NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Giặc là người thân

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 90 . Ngày đăng: 25/09/2018In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

GIẶC LÀ NGƯỜI THÂN

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

Thiền sư Bảo Phúc Thanh Khoát vốn là người Phúc Châu, nhỏ nhưng thông minh. Một hôm ngài cùng cha mẹ đến chùa Cổ Sơn Dũng Tuyền ở phía đông thành Phúc Châu thắp hương. Bấy giờ, trụ trì chùa Dũng Tuyền chính là Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến. Vị lão Hòa thượng pháp tướng uy nghiêm, mọi người vốn không dám nhìn thẳng vào mặt ngài. Ngược lại, Thanh Khoát nhỏ mà cảm thấy thân thiện kì lạ, giống như trước đây đã từng nhiều năm theo hầu bên cạnh vị Hòa thượng này vậy. Thế là, ông ở lại Cổ Sơn, xuống tóc làm tăng.

Thiền tâm như đất trời nhàn nhã, năm tháng đạm bạc mà chân thật. Trong tiếng mõ vang vang, tiếng chuông nhẹ nhàng, Thanh Khoát đã trở thành một tỳ kheo trẻ tuổi. Sau khi thọ giới, ông đã có thể ra ngoài tham học rồi. Ông nghe nói dưới trướng của Đại sư bá Huyền Sa Sư Bị có một vị tăng kì lạ- Khế Như Am Chủ. Cảnh giới chứng ngộ của Khế Như rất sâu xa rộng lớn, cơ phong sắc sảo, nhưng không thâu nhận đồ chúng mở đạo tràng giảng pháp, thậm chí ngay cả một tiểu đồng làm thị giả cũng không giữ lại. Một người ẩn cư trên núi Tiểu Giới, đói ăn quả rừng, khát uống nước khe, lấy cỏ làm áo. Nơi ở của Khế Như càng đặc biệt lạ kì – một gốc cây sam lớn trong núi, năm tháng dài lâu, thân cây mục nát, lộ ra một lỗ hỏng lớn, Khế Như khoét cây mục làm cái hang vừa đủ để dung thân tạo thành cái am nhỏ ngồi thiền tu hành.

Thiền sư Thanh Khoát rủ một người bạn tốt - thượng tọa Xung Húc, cùng nhau vào trong núi Tiểu Giới, tham vấn Khế Như Am chủ. Hai người họ, trước đây chưa từng gặp Khế Như, lại không biết ông ta đang ở đỉnh núi, khe rãnh hay trong gốc cây nào, liền tìm kiếm khắp trong núi vắng mênh mông hoang dã. Họ gặp một người đang hái dẻ trong thung lũng, Thiền sư Thanh Khoát đến hỏi thăm người đó: “Xin hỏi, ông có biết am chủ Khế Như ở đâu không?”

Người hái dẻ không đáp mà hỏi lại: “Từ đâu đến?”

Thiền sư Thanh Khoát là người tham cứu tu thiền đã lâu, biết rõ đây là một câu hỏi dường như nhạt nhẽo, nhưng hàm chứa thiền cơ khôn cùng. Vì Tổ sư thiền tông dẫn dắt thiền tăng, từng câu từng câu không xa rời điểm căn bản của tự tánh, cho nên, đây cũng là hỏi bạn sanh từ đâu đến, chết đi về đâu? Ông muốn hỏi là chỗ “đến” đó. Thế là, ông ta liền nhạy bén đáp: “Dưới núi đến”.

Câu này trả lời không nói rõ chỗ nào, mà nói dưới núi, cũng rất có ý nghĩa- cũng giống như đang dò xét người chủ phải chăng có đạo nhãn sáng suốt. Nếu không phải là hành giả hiểu thiền thì thật khó mà đối đáp cho xuôi. Thế nhưng người hái dẻ dường như là một người có kĩ năng xuất chúng: ngươi không thông báo nơi đến, liền tiếp tục khảo nghiệm: “Tại sao đến nơi này?”

Dưới sự khiêu khích của người hái dẻ, Thanh Khoát phát khởi cảm hứng thiền, tiếp tục đối đáp cơ phong với ông ta, hỏi lại đầy thiền ý: “Đây là đâu?”

Nghe lời này, người hái dẻ liền cười, chắp tay nói: “Thế còn không uống trà đi!”

Thanh Khoát và Xung Húc, hai vị thiền tăng mới tỉnh ngộ, người hái dẻ trước mắt đây chính là am chủ Khế Như. Ba người đi đến hang cây, uống trà, đàm luận thiền. Trà núi thanh khiết, uống vào hơi say, cảm thấy như nước suối, như mây trắng, yên tĩnh chảy, nhẹ nhàng trôi; cao tăng luận đạo như tiên, hạc hót trên tầng mây, như bảy sắc cầu vòng nhảy múa trên nền trời, khiến người ngây ngất, như mê như say. Thiền sư Thanh Khoát và thượng tọa Xung Húc ngồi hai bên trái phải, không hay không biết đã đến đầu đêm. Trong lúc vô ý Thanh Khoát nháy mắt nhìn ra bên ngoài, trời ạ, chỉ thấy bên ngoài sài, lang, hổ, báo lũ lượt đi đến trước am, hoặc nhẹ nhàng đi quanh cây lớn một vòng, hoặc tự tại nằm trên đất, tự nhiên mà thuần phục. Nên Thiền sư Thanh Khoát làm một bài thơ phú khen rằng:

Làm không bằng không làm, ai biết sự ở đi.

Bữa ăn như chưa no, nhà nhà không nhờ vả.

Không đạo nên khó phục, tay không chớ tranh giành,

Rồng hét mây nổi dậy, hai ba tiếng tiêu nhàn.

(Hành bất đẳng nhàn hành, thùy tri khứ trú tình.

Nhất xan do vị bảo, vạn hộ vật liêu sinh.

Phi đạo ưng nan phục, không quyền mạc dự tranh.

Long ngâm vân khởi xứ, nhàn tiêu lưỡng tam thanh.)

Thanh Khoát và Xung Húc hai người cảm thấy hang cây của am chủ Khế Như cũng rất nhỏ bé chật hẹp liền làm một ngôi am cỏ tại núi Đại Chương , mời Ngài đến ở. Dưới sự chỉ giáo của Khế Như, mặc dầu thiền sư Thanh Khoát có chỗ sở đắc nhưng trong lòng luôn cảm thấy có sự ngưng trệ, giống như xem hoa trong sương, ngắm trăng trong nước, mơ mơ hồ hồ, mông lung mờ mịt,không rõ ràng xác thực; lại thấy toàn thân như bôi một lớp keo, dính chặt như hồ, không nhanh nhẹn, không thoải mái, thật khiến cho người ta phiền muộn.

Thế là, ông ta chạy đến núi Thụy Long ở Chương Châu tham bái thiền sư Đạo Phổ.

Thụy Long Đạo Phổ là học trò giỏi của Đại sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, đạo nhãn sáng suốt, thấu suốt trời đất. Ông hỏi Thanh Khoát: “Người đã từng bái kiến cao tăng nơi nào? Đã khai ngộ chưa?”

Thiền sư Thanh Khoát nói: “Tôi đã từng tham vấn với am chủ Khế Như ở Đại Chương, được một chỗ tin tưởng”.

Thiền sư Thụy Long cười ha hả, ông cười gì vậy? Đại Chương Khế Như là cháu của ông, năm đó, vị tăng kì dị này sau khi ngộ đạo dưới trướng của sư huynh ông – Huyền Sa Sư Bị, đi đến một mình. Huyền Sa Sư Bị đã huyền kí rằng: “Sự giác ngộ về thiền của ngươi đặc biệt hơn người, cơ phong của ngươi huyền diệu tuyệt vời, nhưng ngươi ngay cả một người kế thừa cũng không có . “Sở dĩ sư huynh Huyền Sa nói như vậy chính là vì Đại Chương Khế Như không khéo dạy dỗ thu nhận đệ tử. Không phải sao, ngay cả Thanh Khoát là một thiền tăng lanh lợi hiếm thấy như vậy, mà theo ông cả thời gian dài, ông cũng không có cách gì dẫn dắt người ta chứng ngô đạo thiền.

Thế thì, thiền sư Thụy Long lại có bí quyết cao minh gì chứ?

Thụy Long vâng lệnh duy na thỉnh hồng chung, triệu tập đại chúng vân tập tại pháp đường. Thiền sư Thụy Long như một con sư tử uy nghi ngồi lên pháp tòa rất cao, im lặng rất lâu, hàng trăm thiền tăng không dám cử động, lặng lẽ không một tiếng động. Nhưng mà, trong lòng họ lại đang hồi hộp: Lão hòa thượng muốn làm gì vậy?

Im lặng, im lặng rất lâu, không khí pháp đường giống như đang dần dần ngưng đọng, như kết thành một lớp băng trong suốt, mỗi một người dường như đều cảm thấy hơi thở càng lúc càng khó khăn…..

Bỗng nhiên, Thiền sư Thụy Long hét một tiếng lớn như long trời lở đất: “Thanh khoát, ra đây! bây giờ ngươi quay về đại chúng đốt hương nói chỗ ngộ của ngươi, lão tăng sẽ ấn chứng cho ngươi!”

Thiền sư Thanh Khoát đáng thương, thình lình bị điểm danh trong chúng, đồng thời còn phải đứng trước mặt hàng trăm thiền tăng giảng nói cảnh giới ngộ thiền, ông ngơ ngẩn một lúc, hoảng sợ đến ngây ngô, mờ mịt không biết gì! Chúng ta nên biết, ông hoàn toàn không hề chuẩn bị về tư tưởng! Nên hiểu, ông chưa từng được triệt ngộ! Nên rõ ràng rằng, hiện tại ông không có lời nào đáng nói!

“Thanh Khoát, ra đây!”

Đây không phải là thúc giục sao? Trong tâm Thanh Khoát trống rỗng, cảm thấy như mình bị lột hết quần áo, trần trụi , sạch sành sanh, không còn một mảnh vải che thân, bị phơi bày trước mặt đại chúng!

“Thanh Khoát, nói !”

Ông muốn tôi nói gì? Thanh Khoát giống như con chó bị dồn vào góc tường, đi đến ngõ cụt, kỳ diệu thay, lúc ông bị bức ép ngẩng đầu trước đại chúng, ông ta thật giống con chó vội vã nhảy qua bức tường, bỗng nhiên nhảy qua được chướng ngại, hoát nhiên triệt ngộ!

Thụy Long rất vui mừng, gật gật đầu, khẳng định, khen ngợi!

Đây là chỗ cao minh của Tổ sư thiền tông: không khởi, không phát, không bức bách thì không ngộ; chó chạy vào tường, con người trong lúc cấp bách phát sanh trí tuệ, người bị ép vào cảnh cùng tuyệt thì sẽ mở ra con đường mới, có chết mới có sanh ra!

Mỗi người chúng ta, hầu như đều trải qua cảnh cấp bách sanh trí tuệ này, trong khó khăn liền đốn ngộ. Chẳng qua cái hành giả phát sanh đó là trí bồ đề, điều chứng ngộ là chân đế của vũ trụ nhân sanh.

Thiền sư Thanh Khoát sau khi khai ngộ, lại ở bên cạnh sư phụ tu tập thêm mấy năm. sau khi sư bá của ông, Đại sư Bảo Phúc Tùng Triển viên tịch, tín chúng liền mời ông đến trú thì thiền viện Bảo Phước. Tại pháp đường, có vị tăng hỏi: “Nhà nghèo nhưng lại gặp lúc có giặc thì làm thế nào?”

Vừa nghe câu nói này, ông đã biết vị tăng này là một người tham thiền lâu năm, trực tiếp vào được chỗ dụng công của việc tham thiền. Thiền sư Thanh Khoát trả lời: “Không phải cướp hết toàn bộ”.

Thiền tăng hỏi: “Tại sao không cướp hết?”

“Vì giặc là người thân!” Thiền sư Thanh Khoát dứt khoát trả lời:

“Cái gì, giặc là người thân à? Đã là người thân, tại sao còn cướp nhà của mình?” Quả nhiên, thiền tăng hỏi lại: “Đã là người thân, tại sao lại trở thành giặc nhà?”

Thiền sư Thanh Khoát liền đưa ra một câu danh ngôn chí lý: “Bên trong không ứng, bên ngoài không thể làm”.

Đúng vậy, không có giặc nhà, sẽ không dẫn quỷ bên ngoài vào; nếu không có tiếp ứng bên trong, há có thể dễ dàng đánh tan thành lũy kiên cố được sao!

Thiền tăng thể hội sâu sắc, gật gật đầu, tiếp tục hỏi: “Bỗng nhiên có giặc làm thế nào để bắt?”

“Trong ngoài không tin tức”.

Thiền tăng không hiểu lắm, đã bắt trộm cướp, phải có tin tức tốt sao? Ông không thấy, người ta sau khi xây dựng cơ nghiệp, đều phải ăn mừng một phen sao. Do đó, ông lại hỏi: “Sau khi bắt được giặc, công lao thuộc về ai?”.

Thiền sư Thanh Khoát trịnh trọng nói: “chưa từng nghe nói đến phần thưởng này”.

Chất vấn những công lao vốn có, đương nhiên là để được thưởng. Nhưng mà, tu tập hành thiền, là một quá trình vứt bỏ chấp trước phân biệt, ngay cả ý niệm vứt bỏ cũng triệt để vứt bỏ, mới viên mãn. Do đó, Thiền sư Thanh Khoát nói: “Thưởng cũng chưa từng nghe”.

Thiền tăng thở dài, hoàn toàn không bằng lòng nói: “Thế thì, mệt nhọc mà công cốc rồi”.

Thiền sư Thanh Khoát dẫn dắt ông ta: “Công lao chẳng phải không có, nhưng có công không trú, nên xem như không có công”.

Sự tu tập của thiền tăng còn chưa đạt đến cảnh giới không, chưa có pháp lãnh hội, không có sự diệu kỳ, liền hỏi: “Đã là thành công, tại sao không tính công để thưởng?”

Thiền sư Thanh Khoát nói câu danh ngôn xưa:

“Thái bình vốn là do tướng giỏi, không để tướn quân thấy thái bình”.

Công án “Giặc là người thân” này, không chỉ liên quan đến chỗ vi tế của dụng công tham thiền, mà còn tràn đầy triết lý sống. Tục ngữ nói, giặc bên ngoài dễ phòng, giặc trong nhà khó tránh. Trong việc tu hành, điều khiến tâm con người phiền phức không yên, chướng ngại khó mà ngộ đạo, thường không phải là nhân tố bên ngoài, mà những chấp trước từ trong tâm của mình - chúng ta quá yêu tự ngã, thậm chí ngay cả những tập khí không tốt (thực ra chúng đều là giặc nhà) cũng không nỡ bỏ đi; những điều gì chúng ta đối với thần thánh (như thành công, sở đắc) thì quá yêu nó, hoàn toàn không chịu bỏ đi…

Một vị thiền giả, nếu không có thể đạt được không làm mà làm, không phải mà phải, thì vĩnh viễn không có cách nào khế nhập đạo lớn của vũ trụ; cũng vậy, một người, nếu không có cách chiến thắng giặc nhà của mình, tức khó thành tựu sự nghiệp vĩ đại.

Thiền sư Thanh Khoát duyên đời sắp hết, muốn ẩn vào núi sâu đợi ngày nhập diệt, liền di chúc kệ:

Người đời không nói đường đi khó,

Đường xa vạn dặm trong gang tấc.

Tạm biệt cây gai bên nước suối

Người về biển biếc ta về non

(Thế nhân hưu thuyết lộ hành nan,

 Điểu đạo dương trường chỉ xích gian.

 Trân trọng trữ khê khê bạn thủy,

 Nhữ qui thương hải nga qui sơn.)

Lập tức, ngài nhường chức trụ trì, rời chùa Bảo Phúc, đến tháp Quý Hồ cất một am cỏ. Lúc sắp nhập diệt, ngài nói với đệ tử: “Sau khi ta chết, đem thi thể ta vứt cho sâu, kiến, để chúng có một bữa ăn ngon, no, tiết kiệm được việc xây tháp, chôn cất”.

Nói xong, ngài leo lên đỉnh núi Hồ, ngồi trên tảng đá lớn, nhẹ nhàng về Tây.

Đệ tử làm theo di chúc của Sư phụ, đem thi thể của ngài đặt ở vùng đất bằng bảy ngày, nhưng mà, cuối cùng không có con sâu nào đến ăn cả!

Liên quan đến thiền cơ: Đau Khổ Tức Của Cải.

Tổ sư thiền tông nói: “Phiền não tức bồ đề” nghĩa là phiền não và bồ đề không phải là hai.

Đây là một cảnh giới mà người thường chúng ta rất khó lý giải: tất cả tác dụng tinh thần ngăn ngại sự giác ngộ đều gọi là phiền não; ngược lại, cắt đứt những phiền não thế gian để thành tựu trí tuệ niết bàn gọi là bồ đề. Hai thứ này đối lập, tương phản nhau! Nhưng, đứng trên góc độ tư duy của thiền giả, về mặt biểu hiện tuy phiền não là thái độ trái ngược với bồ đề (giác), nhưng trên bản thể, hai thứ phiền não và bồ đề đều đồng nhất. Cũng như sóng cuộn trào dữ dội, nó thật ra cũng chỉ là nước, phàm là nước, đều có bản tính hướng đến bằng phẳng và yên tĩnh. Sóng cũng như vậy, xem ra nó giống như làn sóng cuồn cuộn, trên thực tế lúc nào cũng đều có xu hướng bằng phẳng yên tĩnh. Phiền não tứcbồ đề, là cách nói rốt ráo của Phật giáo đại thừa. Có thể nói, không có phiền não, thì không có bồ đề: xa rời phiền não, tức không còn cách nào để chứng đắc bồ đề. Nếu khi phải đoạn trừ chấp trước phiền não làm phai mờ đi ý nghĩ chấp trước, ngược lại sẽ hiện rõ đại trí tuệ giác ngộ, lĩnh hội sự rộng mở trong sáng của giác ngộ.

Phiền não là phản ánh của sự đau khổ. Phiền não tức bồ đề, vậy thì, phiền não chính là tài sản phải không? Câu trả lời của thiền giả là đồng ý. Thiền sư xưa có một câu nói: “tìm đạo ở trong đau khổ”, đối với thiền giả đau khổ là tài sản quí giá, là vốn liếng do trí tuệ sản sanh, là con đường giác ngộ tất yếu.

Thực ra không chỉ học Phật tu thiền như vậy, mà tất cả sự vật của thế gian đều như vậy: Ngọc không dũa không thành đồ trang sức, kiếm không mài không thể sắc bén. Trời không có sự trái nghịch của thu tàn, đông tận thì làm gì có sự phồn thịnh của xuân sanh, hạ trưởng? Nếu không có hồng thuỷ cuồn cuộn thì cha lành khó gặp, thì làm sao Đại Vũ có thể thành công trong việc trị thủy? Lửa phiền não, quả thực là nhân của giác ngộ.

Vương Mạnh Quân là một thanh niên đầy nhiệt huyết chí khí mạnh mẽ, để giúp đỡ xây dựng biên cương, vào mùa xuân năm 1952 cô nhập ngũ, đến binh đoàn xây dựng Tân Cương xa xôi, gian khổ. Lúc ấy, đúng vào thời kỳ đầu của thời xây dựng đất nước, cô đem tất cả nhiệt tình tham gia vào công cuộc xây dựng biên cương. Một lần nọ, để cứu tài sản quốc gia, Vương Mạnh Quân quên mình nhảy vào nước sông Lão Long lạnh buốt…

Trời rất lạnh, ngâm mình trong băng lạnh, làm cô ta mắc bệnh phong thấp nặng và viêm tai giữa. Mặc dầu cô được cứu sống, nhưng bệnh tình chưa thể chữa trị được, nên tiếp tục nặng thêm, và dẫn đến bại liệt tay chân.

 Vương Mạnh Quân, vì bảo vệ tài sản quốc gia, mà từ một thanh niên tươi sáng rực rỡ như hoa, trở thành một người vừa điếc vừa liệt. Đương nhiên nhân dân sẽ không quên cô, khen ngợi cô là “bảo vệ” của Trung Quốc; để chăm sóc tốt hơn cho cô, tổ chức đã đưa cô đến trại an dưỡng để nghỉ ngơi. Nhưng cô không muốn trở thành gánh nặng cho quốc gia, yêu cầu được làm những công việc mà sức mình có thể làm được. Thế là, với nghị lực lớn lao, cô đã chống nạng đi nuôi ong.

Cô, người tàn tật nuôi ong ở nơi vắng vẻ, khó khăn của cô chúng ta có thể biết được. Một hôm, trong lúc chăm sóc thùng ong mật, do vì chân cô không thuận tiện, nên ngã xuống đất, làm lật ngửa thùng ong. Trong chốc lát, hàng ngàn con ong mật bị làm kinh động cho rằng kẻ thù bên ngoài tấn công, bay ra khỏi tổ, chích vào thân, vào mặt … cô.

Cô bị ong chích hơn 200 chỗ, thật không còn thấy mặt mũi - đầu sưng rất to, mặt, trán giống như cái bánh bao, mắt đều sưng húp. Cô cứ sốt cao mãi, rơi vào tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Bác sĩ nói: trúng độc nghiêm trọng như vậy, e rằng… Nhưng, thật không ngờ, sau một tuần lễ, cô không chỉ lần nữa vùng vẫy từ cái chết trở về, mà tình trạng bệnh phong thấp đau đầu và viêm tai giữa dày vò cô trong tám năm trời đều tiêu tan!

Kỳ tích, một kì tích mãi mãi không thể nào xuất hiện trong tình huống bình thường được!

 Từ đó, cô bỗng nhiên nghĩ đến: chẳng lẽ, dịch độc của ong mật, quả thật có thể chống lại độc của bệnh phong thấp? Lấy độc trị độc, là phương pháp quí báu mà tổ tông chúng ta trị liệu bệnh tật! Cô suy nghĩ thêm, ong mật dùng vòi ong chích người, há chẳng phải là giống như dùng kim chích của đông y sao? Nếu để chúng nó chích vào huyệt vị thích hợp, chẳng phải là một loại trị bệnh đặc thù sao?

Từ đó, cô đi bắt nghiên cứu dùng ong mật trị liệu bệnh tật.

Vương Mạnh Quân bắt đầu hệ thống kiến thức học tập đông y, từ “bản thảo cang mục” đến “trung y dược đại điển”, từ kim châm đến kinh nghiệm dân gian… trong lúc đọc và tra cứu tư liệu cô phát hiện, trong dịch độc ong mật có “chất an độ” có công hiệu giảm sự đau đớn, trừ viêm, tác dụng của sự giảm đau, gấp 70 lần trừ viêm. Mà vòi ong, là dụng cụ tiêm chích của các vị tổ tông, vừa an toàn, lại tuyệt đối không bị không khí lọt vào.

Bản thân Vương Mạnh Quân mắc bệnh phong thấp đã cung cấp cho thí nghiệm của cô một vật dẫn tốt nhất - nếu không bệnh tật, làm sao có thể thể nghiệm sự thay đổi vi tế của tính thuốc? Làm sao có thể cảm nhận được công hiệu nhỏ nhặt? Cô đã thí nghiệm các huyệt vị trên thân cô. Hai năm sau, cô vứt bỏ cặp nạng, bắt đầu đứng được - lại một kì tích.

Một kì tích lớn hơn còn ở phía sau: trải qua nhiều năm tìm tòi, cô nắm bắt được phương pháp trị liệu bằng ong mật có tính sáng tạo riêng, trở thành một vị bác sĩ trị liệu bằng ong chuyên nghiệp. Viết ra một số lượng luận văn lớn có phong cách đặc biệt, chữa lành cho hàng vạn bệnh nhân bị các chứng bệnh khó điều trị như bệnh phong thấp, các loại phong thấp, đau thần kinh; những thành công đã giúp những người tàn tật, bại liệt nhiều năm có thể đi đứng được trở lại.

Chuyện tương tự như vậy, Yên Đài - Triệu Kế Vĩnh từ một người bị bệnh gan nặng, đến nhà phát minh, nhà doanh nghiệp, nguồn vốn chỉ là một, cũng là đau khổ.

Ngày 28 tháng 4 năm 1989, trong lúc Triệu Kế Vĩnh lau chùi cửa sổ, vô ý đụng vào nọc độc che khuất trong khe cửa của một con bò cạp, bị chích dữ dội một hồi, Triệu Kế Vĩnh vốn bị bệnh gan rất nghiêm trọng, bây giờ thân lại trúng độc bò cạp, nên đau đớn không chịu nổi, một luồng ngứa lạ lùng như điện chạy khắp cơ thể, lúc đó, thân thể bắt đầu co giật không thể khống chế được. Trong lúc hoảng hốt, ông ta dường như đã thấy thần chết đi đến, đang dùng đôi cánh tay to lớn vô tình, bóp chặt yết hầu của ông… Nhân lúc ông ta còn tỉnh táo đôi chút, đã viết di chúc, giao phó hậu sự, trong đêm dài tĩnh lặng chờ đợi phút cuối cùng đến…

Thế nhưng, ngày hôm sau, lúc mặt trời lên cao, Triệu Kế Vĩnh không chỉ không những không la hét, ngược lại còn tỉnh táo thức dậy. Càng kỳ lạ hơn là thân thể ông ta bị bệnh tật dày vò lâu ngày, nung nấu sáu năm, bây giờ cảm nhận được sự nhẹ nhàng thoải mái chưa từng có, toàn thân nhẹ nhàng sảng khoái vô cùng.

Chẳng lẽ, độc bò cạp có thể trị được bệnh gan?

Triệu Kế Vĩnh liền suy nghĩ, cầm 120 đồng tiền còn lại trong nhà, đi mua 100 con bò cạp, nuôi ở trong nhà. Đợi khi bò cạp nhỏ lớn lên, ông ta bắt đầu những cuộc thí nghiệm tàn khốc thậm chí rất dã man - để thân thể trần truồng cho bò cạp cắn; bắt từng con bò cạp bỏ vào trong miệng, ăn tươi nuốt sống...

Nữa năm sau, ông ta tự cảm thấy thân thể hoàn toàn khỏe, đến bệnh viện kiểm tra, công năng của gan hoàn toàn bình thường. Bác sĩ lật xem bệnh án của ông, kinh ngạc vô cùng, không sao tin được.

Từ đó, Triệu Kế Vĩnh bắt đầu nuôi bò cạp với số lượng lớn. Ông ta lại càng nghĩ đến, thành phần trị bệnh chủ yếu của bò cạp là nộc độc bò cạp. Từ đó, ông lại phát minh ra kỹ thuật lấy chất độc từ bò cạp sống, kỹ thuật tinh chế bột bằng độc bò cạp, nghiên cứu chế biến những sản phẩm từ chất độc ở miệng và bụng bò cạp… 

BÀI LIÊN QUAN

Tư tưởng yếu chỉ của Thiền tông  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 104 xem)

Ba phương pháp hành thiền chủ yếu  ( Giáo sư Minh Chi , 123 xem)

Thỏng Tay vào Chợ  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 108 xem)

Vài suy nghĩ về thiền tông Việt Nam  ( Trần Hồng Liên , 1963 xem)

Thiền  ( J.Krishnamurti - Minh Tâm dịch , 180 xem)

Tư tưởng thiền học qua chí nguyện lập đạo và hoằng hóa của Tổ sư Minh Đăng Quang  ( Hòa thượng Giác Toàn , 2884 xem)

Ngồi rách bồ đoàn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 464 xem)

Thiền ngộ (Phần 3)  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 192 xem)

Không ai biết ông ta  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 712 xem)

Sa Di cao thọ giới  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 864 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC