ngại mây trắng bay  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 523 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC